Tsu A CẦU – KHÍ CHẤT NGANG TÀNG VÀ TUYÊN NGÔN CHÍNH NGHĨA.

LỜI NGỎ
Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,
Hôm qua, đúng 4 giờ sáng, tôi thi hành lệnh “hành quân”, trình diện tại điểm tập hợp “QD
Venue”. Đến nơi thì thấy… vắng hoe! Ở cái tuổi già sức yếu, chân đi cà nhắc, tôi đâm lo mình
nhớ nhầm ngày nên vội gọi điện thoại “double check” với Trung tâm Trưởng Bùi Đẹp. Không
thấy bắt máy, nhưng ngay sau đó có một chiếc xe truck rà tới, hóa ra chính là “hắn”.
Hai ông già, một ông thì mắt lem nhèm, ông kia chắc còn ngái ngủ, nên cứ rà hoài mà không
đúng mật mã, ổ khóa nhất quyết không chịu mở ra. Sau màn dạo đầu lúng túng thì mọi việc cũng
trơn tru, hai thằng già cười xòa rồi kéo nhau vào sàn khiêu vũ “Quốc Dương Dancing Club” để
bắt đầu lo phần trang trí cho ngày Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 22. Lác đác sau đó, anh em
Tập thể Chiến sĩ Trung tâm Tây Nam cũng tụ họp đông đủ. Anh Hải đến sau cùng, phân bua:
“Tôi đã vặn đồng hồ báo thức lúc 3 giờ mà sao không nghe gì hết?” Không biết hai ông bà làm
gì tối hôm qua mà ngủ say đến độ không nghe chuông báo, để lát nữa tôi phải hỏi lại người đẹp
Loan Anh mới rõ!
Thành phần tích cực đáng tuyên dương trong buổi sáng hôm đó gồm có: Cầu, Đẹp, Đức, Hải,
Hiệp, Truật, Phước, và Dinh. Phái đoàn của hai anh Minh và Hùng cũng đã đến kịp thời, nhộn
nhịp thiết lập hệ thống thu hình và âm thanh. Đây là những anh em thầm lặng có công mà ít ai
biết đến nên tôi xin ghi lại đôi dòng, còn diễn biến chi tiết sau đó xin kính mời quý vị xem video
Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 22 sẽ được phổ biến online.
Trong sinh hoạt hôm qua, tôi bị vài người quen chặn lại hỏi thăm. Tôi đành lên tiếng xin lỗi vì
thực sự không nhận ra “chàng hay nàng là ai”. Họ cười bảo: “Tôi thấy anh nói trên TV, tôi đọc
bài anh viết trên mạng thì tôi biết anh, chứ anh làm sao biết tôi được!” Té ra đều là khán, thính
giả và độc giả của mình cả. Ha ha ha, vậy là mình đã “nổi tiếng” rồi sao? Nhưng ngẫm lại, cái
“tài” thường đi liền với cái “tai”, một vần thôi, mà nặng lắm!
Ngay tại bãi đậu xe, một Niên trưởng đàn anh gọi tôi ra nói chuyện riêng: “Bài của chú, anh đọc
hết rồi. Nhiều bài rất tốt, rất hay, nhưng cũng có nhiều bài, anh sẽ viết phản biện đấy, chờ nhé!”
Lời nhắn nhủ khiến tôi suy nghĩ lung lắm. Thân mình “múa rìu qua mắt thợ” bấy lâu nay, sơ sẩy
một chút là “ăn đạn” như chơi! Nhớ lại gần mười năm trước, trong Đại Hội Võ Bị Toàn Cầu, khi
được đề cử và tín nhiệm vào chức vụ Tổng Hội Trưởng, tôi cũng hí hửng như bây giờ, để rồi sau
đó bị đưa ra làm “bia xạ trường” suốt hai năm liền. Nhờ những thử thách đó mới có một “cái tôi
đáng ghét” của ngày hôm nay. Đúng là thời thế tạo anh hùng… rơm”, mà một độc giả thân mến
của tôi còn ưu ái gọi bằng danh xưng “nhà văn quân đội”! Tôi vui vẻ kính mời Niên trưởng ấy
viết bài góp ý để anh em chúng ta cùng bàn thảo, tranh luận trên tinh thần xây dựng, chứ nhất
quyết không tranh cãi.
Một niềm hân hạnh khác là tôi được gặp lại anh Châu Thụy, Giám đốc Viện Bảo Tàng Di Sản
Người Việt (Vietnamese Heritage Museum – VHM), cũng đến yểm trợ Đại Nhạc Hội. Hai anh
em đã tâm sự và bàn thảo về một công tác trong tương lai gần của VHM. Cá nhân tôi không
muốn thấy những nhân sự không thích hợp làm ảnh hưởng đến các quyết định chung của công
tác cộng đồng, nên đã nhận lời góp ý, nếu được yêu cầu. Hy vọng rằng các cựu quân nhân khác cũng sẽ tích cực tham gia ngay từ đầu để khỏi bị rơi vào thế “ngạc nhiên” trước những sự việc đã
rồi như từng xảy ra trước đây.
Sau loạt bài phân tích về kiệt tác High Noon, có độc giả thắc mắc tại sao tôi không viết về một
bộ “phim chiến tranh Việt Nam” đúng nghĩa. May thay sáng nay, tôi nhận được một gợi ý từ tin
nhắn của Bác sĩ Nguyễn Hoàng Quân cho biết ông Richard Botkin — nhà sản xuất cuốn phim
giải ảo lịch sử Ride the Thunder — sẽ tham gia ủng hộ buổi gây quỹ truyền hình sắp tới nhằm an
vị “Tượng Đài Tái Chiếm Cổ Thành Quảng Trị” tại Nam California.
Để đáp lại lời đề nghị ý nghĩa này, tôi xin trân trọng giới thiệu bài tham luận chính luận: “Khí
Chất Ngang Tàng Và Tuyên Ngôn Chính Nghĩa”.
Kính mời quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu cùng quý Thân Hữu cùng đọc, thảo luận và phổ biến
rộng rãi bài viết này.
Trân trọng,
Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)
Huntington Beach, California, ngày 13 tháng 7 năm 2026.
+++

KHÍ CHẤT NGANG TÀNG VÀ TUYÊN NGÔN CHÍNH NGHĨA
Đặt Phim Giải Ảo “Ride the Thunder” Ngang Tầm Kiệt Tác Điện Ảnh “High Noon”

Tsu A Cầu

Một trong những đặc tính cốt lõi giúp Hoa Kỳ đạt được những kỳ tích vô tiền khoáng hậu trong
250 năm qua chính là tinh thần khai phóng, mạo hiểm, tự lập và dám liều lĩnh. Trong dòng chảy
văn hóa ấy, điện ảnh không chỉ đóng vai trò giải trí mà còn là lăng kính phản chiếu những thử
thách đạo đức nghiệt ngã của kiếp nhân sinh. Nếu kiệt tác kinh điển High Noon (1952) của
Hollywood được xem là đỉnh cao triết học xã hội về sự cô độc của người giữ lý tưởng, thì tác
phẩm truyện phim tài liệu Ride the Thunder (2015) của cựu Sĩ quan Thủy quân Lục chiến Mỹ
Richard Botkin chính là một phát súng lệnh giải ảo lịch sử đương đại. Khi đặt hai tác phẩm này
lên bàn cân chính luận, chúng ta sẽ nhìn thấy hai hành động đối nghịch mang tính biểu tượng tối
thượng: “Vứt bỏ chiếc phù hiệu cảnh sát” và “Dương cao ngọn cờ Việt Nam Cộng Hòa”.
I. Bi Kịch Của Sự Thỏa Hiệp Và Giới Hạn Của Hành Động “Vứt Bỏ”
Trong High Noon, biên kịch Carl Foreman đã mượn bối cảnh viễn tây để ẩn dụ về chính nỗi đau
bị đồng nghiệp quay lưng trong thời kỳ thanh trừng của chủ nghĩa McCarthy năm 1951. Cảnh sát
trưởng Will Kane, vì nguyên tắc đạo đức tối thượng, đã chọn ở lại chiến đấu độc hành chống lại
băng đảng bạo chúa Frank Miller, bất chấp sự hèn nhát, trốn tránh của cả thị trấn Hadleyville.
Phân cảnh kết thúc phim đã trở thành kinh điển: Sau khi hạ gục kẻ thù, Will Kane tháo chiếc phù
hiệu Sheriff ném thẳng xuống vũng bùn trước sự chứng kiến của đám đông thực dụng vừa chui
ra khỏi nơi ẩn nấp. Hành động vứt bỏ ấy chứng tỏ sự khinh bỉ tột cùng của một người đàn ông
chính trực đối với những kẻ vô ơn, chỉ biết hưởng thụ an bình nhưng lại trốn chạy cái giá của tự
do. Will Kane ném phù hiệu vì ông không muốn danh dự của mình tiếp tục bị ràng buộc hay lợi
dụng bởi một tập thể không còn xứng đáng được bảo vệ.
Tuy nhiên, xét ở góc độ lập thuyết chính luận, hành động “vứt bỏ” của Will Kane dù khí phách
nhưng vẫn mang sắc thái của một bi kịch bất lực. Đó là sự dứt khoát đoạn tuyệt với thời cuộc,
một sự thoái lui trong cô độc khi cá nhân nhận ra mình không thể thay đổi được sự băng hoại đạo
đức của số đông. Will Kane chọn cách quay lưng với thị trấn, khép lại chương sách trách nhiệm
của mình trong sự im lặng cay đắng.
II. Khúc Ca Bi Tráng “Ride the Thunder” Và Dũng Khí Ngạo Nghễ Của Hành Động
“Dương Cao Ngọn Cờ”
Đối nghịch hoàn toàn với thế trận độc hành và sự buông bỏ của Will Kane, Ride the Thunder của
Richard Botkin đưa người xem bước vào một chiều không gian lịch sử thực tế oai hùng hơn rất
nhiều: Cuộc chiến chống lại làn sóng toàn trị cộng sản của người lính Thủy quân Lục chiến Việt
Nam Cộng Hòa trong Mùa hè Đỏ lửa 1972.

Trọng tâm của cuốn phim khắc họa tình đồng minh giữa Trung tá Lê Bá Bình (Tiểu đoàn
trưởng Tiểu đoàn 3 Sói Biển) và Đại úy John Ripley (Cố vấn Cao cấp Tiểu đoàn 3 TQLC
VNCH) khi họ bò dưới làn mưa đạn để giật sập cầu Đông Hà vào ngày 2 tháng 4 năm 1972.
Chiến tích huyền thoại này chính là tiền đề quyết định để quân ta củng cố lực lượng, mở cuộc đại
phản công oanh liệt tiến về tái chiếm toàn bộ vùng đất Quảng Trị bị tàn phá bởi bom đạn oan
nghiệt.
Vào ngày 15 tháng 9 năm 1972, giữa đống gạch vụn nhuốm máu của Cổ thành, những người lính
Thủy quân Lục chiến VNCH đã quyết tử dựng ngọn cờ quốc gia vút cao lên bầu trời. Nếu đặt hai
hình ảnh này cạnh nhau, chúng ta sẽ thấy: Hành động “vứt bỏ” chiếc phù hiệu của Will Kane
dứt khoát không thể oai hùng và ngạo nghễ bằng hành động “dương cao” ngọn cờ chính
nghĩa của người lính miền Nam.
Dương cao ngọn cờ giữa làn mưa pháo không phải là một hành động mang tính nghi thức hình
thức, mà là dũng khí ngạo nghễ của kẻ chiến thắng tinh thần. Đó là lời tuyên ngôn đanh thép với
thế giới rằng: Dẫu hậu phương chính trị có lập lờ, dẫu đồng minh có toan tính tháo chạy, thì tư
cách và lý tưởng “Tổ Quốc — Danh Dự — Trách Nhiệm” của người lính vẫn hiên ngang đứng
trên đỉnh cao lịch sử. Hành động “vứt bỏ” của Will Kane là sự khinh bỉ đối với những kẻ vô ơn;
còn hành động “dương cao ngọn cờ” của người lính TQLC tại Cổ thành là một hành vi cao
thượng, dùng xương máu để khẳng định và tái xác định giá trị Tự do cho một dân tộc. Họ không
thoái lui, họ không từ bỏ, họ đứng vững ở vị trí của mình để làm ngọn hải đăng tư tưởng.
Và lịch sử đã trả lại sự sòng phẳng muộn màng nhưng xứng đáng.
Ngày 18 tháng 6 năm 2026 — đúng vào dịp kỷ niệm 250 năm lập quốc Hoa Kỳ — Tổng thống
Donald J. Trump đã chủ trì lễ truy tặng Huân chương Danh dự (Medal of Honor), huân
chương cao quý nhất của quân đội Mỹ, cho Đại tá John W. Ripley tại Phòng Đông Nhà Trắng.
Đứng nhận huân chương thay ông là người con trai Thomas Ripley, cùng các thành viên gia đình
— 54 năm sau ngày cha họ treo mình dưới gầm cầu Đông Hà trong làn mưa đạn.
Trong bài phát biểu tại buổi lễ, Tổng thống Trump nhắc lại lời cầu nguyện mà Đại úy Ripley đã
thầm đọc trong suốt năm tiếng đồng hồ đặt thuốc nổ dưới làn đạn: “Chúa Giêsu, Đức Mẹ, dẫn
con đến đó, chỉ cần dẫn con đến đó.” Rồi kết luận: “Khi John kích nổ, cây cầu sụp xuống sông,
đập tan cuộc tiến công và cứu lấy hy vọng của một Việt Nam tự do trong buổi sáng Phục Sinh
đó.”
Ngày hôm sau, tên Đại tá Ripley được khắc vào Đại sảnh Danh dự của Ngũ Giác Đài. Tướng
Eric Smith, Tư lệnh Thủy quân Lục chiến, tuyên bố hành động phá cầu Đông Hà “sẽ vang vọng
mãi đến vĩnh hằng.”
54 năm — đó là khoảng thời gian mà sự thật phải chờ đợi để được công nhận chính thức bằng
huân chương cao nhất. Nhưng sự thật không cần huân chương để tồn tại. Hành động của Đại tá
Ripley bên cạnh Trung tá Lê Bá Bình và Tiểu đoàn 3 Sói Biển ngày 2 tháng 4 năm 1972 đã tự
khắc mình vào lịch sử từ phút giây ấy — không cần bất kỳ sự phê chuẩn nào từ Washington.
III. Nhận Định Và Phê Bình Điện Ảnh: Sức Mạnh Của Sự Thật Giải Ảo

Cuốn phim Ride the Thunder xứng đáng được nâng tầm ngang hàng với các kiệt tác chính luận
thế giới như High Noon vì ý nghĩa cao đẹp và dũng khí giải ảo của nó. Trong khi Hollywood
suốt nhiều thập kỷ luôn lập lờ, bóp méo hình ảnh người lính miền Nam qua các bộ phim mang
tính định kiến cánh tả, thì tác phẩm của Richard Botkin — một cựu Sĩ quan Thủy quân Lục chiến
Mỹ — đã trả lại sự sòng phẳng tuyệt đối cho lịch sử.
Bằng cách đan cài khéo léo giữa ngôn ngữ điện ảnh chân thực và những cuộc phỏng vấn nhân
chứng sống, Ride the Thunder chứng minh một chân lý: Người lính Việt Nam Cộng Hòa không
hề thua trên mặt trận quân sự. Sự sụp đổ của một thực thể tự do vào ngày 30 tháng 4 năm 1975
không xuất phát từ tinh thần của người chiến sĩ, mà từ sự phản bội của các chính trị gia sa-lông
tại Washington khi cắt đứt nguồn viện trợ.
Sự tương quan giữa hai bộ phim nằm ở chỗ: Cả Will Kane và người lính VNCH đều bị bức tử
bởi sự ích kỷ, hèn nhát của hậu phương. Nhưng người lính miền Nam đã vượt lên trên bi kịch
của Will Kane. Kane chỉ phải đối diện với nghịch cảnh trong một buổi trưa tròn 85 phút; còn
người lính Việt Nam Cộng Hòa phải chịu đựng một hành trình dài hơn nửa thế kỷ để giữ gìn
danh dự và trách nhiệm, ngay cả khi chiếc “badge” phù hiệu trên tay đã bị tước đoạt một cách tàn
nhẫn bởi mệnh lệnh bắt buộc đầu hàng.
IV. Đối Diện Phản Biện Sòng Phẳng Của Lịch Sử
Đến đây, một độc giả khách quan có quyền đặt ra những câu hỏi gai góc: Nếu tinh thần chiến
đấu và năng lực quân sự của VNCH mạnh mẽ như những gì “Ride the Thunder” mô tả, tại sao
các vị lại thất bại vào năm 1975? Phải chăng có những yếu tố nội tại đổ vỡ từ bên trong chứ
không đơn thuần chỉ là lỗi của đồng minh quay lưng? Và Hollywood thật sự bóp méo, hay họ chỉ
phản ánh một góc nhìn chiến tranh mang tính phản chiến của xã hội Mỹ thời bấy giờ?
Là người trong cuộc, là người lính bước ra từ cuộc chiến, tôi xin trả lời một cách sòng phẳng dựa
trên những số liệu lịch sử không thể chối cãi:

  1. Về câu hỏi “Vì sao thất bại? Yếu tố nội tại là gì?”:
    Chúng tôi dũng cảm nhìn nhận VNCH có những khiếm khuyết nội tại nghiêm trọng. Đó là tình
    trạng tham nhũng ở một vài cấp thượng tầng chính trị, sự bất ổn của các phong trào dân sự bị
    thâm nhập ở hậu phương, và một nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào viện trợ bang giao.
    Thế nhưng, điểm gãy quyết định đẩy VNCH vào vực thẳm năm 1975 không phải là sức mạnh ý
    chí chiến đấu, mà là bài toán tiếp vận nghiệt ngã từ Hiệp định Paris 1973. Theo các tài liệu
    giải mật của Ngũ Giác Đài, sau năm 1973, trong khi khối Cộng sản quốc tế (Liên Xô và Trung
    Quốc) ồ ạt tăng viện trợ quân sự cho Bắc Việt gấp nhiều lần, thì Quốc hội khóa 93 của Hoa Kỳ
    đã cắt giảm viện trợ cho VNCH một cách tàn nhẫn: từ 2,1 tỷ USD năm 1973 xuống còn 700 triệu
    USD năm 1974.
    Vào giai đoạn cuối, người lính VNCH phải ra trận trong tình trạng thiếu hụt đạn dược trầm
    trọng: mỗi khẩu pháo chỉ được bắn tối đa 1 đến 2 viên một ngày, băng cứu thương phải giặt lại
    để dùng lại, và xe tăng không có xăng để di chuyển. Người lính VNCH bị trói tay, tước đoạt vũ
  2. khí trên bàn hội nghị trước một đối phương được trang bị đầy đủ. Sự sụp đổ năm 1975 là một bi
  3. kịch của sự bất đối xứng về mặt hậu cần chiến lược, chứ không phải sự đầu hàng của dũng khí.
  4. Về câu hỏi “Hollywood bóp méo hay chỉ phản ánh góc nhìn khác?”:
    Nhiều nhà phê bình phương Tây biện hộ rằng các bộ phim như Platoon (1986) hay Apocalypse
    Now (1979) chỉ đơn giản phản ánh chấn thương tâm lý của người lính Mỹ. Điều đó đúng một
    nửa. Nhưng cái sai của Hollywood, và cũng là sự “bóp méo” nguy hiểm nhất, chính là sự xóa
    nhòa căn cước và tiếng nói của người lính VNCH.
    Trong phần lớn các tác phẩm đó, người lính miền Nam — những người trực tiếp gánh chịu cuộc
    chiến bảo vệ quê hương mình — hoàn toàn biến mất hoặc chỉ xuất hiện như những cái bóng
    mờ nhạt, hèn nhát, làm nền cho bi kịch nội tâm của người Mỹ. Đó không phải là “góc nhìn
    khác”, đó là sự bất công của việc độc quyền lịch sử thông qua truyền thông. Ride the Thunder
    ra đời để sửa chữa lỗ hổng đó, đặt người lính VNCH về đúng vị trí trung tâm của một thực
    thể chiến đấu có tư cách và danh dự.
    V. Sứ Mệnh Đồng Hành Vì Một Tương Lai Sòng Phẳng
    Lịch sử 250 năm của Hoa Kỳ là minh chứng hùng hồn: Một quốc gia chỉ có thể thịnh vượng khi
    biết giải phóng con người dựa trên nguyên lý tối thượng là Tự do cá nhân và Quyền tư hữu. Sứ
    mệnh của thế hệ đi trước—những người lính và người trí thức miền Nam cũ—là phải gọi đúng
    tên chính và tà, công và tội, sòng phẳng với lịch sử để truyền lại ngọn lửa tư tưởng cho thế hệ
    mai sau.
    Chúng ta cần và vinh danh những người đồng hành như ông Richard Botkin. Sự dấn thân của
    ông khi thực hiện cuốn phim này chứng tỏ tinh thần thượng tôn sự thật của một sĩ quan TQLC
    Mỹ. Nó là chiếc cầu nối tinh thần đưa thế hệ trẻ hải ngoại thoát khỏi những ảo tưởng lý thuyết
    màu hồng trong giảng đường đại học để hiểu rằng: “Thiếu tự do là thiếu tất cả.”
    Người lính Việt Nam Cộng Hòa giữ vững lý tưởng, bởi vì họ không thể sống khác đi. Họ không
    chọn cách “vứt bỏ” để quay lưng với lịch sử, mà chọn cách giữ vẹn nguyên ngọn cờ vàng trong
    tâm tưởng. Đó là tư cách sống của những người đàn ông ngạo nghễ, quyết không bao giờ để
    mình phải cúi đầu trước bóng hình của một kẻ hèn mỗi khi soi gương nhìn lại cuộc đời!
    Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)
    Huntington Beach, California, ngày 13 tháng 7 năm 2026.



LÊ XUÂN MỸ – TIẾNG VỌNG ÂN TÌNH

Càng đến gần ngày 26 tháng 7, lòng tôi càng trĩu nặng một niềm bồi hồi khó tả. Đó không
phải là sự háo hức của một buổi họp mặt đồng hương, cũng chẳng đơn thuần là niềm vui gặp lại
những người bạn cũ. Đó là một khoảng lặng đầy thao thức. Cứ mỗi lần nhìn thấy dòng chữ “Đại
Hội Cám Ơn Anh”, lồng ngực tôi lại thắt lại.

Ba chữ đơn sơ ấy thôi mà nặng trĩu những giọt nước mắt, chứa đựng cả một trời kỷ niệm và hơn nửa thế kỷ ân tình của những người con ly hương dành cho các thương phế binh năm xưa, những người đã gửi lại một phần thân thể nơi chiến trường, và giờ đây đang lặng lẽ đi qua nốt những ngày xế chiều gian khó trên quê hương.

Hơn năm mươi năm đã trôi qua kể từ biến cố tháng Tư năm 1975. Thời gian đủ dài để những
mái đầu xanh ngày nào giờ đã bạc trắng như sương, đủ dài để một thế hệ cứ thưa vắng dần sau
những lần đưa tiễn.

Nhưng thời gian ấy vẫn chưa bao giờ đủ để xóa nhòa ký ức của một cuộc chiến đầy máu và nước mắt. Đối với những người Việt trên đất Mỹ, cuộc chiến ấy chưa bao giờ là những trang sử đã khép lại. Nó vẫn hiển hiện mồn một trong những câu chuyện kể nghẹn ngào của cha anh, trong những giấc mơ chập chờn thức giấc giữa đêm muộn của người lính già, và trong nỗi day dứt khôn nguôi dành cho những đồng đội còn ở lại quê nhà.

Ngày ấy, họ cũng là những chàng trai đôi mươi đầy hoài bão. Có người vừa xếp lại chiếc áo
thư sinh, gác lại giảng đường đại học, có người chỉ vừa kịp trao chiếc nhẫn cưới cho người
thương. Họ khoác lên mình bộ quân phục màu áo trận không phải để kiếm tìm vinh quang, mà
bởi tiếng gọi thiêng liêng của hai chữ “Tổ Quốc”. Rồi cuộc chiến đi qua, có người mãi mãi nằm
lại dưới lòng đất lạnh. Nhưng cũng có những người trở về mà không còn nguyên vẹn, một cánh
tay gửi lại đâu đó trên ruộng đồng, một đôi chân gửi lại bờ kinh, hay những mảnh đạn nhức nhối
găm sâu vào da thịt mỗi khi trái gió trở trời. Những vết thương ấy đâu chỉ làm đau thân xác, nó là
nỗi đau gặm nhấm tâm can suốt cả một đời người.

Thế nhưng, điều nghiệt ngã nhất lại ập đến khi tiếng súng đã ngừng vang. Bước ra khỏi cuộc
chiến, những người thương phế binh ấy mất đi cả tương lai. Không còn quân ngũ, không còn chế
độ bảo trợ, họ trở thành những cái bóng bên lề xã hội, phải gồng gánh mưu sinh bằng chính thân
hình tàn phế của mình. Nhắm mắt lại, tôi như thấy hình ảnh người lính năm xưa bước thấp bước
cao trên đôi nạng gỗ, chìa từng tờ vé số giữa trưa nắng cháy, thấy người ngồi vá xe bên lề đường
bụi bặm, hay nằm liệt giường mòn mỏi trong góc tối căn nhà dột nát. Và điều làm tôi thắt lòng
nhất, suốt bao năm tháng dâu bể ấy, họ chọn cách im lặng. Họ gánh chịu số phận bằng lòng tự
trọng kiêu hãnh cuối cùng của một người lính.

Năm 1998, tôi đặt chân đến nước Mỹ với hai bàn tay trắng, mang theo hành trang duy nhất là
thân phận của một kẻ tị nạn. Nước Mỹ bao dung đã mở rộng vòng tay, cho tôi và gia đình một
cuộc đời mới, một tương lai tự do. Mỗi sáng nhìn lá cờ hoa tung bay trong gió, tôi lại tự hỏi,  nếu
ngày ấy, những người lính không chấp nhận đứng nơi đầu sóng ngọn gió, nếu họ không lấy máu
xương để kìm giữ bước chân thù, liệu có bao nhiêu người trong chúng ta kịp bước chân lên con
tàu tự do? Câu hỏi ấy là một vết cứa sắc nhọn vào trái tim, nhắc nhở tôi rằng mình đang mang
một món nợ ân tình lớn đến mức cả đời này cũng không cách nào trả hết.

Là con của một người sĩ quan đã vĩnh viễn nằm lại trong trại tù Vĩnh Phú năm 1979, tôi thấu
cảm đến tận cùng nỗi đau của người ở lại. Tôi biết thế nào là một căn nhà vắng bóng cha, thế nào
là tiếng thở dài thâu đêm của mẹ, và thế nào cái cảm giác nghẹn ngào của những đứa trẻ phải lớn
lên khi chỗ dựa của gia đình đã mất. Vì vậy, mỗi lần nhìn vào hình ảnh các anh thương phế binh,
tôi không chỉ thấy những người lính năm xưa. Tôi thấy cha tôi. Tôi thấy những người bạn của
cha. Tôi thấy cả một thế hệ đã đi qua một khúc quanh lịch sử quá nhiều nghiệt ngã.

Có lẽ vì thế mà mỗi năm, tôi đều cố gắng tìm về với Đại hội Cám Ơn Anh. Với tôi, đây không
phải là một chương trình giải trí thông thường, mà là nơi để lương tâm của người Việt ly hương
lên tiếng. Mỗi tấm vé, mỗi phong bì quyên góp đều mang theo một lời hứa thủy chung từ nửa
vòng trái đất: “Các anh ơi, xin đừng tuyệt vọng, các anh không bị lãng quên.”

Đến với đại hội, điều chạm vào góc sâu thẳm nhất trong tim tôi chính là những hình ảnh đầy
xúc động. Là những mái đầu bạc phơ, lưng đã còng nhưng vẫn trang trọng khoác lên mình bộ
quân phục thời Việt Nam Cộng Hoà, đứng nghiêm trang chào lá quốc kỳ. Là những giọt nước
mắt lặng lẽ lăn dài trên gò má nhăn nheo khi giai điệu chinh chiến ngày cũ vang lên. Và ấm lòng
biết bao khi tôi bắt gặp ánh mắt những người trẻ sinh ra và lớn lên trên đất Mỹ. Các em may mắn
được sống trong thanh bình, không biết đến mùi thuốc súng, nhưng tại đây, nhìn thấy giọt nước
mắt của người đi trước, các em đã biết cúi đầu trước sự hy sinh của thế hệ ông cha. Sự tiếp nối
ấy là minh chứng hùng hồn nhất rằng tự do không bao giờ có sẵng, và lòng tri ân sẽ không bao
giờ bị chôn vùi.

Các anh thương phế binh ở quê nhà giờ đều đã như đèn treo trước gió. Phần lớn đã bước qua
tuổi tám mươi, cái tuổi gối mỏi chân chồn, bệnh tật bủa vây. Mỗi một năm qua đi, danh sách ấy
lại càng ngắn lại. Thời gian tàn nhẫn lắm, không đợi một ai. Nếu hôm nay chúng ta còn có thể
gửi cho các anh một lời thăm hỏi, một chút quà sưởi ấm lòng, thì xin đừng chần chừ thêm nữa.
Đừng để đến một ngày, khi tất cả chỉ còn là những tấm di ảnh khói hương nghi ngút, ta mới giật
mình tự trách: “Giá như ngày ấy mình làm nhiều hơn…”

Món quà lớn nhất mà chúng ta gửi về bên kia đại dương, có lẽ không phải là những tờ dollar
lạnh lùng, mà là tấm lòng của tình đồng bào. Để ở một góc khuất nào đó tại quê nhà, giữa những
chật vật của cuộc sống, các anh biết rằng sau nửa thế kỷ trôi qua, giữa một nước Mỹ phồn thịnh,
vẫn có hàng triệu trái tim người Việt luôn nhớ về các anh. Chừng nào người Việt còn yêu tự do,
chừng đó các anh vẫn sống mãi trong lòng dân tộc.

Nếu có một phép màu để gửi một lời đến thế giới bên kia, tôi chỉ muốn nói với cha rằng:
“Cha ơi, con chưa bao giờ quên. Những gì cha và thế hệ của cha đã trải qua vẫn luôn nguyên vẹn
trong tâm khảm của con. Hôm nay, con đến đây để thay cha nói lời cảm ơn đến những người
đồng đội của cha, đến các chú, các bác đã mất hay đang là thương phế binh đã kiên cường chịu
đựng suốt bao năm qua.”

Đại hội Cám Ơn Anh năm 2026 rồi sẽ khép lại. Sân khấu trước Grand Century Mall sẽ được
tháo gỡ, khoảng sân rộng trước cổng vào sẽ được trả về nguyên vẹn, mọi người sẽ quay lại với
những lo toan thường nhật. Nhưng dư âm của ngày hôm ấy sẽ hóa thành dòng máu chạy trong
tim mỗi người. Bởi vì có những ngày không chỉ được ghi trên tờ lịch, mà đã được khắc sâu vào
tâm khảm. Và với riêng tôi, ngày 26 tháng 7 này sẽ là ngày tôi hoàn thành tâm nguyện lớn nhất
của đời mình, được thay cha nói lên lời tri ân mà tôi đã ấp ủ suốt bao nhiêu năm dài viễn xứ,
Cám Ơn Anh.

Lê Xuân Mỹ

San Jose Tháng 6/2026




KIỀU MỸ DUYÊN – NHỮNG MỐI TÌNH TUYỆT VỜI GIỮA HỌC SINH TRƯNG VƯƠNG VÀ HỌC SINH CHU VĂN AN.




Minh Thúy: HAPPY 4TH OF JULY – Phương Hoa: LỄ ĐỘC LẬP – ALAMEDA – Hòn Đảo Nhỏ Mang Trái Tim Nước Mỹ.

==

HAPPY 4TH OF JULY

.

Lễ Độc Lập Hoa Kỳ

Diễn hành oai hùng đi

Trống kèn hòa nhịp điệu

Lá cờ vẫy uy nghi

.

Kỷ niệm ngày khai sinh

Hai trăm rưỡi năm nhìn

Thành lập trang lịch sử

Chặng đường dài hiển vinh

.

1776 tranh

Tuyên ngôn Độc Lập giành

Ra đời Hợp Chủng Quốc

Biểu tượng Tự Do thành

.

Từng giai đoạn khó khăn

13 thuộc địa hằng

Đấu tranh nền dân chủ

Gian khổ phải hiểu rằng

.

Cộng đồng người Việt Nam

Tri ân ý nghĩa hàm

Mỹ mở vòng tay đón

Khởi công bắt tay làm

.

Dự lễ mừng lắm thay

Cờ Mỹ, cờ vàng bay

Cùng đoàn kết dân tộc

4 tháng 7 vui ngày

.

Nơi nơi tiệc rộn ràng

Khui rượu hát hòa vang

Mừng Cờ Hoa vững chải

Thế hệ sau xếp hàng

.

Đêm nghe pháo đì đùng

Trên trời tỏa sáng khung

Xanh đỏ vàng rực rỡ

Niềm cảm xúc hoà chung

.

Minh Thúy Thành Nội

Tháng 7/4/2026

==

Lễ Độc lập _ Mừng Nước Mỹ 250 Năm

Năm nay nước Mỹ mừng 250 năm ngày Độc Lập, và cũng vừa mở hội World Cup 2026
ngay trên đất Mỹ.

Từ ngày 11 tháng 6 tới 19 tháng 7, cờ Mỹ treo khắp nơi, người ta hát quốc ca trước mỗi
trận. Gia đình nhà chồng tôi cũng rộn ràng hai thế hệ. Cô chú em ông xã, người mua vé xem tận
bên Seattle, người mua vé về Santa Clara. Các cháu cũng vậy. Vợ chồng tôi thuộc thế hệ lão niên,
chỉ có ông xã tôi ngày đêm dán mắt vào tivi theo dõi từng trận. Kể cũng tội cho ông, “rượu ngon
không có bạn hiền cùng uống”. Vì tôi chẳng biết gì về bóng đá, chỉ xem khi đội Mỹ ra sân, nghe
dân reo hò. Thấy lá Cờ Sao Sọc bay giữa sân Levi’s ở Santa Clara, sân Seattle, sân Los Angeles,
tự nhiên thấy vui, thấy ấm lòng. Đất nước đã cưu mang mình, nay đứng ra đón cả thế giới.

Qua lời kể của ông xã tôi: Đội Mỹ năm nay đá khá lắm. Mở màn gặp Paraguay ở Los
Angeles, thắng 4-1. Tội nghiệp đội bạn, tự đá vào lưới nhà một trái, còn lại thì cậu Folarin Balogun
ghi hai bàn, cuối trận cậu Gio Reyna sút thêm một trái cho đủ 4-1. Thắng trận đầu ngay trên sân
nhà, cả nước reo. Rồi gặp Úc ở Seattle, Mỹ lại thắng 2-0, giữ sạch lưới. Tới trận gặp Thổ Nhĩ Kỳ
ở Los Angeles thì Mỹ thua 3-2, nhưng đá cũng hay. Vô vòng 32 đội, Mỹ gặp Bosnia and
Herzegovina ngay sân Santa Clara gần nhà. Con cháu chở cha mẹ đi xem, đường kẹt xe, người
đông nghẹt. Mỹ thắng 2-0, Balogun mở tỉ số, rồi cậu Malik Tillman đá phạt đẹp lắm ấn định chiến
thắng. Nghe nói đây là lần đầu sau 24 năm Mỹ mới thắng được một trận loại trực tiếp ở World
Cup, từ hồi thắng Mexico năm 2002. Thắng xong Mỹ vào gặp Bỉ ở vòng 16 đội. Ngồi nhà coi TV,
thấy cầu thủ Mỹ đủ màu da, gốc gác tứ xứ, mà mặc chung một áo, hát chung một bài quốc ca.
Ngẫm cũng như mình hồi xưa, chân ướt chân ráo tới xứ này từ sau 1975.

Năm nay nước Mỹ mừng 250 năm ngày Độc Lập. Thời gian chỉ vừa trải qua ba hoặc
bốn thế hệ để người Mỹ lập nên một quốc giaa hùng mạnh nhất hành tinh.
Tôi còn nhớ một phần lịch sử được học hồi mới qua. Năm 1776, mười ba thuộc địa đồng
lòng đứng lên nói với nước Anh rằng: “Chúng tôi muốn tự do”. Rồi trải qua chiến tranh giành độc
lập, , rồi viết lên bản Tuyên Ngôn Độc lLập…rồi gian khổ trong nội chiến để bỏ đi chuyện buôn
người, chống phân biệt chủng tộc… rồi thịnh vượng. Tham gia vào hai trận Thế chiến để cứu cả
thế giới

Từng bước một, nước Mỹ đi lên từ tay trắng, từ những người di dân tứ xứ góp lại. Thành
ra hôm nay mới có một nước Mỹ bao dung, đón nhận kẻ tỵ nạn như chúng tôi. Là kẻ tỵ nạn, chân
ướt chân ráo tới xứ này từ những ngày sau 1975. Tay xách vài túi quần áo, tiếng Anh ú ớ, trong
tay không có mấy đồng. Vậy mà nước Mỹ mở vòng tay đón…

Nhìn ra khoảng sân sau, bụi hoa giấy đỏ thắm tươi dưới nắng hồng rực rỡ, cây phượng
vàng che mát khoảng sân, cành lá xanh mượt, những chùm phượng xum xuê nở rộ, ẻo lả đong đưa
trước làn gió nhẹ. Mùa hè truyền cảm giác mạnh mẽ, đầy sức sống. Mặc ông chồng đang xem bóng
đá, tôi ngắm khu vườn, thả dòng tư tưởng đi qua vùng ký ức.

Ngày đầu gia đình nhà chồng tôi qua trước, gồm 11 người con sống cùng cha mẹ trong
ngôi nhà 4 phòng ngủ, 2 phòng tắm. Chỉ có anh chị Cả ở riêng vì qua năm 75. Vợ chồng tôi và gia
đình chú em, 4 người, ở garage sửa lại thành 2 phòng. Cả gia đình chỉ có hai chiếc xe cũ mua lại
để dùng, số còn lại đi xe bus. Thời gian cứ thế trôi qua, cho đến bây giờ con cháu đỗ đạt thành
công. Tính đến nay đã có gần 20 căn nhà, có người hai cái, người ba cái. Xe gần 40 chiếc kể cả
con cháu dâu rể.

Xứ Mỹ đã cho chúng tôi cái nhà để ở, cho con cháu trường để học, cho mình công việc để
làm lại từ đầu. Từ một người mất hết, mình thành công dân, con cái nên người.

Nhớ mấy năm trước, chân còn khỏe, tôi cũng đi trong đoàn diễn hành ở thành phố Fremont.
Lúc đó tôi và ông xã là bạn một hội viên của ABC Club, một tổ chức có tính cách giáo dục, hướng
dẫn tuổi trẻ tập dạn dĩ, phải phát biểu ý kiến trước đám đông, tập nói ngắn gọn dễ hiểu để sau này
có thể trở thành người lãnh đạo, hay trong mọi lãnh vực khác. Chương trình này đã sinh hoạt gần
trăm năm trên nước Mỹ, tên là ABC Toastmasters. Gần 15 năm trở lại đây đã mở rộng trên thế
giới. ABC Toastmasters thường họp vào mỗi thứ bảy lúc 10 giờ sáng tại Unitek College, nằm trên
đường Auto Mall Parkway. Trong buổi họp, bất cứ ai cũng có thể lên thực tập, nói một đề tài nào
đó. Các diễn giả lắng nghe và nhận xét phong cách diễn đạt, rồi đúc kết những khiếm khuyết như
nói dài dòng, thế đứng chưa tự tin, giọng nói còn run. ABC Toastmasters đã tham gia diễn hành
vài năm qua và được xếp hạng nhì năm ngoái. Lúc đó chúng tôi mặc quần jean xanh, áo đỏ và đội
mũ trắng, cầm cờ nhỏ, đi giữa phố người ta vỗ tay vui lắm. Nay già rồi, chân chậm, bạn bè cùng
nhóm cũng có người đau yếu, có người bận việc gia đình, nên hết tập họp được nữa. Nghĩ cũng
buồn. Nhưng thôi, mỗi thời mỗi khác.

Vừa qua tôi nhận được email của ông hội trưởng Văn Thơ Lạc Việt, ông Lê Văn Hải, cũng
như tin nhắn của các em, bạn bè, về lời mời đúng ngày Lễ Độc Lập 4 tháng 7 năm 2026: Mời cộng
đồng tỵ nạn Việt Nam đến tham dự Lễ Thượng Kỳ đầu tháng và chương trình “Mừng 250 Năm
Quốc Khánh Hoa Kỳ”, được tổ chức tại Vườn Truyền Thống Việt, 1499 Roberts Avenue, San Jose,
CA 95122. Trước là lễ chào cờ, sau là chương trình văn nghệ, sinh hoạt cộng đồng, do Ủy Ban
Thúc Đẩy Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt – Mỹ San Jose góp phần tổ chức. Lời mời chân tình
của ông Lê Văn Hải thật tha thiết:

Năm 2026, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ long trọng kỷ niệm 250 năm ngày khai sinh quốc
gia, 1776–2026, một cột mốc lịch sử vô cùng đặc biệt, hiếm có đối với bất cứ ai đang sinh sống
trên đất nước tự do này. Đây không chỉ là dịp để nhìn lại chặng đường hai thế kỷ rưỡi của một
quốc gia được xây dựng trên nền tảng Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, mà còn là dịp để tri ân
những thế hệ đã góp phần tạo dựng nên một nước Mỹ hùng mạnh, thịnh vượng và là quê hương
thứ hai của hàng triệu người nhập cư, trong đó có cộng đồng người Việt tỵ nạn. Ngày 4 tháng 7,
Independence Day, bắt nguồn từ việc Tuyên ngôn Độc lập được chính thức thông qua ngày
4/7/1776, đánh dấu sự ra đời của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Từ đó đến nay, ngày lễ này luôn là
biểu tượng của khát vọng tự do và tinh thần đoàn kết dân tộc. Đối với cộng đồng người Việt San
Jose tỵ nạn cộng sản, Quốc Khánh Hoa Kỳ còn mang một ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là ngày tri ânđất nước đã rộng mở vòng tay đón nhận chúng ta, cho chúng ta cơ hội làm lại cuộc đời trong tự
do, an toàn và nhân phẩm. Nên trân trọng kính mời Quý Đồng Hương tham dự buổi sinh hoạt ý
nghĩa nhất. Trong đời người, rất ít ai có cơ hội được chứng kiến lễ kỷ niệm 250 năm lập quốc của
Hoa Kỳ. Đây là một dấu mốc lịch sử đặc biệt, đáng nhớ và đầy ý nghĩa đối với mọi thế hệ. Kính
mời Quý Đồng Hương cùng gia đình dành chút thời gian đến tham dự, cùng nhau kéo lá đại kỳ
Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa tung bay trong gió, cùng cất cao tiếng hát, gặp gỡ thân hữu, chia
sẻ niềm vui và bày tỏ lòng tri ân đối với đất nước đã cưu mang cộng đồng người Việt suốt hơn nửa
thế kỷ qua. Sự hiện diện của Quý Vị sẽ góp phần làm cho ngày Mừng Lễ 250 Năm Quốc Khánh
Hoa Kỳ thêm trang trọng, đông vui và đầy ý nghĩa
.”

Ngày đó chúng tôi cũng thật bận rộn, nhưng qua lời nhắc nhở của ông Lê Văn Hải về “cái
ơn” to lớn của nước Mỹ, hai thân già bệnh hoạn này cũng sẽ ráng tới tham dự, tuy nhiên mất phần
xem diễn hành nơi vùng địa phương. Sau trưa sẽ lên nhà cháu gái ở Palo Alto, sum họp đại gia
đình ăn mừng Lễ Độc Lập.

Tuổi già sức yếu, chồng tôi đang ngồi hò hét một mình theo các cầu thủ, dù âm thanh không
còn mạnh mẽ như những năm trước. Có lần trong giấc ngủ ông đã nằm mơ và hét lên “sút, sút”,
rồi nhào đầu húc vào tường mạnh, ngày sau bầm sưng tím cả mắt và vùng thịt chung quanh. Còn
tôi thì đang ngắm vùng trời xanh, áng mây trắng nhẹ nhàng trôi. Những bông hoa làm dịu mắt, tôi
mơ màng ôn lại khoảng đời từ ngày bước chân lên đất Mỹ, mỉm cười thỏa mãn và tìm niềm vui gõ
chữ ghi lại cảm xúc.

Bây giờ cũng có những niềm vui khác. Và điều cố định là sự sum họp ăn mừng Lễ Độc
Lập của đại gia đình chồng, thay phiên nhau mỗi năm, lúc tổ chức nhà này, khi nhà kia. Con cháu
bên chồng đông lắm, đều ăn học thành tài, đi làm xa. Vậy mà tới lễ là các cháu thu xếp về hết. Cả
nhà sum họp, làm tiệc lớn ngoài sân sau. Người nướng thịt, người làm gỏi, con nít chạy chơi. Tối
đến cả nhà kéo nhau ra coi pháo bông. Đứa nào cũng mặc áo, đội mũ màu xanh, đỏ, trắng, màu cờ
Mỹ. Nhìn một nhà ba thế hệ, tóc bạc có, tóc xanh có, nói tiếng Anh tiếng Việt lộn xộn, lòng thương
lắm. Nhìn vậy là cảm nhận niềm hạnh phúc, nước Mỹ đã cho mình phước báu sum vầy. Ơn này
lớn quá. Nhớ lại những ngày còn ở quê hương, ăn bo bo, mặc áo cũ, rồi nhìn lại cuộc sống bây
giờ, nhìn con cháu nên người, tự nhiên nỗi cảm xúc dâng trào. Chúng tôi mang ơn đất nước này
đã cưu mang. Mang ơn lá cờ có năm mươi ngôi sao đã che cho đại gia đình hơn 50 người suốt mấy
chục năm qua.

Mừng nước Mỹ 250 tuổi, mình không có gì lớn lao để đền đáp. Chỉ có tấm lòng biết ơn.
Biết ơn vì được sống tự do, được thờ cúng tổ tiên, được nói tiếng mẹ đẻ trong nhà mình. Biết ơn
vì ngày lễ, con cháu còn biết mặc áo dài, còn biết cúi đầu trước bàn thờ. Chúng tôi là người Việt,
nhưng cũng là người Mỹ. Hai quê hương trong một trái tim. Ngày Độc Lập, người ta đốt pháo
bông ăn mừng. Đêm khuya tôi cũng thắp nén nhang. Vừa tạ ơn nước Mỹ đã đi 250 năm để có ngày
hôm nay cưu mang chúng tôi, vừa xin ông bà phù hộ cho con cháu đừng quên cội nguồn.

250 năm, nước Mỹ vẫn trẻ trung, đầy sức sống của thời đại mới.Chúng tôi, kẻ tỵ nạn năm
xưa, nay đã lên lão. Chỉ mong trước khi nhắm mắt, con cháu mình hiểu một điều: Tự do không phải tự nhiên mà có. Phải có người ngã xuống từ năm 1776, có người cưu mang mình sau năm
1975, có người biết nhớ ơn mà giữ gìn.

Cám ơn nước Mỹ đã cho chúng tôi một đời thứ hai .

Minh ThúyThành Nội
Lễ Độc Lập Hoa Kỳ/2026

==

==

==

==

Sáng ngày 4 tháng 7.

Alameda nơi tôi sống không phải là thành phố lớn. Chỉ là một hòn đảo nhỏ nằm an bình giữa vịnh San Francisco.  Thành phố được thành lập năm 1853, hiện có khoảng tám mươi ngàn cư dân. Thế nhưng, nơi đây lại sở hữu một niềm hảnh diện khôn cùng, vì thành phố mỗi năm đều có cuộc diễn hành ngày Quốc Khánh, Lễ Độc Lập 4th July, dài nhất nước Mỹ, kéo dài hơn 3,3 dặm (5,3 km), quy tụ hàng trăm đoàn diễn hành và mỗi năm thu hút khoảng 60.000 người tới từ khắp nơi.

Năm nay lại càng đặc biệt hơn, vì là kỷ niệm 250 năm ngày Độc Lập của đất nước Hoa Kỳ. Từ rất sớm, con đường Park Street, từ đoạn Lincoln Avenue vượt qua Central Avenue về hướng downtown đã rợp sắc Cờ Hoa. Ghế xếp phủ kín hai bên lề đường. Người già, trẻ nhỏ, cựu chiến binh, gia đình nhiều thế hệ… tất cả cùng những lá cờ Mỹ phất phơ truớc gió chờ đợi đoàn diễn hành với một bầu không khí vừa náo nức vừa thiêng liêng.

Điều bất ngờ là, trong khi Hoa Kỳ kỷ niệm 250 năm Tuyên Ngôn Độc Lập (1776–2026), thì Sở Cứu Hỏa Alameda cũng vừa tròn 150 năm phục vụ cộng đồng.  Thật là kỳ diệu và thú vị vô cùng, hai điểm lịch sử hòa làm một cùng tiếng nhạc quân hành, cùng rừng Cờ Hoa sắc xanh trắng đỏ, và cùng những tràng pháo tay không dứt của người dân đứng ngồi đông nghẹt hai bên vệ đường. 

Xe hoa nối tiếp xe hoa.  Những chiếc bánh kem khổng lồ chạy xoay vòng vòng ngộ nghĩnh giữa lòng phố thị; những chú ngựa oai phong gõ vó lộp cộp đều đều trên mặt đường; những chiếc xe cổ bóng loáng, những ban nhạc, những đoàn thiếu nhi, các hội đoàn thiện nguyện, cựu chiến binh, cảnh sát, cứu hỏa… tất cả hòa nhập dệt thành một bức tranh đường phố, di chuyển ngoằn ngoèo rất sinh động, và đầy màu sắc như để minh chứng về sự hùng mạnh của nước Mỹ ngày hôm nay.

Cầm lấy cây cờ Mỹ từ tay một người lính cứu hỏa trên chiếc xe hoa chồm ra đưa khi thấy tôi chạy lại gần để chụp hình, tôi hào hứng đưa lên vẫy lia lịa.  Nhìn xung quanh tôi, người dân cũng cùng nhau vẫy cờ Hoa Kỳ, cùng reo hò vang dội mỗi khi một đoàn diễn hành, một chiếc xe hoa chạy ngang qua.  Niềm vui và hạnh phúc hiện rõ trên khuôn mặt mỗi người.  Tại thành phố của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ này, không ai hỏi bạn đến từ đâu, cũng không ai phân biệt ngôn ngữ, chỉ có những bàn tay đủ màu da, trắng, đen, vàng, đỏ… cùng vẫy lá Cờ Hoa.  Và đó mới chính là nhân tố làm nên vẻ đẹp của nước Mỹ.

==

==

Ngày Độc Lập đã được viết trong bản Tuyên Ngôn năm 1776.  Nhưng ngày Lễ Độc Lập hiện giờ đang bừng sáng vì sự ngưỡng mộ của những đứa trẻ, trong ánh mắt của toàn dân, cùng tiếng vó ngựa vang lên giữa phố, và quan trọng hơn hết, là trong quyền tự do được đứng bên nhau để mừng ngày sinh nhật của Tổ Quốc có 50 Tiểu Bang này.

Giữa biển người hôm ấy, tôi chợt hiểu vì sao cuộc diễn hành của Alameda đã tồn tại non thế kỷ.  Bởi vì nó là một lễ hội đầy ắp những nụ cười, những tiếng vỗ tay, và niềm hảnh diện của những con người bình dị từ bài học lịch sử sống động nhất.

Đã nhiều thập niên sống trên đất Mỹ, tôi đã dự Lễ Độc Lập nhiều vô số kể. Nhưng ngày hôm nay, giữa bầu trời xanh thẳm của Alameda, nhìn hàng vạn người dân đủ mọi sắc tộc cùng vẫy cờ Hoa Kỳ, tôi chợt cảm nhận rất rõ một điều.  Sức mạnh của nước Mỹ nằm ở kinh tế, quân sự, nhưng quan trọng nhất là khả năng gắn kết những con người khác nhau bằng một lý tưởng chung. Đó là hai chữ Tự Do.

*

Và rồi đêm pháo hoa. Ban ngày là ngày hội của Cờ Hoa, của tiếng nhạc quân hành, và những đoàn diễn hành bất tận, rồi khi màn đêm buông xuống, Alameda lại khoác lên mình một vẻ đẹp hùng vĩ lung linh khác.

Sau 7 giờ tối, từ trong phố ra đến bến cảng Alameda, hàng ngàn người lặng lẽ đổ về phía biển gần mép nước. Người mang theo ghế xếp, người trải tấm chăn trên bờ cát, trẻ em ôm từng dây pháo bông chạy tung tăng, rồi dừng lại đốt lên cháy sáng rực cả một góc trời.  Những người già ngồi sát bên nhau, khoác áo len mắt hướng về phía mặt vịnh mênh mông, người trẻ thì ăn uống vui cười, mở nhạc om sòm vừa ôm nhau lắc lư thật nhộn nhịp.  Nhưng tất cả đều hướng mắt về phía cầu tàu bên biển Berkeley, chờ pháo bông nở rộ.

Xa xa là cây cầu Bay Bridge của San Fransisco sáng rực ánh đèn nối liền đôi bờ vịnh. Những chiếc phà lặng lẽ lướt xa xa, hình như trên đó mang theo nhiều du khách đang chờ chứng kiến giây phút lịch sử của nước Mỹ tròn 250 năm tuổi.

Rồi…Một tiếng nổ đầu tiên xé tan màn đêm, phụt lên trời sáng lóe. Tiếp theo là tiếng reo hò vang dậy.  Rồi từng chùm pháo hoa đỏ, trắng, xanh, ba màu của lá Cờ Hoa, đồng loạt bùng nở trên bầu trời, phản chiếu xuống mặt nước lung linh như hàng ngàn viên kim cương đang nhảy múa.  Cả vịnh biển như bừng tỉnh. Tiếng pháo dội vào không gian. Tiếng sóng vỗ dập dềnh vào bến làm vỡ vụn những ánh sao trên bầu trời vừa rơi xuống nước. Tiếng vỗ tay vang dội hòa cùng tiếng trẻ thơ reo cười rộn vang trên bến.

Lúc này mọi hoạt động ăn uống như dừng hẳn lại.  Mọi ánh mắt đều hướng sang phía Berkeley Marina, nơi những chùm pháo hoa liên tiếp bừng nở trên nền trời. Từ bên kia vịnh, từng đóa hoa lửa đủ màu phản chiếu xuống mặt nước lấp lánh, khiến cả không gian như chìm trong một biển ánh sáng. Tiếng reo hò, tiếng vỗ tay tiếp tục hòa cùng tiếng sóng vỗ bờ tạo nên một bản hợp xướng tuyệt đẹp của đêm Quốc Khánh. Dù pháo hoa được bắn từ phía Berkeley, nhưng niềm hân hoan thì lan tỏa khắp mặt biển, nối liền hai bờ bằng niềm vui chung dành cho nước Mỹ.

Tôi đứng giữa biển người đông nghẹt nơi bến cảng, lặng nhìn những đóa hoa lửa nở rồi tan trên nền trời đêm, lòng bâng khuâng suy nghĩ, thương cho những đất nước nào trên trái đất mà người dân chưa bao giờ có cơ hội hiểu hết ý nghĩa của hai chữ Tự Do.

Rời bờ biển Alameda khi trời đã về khuya, nghe như tiếng nhạc vẫn còn vang vọng đâu đây. Những chùm pháo hoa bên kia vịnh đã tắt, nhưng trong tôi vẫn còn rực sáng một niềm tin. Hai trăm năm mươi năm vốn chỉ là một dấu ấn của lịch sử. Điều còn lại mãi mãi là tinh thần của một dân tộc biết trân trọng tự do, biết gìn giữ độc lập, và biết truyền ngọn lửa ấy từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ Hoa Kỳ ra khắp năm châu.

Có lẽ vì vậy mà hàng năm trong ngày Lễ Độc Lập, người ta đến Alameda để xem cuộc diễn hành dài nhất nước, và để được sống lại một phần tâm hồn của nước Mỹ tự do.  Đã đi qua biết bao mùa Quốc khánh trên quê hương thứ hai này, nhưng mỗi lần lá cờ Hoa Kỳ tung bay trong nắng tháng Bảy, lòng tôi vẫn dâng lên một niềm xúc động vô biên.  Bất giác nghĩ rằng… Đêm đã qua, pháo hoa đã tắt, nhưng ánh sáng của ngày Độc Lập sẽ còn ở lại trong trái tim của hàng vạn con người đang có mặt nơi đây.

250 năm, một dân tộc, một lá cờ, và một nền Tự Do bất diệt.

Happy Birthday, America!

Phương Hoa – Lễ Độc Lập Hoa Kỳ

==



BÀI TỪ THÂN HỮU Tsu A Cầu:  “KỲ TÍCH 250 NĂM HOA KỲ: Bốn Trụ Cột Của Một Nền Văn Minh Tự Do.”

LỜI NGỎ

Tsu A Cầu

Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,

Sau một tuần nghỉ lễ Độc Lập Hoa Kỳ, tôi có dịp quây quần cùng con cháu tại Legoland. Trong những ngày tưởng chừng chỉ để vui chơi ấy, tôi lại nhận ra một điều khá thú vị: đôi khi sống như trẻ nhỏ — hồn nhiên, vui vẻ, vô tư — lại mang đến sự thoải mái nhiều hơn là quanh quẩn “hang around” với mấy ông bạn già suốt ngày.

Tuy vậy, niềm vui ấy cũng đi kèm một chút chạnh lòng. Nhìn lũ trẻ chạy nhảy không biết mệt, tôi lại thấy mình chậm lại — chân đau, đi ít hơn, ngồi nhiều hơn. Chợt nhớ lần đi Yellowstone National Park trước đây, một anh hướng dẫn viên nhìn tôi ái ngại rồi buông một câu nửa đùa nửa thật: “Lần này anh còn đi được, có lẽ lần sau hẹn gặp anh trên cruise ship!” Nghe qua tưởng vui, nhưng càng ngẫm càng thấm cái quy luật tự nhiên của tuổi tác. Và cũng từ đó, càng thêm tiếc nuối những ngày còn sung sức, những ngày “xa thân ái” đã dần lùi vào ký ức.

Trong thời gian nghỉ lễ, thế giới cũng không ngừng chuyển động. Không khí của FIFA World Cup 2026, những tranh luận xoay quanh các phát biểu chính trị, cùng nhiều sự kiện đáng chú ý khác đã thu hút sự quan tâm rộng rãi. Tuy nhiên, điều làm tôi suy nghĩ nhiều hơn cả vẫn là những bài tường trình và phân tích về chặng đường 250 năm hình thành và phát triển của Hoa Kỳ — một hành trình mà tôi gọi là “kỳ tích” của một quốc gia non trẻ.

Từ góc nhìn cá nhân, tôi cho rằng đây không chỉ là câu chuyện riêng của nước Mỹ, mà còn là một đề tài đáng để nhiều quốc gia — đặc biệt là những quốc gia đang tìm kiếm con đường phát triển — suy ngẫm và học hỏi.

Nhân dịp này, kính mời quý vị theo dõi bài viết: “KỲ TÍCH 250 NĂM HOA KỲ: Bốn Trụ Cột Của Một Nền Văn Minh Tự Do.”

Đây là những cảm nhận mang tính cá nhân, nhưng tôi hy vọng có thể gợi mở thêm góc nhìn để chúng ta cùng tìm hiểu, đối chiếu và rút ra những nhận định hữu ích.

Kính mong quý vị đón nhận, suy ngẫm, và nếu thấy có giá trị, xin vui lòng chia sẻ rộng rãi.

Trân trọng,

Tsu A Cầu K29
Huntington Beach, California
Ngày 7 tháng 7 năm 2026

+++

KỲ TÍCH 250 NĂM HOA KỲ

Bốn Trụ Cột Của Một Nền Văn Minh Tự Do

Tsu A Cầu

Trong vòng chưa đầy ba thế kỷ, Hoa Kỳ đã vươn lên từ một dải thuộc địa non trẻ thành siêu cường toàn cầu toàn diện. Kỳ tích 250 năm này không đến từ sự may mắn về địa lý hay tài nguyên, mà cốt lõi nằm ở một thể chế chính trị đặt tự do cá nhân làm nguyên lý vận hành trung tâm.

Thiếu tự do là thiếu tất cả.

Tự do không phải là khẩu hiệu suông, mà là điều kiện không thể thiếu để giải phóng trí tuệ, sức sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của con người. Là những chứng nhân lịch sử đã từng đi qua khói lửa chiến tranh và hiểu rõ lằn ranh sinh tử giữa độc tài và tự do, chúng ta thấy rõ nội lực Hoa Kỳ được xây dựng vững chắc bằng bốn trụ cột chính:

  • Bản Hiến pháp kiệt tác: Thiết kế thể chế phân quyền tinh vi nhằm kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa độc tài và bảo vệ quyền cá nhân.
  • Sự nhân văn sau Nội chiến: Thay vì trả thù, bên thắng cuộc tôn trọng nhân phẩm bên thua cuộc để cùng tái thiết quốc gia.
  • Ý chí tiên phong tự lực (Pioneering): Khuyến khích người dân chủ động dấn thân, mạo hiểm, tự quản và từ chối sự bao cấp.
  • Nam châm thu hút chất xám: Tạo môi trường tự do học thuật và kinh doanh sòng phẳng để nhân tài toàn cầu tự nguyện tìm đến.

Bốn trụ cột này không chỉ là bài học riêng của người Mỹ. Chúng là tấm gương mà bất kỳ quốc gia nào — dù có nghìn năm lịch sử hay chỉ mới lập quốc — đều có thể soi vào để tự hỏi: điều gì tạo ra sự thịnh vượng bền vững, và điều gì kìm hãm nó?

Câu trả lời mà lịch sử 250 năm của Hoa Kỳ chứng minh một cách không thể chối cãi: thể chế tự do luôn tạo ra kết quả vượt trội, dù nhân loại ở bất kỳ nơi đâu cũng đều mang chung khát vọng được sống tự do và quyền tư hữu.


1. Hiến Pháp Hoa Kỳ: Kiệt Tác Thiết Kế Chính Trị

Nền móng giúp biến 13 thuộc địa rời rạc thành một siêu cường thống nhất và ổn định suốt hai thế kỷ rưỡi qua chính là bản Hiến pháp Hoa Kỳ. Văn kiện ưu việt này được xây dựng trên một triết lý thực tế và tỉnh táo: sự hoài nghi tuyệt đối đối với quyền lực tập trung. Các nhà lập quốc hiểu rằng con người không phải thánh nhân — bất kỳ cá nhân hay phe phái nào khi nắm quyền lực tuyệt đối đều có xu hướng tha hóa. Vì vậy, họ thiết kế thể chế kiểm soát quyền lực dựa trên ba nguyên lý cốt lõi:

  • Phân quyền (Separation of powers): Tách biệt hoàn toàn ba nhánh Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp để triệt tiêu độc quyền.
  • Kiểm soát và Cân bằng (Checks and balances): Tạo cơ chế giám sát chéo và phủ quyết giữa các nhánh, kết hợp giới hạn nhiệm kỳ (Tu Chính Án 22 năm 1951) để không ai có thể nắm quyền lực suốt đời.
  • Thượng tôn pháp luật (Rule of law): Ràng buộc quyền lực chính quyền dưới luật pháp, bảo vệ quyền cá nhân tối thượng.

Sự tỉnh táo trong thiết kế thể chế này mang lại ba giá trị thực tế: mọi quyết sách phải tuân thủ quy trình pháp lý thay vì ý chí cá nhân; công dân được giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào bất kỳ nhóm cầm quyền nào; và mọi xung đột xã hội được phân xử văn minh bằng luật pháp thay vì bạo lực.

Trong lịch sử nhân loại, các thể chế chọn con đường ngược lại — tập trung quyền lực, hứa hẹn “thiên đường” nhưng tước đoạt tự do cá nhân — đều không tránh khỏi sự trì trệ, bất công và cuối cùng là sụp đổ. Hiến pháp Mỹ, với tư cách là bộ khung thượng tầng bất biến suốt 250 năm, là bằng chứng sống động nhất cho tính ưu việt của mô hình ngược lại.


2. Sự Nhân Văn Sau Nội Chiến: Bài Học Sòng Phẳng Về Hòa Hợp Đích Thực

Cuộc Nội chiến Mỹ kết thúc tại Appomattox năm 1865 đã để lại một bài học văn minh nhân loại về cách đối xử giữa bên thắng cuộc và bên thua cuộc.

Tướng thắng cuộc Ulysses S. Grant từ chối làm nhục Tướng Robert E. Lee. Ông cho phép binh sĩ miền Nam giữ lại gia súc để về canh tác, cấp 25.000 khẩu phần lương thực cứu đói quân đầu hàng, và lập tức ra lệnh ngừng bắn đại bác ăn mừng với lời giải thích đơn giản mà sâu sắc: “Chiến tranh đã kết thúc; quân phiến loạn nay là đồng bào của chúng ta; và dấu hiệu tốt nhất để ăn mừng chiến thắng là không có bất kỳ biểu dương nào ngoài chiến trường.”

Không có phiên tòa đấu tố. Không có trại giam tập trung. Không truy xét lý lịch đời sau. Nước Mỹ đạt được hòa hợp quốc gia thực sự vì họ biết tôn trọng nhân phẩm của bên thua cuộc — trao cho họ danh dự để trở lại làm công dân hợp pháp, cùng nhau tái thiết đất nước.

Sự thành công tột bực của hệ thống Mỹ còn nằm ở khả năng tự điều chỉnh để sửa sai và tiến hóa qua ba cơ chế:

  • Thừa nhận sai lầm: Sẵn sàng nhìn thẳng vào những góc khuất lịch sử thay vì bôi xóa hay tô hồng.
  • Cải cách thể chế: Dùng luật pháp và các Tu Chính Án để vá lỗ hổng hệ thống một cách văn minh.
  • Tiến hóa theo thời gian: Thay đổi cấu trúc để thích nghi với những đòi hỏi mới của văn minh nhân loại.

Một quốc gia có thể phạm sai lầm — điều đó là không tránh khỏi trong lịch sử của bất kỳ dân tộc nào. Nhưng nếu có cơ chế sửa sai từ trong bản chất thể chế, nó vẫn sẽ tiến lên. Ngược lại, một hệ thống tự nhận mình “vô sai lầm” và không có cơ chế phản biện từ bên trong sẽ chỉ tích tụ bất công cho đến khi khủng hoảng bùng phát không thể kiểm soát.


3. Tự Do Và Tinh Thần “Pioneering”: Gene Di Truyền Tự Lực Cánh Sinh

Sức mạnh nội sinh giúp Hoa Kỳ liên tục bứt phá nằm ở tinh thần “Pioneering” — ý chí tiên phong khai hoang và sẵn sàng chấp nhận rủi ro. Tinh thần ấy thúc đẩy người dân sống tự lập, tự quản, có quyền tự do tư duy và phản biện mà không sợ bị trù dập. Từ những đoàn xe ngựa nghèo khổ khai phá miền Tây cho đến các phòng thí nghiệm tạo ra Internet, GPS và trí tuệ nhân tạo AI— thể chế Mỹ luôn bảo đảm một nguyên tắc bất biến: ai có lòng can đảm và sức sáng tạo thì thành quả và quyền tư hữu sẽ thuộc về họ, tuyệt đối không cần sự “ban phát” từ chính quyền.

Tinh thần tiên phong này được nuôi dưỡng bởi ba phẩm chất xã hội:

  • Sự chủ động: Tự định đoạt hướng đi cuộc đời thay vì chờ nhà nước sắp đặt.
  • Chấp nhận rủi ro: Dám dấn thân vào dự án mới dù tỷ lệ thất bại cao.
  • Tự chịu trách nhiệm: Nhận thức thành bại do chính mình, không ỷ lại cơ chế.

Và môi trường Mỹ tạo điều kiện cho tinh thần đó bằng ba nền tảng: thất bại không bị trừng phạt về mặt xã hội mà được coi là bài học; thành công không bị hạn chế bởi xuất thân hay lý lịch cha ông; và cơ hội luôn mở rộng thông qua luật pháp bảo vệ quyền tư hữu tuyệt đối.

Lịch sử cho thấy một quy luật phổ quát: khi được thử và sai trong không gian tự do, con người sẽ tạo ra đột phá thay đổi thế giới. Khi bị kiểm soát và thuần hóa thành sinh vật quen sống bám bao cấp, họ chỉ có thể chọn cách tuân phục để sinh tồn — và quốc gia đó sẽ mãi là kẻ đi sau.


4. Nam Châm Thu Hút Chất Xám: Sức Mạnh Đổi Mới Không Ngừng

Hơn cả một quốc gia mở cửa nhận người di cư, Hoa Kỳ sở hữu cơ chế vận hành như một thỏi nam châm khổng lồ thu hút và dung nạp chất xám từ mọi nơi trên thế giới. Từ Albert Einstein trốn chạy phát xít Đức cho đến hàng triệu học giả, kỹ sư tinh hoa qua nhiều thế hệ — tất cả đều chọn Mỹ làm bến đỗ thay vì Trung Cộng hay Nga Sô. Không phải vì người Mỹ thuyết phục họ, mà vì thể chế tự do tự nó có sức hút không thể cưỡng lại.

Mỹ trở thành điểm hội tụ của trí tuệ quốc tế nhờ ba trụ cột:

  • Tự do học thuật: Người nghiên cứu được quyền tìm tòi và phản biện mọi vấn đề mà không bị giới hạn bởi các cấm kỵ chính trị hay giáo điều.
  • Môi trường sáng tạo phóng khoáng: Hệ sinh thái tôn trọng sự khác biệt, bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ và quyền tư hữu tuyệt đối, biến ý tưởng thành giá trị vật chất một cách sòng phẳng.
  • Thăng tiến dựa trên thực lực: Sân chơi bình đẳng công nhận năng lực cá nhân, vượt qua mọi rào cản về chủng tộc hay lý lịch xuất thân.

Đây là lý do vì sao bất kể ai — dù sinh ra ở đâu, dù từng được giáo dục theo hệ thống tư tưởng nào — khi cần phát triển tài năng và bảo vệ thành quả của mình một cách thực chất, họ đều chọn môi trường tự do. Hành động đó, tự nó, là bằng chứng hùng hồn nhất về sức mạnh của tự do — không cần thêm bất kỳ lời bình luận nào.

Trong một thế giới mà một số nền kinh tế lớn vẫn kiểm soát tư tưởng và hạn chế quyền tư hữu — như trường hợp tỷ phú Jack Ma bị thanh trừng ngay tại đỉnh cao sự nghiệp là minh chứng cụ thể — nước Mỹ tiếp tục là không gian khai phóng duy nhất cho những bộ óc kiệt xuất nhất của nhân loại.


Lời Kết: Tự Do — Nền Tảng Không Thể Thay Thế

Bốn trụ cột làm nên kỳ tích 250 năm của Hoa Kỳ không tồn tại độc lập mà liên kết chặt chẽ qua một nguyên lý duy nhất: tự do cá nhân được bảo vệ bởi luật pháp. Tự do không phải là sự hỗn loạn, mà là một hệ điều hành tối ưu giúp giải phóng sức sáng tạo, buộc quyền lực phải chịu trách nhiệm và tạo điều kiện cho xã hội tự sửa sai.

Lịch sử 250 năm của Hoa Kỳ chứng minh một chân lý không thể chối cãi: một quốc gia nghèo tài nguyên vẫn có thể thịnh vượng nếu giải phóng con người. Ngược lại, một đất nước giàu tiềm năng và lịch sử lâu đời vẫn có thể trì trệ nếu bóp nghẹt tự do — bởi vì không có tài nguyên thiên nhiên nào quý giá hơn năng lượng sáng tạo của con người được tự do phát huy.

“Thiếu tự do là thiếu tất cả.”

Đây không phải là tuyên ngôn của riêng người Mỹ. Đây là bài học chung của nhân loại — một bài học mà lịch sử đã viết đi viết lại bằng nhiều ngôn ngữ, trên nhiều lục địa, qua nhiều thế kỷ. Hiểu được bài học đó và dũng cảm áp dụng nó, dù trong hoàn cảnh nào, chính là con đường duy nhất dẫn đến sự thịnh vượng lâu dài và phẩm giá đích thực của một dân tộc.

Những người Việt Nam đã trải qua khói lửa, đã hiểu tận cùng ý nghĩa của hai chữ tự do bằng cái giá mà không ai muốn phải trả, sau 30/4/1975— họ hơn ai hết hiểu rõ giá trị của những gì Hoa Kỳ đã xây dựng trong 250 năm qua. Và chính sự hiểu biết đó là di sản quý giá nhất cần được gìn giữ và truyền lại cho thế hệ sau.

Tsu A Cầu, Khóa 29 TVBQGVN

Huntington Beach, California, ngày 7 tháng 7 năm 2026




NGỌC HUYỀN (SỎI NGỌC) Trình Bày Ca Khúc Xóm Đêm




KIỀU MỸ DUYÊN – ĐẠI HỘI BIỆT ĐỘNG QUÂN KỶ NIỆM 66 NĂM THÀNH LẬP BINH CHỦNG BIỆT ĐỘNG QUÂN.




Ca Khúc GIÁ TRỊ TỰ DO – Nhạc & Lời: NGUYỄN VĂN THÀNH – Trình bày: An Minh & M. – HÁT VANG “TỰ DO” – Nguyễn Văn Thành – An Minh




ĐỖ DUNG – NHƯ MỘT THOÁNG MÂY BAY – (FLIPBOOK)




ĐỌC TRUYỆN THỦY NHƯ – Truyện Ngắn TÌNH GIÀ. Diễn Đọc: Giọt Sương Thu




LÊ XUÂN MỸ – Khi Tượng Người Lính VNCH Bị Kéo Ngã.

Khi Tượng Người Lính VNCH Bị Kéo Ngã

Lê Xuân Mỹ

Tuần qua, cộng đồng người Việt tại San Jose không khỏi bàng hoàng khi hay tin bức tượng người lính Việt Nam trong tượng đài “Thank You America” bị kẻ gian lấy đi cùng chiếc lư hương đặt phía trước tượng đài.

Vài ngày sau, người ta tìm thấy bức tượng bị kéo lê và bỏ lại trong một khu vực của những người vô gia cư. Điều khiến nhiều người suy nghĩ là trong cụm tượng có hai người lính đứng cạnh nhau, một người lính Mỹ và một người lính Việt Nam Cộng Hòa, nhưng chỉ có bức tượng người lính Việt Nam bị lấy đi.

Tôi đọc tin ấy nhiều lần. Ban đầu là sự ngạc nhiên, sau đó là nỗi buồn. Không phải vì giá trị của một pho tượng bằng đồng, mà vì ý nghĩa của những gì bức tượng ấy tượng trưng. Đối với nhiều người Mỹ, đó có thể chỉ là một tượng đài chiến tranh. Nhưng đối với nhiều người Việt tị nạn như tôi, đó là biểu tượng của lòng biết ơn. Hai người lính đứng cạnh nhau không chỉ nói lên một giai đoạn lịch sử mà còn nhắc nhở về sự hy sinh, tình đồng minh và mối ân tình mà cộng đồng người Việt tị nạn luôn dành cho nước Mỹ.

Cho đến hôm nay, không ai biết chính xác vì sao chỉ có tượng người lính Việt Nam bị lấy đi. Có thể đó chỉ là một vụ trộm cắp đơn thuần. Có thể kẻ gian thấy bức tượng ấy dễ tháo gỡ hơn. Cũng có thể hoàn toàn là sự ngẫu nhiên. Cũng có thể có một chủ đích nào đó. Chúng ta không nên vội vàng kết luận khi chưa có kết quả điều tra.

Tuy nhiên, đối với nhiều người thuộc thế hệ của tôi, sự việc ấy vẫn để lại một cảm giác thất khó tả. Câu hỏi “Vì sao chỉ có người lính Việt Nam?” cứ quanh quẩn trong đầu như một nỗi trăn trở không dễ trả lời.

Có lẽ bởi vì phía sau bức tượng ấy là hình ảnh của biết bao con người thật. Tôi nhìn bức tượng và nhớ đến cha tôi. Ông là một sĩ quan Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa. Sau năm 1975, ông bị bắt đi tù cải tạo và qua đời trong trại giam Vĩnh Phú năm 1979. Gia đình tôi từ đó rơi vào cảnh thiếu thốn. Mẹ tôi phải gồng gánh nuôi đàn con, còn tôi phải làm đủ nghề để cùng mẹ chăm sóc bảy người em còn nhỏ. Những năm tháng ấy đã lùi xa gần nửa thế kỷ nhưng chưa bao giờ phai nhạt trong ký ức.

Khi sang Mỹ năm 1998, tôi mang theo không chỉ hành trang của một người di dân mà còn mang theo ký ức của một người con mất cha trong trại cải tạo. Nước Mỹ không thể trả lại cho tôi những năm tháng đã mất, không thể mang cha tôi trở về với gia đình, nhưng nước Mỹ đã cho gia đình tôi cơ hội xây dựng lại cuộc đời. Các con tôi trưởng thành trên đất nước này. Các cháu tôi được sinh ra trên đất nước này. Và tôi có cơ hội sống những năm tháng tuổi già trong bình yên, được viết lại những câu chuyện của một thế hệ đã trải qua chiến tranh, tù đày, mất mát và hành trình đi tìm tự do.

Có lẽ vì vậy mà mỗi lần nhìn tượng đài “Thank You America”, tôi luôn cảm nhận đó là một lời cảm ơn được đúc thành hình tượng. Cảm ơn những người lính Mỹ đã từng chiến đấu tại Việt Nam. Cảm ơn đất nước đã mở rộng vòng tay đón nhận hàng triệu người tị nạn. Cảm ơn cơ hội mà nước Mỹ đã dành cho những gia đình như gia đình tôi.

Điều khiến tôi xúc động hơn nữa là chiếc lư hương cũng bị lấy đi. Trong văn hóa Việt Nam, lư hương không chỉ là một vật trang trí. Đó là nơi người sống gửi gắm lòng tưởng nhớ đến người đã khuất. Đó là nơi một nén nhang được thắp lên để nối quá khứ với hiện tại. Nhìn hình ảnh bức tượng và lư hương bị kéo khỏi vị trí vốn có của chúng, tôi chợt nghĩ đến số phận của những người lính Việt Nam Cộng Hòa sau cuộc chiến.

Nhiều người ngã xuống trên chiến trường. Nhiều người chết trong các trại cải tạo. Nhiều người lưu lạc khắp thế giới. Và không ít người đã ra đi trong lặng lẽ.

May mắn thay, bức tượng đã được tìm thấy. Rồi đây nó sẽ được dựng lại. Những vết trầy xước có thể được sửa chữa. Chiếc lư hương có thể được thay mới. Nhưng sự việc ấy đã nhắc cho chúng ta thấy rằng ký ức cần được gìn giữ và lịch sử không nên bị lãng quên. Người ta có thể kéo ngã một bức tượng, nhưng không thể kéo ngã lòng biết ơn của một cộng đồng. Người ta có thể lấy đi một khối đồng, nhưng không thể lấy đi những ký ức đã khắc sâu trong trái tim của hàng trăm ngàn người Việt tị nạn.

Hơn năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày chiến tranh kết thúc. Những người lính năm xưa giờ đây phần lớn đã già yếu hoặc đã ra đi. Nhưng chừng nào vẫn còn những người nhớ đến họ, chừng nào vẫn còn những người dừng chân trước tượng đài để tưởng niệm, thì người lính ấy vẫn còn đứng đó. Không chỉ đứng trong công viên của thành phố San Jose, mà còn đứng trong ký ức của cả một thế hệ và trong lòng biết ơn của những người Việt đã tìm được cuộc sống mới trên quê hương thứ hai của mình.

Lê Xuân Mỹ

Viết trong ngày chờ đợi chương trình Cam Ơn Anh tại San Jose ngày 22/7/2026




VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT MỪNG LỄ ĐỘC LẬP HOA KỲ. Phương Hoa: 250 NĂM DỰNG NƯỚC HOA KỲ Và BẢN HÙNG CA HAI NỬA BÁN CẦU. THƠ CAO MỴ NHÂN – THƠ CẢM TÁC LÊ MỸ HOÀN – THƠ TRẦN VẤN LỆ.

==

==

Mai mới là Quốc Khánh, cả nước Mỹ nghỉ, mừng!  Hôm nay mới hừng Đông… người cắt cỏ đi làm sớm, mai nghỉ!

Mình dậy sớm thấy thế, lòng bỗng dưng nghẹn ngào(*).  Một chút gì nao nao:  nước mình không Quốc Khánh!

Bốn ngàn năm hiu quạnh!  Cờ Tàu treo mái Đình… thế mà cũng bốn “nghìn”.  Lịch Sử Việt lệch sử?

Đinh Bộ Lĩnh, “thằng nhỏ”, chính danh Đinh Tiên Hoàng, tính chỉ hơn ngàn năm sao bốn “nghìn” cho được? 

Mình “ăn cỗ đi trước còn lội nước đi sau!”. Chuyện thật như tào lao… hèn chi không ai học!

Người có học:  Trí Thức!  Trí Thức làm cái gì?  Hết bỏ đi theo Tây… tiếp bỏ đi theo Mỹ…

Ba Mươi Tháng Bốn hay nhỉ!  Trời chỉ có mưa sa!  Ông Trời phải khóc mà, dân ta thì bình thản! (**)

Đến hai chữ Kách Mạng”, xong nhiệm vụ là xong.  Năm mươi hai năm lung tung, trống thùng thùng cứ gióng…

Người cắt cỏ, lao động, sợ mai làm, làm phiền… nên sáng nay… còn đêm, đi làm điều lịch sự!

Ôi Nước Non Yêu Quý, cái tên nước Tàu ban, có gì mà vẻ vang… thua cả người cắt cỏ!

Jean Paul Sartre nói “Đồ Chó!  Bám Đít Lũ Lưu Manh!”.  Nói xong bèn giật mình… đi cứu người Vượt Biển! (***)

Mở Google nó hiện “Thằng Lưu Manh” là ai? Ai?  Ai?  Ai?  Ai? Ai? Nam Mô A Di Đà Phật!

*

Mùa này Huế lất phất cơn mưa phùn vào Thu.  Hãy niệm Phật Nam Mô để cho lòng mình nhẹ…

Cơn mưa dù lớn, bé, nó vẫn là cơn mưa… Cơn mưa phùn phất phơ… áo dài ơi!  Yêu Quý!

Trần Trung Tá

(*)   Câu này của Thế Viên “Tóc ai vàng một nửa, ta nhìn xa chợt nhớ trăng  mùa Thu năm nao soi bóng người bên cửa, lòng bỗng dưng nghẹn ngào.  Vì sao ta thương nhớ?  Bởi vì quá nhớ thương!”.

(**). Thơ Trần Dần:  “Tôi đi không thấy phố thấy nhà chỉ thấy mưa sa…”.

(***) Jean Paul Sartre, triết gia người Pháp, ca tụng chủ nghĩa Marxism, theo Đảng Cộng Sản Pháp, tuyên bố:  “Ai không theo Cộng Sản là Đồ Con Chó”.  Năm 1975, Sartre đọc tin tức người Việt Nam vượt biển chết nhiều quá, xem thêm hình ảnh thảm thương, chịu không nổi, bèn tuyên bố bỏ Đảng Cộng Sản Pháp, chắt mót tiền riêng, mua tàu đi cứu vớt… Sartre nói “Ai còn theo Cộng Sản là Đồ Con Chó!”.  Chớp cơ hội, Võ Văn Ái và Nhất Hạnh dựng ra tổ chức cứu trợ đặt tên Cứu Người Việt Nam Vượt Biển”, tiền vào như nước, có chi một ít, còn lại thì “dùng vào việc cá nhân”… Hãy bấm Google thì thấy… Hãy đọc tờ báo Quê Mẹ của Võ Văn Ái thì thấy...

==

QUÊ HƯƠNG THỨ HAI – phamphanlang

Kính dâng quê hương thứ hai của hàng triệu người Việt tị nạn, với tất cả lòng biết ơn, nhân dịp Kỷ niệm 250 năm Lập quốc Hoa Kỳ (1776–2026).

      Lịch sử của mỗi dân tộc đều có những ngày không bao giờ phai nhạt.

      Đối với Hoa Kỳ, ngày 4 tháng 7 năm 1776 đánh dấu sự ra đời của một quốc gia được xây dựng trên lý tưởng tự do, dân chủ và quyền mưu cầu hạnh phúc.

      Đối với hàng triệu người Việt ly hương, biến cố năm 1975 đã mở ra một hành trình đầy nước mắt, nhưng cũng đưa chúng tôi đến với một bến bờ của hy vọng. Trên mảnh đất Hoa Kỳ, chúng tôi tìm lại phẩm giá của con người, tìm thấy cơ hội để học tập, làm việc, cống hiến và nuôi dưỡng những thế hệ tương lai trong tự do.

      Với riêng tôi, lòng biết ơn ấy còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn. Từ một người tị nạn, tôi đã có vinh dự được phục vụ đất nước này trong quân phục của Quân đội Hoa Kỳ, xem sự cống hiến của mình như một cách đáp đền phần nào ân tình mà quê hương thứ hai đã dành cho gia đình tôi.

     Bài thơ “Quê Hương Thứ Hai” được viết không chỉ để chúc mừng một cột mốc lịch sử, mà còn để lưu giữ một lời tri ân.

     Tri ân một dân tộc đã chọn tự do làm nền tảng lập quốc.

     Tri ân một đất nước đã mở rộng vòng tay với những con người mất quê hương.

     Và tri ân quê hương thứ hai đã cho hàng triệu người Việt tị nạn cơ hội được sống, được làm người, được phụng sự và được mưu cầu hạnh phúc.

     Xin kính chúc Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ mãi mãi hùng cường; ngọn đuốc tự do luôn tỏa sáng để soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

      Xin kính chúc quýThầy Cô, quý anh chị và các bạn Happy July 4th!

QUÊ HƯƠNG THỨ HAI

(Mừng 250 năm Lập quốc Hoa Kỳ)

Hai trăm năm mươi năm

Sử vàng còn rực sáng

Cờ sao bay kiêu hãnh

Rạng rỡ khắp trời xanh

.

Đất nước của niềm tin

Của tự do, dân chủ

Mỗi con người bình đẳng

Được mưu cầu ấm no

.

Bao đoàn người lưu vong

Vượt biển tìm hy vọng

Giữa trùng khơi bão nổi

Vẫn nguyện giữ niềm tin

.

Hoa Kỳ mở vòng tay

Đón bao người tị nạn

Cho cuộc đời đứng dậy

Sau những tháng đau thương

.

Từ đổ nát chiến tranh

Đến ngày vui đoàn tụ

Con thơ vào trường học

Cha mẹ dựng tương lai

.

Gia đình tôi hôm nay

Mang hồng ân sâu nặng

Nhờ quê hương thứ hai

Được sống đời tự do

.

Được nói điều mình tin

Được thờ phượng tín ngưỡng

Được làm người đúng nghĩa

Không sợ hãi cường quyền

.

Hăm hai năm quân ngũ

Xin góp chút sức mình

Đền phần nào ân nghĩa

Đất nước đã cưu mang

.

Dẫu tóc nay pha sương

Lòng tri ân còn mãi

Nguyện cầu cho nước Mỹ

Mãi hùng cường, vinh quang

.

Xin cho ngọn đuốc thiêng

Tự do luôn tỏa sáng

Xin cho nền dân chủ

Bền vững với thời gian

.

Để mai này cháu con

Vẫn ngẩng đầu kiêu hãnh

Tự hào mình được sống

Trên đất nước anh hùng

.

Mừng hai trăm năm mươi,

Một chặng đường rực rỡ

Tri ân quê hương mới

Khắc mãi giữa tim này

.

Việt Nam còn trong tim

Hoa Kỳ trong máu chảy

Hai quê hương một tấm lòng

Chung niềm tin nhân ái

.

phamphanlang

Một người Việt tỵ nạn biết ơn nước Mỹ

July 4th, 2026

==

Lễ Độc Lập 250 Năm Dựng Nước Hoa Kỳ

Và Bản Hùng Ca Hai Nửa Bán Cầu: George Washington Và Vua Quang Trung Cùng “Vượt Sông” Xoay Chuyển Vận Mệnh Quốc Gia!

250 Năm rực lửa Tự Do.Tháng Bảy về mang theo cái nóng cháy da của mùa hè nước Mỹ, nhưng có một ngọn lửa còn cháy bỏng hơn thế, đang bùng lên mạnh mẽ trong hàng triệu trái tim khắp mọi miền 50 Tiểu Bang.  Đó là ngọn lửa của Ngày Lễ Độc Lập 4 Tháng 7.  Và năm nay, ngọn lửa ấy mang một tầm vóc lịch sử vô tiền khoáng hậu,“Lễ  Kỷ Niệm 250 Năm Lập Quốc Hoa Kỳ!

Một phần tư thiên niên kỷ đã trôi qua kể từ khi tiếng Chuông Tự Do vang lên tại Philadelphia, lay chuyển toàn cầu và khai sinh ra một quốc gia của những điều kỳ diệu. Hai trăm năm mươi năm, một hành trình hiển hách được dệt bằng máu, nước mắt, ý chí sắt đá, và khát vọng tự do cháy bỏng của bao thế hệ. Hôm nay, bầu trời nước Mỹ sẽ được thắp sáng bởi hàng triệu đóa hoa lửa rực rỡ, được đốt lên bởi tinh thần quả cảm kiêu hùng của một biểu tượng tự do trường tồn, từ sau những cuộc hành trình đầy kiêu hãnh của cha ông.

Nhìn lại lịch sử của quốc gia 250 tuổi Hoa Kỳ từ những nền móng đầu tiên. Năm 1776.  Tất cả bắt đầu từ 13 thuộc địa sơ khai, nơi những con người quả cảm không chịu cúi đầu trước ách thống trị của Vương Quốc Anh. Ngày 4 tháng 7 năm 1776, Bản Tuyên Ngôn Độc Lập bất hủ vang lên, chính thức khai sinh ra Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ dựa trên nền tảng thiêng liêng. Đó là Quyền sống, Quyền tự do, và Quyền mưu cầu hạnh phúc.  Nhưng ở Thế kỷ XVIII đó, con thuyền nước Mỹ vừa nhổ neo ra khơi đã phải vượt qua những thác ghềnh khốc liệt. May mắn thay, những bậc tiền khai lập quốc của Hoa Kỳ chính là những “kiến trúc sư” tài năng tột bực của tự do.  Cuộc Nội chiến 1861 – 1865 tuy đau thương nhưng đã xóa bỏ xiềng xích nô lệ, hàn gắn vết thương chia rẽ và khẳng định một khối thống nhất quốc gia vững bền.  Đi cùng với đó là cuộc mở rộng bờ cõi về miền Tây hoang dã, định hình nên một lãnh thổ bao la từ bờ Đại Tây Dương sang bờ Thái Bình Dương.

Hoa Kỳ đã vươn mình thành siêu cường thế giới từ Thế kỷ XX.  Bước qua hai cuộc Thế chiến khốc liệt, Hoa Kỳ trở nên thành trì bảo vệ nền dân chủ toàn cầu và đã bứt phá ngoạn mục về kinh tế, khoa học, và công nghệ. Từ bước chân đầu tiên của con người trên Mặt Trăng đến cuộc cách mạng kỹ thuật số (Digital), Mỹ khẳng định vị thế siêu cường không thể lay chuyển.  Đằng sau thiên anh hùng ca uy dũng đó là tầm vóc của trí tuệ kiệt xuất.  Những “khai quốc công thần” của nước Mỹ đã dám đặt cược cả mạng sống vào một ý tưởng điên rồ lúc bấy giờ.  Đó là, tạo nên một đất nước của người dân, do người dân, và vì người dân.

George Washington, vị “Cha già dân tộc” là Tổng tư lệnh quân đội toàn Lục địa, người đã  lãnh đạo trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất để giành lấy độc lập.  Ông là biểu tượng của sự hy sinh và lòng chính trực, người đầu tiên từ bỏ quyền lực để đặt nền móng cho nền dân chủ bền vững.

Nhưng lịch sử không phải là một con đường trải đầy hoa hồng. Để hiểu vì sao ngọn đuốc tự do

lại có thể rực cháy suốt 250 năm, chúng ta phải nhìn vào khúc quanh sinh tử khốc liệt nhất của nước Mỹ. Đó là đêm Giáng sinh năm 1776.  Lúc bấy giờ, cuộc Cách Mạng Mỹ đang đứng bên bờ vực phá sản.  Đội quân Lục Địa của Tướng George Washington rách rưới, đói khát, thiếu hụt từ manh áo đến đôi giày. Giữa cái lạnh thấu xương của mùa đông Valley Forge, máu từ những bàn chân trần của người lính Mỹ đã nhuộm đỏ cả tuyết trắng. Ai cũng nghĩ rằng quốc gia non trẻ này sẽ nhanh chóng bị chôn vùi.  Nhưng lịch sử luôn dành chỗ cho những kẻ quả cảm nhất. Vào đêm định mệnh ngày 25 tháng 12 năm 1776, khi đối phương đang say sưa tiệc tùng Giáng Sinh, Washington đã đưa ra một quyết định táo bạo bậc nhất lịch sử quân sự: Vượt sông Delaware.

Trên một dòng sông ngập ngụa những tảng băng trôi, gió tuyết gầm rú quật thẳng vào mặt. Trên những chiếc thuyền gỗ chông chênh, đoàn quân của Washington lầm lũi tiến vào màn đêm vì khát vọng tự do cháy bỏng trong lồng ngực. Cuộc tập kích bất ngờ vào thị trấn Trenton ngay sau đó đã thành công vang dội, thổi bùng lên ngọn lửa hy vọng đã nguội lạnh, chứng minh cho cả thế giới thấy sức mạnh của một dân tộc chiến đấu vì tự do! 

Đọc lại chiến công hiển hách này của nước Mỹ, tâm tư tôi bỗng dưng rúng động bàng hoàng.  Chợt nhiên tôi nhớ ra, trong lịch sử nước nhà của quê hương tôi cũng từng có một chiến thắng đầy cuồng phong và sấm sét như thế.  Và quả thật, khi lật lại những trang sử vàng của dân tộc Việt, tôi đã tìm ra, cách mà nước Mỹ non trẻ nửa vòng Trái Đất làm, cũng có một dân tộc kiên cường đã từng viết nên một phép màu y hệt. Một sự trùng hợp đến thần kỳ.  Hành động vượt sông băng của George Washington năm 1776 chính là “tấm gương phản chiếu” của cuộc vượt sông Đáy thần tốc do Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ lãnh đạo năm 1789 tại nước Việt!

Cả hai vị thiên tài quân sự đã gặp nhau ở cùng một tư tưởng lớn. Đó là, Tốc độ, Bất ngờ, và Chọn thời điểm kẻ thù sơ hở nhất!  Ý tưởng và hoàn cảnh giống hệt, đêm vượt sông Delaware của Washington là một bức tranh sơn dầu lấp lánh đầy băng giá trong đêm Giáng Sinh, và đêm vượt sông Đáy của vua Quang Trung là một bức họa cuồng phong rực lửa. Đêm 30 Tết Kỷ Dậu, khi quân xâm lược Mãn Thanh dưới sự chỉ huy của Tôn Sĩ Nghị còn đang mải mê ca hát, tiệc tùng ăn Tết cổ truyền và đinh ninh rằng quân ta ra Giêng mới dám đánh, thì trên dòng sông Đáy (đồn Gián Khẩu), hàng vạn chiến binh Tây Sơn đã lặng lẽ vượt sông.

Im lìm không tiếng động, trong đêm đen không một ánh lửa, quân Tây Sơn thần tốc vây chặt và bắt gọn toàn bộ toán quân do thám tiền tiêu của địch, khiến hệ thống phòng thủ của quân Thanh hoàn toàn bị “mù mịt thông tin” ngay từ phát súng đầu tiên. Sự phong tỏa tình báo tài tình này đã mở đường cho cuộc hành quân chớp nhoáng vô tiền khoáng hậu để làm nên trận đại thắng Ngọc Hồi – Đống Đa kinh thiên động địa.  Đến Mùng 5 Tết, cả thành Thăng Long rung chuyển trong khói lửa ngút trời, Tôn Sĩ Nghị khiếp sợ đến vỡ mật, không kịp đóng yên ngựa, vứt bỏ ấn tín mà tháo chạy qua sông Hồng.  Thây giặc Tàu tầng tầng lớp lớp làm nghẽn cả dòng nước.

Tìm được những thông tin này, tôi xúc động gần như nghẹt thở.  Phải kiếm thêm bằng chứng thuyết phục hơn để tôi còn có thể “khoe” với những người bạn Mỹ của tôi trong Hội Cựu Chiến Binh Không Quân Hoa Kỳ  “Tan Son Nhut Association (TSNA)” mà mấy chục năm nay chúng tôi vẫn thường chia sẻ cho nhau những thông tin, bài viết tiếng Anh, về quê hương Việt Nam. Trận Đống Đa oai hùng ấy tôi vốn đã nghe kể và đã được học từ thuở ấu thơ, cũng từng đọc qua nhiều sử sách.  Để tìm kiếm những nguồn tài liệu độc lập, những bằng chứng đanh thép nhất bằng tiếng Anh, tôi đã trải qua nhiều giờ tìm kiếm và “mò” vào hệ thống lưu trữ cổ thư trực tuyến HOLLIS (Harvard Online Library Information System) của Đại học Harvard danh tiếng.

Thư Viện Harvard thông tin dày đặc như rừng rậm.  Cái khoảnh khắc copy cụm từ chữ Hán theo “anh Gút” bày,  “欽定安南紀事” (Khâm Định An Nam Kỷ Sự – cũng nhờ anh Gút dịch, xin nói rõ kẻo những nhà Hán Học uyên thâm lại mắng cho rằng tôi sao dám múa rìu qua mắt thợ.) và thảy vào tìm kiếm, thì nó hiện lên nguyên bản ngập tràn những dòng chữ Hán tượng hình từ thế kỷ XVIII, tim tôi bỗng đập liên hồi như một kẻ vừa tìm ra kho báu bị chôn giấu.  Tôi lập tức dùng công cụ Google dịch trên iPhone rọi vào, hồi hộp xem từng ký tự vuông vức, cổ kính ấy được chuyển sang tiếng Việt.  Và rồi, một cảm giác nổi da gà, dựng chân lông, vừa ngạc nhiên tột độ, lẫn thích thú vô bờ, choáng ngợp lấy tâm trí tôi!  Tôi ngồi sững sờ, xúc động đến phát khóc cho sự khám phá này.  Hiện ra trước mắt tôi là những dòng sớ tấu ngày xưa rõ mồn một như những hàng chữ Hán tôi thường thấy trong phim Tàu.  Dịch ra tiếng Việt là những lời thú nhận nghe như run rẩy, nghe như kinh hoàng của chính Sử Quan triều đình nhà Thanh ghi chép lại.  Vì là Chiếu Chỉ triều đình phong kiến nên sách cho đọc theo lối từ phải sang trái và từ trên xuống dưới.  Những Bản Văn này ghi đầy đủ các Sắc Dụ của Hoàng Đế Càn Long ban xuống cho Tôn Sĩ Nghị, Phúc Khang An, cùng các tấu sớ của các tướng lĩnh báo cáo tình hình chiến sự kinh hoàng khi bị quân Tây Sơn quét sạch.

Lưới trời lồng lộng, sử giặc rành rành, những kẻ xâm lượt đã tình cờ để lại những bằng chứng nhục nhã cho thế giới đọc! Qua lăng kính dịch thuật từ những bản văn lưu giữ tại Harvard, sự thật ngày xưa đã hiện ra mồn một. Sử sách quân Thanh thừa nhận đã bị quân dân Việt đánh cho tan tác, chết sạch ở các đồn tiền tiêu ven sông Đáy, không một tên nào kịp chạy về báo tin, và đại quân Thanh ở Thăng Long vào thế bất lực hoàn toàn trước trận bão lửa của đoàn quân vua Quang Trung.

Ngồi trước màn hình máy tính, nhìn con dấu đỏ hoàng gia của Hoàng Đế Càn Long trên trang sách cổ của Harvard, thứ mà trước nay tôi chỉ thấy qua phim ảnh, lòng tôi dâng lên một niềm xúc động và tự hào dân tộc mãnh liệt. Thì ra, chân lý và niềm kiêu hãnh của người Việt chưa bao giờ phai nhạt, nó vẫn nằm trang trọng ở đó, giữa trung tâm tri thức của thế giới, chờ chúng ta mở ra xem! Quả là hồn thiêng sông núi nước Nam đã dành cho con cháu đời sau một bất ngờ quá lớn.

Năm tháng sẽ trôi qua, lớp bụi thời gian có thể làm mờ đi nhiều thứ, nhưng ký ức về những đêm vượt sông định mệnh của Tướng George Washington và Hoàng Đế Quang Trung sẽ mãi là những mốc son chói lọi trong lịch sử nhân loại.  Hai trăm năm mươi năm nước Mỹ kiêu hùng nhìn lại chặng đường lập quốc đầy huyền thoại, cũng là lúc chúng ta, những người con mang trong mình dòng máu Việt, nghiêng mình trân kính trước hào khí sấm sét của cha ông.

Cho nên, tự do không bao giờ là một món quà sẵn có. Dù ở bờ bên kia của đại dương hay trên mảnh đất hình chữ S thân thương, sự khát vọng về tự do và độc lập vẫn luôn luôn là một.

Khi tiếng pháo hoa rực rỡ thắp sáng bầu trời đêm Lễ Độc Lập 4 tháng 7 ở Hoa Kỳ năm nay, người Việt chúng ta hãy để những tâm hồn đồng điệu cùng hòa chung một nhịp đập. Hãy kiêu hãnh mang theo ngọn lửa rực cháy từ quá khứ để sưởi ấm cho hiện tại và soi đường cho tương lai.  Miễn là thế giới này còn những con người trân trọng giá trị của độc lập, thì bản hùng ca vượt sông của những thiên tài kiệt xuất ngày xưa ấy sẽ còn vang vọng mãi đến muôn đời sau…

      Phương Hoa

Nguồn tài liệu tham khảo:

*Trang web chính thức của Di tích Lịch sử Mount Vernon (George Washington’s Mount Vernon):⁠mountvernon.org⁠

*Viện Lưu Trữ Quốc Gia Hoa Kỳ (The U.S. National Archives): ⁠archives.gov⁠

*Sách “Việt Nam Sử Lược” – Tác giả Trần Trọng Kim (Bản in của Nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn) Trong Chương XI (Nhà Tây Sơn), học giả Trần Trọng Kim mô tả rất kỹ trận đại phá quân Thanh, việc vua Quang Trung ước hẹn với quân sĩ ăn Tết trước, rồi đúng đêm giao thừa (30 Tết) hạ đồn Gián Khẩu (sông Đáy) khiến quân Thanh không kịp trở tay.

*Bộ sử liệu “Khâm Định An Nam Kỷ Sự” (欽定安南紀事), Quyển 1–30, bản in cổ thế kỷ XVIII, hiện đang được lưu trữ trang trọng tại Thư viện Yên Kinh Harvard (Harvard-Yenching Library) thuộc Đại học Harvard, Hoa Kỳ:  https://library.harvard.edu/ –  ⁠hollis.harvard.edu⁠ zh.wikisource.org 欽定安南紀事

==

Bài thơ được thực hiện theo bài nghiên cứu trận Đống Đa của vts Phương Hoa

==

Sự Kiện đang Nhớ cho một Đất Nước Vĩ Đại với 250 năm Lịch S

==

Có thật nhiều Sự Kiện đang Nhớ cho một Đất Nước Vĩ Đại với 250 năm Lịch Sử – Xin gởi đến quý anh chi một vài sự kiện – còn rất nhiều, như quý anhchi đã biết-

  Cảm ơn quý anhchi XIN CHÚC QUÊ HƯƠNG THỨ HAI ĐẦY LÒNG NHÂN ÁI NÀY SẼ LUÔN VỮNG MẠNH VÀ LUÔN VĨ ĐẠI NHƯ CHÚ CHIM ĐẠI BÀNG – chú chim đại diện cho ĐẤT NƯỚC CỜ HOA THÂN ÁI ==Chúc quý anhchi mùa Lễ Thật Vui bên gia đình

𝓽𝓷𝓵

 =============================================================

How Did the Bald Eagle Become America’s National Bird? (www.history.com)Long considered a symbol of strength, the predatory bird first appeared on the national seal in 1782.
The bald eagle’s role as a national symbol is linked to its 1782 landing on the Great Seal of the United States. Shortly after the Declaration of Independence was signed on July 4, 1776, the Continental Congress gave Benjamin Franklin, Thomas Jefferson and John Adams the job of designing an official seal for the new nation. However, the three Founding Fathers failed to come up with a design that won Congress’ approval, as did two later committees that were given the task.
In mid-June 1782, the work of all three committees was handed over to Charles Thomson, the secretary of Congress. Thomson chose what he thought were the best elements of the various designs and made the eagle—which had been introduced by artistically inclined Pennsylvania lawyer William Barton in a design submitted by the third committee—more prominent. (Since ancient times, the eagle has been considered a sign of strength; Roman legions used the animal as their standard, or symbol.)
========================

Đại bàng đầu trắng trở thành chú chim  quốc gia  của Mỹ như thế nào? (www.history.com)
Từ lâu được coi là biểu tượng của sức mạnh, loài chim săn mồi có đầu lông trắng này lần đầu tiên xuất hiện trên quốc huy vào năm 1782.
Vai trò của đại bàng đầu trắng như một biểu tượng quốc gia gắn liền với việc nó xuất hiện trên Quốc huy Hoa Kỳ năm 1782. Ngay sau khi Tuyên ngôn Độc lập được ký kết vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, Quốc hội Lục địa đã giao cho Benjamin Franklin, Thomas Jefferson và John Adams nhiệm vụ thiết kế một con dấu chính thức cho quốc gia mới. Tuy nhiên, ba vị Cha lập quốc đã không thể đưa ra một thiết kế được Quốc hội chấp thuận, cũng như hai ủy ban sau đó được giao nhiệm vụ này.
Vào giữa tháng 6 năm 1782, công việc của cả ba ủy ban được giao cho Charles Thomson, thư ký Quốc hội. Thomson đã chọn những gì ông cho là những yếu tố tốt nhất trong các thiết kế khác nhau và làm cho hình ảnh đại bàng—vốn được luật sư William Barton người Pennsylvania, một người có năng khiếu nghệ thuật, giới thiệu trong một thiết kế do ủy ban thứ ba đệ trình—nổi bật hơn. (Từ thời cổ đại, đại bàng đã được coi là biểu tượng của sức mạnh; quân đoàn La Mã sử dụng loài vật này làm biểu tượng của họ.)

====================================================

nguồn:

Top 10 Most Important Dates in U.S. History (And Why They Still Matter) – Chronicles of HistoryTL sưu tầm và dịch

A/- 10 Cột mốc Quan trọng nhất trong Lịch sử Hoa Kỳ (và Lý do Chúng vẫn còn Ý nghĩa)

Lịch sử Hoa Kỳ chứa đựng vô số bước ngoặt — những ngày mà đất nước thay đổi vận mệnh mãi mãi. Một số ngày được kỷ niệm rộng rãi, số khác được nhớ đến với niềm đau thương, và một vài sự kiện vẫn khơi dậy những cuộc tranh luận ngay cả khi nhiều thế hệ đã trôi qua.

Nếu bạn từng thắc mắc đâu là những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, bài viết này sẽ điểm qua mười khoảnh khắc mang tính bước ngoặt và giải thích lý do tại sao chúng vẫn còn ý nghĩa trong thời đại ngày nay.

Từ nền độc lập và chiến tranh cho đến những thảm kịch và thành tựu công nghệ, đây chính là những cột mốc đã định hình nên câu chuyện về nước Mỹ.

Tại sao 10 Cột mốc này lại Quan trọng đối với Lịch sử Hoa Kỳ?

Những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần là các mốc thời gian. Chúng đại diện cho những khoảnh khắc mà:

•   đất nước được thành lập hoặc được định hình lại

•   bản sắc dân tộc có sự thay đổi

•   các cuộc chiến tranh lớn làm thay đổi vai trò của nước Mỹ trên trường quốc tế

•   ký ức cộng đồng và văn hóa có sự chuyển biến sâu sắc

•   các thế hệ tương lai tiếp nhận những quyền tự do, nỗi sợ hãi và trách nhiệm mới

Danh sách này tập trung vào những cột mốc có tác động lâu dài đến Hoa Kỳ trên các phương diện chính trị, văn hóa, quân sự và xã hội.

–1.) Ngày 4 tháng 7 năm 1776 — Tuyên ngôn Độc lập

Tầm quan trọng: Ngày 4 tháng 7 năm 1776 là cột mốc mang tính biểu tượng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Ngày này đánh dấu việc thông qua Tuyên ngôn Độc lập, khi mười ba thuộc địa chính thức tuyên bố tách khỏi Vương quốc Anh.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 4 tháng 7 năm 1776?

Quốc hội Lục địa đã thông qua nội dung cuối cùng của bản Tuyên ngôn, trong đó nêu rõ lý do các thuộc địa tách khỏi sự cai trị của Anh, đồng thời khẳng định tư tưởng rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng và sở hữu những quyền bất khả xâm phạm.

Tại sao ngày 4 tháng 7 vẫn quan trọng cho đến ngày nay?

•   Ngày này đánh dấu sự ra đời của Hoa Kỳ với tư cách là một quốc gia.

•   Ngày này xác lập các lý tưởng về tự do, quyền tự trị và các quyền tự nhiên.

•   Ngày này trở thành nền tảng cho các phong trào đấu tranh mở rộng quyền tự do trong tương lai.

==2.) Ngày 12 tháng 4 năm 1861 — Nội chiến Hoa Kỳ bùng nổ (Pháo đài Sumter)

Tầm quan trọng: Cuộc tấn công vào Pháo đài Sumter ở Nam Carolina đã đánh dấu sự khởi đầu của cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, cuộc xung đột đẫm máu nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 12 tháng 4 năm 1861?

Các lực lượng thuộc Liên minh miền Nam (Confederacy) đã nổ súng vào Pháo đài Sumter, một pháo đài do phe Liên bang min Bắc (Union) kiểm soát tại cảng Charleston. Cuộc pháo kích này đã châm ngòi cho một cuộc chiến tranh toàn diện giữa phe Liên bang và phe Liên minh miền Nam.

Tại sao ngày này đã thay đổi Hoa Kỳ?

•   Ngày này mở màn cho cuộc chiến quyết định sự tồn vong của phe Liên bang min Bắc

•   Ngày này làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng quốc gia xoay quanh vấn đề nô lệ.

•   Ngày này tạo tiền đề cho công cuộc giải phóng nô lệ và những thay đổi mang tính hiến pháp.

Cuộc Nội chiến đã định hình lại quyền lực liên bang, quy chế công dân và tương lai của đất nước.

==3) Ngày 1 tháng 1 năm 1863 — Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ có hiệu lực

Tầm quan trọng: Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt lớn, không chỉ đối với cuộc Nội chiến mà còn đối với định hướng đạo đức của Hoa Kỳ.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 1 tháng 1 năm 1863?

Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ của Tổng thống Abraham Lincoln chính thức có hiệu lực, tuyênbố trả tự do cho những người bị bắt làm nô lệ tại các vùng lãnh thổ do Liên minh miền Nam (Confederacy) kiểm soát.

Tại sao sự kiện này vẫn còn quan trọng?

•   Biến cuộc Nội chiến thành cuộc đấu tranh vì cả sự thống nhất quốc gia lẫn quyền tự do.

•   Làm giảm sự ủng hộ của châu Âu dành cho Liên minh miền Nam.

•   Mở đường cho Tu chính án thứ 13, văn bản bãi bỏ chế độ nô lệ.

Mặc dù không ngay lập tức giải phóng tất cả những người đang bị bắt làm nô lệ,

nhưng sự kiện đã thay đổi ý nghĩa và mục đích của cuộc chiến.

==4) Ngày 9 tháng 4 năm 1865 — Quân Liên minh miền Nam đầu hàng tại Appomattox

Tầm quan trọng: Việc Tướng Robert E. Lee đầu hàng Tướng Ulysses S. Grant tại Tòa án Appomattox (Appomattox Court House) đã thực sự chấm dứt cuộc Nội chiến.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 9 tháng 4 năm 1865?

Tướng Lee đã cho đầu hàng Binh đoàn Bắc Virginia, đánh dấu sự sụp đổ trong khả năng kháng cự quân sự của Liên minh miền Nam.

Tại sao đây là một trong những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ?

•   Sự kiện này đã bảo toàn được Liên bang.

•    Đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ Tái thiết.

•   Mở ra một chương mới trong cuộc đấu tranh về vấn đề chủng tộc, quyền con người và sự hàn gắn dân tộc.

Ngày này vẫn đóng vai trò then chốt để hiểu rõ về cái giá phải trả cũng như di sản của cuộc Nội chiến.

==5) Ngày 15 tháng 4 năm 1865 — TT Abraham Lincolntạ thế

Tầm quan trọng: Tổng thống Abraham Lincoln qua đời vào sáng hôm sau khi bị John Wilkes Booth bắn, chỉ vài ngày sau chiến thắng của phe Liên bang (Union).

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 15 tháng 4 năm 1865?

Lincoln qua đời sau khi bị ám sát tại Nhà hát Ford ở Washington, D.C. Phó Tổng thống Andrew Johnson đã tuyên thệ nhậm chức Tổng thống.

Tại sao cái chết của Lincoln lại thay đổi lịch sử?

•   Đất nước mất đi một nhà lãnh đạo vào thời điểm then chốt của quá trình tái thống nhất.

•   Công cuộc Tái thiết (Reconstruction) diễn ra mà thiếu vắng sự lãnh đạo của Lincoln.

•   Lincoln trở thành biểu tượng trường tồn của sự đoàn kết, tinh thần hy sinh và lòng dũng cảm về mặt đạo đức.

Đối với nhiều nhà sử học, đây là một trong những ngày bi thương và có ảnh hưởng lớn nhất ttrong lịch sử nước Mỹ. Nếu bạn đang tìm kiếm một cuốn sách cực kỳ rất đáng đọc về cái chết của Abraham Lincoln, hãy thử đọc Killing Lincoln. Bạn sẽ khó lòng rời mắt khỏi cuốn sách này.

==6) Ngày 7 tháng 12 năm 1941 — Cuộc tấn công Trân Châu Cảng

Tầm quan trọng: Cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng đã đẩy Hoa Kỳ vào cuộc

 Chiến tranh Thế Giới thứ Hai.

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 7 tháng 12 năm 1941?

Nhật Bản đã thực hiện một cuộc tấn công bất ngờ vào căn cứ hải quân Hoa Kỳ tại Trân Châu 

Cảng (Hawaii), khiến hơn 2.000 người Mỹ thiệt mạng, đồng thời làm hư hại hoặc phá hủy

nhiều tàu chiến và máy bay.

Tại sao Trân Châu Cảng vẫn là một cột mốc quan trọng đối với Hoa Kỳ?

•   Sự kiện này chấm dứt giai đoạn Hoa Kỳ đứng ngoài cuộc Đệ Nhị Thế Chiến.

•   Dẫn đến việc chính thức tuyên chiến.

•    Đánh dấu sự khởi đầu cho quá trình vươn lên của Hoa Kỳ thành một siêu cường toàn cầu.

Ngày 7 tháng 12 được ghi nhớ là “một ngày mang nỗi nhục nhã ê chề” (theo cách gọi của Tổng thống Roosevelt), và đây vẫn là một trong những ngày được biết đến nhiều nhất trong lịch sử quân sự Hoa Kỳ.

==7) Ngày 6 tháng 6 năm 1944 — Ngày D-Day (Cuộc đổ bộ lên Normandy)

Tầm quan trọng: D-Day là một trong những chiến dịch quân sự quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ và thế giới.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 6 tháng 6 năm 1944?

Lực lượng Đồng minh, bao gồm hàng nghìn đơn vị quân đội Mỹ, đã đổ bộ lên các bãi biển tại Normandy (thuộc nước Pháp đang bị Đức Quốc xã chiếm đóng) trong cuộc đổ bộ từ biển vào đất liền lớn nhất lịch sử.

Tầm quan trọng của D-Day đối với lịch sử Hoa Kỳ

•   Sự kiện này mở ra một mặt trận lớn ở phía Tây để chống lại Đức Quốc xã.

•    Đẩy nhanh quá trình giải phóng châu Âu.

•   Trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm, sự hy sinh và tinh thần hợp tác của phe Đồng minh.

D-Day là một trong những cột mốc quan trọng nhất trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ.

==8) Ngày 20 tháng 7 năm 1969 — Sự kiện tàu Apollo 11 đổ bộ lên Mặt Trăng

Ý nghĩa: Việc đổ bộ lên Mặt Trăng là minh chứng cho thành tựu công nghệ của Hoa Kỳ, cuộc cạnh tranh trong Chiến tranh Lạnh, và là một bước tiến khổng lồ trong lịch sử nhân loại.

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 20 tháng 7 năm 1969?

Các phi hành gia của tàu Apollo 11 là Neil Armstrong và Buzz Aldrin đã đổ bộ xuống Mặt Trăng, và Armstrong trở thành người đầu tiên đặt chân lên bề mặt của nó.

Tại sao ngày này lại quan trọng về mặt lịch sử?

•   Sự kiện này thể hiện sự đổi mới khoa học và tham vọng quốc gia của Hoa Kỳ.

•   Tượng trưng cho sự cạnh tranh và vị thế có uy tín trong kỷ nguyên Chiến tranh Lạnh.

•   Truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và thám hiểm.

Ngày 20 tháng 7 là một trong những ngày đáng nhớ nhất và vinh quang trong lịch sử chinh phục không gian của Hoa Kỳ.

Giờ thì có một câu hỏi dành cho bạn — Liệu việc đổ bộ lên Mặt Trăng là thật hay giả? 

Có những lập luận cực kỳ thuyết phục cho rằng sự kiện này có thể đã được dàn dựng suốt bấy 

lâu nay. Bản thân tôi vẫn tin vào “Giấc mơ Mỹ” và tinh thần chiến thắng của đất nước, 

nên tôi chọn tin rằng sự kiện đó thực sự đã diễn ra. Đó là lòng yêu nước trong tôi lên tiếng. 

Tuy nhiên, cũng có những bằng chứng rất mạnh mẽ cho thấy điều ngược lại.

==9) Ngày 22 tháng 11 năm 1963 — Vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy

Tầm quan trọng: Vụ ám sát Tổng thống Kennedy đã gây ra cú sốc lớn cho cả quốc gia và trở thành bước ngoặt trong văn hóa chính trị Mỹ.

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 22 tháng 11 năm 1963?

Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát tại Dallas, Texas, khi đang ngồi trong đoàn xe diễu hành.

 Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson đã tuyên thệ nhậm chức ngay trong ngày hôm đó.

Lý do ngày 22 tháng 11 vẫn là một cột mốc quan trọng trong lịch sử nước Mỹ


• Sự kiện này đã gây chấn động cả nước Mỹ và thế giới.
• Làm gia tăng sự ngờ vực trong công chúng cũng như những đồn đoán về các thuyết âm mưu.
• 
Đã thay đổi diện mạo chính trị và bầu không khí văn hóa của thập niên 1960.


Đối với nhiều người Mỹ, đi
ều nây đã trở thành khoảnh khắc đáng nhớ gắn liền với câu hỏi: 

“Bạn đang ở đâu vào lúc đó?

==10) Ngày 11 tháng 9 năm 2001 — Các cuộc tấn công khủng bố 11/9

Tầm quan trọng: Ngày 11 tháng 9 năm 2001 là một trong những cột mốc có ảnh hưởng lớn

 nhất trong lịch sử hiện đại của Hoa Kỳ.

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 11 tháng 9 năm 2001?

Những kẻ khủng bố đã cố gắng cướp bốn chiếc máy bay thương mại  và buộc hai chiếc đâm vào tòa tháp Trung tâm Thương mại Thế giới ở Thành phố New York, một chiếc đâm vào Lầu Năm Góc, và chiếc còn lại rơi xuống Pennsylvania sau khi các hành khách chống trả.

Tại sao sự kiện 11/9 đã thay đổi Hoa Kỳ

•   Sự kiện này làm thay đổi chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.

•   Dẫn đến các cuộc chiến tranh tại Afghanistan và Iraq.

•   Làm thay đổi hoạt động đi lại bằng đường hàng không, công tác giám sát an ninh và đời sống xã hội.

•   Trở thành ký ức mang tính Khoảnh khắc quyết định, định hình đối với cả một thế hệ.

Ngày 11 tháng 9 vẫn là một trong những ngày được tìm kiếm và ghi nhớ nhiều nhất trong

 lịch sử đương đại của Hoa Kỳ.

==================================

B/— Những  mốc thời gian đáng chú ý khác trong lịch sử Hoa Kỳ

Tùy thuộc vào tiêu chí đánh giá, những mốc thời gian sau đây cũng hoàn toàn có thể nằm

 trong danh sách  sự kiện quan trọng nhất:

•   Ngày 17 tháng 9 năm 1787 — Ký kết Hiến pháp Hoa Kỳ

•   Ngày 15 tháng 12 năm 1791 — Phê chuẩn Tuyên ngôn Nhân quyền (Bill of Rights)

•   Giai đoạn 1803–1804 — Thời kỳ mở rộng lãnh thổ thông qua Thương vụ Louisiana

•   Ngày 01 tháng 1 năm 1863 — Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ (đã được đưa vào danh sách chính)

•   Ngày 18 tháng 8 năm 1920 — Phê chuẩn Tu chính án thứ 19 (quyền bầu cử của phụ nữ)

•   Ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945 — Các vụ ném bom nguyên tử (bước ngoặt lớn trong thời chiến của Hoa Kỳ)

•   Ngày 28 tháng 8 năm 1963 — Cuộc Tuần hành vì Việc làm và Tự do tại Washington

•   Ngày 2 tháng 7 năm 1964 — Ký kết Đạo luật Quyền Dân sự

Đây là một lý do khiến lịch sử Hoa Kỳ luôn đầy sức hút: có rất nhiều mốc thời gian mang ý nghĩa quan trọng lâu dài.

Cách nhìn nhận về những mốc thời gian “quan trọng nhất” trong lịch sử Hoa Kỳ

Không có một danh sách hoàn hảo duy nhất nào cả. Một số người ưu tiên các sự kiện như:

•   Các văn bản nền tảng quốc gia

•   Các cuộc chiến tranh và trận đánh

•   Các cột mốc về quyền dân sự

•   Các vụ ám sát Tổng thống

•   Các thành tựu khoa học

•   Những khoảnh khắc bi kịch quốc gia

Một cách tiếp cận thuyết phục hơn là:

“Những mốc thời gian quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ là những ngày mà bản sắc định hướng hoặc vận mệnh của nước Mỹ đã thay đổi theo hướng lâu dài.”

Điều này bao gồm cả những thắng lợi, bước đột phá, thất bại và tổn thất.

Lời kết: Tại sao những mốc thời gian này trong lịch sử Hoa Kỳ vẫn quan trọng?

Việc tìm hiểu các mốc thời gian quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần là ghi nhớ các mốc sự kiện. Điều này giúp chúng ta hiểu rõ:

•   quốc gia này đã được xây dựng như thế nào

•   đã trải qua những thử thách gì

•   những lý tưởng mà h đề cao

•   những thành tựu đã đạt được

•   những điểm còn hạn chế

•   và hình mẫu quốc gia mà người dân vẫn đang nỗ lực hướng tới

Nếu bạn đang tìm hiểu lịch sử Hoa Kỳ qua lăng kính “nhìn lại sự kiện trong ngày“, 

thì  Những mốc thời gian này đóng vai trò là những điểm tựa quan trọng —

 và mỗi mốc thời gian đều mở ra cánh cửa dẫn đến những câu chuyện sâu sắc hơn.

&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&

nguồn:

Top 10 Most Important Dates in U.S. History (And Why They Still Matter) – Chronicles of History

Thái Lan sưu tầm và dịch 

==

==

                         Thơ Trần Quốc Bảo

Bỏ Quê hương đến xứ này

Chúng tôi được sống những ngày tự do

Hôm nay là: JULY 4th

Nguyện cầu Thượng Đế ban cho Hoa Kỳ

.

Phú cường một cõi biên thùy

Tự Do đuốc sáng, phát huy toàn cầu!

Văn minh Mỹ Quốc hàng đầu

Uy quyền vũ lực, không đâu sánh bì!

.

Chúng tôi, vận Nước suy vi

Giang sơn bị Cộng trị vì bấy nay!

Như đàn Chim Việt lạc bày,

Tới đây, xin nhận nơi này Quê Hương!

.

Tuy rằng gốc gác tha phương,

Nhưng trong một Nước, yêu thương nhau cùng!

Mừng “Ngày Độc Lập” vui chung!

Tự Do ngọn đuốc sáng trưng toàn cầu !!!

         Trần Quốc Bảo

                Richmond, Virginia

           Địa chỉ điện thư của tác giả:

       quocbao_30@yahoo.com

==

Thiên Anh Hùng Ca Ở Hai Nửa Bán Cầu!
(Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Dịch Giả Thái Nữ Lan và Văn Thi Sĩ Phương Hoa đã chuyển đến bài viết đặc sắc của Phương Hoa viết nhân Ngày Lễ Độc Lập Independence Day của Hoa Kỳ 04/07/2026.)
*

Washington và Quang Trung Nguyễn Huệ! Chưa hề gặp mặt!
Nhưng luôn “gặp nhau” trong tâm tưởng, gan mật của loài người!
Ở Bắc Bán Cầu, Hoa Thịnh Đốn dẫn quân vượt sông Delaware nắm ngay cơ hội “Vàng Mười”.

*

Tại Nam Bán Cầu, Quang Trung dẫn quân qua sông Đáy vào thời điểm “chỉ có một”
*
Thịnh Đốn! Hành toàn đà quá tốt!
Quang Trung! Quyết đoán đã thành công!
Những gì cùng cực thì “hay giống nhau”! Dù xa tắp biển, núi, sông!
Hai trận đại thắng đã “tình cờ” ghi tên hai con sông huyền thoại!
*
Cảm ơn “Siêu Bút Ký” của “Nữ Hoàng Bút Ký” Phương Hoa chuyển lại!
Tưởng niệm những con người tài năng, đức độ, công lao vĩ đại muôn đời!
Tấm gương! Bài học! Tuyệt vời!

*
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 04/07/2026
Kỷ Niệm Lễ Independence Day của Hoa Kỳ

==

==




Chùm Thơ TRẦN VẤN LỆ: Bài Thơ Mới Nhất: Đà Lạt Đây Thành Phố Núi – APRÈS LA PLUIE IL FAIT LE BEAU TEMPS (*) – Trôi Theo Dòng Đời – Cuối Tuần Tặng VTLV + Mỗi Giọt Lệ Là Một Giọt Quê Hương + Ai Có Mười Năm Không Nước Mắt, Ai Lòng Cô Quạnh Chẳng Như Sương.

ĐÀ LẠT ĐÂY THÀNH PHỐ NÚI

Bạn đã lên đây chưa?

Đà Lạt thành phố núi!

Bạn cứ đi, đừng hỏi

Thành phố đó chỗ nào…

.

Cứ nhắm hướng trên cao

Trên Trường Sơn bạn nhé!

Mây đang bay nhè nhẹ

Sương khói mờ lũng sâu…

.

Khi nghe lạnh trên đầu,

Bạn che giùm mái tóc.

Khi nghe lạnh trên ngực,

Cài nút cái áo laine…

.

Bạn à bạn đừng quên

Mình lên cao thì lạnh.

Nhưng Đà Lạt không tránh

Cái hướng nhìn bạn nha…

.

Đường đi nào cũng xa

Có đi thì có tới!

Đà Lạt luôn luôn đợi

Những ai yêu mù sương…

.

Đà Lạt luôn luôn thương

Ai mệt ngồi tựa núi,

Cầm nhánh thông lên thổi

Phấn thông bay ngạt ngào…

*

Ông Yersin chiêm bao

Thấy Đà Lạt đâu đó.

Công việc làm, ông bỏ

Đi tìm Đà Lạt thôi!

.

Và Ông đã đến nơi:

Đây, Trường Sơn mây trắng,

Đây, ngàn thông như thảm,

Dệt từ lụa từ tơ…

.

Đà Lạt đúng như mơ.

Ông Yersin ở lại.

Ông ở lại mãi mãi

Chứng tích:  Mộ Yersin!

.

Bạn cứ chậm đừng nhanh

Hãy tự tin mình tới!

Chí mình cao như núi,

Hồn mình nhẹ như sương…

Trần Vấn Lệ

==

.

Ba, bốn ngày… không nắng

bây giờ thấy nắng lên!

Ôi mặt trời làm duyên

cái mặt hồng thương quá…

.

Nắng đùa cùng hoa lá

tiếng chim hót đệm đàn

ai kìa mới đi ngang

tiếng bước chân nhỏ nhẹ…

.

Tôi săm soi cây khế

nâng từng chùm hoa xinh

cái mặt ai thật tình

hôn hoài hôn không hết…

.

Nắng lên dễ thương thiệt

ai đó nói bất ngờ

trời không phải sau mưa

mà đang trong nắng nguội…

.

Nắng đừng hoài khỏi tưới

Ngoại ơi về hái cau

Ngoại đi con theo sau

những ngày xưa thân ái…

*

Những ngày xưa trở lại

thái hòa Đất Nước tôi…

Nhưng mà tôi mồ côi

Mẹ Cha đều chín suối…

.

Chiều nay rồi sẽ tối…

rồi sẽ nửa đêm khuya

thương những người trở về

mắt mưa rơi từng giọt!

.

Má ơi trái khế ngọt

thương Má nó chín hườm

con thì có ai thương

mồ côi cha với mẹ!

.

Bước ai đi rất khẽ

nghe mà lòng nao nao

sắp Tết hai cây đào

mấy tuổi rồi yêu quý?

.

Trần Vấn Lệ

(*) Sau mưa trời đẹp

APRÈS LA PLUIE

IL FAIT LE BEAU TEMPS (*)

.

Ba, bốn ngày… không nắng

bây giờ thấy nắng lên!

Ôi mặt trời làm duyên

cái mặt hồng thương quá…

.

Nắng đùa cùng hoa lá

tiếng chim hót đệm đàn

ai kìa mới đi ngang

tiếng bước chân nhỏ nhẹ…

.

Tôi săm soi cây khế

nâng từng chùm hoa xinh

cái mặt ai thật tình

hôn hoài hôn không hết…

.

Nắng lên dễ thương thiệt

ai đó nói bất ngờ

trời không phải sau mưa

mà đang trong nắng nguội…

.

Nắng đừng hoài khỏi tưới

Ngoại ơi về hái cau

Ngoại đi con theo sau

những ngày xưa thân ái…

*

Những ngày xưa trở lại

thái hòa Đất Nước tôi…

Nhưng mà tôi mồ côi

Mẹ Cha đều chín suối…

.

Chiều nay rồi sẽ tối…

rồi sẽ nửa đêm khuya

thương những người trở về

mắt mưa rơi từng giọt!

.

Má ơi trái khế ngọt

thương Má nó chín hườm

con thì có ai thương

mồ côi cha với mẹ!

.

Bước ai đi rất khẽ

nghe mà lòng nao nao

sắp Tết hai cây đào

mấy tuổi rồi yêu quý?

.

Trần Vấn Lệ

(*) Sau mưa trời đẹp

==

==

TRÔI THEO DÒNG ĐỜI TRẦN VẤN LỆ

.

Nắng đến nỗi chim không về phố nữa!

(Chim chỉ về khi chiều xuống, hoàng hôn)

Nhiều công nhân không làm việc ngoài đường

(Như thợ điện, những người phu lục lộ…)

.

Xe rác vẫn chạy vì chỉ một người tài xế,

Cabine xe thì có máy điều hoà…

Tôi nghĩ đến những  con chim bay kiếm ăn xa

Tôi tin chim luôn luôn có mỗi ngày no đủ

.

Hãy nhìn kìa:  ban đêm xa lộ

Đèn sáng trưng cho công nhân sửa đường!

Hãy nhìn kìa hành lang nhà thương

Những y tá vẫn bình thường thay phiên ca trực!

.

Năm bốn mùa có một mùa nóng bức

Có một mùa lạnh lẻo, tự nhiên

Nhưng bạn à, bạn thấy những nhân viên

của Bưu Điện vẫn dầm mưa dãi nắng!

.

Những Công An, những Cảnh Sát thầm lặng

Họ chỉ cười chào trả tiếng Hello

Hải Lục Không Quân ờ nhỉ họ đi mô?

Không thấy cả ở phi trường hay bến cảng!

.

Quân đội Mỹ là chim?  Chim bay đâu từ sáng?

Chiều có về, đêm có ngủ hay không?

Nhiều khi tôi lòng có hỏi lòng:

“Mình hạnh phúc hay mình không hạnh phúc?”

.

Thành phố Mỹ song song hàng dọc

Thành Phố Mỹ song song hàng ngang

Tiếng chuông Nhà Chùa, Nhà Thờ vang vang

Từng bữa lễ hay từng ngày nhất định…

.

Hình như không ai có gì toan tính

ngay với tôi – chỉ nghĩ việc đi chơi

như bầy chim chúng có bầu trời

như hàng cây có màu xanh tươi Xuân, Hạ

.

Còn… Thu, Đông dĩ nhiên vàng lá

Lá vàng bay… ôi chao buồn mênh mông!

Tôi nhớ bà Quỳnh Dao, bà đã thác, cuối cùng

Bà đang ở một nơi nào trên trái đất?

.

Tôi không đếm, không đong cái còn cái mất

Tôi đã là Từ Thức lạc Bồng Lai!

Trần Vấn Lệ

NHƯ LÀ

TRUYỆN LIÊU TRAI

Cuối tuần!  Lại cuối tuần

nhanh như là gió thổi

mà kìa, lúa trên đồng nội

chưa thấy trổ đòng đòng…

vậy mà ai theo chồng

hai Thế Kỷ rồi đó!

.

Ô!  Tôi một đứa nhỏ

cứ nhớ thời gian xưa…

cuối tuần thường có mưa

Ông Trời chơi thật ngẳng:

học trò thì ghét nắng

ngày đi học không mưa…

cây thước Thầy cứ khua

làm học trò cứ sợ!

làm học trò cứ nhớ

câu “tục ngữ an nam”:

-Một cái doạ bằng năm cái đánh!”

.

Cuối tuần nào cũng lạnh

mưa hoài mưa mưa mưa!

.

Mưa, nhớ Lưu Trọng Lư

có bài thơ bất tử

có những câu bắt người ta tư lự

chẳng hạn như câu này:

“Mưa chi mưa mãi

lòng nhớ thương hoài…

Mưa mãi mưa hoài

lòng nhớ thương ai!

Trăng lạnh về non không trở lại!”

*

Tôi nhớ em:  Cô gái.

Tôi nhớ Ngoại: vườn cau.

Mưa chầm chậm, mưa không mau.

Nước chảy qua cầu, hai Thế Kỷ, nước trôi ra biển!

Em ra đó rồi biến…

          … như là chuyện Liêu Trai!

Trần Vấn Lệ

==

 AI CÓ MƯỜI NĂM KHÔNG NƯỚC MẮT

AI LÒNG CÔ QUẠNH CHẲNG NHƯ SƯƠNG

Xưa, nói mười năm là thở dài

Nay, mười năm… một thoáng con nai

nó ra bờ suối nghiêng đầu xuống

uống nước và rồi mọc cánh bay!

.

Xưa, mười năm, đúng mười niên kỷ

Nay, hẹn gì rồi cũng đã quên

Khi ngó lịch thì trang lịch mới

Khi tìm hình bóng mịt mờ im!

.

Mười năm cứ ngỡ thanh bình đẹp

Mà đó mà đây luống ngỡ ngàng

Rồi chuyện mười năm vào cổ tích

Như người con gái đã sang ngang!

.

Sài Gòn không chỉ mười năm nhớ

Mà nhớ muôn năm:  nó mất rồi

Bến Nghé chia hai dòng nước đục

Hình như vì lệ của ai rơi?

.

Mười năm chỉ ném vài viên sỏi

Mà vỡ tan tành muôn trái tim!

Có lẽ con nai về Darlak

Để Bình Dương lẻ bóng trăng lên…

*

Mười năm Cải Tạo rồi lưu lạc

Tôi vẫn là con của Mẹ Cha,

Mà giọt mồ hôi không thấy mặn

Mà chua lè vì bởi quê xa?

.

Hăm bảy năm sau về Cố Lý,

Cháu dẫn đi thăm đất mả mồ,

Cháu dẫn đi thăm từng đám ruộng

Đi qua cầu khỉ vẫn trơ vơ…

.

Cái cầu khỉ đó qua con suối.

Sông ra biển rồi, mưa theo sông

Tôi về gặp lúc trời khô hạn,

Nhang cắm bàn thờ hoa trổ bông!

.

Mười năm tôi hiểu là đau đớn

Chợt ngó ra vườn thấy bướm bay…

Tôi thất tình như con bướm đó?

Tôi có tình mà không ai hay?

.

Nhớ Kiều Thệ Thủy chàng thi sĩ

có hai câu thơ buồn thiết tha:

“Tôi thất tình đi hôn lá hoa

Bước lang thang giữa xứ sương nhòa…”

.

Mà sương nhòa thiệt, sương nhòa thiệt!

Ai hẹn mười năm chắc cũng buồn?

Ai có mười năm không nước mắt?

Ai lòng cô quạnh chẳng như sương?

.

Trần Vấn Lệ

=

=

MỖI GIỌT LỆ

LÀ MỘT GIỌT QUÊ HƯƠNG

Ở Mỹ ăn Mì Quảng / vui biết bao là vui!  Lề đường ta cứ ngồi không bị Cảnh Sát đuổi!

.

Mì Quảng:  Mì Quảng Ngãi!  Mì Quảng:  Mì Quảng Nam.  Muốn ăn sang vẫn sang, Có đây Mì Quảng Bình, có đây Mì Quảng Trị.  Nếu ăn mà chưa phỉ… thì còn Mì Quảng Ninh!

.

Ôi Mì Quảng linh tinh!  “Việt Nam Mình Như Vậy!”.  Nói mà nước mắt chảy xuống nụ cười Bolsa!

.

Đường Bolsa ai qua nhớ ghé ăn mì Quảng, dù chỉ ăn một thoáng mà sẽ nhớ một đời…

.

Đời của những ai rời Tổ Quốc đi ra biển!   Đời của ai đã liệng cái quốc tịch ở nhà…

.

Những người bỏ đi xa nhớ thiết tha Mì Quảng… nên từng, từng bữa sáng cứ thèm nhắc Quê Hương!

.

Tô Mì Quảng thấy thương!  Những sợi vàng sợi trắng cầm đũa lên thấy nặng cái mùi thuở đói nghèo…

.

Cầm đũa vớt cái… vèo, tô lại đầy nước mắt!  Hai cái chữ Tổ Quốc, thành… hai chữ Tô Mì!

.

Ai có nói cái gì, tôi hoan hô Mì Quảng!  Đó là món không chán truyền thống của dân tôi!

.

Ăn từ khi ra đời đến khi nhắc bữa giỗ… nhớ ông bà, tiên tổ của những người vượt biên!

.

Quảng Ninh hay Quảng Yên cũng có Mì Quảng ạ!  Bạn bè cười nghiêng ngả:  ngon nhất Mì Quảng Nam!

.

Nhớ quá năm bảy lăm thèm chén cơm, không có…rồi cũng qua đói khổ:  lề đường có gánh mì!

.

Tiền của con cháu đi gửi về nuôi Cha Mẹ nên chi mỗi giọt lệ là một giọt Quê Hương!

.

Việt Nam ôi Yêu Thương!

Việt Nam là vậy đó!

Trần Trung Tá 




CGV NGUYỄN PHƯƠNG THÚY – CÁCH SỬ DỤNG CÁC DẤU TRONG TIẾNG VIỆT.




KIỀU MỸ DUYÊN: ĐẠI LỄ KHAI SÁNG PHẬT GIÁO HÒA HẢO NĂM THỨ 87 TẠI MIỀN NAM CALIFORNIA. TRUNG TƯỚNG CSVSQ JOSEPH TRẦN VĂN TRUNG ĐÃ VỀ VỚI CHÚA. AN CƯ KIẾT HẠ VÀ ĐẠI HỘI THƯỜNG NIÊN.

==




VĂN DUY TÙNG – Ca Khúc MẸ SAO BIỂN




Như Ninh NGUYỄN HỒNG DŨNG – Thăng Hoa Cuộc Đời Kỳ 152 – 153 – 154 – 155. Hạnh Phúc Nói Lời Chân Thật.

Hạnh Phúc 10 Nói Lời Chân Thật

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

Thăng Hoa Cuộc Đời kỳ 152 Hạnh Phúc 10.  Nói Lời Chân Thật có  nghĩa là “Lời người nói thành thật” đã, đang và sẽ phát ngôn phù hợp với sự thật, được lưu xuất từ một tâm ngay thẳng và hướng đến lợi ích cho mình cũng như cho người khác. Trong đời sống, lời nói không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là biểu hiện của đạo đức và nội tâm. Vì vậy, lời chân thật không đơn thuần là nói đúng sự việc, mà còn bao hàm cả sự chân thành và thiện lành.

Trước hết, lời nói chân thật phải đúng với sự thật, không hư dối. Người nói chân thật luôn trình bày đúng những gì mình thấy, mình biết, mình đã trải qua, không thêm bớt hay bóp méo sự việc. Họ không dùng lời nói để che giấu lỗi lầm hay trục lợi cho bản thân. Đây chính là nền tảng căn bản của chân ngữ trong đạo đức con người. Khi lời nói được xây dựng trên sự thật, niềm tin giữa người với người mới được thiết lập và duy trì bền vững.

Kế đến, lời chân thật phải xuất phát từ tâm chân thành. Không phải chỉ nói đúng sự thật là đủ, mà còn cần nói bằng một tấm lòng ngay thẳng, không gian dối, không hai lưỡi. Người chân thật không nói một đằng mà nghĩ một nẻo, cũng không dùng lời nói để gây chia rẽ hay làm tổn hại người khác. Lời nói khi ấy phản chiếu đúng nội tâm, trong ngoài như một. Do đó, chân thật không chỉ nằm ở lời nói, mà còn nằm ở chính tâm ý của người nói.

Sau cùng, lời nói chân thật cần mang lại lợi ích và sự thiện lành. Một lời nói dù đúng nhưng nếu gây tổn thương vô ích thì chưa phải là lời nói trọn vẹn. Người biết nói lời chân thật là người biết lựa lời, nói đúng lúc, đúng chỗ, giúp người nghe hiểu đúng và sống tốt hơn. Theo lời Phật dạy về Chánh Ngữ, lời nói chân thật luôn đi kèm với việc không nói dối, không nói lời ác, không nói lời chia rẽ và không nói lời vô ích. Đó là những nguyên tắc giúp lời nói trở thành phương tiện nuôi dưỡng sự an lành và hòa hợp trong cuộc sống.

Tóm lại, lời người nói chân thật là sự kết hợp giữa sự thật, tâm chân thành và lợi ích thiện lành. Khi con người biết giữ gìn lời nói như vậy, không chỉ tự xây dựng được nhân cách cho mình mà còn góp phần làm cho xã hội trở nên tốt đẹp, tin cậy và an hòa hơn. Lời nói trong đời sống con người không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là biểu hiện của đạo đức và trí tuệ. Một lời nói đúng đắn phải là lời không làm hại người khác và cũng không gây tổn hại cho chính người nói. Đó là lời nói mang lại lợi ích cho cả hai phía, vừa giúp người nghe được an vui, hiểu biết, vừa giúp người nói tích lũy thiện nghiệp. Hơn nữa, lời nói ấy không làm cho người nghe khó chịu, trái lại còn nhẹ nhàng, dịu ngọt và hợp thời, khiến người nghe dễ tiếp nhận. Vì vậy, có thể tạm dùng cụm từ “cam ngôn mỹ từ” để diễn đạt ý nghĩa cao đẹp của loại lời nói này theo tinh thần Phật dạy.

Đức Thế Tôn đã dạy rất rõ về giá trị của lời nói chân thật trong bài kinh Thiện Ngữ. Ngài khẳng định rằng: “Này các thầy Tỳ khưu, lời nói nào có đủ bốn chi, lời nói ấy mới gọi là lời Thiện Ngữ, lời nói ấy không có một ai chê được, không có tội lỗi.” Như vậy, lời nói chân thật không chỉ đơn giản là không nói dối, mà còn phải hội đủ những yếu tố đạo đức nhất định. Bốn chi mà Đức Phật dạy bao gồm: thứ nhất, nên nói lời chân thật, không nói lời giả dối; thứ hai, nên nói pháp, không nên nói ngoài pháp; thứ ba, nên nói những lời mà người nghe ưa thích, yêu mến, không nói lời khiến người ta ghét bỏ; và thứ tư, nên nói lời thành thật, không nói lời hoang đàng. Người tu hành nếu giữ đúng bốn điều này thì lời nói của họ mới thật sự được gọi là Kinh Thiện Ngữ, tức là lời nói chân thật, đúng đắn và không có lỗi.

Không chỉ dừng lại ở đó, các bản chú giải như Luận về khẩu nghiệp chân thật còn làm rõ thêm nội dung của lời nói chân thật. Theo đó, người nói được xem là đúng theo Kinh Thiện Ngôn khi không phạm bốn điều sai trái: không nói lời đâm thọc gây chia rẽ, không nói lời hoang đàng vô nghĩa, không nói lời hung ác làm tổn thương người khác, và không nói lời dối trá. Đây là những nguyên tắc căn bản giúp người tu hành và cả người đời giữ gìn khẩu nghiệp trong sạch. Đức Phật cũng cảnh tỉnh rằng những ai thường xuyên nói dối, nói đâm thọc, nói vu vơ và nói lời hung ác sẽ phải chịu quả báo xấu, có thể bị tái sinh vào bốn đường ác, bởi những lời nói ấy không phải là Thiện Ngôn, mà là nguồn gốc của bất thiện nghiệp.

Trong phần chú giải làm sáng tỏ về khẩu nghiệp, ý nghĩa của lời nói chân thật càng được nhấn mạnh hơn. Theo đó, người nói đúng theo những nguyên tắc trên được gọi là nói lời ngay thật, không nói lời đê tiện, mà nói những lời vô tội và được các bậc trí thức ngợi khen. Như vậy, lời nói chân thật không chỉ tránh điều ác mà còn hướng đến điều thiện, trở thành tiêu chuẩn để người trí đánh giá và tán dương.

Để giúp độc giả hiểu rõ hơn thế nào là lời nói chân thật trọn vẹn, Đức Phật còn dạy trong Kinh Thiện Ngôn rằng một lời nói được gọi là chân thật khi hội đủ năm chi phần bao gồm thứ nhất là nói hợp thời, tức là biết lựa lúc thích hợp để nói; thứ hai là nói chân thật, không sai sự thật; thứ ba là nói lời dịu ngọt, không thô lỗ; thứ tư là nói lời có ích, đem lại lợi lạc; và thứ năm là nói lời đầy lòng từ bi, xuất phát từ tâm thương yêu. Khi một lời nói hội đủ năm yếu tố này thì không những không gây tổn hại mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho người nghe và người nói, đồng thời được các bậc trí thức luôn luôn ngợi khen.

Cho nên lời nói chân thật theo tinh thần Phật dạy là lời nói vừa đúng sự thật, vừa dịu dàng, hợp thời, có ích và đầy lòng từ bi. Đó là lời nói không hại mình, không hại người, mà còn nuôi dưỡng sự an lành và hòa hợp trong đời sống. Người biết tu tập và gìn giữ lời nói như vậy chính là đang xây dựng nền tảng đạo đức vững chắc cho bản thân và góp phần làm cho xã hội trở nên tốt đẹp hơn.

Thiết tưởng cần giảng giải rõ ràng chi thứ nhất trong năm chi của lời nói chân thật, đó là lời nói phải hợp thời. Trong đời sống, con người muốn nói một điều gì, dù là sự thật, cũng cần phải xét xem hoàn cảnh, thời điểm và tình huống có thích hợp hay chưa. Không phải cứ nói đúng là đủ, mà còn phải nói đúng lúc, đúng nơi, đúng cách. Nếu nói không hợp thời, dù là lời chân thật, cũng có thể đem lại tai hại cho chính mình và cho người khác.

Trong kinh điển có kể lại một câu chuyện để minh họa rõ điều này. Xưa kia, có một con rùa sống trong một cái ao ở khu rừng gần thành Ba la nại. Mỗi ngày, có một cặp hạc thường bay đến ao để kiếm ăn. Lâu ngày, rùa và hai con hạc trở nên quen biết, rồi dần dần thân thiết như bạn bè. Một hôm, rùa hỏi thăm nơi ở của hạc, và được biết rằng hai con hạc sống trên dãy núi Hy Mã Lạp Sơn. Nghe vậy, rùa nảy sinh ý định muốn đi thăm nơi ở của bạn, nhưng lại ngại đường xa không thể tự mình đi đến được.

Sau một hồi suy nghĩ, rùa bèn đưa ra một kế hoạch: nhờ hai con hạc ngậm hai đầu của một khúc cây, còn rùa sẽ ngậm ở giữa. Khi hạc bay lên, rùa cũng sẽ được mang theo. Hai con hạc đồng ý giúp bạn, nhưng trước khi thực hiện, chúng dặn dò rùa rất cẩn thận rằng: “Trong khi bay, nếu thấy hay nghe điều gì lạ, anh cũng tuyệt đối không được mở miệng nói.” Rùa chấp nhận lời dặn này.

Khi mọi việc đã sẵn sàng, hai con hạc ngậm hai đầu khúc cây, rùa ngậm ở giữa, rồi cùng bay lên trời. Khi bay ngang qua thành Ba la nại, người dân và trẻ con trong thành nhìn thấy cảnh tượng lạ lùng, liền la lên: “Kìa, con rùa biết bay!” Nghe vậy, rùa cảm thấy khó chịu vì bị hiểu lầm. Nó muốn lên tiếng cải chính rằng mình không biết bay, mà chỉ được hai bạn khiêng đi. Nhưng ngay khi vừa hé miệng để nói, rùa buông khúc cây, rơi xuống đất và chết ngay trước mặt nhà vua cùng vị quân sư.

Thấy vậy, vị quân sư liền nhân cơ hội ấy mà thưa với vua rằng: “Người nói không tùy thời thường phải chịu tai hại như thế.” Sau khi kể lại câu chuyện này, Đức Thế Tôn dạy rằng vị quân sư kia chính là tiền thân của Ngài, đã dùng phương tiện khéo léo để nhắc nhở nhà vua về việc nói năng cho hợp thời.

Câu chuyện ấy là một bài học sâu sắc cho tất cả chúng ta. Trong đời sống, không phải lúc nào cũng nên nói ra những điều mình biết, dù đó là sự thật. Có những lúc, im lặng lại là điều khôn ngoan và lợi ích hơn. Ta cần biết khi nào nên nói, khi nào nên nín thinh. Nói thật mà không đúng lúc thì lời nói ấy trở nên vô ích, thậm chí còn gây hại. Như con rùa kia, tuy muốn nói sự thật, nhưng vì không hợp thời nên phải chịu hậu quả đau đớn.

Bởi vậy, người xưa đã dạy một câu phương ngôn rất sâu sắc: “Câm đi còn hơn nói không hợp thời.” Lời dạy này nhắc nhở chúng ta phải luôn cẩn trọng trong lời nói, biết giữ im lặng khi cần thiết. Chỉ khi lời nói được đặt đúng thời điểm, nó mới thật sự có giá trị và đem lại lợi ích. Đây chính là bước đầu tiên và rất quan trọng trong việc tu tập lời nói chân thật theo tinh thần Phật dạy.

Trong giáo lý về lời nói chân thật, Đức Phật dạy rằng, lời nói cần phải chân thật, lời nói chân thật ở đây được hiểu theo hai phương diện. Thứ nhất, người nói phải trung thực với hành động của mình, làm sao thì nói vậy, không vì sợ hãi tai hại có thể đến với mình mà nói sai sự thật. Đó chính là không nói dối, giữ được sự ngay thẳng trong lời nói. Thứ hai, lời nói chân thật còn mang ý nghĩa sâu xa hơn, tức là nói lên chân lý, nói đúng pháp, đặc biệt là nói về Tứ Diệu Đế, bốn sự thật căn bản mà Đức Phật đã chứng ngộ và giảng dạy cho chúng sanh.

Đức Thế Tôn từng dạy rằng sự chân thật vốn hiện hữu, nhưng rất ít người nhận ra. Ý của Ngài muốn chỉ rõ rằng cuộc đời này đầy dẫy khổ đau: nào là già, bệnh, chết, những điều không ai có thể tránh khỏi, thế nhưng, con người sống trong chính những hoàn cảnh ấy lại không chịu nhìn nhận sự thật. Họ tìm mọi cách để che đậy cái già, né tránh bệnh tật, hoặc sống buông thả, quên đi bản chất mong manh của đời sống. Chúng sanh đang chìm đắm trong khổ não nhưng phần đông lại không chấp nhận rằng đó là sự thật, đúng như lời Đức Phật đã chỉ bày.

Chính vì vậy, toàn bộ giáo pháp mà Đức Phật giảng dạy, dù được nói là tám muôn bốn ngàn pháp môn đều là lời chân thật, là chân lý. Những lời dạy ấy không phải là lý thuyết suông, mà là sự thật được chứng nghiệm, nên đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. Rất nhiều bậc học giả uyên thâm qua các thời đại đã quan tâm nghiên cứu, học hỏi và thực hành theo giáo pháp ấy. Điều này hoàn toàn phù hợp với lời Đức Phật dạy: “lời nói chân thật là lời nói bất diệt” nghĩa là chân lý thì không bị thời gian làm mai một, càng được chứng nghiệm thì càng sáng tỏ.

Bên cạnh lời nói chân thật, Đức Phật còn dạy đến lời nói dịu ngọt. Lời nói dịu ngọt là lời nói không cộc cằn, không thô lỗ, không làm cho người nghe cảm thấy khó chịu. Tuy nhiên, không phải cứ nói lời nhẹ nhàng bên ngoài là đủ. Có những người tuy không mắng chửi, lời nói nghe như mật ngọt, nhưng ẩn chứa sự mỉa mai, châm chọc, khiến người nghe đau lòng và khó chịu. Những lời như vậy không được gọi là lời nói dịu ngọt.

Chỉ khi nào lời nói vừa êm ái, nhẹ nhàng, lại vừa không mang ý nghĩa gây tổn thương, không làm người nghe phiền não hay đau khổ, thì lời nói ấy mới thật sự là lời nói dịu ngọt. Và khi lời nói dịu ngọt đi đôi với sự chân thật, không giả dối, không ác ý, thì đó chính là lời nói chân thật trọn vẹn theo tinh thần Phật dạy.

Trên đời này, không ai ưa nghe những lời thô bỉ, cũng chẳng ai muốn bị mắng nhiếc hay chọc tức. Lời nói cộc cằn, ác khẩu không chỉ làm tổn thương người nghe mà còn gây tai hại cho chính người nói. Điều này đã được minh chứng qua một câu chuyện xưa đầy ý nghĩa.

Tại xứ Ta si la, có một vị Bà la môn nuôi một con bò đực tên là Nan da vi la, thương yêu nó như con ruột. Con bò lớn lên, hiểu được ân tình của chủ, nên một ngày nọ đã thưa với thầy rằng: “Thầy hãy đến đánh cá với một vị trưởng giả như thế này: Bò của tôi có thể kéo một trăm cổ xe chở đầy hàng hóa. Vậy thầy hãy đem tôi ra đánh cá với ông ta.” Vị Bà la môn nghe theo lời, đến gặp trưởng giả và đề nghị cuộc cá cược. Trưởng giả đồng ý, và số tiền đặt cược là một ngàn đồng.

Khi đã chuẩn bị xong, vị Bà la môn cho thắng ách con bò vào một trăm cổ xe. Nhưng trong lúc nóng nảy, thầy lại lớn tiếng quát mắng: “Con bò chết bầm, hãy kéo đi!” Nghe những lời thô bỉ ấy, bò Nan da vi la buồn tủi, mất hết tinh thần, không thể kéo nổi xe. Cuối cùng, vị Bà la môn thua cuộc, đành trở về nhà trong nỗi buồn bã và thất vọng.

Thấy thầy mình buồn rầu, con bò động lòng thương, bèn nói: “Thầy hãy đi đánh cá lại, lần này gấp đôi số tiền, nhưng xin đừng dùng lời thô bỉ với tôi nữa.” Vị Bà la môn đồng ý. Lần này, khi đã thắng ách xong, thầy không quát mắng nữa, mà nhẹ nhàng vuốt ve và nói: “Con ơi, con cố gắng kéo giúp cha, nếu không thì cha khổ lắm.” Nghe những lời dịu dàng, chân tình ấy, bò Nan da vi la cảm thấy phấn chấn, tràn đầy sức lực, liền kéo một trăm cổ xe đi một cách dễ dàng. Nhờ đó, vị Bà la môn thắng cuộc và lấy lại được danh dự cùng tiền bạc.

Sau khi kể lại câu chuyện này, Đức Thế Tôn dạy rằng con bò Nan da vi la chính là tiền thân của Ngài. Ngài nhấn mạnh: “Này các thầy Tỳ khưu, đã gọi là lời thô bỉ thì không ai ưa.” Rồi Ngài đọc bài kệ: người ta nên nói những lời khiến người khác vừa lòng, không nên nói lời làm phật ý người nghe. Nhờ lời nói dịu ngọt mà vị Bà la môn đã khiến con bò Nan da vi la vui lòng, từ đó có thể kéo được những cổ xe nặng và giúp thầy thắng cuộc.

Câu chuyện này cho thấy một sự thật rất rõ ràng: ngay cả loài vật cũng không ưa thích những lời thô bỉ, cộc cằn, huống chi là con người. Vì vậy, chúng ta không nên dùng lời nói thô lỗ với bất kỳ ai, mà nên tập nói lời dịu dàng, hòa nhã. Trong cuộc sống, có khi người khác sẵn sàng giúp đỡ ta, nhưng chỉ vì một lời nói không vừa lòng mà họ đổi ý, không còn muốn giúp nữa. Ngược lại, một lời nói nhẹ nhàng, chân thành có thể cảm hóa tâm người, tạo nên sự hợp tác và đem lại lợi ích lớn lao.

Do đó, biết giữ gìn lời nói, tránh thô ác và nuôi dưỡng lời nói dịu ngọt chính là một trong những phương pháp thiết thực để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp và đem lại an vui cho mình cũng như cho người khác.

Trong giáo pháp về lời nói chân thật, Đức Phật dạy đến chi thứ tư là lời nói phải có lợi ích. Lời nói lợi ích là điều đối nghịch với lời nói vô ích. Lời nói vô ích chỉ làm mất thời giờ, không đem lại lợi lạc cho ai, thậm chí còn gây phiền toái. Trái lại, lời nói lợi ích là lời nói có khả năng đem lại sự an vui cho người nghe, không chỉ trong hiện tại mà còn trong cả tương lai. Đó là những lời không gây tổn hại cho người khác, cũng không làm hại đến chính người nói. Vì vậy, người biết tu tập lời nói cần phải cân nhắc kỹ lưỡng, chỉ nói những điều có ích, giúp người khác hiểu đúng, sống tốt và hướng thiện.

Chi thứ năm là lời nói phải phát xuất từ tâm từ bi. Lời nói đầy vẻ từ bi là lời nói không mang tính châm biếm, không xuyên tạc hay bóp méo sự thật. Đó là lời nói thể hiện một tấm lòng không thù nghịch, không oán ghét, và cũng không bị chi phối bởi tư lợi cá nhân. Khi lời nói xuất phát từ tâm từ ái, nó sẽ trở nên nhẹ nhàng, chân thành và có sức cảm hóa. Người nghe không những không bị tổn thương mà còn cảm nhận được sự quan tâm và thiện chí từ người nói.

Như vậy, một lời nói được gọi là lời nói chân thật, ngay thẳng và tốt đẹp, phải hội đủ năm yếu tố đã được giải thích. Nếu thiếu một trong năm yếu tố này thì lời nói ấy chưa thể gọi là trọn vẹn. Để dễ ghi nhớ, có thể tóm lược năm chi ấy như sau: nói đúng thời, nói chân thật, nói dịu ngọt, nói có lợi ích, và nói với tác ý lành, đầy lòng từ bi.

Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở việc hội đủ năm yếu tố đó, lời nói chân thật còn cần phải phù hợp với hoàn cảnh và đối tượng. Lời nói phải vừa với trình độ và tâm lý của người nghe. Có những lời tuy xuất phát từ ý tốt, nội dung đúng đắn và hợp hoàn cảnh, nhưng nếu không phù hợp với người nghe thì vẫn có thể bị hiểu lầm hoặc bị xuyên tạc, thậm chí gây ra oán hờn không đáng có. Do vậy, người nói cần phải có sự khéo léo, biết tùy duyên, tùy người mà nói cho thích hợp.

Đối với người Phật tử chân chánh, việc học và thực hành theo năm điều Đức Phật dạy về lời nói là vô cùng cần thiết. Nhờ đó, ta có thể tránh được nhiều oan trái, oán thù trong cuộc sống. Dù không thể hoàn toàn tránh hết mọi xung đột, nhưng chắc chắn sẽ giảm thiểu được rất nhiều phiền não phát sinh từ lời nói.

Cần hiểu rằng lời nói cũng là một loại nghiệp, gọi là khẩu nghiệp, và khẩu nghiệp ấy phát sinh từ chính tác ý của mỗi người. Vì vậy, trước khi nói, ta nên tự quán xét lại tâm ý của mình. Nếu tác ý chưa thiện, lời nói dễ trở thành nguyên nhân gây khổ. Ngược lại, nếu tác ý lành, lời nói sẽ trở thành phương tiện mang lại an vui và hòa hợp. Do đó, tu tập lời nói chính là tu tập tâm ý, và cũng là con đường dẫn đến đời sống an lạc và tốt đẹp hơn.

Lời nói chân thật không chỉ là chuẩn mực đạo đức mà còn là nguồn gốc của hạnh phúc bền vững trong đời sống. Khi ta thực hành lời chân thật, tức là đang đi vào con đường của thập thiện, tạo nên nguyên nhân sinh phước. Mỗi lời nói ngay thẳng, không dối trá đều gieo một hạt giống lành, đưa đến quả báo tốt đẹp trong hiện tại và tương lai. Vì vậy, lời nói chân thật chính là một đại phúc, giúp con người sống an vui trong kiếp này và cả những kiếp về sau.

Không những thế, lời nói chân thật còn đem lại nhiều lợi ích thiết thực như tài lộc, địa vị, sự giàu sang, cùng với những mối quan hệ tốt đẹp như quyến thuộc hiền hòa và bạn hữu chân thành. Người sống chân thật trong lời nói sẽ được mọi người tin tưởng, kính trọng, bởi lời nói của họ đáng tin và không gây tổn hại. Niềm tin ấy chính là nền tảng vững chắc cho mọi thành tựu trong cuộc sống.

Tóm lại lời nói chân thật còn đưa con người đến những trạng thái hạnh phúc từ thấp đến cao: từ phước báo ở cõi người, cõi trời, cho đến an lạc tối thượng là Niết bàn. Người biết giữ gìn lời nói chân thật cũng là người có thể đạt được những điều tốt đẹp mà mình mong ước trong đời. Do vậy người hành trì lời nói chân thật chính là đang bước đi trên con đường hạnh phúc theo chân Phật, con đường của ánh sáng, của an vui và giải thoát.

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

**

Hạnh Phúc 11 Hiếu Hạnh Cung Dưỡng Song Thân

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

Thăng Hoa Cuộc Đời kỳ 153 là Hạnh Phúc 11 mang tựa đề “Hiếu Hạnh Cung Dưỡng Song Thân” quả là một điều phúc báu vì có được cha mẹ hiện tiền để mình còn được làm con. Trong loạt bài “Thăng Hoa của Cuộc Đời”, những điều hạnh phúc đã trình bày trước đây đều hướng về tự thân mỗi người, như một quá trình tích lũy nội lực, gây dựng nền tảng đạo đức và tâm linh cho chính mình. Bởi lẽ, muốn có hạnh phúc lâu bền, trước hết con người phải biết tự tu sửa, chuyển hóa bản thân, làm cho tâm ý và hành vi ngày càng trở nên thiện lành, trong sáng. Đó chính là “vốn liếng” quý báu giúp ta đứng vững giữa cuộc đời nhiều biến động.

Tiếp theo, từ nền tảng ấy, chúng tôi lần lượt trình bày những phương diện hạnh phúc gắn liền với các mối quan hệ thiết thân như đối với cha mẹ, vợ chồng, con cái, và cả những người chung quanh. Hạnh phúc không chỉ là sự an vui riêng lẻ, mà còn là kết quả của cách ta sống, cách ta đối xử, và cách ta nuôi dưỡng tình nghĩa trong đời sống gia đình và xã hội. Từ hạnh phúc thứ mười một trở đi, giáo pháp lại hướng người học đi xa hơn một bước: không chỉ giữ gìn phẩm hạnh cho riêng mình, mà còn biểu lộ những đức tính tốt đẹp ấy ra bên ngoài, chẳng hạn qua nếp sống hiếu kính, phụng dưỡng song thân. Đây chính là nền tảng của đạo làm người và cũng là cội nguồn của mọi công hạnh. Đức Phật đã dạy rõ ràng: tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật, Ai muốn tiến đến con đường giác ngộ, muốn đồng hành cùng chư Phật, thì việc trước tiên không gì khác hơn là chí thành hiếu dưỡng cha mẹ, lấy đó làm bước khởi đầu cho mọi thiện hạnh.

Đức Phật thuyết về những người thân theo thứ tự: mẹ, cha, con, vợ. Nhiều người thắc mắc vì sao mẹ lại đứng trước cha, và con lại trước vợ. Có ý kiến cho rằng mẹ có công ơn lớn hơn vì mang nặng đẻ đau, nuôi dưỡng và chăm sóc con nhiều hơn. Lại có người dựa vào việc Đức Phật thuyết pháp độ Phật mẫu, giảng những pháp cao siêu như Tạng Luận, để cho rằng Ngài xem trọng công ơn của mẹ hơn.

Ngược lại, cũng có quan điểm cho rằng cha có công lớn, vì nếu không có cha thì không có con. Hơn nữa, khi Phụ vương lâm bệnh, Đức Phật đã trở về thuyết pháp suốt bảy ngày đêm để độ Ngài chứng quả A La Hán, rồi chính tay lo việc tẩm liệm và đưa tang, thể hiện lòng hiếu kính sâu sắc.

Tuy nhiên, cả hai lập luận đều chỉ là suy diễn. Thực tế, không có kinh nào Đức Phật dạy rằng công ơn của cha hay mẹ hơn kém nhau, mà cả hai đều bình đẳng. Đức Phật tùy theo căn cơ và duyên lành của từng người mà thuyết pháp thích hợp. Phật mẫu nghe pháp để chứng quả Tu Đà Hoàn, còn chư thiên và những bậc căn cơ cao cần pháp thâm sâu nên Ngài giảng Tạng Luận. Do đó, sự sắp xếp không phải để phân biệt công ơn, mà mang ý nghĩa giáo hóa tùy duyên và hợp thời.

Đối với Phụ vương, sở dĩ Đức Phật đợi đến lúc vua cha gần thăng hà mới thuyết một ngàn câu kệ suốt bảy ngày đêm để độ chứng quả A La Hán, mà không thuyết trước đó, là vì Ngài là bậc Điều Ngự Trượng Phu, thấu rõ căn cơ và duyên lành của mỗi người. Khi duyên chưa chín muồi, dù thuyết pháp nhiều đến đâu cũng không đem lại kết quả. Vì vậy, Ngài chỉ đợi đúng thời điểm thích hợp để giáo hóa, khiến việc độ sanh đạt hiệu quả viên mãn. Do đó, không thể căn cứ vào việc thuyết pháp nhiều hay ít, hay kết quả cao hay thấp mà cho rằng Đức Phật phân biệt công ơn cha mẹ. Dù độ cha hay mẹ, Ngài đều tận tâm làm tròn đạo hiếu. Hơn nữa, đối với tất cả chúng sanh có duyên, Ngài đều bình đẳng cứu độ, không phân biệt thân hay thù. Điển hình như việc Ngài cảm hóa tên cướp hung ác Vô Não, dù bị rượt đuổi sát hại, Ngài vẫn kiên trì hóa độ. Điều đó cho thấy tâm từ bi và bình đẳng của Đức Phật luôn rộng khắp.

Vậy vì sao Đức Phật dạy phải phụng sự mẹ cha? Bởi lẽ, trong đời sống, ta nên đem lợi ích đến cho những người gần gũi mình nhất. Mẹ cha là những người gần gũi và có nhiều duyên với ta nhất, nên ta có nhiều cơ hội để chăm sóc và đền đáp. Điều này không phải để so sánh công ơn cha mẹ hơn kém, mà là nhấn mạnh việc thực hành hiếu đạo một cách thiết thực, tùy theo hoàn cảnh mà hành động kịp thời.

Bổn phận làm con là phải hiểu rõ công ơn sinh thành dưỡng dục và tìm cách báo đáp. Đây chính là con đường của các bậc Thánh và cũng là hạnh của Bồ Tát. Đức Phật từng dạy trong một tiền thân làm đạo sĩ Sơn Nha rằng, cha mẹ luôn hy sinh tất cả hạnh phúc cho con, ngay từ khi mang thai, người mẹ đã lo lắng, cầu nguyện, giữ gìn từng điều nhỏ nhặt, mong con được bình an, đủ thấy tình thương và công ơn ấy sâu dày vô hạn.

Những điều làm cha mẹ khổ nhất trong thời kỳ mang thai là bệnh ốm nghén. Đây là một trạng thái rất đặc biệt, khiến người mẹ thèm những điều trước đó chưa từng nghĩ tới. Điển hình là câu chuyện Hoàng hậu của vua Bình Sa Vương như sau: khi mang thai Thái tử A Xà Thế, bà thèm uống máu của vua. Vì xấu hổ nên không dám nói ra, khiến thân thể ngày càng suy yếu. Khi biết chuyện, nhà vua sẵn sàng rạch tay lấy máu cho vợ uống. Dù được các thầy Bà-la-môn cảnh báo rằng đứa con sau này sẽ giết cha, nhà vua vẫn vì tình thương mà nuôi dưỡng. Quả nhiên về sau Thái tử đã giết cha, giam mẹ. Câu chuyện ấy cho thấy tình thương của cha mẹ đối với con sâu nặng, không gì ngăn cản được, nên không thể so sánh công ơn cha hay mẹ hơn kém.

Không chỉ mang nặng đẻ đau, người mẹ còn có khả năng đặc biệt trong việc nuôi dưỡng con. Khi con còn chưa biết nói, mẹ đã hiểu ý qua tiếng khóc, luôn bồng ẵm, vỗ về ngày đêm, tìm mọi cách làm con an ổn. Trong kinh dạy rằng cha mẹ luôn có tâm lành đối với con. Từ khi biết có thai, người mẹ lo gìn giữ thai nhi, người cha lo thuốc men, chăm sóc suốt mười tháng. Khi con sinh ra, cha mẹ không quản nhọc nhằn, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Thậm chí, vì thương con, cha mẹ còn sẵn sàng hy sinh mọi thứ, lo dành dụm, và luôn lo lắng mỗi khi con xa nhà, mong con được bình an.

Vì vậy, Đức Phật dạy rằng cha mẹ đối với con đầy đủ bốn đức lớn là Từ, Bi, Hỉ, Xả, và tôn xưng cha mẹ bằng bốn hồng danh cao quý: Phạm thiên, chư thiên thuở đầu, vị tôn sư trước nhất và bậc đáng cúng dường. Đây là cách Đức Phật nhấn mạnh công ơn sâu dày và vai trò vô cùng quan trọng của cha mẹ trong đời sống mỗi con người.

Hồng danh thứ nhất, Phạm thiên, biểu thị sự cao quý và vô lượng của tâm cha mẹ. Cha mẹ luôn nuôi dưỡng con bằng bốn tâm vô lượng: Từ là lòng thương yêu khởi từ khi biết có thai; Bi là lòng xót thương khi con sinh ra, luôn lo lắng cho sức khỏe và sự an nguy của con; Hỉ là niềm vui khi thấy con trưởng thành, hạnh phúc, không hề ganh tị hay đòi hỏi; Xả là sự bao dung, tha thứ khi con sai lỗi, dù con có phụng dưỡng hay không, cha mẹ vẫn không oán trách. Bốn tâm này luôn hiện hữu và không bao giờ gián đoạn, nên cha mẹ được ví như Phạm thiên. Hồng danh thứ hai, chư thiên thuở đầu, có nghĩa cha mẹ chính là vị “thần linh” đầu tiên của đời con. Cha mẹ luôn hết lòng mang lại hạnh phúc, che chở và không chấp lỗi con. Trong thời xưa, người ta tin chư thiên có thể cứu độ, nên Đức Phật ví cha mẹ như những vị chư thiên gần gũi nhất. Hồng danh thứ ba, vị tôn sư trước nhất, nhấn mạnh cha mẹ là người thầy đầu đời, dạy con từ những điều căn bản như ăn, nói, đi đứng đến đạo lý làm người, trước cả mọi thầy cô khác. Hồng danh thứ tư, bậc đáng cúng dường, khẳng định cha mẹ là đối tượng xứng đáng nhất để con hiếu kính và dâng hiến. Như vậy, đạo hiếu không chỉ là bổn phận mà còn là con đường cao quý dẫn đến thiện lành và hạnh phúc.

Lòng thương yêu và sự lo lắng của cha mẹ đối với con cái là vô bờ bến, nên bổn phận làm con phải hết lòng phụng dưỡng để tròn chữ hiếu. Người nào không làm tròn đạo hiếu thì không xứng đáng làm người tốt, không đáng làm bạn, làm vợ chồng, cũng không thể trở thành công dân chân chính. Người con bất hiếu còn thua cả cây gậy, như câu chuyện trong Pháp Cú kinh đã nêu rõ.

Xưa kia có một vị Bà la môn giàu có, có năm người con trai. Sau khi vợ mất, ông định cưới vợ khác để chăm sóc tuổi già, nhưng các con xin thay nhau phụng dưỡng, nên ông chia hết tài sản cho họ. Lúc đầu, các con còn đối xử tốt, nhưng dần dần trở nên lạnh nhạt, rồi xua đuổi ông, khiến ông phải đi ăn xin, sống khổ sở. Nhờ lời khuyên của bạn, ông đến gặp Đức Phật cầu cứu. Theo lời dạy, ông đến chùa Kỳ Viên, chờ dịp bày tỏ nỗi lòng trước đại chúng.

Trong buổi thuyết pháp có mặt cả năm người con và vua Ba Tư Nặc, ông đứng lên than rằng con của ông còn không bằng cây gậy, vì gậy còn giúp ông chống đỡ, còn con thì bỏ mặc ông. Nghe vậy, mọi người phẫn nộ, định trừng phạt năm người con, nhưng ông xin tha. Trước lòng bao dung ấy, các con ăn năn, xin đón cha về phụng dưỡng. Qua câu chuyện này, thấy rõ rằng bất hiếu là điều đáng trách, còn lòng hiếu thảo là đức hạnh cao quý.

Đức Phật không chỉ cứu độ về tâm linh mà còn giúp con người giải quyết khổ đau trong đời sống. Ngài dạy rằng người biết phụng dưỡng cha mẹ sẽ được kính trọng và hưởng nhiều an vui do phước báo ấy.

Trong kinh Phạm Thiên Đức Phật dạy rằng cha mẹ là hai đấng có công ơn vô lượng vô biên đối với con cái. Dù người con có hiếu đến đâu, thậm chí có thể chinh phục năm châu bốn biển để dâng hiến cho cha mẹ hưởng mọi vinh hoa phú quý, thì cũng chưa thể gọi là đền đáp được công ơn sinh thành dưỡng dục trong muôn một. Bởi vì những điều ấy chỉ mới đáp ứng về phương diện vật chất, tức là lo cho cha mẹ trong đời hiện tại, mà chưa chạm đến giá trị sâu xa hơn là đời sống tinh thần và con đường giải thoát lâu dài.

Theo tinh thần Phật dạy, bổn phận làm con không chỉ dừng lại ở việc phụng dưỡng vật chất, mà còn phải giúp cha mẹ hướng đến đời sống đạo đức và tâm linh. Người con có hiếu cần khéo léo hướng dẫn cha mẹ biết tin tưởng vào điều thiện, tin nơi Tam Bảo và luật nhân quả; biết buông xả, làm việc bố thí để giảm bớt lòng tham; giữ gìn giới hạnh để thân tâm được thanh tịnh; và phát triển trí tuệ để thấy rõ bản chất vô thường, khổ và vô ngã của cuộc đời. Khi cha mẹ có được những phẩm chất ấy, thì không chỉ an vui trong hiện tại mà còn tạo nền tảng tốt đẹp cho tương lai lâu dài.

Nếu cha mẹ đã quá vãng, người con vẫn có thể thể hiện lòng hiếu thảo bằng cách siêng năng làm các việc thiện, tích lũy công đức và hồi hướng cho cha mẹ mỗi ngày. Đây chính là cách báo hiếu thiết thực và sâu sắc, thể hiện tình thương không giới hạn bởi thời gian hay sự sống chết.

Người còn cha mẹ hiện tiền được xem là người có phước lớn, vì trong nhà có cha mẹ chẳng khác nào có những bậc thánh nhân. Đức Phật ví cha mẹ như những bậc đáng tôn kính, nên việc phụng dưỡng và cúng dường cha mẹ đem lại phước báu vô lượng, không khác gì cúng dường các bậc A La Hán. Vì vậy, người hiểu được công ơn cha mẹ cần biết đền đáp cả hai phương diện: vật chất và tinh thần. Chỉ khi nào vừa chăm lo đời sống hiện tại, vừa hướng cha mẹ đến con đường thiện lành và giải thoát, thì mới thật sự gọi là trọn đạo hiếu.

Đền đáp công ơn cha mẹ về phương diện vật chất trước hết là phải hết lòng cung kính, luôn giữ lời nói và hành động lễ độ, không làm trái ý hay khiến cha mẹ buồn lòng. Người con cần tận tâm phụng dưỡng, lo đầy đủ ăn uống, thuốc men, y phục và chỗ ở cho cha mẹ, chăm sóc chu đáo như khi mình còn nhỏ được cha mẹ nuôi nấng. Khi cha mẹ đau yếu, phải hết lòng săn sóc, không quản khó nhọc. Đồng thời, người con biết đặt việc phụng sự cha mẹ lên trên hết, sẵn sàng gác lại việc riêng để lo tròn bổn phận, không nghĩ đến lợi ích cá nhân khi việc của cha mẹ chưa được chu toàn.

Đền đáp công ơn cha mẹ về phương diện tinh thần là biết giữ gìn và làm rạng danh gia đình, sống sao cho xứng đáng với công lao sinh thành dưỡng dục. Người con cần nỗ lực tu dưỡng bản thân để trở thành người có đạo đức, xứng đáng thừa hưởng gia tài cha mẹ để lại. Quan trọng hơn, phải khéo léo hướng cha mẹ đến đời sống tâm linh, giúp cha mẹ phát khởi niềm tin nơi Tam Bảo, thọ trì quy giới, hoặc nhờ bậc trí thức và chư Tăng chỉ dạy. Đồng thời, nên dẫn cha mẹ đến chùa nghe pháp, làm việc thiện và tu học. Làm được như vậy mới thật sự gọi là hiếu thảo và báo đáp công ơn cha mẹ.

  Tóm lại, người con biết hiếu kính và đền đáp công ơn cha mẹ sẽ gặt hái những hạnh phúc lớn lao không chỉ ở bề mặt cuộc sống, mà còn sâu thẳm nơi cội nguồn tâm thức. Hạnh phúc ấy không phải là thứ may rủi tình cờ, mà chính là kết quả tất yếu của nhân lành được gieo trồng từ tâm hiếu. Bởi lẽ, hiếu đạo là nền tảng của mọi đức hạnh; khi tâm hiếu được khởi lên, thì lòng từ, lòng biết ơn và sự khiêm cung cũng theo đó mà sinh trưởng. Chính những phẩm chất ấy làm cho con người trở nên vững chãi, sáng suốt và an ổn giữa dòng đời biến động.

Người có đức hiếu hạnh không phải sống chỉ vì bản thân nhỏ hẹp, mà biết mở rộng tâm mình để cảm thông và phụng sự tha nhân. Khi tâm vị kỷ được chuyển hóa thành tâm vị tha, thì phiền não dần lắng dịu, lo sợ tự nhiên tiêu tan. Vì không gây nhân bất thiện, nên không chuốc lấy quả khổ; vì luôn hành thiện, nên tự chiêu cảm những duyên lành. Do đó, họ được người hiền nâng đỡ, được xã hội kính trọng, và ngay cả trong những lúc gian nan, vẫn có sự trợ duyên vô hình nâng bước. Hạnh phúc ấy còn sâu xa hơn nữa, vì hiếu đạo chính là con đường dẫn đến trí tuệ. Khi người con biết quán chiếu công ơn cha mẹ, sẽ nhận ra thân này không phải tự nhiên hiện hữu, mà là kết tinh của bao nhiêu hy sinh, đau khổ và tình thương. Từ đó, phát sinh trí tuệ thấy rõ vô thường, thấy rõ mối liên hệ mật thiết giữa mình và muôn loài. Chính cái thấy ấy giúp con người buông bỏ chấp ngã, sống thuận theo đạo lý, và tiến dần đến sự giải thoát.

Vì vậy, hạnh phúc của người con hiếu không chỉ là sự đủ đầy vật chất hay danh vọng ở đời, mà là sự an lạc nội tâm, là sự thanh thản không bị dày vò bởi lỗi lầm, là ánh sáng trí tuệ soi đường cho từng bước đi. Hạnh phúc ấy tiếp nối không gián đoạn, từ hiện tại đến vị lai, từ cõi người đến cõi trời, và cuối cùng là hướng về cảnh giới Niết bàn tịch tịnh. Nói cho cùng, hiếu đạo không chỉ là đạo làm con, mà chính là đạo làm người, là cửa ngõ bước vào con đường Thánh thiện. Người trọn hiếu là người đã chạm đến cội nguồn của hạnh phúc chân thật, bởi nơi đó, tâm và đạo đã trở thành một.

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng_Easter 2026

**

Hạnh Phúc 12 Biết Giáo Dưỡng Con Cái

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

Kỳ 154 Hạnh Phúc 12 Biết Giáo Dưỡng Con Cái: Trong đạo lý làm người, hình ảnh “người con đạo hạnh” không chỉ dừng lại ở tình cảm huyết thống, mà còn mở rộng thành một lý tưởng sống cao đẹp, thấm đượm tinh thần hiếu kính và giác ngộ. Chữ “con” ở đây không chỉ mang nghĩa đơn thuần là người được sinh ra, mà còn là người biết giữ gìn, nâng đỡ và bảo hộ cha mẹ trên con đường đạo đức. Nghĩa chánh yếu của người con đạo hạnh chính là không để cha mẹ rơi vào nẻo ác, mà trái lại, phải biết khéo léo dìu dắt, hướng dẫn cha mẹ đến với chánh kiến, biết tu tập theo con đường thiện lành như bố thí, trì giới và hành thiền. Đó mới chính là cách báo hiếu sâu xa và bền vững nhất.

Đạo hạnh còn biểu hiện ở việc người con làm rạng rỡ gia phong, giữ gìn nề nếp trong sạch cho dòng họ. Một người con có giới đức, sống chân thật và biết kính trên nhường dưới, chính là niềm tự hào lớn lao của gia đình. Người con ấy không chỉ là “con thảo” mà còn là “con quý”, bởi giá trị của họ không nằm ở vật chất mà ở phẩm hạnh và đời sống đạo đức. Khi một người con biết tu dưỡng bản thân, giữ gìn giới hạnh, thì tự thân họ đã trở thành ánh sáng soi chiếu cho cả gia đình.

Mặt khác, đạo hạnh cũng chính là làm cho cha mẹ được vui lòng. Niềm vui ấy không chỉ đến từ sự phụng dưỡng đầy đủ về vật chất, mà còn từ sự hiếu kính, quan tâm và chăm sóc chân thành. Người con hiếu thảo luôn biết nghĩ đến cha mẹ, từ khi cha mẹ còn khỏe mạnh cho đến lúc tuổi già yếu. Họ làm mọi điều để cha mẹ được an lòng, sống trong sự ấm áp và tin tưởng nơi con cái.

Theo ý nghĩa sâu xa, chữ “người con đạo hạnh” còn chỉ đứa con từ khi còn trong thai bào đã được cha mẹ hết lòng lo lắng, chăm nom. Vì vậy, bổn phận làm con không thể xem nhẹ. Trong các câu chuyện tiền thân, người ta nhắc đến ba hạng con: con tinh thần là đệ tử của bậc thầy, con nuôi và con ruột. Trong đó, người xuất gia xem thầy tế độ như cha tinh thần, hết lòng cung kính và nương tựa, còn người thầy cũng tận tâm dẫn dắt đệ tử trên con đường giải thoát.

Dù là con nuôi hay con ruột, khi đã mang danh phận làm cha mẹ, thì tình thương phải bình đẳng, không phân biệt. Người làm cha mẹ cần nuôi dạy con bằng tâm từ, bi, hỷ, xả rộng lớn như tâm của bậc Phạm thiên. Và ngược lại, người con đạo hạnh chính là người biết đáp đền ân sâu ấy bằng đời sống thiện lành, hiếu kính và hướng thượng, để cả gia đình cùng tiến về con đường an lạc và giải thoát.

Trong đời sống gia đình, người con đẻ tuy cùng một nguồn sinh dưỡng, nhưng khi trưởng thành lại có thể chia thành ba hạng khác nhau, tùy theo phước duyên, tâm tánh và sự tu dưỡng của mỗi người. Hạng thứ nhất là con cao hơn cha mẹ. Đây là những người con có nhiều duyên lành, biết học hỏi, tu dưỡng đạo đức và phát triển trí tuệ. Khi lớn lên, họ không những thành đạt về danh phận mà còn sống có nhân cách, đem lại tiếng thơm cho gia đình, làm rạng rỡ tổ tiên. Người con này chính là quả lành của nhiều đời tích tụ, là niềm hạnh phúc lớn lao của cha mẹ, vì thấy con mình vượt hơn mình cả về tài năng lẫn đạo đức.

Hạng thứ hai là con bằng cha mẹ. Những người con này sống đời bình thường, không nổi bật cũng không gây tai tiếng. Họ giữ được nếp sống ổn định, không làm tổn hại đến danh dự gia đình, nhưng cũng không nâng cao thêm giá trị của dòng họ. Đây là hạng người sống an phận, đủ đầy trong mức trung bình, không tiến xa nhưng cũng không lùi bước. Tuy không làm cha mẹ tự hào rạng rỡ, nhưng cũng không khiến cha mẹ phải buồn lòng.

Hạng thứ ba là con thấp kém hơn cha mẹ. Đây là điều đau lòng nhất trong đạo làm cha mẹ. Những người con này từ nhỏ đến lớn không biết tu dưỡng, thường buông lung theo thói xấu, tiêu xài phung phí, thậm chí làm điều sai trái khiến gia đình bị khinh chê. Khi con còn tồn tại trong nếp sống ấy, thì cha mẹ còn chịu khổ đau, lo lắng không nguôi. Đây không chỉ là nỗi buồn của một gia đình, mà còn là sự suy giảm đạo đức trong xã hội.

Tuy nhiên, việc con cái trở thành hạng nào không hoàn toàn do cha mẹ quyết định. Cha mẹ có bổn phận thiêng liêng là nuôi dưỡng và dạy dỗ, nhưng kết quả cuối cùng vẫn tùy thuộc nơi ý chí và nghiệp lực của người con. Dẫu vậy, giáo dục từ thuở ấu thơ là nền tảng vô cùng quan trọng.

Trong Kinh Thi Ca La Việt, Đức Phật dạy rõ năm bổn phận của cha mẹ đối với con. Trước hết là ngăn ngừa con làm điều xấu, giúp con tránh xa tội lỗi. Kế đến là dạy con làm điều lành, gieo trồng nhân thiện. Cha mẹ còn phải cho con học nghề để tự lập cuộc sống chân chính. Khi con đến tuổi trưởng thành, cần dựng vợ gả chồng nơi xứng đáng, giúp con ổn định gia đình. Sau cùng là phân chia tài sản hợp lý, để con có phương tiện sống và phát triển.

Như vậy, cha mẹ gieo nhân, con gặt quả. Nhưng nếu cha mẹ biết dùng trí tuệ và tình thương đúng cách, thì có thể chuyển hóa rất nhiều, giúp con hướng về con đường thiện lành, trở thành người con hiền đức, đem lại an vui cho gia đình và xã hội.

Trước tiên là trong đạo làm cha mẹ, việc ngăn ngừa con cái không sa vào đường tội lỗi là một bổn phận hết sức quan trọng và thiêng liêng. Khi thấy con có dấu hiệu bê tha, lười học, hoặc bị lôi kéo bởi bạn xấu, cha mẹ không thể làm ngơ, mà cần tìm mọi phương cách để uốn nắn. Có khi phải thay đổi môi trường sống, đưa con đến nơi học tập lành mạnh, tránh xa ảnh hưởng xấu. Điều này hoàn toàn phù hợp với lời Phật dạy về trách nhiệm của song thân đối với con cái. Tuy nhiên, thực tế không phải lúc nào cũng đạt được kết quả như mong muốn. Có những đứa trẻ thời nay, khi được khuyên răn lại phản ứng ngược, cho rằng cha mẹ lạc hậu, không hiểu mình, và không muốn bị can thiệp vào đời sống riêng.

Chính vì vậy, có không ít bậc cha mẹ rơi vào tâm trạng chán nản, buông xuôi, mặc cho con muốn làm gì thì làm. Nhưng đó lại là điều nguy hiểm, vì càng buông lỏng, con càng dễ lún sâu vào sai lầm. Do đó, cha mẹ không thể bỏ cuộc, mà cần hiểu rõ căn nguyên để có phương pháp giáo dục thích hợp. Muốn ngăn ngừa con hiệu quả, cần xét đến ba yếu tố: nhận thức, nhu cầu và phiền não.

Về nhận thức, cha mẹ và con cái thuộc hai thế hệ khác nhau nên cách nhìn cuộc sống không giống nhau. Cha mẹ có kinh nghiệm, hiểu được hậu quả lâu dài, trong khi con cái còn non nớt, dễ bị hấp dẫn bởi cái trước mắt. Về nhu cầu, cha mẹ thường hướng đến sự ổn định, đạo đức, còn con cái lại bị cuốn theo trào lưu, muốn thể hiện bản thân, tìm kiếm tự do. Về phiền não, mỗi bên lại có những nỗi lo riêng: cha mẹ lo cho tương lai con, còn con thì bối rối trước áp lực bạn bè và xã hội.

Chính sự khác biệt ấy tạo nên khoảng cách khó hòa hợp. Vì vậy, người con hiếu thảo cần biết lắng nghe cha mẹ, hiểu rằng sự nghiêm khắc hay không chiều theo ý mình đều xuất phát từ lòng thương và mong muốn điều tốt đẹp. Ngược lại, cha mẹ cũng cần kiên nhẫn, không áp đặt, mà dùng tình thương và kinh nghiệm để cảm hóa con. Lời dạy không chỉ bằng lời nói, mà còn bằng chính đời sống gương mẫu của mình.

Thực tế cho thấy, khi chưa làm cha mẹ, nhiều người con không hiểu hết tấm lòng sinh thành dưỡng dục. Chỉ đến khi có con, họ mới cảm nhận sâu sắc nỗi lo, niềm thương và sự hy sinh của đấng sinh thành. Lúc ấy, muốn báo đáp thì có khi đã muộn. Vì vậy, hiểu và trân trọng cha mẹ khi còn có thể chính là nền tảng của đạo hiếu, và cũng là khởi đầu cho một đời sống đúng đắn, tránh xa lỗi lầm.

Thứ hai là trong đạo làm cha mẹ, dạy con làm việc lành không chỉ là một lời khuyên suông, mà là cả một quá trình nuôi dưỡng tâm hồn và xây dựng nhân cách lâu dài cho con. Việc lành theo lời Phật dạy chính là những thiện pháp như bố thí, trì giới và tu tập, nhằm làm cho tâm con quen dần với điều thiện, xa lìa điều ác. Khi một đứa trẻ từ nhỏ đã được hướng dẫn làm việc lành, thì hạt giống thiện sẽ ăn sâu vào tâm thức, trở thành nền tảng cho đời sống an vui hiện tại và cả tương lai.

Việc lành có thể chia làm hai phương diện. Trước hết là việc lành về mặt xã hội, như giúp đỡ người nghèo khó, góp công góp của vào những việc ích lợi chung. Những hành động ấy tuy nhỏ nhưng mang lại lợi ích thiết thực, đồng thời nuôi dưỡng lòng từ và tinh thần trách nhiệm nơi con trẻ. Kế đến là việc lành về mặt tinh thần, tức là hướng con đến con đường tu tập giải thoát, biết giữ giới, hành thiền và phát triển trí tuệ. Nếu chỉ làm việc thiện bên ngoài mà không chuyển hóa nội tâm, thì phước lành chưa trọn vẹn. Vì vậy, cha mẹ cần khéo léo kết hợp cả hai, vừa dạy con sống tốt với xã hội, vừa hướng con đến đời sống tâm linh sâu sắc.

Ngoài ra, Đức Phật còn dạy năm điều căn bản để sống đúng với xã hội, mà cha mẹ nên truyền dạy cho con. Thứ nhất là lòng từ, biết thương người hoạn nạn và giúp đỡ trong khả năng của mình. Thứ hai là nuôi mạng chân chánh, tức là sống lương thiện, không vì lợi ích riêng mà làm hại người khác. Thứ ba là biết thu thúc tâm ý, không buông lung theo dục vọng, vì chính sự buông thả sẽ dẫn đến khổ đau. Thứ tư là nói lời chân thật, sống ngay thẳng, không dối người cũng không dối mình. Và thứ năm là siêng năng làm việc lành, không lười biếng trong việc tu tập như bố thí, trì giới và thiền định. Năm điều này nếu được gieo vào tâm con từ sớm, sẽ trở thành kim chỉ nam cho cả cuộc đời.

Lẽ tự nhiên, cha mẹ nào cũng mong con được an vui trong hiện tại, nhưng nếu chỉ lo cho đời này mà quên mất đời sau thì chưa phải là thương con trọn vẹn. Người cha mẹ biết đạo phải biết dẫn dắt con tu hành, để con không còn khổ trong những kiếp tương lai. Như câu chuyện của trưởng giả Cấp Cô Độc là một minh chứng sâu sắc. Ông có người con tên Kāla, vốn không tin Phật pháp, mang nhiều tà kiến. Dù tìm nhiều cách khuyên dạy mà không được, ông vẫn không bỏ cuộc. Với trí tuệ và phương tiện thiện xảo, ông khéo léo dẫn con đến gần giáo pháp.

Ban đầu, vì phần thưởng vật chất mà Kāla chịu đi thọ giới và nghe pháp. Nhưng chính oai lực của Đức Phật và chân lý sâu sắc đã làm chuyển hóa tâm cậu. Khi nghe về sự vô thường và cái chết, cậu bừng tỉnh, phát tâm sợ hãi luân hồi, dứt trừ phiền não và chứng được quả Tu Đà Hườn. Từ đó, mọi giá trị vật chất như vàng bạc không còn ý nghĩa gì nữa đối với cậu.

Câu chuyện ấy cho thấy, khi cha mẹ có chánh kiến và biết dùng phương tiện đúng đắn, thì có thể dẫn dắt con từ mê lầm đến giác ngộ. Dạy con làm việc lành không chỉ là dạy hành vi bên ngoài, mà còn là dẫn con đến sự chuyển hóa nội tâm sâu xa. Đó mới chính là tình thương chân thật và trọn vẹn của bậc làm cha mẹ, không chỉ lo cho một đời mà còn lo cho nhiều đời về sau.

Thứ ba là trong đạo làm cha mẹ, cho con học nghề không chỉ là lo kế sinh nhai, mà chính là đặt nền móng cho một đời sống chân chánh. Nghề nghiệp đúng đắn giúp con tự lập, giữ được phẩm giá, và không rơi vào những con đường sai lầm. Vì vậy, cha mẹ cần hướng con chọn một nghề hợp với khả năng và đạo đức, nuôi mạng bằng chánh nghiệp, không vì lợi mà làm điều tổn hại người khác.

Tuy nhiên, chỉ giao phó con cho nhà trường là chưa đủ. Có những đứa trẻ mang danh đi học nhưng lòng lại hướng ra ngoài, cắp sách mà không đến lớp, dần xa rời con đường học vấn. Bởi vậy, cha mẹ phải luôn quan tâm, theo dõi và đồng hành cùng con, hiểu rõ việc học và sinh hoạt của con ra sao.

Sự dạy dỗ ấy không chỉ bằng lời nói mà còn bằng sự gần gũi, nhắc nhở và làm gương. Khi cha mẹ vừa hướng dẫn nghề nghiệp, vừa giữ gìn đạo đức cho con, thì đó mới thật là thương con trọn vẹn.

Thứ tư là trong đạo làm cha mẹ, việc dựng vợ gả chồng cho con không chỉ là chuyện riêng của một cá nhân, mà còn là trách nhiệm gắn liền với hạnh phúc lâu dài của cả gia đình. Điều này mang hai ý nghĩa: vừa là bổn phận thiêng liêng của cha mẹ, vừa là sự sắp đặt cần có để con bước vào đời sống hôn nhân một cách vững vàng. Cha mẹ, với kinh nghiệm sống và sự từng trải, có thể nhìn xa thấy rộng, biết lựa chọn nơi phù hợp với hoàn cảnh và tính tình của con.

Tuy nhiên, trong thời buổi hiện nay, vấn đề này trở nên hết sức phức tạp. Không ít trường hợp cha mẹ ưng thuận một mối duyên, nhưng con lại không đồng ý, muốn tự mình lựa chọn người bạn đời. Điều đó đặt ra câu hỏi: cha mẹ can thiệp vào đời sống riêng của con là lợi hay hại? Và ai là người có quyền quyết định tương lai hôn nhân của mình?

Theo lời dạy của Đức Phật, cha mẹ nên quan tâm và định hướng cho con, vì khi còn trẻ, con chưa đủ kinh nghiệm để nhận định hết mọi điều trong cuộc sống. Sự hướng dẫn của cha mẹ, nếu xuất phát từ tình thương và trí tuệ, sẽ giúp con tránh được những sai lầm đáng tiếc.

Tuy vậy, quyết định cuối cùng cần có sự hòa hợp giữa cha mẹ và con. Cha mẹ nên chỉ rõ điều lợi, điều hại trong một mối quan hệ, giúp con suy xét chín chắn. Về phần con, cần biết lắng nghe, suy nghĩ sâu xa, không nên vì cảm xúc nhất thời mà làm cha mẹ buồn lòng hay tự gây tổn hại cho tương lai của mình. Khi cả hai bên biết tôn trọng và thấu hiểu nhau, thì hôn nhân mới thật sự bền vững và an vui.

Thứ năm là trong đời sống gia đình, việc cha mẹ chia gia tài cho con là một biểu hiện sâu sắc của tình thương và trách nhiệm. Khi con trưởng thành, lập gia đình và rời xa mái ấm, cha mẹ không chỉ trao phần tài sản vật chất, mà còn gửi gắm cả một gia tài tinh thần quý báu. Trong đó chứa đựng biết bao mồ hôi, nước mắt, công lao tích lũy suốt đời, cùng những kinh nghiệm, đạo lý sống mà cha mẹ muốn truyền lại cho con.

Chia gia tài “cho thích hợp” nghĩa là biết cân nhắc hoàn cảnh, khả năng và nhu cầu của từng người con, để sự phân chia vừa công bằng, vừa hợp tình. Điều quan trọng không nằm ở nhiều hay ít, mà ở tấm lòng yêu thương và sự khéo léo giữ gìn hòa khí gia đình.

Nếu con hiểu được ý nghĩa sâu xa ấy, thì sẽ trân trọng không chỉ của cải, mà còn biết gìn giữ đạo đức, tiếp nối công đức của cha mẹ, làm cho gia đình được bền vững và tốt đẹp lâu dài.

Cuối cùng, trong giáo lý về hạnh phúc, bậc làm cha mẹ không chỉ nuôi con lớn khôn về thân xác, mà còn phải dắt dẫn con đi trên con đường đạo đức và tâm linh. Ngay từ khi còn nhỏ, cha mẹ nên tạo duyên cho con gần gũi Tam Bảo, biết đến chùa chiền, lắng nghe giáo pháp để gieo trồng hạt giống thiện lành. Dần dần, tập cho con biết lễ Phật, tụng kinh, nuôi dưỡng lòng cung kính và tâm khiêm hạ. Song song đó, hướng con làm các việc lành như bố thí, biết chia sẻ và thương người, để tâm từ bi được lớn dần theo năm tháng. Khi tâm đã thuần, lại dạy con niệm Phật, tham thiền, giúp con biết quay về nội tâm, làm chủ chính mình. Nếu hội đủ duyên lành, cha mẹ còn có thể cho con xuất gia, mở ra con đường giải thoát cao quý.

Sự tiếp độ và giáo dưỡng con như vậy mang lại nhiều lợi ích sâu xa. Trước hết, con trở thành người lương thiện, sống đúng đạo lý. Từ đó, con cũng trở thành một công dân tốt, biết đóng góp cho xã hội và làm gương sáng cho thế hệ mai sau. Hạnh phúc mà con đạt được không chỉ giới hạn trong đời này, mà còn lan rộng đến những đời vị lai, tạo thành dòng phước báo lâu dài. Nhờ được giáo dưỡng đúng đắn, con trở nên người có trí tuệ và giới đức, không làm khổ gia đình, cũng không gây hại cho xã hội.

Chính sự dạy dỗ ấy cũng là nguồn hạnh phúc cho cha mẹ, vì đã góp phần giảm bớt một người xấu trong đời, và vun bồi thêm một người tốt cho thế gian. Công đức ấy không những được người đời kính trọng mà còn được chư thiên tán thán. Tóm lại, dẫn dắt con theo đường lành chính là gieo trồng hạnh phúc cho cả gia đình, cho xã hội và cho nhiều đời về sau.

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

Rằm Tháng Hai Năm Bính Ngọ

**

Hạnh Phúc 13 Vợ Chồng Tương Kính

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

Trong hành trình của đời người, hôn nhân không chỉ là sự kết hợp giữa hai cá thể mà còn là nền tảng quan trọng để xây dựng hạnh phúc gia đình và sự ổn định của xã hội. Vợ chồng là mối quan hệ thiêng liêng, gắn bó lâu dài, nơi mà niềm vui hay nỗi khổ của mỗi người phần lớn tùy thuộc vào cách cư xử, thái độ và sự quan tâm lẫn nhau. Khi vợ chồng biết yêu thương, tôn trọng và nâng đỡ nhau, gia đình sẽ trở thành tổ ấm an lành; ngược lại, nếu thiếu sự cảm thông và trách nhiệm, đời sống hôn nhân dễ rơi vào bất hòa và đau khổ. Nhận thấy tầm quan trọng ấy, Đức Phật đã để lại nhiều lời dạy sâu sắc nhằm hướng dẫn con người xây dựng đời sống gia đình hạnh phúc và bền vững.

Trong giáo lý Phật giáo, khái niệm “nhiếp hóa”, tức là sự giúp đỡ, nâng đỡ và chăm sóc lẫn nhau nên khi áp dụng vào đời sống hôn nhân, lời dạy này nhấn mạnh rằng người chồng, khi đã lập gia đình, cần có trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ và hỗ trợ người vợ cả về vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mọi trách nhiệm chỉ đặt lên vai người chồng hay người vợ không cần quan tâm đến chồng; trái lại, hôn nhân theo quan điểm Phật giáo là mối quan hệ hỗ tương, trong đó cả hai đều có bổn phận và trách nhiệm đối với nhau, cùng chung tay xây dựng mái ấm gia đình trong tinh thần bình đẳng và yêu thương.

Người xưa thường ví người vợ là “nội tướng”, giữ vai trò quán xuyến và chăm lo mọi công việc trong gia đình. Sự đảm đang, khéo léo và tinh thần trách nhiệm của người vợ là yếu tố quan trọng giúp gia đình được ổn định và phát triển. Trong khi đó, người chồng thường được xem như trụ cột kinh tế, gánh vác những công việc bên ngoài xã hội để tạo dựng nguồn tài chính cho gia đình. Hình ảnh so sánh người chồng như tay phải và người vợ như tay trái mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: tuy đảm nhận những chức năng khác nhau nhưng cả hai đều cần thiết và không thể tách rời. Tay phải làm việc nặng nhọc để tạo ra của cải, còn tay trái gìn giữ và làm đẹp cho thành quả ấy, giống như người chồng lao động vất vả mang tài sản về và người vợ khéo léo quản lý, bảo tồn để gia đình ngày càng thịnh vượng.

Qua đó có thể thấy rằng hạnh phúc gia đình không dựa trên sự hy sinh của một phía mà là kết quả của sự hợp tác hài hòa giữa cả hai vợ chồng. Người chồng cần yêu thương, tôn trọng và hỗ trợ vợ; đồng thời, người vợ cũng phải biết chăm sóc, gìn giữ tài sản và vun bồi hạnh phúc gia đình. Khi cả hai cùng thực hiện trọn vẹn bổn phận của mình, gia đình sẽ trở thành nơi an trú bình yên và là nền tảng cho sự phát triển đạo đức cũng như đời sống tâm linh của mỗi thành viên. Vì vậy, việc “đối xử” lẫn nhau mà Đức Phật dạy không chỉ là trách nhiệm mà còn là biểu hiện của một hạnh phúc cao thượng, thể hiện tinh thần từ bi, trách nhiệm và sự hòa hợp trong đời sống hôn nhân.

Trong Việt ngữ, hai tiếng “chồng” và “vợ” mang ý nghĩa xác định rõ ràng về mối quan hệ hôn nhân, biểu thị sự gắn bó chính thức và bền vững giữa hai con người đã nên duyên. Khi đã được gọi là chồng hay vợ, mối quan hệ ấy không còn mang tính tạm thời mà trở thành một cam kết trọn đời, cùng chia sẻ trách nhiệm, tình thương và nghĩa vụ trong việc xây dựng gia đình. Tuy nhiên, trong một số ngôn ngữ cổ đại, những từ tương đương với “chồng” và “vợ” lại mang ý nghĩa phong phú và tinh tế hơn, tùy theo từng hoàn cảnh và sắc thái đạo đức.

Đối với tiếng “chồng”, cổ ngữ thường dùng để chỉ “chủ”, thể hiện vai trò lãnh đạo và trách nhiệm của người chồng trong gia đình. Tuy nhiên, nó mang tính cách biểu thị người chủ hiền lành, có đức hạnh, luôn thương yêu và tận tâm giúp đỡ người dưới quyền, đồng thời là chỗ dựa tinh thần cho gia đình. Ngược lại, chữ chồng chúa tuy cũng mang nghĩa là chủ nhưng ám chỉ người có khuynh hướng độc đoán, sử dụng quyền lực khiến người khác sợ hãi hơn là kính trọng. Sự phân biệt này cho thấy việc đề cao hình ảnh người chồng hiền đức, lấy lòng từ bi và trí tuệ làm nền tảng thay vì sự áp đặt.

Tương tự, cổ ngữ cũng có nhiều từ tương đương với tiếng “vợ”, mỗi từ mang một sắc thái riêng. Thê và thiếp được dùng trong nghĩa thông thường để chỉ người vợ trong mối quan hệ hôn nhân chính thức, nhưng chữ thiếp mang nghĩa là người hầu hạ, phản ánh một góc nhìn xã hội trong bối cảnh lịch sử nhất định, nhưng không phải là lý tưởng mà Phật giáo hướng đến.

Từ được sử dụng phổ biến và mang ý nghĩa cao đẹp nhất là hiền thê, nghĩa là “người đáng được thương yêu và che chở”. Ý nghĩa này không nhằm hạ thấp vai trò của người vợ mà nhấn mạnh đến trách nhiệm yêu thương và chăm sóc của người chồng đối với bạn đời, tạo nên hình ảnh lý tưởng của hôn nhân: người chồng hiền đức và người vợ đáng được yêu thương, cùng nhau xây dựng mái ấm trong sự hòa hợp và tôn trọng lẫn nhau.

Qua những định nghĩa phong phú của cổ ngữ, có thể thấy quan niệm về vợ chồng trong giáo lý Phật giáo không chỉ dừng lại ở danh xưng mà còn nhấn mạnh đến phẩm chất đạo đức và trách nhiệm của mỗi người. Một cuộc hôn nhân hạnh phúc không dựa trên quyền lực hay sự lệ thuộc, mà được xây dựng trên nền tảng của tình thương, sự bình đẳng và tinh thần nâng đỡ lẫn nhau. Khi người chồng sống đúng với ý nghĩa của chủ bảo vệ và người vợ thể hiện phẩm hạnh của một hiền thê thì gia đình sẽ trở thành nơi an vui, bền vững và là môi trường nuôi dưỡng những giá trị đạo đức cao quý cho xã hội.

Trong giáo lý của Đức Phật, đời sống hôn nhân không chỉ đơn thuần là sự kết hợp giữa hai con người để cùng chung sống, mà còn là một môi trường tu tập và nuôi dưỡng những giá trị đạo đức cao quý. Gia đình được xem là nền tảng của xã hội, nơi con người học cách yêu thương, trách nhiệm và trưởng thành trong đời sống tâm linh. Đức Phật đã chỉ dạy rõ ràng về cách xử sự giữa vợ và chồng, nhấn mạnh rằng hạnh phúc gia đình được xây dựng trên nền tảng của sự tôn trọng, yêu thương và trách nhiệm lẫn nhau. Những lời dạy này không chỉ mang ý nghĩa đạo đức mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc, giúp gia đình trở thành nơi an trú bình yên giữa cuộc đời nhiều biến động.

Theo đó, người chồng cần thực hành năm pháp đối với vợ như biểu hiện của tình thương chân thành và sự kính trọng. Trước hết, người chồng phải biết thương mến, nể nang và thường xuyên khen tặng vợ, làm cho vợ được lợi ích và hài lòng. Tình thương ấy được thể hiện qua những hành động cụ thể trong đời sống hằng ngày như sự quan tâm, chăm sóc, những món quà hợp thời trong các dịp đặc biệt, cùng với lời nói dịu dàng và chân thành. Những cử chỉ này tuy giản dị nhưng có sức mạnh nuôi dưỡng tình nghĩa vợ chồng, giúp người vợ cảm nhận được sự trân trọng và an tâm.

Thứ hai, người chồng không được khinh khi vợ, nghĩa là không xem vợ như kẻ tôi đòi hay người lệ thuộc. Trong quan điểm của Phật giáo, vợ chồng là những người bạn đồng hành bình đẳng trong phẩm giá, cùng chia sẻ trách nhiệm xây dựng mái ấm. Sự tôn trọng và lắng nghe chính là nền tảng của niềm tin và tình yêu bền vững.

Thứ ba, người chồng cần giữ lòng chung thủy, đức tính trung thành bảo vệ hạnh phúc gia đình và duy trì sự ổn định của đời sống hôn nhân. Khi người chồng sống chung thủy, người vợ sẽ cảm nhận được sự an toàn và tình nghĩa vợ chồng ngày càng bền chặt.

Thứ tư, người chồng nên giao cho vợ chủ quyền trong gia đình, đặc biệt trong việc quản lý tài chính và điều hành công việc nội trợ. Điều này thể hiện sự tin tưởng và giúp người vợ phát huy khả năng tổ chức, góp phần duy trì sự ổn định và phát triển của mái ấm.

Thứ năm, người chồng cần quan tâm đến việc cung cấp những vật dụng trang điểm thích hợp cho vợ. Ý nghĩa sâu xa của lời dạy này không nằm ở giá trị vật chất mà chính là sự quan tâm tinh tế, giúp người vợ cảm thấy được yêu thương và tôn trọng.

Khi người chồng thực hành đầy đủ năm pháp này, người vợ cũng đáp lại bằng sự tận tụy và yêu thương, tạo nên sự  tương tác lẫn nhau trong đời sống gia đình. Sự nâng đỡ này không chỉ giúp vợ chồng vượt qua khó khăn mà còn hỗ trợ nhau trên con đường hướng thiện và tu tập. Gia đình vì thế trở thành môi trường lý tưởng để phát triển cả đời sống vật chất lẫn tinh thần.

Đời sống hôn nhân trong mọi thời đại đều giống nhau khi vợ chồng biết yêu thương, tôn trọng và nâng đỡ theo những nguyên tắc mà Đức Phật đã chỉ dạy, gia đình sẽ trở thành nơi nuôi dưỡng hạnh phúc chân thật, góp phần xây dựng một xã hội an bình và tốt đẹp. Đây chính là ý nghĩa cao quý của sự hòa hợp giữa vợ và chồng trong ánh sáng của giáo pháp, giúp con người không chỉ an vui trong hiện tại mà còn tiến gần hơn đến con đường giải thoát.

Bên cạnh năm bổn phận của người chồng đối với vợ, Đức Phật cũng chỉ dạy rằng người vợ phải thực hành năm điều đối với chồng để duy trì sự hòa hợp trong gia đình. Trước hết, người vợ cần khéo léo thu xếp và săn sóc mọi công việc trong gia đình một cách chu đáo, tạo nên một môi trường sống ấm áp và an lành để các thành viên được an tâm sinh hoạt. Thứ hai, người vợ nên quan tâm và giúp đỡ quyến thuộc bên chồng, góp phần xây dựng sự gắn kết giữa hai gia đình, từ đó tăng trưởng tình thân và sự hòa thuận. Thứ ba, đức tính chung thủy là yếu tố không thể thiếu giúp bảo vệ niềm tin và sự bền vững của đời sống hôn nhân. Thứ tư, người vợ cần biết gìn giữ và quản lý tài sản mà chồng giao phó, sử dụng một cách hợp lý để bảo đảm sự ổn định kinh tế của gia đình. Cuối cùng, sự siêng năng và tận tụy trong mọi công việc chính là nền tảng giúp gia đình phát triển bền vững và trở thành tấm gương tốt đẹp cho con cháu noi theo.

Những bổn phận trên thuộc về phương diện đời sống thế tục, giúp gia đình đạt được sự an vui trong hiện tại. Tuy nhiên, Đức Phật không chỉ dừng lại ở khía cạnh vật chất mà còn nhấn mạnh đến sự khuyến khích nhau trên con đường tâm linh. Sự kiện này được chia thành ba cấp độ. Ở mức độ thứ nhất, vợ chồng nên hướng dẫn nhau thực hành các thiện pháp căn bản như bố thí, trì giới, nghe kinh và làm lành, từ đó xây dựng nền tảng đạo đức vững chắc. Ở mức độ thứ nhì, cả hai cùng nhau tu tập các pháp hành như tụng kinh, niệm Phật và tham thiền, giúp tâm được thanh tịnh và đời sống gia đình trở nên hòa hợp. Ở mức độ cao thượng hơn, vợ chồng trở thành thiện hữu tri thức của nhau, khuyến khích nhau học và thực hành minh sát tuệ (Vipassanā), ăn chay, luôn nhắc nhở nhau tinh tấn trên con đường hướng đến giải thoát.

Việc hành xử theo lời Phật dạy mang lại nhiều lợi ích to lớn. Trước hết, tình thương giữa các thành viên trong gia đình ngày càng đầm ấm và bền vững, giúp vợ chồng tâm đầu ý hợp và cùng nhau vượt qua mọi thử thách. Đây là một đại thiện nghiệp, tạo nên phước báu lớn lao, làm cho đời sống vật chất được đầy đủ và tinh thần được an vui. Khi gia đình sống đúng theo chánh pháp, chư thiên thường hộ trì, phước đức ngày càng tăng trưởng và người thực hành hạnh này được xem là sống đúng chân lý, không dễ duôi trong đời sống đạo đức. Hơn nữa, họ còn trở thành khuôn vàng thước ngọc cho con cháu và là tấm gương sáng cho những người xung quanh noi theo.

Tinh thần tán dương hạnh phúc gia đình còn được thể hiện qua lời dạy của Đế Thích. Ngài đã nói với vị chư vị đại thiên rằng “Này các vị, người cư sĩ nào làm nhiều phước thiện, có giới hạnh và nuôi dưỡng vợ đúng theo chánh pháp, ta xin lễ bái người ấy.” Đáp lại, chư thiên thưa rằng người được Đế Thích kính trọng và được thế gian ca tụng chính là bậc cao quý, và chư thiên cũng xin đảnh lễ những người như vậy.

Đế Thích là vị thiên vương cai quản cõi trời Tứ Đại Thiên Vương và cõi Đao Lợi, nhưng vẫn tôn kính những người cư sĩ sống theo pháp xử sự đúng cách với vợ con. Điều này cho thấy giá trị cao quý của đời sống gia đình khi được xây dựng trên nền tảng chánh trí. Khi vợ chồng biết yêu thương, tôn trọng và nâng đỡ lẫn nhau cả về vật chất lẫn tinh thần, gia đình không chỉ trở thành tổ ấm an vui mà còn là môi trường nuôi dưỡng những giá trị đạo đức và tâm linh cao thượng.

Tóm lại sự tương kính giữa hai vợ chồng không chỉ thể hiện qua việc chu toàn trách nhiệm và bổn phận đối với nhau, mà còn được nâng cao khi cả hai biết trân trọng và tôn kính, biết yêu thương và chăm lo cho gia đình. Điểm son của đời sống hôn nhân chỉ khi được xây dựng trên căn bản hiểu và thương từ lời dạy của Đức Phật. Khi vợ chồng biết thấu cảm, tôn trọng và nâng đỡ lẫn nhau cả về vật chất lẫn tinh thần, gia đình trở thành nơi trở về kết tổ bình an, phát triển lòng từ bi và sự hiểu biết. Từ đó, mỗi gia đình hạnh phúc sẽ là một viên gạch vững chắc góp phần xây dựng xã hội hòa bình, nhân ái càng ngày càng hoàn mỹ hơn, đúng như tinh thần Phật giáo hướng đến sự an lạc cho tất cả chúng sinh Thăng Hoa Cuộc Đời.

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng




SỎI NGỌC – VĂN: KHÓC CHA

==

Tác giả Sỏi Ngọc lần đầu tham dự VVNM với bài Cay Nghiệt vào năm 2023. Cô đã làm cố vấn đầu tư tài chính cho một ngân hàng tại Montreal, Canada. Cô cho biết nay đã về hưu và làm những việc mình từng đam mê như viết lách, đi du lịch, ca hát. Tác giả nhận giải Đặc Biệt VVNM năm 2025. Ngày Father’s Day đến, cũng là dịp để những người con nhớ về cha của mình, nhất là khi cha đã khuất bóng như nội dung bài viết sau đây.

***

Biết bao bài viết về Mẹ, công ơn sinh thành, ca ngợi sự hy sinh cao cả không gì sánh được của người Mẹ vào ngày lễ Mẹ, nhưng rất ít bài nhớ về công lao Cha, chả lẽ những điều cha làm chỉ là bổn phận, là điều hiển nhiên? Hôm nay ngày Father’s Day, ngày CHA của cả thế giới, tôi muốn nói lên Cha trong trái tim con như thế nào!

Người cha có nhiều công lao dưỡng dục, dù không là người trực tiếp mang nặng đẻ đau như người mẹ, nhưng người đổ rất nhiều công sức như đi làm kiếm tiền trang trải cuộc sống, gánh vác kinh tế cả gia đình; cuộc sống có tốt đẹp, ấm no, con cái có học hành, phẩm hạnh có đạo đức không, chính nhờ phần lớn mồ hôi, công sức nuôi dậy của người CHA.

Tôi là đứa con trai đầu trong gia đình năm chị em, ba gái đầu liên tiếp và hai trai sau, mà tôi là người anh đầu. Lẽ ra ba chỉ muốn có hai người con, một trai và một gái thôi, hoặc ba người là nhiều rồi, vì ba bảo có nhiều con vui thật nhưng trách nhiệm nặng nề, phải nuôi con đến nơi đến chốn, cho ăn học và đến khi lập gia đình cũng còn phải lo!

Lần đầu mẹ mang bầu, ba phấn khởi hạnh phúc vô cùng, ba đặt nhiều hy vọng, mong một thằng cu! Ba hay kể với bác Tư, bạn thân của gia đình là ba cảm thấy rất phấn khích, khỏe mạnh khi “gần” mẹ, chắc chắn kỳ này phải là đứa con trai. Thế nhưng kết quả là… người chị cả ra đời! Ba tự an ủi, nói với ông bà Nội rằng:

– Không sao, đứa đầu lòng là gái hay trai cũng được, là con gái thì sau này dậy dỗ trông nom em càng tốt hơn nữa, nhất là chỉ bảo em trai thì tốt đẹp biết bao.

Hai năm sau, để được có con trai, ba nghe mấy người xưa nói phải ăn trứng, ăn đồ mặn, uống bia thì sẽ toại nguyện; ba nghe theo và mẹ mang bầu lần hai, ba đặt tất cả kỳ vọng vào cái bầu tròn căng vượt mặt của mẹ. Thuở ấy chưa có siêu âm ở những vùng tỉnh nhỏ, chỉ nhìn dáng bụng thì suy đoán là trai hay gái; ông bà nội với nhiều kinh nghiệm, ngắm cái bầu của mẹ khi lên Dalat thăm gia đình nhỏ của chúng tôi:

– Cái bầu tròn như thế thì 80% là con gái rồi!

Ba cố chống chế:

– Nhưng sao kỳ này mẹ chúng nó lại thích ăn ngọt chứ không thích ăn chua như lần mang bầu đầu tiên, có thể nào là con …trai?

Ba vẫn nuôi hy vọng, tối nào về cũng áp tay vào bụng mẹ, nghe tiếng chân đạp của đứa bé, nói chuyện với cái bụng tròn căng ấy. Ngày mẹ đi sanh, ba thấp thỏm bên ngoài cửa, chờ đợi đứng ngồi không yên, khi nghe tiếng khóc oa oa của đứa bé, ba bế thốc chị tôi lúc đó 2 tuổi, chạy vội vào, cô y tá báo tin vui:

– Chúc mừng ông bà có thêm cô công chúa thứ hai!

Ba hơi thất vọng, nhưng tự trấn an:

– Mình sẽ có ba đứa con như dự tính, nhất định đứa thứ ba sẽ là con trai!

Đến ba năm sau, ba lại nhất quyết “thua keo này ta bầy keo khác”, không chịu thua số phận, hy vọng tăng trội hơn khi thấy khuôn bụng của mẹ nhỏ gọn hơn hai lần trước. Ngày mẹ đi sanh chỉ có ông bà ngoại bên cạnh vì ba phải đi làm xa ở Liên Khương, ba phone về thấp thỏm hỏi ông bà ngoại:

– Vợ con sanh có tốt không bố? có dễ dàng hơn hai kỳ trước không? …và có phải là con… trai?

Ông ngoại ái ngại, ngần ngừ:

– …Ưm… nhờ Trời thương mẹ tròn con vuông!…

– Đứa bé là…

– Ừ… Con bé khỏe mạnh!

Ba thốt lên một cách thất vọng:

– …Lại là con gái ư!

Một khoảng thời gian yên lặng, giọng ba yếu xìu:

– Con nhờ ông ngoại đặt tên cháu nhé.

– … Ừ được rồi, nhưng con bé này rất kháu khỉnh, có cặp mắt tròn to, da trắng và rất nhiều tóc!

– Vâng! Ông cứ đặt tên cho cháu đi nhé, con cám ơn ông bà Ngoại giúp con nuôi vợ con và các cháu nhé; con phải làm đến hết tuần này mới về nhà được ạ.

– Được rồi, con cứ an tâm đi.

Ông Ngoại rất hiểu con rể mình đã « ngán » con gái lắm rồi, nếu mẹ cứ tiếp tục cái đà này thì chắc ba ở luôn trên Liên Khương khỏi về! Số lượng ba đứa con mà ba đã đề ra bây giờ hình như phải vượt mức rồi, ba không thể nào không có con trai! muốn sanh thêm thì ba phải làm việc nhiều hơn, phải có nhiều tiền hơn nữa để nuôi gia đình.

Ba cố gắng thức đêm học hành, thi lên ngạch trong khi nhiều bạn bè cùng trang lứa lúc đó đưa gia đình đi chơi nghỉ mát đây đó, họ đi du lịch ở nước ngoài không vướng bận. Ba đã có lần than thở với ông bà Nội rằng: “… Con thật mong có một thằng cu…”

– Vậy con phải được tăng chức, khi nào có nhà cao cửa rộng, đầy đủ tiện nghi thì thằng cu mới ra đời!

Ban ngày đi làm công sở, ban đêm ba miệt mài học lên cao; sự khó nhọc của ba cũng được đền bù, ba đậu vào làm Đốc Sự Hành Chánh, rồi tiếp tục học thi lên làm giám đốc nha Hỏa Xa, được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cấp nhà thật to rộng như căn biệt thự ngay giữa lòng thành phố Saigon.

Lần thứ tư mang bầu, mẹ tôi cảm thấy lúc nào cũng đói, nhất là rất thích ăn kem, ăn đồ lạnh. Ba nhìn cái bụng nhọn lạ lùng của mẹ mà không còn mong ngóng thằng cu thật nhiều nữa vì sợ thất vọng!

Ngày mẹ đau bụng, mới đến nhà thương chưa kịp vào phòng sanh, đứa trẻ đã muốn lọt ra ngoài, họ vội vàng đẩy mẹ vào phòng ngay; ba đứng bên ngoài chờ cho mọi chuyện êm thắm một chút, định bỏ về đi làm thì nghe tiếng khóc thét hùng hồn của tôi vọng ra; ba đã biết đó là thằng con trai! Ba mừng đến rơi nước mắt và chắp tay cảm ơn Trời Phật ngay tại trước cửa phòng sanh chưa được mở!

Tôi sanh ra khi ba ở đỉnh cao của sự nghiệp, có nhà to rộng, tiền tài không thiếu, tôi được cho là đứa con trai đem điều may mắn đến cho gia đình, nên được cưng chiều đến nỗi chỉ một tiếng khóc nhỏ cũng được chị vú ẵm bồng, dỗ dành.

Mỗi buổi chiều đi làm về, ba rửa tay thật sạch, vào thăm thằng cu Thơm, vì hồi bé tôi thơm mùi sữa, mùi phấn lắm nên được đặt tên ở nhà là cu Thơm, ba mua đồ chơi, hôn hít, bồng bế cả buổi chiều không chán.

Dù ba cưng chiều tôi nhất nhà, nhưng ba chị của tôi cũng được ba chăm sóc, lo lắng cho từng người. Tôi nhớ chị lớn nhất của tôi đến tuổi có bạn trai, người nào đến nhà cũng nơm nớp sợ hãi, vì họ biết ba tôi rất khó, hay nói chuyện với các anh chừng như cảnh sát hỏi cung phạm nhân vậy, đến nỗi các anh ấy không dám vào nhà mà hẹn chị ở góc đường đưa sách vở, ba nói:

– Đứa nào có can đảm trả lời được với ba thì mới xứng đáng làm bạn trai của con gái ba!

Ba nhắc mẹ dắt các chị đi chợ vải, chọn tiệm may có tiếng cắt may quần áo đẹp, chọn trường tư tốt, có được môi trường cùng đẳng cấp để các chị giao du với những bạn tử tế, học tập thêm ở họ. Ba rất thường dậy dỗ các chị về phẩm giá, cách giữ gìn ý tứ của người con gái ra sao khi quen bạn trai…

Mỗi lần chúng tôi bị bệnh, cho dù con gái hay trai thì khỏi nói rồi, ba thức đêm lo cho uống thuốc đúng giờ thay vì là mẹ, ba cẩn thận đến nỗi sợ mẹ mệt ngủ quên nên ba để đồng hồ báo thức dậy đúng giờ đó, và tự tay cho chúng tôi uống.

Sau tôi, thêm một người em trai nữa ra đời, ba rất vui mừng và ngưng tại đây.

*

Những ngày vui hạnh phúc chưa được bao nhiêu thì miền Nam bị nhuộm đỏ, công việc dưới chính quyền cũ không còn nữa, ba phải cơ cực làm những công việc chẳng phải là chuyên môn của mình, hy sinh tất cả cho các con từ hạt cơm bo bo đến miếng thịt heo cả tháng mới mua được một lần ở hợp tác xã.

Sau đó là những lần vượt biên không thành, ba bán dần dần những đồ đạc trong nhà, ba ít nói hơn, mái tóc bất ngờ chuyển màu trắng toát chỉ qua vài đêm, ngồi yên nhìn vào khoảng trống như suy tính mọi cách làm sao cho con cái thoát thân trước, rồi ba mẹ mới là người cuối cùng.

May mắn làm sao đúng vào lúc gia đình cạn kiệt nguồn vốn để dành bao lâu nay, giấy tờ bảo lãnh của người thân bên Canada về đúng lúc, chúng tôi sửa soạn rời xa quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn đến một xứ sở thứ hai với hai bàn tay trắng, tương lai mịt mờ, chỉ còn mỗi niềm hy vọng mong manh trong tim.

*

Ba mươi năm sống ở xứ Canada lạnh giá, ba năm đầu ở Montreal, ba đã bỏ cả tự ái, quên đi cái chức giám đốc nha hỏa xa, xưa kia ở Saigon, một thời cai quản hơn cả mấy chục nhân viên dưới quyền, ba đã phải làm công nhân với mức lương 4$/ giờ trong hãng làm giày da. Sáng sớm dậy chờ bus lạnh lẽo ở đầu đường, đến chiều 6:00 về nhà mệt nhoài, những đầu ngón tay chảy máu, chai sần vì không quen với những công việc tay chân. Với số tuổi không còn trẻ, 55, Ba cố gắng quên mình, bỏ cả lòng tự trọng còn sót lại để đi làm công việc không dành cho mình, với một mức lương tối thiểu mà không hề than trách, để cho chị em chúng tôi đừng bị dang dở việc học.

Ba luôn nhắc chúng tôi phải đi học lại, chỉ có kiến thức mới giúp mình tìm được việc với đồng lương tốt ở xứ người, sống không phải bị cúi mặt tự ti với người bản xứ, sau này lập gia đình dậy dỗ con cái tốt hơn…

Vài ba năm sau, năm 1990 dù ở tuổi 58, ba vẫn lấy thêm chứng chỉ học ban đêm, mỗi tối cả nhà chúng tôi đều yên lặng, ai nấy đều gục đầu vào quyển sách bên chiếc đèn vàng vọt cũ kỹ xin được ở nhà thờ, chỉ nghe tiếng trang sách lật; ba thi vào một chức vụ hành chính về quyền con người của cấp thành phố Montreal, tỉnh Quebec nơi chúng tôi đang cư ngụ, chức vụ này có đến trên 10 người thi vào, chỉ một mình ba là người Việt tỵ nạn đến Quebec được ba năm rưỡi, còn những thí sinh kia là dân bản xứ, họ thi lên ngạch, làm lâu năm trong guồng máy hành chính này. Ba nói với chúng tôi:

– Cứ thử sức xem sao, không mất mát gì cả, nếu đậu thì cả nhà chúng ta sẽ được thay đổi đời sống, mâm cơm sẽ khác hơn, sẽ có xe đi và chỗ ở tốt hơn; nếu không được thì mình cũng học cho có thêm sự hiểu biết về luật pháp của Canada, không có gì mất công hết!

Chúng tôi rất cảm động vì thấy tuổi ba đã lớn, trên 58 mới bắt đầu học lại, ba không muốn mẹ phải đi làm, không muốn thấy chúng tôi phải bỏ học ngang để đi kiếm tiền, ba lúc nào cũng tự cho mình phải mang trách nhiệm này đối với gia đình.

Nhiều đêm thấy ba đọc sách mà quyển sách đã tự rơi xuống đất vì buồn ngủ và mệt quá, ban ngày đi làm từ sáng sớm, tối thức khuya đến 12:00 đêm làm sao sức nào chịu nổi. Tôi thương ba vô cùng, tự hứa với lòng sẽ ráng học ra trường kỹ sư để ba hài lòng.

Rồi một ngày, ba về nhà mang trên tay bao nhiêu giỏ xách, ba hớn hở nói như reo, lần đầu tiên sau ba năm ở xứ “tủ đá” này, tôi thấy ba vui như trúng số:

– Mẹ chúng nó này! Tôi đã… thắng rồi nhé, tôi được chọn vào làm văn phòng của chính phủ rồi, thứ hai tới này sẽ đi làm công sở mới!

Lúc ấy chúng tôi chưa hiểu ba đang muốn nói gì, mắt chúng tôi trố lên, miệng tròn nhìn ba, khuôn mặt ông rạng rỡ, tươi tỉnh và tràn đầy hạnh phúc, chị tôi lắp bắp vui mừng:

– Ba… ba đã đậu vào cấp… chính phủ rồi?! Ba! Ba… giỏi quá!

Thế là cả 5 chúng tôi ùa lại một lúc, vừa khóc vừa cười, nước mắt rơi lã chã xuống ướt cả mặt, ôm lấy ba muốn nghẹt thở, chúc mừng, chúng tôi huyên thuyên nói:

– Ba giỏi quá! Chúng con phải noi theo gương ba!… Từ đây ba hết phải đứng chờ xe bus vào 5:00 sáng rồi, tay ba sẽ hết bị chai sần, hết bị đau khớp…

– Hôm ba đi thi có đông người phỏng vấn ba không? Còn ai vào cùng ngạch đó với ba?

– Cả một phái đoàn 6 người, mỗi người hỏi một vấn đề, người thì hỏi về luật lệ Canada, kẻ thì đưa ra những tình huống xem mình giải quyết thế nào, còn người thì hỏi về trình độ và công việc trong quá khứ của mình ra sao…stress lắm, mỗi thí sinh phải qua cả tiếng đồng hồ với họ đấy chứ không dễ ăn đâu!

– Chúng con rất hãnh diện về ba, ba giỏi quá, ba làm gương cho chúng con đó!

– Bõ công ba học hành từ cả mấy tháng nay! Đây là món quà thật xứng đáng của ba!

– Cái gì cũng phải nỗ lực để đạt được, các con nhớ nhé, muốn gì phải đạt được bằng tất cả khả năng của mình, đừng từ bỏ, hãy theo đuổi mộng ước của mình đến cùng vì mình chỉ khổ vài năm thôi mà được hưởng cả đời.

Mẹ tôi đứng tựa vào tường từ nãy đến giờ hạnh phúc hiện trong ánh mắt, chen vào:

– Ba nó mua nhiều thịt heo, thịt vịt quay quá, hôm nay tha hồ mà mấy bố con nhậu với nhau!

*

Ba làm cho công sở cấp thành phố, tiểu bang Quebec này được 10 năm, đến 68 tuổi ba về hưu, mọi người trong sở ai cũng quý mến ba, ba được thưởng bonus và được tiền hưu cao.

Lúc ấy ba chị tôi đã lập gia đình theo chồng đi xa khắp các tỉnh ở Canada và Mỹ, tôi và em trai đã tìm được một công việc ở Toronto về kỹ sư điện tử đã được trên năm năm và cũng đã lập gia đình; ba mẹ muốn về gần con trai và các cháu nhỏ, nên đã từ giã Montreal, đến Toronto ba mẹ mướn cái ấp riêng nhưng gần chỗ tôi, nói là muốn mỗi gia đình có một sinh hoạt nề nếp riêng, cuối tuần chúng tôi cùng các cháu đến thăm.

Mẹ mất khi bà 70 tuổi, sự ra đi nhanh chóng của bà làm cuộc sống của ba bị mất thăng bằng, ba không còn thấy vui sống nữa, những ký ức đẹp về mẹ như vẫn còn đeo bám trong ánh mắt ba, ba vẫn cố gắng giữ nụ cười trên môi, nhưng đôi mắt buồn biết nói của ông đã khai báo tất cả trước con cháu.

Ba cố gắng tự mình di chuyển bằng xe đạp vào mùa hè, bằng phương tiện giao thông công cộng như bus hay metro để đừng phiền đến ai, ba cũng tự học làm cơm ở tuổi 80 mà từ trước đến nay ba chẳng bao giờ đụng đến bếp núc mà chỉ lo kiếm tiền cho gia đình mà thôi, ba ăn uống qua loa… Vì thế nên ngày càng gầy đi, mỗi lần gặp chúng tôi ba đều cố vui, nói chuyện hài hước để chúng tôi đừng lo lắng:

– Ba khỏe mạnh lắm, không bệnh hoạn gì hết, các con cứ lo đi làm, lo cho các cháu là được rồi, đừng mất công đem gì đến cho ba, ba đặt đồ ăn ở tiệm gần đây, có cô gái trẻ… làm cơm ngon lắm!

*

Đến một ngày, tôi nhận được phone của ba từ nhà thương, ba cố nói với giọng vui vẻ:

– Ba đã xin được một chỗ ở đây rất tốt, phải chờ đợi lâu lắm mới được chỗ này, họ làm cơm cho mình ngày ba bữa, nơi đây vừa gần chỗ các con ở, vừa gần …nhà quàn…

Tôi bật khóc vì thấy có lỗi chỉ biết lo gia đình nhỏ của mình mà không nghĩ đến tâm tư của ba:

– Ba! Cái gì vậy? Tại sao ba lại vào nhà thương ở? Chỗ đó đâu phải… Sao ba không bàn gì với chúng con? Bệnh Cancer phổi của ba các bác sĩ nói vẫn được theo dõi mà? Ba có bị đau đớn không? Ba có buồn giận gì chúng con không?

– Không đâu, chính ba là người quyết định, các con không có lỗi gì ở đây cả! Đời người cũng phải có cái hạn mà con, ba đã sống hết đời rồi; từ ngày mẹ con qua đời đến giờ ba sống thật bấp bênh, thấy thiếu thốn một cái gì đó, cuộc sống không còn vui, không còn chất lượng nữa… Ba muốn…đi gặp Mẹ! Tuy nhiên, ba rất vui thấy các con đã thành công, tự lực, nuôi nấng và giáo dục các cháu rất tốt, đó là điều mà ba thấy hạnh phúc nhất. Ba thấy mình đã thực hiện được ước mơ, trách nhiệm đã xong, sống lâu quá chỉ làm phiền các con cháu mà thôi, ba chọn cách ra đi nhẹ nhàng nên mới vào nhà thương này…

Ba phone đến các chị lớn để “trăn trối”, dặn các chị phải làm gì sau khi ba ra đi, ba muốn được thiêu, tro của ba hãy để vào chùa, chỗ bên cạnh mẹ mà ba mẹ đã chọn mua, ba để lại gia tài cho đứa nào cái gì…

Chúng tôi chỉ yên lặng nghe quyết định bất ngờ của ba mà trái tim tan nát, nước mắt rơi không ngừng, không nói được điều gì khi thấy ba đã suy nghĩ, đã sắp xếp cho chuyến đi xa của ba được toàn vẹn.

Các chị tôi lúc nào cũng túc trực bên cạnh nhà thương; khi vào thăm ba, thấy ba còn mạnh khỏe, vẫn tự mình làm vệ sinh cá nhân, ăn uống ngon miệng đồ ăn của nhà thương, nơi đây là chỗ để cho những người bệnh già ở, có những người ở đây đến hai năm vẫn chưa ra đi.

Chúng tôi nhắc lại những kỷ niệm xưa với ba, nói những chuyện vui để ba có thể quên đi cái thực trạng bệnh hoạn, ba chỉ cười mỉm và lúc nào cũng nhắc nhở chúng tôi:

– Nhớ trông nom các em, các cháu cho tốt nhé, ba ra đi sẽ phò hộ cho các con!

– Ba ơi, ba hãy đi đầu thai, hãy làm việc của ba, đừng vì chúng con nữa ba nhé, ba đã cho chúng con một đời này là được rồi ạ!

Đến tháng thứ hai ở nhà thương, lúc 3:00 sáng, tôi nhận được cái cú điện thoại định mệnh reng lên giữa đêm, họ nói ba đã từ chối ăn uống, cũng như uống thuốc từ hai hôm nay, để được thảnh thơi ra đi…

Ba hưởng thọ 86 tuổi!

Cha đi, bóng xế bên thềm,
Lá rơi theo gió, nỗi niềm rụng theo.
Lặng thầm lệ ướt khăn treo,
Con ngồi thổn thức giữa chiều buốt tim.

Một đời cha gánh nổi chìm,
Cho con nắng ấm, cho tim yên bình.
Giờ đây trời đất lặng thinh,
Cha ơi… tiếng gọi chỉ mình con nghe.

Sỏi Ngọc

Montreal




BÀI TỪ THÂN HỮU Tsu A CẦU – BA TÔI: MỘT NGƯỜI LÍNH PHÁO THỦ NÙNG

LỜI NGỎ
Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,

Tuần trước, tôi bận tham gia Ban Tổ Chức Đại Hội Võ Bị XXIV tại Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam – Truyền Thông. Sau đó, về nhà lại bị cơn gout hành suốt một tuần, đành nằm nhà nghỉ ngơi, đau chân mà tay viết không được mới lạ!

Xin chân thành cảm ơn Bác Sĩ Nguyễn Hoàng Quân (Viện Bảo Tàng QLVNCH), các anh Đinh Quang Truật, Bùi Đẹp (Trung Tâm Tây Nam) và anh Nguyễn Long (Cộng Đồng) đã tận tình hỗ trợ phòng họp và phần trang trí.

Hôm qua, vừa tạm khỏe, tôi đã cố gắng tham dự Lễ Ngày Quân Lực 19/6 cùng anh em cựu quân nhân. Ngay sau đó, lại vội vã đến dự lễ trao giải cuộc thi viết “Who Am I – Tôi là Ai 2026”, do Việt Heritage Museum (VHM) tổ chức nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập.

Ban đầu, khi nhận tin được trao giải, tôi còn do dự vì nghe những tin không vui liên quan đến diễn giả chính. Nhưng đến phút cuối, khi biết sẽ có sự thay đổi, tôi quyết định tham dự — không chỉ để nhận giải, mà quan trọng hơn là để bày tỏ sự trân trọng đối với những nỗ lực bền bỉ và ý nghĩa mà VHM đã và đang thực hiện.

Những hoạt động của VHM thực sự đáng để cộng đồng chúng ta cùng chung tay hỗ trợ:
• Ghi lại lịch sử qua lời kể (Oral History) — lưu giữ những câu chuyện chân thực từ chính các nhân chứng sống.
• Khuyến khích phong trào viết “Tôi là ai?” — để mỗi người tự kể lại hành trình đời mình.
• Bảo tồn kỷ vật thuyền nhân — những chứng tích quý giá của một giai đoạn lịch sử không thể lãng quên.
• Tổ chức hội thảo cộng đồng — tạo không gian đối thoại, chia sẻ và học hỏi.

Bài dự thi được giới hạn 1.500 chữ và nay thuộc về VHM, với thí sinh từ khắp năm châu. Đến lúc này, tôi mới biết giải mình nhận là dành cho lứa tuổi trên 70! Có thể, tôi là người duy nhất tham gia trong hạng mục này — nhưng điều đó lại càng khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn về trách nhiệm của thế hệ mình trong việc lưu giữ ký ức.

Chúng ta cần nhìn nhận rõ:

• Nếu chúng ta im lặng, người khác sẽ nói thay — và sự thật có thể bị bóp méo.
• Một dân tộc không có lịch sử sẽ dần bị xóa nhòa.
• Một con người không lưu giữ ký ức, cũng sẽ bị lãng quên trong chính dòng thời gian.
• Nếu không đủ can đảm để nói sự thật, thì ít nhất đừng vì tư lợi mà nói sai sự thật.
• Hãy nói, hãy viết khi còn có thể — trước khi quá muộn.

Lịch sử và ký ức không thuộc riêng về học giả hay bằng cấp, nó thuộc về nhân chứng sống.
Chúng thuộc về tất cả chúng ta — và cần được ghi lại bởi chính những người đã sống, đã chứng kiến, và đã trải qua.

Trước khi đi nhận giải, tôi vui vẻ bàn với cô láng giềng rằng: nếu giải thưởng có giá trị tiền bạc như Nobel, chúng ta sẽ chỉ giữ lại một phần kỷ niệm, còn lại xin được chia sẻ cho ba tổ chức ý nghĩa:

  1. Dự án Tượng Đài Tái Chiếm Cổ Thành Quảng Trị
  2. Quỹ hỗ trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ HO
  3. Trung Tâm Văn Hóa Hồng Bàng

Tiếc rằng, giải thưởng chỉ mang tính vinh danh — như một chiếc “Oscar tinh thần”, không kèm theo tài chính. Buồn vài phút… rồi lại thấy vui.

Vui vì chương trình đã diễn ra đúng hướng.
Vui vì những tiếng nói xây dựng vẫn có giá trị và được lắng nghe.
Và vui hơn hết — vì chúng ta vẫn còn có nhau, còn có cơ hội để nói, để viết, và để gìn giữ lịch sử cho thế hệ mai sau.

Bây giờ xin giới thiệu: “BA TÔI: MỘT NGƯỜI LÍNH PHÁO THỦ NÙNG” nhân dịp mừng:

HAPPY FATHER’S DAY 2026.

Kính mong quý vị đón nhận và phổ biến.

Trân trọng,
Tsu A Cầu K29
21/6/2026

BA TÔI: MỘT NGƯỜI LÍNH PHÁO THỦ NÙNG

Tsu A Cầu

Huntington Beach, California — Father’s Day, 21 tháng 6 năm 2026

I. Thời Niên Thiếu Tủi Hờn Và Nghị Lực Vượt Thoát

Thân phụ tôi mồ côi mẹ từ thuở ấu thơ. Ông lớn lên cùng người em trai và người cha già nghiện thuốc phiện — một thứ tệ nạn càn quét không ít gia đình thời bấy giờ, chiến tranh nha phiến. Nhà vốn thuộc dòng khá giả, nhưng cái nghiện tàn khốc đã kéo ghì gia đạo xuống từng bước một: tài sản khánh kiệt, từng con gà trong chuồng lần lượt bị bán đi, rồi đến đỉnh điểm của bi kịch — ông nội phải bán đứt đứa con trai út cho một gia đình hiếm muộn ở miền núi xa xôi. Gia sản sau cùng chỉ còn lại những dãy chuồng bò trống, mà bò thì đã không còn.

Để có tiền phụng dưỡng cha, ba tôi phải đi ở mướn từ năm lên tám tuổi. Về sau, ông thường kể lại một câu chuyện mà ông gọi là “vừa vui vừa tủi” bằng giọng trầm tĩnh, không một chút oán than: Đêm 30 Tết, bà chủ nhà thương tình, chan canh vào chén cơm trắng cho đứa trẻ nghèo. Thấy vậy, ba tôi bỗng khóc òa. Bà chủ ngạc nhiên hỏi: “Sao cháu lại khóc?” Ba tôi nghẹn ngào thưa: “Cả năm cháu chỉ toàn ăn cháo, tối nay mới được ăn chén cơm, mà bà chủ lại chan canh vào mất rồi!”

Câu chuyện đó, ông nhắc đi nhắc lại suốt cuộc đời — không phải để than thân trách phận, mà để nhắc nhở con cháu biết mình là ai và từ đâu mà đến.

Nhờ sức vóc khỏe mạnh và tánh tình cần cù, ba tôi được nhiều gia đình khá giả trong vùng quý mến. Ông bà ngoại tôi dạo ấy chỉ sinh được năm cô con gái, có ý muốn bắt ba tôi về ở rể. Là con một, ông dứt khoát khước từ để bảo vệ tự tôn dòng họ. Mãi đến sau này, khi ông bà ngoại sinh được người cậu út, ba tôi mới bằng lòng lấy mẹ tôi.


II. Chương Sử Áo Lính Và Cuộc Di Cư Lịch Sử

Giữa thời buổi loạn lạc — quân Pháp, Nhật, rồi Việt Minh liên tục qua lại vùng biên giới Việt-Hoa — ba tôi chính thức gia nhập đơn vị Pháo binh của Quân đội Pháp và dời gia đình xuống Hải Phòng cho an toàn. Dù chưa một ngày được cắp sách đến trường, nhưng nhờ sự nhanh nhẹn, trí thông minh bẩm sinh và tinh thần chịu khó, ông nhanh chóng trở thành thông ngôn giữa các sĩ quan Pháp và binh lính sắc tộc Nùng.

Sau biến cố năm 1954, theo chân Binh đoàn Nùng của Đại tá Vòng A Sáng, đơn vị Pháo binh của ba tôi cùng gia đình và gần một phần ba dân số sắc tộc thuộc Khu Tự trị Hải Ninh thực hiện cuộc di cư vĩ đại vào Nam để lựa chọn tự do. Từ dấu mốc lịch sử đó, ông trở thành người lính chiến chuyên nghiệp suốt 30 năm dài — dấn thân qua bao vạn dặm biên thùy, từ địa đầu Móng Cái, Hải Ninh cho đến tận quận Hồng Ngự, Châu Đốc nơi biên giới Tây Nam Việt-Miên.

Khi cởi bỏ áo lính giải ngũ về đời thường, ba tôi mưu sinh bằng nghề chạy xe ba gác gắn máy tại Sài Gòn, đặc biệt sáng sớm tại chợ cá Trần Quốc Toản. Những năm tôi theo học tại Cao Đẳng Quốc Gia Nông Nghiệp Sài Gòn, tôi thường phụ ba chở hàng nặng trên khắp các ngả đường thành phố — từ những đàn heo con cho đến những cây cột nhà dài thườn thượt. Về sau, ông nhận thêm hợp đồng chuyển giao đế giày cao su từ Gia Định vào Chợ Lớn, kinh tế gia đình bắt đầu khấm khá. Bằng đôi tay tự lực, ông đã xây lại căn nhà lầu khang trang cho cả gia đình sau bao nhiêu năm mưa dộtt ại Phú Thọ Hòa.


III. Hai Lời Dặn Dò Mang Tầm Vóc Triết Lý Sống

Lời dặn thứ nhất — Về giá trị của tri thức:

Lần ấy, khi bực mình ký giấy chấp thuận cho anh trai tôi xin nhập ngũ vào Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa lúc mới 17 tuổi, ba tôi gọi cả sáu đứa con lại và nghiêm giọng bảo:

“Tao không có dư tiền bạc hay tài sản để lại cho tụi mày. Gia sản duy nhất tao trao cho con cái là học vấn. Đứa nào chịu học thì tao cố gắng nuôi cho đi học đến cùng — vì kiến thức là thứ không bao giờ bị ai cướp mất, nó sẽ theo chúng ta suốt cuộc đời.”

Lời dặn thứ hai — Về bản lĩnh đối diện với cuộc đời:

Lần thứ hai, khi tôi chuẩn bị bước chân vào quân trường Võ Bị, ông gọi tôi lại và nói:

“Ra đời con phải mở mắt nhìn, lắng tai nghe và đầu óc phải luôn suy nghĩ. Cơ hội đến mà con không nghe, không thấy, không biết thì nó dứt khoát không bao giờ trở lại. Đồng thời, cái miệng phải biết mở — không nói thì người ta không biết mình muốn gì, không hỏi thì người ta không trả lời, không đòi thì người ta không cho. Đói hay no, lạc đường hay tìm thấy lối ra — tất cả đều tùy thuộc vào cái miệng của con.”

Hai lời dặn đó đã theo tôi suốt chặng đường dài: qua kỷ luật thép của quân trường Võ Bị, xin nhập học tại CSU, Long Beach mà không giấy tờ chứng minh học vấn, qua môi trường kỹ thuật tại Hughes Aircraft Co., qua những ngày bán vé ngoài chợ cho Đại nhạc hội Cám Ơn Anh, và qua cả bục phát biểu tại Thư viện Tổng thống Richard Nixon.

Ba tôi không có một tấm bằng nào. Nhưng ông có một triết lý sống thực tế.


IV. Bài Học Không Lời Và Những Năm Tháng Cuối Đời

Ba tôi không bao giờ dùng mệnh lệnh để cấm đoán chúng tôi hút thuốc hay sa đà vào tệ nạn. Ông chỉ lặng lẽ kể lại câu chuyện về ông nội — người đã vì làn khói thuốc phiện mà táng gia bại sản, đến mức phải bán đứt khúc ruột của mình. Không cần lời răn đe, chỉ cần sự thật trần trụi của câu chuyện đó là quá đủ. Suốt ba thế hệ — từ ba tôi, thế hệ tôi cho đến con tôi — tuyệt nhiên không một ai đụng đến một điếu thuốc, chứ đừng nói đến chuyện nghiện ngập.

Đó là cách dạy con của ba: không giảng đạo, không áp đặt — chỉ dùng sự thật để người nghe tự rút ra bài học cho chính mình.

Sau khi bảo lãnh gia đình sang đoàn tụ tại hải ngoại, tôi tự tay chăm sóc ba mẹ cho đến những ngày cuối đời. Ba tạ thế ở tuổi 93, mẹ ra đi ở tuổi 91.

Những năm tháng xế chiều, ba tôi rất hay kể lại chuyện cũ — cứ lặp đi lặp lại một cách vô thức. Mẹ tôi đôi lúc than phiền ông đã lẩm cẩm. Ba chỉ cười bảo: “Tao kể lại vì thấy thằng con nó còn thích thú lắng nghe, nó đâu có than phiền như bà!”

Suốt những buổi trò chuyện đó, tôi luôn tỏ ra hào hứng như mới được nghe lần đầu. Vì tôi hiểu rõ: đó chính là niềm vui, là lẽ sống sau cùng của cha mẹ.

“Hãy làm vui lòng cha mẹ khi họ còn bằng xương bằng thịt ở đời. Đừng chờ đến khi họ khuất núi rồi mới cố tổ chức những ngày giỗ linh đình, xa hoa.”

Các con tôi từng hỏi thẳng: “Ba đối xử rất tốt và hiếu thảo với ông bà nội — tụi con không biết khi ba mẹ già đi, liệu trong chúng con có ai làm được như ba hay không?”

Tôi chỉ mỉm cười: “Ba làm điều này không phải vì mong các con phải đáp trả lại sau này. Mọi sự tùy thuộc vào hoàn cảnh, tâm tánh và khả năng của mỗi người. Các con chỉ cần cố gắng làm điều mình có thể làm, khi lòng mình thấy đúng — như vậy là đã vẹn tròn.”


V. Điếu Văn Tiễn Đưa

Kính thưa Ba,

Ba thường nhắc và luôn hãnh diện về một gia đình quân nhân thuần túy: Bác Cả họ là Biệt Kích Nùng của đặc khu Hải Yến; Ba là pháo thủ 105 ly can trường; Chú Tám họ là pháo thủ 155 ly; anh Vòng Sáng chọn làm thủy thủ lênh đênh trên biển cả; riêng con — dù được hưởng quy chế miễn dịch vì lý do sắc tộc — con đã tình nguyện thụ huấn tại Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, chọn đời lính hiện dịch.

Ba đã sống một cuộc đời vẹn tròn với đầy đủ hỷ, nộ, ái, ố. Ba đi qua những thăng trầm khốc liệt của cuộc sống, trở thành nhân chứng sống của cả một thế kỷ. Ba đã sống trọn chữ Trung, chữ Hiếu của người chiến sĩ sắc tộc Nùng — anh dũng nơi chiến trường, ngang tàng khi về phố thị, và dứt khoát bất khuất trước sắc lệnh bắt phải đổi họ thay tên dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

Trong quân ngũ, Ba luôn thành thật cùng chiến hữu và thương yêu thuộc cấp — nhưng khẳng khái, thẳng thắn với cấp chỉ huy bất chấp hậu quả. Đến nỗi nhiều lần bị hiểu lầm là “ba gai”. Có lẽ chính vì khí chất chánh trực ấy mà con đường quan lộ của Ba không được ưu đãi như một số bạn đồng ngũ cùng thời. Nhưng Ba vẫn hãnh diện phục vụ quân đội hơn 30 năm — không một lời oán thán.

Ba đã sống trọn cuộc đời giang hồ bạt mạng của người chiến sĩ sắc tộc Nùng:

Ngang dọc vùng núi rừng Thượng Du Việt Bắc âm u cùng Binh Đoàn Nùng; khai thông Quốc Lộ 14, xẻ núi Trường Sơn từ Kontum đến Quảng Tín, kiến thiết Sông Mao cùng Sư Đoàn 3 Dã Chiến; bảo vệ thủ đô Sài Gòn trong những năm binh biến cùng Sư Đoàn 5 Bộ Binh; bập bềnh trên sông lạch miền Nam qua Sa Đéc, Cao Lãnh; rồi giã từ quân đội tại Tân Châu, Hồng Ngự trong màu áo Sư Đoàn 9 Bộ Binh.

Ba ra đi, chúng con mất đi người cha cả đời lo lắng cho gia đình. Con vẫn nhớ như in hình ảnh Ba giang rộng đôi tay như cánh chim đại bàng che chở cho đàn con thơ trong biến cố Mậu Thân năm nào. Bây giờ, tóc đã điểm bạc, chúng con mới thật sự thấm thía mình đã mồ côi cha.

Ba ra đi, sắc tộc Nùng mất đi một thành viên cốt cựu nói tiếng Sán Dìu; cộng đồng Hải Ninh mất đi người chiến sĩ già nhất; và cộng đồng tị nạn mất đi một trong những quân nhân đầu tiên của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Hôm tiễn đưa Ba, những chiến hữu trong lễ phục quân binh chủng trang nghiêm — đặc biệt là các sĩ quan xuất thân từ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam và những chiến sĩ Nùng thuộc Hội Quân Cán Chính Hải Ninh — đã giữ từng hồi tù-và vang vọng mang mang, đưa tiễn Ba về nơi an nghỉ cuối cùng.

Ba nằm lại tại Nghĩa Trang Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, Westminster — nơi có hai cột cờ Việt-Mỹ tung bay ngày đêm, nhìn từ bờ biển bên này qua bên kia đại dương ấm áp Thái Bình Dương về quê hương yêu dấu. Chắc chắn Ba đã mỉm cười viên mãn — vì Ba đã được sống, đã được thấy, và đã hoàn toàn mãn nguyện với cuộc đời gần trăm năm nơi cõi trần gian này.

 

Pháo Thủ — Người Lính Nùng

Ba Mươi Năm – Thế Kỷ.

Từ dọc ngang, ngang dọc

Mịt mù biên giới Bắc

Bước dọc tiếp Trường Sơn

Xuôi Nam sông rạch lạ.

Cuối bước quê đất mới:

Trời xanh, đôi cờ tung gió

Biển ấm, quê hương đôi bờ.

Hồi tù-và mang mang

Vang vang trời, sông, núi

Hồn, anh linh viên mãn.





VTLV CHÚC MỪNG Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt / Vietnamese Heritage Museum – Tổ Chức Thành Công Kỷ Niệm 10 Năm Thành Lập.

Mừng HERITAGE đã thành công

Chẵn thập niên qua dốc hết lòng

Lưu giữ thông tin hồn tỵ nạn

Bảo tồn lịch sử gốc cha ông

“TÀU HY VỌNG” bỏ rơi đàn áp

“THUYỀN TỰ DO” xa biệt nhốt còng

Trân trọng vinh danh vì Tổ Quốc

BẢO TÀNG DI SẢN giúp non sông

Phương Hoa – VTLV – JUN, 25, 2026

==

==

Thứ Bảy, ngày 20 tháng Sáu, 2026 tại Lavender’s Hall, 14190 Beach Blvd, Westminster, CA 92683, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt / Vietnamese Heritage Museum (VHM) đã tổ chức một dạ tiệc long trọng kỷ niệm 10 năm thành lập. Buổi dạ tiệc đã đánh dấu cột mốc 10 năm hoạt động của viện bảo tàng và 51 năm sau biến cố 1975 (1975-2026).

Khánh Lan kính mời:”

VIỆN BẢO TÀNG DI SẢN NGƯỜI VIỆT (VIETNAMESE HERITAGE MUSEUM) KỶ NIỆM 10 NĂM THÀNH LẬP (2016-2026)




VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT Chào Mừng Thi Sĩ TRẦN VẤN LỆ.

==

Lời Ban Biên Tập: VTLV có hỏi xin thi nhân cho vài dòng tiểu sử và chân dung, để giới thiệu lên trang nhà. Nhưng chưa nhận được, và tác giả cũng đã gửi tặng VTLV thêm mấy bài thơ hay tuyệt vời. Cho nên, VTLV “không thể chờ”, mà phải đi… lượm vòng vòng “trên mây” kiếm được tấm hình này, và xin tóm tắt mấy lời giới thiệu vui vui như sau, khi nào thi nhân gửi hình khác và bản tiệu sử đầy đủ BBT sẽ thay lại. Mong nhà thơ đừng có …rầy tội nghiệp:

Tóm tắt tiểu sử:

Nhà thơ Trần Vấn Lệ/Sinh quán tại Phan Thiết

Cựu Giáo sư, Sĩ Quan VNCH/Sang Hoa Kỳ diện HO

Sống tại Thành phố Thiên Thần/Tiểu bang có loài hoa Anh Túc là Chủ Tể

Sáng tác: không tính xuể/Bút hiệu: đếm không cùng…(Trần Vấn Lệ – Trần Trung Tá – Trần Tú Uyên…) 

==

==

* 

LẠC VIỆT thi đàn lại nở hoa

VĂN THƠ trải thảm rước vào nhà

TRẦN TRUNG TÁ chữ cài châu báu 

TRẦN VẤN LỆ câu cẩn ngọc ngà

Lời chảy xôn xao chim ríu rít

Ý tràn dào dạt gió ngân nga 

Mừng nay vườn nội thêm tùng bách 

Chung sức bảo tồn tiếng nước ta. 

 Phương Hoa – VTLV

JUN, 23, 2026

==


        GỞI THI NHÂN TRẦN VẤN LỆ
– NGUYỄN HUY KHÔI

                 (Tân hội viên VTLV)

Thêm BÔNG, vườn rộ thắm mầu HOA,

Bằng hữu mừng huynh nhập Hội Nhà!

Góp sức điểm tô hồn bút ngọc,

Đồng tâm khai sáng mạch thơ ngà!

Trà châm Hương Nghĩa ,…vui hoan hỷ,

Tửu chuốc Men Tình,…thú ngất nga!

Chuốt ý, trau vần gìn bản sắc…

Bảo tồn văn hóa Việt Nam ta!

                      Nguyễn Huy Khôi

                             24-6-2026

==

 CHÀO MỪNG THI SĨ TRẦN VẤN LỆ – NHẬP HỘI TRI ÂM VĂN THƠ LẠC VIỆT  

    Họa vần Thơ PHƯƠNG HOA MỪNG ĐÓN TÂN HỘI VIÊN TRẦN VẤN LỆ THI SĨ  

       (Sau 30 năm tái ngộ  –  CMN)

  Ba mươi năm Lệ thấm khai hoa

  Châu ngọc xa xưa sáng mái nhà 

  Bến cạn Tầm Dương tô ánh tuyết

  Cầu sương Thệ Thuỷ  điểm vầng nga

  Trở về LẠC VIỆT vui men cúc

  Hòa hợp VĂN THƠ thấu bút ngà

  Mời khách ung dung bàn xướng hoạ

  Cùng bao tri kỷ biển trời ta … 

    Hawthorne  23 – 6 – 2026

             CAO MỴ NHÂN 

==

==

CHÀO MỪNG THI SĨ TRẦN VẤN LỆBÀI HỌA QUANG HÀ

LẠC VIỆT vui mừng trải chiếu hoa

Mời TRẦN THI SĨ đến chung nhà

Hồn văn Phan Thiết ngời sao biển

Lực bút Thiên Thần* rạng bóng nga

Mặc khách hân hoan chào Thước ngọc**

Tao nhân vinh dự đón Thơ ngà

Chung tay góp ý đồng tâm nguyện

Gìn giữ chân truyền chữ Việt ta.

         Quang Hà, 24/6/2026

*Thiên Thần: Los Angeles: tên thành phố thi sĩ TVL cư trú

** Trước 1975, Ông Trần Vấn Lệ là Giáo Sư.

==

==

GỞI NHỊ VỊ QUANG HÀ – VẤN LỆBÀI HỌA NGUYỄN HUY KHÔI

                (Hội viên VTLV)

Chúc mừng nhị vị góp TINH HOA,

Đồng khí tương giao hiệp một nhà,

VẤN LỆ – thôi xao sành bút diệu,

QUANG HÀ – trau chuốt nuột thi ngà!

Văn Nhân  xứng bậc – nâng tầm vóc,

Lạc Việt lưu danh – mãi tiến xa!…

Cổ xúy muôn NGƯỜI gìn CỘI RỄ

TAO ĐÀN tỏa rạng sáng GƯƠNG NGA!

                           Nguyễn Huy Khôi

                                  26-6-2026

==

DÁM ĐÂUQUANG HÀ

Xôn xao thuyền đỗ “BẾN HOÀNG HOA”

Chẳng quản đường gần với dặm xa

Tiền bối công lao gầy nhóm hội

Vãn sinh tâm nguyện giữ ngôi nhà

VĂN THƠ bút vẽ chân trời sáng

LẠC VIỆT lòng soi bóng nguyệt nga

Tiểu đệ ví là bông cỏ dại

Thì đâu dám nhận tước “thi ngà”!

                                Quang Hà kính họa

                                      27/6/2026

==

==

*

  VỀ BẾN CẠN .       CAO MỴ NHÂN

Nét hoa vừa thấy đã tan theo

Sóng nước mênh mông giạt cánh bèo

Đành vớt thời gian tìm bóng bạn

Để buông vận hạn kiếm hình neo

Tầm Dương thủa ấy ai tri kỷ

Lạc Việt thời nay khách cột kèo

Nhật Nguyệt lênh đênh chờ tái ngộ

Thuyền về bến cạn nỗi sầu treo … 

*

Bến cạn chiều sương khói mịt mù

Nhớ về nhân dáng khách chinh phu

Đã không tồn tại cùng  xuân tận 

Sao chẳng hẹn hò với mộng du 

Đất trích một lần đi cách biệt

Tầm Dương mấy thủa loãng oan thù

Lữ hành  trên chính quê hương cũ

Cố lý mơ hồ bóng chiến khu …

Hawthorne.   23 – 6 – 2026

          CAO MỴ NHÂN 

 

==

==

Thơ Trần Vấn Lệ

.

Rồi… lại tới Ngày Lễ:  Đón mừng Ngày Nhớ Cha!

Trước… ngày này, hôm qua / là Ngày Mừng Nhớ Mẹ!

.

Mẹ luôn luôn là thế:  ưu tiên mọi tấm lòng!

Mẹ là biển là sông / rộng vô bờ vô bến…

.

Mẹ với Cha có hẹn / để cháu con nhớ về…

cái chỗ gọi là Quê – Tình Yêu Không Đong Đếm!…

.

Có người về Điểm Hẹn bây giờ là khói nhang…

nhưng những cánh tay choàng ôm đất trời ấm áp!

.

Có người về chậm chạp… vì gió táp mưa sa!

Chuyện của Đất Nước TA / hai Thế Kỷ Nước Mắt!

.

Tôi… thành thật thú thật:  Tôi-trường-hợp-thứ-hai

… là đường xa mây bay… là dặm dài vô định!

.

Thương quá chớ, thời Lính:  Mẹ Cha hằng mong con!

Thương là Thương, rất thương… những đứa con bất hiếu!

*

Em của tôi làm điệu:  Hai mắt đang ướt kìa!

“Em nhớ Ba, không chia – Một Cái Hôn Giùm Với…”

.

Ôi người yêu tôi nói nghe buồn như trong mơ!

Và đây là… Bài Thơ:  Happy Father’s Day em, đó!

.

Có người yêu bỗng nhỏ như giọt lệ lăn lăn…

Có người yêu như trăng… Vầng Trăng Tôi Gọi Nguyệt!

.

Em là lòng tha thiết tôi gửi về Cố Hương

Lòng đứa con tha phương bốn phương đường thiên lý!

.

Việt Nam nhìn từ Mỹ xa vời nhang khói bay!

Happy Father’s Day!  Happy Father’s Day!

Trần Vấn Lệ

==

HOA BÌNH MINH MẤY NỤ

Hôm nay mặt trời thức sớm hơn tôi, mất rồi!  Tôi chói mắt quá thôi!  Tôi ghét mặt trời nhé!

Tôi mở cửa nhè nhẹ, nắng ào ào đi vô…Nắng cho tôi chùm hoa để xuống thềm thơm ngát…

Nắng vung tay nhẹ tát mặt tôi làm ngẩn ngơ!  Hôm nay tôi không ngờ cái giờ mặt trời thức!

Thường thì mặt trời mọc khi còn sương kia mà!  Chắc vì sương không sa tối hôm qua Đoan Ngọ?

Đèn đường còn sáng đỏ!  Bốn giờ hơn!  Ngỡ ngàng.  Ánh điện vẫn vàng vàng ít nhiều có phai lợt…

Ý thơ buồn bay trớt, tôi chặn gió cầm hôn!

*

Ô là tôi dễ thương, tôi cầm được ngọn gió… Tôi nhìn ra thảm cỏ, cỏ có nắng xanh hơn…

… nhưng bướm thì chưa vờn và chim thì bay hết!  Vườn tôi xanh xao thiệt chớ không phải xanh tươi!

Ngày Của Cha vui vui, tôi chợt nghĩ như vậy!  Không biết ai có thấy… đời là giấc chiêm bao?

Lát nữa tôi làm sao?  Pha cà phê ngồi uống?  Một mình tôi thức muộn nhìn mùa Hè đang qua…

Hương cà phê, hương hoa… tôi nhớ tà áo lụa nhẹ nhàng phơ phất gió…

Sẽ đi tìm đứa nhỏ hỏi này em thơ ơi “Em có thích đi chơi nhìn theo màu áo chị?”.

Tôi thèm nghe lí nhí tiếng của thời gian qua… Tôi thèm đi ngắm hoa – Hoa bình minh mấy nụ…

Trần Vấn Lệ

==

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

52 năm…tôi nhìn thấy / Đất Nước thay đổi nhiều.  Mà ngộ! Không nghe ai nói Yêu / Đất Nước mình, sao vậy?

Nhiều vườn cau vàng cháy / những buồng cau, Ngoại ơi!  Ngoại tôi mất thật rồi.  Mẹ Cha tôi cũng mất!

Nam Mô A Di Đà Phật!  Tôi chào một nhà Sư.  Ông ngước mặt cười cười:  “Lâu quá gặp thí chủ!”.

Thăm vườn Chùa thấy rõ:  Vườn Chùa rất sum suê.  Chôm chôm trái xanh lè… “tháng nữa là chín rực!”

Nhà Sư tôi thân nhất / những năm tháng cùng tù.  Sau thời gian… Thiên Thu, anh ấy đi tu Phật.

Tôi thì đi phơ phất, đời nắng táp mưa sa.  52 năm qua, về, chi cũng thay đổi!

Nhìn vườn cau nhớ Ngoại / nắng xiên khoai hồi nào…nhớ Mẹ nâng giỏ cau ngó Ngoại lóng lánh lệ!

Mắt nhà Sư chừ thế, long lanh màu hoàng hôn…

*

52 năm tôi còn / thấy mắt ai cũng đẹp!  Tôi ráng sống phải phép: Nhìn Thôi Nói Thế Thôi!

52 năm nước trôi… trôi bớt vườn cau Ngoại!  Nhà nhà đều lợp mới / ngói mua ở Vĩnh Long!

Sư dẫn tôi ra đồng / nhìn… núi rừng trọc lóc.  Tôi vuốt đầu chải tóc, tôi muốn bớt cho Sư…

Sư nói:  “Tất cả như, Như Như thưa thí chủ!  Bây giờ ai cũng đủ, bây giờ ai cũng no!”.

Ôi lời Sư thơm tho.  Tôi nhìn chi thêm nữa?

Quê Hương mình được rứa, tôi về Huế đi tu… 52 năm quá lâu, gì mà không đổi khác?

Bài thơ này nhàn nhạt, tình quê không đậm đà?  Tôi về không đi xa / khỏi cổng Chùa, mai mốt…

Trần Vấn Lệ

=

CÂU CHUYỆN CỦA BA NGƯỜI

TRONG CỘNG ĐỒNG BA TRIỆU NGƯỜI

*

Em yêu quý!  Trời không mưa thì nắng.

Nắng ban ngày và mưa hay về đêm…

Mùa Hè năm nay Cali đất không mềm

Sáu tháng rồi không có mưa trút xuống…

.

Ngày như đêm ai cũng than là nóng

Người homeless cười khúc khích với lon bia

Xứ tự do nó chọn sống bên lề

Bạn hỏi sao?  Nó nói Nhà Thờ khoá cửa…

.

“Tôi không phải là con của Chúa

Tôi là con của thiên hạ mọi người.

Tôi đã quân nhân, tôi được giải ngũ rồi

Tôi không nợ không nần không người yêu chì chiết…

.

Bạn bè ư?  Thật tình tôi không biết

Bạn là ai?  Thú thiệt có như không

Bao nhiêu năm, một-hai-ba-bốn đi cùng

Đi tới chỗ… Tan Hàng và Cố Gắng! (*)

.

Đi tới chỗ, biết đâu nằm Mả Lạng

ngó lên trời chịu đưng nắng và mưa…

Tôi làm thơ tôi làm thơ tôi làm thơ

Tôi in sách bán có tiền… tôi sống!

.

Người ta nói Sống Để Mà Hy Vọng,

Đời Thiên Thu bao cái Bóng Thời Gian?

Bao nhiêu bình minh, bao nhiêu chiều tàn

Hai chữ Đá Vàng chấm mực đen và viết!

.

Tên nước tôi nguyên nó là Nam Việt (**)

Lệnh của Tàu thành ra Nước Việt Nam

Tôi nhắc bao lần, tôi nói như van,

Không ai nghe tôi để đi làm Kách Mệnh!

.

Thôi thì thôi đời của tôi tôi tính:

Sống lề đường Thác được đốt ra tro!

Sông mồ hôi, biển nước mắt, không bờ

Hai chữ Đá Vàng là Giấc Mơ Bèo Bọt…”

.

Em ơi em cho anh hôn mái tóc

Tóc mai dài hay ngắn cũng… Tình Yêu!

Trần Vấn Lệ

(*) Khẩu lệnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà hô sau xong một cuộc tập họp.  Anh em vui mà cứ hỏi nhau Cố Gắng là sao?  Là… thấy sao trên cờ… trưa ngày 30-4-1975.

(**) Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà năm 1802, lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long, đặt tên nước Nam Việt, cho sứ sang Tàu xin cầu phong làm An Nam Quốc Vương.

Ba năm sau (1802, 1803 và 1804), Tàu trả lời:

1, Nhất trí Gia Long làm An Nam Quốc Vương.

2, Tên nước là Việt Nam, chữ Việt phải viết với bộ Tẩu cấm dùng chữ Việt viết với bộ Mễ.  Gia Long nhận lệnh, trối lại cho con tính toán giùm.  Vua Minh Mạng lên kế nghiệp Gia Long năm 1820, đặt lại tên nước là Đại Nam.

Ngày 2-9-1945, cướp chính quyền thành công, Hồ Chí Minh Chúa Đảng Cộng Sản Đông Dương, làm Chủ Tịch nước thống nhất Bắc Trung Nam, tên nước là Việt Nam.  Từ đó trở đi không có câu giải nghĩa.

Nhưng có hai sự kiện:

1, Dân Bắc Việt ùn ùn chạy trốn về phía Nam, 1954, cả triệu người, không nghe nói có ai chết dọc đường.

2, Cả triệu người ùn ùn cũng chạy về phía Nam hướng Malaysia, Singapore, Brunei, Indonesia, New Zealand, Australia, chết chìm ghe vô số kể, sống thì trôi giạt tới bờ và được thế giới cứu vớt toả đi khắp mọi nơi ở châu Âu, châu Mỹ, châu Úc…để sinh cơ lập nghiệp.  Hiện có con số chính thức là 6 triệu bốn trăm ngàn người, tính luôn non 1 triệu người xuất khẩu lao động đi làm mướn hay được cho đi học nước ngoài mà từ tục tỉu là Du Học Sinh!

Bạn mình ơi, đọc Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim nha!  Đọc Lịch Sử Còn Đó của Nguyễn Văn Lục nha!  Nha! Nha!

==

Ở TRÊN TRỜI PHÍA BẮC

NẮNG VÀNG THU SẮP THU

Sáu tháng!  Trời không mưa

Sáu tháng!  Trời chỉ nắng

Trái khổ qua cứ đắng

mười hai tháng một năm!

.

Tôi không nghe ai than

về trời mưa trời nắng.

Bầu trời mây vẫn trắng

đời sống thì trong veo…

.

Thơ… chỉ một Huyền Kiêu

bốn mùa nhớ Chị Đẹp

em thơ đôi mắt biếc

theo dõi bước chị mình…

.

Chị kìa… trên đồng xanh

Chị kìa… trong ngày nắng

chị choàng cái khăn thắm

hái hoa trắng cầm tay…

.

Bốn mùa bốn đổi thay

Chị Đẹp đời chỉ một

Huyền Kiêu châm điếu thuốc

thả buồn lên ngọn cây…

.

Trên ngọn cây có mây

có một ngày sắp hết

sáu tháng tôi ngộ thiệt

nửa năm còn… rồi sao?

.

Chị Đẹp tôi chiêm bao

ở trên trời… phía Bắc

tháng Bảy mưa phơn phớt

nắng vàng Thu… sắp Thu…

Trần Vấn Lệ

==

==

Vườn Văn Thơ Lạc Việt /Hương tình cờ bay xa

Chạm nhằm đóa kỳ hoa/Nụ thần ươm nở nhuỵ

.

Gió mơn lòng tri kỷ/Vườn níu giữ hồn thơ

Nguyệt soi ánh sương mờ/Cung đàn thêm réo rắc

.

Cùng thi nhân thắt chặt/Đan sợi nắng bình minh

Ánh hồng tỏa lung linh/Rỡ ràng vui bút mực

.

Dẫu đời là mộng, thực/Dù dặm dài viễn phương

Cố hương hay tha hương/Lòng này chung một lối…

Phương Hoa – JUN 22, 2026

==

==

KHÓI THUỐC VÀNG TAYQUANG HÀ

Tôi đọc bài thơ Trần Vấn Lệ*

Nhắc đến mùi thơm khói Capstan

“Chiếc áo phong sương tình anh nặng”

Nhớ đến nao lòng thuở tóc xanh

.

Nhớ quán cà phê ngày xuống núi

Áo trận còn đeo lớp bụi đường

Nửa tháng mà sao nghe rỗng túi

Hề chi, ký sổ để chờ lương

.

Uống ngụm cà phê, nhả khói thơm

Thấy đời vẫn đẹp còn lên hương

Ngày mai mặc kệ, dù sao nữa…

Vẫn thả hồn theo những nụ hường

.

Ngày đi qua Cầu Dài Xuân Lâm

Dòng sông nao nao buồn thăng trầm

Tôi về như kẻ từng xa lạ

Đồng đội về đâu, ôi biệt tăm!

.

Khói thuốc xanh dòng thơ Quang Dũng

Đôi mắt Sơn Tây buồn tây phương

Khói thuốc vàng tay anh lính trận  

Trên đồi biên giới, trấn quê hương.

Quang Hà, Aug. 2020

*“Một Trăm Bài Tứ Tuyệt Treo Vách Ngắm Chơi “

                                                   (Thơ Trần Vấn Lệ)

==

==

*Một tiếng thơ lâu năm, một tấm lòng rất trẻ, vừa ghé bến VTLV…

=

==

Trong sinh hoạt văn chương, có những niềm vui đến bất ngờ như một cơn gió mát đầu hè, như một cánh thư ghé đúng lúc, khi…mở hộp thơ! làm cả “chiếc thuyền thơ” bỗng rộn ràng hẳn lên. Văn Thơ Lạc Việt hôm nay rất hân hạnh và vui mừng được chào đón thi sĩ Trần Vấn Lệ – một tên tuổi quen thuộc khắp nơi với nhiều người yêu thơ Việt, một “cổ thụ thi ca” mà giọng thơ vẫn xanh non, tình thơ vẫn tha thiết, và hồn thơ thì dường như… chưa chịu già theo năm tháng!

Nói vui một chút, VTLV vốn vẫn tự hào là nơi “ai yêu chữ nghĩa thì ghé, ai thương thơ thì ở lại”…đừng dzề! nhưng lần này niềm vui có phần… lớn hơn thường lệ: một thi sĩ “tiếng tăm lừng lẫy” đã tự tìm đến trang nhà VTLV, gửi thơ, rồi nhận lời tham gia gần như ngay lập tức. Thế là anh chị em trong nhà vừa mừng…như trúng số! vừa khoái chí, lại vừa thấy trang nhà mình như có thêm một bóng mát rất đẹp của thi ca và tình người. Giới thiệu thi sĩ này, 100 trang giấy…vẫn chưa đủ! nên chỉ xin phép ngắn gọn:

Thi sĩ Trần Vấn Lệ, sinh ngày 31 tháng 5 năm 1942 tại Xuân Phong, Phan Thiết, trưởng thành ở Đà Lạt, từng là giáo chức, rồi nhập ngũ năm 1966, là cựu sĩ quan VNCH, và đã trải qua những năm tháng tù đày từ 1975 đến 1981. Ông sang Hoa Kỳ theo diện H.O cuối năm 1989, hiện cư ngụ tại miền Nam California. Một đời người đi qua chiến tranh, lao tù, ly hương, nhưng thật quý thay, nhưng vẫn giữ được một tâm hồn nhẹ, một giọng thơ nồng, và một trái tim biết rung động trước quê hương, tình yêu, bạn bè, kỷ niệm, cùng những điều bình dị nhất của kiếp người.

Chỉ nhìn qua danh mục tác phẩm của ông cũng đủ thấy sức viết đáng nể và một đời gắn bó bền bỉ với thi ca:

Cám Ơn Em Tình Yêu, Ăn Của Rừng Rưng Rưng Nước Mắt, Vời Vợi, Viết Những Dòng Này, Từ Khi Em Là Nguyệt, Thơ và Cuộc Đời, Nắng Hoàng Hôn Còn Sót Mấy Câu Thơ, Tóc Gió Bay… cùng rất nhiều tập thơ đã được giới thiệu trên các trang văn học. Chỉ riêng tên sách thôi cũng đã nghe ra một cõi thơ rất riêng: có nắng, có gió, có hoàng hôn, có nhớ thương, có quê nhà, có bóng dáng người xưa và có cả những rung động không chịu tắt của một trái tim làm thơ.

Điều đáng quý ở thơ Trần Vấn Lệ là cái giọng rất riêng: vừa hồn nhiên, vừa từng trải; vừa tình tứ, vừa man mác; có lúc như trò chuyện, có lúc như thủ thỉ với chính mình; có nỗi buồn, nhưng không bi lụy; có hoài niệm, nhưng không nặng nề. Thơ ông nhiều khi tưởng như đang kể chuyện rất tự nhiên, vậy mà đọc kỹ lại thấy phía sau là cả một trời ký ức, một quãng đời, một tấm lòng.

Và nếu phải nói ngắn gọn về thơ Trần Vấn Lệ, có lẽ xin mượn một ý thế này: thơ ông là thơ của người đã đi qua nhiều dâu bể nhưng vẫn giữ được cái nhìn dịu dàng với đời; là thơ của một người từng nếm nhiều mất mát mà vẫn tin vào vẻ đẹp của tình yêu, tình quê, tình người và chữ nghĩa. Ở tuổi mười tám, xin lỗi lộn, tám mươi, vẫn làm thơ tình, thơ quê hương, thơ nhớ bạn, nhớ em, nhớ Đà Lạt, Phan Thiết, Dran, Ngoạn Mục… như thế, ấy cũng là một cách chiến thắng thời gian rất đẹp.

Văn Thơ Lạc Việt rất trân trọng tấm lòng chân tình của thi sĩ Trần Vấn Lệ khi ngỏ ý muốn “đi cùng các bạn!”, yêu đời sống tập thể, yêu sinh hoạt văn thơ, và xem đây như một bóng mát để cùng nương tựa trong tuổi đời chín chắn mà hồn thơ còn trẻ. Đó là lời tâm sự mộc mạc nhưng đẹp vô cùng. Với anh chị em VTLV, được đón một nhà thơ đến không chỉ là thêm một tác giả, mà còn là thêm một người anh lớn, một người bạn văn, một tiếng nói, một kỷ niệm, một vốn quý cho ngôi nhà chung.

Xin được thay mặt anh chị em Văn Thơ Lạc Việt, hân hoan và nồng nhiệt chào mừng thi sĩ Trần Vấn Lệ đến với gia đình VTLV. Kính chúc thi sĩ luôn dồi dào sức khỏe, tinh thần an vui, ngày ngày còn hứng khởi với “em” thơ, với bạn văn, với con cháu, với những buổi sáng có nắng, những chiều có gió, và những đêm còn muốn ngồi lại với một câu thơ chưa viết hết.

Xin chúc cho cuộc hội ngộ này, sẽ là một duyên lành đẹp của văn chương: để VTLV có thêm một bóng mát và để bóng mát ấy còn tiếp tục cho ra hoa, ra lá, ra thơ… thật lâu!…dài lâu!

Văn Thơ Lạc Việt hân hạnh chào mừng.

Lê Văn Hải

(Hội Trưởng VTLV)




THỦY NHƯ – TRUYỆN ĐỌC: VƯỢT ĐẠI DƯƠNG

Vượt Đại Dương

Tôi thiệt bực mình với hai thằng con mỗi khi đón tụi nó ở trường. Tụi nó cứ dán mắt vào cái điện thoại chẳng thèm nói chuyện với tôi. Hỏi cái gì tụi nó cũng nói chữ một. “Good!” “OK!” “Fine!” Tôi than với bạn bè. Ai cũng nói, “Chẳng phải mình con chị/cô đâu. Tụi nhỏ teens nó vậy đó.”

Hôm bữa rồi tôi đi họp ở chỗ làm, nghe đồng nghiệp than chuyện con cái, tôi cũng góp chuyện “bực mình đón con”. Mấy người trong nhóm cũng tỏ ra thông cảm với tôi và một cô
gật đầu đồng tình rồi nói. “Con tôi cũng vậy. Nhưng mấy hôm nay tôi thử thế này thì có hiệu quả. Tôi hỏi tụi nó xem YouTube, Instagram, Discord… có gì hay kể cho tôi nghe với. Thế là tụi nó kể. Mình nghe nó nói thì lần ra xem tụi nó làm gì, chơi gì.” Thế là chiều đi đón ông con nhỏ, tôi làm thử theo cách cô đó chỉ.

Sau khi chui vào xe, ông con thưa, “Thưa mẹ con đi học về!” Đó là một trong vài ba câu tiếng Việt nó nói được. Tôi hỏi, “Hôm nay trên YouTube có gì hay không?” Nó trả lời, “Cũng không có gì hay lắm. Có mấy ông người Anh chèo một cái thuyền nhỏ vượt Đại tây dương từ New York đến nước Anh. Hôm nay mấy ổng mới cập cảng ở South Hampton sau 57 ngày từ khi khởi hành.” Tôi đùa, “Cái thuyền bao lớn? Có phải thuyền của mấy ông đó được móc vô cái đuôi
của một du thuyền phải không?” Nó cãi lại, “Họ chèo bằng tay không có máy móc gì hết…” Thế là nó thao thao bất tuyệt kể cho tôi nghe những chi tiết về hành trình vượt Đại Tây dương của các tay chèo thuyền người Anh đó. A! Vậy là mẹo của cô đồng nghiệp bày mở được miệng của ông con tôi.

Nhưng mà nghe nó kể hay quá, tôi về kiếm trên YouTube xem thử. Tôi kiếm được kênh YouTube của Adam Radcliffe với tường trình ngắn mỗi ngày trong suốt hành trình 57 ngày. Từ đó tôi lần ra trang web của nhóm nhằm quảng bá và gây quỹ cho chuyến đi của họ. United We Conquer là một nhóm chèo thuyền 4 người Anh gồm có Jack Jarvis, Adam Radcliffe, David ‘Brucey’ Bruce, và Sam ‘Nutty’ Edwards. Ngoại trừ Adam, còn ba người kia đều là cựu quân
nhân của Vương quốc Anh. Ngoài việc thử sức mình trong chuyến đi “điên khùng” này, họ cũng muốn gây quỹ 50 ngàn bảng Anh để giúp cho tình trạng sức khoẻ tâm thần của các cựu quân nhân Anh quốc. Trang web của họ cho biết rằng gần như mỗi ngày đều có một cựu quân nhân Anh quốc toan tự sát.

Không phải tất cả các thành viên của nhóm United We Conquer đều là những người chèo thuyền chuyên nghiệp. Trong nhóm chỉ có Jack là kinh nghiệm nhất. Jack đã một mình chèo thuyền vượt Đại tây dương trước đó. Anh chàng Adam, phát ngôn viên của nhóm, vốn là kỹ sư nhưng đã bỏ nghề để đi chu du thiên hạ. Nhưng Adam thì chưa bao giờ chèo thuyền trước đó. Adam nhập bọn với Jack and Brucey vào năm 2024 đến Bahamas để giải cứu con thuyền
Endurance của một nhóm người cũng muốn vượt biển Địa Trung Hải bằng thuyền. Sau 4 ngày khởi hành, nhóm đó đã gặp gió bão. Thuyền bị hư hại và họ đã được cứu thoát nhưng con thuyền thì dạt vào một bãi biển ở Phi Châu.

11 tháng sau đó, thuyền Endurance bị sóng đánh trôi dạt đến Bahamas và cảnh sát đã giữ con thuyền bị hư hết các thiết bị điện tử trong bãi chứa “hầm bà lằng” đủ thứ xe, tàu, thuyền của cảnh sát địa phương.

Adam, Jack và Brucey từ Anh quốc bay qua Bahamas đến đồn cảnh sát xin nhận chiếc thuyền, sửa chửa những hư hại. Sau đó cả ba chèo từ Bahamas đến Miami trong 9 ngày. Chuyến đi quá sức chịu đựng của Adam nên anh nghĩ là khi đến Miami sẽ thông báo với hai người đồng hành để rút ra khỏi chuyến vượt Đại Tây dương sau đó. Nhưng khi đến Miami sau khi nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, Adam quyết định nhập cuộc chuyến vượt Đại Tây dương bằng thuyền với cả nhóm.

Để chuẩn bị cho hành trình ba ngàn dặm trên chiếc thuyền nhỏ, Jack, Adam, Brucey, và Nutty đã tập luyện cả năm trời. Việc chuẩn bị gồm tập luyện về thể lực, tinh thần và những tình huống xấu có thể xảy ra trong chuyến đi. Vì con thuyền nhỏ nên mọi thứ đem theo phải tính toán rất kỹ. Họ có một khoang kín luôn đóng chặt để nước không tạt vào bên trong giữ đồ đạc được khô ráo. Một chỗ để ngủ vừa đủ cho hai người. Không có toilet như các tàu hiện đại mà họ dùng một cái thùng nhựa cho việc tiêu tiện. Trong một video của một ngày trong
cuộc hành trình, họ cho xem từng chi tiết cách sinh hoạt hằng ngày kể cả vệ sinh cá nhân.

Khác với chuyến đi đầu, họ không đem theo nước uống nhưng dùng một bình lọc để lọc nước biển thành nước ngọt rồi thêm vào nước lọc những vitamin và khoáng chất. Thức ăn là đồ khô cho tiện lợi. Tôi thật ngạc nhiên khi biết rằng họ cũng bị say sóng dẫu họ đã vượt biển bằng thuyền trước đó. Đề phòng bất trắc, mỗi người đều có một cái phao xếp gọn bên người và một sợi dây cột vào thuyền đề phòng bị rơi xuống biển. Rút kinh nghiệm suýt bị tàu lớn đâm vào, họ gắn một thiết bị báo động trên thuyền để báo cho các tàu quanh vùng biết mà tránh. Bốn gã đàn ông trong một chiếc thuyền chật hẹp thì sẽ không tránh khỏi những lúc nóng giận nên họ cũng lên kế hoạch để hạ hoả những cơn giận đó.

Để bảo vệ môi trường, họ cũng nén chặt các bao đựng thức ăn và rác để đem về đất
liền. Một công ty vô tuyến viễn thông đã cho họ truy cập internet một thời gian ngắn mỗi ngày đủ để đăng những video ngắn, ‘short’, cập nhật thông tin về hành trình của họ.

Họ thay phiên nhau, hai người một ca, chèo thuyền 12 giờ mỗi ngày. Giấc ngủ liên tục dài nhất là 5 giờ. Sau một tuần trên đại dương, họ gặp sóng lớn. Jack và Adam bị hất tung khỏi thuyền. Áo quần bị ướt sũng. Một vài đồ điện tử bị vô nước và chập mạch cháy. Nhưng may mắn là họ vẫn còn có GPS và la bàn để định hướng đi. Trên đường đi họ gặp nhiều sinh vật biển thật ngoạn mục.

Một đám cá heo khoảng 100 con và nhiều con rùa biển đang trên đường di cư.
Họ cũng thấy một con cá mập lớn bơi dọc theo thuyền trong nhiều ngày. Họ cũng đi ngang qua vùng biển nơi con tàu Titanic bị đắm. Đó là vùng biển có nhiệt độ chênh lệch rất lớn trong một ngày. Khi thì nóng chảy mỡ và có lúc giữa ban ngày mà lạnh cóng đến nổi họ phải mặc đồ ấm khi chèo thuyền.

Mặc dầu không phải là chuyến vượt Đại Tây dương nhanh nhất như một mục tiêu họ đã đề ra nhưng nhóm United We Conquer cũng đã “đi đến nơi về đến chốn.” Có một ngày đẹp trời, gió yên biển lặng đã giúp họ phá kỷ lục chèo thuyền trên Đại Tây dương. Họ đã chèo 140 hải lý trong vòng 24 giờ cao hơn nhiều so với kỷ lục 116 hải lý trước đó. Nhóm United We Conquer đã được đông đảo người hâm mộ chào đón tại bến tàu Hamble hôm 16 tháng 8, 2025. Theo tường trình của BBC News, những người hâm mộ nhóm United We Conquer đã đóng góp 100 ngàn bảng Anh cho Head Up, hội từ thiện giúp cho tình trạng sức khoẻ tâm thần của các cựu quân nhân Anh quốc.

Tôi nghe ông con kể chuyện này thì hỏi nó, “Con có biết là hơn 40 năm về trước có cả triệu người Việt nam đã vượt đại dương bằng những chiếc thuyền nhỏ không?” Nó đáp, “Boat people? Hình như mẹ có kể rồi mà. Bạn bè của mẹ có ai là những thuyền nhân đó không?” Tự dưng tôi cảm thấy nghẹn giọng. “Có chứ. Đó là chú A., cô T, bà H. …” Tôi kể tên những người bạn tôi mà nó đã gặp.

Tôi nói tiếp, “Thuyền của họ có những động cơ nhỏ nên họ không phải chèo bằng tay. Nhưng rất nhiều chiếc thuyền đầy cứng người có cả người già và trẻ sơ sinh. Nhiều người trong số họ ra đi mà không chuẩn bị gì cả từ thể xác, đồ ăn cho đến tinh thần. Vì vậy có nhiều thuyền đã không có đủ thức ăn nước uống và rất nhiều người đã chết. Nhiều chiếc thuyền đã bị đắm vì bão tố. Nhiều tàu gặp hải tặc và các phụ nữ trên tàu bị hãm hiếp, còn đàn ông thì bị giết chết.

Nhiều người trong số họ đã bị bắt đi mất tích. Khoảng nửa triệu người vượt biển đã thiệt mạng trong các chuyến đi đó.” Nó im lặng một lúc rồi hỏi, “Tại sao họ lại liều thế? Họ có biết đi như vậy là rất nguy hiểm không?” Tôi bảo con, “Có người biết. Có người không. Nhưng tất cả đều có niềm hy vọng rằng cuộc đời của họ sẽ tốt đẹp hơn ở những quốc gia không cộng sản.”

Tôi nhớ lại câu chuyện của một cô trong hội thánh tôi hồi trước. Cô kể rằng cô có nghe những câu chuyện hãi hùng của những người đi vượt biên nhưng vẫn quyết định đi. Tàu của cô lênh đênh trên biển nhiều ngày. Cô không còn nước uống nên lả người đi. Một người đổ vào miệng cô một nắp nước khoảng cỡ một muỗng cà phê và cô đã sống. Tàu của cô may mắn không gặp hải tặc và đã được vớt vào trại tỵ nạn. Cô nhớ ơn người đã cho cô một muỗng nước
đó. Cô theo họ đi nhà thờ để cảm ơn Chúa đã cho cô sống qua chuyến đi khủng khiếp ấy.

Cô giữ niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa cho đến hết cuộc đời. Cô bảo rằng mỗi lúc cô gặp khó khăn trong cuộc sống ở Mỹ, cô cầu nguyện và tin rằng Chúa sẽ giải cứu như Ngài đã làm trong chuyến vượt đại dương của cô.

Thủy Như