Ca Khúc VTLV & Tuổi Trẻ Hải Ngoại – MỪNG CHÚA GIÁNG SINH – PHƯƠNG HOA
**
THƠ MỪNG GIÁNG SINH – PHƯƠNG HOA – VTLV+ BÀI HỌA NGUYỄN HUY KHÔI
**
CHÙMTHƠ GIÁNG SINH CAO MỴ NHÂN
ĐÊM CHRISTMAS. CAO MỴ NHÂN
*
Anh đứng nhìn em lâu
Sân nhà thờ, đêm thâu
Lời thánh ca chưa dứt
Tan vào cuộc tình sau
*
Bài thơ không buồn phiền
Chúa ở mãi bên em
Ôm em cho chặt nhé
Đừng để rớt trái tim
*
Nhạc thánh ca lâng lâng
Hồn chơi vơi bâng khuâng
Bạn đời vô quá khứ
Người tình lỡ trăm năm
*
Hồi chuông ngân vang xa
Chúa vẫn ở bên ta
Sao anh im lặng thế
Ta đang trong mộng mơ
*
Thơ rơi theo tình buồn
Em sợ sầu vương thương
Mông mênh đêm Christmas
Nước mắt hoà khói sương …
CAO MỴ NHÂN
*
TRÊN ĐƯỜNG DU MỤC. CAO MỴ NHÂN
Trên đường du mục
Chúa đứng ở đây
Phương đông thức giấc
Phương tây ngủ say
*
Khói sương Tiệp Khắc
Anh khép vòng tay
Hoa cườm đỏ sắc
Rớt xuống chân bầy
*
Người làm dấu thánh
Sáng rỡ trời mây
Hạt sầu lóng lánh
Nhẹ gánh vai gầy
*
Đường mòn thánh giá
Nở rợp hoa bay
Vang lên tất cả
Chúa đứng nơi này …
Hawthorne 16 – 10 – 2022
CAO MỴ NHÂN
*
ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG. CAO MỴ NHÂN
*
Đêm Thánh vô cùng trân quý ơi
Đoá hoa nhân ái nở bên trời
Khát khao yêu mến người thiên hạ
Tất cả xin vào dự hội chơi
*
Ánh biếc vì sao lấp lánh xa
Tươi vui bếp lửa ấm muôn nhà
Chúa ơi, Đêm Thánh vô cùng tận
Người với người thương ta với ta
*
Bạn với bè trên mỗi bước xuân
Hoan ca nơi khắp ngả dương trần
Mây vương sắc áo mầu nhân ảnh
Đêm Thánh vô cùng đẹp dấu chân.
*
Mãi mãi hoa thơ kết vạn lòng
Dâng lên Thiên Chúa mỗi mùa đông
Bình an dưới thế đêm vô tận
Chúa ở cùng anh chị em mong …
*
CAO MỴ NHÂN
*
ĐI LỄ NỬA ĐÊM. CAO MỴ NHÂN
*
Rằng em chưa hết yêu đâu
Chênh vênh anh đứng trên cầu nhân sinh
Chúa không ruồng bỏ chúng mình
Anh không từ tạ cuộc tình hồn nhiên
*
Merry Christmas bình yên
Đưa em đi lễ nửa đêm đón Người
Thiêng liêng ngự trị đời đời
Ba ngôi hiệp nhất khắp trời hoa đăng
*
Em thưa: Lòng Chúa mênh mang
Trái tim Thiên Chúa rỡ ràng bao la
Yêu từ trái đắng nở hoa
Thơ em phong tặng tình ca kiếp này
*
Lặng thầm dấu thánh in đầy
Merry Christmas đắm say nẻo về
Thiên đường lộng lẫy đam mê
Hồi chuông thức tỉnh hồn si tuyệt vời …
*
CAO MỴ NHÂN
HOÀNG THỤC UYÊNChúa giáng trần một niềm vui bất tận Đem tình thương nhân loại tỏa ngàn nơiÁnh sáng vui từ khi Chúa chào đời,Lòng bác ái, Chúa ban vui cứu khổ.....
Bài thơ sau đây :
ĐÓN CHÀO NGÀY CHÚA GIÁNG SINH
Ngày Giáng Sinh mưa rơi Trời đẹp quá, Ngàn giọt mưa..rả rích sạch bụi đời Tiếng mưa rơi..tí tách nhẹ khắp nơi, Đêm hôm nay, Chào Mừng Chúa Giáng Thế.
Trên không trung, áng mây đẹp vô kể, Mây trắng xanh ẩn hiện ngũ sắc màu, Ẩn trong mây, ánh sáng tỏa thật lâu. Những hàng cây, gió đong đưa cành lá,
Mưa vẫn rơi...trải đều trên cỏ lá, Bụi mưa bay, mờ nhạt khắp không gian. Hạt mưa rơi...rơi phủ khắp thôn làng, Mưa tuôn chảy mang mạch nguồn sự sống.
Chúa Giáng Trần, một niềm vui bất tận, Đem tình thương nhân loại tỏa ngàn nơi. Ánh sáng vui, từ khi Chúa Chào Đời, Lòng bác ái, Chúa ban vui cứu khổ...
Mưa đã dứt, nhưng không gian còn lạnh, Trời trong xanh, vài tia nắng xuyên cành, Cây đong đưa, làn gió lạnh thoảng nhanh, Hoàng hôn xuống, sao đêm vừa lấp lánh
Cây Noel trong căn phòng..ấm cúng, Lò sưởi hồng ấm áp tối mùa đông, Nhạc Giáng Sinh êm ái nhẹ trong phòng, Đêm cầu nguyện, trần gian mừng Thiên Chúa.
Khắp thế gian trên Năm Châu Bốn Bể, Hát ngợi ca tưởng nhớ Chúa Giáng Trần, Trên không trung Chào đón Chúa Giáng Lâm Trong không gian, tiếng kinh cầu lặng lẽ.
Sắp đến giờ Chúa Jesus Giáng Thế, Tiếng chuông ngân văng vẳng vọng..xa xa.. Trên bầu Trời Tinh Tú Triệu Ngân Hà.. Con chắp tay thầm Dâng Lời Cầu Nguyện....
KON TUM MÙA GIÁNG SINH CUỐI CÙNG – DONRY NGUYỄN (Trích đoạn trong hồi ký Đức Tin)
…Tháng 8 năm 1974, đơn vị hắn nhận lệnh luân chuyển từ Bắc Bình Định lên trấn đóng vùng cao nguyên đất đỏ. Hắn náo nức trở lại nơi mà người bạn Biệt Động Quân đã vô tình cứu hắn thoát chết dạo trước, và thăm lại người em gái hậu phương thường mở cho hắn nghe bản nhạc “Em tên … em tên Mộng Thường … mẹ gọi em bé ngoan”.
Đến nơi, pháo đội trừ đóng quân ở căn cứ Trần Ngọc Lân, còn trung đội 2 của hắn, được chỉ huy bởi vị trung uý pháo đội phó, thì kéo hai khẩu đại bác 105 ly nhét vào hai lô-cốt, nòng súng ló ra ngoài hướng về phía bắc.
Ông tập hợp trung đội để ban hành mệnh lệnh: -Đây là phòng tuyến cuối cùng, chúng ta không còn bắn yểm trợ cho đơn vị nào nữa. Nhiệm vụ của chúng ta là trực xạ vào các chiến xa T54 nếu nó xuất hiện từ hướng Ngô Trang. Các anh em hãy hết sức chú ý để kịp thời vào vị trí tác xạ. Ai vi phạm, chiếu quân lịnh thi hành kỷ luật.
Nơi hắn đóng quân có tên là Eo-Gió, cách thị xã Kon-Tum khoảng 6 cây số về phía bắc, là một ngọn đồi thấp và trơ trọi, nằm án ngữ trên đường 14, con đường độc nhất nối liền với các tỉnh phía nam. Sau khi Đắc Tô-Tân Cảnh thất thủ, nơi đây trở thành vị trí chiến lược phòng thủ hàng đầu.
Từ ngọn đồi nhìn ra bốn phía là núi cao chớn chở và rừng xanh bát ngát. Buổi chiều sương lam âm u tỏa xuống những khí lạnh ghê người. Còn ban đêm, gió thổi qua hun hút, nghe như tiếng kêu gào của các cô hồn uổng tử đã chết dọc theo con đường di tản từ mùa hè đỏ lửa 1972.
Ngày tháng ở đây nhàn nhã hơn thời kỳ còn đóng quân ở Tam Quan-Bình Định, bọn hắn không phải phơi lưng dưới nắng làm đạn cả ngày hay thức giấc giữa đêm khuya để bắn vài quả đạn quấy rối vu vơ. Công việc thường ngày là canh gác và lau chùi súng đạn, những quả đạn Beehive chống biển người được đưa ra sắp sẵn vào hai bên ụ súng. Loại đạn này, theo vị chỉ huy cho biết, nó có giá một triệu hai trăm ngàn đồng một quả, trong khi lương binh nhì của hắn-đã trừ tiền ăn-chỉ hơn mười hai ngàn đồng mỗi tháng. Trong cái đầu non nớt của hắn, hắn nghĩ thầm -“ Giá mà người mỹ dùng số tiền khổng lồ này mua sữa và bánh mì phát cho dân hắn được no nê thì hạnh phúc biết bao!”.
Mỗi ngày sau khi xong phần việc của mình, hắn thường đi tha thẩn quanh doanh trại, tán dóc với các chiến hữu biệt động quân. Đời lính nơi miền biên cương vô cùng gian khổ, thiếu thốn đủ bề. Quanh năm chỉ thấy rừng già và súng đạn, chưa kể cái chết luôn luôn rình rập chung quanh. Mỗi tuần họ được một lần tiếp tế, khẩu phần là 7 ca gạo, một mớ cá khô, mắm muối bột ngọt và mấy bó rau xanh. Lãnh Lương ra không biết tiêu pha ở đâu cho hết, bèn châu đầu đánh bạc, thằng không may sạch túi thì đành đi lượm “dế mèn” quấn hút, thằng ăn được tiền cũng chả biết làm gì khác hơn là kiếm sòng khác nướng tiếp.
Thỉnh thoảng cũng có phái đoàn các “em gái hậu phương” kèm theo vài ca sĩ tỉnh lẻ đến thăm và tặng quà. Lính lác thì được giao lưu ban ngày, còn khi đêm đến, mấy cô ca sĩ rút vào trong các căn hầm sĩ quan, ở đó vọng ra tiếng nhạc xập xình, lẫn với tiếng cười đùa vui vẻ. Có hôm đúng phiên gác, hắn tò mò lén nhìn qua lỗ châu mai. Trong căn phòng ấm cúng, nồng nàn mùi nước hoa và mùi thuốc lá thơm, hắn tê mê nhìn những thân hình gợi cảm của các cô gái đang tay trong tay, mặt nhìn mặt cùng các viên sĩ quan dập dìu khiêu vũ theo điệu nhạc quay cuồng. Lòng hắn bỗng bừng dậy một nỗi khát khao mà bấy lâu hắn kìm nén. Hắn thèm mùi da thịt đàn bà. Thì có sao đâu? Hắn mới hai mươi tuổi, và hắn khao khát được yêu, được ôm người hắn yêu trong vòng tay nóng bỏng và đặt vào đôi môi mọng ướt của nàng một nụ hôn nồng cháy… Nhưng, cho đến bây giờ, hắn vẫn chưa có người yêu!
Một lần tình cờ gặp lại một người học trò cũ của Cha hắn lúc ông còn dạy tiểu học ở quê. Anh ta là trung uý đại đội trưởng một đại đội biệt động quân thuộc LĐ 23/BĐQ đi hành quân ngang qua. Anh mừng rỡ, kéo hắn vào lều, hỏi thăm về vị thầy cũ, mời hắn ăn một bữa cơm, rồi khi ra về còn cho hắn nửa cây thuốc Capstan. Cảm động hắn làm một bài thơ tặng lại anh. Bài thơ có tựa đề là:
BIÊN GIỚI CA
Núi cao chớn chở mồ uổng tử, Rừng xanh bát ngát hồn ma thiêng. Chiến địa máu trào như là suối, Biên giới hề, âm u dị thường!
Biên giới ngày, nắng nung chảy mỡ, Biên giới đêm, lạnh như cắt da. Xác chết rủ nhau ngồi ngay dậy, Đốt lửa rừng lên mà hát ca…
Ta mang thân trấn thủ lưu đồn, Ba năm biên giới nhận là con. Ba năm man dại theo rừng rú, Buổi chiều ngồi vuốt chòm râu non.
Bạn ta áo bạc màu sương gió, Đem tuổi xuân phơi giữa chiến trường. Từ buổi lên đường xa phố nọ… Chưa từng san sẻ chuyện yêu đương.
Chiều nay sương xuống mờ quan ải, Nghe tiếng hồn hoang hú não nề. Vỗ tay ta hát hề, biên tái Súng đạn người đi chẳng trở về!.
Anh ta đọc, khen “mày làm thơ được đó, nhưng buồn quá, đời mày chắc sẽ còn nhiều gian khổ” Hắn yên lặng không nói gì.
Một tháng đôi ba lần hắn cũng chuồn về được thị xã Kon-Tum. Đến thăm thằng bạn “trung sĩ biệt động quân”, rồi kéo nhau lê la từ quán Cafe Giao, Da Vàng, đến quán Cây Ổi. Ở đó ”có vẻ” em Phương tóc dài đã có chút cảm tình với hắn. Hắn nghĩ “có vẻ”thôi, bởi vì tâm lý các cô gái thời bây giờ chỉ nhắm vào các chàng sĩ quan hào hoa đẹp trai phong độ, chứ còn hàng ngũ cái thứ lính “đơ dem cùi bắp” như hắn thì các cô chả thèm để ý tới bao giờ!. Em Phương có mái tóc dài ôm kín cả bờ lưng thon thả, sau buổi học về, em thường thay mẹ ra ngồi ở quầy tính tiền. Những khi vắng khách, em lơ đễnh một tay chống cằm, tay kia hí hoáy vẽ trên tờ giấy, nghiêng cả mái tóc mây óng ả về phía hắn. Hắn đánh bạo, phết đại vài câu thơ vớ vẩn rồi trao cho nàng:
“Trời đang rét nhưng lòng anh ấm lạ Khi ngồi đây trông mái tóc em dài Vở học trò em đã chép tên ai Cho anh gửi bài thơ tình của lính…”
Đọc xong, em quay lại nhoẻn môi cười với hắn. Thừa thắng xông lên, hắn kéo ghế qua gần quầy, rồi-vừa nhả khói thuốc vòng tròn, theo kiểu của nhân vật Trần Đại khi đến tán tỉnh em Tường Vi xinh đẹp của quán cafe Gió Nam trong phim Điệu Ru Nước Mắt-hắn vừa phun ra hàng tá thơ tình lãng mạn, từ thơ yêu nồng nàn của Xuân Diệu, Huy Cận cho đến thơ thất tình của Nguyễn Bính. Tuổi học trò nhiều mộng mơ thường thích văn thơ, cho nên em cười híp mắt, ngồi lim dim nghe hắn đọc thơ và bình thơ chứ còn để trở thành người yêu của hắn thì…chắc còn xa lắm!
Mùa giáng sinh năm đó, hắn chuồn về được thành phố sau khi lội bộ 6 cây số. Đến tìm thằng bạn “trung sĩ biệt động quân” thì mới hay nó vừa về phép hôm qua. Buồn tình, hắn một mình tha thẩn tới quán cafe Cây Ổi và gạ gẫm nàng đi lễ nhà thờ với hắn. Nàng đáp gọn lỏn: -Em không có đạo! Hắn lên giọng đóng vai cha cố: -Chúa xót thương tất cả loài người, những người không có đạo Chúa lại thương hơn… Nàng nghi ngờ nhìn hắn: -Thôi đi! Đừng xạo, sao anh biết? Hắn hùng hồn chứng minh: -Anh là bằng chứng đây, vì lòng mong muốn được đến với Chúa trong đêm thánh vô cùng mà chỉ huy của anh đã cho phép anh đi, trong lúc cả đơn vị cắm trại. Nếu ngài không dùng quyền năng của ngài để làm động lòng vị chỉ huy của anh thì còn ai có thể làm được? (Hắn đã nói láo, thực ra hắn chui rào trốn đi chứ có chỉ huy nào cho phép lính tráng rời đơn vị ban đêm vào những lúc mà việt cộng rình rập tấn công) Nàng có vẻ xuôi tai: -Ơ … nhưng mà em không quen đi lễ, tới đó em chả biết làm gì cả? -Chúa sẽ làm tất cả. Em chỉ việc đi cùng anh tới đó, đứng im nguyện … rồi Cha xứ sẽ làm lễ, ngài sẽ cho em được nếm bánh thánh, uống nước thánh … em sẽ được đầy ơn phước, sẽ có chồng giàu sang và sinh những đứa con bụ bẫm, có gương mặt xinh đẹp rạng ngời giống hệt khuôn mặt phúc hậu của Đức Mẹ Maria… Nàng vẫn bướng bỉnh: -Nếu em không đi thì sao? Hắn dọa dẫm: -Thì khi lìa đời, em sẽ xuống hỏa ngục, nơi đó có những con quỷ đuôi dài đầu sừng, nó sẽ tán tỉnh và hù dọa em, em sẽ chết khiếp… Hắn còn tuôn ra hàng tràng dài những điều mà hắn học lóm đâu đó trong Kinh Thánh. Nàng vô phương chống đỡ trước những lời lém lỉnh của hắn nhưng vẫn không chịu đầu hàng: -Nhưng … nhưng mà … má em sẽ la, nếu đi với anh … thôi … em hổng dám đâu!
Tới đây thì hắn đành phải bạt mạng nói càn: -Không người mẹ tốt bụng nào lại la mắng con gái khi đi lễ nhà thờ vào đêm giáng sinh với một chàng trai tử tế … như anh. Nàng liếc đôi mắt sắc như dao cạo quét khắp người hắn: -Liệu có tin được mấy cái anh chàng lính tráng như anh không?
Thấy nàng có vẻ xiêu lòng, hắn gật đầu lia lịa: -Tin được, tin được! Bên trong bộ đồ phong trần này là một linh hồn thánh thiện. Anh là một chàng trai tử tế hiền lành nhất mà em có thể tin tưởng. Thề có Chúa chứng giám, anh sẽ hộ tống em đến nơi an toàn và sẽ trả em về nhà đúng giờ sau khi tan lễ mà không làm em bị mất một sợi lông chân nào… Nghe hắn quả quyết, nàng cũng động lòng, nên sau vài giây lưỡng lự nàng bèn gật đầu: -Vậy … anh ra đứng ở cuối đường đợi em, em sẽ thay đồ rồi ra sau … nhớ là đưa em về ngay sau khi tan lễ đó … nghe chưa?
Hắn mừng rơn.
Thế là … lần đầu tiên trong đời, hắn được sánh bước bên một người con gái, dịu dàng trong chiếc áo dài trắng tinh khôi cùng đi lễ nhà thờ. Con đường dẫn đến ngôi giáo đường chính của thành phố tràn ngập sương mù, đêm đó lại là một đêm có trăng. Ánh trăng mờ tỏa, quyện cùng lớp sương mù lãng đãng tạo thành một thứ ánh sáng huyền ảo mông lung, khiến hắn có cảm giác như là đang bơi trong không gian của một tầng trời xa thẳm nào đó, chứ không phải đang đi giữa một thành phố bị chiến tranh vây bủa tứ bề. Thấy nàng có vẻ lạnh, hắn cởi chiếc áo Philaket của mình choàng lên vai nàng trong động thái của một bàn tay sẵn sàng chở che bảo vệ.
Nàng cảm động, trìu mến đi sát vào hắn, hắn nghe được mùi hương tóc và mùi da thịt của nàng thoảng ra ngây ngất. Ôi chao, hắn ước gì cho đường đi không tới và đêm cứ dài ra, để mãi mê, hắn sẽ cùng nàng trôi đi, trôi đi qua lối vào tình sử và cùng bay đến một thiên đường mộng ước xa xôi. Nơi chỉ có tình yêu và mật ngọt, nơi xa lìa trần thế đau thương…
Nhưng con đường thực tế thì quá ngắn ngủi. Mười lăm phút sau-dù đã cố đi chậm hết sức-hắn và nàng cũng đã đứng trước cửa nhà thờ. Người đến dự lễ và người đi xem cũng rất đông. Hắn chật vật đưa nàng vào bên trong. Khi đã yên vị ở một chỗ mà hắn nghĩ là có thể nhìn bao quát cả khung cảnh của giáo đường, hắn ấn nàng ngồi xuống chiếc ghế trống duy nhất còn lại, hắn đứng sau lưng. Nàng trả lại chiếc áo khoác lính cho hắn vì lúc này hơi nóng của số đông người đã đẩy cái lạnh ra bên ngoài khung cửa.
Đang lúc hắn đang say sưa giảng bài về sự tích của đêm giáng sinh thì một bàn tay thô bạo kéo mạnh hắn về phía sau. Cùng với một tràng cười “đểu cáng” là một giọng nói quen quen: -Thằng quỷ! Trốn ở đâu mà tụi tao tìm mãi mới ra mày … Đi! … đi nhậu với tụi tao! Hắn ngó lên, thì ra là hai thằng “ôn dịch” cùng đơn vị. Hổng biết nó làm cách nào mà cũng trốn được về đây? Hắn bèn xuống nước năn nỉ: -Tao đi với em gái, tụi mày thông cảm, hẹn quán nào đi, chút xíu đưa em về xong tao đến. Không đếm xỉa gì lời năn nỉ của hắn, hai thằng bạn thân kéo tuột hắn ra ngoài: -Huynh đệ chi binh gì mà bỏ bạn bè đi chơi với em út? Để em đi lễ đó, nhậu với tụi tao xong quay lại đón em về, không nói on-đơ gì ráo… Miệng nói tay kéo, hai thằng “quỷ sứ” lôi thẳng ra quán. Vốn tính nể trọng bạn bè, nhất là đối với bạn bè vào sinh ra tử, hắn ngoan ngoãn bước theo mà không kịp quay lại dặn dò “em Phương thân mến” một câu nào.
Hắn định bụng ngồi một lát với hai thằng “ôn dịch”, uống với tụi nó vài ly rồi tìm cách chuồn. Nhưng, người tính không lại ý trời! Khi cái thứ nước màu hổ phách “quỷ quái” trong chai “Napoleon lùn” chạm đáy, hắn ngật ngưỡng đứng lên bắt tay từ giã bạn, thì cũng là lúc hắn đổ ập xuống sàn nhà, không còn biết trời trăng mây nước gì nữa cả!
o0o
Khi tỉnh lại vào buổi sáng hôm sau, hắn thấy mình nằm co trên chiếc bàn sắt trong phòng khách của một quán trọ rẻ tiền. Cổ họng đắng nghét và cái đầu nặng trịch, hắn chẳng biết tại sao mình lại ở đây? Chợt nhớ tới nàng, hắn giật mình phóng xuống đất – chết mẹ – mình quên đón nàng rồi! Hắn vội vàng đi tìm nước rửa mặt, rồi sờ khắp túi quần, túi áo, chẳng có thứ gì ngoài một manh giấy viết nghệch ngoạc mấy chữ: “Mày say quá mà khách sạn hết chỗ, tụi tao đành bỏ tạm mày ở đây, tiền bạc giấy tờ tụi tao giữ, mai về đơn vị lấy”.
Hắn trở lại quán cafe Cây Ổi để gửi đến nàng một lời xin lỗi. Thấy hắn, nàng chẳng nói chẳng rằng, quay lưng bước vào nhà sau mất dạng. Hắn đứng yên một lát, nhìn trời hiu quạnh … rồi thọc hai tay vào túi quần lặng lẽ rời đi!. Mùa giáng sinh 1974-đối với hắn-đã trở thành một kỷ niệm đẹp và … buồn!
Ngày 14 tháng 3/1975. Kon Tum được lệnh di tản, đơn vị hắn kéo súng theo đoàn quân lầm lũi từ giã chiến trường, hắn không kịp đến chào “em Phương thân mến”. Cuộc di tản chiến thuật biến thành một cuộc tháo chạy kinh hoàng. Bom đạn, đói khát và bịnh tật đã giết chết rất nhiều binh lính và thường dân vô tội. Hắn tìm kiếm khắp nơi và hỏi thăm rất nhiều người, không ai biết tin tức gì về cô Phương cà phê Cây Ổi. Hắn thở dài nghĩ đến một điều không dám nghĩ: – Có thể “em Phương thân mến” đã vùi thân trong một góc rừng nào đó giữa vùng lửa đạn chiến tranh rồi!
-Đông Ry Nguyễn
***
NOEL BUỒN
(Cuộc đối thoại giữa hai người bạn)
**
THƠ DONRY NGUYỄN
*
Em than thở Giáng sinh này buồn quá, Đang một mình không biết tính sao đây…
-Thì xin mời em qua Mỹ chơi đi Khi nào tới nhắn tin anh đưa rước Chúa thì chắc không dễ gì gặp được Nhưng giáo đường nhiều vô kể em ơi
Giáng sinh này em qua Mỹ thăm chơi Tiền phí tổn đi về coi cũng rẻ Thấy thiên hạ đi về như đi chợ Em một lần nên thử độ xem sao
-Nghe anh mình nói chuyện giống chiêm bao Anh cứ tưởng ai cũng giàu vậy á Gốc nông dân em bùn lầy vất vả Hột lúa mùa này đổi hột lúa mùa sau
-Xem ti-vi anh có biết gì đâu Nghe nói bển bây giờ sang trọng lắm Đường phố đẹp dập dìu người mua sắm Nên nghĩ là tiền bạc đủ tiêu hoang
-Anh lầm rồi, giàu có chỉ nhà quan Còn vô sản như em toàn cơ cực Chạy miếng ăn đã tàn hơi mệt sức Không mong gì du lịch được đâu anh
-Giáng sinh này em sẽ lại loanh quanh Tiền không có mà tình càng chẳng có Đời vốn dĩ không thương người nghèo khó Em thở dài, anh chả biết nói sao đây!
-Đông Ry Nguyễn
CHÚA VÀ EM
Em một đời tin Chúa Ta một đời tin em Có thể nào em để Ta lạc loài đức tin
Chúa yêu em thánh thiện Ta yêu em nồng nàn Chúa lẽ ra phải khiến Ta sớm thành chiên ngoan
Mỗi lần em đi lễ Đọc bao nhiêu lời kinh Là hiên ngoài ta cũng Tụng bấy nhiêu thơ tình
Em không là gỗ đá Sao cứ hoài lặng câm Để buồn trên thánh giá Chúa nhìn ta ngại ngần
Hai ngàn năm Chúa vẫn Cứu rỗi người trần gian Em lẽ nào cứ để Linh hồn ta đi hoang
Em một đời yêu Chúa Ta một đời yêu em Lẽ nào em không thể Mở đôi vòng tay ngoan…
Đông Ry Nguyễn
THƠ XƯỚNG HỌA – PHƯƠNG HOA – NGUYỄN HUY KHÔI
MERRY CHRISTMAS 2025 – PHƯƠNG HOA
(Tam khúc liên châu)
GIÁNG SINH kính chúc thảy nhà nhà
Luôn gặp điều lành, phúc đáo gia
LẠC VIỆT thành viên mùa hạnh phúc
VĂM THƠ thân hữu tháng an hòa
Tiệc Réveillon tối hàng lô gift
Lễ CHRISTMAS đêm cả khối quà
CHÚA ngự trên Trời ban phép báu
Toàn cầu nhân loại thảy hòa ca.
*
Hòa ca đêm nhạc Thánh vô cùng
Gió buốt vờn xoay tuyết chập chùng
Máng cỏ vô tư chào khách lạ
Hài Đồng thánh thiện đón vui chung
Nam thanh má tựa vòng tay ấm
Nữ tú vai kề chớp mắt nhung
Mùa Lễ cầu bình an thế giới
Tạ Ơn Thiên Chúa – Đấng muôn trùng.
*
Muôn trùng PHÉP LẠ cứu nhân gian
CHRISTMAS đèn sao tỏa ngập tràn
CHÚA ngắm đàn chiên từ mán cỏ
MẸ ôm Hài tử tận cung vàng
Cầu xin thế giới gìn nhân nghĩa
Kính nguyện nơi nơi giữ thiện đàng
Khắp cõi ta bà đầy phước lộc
Nhà nhà hạnh phúc hưởng bình an
Phương Hoa – VTLV – GIÁNG SINH, 2025
BÀI HỌA NGUYỄN HUY KHÔI
ĐĂNG LỄ GIÁNG SINH
Đăng lễ giáng sinh đến mọi nhà
Tưng bừng đèn nến ấm tư gia
Phố phường trăm họ mưu an lạc
Xóm mạc muôn dân sống thái hòa
Lão đợi Chúa Trời nhanh độ phước
Trẻ mong Già Tuyết sớm trao quà?
Đất trời rực rỡ tràn hoa nắng
Chuông thỉnh hòa thanh khúc Thánh Ca!
*
Thánh Ca vang vọng đến không cùng
Cảnh sắc đan xen tỏa điệp trùng
Đơn chí?…họa tan mừng trải khắp
Trùng lai?… phúc đến thỏa trao chung?
Người về lưu luyến, lòng hoan hỷ
Kẻ đến bồi hồi, dạ nhớ nhung!
Trì độ – ơn trên dầy bể lượng
Trường ân Thiên Chúa mở trùng trùng…
*
Trùng trùng,…Đức Mẹ ngụ trần gian
Tuệ khí dọi soi ngợp ngợp tràn
Gần chốn bình dân tìm Máng Cỏ
Xa nơi quyền quý lánh ngai vàng”?”
Hoại trừ ngạ quỷ nơi hoang xú
Sinh khởi tự nhiên chốn Địa Đàng
Đức trọng, tâm khoan hồng Nước Chúa
Nhân loài đồng hưởng mãn ninh-an!
Nguyễn Huy KhôI – 14-12-2025
**
Tôi và Lễ Giáng Sinh –Sương Lam
*
BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ SƯƠNG LAM – MỘT CÕI THIỀN NHÀN
Đây là bài số bảy trăm chín mươi một (791) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ ORTB
Bây giờ là mùa Giáng Sinh. Mọi người mọi nơi hân hoan chào đón Chúa sinh ra đời.
Người viết tuy là một Phật tử nhưng vẫn luôn luôn chia sẻ niềm vui ngày Giáng Sinh với bạn bè thân hữu Công Giáo của tôi vì đối với tôi, Chúa giáng trần hay là Phật đản sinh đều đem tin vui đến cho tất cả mọi người, trong đó có tôi vì tôi vẫn nghĩ:
“Con của Phật hoặc là con của Chúa
Đều tin rằng có một Đấng Toàn Năng
Dạy con người phải luôn nghĩ nhớ rằng:
“Sống đạo đức, từ bi và bác ái”
và chúng ta luôn luôn ghi nhớ:
“Lời Chúa, Phật như suối từ ngọt mát
Chúa giáng trần hay là Phật đản sinh
Để dạy ta sống với một chữ Tình:
“Tình Nhân Loại với Thiện Tâm sẵn có”
Chữ Phúc Đức chúng ta đều hiểu rõ
Khi con người sống đạo đức thiện tâm
Thì phúc duyên là dòng nước chảy ngầm
Mang an lạc, thiện lành cho ta đó”
(Trích bài thơ Bình An Dưới Thế Cho Người Thiện Tâm của Sương Lam)
Tôi lắng nghe những bài thánh ca đêm Noel với sự trân trọng, tôi thấy lòng mình lắng đọng lại khi ngắm nhìn tuyết trắng rơi rơi vào đêm Giáng Sinh và tôi chia sẻ niềm vui với trẻ thơ khi nhìn những Papa Noel hay Santa Claus áo thụng đỏ, bụng bự, râu trắng vai quảy túi quà đi phân phát cho các em bé.
Tình thương yêu quý mến nhau đâu có phân biệt tôn giáo, phải không Bạn? Chúng ta đến với nhau với trái tim tình cảm, với nụ cười thân mến, với sự tôn trọng lẫn nhau. Tôi vẫn nghĩ thế.!
CA KHÚC ĐÔNG ƠI ĐỪNG VỘI – Nhạc: Mai Hoài Thu – Thơ: Pham Phan Lang – Giong ca Đông Nguyễn
Một ngày cuối Thu cách đây năm năm, khi Đông còn đang ngập ngừng nơi ngưỡng cửa, PL đã viết bài thơ Đông Ơi Đừng Vội.
Đông ơi đừng vội
*
Lìa cành lá rơi Thu qua mất rồi Đông buồn sắp về Hồn nghe tái tê
*
Đông ơi chậm thôi Ta đang vẫn ngồi Bên dòng nước cạn Nghe chiều nhẹ trôi
*
Mây bay lững lờ Thu buồn hắt hiu Trời chiều dịu êm Ta ngồi đợi đêm
*
Xa xa tiếng chuông Nghe thăm thẳm buồn Con chim lẻ loi Nhìn quanh ngó quanh
*
Thu chưa muốn đi Đông buồn vội về Ta ngồi đợi mưa Nghe cơn gió đùa….
Phạm Phan Lang 2/12/2020
Bài thơ Đông Ơi Đừng Vội đã được nhạc sĩ Mai Hoài Thu ưu ái phổ nhạc và biến thành một ca khúc sâu lắng, trữ tình. Ca khúc được trình bày bởi ca sĩ Đông Nguyễn, với giọng hát truyền cảm, nồng nàn.
Cũng từ bài thơ này và cũng với giai điệu Blues nồng nàn này của nhạc sĩ Mai Hoài Thu, nhạc phẩm Đông Ơi Đừng Vội đã tiếp tục được ca sĩ Nhất Chi Mai trình bày. Giọng hát đầy cảm xúc kết hợp với giọng bè nhẹ nhàng, lâng lâng ở cuối mỗi đoạn, khiến người nghe không khỏi xao xuyến và bồng bềnh trong một không gian cảm xúc rất riêng.
Xin chân thành gửi lời tri ân sâu sắc đến nhạc sĩ Mai Hoài Thu, ca sĩ Đông Nguyễn và ca sĩ Nhất Chi Mai, những người đã thổi hồn vào bài thơ mộc mạc này bằng những giai điệu và giọng ca tuyệt vời, giúp nó thăng hoa và đến gần hơn với người nghe.
Nhân ngày đầu Đông, xin mời quý vị cùng nghe lại bài hát cũ và kính chúc an vui.
Thân kính, Phạm Phan Lang
***
TIN TỨC TỔNG HỢP TỪ LÊ VĂN HẢI – VTLVMỜI ĐỌCBÊN DƯỚI:
MỘT THÂN HỮU NHẮC ĐẾN CA KHÚC “ĐÊM VÀNG” CỦA NHẠC SĨ TRẦN TRỊNH, SÁNG TÁC NĂM 2004. NHÂN DỊP RẢNH RỖI CUỐI NĂM, TÔI XEM LẠI HỒ SƠ ĐÃ CÓ TRONG MÁY VỀ NHẠC SĨ TRẦN TRỊNH VÀ HIỆU ĐÍNH VỚI NHIỀU TÀI LIỆU TRÊN INTERNET ĐỂ NHỚ ĐẾN MỘT NGƯỜI NHẠC SĨ HIỀN HÒA, ÍT NÓI, CÓ CHÂN TÀI CỦA TÂN NHẠC VIỆT NAM. MỜI QUÝ VỊ XEM VÀ NGHE NHẠC:
Một người cha đặt cây thông Giáng Sinh trong nhà cho các con trai và không bao giờ đem bỏ đi…
Đây là một truyện cổ tích đời nay làm cho ta càng yêu thích sự kỳ diệu của mùa Giáng Sinh.
Ngày xưa có một gia đình người Mỹ sinh sống ở thành phố nhỏ Wausau ở tiểu bang Wisconsin, miền Đông Bắc Hoa Kỳ. Cha mẹ nuôi dạy sáu đứa con trai thật đáng yêu, sáu cậu đều thích đi câu cá trên thuyền với cha . Khi mùa Đông đến, chúng chạy ùa ra vui thích trượt băng trên cái hồ cạnh nhà suốt buổi chiều ,rồi tranh nhau chạy về nhà để thưởng thức ly sữa sô cô la nóng một cách ngon lành. Rich, người em nhỏ nhất luôn trân quý vô số những kỷ niệm yêu dấu như thế.
Nhưng, từ nhiều năm nay, kỷ niệm thường trở về với cậu ta là cây thông Giáng Sinh được đặt ở góc phòng khách trong ngôi nhà tuổi thơ của cậu. Vào một ngày đẹp trời của tháng mười hai, lúc đó Rich chỉ mới 14 tuổi, cậu và các anh cùng với cha mẹ họ đem một cây thông vào nhà . Neil, người cha luôn tôn trọng tập tục về cây thông Giáng Sinh này, và không gì có thể thay đổi được việc ấy, cho dù các con đều đã trưởng thành. Cây chễm chệ ngự trong phòng khách, đó là cây thông thuộc giống Epica xinh đẹp cao hai mét rưỡi.
Rich vẫn còn nhớ mình đã treo những quả châu đầu tiên lên cây thông Giáng Sinh. Nhưng vài hôm trước ngày Giáng Sinh, một thư thông báo tin không vui giáng xuống gia đình họ: đó là hai anh lớn bị gọi đi nhập ngũ vào thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam. Người cha từng là cựu quân nhân của Thế Chiến Thứ Hai và Chiến Tranh Triều Tiên biết rằng thử thách ấy sẽ gay go như thế nào cho các con. Thế là ông đặt ngay một lời nguyền:
“Tôi chỉ dẹp bỏ cây thông Giáng Sinh khi mà tất cả các con tôi đều trở về sum họp trong ngôi nhà này.”
Neil đã tuyên bố lời nguyền đó từ năm 1974. Rich, người em út của gia đình, nay đã 55t và anh ta đã kể lại câu chuyện này một cách cảm động. Và vì lý do đã kể trên, cây thông Giáng Sinh của gia đình vẫn giữ nguyên vị trí ở phòng khách, đến nay đã được bốn mươi năm. Hai người anh đi lính đã an toàn trở về Mỹ từ cuộc chiến, nhưng một anh là thương binh hạng nặng và đang sống ở tiểu bang Washington, ở đầu mút bên kia của đất nước.
Tình trạng sức khỏe của anh chưa cho phép anh thực hiện chuyến trở về gặp mặt gia đình. Về phần cây thông Giáng Sinh, nó vẫn hiện ngang sừng sững và qua bao nhiêu năm tháng vẫn giữ được nguyên vẹn tất cả những đồ vật trang trí trên mình nó, không sót một món nào. Còn chàng Rich từ nay rất hãnh diện về cha mình cùng với “truyền thuyết” này của gia đình, anh ta còn đùa rằng cây thông Giáng Sinh trở nên thân quen như bàn ghế trong nhà và anh cũng không thèm để ý đến nó nữa.
Phần lớn những cây thông Giáng Sinh lần lượt rụng hết lá sau nhiều tháng không được ở ngoài khí trời, nhưng cây thông của Neil, tất nhiên cũng có vài lá thông bị vàng úa, nhưng cây gần như vẫn y nguyên. Ngay cả những vật trang trí và đèn đóm đều gần 100 tuổi rồi. Đó là một trong những cây thông Giáng Sinh hiếm hoi có chiều dài lịch sử. Và người cha giải thích sự kiện này một cách hết sức đơn giản:
“Những cành lá của cây thông Giáng Sinh của chúng tôi vẫn còn xanh tốt chỉ vì một nguyên do, đó là chúng chờ đợi con trai tôi trở về. Thật kỳ diệu thay! Nhưng tôi dám cá cược với quý vị là ngày mà con tôi về thì tất cả lá thông ấy sẽ rụng xuống.”
Ta hãy hy vọng rằng Giáng Sinh năm 2015 này, tất cả gia đình sẽ được sum họp đông đủ quanh cây thông Giáng Sinh kỳ diệu ấy.
Câu chuyện tuyệt vời trên đây nhắc cho chúng ta nhớ rằng Giáng Sinh chính là thời điểm để gặp lại người thân và sum họp để gia đình hưởng được những giờ phút đầm ấm bên nhau, và biết đâu, tin vào sự thần diệu của Giáng Sinh…
Nguồn: Eliane Hong,( tháng 10, 2015)- Thái Lan/ Nữ Lan dịch
MỪNG MÙA SAO SÁNG * Lê Hải đầu Văn Thơ Lạc Việt Hằng năm tổ chức hiến từ tâm Dâng lên ý nghĩa mùa sao sáng Đón Chúa niềm tin đẹp nở mầm * Chiều nhạc “ Mừng Mùa Sao Sáng “diễn Như vừa có Chúa hiện quanh đây Thiêng liêng trang trí hình Thiên Chúa Trình diễn không gian ấm áp đầy * Gợi nhớ tình quê nhiều kỷ niệm Năm mươi năm viễn xứ xa nhà Hài Đồng Cứu Thế thương nhân loại Nuôi dưỡng loài người góp tiếng ca * Giai điệu ngữ ngôn hòa trống nhạc Ca đoàn giáo xứ nhịp nhàng xinh Thời trang quốc tế màn phong phú Hợp tác đàn tranh uyển chuyển tình * Gió lạnh mùa đông vừa chạm ngõ Vui mừng nguyện Chúa xuống trần gian Bình yên thế giới mùa lễ hội Rực rỡ đèn hoa kết mọi đàng Minh Thúy Thành Nội Mùa lễ Noel 2025
Lâu nay, anh Chinh Nguyên đã khóa cái công cụ đếm views của trang nhà VTLV. Và mới gần đây P.Hoa nhờ thầy Thái Phạm mở ra để “Xem thử trang nhà chúng ta có nhiều khách viếng hay không.” P.Hoa đã nói với thầy như vậy.
Thầy Thái đã mở ra theo lời P.Hoa, và bữa giờ P.Hoa cũng không chú ý gì tới chuyện này. Cho đến hôm Thứ Bảy vừa rồi, P.Hoa tình cờ kéo xuống xem thử và thấy con số độc giả views lên tới… trên một triệu rưỡi! (1,521,121). Vui quá là vui!
Phương Hoa lẹ tay chụp lại màn hình, và đến bây giờ là sau gần 5 ngày, P.Hoa mới nhớ lại nên nãy giờ vô xem thử, thí thấy con số views đã lên tới (1,545,537) !! Quá tuyệt vời! như vậy chỉ trong vòng chưa tới 5 ngày mà trang nhà VTLV đã có gần 25,000 views!!!
Mong rằng quý vị quý anh chị tiếp tục chia sẻ trang nhà VTLV để ngày càng có nhiều người biết đến để lan tỏa văn thơ Việt tới nhiều người hơn nữa.
Phương Hoa – VTLV
**
Lời Chúc Mừng Của Hội Trưởng LÊ VĂN HẢI
Tùng! Tùng!…Tùng!
Xin trân trọng thông báo cho làng trên, xóm dưới, cô bác gần xa, bạn bè tít mù, một tin vui to bằng… cái đình…làng!
Trang Nhà Văn Thơ Lạc Việt (VTLV) đã chính thức cán mốc hơn 1 TRIỆU view rồi đó ạ! Đó là chút khiêm nhường thôi, con số chính thức trên một triệu rưỡi! (1,545,537)
***Trên một triệu! – vâng, không nhầm đâu, một con số có sáu số 0 đứng nghiêm chỉnh phía sau số 1 – là kết quả của bao tháng ngày Ban Biên Tập cặm cụi, gõ chữ đến mòn bàn phím, mòn ngón tay! sáng tác, sưu tầm bài vở đến “mòn con mắt!”, để bền bỉ dọn từng mâm chữ nghĩa tươm tất cho quý độc giả thưởng thức.
Nhưng… công lao lớn nhất, thành thật mà nói, thuộc về quý bà con, cô bác, anh chị em văn thi sĩ, bạn hữu, thân hữu khắp nơi, đã thương, đã mến, đã chịu khó “click” vô đọc, rồi “ghé” vô coi, rồi lại “lần sau nhớ ghé nữa nghen!”. Nếu không có tình thương, mến thương đó, VTLV làm sao có được ngày hạnh phúc hôm nay!
Nghe phong phanh đâu đó có luật mới: cứ 1 view đổi được 1 đô-la! Nếu đúng, thì xin cao nhân nào chỉ giúp VTLV, kẻo Ban Biên Tập mừng quá, bỗng nhiên trở thành triệu phú,… xỉu luôn! (À, mà có chi thì VTLV xin hứa… chia ngay 50% hoa hồng).
Một lần nữa, xin gởi lời tri ân cả nhà, cả xóm, cả làng, cả nước – nói hoài cũng không hết!
Chỉ biết rằng: trên 1 triệu view hôm nay, là niềm vui chung, là kết quả tình thân gắn bó, và là động lực, để VTLV tiếp tục bước tới, dọn thêm nhiều “mâm cỗ chữ nghĩa” tuyệt vời, ngon hơn nữa, để đáp lại lòng thương mến của Quý Vị!
Chúc Mừng Ban Biên Tập VTLV, xin được hô to:
“Cảm ơn! Cảm ơn! Cảm ơn nhiều lắm!”
******
LỜI “TÍN HỶ” CỦA MỘT THI HỮU
*
Chao ôi! Mừng quá – bạn tin yêu
Triệu triệu Quý Nhân loát mạng VIU
Mặc Khách Tao Nhân hòa tứ hướng
Văn Thơ Lạc Việt tỏa đa chiều…
In nhiều kẻ thẩm là Kỳ MỸ
Viết lắm người xem mới TUYỆT CHIÊU!
Vườn Mộng “tự nhiên hương hữu xạ”
Vươn tầm SÂU – RỘNG, chẳng hề kiêu.
Nguyễn Huy Khôi
02-10-2025
CÁC BÀI HỌA THƠ CHÚC MỪNG “TÍN HỶ” CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN HUY KHÔI
BÀI HỌASONGQUANG
NIỀM VUI CÙNG VTLV
*
Híhí ! Mừng ghê các bạn yêu
Trang thơ hơn triệu lượt người “ view”
Tao nhân đã đến hoà trăm hướng
Mặc khách đà xem tỏa vạn chiều
Kẻ thẩm văn thơ thì cảm hứng
Người am Lạc Việt sẽ tung chiêu
“ Hương thơm hữu xạ “ bay xa mãi…
Thành tựu ban đầu chớ ngạo kiêu
songquang
20251002
BÀI HỌA PHƯƠNG HOA
VTLV CẢM TẠ
*
Tuyệt quá! Triệu người đã quý yêu!
Trang nhà Lạc Việt ngút trời view!
Vì chưng tác phẩm từ muôn chốn
Nên rủ khách quan khắp mọi chiều
“Tòng bách” vung tay, tay…vút chưởng!
“Đa đề” vẩy bút, bút…tung chiêu!
VĂN THƠ LẠC VIỆT đầy hương sắc
Cảm tạ bao người, há dám kiêu!
Phương Hoa – VTLV – OCT 2nd, 2025
BÀI HỌA CỦA HOÀNG MAI NHẤT
NIỀM VUI CÙNG VTLV
*I
Tuyệt quá đi thôi Tín Hỷ yêu
Bên trời hạnh ngộ nhận tin view
Xứ người chữ nghĩa lan muôn hướng
Lạc Việt Văn Thơ tỏa mọi chiều
Thi phú rạng ngời truyền gợi hứng
Anh tài thỏa sức lộ ra chiêu
Góp phần phóng bút thời lưu mãi
Diễn tiến danh xưng thế chẳng kiêu
Hoàng Mai Nhất 10/3/2025
CA KHÚC DẤU THU – THƠ CAO MỴ NHÂN – NHẠC THÁI PHẠM
**
Ca KhúcSẮC VÀNG HOÀNG HOAThơ Cao Mỵ Nhân – Phương Hoa Thực Hiện
***
***
LỜI BÀI HÁTSẮC VÀNG HOÀNG HOA. – CAO MỴ NHÂN
SẮC VÀNG HOÀNG HOA. – CAO MỴ NHÂN
Vầng kim ô tỏa ánh vàng
Trưa nay người đợi em sang khai mùa
Một thời trận mạc hơn thua
Thương hoa thu nở lưa thưa đầu ghềnh
*
Giờ em bão táp lênh đênh
Vầng dương trôi giạt trên duềnh nước nghiêng
Đò ngang ai giấu ưu phiền
Cho nhau chuyên chở đoạn tiền vận đi
*
Thế rồi, gió thổi mây che
Đường hoang đón bước em về chơi vơi
Đông tây nguyên vẹn mặt trời
Tròn vo, hoan hỉ đón mời hào quang
*
Đỉnh cao, núi tặng riêng nàng
Cả không gian điềm sắc vàng hoàng hoa
Chúng mình hạnh ngộ cùng thơ
Mùa thu bát ngát vương tơ lửa tàn …
Hawthorne 7 – 6 – 2003
CAO MỴ NHÂN (HNPD)
13- 9 – 2025
***
Thơ Đường Xướng Họa– MỜI THU – NHƯ THU & THI HỮU
***
CÁC BÀI THƠ HỌA
PHƯƠNG HOA (HỌA)
***
SONGQUANG (HỌA)
***
NGUYỄN HUY KHÔI (HỌA)
***
SÔNG THU (HỌA)
ĐỖ QUANG VINH (HỌA)
CAO MỴ NHÂN (HỌA)
DUY ANH (HỌA)
ĐIỆP KHÚC THU
Thu dịu dàng cùng điệp khúc sang
Thu trao nhân thế nét đài trang.
Thu tô sắc nắng, làn mây bạc
Thu vẽ màu chanh, áo lụa vàng.
Thu gợi niềm thương, ngâm mấy vận
Thu khơi nỗi nhớ, viết dăm hàng.
Thu hoài nuối tiếc tình tri kỷ
Thu biết cho chăng mộng lỡ làng.
DUY ANH
SONQUANG(HỌA)
THU VÀNG
(bát điệp tự Thu & Vàng)
Cứ mỗi vào Thu lá lại Vàng
Chiều Vàng nắng nhẹ lúc Thu sang
Ô hay ! Thu nhạt Vàng hoa cỏ
Ờ nhỉ ! Thu Vàng đẹp sách trang
Thu diệp Vàng cây bừng ngõ xóm
Thu trăng Vàng đất khắp thôn làng
Võ Vàng Thu đến lòng dâng cảm
Vàng vọt hồn Thu họa mấy hàng
songquang
20250921
THÁI HUY(HỌA)
VÀNG SẮC THU HƯƠNG
(Nương vận họa vui)
Chớm Thu em diện lụa thêu Vàng
Khiến rực Vàng lên lúc cậu sang
Vàng biểu vu qui treo trước ngõ
Trầu Vàng đám hỏi xếp ngay hàng
Rể dâu dáng nổi duyên Vàng chuẩn
Hai họ Vàng khoe ý thật trang…
Khách dự thơ Vàng chung mến chúc
Vàng khâu hạnh phúc nhất trong làng.
Thái Huy 9/25/25
TRẦN CẨM THÀNH(HỌA)
CẢNH THU
(Bát điệp Thu)
Cây bến trời Thu rực ánh vàng
Chyển màu cảnh vật tiết Thu sang
Thu sơn lồng bóng mây vờn gió
Thu thuỷ gợn hình sóng rẽ hàng
Thi sĩ cảm hoài Thu đất mẹ
Sắc Thu tô điểm cảnh thôn trang
Hồn Thu bàng bạc từ muôn thuở
Thu nhuộm quan san đến xóm làng.
Trần cẩm Thành – Thu 2025
MỜI THU – BÀI XƯỚNG
(Bát điệp THU)
Gió nhẹ vờn THU quyện lá vàng
THU rằng mến bạn gửi quà sang
Ruộng đồng THU vẽ chào xanh lúa
Bức họa THU khoe ngắm thẳng hàng
THU biệt sông dài xa lữ thứ
THU về chốn lạ tủi đài trang
Đêm rằm nguyệt tỏ mời THU nhé!
THU đến mừng vui gọi cả làng!
Như Thu
09/17/2025
****
THƠ HỌA
THI SĨ MỪNG THU
(Bát điệp THU – Họa cùng Như Thu)
THU thăm Thung Lũng xứ Hoa Vàng
Chào đón THU mời lá đỏ sang
Bóng Hạ chập chờn THU đổi cảnh
Hồn THU bảng lảng bút xoay hàng
THU soi kiều nữ hừng dung diện
THU ngắm hồng quần ửng sắc trang
Thi sĩ mừng THU vời tuyệt tác
Trời THU trăng tỏ đẹp quê làng.
Phương Hoa – SEP. 17, 2025
***
NHẶT LÁ THU VÀNG
(bát điệp THU – Họa)
Cúi nhặt lá THU đã úa vàng
Thương thân phận lá mỗi THU sang
Không gian THU đến như thêm cánh
Thời tiết THU đi sắp có hàng*
THU viết âm thầm ghi ý nghĩa
THU vờn lặng lẽ ghép hành trang
Cuộc đời THU góp người bao mộng
Để lại tình THU đẹp xóm làng
songquang
20250918
*thu đi sắp có hàng = thu đi theo Xuân,Hạ, Thu ,Đông theo thứ tự
***
THU HỨNG
(Bát điệp thu -họa)
Trời xanh tràn ngập sắc THU vàng
Lành lạnh heo may THU chớm sang
THU ngả tre ru thanh nhất điệu
THU buông liễu rủ bóng song hàng
THU khai hội quán duyên thành ý
THU khởi thi đàn nghĩa thắm trang
THU nguyệt tửu châm nghinh bạn hữu
Ly hương THU biệt nhớ Quê Làng!
18-9-2025
Nguyễn Huy Khôi
**
THU CẢM
Lác đác rừng THU lá chuyển vàng
Bầu trời lãng đãng tiết THU sang
Mơ màng THU đến sương mờ lối
Xao xuyến THU về chữ ngập trang
THU cúc rộn ràng hoa mấy chậu
THU phong xào xạc liễu đôi hàng
Tâm hồn ngây ngất tràn THU cảm
Viết áng thơ THU kẻo lỡ làng.
Sông Thu – (21/09/2025)
***
VÀNG SẮC THU VƯƠNG
(Bát điệp VÀNG)
cmn
Mới sớm mà sao nắng đã VÀNG
Lá VÀNG theo gió cuốn thu sang
Thì ra son giá VÀNG khăn áo
Đã khiến VÀNG hoa rực lụa hàng
VÀNG núi sông kia về đỏ thảm
Trắng hồn thơ cũ đẹp VÀNG trang
Thương em VÀNG võ buồn tri kỷ
VÀNG lạc rừng phong, nhớ xóm làng …
Los Angeles 21 – 9 – 2025
CAO MỴ NHÂN
***
NÀNG THU HÉO HẮT
(Bát điệp THU)
Vào THU sắc đã thấy hoe vàng,
Nhuộm thắm mùa THU vẻ quý sang.
Gió rít rừng THU rụng hết lá,
Tựa THU quân thất bại tan hàng.
THU dung héo hắt giờ phai nhạt,
Thục nữ THU gầy hết điểm trang.
Thiếu nữ THU mình ngồi tiếc nuối,
Sắc THU thua cả lũy tre làng.
Đỗ Quang Vinh
21-9-2025
***
ĐẮM THU
( Bát Điệp Thu ) họa 4 vần
Nàng Thu dệt mộng điểm xinh vàng
Hỡi bóng Thu vừa bước nhẹ sang
Thỏa cảnh hồn sa Thu tứ phía
Hài Thu bút ngả giấy đôi hàng
Hoa hồng nắng nhạt Thu đài các
Áo tím Thu buồn nét diễm trang
Lá chuyển thay màu Thu quyến rũ
Thu rơi giẫm nhặt xác bên đàng
Minh Thúy Thành Nội
Tháng 9/28/2025
BÀI HỌA BẢO TRÂM
THU ẤY
Thu đến, lòng anh cũng úa vàng
Cửu tuyền em có biết Thu sang
Bao mùa những tưởng Thu chờ đợi
Mấy thủa đâu ngờ Thu rẽ ngang
Gió thổi Thu về ươm ảo mộng
Mây vờn Thu ẩn sắc đài trang
Nay còn Thu ấy, người xa nhỉ
Chững bước, Thu nao đã lỡ làng
BẢO TRÂM
BÀI HỌA MẶC KHÁCH
THU SẦU
Tĩnh lặng rừng Thu tỏa sắc vàng
Hồn Thu ngơ ngác gió đùa sang
Thu buồn lăng lẽ trong đêm vắng
Thu nhớ tù thăm phải xếp hàng
Ngày tháng Thu quên từng đứng đợi
Thu gom nhật ký với hành trang
Tình Thu ly biệt đời hư ảo
Thu đến làm chi-nhớ xóm làng !
MẶC kHÁCH
CẢM NHẬN TÌNH THƠ – NHƯ THU CẢM NHẬN VỀ NHỮNG BÀI THƠ HỌAMỜI QUÝ VỊ BẤM VÀO GÓC TRÁI KHUNG HÌNH ĐỂ LẬT TRANG
CẢM NHẬN TÌNH THƠ(tiếp theo)
Anh Chị thương mến,
Cứ ngỡ bài viết CẢM NHẬN TÌNH THƠ với 11 bài họa là khóa sổ rồi (bài họa của bạn hiền Minh Thúy là bài họa cuối cùng) nhưng không ngờ Như Thu nhận thêm 2 bài họa tiếp theo nữa, rất vui và cảm động vô cùng!
Mặc dù thi sĩ Bảo Trâm ít tham gia xướng họa, nhưng lần này anh đã dành chút thời gian tặng Như Thu bài họa thứ 12 là THU ẤY, cảm ơn Anh nhiều nhé!
Có phải từ lâu thi sĩ chất chứa niềm riêng sâu lắng, giữ kín trong lòng biết tỏ cùng ai? Như Thu thầm hỏi khi đối diện trước ba mùa Xuân, Hạ và Đông có ảnh hưởng gì đến Anh hay chăng? Rồi lại đoán thầm: hay là có đấy, nhưng không mãnh liệt chi nhiều chỉ thoáng qua: một phút chạnh lòng, một phút bâng khuâng…thế thôi, phải không anh?
Niềm riêng ấy tưởng chừng như đã quên, nhưng không làm sao quên được vì mỗi độ tiết Thu về đã đánh thức hồn thơ dâng trào lai láng và cũng từ đây kết hợp nỗi buồn ray rứt, ngỡ như đồng cảnh ngộ với nàng Thu
Thu đến lòng anh cũng úa vàng
Biết rằng âm dương cách trở sao dạ mãi mến thương bạn tình…nhớ nhung, nhung nhớ khôn nguôi, vì thế Anh ngập ngừng hỏi:
Cữu tuyền em có biết Thu sang?
Chao ôi, câu hỏi tuy nhẹ nhàng nhưng da diết buồn, nghe thương quá đi! Xin mời anh chị hãy đọc 2 câu thực, tác giả khéo léo ghê: dùng chữ không cầu kỳ, hoa mỹ nhưng đối rất chỉnh như sau:
“bao mùa những tưởng…” đối lại với
“mấy thuở đâu ngờ…” hay quá Anh ơi!
Bao mùa những tưởng thu chờ đợi
Mấy thuở đâu ngờ Thu rẽ ngang
Anh chị cũng đồng ý phải không nào?
Thi sĩ Mặc Khách đã tặng Như Thu bài họa sau cùng thứ 13 tựa là THU SẦU chan chứa nỗi sầu vây quanh suốt bài họa (bát điệp Thu) của một mùa Thu buồn tẻ quá đi thôi!
Anh Chị ơi! Nếu như có dịp rảnh rỗi chúng ta hãy chọn lấy một ngày đẹp trời nào đó để cùng với Như Thu đi viếng cả hai nơi đó là biển và rừng nhé! Sở dĩ Như Thu chọn hai địa điểm này bởi vì một bên là động và một bên là tĩnh. Nhìn bao quát hơn và so sánh dễ dàng hơn vì dưới mây trời một vùng biển rộng vô bờ, chúng ta cảm nhận mình nhỏ bé trước biển cả rì rào, âm thanh gián đoạn, khi thì sóng vỗ lào xào, có khi giận dữ, nhìn kia xa xa có đàn chim hải âu lượn lờ trên ngọn sóng để săn mồi chuyển động không ngừng.
Tiếp theo chúng ta hãy đi vào khu rừng vắng vẻ, ngồi dưới một gốc cây, khép hờ mắt, loại bỏ lao xao trong đầu, thôi nghĩ ngợi thư giãn đi sẽ thấy tâm hồn mình tĩnh lặng làm sao!
Tỉnh lặng rừng thu tỏa sắc vàng
Một cơn gió nhẹ hiu hiu cũng khiến cho nàng Thu ngơ ngác…
Hồn Thu ngơ ngác gió đùa sang
Cảnh vật nên thơ quá đi!
Bóng thời gian trôi nhanh, chẳng chờ đợi ai, bởi thế mùa thu cũng không ngoại lệ, đà quên lửng tháng ngày vẫn lạnh lùng trôi
Ngày tháng Thu quên từng đứng đợi
Một buổi sáng bình yên nàng Thu xếp lại hành trang từ giã khu rừng tĩnh mịch ấy!
Thu gom nhật ký với hành trang
Rừng ơi xin chào mi nhé!
Lời kết:
Một lần nữa Như Thu xin cảm ơn tất cả Nam Nữ/Thi sĩ rất nhiều đã thương mến gửi tặng 13 bài họa gói ghém tình cảm đậm đà ấm áp và những câu đối thật chỉnh tuyệt vời lắm người ơi!
Như Thu xin chúc cả nhà vui khỏe, hạnh phúc và thân tâm thường lạc.
Thương mến,
Như Thu
10/05/2025
NHỮNG LỜI HỒI ĐÁP VỀ BÀI CẢM NHẬN CỦA THI SĨ NHƯ THU
NHÀ THƠ Nguyễn Huy Khôi:
Thành tâm, xin có đôi vần thô mộc, mạo muội thay mặt cả nhà cảm ơn Tỷ Như Thu đã có bài viết công phu, sâu sắc, kịp thời động viên thi huynh thi hữu,thay cho liều thuốc bổ dưỡng hơn cả “đương quy nhất vi thị tiên đan”
Kính!
Hiền đệ Nguyễn Huy Khôi.
THAY LỜI ĐÁP TẠ
(Kính tặng tỷ Như Thu!)
Được tiếng động viên tựa cởi lòng
Ngọc Châu khôn đổi trái tim nồng!
Bình ngôn khiêm hạ ngời tâm thưởng
Nhuận sắc minh chân vẹn khí đồng
Đo đắn câu vần đâu quản sức
Tận tường ý tứ quản chi công…
Tri âm đắc kỷ cầu an lạc
Chúc Tỷ muôn Xuân hưởng Phước Hồng!
Nguyễn Huy Khôi
******
NHÀ THƠ Sông Thu
Sông Thu rất cảm động và vô cùng thán phục khi đọc bài cảm nhận của Như Thu. Cảm động vì tác giả đã đọc rất kỹ và đồng cảm sâu xa với bài họa của mình, thán phục vì NT đã có nhận xét thật đầy đủ và tình tế đối với từng bài họa. Điều này làm cho ST, và có lẽ các thi hữu khác cũng thế, vô cùng cảm kích vì thấy thơ của mình được trân trọng làm sao ! Cám ơn Như Thu thật nhiều và cũng xin cám ơn anh Huy Khôi đã thay lời mọi người gởi lời cám ơn đến NT qua một bài thơ thật hay.
Xin gởi đến Như Thu và các thi hữu lời chúc sức khỏe, niềm vui và hạnh phúc.
Sông Thu
01-10-2025
***
NHÀ THƠ songquang
Như Thu ơi ! Anh SQ chưa kịp gởi lời khen đến NT thì thi hữu Sông Thu đã nói lời khen tặng đến NT rồi và đã nói rất đủ ý những gì NT viết trong bài cảm nhận.Hết ý và lời rồi nên anh SQ đành buông 2 tiếng khen NT là “ TUYỆT VỜI” hay hơn thế nữa là “ TRÊN CẢ TUYỆT VỜI” nhé! Và cũng mượn lời thơ của thi hữu NHK là cám ơn NT với tất cả chân tình . Sẵn đây cũng không quên tỏ lòng khen ngợi và cám ơn Phương Hoa đã chăm sóc cho vườn hoa Thu đượm sắc màu cũng nhờ PH vun xới.
Xin trân trọng đến các bạn
songquang
20251001
***
NHƯ THU:
Như Thu xin cám ơn lời khen khích lệ của anh Huy Khôi cùng chị Sông Thu.
Rất vui vì bài viết được đón nhận quá nhiệt tình.
Cũng không quên cám ơn Phương Hoa đã nhanh tay post bài nhé!
NT xin góp họa cùng anh Huy Khôi vì thơ xướng ngọt ngào quá đổi!
Chúc cả nhà vui khỏe luôn!
Như Thu
CẢM TẠ HIỀN HUYNH
Vần thơ đón nhận quả ưng lòng
Chắc mẩm từ nay giấc điệp nồng
Học hỏi bao điều tâm mực thước
Lo âu bấy vận nghĩa tương đồng
Hoàng hôn thỏa ý luôn nhờ bạn
Hửng sáng ghi bài chẳng nệ công
Cảm tạ hiền huynh vừa chấp bút
Dường nghe hổ thẹn má thêm hồng!
Như Thu
10/01/2025
***
NHÀ THƠ CAO MỴ NHÂN:
Thưa quý Thi Sĩ và Nữ Sĩ NHƯ THU vô cùng quý mến,
Sau Thi Sĩ NGUYỄN HUY KHÔI, là Nữ Sĩ SÔNG THU, 2 cây thơ cổ thụ Bonsai thành tích sáng tác với tất cả mọi đề tài, Cao Mỵ Nhân xốc đứng ông GÙ ( Google ) lên , để muốn hỏi ông GÙ rằng ông có thể tìm cho Mỵ tôi một số từ ngữ nào, diễn tả lòng ngưỡng mộ quý vị Nhà Thơ đương nêu ( trừ bản ngã ) rằng thì là có thể nói :
Quý ông : Đỗ Quang Vinh, Song Quang, Nguyễn Huy Khôi , Trần Cẩm Thành, Thái Huy , Duy Quang
Quý cô : Sông Thu, Phương Hoa, Minh Thúy và chủ xướng Như Thu .
Tất cả là 10 ngôi sao “ MỜI THU “ chói sáng nơi bàn thơ ( thay vì chiếu thơ ) ,
mà nếu tiệc mặn thơ thì đúng một thồi, thưởng thức những thi đơn quý hiếm hơn bất cứ không gian nào, đang rực rỡ Thu Vàng sắc lá phong kiều diễm, xin mời đọc lại nơi bài “ CẢM NHẬN HOẠ MỜI THU CỦA NHƯ THU “.
Mỗi vị một bài họa, riêng Thi Sĩ Song Quang 2 bài tả hữu cộng tri thu .
Trong tinh thần “ CẢM NHẬN THƠ XƯỚNG HOẠ “ , Mỵ tôi cũng bắt chước NHƯ THU, nói ra cái điều mình muốn viết vì sao.
Đó là sự hiện diện gần như tạm đầy đủ các danh thủ bút hoa :
Song Quang , Sông Thu, Phương Hoa, Minh Thúy với sự nghiệp thơ e đã quá tải.
Nay thêm Huy Khôi vừa “ tái hồi “ Thơ trọng , không phải Tái hồi Kim Trọng như trong “ Đoạn Trường Tân Thanh của cụ Nguyễn Du “ , nghĩa là mới hai tuần nay, Mỵ tôi đã đếm được gần trăm bài cả xướng lẫn họa của Nhà Thơ Huy Khôi.
Quý cụ Giáo Sư Đỗ Quang Vinh vừa thưởng thu vàng ở Canada cùng phu nhân qua bức hình tuyệt đẹp của hai cụ .
Nhà Thơ Thái Huy thời gian trước đây cũng sáng tác Thơ mệt nghỉ, liên tục , nay
chắc tạm ngơi, đếm lá thu rơi tuyệt vời từng lá để ngẫm câu “ ngô đồng nhất diệp lạc “.
Thi sĩ Trần Cẩm Thành xuất hiện như một khách thơ, nhàn lãm nguồn vui bất tuyệt .
Vị Thi Sĩ trẻ trung nhất hội Thơ lâu nay, mang cả một hoài bão tiếp nối hoài bão xưa của ông , quan võ Duy Anh , cũng đang bước vào hàng kiện tướng xướng họa hàng loạt không ngơi nghỉ đề tài , dẫu thế thái T2 Trump xứ tạm cư , hay Như Thu tha nhân tình nghĩa . Nhưng với Nhà Thơ Chiến Sĩ Không Quân VNCH Duy Anh, thì có thể sẽ là Thơ mọi sắc thái khác nhau .
Thế thì, thật ra Cao Mỵ Nhân chỉ muốn gởi lòng ngưỡng mộ Thơ và Thi nhân qua xướng họa MỜI THU của Nữ Sĩ NHƯ THU qua cảm tính thi ca bất tuyệt vậy .
Xin lỗi quý vị viết dài lẩm cẩm quá.
Kính chúc VẠN AN , Thơ Ca vô tận .
CAO MỴ NHÂN
***
CHÙM THƠ THU CỦA NHƯ THU
NHỚ THU
(Độc vận)
Ta đợi lâu rồi hẳn nhớ Thu
Ta thầm hy vọng sánh cùng Thu
Ta hòa bảy nốt xin mời bậu
Ta chép đôi hàng gởi tặng Thu
Ta mải chờ trông nào toại ý
Ta hoài nghĩ ngợi ước dìu Thu
Ta đành cặp bến về thôn dã
Ta biết bao giờ gặp gỡ Thu?
Như Thu
***
BÀI HỌA – MINH THÚY
Đợi Thu
(Thủ Nhất Thanh)
Đợi mãi từng ngày tím dáng thu
Đợi chiều nắng úa lịm trời thu
Đợi mây ủ ngọt vờn chim én
Đợi tóc pha nồng thổi gió thu
Đợi buổi màn sương nhàu cỏ lá
Đợi giờ ánh nguyệt nhạt màu thu
Đợi gom dĩ vãng hồn ngây dại
Đợi hiến dâng tình níu bóng thu
Minh Thúy Thành Nội
Tháng 9/28/2025
09/17/2025
THU SẦU
(Bát vĩ đồng âm)
Dõi ánh trăng rằm bởi lụy ai?
Sầu hoen dạ tủi suốt canh dài
Bờ mi nhoè nhoẹt hồn tê tái
Cảnh trí im lìm sắc nhạt phai
Một bữa thuyền neo nhìn ái ngại
Đôi phen sóng vỗ tự an bài
Chiều thu lá rụng vườn hoang hoải
Ấp ủ bao mùa trĩu nặng vai!
Như Thu – 09/17/2025
***
BÀI HỌA MINH THÚY
Mùa Thu Đi Một Nửa
( Ngũ độ thanh )
Mỗi lúc thu về tự hỏi ai
Nhiều khi trở giấc giữa đêm dài
Ru tình huyễn ảo tìm hương nhạt
Rũ dạ mơ hồ điểm sắc phai
Nẻo cũ trăng thề thua mệnh chấm
Đường xưa cảnh hứa chịu duyên bài
Mùa đang trỗi dậy niềm nhung nhớ
Lệ đẫm mi nhòa ướt khoảng vai
Minh Thúy Thành Nội
Tháng 9/28/2025
***
CHÙM THƠ THU – SONGQUANG
THU CẢM
Sáng nay thấy bỗng hơi se lạnh
Bên tách trà mông quạnh ngó ra
Sương Thu phơn phớt la đà
Ô hay ! Thu đến hiên nhà rồi cơ !
*
NẮNG THU
Hè đã hết đâu còn phượng đỏ
Thu lại về mở ngõ trời không
Làn mây xam xám mênh mông
Nắng thu nhàn nhạt khiến lòng bâng khuâng !
*
CHIỀU THU MƯA
Chiều một mình nhìn Thu lãng đãng
Chợt thấy lòng nhớ quảng ngày xưa
Cũng chiều thu ấy rơi mưa
Là ta ngỏ ý mới vừa yêu em!
*
TRĂNG THU
Trăng Thu trải khắp ngời hoa cỏ
Bên vườn khuya Nguyệt tỏa chơ vơ
Thời gian sao khéo hững hờ
Sao không nói thật trăng giờ già chưa ?
*
TUỔI THU
Tuổi thu giờ bao nhiêu Xuân đã…?
Mà dung nhan chẳng ngã phôi pha
Dù qua bão táp phong ba
Thu đi thu lại vẫn là hương thu !
*
songquang
20250917
***
THƠ MẶC KHÁCH
DÁNG THU
Thu về lay nhẹ cánh phong Lan
Hoa nở hương bay sắc điểm vàng
Sương ánh tơ hồng chờ Lãng từ
Gió reo rộn rã đón Giai nhân
Tình Thơ xúc cảm âm thầm nhớ
Xao xuyến trong lòng mãi chẳng tan
Em có nghe cung sầu thổn thức
Vui bên nhau kẻo chóng phai tàn !
MẶC KHÁCH
***
HOANG LẠNH
Buồn theo chiếc lá từ lúc người đi
Rừng đang thay lá chẳng thấy tin về
Mùa Thu yêu thương hay mùa thu chết
Hàng cây lặng buồn rừng lá tái tê
*
Tình đã chia xa tình như đã chết
Rồi trong cơn mê còn ai đợi chờ
Tình đến rồi đi tình không trở lại
Dù mưa hay nắng thấy mình bơ vơ
*
Tiếng gió xa đưa lời ai giã từ
Tình ngỡ dài lâu đâu ngờ mong manh
Hồn như chết lặng nhìn nhau lần cuối
Vệt nắng chiều tàn ngơ ngác xoay quanh
*
Em đã đi rồi anh vẫn nơi đây
Gió mùa trở lạnh, lạnh suốt đêm dài
Núi rừng hoang vu từng cơn gió lạ
Lưu luyến trần gian chắc chẳng còn ai
*
Nắng tắt vội giữa núi rừng buồn lắm
Đông cũng tàn gió lạnh buốt xương da
Cảnh thê lương sao nỡ đành bỏ lại
Để hồn anh Hoang Lạnh giữa chiều tà !
MẶC KHÁCH
***
THƠ CAO MỴ NHÂN
***
**
***
***
CA KHÚC THU TÍM – THÁI PHẠM
THƠ LÊ MỸ HOÀN
MÙA THU NƠI ĐÂU
Lơ lửng bầu trời kia xanh mãi
Khung cửa lùa một cụm mây trôi
Sao chợt thấy lòng như rất lạ
Trước sân vừa chiếc lá thu rời
*
Hay ta chiếc lá vàng hôm ấy
Lỡ độ thu nào rớt chốn đây
Đôi lòng cũng lỡ câu hò hẹn
Vầng trăng thu xẻ đã bên trời
*
Hay ta chiếc lá vàng hôm ấy
Ngoài song đôi mái tóc còn xanh
Tháng Mười hoa cúc tay thơm ngát
Đặt lên môi mùa Thu ngất ngây
*
Hay ta chiếc lá vàng hôm ấy
Tiếng hạc ngàn thu gọi lối xưa
Heo may tóc trắng bên thềm vắng
Màu xanh cây lá chợt hong vàng
*
Mùa kia đã đổi từng câu hát
Xa đưa ty trúc tận quê nhà
Anh có nhớ chăng trời chuyển gió
Đâu tiếng tiêu hồn một cõi ta.
Lê Mỹ Hoàn – 8/2024
*
ÁO HOA TRÊN PHỐ
Se sắt vào thu hơi gió lạnh
Áo len khoác nhẹ ấm bên mình
Mỉm cười với bông hoa phù dung
Hè đi trong im lặng
Cơn nóng mới hôm qua
Anh như mùa Thu êm dịu
Tấm khăn san đủ màu
vừa quàng cổ
Ước mơ cũng vui trên giá vẽ
Chiếc cọ màu chấm được nụ môi hôn
Tư tưởng của tình yêu rạo rực
Cả sóng mắt trong xanh
Làn da se lạnh gió heo may
Sợi giây nơ buộc áo sau người
Tóc bay thì thầm nghe mùa thu nói
Cỏ hanh vàng rực rỡ bước chân êm
Màu rớt rơi óng ánh mé bên thềm
Qua khung cửa ai vừa nhìn lén
Em chợt thấy thu
Hàng cây gầy đang chuyển lá
Nắng hanh nồng rớt nhẹ
Hè mới đi rồi em khẽ mở
Cánh cửa hồn thu và giấc mơ
Tiếng xôn xao ngoài gió
Những tà áo bay muôn màu đang
rực rỡ phố thu lên.
Lê Mỹ Hoàn – 9/2024
*
NĂM MƯƠI NĂM CHỪ TA Ở ĐÂU
Năm mươi năm chừ ta ở đâu
Năm mươi năm lạc thế kỷ nào
Sao ta như vẫn còn ngơ ngác
Quê nơi kia lại lạc mất nhau
*
Năm mươi năm chừ ta ở đâu
Lòng chưa vơi một chút u sầu
Dòng sông dải lụa mây còn trắng
Hay bóng thời gian ngập sóng sâu
*
Bao nhiêu năm giặc tràn trước ngõ
Quách thành thiên cổ cỏ vây quanh
Nước cuộn bèo trôi về muôn ngả
Chiều buông sông Cửu sóng ngời hoa
*
Giang hà nước biếc lòng khôn tả
Trầm tích xưa tịch bóng dương tà
Vời vợi nỗi lòng sầu thăm thẳm
Nước mắt trôi dòng biển bao la
*
Ta đi chân mỏi không dừng bước
Nhớ một cuộc tình qua đã lâu
Tóc em dài thơm mùi hoa bưởi
Và trăng sao rớt xuống lòng ao
*
Năm mươi năm em nhớ gì không
Tưởng như xa lắm tận cõi lòng
Năm mươi năm ta từ đâu đó
Ta từ đâu một thuở rất xa
*
Lòng hướng về đâu vời cố thổ
Lập bàn thờ vọng bái năm qua
Nơi đình làng hương trầm nghi ngút
Áo hoa hoè gấm đỏ xanh ngà
*
Lấp lánh hồn chôn vùi dĩ vãng
Dần qua dòng hóa thạch ngàn xưa
Năm mươi năm còn bao chờ đợi
Để chút tàn mơ một bóng cờ.
Lê Mỹ Hoàn – 9/2025
Beautiful oak tree on a lawn with the setting autumn sun shining warmly through its leaves
Suốt tuần nay loay hoay sửa soạn hành lý cho buổi họp mặt dưới Santa Ana. Lòng buồn vui lẫn lộn, có lúc ngồi sững sờ nhìn ra cửa nghĩ ngợi mông lung … Chúng ta ai cũng có ký ức về tuổi thơ. Nhớ thuở lên bảy được cha dẫn đến trường buổi đầu tiên, thuộc lòng đoạn viết của nhà văn Thanh Tịnh “Tôi Đi Học”.
“Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.”.
Nói đến chuyện giáo dục học đường và chuyện “Tôi Đi Học”. Mấy hôm nay xem tin tức trên nét hoặc đài Sài Gòn 57.3 chương trình bình luận của cô Hoàng Vy. Hình ảnh ngày tựu trường các miền xa gần rừng núi bên VN, cô giáo đèo cõng các em lội qua con suối, gây lòng xúc động mãnh liệt. Từ lâu tôi vẫn thường ám ảnh những trẻ thơ ham học, nhà nghèo lội sông như vậy. Muốn thực hiện sự quan tâm của mình với đồng tiền chắt chiu nhỏ nhoi, nhưng rồi sợ đủ điều khi đọc những bài viết khuyên lơn: Không chuyển tiền về VN làm lợi Cộng Sản có tiền tệ, dù là người thân cũng phải hy sinh. Trí óc tôi thấp kém chỉ thấy trước mắt cha mẹ mình đau yếu cần chữa bệnh, anh chị cần cơm gạo trong hoàn cảnh khó khăn, các cháu cần đóng tiền vào Đại học. Những việc xa vời hơn thì nghi ngờ, chẳng dám tin ai khi xã hội đào tạo thành phần tham nhũng, cắt xén quá nhiều. Chỉ còn niềm tin nơi những chân tu Phật Giáo hoặc Cha bên Công Giáo, nhưng rồi vấn đề sợ hãi nhất vẫn là sự bình luận của người thân, chưa kể bên ngoài “lớp trên ăn no, dư bạc gởi con du học và chuyển tiền ra nước ngoài, hoặc những vụ ăn hối lộ giàu có tiền rừng bạc biển, tại sao không để họ làm mà người nước ngoài phải giúp.” Tôi không phải là nhà tỷ phú Nguyễn Thị Phương Thảo chủ tịch Sovico tài trợ gần 212 triệu đô la Mỹ tương đương 155 triệu bảng Anh, cho trường Linacre College của nước Anh, được hội đồng dự tính sẽ thay tên trường là Thao College. Tôi chỉ biết ngậm ngùi đau xót, rơi lệ nhìn biết bao nhiêu trẻ em lội qua sông, mình mẩy ướt dầm vào lớp học. Có lần liên lạc với vị mục sư, gặp người vợ kể chuyện: mục sư về VN lựa những nơi đông dân cư quá nghèo khổ, nếu đến địa phương nào chính quyền đòi nhúng tay vào việc, mục sư bỏ đi và chỉ thực hiện cùng dân hợp sức chung nhau xây cất cầu. Suy đi nghĩ lại rồi sợ đủ điều như kể trên và lòng thì luôn xót xa, nhất là đối với lứa tuổi trẻ thơ cần đi học. Ôi quê hương còn quá nhiều cảnh nghèo đói thiếu thốn nhu cầu ngay trong môi trường giáo dục quan trọng.
Lòng rung cảm dạt dào về tuổi thơ, về thời dưới mái trường xưa. Đồng thời tôi cũng cảm nhận nỗi buồn xa vắng. Hình ảnh ngôi trường Nữ Thành Nội hiện ra trước mắt. Thành phố Huế có thêm ngôi trường nữ thứ hai được thành lập năm 1964 trên con đường Đinh Bộ Lĩnh, để giải quyết tình trạng trường Đồng Khánh không đủ lớp, và giúp học sinh trong thành tránh nguy hiểm qua đò sông Hương dưới trời mưa gió của mùa đông. Ngôi trường do cô hiệu trưởng Tôn Nữ Tiểu Bích điều hành cho đến năm 1975 thì mọi sự đều thay đổi. Biết bao nhiêu kỷ niệm thời áo trắng hồn nhiên dễ thương. Tôi nhớ nhiều cô giáo thành goá phụ sau tết Mậu Thân vào dạy học. Cô H mái tóc thả buông lơi, nét mặt buồn rười rượi trong bộ áo dài đen. Bạn tôi mê nét đẹp như tranh ấy, buổi trưa dưới bóng nắng gay gắt “chân theo chân nhặt bóng nắng đường dài,” bạn nói “mình bị nét buồn ấy thu hút cứ muốn theo cô hoài.” Hầu như học trò ai cũng mê cô Tuyết Nhung vợ thầy họa sĩ Đinh Cường, cô mặc áo dài do thầy vẽ, dáng cô ốm gầy, tóc ngang vai như nàng thơ. Cả lớp đứng xếp hàng chờ thầy xuống để vào lớp, nhưng chẳng ai để ý đến thầy mà cứ ngoái cổ nhìn bóng dáng cô đi xuống lớp khác, cho đến khi thầy lớn tiếng “các em ngắm đủ chưa?” mới chợt tỉnh đi vào lớp. Nhớ rất nhiều thầy cô, thế hệ ấy giờ đã trên dưới 90 tuổi và lần lượt ra đi…
Mỗi khi có họp mặt hay có thông báo, cựu nữ sinh đóng góp, chị Xuân Ba chuyển về ban xã hội bên VN, các chị em chia từng nhóm đem quà đến thăm cô thầy vào dịp Tết, hoặc sau mùa lụt, hoặc thầy cô bệnh. Những tấm hình gởi qua group NTN, được nhìn lại cô thầy thật vô cùng xúc động và trong lòng học sinh có chút hãnh diện về tình nghĩa chị em NTN luôn nể trọng như câu “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư “. Chưa kể hai cô hiệu trưởng trường Đồng Khánh và Thành Nội còn phối hợp quyên góp giúp Thương phế binh VNCH và được học trò hưởng ứng mạnh mẽ thể hiện sự biết ơn và lòng nhân ái.
Tính 60 năm xây dựng ngôi trường thì sang năm mới đủ tuổi, nhưng năm nay chị Xuân Ba cố gắng tổ chức sớm hơn buổi họp mặt khi thấy cô hiệu trưởng tuổi cũng gần 90, và có dấu hiệu nhớ nhớ quên quên. Chị lên trang nhà NTN mời tham gia, cô Đạm Tuyết cũng nhắn qua điện thoại số danh sách nắm trong tay. Có lẽ vì lý do bận rộn không đi được, nên chị em ngại ngần tránh lên tiếng trả lời, một số đã tâm tình riêng với tôi
– chị ơi! em ao ước được thăm cô và có dịp gặp bạn bè lắm, nhưng không thoát được. Các con đi làm, giữ bốn cháu nội ngoại, chồng đưa đi học hai đứa lớn, em giữ hai cháu và nấu ăn
– Hãng đang cần việc, em không dám xin nghỉ sợ họ lai-off
– Muốn đi lắm, mà sức khỏe không tốt, chân di chuyển một tí là sưng vù sau lần té bị nối xương
– Em rất mong thăm cô hiệu trưởng mình, nhưng chồng đang bịnh không chở được.
– Dâu mới sinh một tuần, phải ở nhà chăm sóc cháu, lỡ dịp uổng ghê
– Quá tiếc vì phải bay qua Texas nuôi dâu sinh
Một bạn tuy đã ở tuổi hạc nhưng chất xám còn nhiều, vẫn theo đuổi việc học, trùng ngày tốt nghiệp ra trường nên đành vắng mặt bên này.
Bạn gần khu PLT, đã bàn tính hăng say sẽ gặp tôi và thăm Cô, đúng thời điểm em trai đi chơi xa, bạn tiếc nuối:
– Em trai chăm sóc ba mạ, giờ đi chơi xa thì mình phải đến thay thế nhiệm vụ, cho em nghỉ ngơi đổi gió bên ngoài.
Chị trưởng ban văn nghệ ở Colorado mấy ngày trước nhắn qua lại với tôi và bạn khác:
phải tập thuộc bài hát “Trường Làng Tôi” trình diễn mục tam ca, hoạt cảnh Mỵ Nương, Trần Khắc Chung và vua Chế Mân trong bản nhạc “Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi ). giờ phút cuối bị sưng chân và đau lưng dữ dội không lết được. Bạn thân cũng đang du lịch bên Châu Âu chưa về. Tin giờ chót các bạn đã ghi tên: Người cảm cúm nghi bị covid. Người có đứa con bịnh mọi hôm mẹ đi đâu nhờ anh trai giữ, nay anh trai là huynh trưởng gia đình Phật Tử phải dự lễ quan trọng nơi Chùa.
Tôi hít sâu thở nhẹ trong lúc tinh thần đang đi xuống. Mùa thu đã về, lá chưa biến sắc vàng và gió chưa “tung bay từ muôn phía, tới đây ngập hồn em” để lòng nghe chơi vơi… Buồn thiếu bạn. Buồn cái duyên không thuận theo ý muốn. Nhưng thôi gạt bỏ, có bao nhiêu người cũng quý. Biết ra sao ngày mai, cứ vui lên từng phút, từng giây, từng giờ trong hiện tại. Tôi cố lấy lại niềm tin yêu.
Anh Tân đón tôi về nhà, đáng lý có thêm cặp vợ chồng từ Houston qua ở chung nhà, bất ngờ người chồng lớn tuổi sức khỏe yếu kém không lượng sức nỗi. Anh Phước chị Thí đón các chị từ Seattle qua, đón các em và cô Tiểu Bích từ Sacramento tới. Nhiều bạn đến từ Houston., vợ chồng từ Oklahoma, San Diego, vùng Santa Ana một số nữa, bên Việt Nam có hai em qua dự.
Lần nào tổ chức cũng do hai ông rể Phước và rể Tân luôn tài trợ tiền bạc, bỏ công vất vả đưa đón nhiệt tình chị em về nhà. Nhờ vậy chị em mới có buổi hội ngộ thân tình vui chơi gần gũi cô giáo thể hiện tinh thần “tôn sư trọng đạo”.
Ở lứa tuổi trên dưới sáu mươi thì còn cày, trên dưới bảy mươi ai không bệnh mới là lạ, nhưng nếu còn ít sức khỏe các con tha hồ nhờ vả mà “lòng mẹ thì luôn bao la như biển thái bình”. Chồng tôi cũng bị bệnh Parkinson nặng, tôi nhờ người chở tới xe đò Hoàng. Còn bốn ngày nữa họ gọi phone giọng nghe cảm nặng và ho sùa sụa báo tin bị nhiễm covid. Cuối cùng ông xã tôi hứa sẽ chở, nhiều người ngăn cản nhưng ông bảo đảm sức khỏe.
Chủ nhật anh Tân chở chúng tôi về nhà vợ chồng anh chị Phước Thí vùng Rosemead thuộc quận hạt Los Angeles. Lần này chị Xuân Ba bàn tính mượn nhà chị Thí cho gọn theo số người ghi danh tham dự, thức ăn theo kiểu “Potluck”. Chị Thí lo nồi bún bò, nồi bún chay và nhờ em dâu phụ nhiều việc. Các chị em đem thức ăn ngập mặt nào bánh lọc trần, bánh ít ram, bánh đúc, gỏi mít, gỏi vả trộn, bánh bao… v… v…
Cô Hiệu Trưởng nhan sắc vẫn mặn mà. Gặp trò cô rất vui, trao ánh mắt yêu thương nhìn bầy chim tung cánh lạc loài khắp nhiều phương trên đất Mỹ. Học trò tha hồ chụp hình, kéo cô ngồi trước rừng hoa vàng, đứng bên giàn hoa giấy đỏ.
Buổi lễ trang trọng do anh Phước điều khiển chương trình, chào cờ Việt Mỹ và mục tưởng niệm. Chị Xuân Ba ngỏ lời cùng chị em, sau đó cô Tiểu Bích có vài hàng vắn tắt với nụ cười hiền hoà, vui vẻ thân mật. Mở đầu chương trình văn nghệ là màn hợp ca “Học Sinh Hành Khúc” (Lê Thương). Lần lượt chị Xuân Ba ngâm bài thơ “Cô Nữ Sinh Thành Nội”. Phương Chi “Nỗi buồn Hoa Phượng” (Thanh Sơn). Tam ca Thuý, Chi, Xuân Thảo “Trường Làng Tôi” (Phạm trọng Cầu), anh Xuyến “Hoa Soan Bên Thềm Cũ” (Tuấn Khanh) và “Sương Trắng Miền Quê Ngoại” (Đinh Miên). Anh Phước nhạc tiền chiến. Anh Bân nhạc tình cảm của Ngô Thụy Miên, Phạm Duy. Anh Quang, chị Thảo song ca nhạc lính. Huỳnh Thơ và Thu Trinh hát bè “Thương Về Xứ Huế” (Minh Kỳ), “Nhìn Những Mùa Thu Đi” (TCS). Tôi đọc bài thơ “Dạ Thưa Cô” làm theo thể Lục Bát, và bài “Hỏi Em” cảm tác từ bức tranh nữ họa sĩ Thúy Vinh vẽ cô gái đạp xe trên những con đường xứ Huế theo thể thơ Trường Thiên Tứ Tuyệt.
Phần ăn trưa thật ngon miệng, hàn huyên tâm sự rồi lại tiếp tục văn nghệ. Chị em bắt đầu nóng máy hăng say. Mục thay đổi không khí là các ông rể lên hết hát nhạc giật gân, anh Tân hát bài tựa đề “Ca Vang Khúc Yêu Đời”, tôi không nhớ rõ chỉ thấy các ông giật điệu twist lắc lư theo lời ca “tròn tròn, méo méo, vuông vuông” rồi đổi lại “vuông vuông, méo méo, tròn tròn…” cứ thế hát đi hát lại chọc chị em cười nghiêng ngửa. Chị Xuân Thảo cũng sung lên tìm nhạc twist “Sáu Mươi Năm Cuộc Đời” “Sài Gòn Đẹp Lắm” (Y Vân), “Lính Mà Em” (Anh Thy) rồi phe kẹp tóc ra hết tập thể dục sau buổi ăn trưa quá căng bụng.
Cuộc vui nào rồi cũng tàn. Trước khi chia tay chị Xuân Ba lên đọc danh sách toàn bộ chị em ủng hộ tiền. Chị Nguyễn Thị Yến (khóa đàn chị,) và Mai Trang tuy không dự nhưng vẫn ủng hộ, hai em Nhàn & Mai cũng góp phần nhưng BTC không nhận, nghĩ từ VN qua dự được đã là tình nghĩa quá rồi. Cũng nhờ chị Thí cho mượn nơi tổ chức, nên phần tổng kết tiền bạc rất hậu hỷ. Chị Xuân Ba tuyên bố trên group NTN trong và ngoài nước sẽ chuyển bốn số về để thủ quỹ bên nhà giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn của cựu học sinh hoặc quý thầy cô, đó là đường lối của NTN hải ngoại trọng Thầy quý Cô.
Ngày kế tiếp anh Tân hướng dẫn cả đoàn đến “Sherman (Library & Gardens) “, nơi trồng các loài hoa màu sắc rực rỡ. Phe đàn bà thấy những bụi hoa thì mê mệt đứng bên, cầm hoa, hôn hoa, tựa nghiêng tạo dáng. Đàn ông đi theo phái nữ là bị dính vô chuyện chụp hình liên tục tối mặt mày. Tôi nhớ có lần đi theo nhóm văn thơ, miệng la ơi ới “chụp… chụp… chụp…” có ông hỏi lại “chụp cái gì?” thì chụp hình cho các kiều nữ chứ còn ai nữa. Khi tôi không thấy chị Thí đâu, lên tiếng gọi nhiều lần, mới nghe tiếng nói nhỏ sau lưng như thì thào” chị đứng đây”, tôi quay lại nhìn nét mặt chị phờ phạc, nín cười và thương quý lắm, vì chị lo đủ việc và còn o bế hai nồi bún cũng đừ sức. Nghĩ thêm chị Xuân Ba về VN đón con qua Mỹ theo diện đoàn tụ, thay vì thong thả vài ngày sau giá vé máy bay sẽ hạ hơn, nhưng chị phải qua gấp cho kịp ngày họp mặt, nên giá vé hơi đắt. Hai chị là những con người sống bằng trái tim, sống cho người nhiều hơn cho mình.
Ngắm vườn hoa xong, lại được đưa đến khu “Bolsa Chica Ecological Reserve”, nhìn sông hồ thoáng mát, nước xanh, trời xanh thật dịu dàng êm ả. Vinh Phạm và Hoàng Yến rung cảm nhiều trước cảnh thiên nhiên, nên muốn đóng phim “Titanic Trên Cạn”, bạn khác đòi đổi đề tài, “Jack & Jose”, “Kìa Con Bướm Vàng…”
Tiếp tục lại về tập trung nhà anh Tân quậy phá tiếp. Trước đây mỗi tuần đi nhà thờ, ôn mụ cắt đủ thứ rau răm, rau quế, rau húng, rau ngót, rau mồng tơi, rau dền bó lại, hoặc bầu, bí, mướp, đậu ván, đậu ngự, thanh long, khế… v…v… đem tới nhà thờ bán sung vào quỷ. Tuần này hai người đem cho chị em NTN trong ngày họp mặt. Giờ đây lại quậy phá thêm lần nữa, ra vườn tha hồ hái, ai cũng có một bọc quà mang về. Anh Phước mua pizza đặc biệt đãi, chị em cụng ly “dô… dô…” cười sằng sặc, quên mình đã tuổi “mệ” trên dưới 70 rồi. Chương trình buổi chiều sẽ đến nhà hàng, nhưng bụng ai cũng no ách, và thấm mệt, nên chia tay từ giã. Còn lại vợ chồng Phương Chi ngồi chờ qua giờ kẹt xe, anh Tân mời ăn cơm chiều. O Điểm bắt tay vào bếp lẹ làng dọn mâm cơm cá nục kho, canh bí đỏ, đậu ván luộc chấm ớt xì dầu, chao ơi mâm cơm quê hương làm nhớ mạ quá, ngon tuyệt cú mèo đó các bạn ơi.
Mọi người hẹn mùa thu gặp lại. Tôi ngậm ngùi không biết mùa thu năm nào…
Cuộc sống ở Mỹ quá bận rộn. Trốn thoát đất nước quê hương để tìm miền tự do, đặt chân nơi vùng đất khách đã nhập cuộc cày cấy như người ta. Dân Á Đông, nhất là dân VN nói chung, dân Huế nói riêng hầu như ai cũng biết lo xa. Ăn hôm nay lo ngày mai, dành dụm tiết kiệm góp nhặt từng đồng. Nói hơi …ốt dột chứ bản thân mình luôn trên sàn dưới sẩy đi theo đường lối của trùm Sò là “quyết không để rơi rớt”, nhưng việc đáng làm vẫn muốn làm. Điển hình trước mắt là Dạ Điểm (vợ anh Tân Nguyễn), vườn trồng đủ thứ rau trái. Dưa leo, su hào, khế nhiều quá ăn không hết, O cắt mỏng phơi héo dầm muối đường nước mắm thành những hủ như dưa mắm. Cuộc sống tiết kiệm, làm việc siêng năng cần cù, vậy đó rồi ai cũng có nhà cửa “an cư lạc nghiệp” và còn giúp đỡ biết bao nhiêu việc thiện.
Tới tuổi nghỉ hưu thì con níu, cháu níu, thương dâu muốn có trách nhiệm. Chưa kể đến giai đoạn Sinh, Lão, Bệnh: chồng bệnh, vợ bệnh đa số gặp khó khăn. Một trong hai em từ VN qua, đi chơi nhưng nét mặt rất buồn, em kể mới biết chồng đang bị ung thư, thương vợ từ lâu khổ cực bên cạnh chồng, nên chồng khuyến khích vợ đi cho khuây khỏa, mọi việc có con thay thế chăm sóc, đó là trường hợp đặc biệt. Ngoài ra những hoàn cảnh chung quanh đều gặp bao nhiêu thứ gia duyên ràng buộc khó dứt ra, để thỏa mãn ước muốn gặp thầy cô và bạn bè, muốn quay lại thời hoa mộng dù chỉ vài ngày cũng không dễ dàng thoát được. Điều phước báu là cô hiệu trưởng vẫn còn khỏe mạnh, chỉ có dấu hiệu hơi quên một chút. Cô cũng được may mắn “bà con xa láng giềng gần” nhờ ba học trò Kim Xuân, Phạm Vinh, Huỳnh Thơ kề cận, luôn gặp thường xuyên đem đến cho cô nhiều niềm vui. Tôi cũng muốn nói lời cám ơn đến vợ chồng anh Phước & chị Thí, vợ chồng anh Tân & Dạ Điểm, và chị Xuân Ba đã bỏ tiền của công sức “ba cây chụm lại thành hòn núi cao” trước là đem đến niềm vui cho Cô, sau là các chị em được tắm dòng sông xưa nhiều kỷ niệm.
Trên đường trở về, ngồi trên xe đò Hoàng xuôi Bắc Cali. Nắng vẫn lên cao, trời trong xanh bát ngát. Xe đi qua vườn nho, qua đồi núi, cây lá chưa vàng phai, chỉ có vạt nắng hồng dịu dàng xuyên qua khung cửa. Tôi thả mặc tâm hồn xoay về miền quá khứ, ngậm ngùi vài người bạn đã qua đời. Thời gian còn được bao nhiêu ngày nữa các bạn ơi, cố gắng hẹn nhau mùa thu nào gặp lại nhé. Mong mọi điều được thuận duyên.
Họp Mặt Mùa Thu
Tháng chín thu đà bước nhẹ sang
Trường xưa họp mặt dẫu xa ngàn
Quê người “trọng đạo “gìn văn hóa
Đất khách “tôn sư “giữ phẩm hàng
Hội ngộ luôn nồng chung hát nhuyễn
Tao phùng vẫn thuận hợp ca vang
Muôn điều cứ “dạ thưa cô” mãi
Đón tiếp rừng hoa nở sắc vàng
Minh Thúy Thành Nội
Mùa Thu 2023
Ca khúc TÌNH THU – THƠ MINH THÚY THÀNH NỘI – NHẠC THÁI PHẠM
TÌNH THU – THƠ MINH THÚY
TÌNH THU
Thu gọi lay ai bừng ngõ mộng
Như vừa đánh thức tiếng lòng đang
Mơn man gió thổi trên làn tóc
Nắng nhạt thu rơi nhuộm lá vàng
*
Thu đến thêm say đời ảo ảnh
Đất trời dịu vợi thắp mù sương
Chơi vơi lá rụng từ muôn phía
Tan tác phân ly xác ngập đường
*
Có phải vì thu nhiều chất chứa
Mơ màng quay lại khoảng ngày xa
Rưng rưng nhặt bóng “hồn thu thảo”
Tiếng gọi mờ tan lấp tuổi già
*
Tận hưởng mùa thu buồn lãng đãng
Tranh màu ảm đạm dậy niềm yêu
Vì thu sầu muộn lên đôi mắt
Ấp ủ hồn thơ nét diễm kiều
*
Minh Thúy Thành Nội
Tháng 9/2025
THƠ LÊ TUẤN
Mùa thu đã bắt đầu khởi sắc trên vùng trời Miền Bắc California. Trên Thung Lũng Hoa Vàng. Tôi cũng bắt đầu viết những vần thơ cho mùa thu và tình yêu. Xin chia sẻ những vần thơ Mùa Thu, xin gửi đến những người yêu thích Thơ. Lê Tuấn
Ngày Ấy Thu Vàng
Lá thu tạo hoá dát vàng Bay theo cõi mộng lang thang mây chiều Áo em lụa mỏng hồn phiêu Ngõ hồn lãng đãng liêu xiêu ngại ngần.
Tóc em xõa xuống ngực trần Thơm từng hương phấn xa gần nhớ quên Phố buồn xa vắng mông mênh Hàng cây bóng đổ chênh vênh đợi chờ.
Cánh hoa ngày ấy còn mơ Sắc hương đôi tám ngây thơ giữa trời Tuổi nào em bước vào đời Tuổi em mười tám xuân thời đắm say.
Hương trinh thơm nhẹ trên tay Thu về mở cửa tháng ngày ngao du Em cười nở đóa hiền từ Cõi hồn phiêu lãng cho dù hư không.
Tế Luân Phiêu lãng mùa thu
Mùa Thu Vàng Áo
Đâu phải mùa thu, nhuộm em vàng úa Đâu phải lá rơi, che giấu niềm đau Một thoáng ngẩn ngơ nhìn chiều tắt nắng Tuổi đã già ngày tháng sẽ qua mau.
Đôi mắt em làm chiều thu nhuộm tím Mái tóc dài bay theo cánh đồng hoa Môi hồng đỏ nụ cười dòng suối mát Làm ướt hồn anh, hạnh phúc chan hoà.
Em hiện diện mùa thu chợt bừng sáng Toả ngát hương cho tình yêu tái sinh Mùa thu có em, hồn anh bối rối Cho một ngày rực rỡ ánh bình minh.
Tế Luân Tình yêu mùa thu
Thung Lũng Lá Vàng
Sương mù giăng phủ một mùa sang Cánh lá nhẹ bay thung lũng vàng Bóng ai như dáng em đùa bước Mảnh áo lụa đào, ngắm nở nang.
Ngọn gió thổi về rung nhánh lá Ngày buồn ly biệt nỗi cô đơn Em không trang điểm nhìn hoang dại Làm khổ lòng tôi nét giận hờn.
Em vẫn kiêu sa, lạnh hững hờ Mắt buồn xa vắng, thoáng trơ vơ Nhưng sao cuốn hút tình tôi lại Để lá thu vàng thêm xác xơ.
Dạo bước chợt nghe tiếng lá khô Tình em như sương trắng mơ hồ Lời thơ làm ướt thêm dòng mực Trang giấy buông rơi xuống mặt hồ.
Lê Tuấn
Hạt Sương Non
Tình như hạt sương non Long lanh đọng trên cành Nắng vừa lên đã vỡ Ngỡ ngàng qua rất nhanh.
Khi xưa tuổi còn son Dáng xinh xinh mượt mà Em là hoa biết nói Viết thành lời tình ca
Em là một đoá hoa Loài hồng gai sắc nhọn Đâm vào tim rịn máu Thuốc tiêm chủng bào mòn.
Tình từ đó đã quen Loại biến thể yếu mềm Trái tim côi miễn nhiễm Không còn sợ xa em.
Tế Luân
***
THU HÀ NỘI – TUYẾT NHUNG
THƠ TUYẾT NHUNG
THU HÀ NỘI (1)
Hồ Gươm sóng gợn ánh trăng
Tháp rùa nghiêng bóng thu giăng mơ màng
Lá rơi nhẹ bước lang thang
Hàng cây nghiêng ngả, lá loang mặt hồ.
*
Trúc Bạch hồ biếc như thơ
Nắng vương tà áo, bóng ai dịu dàng
Tình nhân sánh bước bên nàng
Mắt chàng lấp lánh, mơ màng trao nhau.
*
Hà Nội Thu đến thật mau
Sương giăng phố cổ, nhịp cầu nhớ thương
Ai qua bỗng thấy vấn vương
Hồ Gươm gợi nhớ, khói sương mơ màng
*
Hà Nội Thu đẹp dịu dàng
Hàng cây ngả bóng in ngang mặt hồ
Ai về lạc giữa sương mờ
Tình yêu kết nụ hẹn thề trăm năm.
*
Tuyết Nhung
Mùa Thu 2024
*
THU HÀ NỘI (2)
Là Bàng Thu đỏ thắm tươi
Heo may gió thổi tóc vời tơ bay
Bên hồ thiếu nữ vai gầy
Dáng nghiêng nghiêng bóng, hồn đầy nhớ thương.
*
Mắt xanh gợn sóng hồ Gươm
Tương tư vọng lại nẻo đường năm xưa
Thu về hoa nắng vàng thưa
Phố nghiêng nghiêng bóng mặt hồ lăn tăn.
*
Bâng khuâng giữa chốn ngại ngần
Người đi để lại muôn lần nhớ ai
Hàng cây lay lắt thở dài
Nghe hồn thổn thức qua rồi bao Thu!
*
Tuyết Nhung
Mùa thu Hà Nội 2024
***
ĐOẢN VĂN
NHỚ VỀ MÙA THU HÀ NỘI
Mỗi độ Thu về, Hà Nội như khoác lên mình một tấm áo mới, vừa dịu dàng, xinh đẹp, vừa man mác buồn.
Trên những con phố cổ, những cây bàng lá bắt đầu chuyển màu. Những tàn lá xanh của những ngày hè rực rỡ giờ chuyển sang màu vàng, màu đỏ rơi lả tả theo từng cơn gió nhẹ. Mỗi chiếc lá rơi xuống mặt đường như đánh thức lòng người đi ngang, gợi lên một chút bâng khuâng, một chút hoài niệm về quá khứ.
Gió heo may se lạnh, khẽ luồn qua mái tóc, thổi tung vài sợi tơ mềm của thiếu nữ dạo chơi bên hồ. Hồ Gươm, Hồ Tây, hay hồ Trúc Bạch… những ngày này đều mang vẻ đẹp trầm lắng. Mặt nước gợn sóng lăn tăn, phản chiếu bầu trời xanh ngắt và những hàng cây soi bóng xuống mặt hồ, làm khung cảnh càng trở nên mơ màng, tĩnh lặng, và rất trử tình.
Giữa khung cảnh ấy, có một bóng hồng đứng lặng yên bên bờ hồ, ánh mắt nàng xa xăm như đang tìm về những kỷ niệm đã qua.
Bóng dáng mảnh mai trong bộ cánh màu vàng hoàng yến thướt tha của nàng, một người về từ nơi xa xứ, hoà nhập cùng sắc Thu, khiến người ta cảm giác như Hà Nội không chỉ là Mùa Thu, mà còn là một nỗi nhớ, một nỗi buồn man mác, của mối tình chưa trọn vẹn…
Thu Hà Nội không ồn ào, không rực rỡ quá mức, nhưng có hồn và một sức hút đặc biệt. Đó là sự giao hòa giữa trời và đất, giữa thiên nhiên và con người, khiến cho bất cứ ai đã từng đi qua mùa Thu nơi đây đều mang trong lòng một ký ức khó phai. Cho nên, Thu Hà Nội đã từng gợi hứng cho nhiều thi nhân mang Thu vào Thơ và để lại cho đời những thi phẩm trác tuyệt.
Thân kính chào Quý vị, và chúc Quý Vị có một Mùa Thu tràn đầy sức sống trong Mùa Thu 2025!
Thân ái
Tuyết Nhung
Hà Nội mùa thu 2024
VĂN ĐỖ DUNG
HOÀNG HÔN DẦN BUÔNG
Đỗ Dung
Buổi sáng bà Giáo thức dậy vươn vai. Nhẹ nhàng ngồi bên mép giường, khoắng chân xuống sàn nhà tìm đôi giép. Ngồi yên một lúc bà mới từ từ đứng lên, kéo màn, mở tung cửa sổ nhìn ra vườn sau. Bà mỉm cười, nhớ lại một buổi sáng khi bà thức giấc, bà ngồi bật dậy xỏ chân vào giép, định chạy ngay vào nhà vệ sinh như thường lệ thì đầu óc choáng váng, vạn vật quay cuồng và bà ngã bật ngửa, đầu đập mạnh xuống người ông chồng đang còn nằm kéo gỗ kế bên, khiến ông giật bắn mình:
_ Cái gì vậy? Cái gì vậy? Mẹ có sao không?
_Mẹ chóng mặt quá bố ơi… Mọi vật quay cuồng, mẹ ngã ngửa, đập đầu mạnh vào người bố đó!
_Thôi chết, mẹ bị vertigo rồi! Nằm im một lúc, thở đều cho hết chóng mặt rồi hãy ngồi lên!
Sợ quá, bà hỏi thăm bạn bè và chịu khó tập theo phương pháp của chị TH và TD chỉ dẫn thì may quá, sau vài tuần thấy bịnh chóng mặt hết hẳn! Từ đó mỗi buổi sáng bà đã chịu nghe lời ông, làm gì cũng phải thật từ từ, không vội vàng, hấp tấp nữa.
Trời đã cuối hạ, những ngày nắng gắt đã qua, vạt nắng vàng đã dịu dàng, gió chớm thu đã nhè nhẹ, hiu hiu. Nhìn ra vườn sau, rặng sồi già vươn những cành lá cao to in trên nền trời xanh trong mà đôi khi bà đã tưởng tượng như có các đạo sĩ hay cao thủ võ lâm đang bay qua bay lại rồi ngồi trên những chạc cây to đàm đạo như trong tiểu thuyết kiếm hiệp. Ông lại quý cụ sồi to nhất, già hơn năm trăm tuổi. Theo ông những cây sồi lão chứa những năng lượng mạnh mẽ, trong lành từ thiên nhiên nên ông hay ngồi ngay gốc cây để hưởng những năng lượng quý báu từ cụ toả ra.
Mùi cà phê thơm ngát. Tiếng ông từ nhà ngoài vọng vào:
_ Mẹ dậy rồi à? Cà phê xong rồi đây!
Cả hai cùng làm những động tác thể thao buổi sáng cho giãn gân cốt rồi ngồi đối diện nhau bên chiếc bàn tròn nhỏ, hai tách cà phê nóng và hai bát miến gà còn bốc khói. Hai già mỗi người uống một vốc thuốc rồi bắt đầu điểm tâm.
Ông khen:
_ Sáng nay có miến gà. Ngon qúa!
Bà nháy mắt, nói đùa:
_Mẹ hóa phép mà!
Tối qua trước khi đi ngủ bà đã lấy sẵn miếng lườn gà trong tủ đông ra để trong hộp trên bàn bếp, ngâm một ít nấm mèo và thái hành ngò sẵn sàng. Khi ông bận trong nhà tắm thì bà chỉ mở một lon chicken broth, luộc miếng thịt gà, ngâm tí miến là xong ngay.
Hai ông bà vừa ăn vừa nghe tin tức thời sự trong ngày qua những Youtube. Vừa xong “Đầu Ghềnh Cuối Bãi” thì cũng vừa xong bữa sáng. Hai già chia tay mỗi người riêng một góc trời.
Ông giắt con chó Chandler ra vườn sau chạy nhẩy, chơi đùa với nó trong sân cỏ, khi mệt thì ngồi nghe tiếp tin tức hoặc những truyện đọc qua Ipad rồi ngồi cạnh gốc sồi chơi Sudoku.
Bà dọn dẹp trong nhà một lúc rồi vào computer lướt mạng. Trong không gian yên lặng, một mình một cõi, thỉnh thoảng hồn lên chơi vơi, bà nhớ về thuở xa xưa, những ngày hoa mộng của một thời con gái; nhớ những tháng ngày cực nhọc, vất vả sau ngày mất nước; cuộc đời chông gai, lên bổng xuống trầm. Ngày xưa ấy có bao giờ bà nghĩ đến lúc này, một bà già đầu tóc bạc phơ, sắp thành bà lão tám bó!
Bà nhớ bầy cháu nội ngoại sáu đứa mà ông bà trông nom chăm sóc từ lúc chúng ra đời đến khi khôn lớn, vững vàng ông bà mới buông. Ba thằng cháu ngoại Kobe, Carter đã trưởng thành, có công việc ở tiểu bang xa từ mấy năm nay, Logan cũng đã là sinh viên năm thứ hai Đại Học SanDiego. Michelle, cháu nội gái độc nhất hết hè đã lên năm thứ ba ở UC Irvine, hai thằng em Kenneth, Ethan cũng chỉ một, hai năm nữa lên Đại Học, sẽ chắp cánh bay xa.
Nhìn các cháu bà mới nhận rõ là mình già!
Những lần bà đi họp hội cựu nữ sinh trung học, gặp gỡ bạn xưa, bạn của một thời, bạn một đời. Thật vui khi nghe những chuyện tốt lành, bạn bè gặt hái những thành công; nhưng cũng thật bùi ngùi khi nghe những chuyện buồn cũng như những trắc trở không may cuả vài bạn. Bà đã cảm nhận lứa của bà như những chiếc lá mùa thu đang rực rỡ trên cành của một cây cổ thụ, lác đác vài chiếc lá rồi lần lượt tiếp theo, những chiếc lá đã bay xa. Lá rụng từ từ rồi đến cuối thu, một cơn gió thổi mạnh là cả đám lá vàng sẽ cuốn theo chiều gió. Bà bất giác thở dài.
Nhìn ra vườn sau ông đang nằm trên chiếc ghế bố ngước nhìn trời cao, chả hiểu ông đang nghĩ gì. Liếc nhìn đồng hồ đã hơn bốn giờ. Bà vào bếp soạn bữa ăn chiều, sẵn còn nồi thịt kho bà bóc mấy lá bắp cải rửa sẵn sàng, lát nữa chỉ lấy thêm hai quả trứng bỏ vào luộc chung với bắp cải là có ngay đĩa thịt kho bên cạnh đĩa bắp cải luộc chấm nước thịt kho dầm trứng với bát nước rau luộc là xong. Cơm bà nấu một tuần hai lần thôi, để sẵn trong hộp cất tủ lạnh, khi ăn thì lấy ra hâm trong lò vi sóng cho nóng.
Một ngày ông bà chỉ ăn hai bữa, sáng khoảng chín giờ. Chiều khoảng sáu đến bẩy giờ, khỏi ăn trưa.
Bà sửa soạn ra vườn:
_Bố, nông dân đến giờ đồng áng!
Ông nhỏm dậy đi lấy vòi nước tưới cây một vòng từ trong ra ngoài. Bà xách xô đựng đồ nghề, một cái bay, một cái kéo, một cây kềm cắt cây, thêm một cái ghế đẩu và một cái rổ. Bà săn sóc vườn rau thơm và hành lá, cắt bỏ lá héo, tỉa bớt cành già và thâu hoạch một mớ rau tươi. Năm nay các cháu đã bán xe của bố, không cho bố mẹ lái xe nữa sợ nguy hiểm nên ông bà không có phương tiện đi mua hoa mới và cây mới trồng thêm như mọi năm, có gì thì trồng nấy. Mỗi khi đi ăn phở bà lại nhặt nhạnh những cành húng về giâm, một bà bạn thương tình cho một cây tiá tô lão, cao hơn hai gang tay. Thế mà bây giờ bà đã gây được một chậu tía tô và một chậu húng quế rậm rạp. Rau răm và húng lủi còn sót lại từ năm cũ mọc lại mạnh mẽ đầy hai bồn bự. Xả cũng ra đầy chậu to. Hành lá thì ra nhiều quá, ăn không kịp, bà phải cắt ra cất vào hộp kín bỏ vào tủ lạnh, bà cũng thái nhỏ bỏ vào vài hộp cất trong tủ đông.
Xong công việc đồng áng ông bà đến giờ tập Dịch Cân Kinh, ông một góc, bà một góc, cùng nhau vẫy đến đủ một ngàn cái thì ngồi bên chiếc bàn nhỏ bên hông nhà, xoa bóp chân tay.
Trong không gian êm ả của buổi chiều rơi xuống thật êm đềm. Ông bà ngồi bên nhau với tâm thanh thản, hạnh phúc thật an nhiên. Ông bà đã hiểu lẽ trời, những điều nhân quả, những lẽ vô thường. Bà không còn oán than trời đất, buồn phiền vì những éo le trong cuộc sống; không còn so sánh với bạn bè, với chị em để buồn tủi với những đắng cay, nghiệt ngã của đời mình.
Quá khứ đã qua đi, không tiếc thương, không hờn dỗi, không hậm hực, oán trách nữa. Hiện tại còn đây, các con trai gái, dâu rể hiếu đễ. Các cháu yêu thương gần gũi ông bà. Hai ông bà già còn có nhau. Đôi khi “cẩm chướng” cũng tưng bừng nở rộ nhưng nhìn đi, nghĩ lại “đôi ta cùng cẩm chướng” nên lại cười xoà và dùng đó để trêu ghẹo nhau làm vui. Biết chọn những gì tốt đẹp, lạc quan và bỏ đi những khía cạnh bi quan hay những mặt xấu của cuộc đời.
Cuộc sống của ông bà bây giờ giản dị. Ăn uống đạm bạc, thì giờ nhàn rỗi. Mỗi người đều có thú vui riêng. Ông đọc sách, chạy chơi, đùa giỡn với “thằng cháu chó” và xem những chương trình, những game vận động trí óc qua TV. Bà tha hồ muốn làm gì thì làm, viết văn, vẽ vời, đùa vui với con cháu. Thích thì làm không bị bó buộc về thời gian hay bất cứ điều gì tự tạo ra để ràng buộc mình như ngày xưa. Ông bà ung dung an hưởng những ngày trời cho còn lại bên nhau trong TUỔI HOÀNG HÔN CỦA CUỘC ĐỜI với tâm hồn thật thanh thản.
Đo Dung
CHUYỆN NGẮN ĐỖ DUNG TÌM MÂY
Tìm Mây Đỗ Dung
Trời cuối thu, những chiếc lá vàng bay lượn trên không rồi từ từ thả mình xuống mặt đất. Thỉnh thoảng một cơn gió nhẹ lướt qua, đám lá trên cành lao xao và khi trời lộng gió từng đám lá lià cành tung mình khắp không trung. Cảnh đẹp như tranh vẽ. Chỉ vài ngày nữa thôi, chiếc lá cuối cùng rụng xuống, cây sẽ chỉ còn những cành trơ trụi, khẳng khiu. Bà bước ra khu vườn nhỏ, lững thững đặt chân trên thảm lá vàng, những chiếc lá khô như vỡ vụn dưới từng bước chân. Không gian tĩnh lặng, êm đềm. Bà hít thật sâu, thở ra thật nhẹ. Bà đếm từng hơi thở, chú tâm đến từng bước chân đi, đầu óc nhẹ nhàng, tâm hồn thanh thản. Cứ lẳng lặng như thế cho đến lúc thấm mệt bà ngả người trên chiếc võng ngước nhìn lên trời cao tìm mây. Trời xám buồn, chỉ có vài quầng mây mỏng, ửng nắng. Như vòng xoay của tạo hoá, một năm có bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông. Một ngày có bốn buổi: Sáng, trưa, chiều, tối. Bà đang ở vào giai đoạn cuối của cuộc đời: Buổi tàn thu hay lúc chiều tà chạng vạng.
Bà ơi, tôi đi đây! Tiếng ông từ trong nhà vọng ra. Bà nhỏm dậy định bước vào. Ông như biết ý nói thêm:
……….. Những lời dặn dò cũng khiến bà nao núng. Những kinh nghiệm và hoàn cảnh đau thương cuả những người quen mà bà chứng kiến cũng khiến bà ngại ngùng. Bà nhớ ngày xưa ấy, buổi tối trước ngày bà lên xe hoa, mẹ bà đã dặn dò con gái về nhà chồng phải nhớ chữ nhẫn nhịn và trong đời cứ đối xử tốt sẽ gặp hay. Cứ ăn ở cho đầy đượm, hết lòng, cho phải đạo làm người. Gieo nhân lành sẽ gặp quả tốt… Bà đã về nhà chồng với niềm tin phơi phới, với hành trang là trái tim đầy ắp yêu thương. Tình thương bà sẵn sàng cho đi trước để mong được nhận lại. Nhưng thực tế đã khiến bà ngỡ ngàng, những đối xử khó khăn của mẹ chồng làm bà không hiểu nổi, chỉ biết im lặng chịu đựng. Cuối cùng nhân lành của bà gieo cũng nhận được quả ngọt. Những năm tháng về sau hai mẹ con đã thông cảm nhau hơn, thương yêu nhau hơn, nhất là những ngày sau biến cố Tháng Tư năm bẩy lăm. Trong phút lâm chung cụ đã nắm tay bà mà nói: “ Bỏ qua nhé, bỏ qua hết nhé… Mẹ sẽ phù hộ cho các con, mẹ sẽ phù hộ cho các cháu…”. Khi đi vượt biên, lúc nào bà cũng cảm thấy như có cụ ở kế bên. Nguy hiểm nào cũng như được cụ phù hộ để vượt qua. Bây giờ bà là mẹ chồng và có nàng dâu. Bà tâm niệm rằng sẽ yêu thương dâu, rể hết lòng để lịch sử không hay về mẹ chồng nàng dâu không tái diễn. Lịch sử phải sang trang! Cô con dâu phải sinh mổ nên đã chọn ngày. Bà sắp sẵn công việc để sang Cali trước ngày sanh cháu. Bà muốn là người đầu tiên ôm cháu nội vào lòng như trước kia bà đã vào phòng sanh với con gái và là người thân đầu tiên bế thằng cháu ngoại. Con bé thật xinh, đôi mắt tròn to, vầng trán cao thông minh. Ôm con bé vào lòng mà bà sung sướng ngất ngây, niềm yêu thương dào dạt. Bà gửi hình
cho ông và báo cho ông biết là bà sẽ ở lại chơi với cháu, trông nom mẹ con nó cho đến khi đầy tháng bà mới về. Ông biết là ông lại bị bà bỏ rơi như khi bà sang chăm lo cho thằng cháu ngoại. Một tháng nuôi gái đẻ bà đã lo lắng chu toàn như mẹ đẻ lo cho chính con gái ruột. Cô con dâu theo kiểu xưa nên kiêng rất kỹ. Cô ở trên lầu, bếp ở nhà dưới, hàng ngày bà phải ba bữa sửa soạn cơm nước sắp vào khay bưng lên tận phòng. Bà nấu cơm nghệ, hầm chân giò với hạt sen, rim thịt thăn với nước mắm, hạt tiêu, thật khô cho bà đẻ. Mỗi ngày bà lại nấu một nồi nước xông bỏ thêm vỏ bưởi, vỏ quít để cô hơ mặt, lau mình. Bà đã làm tất cả bằng sự thương yêu, tự nguyện. Con bé cháu thì bà vuốt ve, nắn bóp chân tay. Ầu ơ ví dầu hát ru cháu, cả ngày bà thủ thỉ chuyện trò với con bé. Mỗi sáng bà bế nó sang giường bà phơi nắng. Những vạt nắng vàng tươi, trong trẻo, xuyên qua cửa sổ ngay cạnh giường bà. Nắng vuốt ve, ôm ấp cái lưng xinh xinh, bé xíu. Sau ngày đầy tháng con bé bà trở về Texas. Bà nhớ quắt quay ba đứa cháu nội, ngoại bên Cali. Bà nài nỉ:
Ông ơi, mình dọn về Cali nhá!
Mình đang sống yên ổn bên này. Chúng mình mỗi ngày một già, bà liệu còn sức mà chạy theo mấy đứa nhỏ không? Cố gắng rồi gục xuống, đau ốm lại khổ.
Đến đâu hay đến đó ông à. Mình ở đây rảnh rang, chúng nó thì bận rộn. Giúp cho chúng nó được lúc nào hay lúc ấy. Ông lo gì xa quá. Bà hạ giọng thuyết phục thêm:
Ông này, nhìn con bé tôi thương lắm. Hay là mình về trông cháu vài năm. Khi con bé biết nói thì thôi. Nghĩ đến việc mướn người hay gửi người ta trông tôi ngại lắm ông ạ. Nhỡ nó bị hành hạ… Nó đã biết nói đâu mà mách. Ông xem trên truyền hình hay trên mạng đi. Bây giờ có nhiều kẻ bịnh hoạn, nhiều người độc ác lắm đó ông ơi… Về nhá…! Ông nghe cũng hơi xiêu lòng:
Nắng đi chiều ở lại Ta đứng mãi bên sông Canh chừng con nước chảy Nhìn thu rơi xuôi dòng
Nhớ những chiều gió lộng Lá vàng rụng đầy sông Con đò neo bến đợi Biết người có về không?
Bao thu qua hờ hững Đò xưa đã sang sông Dòng sông càng thêm rộng Cõi lòng vẫn nhớ mong
Thu này bao thu nữa? Người sẽ về ngang sông? Lá vàng ơi thôi rụng Để má thắm còn hồng…
PhamPhanLang
NHỮNG BÀI THƠ THU CỦA THI NHÂN MẶC KHÁCH
LỆ BÚT
Bao mùa lá rụng mỗi Thu sang
Thoáng đã qua mau chợt ngỡ ngàng
Nhớ mãi luyến lưu buồn giã biệt
Đâu ngờ đôi ngã khóc ly tan
Em đi…vui với đời hoa gấm
Anh vẫn…áo tù cảnh xốn xang
Đói, lạnh mưa rơi lòng trống vắng
Mượn Thơ lưu bút lệ dâng tràn…
MẶC KHÁCH
**
THU HIU HẮT
U Minh buồn một chiều Thu phai nắng
Bước chân Em thoăn thoắt giữa đồng hoang
Anh nghe như ai giẫm nát linh hồn
Em run sợ bóng chiều buông hoang vắng
Nhanh lên Em, hòang hôn đang tắt nắng
Rừng chuyển mình, gió lộng cảnh đìu hiu
Em về mau kẻo lỡ chuyến đò chiều
Anh lo ngại đường xa đầy bất trắc
Nhìn theo Em…vòng kẽm gai, se thắt
Xót xa lòng nhớ mãi dáng Em thơ
Em trở về cô lạnh nét bơ phờ
Anh đứng lặng …cõi lòng nghe tan nát
Trăng Thu lạnh, nhạt nhòa đêm ngơ ngác
Muôn hồn ma tức tưởi khóc âm thầm
Lá vàng rơi phủ kín kiếp tù nhân
Em đã hiểu ! Thu về sao HIU HẮT?!
MẶC KHÁCH (1980)
**
MÙA THU và THI NHÂN
Thu về ấm áp làn hương
Muôn hoa đua nở yêu thương mong chờ
Dường như ấp ủ tình thơ
Gió mùa êm ả đêm mơ ngỡ ngàng
Lắng nghe nhẹ bước Thu sang
Xôn xao con phố rộn ràng Thi nhân
Trăng Thu e ấp bâng khuâng
Tình Thu âu yếm lâng lâng dịu dàng
Thu đi sao nỡ vội vàng
Tâm tư khép mở dở dang ý tình
Mùa Thu tình tứ đẹp xinh
Buồn chi khép lại cho tình dâng cao
Hồn Thutựa ánh trăng sao
Hương Thu dịu vợi sắc mầu dấu yêu
Yêu Thu thương cả những chiều
Êm như gió thoảng mỹ miều dáng Thu!
Tìm đâu hương vị thuở nào
Nhìn nhau cũng đủ xuyến xao tâm hồn
Đêm Thu đọng giữa môi hôn
Trăng Thu đồng lõa đêm còn nhẫn nha …
Mặc khách
CHIM ĐẦU ĐÀN
Chúc mừng Lạc Việt dón Thu sang
Tà áo hương bay dáng dịu dàng
Rộn rã nàng Thơ khoe bút ngọc
Âm thầm lữ khách tiếc cành vàng
Văn chương trầm bỗng đời thêm sắc
Thi phú du dương tận Đại ngàn
Năm ấy người xưa* lòng chạnh nhớ
Thời gian hờ hững bóng dần tan
MẶC KHÁCH
( *Vts Chinh Nguyen )
***
BÀI XƯÓNG :
ĐÓN THU
Lặng lẽ Quê Người đón lá phong
Thỏang nghe hương tỏa đóa Lan Hồng
Ngọt ngào sương ngậm còn e ấp
Rực rỡ đêm về vẫn đợi trông
Mặc Khách bâng khuâng tơ tưởng nhớ
Tao Nhân xao xuyến dạ chờ mong
Thu sang thôi hãy vui giây lát
Đừng để buồn vương se sắt lòng ?!
Mặc Khách
***
THU MƠ (Bài họa)
Lặng đứng bên rừng Thu lá phong,
Ngất say giữa sắc đỏ chen hồng.
Lung linh dải nắng khom mình ngó,
Lộng lẫy cây ngàn ngửa mặt trông.
Mây lướt rộn ràng khơi nỗi nhớ,
Gió lùa ríu rít gợi niềm mong.
Thu mang nét đẹp cho trần thế,
Xui khiến thi nhân nao nức lòng…
Thu T.10-2012
***
THU VỀ (Bài họa)
Thu về Trung Mỹ đón nam phong
Ngây ngất hương thơm tỏa dậu Hồng
Mặc khách đê mê lòng ngóng đợi
Giai nhân bẻn lẻn dạ chờ trông
Trộm nhìn âu yếm hồn chất ngất
Thầm liếc lả lơi tình nhớ mong
Tưởng nhớ thu sang ngày tháng cũ
Người đi kẻ ở vấn vương lòng ?!
Kim Hương (Costa Rica 29-10-2012)
***
THU VẮNG (Bài họa)
Đất khách mưa rơi ngợp lá phong.
Sắc bay vàng –tím- đỏ -cam- hồng…
Nhà rung bảo giật ,người sơ tán
Đêm vắng mưa giầm, mắt ngóng trông.
Lảng đảng thơ xưa, còn xướng họa.
Âm thầm bạn cũ vẫn chờ mong.
Quê nhà thu đến buôn vui nhỉ.
Thầm hỏi thi nhân có bận lòng.
Lam Điền NT
(Viết trong ngày bảo Sandy miền Đông Bắc Hoa Kỳ.Và bảo số 8 Sơn Tinh tại VN 30/10/2012)
***
THU ĐỢI (Bài họa )
Lá vàng rơi rắc quyện Thu phong
Quanh khóm vườn lan chớm nụ hồng
Nhớ tới bóng Ai mà mỏi ngóng
Thương về đất Mẹ những mòn trông
Niềm tin canh cánh bằng nung nấu
Tình ái mơ màng chút đợi mong
Hẳn biết đón chờ đầy ước vong
An vui sâu lắng đọng trong lòng
Tố Nguyễn, San Jose 30/10/2012
***
HOÀI THU (Bài họa )
Một mình nhặt lá dưới vi phong
Trong mưa cành lan ửng chút hồng
Cú ngỡ bên lá vàng trông ngóng
Người trai Lính Chiến thỏa ước mong
Lời nguyện hôm nào còn hun đúc
Thôi thúc người em nhỏ đợi trong
Được một ước mơ trong thương vọng
Vóng tay người lính mãi bên lòng…
Hoàng Lan
**
THU THẦM KÍN(Bài họa)
Lá vàng rực rỡ gió reo phong
Từng chiếc thu sang tựa cánh hồng
Mòn mõi chờ ai trên bến lạ
Con đò thấp thoáng vẫn chờ trông
Người đi biền biệt phương trời đó
Có biết nơi này dạ nhớ mong
Ngày đó chia tay tiếc nuối quá
Thôi đành chôn kính ở trong lòng
Hoa Thông NM, 31-10-2012
***
SẦU THU (Bài họa)
Quê người se sắt trận thu phong,
Rơi lá vàng luôn rụng lá hồng.
Trống trải cuộc đời đau đớn hận,
Ngùi thương đất mẹ mõi mòn trông.
Ngọn cờ dân chủ người đang đợi,
Câu hát nhân quyền dân mãi trông.
Đất khách thân già còm cõi mộng…
Không buồn sao được thiết tha lòng !
Liêu Xuyên
***
HƯƠNG THU (Bài họa)
Hạ chưa đi hết đã thu phong
Phương nhớ xa xôi cánh hạc hồng
Bay bổng đêm sương sao xuyến gọi
La đà ngày muộn thiết tha trông
Hương cau thấp thoáng niềm hy vọng
Ly rượu vơi đầy nỗi ước mong
Mùa sẽ vàng thêm bao chiếc lá
Tao nhân hoà mực thả tơ lòng…
Hawthorne 18 – 02–2019
CAO MỴ NHÂN
**
THƠ HỌA NGUYỄN HUY KHÔI
Họa 1: BÚT NGỌC
HỘI THI ĐÀN LẠC VIỆT
(Họa 4 vận)
Bừng thức mùa về – Thu rước sang
Văn Thơ Lạc Việt thỏa sang trang
Lời trao đơm nụ bừng hoa trắng
Bút vẫy khai bông ngợp nắng vàng
Hương tỏa ngạt ngào tràn hải địa
Mạch khơi lai láng ngập non ngàn!
Giao lưu bằng hữu phiêu hồn cảm
Mở sáng bình minh, Hội khó tan!
Nguyễn Huy Khôi
5-10-2025
**
Họa 2: THU GỢI NHỚ
Vàng mơ nắng suộm lá thu phong
Bâng khuâng nuối hạ vãn sen hồng
Đường trăng xa ngái làn môi nở
Ngõ trúc ngùi vương ánh mắt trông…
Cò chớp chiều vơi sầu bến đợi
Cuốc kêu bãi vắng tạnh đò mong…
Biên khu nhớ bóng Giai Nhân…biệt…
The thắt niềm riêng đắng đót lòng!
Nguyễn Huy Khôi
5-10-2025
CHÙM THƠ TUYÊT NHUNG – HA NỘI
HÀ NỘI MƯA PHÙN
Hà Nội chiều nay, mưa phùn rơi khe khë.
Phố cổ im lìm, dưới mái ngói rêu phong,
Mưa mưa bay, như lời em khẽ nói,
Sao mưa buồn, làm tan nát ngày vui!
Nước lăn tăn hồ gươm mờ sương khói.
Gánh hàng rong, lâng lẽ giữa phố quen,
Áo ai bay, bên hàng cây liễu rủ,
Nhớ cuộc tình, như một thoáng mây bay.
Hà Nội ơi, xin mưa đừng rơi nữa,
Để lòng ta, còn những phút ngây thơ,
Dẫu xa rồi, nhưng tim luôn nhắc nhở,
Chiều mưa phùn, làm tan nát tình ta!
Tuyết Nhung
Một chiều mưa phùn 2024
**
MỘT CHIỀU MƯA NGÂU
Hà Nội chiều nay mưa giăng lối,
Giọt buồn rơi rớt xuống hàng cây.
Ngõ nhỏ bâng khuâng vương hơi thở,
Như tiếng thì thầm, tháng ngâu bay.
Góc phố rêu phong mền theo gió
Mái ngói Hồ Tây loang bóng chiều.
Dáng ai vội vã trong mưa lạnh,
Áo mỏng ve sầu, tim hẳt hiu.
Ngâu ơi nối nhịp cầu thương nhớ,
Cho lứa đôi xa hoá hẹn hò
Dù ngắn ngủi thôi, mưa ngâu kể
Chuyện tình chờ đợi tự thủa nao.
Hà Nội ướt mềm trong kỳ ức.
Mỗi bước chân qua thấm mộng lành.
Nghe hồn phố cũ ngâm câu hát
Mưa ngâu còn rớt xuống… mong manh.
Tuyết Nhung 2024
**
HÀ NỘI MƯA NGÂU
Hà Nội xe lanh chiều nay,
Mưa ngâu ườt phố heo may gọi về.
Mái rong rêu phủ sơn thề,
Hồ Tây gợn sóng, tóc thề thoáng bay.
Bước chân vội giữa hàng cây,
Ai mang nỗi nhờ theo mây cuối trời
Ngâu rơi nối mộng đôi người,
Cách xa rồi lại tìm lời hẹn thưa.
Hà Nội nghiêng bóng trong mưa,
Ngõ xưa chợt rộn, gió lùa khóm tre,
Mưa ngâu rớt xuống lối về.
Cho lòng Hà Nội se se nỗi buồn.
Tuyết Nhung
Hà Nội mưa ngâu 2025
Chùm Thơ CAO MỴ NHÂN – VĂN: MÙA XUÂN BẤT TẬN
THƠ CAO MỴ NHÂN
MẦU HOANG THẦN THOẠI. CAO MỴ NHÂN
Em để lẫn thời gian hoà nước mắt
Từng giọt sầu lấp lánh rơi mê man
Anh như đại dương nổi sóng bạt ngàn
Vừa mới đó mà tháng năm chồng chất
*
Rồi thấy được tuổi thơ dần mất mát
Mới biết rằng biển mặn thoắt tan nồng
Lệ tình đầy như lũ chảy thành sông
Nhìn khổ luỵ mịt mùng trong mây nước
*
Con đò nát chở đầy hồn mơ ước
Anh ngậm ngùi : ” thôi nhé mình xa nhau “
Không có gì phụ bạc xưa hay sau
Trời đất vẫn một mầu hoang thần thoại
*
Giọt nước mắt mang thời gian tồn tại
Đến bao giờ tan loãng hết thương yêu
Cho nhân gian không phải xót xa nhiều
Ôi bất tận, những phút giây huyền diệu
*
CAO MỴ NHÂN
ĐỒNG LOÃ . CAO MỴ NHÂN
Trước khi vào giấc ngủ
Anh có đọc thơ tình
Như một người đầu thú
Tội yêu đương của mình
*
Khi vào giấc ngủ rồi
Anh có thấy hồn vơi
Ảnh hình em trong đó
Vừa trốn anh rong chơi
*
Ngủ một đêm thảnh thơi
Sáng dậy như mất mát
Giấc mơ đẹp tuyệt vời
Lời thơ và tiếng hát
*
Em là tên tội phạm
Soi mói cuộc tình anh
Chẳng phải tình riêng anh
Chúng ta cùng đồng loã
*
Nên, trước khi đi ngủ
Nhớ đọc lại thơ tình
Để tâm hồn bỏ ngỏ
Cho cuộc tình phiêu linh …
CAO MỴ NHÂN
THỦA NÀY. – CAO MỴ NHÂN
Tình chưa thật hết người yêu cũ
Sao đã cho lòng thổn thức ai
Sao đã bâng khuâng bao nỗi nhớ
Nửa khuya trằn trọc, vấn vương hoài
*
Kẻ đến, người đi, buồn điệp điệp
Ngọn sầu lay lắt, gió lưa thưa
Hoang liêu trùm kín hồn len lén
Chuyện đã pha phôi còn vẩn vơ
*
Ngàn năm sự nghiệp là hư ảo
Thành thử người yêu cũng chán mình
Tuổi chất đầy vai, tràn sống áo
Nghênh tân, tống cựu, nghĩ mà kinh
*
Giấc mộng hoang đường nay đã thực
Ngồi ôm kỷ niệm trong vòng tay
Mai sau ai sẽ hồi quyền chức
Cho một người chung thuỷ thủa này…
CAO MỴ NHÂN (HNPD)
17 – 8 – 2022
KHI TA GIÀ ĐI. CAO MỴ NHÂN
Khi ta đã già đi
Chẳng còn suy nghĩ gì
Làm theo lời quán tính
Không vướng bận điều chi
*
Khi ta đã già đi
Vui, buồn nhỏ tí ti
Chân trời xa tít tắp
Hình, bóng đứng từ ly
*
Mầu sắc mây huyền vi
Trên không gian mê si
Thuyền tình trôi hờ hững
Khi ta đã già đi
*
Có phải người vô tri
Vở kịch hài hay bi
Màn nhung đang kéo lại
Khi ta đã già đi…
CAO MỴ NHÂN
ĐIỀU GÌ LÚC TẬN THẾ. CAO MỴ NHÂN
Anh định nói với em
Điều gì lúc . ..tận thế
Em sợ nhất trái tim
Đang rò rỉ muốn bể
*
Nhưng quả đất chai lì
Như em nhiều mất mát
Đã không còn sợ gì
Khi anh lên tiếng hát
*
Tim sẽ cất nơi xa
Dấu vào trong bóng tối
Có thật anh xót xa
Nghe bước chân em vội
*
Hình như bao mỏi mệt
Đã chìm xuống đại dương
Trên đỉnh đời yêu mến
Chỉ còn một nguồn thương
*
Chắc là em đùa rỡn
Để quên cuộc tình buồn
Ôi lửa tình quá lớn
Đốt cháy cả hoàng hôn …
CAO MỴ NHÂN
ĐỪNG CHỜ TẬN THẾ. CAO MỴ NHÂN
Phải yêu nhau đi thôi
Đừng chờ tận thế nữa
Mặt trời đang tan vỡ
Hàng tỷ mảnh vụn đen
*
Phải yêu nhau nhanh lên
Không còn thì giờ thở
Trái đất thôi êm đềm
Đừng băn khoăn, bỡ ngỡ
*
Mọi sự sẽ tan hoang
Đâu còn vẻ điêu tàn
Để làm thơ thống khổ
Mà sợ chuyện dở dang
*
Tại sao anh ngần ngại
Bởi vì còn nán đợi
Một giây phút hồi sinh
Tất cả cùng tái thế…
*
CAO MỴ NHÂN
ĐIÊU TÀN. CAO MỴ NHÂN
Em hiện thân của chiến tranh
Mắt, môi rực sáng, quách thành ngả nghiêng
Anh mang trọn nỗi ưu phiền
Từ khi lửa đạn đã nghiền ngẫm thân
–
Bây giờ tất cả phù vân
Đường anh đi cũng trăm năm nghĩa tình
Em không có được hoà bình
Trái tim tan nát đao binh lỡ làng
–
Em hiện thân của dở dang
Son phai, phấn lạt, điêu tàn núi sông
Làm sao anh hỡi bạn lòng
Bao phen bão nổi , mưa giông, gió cuồng
–
Một mình ôm khối tình suông
Quê hương biền biệt khói sương mơ hồ
Bây giờ anh cũng hư vô
Không gian vời vợi đắp mồ xuân xanh…
Hawthorne 21 – 7 – 2023
CAO MỴ NHÂN
=
THÁNG NGÀY. CAO MỴ NHÂN
Có lần anh nói với em
Rằng hãy quên đi tất cả
Tháng ngày sẽ được dài thêm
Cuộc đời vô cùng êm ả
–
Em hỏi : ” Để làm gì anh
Cuộc đời dài thêm ngày tháng ? “
Nhưng em vẫn thấy xuân xanh
Tình càng mông mênh, say đắm
–
Em cũng nói với anh rằng
Vui gì tháng ngày trống vắng
Đời em sẽ mất thăng bằng
Tưởng như không còn sức sống
–
Và rồi ngày tháng trôi qua
Mấy mươi năm chưa kết thúc
Mùa xuân vĩnh viễn trong thơ
Có anh mặt trời mới mọc …
CAO MỴ NHÂN
-=
TÌM MẶT TRỜI. CAO MỴ NHÂN
Ngày không có mặt trời
Em tìm anh khắp chốn
Anh ở đâu khắp nơi
Hay là anh đi trốn
*
Ta trốn gì cuộc đời
Đã an bài lẽ sống
Dù không có mặt trời
Biển vẫn tràn dâng sóng
*
Đó là điều tuyệt vời
Anh muốn nói với em
Thật rõ ràng một lời
Chữ “ yêu “ bừng sáng lên
*
Không gian đang tối đen
Làm sao có mặt trời
Anh lẫn vào bóng đêm
Đừng gọi bình minh đến …
Rancho Palos Verdes 4 – 1 – 2026
CAO MỴ NHÂN
=
BOLSA MẤY NẺO XA GẦN. CAO MỴ NHÂN
Con đường độc đạo Bolsa
Vừa dài, vừa rộng, vừa xa, vừa gần
Vừa đầy bạn lính, bạn văN
Vừa tân, vừa cổ, vừa cần, vừa dư
–
Thủ đô tị nạn bây chừ
Đầy người chân giả, thực hư, chính tà
Nơi nào cũng có bóng ta
Chỗ nào cũng thấy ba hoa chích choè
–
Bao nhiêu “chiến hữu ” ê hề
Bấy nhiêu ” chính khách ” bộn bề lưu vong
Bolsa đến ở, đi mong
Thủ đô tị nạn đã không lưu đầy
–
Bây giờ bạn với ai đây
Đầu hôm hỗn loạn, cuối ngày lao đao
Bầy chim vỡ tổ xôn xao
Cánh buồn khép lại, hồn chao dập dồn
–
Bình minh lẫn với hoàng hôn
Một màn bi kịch đang còn diễn ra
Bolsa tới hội, khó hoà
Làm sao dựng lại sơn hà cố hương …
Rancho Palos Verdes 1 – 4 – 2023
CAO MỴ NHÂN
VĂN- MÙA XUÂN BẤT TẬN
MÙA XUÂN BẤT TẬN. CAO MỴ NHÂN
Thế là năm mới đã xong 10 cái mùng rồi ( từ mùng 1 tới mùng 10 Tết đó), mười một là chính thức ra giêng, tức tháng giêng , thêm cái rằm lớn đầu năm: thượng nguyên, hay nguyên tiêu, rồi thì là, thì là…
Rồi thì là sao, anh hỏi, cứ đem ba cái chấm ra để dứt một câu ngang phè …
Ngang phè thế nào được, một câu văn hoa che lấp những điều khó nói, những chuyện còn băn khoăn, nên nói thế nào cho khỏi mất lòng nhau.
Hay chính là một câu dang dở, cả trong chữ viết lẫn ngoài ngôn ngữ .
Thế anh có bao giờ viết hay nói như vậy không ?
Tôi á hả? ” Thằng này ” là lính, nói là phải ngay ngắn từng câu , lính mà giấu giếm quanh co, thì làm sao chỉ huy, làm sao thi hành ?
Nè , định nói gì trong 3 cái chấm đó ? Hay ra giêng rồi thế nào?
Chẳng thế nào cả, ý nói xong tháng giêng rồi là năm sẽ cũ lại như năm ngoái vv…
Lại vv…3 chấm tiếp .
Là thế này này, chúng ta đang bắt đầu một năm mới tinh khôi, nó, cái năm mới đó, nó sẽ chỉ còn 11 tháng, nhưng không nguyên vẹn đâu. Nó sẽ cũ thoạt thì còn lịch sự lai rai, sau nó cũ thiệt nhanh …
Nó cũ tới tháng chạp, là chu choa, mọi nhà lại chuẩn bị đưa ông Táo , đón ông bà từ khắp nơi âm phủ trở về .
Nhưng quý ông bà đang tàng hình bên ta, chung quanh ta, nên ta chẳng thấy gì, ta còn sợ ông bà soi thấu các sơ sót, lỗi lầm của ta nữa .
Trở lại 10 mùng cơ bản của mùa tết nhất Việt Nam.
Bản danh sách quý bậc trưởng thượng và quý thân hữu của tôi, e đã xén bớt 1/4 vì quá date Xuân , quý vị đương nhiên bước vô lâu đài cổ xứ thần tiên rồi.
Tôi định lười biếng, lấy bút gạch một dấu X chéo trên cái ô ghi chép tên tuổi, địa chỉ, tel, email, fax nếu có …
Nhưng sau thấy mặt giấy ô dề quá, tôi ngồi chép lại ” danh sách ” thủa ban đầu,ta gặp nhau,rồi buổi cuối cùng ta đưa tiễn, đoàn tầu đã ngắn dần, ngắn dần …
Rứa tên tôi đang ở khoảng nào ? Anh hỏi .
Tôi nhìn kính viễn vọng, thấy anh ngoan hiền quá, tại sao anh lại ngoan, lại hiền thế nhỉ ?
Tôi nhớ ở hải ngoại này, có một chữ mà chỉ sau cuộc đổi đời
Khốn nạn nhất, 30- 4 – 1975 mới thấy cộng đồng ta xử dụng, ấy là ” ngoan cường ” .
Tôi hỏi anh rằng ngoan thì đi đôi với hiền , còn kiên mới đi đôi với cường. Vậy anh thích tôi chúc mừng năm mới anh ngoan hiền hay kiên cường ?
Anh bảo ở bên Mỹ không cần chúc, vì chúc suốt mấy ngày tết mệt quá, ta hãy yên lặng nhìn nhau …say đắm là đủ rồi .
Chu choa, lạ hoắc lạ hươ mà say đắm gì cho tổn thương ngôn ngữ .
Cả năm ngoái quen miệng cứ say đắm, đắm say cố sát, khiến có nên thân nên phận gì đâu. Năm nay phải thận trọng để vạn sự tốt lành, may mắn trong thơ, ngõ hầu gửi lại
cho đời những tập thơ tình đúng nghĩa tình thơ nhé.
Chứ anh không biết là mình vừa bâng khuâng đình lại cuộc ra mắt tập thơ ” Tình Muộn ” vào giữa tháng 3 sắp tới, chỉ vì mùa xuân lụp chụp quá.
Nói tới thơ là phải phong, hoa, tuyết, nguyệt …trái với phương châm: ” thừa thắng xông lên, tái chiếm lãnh thổ “, cho dẫu tác giả cũng là lính nhé.
Anh không tin hẳn điều mình vừa nói về cuốn thơ
” Tình Muộn ” mình chưa đưa nó đi giới thiệu với làng xóm thơ ca, và khách mộ điệu…chỉ vì mình không thích tình anh đối với mình là một thứ tình muộn, mặc dầu nó muộn đến mấy chục năm .
Trưa nay ngồi ăn cơm một mình ở cái view từ bếp ngó ra đường. Cứ mỗi muỗng cơm là một giọt nước mắt rơi…
Tại sao thế ? Vì ăn cơm một mình, vì nhớ nhung anh, hay vì không ra mắt tập thơ ” Tình Muộn ” đẹp tuyệt vời đó ?
Mình cảm thấy không tất cả 3 cái lý do trên, hay tổng hợp cả 3 cái lý do rất ” người ” đó , lồng trong khuôn sáo của trời đất, là chúng ta không thoát khỏi lẽ … vô thường .
Lẽ vô thường hay vạn sự vạn điều đều ở trong quy ước của Thượng Đế, cuộc sống hữu hạn mà vạn vật không thể tách rời …
Chắc anh ngoan hiền của …mình cũng chỉ thở dài thôi, anh sẽ nói rằng: ” Hãy sống cho hôm nay thật trọn vẹn ” .
Mình nhớ rất không quên một sự kiện, là ngày gặp anh, không phải tình cờ, mà giống như …bất định. Hoá cho nên cũng chẳng nhìn nhau, mà lại thấy …tất cả, sao mình chủ quan thế, anh chỉ cười duy nhất một lần, rất bình thường, khi anh quay lại đằng sau…
Chẳng lẽ anh cười chung với mọi người, mình cũng đứng ở phía sau, vừa nhớ lại giây phút đó, mình thoắt rơi nước mắt nữa . Ô lạ, nếu cứ duy trì ” thảm cảnh” này, mình sẽ trầm cảm nặng thôi.
Tại sao anh ngoan hiền thế, như một người lính chất phác, mặc dầu anh không là người chất phác …Hình như anh không muốn làm lớn dậy con người anh ở một khía cạnh khác .
Thôi thì thôi, như một lời ca trong bài Thánh vịnh dành cho người cùng khổ, mà lời lẽ lại rất cao vời.
Với Thượng Đế có nhiều mâu thuẫn trầm trọng mà tín hữu tin là hợp lý lắm .
Mình cũng tin những mâu thuẫn đó họp lại thành bản tình ca không cần chứng minh hay giải thích, Thượng Đế cho ta sự mặc khải lạ lùng, mà thanh thoát làm sao.
Rồi năm sẽ cũ đi, nhưng tình anh lại cứ mới hoài, khiến mình chạy theo không kịp …thở.
Thì cứ nín lặng, vì tình đó từ thiên nhiên đem tới, tự bao giờ nó chứa đầy trong trái tim, những phế nang căng phồng dưỡng khí để dự trữ cho một lần thở dồn dập, rồi bặt đi giữa nụ cười …bất định, cũng sẽ bình thường lại, như khi hạnh ngộ anh, vô thường, đừng nói thêm, anh tiếp tục tịnh ngôn đối với mình, mùa xuân an lạc quá chứ.
Ôi thiên nhiên bình yên, an vui …chúng ta sẽ lại gặp nhau trong những mùa xuân trước mặt, những mùa xuân được kết bằng ngàn vạn sắc hoa tươi thắm mà người khiếm thị cũng nhận ra, đừng nói là đôi mắt còn sáng rỡ, linh diệu thế kia …
Hỡi anh thân kính, mùa xuân còn bất tận trong đời …
CAO MỴ NHÂN
KIỀU MỸ DUYÊN -VĂN: ƯỚC MƠ NĂM MỚI & CHƯƠNG TRÌNH CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA.
THĂNG HOA CUỘC ĐỜI Kỳ 140 Qua Sông Bỏ Bè Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
Trong pháp hội thù thắng tại thành Tỳ Da Ly nơi đức Thế Tôn cùng đại chúng Thanh văn, Bồ Tát quang lâm giảng bày pháp vi diệu thì bấy giờ Cư sĩ Duy Ma Cật thị hiện mang bệnh. Bệnh ấy không phải do nghiệp báo thông thường, mà là phương tiện thiện xảo nhằm khai thị Chánh pháp sâu xa cho hàng hữu học và vô học. Trước đó, khi Phật lần lượt sai các vị đại Thanh văn đến thăm bệnh, tất cả đều khéo bạch rằng mình không đủ năng lực, vì từng bị Cư sĩ Duy Ma Cật dùng trí tuệ Đại thừa phá tan những chấp trước vi tế nơi tự chứng và pháp tu.
Giờ đây, đức Phật chuyển sang yêu cầu các vị Bồ Tát là những bậc đã phát tâm rộng lớn, hành đạo lợi sinh đặng đến thăm bệnh cư sĩ. Tuy nhiên, điều kỳ diệu thay là từng vị Bồ Tát cũng lần lượt bạch Phật xin được từ chối, không phải vì thoái tâm hay bất kính mà vì tự nhận thấy trí tuệ và phương tiện của mình vẫn chưa thể sánh kịp với biện tài và thần lực bất khả tư nghì của Cư sĩ Duy Ma Cật.
Trước hết, Phật bảo Bồ Tát Di Lặc thay Ngài đến thăm bệnh. Di Lặc là vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật trong tương lai liền bạch rằng mình không đủ năng lực; rồi ngài kể lại một nhân duyên sâu xa rằng, thuở ấy khi đang ở cung trời Đâu suất giảng pháp cho chư thiên về hạnh bất thối chuyển, Cư sĩ Duy Ma Cật bỗng hiện đến và nêu câu hỏi xoáy thẳng vào gốc rễ của mọi chấp trước về thời gian và chứng đắc. Cư sĩ Duy Ma Cật hỏi rằng, sự thọ ký của Phật dành cho Di Lặc là nhắm vào đời nào? Nếu là quá khứ thì quá khứ đã diệt; nếu là vị lai thì chưa đến; nếu là hiện tại thì hiện tại không dừng trụ. Ngay nơi một sát na, sinh, già, diệt đã đồng thời hiện hữu; vậy thì lấy gì làm chỗ đứng cho sự thọ ký? Nếu nói vô sinh mà được thọ ký, thì trong vô sinh vốn không có kẻ được thọ ký, cũng không có pháp để chứng đắc. Xa hơn nữa, Cư sĩ Duy Ma Cật chỉ bày rằng Như tánh vốn không sinh không diệt, không hai không khác; đã là
Như thì hết thảy chúng sinh, hết thảy pháp, hết thảy Hiền Thánh đều đồng một thể. Nếu Di Lặc được thọ ký thì cũng đồng nghĩa với việc tất cả chúng sinh đều được thọ ký chăng? Lời khai thị ấy không nhằm phủ nhận hạnh nguyện của Bồ Tát Di Lặc, mà để phá tan tận gốc ý niệm về một “người riêng biệt” chứng đắc chánh giác. Bồ đề không phải là quả vị để nắm bắt bằng thân hay tâm, mà chính là tịch diệt các tướng, lìa mọi phân biệt đối đãi bởi Bồ đề là bất nhị, bình đẳng như hư không, vô vi, vô thủ, vô xứ, vô tỷ; là trí liễu tri tâm hành của hết thảy chúng sinh mà không rơi vào hội hiệp hay phân ly. Khi Cư sĩ Duy Ma Cật giảng xong pháp này, hai trăm thiên tử chứng được vô sinh pháp nhẫn. Tự thấy mình chưa đủ thâm nhập cảnh giới ấy, Bồ Tát Di Lặc xin được miễn thăm bệnh.
Kế đó, Phật gọi Quang Nghiêm Đồng Tử thì vị này cũng bạch rằng mình không đủ năng lực. Quang Nghiêm kể lại lần gặp Cư sĩ Duy Ma Cật nơi cửa thành Tỳ Da Ly. Khi được hỏi từ đâu về, Cư sĩ Duy Ma Cật đáp: “Từ đạo tràng về.”
Nhưng khi được hỏi đạo tràng ở đâu, ông đã khai mở một chân lý làm rung động tận gốc mọi quan niệm hình thức: đạo tràng không phải là một nơi chốn vật lý, mà chính là toàn bộ đời sống tỉnh thức của Bồ Tát. Tâm chính trực là đạo tràng; tâm bồ đề là đạo tràng; bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ đều là đạo tràng. Từ, bi, hỷ, xả là đạo tràng; phiền não, chúng sinh, tất cả pháp cũng đều là đạo tràng, nếu được thấy bằng trí tuệ vô ngã và tính không. Ngay cả ba cõi sinh tử cũng là đạo tràng, vì Bồ Tát không còn chỗ để đi, cũng không còn nơi để trụ.
Từng bước chân của Bồ Tát, nếu tương ưng Ba la mật và lợi ích hữu tình thì đều từ đạo tràng mà đến, đều an trú trong Pháp Phật. Lời pháp ấy khiến năm trăm trời người phát tâm cầu giác ngộ vô thượng nên Quang Nghiêm con tự thấy mình chưa đạt được cái nhìn viên dung ấy nên con xin từ chối. Tiếp theo, Phật bảo Trì Thế Bồ Tát đi thăm bệnh thì Trì Thế cũng bạch rằng mình không đủ năng lực, rồi thuật lại câu chuyện Ma Ba Tuần giả dạng Đế Thích mang theo mười hai ngàn thiên nữ đến cám dỗ. Khi Trì Thế còn đang phân biệt và khước từ theo giới luật hình tướng thì ngay lúc đó Cư sĩ Duy Ma Cật đã xuất hiện, chỉ rõ đó là ma, rồi dùng chính phương tiện nghịch thường để hàng phục ma và hóa độ các thiên nữ.
Cư sĩ Duy Ma Cật chẳng những không bị nhiễm trước bởi sắc dục, mà còn khiến các thiên nữ phát tâm Bồ đề, biết quay lưng với ngũ dục để tìm niềm vui nơi Chánh pháp. Cư sĩ ấy giảng cho họ thế nào là “vui trong Pháp” do vui vì tín Phật, văn Pháp, hộ Tăng; vui vì đoạn trừ tham dục, thấy rõ ngũ uẩn như kẻ thù, bốn đại như rắn độc; vui vì nhổ gốc phiền não, trang nghiêm Phật độ, thành tựu vô lượng công đức. Cao hơn nữa, Ngài còn dạy pháp môn “Vô tận đăng” tức ánh sáng giác ngộ của một Bồ Tát có thể mồi sáng vô lượng ngọn đèn khác mà không hề suy giảm. Thấy rõ trí tuệ và phương tiện ấy nên Trì Thế biết mình chưa thể sánh kịp nên con xin từ chối.
Sau đó, Phật gọi Thiện Đức, con trai một vị trưởng giả thì Thiện Đức cũng bạch rằng mình không đủ năng lực. Anh kể lại việc từng tổ chức một đại hội bố thí suốt bảy ngày để cúng dường khắp mọi tầng lớp. Nhưng Cư sĩ Duy Ma Cật đã đến và chỉ rõ rằng, đó chỉ là tài thí, chưa phải đại hội chân thật. Đại hội chân thật là Pháp thí, là trong một niệm mà khởi đầy đủ tâm Bồ đề, từ, bi, hỷ, xả; là hành lục Ba la mật, tứ nhiếp pháp, tam giải thoát môn; là lấy vô ngã, vô tướng, vô tác làm nền; là vì lợi ích chúng sinh mà khởi nghiệp trí và nghiệp tuệ.
Pháp thí ấy không phân trước sau, không chọn đối tượng, không cầu báo đáp. Người an trú nơi Pháp thí là đại thí chủ, là ruộng phước tối thượng của thế gian. Khi Cư sĩ Duy Ma Cật thị hiện đem vòng trân châu chia cho người hành khất nghèo nhất và cúng dường Như Lai thì tất cả đại chúng đều thấy rõ là bố thí với tâm bình đẳng, vô cầu, chính là đồng với công đức của Phật. Ngay cả người ăn xin thấp hèn nhất cũng phát tâm Bồ đề. Chứng kiến và nghe pháp như vậy nên Thiện Đức biết mình chưa đạt được chiều sâu ấy nên con xin từ chối.
Cuối cùng, tất cả các Bồ Tát đều lần lượt bạch Phật rằng họ không đủ năng lực đi thăm bệnh Cư sĩ Duy Ma Cật. Điều này không làm giảm uy đức của các Ngài, mà trái lại, làm hiển lộ trọn vẹn dụng ý sâu xa của phẩm kinh rằng, Cư sĩ Duy Ma Cật không đại diện cho một cá nhân vượt trội, mà là biểu tượng sống động của trí tuệ Bất Nhị và hạnh Bồ Tát nhập thế.
“Bệnh” của Cư sĩ Duy Ma Cật chính là tấm gương soi chiếu mọi chấp trước vi tế còn ẩn tàng nơi hàng tu học vì còn chấp thời gian, chấp chứng đắc, chấp đạo tràng, chấp bố thí, chấp thanh tịnh. Khi những chấp ấy được tháo gỡ, thì bệnh và thuốc đều không còn. Đó chính là tinh thần bất khả tư nghì của Đại thừa: lấy phương tiện làm cửa ngõ, lấy trí tuệ làm cứu cánh, và lấy đại bi làm nhịp cầu đưa tất cả chúng sinh cùng đi vào con đường giác ngộ viên mãn. T
oàn bộ Kinh nêu bật vị trí siêu việt của trí tuệ Bồ tát đạo được thể hiện nơi cư sĩ Cư sĩ Duy Ma Cật hầu phá chấp hình tướng, địa vị và ngôn ngữ trên con đường giác ngộ. Khi Phật yêu cầu các vị Thanh văn đi thăm bệnh, họ đều từ chối vì từng bị Cư sĩ Duy Ma Cật chỉ ra rằng giải thoát không nằm ở hình thức tu tập, vai trò hay sở đắc cá nhân. Đến lượt các
Bồ Tát, tuy ở địa vị cao hơn, các ngài cũng lần lượt từ chối bởi chính họ đã từng bị Cư sĩ Duy Ma Cật khai thị pháp sâu xa vượt ngoài đối đãi, phân biệt. Quả vị Bồ đề không phải là một cái gì để chứng đắc, vì nếu còn thấy “ta chứng” thì chưa phải Bồ đề. Giác ngộ chân thật vốn là Bồ đề, sẵn đủ nơi tự tâm chứ không phải một đối tượng ở bên ngoài để tìm kiếm hay chiếm hữu. Khi còn khởi niệm “ta đang tu”, “ta đã chứng”, thì cái “ngã” vi tế vẫn còn hiện diện, mà nơi nào còn ngã thì nơi đó chưa thể là giác ngộ viên mãn. Bồ đề chỉ hiển lộ khi mọi chấp trước về người tu, pháp tu và quả chứng đều buông rơi; lúc ấy không có kẻ chứng đắc, cũng chẳng có pháp để được chứng mà chỉ còn trí tuệ sáng suốt tự nhiên hiện tiền. Tất cả pháp đều là “Như” nên không có người được thọ ký riêng lẻ, không có chúng sinh nào thật sự sinh hay diệt bởi mọi hiện tượng đều đồng một tánh chân thật, không sai khác trong bản thể. Vì đã là Như nên không có pháp nào cao thấp để phân biệt, cũng không có một cá nhân riêng lẻ nào được thọ ký theo nghĩa tuyệt đối. Cái gọi là chúng sinh diệt hay sanh chỉ là hiện tướng do duyên tan duyên hợp như sóng nổi rồi lặng trên mặt nước. Bản tánh Như của các pháp thì chưa từng sinh, cũng chưa từng diệt, luôn lặng lẽ thường trụ.
Đạo tràng không ở một nơi chốn, mà chính là nơi tâm hành chánh trực, nơi mỗi hành động lợi tha đều là Phật sự, nó không bị giới hạn bởi chùa chiền hay không gian vật lý, mà được thiết lập ngay nơi tâm ngay thẳng, không tà vạy, không vụ lợi. Khi tâm hành chánh trực, mỗi lời nói, việc làm đều thuận với chánh pháp. Lúc ấy, đi đứng nằm ngồi đều là tu, tiếp người xử việc đều là hành đạo. Bất cứ hành động nào khởi từ lòng từ bi, trí tuệ và lợi ích cho người khác, thì hành động ấy chính là Phật sự. Đạo tràng vì thế hiện diện khắp nơi, theo từng bước chân của người tỉnh thức.
Pháp thí vượt trên tài thí vì chỉ khi khai mở trí tuệ và tâm Bồ đề cho người khác thì phước đức mới viên mãn. Pháp thí là đem chánh pháp, hiểu biết đúng đắn và con đường tỉnh thức chia sẻ cho người khác, giúp họ tự chuyển hóa khổ đau từ gốc rễ. Tài thí chỉ giải quyết nhu cầu trước mắt, còn Pháp thí khai mở trí tuệ, nuôi lớn tâm Bồ đề khiến người nhận có khả năng tự vượt thoát sinh tử và tiếp tục lợi ích cho nhiều người khác. Khi trao truyền ánh sáng hiểu biết, người cho không mất mà phước càng sâu dày. Vì vậy mà pháp thí được xem là vượt trên tài thí, đưa phước đức đến chỗ lâu dài và viên mãn.
Ma và Phật không ở ngoài tâm, nếu có trí tuệ và phương tiện thì ngay nơi cảnh ma cũng hóa độ chúng sinh bởi vì Ma và Phật không phải hai thực thể đối lập ở bên ngoài, mà đều phát sinh từ tâm con người. Khi tâm mê lầm, tham chấp thì cảnh hiện ra thành ma; khi tâm sáng suốt, từ bi thì ngay hoàn cảnh ấy liền hiện Phật đạo. Người có trí tuệ thấy rõ bản chất các pháp, lại có phương tiện thiện xảo, sẽ không sợ cảnh ma, mà dùng chính nghịch duyên để giáo hóa chúng sinh.
Vì vậy, không cần trốn tránh hay tiêu diệt, chỉ cần chuyển hóa tâm, thì nơi nào cũng có thể thành đạo tràng. Niềm vui chân thật là vui trong chánh pháp, không phải trong dục lạc hay phước báu hữu lậu. Niềm vui chân thật không lệ thuộc vào cảm giác khoái lạc hay phước báu đời sau, vì những thứ ấy đều vô thường và dễ dẫn đến tham chấp.
Vui trong Chánh pháp là niềm vui của sự hiểu biết, buông xả và an ổn nội tâm. Khi sống đúng chánh kiến, chánh niệm, chánh hạnh, tâm nhẹ nhàng, không bị lôi kéo bởi được mất hơn thua. Niềm vui ấy không làm người say đắm mà càng khiến trí tuệ sáng hơn, từ bi lớn hơn, và tự do hơn trước mọi biến động của cuộc đời. Việc tất cả Bồ Tát đều từ chối đi thăm bệnh Cư sĩ Duy Ma Cật không nhằm tôn vinh cá nhân cư sĩ mà để làm nổi bật tinh thần then chốt của kinh này rằng, trí tuệ giác ngộ không bị giới hạn bởi hình thức xuất gia hay tại gia. Cư sĩ Duy Ma Cật dùng bệnh làm pháp môn, dùng đời sống thế tục để hiển bày đạo lý sâu xa khiến hàng Bồ Tát nhận ra chỗ còn chấp pháp, chấp vai trò của mình; qua đó khẳng định rằng giác ngộ chân thật nằm ở trí tuệ và tâm vô ngã, không ở địa vị hay hình tướng.
Chân lý tối hậu, như phẩm kinh này khéo hiển bày, không phải là điều có thể đạt được bằng sự tích lũy tri thức, bằng công phu tu tập hình tướng hay bằng bất cứ danh xưng thánh thiện nào, bởi hễ còn thấy có cái để nắm bắt, có người để thành tựu, thì chân lý vẫn còn bị che mờ vì đối đãi. Chân lý chỉ hiển lộ khi tâm an trụ trong trí tuệ bất nhị nơi không còn phân chia phàm và thánh, bệnh và lành, sinh tử và Niết-bàn… và khi lòng đại bi vận hành một cách tự nhiên, không điều kiện, không cầu báo đáp.
Trong ánh sáng ấy, “bệnh” của Cư sĩ Duy Ma Cật không còn là một trạng thái thân xác, mà trở thành một pháp môn sống động. Ông mượn thân bệnh để làm tấm gương soi chiếu lại căn bệnh thầm kín của người tu vốn hay chấp vào pháp mình hành, chấp vào cái “ta” đang tu, và chấp vào quả chứng mà mình mong đạt. Chính những chấp thủ vi tế ấy mới là nguồn gốc khiến đạo chưa viên mãn, trí chưa rốt ráo, bi chưa trọn vẹn.
Khi trí tuệ soi thấu, người tu nhận ra rằng bệnh vốn không thật có, thuốc cũng chỉ là phương tiện. Pháp như ghe thuyền dùng để qua sông thì không nên đội trên đầu; đến bờ rồi, cả bệnh lẫn thuốc đều buông xuống thì lúc ấy, không còn người dạy, kẻ học; không còn người bệnh, kẻ thăm mà chỉ còn sự tỉnh thức lặng lẽ, viên dung, đang hiện hữu ngay giữa đời sống thường nhật. Đó chính là ý nghĩa rốt ráo mà kinh này muốn trao truyền rằng, sống đạo ngay trong đời, giác ngộ ngay trong vô thường, và giải thoát ngay khi mọi chấp trước đều tan biến.
Nguyện đem những lời này, hướng đến tất cả vạn loài, mong chúng sanh khắp vũ trụ đều an vui, giải thoát.
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng 1-1-2026
TRUYỆN NGẮN SỎI NGỌC: Buông Tay & TIẾNG HÁT NGỌC HUYỀN – CA KHÚC THÔI NHÉ ĐỪNG YÊU – ST Yên Vy.
TRUYỆN NGẮN: BUÔNG TAY – SỎI NGỌC
Buông tay cũng là một cách ta yêu thương
Buông tay cho lòng thôi hết vấn vương
Buông tay như là ta hy sinh cho nhau
Buông tay để một cuộc sống mới bắt đầu
(Buông tay- Đức Thành và Phúc Chinh)
Ngắm dáng chàng nằm ngủ thật yên trên chiếc giường rộng của hai vợ chồng, đôi mi khép thật bình an, chiếc miệng hơi mở như một nụ cười toại nguyện. Tôi rúc đầu vào lồng ngực rộng của chàng, đã rất lâu tôi mong có được sự chở che này trong giấc ngủ. Cái hạnh phúc giản dị ấy, rất dễ với mọi người nhưng với chúng tôi, thật khó lắm!
o O o
Cách đây trên 25 năm, hồi chúng tôi học trung học ở Sài Gòn, tuổi ô mai 15-16 ăn chưa no, lo chưa tới, chàng đã từng chơi u, quay dây nhảy, ăn hàng với bọn con gái chúng tôi. Tiếng cười hồn nhiên theo tôi mãi trong ký ức cho đến khi tôi theo gia đình định cư tại Cali, miền đất ấm áp, nơi rất đông người Việt. Kỷ niệm ấy chôn vùi tận sâu trong ký ức với tuổi đời ngày càng lớn, bận rộn cuộc sống.
Sau khi ra trường với mảnh bằng kế toán, tôi được một người quen đưa vào làm ở một công ty may mặc, nơi ấy tôi quen với ông chủ hãng, giàu có, lớn hơn tôi gần 20 tuổi, anh lại là con trai của một người bạn thân của ba tôi khi còn ở quê nhà, và chúng tôi mau chóng tiến đến hôn nhân theo sự thúc giục của ba mẹ hai bên; ba tôi lúc đó sức khỏe không khả quan mấy, ông ta muốn tôi có nơi nương tựa, để nếu ông ra đi cũng yên lòng nơi chín suối, tôi chưa yêu ai nên đã chấp thuận để trả chữ hiếu cho tròn đầy.
Chúng tôi có với nhau một con gái thật ngoan và kháu khỉnh sau một năm, anh ít có thì giờ với nó, sự có mặt của anh ở nhà rất hiếm, với lý do công việc. Tôi tuy cũng bận công việc sở, nhưng phải về nhà đúng giờ để bù đắp sự vắng lặng thiếu sót của cha đối với con bé.
5 năm sống bên cạnh nhau, số ngày thì nhiều, nhưng những cuộc nói chuyện, tâm sự của chúng tôi như đếm trên đầu ngón tay, chúng tôi thực sự không hiểu nhau; mỗi lần bàn chuyện là to tiếng, làm cho bé Hiên bịt tai, lúc đó bé mới 3 tuổi, cả người nó co rúm lại mỗi lần gặp cha nó, nó núp dưới gầm bàn, hoặc sau bức tường, giọng nói lí nhí, bé ít ăn, người gầy nhom, bác sĩ nói:
– Bé có triệu chứng trầm cảm.
Tôi xót xa, chảy nước mắt mỗi khi nhìn thấy con ngày càng xuống cân, đôi mắt sợ hãi nhìn cha, nửa đêm ngủ mớ, rồi cả thân người co rúm lại như con tôm, hai tay bịt tai.
Tôi suy nghĩ rất nhiều, muốn đem con xa khỏi cái không khí thiếu tình gia đình này. Tôi đưa ra quyết định…ly hôn!
Tôi tưởng anh sẽ chống lại, bào chữa, hay tự sửa mình; nhưng không!… Anh cầm bút nhẹ nhàng ký vào đơn ly hôn; anh không đòi nuôi con, cũng chả làm khó dễ gì, hình như anh đang chờ đợi lời đề nghị này của tôi lâu lắm rồi vậy!
Anh trợ cấp cho tôi và con một số tiền kha khá để mua một căn condo gần Bolsa. Trước khi ra đi, anh còn nói một câu:
– Có thể từ nay trở đi, tôi sẽ không về thăm… Hãy sống và dạy bảo con cho tốt.
Đôi mắt tôi ráo hoảnh, hững hờ nhìn dáng anh khuất sau cánh cửa.
o O o
Mười mùa lá vàng trôi qua, tôi 42 tuổi, mẹ đơn thân, một mình kiên cường với cuộc sống, bé Hiên là mục đích, hy vọng duy nhất. Tôi làm việc ngày đêm để quên thời gian, để dành tiền nuôi con ăn học. Con gái Hiên đã 14 tuổi, cái tuổi mà tôi đã từng trải qua, hồn nhiên thánh thiện và bắt đầu bước vào đời.
Giáng Sinh năm ấy, sở tôi tổ chức đi ăn ngày cuối năm, giữa những tiếng cười, tiếng ly chạm nhau, những lời chúc kết thúc một năm cũ, tôi nghe tiếng nói trầm ấm bên tai:
– Cô… Cô ơi, chiếc áo khoác của cô rơi xuống đất rồi…
Tôi quay lại, người đàn ông dáng cao với khuôn mặt thanh tú nhặt giùm chiếc áo dưới đất lên, đưa cho tôi mỉm cười; ánh mắt chàng thật quen lắm, và nhất là kiểu tóc mái rũ…Chàng và tôi nhìn nhau không chớp mắt.
Một lúc, chàng lên tiếng:
– Có phải… hồi xưa cô học ở… Lê Quý Đôn không?
-… Phải rồi… hình như anh là Thiện phải không?
-…Bích Mai phải không?… lúc này làm gì? ở đâu? Gia đình ra sao?…
Chúng tôi rất vui mừng gặp lại bạn xưa, hỏi tin nhau dồn dập.
Thiện nhắc lại kỷ niệm cũ làm chúng tôi cười thật vui như sống lại thuở học trò:
– Mai có nhớ hồi đó Thiện bị mất dép không?… các bạn nữ đã giấu đôi dép mình tuốt trên ngọn cây bồ kết trong sân trường, làm kỳ đó bên đội nam phải chịu thua, cõng từng cô bên đội nữ một vòng sân. Kỳ đó Thiện cõng Mai đó nhớ không?
– Nhớ chứ, mấy tên kia cõng đi nhanh là hết một vòng sân rồi, ai như Thiện cõng Mai đi từ từ, bị chọc là cõng đi ngắm hoa hay sao đó mà lâu mới về đích!
– Ngàn năm một thuở mà, phải tận dụng chớ!
Đã rất lâu, tôi mới được cười hả hê đến thế!
o O o
Thiện cũng như tôi, đã ly dị và có một cháu trai 16 tuổi.
Tình bạn từ trung học ngày xưa làm chúng tôi gắn kết lại một cách dễ dàng, nhanh chóng, nhiều khi không cần nói, chỉ nhìn trong ánh mắt nhau, chúng tôi hiểu đối phương muốn nói gì. Những buổi hẹn hò đi uống nước cuối tuần, chúng tôi như đôi chim sẻ, huyên thuyên kể chuyện, hạnh phúc, quên tất cả mọi mỏi mệt của cuộc sống.
Một buổi chiều, sau 2 năm qua lại, ngồi trong góc một tiệm ăn tối, Thiện bỗng đan tay chàng vào bàn tay tôi, hôn nhẹ lên tóc tôi, dưới ngọn nến lung linh lãng mạn, chàng lướt chiếc nhẫn kim cương lóng lánh sáng vào ngón tay áp út, đề nghị một cách giản dị và chân tình:
– Em và con gái về sống với cha con anh nhé, mình cùng nhau xây lại tổ ấm…
Hơi chút bất ngờ, cảm động, nhưng tôi vẫn ghẹo vui:
– Ủa! sao anh nói ở một mình có cái hạnh phúc riêng mà?
– Nhưng sẽ không hạnh phúc bằng khi có hai người!… Cuối tuần sau anh sẽ đến đón em và con gái nhé?… Không cần mang theo gì đâu, đi tay không là được!
– Ôi sao nhanh thế?… Để em hỏi ý con bé đã, xem nó có chịu cho mẹ nó …đi lấy chồng không đã!
– Chắc chắn con bé sẽ hoan nghênh ngay đấy!
– Anh tự tin quá há!…còn nếu không thì sao?
– Ôi thế thì… người ba dượng này sẽ phải nhanh tay lo đút lót cho con bé mới được!
o O o
Bé Hiên nhìn mẹ vui và hạnh phúc bên chú Thiện, nó không nỡ làm trái ý mẹ, nó đành miễn cưỡng gật đầu theo mọi người về bên chú ấy sống.
Ngày đầu tiên bước vào nhà Thiện, phòng khách và phòng ăn liền nhau, rộng rãi, sáng sủa; nhà có 3 phòng ngủ trên lầu, chàng đã sửa soạn cho bé Hiên một phòng màu hồng xinh xắn, với một cửa sổ nhỏ nhìn xuống sân sau; bên cạnh là phòng của Huy, con trai chàng, căn phòng xanh dương nhẹ, có tầm nhìn xuống góc trái của căn nhà, ánh sáng rộng từ cửa sổ hắt vào làm căn phòng đầy sức sống và cuối dãy là phòng của chúng tôi.
Tôi và con gái cảm thấy vui, hạnh phúc, nghĩ đây chính là gia đình mơ ước cuối đời của chúng tôi.
Buổi tối đầu tiên, bữa ăn còn gượng gạo của hai đứa trẻ, chàng gắp đồ ăn cho bé Hiên, cho tôi, rồi cho Huy, tôi cũng chọn miếng gà nạc cho Huy, miếng cá ngon cho Hiên, chúng cúi đầu ăn nhanh, không nói gì, rồi chuồn vào phòng riêng.
Những ngày tháng tiếp theo, tôi và Thiện thật hạnh phúc, mỗi buổi chiều về nhà đều có tiếng cười, tiếng nói của nhau, đã 10 năm hơn tôi mới được người lo lắng chăm chút, làm tôi thật cảm động, trân quý từng phút giây, nhưng điều làm tôi áy náy nhất là Huy vẫn khuôn mặt không cười và Hiên với cặp mắt chỉ nhìn xuống đất, chúng vẫn không hợp được với nhau! Tôi vẫn giữ hy vọng chúng sẽ hiểu nhau hơn sau này.
Một buổi chiều khi tôi đi làm ra, vội vàng ghé qua chợ mua một giỏ thức ăn, định về nhà sẽ làm món cá chiên chấm nước mắm mà bé Hiên rất thích, và cả tôm càng cho Huy. Vừa mở cửa ra, tôi đã nghe tiếng Huy giận dữ:
– Trả lại cái remote control đây!
-…Em xem TV trước mà… Em…
Thằng bé nhào đến giật cái remote trên tay Hiên:
– TV là của ba tao mua! Về phòng mày đi!
Nghe thấy tiếng “mày tao” của Huy, tôi bỏ giỏ thức ăn ngay ngoài cửa, vội vàng đến cạnh bé Hiên, ôm con gái vào lòng, nói với Huy:
– Sao con lại gọi em bằng mày?… Nó đang xem trước mà, con đến sau phải chờ chứ!
Bỗng Thiện xuất hiện ngay trước cổng nhà, chàng vừa đi làm về, cũng nói:
– Huy nhường em đi, con đi học bài trước rồi lát xem cũng được!
Huy vùng vằng, chạy vội vào phòng, vừa nói:
– Ba lại bênh nó!
Tôi nghe tiếng đóng cửa rầm trên lầu. Bé Hiên không còn lòng dạ nào ngồi xem TV nữa, nó tắt TV và trốn về phòng.
– Thằng Huy đã thiếu tình thương của mẹ từ khi nó mới 6 tuổi, anh chỉ có mình nó, nên bao nhiêu tình thương đều dồn cho nó cả, nay anh san sẻ tình thương này cho em và con gái, nên chắc nó tủi thân, em đừng giận hành động vừa qua của nó nhe, hãy bỏ qua cho nó, tìm cách gần gũi để bù đắp cho nó sự thiếu thốn tình mẫu tử.
– Vâng! Em đang cố gắng cân bằng cho cả hai đứa… con trai thật khó, nó không chịu mở lòng, nhưng em sẽ ráng hết sức…
o O o
Một buổi sáng đầu tuần, chúng tôi ai nấy bận rộn sửa soạn bữa sáng và lấy đồ ăn đem đi làm, tôi nghe tiếng đập cửa inh ỏi trên lầu, cả tôi và Thiện bỏ hết mọi thứ, chạy lên xem, thấy Huy đang đập cửa nhà tắm, giọng vang lên:
– Có ra ngay không, ngủ trong đó sao lâu vậy?…trễ rồi đây, mở cửa ra!
Không có tiếng đáp lại từ bên trong.
Thiện lên tiếng giải quyết:
– Con có thể vào buồng tắm của ba dùng cũng được mà, chắc em Hiên đang bận trong ấy.
– Không! Đây là buồng tắm của con, có bàn chải, khăn và đồ dùng của con trong đó mà, tại sao nó lúc nào cũng chiếm đồ của người khác mà không biết xấu hổ vậy!
Tôi phone vào sở xin nghỉ một ngày. Tôi muốn một mình suy nghĩ cho thật kỹ để đừng quyết định lầm lỡ, bước lại vào vết xe đổ như với người chồng trước.
Tôi ngắm ngôi nhà xinh xắn hạnh phúc này, tôi ngỡ sẽ trải qua phần cuối đời nơi đây, tôi tưởng sẽ chắp nối một cách yên lành cho con gái tôi có thêm một người anh trai, có người bố dượng tốt, có gia đình yên ấm để sau này sẽ không phải cô đơn trong cuộc sống! Nhưng chỉ mới có 4 tháng thôi!
Bốn tháng vỏn vẹn để biết rằng … có hợp rồi có tan!
Nước mắt tuôn chảy không ngừng, mệt quá, tôi gục xuống thành ghế sofa thiếp đi hồi nào không hay.
Tôi tỉnh dậy khi nghe tiếng thét trên lầu của Hiên, mới biết nó vừa đi học về, tôi chạy ba chân bốn cẳng lên lầu.
Trước mắt tôi cả căn phòng bừa bộn, mấy tấm ảnh chụp của bé Hiên treo trên tường bị ném hết xuống đất, tấm nào cũng có bút mực đỏ, đen gạch chéo trên đó, tôi nhìn lên tấm gương to ở bên cạnh, vết viết bằng cây son môi đỏ chói:
– Hãy cút về nhà mày! Trả lại ba cho tao!
Tôi và Hiên sững sờ, nhìn cảnh tan hoang của căn phòng, đoán được rằng hồi sáng trước khi ra khỏi nhà, Huy đã phá nát tan căn phòng của con bé!
Hiên sà vào lòng, ôm lấy tôi, gào to:
– Mẹ ơi, con không ở đây đâu, con không muốn ở nhờ nhà người ta để bị xỉa xói mỗi ngày, con không thể sống nổi nữa đâu mẹ ơi!… Mình về nhà mình đi mẹ! con xin mẹ!
Tôi vuốt tóc con, nước mắt đầm đìa, trấn an:
– Mẹ lúc nào cũng ở bên con, mẹ xin lỗi, mẹ đã sai rồi, mẹ đã làm điều không đúng!
o O o
Hai tháng trôi qua trong ngôi nhà cũ thân thương, yên ấm, bé Hiên đã lấy lại được nụ cười hồn nhiên, con bé vẽ những bức tranh có bầu trời ngập ánh nắng, hoa đủ màu nở rộ và những chú bướm bay lượn; tôi không còn bận rộn làm những bữa cơm cầu kỳ nữa, tôi có nhiều thì giờ bên con gái hơn, xem bài vở, nói chuyện và hướng dẫn con bước vào đời qua những mẩu chuyện con gái kể về bạn bè trong lớp học.
Thiện có text cho tôi:
– Anh xin lỗi em và con gái, thằng bé Huy chưa chuẩn bị tâm lý để có mẹ kế cũng như em gái, hãy cho các con của chúng ta thêm thời gian em nhé. Thằng Huy bỏ nhà đi theo mấy thằng bạn hư hỏng mấy ngày nay, anh gọi phone nó cũng không bắt; anh không muốn làm nó bị tổn thương hơn nữa, xin em hãy thông cảm cho anh, mong em và con gái nhiều sức khỏe và anh không dám hứa điều gì cho tương lai. Bye em!
Tôi không trả lời Thiện, 2 tháng nay chúng tôi không hẹn gặp mặt, ít nhiều gì lòng tự trọng cũng đã bị tổn thương, tôi nhớ chàng đã từng nói:
– Dù gì cuộc đời mình cũng coi như xong, bây giờ anh chỉ muốn cho thằng Huy cũng như con gái em một gia đình có cha, có mẹ, hòa thuận, để sau này chúng ra đời sẽ vững chãi hơn…
CÔ GÁI VIỆT PHIẾM – ĐỘI QUÂN TÓC DÀI HAI BÀ TRƯNG 2026
CGV Phương Hoa
Tui là một CÔ GÁI VIỆT. Kính xin thưa thiệt, Năm Mới tới rùi, nhưng tui bị xui, cúm hành tới lui, mấy ngày nằm vùi, bút treo đầu bếp. Trộm nghĩ: Dù tẻ hay nếp, năm mới năm me, bút bi hay bút tre, cũng cần khai bút, nếu không muốn bị …lụt nghề. Thôi thì…ngồi dậy đi tề! Khăn áo đề huề, tìm đề mà… tám! Đây là đề tài: ĐỘI QUÂN TÓC DÀI – NGỰA PHI NƯỚC ĐẠI NĂM 2026.
Đầu năm 2026, “đạo quân” hùng hậu gần 70 Cô Gái Việt nhóm tui – úi giời ui! tóc dài phấp phới – xinh đẹp rạng ngời – tui dám chắc ai nhìn cũng phải mê tơi, mê đến… chới với chơi vơi! Các cô toàn là dân chơi thứ thiệt, rành mọi việc, giỏi mọi bề, thơ dzăn thì hay khỏi chê, nấu nướng chụp hình khoe trên mạng nhìn mê đến … chảy cả nước miếng. Nhóm tui còn có nhiều tóc dài rất có máu tếu máu hài.
Chưa viết được chữ nào tui đã tự cười dài. Nhớ lại trước đây trong đội quân của tui ai đó đã cho đọc những câu thơ “lộn ruột” kiểu như:
“Chị Hai vừa mới sửa ti
vi hết năm triệu cũng vì lỗi ngu
Anh Ba vừa mất con cu
gáy mua nghìn rưởi bù lu khóc òa…”
Dẫn đầu cái nhóm “gây bão” này là một Bà Bầu. Bầu ta thiệt là ngầu, gồm thâu dzăn dzõ, vào vườn ra ngõ, chữ tốt thơ hay, chính tả đọc tài, tranh thơ độc lạ. Rồi thì là họa thơ thơ họa, Đường Thi Muối Thi… gì gì cũng có. Ai làm Đường Thi mà bị té lật gọng gãy giò cũng đều được Bà Bầu của tui phụ… sửa lưng cho. Rồi nào là cùng nhau làm thơ liên hoàn, chọc phá, móc nghéo để mà vui. Quan trọng hơn cả là chia sẻ những sưu tầm giá trị “lời hay ý đẹp” học làm người tốt, những kinh nghiệm đời thường, bấm huyệt trị bệnh, diệt gián chùi xooong, những bài thuốc kỳ diệu nằm lòng, và các loại thức ăn trường sinh bất lão…
Bên dưới boss BB là cả một “triều đình” rộn ràng: Chị Cả Minh Nguyệt hoa khôi đẹp nhất làng, đẹp mặn mà như… mắm nhĩ Phú Quốc, chị nói câu nào là như hoa xuân nở rộ, cả nhóm “dạ răm rắp” đầy yêu thương. Chị Hai Ngọc Hạnh tính tình hiền lương, chuyên đi du lịch và làm… nhiệm vụ tường thuật cho mọi người xem nhiều phong cảnh hữu tình, chị viết nhiều và nhanh như lá mùa thu bay lả tả. Chị Ba Hồng Thủy văn hay chữ tốt vừa xinh đẹp vừa có tâm từ, thương yêu hết mọi người, ai ở xa về Thủ Đô đều được chị chào đón, các em đều yêu quý chị. Chị Sương Lam tâm từ, người thông đạo hạnh, chị chuyên viết chủ đề một cõi thiền nhàn, ai đọc vô cũng thấy lòng nhẹ tênh, muốn …đi tu cho thoát vòng khổ não. Chị Sao Khuê dược sĩ, hễ ai than “đau đầu” là chị hỏi liền: “Đau vì thiếu ngủ hay vì thiếu… người thương?” rồi bày thuốc, bày luôn cả cách sống khỏe, sống vui, chị còn chuyên “trị” nhiều bài phân tích những loại thuốc tốt xấu dở hay, cùng sẻ chia nhiều mẹo vặt tuyệt vời hữu ích. Chị Hội Đồng Tiểu Thu văn chương mượt mà thiết tha diết da như “Hồ Biểu Chánh” ngày xưa, văn chị khiến người đọc rồi còn ngẩn ngơ …cả buổi. CGV Nguyễn Thị Thanh Dương thơ truyện đời thường nhưng làm cho độc giả yêu thương và vấn vương không ít. Tác phẩm của Thanh Dương lưu truyền xoay tít, xoay vòng vòng cuối cùng người ta chuyển về cho…chính tác giả! Chị chuyên viết thư họa Đỗ Dung, văn chương hay mịt mùng, luôn tìm mây… túm gió. Phạm Phan Lang Trung Tá, nhà nhiếp ảnh đại tài, nhà du lịch khắp trời mây, hết đi đông tới đi tây, bởi vì “sinh nhằm nơi đầu gối ông Hoàng Đế!” Nữ dịch giả Thái Lan tuy chuyện dịch ngắn vài trang nhưng là đều truyện hay đáng đọc. Thúy M được bầu là “nhà bác học” chuyên tra cứu “Fake News”. Chị Ngọc Hà kỹ sư rất quý yêu bè bạn. Anh gà Phương Lan hay … quờ quạng, nên “dê Chúa” là biệt danh, nhưng tình tình rất lành, ai chọc ghẹo đều cười hi hí. Hoàng Dung chuyện tếu không bao giờ bí, từ bà bán thịt “Lộn em 4 lạng” tới rao bán giọng Huế mỏi mệt về khuya, “Ai mua đu đủ, bánh tét, vịt lộn…”
Ui! Nhìn đi nhìn lại thì còn khá bộn các CGV nhà nầy. Làm sao tui… túm cả vào đây? Cái điện thoại dung lượng đã bị đầy, mà cái tay nầy cũng đà quá…mỏi. Xin cho tui chỉ đếm “quý danh” những “gương mặt thường nổi” với bài vở thường xuyên: Kim Loan, Kim Oanh, Ngọc Huyền, Minh Thúy, Hồng Thúy, Ngọc An, Chị Thêm Nguyễn, Mỹ Hoàn, Quỳnh Hoa, Ý Nga, Thu Hương, Hoàng Thục Uyên, Hoài Niệm, Ngân Bình, Minh Giang, Hoàng Quân Ngọc Thúy, Song Thy, Tuyết Phan nhạc sĩ, Kim Phú, Thúy Vinh, Tường Thúy, Vi Vân, Tố Phương, Nguyễn Nghĩa, Mỹ Nga, bội Hằng nhà ta, Tưởng Dung, Linh Đắc, Mắt Nâu, Mẫu Đơn từ lâu chưa hiện. Còn ai chưa “trình diện” xin hãy trình làng, bài gửi vài trang cho mọi người dễ nhớ.
Xin thưa …các mợ, mời hãy tham gia. Vì còn hằng hà số người lặn hút. Năm mới 2026, chia sẻ văn thơ, mẹo vặt đợi chờ, sưu tầm lời hay ý tốt, cùng nhau tán dóc, từ sáng tới khuya. Mỗi ngày mỗi giờ, tíu ta tíu tít, vui như chợ Tết, lả tả thơ bay, chuyện vui rớt đầy, tiếng cười vang ngõ. Hàng xóm hàng gió, làn sóng Wi-Fi cũng phải lung lay, rung rinh và rủng rỉnh…
Đầu năm 2026: Nhóm Cô Gái Việt con cháu Hai Bà, không cần trống đồng, không cần gươm giáo — chỉ cần bàn phím, cộng tình người ấm áp là đủ khuấy động cả mùa xuân. Ai bước vô nhóm này rồi là xác định: Cười hoài – thương hoài – ĐỘI QUÂN TÓC DÀI PHI NƯỚC ĐẠI NĂM CON NGỰA
Lộc cộc lộc cộc…
Năm Bính Ngọ 2026, đoàn Ngựa Đội quân tóc dài CÔ GÁI VIỆT không cần yên cương, không cần roi ngựa — chỉ cần tình chị em, chút duyên trời cho, và những trái tim thiện lành, những cái miệng cười không ngưng nghỉ, là đủ phi thẳng vào mùa xuân. Năm 2026, ngựa có thể phi khắp bốn phương, nhưng tiếng cười của các Cô Gái Việt thì phi thẳng vô tim, ai đọc bài này rồi mà không… cười lộn ruột, không quên luôn tuổi tác, quên cả deadline… thì đó là người có trái tim…. RAU MUỐNG! (Vô Tâm Thảo)
Phương Hoa – Khai bút Tân Niên 2026.
VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT: CHÙM TRANH VẼ Của Họa Sĩ TUYẾT NHUNG & NHỮNG BÌNH HOA NGHỆ NHÂN TUYẾT NHUNG CẮM.
*
*
*
*’
*
*
*
*
*
*TUYET NHUNG CẮM HOA – NHỮNG BÌNH HOA ĐẸP MÊ HỒN
VĂN CAO MỴ NHÂN – HỘI TRĂNG QUỲNH & QUÂN LỰC VNCH – AI CÒN NHỚ …AI ĐÃ QUÊN…
HỘI TRĂNG QUỲNH
Nói tới người Việt Nam làm thơ thì rất nhiều, từ cổ chí kim, từ đông sang tây, nơi nào có người Việt Nam cư ngụ, là y như có thi sĩ, vì quý vị vẫn thường ví mỗi người Việt Nam là có có một thi sĩ trong tâm hồn, đến nỗi thơ ca tràn ngập đều khắp các sinh hoạt cuộc sống nhân dân ta.
Người Việt Nam làm thơ nhiều đã đành, không dành hẳn cho riêng giới văn nhân, tài tử, thích nhả ngọc, phun châu, mà thơ ca đã ưu ái cả giới bình dân, suốt ngày làm việc chân tay, vẫn có thể thở ra những câu thơ thay cho điều cần bày tỏ ý kiến, hoặc quan niệm của mình.
Đã thế, tôi còn cảm thấy phái nữ làm thơ nhiều hơn phái nam nữa, có lẽ phái nam vốn mạnh mẽ, hào sảng, nên muốn làm thơ là phải viết thế nào cho có vẻ… thơ. Còn phái nữ vốn đã thơ từ nhân dáng, tâm tư, tình cảm, nên chỉ cần thốt ra lời lẽ êm đềm, vần điệu, là trở thành thi sĩ tự bao giờ!
Vì thế cho nên mới có cái làng quan họ ngoài Bắc, quý chị em đầu cần phải biết kỹ thuật thuật thơ đâu, vậy mà ngôn ngữ chứa chan thơ thơ, mộng mộng, khiến bên nam, hoặc bất cứ ai nghe được, cũng thầm vương vấn.
Vẫn chuyện phụ nữ làm thơ, tôi xin phép giới thiệu một hội thơ cận đại, có danh xưng là Hội thơ Quỳnh Dao, quý vị ngoài hội còn gọi Thi đàn Quỳnh Dao, hay Thi đoàn Quỳnh Giao nữa.
Nguyên khoảng giữa thế kỷ 20 vừa qua, quý vị làm thơ trên, là những bậc nữ lưu xuất thân từ những gia đình có gốc gác văn chương, văn học, được giới mộ điệu thi ca biết đến khá nhiều.
Thí dụ: nữ sĩ Cao Ngọc Anh là ái nữ cụ cố Cao Xuân Dục, một vị quan triều Nguyễn . Nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội là phu nhân thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, nữ sỹ Hồng Thiên là hậu duệ cụ cố Nguyễn Khuyến…
Khởi thủy, 4 nữ sĩ thủa bấy giờ, các năm đầu, các năm …. đầu thập niên 60 thế kỷ trước, thường xướng họa thi ca trên các báo, quý vị đã tìm gặp nhau để phát họa hình thành một hội thơ nữ lưu, gồm 4 vị sáng lập: Mai Oanh, Thu Nga, Đinh Thị Việt Liên và Vân Nương.
4 vị vừa nêu đồng ý trong hoàn toàn nguyên tắc là thâu nhận hội viên qua 2 điiều kiện sau:
– Quý vị sống trong hoàn cảnh binhg thường
– Biết sáng tác, xướng họa thơ luật Đường.
Đọc tới đây, quý vị độc giả sẽ mỉm cười, hỏi rằng “hoàn cảnh bình thường” là thế nào?
Xin thưa, là một phụ nữ đang làm vợ, làm mẹ, hay đã làm bà nội, ngoại, tức các vị nữ lưu ấy không bị kéo sốc lên bởi những éo le, của tình tang trong gia đình về phương diện tình cảm. Tất nhiên có những quả phụ, danh chính, ngôn thuận như nữ Quỳ Hương, Uyển Hương…
Buổi đầu “chơi thơ” chưa hề đặt vấn đề Hội trưởng, trưởng đoàn… mà chỉ chuyên chú vào chuyện xướng họa tao nhã. Nên hội thơ chỉ họp vào mỗi buổi tối “đêm trăng tròn 16”. Các khuôn viên liên hệ của các nhà thơ nữ đương nhiên khuôn viên nào được tổ chức, thì thi sĩ chủ nhân “đăng cai” đài thọ hết chi phí trà nước, tiệc tùng.
Thí dụ: khuôn viên Minh Minh Thư Uyển thưởng trăng 16 tháng giêng thì nữ sĩ Như Hiên đãi khách thơ tham dự, tùy phương tiện và sáng kiến tiếp tân của chủ nhân kỳ đó.
Đã đến lúc hội thơ cần đặt cho chi lan, tỷ muội một tên chung, quý vị đã đặt tên Hội Thơ Quỳnh Dao. Nhưng tùy cảm nghĩ của mỗi vị khi sáng tác, lại thả vần cho buổi họp ấy, nào là hội trăng Quỳnh, trăng tròn, trăng 16, vườn Quỳnh, đài Dao v.v…
Thế rồi thì danh tiếng hội thơ Quỳnh Dao đã quy tụ được trên 50 vị nữ sĩ, đa phần là cao tuổi, am tường Hán học và Pháp ngữ, đến tai cụ bà Cao Ngọc Anh, một danh thơ Đường từ đầu thế kỷ thứ 20 (cụ sinh vào cuối thế kỷ 19), nên nữ sĩ Cao Ngọc Anh được mời tham dự, cụ đã gia nhập Hội thơ Quỳnh Dao năm sau đó, khi cụ đã ngoài bảy chục, vì thế, nếu tính đến nay, cụ 120 tuổi hơn.
Ngay thủa đó, các nữ sĩ trong hội thơ Quỳnh Dao tôn phong đại lão nữ sĩ Cao Ngọc Anh là niên trưởng Quỳnh Dao. Noi theo thời đại này, cụ là đệ nhất niên trưởng vậy.
Người kế vị, nữ sĩ Cao Ngọc Anh khi cụ mãn phần, là nữ sĩ Đào Vân Khanh, thân mẫu của ông Vũ Khánh đại sứ ở Nhật, nhạc sĩ Vũ Thành và nữ sĩ Uyển Hương, quý ông Vũ Khánh, Vũ thành (nhạc sĩ) đã mất từ lâu, cụ cố, Đào Vân Khanh chung cuộc khi 103 tuổi (1988) hiện còn tại thế, ái nữ của cụ là nữ sĩ Uyên Hương cũng đã khoảng 95 tuổi.
Nữ sĩ Đào Vân Khanh mất ở hải ngoại, tức sau cuộc di tản 1975.
Bây giờ sau 1975, hội thơ Quỳnh Dao đã thất tán đi khắp nơi, quý cụ theo con cháu ra hải ngoại, theo con cháu về quê, bệnh, già… còn lại ở tại Saigon mười mấy vị, nữ sĩ Mộng Tuyết bước vòa thất thập cổ lai hy vài năm, chúng tôi phong tặng chức niên trưởng Quỳnh Dao quốc nội, mặt khác, nữ sĩ Trùng Quang giữ chức niên trưởng Quỳnh Dao hải ngoại.
Nữ sĩ Mộng Tuyết mất ở Hà Tiên đã là gần chục năm, còn nữ sĩ Trùng Quang mất ở San Jose cách đây vài tháng, thọ 103 tuổi.
Tại sao hôm nay, tôi lại đề cập tới một hội thơ mà rải rác suốt bài, toàn các cụ đại thọ, và tin tức không còn biết tại thế, số là như đứng trước một buổi chợ chiều Hội thơ Quỳnh Dao, quý vị nữ sĩ đang ở tuổi thất, bát, cửu thập… nên chuyện ra đi về cỗi vô cùng, chỉ như những chặng đường dài, ngắn tùy theo tuổi tác và sức khỏe.
Cái lý do gần nhất, cũng không phải chuyện vừa viết ở đoạn trên, mà vì trở lại lời kể ban đầu, rằng 4 vị sáng lập hội thơ, nay đã, đang sao rồi.
Xin thưa, ngay vài thập niên đầu, nữ sĩ Mai Oanh từ giã chi lan, tỷ muội sớm nhất ở Saigon, mới đây, độ vài năm, nữ sĩ Thu Nga San Jose Bắc Cali. Như vậy, chỉ còn một vị đang ngẩn ngơ bên nước Pháp xa vời là nữ sĩ Vân Nương.
Thật buồn, chỉ trong 2 tháng, 2 cụ Quỳnh Dao xa rời thung lũng hoa vàng, niên trưởng Trùng Quang, sáng lập viên Đinh Thị Việt Liên vào cuối tuần này sẽ mãi an nghỉ trên đồi cao.
Buổi trưa nay, điên thoại reo, tôi nhấc máy Thắng, đứa con trai út của nữ sĩ Đinh Thị Việt Liên nói:
– Thưa, tôi muốn gặp cô Cao Mỵ Nhân
– Dạ, tôi đây.
– Thưa cô, cháu là Thắng, báo tin cô hay là bà Đinh Thị Việt Liên, mẹ cháu đã mất.
Tin cho nhau về một cụ già đã thất lộc là chuyện thường, nhưng lòng tôi ngổn ngang quá đỗi, Thắng nhờ tôi thông báo cho quý vị, thành viên hội thơ Quỳnh Dao, tôi nhận lời, nên xin gửi tâm tư tình cảm vào bài viết này, kính chuyển đến quý vị nữ sĩ hội thơ Quỳnh Dao ở Việt Nam và khắp nơi trên thế giới hay, để quý vị tưởng niệm trong lòng, và nếu còn sáng tác thì mượn thơ chia xẻ tâm tình, cùng nhớ lại những đêm trăng Quỳnh mười sáu ở quê hương xưa.
Trước khi chấm dứt cuộc điện đàm, Thắng con trai út nữ sĩ Đinh Thị Việt Liên đã 62 tuổi, nhưng vẫn thường xưng “cháu” với chúng tôi, vì bạn thơ của mẹ cậu, nên chẳng những Thắng mà tất cả các quý nam, ái nữ của các cụ nữ sĩ Quỳnh Dao đều thưa gởi với chúng tôi như thế, Thắng hỏi:
– Ô cô ơi, cháu muốn hỏi là tại sao cô hiện diện trong thi đàn Quỳnh Dao, toàn quý cụ cao niên, 8,9 chục tuổi hơn, có vị cả trăm tuổi vậy.
Tôi cười hiu hắt:
– Trong hội thơ Quỳnh Dao hiện nay, chỉ có 3 người thuộc thế hệ ngoài bảy chục, theo thứ tự từ nhiều hơn, tới ít; là nữ sĩ Tuệ Nga, Tôn Nữ Hỷ Khương, và út của hội là cô, cô sẽ chuyển tin buồn này, xin chia buồn với cháu và gia đình các anh chị cháu nhé”.
Hawthorene
25-12-2025
ĐẠI TÁ CAO VĂN ỦY– AI CÒN NHỚ …AI ĐÃ QUÊN…
QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA – AI CÒN NHỚ …AI ĐÃ QUÊN…
-Sinh tháng 11 năm 1933 tại Hải Dương
– Nhập ngũ ngày 13-5-1952
– Xuất thân trường sĩ quan Võ Bị Đà Lạt Khóa 7
– Liên Đoàn trưởng Liên Đoàn 2 BĐQ
– Tỉnh Trưởng Pleiku
– Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 106 Biệt Động Quân (tháng 4/1975)
MỘT THỜI ĐÃ YÊU
Một trong số rất hiếm vị sĩ quan cao cấp phải đi bộ từ PHÚ BỔN về TUY HÒA, nhưng tôi thật nhớ rõ ràng, anh tôi đại tá CAO VĂN ỦY, chức vụ sau cùng là Liên Đoàn trưởng Liên Đoàn 2 BIỆT ĐỘNG QUÂN, trong cuộc triệt thoái cao nguyên mùa xuân năm 1975, chính là người thầm lặng nhất, khi tôi hỏi anh sau này, từ Úc qua Mĩ năm 1999, rằng anh là một chứng nhân sống nhất, anh thấy chung quanh anh, trên quốc lộ 21 ấy, tất nhiên không có cấp tướng rồi, thì còn bao nhiêu đại tá tiếp sức ngày đêm để chia sẻ gian lao cùng với lính, rời CHUDRON đất đỏ, về ĐÀ RẰNG cát nổi mơ hồ.
Đại tá CAO VĂN ỦY cười hòa đồng với tất cả những ai muốn biết thêm về chuyện lui quân thuộc vùng 2 lãnh thổ:
– Cô đã có lần rời nhà ở BAN MÊ THUỘC lên PLEIKU cô có nhớ cái cánh rừng già, lá cây được phủ bụi mù như mặc áo, vô sâu bên tay mặt, và tấm bảng nhỏ, đề chữ PHÚ BỔN, đó là quận lỵ CHUDRON thời PHÁP đấy.
Tới sau năm 1956, nếu tôi nhớ không lầm, thì Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM đã nâng vùng đất đai này lên hàng Tỉnh,tỉnh PHÚ BỔN từ ngọn nguồn phía tây, chạy ngang, xuống tới quốc lộ 1, gặp tỉnh PHÚ YÊN tức TUY HÒA.
Quốc lộ số 21, xem như một vĩ tuyến nối liền 2 trạm tây, đông nêu trên, nó,quốc lộ số 21 ấy được kể song song với 2 quốc lộ xẻ ngang đất nước, là đường 19 nối từ PLEIKU xuống QUI NHƠN, và đường 23 nối từ BAN MÊ THUỘC xuống NINH HÒA.
– Trên bản đồ thì biết vậy nhưng ngoài thực tế, và trọng điểm là cuộc rút quân đương nêu, được bắt đầu và kết thúc làm sao?
– Thì sao không đọc cuộc triệt thoái cao nguyên của PHẠM HUẤN, ông sĩ quan chiến tranh chính trị đã mở màn cho cuốn phim lịch sử đó lâu nay rồi.
– Thưa anh, đại tá CAO VĂN ỦY, tất nhiên là ai cũng đã đọc, thậm chí còn đọc trên nhiều trang báo từ khi bắt đầu cuộc triệt thoái khi quân và dân ta rời phố núi về duyên hải, từ 1975 ở trong nước kia, nhưng biết anh hiện diện nơi đoàn người lũ lượt đó, em muốn anh kể lại xem có gì khác lạ không?
– Khác lạ về phương diện gì, cô nên nhớ là với 17, 18 năm tù của tôi, đại tá ỦY, tôi đã bị mài món trí nhớ, đến nỗi đôi khi tôi muốn có dịp nào, đi lại con đường đó.
– Để làm gì?
– Để xem thử mình có khác được không? Khóc thế nào, khóc thống thiết, hai mắt căng ra, cho lệ chảy thành sông, khổ lắm, hận lắm, tủi lắm. Nói chung thì cường độ đau buồn với tôi lúc này, nó đã tiềm ẩn thành khối băng, lạ lắm, không mừng và không tất cả, không, không, thôi đừng hỏi nữa.
– Tại sao vậy, lẽ ra anh phải viết lại cho thật rõ.
– À, thì cô cứ nhớ điều này nhé, ông tướng PHẠM TẤT của binh chủng BIỆT ĐỘNG QUÂN chúng tôi, là người duy nhất trên trực thăng, theo sát đoàn lữ hành di tản, cứ 15 phút thì lại đậu xuống một lần, để quan sát tình hình, khích lệ ngay trong buổi đầu, tôi không biết ví như thế nào, bởi vì tiền bạc hay hứa thăng thưởng không cần thiết nữa, chúng tôi chỉ muốn đi mau đi nhanh về vùng trời…an nghỉ, phải nói là mệt, mệt đứt hơi ra.
Tôi dẫn đầu đoàn người khổ nhục đó. Nhìn lại đằng sau, lính và dân sát cánh nhau, nhưng sắc áo lính nhiều hơn, có thể đoan chắc là không ai chỉ huy ai, nhưng vẫn nghe lời dẫn giảng, đề nghị nếu cần.
Con đường vẫn có đoạn còn dấu vết tráng nhựa xa xưa, nhưng nó đã bị bỏ quên lâu rồi, vì không cần thiết lắm ,nhưng có đoạn cây, giây leo cuộn rối như ở giữa lòng rừng, nên giống như mọi người vừa đi, vừa khai phá, y hệt một đoàn thám hiểm khổng lồ.
– Thế anh còn nhớ ai đã đồng hành với anh năm đó, hiện đang ở đây?
– Để cô tìm gặp người ta à, tôi đã nói với mọi người khi họ phỏng vấn tôi, là chúng ta nếu có điều kiện, một phải nói rõ hơn, hai đừng nói gì hết. Bạn đồng hành của tôi ở đây nhiều lắm, và hồi đó, chết cũng nhiều lắm.
– Nói rõ hơn như thế nào,theo ý anh?
– Lẽ ra phải quay trọn một cuốn phim, suốt thời gian di chuyển đó, nhưng chúng tôi có định đóng phim đâu. Ồ, mà ngoài cô, cũng có những cuộc di tản chiến thuật sôi nổi, như dân chúng ở HUẾ đổ xô vào ĐÀ NẴNG, hay từ QUẢNG NGÃI đổ ngược về CHU LAI v.v… nhất là 21 cây số đường đèo HẢI VÂN, người ta đã đẩy xe, và đẩy cả nhau xuống vực, để giành nhau thoát chạy nhanh hơn, sao cô không ghi lại và hỏi tôi về hành trình rút bỏ cao nguyên? Thật vô cùng bi thảm.
– Tại anh hiện diện trên hành trình đó, thì hỏi thăm cho chắc thôi. Vả chăng chúng ta còn đợi một người chép sử chính xác.
– Tất cả quân nhân VIỆT NAM CỘNG HÒA đều nên chép lại giai đoạn lịch sử này, trước, trong , và sau ngày 30-4-1975 trên khắp ngả đường đất nước miền nam VIỆT NAM.
Đại tá CAO VĂN ỦY, LIÊN ĐOÀN trưởng LIÊN ĐOÀN 2 BIỆT ĐỘNG QUÂN, xuất thân từ khóa 1 sĩ quan NAM ĐỊNH, đã từng tham gia tác chien trên nhiều chiến trường Nam, Bắc.
Có thời ông làm chỉ huy trưởng trường Hạ Sĩ Quan Nha Trang, là người đoạt chức vô địch súng trường của toàn quân QUÂN LỰC VNCH, bên cạnh đó, bạn tôi, võ sư thiếu úy HẠ QUỐC HUY vô địch súng colt, nên mỗi lần nhắc tên 2 vị vô địch tác xạ, tôi thường kể ra để không thiếu xót.
Đại tá CAO VĂN ỦY là một trong các vị thuộc Bộ Tham Mưu hành quân trực chiến, bị bắt ở PHAN RANG-khi vừa tan cuộc binh đao.
Rồi quý vị nêu trên bị tù đầy xuyên suốt tháng năm cải tạo,từ chớm mùa gọi là tập trung học tập,cho tới khi khai thông chiến dịch HO,để đa số tái định cư ở HOA KỲ, nhưng ông không đi MỸ mà tới ÚC, vì gia đình đang cư ngụ ở đó.
Hơn 20 năm, kể từ 1953 tới 1975, đại tá CAO VĂN ỦY sớm xếp bút nghiên, rời trường CHU VĂN AN HÀ NỘI, lên đường gia nhập Quân lực VNCH để theo việc đao cung. Song, ông đã sinh nghề kiếm đạo, mà lại không tử nghiệp, như không chết ở sa trường, lao tù với nhiều năm khổ sai, biệt giam, ông lại chết giữa bầu trời ấm áp nơi cuộc sống đã tạm yên, chỉ vì một mũi kim chích vô tình chạm thần kinh tọa.
Ngày ông qua Mỹ thăm họ hàng, và chủ yếu là chiến hữu các cấp binh chủng BIỆT ĐỘNG QUÂN, ông đã phải chống một cây gậy do bệnh viện X.ÚC cấp. Ông nói người ta đang lập hồ sơ giùm ông, để kiện cái sự việc vô tình làm chân ông suy thoái, nhưng ông nôn nóng gặp lại anh em đã từng đội mũ nâu, mang huy hiệu cọp rừng-nhe răng trên tay áo, ôi, một thời đã yêu, và một thời nhớ mãi. Ông hẹn ngày gặp lại, sẽ không lệ thuộc chiếc ba toong, tha hồ bay nhẩy.
Nhưng chẳng còn dịp nào nữa, vì ít lâu sau, đại tá CAO VĂN ỦY, đã âm thầm trở về cát bụi, con đường quốc lộ 21 hoang hóa buồn tênh kia, chắc có một lần trước khi nhắm mắt, anh thấy lại nó trong tâm tư người lính già trên tuổi tác, tai ương…, song, trẻ mãi cùng hồn thiêng sông núi.
Và, những người lính cảm thấy: có bổn phận phải hy sinh xương máu, để hồn thiêng sông núi linh hiển đến muôn sau.
Cuối năm thời tuyết cũng dần tan Hoa búp đầy cành nhú khẻ khàng Trời đất khởi bừng lên mạch sống Lòng người phơi phới đón xuân sang
Ước mong vận thế đời thay đổiĐem đến tương lai đẹp rỡ ràng Bởi Tết muôn vàn niềm hạnh phúc Khơi nguồn hưng phấn bước thênh thang
Hoàng Mai Nhất 1/1/2026
NỐI KẾT
Cõi trần nào phải giấc mơ Đẹp thay câu chữ ầu ơ dệt lời Nhìn xem gió thoảng mây lơi Hợp cùng ánh nắng sáng ngời lững lơ Thảnh thơi nối kết duyên tơ Tha hương cách trở vẫn chờ đợi nhau Nhớ chăng lần gặp ban đầu Tình làng nghĩa xóm đậm câu trông chờ Hiển nhiên chẳng phải ơ thờ Thỏa lòng mộng ước vần thơ trao người Việt Nam chữ nghĩa tuyệt vời Cháu con truyền giữ muôn đời về sau
Hoàng Mai Nhất
NGẮM BĂNG TRÔI VÙNG Nam Cực Từ Trên Du Thuyền – PhạmPhanLang.
TƯỜNG THUẬT TỪ TRÊN DU THUYỀN – EMAIL PHẠM PHAN LANG
VTLV TRÂN TRỌNG THIỆU TÁC PHẨM ĐẶC SẮC – VƯƠNG THANH.
Kính chào quý Văn Thi Nhạc hữu,
Chào Cả Nhà. Kính chúc Giáng Sinh Vui Vẻ. Năm Mới Hạnh Phúc.
Mời thưởng thức một chương thật lãng mạn, ngọt ngào trong kịch Shakespeare’s Romeo & Juliet, Balcony Scene, chuyển qua thể loại verse-story opera, ca kịch tương tự như Italian opera, Phantom, cải lương, phiên bản ca hát tiếng Anh rồi tiếng Việt. Có lẽ đây là kịch Shakespeare đầu tiên được chuyển thành toàn ca hát qua tiếng Anh và tiếng Việt. Mời xem.
-Vương Thanh
KIỀU MỸ DUYÊN – CHƯƠNG TRÌNH MỚI NHẤT CUỐI NĂM 2025: CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA
VĂN TỪ “CÔ GÁI VIỆT” Nguyễn Thị Thanh Dương: BABY SIT.
BABY SIT
Nguyễn thị Thanh Dương
“Cần người baby sit ở tại nhà, trông 3 đứa trẻ 7, 6, và 5 tuổi, làm vài công việc vặt. Có phòng riêng, lương hậu hỉ. Xin mời ”.
Đọc hàng loạt mục cần người đến nhà giữ trẻ, tôi dừng lại ở đây, sao mà thích hợp với tôi đến thế, tôi đang tìm một nhà có đông trẻ con để đến giúp việc, vì tôi cô đơn quá đổi. Cái nghề baby sit này tôi đã nghĩ tới với rất nhiều hứng thú sau những tháng năm dài mấy lần vấp ngã trong cuộc đời.
Tôi gọi phone ngay:
– Hello, chào chị, tôi có đủ điều kiện để xin làm baby sit cho nhà chị đây.
Giọng hớn hở bên kia đầu dây:
– Chị trẻ không? Khỏe không? Em có 3 thằng con trai quậy dữ lắm, đến nỗi bác Ba hiện thời đang baby sit tụi nó chịu không thấu, bác quá mệt đòi thôi việc nên em mới đăng báo kiếm người thế vô, bác Ba làm nốt 2 tuần nữa cho tròn tháng rồi mới ra…
Chị ta nói dài quá tôi phải ngắt lời :
– Tôi hiểu rồi, năm nay tôi 40 tuổi, sức khỏe tốt. Được không?
– Vậy thì tốt quá, coi như em nhận lời mướn chị, bữa nào mời chị đến nhà, coi những công việc bác Ba làm sao chị làm vậy.
Tôi đồng ý, hai tuần nữa tôi lại có một cuộc sống khác.
Một cuốn tiểu thuyết có bao nhiêu trang buồn vui thì cuộc đời tôi cũng có bấy nhiêu trang. Tôi là một đứa trẻ không có cha ngay từ trong bụng mẹ, nghèo khổ và lam lũ tôi sống với mẹ bữa đói bữa no trong một xóm lao động ở Việt Nam, năm tôi 12 tuổi mẹ tôi bị bệnh chết, không thân bằng quyến thuộc. Tôi bơ vơ.
Tôi được một bà hàng xóm tốt bụng mang tôi đến một gia đình họ hàng của bà. Đó là chủ hãng nước mắm ở bến Chương Dương, Sài Gòn, để tôi làm việc vặt gì thì làm, mục đích chính là họ nuôi tôi làm phước.
Ông bà chủ có hai người con gái tuổi mười tám đôi mươi, đa số tôi làm việc vặt cho hai cô. Biết thân phận mình tôi làm việc rất chăm và ngoan ngoãn nên cả ông bà và hai cô đều thương. Được sống ở thành phố, bên cạnh hai cô chủ, tôi phổng phao khoẻ mạnh và đầu óc khôn ra, những sinh hoạt của họ cũng cho tôi nhiều kiến thức. Lúc nào rảnh hai cô thay phiên nhau dạy tôi học chữ.
Tôi quý mến ông bà chủ hãng nước mắm lắm, tôi hay nói với ông bà con mong mau lớn con sẽ khuân nước mắm từ kho ra xe, ông bà đỡ phải mướn người ta. Nhưng chưa đến cái ngày tôi được làm công việc đó để đền ơn đáp nghĩa chủ, thì năm 1980 cả nhà ông bà tổ chức vượt biên, và tôi nghiễm nhiên đã là một thành viên của gia đình họ nên cũng được đi theo. Năm đó tôi 18 tuổi.
Sang đến Mỹ tôi vẫn tiếp tục làm người giúp việc cho họ. Vài năm sau hai cô học hành xong và lập gia đình, cuộc sống của tôi vẫn êm đềm theo gia đình chủ, nhưng hai cô nói tôi không thể suốt đời làm thuê làm mướn cho nhà cô mãi được, tôi đã trưởng thành cấn có một cuộc sống riêng, có vợ có chồng như người ta. Hai cô thương tôi mà nói thế, chia tay hai cô tôi buồn lắm và không tự tin chút nào, vừa xấu vừa không trình độ thì ai dám lấy tôi?
Thế mà có người thương tôi, lấy tôi, làm tôi vừa mừng vừa ngạc nhiên, anh quê ở Long Đất, Vũng Tàu, làm tài công chở người vượt biên từ ghe nhỏ ra ghe lớn, một hôm anh liều mình lên ghe lớn đi luôn, qua đây tứ cố vô thân. Anh cũng bơ vơ.
Gia đình ông chủ hãng nước mắm ở California, còn tôi và chồng rủ nhau về Tiểu bang Texas, nghe nói cũng đông người Việt Nam và nhà cửa thì rất rẻ so với Cali.
Sau này tôi hỏi chồng tôi với vẻ cảm động và vô vàn biết ơn rằng em xấu, em quê mùa thế tại sao anh lấy em, anh yêu em ở điểm nào ? Anh đáp thản nhiên thời điểm đó ít người Việt Nam, đàn ông thì thừa, đàn bà thì thiếu, thà lấy em còn hơn ở giá, chứ có yêu thương gì đâu!
Sự thật mất lòng, nhưng chứng tỏ là anh thành thật, thôi thì “ bèo dạt mây trôi” gặp nhau, cho đời bớt buồn, bớt khổ. Chúng tôi an phận sống bên nhau và mong muốn có một đứa con, nhưng chờ hoài hết năm nọ, năm kia, hai vợ chồng tôi mới đi bác sĩ để biết một sự thật đau lòng tôi không có khả năng sinh con. Chồng tôi thất vọng, chán nản sinh ra nhậu nhẹt say sưa, một hôm tôi biết được anh đã ăn ở với một cô gái, và cô đang mang bầu, tôi hiểu phận mình thua thiệt, tự nguyện rút lui, trả anh cho cuộc đời mới đang mở ra cho anh.
Vài năm sau tôi lập gia đình với một ông lớn tuổi, bị vợ bỏ, ông chấp nhận hoàn cảnh tôi, không cần con cái, hình như ông dị ứng với vấn đề này, ông nói con cái ở Mỹ chỉ là một lũ mất dạy. Tôi an lòng sống với ông, tưởng sẽ được hạnh phúc cho đến tuổi già. Nhưng ông bị chết đột ngột vì bệnh tim, không kịp một lời trăn trối, nhưng cũng kịp để lại cho tôi một món tiền khá lớnphải trả nợ cho credit card, không biết ông đã vay mượn từ lúc nào, mang tên hai vợ chồng, chỉ để đánh cá football (sau này tôi mới biết đó chính là nguyên nhân ông bị vợ bỏ, con khinh, và vất va vất vưởng như lục bình trôi sông rồi tấp vào đời tôi, để tôi phải trả một giá rất đắt cho cái hạnh phúc mà tôi chưa hề được hưởng).
Tôi đã cần cù đi làm lương vài đồng một giờ trong vài năm để trả món nợ đó, tôi suy luận theo thuyết nhà Phật, có lẽ kiếp trước mình mắc nợ ông ta? Bây giờ nợ trả hết rồi, tôi không oán hận gì ông đâu, ông hãy thanh thản an giấc ngàn thu, chỉ mong rằng kiếp sau nếu có tái sinh , dù lấy ai cũng xin ông chừa thói cờ bạc, chừa đánh cá football cho vợ con ông nhờ.
Vừa xấu người, vừa xấu số, qua hai đời chồng mà chẳng được gì ngoài thất vọng khổ đau.Tôi quyết tâm an hưởng cuộc sống độc thân, tưởng rằng sẽ thanh thản mà sao buồn thế! đơn độc thế! Đôi lúc tôi muốn quay về tìm hai cô chủ cũ đang sống ở California, nhưng lại tự ái, và phụ lòng tin tưởng của người ta nên đành thôi.
Tôi cũng là một người đàn bà như bao nhiêu người đàn bà khác, cũng thèm khát một mái gia đình, những đứa trẻ thơ, để được săn sóc chúng, thương yêu chúng. Thế là tôi nghĩ đến nghề baby sit, tôi muốn được ở tại nhà chủ, sống hàng ngày với họ, để hưởng lây không khí gia đình, để gần gũi những đứa trẻ mà đáng lẽ tôi cũng có.
***
Tôi đã đến nhà cô chủ mới để quan sát tình hình, vợ chồng chú An giới thiệu tôi với bà Ba và 3 đứa trẻ rồi họ vội vã rời khỏi nhà, họ đang kinh doanh một nhà hàng lớn rất đông khách nên bận túi bụi, việc nhà cửa, con cái giao phó hết cho người baby sit.
Lần đầu nhìn 3 thằng ranh tôi đã thích, còn chúng nhìn tôi với vẻ tò mò .Hôm nay ngày nghỉ nên chúng ở nhà đủ, bà Ba vừa làm việc vừa nói chuyện với tôi, bà hơn 65 tuổi, nhưng chưa có quốc tịch nên chưa được hưởng tiền già. Ôi, ở cái tuổi này mà phải quản lý 3 thằng vừa ăn khoẻ vừa nghịch ngợm như thế kia thì mệt thật! Tôi bỗng thấy mình còn trẻ quá, sẽ đủ sức làm nữ tướng điều khiển 3 thằng lính quèn đó.
Tôi tiếp tục công việc của bà Ba không khó khăn gì, sáng dậy lo cho 3 đứa đi học, trưa lần lượt đón về, chiều nấu cơm, tắm rửa cho chúng, rồi dọn dẹp nhà cửa… Tôi vừa nghiêm vừa thân thiện để chúng không ăn hiếp và không quá sợ tôi. Ai như bà Ba muốn làm cái gì cũng phải năn nỉ nào ăn cơm đi, nào tắm đi, nào thay đồ đi.v.v… rồi bà thương, chúng nó đâu cần cái tình thương hứa hẹn của bà để phải đánh đổi những trò chơi hứng thú của chúng.
Mỗi lần cho lũ trẻ tắm là một cuộc chơi “trốn tìm” và “đuổi bắt” đầy ngoạn mục, quần áo dơ thay ra, chúng không để vào rổ trong phòng tắm mà cố tình quẳng vào kẹt tủ, gầm giường, hay góc bếp cho bà Ba tìm mệt nghỉ, bà Ba đi khắp nhà tìm quần áo dơ của chúng như tìm chiến lợi phẩm sau một cuộc giao tranh. Xong, thì 3 thằng lại xổng mất, bà phải chạy từ phòng nọ đến phòng kia, từ tầng lầu xuống tầng dưới, và ngược từ tầng dưới lên tầng lầu để tóm chúng lôi vào phòng tắm…
Bà mệt và căng thẳng đến nỗi có đêm bà thấy ác mộng, 3 đứa chạy nhảy bừa bộn trong phòng tắm, nước văng tung toé, nước tràn lan lênh láng, trôi bà đi khắp nhà… Giật mình tỉnh dậy người bà còn đẫm mồ hôi, bà không tin là mình vừa ngủ mê, lò dò bật đèn ra phòng tắm, thấy mọi sự yên tịnh bình thường bà mới yên tâm vào ngủ tiếp.
Khi bố mẹ chúng ra khỏi nhà, căn nhà rộng 4,000 sqft, đẹp đẽ sang trọng, trên khu đất rộng, vườn tược xinh tươi, hàng tháng có người đến làm vườn cắt cỏ này là của tôi, tôi tha hồ ra mà đi trên cỏ non xanh mướt, ngắm hoa lá, nhìn chim bay… Những giây phút thú vị đó, tôi tin chắc rằng vợ chồng cô chủ chưa bao giờ biết đến.
Vào nhà tủ lạnh đầy ngập đồ ăn, tôi muốn ăn, muốn bày món gì có mà trời biết. Tôi đã làm những món ăn, bánh trái khiến lũ trẻ thích mê, tôi kể cho chúng nghe những đứa trẻ bằng tuổi chúng đang ở Việt Nam, đang thiếu ăn, thiếu mặc, hay không được học hành gì cả… tôi kể về tuổi thơ nghèo khổ của tôi, chúng cảm động nghe tôi kể như nghe chuyện cổ tích, tôi dạy chúng phải biết quan tâm và giúp đỡ người khác, biết nhường nhịn thương yêu nhau.
Dần dần 3 đứa đều quý mến tôi, ngoan ngoãn nghe lời tôi, chúng không nghịch phá nữa, tự mình làm những gì có thể được, tôi không phải hầu hạ chúng như bà Ba, trái lại tôi còn sai chúng làm được khối việc vặt, khi quần áo đã sấy khô, chúng gấp lại, của đứa nào đứa nấy mang về phòng, chúng vui thích vì được tự tay xếp quần áo vào tủ theo ý mình.
Tôi sai chúng nó lấy báo cho tôi đọc hay rót nước cho tôi uống là chuyện thường tình ở nhà, không biết bố mẹ chúng nhìn thấy có xót ruột không? Chứ chúng làm với tất cả lòng hăng hái, mà tôi cũng thương yêu chúng biết bao nhiêu, không phải là nhiệm vụ của một baby sit đâu, mà bằng tấm lòng của một người mẹ.
Tôi và 3 đứa trẻ đã có những ngày êm đềm hạnh phúc, những bữa cơm chiều đầm ấm, những buổi trưa 3 đứa thì ngủ, còn tôi nằm khểnh nghe nhạc, thảnh thơi như một kẻ vô công rỗi nghề, tôi mở máy nghe Chế Linh và Tuấn Vũ, hai giọng ca mùi mẫn là thần tượng của tôi, họ hát bài gì tôi cũng thuộc dù tôi không nhớ tên tác giả, nhưng chắc chắn là không có nhạc Trịnh công Sơn, dù ai cũng khen nhạc ông ta, có nhiều câu nhạc của Trịnh công Sơn nghe “mơ hồ” quá tôi không hiểu nổi: “Tóc em từng sợi nhỏ rớt xuống thành hồ nước lênh đênh.” Hay “Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ. Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao…” thà cứ cụ thể, huỵch toẹt như “Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn…” hay “Đêm đêm một mùi hương, mùi hoa sứ nhà nàng…” nghe mà thấm tới tim tới phổi, nghe mà rơi lệ.
Nằm nghe nhạc đã, tôi ngủ thiếp đi, tỉnh dậy 3 đứa trẻ vẫn nằm ngủ bên tôi trong căn nhà sạch sẽ thơm tho, chẳng có chuyện gì phải làm, tôi vẩn vơ nghĩ tới vợ chồng cô An, không biết ngay giây phút này họ đang làm gì nhỉ ? Tội nghiệp ! chắc chú An đang bù đầu trong khói bếp mịt mù, trước kia chú có thuê đầu bếp, nhưng đứa thì làm mình làm mẩy, đi trễ về sớm, đứa thì chuyên môn ăn cắp mang về nhà toàn những món đồ biển đắt tiền.
Thế là chú vừa là ông chủ vừa kiêm luôn chức đầu bếp cho chắc ăn, khỏi phải trả tiền công đầu bếp mà lại quản lý được cả đám nhân viên dưới bếp, không thất thoát hao phí đồ ăn, thực phẩm. Còn cô An cũng bù đầu không kém, như tất cả những người Châu Á làm kinh doanh, khâu tiền nong thì chỉ có ngưòi nhà hay chính chủ nhân quản lý, cô An ngồi trong quầy thu tiền, mỗi ngày phải mỉm cuời không biết bao nhiêu lần, phải Hello, Thank you với không biết bao nhiêu người, kể cả những người có bộ mặt đáng ghét nhất.
Chín mười giớ tối cô chú An mới về tới nhà, tắm rửa và hỏi thăm con cái qua loa xong là lăn vào phòng ngủ, nếu có động đất hay trời sập chắc họ cũng không biết.
Làm gì cô chú An dám mơ tới một giấc ngủ trưa thanh bình nhàn hạ như tôi? Nằm nghe nhạc lâm ly sướt mướt như tôi?
Làm chủ nhà hàng, khách tới ăn tấp nập, nhưng cô chú An thường không ăn nổi những món ăn của mình, ngày nào cũng ngửi, cũng nhìn thấy, họ ngán quá rồi, cô An thường mang đồ ăn do tôi nấu ở nhà , tôi làm món dưa cải muối chua với củ hành đỏ thật thơm ngon, cô An rất thích.
Từ ngày làm baby sit, ăn, ở, chủ bao nên đồng lương tôi hầu như không dùng tới, dư được bộn tiền, tôi không có họ hàng gần xa ở Việt Nam để mà giúp họ. Tôi nghĩ đến những đứa trẻ nghèo – như tôi ngày xưa – và muốn đồng tiền của tôi được hữu ích tôi liên lạc với một ngôi chùa ở Việt Nam, thông qua đó, hàng tháng tôi gởi tiền về để chùa mang đến những Cô nhi viện, những Nhà nuôi trẻ em khuyết tật, cho các em được thêm manh áo mới, thêm miếng ăn ngon.
Nếu quả thật kiếp này làm điều lành kiếp sau được hưởng thì tôi mong sẽ có một mái gia đình và những đứa con như 3 thằng mà tôi đang baby sit là đủ rồi, chẳng mong giàu có sang trọng gì.
Một hôm cô An mang về một tờ báo xuất bản ở Việt Nam, do người bạn cô mới đi chơi Việt Nam và mang về. Cô An chỉ cho tôi bài viết về một bà người Việt sống ở Mỹ có lòng từ tâm, hàng tháng gởi cả ngàn đô về Việt Nam để giúp các trẻ em nghèo.
Cô An chặc lưỡi:
– Làm điều thiện mà dấu tên, ngu thật. Người ta đâu biết mình là ai, thì hãnh diện với ai đây?
Rồi cô so sánh, nửa đùa nửa thật:
– Chắc bà này giàu lắm mới chi ra như thế. Mà có giàu hơn tôi được không?
Mỗi ngày nhìn vợ chồng cô An ra đi, lao vào cuộc sống, tôi biết họ kiếm ra rất nhiều tiền, bằng sức lực mồ hôi và bằng cả sự khôn ngoan sống ở đời như cô An đã từng hãnh diện khoe với tôi, chị biết không, buôn bán kiếm lời là chuyện dĩ nhiên, ngoài ra phải biết kiếm thêm, mỗi bill tính tiền ăn của khách đều cộng thuế, nhưng tôi đâu có ngu mà khai thật lợi tức của mình với sở thuế, nên hầu hết tiền lời, tiền thuế của người ta trả đều vô túi mình.
Còn tôi, lương tháng 1,200 đồng, không kiếm thêm được đồng nào như vợ chồng cô chủ. Nhưng nếu so sánh giữa tôi và họ ai giàu hơn? Thì …tôi chứ ai! Vì tôi còn có tiền phân phát cho người khác. Và ai sướng hơn? Thì… cũng tôi chứ ai! vì tôi có niềm vui khi đã mang lại niềm vui cho người khác…
Nguyễn thị Thanh Dương
CHUYỆN SƯU TẦM – Người phụ nữ gốc Việt hành khất ở Paris
Người phụ nữ gốc Việt hành khất ở Paris
Mỗi ngày hai buổi đi, về sở làm, Quốc phải đi qua ga xe điện-ngầm Montparnasse làm trạm trung chuyển.
Có một ngày, đường xe điện ngầm về nhà Quốc tạm ngừng hoạt-động để sửa chữa, Quốc phải xử dụng đường xe điện ngầm khác trên cùng một ga trung chuyển, nhưng phải mượn lối đi qua hai thảm thang máy khá dài…
Khi vừa qua khỏi thảm thang máy thứ hai vài bước, Quốc thoáng thấy có một người phụ nữ ngồi xin tiền. Một chân bà bị teo nhỏ co quặp lai, ngắn hơn chân kia, một cặp nạng bằng kim loại sáng bóng sạch-sẽ nằm hai bên. Bà có vóc dáng của một người Á-châu và ánh mắt của bà khiến Quốc cảm nhận như đã nhìn thấy ánh mắt nầy ở một nơi nào đó rất mơ hồ…
Dòng người phía sau Quốc thúc đẩy Quốc tiến về phía trước. Quốc vẫn đi, lòng tự hỏi, tại sao giữa Paris của nước Pháp lúc nầy lại có người khuyết tật ăn xin ?
Chính-sách an-sinh xã-hội của Pháp không thể để sự việc như thế nầy xẩy ra, trừ trường hợp người nhập-cư bất hợp-pháp chưa được chính-quyền chấp thuận cho cư-trú dài hay ngắn hạn. Người khuyết tật là ưu-tiên của chính-sách an-sinh xã-hội Pháp.
Những ngày sau đó, buổi chiều đi làm về, khi bước ra khỏi thảm thang máy thứ hai Quốc vẫn thấy người đàn bà khuyết tật ngồi ngay tại một địa-điểm như những ngày hôm trước, dưới đất, trước mặt là một hộp giấy nhỏ để người hảo-tâm bỏ tiền vào. Bà ngồi im-lặng, không một lời hỏi xin khách đi ngang qua. Có lúc Quốc nhìn bà, mỉm cười. Quốc định ngừng lại bỏ tiền vào hôp giấy. nhưng một ý-nghĩ chợt dến, Quốc tiếp tục đi Quốc tự nhủ: “những người như bà nầy được xã-hội ưu-tiên giúp đỡ, không đến nổi nào phải xin ăn… làm ê mặt nước Pháp quá ! “.
Một ngày giữa tuần, sở làm có công việc cần giải-quyết gấp, tám giờ tối Quốc mới ra khỏi sở làm. Khi đến cuối thảm thang máy thứ hai Quốc không nhìn thấy người đàn bà khuyết tật ngồi nơi chỗ cũ. Sau giờ cao-điểm trong hành lang ga rất thưa người, Quốc có thể nhìn thấy bà nếu bà đang di-chuyển một nơi nào gần đó…
Nhưng khi đến bến xe điện, Quốc thấy người đàn bà khuyết-tật đang đứng chờ chuyến xe đến, trên cùng hướng của tuyến đường Quốc xử-dụng. Quốc đến bên cạnh bà, cũng vừa lúc xe đến. Quốc đưa tay đẩy nhẹ sau lưng bà bước lên tàu. Một hành-động tự phát nhân-cách của một nguời trước một đồng-loại khuyết tật dù không được yêu-cầu.
Xe thưa thớt khách. Vừa ngồi xuống ghế, người đàn bà khuyết tật xếp hai nạng chung với nhau để qua phiá bên chân bị tật. Quốc ngồi vào ghế đối -diện. Bà mỉm cười nhìn Quôc, nói bằng tiếng Pháp:
Cám ơn ông.
Thưa bà không có gì. Quốc trả lời.
Bà nhìn Quốc, hai mắt mở lớn, Quốc vẫn thấy ánh mắt nầy mình đã gặp ở một nơi nào đó. Bà hỏi:
Nhìn ông, nhận ra ông là người Châu-Á, nhưng không biết ông là người nước nào ?.
Tôi là người Việt-nam.
Bà cười, giọng cười đầy thiện-cảm :
Tôi cũng là người Việt-nam như ông, tiếc rằng tôi không nói được tiếng Việt, còn ông, ông nói được tiếng Việt không?.
Quốc gật đầu:
Tôi qua đây không lâu lắm nên còn nói được tiếng Việt như người trong nước.
Vẻ mặt bà thoáng suy-tư:
Mình người Việt, không nói được tiếng Việt, cũng thiệt-thòi phải không ông ? .
Quốc chưa kip trả lời câu hỏi thì loa phát-thanh trên tàu điện ngầm thông báo trạm đến để Quốc đổi tàu.
Quốc hỏi: – Bà xuống trạm nào ? – Tôi sẽ xuống trạm cuối của đường tàu nầy, nhà tôi gần đó.
Đúng lúc, cửa tàu tự động mở, Quốc xuống xe. Khách xuống xe và khách lên xe che khuất tầm nhìn của Quốc đang quay người lại để chào bà.
Ngày hôm sau, đường xe điện ngầm tạm ngừng lưu-thông để sửa chữa hoạt động trở lại, Quốc xử dụng đường xe điện ngầm cũ nên không còn gặp, nhìn lại người đàn bà khuyết tật, tuy nhiên lòng Quốc vẫn phân-vân: “Bà ta, người gốc Viêt-nam, không biết nói tiếng Việt, chỉ nói được tiếng Pháp, đi xin tiền giữa thủ-đô nước Pháp, không bị người Pháp có lòng tự ái dân-tộc pha lẫn bản chất kỳ-thị màu da xua đuổi ! Ngay chính bản thân, khi nhìn thấy người đàn bà khuyết-tật nầy xin tiền Quốc cũng cảm thấy khó chịu… bà làm tổn thương đến chính sách an sinh xã hội nước Pháp.! “Quốc nghĩ, không biết có cần-thiết gặp lại người đàn bà nầy không ?. Vì bà là đồng-hương cơ-cực ? Vì sao bà bị tật nguyền như vậy ?
Thời gian trôi qua, Quốc đã không còn nhớ gì đến người đàn bà khuyết-tật. Khoảng sáu tháng sau, buổi tối ngồi xem tin-tức thời-sự của đài truyền-hình France 3, một đài địa-phương của thủ-đô Paris và vùng phụ cận, một bản tin được phát ra với hình ảnh người đàn bà khuyết tật xin tiền trong hầm xe điện ngầm đang trao một phong bì cho cho một người, cùng lời của người phát tin: “Hôm nay là năm thứ sáu, bà Thérèse Tran một người tàn-tật, đã trao tặng cho hội Chữ Thập Đỏ nước Pháp 5.000 Frances Pháp, số tiền nầy do bà quyên được hàng ngày của khách lai vãng trong những hầm xe điện ngầm của thành phố Paris. Quý khán thính giả của đài đã từng được xem bảng tường trình bằng hình ảnh công việc của bà trong một chương-trình ĐÓNG GÓP CHO TỔ CHỨC NHÂN-ĐẠO trước đây trên đài truyền hình của chúng tôi. Bác-sĩ đại-diện hội Chữ Thập Đỏ Pháp đang nhận số tiền nầy từ tay bà”.
Bản tin tức khích-động trí tò mò của Quốc. Ngày hôm sau trên dường từ sở làm trở về nhà, Quốc chọn tuyến đường xe điện ngầm thời gian trước đây đã cùng bà xử dụng chung một chuyến. Khi đi qua khỏi thám thang máy thứ hai, Quốc nhìn thấy bà vẫn còn ngồi tại chỗ. Quốc tiến thẳng vào hành lang đường hầm, đến tuyến đường xe điện, cố ý ngồi chờ gặp bà. Gần mười chuyến tàu ngừng cho khách lên xuống rồi tiếp tục chạy… Quốc nhìn thấy bà đang chống nạng xuất hiện đầu đường hầm, Quốc đi nhanh về phía bà ngỏ lời chào. Bà chào lại và đưa tay bắt tay Quốc. Bà cười rất tươi, nói với Quốc:
Lần đầu tiên gặp ông cùng trên tuyến xe nầy cũng khá lâu, tưởng là không còn gặp lại ông nữa, Paris có hơn mười tuyến đường xe điện ngầm và hàng vài chục ga trung chuyển… gặp nhau lại trên cùng tuyến xe rất hiếm. Gặp ông lúc đó, thấy ông lạnh lùng đối diện với một người ăn xin vì đói ăn và tàn tật như tôi. Hôm nay có khác, thấy nét mặt ông tươi vui và còn chờ tôi để trể mấy chuyến xe ? Nếu tôi đoán không sai, ông muốn gặp tôi hôm nay vì đêm qua ông đã nhìn và nghe được mẫu tin-tức về tôi trên đài truyền-hình France 3: một người đàn bà Pháp gốc Việt, tật nguyền ăn xin để làm việc thiện ? Và rất tiếc phải để ông chờ… vì tôi có thấy ông đi qua chỗ tôi vừa rồi… giờ nầy ông vẫn còn ở đây ?
Quốc cảm thấy bối-rối trước những lời khẳng định và nhạy bén của bà, Quốc chưa kịp đáp lời thì chiếc tàu điện ngừng, cửa mở, hành khách lên tàu. Một hành khách lịch-sự nhường chỗ cho bà. Quốc đứng bên cạnh và có dịp quan sát khuôn mặt thanh tú của bà, mái tóc đen chen lẫn vài sợi trắng hai bên thái dương.
Cặp mắt của bà có một sức lôi cuốn kỳ lạ, người nhìn cảm thấy như bản thân mình bị thâu nhỏ lại như bị hút vào bên trong… cặp mắt mà Quốc đã nhìn thấy một nơi nào đó vào một thời kỳ rất xa, và rất xa. Xe ngừng. Khách xuống, không có khách lên. Quốc ngồi xuống chiếc ghế trống bên cạnh bà. Hai người không nói gì với nhau cho đến lúc loa tàu báo tên trạm ngừng sắp tới, bà hỏi Quốc:
Chắc ông xuống trạm này vì kỳ trước ông đã xuống đây ?
Quốc cười, lắc đầu:
Hôm nay tôi không xuống đây, xin được theo bà để được nghe bà cho nghe chuyện bà đi quyên xin tiền làm từ thiện.
Bà cười, hai tay ôm hai chiếc nạng vào người, nói:
Ông thấy đó, vừa rồi tôi nói có sai đâu, hôm nay ông đón gặp tôi chỉ vì tin tức về tôi trên đài truyền-hình tối hôm qua. Có lẽ trước đây ông không theo dõi tin-tức trên truyền hình France 3 nên không biết. Tàu chạy ồn quá, vậy hãy đợi đến trạm cuối, bên ngoài ga có quán nước, chúng ta đến đó nói chuyện thoải mái hơn, và đây cũng là người Việt-nam đầu tiên trực tiếp muốn biết chuyện nầy. Mong rằng ông không phải là người của tòa Đại-sứ Việt-nam, phỏng vấn, ghi âm lén rồi tráo trở chỉnh sửa, viết lại… trái với trung thực rồi họ cho là đài France 3 tuyên truyền, hư cấu, giàn dựng… Chuyện của tôi là chuyện của tôi, chỉ vậy thôi.
Hai người đi vào một quán nước gần kế lối ra của hầm xe điện ngầm. Thời tiết đang vào cuối tháng tư nhưng vẫn còn se lạnh, bà chọn một bàn bên ngoài quán và nói với Quốc:
Chắc là hôm nay tôi sẽ về nhà trễ, mẹ tôi sẽ phải đi tìm đón về, ngồi bên ngoài để bà dễ tìm thấy, trời còn lạnh, nếu ngồi bên trong thì ấm hơn. Tôi vẫn có thói quen, những chiều tối không việc gì làm, ở nhà buồn lắm hay ra ngồi đây uống cà-phê nhìn người qua lại, về nhà trễ, bà cụ đi tìm đón về… lại nghe những lời trách hàm chứa yêu thương… đã trở thành thói quen không bỏ được. Nhà cũng gần đây nhưng cũng tội cho bà cụ, vào mùa đông, khi có tuyết rơi, bà cũng đội tuyết đi tìm đứa con tàn tật nầy !
Hai tách cà-phê được mang đến, bà đưa tay phải lấy viên đường. Quốc nhìn thấy bàn tay của bà bị co quắp trừ ngón cái và ngón trỏ còn cử động được, ba ngón còn lại áp chặt vào lòng bàn tay. Bà cầm muỗng khuấy tách cà-phê nhẹ nhàng và rất bình thường, không vướng víu… Quốc thấy lòng dâng lên nỗi ái-ngại khi vừa khám phá thêm bàn tay của bà, Quốc quên đi ly cà-phê của mình… đến khi cà-phê được nhấm nháp rồi để xuống bàn, Quốc đang tìm lời để vào câu chuyện thì bà nói như để nhắc Quốc: – Không biết tôi phải gọi ông là gì đây ? Còn tên tôi thì ông đã biết rồi, trên đài truyền-hình France 3, nay giới thiệu thì quá trễ. Khỏi cần lặp lại phải không ông ?
Bà cười vui vẻ, tự nhiên. Quốc nhận ra sự vụng về của mình, ấp-úng trả lời:
Được gặp bà hôm nay, lòng tôi phấn khởi vô cùng, nên quên giới thiệu tên, mong bà thông cảm. Xin bà gọi tôi là Nguyễn… Nguyễn-minh Quốc.
Việt-nam mình sao nhiều Nguyễn thế ! Đi đâu trên xứ Tây nầy cũng gặp Nguyễn. Bà cười, hai mắt nhíu lại nhìn Quốc, tay bị tật cầm chiếc muỗng gõ nhẹ vào thành miệng tách cà-phê.
Quốc vui theo cái vui của bà, đề cập thẳng vào chuyện:
Bà Trần có thể kể cho tôi câu chuyện về trường hợp nào đưa bà vào việc làm ăn xin để có tiền giúp cho Hội Từ Thiện ?
Bà trầm ngâm một chốc rồi bắt đầu câu chuyện:
Tôi rời Việt-nam vào năm tôi được sáu tuổi vì lý do thương tật của tôi. Vào thời đó Việt-nam đang có chiến tranh và tôi cũng là một nạn-nhân của chiến tranh. Tôi là nạn nhân của chiến-tranh, nhưng bị thương tật do bị tra-tấn, không phải do bom đạn. Lúc đó ba tôi lái xe cho bịnh-viện Grall của Pháp ở Sài-gòn, trong khi mẹ tôi và tôi sống ở quê nhà, thị trấn Vĩnh-điện, miền trung Việt-nam, chí cách xa thành phố cổ Hội An không tới mười cây số. Mẹ tôi có một tủ kính nhỏ buôn bán vòng vàng trong chợ. Buổi sáng tôi theo mẹ ra chợ, buổi chiều tan chợ, theo mẹ về nhà. Buổi tối, thỉnh-thoảng mẹ tôi dạy tôi đọc và tập viết chữ a, b,c,đ. Tôi chưa đến trường, mẹ nói tôi còn quá nhỏ, chưa đủ tuổi đến trường. Đêm nằm ngủ với mẹ, tôi nghe có tiêng ì-ầm từ xa xa vọng vào nhà, tôi hỏi mẹ đó là tiếng gì thì nghe mẹ thở dài, giọng buồn buồn trả lời:
Đó là tiếng súng đại-bác, chắc là hai bên đang đánh nhau một nơi nào đó, chiến tranh ngày một rộng ra, dân ở quê bắt đầu khổ rồi, buôn bán ế-ẩm.
Nói xong, mẹ ôm tôi vào lòng, im lặng, tôi nghe tiếng đập của tim mẹ.
“ Rồi một đêm đang ngủ, tôi giật mình thức dậy vì nghe tiếng súng nổ “cắc bùm”,..”tạch… tạch”, tiếng “chéo chéo” của đạn bay… tiếng gà kêu “cục tác” “cục cục” tiếng heo kêu “ụt…ụt”, có tiếng trẻ con khóc ré lên có lẽ vì sợ… rồi có tiếng ai đó nói to: ” Chắc mấy Ổng đang đánh úp quận. Ở đâu mà mấy Ổng về tứ bề, đông thiệt là đông ?”.
Mẹ lôi tôi ra khỏi giường, đẩy tôi xuống bên dưới giường, mẹ nằm bên cạnh. Người mẹ tôi run rẩy, tôi cũng run như mẹ.
Trước đấy không lâu, nghe lời khuyên của bạn bè trong chợ, mẹ đã nhờ người ta mua bao cát nhỏ chất quanh giường ngủ thay vì đào hầm để tránh đạn… nay hai mẹ con tôi có chỗ nằm để tránh đạn.
Rồi tiếng súng im bặt. Tiếng chân người chạy vội vã, tiếng đập cửa liên hồi, tiếng gọi tên người nầy rồi người khác… tiếng năn nỉ, ấm-ức khóc… Lại một tiếng la to: ” bắn “…một tiếng súng nổ… tiếng đàn bà con nít khóc ré lên nghe thảm thiết. Mẹ ôm chặt tôi rồi. Mẹ kéo nhẹ tôi ra khỏi gầm giường vừa lúc có tiếng đập cửa ầm ầm, tiếng chân đá vào cửa rầm rầm… Có tiếng ra lệnh: “Mở cửa ! mở cửa ! Nếu không tuân lệnh, quân Giải-phóng sẽ phá cửa… nếu không mở, chống đối, quân Giải phóng sẽ bắn tại chỗ ! ”
Mẹ khóc, run lẩy bẩy tiến về phía cửa, trả lời lập cập:
Tôi mở… tôi mở… nhà không có đàn ông, con trai, chỉ có hai mẹ con tôi là đàn bà con gái.!
Cửa mở, ánh sáng tràn vào. Tôi nhìn thấy có mấy người ùa vào nhà. Mẹ tôi co rúm người lại. Những người nầy có mang súng chạy tìm kiếm, lục lạo khắp nơi trong nhà, họ nhìn xuống hầm giường mẹ con tôi ngủ và hét lên: “Có còn ai trốn trong đó không thì ra ngay, bắt được quân Giải phóng sẽ không tha!”
Áo quần họ mặc không giống như áo quần quân lính Quốc gia ở quận. Người mặc quần ngắn, kẻ mặc quần dài, áo tay ngắn, tay dài. Người đi chân không, người mang dép vỏ lốp xe. Đàn ông mang súng, con gái có nguời cầm gậy, có người tay không.
Sau khi lục soát nhà xong, một người trong toán lục soát tiến ra cửa nói lớn:
Báo cáo đồng chí, đã lục soát xong, không có gì khả nghi.
Một người đi vào. Lưng có đeo một súng ngắn. Tôi nhận ra ngay là anh Kéo vì anh mặc cái quần kaki đen có cái lỗ bị cháy nơi đầu gối. Cái quần kaki đen nầy ba tôi mua ở Sài-gòn tặng anh Kéo nhân dịp về ăn Tết với gia-đình hơn một năm trước đây mặc dầu anh đội cái mũ tai bèo che phủ hơn nửa phần mặt. Cái lỗ bị rách của cái quần nơi đầu gối là do anh Kéo tạo ra một phần, một phần do tôi. Ngày hôm đó mồng bốn tết mẹ mở cửa hàng, sau tết nên có không ít người đến mua bán. Anh Kéo làm việc cho tiệm vàng của mẹ. Anh thử vàng thật hay giả, anh làm nhẫn, làm giây chuyền.
Hôm đó khách hơi đông, anh Kéo quên tắt lửa ống hàn xì khi anh đang trao đổi chuyện với khách hàng, vô-ý, mỏ hàn xì làm quần anh bị cháy thủng một lỗ nơi đầu gối, cái quần kaki đen ba tôi mua tặng mặc dịp tết. Khi không còn khách hàng, tôi tinh-nghịch cho ngón tay trỏ vào cái lỗ bị cháy của ống quần kéo mạnh tay, cái lỗ bị cháy rách rộng ra, anh Kéo không nói gì, chỉ cúi xuống vuốt vuốt chỗ bị thủng rách. Nhưng tôi bị mẹ phát cho mấy bàn tay vào mông vì cái tội tinh-nghịch.
Mặt trời đã mọc. Anh Kéo lôi mẹ vào góc nhà, anh rút khẩu súng đeo bên hông dí vào trán mẹ. Mẹ tựa lưng vào tường, người khụy xuống nhưng đứng vững bằng hai tay chống trên hai đầu gối. Miệng mẹ hả ra, hai mắt mở to, đầy nước mắt. Anh Kéo hỏi lớn:
Vàng để đâu, đem hết ra đây đóng góp cho Mặt-Trận.
Mẹ ngồi bệt xuống đất, hai tay chấp lại, vừa vái anh Kéo liên hồi vừa chỉ cái bình hoa cắm hoa giấy trên bàn thờ, nói không thành tiếng:
Có bao nhiêu tôi giấu hết trong cái bình hoa đó, lạy ông, ông lấy hết đi và tha cho hai mẹ con tôi.
Lúc anh Kéo đi đến bàn thờ cầm cái bình hoa lên, vứt những bông hoa giấy rồi trút hết những vòng vàng trong bình xuống mặt bàn thờ, tôi thấy hai mắt anh sáng lên, mặt mất dần vẻ hung ác. Trong lúc anh Kéo đang lấy những chiếc nhẫn vàng đeo vào những ngón tay, tôi bò đến ngồi bên cạnh mẹ, khóc ấm-ức.
Khi anh Kéo lấy hết vàng trên bàn, anh quay lại đứng trước mẹ, lúc nầy mặt anh trở lại hung dữ như trước.
Anh dí mũi súng vào trán mẹ hét lên:
Vàng còn dấu nơi nào nữa hãy chỉ mau, nếu còn dấu diếm Cách-mạng sẽ không tha chết đâu !
Mẹ lại khóc, lại chấp tay vái lạy anh Kéo. Lần nầy mẹ quỳ hai gối, đầu rạp xuống trước chân anh Kéo, mẹ nói đứt từng hơi một:
Ông biết rồi mà, trước đây ông làm việc với tôi, ông biết tôi chỉ có vốn liếng ba lượng vàng, làm thành mẫu mà bày trong tủ kiếng. Khi bán gần hết tôi phải vào Hội-An mua thêm vàng cho đủ số vốn ba lượng. Nay còn bấy nhiêu đã chỉ cho ông rồi đó, ông đã lấy hết rồi, đâu còn mô nữa mà giấu.
Anh Kéo ra dấu tay kêu hai người cùng trong nhóm rồi ra lệnh:
Hãy trói con mẹ nầy lại hỏi còn vàng giấu đâu, nó ngoan cố, thay mặt chinh quyền Cách-mạng bắn bỏ.
Tôi nghe nói bắn chết mẹ, tôi vùng đứng lên chạy đến ôm cánh tay anh Kéo, nước mắt chan hòa, tôi xin anh Kéo tha cho mẹ, đừng bắn mẹ. Anh Kéo vung tay thật mạnh làm tôi té nhào xuống đất. Anh ra lệnh:
Các đồng chí cột chân con nhỏ nầy lại treo lên sà nhà để xem mẹ nó còn ngoan cố tới đâu, còn giấu vàng mà không chịu khai báo.
Tôi bị hai người đè xuống nền đất, họ cột một chân của tôi rồi kéo lên treo lơ lững giữa nhà. Tôi vùng vẫy, kêu la trong sự đau đớn. Mẹ nằm co rúm trên nền nhà, dường như sự sợ hãi chen lẫn đau đớn tột cùng làm mẹ mất trí, mẹ lảm nhảm:
Anh làm cho tôi, anh biết mà, vốn liếng của tôi chỉ có ba lượng làm mẫu cho khách lựa chọn… khi gần hết hàng… phải vào Hội-an mua thêm vàng cho đủ ba lượng… nay anh làm Cách-mạng, anh lấy hết rồi… còn đâu nữa mà giấu ! Anh tha cho con tôi, nó còn nhỏ, nó có biết gì đâu ! .
Tôi nghe có tiếng họ nói với nhau:
Con mẹ nầy còn ngoan cố, không nên tha cho nó, các đồng chí đồng ý không ?
Đồng-ý… đồng-ý !
Cái chân bị cột của tôi càng lúc càng làm tôi đau thêm. Tiếng đồng-ý, đồng-ý làm tôi khiếp người. Đến một lúc tôi nghe từ cái chân bị cột căng đến tột cùng, tôi nghe từ khớp xương mông phát ra một âm thanh nhu một cành cây khô có ai dẫm lên làm gãy, tôi hét lên và không còn nghe biết gì quanh tôi.
Rồi tôi nghe có tiếng gọi nhau, tiếng chân chạy rầm rập, tiếng súng nổ thưa thớt, tiếng trẻ con gọi cha, gọi mẹ, gọi anh, gọi chị. Tiếng khóc rưng-rức âm độ khác nhau trong cả khu xóm. Tôi mở mắt nhìn quanh nhà, duy nhất chỉ còn mẹ đang đứng trên ghế, nâng người tôi lên, với tư thế nầy tôi cảm thấy chân bị trói của tôi bớt đau một chút. Mẹ tìm cách mở giây đỡ tôi xuống đất không được, mẹ đứng như vậy vừa nâng người tôi vừa ôm tôi vào ngực, áp mặt vào thân tôi. Hơi thở của mẹ dồn dập, nóng hổi, thổn thức. Toàn thân tôi, tay chân tê lạnh, chỉ có đầu và mặt tôi nóng hừng hực, hai mắt tôi như có những ngôi sao nằm bên trong.
Cả khu xóm lại yên-lặng… Tiếng một ai đó nói lớn như muốn cho mọi người cùng nghe:
Chúng nó rút đi rồi. Lính Quốc-gia từ Đà-nẵng kéo vô, từ Hội-an đổ xuống đông lắm.
Có tiếng vỗ tay rời rạc, có tiếng nói với nhau mang âm hưởng vui mừng và bình tĩnh hơn.
Mẹ thở ra một hơi dài thật mạnh, rồi kêu lớn :
Bà con ơi, có ai đó cứu con tôi với… không thì nó chết mất. Bà con ơi, xin cứu con tôi…
Tiêng kêu cứu của mẹ như muốn làm vỡ tung ngôi nhà mái tôn. Nhiều người chạy đến, những ông bà lớn tuổi và con nít. Mấy ông mấy bà tìm cách tháo giây trói không được. Họ dùng dao cắt đứt giây, tôi rơi xuống. Mẹ và mấy ông mấy bà cố đỡ tôi cho khỏi rơi xuống đất, nhưng đà rơi và sức nặng của cơ thể tôi đã không giữ lại được giữa những bàn tay. Tôi rơi xuống nền đất, mẹ ngã trên người tôi vì cố giữ tôi trên tay.
Tôi hét lên… và không còn biết gì nữa.
Chị Thérèse nói tiếp, giọng nhẫn nhục:
Khi tôi tỉnh lại, mẹ đang ngồi bên tôi, mệt mỏi và buồn rầu. Mẹ cười, hai môi như bị méo, để bàn tay lên trán tôi, mẹ hỏi giọng nghẹn ngào:
Con tỉnh lại rồi, con còn bị đau nhiều không ? Con ráng chịu đựng rồi sẽ khỏi, con của mẹ ! “ Tôi cảm thấy một nửa thân tôi và toàn chân bên trái bị bó cứng, bàn tay bên phải cũng bị bó cứng, tôi không cựa quậy được. Toàn thân tôi còn đau đớn nhưng tôi cảm thấy chịu đựng được nên gật đầu như trả lời cho mẹ tôi rằng không còn đau nhiều, tôi muốn nhìn thấy mẹ an-tâm.
Tôi được điều trị thương tật ở bịnh-viện Hội-an. Chân phải của tôi bị trật xương khớp háng, các mạch máu không dẫn máu đến được nên toàn chân phải bị chết. Bàn tay phải của tôi bị gãy mấy ngón tay, vì khi được cắt giây bị treo trên sà nhà rơi xuống, bàn tay tôi chống đất trước. Hội đồng bác sĩ của bịnh-viện không chấp thuận đề nghị của bác sĩ điều trị cắt một phần chân của tôi vì sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Ba tháng sau tôi được xuất viện, chân tôi không duỗi thẳng được, vẫn cong, nên tôi phải dùng nạng. Ba ngón tay của bàn tay phải bị gãy, khép vào lòng bàn tay không cử động được. Mẹ bán nhà, hai mẹ con vào Sài-gòn sống với ba. Biết được tình trạng thương tật của tôi, bác sĩ người Pháp giám-đốc bịnh viện Grall cũng là hội-trưởng hội Chữ Thập Đỏ của Pháp tại Việt-nam đã làm thủ tục đưa tôi qua Pháp để được tiếp tục chữa trị. Một gia-đình người Pháp không con nhận bảo trợ cho tôi. Tôi rời Việt-nam năm 1967, vừa đúng sáu tuổi.
Gia-đình người Pháp bảo trợ cho tôi gốc Bồ-đào-Nha rất sùng đạo Thiên-chúa. Chồng làm việc cho một hãng bào chế thuốc. Vợ là y-tá điều dưỡng của một bịnh-viện. Gia-đình cư ngụ vùng Bắc thành-phố Paris.
Một tuần có hai ngày tôi được xe bịnh-viện đón đưa đến trung tâm Phục hồi Chức năng để được săn sóc thương tật. Những ngày còn lại trong tuần tôi cũng được xe đưa đón đi học tại một trường dành cho trẻ em khuyết-tật.
Mặc dầu được chữa trị bằng phương tiện y-khoa tân-tiến vào thời đó, thương tật của tôi không trở lại bình thường… và tôi trở thành khuyết tật vĩnh viễn. Gia-đình bảo trợ tôi không muốn tôi trở lại Viêt-nam, làm thủ-tục xin nhận tôi làm con với sự đồng ý của ba mẹ tôi. Tôi tiếp-tục được đi học chữ tại trường cho người khuyết- tật đến hết chương-trình trung-học. Cuối tuần hay những ngày nghỉ lễ, tôi phụ giúp cho chi hội Chữ-thập-Đỏ địa phương, làm nhiệm vụ tiếp nhận tặng phẩm và tiền bạc của những người hảo-tâm đem đến ủng hộ cho hội hoặc đôi khi lập thành nhóm đi lạc-quyên ngoài đường phố hay tại các trung-tâm thương mại lớn.
Năm 1975, tôi đang chuẩn bị vào trung-học đệ nhị cấp thì tại Việt-nam chính quyền Cộng sản Miền Bắc đánh chiếm và cai-trị Miền Nam. Ba mẹ tôi được sứ-quán Pháp cho phép theo nhân viên người Pháp phục-vụ tại bịnh-viện Grall qua Pháp tị-nạn vì sợ chính quyền mới qui tội làm việc cho ngoại bang. Tôi tiếp tục học hết trung-học, vào đại-học, rồi ra trường đi dạy. Hai người bảo trợ cũng là cha mẹ nuôi tôi sau nầy lần lượt theo hầu Đức chúa trời vì cao tuổi. Ba tôi cũng rời bỏ hai mẹ con tôi sau một cơn bệnh đột-ngột vì tim.
Năm đó, tôi ba mươi bảy tuổi. Me rời bỏ tỉnh, lên Paris sống chung với tôi. Theo lời trăn trối của ba muốn đem tro cốt về quê nhà, mẹ và tôi quyết định đi về thăm Việt-nam. Sau khi tro cốt của ba được được gởi trong chùa ở Hội-an và vài ngày thăm viếng bạn bè quen biết, mẹ và tôi trở ra Vĩnh-Điện thăm làng xóm cũ. Tôi không còn ghi nhớ gì nhiều khung cảnh ở đây vì đã rời gần ba mươi năm trước. Chỉ nghe người thân quen của mẹ nhắc lại chuyện giặc giã ba mươi năm trước tấn công và chiếm đóng thị-xã và tôi là một phần nhỏ trong những tai u xóm cũ lên đường vào Sai-gòn trở lại Pháp, mẹ mời vài người thân quen ngày trước cùng buôn bán trong chợ cạnh tủ vàng của mẹ, tham dự một bữa cơm thân mật tại một nhà hàng nhỏ. Đang lúc ăn và chuyện trò vui vẻ thì bỗng dưng mọi người ngừng nói. Một ông bác hỏi mẹ:
Thím Ba có nhận người nầy là ai không.? Ông nhìn về hướng cửa vào nhà hàng ăn. Tôi và mẹ nhìn theo hướng nhìn của ông… Một ông già chống nạng cụt một chân, hai mắt bị mù, được một cô gái có cổ nghiêng qua một bên, mặt hướng lên trời dẫn đi. Hai người tiến gần đến bàn ăn của chúng tôi. Họ đang đi xin ăn.
Mẹ tôi lắc đầu trả lời bác, nói “không biết”.
Thằng Kéo mà thím không nhận ra sao, ngày trước nó là thợ làm vàng cho thím đó ? Ông bác nói với mẹ.
Mẹ mở to mắt, miệng hả ra, rồi nhắm mắt lại thở ra, khi nhận ra tên nguời làm hồi truớc. Tôi thấy toàn thân cứng lạnh, sợ hãi khi nhìn lại kẻ đã cột treo mình lên sà nhà để tra khảo mẹ nơi dấu vàng mấy chục năm trước. Ông bác kể:
Sau cái năm nó kéo du-kích về đánh chiếm Vĩnh-Điện mình một đêm, một ngày, thì thị xã được lính Quốc-gia chiếm lại bọn nó rút về Gò-nổi, bị máy bay Quốc-gia dập bom banh càng, nó mất một chân… Sau chiến tranh, chính-quyền mới cho làm khóm trưởng đâu bên Gò-nổi, một đêm tối, sau khi đi vận động nông-dân vào họp tác-xã nông- nghiêp, trên đường về, nó bị mấy người lạ mặt chận lại đánh bị thuơng nặng, làm mù hai mắt, rôi trói lại bỏ trong ruộng dâu. Đứa con gái dẫn nó đi ăn xin là con của nó, khi sinh ra đã bị tật như vậy.”
Tôi nhìn cô gái, mặt cứ ngữa nhìn lên trời. Tôi chợt nhớ đến cái đêm tôi bị trói, treo lên sà nhà, mặt mẹ lúc nào cũng ngước lên nhìn tôi, đau đớn, sợ hãi và chan hòa nước mắt. Còn cô gái nầy suốt đời phải ngước mặt nhìn trời là tại làm sao vậy ? Trần gian nầy đang quá khổ đau nên không dám nhìn xuống ? Cầu xin ơn trên tha lỗi cho cha mình đã một thời gieo rắc tang thương cho đồng bào mình ? Nếu đúng vậy thì tội tình nầy đã đến với cô một cách bất công và cay nghiệt ! Lòng tôi ái-ngại khi nhìn thấy cô.
Ông bác kể tiếp:
Chính-quyền địa-phương xếp nó vào diện thương binh liệt-sĩ, được trợ cấp, nhưng không đủ sống, dân địa-phương xa lánh vì sự tàn bạo nó đã gây ra trước đây, rồi vợ bỏ, để lại đứa con rồi đi biệt xứ. Hàng ngày hai cha con rời làng vào đây xin ăn.
Khi hai người ăn xin đến gần bàn ăn, mẹ tự nhiên đứng lên vội vàng đi vào nhà vệ-sinh. Tôi cũng đứng lên, đi “lọc cọc” theo mẹ. Hai mẹ con đứng yên-lặng trong nhà vệ-sinh, không trao đổi với nhau một lời, chỉ nhìn nhau… Khi hai mẹ con trở ra lại bàn ăn, hai người ăn xin đã đi qua những bàn thực khách khác.
Bữa cơm thân mật chấm dứt, mọi người chia tay với những chúc lành đẹp nhất. Dưới ánh sáng vàng vọt của những cột điện ven đường, hai người ăn xin đang đi phía trước, dưới những hàng cây khẳng khiu, thưa lá. Khi vượt qua hai người ăn xin, tôi dừng lại, cho tay vào túi xách lấy ra mấy tờ bạc dúi vào tay cô gái rồi theo mẹ băng qua đường một cách vội vàng. Trong đêm tối yên tĩnh, tôi nghe rõ tiếng nạng “cộp… cộp “của anh Kéo vang lên chen cùng tiêng nạng “cộp… cộp” của tôi nghe buồn da diết.
Trong những ngày chờ đợi chuyến bay về lại Pháp tại Sài-gòn, một buổi sáng, mẹ và tôi dùng điểm tâm tại một tiệm phở. Khi hai mẹ con tôi vừa ăn xong thì một người đàn ông không còn chân lết đến bên cạnh nhìn thẳng vào hai mẹ con tôi, đưa một một túi nhựa ra trước mặt, hỏi:
Hai bà ăn xong rồi, phần dư còn lại không ăn hết, xin cho vào túi nhựa của tôi.
Mẹ e-ngại trút phần ăn còn lại của hai tô phở vào túi nhựa với nét mặt đầy xúc động, rồi lặng lẽ lấy mấy tờ bạc để vào tay ông, mẹ nói:
Chú giữ lấy tiền nầy để mua thêm thứ gì để ăn.
Người đàn ông cầm tiền, cứ chăm chăm nhìn mặt mẹ rồi lết ra bên ngoài tiệm phở. Bên ngoài có một đám con nít, tay xách thùng đánh giày, tay cầm vé số, tay cầm lon xin tiền, tay cầm túi nhựa xin thức ăn thừa, muốn vào tiệm nhưng bị người quản lý ngăn chận. Khi mẹ và tôi bước ra khỏi tiệm phở, lũ con nít ùa tới vây quanh, mỗi đứa nói một câu lao nhao, mẹ đưa tay nhẹ nhàng gạt chúng qua một bên để có lối đi cho hai mẹ con. Giữa lúc đó, từ trong một góc, người ăn xin cụt hai chân lết lần về phía chúng tôi, hỏi lớn:
Có phải bà là thím Ba ngày xưa có tủ vàng trong chợ Vĩnh-Điện không ? Cháu nhìn không sai đâu. Hồi đó thím nổi tiếng khu Vĩnh-điện, mọi người đều nói như vậy. Mắt thím đẹp, ai cũng biết. Con Chút, con gái của thím cũng có cặp mắt giống thím như vậy. Cô nầy chắc là con Chút ngày xưa, bị mấy thằng trong rừng ra quậy phá phố Vĩnh-Điện bắt treo lên khảo vàng nhà thím, làm nó bị thương, phải không thím ?
Ông vừa nói vừa chỉ tay vào tôi.
Tôi ngạc nhiên, cố tìm trong trí nhớ người nầy là ai… Thấy mẹ do dự một lúc rồi gật đầu xác nhận. Mẹ lại hỏi;
Tôi nay lớn tuổi rồi, trí nhớ không còn như trước, không nhớ chú là ai vậy ?.
Người ăn xin cụt hai chân nói giọng vui mừng:
Cháu là con ông Tư Cải cùng xóm với thím đó, cháu là thằng Lự đây. Hồi thằng Kéo đem du-kích của nó đánh Vĩnh-Điện, nó bắt ông già cháu đi theo vì ông không chịu đóng thuế nông-hội cho chúng. Mấy tháng sau dân chúng vớt được xác ông già cháu nổi trên bến đò Hoa-trà. Đêm đó thằng Kéo vào nhà thím treo con Chút lên kèo nhà để khảo vàng, chuyện ấy ai cũng biết.
Mẹ thừ người ra, mặt đượm nét sầu đau. Còn tôi, khi được nghe nhắc đến tên Chút, cái tên mà ba mươi năm nay không còn ai nhắc đến, đã vào trong quên lãng của mọi người, nay được nghe lại, tôi bồi hồi xúc-động. Ký ức tuổi thơ của tôi chợt thức giấc: Thằng Lự đây sao ? Hồi đó hai đứa cùng lũ bạn trong xóm, suốt ngày lêu-lỗng ngoài xóm, chơi lò-cò, chơi nhảy dây, chơi u, chơi ném lon… thằng Lự khỏe mạnh, thường hay bênh vực tôi mỗi khi bị bọn trẻ khác hiếp đáp !
Tôi đang nghĩ đến ngày xa xưa, thì nghe tiếng mẹ :
Tại sao cháu ra nông-nổi tàn tật như thế nầy ?.
Năm 1979, cháu bị bắt vào lính, đưa ra Bắc đánh nhau vời Trung-quốc, cháu bị thương cụt hai chân. Đời sống khổ lắm thím, nhà nước trợ cấp nhưng sống vẫn thiếu trước hụt sau… người ta quy kết trước đây ông già cháu có tội với cách mạng vì không nộp thuế nông-hội, nay mặc dầu cháu hy sinh một phần cơ thể cho đất nước, nhưng cháu phải tiếp tục trả cái nợ trước đây của ông già, vì vậy phần trợ cấp thương binh của cháu bị địa phương cắt giảm không đủ vào đâu nên cháu phải xin ăn.
Tôi nhìn thân thể tật nguyền và teo gầy của Lự, nước mắt ứa ra. Tôi bước lần đến bên Lự, buông nạng, quỳ một chân trước Lự, nhìn sững Lự rồi bật khóc như ngày nào bị chúng bạn hiếp-đáp, khóc to lên để Lự chạy đến bênh vực, che chở. Tôi nghe từ phía Lự cũng có tiếng nấc lên, thổn thức. Trong làn nước mắt, tôi thấy tôi đang chạy trốn thật nhanh, đàng sau, Lự đứng giang hai tay như người hiệp-sĩ ngăn cản lũ cướp là đám con nít đưổi theo sau trong khi hơn thua nhau trong một trò chơi giành giựt nhau của trẻ con.
Tôi im-lặng. Lự im-lặng. Mẹ nhẹ nhàng kéo tay tôi đứng dậy. Tôi đứng lên. Lự vẫn ngồi bất động. Chung quanh có nhiều người hiếu kỳ đứng lại nhìn chúng tôi.
Mẹ gọi hai xe xích-lô, mẹ một chiếc, tôi ngồi chung xe với Lự. Trên đường dẫn về nhà Lự, tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài những hình ảnh một thời thơ ấu của tôi cuộn chảy về như một dòng sông ký ức. Tôi nhìn thấy một con bé lúc nào cũng được che chở, được binh-vực dù con bé sai quấy, ngay cả khi con bé đó tham lam lấy đồ chơi của người khác làm của mình. Nhưng rồi cũng có lúc con bé trở nên hung dữ, ném dép và đá sỏi vào Lự vì con bé bị ngăn chận không cho leo lên cây hái mấy trái ổi, sợ bị té. Một viên đá đă làm trán Lự chảy máu, Lự kéo áo lau máu, chạy về nhà.
Con bé chạy theo, Lự khép cửa không cho nó vào nhà, Lự giận, con bé ngồi bên ngoài lo sợ cho vết thương của Lự, khóc ấm ức… Kỷ niệm đang trở về, trong vô thức, tôi đưa bàn tay thương tật sờ lên trán Lự, nơi vết thương của ngày nào… Bỗng nhiên Lự cũng đưa một tay lên vỗ nhẹ vào tay tôi đang dặt trên trán Lự. Lự cười và nói như nói với tôi và như nói với chính mình:
Sẹo của vết thương đã phai theo thời gian, nhưng kỷ-niệm về vết thương vẫn nhớ mãi.
Lự nói, mắt vẫn nhìn về phía trước. Lự đã hiểu lòng tôi khi bàn tay tôi để lên trán Lự để nhớ về tháng năm thơ ấu thân yêu. Tôi nhìn Lự, ngầm nói lên lời cảm ơn tình bạn thân ái vẫn còn lại với tháng năm.
Lự sống với gia-đình em gái trong khu ngã tư Bảy Hiền, nơi dân Quảng-nam, vùng Gò-nổi, vốn tiếng tăm với nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt Lụa, Thao, Đũi, bỏ xứ vào đây lập nghiệp, tránh chiến-tranh ác-liệt. Vợ chồng em gái Lự làm nghề vệ-sinh, hốt rác trong khu phố, nuôi ba đứa con, thiếu trước hụt sau nên việc ăn uống cá-nhân Lự tự giải quyêt. Lự cần một nơi tránh gió tránh mưa nắng nơi nhà em gái. Tôi rất đau lòng cho cuộc sống của Lự. Có lúc tôi vu-vơ nghĩ quanh: “Cái đêm anh Kéo bắt treo tôi lên sà nhà… Lự lúc đó đang ở đâu mà không xuất hiện cứu tôi ? “. Rồi tôi tự cười mình… ba mươi bảy tuổi rồi… còn nghĩ đến ngày xưa còn bé ! Tiểu hiệp sĩ ngày xưa oai nghi như một thiên-thần, nay thiên thần đã gãy cánh !
Mẹ đồng-ý xin hoãn chuyến bay về lại Pháp ba ngày theo đề nghị của tôi. Tôi có thời gian giúp Lự khám sức khỏe toàn diện cũng như đi mua cho Lự một chiếc xe lăn. Mẹ tôi giúp Lự và gia-đình em gái Lự một số tiền để xoay sở sinh sống. Có một điều Lự phàn nàn với tôi là tại sao không gọi Kéo là tên Kéo, thằng Kéo mà gọi là anh Kéo, nó là tên ác ôn mà. Tôi trả lời một cách thản nhiên:
Đó chỉ là thói quen thôi, dù gọi tên Kéo, thằng Kéo hay là gì gì đi nữa thì Kéo vẫn là kẻ độc ác, đáng nguyền rủa.
Sau chuyến về Viêt-nam rồi trở lại Paris, sức khỏe của mẹ bắt đầu sa sút. Cùng lúc trường học giảm tối đa giáo viên giảng dạy vì số lượng học sinh ngày một giảm vì người Pháp không muốn sinh con. Lợi dụng bị thuyên chuyển làm việc xa nhà, thân tàn tật di chuyển khó khăn, tôi xin nghỉ việc để có thời gian lo săn sóc mẹ. Thời gian rảnh rỗi, tôi vẫn tiếp tục làm việc thiện nguyện cho Hội Chữ Thập Đỏ. Rồi chiến tranh ở Bắc Phi, chiến tranh ở Trung-đông liên tiếp xẩy ra, tôi có dịp theo hội cứu giúp trong các trại tỵ nạn nơi xẩy ra chiến cuộc. Sự tàn phá, chết chóc do chiến-tranh tạo ra gây cho tôi kiệt lực. Người ta nhân danh chiến tranh để giải phóng con người ra khỏi đói nghèo và áp-bức, nhưng sau chiến-tranh, đói nghèo và áp bức càng gia-tăng do hậu quả cuộc chiến để lại và lòng tham muốn quyền lực chiếm đoạt và sự trả thù của bên thắng cuộc đối với kẻ thua cuộc.
Cường-độ của độc-ác, bóc lột, đói nghèo gia tăng thì lòng nhân-đạo giúp đỡ nhau đi xuống. Chiến-tranh ở Việt-nam có “Kéo” ác-độc chủ động tham dự, “Lự“ bị cưỡng bách, có “Chút” là tôi, một thường dân vô-tội, thì các nạn nhân chiến-tranh ở Trung-đông, Bắc-Phi cũng không khác. Tôi nói lòng nhân đạo đi xuống là muốn nói lòng nhân đạo tự nguyện đối với nạn-nhân của mọi biến cố xa gần, trực-tiếp hay gián-tiếp đã trở nên cằn cỗi… nên một số anh chị em trong hội tự chọn cho mình một phương cách hữu-hiệu, an toàn để tạo thêm nguồn tài-chánh cho trung ương, và tôi đã chọn là mỗi tuần tôi để ra ba buổi chiều xin tiền trong hầm xe điện ngầm.
Lúc đầu chuyện không đơn giản, vì anh chị em trong nhóm thấy quyết-định của tôi có vẻ sẽ gây bất mãn và gây dị nghị cho tổ chức, nhưng tôi dã thuyết phục được họ vì tôi làm không nhân danh hội, chỉ có tính cách cá-nhân. Những tuần lễ đầu tiên, khách qua lại trong đường hầm xe điện ngầm ném cho tôi những cái nhíu mày tỏ vẻ bực bội. Tôi biết, một người khuyết tật ở xứ Pháp nầy sẽ được xã-hội bảo bọc chu toàn nên xin ăn là điều sĩ nhục cho đất nước. Tôi để hộp xin tiền trước mặt, ngồi im, hai mắt nhắm lại. Một ngày qua đi, ba ngày trong tuần qua đi, không có một xu nào được ném vào hộp.
Qua tuần lễ thứ hai, lác đác tôi nghe có tiếng tiền kim loại được ném vào hộp… Rồi một tuần sau đó, niềm vui và tin tưởng đến với tôi. Một nhóm học trò cũ của tôi được cô thầy giáo hướng dẫn du hành nghiên cứu thực tế bên ngoài xã-hội để áp-dụng cho một chương trình học trong lớp đi ngang qua chỗ tôi ngồi xin. Có lẽ do sự giải thích của cô thầy giáo đồng nghiệp cũ của tôi về việc làm của tôi nên các em vây quanh tôi vỗ tay reo hò, nhiều em bỏ tiền vào hộp. Có em giải thích việc làm của tôi với khách qua lại dừng chân vì hiếu kỳ, họ cũng bỏ tiền vào hộp. Hôm đó, lần đầu tiên trong những ngày bắt đầu xin tiền, tôi nhận được khá nhiều tiền, lòng thật vui, đầy phấn khởi. Cũng có lẽ sau ngày hôm đó, những cái nhìn của khách qua lại ném cho có nhiều thiện cảm hơn, có khách dừng chân, nhẹ nhàng bỏ những tờ giấy bạc hay những đồng tiền bằng kim loại vào hộp, không quên kèm thêm một nụ cười. Hạnh-phúc nhất đến với tôi là sau một năm thực-hiên việc xin tiền, đài truyền hình France 3 đưa tin-tức công việc của tôi cho mọi người biết. Có một câu hỏi mà câu trả lời tôi thích nhất từ đó cho tới nay.
Người ta hỏi:
Bà là người Pháp, gốc Việt-nam, có phải việc làm của bà nhằm mục-đích có tiền góp cho hội Chữ-Thập-Đỏ dành riêng giúp cho những nhu cầu cần-thiết hàn gắn những vết thương do thiên tai tạo ra bên Việt-nam ? .
Thưa không phải là như vậy. Việc tôi làm là để đóng góp tài chánh cho hội Chữ-Thập-Đỏ. Sự đóng góp của tôi không bằng một hạt cát trong đại dương mênh-mông. Việc phân phối giúp đỡ theo nhu cầu ở một nơi nào đó là do Hội nghiên-cứu và quyết- định. Hội Chữ-Thập-Đỏ làm việc cho toàn thế-giới, không riêng cho một nước nào. Ngay tại nước Pháp của chúng ta, cũng có những lúc, có những nơi cần có sự góp sức của hội Chữ-Thập-Đỏ.
Tôi nhấp cạn phần còn lại của tách cà-phê, lòng cảm thấy nhói vì câu chuyện.
Nguyễn Đại Thuật
CAO MỴ NHÂN – DẤU LỆ THƠ XƯA
DẤU LỆ THƠ XƯA. CAO MỴ NHÂN
Nhân chuyện Nữ Sĩ MINH THUÝ THÀNH NỘI ghi cho CAO MỴ NHÂN tôi dòng chữ ( M T kính họa theo chị Mỵ “ chị ơi , đầu em bị cóng về thơ Đường rồi, chẳng thấy hay ho gì hết “ ) .
Hôm nay Cao Mỵ Nhân tôi xin phép quý Tao Nhân Mặc Khách đã và đang hiện diện ở Thi Đàn LÃNG PHONG do Thi Sĩ LÝ ĐỨC QUỲNH chủ biên Xướng Hoạ thể thơ Đường Luật , để cũng như bày tỏ một quan niệm qua những nhận định tình cờ mà tôi may mắn được nghe từ các vị Thi Sĩ lừng danh trong xã hội Thơ Ca VN chung chung , kể từ “ tiền chiến “ tới nay , về … luật Đường Thi biến diễn Thơ Mới , có vẻ gần gụi tâm tình dân tộc ta hơn .
Song, trước hết tôi phải giới thiệu Cao Mỵ Nhân tôi ở cái lứa tuổi lưng chừng hay xa lạ từ thời gian tới nơi chốn đối với quý vị sẽ nêu ra : nói đôi chút về chuyện làm thơ ĐƯỜNG LUẬT .
Và tôi cũng xin thưa hoàn toàn không đề cập tới “ kỹ thuật, nghệ thuật “ hay công thức ngôn từ để tạo ra bài Đường Thi , vì đó là phạm vi của các Đấng Thi Sĩ , Nhà Thơ như xưa nay đã từng có .
Quý vị sẽ hỏi : “ Thế thì nói gì đây về … Đường luật chứ “.
Vâng , vì muốn chia sẻ với MÌNH THUÝ THÀNH NỘI , một tay Thơ ĐƯỜNG , mà lại “ cóng về thơ Đường, chẳng thấy hay ho gì hết “.
Hola cách đây mấy mươi năm , MỴ tôi đã thốt ra lời tương tự , nhưng là cảm thấy sợ quá luật thơ Đường , chứ không phải chán nó , Đường thi , đâu.
Đó là thời đầu thập niên 80 thế kỷ trước , tôi vừa từ trại tù “ cải tạo “ về Saigon .
Cao Mỵ Nhân tôi vốn làm thơ kiểu … bình thường từ khá lâu rồi , đã có mấy tập thơ xuất bản lại cũng từ trước đó cả hai chục năm .
Tôi được quý Nữ Sĩ lão thành trong Thi Đàn QUỲNH DAO mời gia nhập Hội Thơ tên tuổi đó .
4 vị Nữ Sĩ : MỘNG TUYẾT THẤT TIỂU MUỘI , VÂN NƯƠNG, THU NGA và TUỆ MAI thân mật , ưu ái giới thiệu .
Tôi thưa với quý vị đương nêu , rằng tôi không thích và không thể tôn theo Thi luật quá khó khăn , nghiệt ngã , nào bài thơ có 56 chữ mà không được điệp từ , nào chỉ có 8 câu, 7 chữ , 5 vần mà phải nói lên tính chất nhất quán , nội dung rõ ràng, phong phú.
Chưa kể bài thơ phải có 2 cặp đối , và tuân thủ mỗi câu trong 8 câu đó, phải đúng dàn bài : Phá , Thừa , 2 Thực hay trạng , 2 Luận , Chuyển , rồi kết , công phu lắm, mệt lắm .
Tôi không muốn gia nhập , hay nếu tham dự hội QUỲNH DAO , thì tôi chỉ làm thơ mới , 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ , lục bát , thất ngôn , quá lắm thì song thất lục bát thôi .
Bấy giờ , 1980, quý vị Nữ Sĩ đã ở lứa tuổi cao niên 7, 8 mươi trở lên .
Số quý vị trẻ hơn thì cũng quanh 6 chục .
Lúc đó tôi mới băm mấy , và đã làm thơ từ năm 13 tuổi .
Nữ Sĩ TUỆ MAI đã có 7 tập thơ lưu hành, lại là người phụ nữ được đăng thơ thường xuyên ở báo SÁNG TẠO danh tiếng với các Nhà Thơ tưởng không ai đoạt được chức danh Thi Sĩ của quý vị ấy : THANH TÂM TUYỀN, CUNG TRẦM TƯỞNG, TÔ THUỲ YÊN vv…
Chị TUỆ MAI nói với tôi :
“ MỴ vô QUỲNH DAO đi , làm thơ luật Đường , em sẽ tự đặt mình vào nguyên tắc , tự giữ gìn và học hỏi được phẩm chất quý giá của phụ nữ .
Chị vẫn làm thơ mới, và vẫn làm thơ Đường luật , vui lắm , có khó khăn gì đâu .
Thế là vô hình chung tôi đã thành hội viên của Thi Đàn QUỲNH DAO .
Tôi đã có mặt ở Hội Thơ này , mà đôi khi bạn thơ còn gọi HỘI TRĂNG QUỲNH , vì QUỲNH DAO thường hội vào những đêm trăng 16 trước 1975.
Sau 1975, một số hội viên xuất ngoại, một số già cả , bịnh lão, còn lại đa phần là quý bà cao niên , đan cử Niên Trưởng Nữ Sĩ MỘNG TUYẾT , phu nhân của Thi Sĩ quá cố ĐÔNG HỒ .
Do đó, tôi thường lui tới ÚC VIÊN là tư thất của nhị vị Nhà Thơ miền Nam từ trước tiền chiến, nên sau năm 1975, khi biến cố lịch sử VN gọi là thống nhất theo thể chế XHCN , các Văn Thi Sĩ quen nhau từ tiền chiến như : NGUYỄN TUÂN , XUÂN DIỆU, HUY CẬN, CHẾ LAN VIÊN vv… vô Nam để biết cuộc sống của dân chúng bên này sông BẾN HẢI thế nào, thì đều ghé ÚC VIÊN thăm Nữ Sĩ MỘNG TUYẾT niên trưởng QUỲNH DAO quốc nội của tôi.
Và nhất là các Nữ Thi Sĩ ở miền Bắc xưa, vốn bạn thơ của chủ nhân ÚC VIÊN , có dịp tới lui trò chuyện với Nữ Sĩ MỘNG TUYẾT , như các bà NGÂN GIANG, ANH THƠ, MAI ĐÌNH , THUỴ AN vv … thì kể như thường xuyên .
Bấy giờ Mỵ tôi là em út QUỲNH DAO, và cũng là cây gậy của vị Niên Trưởng đã ngoại bát tuẫn , nên không thể vắng mặt trong các buổi hội Thơ , tiếp Tân hoặc tái ngộ của các bậc cao niên ấy .
Tôi muốn kể với quý vị LÃNG PHONG hôm nay , rằng điều nhận xét chung , và gần như “ nhất quán “ về : Những Nhà Thơ VN chung chung, sau này nổi tiếng nơi các dòng thơ mới, dù ở hoàn cảnh nào, cũng trả lời câu hỏi tình cờ của tôi :
“ Thế các vị trước tiền chiến, ngoài cụ QUÁCH TẤN ở trong Nam, có vị nào đã hay từng làm thơ Đường Luật không ạ ? “
Lý do tôi nêu câu hỏi, vì quý vị đó đang ngồi nghe hoặc nói Đường Thi mà Hội Thơ QUỲNH DAO chúng tôi chủ trương xướng họa , để nhờ chiêu thơ hư mà thực, giả mà chân … an ủi, vô về sinh hoạt ngán ngầm , dở dang trong cuộc đổi đời … bi đát ấy .
Không ai suy nghĩ , không ai ngại ngùng, họ khách vãng lai từ miền Bắc vô đều trả lời bình thường, bình thản :
“ Phần nhiều trước khi làm thơ mới, có xem qua, có thử làm, và cũng đã từng làm đôi bài Đường luật chứ. Cũng từ Đường luật mà bước qua thơ mới dễ dàng , cảm xúc mau mắn, thiết thực, vần điệu hơn … “
Tôi không tin lắm , Nữ Sĩ ANH THƠ , đã từng đoạt giải Thơ của TỰ LỰC VĂN ĐOÀN nói :
“ Có biết các ông HUY CẬN, CHẾ LAN VIÊN đã từng viết Đường Thi không . “
Và xin lỗi, tôi chỉ là người nghe sao, nhắc lại thôi : “ sau 30 – 4 – 1975, ông Thi Sĩ Đỏ có bài thơ nói về “ Gỡ rối bao xưa “ ( bao cấp ) có tới 4 cặp đối trong bài tạm luật Đường, thì ông này cũng hiểu Đường thi chớ .
Có lẽ đó cũng là bài cuối cùng Thơ TỐ HỮU .
Tuy nhiên phải mở dấu ngoặc là có nhiều vị hỏi tại sao sau 1975, Tố Hữu không làm thơ nữa .
Thì hỏi là trả lời rồi : “ ông ấy hết nhiệm vụ, chẳng lẽ viết cái lỗi thời của Thơ Đỏ sao ? “
Tôi hơi dài dòng là vào thì dài, mà kết luận lại như không nói được hết ý mình,
Tức là những gì mình đã hay đang bước qua, chính là những kinh nghiệm quý giá thâu nhận được, để trải ra phía trước đường trường sinh hoạt nối tiếp , dù trên lãnh vực thi ca hay gì đi nữa .
Tất nhiên khi không thích, không đúng nữa thì thôi, nhưng đừng tiếc, đừng buồn chi cả, mới là … thăng hoa của tư tưởng , thi phong , thi cốt đặc thù của mỗi nhà thơ …
Huống chi MÌNH THUÝ THÀNH NỘI hoa bút ĐƯỜNG THI đã hảo hạng một thời .
Xin CÁM ƠN QUÝ VỊ đọc , xin bỏ qua sơ xuất của MỴ tôi ở cả nhận định cũng như viết lách . KÍNH CHÚC VẠN AN.