LÊ TUẤN: Nhà Thơ Hữu Loan Khóc Giữa Sài Gòn – Tím Một Chiều Quê

==
Không phải Hữu Loan của những trang sách giáo khoa hay những cuộc tranh luận văn học, mà là một Hữu Loan bằng xương bằng thịt: một người thi sĩ già từ miền Bắc vào Sài Gòn, lúng túng trước dao nĩa, ngậm ngùi trước một đĩa thịt nguội, và bật khóc khi nghe chính bài thơ của mình được ngâm lại sau nhiều thập niên bị cấm đoán. Những giọt nước mắt ấy không chỉ là nước mắt của một người chồng nhớ người vợ trẻ đã khuất,
mà còn là nước mắt của một đời người đã đi qua chiến tranh, tù đày, đói nghèo và những năm tháng bị đẩy ra bên lề văn học. Hữu Loan đã sống gần trọn một thế kỷ, nhưng ông mãi được nhớ đến như người thi sĩ của tình yêu chung thủy, của nỗi đau nhân thế và của màu tím bất tử trong thi ca Việt Nam.
Khi ông khép lại cuộc đời mình vào mùa xuân năm 2010, ông không chỉ để lại một bài thơ nổi tiếng, mà còn để lại một biểu tượng của lòng trung thực và khí phách của người cầm bút trước mọi nghịch cảnh.
Sức sống của Màu Tím Hoa Sim nằm ở chỗ bài thơ không nói về chiến công hay những khẩu hiệu của thời chiến. Hữu Loan chỉ kể một câu chuyện rất nhỏ: một đám cưới nghèo, một người vợ trẻ, một người lính ra đi rồi mất người mình yêu. Nhưng chính cái rất riêng ấy lại chạm đến cái rất chung của con người.
Đó là nỗi đau của tình yêu trước sự tàn khốc của chiến tranh.
Đọc Màu Tím Hoa Sim, người ta không chỉ thương người vợ trẻ của Hữu Loan, mà còn thương cho cả một thế hệ thanh niên Việt Nam
đã phải sống trong những năm tháng binh lửa. Có những người ngã xuống ngoài mặt trận, có những người sống sót nhưng mang theo những vết thương không bao giờ lành. Nỗi đau ấy đã được Hữu Loan cô đọng vào một màu tím — màu của hoa sim, màu của thủy chung, màu của tang tóc và hoài niệm. Có lẽ vì thế mà khi nghe lại bài thơ của mình giữa Sài Gòn, sau hàng chục năm bị cấm đoán, Hữu Loan đã bật khóc. Đó không chỉ là nước mắt của một thi sĩ nghe lại tác phẩm của mình. Đó còn là nước mắt của một người chồng nhớ vợ, của một chứng nhân lịch sử nhớ lại một thời tuổi trẻ, và của một người cầm bút cuối cùng được nghe tiếng lòng mình vang lên giữa đồng bào.Tôi chợt nhớ mấy câu thơ của chính Hữu Loan:
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái.
Những câu thơ ấy giản dị đến mức tưởng như lời kể chuyện. Nhưng càng đọc lâu, người ta càng thấy trong đó có cả một thời đại. Đó là vẻ đẹp hiếm có của thi ca: không cần những lời lớn lao mà vẫn làm rung động trái tim người đọc suốt hơn nửa thế kỷ.
Tôi xin kết luân bằng bốn câu thơ nhỏ như một nén hương tưởng nhớ nhà thơ Hữu Loan:
Người đi mang cả mùa sim
Để màu tím nhuộm lặng im đất trời
Trăm năm khói phủ cuộc đời
Còn câu thơ khóc một thời chiến chinh.
Tế Luân
VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT MỪNG NGÀY TỪ PHỤ 2026. ĐỖ DUNG: Tùy Bút “Đỗ Gia Trang Trên Đồi Mê Linh.” Phương Hoa: THƠ CHÚC MỪNG NGÀY TỪ PHỤ. Phương Thúy: MỘT ĐỜI TẬN TỤY. Minh Thúy: THƠ & VĂN VỀ NGÀY LỄ CHA.

==
THƠ CHÚC MỪNG NGÀY TỪ PHỤ
(Thủ nhất thanh – Nhị khúc)
CHÚC ngày tháng Sáu rộn ràng nha!
CHÚC khắp hoàn cầu mở tiệc hoa
CHÚC thọ Father dâng mỹ tửu
CHÚC an Từ Phụ hiến Tiên trà
CHÚC lòng trung hiếu luôn bền vững
CHÚC chữ nghĩa nhân mãi hiệp hoà
CHÚC hãy đừng quên ơn dưỡng dục
CHÚC toàn chốn chốn thảy mừng CHA
*
MỪNG Cha luôn được sống an nhàn
MỪNG kính Phụ thân thọ tuổi vàng
MỪNG nhận niềm vui thêm chất ngất
MỪNG mong hạnh phúc mãi đầy tràn
MỪNG trong gia đạo nhìn con hiếu
MỪNG chốn học đường thấy cháu ngoan
MỪNG Lễ Father’s xin ước nguyện
MỪNG chờ ngày trở lại giang san….
Phương Hoa – HAPPY Father’s Day
==

Đỗ Gia Trang Trên Đồi Mê Linh
Đỗ Dung kính nhớ Bố.
FATHER’S DAY 2026
Có những ngôi nhà biến mất khỏi mặt đất từ rất lâu nhưng vẫn còn nguyên trong ký ức.
Tôi nghĩ về điều đó vào một chiều cuối năm, khi ngồi bên cạnh Bố trong căn phòng nhỏ của viện dưỡng lão.
Ngoài cửa kính, trời mùa đông California xám đục. Mấy cành cây trơ lá run nhẹ trong gió. Chiếc tivi đặt ở góc phòng vẫn mở nhưng không có tiếng. Ánh sáng xanh nhấp nháy trên khuôn mặt đã hằn sâu những nếp thời gian.
Tôi cúi xuống hỏi:
“Bố có biết con là ai không?”
Ông ngẩng lên nhìn tôi. Đôi mắt đục mờ vì tuổi tác bỗng sáng ra một chút.
“Dung.”
Chỉ một tiếng gọi ấy thôi.
Bao nhiêu năm tháng bỗng quay về.
Tôi lại thấy mình đứng trong căn nhà cũ ở Mai Hắc Đế của Hà Nội ngày xưa. Những buổi sáng mùa đông, sương còn đọng trên mái ngói. Mùi hương trầm len lỏi trong từng gian nhà. Bộ sập gụ bóng màu thời gian nằm giữa phòng khách. Trên mặt tủ chè khảm xà cừ, những ông tiên trong tích Bát Tiên vẫn lấp lánh dưới ánh đèn vàng.
Đó là thế giới đầu tiên của tuổi thơ tôi.
Một thế giới có tiếng guốc của Mẹ đi trong sân. Có tiếng anh chị em gọi nhau í ới. Có mùi nước mắm chưng trên bếp. Và có tiếng chuông cơm của Bố.
Ba hồi dài.
Lúc nào cũng vậy.
Tiếng chuông vang lên là mọi cuộc chơi phải dừng lại.
Đứa ở sân trước chạy vào.
Đứa ở sân sau chạy lên.
Đứa còn đang đọc sách cũng phải gấp sách lại.
Cả nhà ngồi quanh mâm cơm như một nghi lễ không ai được phép vắng mặt.
Ngày ấy chúng tôi nghĩ đó là luật.
Nhiều năm sau mới hiểu đó là tình yêu.
Có những người cha thể hiện tình yêu bằng những lời âu yếm. Có người bằng những cái ôm. Bố tôi lại chọn cách riêng của ông: dựng nên một nếp nhà.
Ông vốn là người lính.
Người lính thường tin vào kỷ luật như tin vào xương sống của một đời người.
Khi gia đình chuyển vào Sài Gòn, căn nhà trên đường Thành Thái dần trở thành một thế giới riêng mang dấu ấn của ông. Chuông điện lớn được lắp ngay phòng khách. Mỗi người có một tín hiệu riêng. Phòng ngủ của mấy chị em được ông gọi bằng cái tên rất nhà binh: “Trại nữ binh”.
Mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn bật cười.
Ngay cả tuổi thơ của chúng tôi cũng được tổ chức theo kiểu nhà binh.
Nhưng lạ thay, trong ký ức, tất cả đều ấm áp.
Kỷ luật của Bố chưa bao giờ làm người ta sợ.
Nó giống hàng rào quanh một khu vườn hơn.
Nhờ có nó mà những đứa trẻ được lớn lên trong an toàn.
Bên dưới vẻ nghiêm nghị ấy là một tâm hồn mềm đến không ngờ.
Ông mê nhạc tiền chiến.
Những đêm yên tĩnh, từ chiếc máy hát trong phòng khách vang lên Suối Mơ, Thiên Thai, Con Thuyền Không Bến. Có những bản nhạc tôi đã quên gần hết lời nhưng mỗi lần nghe lại vẫn thấy hiện lên bóng dáng Bố ngồi lặng lẽ bên tách trà.
Ông thích thơ.
Thích viết.
Thích những câu chữ đẹp.
Có lần tôi than phiền rằng hôm sau phải thuyết trình ở trường. Sáng dậy đã thấy trên bàn một bài viết hoàn chỉnh ông thức khuya chuẩn bị cho con gái.
Đến bây giờ tôi vẫn không biết trong đêm ấy ông đã thức đến mấy giờ.
Nhưng tôi biết chắc một điều:
Có những người cha không nói “Bố thương con”.
Họ dành cả cuộc đời để làm điều đó.
Nhà tôi đông con.
Đông đến mức người ngoài nhìn vào thường ngạc nhiên.
Vậy mà bằng một cách nào đó, Bố vẫn biết rõ từng đứa.
Biết đứa nào yếu đuối.
Biết đứa nào bướng bỉnh.
Biết đứa nào đang buồn.
Biết đứa nào cần được giúp đỡ.
Mỗi người nhận từ ông một tình thương khác nhau nhưng không ai thấy mình bị bỏ quên.
Có lẽ vì thế mà cho đến tận bây giờ, khi tóc đã điểm bạc, anh chị em chúng tôi vẫn nhắc về ông như nhắc về tâm điểm của một vòng tròn.
Rồi đất nước đổi thay.
Những cơn sóng lớn của lịch sử tràn qua từng mái nhà.
Gia đình tôi cũng không nằm ngoài dòng chảy ấy.
Một ngày, người cha vẫn đứng đầu bàn ăn bỗng phải rời khỏi nhà để bước vào những năm tháng cải tạo.
Khi ấy tôi còn trẻ.
Chưa đủ tuổi để hiểu hết nỗi đau của người lớn.
Nhưng tôi nhớ rất rõ khuôn mặt của Mẹ.
Nhớ những đêm đèn khuya.
Nhớ mùi nhang trên bàn thờ.
Nhớ sự chờ đợi kéo dài tưởng như không có điểm cuối.
Sau này đọc lại những dòng di bút của Bố, tôi mới hiểu phần nào sức mạnh đã giúp ông đi qua những năm tháng ấy.
Ông không viết về hận thù.
Ông viết về nhân cách.
Ông không nói đến thất bại.
Ông nói đến lòng tự trọng.
Có những con người càng ở trong nghịch cảnh càng hiện rõ phẩm giá của mình.
Bố thuộc về số ít những người như thế.
Ngày đoàn tụ ở San Francisco, tôi nhìn thấy một người đàn ông gầy hơn, già hơn, tóc bạc hơn.
Nhưng không phải là một người bị đánh gục.
Tôi nghĩ có những chiến thắng không ai nhìn thấy.
Đó là khi một con người vẫn giữ được phần tốt đẹp nhất của mình sau tất cả những gì đã xảy ra.
Những năm cuối đời, sức khỏe của ông yếu dần.
Bệnh tật đến như những cơn thủy triều không thể cưỡng lại.
Mẹ cũng già đi.
Hai người chậm rãi bước về phía bên kia cuộc đời.
Có lần nhìn họ ngồi cạnh nhau trong phòng bệnh, tôi chợt nghĩ đến hai ngọn đèn dầu đã cháy gần cạn.
Ánh sáng không còn mạnh.
Nhưng vẫn sáng.
Vẫn đủ để soi cho nhau.
Ngày ấy, Bố thường nói về một giấc mơ.
Ông gọi nó là Đỗ Gia Trang.
Một khu nhà trên đồi Mê Linh.
Một mặt hồ.
Một dãy nhà hình chữ U.
Ông bà ở giữa.
Con cháu quây quần xung quanh.
Ông còn vẽ sơ đồ bằng bút chì và ghi tên từng đứa con vào từng phòng.
Nhiều năm qua đi.
Giấc mơ ấy chưa bao giờ được xây dựng bằng gạch đá.
Nhưng càng sống lâu, tôi càng hiểu rằng Bố đã xây nó rồi.
Ông xây bằng một vật liệu bền hơn xi măng.
Ông xây bằng ký ức.
Bằng tiếng chuông cơm ba hồi.
Bằng những bài hát cũ.
Bằng những lời dạy đơn sơ.
Bằng những giọt nước mắt ngày tiễn con gái về nhà chồng.
Bằng khí phách của một người lính không chịu đánh mất mình.
Bằng tình yêu bền bỉ dành cho gia đình.
Cho nên hôm nay, khi nhìn lại, tôi không còn tiếc ngôi nhà trên đồi Mê Linh nữa.
Bởi vì Đỗ Gia Trang chưa bao giờ nằm ở một địa chỉ nào trên bản đồ.
Nó nằm trong chúng tôi.
Trong cách anh chị em vẫn tìm đến nhau.
Trong cách con cháu vẫn nhắc tên Ông Bà.
Trong cách một gia đình được nối tiếp qua nhiều thế hệ bằng lòng biết ơn và ký ức.
Chiều cuối năm ngoài cửa kính đã xuống hẳn.
Tôi ngồi bên cạnh Bố.
Nắm bàn tay gầy guộc của ông trong tay mình.
Bàn tay ấy đã đi qua chiến tranh, tù đày, ly biệt và đoàn tụ.
Bàn tay ấy đã dựng nên một mái nhà.
Và bỗng nhiên, từ rất xa trong ký ức, tôi lại nghe thấy tiếng chuông cơm năm nào.
Ba hồi dài.
Rõ ràng.
Ấm áp.
Như thể suốt cuộc đời này, Bố vẫn đang gọi chúng tôi trở về.
Đỗ Dung
==
MỘT ĐỜI TẬN TỤY – Tùy Bút Nguyễn Phương Thúy

Một Đời Tận Tụy
Nguyễn Phương Thúy
Bố Mẹ tôi di cư vào Nam lúc tôi mới được vài tháng. Thay tên đổi họ, Bố phải làm lại từ đầu mặc dù đã có bằng Diplome Pháp. Trước tiên là Bố thi Tiểu học, năm sau thi nhảy Tú tài I, rồi năm kế thi Tú tài II, sau đó thi vào ngạch Bộ Y tế. Bố vừa đi làm vừa lấy bằng cử nhân Luật trong bốn năm, rồi lại thi chuyển ngạch sang Bộ Ngoại giao. Ban ngày Bố đi làm, ban đêm chong đèn học khi các con đã đi ngủ hết. Bố học rất giỏi lại nhớ lâu, như một tủ sách biết đi.
Nhà đông con, cứ hai năm lại thêm một đứa, chỉ một mình Bố đi làm nuôi cả gia đình. Đời sống tuy chật vật, nhưng Bố lại không muốn Mẹ tôi phải tất bật phụ giúp việc mưu sinh vì Bố cho rằng việc chăm sóc và dậy dỗ con cái là tối quan trọng. Bố lo cho gia đình rất đầy đủ, cho chúng tôi được ăn học đàng hoàng nhưng bản than Bố rất cần kiệm, ăn uống rất giản dị, nhường cho vợ con ăn trước, rồi còn gì ăn nấy, nhiều khi nhâm nhi tí rượu với rau muống luộc cũng xong.
Bố Mẹ tôi có bảy người con, hai con trai đầu và cuối, ở giữa là năm cô con gái. Mỗi lần sanh, nghe bà đỡ reo lên “con gái” là Mẹ lại ớn đến phát rét, nhưng Bố thì rất thích, cho rằng:
“Con gái là con của ta,
Thương cha, thương mẹ, việc nhà đảm đang.”
Tôi là chị cả của đám con gái. Khỏi phải nói, tôi được hưởng nhiều quyền lợi hơn các em, cái gì cũng được ưu tiên, từ quần áo đến đồ chơi, nhưng ngược lại tôi phải phụ Mẹ tôi lo cho gia đình. Tôi đảm nhiệm vai trò của mình khá giỏi giang, lại hợp tính Bố, hay thủ thỉ tâm tình, nên Bố yêu thương tôi hơn cả. Những lúc lỡ tay làm vỡ chén bát, đồ đạc, tôi chỉ cần mau lẹ thú tội với Bố là Bố nhận hết tội dùm tôi; thế là tôi tránh được biết bao nhiêu cái roi vào đít.
Khi tôi lên chín, thì Bộ Y tế cho Bố đi tu nghiệp ở London sáu tháng. Tôi không bao giờ quên được hôm tiễn Bố ở phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi cứ bịn rịn, quấn quanh chân Bố không muốn rời. Đến khi Bố đưa tay vẫy và khuất bóng sau cách cửa tàu bay thì tôi khóc nức nở, chỉ sợ Bố đi luôn, không về nữa. Mẹ phải trấn an và dỗ dành là Bố sẽ về và sẽ mua cho tôi nhiều đồ chơi thật đẹp.
Tôi nhớ Bố đến héo hon. Chiều nào cũng vậy, sau bữa cơm tối, chị Hai (người giúp việc) dẫn tôi ra đầu đường ngóng Bố. Tôi đứng ôm cột đèn, dõi mắt tìm Bố trong dòng người, dòng xe cộ tấp nập qua lại. Mãi đến khi phố lên đèn thì tôi mới lủi thủi đi về.
Sáu tháng dài dằng dặc rồi cũng qua. Ngày đón Bố về vui như hội. Tôi lăn xả vào lòng Bố, đòi Bố kể cho nghe những món quà đang nằm trong vali. Tôi nài nỉ, kì kèo cho mình được chọn quà trước và tôi đã dành được con búp bê đẹp nhất, tóc dài vàng óng, váy đỏ viền ren, biết nhắm mắt mở mắt. Các em tôi còn hậm hực, ấm ức mãi cho đến bây giờ.
Đời sống hạnh phúc, êm đềm trôi giữa những giao động của chiến tranh. Công việc của Bố ở bệnh viện Chợ Rẫy rất vững bền. Bố được cấp nhà cho ở gần đó và được mọi người kính nể, thương mến.
Năm 1968, Tết Mậu Thân, Việt cộng tấn công thủ đô và các vùng phụ cận. Gia đình tôi chứng kiến cảnh giết người ngay trước cửa nhà, trên đường Lê Đại Hành. Lần đâu tôi thấy Bố sợ hãi, như thể một cái gì thật khủng khiếp trong quá khứ bỗng dưng chổi dậy đe dọa phá vỡ những gì mà chúng tôi đang có, kể cả sinh mệnh.
Tôi lập cập chồng hai cái ghế vào nhau để Bố leo lên trần nhà trốn. Sự sợ hãi của Bố Mẹ bao trùm con cái, cả con chó cũng sợ lây. Tôi núp trong căn phòng nhỏ dưới chân cầu thang, siết chặt hai bàn tay cho cơ thể đỡ run rẩy; nhắm nghiền mắt cầu nguyện với niềm tin tuyệt đối vào sự cứu khổ và linh ứng của Phật Bà Quán Thế Âm.
Thật may mắn, bọn Việt cộng đã bỏ đi sau khi giết chết một người đàn ông vô tội. Bố vội vã đưa gia đình vào tạm trú trong nhà thương Chợ Rẫy. Đến khi bình yên trở về nhà, tôi thấy có những vết đạn loang lổ trên tường.
Từ đấy Bố tôi trở nên trầm tư, bi quan, và để ý theo dõi cuộc chiến mà mỗi ngày một thêm khốc liệt.
Rồi Bố nhất định bỏ hết những bổng lộc đang có, để thi chuyển ngạch vào Bộ Ngoại giao, mong muốn sẽ có cơ hội đem cả gia đình đi ngoại quốc. Bố am hiểu tình hình chính trị nước nhà và thế giới, đã tiên đoán được vận mệnh không may của đất nước sau này.
Rồi những ngày tháng của 1975 hoảng loạn, ai cũng tìm đường chạy, vòng trong và vòng ngoài phi trường Tân Sơn Nhất đầy xe và người. Bố liên lạc hàng tuần, dục Mẹ lên Bộ Ngoại giao xin visa qua Lào đoàn tụ gia đình, chuẩn bị hành lý, đốt những giấy tờ, hình ảnh không cần thiết. Nhờ có Bố mà chúng tôi đi được trót lọt, đáp chuyến bay cuối cùng qua Lào chỉ một tuần trước khi mất nước.
Đến Lào, sau vài hôm nghỉ ngơi, Bố lại dục chúng tôi “dọn nhà”, chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc ra đi khác.
Đúng như Bố dự đoán, 10:45 sáng ngày 30 tháng Tư, có tin Sài Gòn đã mất. Từ nhiệm sở về, Bố vội vã hối thúc mọi người ra xe thật nhanh vì Bố biết bọn Lào cộng sẽ kéo đến đây, bắt Bố là người tổ chức những chương trình kiều vận để lôi kéo đồng bào Việt về với quốc gia. Cả gia đình gồm chín người và hành lý không thể dồn hết vào chiếc xe Toyota. Bố Mẹ tôi và em gái phải ở lại chờ chuyến sau. Chú Lễ, nhân viên của Bố, chở chúng tôi về nhà chú gần đấy rồi quay trở lại ngay để đón Bố Mẹ và em tôi. Đúng đến lúc tôi tuyệt vọng, không thể chờ được nữa thì Bố Mẹ và em tôi về, cùng với ba chiếc taxi. Mọi người hối hả lên xe, chạy hết tốc lực về phía Thadeur là nơi giáp sông Mekong; từ đây chúng tôi hồi hộp vượt sông, lấy chuyến xe lửa tốc hành chạy suốt đêm đến Bangkok. Vừa đến đây lại được tin tòa Đại sứ VN đóng cửa, chúng tôi đành theo nhân viên tòa Đại sứ lên mấy chiếc xe bus trực chỉ căn cứ Mỹ Utapao. Cuộc trốn chạy bọn Lào cộng, tìm tự do của gia đình tôi từ Vientiane, qua sông Mekong, đến Bangkok, rồi đến Utapao có nhiều khó khăn và nguy hiểm, nhưng có Bố bên cạnh, tôi không thấy sợ hãi, chỉ thấy buồn thấm thía. Trong cái tai họa chung của dân tộc, mới thấy gia đình tôi thật là quá may mắn.
Lại một lần nữa Bố tôi phải gầy dựng lại từ đầu, từ hai bàn tay trắng. Bố sẵn sàng làm bất cứ việc gì để nuôi gia đình và chỉ muốn Mẹ tôi tiếp tục quán xuyến việc nội trợ như xưa. Khi cầm cái paycheck đầu tiên, Bố đã bật khóc. Cái paycheck ấy đã đem lại sự sống, niềm hy vọng cho gia đình tôi, và cũng giúp Bố lấy lại lòng tự trọng và niềm tự hào khi tiếp tục hoàn thành bổn phận của một người cha và là trụ cột của gia đình.
Bố mua một chiếc station wagon để đưa đón chị em tôi đi học ở Ohio University, cách nhà hơn bốn tiếng lái xe.
Bố không quen lái đường xa, vẫn vui vẻ đón đưa con đi về vào kỳ nghỉ của trường dù tôi muốn tránh cho Bố việc lái xe nhọc nhằn, nguy hiểm bằng cách xin ở lại trong ký túc xá (dorm). Sự lo lắng của tôi đã thành sự thật.
Trên đường về, xe của Bố đâm xuống ruộng, may mà Bố chỉ bị thương nhẹ; nhưng cái xe thì hư hại hoàn toàn; bán cho tiệm xăng được 100 dollars thì tiền đi taxi về nhà hết 120 dollars.
Sau bao nhiêu năm vất vả, Bố đã hoàn thành mỹ mãn nhiệm vụ làm Cha. Các con đã trưởng thành, đã có nghề nghiệp vững chắc, và đã có tổ ấm riêng. Mỗi năm, từ mọi miền đất hứa, các con về thăm viếng, quây quần họp mặt tại nhà tôi vì Bố Mẹ đã chọn ở với gia đình tôi sau khi về hưu.
Vào dịp lễ thượng thọ, tôi làm hai câu đối này để tặng Bố, một người thương yêu gia đình rất mực, luôn tận tâm lo lắng và hy sinh tất cả cho vợ con:
Một đời tận tụy vì vợ vì con,
Hai phận vuông tròn làm Phu làm Phụ.
Quá 80 tuổi, Bố vẫn còn minh mẫn, vẫn còn nhớ ngày sinh nhật của đám con cháu – hơn 20 đứa, và còn giúp tôi những việc vặt trong nhà.
Ngoài những đau nhức phong thấp thường có ở tuổi già, Bố ít khi bị bệnh nặng.
Năm ngoái, Bố phải vào nằm nhà thương mấy hôm vì có sạn ở túi mật. Để tránh bị đau đớn lần nữa, bác sĩ đề nghị cắt bỏ, nhưng Bố không chịu, nói là chỉ còn sống thêm vài năm nữa, tội gì phải chịu mổ xẻ. Vì không muốn vào nhà thương và không muốn làm khổ con cháu, Bố bắt đầu ăn kiêng ngay từ hôm về lại nhà. Bố gầy yếu hẳn đi, nhưng tinh thần không bị dao động, không sợ hãi. Bố đã hiểu rõ chuyện sinh tử, luân hồi của đạo Phật từ lâu và đã sẵn sàng để “về”. Tôi hằng cầu nguyện:
“Xin Trời lấy bớt tuổi đời,
Thêm vào Cha Mẹ sống thời bách niên.
Cho chúng con được đáp đền,
Công Cha, nghĩa Mẹ bách niên chưa vừa.”
Dù Bố có sống đến 100 năm hay không, tôi vẫn được an ủi rất nhiều vì tôi đã có được một phần thân thể của Bố và đã học được một phần những đức tính nhân hậu, tận tụy, hy sinh quý giá của Bố. Tình yêu của chúng tôi dành cho Bố tuy không biểu lộ qua lời nói thường xuyên nhưng lại vô cùng sâu đậm, mãi mãi với thời gian.
Nguyễn Phương Thúy, 5/20/2010
==
THƠ & VĂN VỀ NGÀY LỄ CHA_ MINH THÚY THÀNH NỘI
Hội Phụ Nữ Tổ Chức Lễ Cha
Tình cha vỹ đại nói sao vừa
Lặn lội thân mình hứng gió mưa
Rường cột gia đình lo bạc tóc
Công ơn dưỡng dục kể bằng thừa
Một đời lam lũ bởi vì con
Dạy dỗ lời êm tránh đánh đòn
Vật lộn mưu sinh nuôi trẻ dại
Thành nhân đỗ đạt dẫu thân mòn
Can trường thời chiến với non sông
Cha lính cộng hòa góp sức công
Đội nắng phơi sương vì tổ quốc
Tù lao vận nước đổi đau lòng
Nơi miền đất Bắc phố
Cali
Thung lũng hoa vàng hoạt động chi
Phụ nữ chung tay cùng hội trưởng
Mừng cha từ phụ chức cao kỳ
Văn nghệ chung vui diễn đủ màn
Tặng quà cắt bánh nhạc mừng vang
Vinh danh Từ phụ thiêng liêng phút
Nguyện sống vai trò hiếu tử mang
Văn hóa giữ gìn đẹp sáng tươi
Vườn hoa hiếu hạnh dạy con người
Lễ Cha ý nghĩa ngày tham dự
Hội Phụ Nữ xây những nụ cười
Minh Thúy Thành Nội
Happy Father’s Day
…………………………………………………..
Lời Ba Muốn Nói – Minh Thúy Thành Nội
Mùa Hạ đã bắt đầu báo hiệu, các loài hoa thi đua nở đủ màu sắc tươi vui. Anh Quang bước ra sân theo tiếng gọi của vợ nhờ bưng phụ mấy chậu hoa quỳnh lên bệ cao, vì muốn ngắm nét đẹp của loài hoa trang đài đang nở hàng chục đóa hồng và vàng. Bé LiLy bước chân cao chân thấp đi theo cha cười hồn nhiên.
– Con tránh ra để ba phụ mẹ chút nha
Lily nghiêng đầu qua, nghiêng đầu về vẫn níu áo, anh đành dừng chân nói với vợ “chờ chút…con đang vui vẻ”. Anh gỡ nhẹ tay con dìu vào ghế dài dưới tàng cây phượng vàng nay đã tàn hoa, chỉ còn bóng lá xanh tỏa mát. Anh ôm con, đặt đầu LiLy áp vào ngực anh, nghe luồng tim đập ấm áp chứa tình thương bao la.
Nhìn con lòng anh như quên hết chuyện phiền não hôm qua.
Vợ chồng anh mua vé hai tháng trước cho chuyến bay qua Hawaii nghỉ mát như thường lệ. Đã làm thủ tục check-in và ký gởi hành lý xong xuôi, vợ chồng anh hân hoan xếp hàng, bỗng bé Lily ngồi sụp xuống, níu chân ba mẹ nhìn về hướng ngược, biểu hiện ý đòi trở lui. Anh dỗ con “Ngoan Lily nhé, con sẽ vui đùa tắm biển khi qua đó”. Bé hất tay anh ra, rồi nằm lăn dài khóc lóc. Anh chị thay phiên dỗ dành, dìu con lùi qua một bên nhường chỗ cho khách hàng đang bước từ từ lên. Thời gian như muốn đứng lại, Anh chị nhỏ nhẹ, vuốt ve con sau gần một tiếng đồng hồ, cháu vẫn la hét đến khàn cổ. Cuối cùng anh chị phải chiều ý con gọi Uber trở về nhà. Anh liên lạc với nhân viên Airlines báo cáo hủy chuyến bay dù hành lý đã gởi, và được cho biết sẽ nhận lại một tuần sau.
LiLy ngồi yên ép sát đầu vào ngực anh, trong khi chị nhổ cỏ dại mọc xen chung quanh các chậu hoa trong lúc chờ đợi anh giúp đỡ việc nặng.
Anh nhìn màu nắng rực rỡ, ký ức ùa về của khoảng thời gian gần 30 năm trước. Anh giật mình “thời gian trôi nhanh quá, mọi chuyện cứ ngỡ như mới đâu đây…” Anh để dòng sông êm ả trôi về miền kỷ niệm…
Sinh ra trong một gia đình có ba anh em, Anh là trai lớn, thủa nhỏ đi học luôn đoạt bằng khen, bằng danh dự. Theo gia đình vượt biên qua Mỹ, anh hội nhập mau chóng và tiến bộ trong lãnh vực học đường, suôn sẻ tốt nghiệp bằng kỹ sư. Anh làm việc đi qua nhiều hãng nổi tiếng, hiện tại làm cho hãng Cisco tọa lạc vùng San Jose, nhưng được làm việc ở nhà.
Anh nhớ một mùa hè năm đó…. trong vài buổi làm việc thiện nguyện tại San Francisco, Anh gặp Ái Thanh (vợ anh bây giờ) đang là sinh viên của trường San Jose State, nàng rất đẹp và xông xáo trong công việc. Anh đã bị hớp hồn ngay từ phút đầu và tìm cách làm quen, quyết chinh phục cho bằng được. Chị lúc ấy cũng mến anh, một kỹ sư có nét thanh tú với dáng cao và tánh tình hiền lành ít nói. Anh chờ chị tốt nghiệp bốn năm, chị có việc làm trong phòng thí nghiệm của trường Đại Học. Mọi việc đều vững vàng bảo đảm đời sống, vì anh đã mua nhà trước đó. Sau vài năm tìm hiểu, anh chị quyết định tiến tới hôn nhân và hiện là cư dân của vùng Milpitas.
Mọi sự đều chuẩn bị sẵn sàng, đứa con trai Robert đầu đời, Anh chị chào đón trong niềm hạnh phúc vô biên. Ba năm sau bé Lily được sinh ra, những giây phút chờ trông cháu Lily lật trở vui nhộn biết bò theo thứ tự bẩm sinh. Sau gần hai năm, theo dõi bước thay đổi và phát triển của con, chưa thấy bé Lily biết đứng, biết bập bẹ phát ra âm thanh của trẻ con, anh chị lo lắng đem con đi gặp bác sĩ và bệnh viện nhiều lần, kết quả bác sĩ cho biết cháu bình thường, hãy chờ đợi thêm thời gian nữa”. Anh chị bắt đầu sống trong tâm trạng lo âu hồi hộp vì chẳng có gì tiến triển, ngày tháng trôi qua trong mòn mỏi, nhìn con vẫn bò quanh nhà dù đã lên bốn, năm, sáu…tuổi.
Khi con đầu lòng chào đời, anh chị tìm được người trung niên độc thân tên Sâm, sinh hoạt các chùa (do bạn giới thiệu), sau thời gian quan sát tìm hiểu tánh tình chị Sâm này rất hiền từ nhân hậu. anh chị yên tâm để chị Sâm ở lại sáu ngày, cuối tuần về thăm nhà, vì vậy vợ chồng yên tâm cày cấy trang trải nhiều thứ nợ.
Trước đây chị Sâm trông nom em gái Natalie con anh kỹ sư Lâm. Chị kể lại: “Em gái này đã trên hai mươi tuổi, bị bệnh Autism (tự kỷ) rất hung dữ, qua nhiều người đến chăm sóc nhưng họ phải đầu hàng vì em không chịu ai cả. Có những lúc em bị kinh nguyệt, em vùng vằng không cho chị Sâm thay băng làm vệ sinh, cuối cùng anh Lâm phải tự tay làm công việc ấy cho con, bởi vợ chồng đã ly dị, mà anh là người nuôi con. Chị Sâm thương lắm cũng đành nghỉ việc, sau bà Nội đến ở lại chăm cháu. Thỉnh thoảng cuối tuần chị Sâm cũng ghé thăm vì thương những mảnh đời đau khổ, thương những đứa trẻ không được bình thường sống trong hoàn cảnh thật xót xa. Câu chuyện được kể khi chị Sâm chứng kiến bé Lily có nhiều dấu hiệu không được bình thường, nhưng chị Sâm may mắn trông cháu bền lâu vì tánh Lily hiền lành dễ chịu hơn.
Một hôm tình cờ xem hình cha con anh Lâm trong buổi tiệc gia đình có chị Sâm chụp chung, nhờ vậy anh Quang nhận ra người bạn học xưa. Họ liên lạc hỏi thăm, tâm tình tìm sự cảm thông nhau từ đó.
Một buổi hai anh hẹn gặp uống cà phê cuối tuần. Sự mệt mỏi hiện ra trên nét mặt, mỗi người như bị áp lực đè nặng trong công việc và con cái. Anh Quang kể về hãng Cisco, anh Lâm làm cho hãng IBM, trao đổi những mẫu chuyện về nghề nghiệp. Anh Quang hỏi thăm bệnh tình cháu Natalie.
– Cháu vẫn chơi và khỏe đó chứ?
– Càng ngày tâm tính cháu càng hung hăng chướng kỳ, giai đoạn này cháu không thích mặc quần áo, cởi bỏ hết đi khắp nhà. Bà nội không đủ sức mặc vào cho cháu, tôi phụ giúp thật khó khăn vì cháu vùng vẫy, phải cố gắng dùng sức mạnh kềm tay chân cháu. Mặc quần áo xong rồi tôi phát hiện có vết bầm trên cánh tay cháu, biết mình vô ý lỡ mạnh tay tôi thật đau lòng, hối hận muốn khóc vì thương con mình quá.
Anh Lâm kể lại với ánh mắt buồn bã. Biết hoàn cảnh bạn mình đã ly dị chịu cảnh gà trống nuôi con, anh Quang nhẹ nhàng:
– Ông cũng nên tìm người bạn mới cho khuây bớt
Anh Lâm lộ vẻ uể oải chậm rãi:
– Nói gì, tôi cũng có bạn gái chứ, tháng trước dẫn về chơi dò ý con, cháu Natalie lộ vẻ giận dữ hai mắt đỏ ngầu, tôi sợ quá nghĩ từ nay không đem về nhà nữa. Lòng tôi cũng chẳng hứng thú gì khi nghĩ đến con, chỉ muốn để mặc dòng đời trôi… Mỗi ngày đi làm về nhìn con, chơi với con bằng tình phụ tử thiêng liêng dậy lên những cảm xúc dạt dào khôn nguôi thật khó tả.
Một hôm người quen khuyên anh Quang xin tiền phúc lợi Social Security Disability Insurance (Bảo Hiểm Khuyết Tật An Sinh Xã Hội – SSDI). Anh gạt ngang nghĩ thầm “Làm gì có chuyện đó đối với anh, khi mức lương vợ chồng cao, lại đang làm chủ hai ngôi nhà, một ở và một cho thuê, trường hợp anh không thể được quyền hưởng phúc lợi”. Anh hoàn toàn không tin, nhưng nghe nhiều người bàn cãi quá, điện thoại hỏi bạn Lâm, bạn cũng không biết. Hai anh điền đơn thử thì được xác nhận: trẻ em bị bệnh tự kỷ được hưởng quyền lợi là đúng, dù cha mẹ có dư điều kiện tài chánh đi chăng nữa.
Anh Quang không thể ngờ được nước Mỹ có chính sách nhân đạo đến vậy. Chính phủ không quan tâm ai giàu hay ai lương cao việc lớn mà chỉ chú trọng việc chăm sóc, hỗ trợ cho trẻ em, nhất là các trẻ em đặc biệt. Chính phủ trả lương cho người chăm sóc bé Lily và được hưởng thêm quyền lợi bảo hiểm sức khỏe. Bé được đi trường học lớp đặc biệt có xe đưa đón tận nhà, được cô giáo người bản xứ về nhà dạy riêng hai tiếng ngoài giờ. Anh muốn hét to “American vĩ đại, nhân từ bậc nhất…” Cho dù lương của anh bị trừ thuế 40% vẫn xứng đáng, vui vẻ góp phần xây dựng đất nước này phát triển vững mạnh thêm.
Mùa đông đi qua, mùa xuân lại đến, mùa hè trở lại, mùa thu tuần tự. Anh chị vẫn sống bằng niềm hy vọng bệnh tình bé Lily có phần tiến bộ, dù đã qua mười hai năm cháu vẫn chưa biết nói, biết đứng dậy. Tới năm mười bốn tuổi, bỗng dưng cháu đứng dậy và từ từ bước tập tễnh, còn niềm vui nào lớn hơn. Anh chị đã ôm nhau khóc vì mừng rỡ, bám tiếp tục niềm hy vọng để sống.
Nghĩ đến vợ, anh cảm thấy thường quý vô cùng. Nàng nấu ăn rất ngon, dù có chị Sâm trong nhà, nhưng bà xã chỉ muốn tự tay nấu những món ngon cho chồng con ăn vừa ý. Sau giờ làm vợ tất bật về nhà đứng mấy tiếng đồng hồ trong bếp, tối dành thì giờ chơi với con. Bé Lily rất kén ăn, nàng theo chiều con sát nút. Có điều đối với chị Sâm, bé dễ chịu vui vẻ, nhưng khi vợ anh về là bé chướng hết cỡ, đòi lung tung đủ thứ, bắt nàng bồng bế dù LiLy rất nặng ký. Bé có dấu hiệu: thích ngồi một mình, sợ người đông và sợ âm thanh mở lớn. Khi vui bé ngồi cười một mình xoay đầu liên tục, cô giáo có kỹ thuật chuyên môn dạy cháu chơi game để phát triển não bộ, cháu biết mở ipad và biết nhiều trò chơi trong máy khiến anh chị thấy phấn khởi vô cùng.
Anh chị ngoài thì giờ sinh hoạt, cũng tìm đọc các trang mạng về bệnh tự kỷ để hiểu thêm tâm lý. Chị là người mẹ rất tuyệt vời, luôn dặn anh “đừng bao giờ lộ nét mặt buồn giận con, mà phải cố gắng tạo nét mặt vui vẻ, ánh mắt trao nhìn con thật trìu mến”. Anh nhớ bao nhiêu năm, vợ luôn đè nén những ước mơ riêng tư, chịu đựng hy sinh cho con hết mực, những khi cháu nổi cơn bất thình lình. Như lần qua Florida ăn cưới cháu, trong buổi tiệc Lily nằm dài la hét làm anh chị không dự được phải ẵm con về khách sạn sớm; lần đi máy bay qua Nhật, cháu nằm lăn trên sàn khóc lóc lăn lộn, hành khách thật lịch sự ngồi yên như không có chuyện gì xảy ra dù cháu quậy rất ồn ào; lần qua đảo Big Island bên Hawaii, Lily cũng nằm vạ trên lối chờ vào máy bay, hôm đó tình cờ một viên phi công đi ngang qua, cúi xuống cầm tay em dẫn đi vào máy bay, cháu ngưng tiếng khóc bước theo, may mắn chuyến đó anh chị được thoát nạn; mỗi khi đến nhà ai hoặc ra ngoài công viên dự tiệc, thường chỉ có mình anh đi dự, họa hoằn đôi bữa có chị nhưng chị cũng nửa chừng bỏ cuộc.
Tiếng chị đánh thức anh về vùng hiện tại:
– Anh để con chơi, phụ em cho xong việc, em còn đi chợ vì tủ lạnh trống trơn rồi
– Được em!
Anh đẩy nhẹ Lily ra khỏi vòng tay.
– Con dạo ngắm hoa đi nhé, con có thấy hoa nở đẹp không?
Bé buông tay anh bước chậm nhìn hoa, không biết con có hiểu lời anh nói!!??
Sau một hồi phụ vợ các việc nặng, anh ngồi nhìn con chơi trong sân. Robert, anh Hai của LiLy đã tốt nghiệp Đại Học và có việc làm nơi xa. Anh chị vẫn tựa vào niềm hy vọng một ngày được nghe con gái nói, dù tiếng nói bằng ngôn, anh chị ngữ riêng cũng tốt. Năm nay quỹ An Sinh Xã Hội cắt giảm tài trợ việc cô giáo đến nhà bày vẽ chơi game cùng Lily hai tiếng mỗi ngày. Nhưng không hề gì, anh chị vẫn tiếp tục trả lương cho cô giáo, để cô hướng dẫn dưới hình thức chơi game bằng phương pháp trị liệu tâm lý và khai triển bộ óc.
Lily quay nhìn anh, cười tươi tắn, trở lại ôm anh sờ ngực, sờ áo. Anh vuốt tóc con thì thầm “Lời ba muốn nói với con, là ba mẹ yêu con nhất trên đời. Con là hơi thở, là sự sống của ba mẹ. Dù sao con cũng được sinh ra trên nước Mỹ, một đất nước nhân bản, có nhân đạo luôn đặt quyền lợi các trẻ em bị bệnh lên ưu tiên hàng đầu”.
Năm nay LiLy đã hai mươi tuổi. Tuần trước anh chị định dẫn bé đi chơi xa như món quà sinh nhật, vì anh chị thấy cháu rất thích chơi đùa với sóng biển, thích tắm nơi bờ biển vắng người, nhưng chuyến này không may nên bất thành. Con bé cao giống anh, khuôn mặt trái soan, nét mặt giống chị. LiLy sinh ra đời được bao nhiêu người yêu thương ngoài ba mẹ, hai bên nội ngoại, chị Sâm, người quen và nhất là anh Hai Robert của bé, cũng biết dỗ dành, chiều chuộng, đút cơm hoặc thay tả cho em mình.
Đã vào tháng Sáu, ngày Chủ Nhật đẹp trời. Anh chị tổ chức sinh nhật cho LiLy ngoài park gần nhà. Mùa hè đến, cây cỏ xanh um, quang cảnh mang bộ mặt tươi vui đầy sức sống. Bà con đến đông chúc mừng quà cho cháu. Tuần trước bé không vui cản trở chuyến đi chơi, hôm nay bé vui, ngồi yên cho mọi người chuyện trò ăn uống khiến anh chị mừng lắm.
Chiều dần xuống Lily chỉ về hướng xa vắng người, nắm tay ba kéo đi. Anh nhờ chị tiếp khách, hai ba con bước tới những mô đá bên kia đường, bé ngừng lại muốn ngồi xuống. Anh cũng ngồi theo bé nhìn bóng chiều lung linh hoa nắng nhảy múa trên vạt cỏ. LiLy nhìn quanh quẩn lộ nét mặt dễ chịu nơi có không khí yên tĩnh thoáng đạt. Mặc bên kia mọi người rôm rả nói chuyện, ăn uống tiếp tục, anh vẫn lặng lẽ ngồi bên con cả tiếng đồng hồ, nhìn mây trời trôi lãng đãng, nghĩ đến những mảnh đời khác nhau biến chuyển theo cuộc sống.
“Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, nghĩ người bạn có con bị bệnh giống Lily, anh thấy mình được may mắn hơn, vì còn có đứa con trai thành đạt, có vợ bên cạnh chung nhau chăm sóc Lily. Anh nhớ điều đã đọc trong tài liệu về phương thuốc chữa bệnh Tự Kỷ Tâm Lý: “Tình yêu thương của người thân chính là phương thuốc hữu hiệu nhất cho người bị tự kỷ. Nên trò chuyện với họ nhiều hơn để tinh thần được thoải mái”.
Anh lẩm bẩm “Nhất định xóa tan đau khổ, thất vọng, chống phá căn bệnh trầm cảm chen vào. Con là giọt máu, là tình yêu thương lớn nhất trên đời. Ba Mẹ sẽ chiều ý con, dù lúc con vui hay khi con nổi chướng, miễn Ba Mẹ được sống bên con gái yêu quý …”
Minh Thúy Thành Nội
Mùa Lễ Cha
==
ĐỌC TRUYỆN THỦY NHƯ: THỬ THÁCH ĐẦU ĐỜI – Diễn Đọc Thảo Mi
==
Thử Thách Đầu Đời
Tiếng súng nổ vang dội lấn át giọng nói của người cha vừa vẫy tay tạm biệt cậu
con trai vừa bước lui về phía chiến trường đầy khói. Cậu bé thét gào lên, “Ba ơi!
Ba ơi! Tại sao ba phải đi?” “Ba phải đi. Ba thương con vô cùng…” Giọng người
cha xa dần và cậu bé giật mình thức giấc. Cậu nhận ra là mình đang khóc trong
mơ và miệng vẫn còn lẩm nhẩm, “Tại sao ba phải đi?”
Đó là một đoạn trong vở kịch truyền thanh “The Price of Freedom” do Focus On
The Family phát hành mà má chồng tôi đã mua tặng cho các con tôi. Bà mua một
loạt những vở kịch Adventures in Odyssey truyền thanh như vậy để chúng nghe
mỗi khi chúng tôi ngồi trên xe. Hôm đó tôi và hai cậu con trai nhỏ đang lắng nghe
vở kịch “The Price of Freedom” trên đường lái xe đến thăm ba mẹ tôi lúc bấy giờ
đang ở Redlands. Nhìn qua kiếng chiếu hậu, tôi thấy mắt hai cậu con trai tôi ngấn
nước. Tôi nhấn nút dừng vở kịch và hỏi chúng với giọng cũng nghẹn ngào. “Các
con có sợ khi nghe vở kịch này không? Mẹ tắt nhé!” Cậu con trai lớn 8 tuổi của tôi
trả lời với giọng mếu máo, “Không. Con muốn nghe tiếp.” Cậu nhỏ tôi tiếp theo
anh nó. “Con cũng muốn nghe nữa.”
Tôi nhấn nút tiếp tục vở kịch. Đó là câu chuyện về câu chuyện về cậu bé Kirk
McGinty có ba đã tử trận trong chiến tranh Việt nam. Mẹ của Kirk cũng sang Việt
nam làm việc và gặp ba cậu nơi đó. Họ làm đám cưới ở Việt nam và có những
ngày hạnh phúc ngắn ngủi với nhau. Sau đó Mỹ quyết định rút quân khỏi Việt nam
và mẹ cậu trở về Mỹ với bào thai, là Kirk, trong bụng mà chưa kịp báo cho người
chồng còn ở lại. Và ông đã vĩnh viễn nằm xuống tại chiến trường Việt nam những
ngày sau đó. Với phong trào phản chiến leo thang, bà McGinty đã đem con rời
thành phố về sống tại một miền đồng quê để tránh cho con khỏi nghe những lời chỉ
trích và chửi bới độc địa về những người lính tham chiến tại Việt nam.
Có lẽ bà McGinty đã kể lại cho con trai rất nhiều hình ảnh oai hùng của chồng bà,
là ba của Kirk, nên cậu bé rất thích những ý tưởng về những cuộc chiến thắng,
chinh phục và chiến lược binh trận. Kirk ngưỡng mộ ba mình biết bao nhiêu thì
cậu cảm thấy sụp đổ đau đớn bấy nhiêu khi trong giờ học lịch sử, thầy giáo Altman
đã gọi cuộc chiến Việt nam là một cuộc chiến vô nghĩa. Cậu đã nán lại sau giờ học
để hỏi thầy giáo những cảm nghĩ của ông về những người lính tham chiến tại Việt
nam. Thầy Altman khẳng định lại lập trường của mình rằng chiến tranh Việt nam
là vô nghiã và cái chết của những người lính Mỹ cũng vô nghĩa như vậy. Ông còn
cho cậu bé mượn một cuốn sách trong đó tác giả mô tả những người lính Mỹ ở
chiến trường Việt nam là những kẻ giết người một cách tàn bạo.
Kirk đau đớn khi nghe những nhận xét của thầy giáo. Cậu giống như bị quật một
trận nên thân, biếng ăn, mất ngủ và không còn là một cậu bé vui tươi hiếu động
nữa. Thần tượng của cậu là người cha đã hoàn toàn sụp đổ sau những lời nói của
ông thầy dạy Sử. Ba của cậu không còn là một anh hùng mà là một tội đồ. May
mắn thay, Whit, một ông già trong phố đã nhận ra sự thay đổi của Kirk. Ông đã
tìm hiểu và đến nói chuyện với thầy giáo về ba của Kirk, một quân nhân đã tử trận
trong chiến tranh Việt nam. Thầy giáo đã nhận ra rằng ông đã quá lời.
Mẹ của Kirk cũng đau lòng khi thấy tinh thần con suy sụp. Với sự sắp xếp của ông
Whit, bà được mời phát biểu trong buổi lễ Memorial của thành phố. Hôm đó bà đã
đọc lá thư cuối cùng của chồng. Sau khi nghe lá thư của ba, Kirk đã lấy lại niềm
tin của mình, rằng ba cậu đã chiến đấu cho một lý tưởng cao đẹp và đã hy sinh thân
mình cho một sứ mạng mà đất nước đã giao phó.
Mẹ con tôi sụt sùi khi nghe câu chuyện đó. Có lẽ tôi quên nhiều chi tiết trong vở
kịch nhưng có một câu nói của người mẹ làm tôi nhớ hoài. “I’m sorry that your
father was your first test.” (Mẹ lấy làm tiếc rằng ba là thử thách đầu đời của con.)
Trong nước mắt, tôi cũng đã nói với các con tôi giống như vậy sau khi nghe xong
vở kịch. “Mẹ cũng rất lấy làm tiếc là ông ngoại cũng đã là thử thách đầu đời của
mẹ và các cậu dì, là chị em của mẹ.” Tôi đã kể cho các con tôi về những cảm nghĩ
của tôi về ba ngày ấy.
Sau năm 75, ba tôi vì đã làm việc cho chế độ miền Nam Việt nam nên ông bị bắt
giam trong tù cộng sản. Thương mẹ ngày ấy phải một mình chống chọi với đủ mọi
áp lực để nuôi đàn con thơ dại khờ. Chị em chúng tôi còn quá nhỏ để có thể sẻ
chia với mẹ những sợ hãi, gánh nặng trên thể xác cũng như tinh thần thời đó. Mẹ
mong chờ ba trở về để cất bớt gánh nặng. Mỗi lần chúng tôi ước một điều gì đó,
mẹ nói. “Khi nào ba về, thì ba sẽ làm cho con.” Tôi đặt bao nhiêu hy vọng vào ba.
Tôi tin rằng khi ba về, nhà tôi sẽ khá hơn và tôi cũng sẽ được ngẩng cao đầu với bè
bạn.
Cũng giống như cậu bé trong truyện, tôi đã nhiều lần nghi ngờ rằng có thực là ba
tôi là một người tử tế không. Hay là ba thật sự là một trong những “tên ác ôn có
nợ máu với nhân dân” như cách nói của chính quyền cộng sản. Tôi thích nhớ ba tôi thật oai trước năm 75 dẫu hồi đó tôi còn rất bé. Ba tôi trở về nhà sau những đợt công cán dài ngày và tôi ngồi dưới chân ba nhổ những bông cỏ mây bám vào vớ và ống quần khi ba đi qua vạt cỏ đến máy bay đậu trên đồng để bay về nhà. Nhưng ba tôi trông thật xơ xác khi tôi đi với mẹ thăm ba trong trại tù. Ba trông hốc hác, tiều tuỵ, yếu ớt, khác rất nhiều so với những gì tôi nhớ về ba. Mẹ bảo, “Ở tù mà con.”
Tôi nhớ hồi đó có bộ phim gì tôi không nhớ tên (mà bây giờ cũng không muốn
kiếm,) nhưng nhớ tên bài hát trong phim, “Em sẽ là hoa hồng nhỏ.” Trong phim
đó, ba của cô bé cũng như ba tôi đang ở tù. Ông đã nhận ra những điều sai trái đã
làm trong chính quyền miền Nam và đã giác ngộ. Nhà nước đã mau chóng khoan
hồng cho ông trở về sum họp với gia đình. Tôi đã ngây thơ viết thư cho ba sau khi
đi xem phim về, mong rằng ba cũng làm như ông đó để ba được chóng về với mẹ
và chị em chúng tôi. Lá thư đó có lẽ đã bị quẳng vào thùng rác, chẳng đến tay ba,
nên ba tôi đi tù đến 7 năm – một thời gian dài đủ để tôi, từ một con bé hỉ mũi chưa
sạch thành một cô bé tuổi thiếu niên với bao mơ ước.
Khi ba tôi về, gia đình tôi không khá hơn mà còn tệ hơn. Chính quyền không cho
ba tôi về ở nhà tôi nhưng bắt phải về trên quê cách chỗ chúng tôi 20 km. Nhà tôi
hồi đó chỉ có một chiếc xe đạp cho mẹ đi buôn bán. Ba không làm được việc gì cả
vì không có hộ khẩu nên không có chỗ ở. Không thể hiểu nổi cái lý luận lòng vòng
của chính quyền về cái tờ hộ khẩu, hậu khổ, tai quái đó.
Ba tôi bị bắt đi tù trước khi cái tờ hộ khẩu quái đản đó được ban hành và dĩ nhiên
là tên ông không có trong tờ hộ khẩu của nhà tôi. Họ bảo rằng ba bị bắt ở trên quê
nên khi ra tù phải về trên quê, nơi mà ba tôi không có một mảnh đất để làm nhà.
Trong khi đó cái nhà do ba tôi xây ra ở dưới thị xã, nơi mẹ con tôi đang trú ngụ thì
ba lại không được ở. Không biết là chính quyền không hiểu hay là không chịu
nghe để mà hiểu, nên cứ bắt ba tôi về quê. Công an đến soát nhà tôi mỗi đêm để
tìm bắt ba tôi vì cư ngụ bất hợp pháp. Điều trớ trêu là nhà tôi có rất nhiều người ở
trên quê xuống tạm trú. Anh chị em họ ở trọ để đi học, đi họp. Bác cậu mợ cô chú
thím dì dượng ở nhờ nhà tôi để chữa bịnh dài lâu. Chính quyền không bắt ai cả,
mà chỉ tìm bắt mỗi ba tôi. Mỗi đêm xuống là chúng tôi lo sợ. Gia đình chúng tôi
sống trong căng thẳng, sợ hãi và lo âu. Cái lo sợ đã làm mặt mày tôi lúc nào cũng
nhăn nhó, đau khổ nên bạn bè có đứa gọi tôi là bà già khắc khổ. Tôi nhiều lần ước
chi ba còn ở trong tù để cho chị em chúng tôi không bị khổ sở về tinh thần.
Có người bảo ba mẹ tôi đấm vào mõm họ … một ít tiền là xong. Ước gì nhà tôi có
tiền để làm điều đó. Mẹ lên kế hoạch dài lâu. Đem thiến hai con gà trống trong
đám gà nhà. Rồi vỗ béo và đem hiến cho họ, giống như tống cho đám quỷ sứ,
giống như là “con gà trống thiến để riêng cho thầy …” Kế hoạch thành công! Với
bao đêm ba tôi phải leo lên mái nhà để trốn mỗi khi công an đến soát nhà và chị
em tôi nín thở giả vờ ngủ, mấy tháng sau đó nhà tôi có được hai con gà trống thiến
mập mạp. Chị em tôi hí hửng. Thí cho họ một con. Còn một con, chị em tôi
mong được ăn thử thịt gà trống thiến xem nó ngon cỡ nào. Có lẽ thịt gì chúng tôi
cũng cho là ngon hết, bởi mỗi năm chúng tôi chỉ được ăn thịt một, hai lần.
Vậy mà đến Tết, ba bảo phải biếu cả hai con gà trống thiến. Một con cho ông công
an xã trên quê để ổng ký giấy cho đi và con kia cho ông công an khu vực chỗ nhà
tôi để ổng cho ba tôi ở. Chị em tôi thất vọng hết sức. Chúng tôi chẳng được ăn
thịt gà trống thiến như mong đợi. Hai con gà ra đi. Ba vẫn không được về ở nhà
chúng tôi. Đám quỷ sứ đông quá! Nhà tôi không nuôi kịp gà để … đấm vào mõm
họ. Ba bực mình bỏ Tam kỳ vào Mỹ xuân lập nghiệp.
Ba đi được vài tháng rồi gởi thư về bảo mẹ đem cậu em trai đang chuẩn bị lên lớp
6 vào ở với ba. Tôi chuẩn bị lên lớp 12 và sẽ vào ở với ba sau khi tốt nghiệp. Mẹ
sẽ ở lại Tam kỳ với cô em gái cho đến khi em học xong lớp 12 vì chỗ ba ở không
có trường cấp ba. Chị tôi chuẩn bị đi lấy chồng nên ba mẹ khỏi phải lo. Mẹ dẫn
cậu em vào với ba và khi về, mẹ kể chuyện nơi ba đến lập nghiệp. Tôi nghe mẹ kể
về miền đất ba vào sinh sống với bao háo hức. Nhà có vườn và ao nuôi cá, có
ruộng để trồng lúa đủ ăn, có đất để trồng rau và hoa quả. Người ta vào tận nhà để
mua cây trái hoa lá trong vườn, mình không phải đem ra chợ bán. Đặc biệt là vườn
có những cây xoài tượng cho trái ngọt lịm… Tôi tưởng tượng ra một cuộc sống
yên bình no đủ đang chờ đón tôi nơi miền Nam hiền hoà như tôi đã đọc trong
truyện.
Tôi đã thất vọng tràn trề khi tôi vào đến nhà ở Mỹ xuân vào tháng 6 năm 1985. Đó
là mùa mưa của miền Nam. Chiều nào trời cũng mưa. Nhà ba mua nằm trên vạc
đất thấp của khu vườn nên nước thấm vào nền nhà bằng đất, làm nền nhà trông
nhớp nháp. Căn nhà lợp lá dừa phía trong nhìn đẹp nhưng phía ngoài trông thật
xấu xí. Tường nhà thì bằng đất nhồi rơm. Mưa đổ xuống, nhà dột lung tung và
nước tạt vào tường làm ướt đồ đạc nằm sát vách. Mùa mưa cây cỏ xanh tốt vượt
lên che phủ mọi thứ làm cho căn nhà của chúng tôi trông như một cái chòi giữa
rừng hoang. Buổi tối còn thảm hơn với ngọn đèn dầu le lói trông thật buồn. Cái
cảnh đìu hiu trong rừng vắng đó làm tôi nhớ Tam kỳ đến cháy người.
Nhưng điều kinh khủng hơn cả là không có bạn bè. Tôi ngày ngày ra vườn nhổ
đậu, trồng khoai, cấy lúa, hái điều…Tối về đọc đi đọc lại vài cuốn sách tôi có
được. Đọc đi đọc lại mãi phát chán nhưng cũng phải đọc vì không có gì để giải trí.
Tôi ước mong có một người đến thăm nhưng điều tôi mơ ước là không tưởng bởi
nhà tôi ở xa đường lộ, không địa chỉ. Thư từ thì cả tháng mới tới mà cũng không
có tiền mua tem để gởi thư. Tôi và ba chỉ biết làm ruộng rẫy mà không biết tính
toán buôn bán, thành ra cuộc sống rất là chật vật. Những ngày giáp hạt, nhà không
có gạo ăn. Ba phải đạp xe đi 20 km mượn lúa của một người bà con xa. Đem lúa
về, thì lại không có tiền đi xay thành gạo. Mang xuống nhà máy xay xong, họ lấy
lại một ít gạo để trừ tiền xay.
Vài tháng sau đó, ba tôi dắt cậu em về Tam kỳ chịu tang ông nội mấy tuần. Tôi ở
một mình giữa cánh đồng hoang, xa xa mới có một hàng xóm và nhà họ lúc nào
cũng đóng cửa. Tôi thường nói chuyện một mình trong cái cô đơn tột cùng. Đó là
những ngày kinh khủng của đời tôi. Không dám bạo dạn như Scarlett thề trong
truyện “Cuốn theo chiều gió” “I’ll never be hungry again.” khi bị lâm vào cảnh đói
nghèo, tôi chỉ dám than khóc với Chúa. “…Con không muốn rơi vào cảnh đói
nghèo cô đơn này một lần nào nữa…” Và tôi cũng hát đi hát lại câu hát của Vũ
Thành An. “Về sau, và nhiều năm sau nữa, có buồn nhưng vẫn chưa bao giờ bằng
hôm nay.” Chẳng phải buồn tình nhưng buồn tủi vì nhà nghèo không đủ ăn.
Vở kịch “The Price of Freedom” này được phát thanh lần đầu tiên vào tháng 5
nhằm dịp lễ Memorial vào năm 1988. Ông xã tôi bảo lúc bấy giờ nước Mỹ đã hầu
như không còn nhớ đến chiến tranh Việt nam. Nhưng ở bên kia bờ Thái Bình
Dương, cộng sản Việt nam vẫn không hề ngơi phân biệt đối xử với những người
như gia đình chúng tôi. Lúc đó cô em của tôi vừa tốt nghiệp lớp 12 và em không
muốn rời miền Trung. Em không nộp đơn thi đại học mà chỉ nộp đơn thi vào Cao
đẳng Sư phạm Anh văn – Đà nẵng với hy vọng trường thấp hơn thì sẽ được họ cho
đi học. Em đã không có được cơ hội để đi thi chứ đừng nói gì đến chuyện đi học.
Họ đã bác đơn xin dự thi của em tôi. Tôi nghe tin và cầu nguyện để em không bị
trầm cảm bế tắc như chị họ tôi trong truyện Niềm nhớ. Dù luyến tiếc Tam kỳ
nhưng cô em tôi cũng phải theo mẹ vào ở với ba. Căn nhà ở Tam kỳ giao lại cho
chị tôi. Gia đình đoàn tụ. Ba mẹ tôi tin Chúa và cả gia đình tôi cùng đi thờ phượng Chúa ở hội thánh Phước thái gần nhà. Chúa cho gia đình tôi được thảnh thơi hơn và có bạn bè trong hội thánh đến thăm chơi. Năm sau đó, cô em tôi cũng đi học Cao đẳng Biên hoà như tôi trước đó. Mẹ mỗi ngày mang hoa quả rau củ trong vườn ra chợ bán. Mẹ đã làm cho khu vườn giống như những gì mẹ tả cho tôi
nghe trước khi tôi rời Tam kỳ. Cuộc sống của gia đình tôi khá tươm tất. Chúng tôi tưởng cuộc đời của gia đình tôi đã an bài nơi xã Mỹ xuân ven lộ 51.
Những năm 90, chương trình H.O. nở rộ nhưng ba tôi không muốn đi. Gia đình tôi
đang sống ổn định trên mảnh đất ba mua. Ba đã gần 60 tuổi nên không muốn làm
lại cuộc đời nơi xứ người, nơi mà ngôn ngữ và văn hoá quá xa lạ với một ông già
như ba để làm quen. Nhưng có lẽ cái ngại ngùng của ba là chuyện lo giấy tờ để
nộp đơn cho chương trình H.O.. Ba không muốn về Trung làm giấy tờ bởi cái ám
ảnh ghê sợ của những ngày ở tù và bị bắt bớ khi ra tù. Hồi đó tôi không hiểu
những lo âu của ba nhưng bây giờ, khi đã thấm mùi đời, tôi nhận ra những lo âu đó
là đúng.
Rồi cuối cùng gia đình tôi cũng đến được nước Mỹ , chứ không phải xã Mỹ …
xuân lèo tèo ngày xưa. Lúc tôi hai mươi mấy, tôi nghe một người nói đại loại như
thế này. “Từ nhỏ cho tới 10 tuổi, mình thấy ba giỏi quá, cái gì cũng biết. Từ 10
tuổi cho đến 18 tuổi, mình thấy ba không biết gì mấy. Từ 18 – 30 tuổi, mình thấy
ba không biết gì hết trơn. Từ 30 – 40 tuổi, mình thấy ba nói nhiều điều đúng. Hơn
40 tuổi, mình thấy ba là anh hùng.” Ngày đó tôi cười khi nghe những lời đó, nhưng
bây giờ tôi thấy quá chính xác.
Ba tôi năm nay đã ngót nghét 90 tuổi. Ông vẫn mỗi ngày lái xe chở mẹ tôi đi dạo
bờ biển thật đẹp ở Navarre, FL. Những đứa cháu nội ngoại của ba, đa số là sinh ra
ở Mỹ, có đứa nói được tiếng Việt, có đưá lọng ngọng, có đứa không nói được chữ
nào, nhưng chúng đều yêu quý ông nội/ngoại. Thằng cháu nội đích tôn nói tiếng
Việt hơi thiếu dấu nhưng thương ông nội nhất trong đám cháu. Lâu lâu nó xin ba
mẹ nó được qua ngủ với ông nội một đêm. Thằng bé nằm kế bên ông nội, kéo da
tay ông lên và nói, “Ông nội ốm quá! Chỉ có xương và da thôi. Ông nội phải ăn
nhiều lên…” Ba tôi xoa đầu cháu và chảy nước mắt.
Lúc này tôi thấy mình hay lục tìm quá khứ. Đọc những dòng nhật ký viết về ba
những ngày tháng kinh khủng ở Việt nam, đã có lúc tôi tưởng, vì ba mà đời tôi bị
dìm xuống. Tôi cũng như cậu bé Kirk trong vở kịch “The Price of Freedom”, tôi
đã ngờ vực về ba, không phải chỉ trong mấy mươi phút như trong vở kịch mà rất nhiều năm. Không biết tôi có hành xử được như ba hay không nếu tôi bị cô thế, bị bắt phải tù tội, bị bắt bớ khi ra tù, rồi lạc đến một nơi không cùng ngôn ngữ khi tuổi đã về chiều. Bây giờ nhìn thấy ba mẹ tôi sống an bình, tôi ước ngày về hưu tôi cũng được sống như vậy. Bây giờ tôi lại nhìn lên mẫu mực của ba mẹ như tôi đã nhìn ba mẹ trước năm 75 khi tôi còn bé tí. Bây giờ tôi nghiệm ra rằng thử thách đầu đời ấy đã giúp tôi khẳng định niềm tin về ba, tự hào về ba, người tôi đã kính nể lúc nhỏ và cho đến bây giờ.
Viết cho Tháng Tư!
2025
Thuỷ Như
VTLV: TRANG ĐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM NGÀY QLVNCH 19/06. CAO MỴ NHÂN: CHÙM THƠ Về QUÂN LỰC VNCH

TS MAI THANH TRUYẾT: Hằng năm vào khoảng 19 Tháng 6, có nhiều tổ chức thuộc Quân Lực VNCH ở hải ngoại tổ chức Lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực. Năm nay là năm thứ 43.
Ngày 19 Tháng 6, được coi là Ngày Quân Lực VNCH là vì sau đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm năm 1963, Chính quyền và Quân Đội VNCH bị suy yếu trầm trọng bởi tình trạng chỉnh lý, tranh giành quyền lực liên tục giữa các tướng lãnh trong QLVNCH . Tình trạng chính trị , quân sự cũng như kinh tế của Miền Nam lúc đó thật bi đát.
Lợi dụng tình thế bất ổn này, quân chính quy CS Bắc Việt ồ ạt xâm nhập vào Miền Nam. Trước tình trạng khẩn trương, nguy ngập đó Chính phủ dân sự Phan Khắc Sửu quyết định trao trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo Quốc Gia cho Quân Lực VNCH.
Một buổi lễ ra mắt Ủy ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương được long trọng tổ chức tại Thủ Đô Saigon vào ngày 19 Tháng 6, 1965. Hai Ủy ban này đã tuyên thệ trung thành với Tổ Quốc, nhận trách nhiệm chỉ huy QLVNCH trong việc bảo vệ đất nuớc, quê hương.
Từ đó ngày 19 Tháng 6 là một ngày lịch sử, có tên là “Ngày Quân Lực VNCH”. Sau đó hằng năm ngày Quân Lực 19 Tháng 6 được cử hành rất trọng thể với sự tham gia các đơn vị của các quân binh chủng trong QLVNCH, để biểu dương sức mạnh và ý chí đoàn kết, quật khởi của toàn quân, toàn dân Miền Nam, quyềt chiến đấu chống CS xâm lược Miền Bắc.
Ngày nay, Quân Lực VNCH không còn nhưng người quân nhân VNCH vẫn không ngừng chiến đấu cho Tự Do, Dân Chủ, Nhân quyền và sự vẹn toàn lãnh thổ. Tập thể Chiến Sĩ VNCH đã được hình thành để nâng nỗ lực đấu tranh lên tầm mức cao hơn, mạnh mẽ hơn.
Người chiến sĩ VNCH và đồng bào ỏ hải ngoại hôm nay không có vũ khí trong tay để anh dũng chiến đấu trên chiến trường như ba mươi ba năm trước đây, nhưng với ý chí kiên cường, bất khuất, người chiếnsĩ VNCH và đồng bào hải ngoại vẫn tiếp tục đấu tranh đem lại nhiều thắng lợi trên Bình diện chính trị. Chắc chắn ngày tự do và hạnh phúc cho toàn dân Việt Nam khắp mọi miền đất nước không còn bao xa.
Dưới bất cứ hoàn cảnh nào, nơi đâu, tôn chỉ của người quân nhân vẫn là Danh Dự – Tổ Quốc – Trách Nhiệm.
Mai Thanh Truyết

==
CHÙM THƠ 19/06 – CAO MỴ NHÂN
==
CÙNG NHAU HÁT TIẾP KHÚC QUÂN HÀNH. CAO MỴ NHÂN
Trời chưa sáng đã nghe hồi trống lệnh
Anh lạnh lùng thức dậy, chúng ta đi
Vào chiến cuộc, bao người đang đến hẹn
Một lòng tin phơi phới: các anh về
*
Cờ vàng đã tung bay trên khắp ngả
Trăng hạ huyền lãng đãng báo tin Xuân
Nền Cộng Hoà thao thức đợi chinh nhân
Rồi từ đó, ta gọi hồn đất cũ
*
Những con đường đã xua mây viễn xứ
Để cho người gặp gỡ người xa xưa
Để cho anh tha thiết gọi hồn thơ
Cho em viết chan hòa lời non nướ
*
Rằng : lý tưởng vẫn bền lòng phục quốc
Dân tộc ơi, ngàn vạn nét đan thanh
Ôi sung sướng trọn đời ta mong ước
Hãy cùng nhau hát tiếp Khúc quân hành
Rancho Palos Verdes 9 – 6 – 2026
CAO MỴ NHÂN
==
TẶNG ANH. CAO MỴ NHÂN
Chỉ cần nghe hơi hướng
Tuổi trẻ ở đôi tay
Mới biết mình sung sướng
Sức khỏe còn trên vai
*
Nên mời anh gánh vác
Càn khôn vũ trụ này
Đất trời không xa lắm
Tất cả đều quanh đây
*
Hôm qua là dĩ vãng
Ngày mai đó tương lai
Còn hôm nay hiện tại
Tinh thần phải hăng say
*
Muốn làm nên nghiệp lớn
Hãy đo sức nhân gian
Coi thử hạt bụi vướng
Nghĩ to như thái sơn
*
Khi ta còn tuổi trẻ
Phải tiết kiệm phút giây
Để không buồn tiếc rẻ
Trôi qua những tháng ngày …
Rancho Palos Verdes. 8 – 6 – 2026
CAO MỴ NHÂN
==
Em GÁI HẬU PHƯƠNG. CAO MỴ NHÂN
Kích giặc xong rồi, về phố thị
Thong dong đi dạo chợ Sài Gòn
Ngó cô bán bánh, chào thơm phức
Mời lính biên phòng thử bánh ngon
*
Anh không mắc cở mà đùa rỡn
Cô muốn tôi mua loại bánh nào
Chính chiến mịt mù, nay mới hưỡn
Hậu phương chỉ có bánh thôi sao
*
Cô bé nhìn anh cười, đỏ mặt
Em không biết nữa, anh qua bên
Chị kia chắc có nhiều quà khác
Anh lắc đầu , anh muốn cạnh em
*
Thế rồi, vài tháng sau là vợ
Anh vẫn biên phòng, thương nhớ thêm
Cô bé để rơi dòng lệ tủi
Năm sau, em quả phụ ưu phiền …
(Chuyện một cô bé hậu phương, sau một năm là quả phụ tử sĩ VNCH )
Rancho Palos Verdes 28 – 5 – 2026
CAO MỴ NHÂN
==
VỀ THĂM ĐƯỜNG 9. CAO MỴ NHÂN
Ôi nhớ quá tiếng xe tăng cày đất
Xẻ sa trường đôi vạt sóng thiên thu
Bạn anh đấy khép hờ đôi mắt sắt
Yên phận nằm nghe gió bão biên khu
*
Anh trở lại Đông Hà qua đường 9
Cây Nhân Sinh từng lớp mọc hoang đường
Đồi 31 còn cuộn dòng uất nghẹn
Bạn anh nhìn pháo lịm bặt bi thương
*
Nửa trăm năm vẫn tanh mùi máu lửa
Ngậm ngùi nhìn dấu vết tiểu đoàn xưa
Anh cứ đứng chôn chân trong nỗi nhớ
Trận chiến nào em khóc sau giông mưa
*
Thôi ta về, chuyến tầu đêm hun hút
Như gọi hồn tử sĩ vọng trời xanh
Không còn ánh hỏa châu soi sáng khắp
Trở về thăm mặt trận vỡ trên thành …
Hawthorne 26 – 5 – 2026
CAO MỴ NHÂN
==
NỬA TRĂM NĂM GẶP LẠI. CAO MỴ NHÂN
Nửa trăm năm đã vụt trôi qua
Trông đợi người đi lệ thấm nhòa
Chạnh nhớ ngày xưa khi kích giặc
Bên nhau nào biết sẽ chia xa
Đồng hoang cỏ cháy nối thương đau
Người với ta chung một nỗi sầu
Cơm xấy sau mưa tràn bếp ngập
Bên trời tên lửa gọi cung dâu
*
Hẹn hò chớp mắt như tan biến
Kinh rạch đò ngoan vẫn thả chèo
Sóng vỗ ngoài xa nơi đất biển
Hành quân ổn định xóm thôn nghèo
*
Đông Hà, cửa Việt sương giăng tối
Sao trách ai quên chẳng ngó ngàng
Đành đợi hoả châu soi sáng lối
Người ôm hoài bão chẳng than van
*
Giờ đây nhịp đập tim đau nhói
Ta hỏi người khi mặt trận tàn
Hoài niệm tình vương theo đạn khói
Có còn chăng, dấu tích tan hoang
*
Người ơi bi lụy càng ngây ngất
Trong nỗi ưu tư liệm mảnh hồn
Thương nhớ dặm về buồn héo hắt
Bên nhau tâm sự não nề tuôn …
Hawthorne. 9 – 5 – 2026
( Họa Thơ. Nhật Hồng. Nguyễn Thanh Vân )
CAO MỴ NHÂN
==
DƯỚI CỜ VÀNG. CAO MỴ NHÂN
Sáng ra chào lá cờ vàng
Tung bay trong nắng huy hoàng mùa xuân
Thấy như gặp lại cố nhân
“Giày saul nón sắt ” tháng năm thủa nào
*
Em nhìn lên tít trời cao
Mây pha sắc áo bay vào sử xanh
Ngàn đời yêu dấu riêng anh
Sa trường sôi động, tan thành mộng mơ
*
Quân đi rầm rập dưới cờ
Sáng tươi sông núi cùng thơ lên đường
Trăm phen hoa nở khói sương
Đạp lên nỗi chết biên phương hận thù
*
Bây giờ nói chuyện biên khu
Bâng khuâng âm hưởng thiên thu chiến hào
Đạn bay xé mảnh nhung bào
Trái tim thúc giục tuyến đầu ghi công …
CAO MỴ NHÂN
==
NGANG TRỜI TIẾC THƯƠNG. CAO MỴ NHÂN
Em về giữa buổi bình minh
Nắng vừa soi tỏ bóng hình người xưa
Cả không gian bỗng tiễn đưa
Hồn chinh phu trải gió mưa nơi này
*
Chiến trường cạn chén riêng tây
Tình yêu nước đã khô bay mộ chàng
Trao anh nguyên sắc cờ vàng
Này đây, tất cả lỡ làng quê ta
*
Em về câm nín xót xa
Sau lưng lạnh toát hồn ma tượng đài
Bó nhang chợt tắt u hoài
Nắng hong nỗi nhớ ngang trời Tiếc Thương
*
Thôi anh, tóc rối tơ vương
Vòng tay buông lỏng nghe hương khói tàn
Một mình hận tủi vô vàn
Buồn ơi mộng mị quan san bái từ …
CAO MỴ NHÂN
==

LỜI MẶC NIỆM -Donry Nguyên
*
Hỡi oai linh núi sông hùng vĩ,
Đây cơ đồ xương máu tiền nhân.
Đây sự nghiệp, giang sơn gấm vóc,
Đã lưu truyền suốt bốn ngàn năm.
*
Đàn con Việt cúi đầu mặc niệm,
Tưởng nhớ về công khó cha ông.
Bao lớp người hy sinh nằm xuống,
Đem máu mình tô thắm non sông.
*
Hãy hát lên bài ca dựng nước,
Của giống nòi Đại Việt hiên ngang.
Tay vung gươm, tay cầm ngọn bút,
Giữ cõi bờ, chống bọn xâm lăng.
*
Xin nguyện cầu hồn thiêng sông núi,
Thắp sáng lòng con cháu Rồng Tiên.
Cùng hợp sức chung tay xây lại,
Ngọn cờ vàng tươi sáng Việt Nam!
-Donry Nguyễn.
==

BÀI TÌNH CA CỦA GÃ LÍNH GIÀ
*
Có người em hỏi, anh là lính,
Khi đất nước cần, dám đứng lên?
Giống thời trai trẻ, ta nào ngán,
Sẵn sàng giáp mặt với đao binh.
*
Ta gã lính già luôn mong ước,
Được đứng chào nghiêm dưới quốc kỳ.
Thẩm quyền nếu bảo, mai ra trận,
Ta sẽ chấp hành, cất bước đi.
*
Hề chi, ta lính còn quân số,
(Đâu có giấy tờ giải ngũ đâu?)
Tuy đã lâu rồi, lương chẳng nhận,
Bộ áo trây-di bạc thếch màu.
*
Ta chàng lính pháo chưa từng bại
(Kịp đánh đâu mà thắng với thua?)
Chẳng qua thế nước, cơn chìm nổi,
Tạm bước lưu vong, đợi buổi về.
*
Tuổi cao dù yếu, còn dư sức …
Ôm đàn hát lại bản tình ca.
Cho em biết được lòng ta vẫn,
Sau trước yêu em rất thật thà.
*
Em chớ trách hờn sao đi mãi
Chắc là quên mất nợ quê hương?
Thưa em, từ độ mùa xuân ấy …
Nặng trĩu trong ta, một chữ buồn!
*
Đợi giờ sông núi reo mùa mới,
Theo bước hùng binh lại trở về.
Xin hẹn cùng em mùa trẩy hội,
Hai đứa mình đi dưới bóng cờ.
-Donry Nguyễn.

==
THƠ LÊ MỸ HOÀN
==
THU ĐÔI MƯƠI – Lê Mỹ Hoàn
Những chiếc lá cuộn rơi bước chân ngày cũ
Trong vườn tao đàn thuở ấy tuổi đôi mươi
Áo thướt tha như cuộn áng mây trời
Khi những mùa thu về lá rơi ngập lối
Tao đàn lắng tiếng trở mình thức dậy
Còn mãi xa như gợn sóng thời gian
Khi những bài thơ ngàn xưa vang vọng
Vời vợi âm xa lũ lượt trở về
Trong cặp sách thư tình và bài học
Lẫn lộn trang vở những hồi hộp hôm qua
Còn dấu âm thầm tiếng ai hò hẹn
Màu áo anh còn đẫm gió quan hà
Có ánh mắt đêm dài miền đất đỏ
Anh mang về cát bụi chiến chinh xa
Anh mang về cùng với cả giấc mơ
Vườn hoa thơm ngát thanh bình muôn thuở
Cuộc tình năm xưa mùa lá đang rơi
Cùng đếm bước trên vỉa hè Lê Lợi
Những bước thì thầm còn lên tiếng gọi
Ta vẫn hẹn bao năm chờ đợi
Áo em thu vàng cùng với tuổi đôi mươi.
Lê Mỹ Hoàn – 6/2026
==
CHÂN TRẦN TRÊN ĐỒI CÁT
Ngày về thăm quê
Trùng dương bát ngát
Chân trần chạy trên đồi cát
Mượt mà như dải lụa quấn quanh
Chân trần chạy thẳng lên đồi
Tưởng như đến bên trời trước mắt
Gió cát quật vào mặt vào mắt
Mặt trời nghiêng và bóng đổ
Đồi cát chập chùng đôi cánh trắng
Gió thổi tung màn lụa phủ thân ta
Lòng cuộn theo cơn lốc
Bụi mờ vết chân qua
Quá khứ xa xôi
khung trời ẩn hiện
Đại bác nổ rền xé rách đêm thâu
Ánh hỏa châu soi sáng cát vô hồn
Lá cây gầy
lấp loáng giọt sương tuôn
Lòng mẹ mái tranh
nước mắt ru buồn
Bóng anh người lính chiến
Áo chinh nhân xuống biển lên ngàn
Lặng lẽ súng trên tay
Băng qua vùng lửa cháy
Đã một lần nơi đây
Em, anh và quê hương tan nát
Ôi chinh chiến điêu tàn
Tình yêu và biển mặn
Quê hương ước mơ ơi
Hôm nào đã mất
Một non sông và mối tình anh.
Lê Mỹ Hoàn – 5/2020
==
BIỂN ĐÊM NHỚ SÀIGON
Biển đang dâng chén lưng sầu
Núi cao mây lấp ngang đầu nỗi đau
Non xanh biển mộng là đâu
Sóng đâu phủ sóng tình sâu đáy lòng
*
Ra đi về hướng đại dương
Có loài rong biển vẫn thương đường về
Đêm nghe tiếng hát trầm mê
Biển còn đắm mộng lời thề vấn vương
*
Ta đi thấu suốt đoạn đường
Mà sao lòng vẫn nhớ thương Sàigon
Sàigon thuở ấy mưa luôn
Hàng me chua ngọt nắng luồn tóc em
*
Sóng dồn khát vọng bao đêm
Ai bơi qua mộng hão huyền bên kia
Để rồi năm tháng vô đề
Gót chân phiêu lãng hỏi về nơi đâu
*
Ngàn sao thắp lệ em sầu
Long lanh những ngọn đèn màu phố xưa
Tiếng chân nhịp bước mong chờ
Ngựa thồ cuối ngõ ngoại ô đêm buồn
*
Trưa hè phượng đỏ môi son
Màu son chưa nhạt mái trường năm xưa
Thế rồi sóng bấp bênh bờ
Nấm mồ hoa phượng tình thơ ngậm ngùi
*
Hồ Rùa phủ bóng lá rơi
Dọc đường Nguyễn Huệ từng đôi dập dìu
Ta về nắng gió Pleiku
Áo em gió lộng rừng thu quân hành
*
Bến Thành quen mãi bước chân
Xuyên qua cửa Bắc lại gần cửa Tây
Mình tao ngộ ở nơi đây
Âm thanh biển bỗng gọi đầy nỗi vui
*
Ơi! Dòng nước chảy chia hai
Nhà Bè bến nước, Đồng Nai ai về
Tiếng hò sóng nước đê mê
Thôi em, đã lỡ vụng về giấc mơ
*
Huy tà bóng lặng chơ vơ
Từ nghe cõi vọng mơ hồ về đâu
Địa đàng tỉnh giấc canh thâu
Cùng ta chuốc chén mộng sầu ly tan.
Lê Mỹ Hoàn – 5/2019
==

CA KHÚC NIỀM NHỚ – Lời Việt Thủy Như – Nhạc Pháp: A COMME AMOUR – BMC Thực Hiện
KIỀU MỸ DUYÊN – CHƯƠNG TRÌNH CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA June 10, 2026
VTLV- CHÚC MỪNG VĂN THI SĨ CAO MỴ NHÂN KỶ NIỆM 73 NĂM CẦM BÚT.

Kính Mời Quý Vị Đọc Bài Viết Về VTS CAO MỴ NHÂN trên Việt Báo
https://vietbao.com/a305738/cao-my-nhan-nguoi-di-xe-thien-dang-


CHÚC MỪNG VĂN THI SĨ CAO MỴ NHÂN
KỶ NIỆM 73 NĂM CẦM BÚT!
Phương Hoa
73 năm chẵn bút tung hoành
Tự thuở lên mười đã nổi danh
Thi sĩ đường mây hòa dưới trướng
MỴ NHÂN cánh gió quyện bên mành
Thơ gom kẻ mến cùng bờ cõi
Sách gọi người yêu khắp thị thành
Cầu chúc Bách niên hiền tỷ vẫn…
Trường kỳ sáng tác đẹp vườn thanh.
Phương Hoa – MAR 18,2026
==
CÁC BÀI HỌA
KÍNH MỜI QUÝ VỊ GHÉ ĐỌC NHIỀU BÀI HỌA THẬT HAY TỪ BÀI XƯỚNG CỦA PHƯƠNG HOA CHÚC MỪNG VTS CAO MỴ NHÂN 73 NĂM CẦM BÚT TỪ TRANG NHÀ THÂN HỮU LÃNG PHONG dưới đây:

https://lylang.blogspot.com/2026/03/chuc-mung-van-thi-si-cao-my-nhan-ky.html
*
NỮ SĨ CAO MỴ NHÂN – BINH NGHIỆP VÀ THI TÀI – Sông Thu
Hoàn hảo trục tung lẫn cạnh hoành (*)
Vẽ nên đồ thị đáng lưu danh
Nửa đời binh nghiệp đầy oai vệ
Một kiếp tao đàn thật diễm thanh
Thi hứng ngập tràn như sóng biển
Câu từ buông phủ tựa tơ mành
Mười ba tác phẩm đà in ấn
Bao áng thơ văn đẹp kết thành.
(*) Cuộc đời chị Cao Mỵ Nhân ví như một đồ thị đẹp vẽ nên bởi hai trục hoàn hảo là trục tung Binh Nghiệp và trục hoành Thơ Văn
Sông Thu (20/03/2026)
==
CẢO THƠM LƯU DẤU – Nguyễn Huy Khôi
(Hoán vận)
Bươn trải trần ai đã đủ hoành
Mệnh tài tương đố bợn chi danh
Sa trường kiêu hãnh thời oanh liệt
Trướng gấm hoài vương thuở diễm thanh
Văn bút tiềm tàng ngời nguyệt rạng
Thi đàn tuyệt hảo nuột tơ mành!
Cảo thơm lưu dấu, tình trao lại
Nghĩa nặng ân thâm ấm dạ thành!
Nguyễn Huy Khôi
20-3-2026
==
CHÚC MỪNG NỮ SĨ CAO MỴ NHÂN – Mỹ Hoàn
Bẩy ba năm vẫn mãi vang danh
Nổi tiếng thơ văn bút trụ hoành
Một thuở Sapa đào ngập lối
Ngàn mây viễn xứ tuyết giăng mành
Quân hành áo trận thơm kinh sử
Hoa gấm đài trang dấu cổ thành
Trang giấy gởi hồn bao tác phẩm
Muôn đời lưu giữ nét đan thanh.
Lê Mỹ Hoàn 3/20/2026
==
MỪNG CAO NỮ SĨ – CÔNG THÀNH DANH TOẠI
(Họa hoán vần)
Tám sáu mùa xuân ẩn giữa mành
Mỵ Nhân nữ sĩ thật lừng danh
Thời xưa lính tráng ngời vân cẫu
Hiện tại văn thơ rạng bức hoành
Xé nửa thiên đàng trông gió mát
Vo tròn thi phú đợi trăng thanh
Bảy mươi năm lẻ mài nghiên bút
Tăm tiếng loan xa, mộng đã thành
ThanhSong ntkp – CA. 20/03/2026
==
MỘT HỒN THƠ, MỘT ĐỜI THƠ
(Kính mừng chị CAO MỴ NHÂN 73 năm cầm bút)
Đường luật thất ngôn rạng trướng, hoành*
Tân thời lục bát tiếng vang danh
Văn phong cổ kính màu thiên địa
Cốt cách thanh tao dáng lụa mành
Bước giữa nhân tình, lòng thấu cảm
Đi trong thế sự, ý hình thành
Quê hương nghiệm trải, thơ tung bút
Chữ nghĩa im lìm đã vọng thanh…
Lý Đức Quỳnh
20/3/2026
*Hoành là bức hoành phi, chữ viết ngang như thư pháp, thường treo trong phòng khách.
==
CHÚC MỪNG CHỊ CAO MỴ NHÂN
Họa 4 vần ( đảo vận )
Mải miết tràn thi giấy mực hành
Khi mười tuổi biết ngắm trăng thanh
Hồn nương cánh gió theo vườn mộng
Phú gởi trời mây nép cửa mành
Luận ý lời hay người thỏa nguyện
Bàn văn ngữ tốt bạn trung thành
Bảy ba năm luyện chương cùng võ
Chúc tỷ ngàn đời bút sáng danh
Minh Thúy Thành Nội
Tháng 3/2026
==
PHƯƠNG HOA ĐÁP LỄ BẠN THƠ – MỪNG CHỊ MỴ 73 NĂM CẦM BÚT
(Tự họa)
Thơ họa thăng hoa bức lụa hoành
Lời vàng thi sĩ quả tài danh
Sương còn say đắm treo bờ giậu
Nguyệt cũng ngẩn ngơ rọi trước mành
Đại tỷ mấy mươi năm bút toại
MỴ NHÂN non thế kỷ công thành
Cảm ơn mặc khách cùng đồng điệu
Hòa vận chúc mừng ý đẹp thanh.
Phương Hoa
MAR 24, 2026
==
Thân họa : “Chúc Mừng Văn Thi Sĩ Cao Mỵ Nhân – Kỷ niệm 73 năm cầm bút“
của Thi Văn Sĩ PHƯƠNG HOA
SƯƠNG KHÓI VĂN CHƯƠNG
( Buổi sáng ngày 19-3-2026 vừa qua, nhân khi viết một bài
gởi đi đăng báo, Mỵ tôi chạnh nhớ ngày 19-3-1953 có bài viết
“ Sự tích Trời Cao “ đăng lần đầu tiên ở trang Nhỉ Đồng
báo Liên Hiệp Hanoi, nên lỡ tâm sự với PHƯƠNG HOA, là
Mỵ tự lên tinh thần vì vẫn còn thích viết )
Nay được quý bạn khuyến khích quá, nên xin CÁM ƠN quý Thi Sĩ : SÔNG THU,
NGUYỄN HUY KHÔI, THANH SONG KIM PHÚ, MỸ HOÀN , LÝ ĐỨC QUỲNH vui họa với
Bài xướng của PHƯƠNG HOA, nên CAO MỴ NHÂN cũng xin góp họa để vui vẻ chút nhé .
CÁM ƠN, CHÚC VUI KHOẺ. Cao Mỵ Nhân ..
SƯƠNG KHÓI VĂN CHƯƠNG.
Ôi nét chân phương giữa bức hoành
Khiến lòng trọng nghĩa khách tài danh
Xướng Thơ như suối nguồn băng núi
Họa ý hơn châu ngọc rớt mành
Đa tạ tao nhân vui dự hội
Cám ơn tác phẩm vượt san thành
Bảy ba năm hạnh ngộ tri kỷ
Thi Cảm chan hòa vạn lý thanh …
Hawthorne 20 – 3 – 2026
CAO MỴ NHÂN


Mừng chị Cao My Nhân 73 năm cầm bút.
NÀO KÉM CHI NAM
Thất thập nhị huyền công cộng một,
Bảy mươi ba phép thắng Tề Thiên.
Trưng Vương trung học vang danh nữ,
Thiếu Tá Việt Nam đệ nhất miền.
Xướng họa văn thơ nên nợ bút…
Thi từ ca phú kết văn duyên.
Cuộc đời há kém chi nam giới,
Chúc chị yên bình sống bách niên !
Thầy Đồ – Đỗ Chiêu Đức
03-21-26 – Kính bút.
==
Chúc Mừng Nữ Sĩ Cao Mỵ Nhân
*
Bảy ba năm vẫy bút đường trần
Thơ kính chúc mừng Cao Mỵ Nhân
Chữ nghĩa ngời ngời như hạo nguyệt
Văn chương tải tải tựa thanh vân
“Chim Bay Mỏi Cánh” thời phiêu bạt
Ngựa thét nghiêng đèo buổi loạn quân
Văn võ toàn tài xin ngưỡng mộ
Từ Sapa đến phố Thiên Thần*
Quang Hà, 26/03/2026
==
Bài gửi từ văn thi sĩ CAO MỴ NHÂN
TRẮC TRỞ VẦN- CAO MỴ NHÂN
Muốn nói với em một điều rất lạ
Bằng chữ “sorry” vì quên tất cả
Từ không gian đến thời khắc vừa qua
Đáng tiếc, lâu rồi anh đi xa quá
*
Trong ngôn ngữ thơ gọi là vần trắc
Cuối câu ngắn, dài … phải dùng âm sắc
Thế còn gì lời thoảng nhẹ dịu êm
Khi tri kỷ gật gù không thắc mắc
*
Một bài Đường thi tám câu, bảy chữ
Đã khó rồi, còn mượn vần cuối lỡ
Sao không viết nhàn hạ để thảnh thơi
Mà lại khiến hồn thơ sầu bỡ ngỡ
*
Riêng với em, nàng thơ luôn khổ lụy
Anh van xin những hình ma, bóng quỷ
Hãy rời đi, đáng tiếc cõi mơ này
Để đôi mình thương yêu, cùng trân quý …
Rancho Palos Verdes 19 – 3 – 2026
CAO MỴ NHÂN
Thân quý gởi THI SĨ PHƯƠNG HOA
Hôm nay 19/3/2026. CMN kỷ niệm ngày 19/3/1953 khi chưa di cư vô Nam, hôm đó 19/3/ 1953, bài truyện nhi đồng tên TRỜI CAO của CMN đăng trên báo LIÊN HIỆP HA NỘI, mới hơn 10 tuổi.
Rồi tiếp tục cứ đăng các bài truyện nhi đồng do CMN tưởng tượng trên mỗi thứ năm báo GIANG SƠN HANOI, năm sau di cư vô SAIGON, 9/1954, tiếp tục viết truyện trẻ em và làm thơ cho tới ngày nay 19/3/ 2026 này.
SỚM NAY 19/ 3 tự kỷ niệm 73 năm thơ văn sương khói CAO MỴ NHÂN, viết bài thơ vần trắc trở, chợt nhớ PHƯƠNG HOA khoe VTLV độc giả quá tải trên 2 triệu 7 người đọc, CMN gởi bài kỷ niệm viết hôm nay để tự lên tinh thần, vì cứ thích viết mãi, PHƯƠNG HOA cũng vui kỷ niệm với mình, đăng lên xem biết đâu có bạn vàng xưa cũng nhớ nhé!
CÁM ƠN NHIỀU NHÉ. CHÚC KHOẺ VUI HOÀI, VIẾT HOÀI nha.
CAO MỴ NHÂN
==
Tin Vui: Mừng Cây Bút Chính 73 Năm! “Lão Làng” Của VTLV! Lê Văn Hải
(Chữ hoa trong lời chúc, là tên các Tác Phẩm của Cao Mỵ Nhân)

==
CHÚC MỪNG THI VĂN SĨ CAO MỴ NHÂN:
73 Năm Cầm Bút – Một Đời Thi Ca!
-Bảy mươi ba năm — một HOA SAO lấp lánh giữa trời văn học,
Từ thuở thiếu thời, lời thơ đã nở thành THƠ MỴ, dịu dàng mà sâu thẳm.
Qua bao GA XÉP của cuộc đời,
Người vẫn ung dung bước giữa CHỐN BỤI HỒNG,
Khoác ÁO MẦU XANH của mộng và tình,
Đưa hồn thơ đi qua những chiều LÃNG ĐÃNG VÀO THU rất nhẹ…
Có khi lặng lẽ ĐƯA NGƯỜI TÌNH ĐI TU,
Có lúc trở về sau những SAU CUỘC CHIẾN của lòng người và thế sự,
Mà vẫn mở một QUÁN THƠ THÁNG NGÀY CÒN LẠI,
Cho bạn hữu bốn phương ghé lại — nghe NHỊP TIM THƠ còn vang mãi…
Dẫu thời gian có gọi là TÌNH MUỘN,
Thì thơ vẫn trẻ — như buổi đầu xướng họa,
Như những vần THƠ XƯỚNG HOẠ còn ngân dài không dứt,
Gieo duyên tri kỷ, kết nghĩa văn chương.
Xin kính chúc Thi Sĩ:
Bút lực dồi dào — hồn thơ bất tận. Tâm an — ý sáng — tình còn mãi thiết tha
Để vườn thơ MỴ NHÂN: mãi nở — ngàn sau còn hương!
Trân trọng kính mừng
73 năm một đời thi sĩ — Một đời đẹp như chính… thơ mình.
Thay mặt VTLV
Lê Văn Hải
NHỮNG TÁC PHẨM CỦA CMN:
1/ HOA SAO -1959 (1000 cuốn loại Roneo) THƠ
Tặng bạn Hướng Đạo dự trại họp bạn Phục Hưng, thế giới kỳ 8 , tại Trảng Bom Việt Nam.
2/ THƠ MỴ 1 – 1961 (200 cuốn loại Roneo)
Nhà xuất bản Đại Nam Văn Hiến, Nhà văn Thế Phong phát hành, bán hết ngay trong 2 tuần lễ mới phát hành.
Tựa: Nhà văn Thế Phong.
3/ GA XÉP – 1962- THƠ (in typo)
Do Nhà văn Vũ Ngọc Anh (Hồ Linh)
Trách nhiệm kiểm duyệt và phát hành
4/ CHỐN BỤI HỒNG 1 – 1994
– Nhà Xuất Bản Sông Thu Hoa Kỳ – 1000 cuốn
Tựa : Nhà Xuất bản Sông Thu (Hoa Kỳ)
Nhà văn Duy Lam. (Hoa Kỳ)
5/ THƠ MỴ 2 – 1997- THƠ
Xuất Bản Ngày Nay Hoa Kỳ 1000 cuốn.
Tựa : Nhà Xuất Bản Ngày Nay – Nhà văn Duy Lam.
Bạt : Nhà thơ Thanh Trí Cao (Hoà Thượng Thích Quảng Thanh – Hoa Kỳ)
6 / ÁO MẦU XANH – 1999 – THƠ
Nhà Xuất Bản Cỏ Thơm – Hoa Kỳ – 500 cuốn .
Tựa: Nhà Xuất Bản Cỏ Thơm (Hoa Kỳ)
– Thi sĩ Hà Bỉnh Trung (Hoa Kỳ)
7/ ĐƯA NGƯỜI TÌNH ĐI TU – 2001 – THƠ
Nhà Xuất Bản Tiếng Vang – Hoa Kỳ – 500 cuốn .
Tựa : – Nhà Xuất Bản Tiếng Vang- Nhà văn Trần Văn.
– Thi sĩ Hoàng Ngọc Liên (Hoa Kỳ)
8/ LÃNG ĐÃNG VÀO THU – 2001- THƠ
– Nhà Xuất bản Kinh Doanh – Hoa Kỳ. 700 cuốn
Tựa : Thi Sĩ Tùng Linh (Hoa Kỳ)
Bạt : Nhà văn Hồ Linh. (Hoa Kỳ)
9/ SAU CUỘC CHIẾN – 2003 – THƠ
Nhà Xuất Bản Cội Nguồn – Hoa Kỳ. 1000 cuốn .
Tựa: Thi sĩ Diên Nghị (Hoa Kỳ )
– Thi sĩ Song Nhị (Hoa Kỳ )
10/ QUÁN THƠ THÁNG NGÀY CÒN LẠI- 2009 – THƠ
Nhà Xuất Bản THƯ ẤN QUÁN – Hoa Kỳ – 800 cuốn.
Tựa: Thi sĩ Hà Thượng Nhân (Hoa Kỳ)
Bạt: Thi sĩ Trần Hoài Thư (Hoa Kỳ)
11 / NHỊP TIM THƠ – 2016.
Nhà Xuất Bản Nhân Ảnh Hoa Kỳ. Phát hành : Amazon.
Tựa : – Thi sĩ Luân Hoán (Canada )
– Thi sĩ Võ Thạnh Văn (Hoa Kỳ)
Bạt : Tiến sĩ Bùi Lê Dzung (Australia )
12 / TÌNH MUỘN – Thơ – 2018.
Nhà Xuất Bản Nhân Ảnh Hoa Kỳ . Phát hành: Amazon.
Tựa: Thi sĩ Luân Hoán (Canada)
13/ THƠ XƯỚNG HOẠ CAO MỴ NHÂN & TRỊNH CƠ Thơ – 2020.
Nhà Xuất Bản Nhân Ảnh – Hoa Kỳ. Phát hành: Amazon.
Tựa : Thi sĩ Lê Hân (Hoa Kỳ)
Nhà văn Nguyễn Thành (Việt Nam)
14/ CHIM BAY MỎI CÁNH – Văn Thơ Lạc Việt – Hoa Kỳ.
Chút tiểu sử: CAO MỴ NHÂN
Sanh ở Chapa Hoàng Liên Sơn Laokay.
Học Nữ Tiểu học Lệ Hải Hải Phòng
Di cư vô Nam năm 1954
Học Nữ Trung học Trưng Vương Saigon
Học Nữ Cán Sự Xã Hội tại Centre Caritas Saigon
Gia nhập Quân Đội VIỆT NAM CỘNG HOÀ.
Cấp bậc và Chức vụ sau cùng:
Thiếu Tá Trưởng Phòng Xã Hội Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I / Quân Khu I.
Qua Hoa Kỳ theo diện Tị nạn Chính trị (HO8)
Định cư tại Los Angeles từ cuối 1991 tới nay.
Tham gia Văn Bút VNHN:TrungTâm Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ
1994 – 1996, chức vụ: Tổng Thư Ký Trung Tâm Văn Bút Nam Hoa Kỳ (Nam California)
1996 – 1998, chức vụ: Phó Chủ tịch Nội vụ
Trung Tâm Văn Bút Tây Bắc Hoa Kỳ (Bắc California)
2004- 2008, Hội viên Văn Bút Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ
Từ 15-11-2020 tới nay: Hội viên chính thức của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Cây Bút Chính “Lão Làng” Của VTLV!
==
Chúc mừng VTS CAO MỴ NHÂN






Gần như suốt một dòng đời cầm bút, chị đã đông góp biết bao Văn Chương Thi Bút cho thế hệ trẻ, chị đã phục vụ tổ quốc trong QĐVNCH, một cuộc đời đầy ý nghĩa và cao cả. Em chúc chị luôn luôn khỏe mạnh, an vui và tiếp tục sáng tác nhiều Văn Thơ, một niềm vui và hạnh phúc trong cuộc đời.
Quý mến chị,
HoàngThục Uyên – Ngày 20/3/2026
==
3 CA KHÚC TẶNG MC VTLV THANH LOAN: “CÁNH ĐỒNG QUÊ HƯƠNG” Thái Phạm – “NÀNG LÀ AI?” Phương Hoa -“VẪN YÊU GIỌNG NÓI MIỀN NAM” Đỗ Vẫn Trọn.
==
==
KIỀU MỸ DUYÊN – ĐẠI NHẠC HỘI “HỘI BẠN NGƯỜI CÙI” NĂM 2026 RẤT THÀNH CÔNG
CA KHÚC BÀN TAY MẸ – THƠ TRẦN QUỐC BẢO – NHẠC TRẦN CHƯƠNG LƯƠNG – CA SĨ QUANG CHÂU.
Mùa Xuân Năm Ấy
VTLV: Lễ Mãn Khóa Lớp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng, (Khóa 2024–2026). MINH THÚY Thành Nội – BẢO TRÂM.
- Cảm Tưởng Ngày Tốt Nghiệp lớp Phật Pháp Thực Dụng – MINH THÚY Thành Nội
Chủ Nhật, ngày 24 tháng 5 năm 2026 tôi dự buổi lễ ra trường của “Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng” do thầy Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng làm hiệu trưởng. Chúng tôi đã tham gia học trên zoom mỗi chiều thứ sáu từ 6 tới 8 giờ tối.
Thời gian như thoi đưa, nhắm mắt mở mắt đã thấy 4 năm trôi qua lẹ làng. Ngày trước thứ sáu đối với chúng tôi luôn là ngày đặc biệt. Trong công sở các bạn thường gọi tên “chiều xả trại”. Thật vậy suốt tuần cày bừa tối mặt, hễ cứ đến thứ sáu hình như mặt mày ai cũng tươi tỉnh. Ngày đó diện quần áo, mặt mày trang điểm lên một tý. Công việc làm nhanh hơn trong niềm yêu đời phấn khởi. Chiều thứ sáu trên đường về còn biết ngắm vạt hoa hai bên đồi lung linh dưới ánh nắng vàng chiếu toả. Nhận thức cảnh đẹp thiên nhiên giữa trời đất bao la hùng vĩ.
Về nhà ăn cơm chiều xong, sửa soạn lên chùa Phổ Từ tụng kinh và nghe thời pháp. Hạnh phúc lan man theo tình thầy nghĩa đạo với bạn hữu đồng tu. Có khi ở lại cùng ngồi ăn bát cháo hoặc tô bún thân tình cùng đạo hữu. Đêm khuya trên đường về tâm thấy thanh thản nhẹ nhàng khi hiểu bài kinh, lời giảng của thầy Từ Lực. Hớn hở chuẩn bị chào đón ngày cuối tuần nghỉ dưỡng, được ngủ dậy trễ không sợ bị áp lực bởi kim đồng hồ réo gọi. Rồi thì lẹ làng đi chợ mua thức ăn, sắp xếp nấu nướng chuẩn bị cho cả tuần, tổng vệ sinh nhà cửa ngày thứ bảy. Chủ nhật đến chùa nghe pháp và tụng thời kinh cầu an cũng như làm công quả.
Cuộc sống cứ nhẹ nhàng lướt trôi mấy chục năm, được đi hành hương các chùa, được gần những thiện hữu tri thức, những tấm gương sáng đẹp cho mình nương theo tu tập và mở mang kiến thức.
Ngày nghỉ hưu cũng là lúc vợ chồng đi theo định luật Sinh, Lão, Bệnh. Mắt mờ hơn, tay chân run rẩy và mệt nhiều hơn. Hai ông bà già lười biếng, đổi quan niệm ở nhà có thể đọc sách, hoặc tìm youtube các thầy giảng Phật pháp. Sau này lên chùa đôi khi cũng bị stress theo nhu cầu rộng lớn ở đó, trong khi tuổi già cần tránh những lo âu chuyện bên ngoài ảnh hưởng, vì nếm trải lo âu vất vả cho cuộc sống riêng tư gần hết đời người, giờ đây cần giữ cho tâm hồn thoải mái tìm sự vui tươi.
Trường Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng ra đời đúng lúc. Thật tiện lợi cho chúng tôi khỏi phải đến chùa khi trời mưa bão từng mùa đông tới. Ngày thứ sáu, mọi công việc nhà đều có sự thúc giục ngầm tất cả phải xong, chuẩn bị giờ học thầy Dũng vào buổi chiều. Đúng 5 giờ tôi mở zoom vào lớp học để sẵn chờ đến giờ. Ông xã tôi ngại ngùng không muốn ngồi trước màn hình, nhưng ngồi sau lớp tường ngăn chia gần sát, yên lặng lắng nghe. Bình thường ông dùng cơm chiều 6 giờ, nhưng đặc biệt thứ sáu dùng sau 8 giờ tối, mới dám mở tivi nghe tin tức.
Tôi hỏi ông “thích nghe thầy Dũng giảng phải không?”. Ông trả lời “thầy có nét mặt sáng sủa hiền lành đức độ, có lực truyền vào mình sự ấm áp an lành”. Từ lúc đầu vừa nhìn thầy Dũng, ông xã tôi có cảm tình liền.
Riêng tôi thì được biết thầy trước đó, lúc gia nhập làm hội viên của Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt. Thầy là tiến sĩ dạy nhiều trường đại học nơi vùng Bắc Cali, là Phó Ban Ngoại Vụ của VTLV, là MC khắp mọi nơi về văn chương, lịch sử và đạo Phật. Thầy ăn chay trường và vợ mở nhà hàng chay Di Lặc. Mẹ thầy là Sư Bà trụ trì ngôi chùa bên Việt Nam mà tôi có dịp phúng điếu bằng bài thơ Đường luật. Nhìn gia đình thầy sống hiền, làm lành, thì đó chính là bài học “Phật giáo thực dụng” sống động nhất cho chúng tôi tin tưởng.
Thầy dạy Phật Pháp không phải để cất trong sách vở, để nói cho hay, để tranh luận hơn thua. Phật pháp là để đem ra dùng ngay giữa đời sống này. Là sáng dậy biết mỉm cười với mình. Là chiều ý chồng nấu ăn theo nhiều sở thích, dù mệt mà lòng không bực. Là nghe một câu trái ý biết dừng lại để thở. Là ai chọc giận hay nói nặng nề máu không sân si.
Xin trích đoạn ngắn tôi viết bài trước :
“Theo học tại đây và hiểu chữ ‘thực dụng’ đúng nghĩa: Pháp không nằm trên kinh kệ để tụng cho hay, mà để đem ra dùng ngay trong bếp, ngoài chợ, giữa sở làm. Thực dụng là khi kẹt xe ở freeway 880 mà không nổi sân, nhớ đến hơi thở chánh niệm. Thực dụng là khi nghe tin không vui, biết quán vô thường để lòng bớt chao đảo. Thực dụng là khi đi phát quà cho người vô gia cư, thấy đó chính là cúng dường chư Phật trong hình hài khổ đau.”
Chỗ thực dụng đó, tôi tập được kha khá, chưa giỏi chưa thuần, nhưng đỡ hơn tôi của nhiều năm trước. Thầy dạy cao, dạy sâu. Kiến thức của thầy mênh mông. Ngồi nghe có khi hiểu, có khi chỉ hiểu phần nào vì những từ ngữ khó nhớ. Sở học còn cạn, trí não chưa thông, đường tu còn dài, nhưng có một chữ chúng tôi nhớ mãi, là chữ “thực dụng“.
Nhận bằng hôm nay mà lòng còn thẹn, thẹn vì tu chưa tới. Ví dụ: Khi trời nóng kiến vào nhà từng đàn, ruồi lọt bay vài con, chúng quanh quẩn bên thức ăn. Chúng tôi cố né tránh không muốn phạm tội, nhưng ông chồng lẫn tránh, mà mình thì đối mặt với bếp núc, dọn dẹp… Dù mỗi ngày đi dạo lần chuỗi 108 hột, lần mấy vòng tuỳ theo thời giờ niệm “Nam Mô A Di Đà Phật“ để được nương tựa tìm sự yên lành. Để nhắc sự học và cách tu của mình.
Sau đó niệm các vị Phật: cầu bình an bản thân, cầu tên tuổi ông bà nội, ông bà ngoại, tứ thân phụ mẫu, cô chú, anh chị em bà con quyến thuộc đã mất, luôn được siêu sanh tịnh độ. Những công đức từ thiện cố định hằng năm, xin hồi hướng người thân nhiều đời nhiều kiếp luôn được vãn sanh, người còn hiện tiền luôn được sức khoẻ gặp mọi điều tốt đẹp.
Câu tha thiết nhất trong hiện tại “xin các loài vật nhỏ bé như ruồi, muỗi, kiến, dán, đừng chui vào nhà con, cho con tránh tội sát sanh. Cầu nguyện những sinh linh ấy sớm được siêu sanh, kiếp sau tái sinh vào cảnh giới tốt hơn.” Ngoài trời các chậu hoa mua đắt tiền, nâng niu chăm sóc nhưng vi khuẩn luôn phá hoại ăn mòn, lá hư hao cũng phải nghĩ đến bình thuốc xịt bảo vệ hoa lá. Sau những lúc như vậy, cái buồn nó đến nhanh, ân hận và ray rứt. Tâm không được thoải mái nghĩ mình thiếu phước nên vẫn bị dính mắc nghiệp xấu.
Lãnh bằng tốt nghiệp, nhưng đường tu còn dài, xin nguyện đem sự hiểu biết nhỏ nhoi này mà tập sống: bớt nói, bớt giận, bớt buồn. Tập mỗi ngày một chút, được chừng nào hay chừng ấy. Đó là cách báo ơn thầy, báo ơn chữ “thực dụng” thầy đã trao.
Thứ Sáu đem đến cho tôi nhiều kỷ niệm từ khi qua Mỹ. Những giờ học Phật Pháp nhắc tôi sống chậm lại, khai sáng trí tuệ, tìm sự an lạc về mặt tinh thần. Sống biết ơn ngôi chùa Phổ Từ, quý thầy cô, quý đồng đạo, nhất là Hoà Thượng Thích Từ Lực đã cho chúng con sinh hoạt mấy chục năm, ngay từ bước đầu Chùa đang còn thuê nhà. Tuy sau này chỉ dự dịp lễ lớn và mỗi đầu năm, đại diện anh em trong gia đình chồng chúc Tết thầy, đóng tiền cả năm trong mục “Bảo trợ “Chùa .
Sống biết ơn thầy Dũng, anh Phan Trung Kiên, anh Quảng Minh Nghĩa và cô Minh Châu trong ban quản giáo, phụ giúp thầy điều hành lớp học, hỗ trợ về các mặt khác. Cám ơn các thiện hữu tri thức thường thắc mắc những đề tài sâu rộng, nên thầy có cơ hội giải thích sáng nghĩa, cho cả lớp cùng học cùng tu.
Điều đặc biệt lớn lao hơn nữa là niềm cảm kính Ni Sư Nguyên Thiện và quý Sư Cô chùa Huyền Không. Nơi giúp phương tiện cho thầy Nguyễn Hồng Dũng giảng dạy, truyền bá hương từ bi của phật pháp vi diệu đến lớp học Online. Thực hành trong đời sống đẩy lùi sự khổ đau, đến gần niềm an lạc. Chúng con cúi đầu tri ân chùa Huyền Không gián tiếp gieo những hạt mầm tốt đẹp nơi cõi hồng trần này.
Xin được làm học trò mãi mãi. Học từ thầy, học từ bạn, học từ chính những vụng về của mình.
Minh Thúy Thành Nội
May/ 24/2026






==
BẢO TRÂM
Buổi lễ mãn khóa lớp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng, (Khóa 2024–2026)
Trong những ngày cuối tháng Năm, cộng đồng Phật tử và thân hữu tại San Jose, California đã chứng kiến một buổi lễ tốt nghiệp rất đặc biệt của Lớp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng – một chương trình học còn rất mới, chỉ vừa hoàn thành hai khóa đầu tiên (2022–2024 và 2024–2026), nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người tham dự.
Điều làm buổi lễ trở nên khác thường không chỉ là số lượng hơn 50 học viên, mà chính là độ tuổi và tinh thần học tập của họ. Người trẻ nhất mới 26 tuổi, người lớn nhất 77 tuổi, nhưng tất cả đều bước lên sân khấu với nụ cười rạng rỡ như những sinh viên lần đầu nhận bằng đại học.
Lớp học được khởi xướng bởi một vị giáo sư kỳ cựu – Ông có bằng Kỹ sư Điện tử của Đại học San Jose State và bằng Tiến sĩ Quản trị Kinh doanh của Đại học Southern California. Ông từng là giảng viên tại Đại học California State (cơ sở Hayward), thành viên Hội đồng Sàng lọc Dự án Đa dạng (Project Diversity Screening Committee) của Thành phố San Jose và từng tham gia vào nhiều sinh hoạt của cộng đồng Việt Mỹ (trích từ https://vantholacviet.com/nha-van-ts-nguyen-hong-dzung/)
Với tâm nguyện đem Phật Pháp vào đời sống, ông đã sáng lập chương trình Phật Pháp Thực Dụng, các vi trợ giáo ở nhiều lứa tuổi khác nhau – đồng hành cùng ông trong suốt hai khóa học.
Tôi mang theo hai chiếc điện thoại thay cho máy ảnh, chạy khắp nơi để ghi lại từng khoảnh khắc. Trẻ cũng như già, tất cả đều rạng rỡ như trẻ thơ.
Khoảnh khắc làm tôi xúc động nhất là khi cặp vợ chồng trên 70 dìu nhau lên nhận bằng. Cả hội trường lặng đi khi biết ông vẫn cố gắng học, và đến để nhận bằng như bà vợ và như bao người khác.
Khi ông được vợ dìu lên sân khấu, hai người đứng cạnh nhau, tay run run nhưng ánh mắt sáng rỡ. Tôi nhìn cảnh ấy mà rơi nước mắt. Lúc đó, tôi nhận ra, chính vợ chồng ông ấy đã giúp tôi thấy lại giá trị của lòng kiên nhẫn, của tình người, của những điều nhỏ bé mà sâu sắc.
Một người bạn khác, hơn 70 tuổi, người từng thu thập văn thơ của chúng tôi để đưa lên website “Văn Thơ Lạc Việt”, cầm tấm bằng khoe với chồng bà ấy và với tôi. Chúng tôi nhìn nhau, cười vui mà nhòa lệ. Rồi tôi nói đùa: “Chúng ta thua mấy bà xa lắc.”
Buổi lễ trao bằng Cao Đẳng Phật Giáo Thực dụng, không chỉ là ngày nhận bằng. Đó là ngày người già trẻ lại.
Ngày tuổi già như chúng tôi thấy vẫn còn có ích, vẫn còn được thương, vẫn còn được nhớ.
Một ngày mà lòng người ấm như nắng đầu hè.
Trong buổi lễ trao bằng “Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng,” giữa những tiếng vỗ tay, những tấm bằng, những lời chúc mừng, tôi chợt nhận ra một điều rất lạ:
Những người thầy lớn nhất của chúng tôi không phải là những người đứng trên bục giảng.
Họ là những người ngồi ngay bên cạnh chúng tôi — những học viên tóc bạc, lưng còng, bước chân chậm nhưng trái tim thì trẻ hơn cả lớp sinh viên mới ra trường.
Tôi học được từ người bạn 75 tuổi, rằng nghị lực không nằm ở sức mạnh, mà nằm ở ý muốn có mặt.
Có mặt để học.
Có mặt để vui.
Có mặt để sống trọn một ngày như thể đó là món quà.
Tôi học được từ người vợ dìu chồng lên sân khấu rằng tình thương không cần lời nói.
Chỉ cần một bàn tay nắm lấy một bàn tay.
Chỉ cần một bước chậm đi cùng một bước chậm.
Chỉ cần một ánh mắt nói thay cho cả một đời.
Tôi học được từ người bạn hơn 70 tuổi, rằng sự gìn giữ cũng là một cách tu:
Giữ lại cái đẹp.
Giữ lại tiếng cười.
Giữ lại những dòng chữ nhỏ bé để mai này nhìn lại, ta biết mình đã từng sống một cách tử tế.
Tôi học được từ những người trẻ trong lớp rằng tuổi tác không quyết định sự hồn nhiên, có những nụ cười 20 tuổi, nhưng cũng có những nụ cười 70 tuổi mà vẫn trong như nắng mới.
Và tôi học được từ tất cả chúng tôi rằng tu giữa đời thường không phải là chuyện xa xôi.
Nó nằm trong cách ta ngồi lại với nhau, cách ta lắng nghe nhau, cách ta nâng đỡ nhau trong những khoảnh khắc tưởng như rất bình thường.
Buổi lễ ngày hôm ấy không chỉ là ngày nhận bằng. Đó là ngày tôi nhận ra rằng:
Mỗi người trong lớp đều là một vị thầy.
Một vị thầy của đời sống.
Một vị thầy của lòng kiên nhẫn.
Một vị thầy của tình người.
Và tôi — người tưởng như chỉ đến để chụp hình, để giúp đỡ — hóa ra lại là người được học nhiều nhất.
Học để biết trân trọng.
Học để biết biết ơn.
Học để biết rằng tuổi trẻ không nằm ở số năm, mà nằm ở cách ta mở lòng với cuộc đời.
Tôi kính phục tất cả những người đã không để tuổi tác ngăn cản việc học, việc sống, việc thương nhau.
Hôm Chủ Nhật 24 tháng 5 năm 2026, tôi đã gặp rất nhiều vị thầy, Không ai đứng trên bục giảng, nhưng ai cũng dạy tôi một bài học mà tôi sẽ mang theo rất lâu.
LỜI TỎ LÒNG KÍNH PHỤC VÀ TRI ÂN
Kính thưa quý Thầy, quý Sư Cô, Quý ban giảng dạy, quý quan khách, và toàn thể học viên thân mến,
Hôm nay, tôi xin được nói đôi lời từ đáy lòng
Tôi xin kính cẩn biết ơn quý Thầy, quý Sư Cô, quý vị trong ban giãng dạy
Tôi xin cúi đầu kính phục tất cả quý vị, những người đã vượt qua tuổi tác, sức khỏe, hoàn cảnh, để tiếp tục học hỏi, tiếp tục tu tập, tiếp tục làm mới chính mình.
Tôi kính phục người bạn 73 tuổi yếu đuối nhưng vẫn cố gắng từng bước để có mặt hôm nay. Tôi kính phục người vợ đã dìu chồng lên sân khấu, như dìu một phần đời của mình. Hình ảnh ấy là bài học lớn nhất của buổi lễ.
Tôi kính phục người bạn hơn 70 tuổi vẫn miệt mài thu thập văn thơ của chúng tôi để gìn giữ cho mai sau. Tấm bằng trên tay bà là niềm vui chung của cả nhóm.
Tôi kính phục những người trẻ trong lớp — tuổi 20, 30 — đã học cùng với những người lớn tuổi, đã truyền cho chúng tôi năng lượng và sự hồn nhiên.
Và tôi kính phục tất cả, những người đã không để tuổi tác ngăn cản việc học, việc sống, việc thương nhau.
Buổi lễ ngày 24 tháng 5 không chỉ là buổi lễ bình thường như lễ tốt nghiệp để bước vào dời
Đó là lễ tốt nghiệp của Tình Người, của Nghị Lực, của Niềm Vui Sống, của những vị tu giữa đời thường.
Đó là phong cách tu của Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng.
Xin tri ân tất cả quý vị đã cho tôi một ngày đẹp như vậy.
Bảo Trâm/Bảo Trâm Minnesota
CGV NGUYỄN PHƯƠNG THÚY – Hà Xài
Hà Xài
Tác giả Giao Chỉ khi viết bài “Genève 54 Chia Cắt” có nhắc đến những thanh thiếu niên di cư vào Nam như nữ minh tinh Kiều Chinh lúc 15 tuổi, nữ ca sĩ Khánh Ly lúc 9 tuổi, và một số trẻ em di cư nổi tiếng khác. Thế mà ông không nhắc đến những đứa bé sơ sinh được cha mẹ bồng bế lên tàu há mồm hay máy bay vào Nam. Sao lại có sự sơ sót này hay là sự hiện diện của đám con nít miệng còn hôi sữa không nhiều, không đáng kể!
Tôi là một trong số trẻ sơ sinh ấy, đã lên máy bay vào Nam khi còn quấn tã. Lúc hiệp định Genève được ký kết giữa Anh, Pháp, Tàu, và CSVN vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, chia đôi đất nước qua vĩ tuyến 17 thì Mẹ tôi đang mang cái bụng chửa to vượt mặt. Vài ngày sau tôi ra đời tại nhà hộ sinh nằm trên đường Quan Thánh, Hà Nội.

Tôi, lớp gái Hà Nội cuối cùng, với “khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”, có được xếp cùng hạng với những thiếu nữ Hà thành, những cô Bắc kỳ nho nhỏ đã một thời đi vào văn chương, thơ phú?
Tôi thắc mắc không biết mình có phải là con gái Hà Nội. Cái gốc Hà Nội nghìn năm văn vật có quyện vào người, có theo người vào Nam. Tôi đã có được bao nhiêu phần trăm cái cốt cách của các cô gái Hà Nội thanh lịch, kiêu sa, đài các ngày xưa. Tôi nghe những bài hát, văn thơ viết về Hà Nội đẹp đẽ với những di tích lịch sử, văn hóa, và con người Hà Nội mà thèm mà yêu. Những lời kể lể sao mà hay, mà văn hoa đến thế. Mẫu con gái Bắc kỳ kiểu cách, cong cớn, đanh đá, chua ngoa, sao mà dễ thương đến thế tuy thương không dễ. Các chàng biết yêu con gái Bắc là tự chuốc khổ vào thân nhưng lại cứ lao đầu vào vì đã lỡ bị cái thanh lịch, kiêu sa, đài các mê hoặc, đâm ra nghiền cái thú đau thương. Ôi, tôi thèm muốn được làm gái Bắc, gái Hà Nội quá trời. Cứ chong mắt nai và dỏng tai nghe người ta kể lể tâm tình thương yêu Hà Nội, vất vả vì gái Hà Nội mà không dám vỗ ngực xưng mình cũng là dân Hà Nội.
Tôi vẫn thương hoài Hà Nội ơi,
Kiêu sa, thanh lịch, đẹp bao thời,
Ra đi từ thuở còn đeo tã,
Có biết mình mang dấu đất trời?
Trong khi miền Nam bao dung, dễ chịu, cởi mở thì tôi được nuôi dưỡng theo gia phong của miền Bắc. Người Bắc có một lối sống phong kiến, tôn ti trật tự, xem trọng việc giáo dục, học ăn lịch sự, học nói lễ phép, học cách xưng hô, học cách ăn trông nồi ngồi trông hướng, học may vá, bếp núc, công dung, ngôn, hạnh… Ôi thôi, biết bao nhiêu cái phải học.
Chữ nghĩa, cách ăn nói là cả một vấn đề khó xử trong sự giao tiếp hàng ngày. Những chữ đặc địa phương Bắc Kỳ đã dần dà thay hình đổi dạng để thích ứng với sự hội nhập vào môi trường sinh sống mới, người mới, cách diễn tả mới, nhất là khi tôi bắt đầu cắp sách đến trường. Tự dưng nẩy ra một số chữ ghép để giải tỏa sự cách biệt về ngôn ngữ, phát triển cái ngọn Nam kỳ mà vẫn không quên cái gốc Bắc kỳ như: chén bát, ly cốc, la hét, kỳ cọ, té ngã, ốm đau, màn mùng, ngắt véo, bơi lội, mắng chửi, chai lọ, gầy ốm, ốm đau, thìa muỗng,sợ hãi, vồ chụp, che chắn, béo mập, bồng bế, …
Cách viết văn hoa, rườm rà, kiểu cọ, khách sáo cũng dần dà phôi pha, nhường chỗ cho lời nói giản dị, chân chất, thẳng thắn.
Lần đầu nghe hàng xóm chửi nhau ào ào, rất tục, tôi khó chịu, hỏi Mẹ: “Người Bắc chửi ra sao”. Mẹ tôi bảo: “Người Bắc chửi có bài bản, văn hoa, vần điệu, nhiếc móc, xỏ xiên, nói bóng gió, dông dài, lôi cả tam đại ba đời, chửi thâm độc từ ngày này sang ngày khác; nghe được nhưng không nên nghe con ạ.”
Khi tôi thi vào trung học, Bố tôi chọn trường Gia Long thay vì trường Trưng Vương vì trường Gia Long gần nhà và nổi tiếng về kỷ luật nghiêm minh, có quý bà Giám thị chuyên đi bắt những học sinh không mặc áo lót, vẽ lông mày, sơn móng tay, dồi phấn thoa son.
Người bạn thân nhất của tôi trong suốt 7 năm lại là người miền Nam, quê ở Vĩnh Long. Trong khi nó mảnh mai, khoan thai, dịu dàng như nàng Kiều của Nguyễn Du thì tôi to lớn, dềnh dàng, trực tính, nóng nẩy, hay gắt. Mẹ tôi bảo nó mới đúng là mẫu con gái Hà Nội thanh lịch, nết na. Trời ạ, cái bản chất của con gái Hà Nội là thế ư; tôi thật không chịu được cái chậm chạp, yểu điệu thục nữ của nó. Tôi gắt, tôi cằn nhằn, tôi nhăn nhó với nó hoài làm nó đau khổ không ít; thường than vãn với Mẹ tôi là tôi bắt nạt nó mỗi ngày.
Qua nhà nó chơi, tôi được ăn các món miền Nam. Từ đó tôi mê mắm nêm cũng như mê mắm tôm vậy; khi ăn phở, bún riêu, bún thang, bánh cuốn đều phải có giá sống mới thấy ngon. Thịt kho nước dừa ăn với dưa giá hơi chua chua, có điểm những cọng hành xanh ngắt thì khỏi chê. Các món xôi chè có nước dừa đều hấp dẫn vô cùng. Còn nó, có mê các món ăn miền Bắc hay không thì tôi không biết vì Mẹ tôi cho nó ăn cái gì nó cũng khen ngon. Nhưng có một điều tôi biết chắc là nó mê ông anh tôi qua những cái liếc mắt long lanh.
Nó nhái giọng Bắc, gọi tôi là gái Hà Xài, dở dở ương ương. Có lẽ cái chất thanh lịch, kiêu sa, đài các của con gái Hà Nội trong tôi, nếu có, đã nhạt nhòa theo thời gian, đã hòa trộn với hương đồng gió nội miền Nam, với Sài Gòn bao dung, cởi mở; để tạo thành những cô gái Hà (Nội) Xài (Sài Gòn) thanh lịch, hiền lành, khôn khéo, chẳng đãi bôi, kênh kiệu, nhưng vẫn còn chút đanh đá, lém lỉnh và ngây thơ vô số tội. Theo tôi cái lớp người dở dở, ương ương Hà Xài ấy đã dung hợp được những ưu điểm của cả hai miền Nam Bắc.
Sau tháng Tư Đen, tôi tị nạn bên Mỹ, còn nó biệt vô âm tín. Tôi nhớ Sài Gòn nhiều hơn nhớ Hà Nội. Nhớ Hà Nội là nỗi nhớ mơ hồ, còn nhớ Sài Gòn là nỗi nhớ ray rứt, xót xa, tiếc nuối những năm tuyệt đẹp của thời thiếu nữ với bao kỷ niệm rõ nét, trong đó có nó.
Nguyễn P. Thúy
12/15/2011
KIỀU MỸ DUYÊN – Phỏng Vấn Charlie Nguyễn MẠNH CHÍ.
THỦY NHƯ – Tùy Bút ÔNG BẢY LẤM.

++
ÔNG BẢY LẤM -Thủy Như
Hôm đó, sân nhà cậu tôi đầy nắng. Cái nắng Quảng nam không phải là “một chiều nắng hiền hoà” như Cung Tiến tả, mà là nắng trắng lóa mắt, khô rang, rớt xuống sân gạch nghe như có tiếng giòn tan. Từ ngoài ngõ bước vô đã nghe mùi khói củi cay cay, mùi nén khử quyện với mùi mỳ tươi mới xắt thơm lừng. Rồi mùi nước mắm gừng, mùi thịt gà luộc, mùi xôi cẩm, xôi vang, mùi lá chuối gói bánh ú. Tất cả quyện vào nhau thành thứ hương vị rất riêng của ngày giỗ ở nhà cậu tôi.
Hôm ấy nhà cậu đông người lắm. Người lớn ngồi ở gian giữa, đàn ông uống trà nói chuyện mùa màng, đàn bà lui cui dưới bếp, còn đám con nít tụi tôi được dọn cho một bàn riêng bên hiên. Cái bàn thấp, phủ tấm ni-lông cũ in hình hoa đỏ đã phai màu. Mỗi đứa một cái chén, một đôi đũa, ngồi chen vai nhau và đứa nào cũng hí hửng. Bữa giỗ là dịp hiếm hoi để được ăn ngon.
Sau năm 75, cái gì cũng thiếu, bữa cơm nhà nào cũng đầy khoai lang khô cõng một vài hột cơm. Cơm trắng là thứ xa xỉ. Thịt cá thì chỉ có trong những bữa giỗ chạp như ngày hôm đó. Nhưng mẹ tôi và các dì rất khéo. Chỉ có một ít thịt mỡ heo và một con gà cộng với rau củ quả trong vườn, mẹ, mợ và các dì làm được những bữa giỗ thật thịnh soạn cho mấy chục người ăn.
Xin kể thêm về vài món đặc biệt trong bữa cỗ nhà ngoại. Trước hết là món chuối chần, một món mà đến bây giờ tôi vẫn thấy nước miếng tứa ra đầy miệng mỗi khi nhớ lại. Đó là những trái chuối hột non được cứa thành những lát thật mỏng nhưng vẫn còn dính nhau bên hông. Sau đó luộc lên, ép bỏ nước và nắn lại thành hình con tôm. Rồi bỏ những con tôm chuối ấy rim với tép mỡ. Ăn vào thì béo béo, bùi bùi, ngọt ngọt, mặn mặn, cay cay. Cứ như là một món hải sản hạng sang vậy.

Chuối chần
Một món nữa đã làm tôi ngạc nhiên vì tên gọi. Đó là những tô nước rang. Làm sao mà rang được nước chứ? Ấy vậy mà các dì tôi nấu được. Tôi không biết nấu như thế nào nhưng chỉ nhớ lần đầu tiên ăn món nước rang ấy. Tô nước rang có vài lát thịt heo nhỏ hình vuông kho màu nước mắm nổi chung với những gốc hành hương nửa xanh nửa trắng. Bỏ vào tô nước rang nóng hổi một nhúm cải cay xắt ghém với chuối chát kèm theo rau húng. Húp một cái và nhai với rau ghém cải xanh và chuối chát non. Mùi thơm chạm vào mọi khứu giác của tôi. Chao ơi! Sao mà nó ngon thiệt là ngon. Tôi chưa bao giờ nghe người miền nào có món ăn lạ lùng như món nước rang quê tôi. Chẳng biết vì ngày xưa đói nên ăn món gì cũng thấy ngon nhưng đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ hương vị của những món ăn dân dã ấy.

Nước rang
Tôi và mấy anh chị em họ chuẩn bị ngồi vào bàn tiệc dành cho đám con nít thì dì tôi nhìn ra cửa và nói lớn:
“Ông Bảy tới kìa. Dọn cho ổng một mâm đi.”
Đám con cậu dì tôi đẩy ghế chạy vụt ra sân. Tôi cũng đứng lên theo đuôi tụi nó. Tôi đứng trên hiên nhà nhìn ra ngõ. Một bóng người mò mẫm bước lên cái sân gạch nhà cậu tôi. Đó là một ông già ốm, vì ốm nên trông có vẻ cao. Tóc ông húi cua, một tay mang bị và một tay cầm cây gậy khua khua về phía trước. Cặp mắt ông nhướng lên giống như để thấy cho rõ hơn nhưng đôi mắt chẳng mở lớn thêm được một chút nào.
Mấy đứa con nhỏ của cậu dì tôi vơ lấy que củi khõ khõ xuống sân gạch.
“Đi qua phía ni nề ông Bảy!”
“Không, không, hướng ni. Chỗ nớ có bụi cây…”
“Phía bên ni nề, bên nớ có đống củi …”
Đám con nít í ới chỉ dẫn, khõ những cây củi xuống mặt gạch làm náo loạn cả một góc sân. Ông già đứng lại, cây gậy quơ quơ trong khoảng không, cái mặt hơi ngước lên, nghiêng nghiêng như lắng nghe phương hướng. Ông trông bình tĩnh chứ không tức giận hay lúng túng. Ông mím môi, lần từng bước chậm rãi.
Dì Ba từ trong bếp bước ra, rẽ đám con nít ra và la lớn.
“Nố ni hư quá! Tụi bây vô nhà ngồi xuống bàn đi.”
Rồi dì nhẹ nhàng với tay ra cầm cây gậy của ông già và nói:
“Ông Bảy đi theo tui nghe.”
Đám con nít vừa bước lui vô nhà vừa ngoái lại xem ông già quờ quạng theo dì tôi tiến vào hiên nhà. Dì dắt ông lên thềm, kê cho ông cái đòn ngồi ở góc hiên, nơi có bóng mát của cây mít đổ xuống. Dì nói:
“Ông Bảy ngồi đây nghe. Để tui đi lấy đồ ăn cho ông Bảy.”
Tôi đứng nép bên cột nhà nhìn ông cách tò mò. Từ trước tới giờ, tôi chưa từng thấy người mù ở gần như vậy. Tôi cứ nghĩ người mù thì không thể đi đâu xa, mà chỉ quanh quẩn trong nhà. Vậy mà ông già mù này lại tự chống gậy đến tận nhà cậu tôi, đúng vào ngày giỗ.
Tôi hỏi mấy đứa em họ.
“Ông Bảy là ai rứa?”
“Ông già mù đi xin ăn. Ổng không thấy đường mà đi đâu cũng tới hết.”
Một đứa khác chen vô:
“Ngày mô có đám giỗ là có ổng. Nhà mô trong xã ổng cũng biết.”
Tôi nghe vậy càng thấy lạ. Một người không thấy đường thì làm sao mà biết nhà nào có giỗ? Làm sao mà nhớ được từng lối đi, từng cái cổng, từng bụi tre, từng mô đất? Nhất là cái truông đá nhấp nhô dẫn vô nhà cậu tôi. Tôi đây sáng mắt mà nhiều khi đi còn vấp. Rồi con đường làng chật hẹp ngày ấy sát bên mép ruộng sâu mà tôi sém trượt chân té xuống mấy lần. Rồi tôi nghe các dì và mợ nói chuyện trong bếp,.
“Đời ông Bảy rứa mà sướng nghe. Ngày mô cũng có đồ ăn ngon.”
Có người cười:
“Ờ. Mình còn ăn khoai độn cơm, chớ ổng ăn cỗ có cơm trắng quanh năm.”
Câu nói ấy theo gió bay ra hiên. Tôi nhìn ông Bảy. Ông ngồi rất ngay ngắn và chờ đợi. Cái bị đặt bên chân, hai bàn tay gầy guộc để trên đầu gối. Áo ông đã cũ, bạc màu, vá chằng chịt. Cái quần nâu rộng thùng thình, nhăn nhúm cuộn rút lên gần đến gối. Bụi đường đen đúa bám trên đôi chân mốc thếch của ông.
Dì Ba bưng ra một mâm cơm mỗi thứ một ít với đầy đủ các món ăn như đã bày trên cái bàn cho đám con nít tụi tôi. Dì nói với ông già:
“Đây. Ông Bảy ăn đi. Còn hai cái bánh ú ni với cục xôi tui bỏ vô giỏ đem về ăn tối nghe.”
“Cảm ơn cô.”
Ông già thều thào đáp lại. Giọng ông khàn khàn, như tiếng gió luồn qua rặng tre khô. Ông nói tiếp:
“Cô cho tui xin ly nước.”
Dì Ba hỏi:
“Ông uống nước lá mùng 5 không?”
Tôi thấy hình như ông cười. Nụ cười rất nhẹ, chỉ động ở khoé miệng.
“Nước chi cũng được cô ơi.”
Nước lá mùng 5 là thứ nước đặc biệt của quê ngoại tôi. Mỗi năm vào giữa trưa ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch tức là Tết Đoan Ngọ, người dân quê tôi ra nổng hay lên rừng chặt những bụi cây có lá, chặt khúc dài bằng nửa lóng tay. Sau đó đem phơi khô rồi để dành nấu với nước uống thế trà. Người dân quê ngoại tôi nói rằng hái lá cây gì vào ngày Tết Đoan ngọ khi phơi khô xong cũng đều thơm giống như nước chè xanh. Tôi chưa từng thử nước lá của những ngày khác nhưng đã nếm thử nước lá mùng năm. Quả là thơm thật. Chẳng biết vì lá mùng 5 thơm hay tại vùng đất quê ngoại tôi làm cho nước lá thơm như vậy.
Dì Ba đem ra cho ông Bảy một ly nước có khói nóng bay lên.
“Nước đây bớ ông Bảy. Coi chừng nóng đó nghe!”
Ông đưa hai tay ra đỡ lấy ly nước và chậm chậm đưa lên miệng uống từng ngụm nhỏ. Xong vài hớp, ông đặt cái ly xuống cẩn thận, như sợ làm đổ mất lòng tốt của người ta. Từ trong bàn ăn của đám con nít, tôi nghiêng đầu nhìn qua vai của chị họ ráng xem thử ông già ăn uống như thế nào. Tay ông lần mò trên cái mâm, tìm đến tô mỳ bưng lên chậm rãi ăn. Trông ông không có vẻ của một người ăn xin bị đói bụng mấy ngày. Dầu đôi tay lọng cọng lùa những sợi mì vào miệng làm những cọng rau vươn vãi trên mặt trên cằm, nhưng ông có vẻ như đang thưởng thức một bữa ăn ngon, biết ơn từng miếng nhỏ.
Tôi còn nhỏ, chưa hiểu hết cái nghèo. Tôi chỉ biết mỗi ngày mẹ thường nhường phần ngon cho con, còn mình thì ăn miếng cháy, miếng khoai. Tôi chỉ biết mỗi lần có thịt cá là tụi tôi mừng như Tết. Vậy nên nhìn ông Bảy ăn, tôi vừa tò mò, vừa có chút ganh tị ngây thơ. Tôi nghĩ, “Đúng là ông Bảy sướng thiệt. Ngày nào cũng được ăn các bữa cỗ với các món ăn thật ngon.”
Chiều hôm đó khi ngồi phụ mẹ gọt khoai sau hè nhà cậu, tôi hỏi mẹ:
“Mẹ, cậu mời ông Bảy hả mẹ?”
Mẹ lắc đầu:
“Không ai mời biểu chi hết nhưng đám giỗ ở đâu ông Bảy cũng tới xin ăn. Nên nhà mô thấy ổng vô là cũng làm cho ổng một mâm.”
Tôi hỏi tiếp:
“Răng mà ổng biết nhà mình có giỗ mà tới?”
Mẹ trả lời:
“Ổng nhớ hết ngày giỗ của những người trong làng. Mà nếu ổng quên thì có người nhắc. Hoặc là khi ổng đi đường, ổng nghe người ta nói thì tìm tới. Trời cho. Người mù thì tai thính và nhớ dai lắm đó con ơi.”
Rồi mẹ kể thêm là ông Bảy Lấm không vợ, không con, bị làng mắt từ lúc sinh ra. Khi cha mẹ ông qua đời, ông ở trong căn nhà đó và hàng ngày đi vòng quanh xã tìm đến những nhà có giỗ để xin ăn. Thì ra dì tôi nói cũng đúng. Ông Bảy không phải ăn cơm độn khoai như bao nhà thời đó. Với mấy trăm nóc nhà trong xã, dường như ông được ăn cỗ mỗi ngày.
Từ đó, trong trí nhớ con nít của tôi, ông Bảy Lấm trở thành một nhân vật vừa tội nghiệp vừa lạ kỳ. Mỗi lần về quê ngoại ăn giỗ, nghe ngoài ngõ có tiếng gậy khua lộc cộc là tôi lại ra nhìn. Ông không chỉ đến nhà người ta để xin ăn cỗ, nhưng có khi ông ghé vô xin miếng nước. Nhằm khi trời mưa, áo ông ướt sũng, tóc dính bết vào trán, vậy mà ông vẫn cười khi nghe người ta hỏi:
“Ông Bảy lạnh không?”
“Lạnh chút rồi khô cô ơi.”
Ông nói câu gì cũng nhẹ như không. Như thể mọi sự trên đời, đói no, mưa nắng, có người thương hay không, đều là chuyện phải đi qua trong một ngày.
Lớn lên một chút, tôi mới hiểu câu “đời ông Bảy sướng” của người lớn. Không hẳn là lời khen, cũng không hẳn là mỉa mai. Đó là cách người quê tôi nói cho qua cái nghèo, cái khổ. Thấy ai bất hạnh quá thì không nỡ nói tội. Thấy ai nghèo mà còn có miếng ăn thì gọi là sướng. Cái chữ “sướng” ấy nghe nhẹ tênh mà phía sau là cả một đời tối mù, cô độc.
Học xong lớp 12, tôi rời Tam kỳ, rời cả con đường quê có hàng tre cong duyên dáng, rời mùi nước lá mùng 5, rời những bữa giỗ có tiếng dao thớt trong bếp và tiếng trẻ con cười ngoài sân. Dẫu vậy món chuối chần, nước rang và hình ảnh ông Bảy Lấm vẫn không rời tôi. Một lần về thăm mẹ và tôi lại hỏi chuyện những người trong làng quê ngoại và dĩ nhiên là có ông Bảy Lấm.
Mẹ kể ông Bảy Lấm qua đời lặng lẽ trong căn nhà cuối xóm. Người trong làng gom góp làm ma chay và chôn cất ông trong một miếng đất của làng cùng với bao nhiêu nấm mộ khác. Ông không có con cháu đưa tang nhưng nhiều người trong làng đã chung tay đưa ông đến phần mộ.
Nghe mẹ kể đến đó, tôi nghĩ, “Đời ông Bảy vậy mà cũng trọn. Lúc sống, ông đi qua hầu hết các nhà trong xã Tam thành và ăn bao nhiêu mâm giỗ. Lúc chết thì làng nước lo cho một đoạn cuối cùng.” Nhưng câu chuyện về ông Bảy chưa dừng ở đó.
Mẹ kể tiếp. Một ngày nọ, người trong làng thấy có người dẫn thợ hồ ra nghĩa địa của làng. Họ chở gạch, xi măng, cát, đá và bắt đầu xây một ngôi mộ tử tế. Kẻ đi qua, người đi lại, liếc nhìn thắc mắc. Ở làng quê, chuyện xây mộ không phải là lạ, nhưng lạ là ngôi mộ họ xây lại nhằm đúng chỗ mộ ông Bảy Lấm. Có người đứng xa nhìn, xì xầm:
“Ai tốt rứa hè?”
“Chắc bà con chi của ông Bảy ở xa về?”
“Làm chi có. Bà con ổng mình biết hết mà.”
Khi ngôi mộ đã xây gần xong, một người trong xóm không nén được tò mò đã đến gần hỏi.
“Cậu xây mộ cho ai đó?”
Người đàn ông lau mồ hôi:
“Dạ con đi làm ăn xa. Chừ cũng hơi kha khá nên về xây mộ cho ba con.”
“Cậu là con ông Bảy Lấm hả?”
“Dạ không phải.”
“Rứa răng cậu xây mộ cho ông Bảy Lấm?”
Người đàn ông đứng chết lặng. Thì ra lâu ngày xa quê, mộ đất giống nhau, người đó đã nhầm mộ ba mình thành mộ ông Bảy Lấm. Toán thợ xây ngừng tay chờ đợi. Người đàn ông đứng nhìn một hồi lâu rồi thở ra:
“Thôi, lỡ rồi. Cứ xây cho xong. Cũng là người làng mình.”
Vậy là ông Bảy Lấm, cả đời không vợ không con, không nhà cao cửa rộng, khi chết lại có một ngôi mộ xây tử tế vì một sự nhầm lẫn đầy nhân nghĩa.
Đây là một câu chuyện có thật ở quê ngoại tôi xã Tam thành, Tam kỳ, Quảng nam, Việt nam. Câu chuyện đời ông Bảy Lấm làm tôi nhớ tới câu Kinh Thánh, “Vậy, chớ lo lắng chi về ngày mai; vì ngày mai sẽ lo về việc ngày mai. Sự khó nhọc ngày nào đủ cho ngày ấy.” Ma-Thi-Ơ 6:34
Có lẽ ông là người đã sống đúng như vậy. Ngày nào khó nhọc đủ cho ngày ấy. Ngày nào có đường của ngày ấy. Ông không lo xa được vì đôi mắt không nhìn thấy phía trước. Nhưng có lẽ chính vì không nhìn thấy phía trước, ông học cách lắng nghe từng bước chân hiện tại. Cây gậy chạm đất ở đâu, ông biết mình đang ở đó. Tiếng người gọi từ đâu, ông quay về hướng đó. Mùi khói bếp bay từ nhà nào, ông lần theo nhà ấy. Và giờ đây tên ông đã được nhắc lại trong bài viết này. Có thể câu chuyện đời ông đã đi xa khỏi xã Tam thành, khỏi Tam kỳ, khỏi Quảng nam, khỏi Việt nam.
Và biết đâu một ngày nào đó sẽ có người tìm đến mộ ông. Họ có thể không biết mặt ông. Họ có thể chưa từng nghe tiếng gậy của ông. Nhưng họ biết rằng dưới nấm mộ kia là một người đã sống một đời lặng lẽ, nghèo khó, mù loà, mà vẫn được làng quê cưu mang bằng những mâm cơm giỗ và một ngôi mộ xây nhầm. Biết đâu!
Ở đời, có những điều dường như là tình cờ, nhưng nhìn kỹ lại thấy như có một sự sắp đặt dịu dàng của Thượng đế. Một người đi xa về xây mộ cho cha, lại xây nhầm cho một ông già không con. Một ông lão cả đời lần mò trong bóng tối, cuối cùng lại được bước vào ký ức sáng rõ của bao người. Một đứa trẻ năm nào tò mò nhìn ông Bảy Lấm ăn mỳ dưới mái hiên, nhiều năm sau ngồi trên bàn viết bên kia Thái bình dương kể lại câu chuyện của ông. Biết đâu chính những điều ấy là cách cuộc đời xoa dịu những phận người nhỏ bé.
Chiều hôm đó, trong ký ức của tôi, ông Bảy đang đi ra khỏi sân nhà cậu tôi. Cái bị cũ đeo bên vai. Cây gậy khua lộc cộc. Nắng chói chang đổ trên lưng ông. Đám con nít đứng im trên hiên nhìn theo ông chậm rãi khuất sau ngõ đá nhà cậu.
Cộc … cộc… cộc…
Tiếng gậy của ông như tiếng thời gian gõ xuống một miền quê nghèo mà ấm. Như tiếng một đời người đi qua bóng tối nhưng không đi một mình. Đời tôi cũng vậy. Tôi cũng đã nhiều lần tưởng đi một mình qua bóng đêm dày đặc ngỡ như không lối ra. Nhưng giờ nhìn lại mới thấy rằng luôn có Chúa cạnh bên trong những ngày đen thẳm đó.
Viết thêm 5/2026
Thuỷ Như
KIM LOAN – MỸ “CHẢNH” VÀ WORLD CUP

Mỹ “chảnh” & World Cup
Kim Loan
Nhớ hồi đi vượt biên, tàu đến Thailand, được vào trại nhỏ, chưa biết gì về cuộc thanh lọc, trong lúc trà dư tửu hậu (nói cho oai, chớ mới vào bờ, trà tửu đâu mà dư), chúng tôi hay hỏi nhau sau này thích đi định cư nước nào. Ngoại trừ những người có thân nhân ruột thịt ở các nước khác, hoặc vài trường hợp có lý do đặc biệt, còn lại hầu hết ai cũng nói như đinh đóng cột: “Tui muốn đi Mỹ!”
Hỏi sao Mỹ hổng “chảnh”?
Có thằng nhóc tì 9-10 tuổi được ba má cho đi theo người hàng xóm vượt biên qua trại, cũng chắc như bắp:
– Em cũng đi Mỹ!
Tôi liếc nó:
– Nhìn cưng là biết sinh sau đẻ muộn, sau ngày mất nước, có ân nghĩa gì với Mỹ, có liên can gì với Mỹ, mà cũng bày đặt tài lanh đòi đi Mỹ?
– Nhưng em vẫn muốn đi Mỹ cơ!
– Tại sao?
– Lúc má tiễn em xuống ghe, má dặn kỹ lắm, dặn đi dặn lại cả chục lần, bằng mọi giá phải cương quyết đi Mỹ nghen con, đừng đi nước nào khác.
– Má mày ngon dữ đa! Quăng con đi vượt biên rồi ngồi nhà ra lệnh cho nó phải đi Mỹ. Khôn như má mày quê chị đầy!
Thằng nhóc vênh mặt, tự hào:
– Dạ, má em còn biểu, đã tốn công vượt hiểm nguy trên biển, khi tới trại phải đi Mỹ cho đáng “đồng tiền bát gạo”.
Hỏi sao Mỹ hổng “chảnh”?
Sau này, tôi đậu thanh lọc, lên trại transit làm việc, tôi không làm post office nữa mà qua làm cho văn phòng Cao Ủy Định Cư Panatnikhom (PNK). Các phái đoàn Canada, Úc, Pháp, các nước Bắc Âu … vài ba tháng mới thay phiên nhau vào trại một lần. Họ mượn văn phòng Cao Ủy làm nơi phỏng vấn. Lúc ấy cả phòng chúng tôi ồn ào vui vẻ bận rộn, từ bà Cao Ủy người Thái, rồi nhóm phụ thông dịch, nhóm điền forms, nhóm đọc loa thông báo đồng bào có tên phỏng vấn . Không khí tấp nập một vài bữa, phái đoàn lại ra về, chúng tôi và nhóm phái đoàn bắt tay tạm biệt, hẹn gặp nhau khi phái đoàn sẽ quay lại phỏng vấn cho đợt sau.
Nhưng Mỹ “chảnh” thì không hề nhe! Mỹ “chảnh” không thèm mượn văn phòng Cao Ủy, Mỹ “chảnh” không thèm mượn nhân viên Cao Ủy, mà Mỹ “chảnh” mở riêng một văn phòng trong trại, treo cái bảng gỗ bên ngoài với cái tên rất oai phong: “JVA PNK CAMP-US. EMBASSY- REFUGEE SECTION”
JVA mở cửa mỗi ngày, vì số lượng người muốn đi Mỹ rất đông. Hễ có ai phỏng vấn xong, được Mỹ cho “đậu” là ra ngoài cửa la hét, nhảy tưng tưng, sung sướng, rồi mở tiệc đãi bà con chung lô xung quanh.
Hỏi sao Mỹ hổng “chảnh”?
Đó là chuyện ở trại, còn ở Việt Nam thì sao, chắc ai cũng biết. Các cán bộ, các “đảng viên” chửi Mỹ ra rả nhưng các con cháu của họ đều qua Mỹ du học, có thẻ xanh, định cư luôn bên Mỹ. Cho đến ngày nay, Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn ngày nào bất kể nắng mưa cũng có một hàng dài xếp hàng để xin Visa qua Mỹ.
Hỏi sao Mỹ hổng “chảnh”?
Còn thế giới? Mặc dù có nhiều cuộc xếp hạng “nước hạnh phúc nhất thế giới”, “nước an bình nhất thế giới”… Mỹ có thể đứng sau vài nước, nhưng sau khi “cộng trừ nhân chia” thì “Giấc Mơ Mỹ” vẫn là giấc mơ của rất nhiều người ở khắp nơi. Đồng Dollar của Mỹ là đồng tiền “uy lực” và phổ biến nhất hành tinh, bất cứ ai, dù là ở thành thị hay thôn quê, từ một ông lão cho đến thằng bé con, nhìn thấy đồng tiền Mỹ đều thốt lên: “America!”
Hỏi sao Mỹ hổng “chảnh”?
Đó chỉ là vài ví dụ “mở bài” (tuy hơi dài), để tôi đi vào chủ đề chính: Mỹ “chảnh” và World Cup sau đây.
Chúng ta, nhất là những người hâm mộ bóng tròn, đều biết giải FIFA (Federation Internationale De Football Association) World Cup kỳ này sẽ diễn ra từ ngày June 11 đến July 19/2026 do 3 nước Mỹ-Canada-Mexico đồng đăng cai.
Tới đây tôi xin mở ngoặc, tự nhận là “fan” bóng tròn, nhưng chỉ là “fan” của hai giải World Cup (thế giới) và Euro (Châu Âu) thôi nhe, còn mấy giải bóng tròn lẻ tẻ, như bên Châu Á, bên Việt Nam thì tôi hổng có hứng thú, nhỏ bạn thân nói tôi chảnh, chỉ toàn xem giải lớn, (hổng lẽ tôi lây bệnh của… Mỹ “chảnh”?).
Dù sao, tôi cũng phải thú nhận, là giống như nhiều phụ nữ xem World Cup khác, tôi xem bóng tròn với cảm tính nhiều hơn, vì cho đến bây giờ tôi chẳng rành rọt mấy cái luật lệ túc cầu, chẳng biết thế nào là “việt vị”, xin đừng hỏi tôi thế nào là “phạt góc”, khi nào bị “phạt đền”, thế nào là “ném biên”, vì tôi càng… không biết. Nhưng tôi biết một điều cơ bản, là khi banh vào lưới là ghi bàn. Còn nữa, kể từ khi lần đầu tiên biết đến World Cup Tây Ban Nha 1982, tôi đã liên tục là cổ động viên sốt sắng, không thiếu một mùa giải nào cho đến nay, kể cả lúc ở trại tỵ nạn Thailand tôi vẫn xem trọn các trận của World Cup Italy1990, vậy là đủ “tiêu chuẩn” làm “fan” World Cup rồi nhỉ.
Trở lại mùa World Cup năm nay, công bằng mà nói, Mỹ và Canada là hai quốc gia không có thành tích bóng tròn nổi bật, hầu như người dân chỉ mê xem Hockey, Football, còn Soccer thì chẳng mấy ai quan tâm. Nhưng nước Mỹ, vốn giàu có và không chịu thua kém ai chuyện gì, cũng đã từng được đăng cai World Cup năm 1994, và bắt đầu bỏ tiền đầu tư cho đội tuyển bóng tròn quốc gia. Canada cũng theo đàn anh, cố gắng vực dậy đội bóng (nam) của mình, nhưng thực tế vẫn chỉ nhích lên chút đỉnh, chưa thể được xếp vào hạng cao của làng bóng tròn thế giới. Nhưng như đã nói, Mỹ “chảnh” lại muốn đăng cai World Cup lần nữa, nhưng xét thấy khó được FIFA chấp thuận, nên Mỹ đã nhanh ý kéo theo hai “đứa em” cùng xóm là Canada và Mexico đồng đăng cai, và kết quả là có World Cup năm nay, 2026, do xóm Bắc Mỹ chủ trì theo thứ tự vai vế: Mỹ, Cà, và Mễ. (Tôi xin gọi tắt Canada là xứ Cà, giống như dân Việt mình ở Mỹ gọi San Francisco là San Fran, hoặc Philadelphia là Phila).
Chồng tôi tự hào:
– Mỹ phải cám ơn Canada và Mexico, vì nhờ có hai nước này mà Mỹ mới được đồng đăng cai.
Tôi mỉm chi:
– Anh đùa cũng dzui hen. Thôi đừng có mơ cưng ơi! Mà chính chúng ta, xứ Cà và xứ Mễ phải cám ơn Mỹ mới phải đó đa!
– Ừ thì thôi vậy, cả ba nước đều mang ơn nhau, vậy là huề. Mà sao Mỹ khôn quá chừng, tổ chức ở 3 nước mà đa số các trận đấu đều diễn ra ở Mỹ, là sao??
– Thì Mỹ giàu, Mỹ giỏi, Mỹ… “chảnh”, nên Mỹ có quyền, còn Canada mình hiền lành, sao cũng được, cho thế giới hòa bình. Anh quên đã từng nói với em rằng, Canada như một nàng xinh đẹp, hiền hoà, đôn hậu, còn Mỹ là cô gái năng động, xông xáo, đáo để, thích bênh vực bảo vệ những kẻ yếu kém, giữ vai trò chủ chốt, dẫn đầu về mọi mặt. Và người đời, ai cũng yêu mến cô gái dịu dàng, đằm thắm, nhưng lại bị lôi cuốn, quyến rũ và thú vị được khám phá cô nàng có cá tính, chút kiêu hãnh, chút thông minh, đúng không? Thôi đừng ganh tị với Mỹ nữa, hàng xóm với nhau cả mà.
Mới khuyên chồng bớt “sân si” với hàng xóm thì vài ngày sau đến lượt tôi… tự ái:
– Ủa Ủa!! Sao kỳ vậy ta! Giải World Cup kỳ này, trận bế mạc sẽ diễn ra tại sân MetLife Stadium ở New Jersey, Mỹ thì em không có ý kiến, nhưng tại sao trận khai mạc lại là ở Mexico City Stadium mà không phải xứ Cà của chúng ta? Mễ nghèo hơn, yếu hơn ta mà! Tại sao và tại sao!?
Bây giờ là lúc chồng tôi đóng vai trò cản cơn nóng của cô vợ chả hiểu gì về bóng tròn:
– Em à, đúng là Mễ nghèo hơn ta, nhưng dù sao “nó” có chút thành tích bóng tròn hơn hẳn trong cái xóm Bắc Mỹ này đấy. Trận bế mạc, anh Mỹ xứng đáng được hưởng vì ảnh… nổi tiếng, còn trận khai mạc đương nhiên phải thuộc về em Mễ thôi, hiểu chửa?
Tôi rầu rĩ chịu thua:
– Té ra, xứ Cà của tụi mình mãi mãi… khiêm nhường.
Chồng lại tự hào:
– Nhưng Canada lại là nơi bình an nhất trong giải World Cup kỳ này đấy. FIFA vừa có bài viết, phản ảnh nỗi lo ngại của cổ động viên khắp nơi, họ đang ngại đến Mỹ khi chiến tranh với Iran vẫn còn lay lất, Mỹ thắt chặt an ninh, thiếu nhân viên TSA phi trường sẽ quá tải lượng du khách, và họ cũng ái ngại đến Mexico vì mới đây có mấy vụ xả súng ở khu du lịch, băng đảng thanh toán lẫn nhau. Chỉ có Canada xứng đáng là sứ giả Hòa Bình, một đất nước xinh đẹp hiền hòa, không gây thù chuốc oán với ai hết á, du khách đến đây tha hồ ăn ngon ngủ kỹ.
– Ừ nhỉ, xứ Cà mình cũng có điều tuyệt vời đấy chớ!

Văn Phòng Tòa Đại Sứ Mỹ “Chảnh” tại trại tỵ nạn Panatnikhom (PNK) Thailand thập niên 80s-90s
Chị Cả của tôi ở Texas, là một “fan” của World Cup, cũng thuộc loại “fan” chẳng hiểu luật bóng tròn nhưng vẫn đam mê, hai chị em sôi nổi bàn chuyện World Cup kỳ này, chị hỏi:– Trận đầu tiên của đội Mỹ gặp đội nào vậy?
– Mỹ sẽ gặp Paraguay vào ngày 12 tháng 6 đó chị! Chị sẽ xem và ủng hộ Mỹ chớ!?
– Đâu có, chị mong cho Mỹ… thua!
– Ủa, gì mà ngược đời vậy trời? Công dân Mỹ mà hổng ủng hộ đội nhà là sao!
– Dân Mỹ có mấy ai mê đá banh đâu, vả lại bây giờ họ chỉ quan tâm đến…giá xăng, để đội Mỹ thắng cũng uổng, vì nếu Mỹ thắng chỉ có một số người vui, thà để cho những đội mà cả dân tộc cả đất nước thổn thức, điên cuồng reo hò chiến thắng, vậy mới xứng đáng.
– Chị nói cũng có lý, vậy khi nào Canada thi đấu, em cũng sẽ ủng hộ đội… đối phương. Rồi sau khi Mỹ và Canada bị loại, hai chị em mình thảnh thơi, sẽ bàn tính sẽ ủng hộ đội nào vô địch, hen!?
Hai vợ chồng tôi thì đã hào hứng từ hai năm trước rồi kìa, chồng tôi nổi hứng:
– Chả mấy khi “xóm Bắc Mỹ” góp mặt đăng cai, các trận đấu ở Canada sẽ có vài trận ở Toronto quê hương bên nội và bên Mỹ cũng có vài trận đấu ở AT&T Stadium, Arlington Texas quê hương bên ngoại, chắc tụi mình đi coi cả hai nơi, mỗi nơi một trận, coi “live” cho sướng, cho biết “mùi” với người ta!
– Ối dào, giá cả không hề rẻ đâu, còn phải tranh giành mua nữa, chưa chắc đã có vé.
– Đâu khó khăn đến thế, ngay cả các trận đấu vòng bán kết, tứ kết, chung kết, FIFA cũng có cách sắp xếp cho cổ động viên khắp các vùng miền có thể mua vé, giá cả thì tùy chỗ ngồi, tụi mình cứ mua hạng “cá kèo” ngồi xa chót vót, giá rất phải chăng, vừa túi tiền chúng mình.
– Vậy thì ngồi ở nhà xem, màn hình tivi lớn, các pha ghi bàn được quay lại cận kề, coi vẫn sướng hơn ra ngoải, hạng “cá kèo”, lại tốn tiền.
– Vậy chớ ai, khi Đức Giáo Hoàng Francis qua Edmonton hồi năm 2022, thức cả đêm nôn nao, rồi cố dậy sớm kiên quyết xếp hàng đi xem lễ cho bằng được, dù chỉ là ngồi xa tít mù khơi ở Commonwealth Stadium!?
Tôi quê xệ:
– Thì đến đó tận hưởng cái không khí thiêng liêng, náo nhiệt…
Chồng cướp lời:
– Thì World Cup cũng thế, chúng ta muốn hòa vào cái đám đông trên sân cỏ, trên khán đài, xung quanh trận đấu, những cảm giác đó ngồi ở nhà làm sao có được.
Chúng tôi vẫn còn trong giai đoạn suy nghĩ thì được tin, có đứa cháu bên chồng sẽ làm đám cưới đầu tháng Chín này tại Italy, tha thiết mời gia đình chúng tôi tham dự, kết hợp đi chơi Châu Âu. Coi như “số trời” đã định, chúng tôi phải dành ngày nghỉ đi đám cưới, và đương nhiên, sẽ xem World Cup… tại nhà!
Không sôi động như Châu Âu, không điên cuồng như Nam Mỹ, cũng chẳng cháy bỏng khát vọng như Á Châu, nhưng tôi cảm nhận một số dân Canada cũng thích bóng tròn. Ở đây, có cả một kênh thể thao phục vụ mùa World Cup, có phóng viên đến tận nơi để tường thuật, rồi trên ti vi là người anchor ngồi giữa, có hai bình luận viên nhà nghề để hầu chuyện khán giả mọi chuyện trong và ngoài trận đấu. Giữa hai hiệp và kết thúc trận đấu luôn luôn có phần chiếu lại những pha gay cấn, những cú sút ghi bàn đẹp, rồi tiên đoán kết quả trận sắp tới. Tôi xem tivi không lãng phí một giây phút nào, vì ngay cả phần quảng cáo của các nhà sponsors lừng danh như CocaCola, MasterCard, Adidas… đều có những màn quảng cáo đặc biệt xuất sắc cho riêng mùa World Cup.
Ở đâu tôi không biết, chớ ở Edmonton thành phố của tôi, từ đầu tháng Năm đã thấy người hâm mộ mặc những chiếc jerseys của các đội bóng yêu thích, nào áo vàng Brazil, áo cam Holland, đỏ sậm Mexico, xanh ngát France, trắng tươi viền đỏ cam của Germany, xanh dương sọc trắng Argentina, làm lòng người hâm mộ cũng thấy vui.
Có lẽ Canada là xứ sở đón nhận mọi sắc dân trên thế giới nên World Cup cũng có chút không khí xôn xao. Chạy xe một vòng xuống downtown Edmonton, các quán bar treo cờ các đội vào World Cup để… dụ dỗ người ta vào uống bia, ăn nachos, chicken wings và xem các trận đấu trên màn hình thật lớn. Các tiệm bán đồ thể thao bán các áo thun các đội tuyển World Cup, giá từ 100 đến 200 đô một cái, ông xã tôi cũng đã bon chen gom góp hơn chục áo từ mấy mùa trước, năm nay đem ra mặc tiếp. Còn có cả cờ các quốc gia để gắn trên xe, năm nay Canada tham dự với tư cách đồng chủ nhà World Cup nên tôi sẽ treo cờ Canada, chạy xe khắp nơi, đi làm, đi chợ, để cờ xứ Cà bay phấp phới oai hùng cho đến khi đội Canada bị…loại rồi mới dám treo cờ đội khác, kẻo bị goánh!
Tới đây, tôi lại xin… mở ngoặc lần thứ hai, World Cup kỳ này cũng là lần đầu tiên giải mở rộng cho 48 đội tham gia thay vì 32 đội như trước đây, vậy mà hổng thấy có tên Việt Nam (đã từng “tự hào” đạp cả Châu Á dưới chân). Thôi vậy cũng may mắn cho các… bà mẹ của các trọng tài, bởi mỗi lần đá thua là cổ động viên chúng nó (cái nhóm biết bố mày là ai không) lại gào lên chửi “ĐM trọng tài”, tội lắm!
Nhưng có lẽ tiếc hùi hụi là các quan chức cán bộ của ngành Thể Dục Thể Thao, lỡ dịp được xách va li đi “công tác” thì ít mà “tranh thủ” đi “tham quan” xứ Bắc Mỹ kết hợp mua sắm quà cho vợ con và cho… bồ nhí ở nhà.
Khi bài viết này được lên báo thì World Cup đã đang gần kề, tôi nao nức chờ nghe bài hát “Lighter”, một trong những ca khúc World Cup 2026 sẽ được chính thức vang lên trong mùa giải.

KimLoan và ông xã, chụp trước AT&T Stadium, Arlington, Texas nơi sẽ có vài trận đấu của World Cup 2026
Bài hát do ca sĩ nhạc đồng quê Mỹ Jelly Roll, ca sĩ Mexico Carín León thể hiện, nghệ sĩ Canda Circut sản xuất, là sản phẩm chung của “xóm đăng cai”, dễ thương ghê nơi!
Đang viết tới đây, đến giờ tôi phải xuống dưới nhà dọn bữa cơm chiều, chồng thấy tôi liền hỏi:
– Em ơi, em đã gửi bài Mỹ “chảnh” và World Cup cho báo chưa? Vì có tin mới nhứt, em sẽ vui đấy.
– Chuyện gì, hấp dẫn không anh?
– FIFA vừa thông báo, vì World Cup 2026 do xóm Bắc Mỹ đồng đăng cai, nên Lễ Khai Mạc sẽ diễn ra ở cả 3 nước Mỹ, Canada và Mexico.
– Cụ thể là như thế nào?
– Từ từ để anh nói hết! Này nhé, ngày đầu tiên là June 11 sẽ là Lễ Khai Mạc tại Mexico City của Mễ.
– Rồi sao?
– Rồi ngày hôm sau, June 12, Lễ Khai Mạc sẽ tại Los Angeles của Mỹ và tại Toronto, Canada, dĩ nhiên là giờ khác nhau để toàn thế giới sẽ được thưởng thức đầy đủ.
Tôi vui vẻ:
– Có thế chứ! Cùng là đồng đăng cai, cũng phải để cả 3 nước được khoe nét đẹp của quê hương mình. Mặc dù Mexico được ưu tiên làm Lễ Khai Mạc ngày đầu tiên, nhưng mà thôi, hổng có ganh ghét sân si nữa, “cả xóm Bắc Mỹ” cùng vui! Vậy tụi mình phải nghỉ làm hai ngày liền để xem Lễ Khai Mạc ư?
Từ nhiều năm nay, vợ chồng tôi, hễ vào những ngày “quan trọng” như ngày bầu cử… Mỹ, ngày khai mạc giải World Cup, Euro, Olympic là đều nghỉ làm để ở nhà xem “live” trên tivi. Chồng tôi là “big boss” nên chàng tự động sắp xếp ngày nghỉ rồi nói với staff là chàng “làm việc ở nhà”. Còn tôi, phải báo trước với supervisor ngày nghỉ vì “nhà có việc”, cũng may là “sếp” của tôi không biết tiếng Việt, chớ nếu đọc được bài này, biết “nhà có việc” là gì, thì sẽ mệt với “sếp” đấy.
Trong tình hình thế giới còn nhiều điều lo âu, biến động do tình hình chiến tranh vùng Trung Đông, mong rằng ngày hội World Cup năm nay sẽ mang đến một làn gió mát của hy vọng, đoàn kết, hòa bình, thân ái đến cho nhân loại khắp năm châu.
Và những cổ động viên của bóng tròn trên toàn thế giới thân mến, xin cứ vững tin và cùng cầu nguyện “xóm Bắc Mỹ” chúng tôi sẽ cống hiến các bạn một mùa đăng cai tuyệt vời!
Để kết thúc bài viết, tôi xin được tặng các “fan cuồng” của World Cup câu chuyện mới sưu tầm:
Hai cha con trên đường đi xem một trận đấu World Cup, gần tới sân thì ông bố chợt nhớ là đã để quên vé ở nhà, nên sai con trai chạy nhanh về nhà lấy.
Cậu bé về tới nhà thì nghe tiếng mẹ và một người đàn ông lạ trong phòng ngủ. Cậu vội cầm tấm vé rồi chạy ra sân bóng thì thầm với bố, vừa thở không ra hơi vừa lắp bắp thông báo với bố rằng mẹ có bồ.
Ông bố thở phào:
– Mày làm bố hết cả hồn, bố cứ tưởng mày không tìm thấy vé cơ chứ!
Kim Loan – Edmonton, Tháng 6/2026
Cánh Đồng Quê Hương
VTLV WELCOME VĂN THI SĨ LÊ XUÂN MỸ

*
*VĂN THƠ LẠC VIỆT CHÀO MỪNG LÊ XUÂN MỸ
VĂN THƠ vườn nội lại tươi màu
LẠC VIỆT chào người mới đến sau
XUÂN MỸ kỹ sư thời nước thịnh
BÁCH KHOA đại học thuở quê giàu
Bài đưa chuyển tải tình man mác
Truyện viết truyền lưu ý dạt dào
Thung Lũng Hoa Vàng hoa nở rộ
Mừng LÊ XUÂN MỸ! Thật vui nào!
Phương Hoa – JUN 3, 2026
*

*
Tóm Tắt Tiểu sử tác giả Lê Xuân Mỹ :
*Tên thật và cũng là bút hiệu: Lê Xuân Mỹ
*Lê Xuân Mỹ năm 1951 tại Huế, Việt Nam.
Tốt nghiệp: Kỹ sư điện tử Đại Học Bách Khoa Saigon năm 1974.
*Cha là Sĩ quan Cảnh Sát đi tù CS từ 1976 và chết trong trại K2 Tân Lập Vĩnh Phú năm 1979
Sau khi định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1998, Lê Xuân Mỹ tiếp tục gìn giữ và phát triển niềm đam mê viết lách như một cách lưu giữ ký ức và kết nối với cộng đồng người Việt hải ngoại.
Sáng tác các thể loại: Bút ký, tản văn, và tùy bút, viết về nước Mỹ dưới góc nhìn của một người Việt xa xứ.
Giải thưởng:
* Giải Nhất cuộc thi Viết Về Nước Mỹ 2023 của Việt Báo, California.
* Giải Vinh Danh Tác Phẩm Viết Về Nước Mỹ 2021.
*Giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2019.
*Hiện là hội viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Tây Nam Hoa Kỳ
*Là Tân thành viên trong Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Tây Nam Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2027 -2029.
+
SÁNG TÁC
MẸ VẪN NGỒI CHỜ NGOÀI KHUNG CỬA
Mùa đông ở San Jose năm ấy đến sớm hơn mọi năm, những cơn mưa lạnh kéo dài làm cả thành phố chìm trong một màu xám buồn không dứt. Trong khu nursing home nằm yên lặng phía nam thành phố, ngày nào cũng giống ngày nào, tiếng television mở nhỏ trong phòng sinh hoạt, tiếng xe lăn chậm chạp trên hành lang, và mùi thuốc sát trùng quen thuộc của tuổi già. Ở căn phòng cuối dãy lầu hai, bà Lan ngồi cạnh cửa sổ, lặng lẽ nhìn ra khoảng sân nhỏ nơi những chiếc xe ra vào mỗi ngày. Bà đã chín mươi ba tuổi, tóc bạc mỏng, gương mặt hằn dấu thời gian và bệnh tật, bàn tay lúc nào cũng giữ chặt chiếc khăn xanh đã cũ như một thói quen không ai hiểu. Bà mắc bệnh Alzheimer nhiều năm, trí nhớ rời rạc như những mảnh giấy bị gió cuốn đi, có hôm quên cả tên mình, có hôm gọi nhầm con cháu, có khi nhìn người thân mà không nhận ra, nhưng lạ lùng thay, bà không bao giờ quên một điều duy nhất: chờ con, chờ cháu.
Những đứa con của bà sống rải rác khắp nước Mỹ. Người ở California, người ở Texas, người tận New York. Cuộc sống của họ đầy đủ va bận rộn . Họ làm việc trong các hãng lớn, đi họp, đi công tác, đi du lịch, cuối tuần là những chuyến bay, những kỳ nghỉ ở Las Vegas, Hawaii, châu Âu hay cruise trên biển Caribbean. Trên mạng xã hội, hình ảnh của họ luôn rực rỡ, nhà hàng sang trọng, ly rượu vang, những nụ cười trong nắng, những chuyến đi xa đầy trải nghiệm. Họ thành đạt, họ vẫn yêu mẹ, vẫn nói về mẹ, nhưng thời gian để quay về San Jose, ngồi xuống bên mẹ, thì ngày càng ít đi. Họ luôn có một lý do rất hợp lý: bận công việc, bận lo con cái, cuộc sống không dừng lại được, và rồi họ tự an ủi rằng mẹ ở nursing home đã có người chăm sóc tốt, có y tá, có bác sĩ, có mọi thứ cần thiết.
Nhưng với bà Lan, điều cần thiết nhất lại không phải thuốc men đầy đủ hay sự chăm sóc chuyên nghiệp, mà là một gương mặt quen thuộc ngồi bên cạnh bà vào mỗi buổi chiều.
Ngày bà mới vào nursing home, các con còn đến đều đặn. Người con trai cả còn chỉnh lại hướng tivi cho bà nhìn rõ hơn, người con gái út còn mang đến tô phở bà thích nhất, những đứa cháu còn chạy quanh hành lang cười nói. Nhưng rồi từng tháng trôi qua, những chuyến ghé thăm thưa dần. Ban đầu là bận công việc, sau đó là bận gia đình, rồi dần dần trở thành “tuần sau sẽ về”, “tháng sau sẽ ghé”, “đợi con rảnh hơn một chút”. Và những lời hứa đó cứ kéo dài mãi mà không bao giờ thành sự thực. Bà cứ chờ đợi tronh hiu hắt, trong mỏi mòn.
Nhưng cũng có những ngày mà các con bà luôn nhớ. Mother’s Day, những đứa con ở xa luôn nhớ đến mẹ. Họ đặt những bó hoa rất đẹp gửi về nursing home, hoa hồng trắng, hoa lan tím, có khi cả những bó hoa nhập khẩu đắt tiền. Nhân viên mang hoa vào phòng bà Lan, đặt cạnh giường, kèm theo những tấm thiệp viết rất đẹp: “Mom, we love you”, “We miss you so much”, “Happy Mother’s Day”. Mỗi lần như vậy, bà Lan nhìn hoa rất lâu, vuốt từng cánh hoa như cố nhớ điều gì đó đã xa. Có lần bà hỏi y tá: “Ai gửi vậy con?”, người y tá mỉm cười nói: “Con bà đó”, nhưng bà chỉ gật đầu, ánh mắt trống rỗng vì không còn nhận ra đó là ai.
Ở ngoài kia, ngày lễ Mẹ, những đứa con lại là những người bận rộn nhất với việc “thể hiện tình yêu”. Họ đăng hình hoa lên Facebook, viết những dòng trạng thái xúc động về mẹ, về sự hy sinh, về tình mẫu tử. Họ nhận được rất nhiều lời khen từ bạn bè: “Hiếu thảo quá”, “Thương mẹ quá”. Nhưng ngoài những dòng chữ ấy, vẫn không có một chuyến bay nào về San Jose.
Có những năm, người con trai cả định về nhưng lại có cuộc họp quan trọng ở Seattle. Người con gái út định ghé nhưng con bị ốm. Người con trai thứ nói sẽ về sau nhưng rồi lại bận rộn cho chuyến đi cruise với nhóm bạn thời đại học. Và thế là Mother’s Day năm nào cũng có hoa gửi về, nhưng không có người ngồi xuống bên mẹ.
Trong khi đó, bà Lan ngày càng yếu đi. Alzheimer khiến bà quên nhiều hơn, nhưng cảm giác chờ đợi thì vẫn còn nguyên. Mỗi chiều bà vẫn ngồi cạnh cửa sổ, nhìn ra parking lot, mỗi tiếng xe dừng lại là một lần hy vọng, rồi lại một lần im lặng. Có những buổi chiều mưa, bà ngồi rất lâu, không nói gì, chỉ nhìn ra ngoài như đang tìm một điều mà chính bà cũng không còn nhớ rõ. Cô y tá người Phi làm việc ở đó nhiều năm nói rằng người già không cần nhiều thứ, họ chỉ cần biết có người đang nhớ đến họ thật sự.
Một lần vào dịp lễ, nursing home vắng hơn vì nhiều người được đón về nhà. Bà Lan vẫn ngồi một mình trong phòng. Hoa Mother’s Day năm đó vẫn được gửi về như mọi năm, rất đẹp, rất trang trọng, nhưng bà chỉ hỏi một câu quen thuộc: “Con tôi chưa tới hả?” Không ai trả lời. Không ai có thể trả lời một câu hỏi đã lặp lại quá nhiều năm.
Rồi một ngày mùa đông, bà Lan qua đời trong giấc ngủ. Không đau đớn, không vật vã chỉ như một ngọn đèn cạn dầu leo lét tắt. Cũng có thể bà đã chờ quá lâu và cuối cùng cũng buông tay. Nursing home gọi điện cho các con lúc sáng sớm. Chỉ vài tiếng sau, những đứa con từ khắp nơi vội vã bay về San Jose. Người con trai cả khóc ngay từ sân bay, người con gái út khóc trên xe, người con trai thứ khóc khi bước vào hành lang bệnh viện.
Tang lễ được cử hành trọng thể với con cháu nội ngoại gần năm mươi vành khăn tang. Một đám ma thật lớn mà lâu lắm mới thấy lại ở Oakhill Memorial Park. Trong tang lễ, họ là những người khóc nhiều nhất, ôm nhau, kể lại kỷ niệm, kể về mẹ, về sự hy sinh, về những ngày thơ ấu, về những ngày đầu tiên đến Mỹ, về tình yêu không bao giờ quên.
Một gia đình con cháu rất hiếu thảo, đẹp trai đẹp gái và thành đạt. Ai cũng trầm trồ khen bà có phước. Nhưng những người từng làm việc ở nursing home thì nhớ một điều rất khác. Họ nhớ những buổi chiều bà Lan ngồi bên cửa sổ, nhớ ánh mắt bà nhìn ra parking lot, nhớ những bó hoa Mother’s Day đẹp đẽ nhưng không có người đi cùng, nhớ những câu hỏi lặp đi lặp lại: “Con tôi sắp tới chưa?”
Một năm sau, ngày giỗ đầu, gia đình lại tụ họp rất đông. Nhà hàng sang trọng, bàn tiệc đầy đủ, ảnh mẹ đặt trang trọng ở giữa. Bà con nội ngoại được mời dự đông đủ. Họ chụp hình, đăng mạng xã hội, viết những lời xúc động về mẹ, kể về những nỗi nhớ thương của năm đầu tiên vắng mẹ. Nhưng trong tất cả những điều đó, điều mà bà Lan từng cần nhất khi còn sống lại không bao giờ quay trở lại được nữa: một buổi chiều có con cháu ngồi bên cạnh, một bữa cơm bình thường, một tiếng gọi “mẹ ơi” giữa đời thật, không phải trong ký ức hay trên tấm thiệp hoa gửi về mỗi năm.
Và rồi, giữa những tiếng cười nói và cả những giọt lệ trong buổi giỗ đầu, có một khoảnh khắc rất nhỏ mà không ai để ý. Khi mọi người đang chụp hình, người con gái út bỗng nhìn di ảnh mẹ rất lâu. Cô không nói gì, nhưng nước mắt cứ rơi xuống từng giọt, không kịp lau. Không phải vì hôm nay, ngày này năm trước mẹ mất, mà vì trong một khoảnh khắc rất muộn, cô mới nhớ lại có những buổi chiều mẹ ngồi một mình bên cửa sổ ở nursing home, vẫn nhìn ra parking lot, vẫn chờ một chiếc xe mà có lẽ đã không bao giờ dừng lại nữa.
Ở nước Mỹ này, có những nỗi buồn không ồn ào, không bi kịch, không oán trách nhưng lại kéo dài suốt đời trong im lặng. Đó là nỗi buồn của người mẹ ngồi chờ con trong viện dưỡng lão, và những đứa con chỉ kịp hiểu ra tình yêu ấy khi mọi thứ đã trở thành ký ức.
Có những giọt nước mắt trong tang lễ là nước mắt của tình thương. Nhưng cũng có những giọt nước mắt là của muộn màng. Và nỗi đau sâu đậmnhất không phải là khi mất mẹ, mà là khi nhận ra đã có một người từng chờ mình rất lâu, rất lâu… trong cô đơn lặng lẽ, mà mình đã không còn kịp quay về.
Lê Xuân Mỹ
San Jose -Tháng 5, 2026
Nghệ Sĩ ĐỨC HÙNG: BÀI HÁT NÓI 693

**
*Lời Ban Biên tập VTLV: Cảm Ơn Nghệ Sĩ Đức Hùng Đã Hồi Âm Một Bài Hát Nói, Thể Loại Dân Ca Dân Tộc Việt Xưa Mà Hiện Tại Còn Rất Ít Người Biết Sáng Tác, sau khi anh đọc bài tường thuật của Phương Hoa: “Lễ Tốt Nghiệp Lớp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng” do TS Nguyễn Hồng Dũng sáng lập, hồi cuối tuần rồi. Thật là quý hóa vô cùng!
HÁT NÓI
BÀI 693
“Thay Vì Họa”
(Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Nữ Sĩ Phương Hoa đã chuyển đến một bài Bút Ký vô cùng hay đẹp mang tựa đề “Bài Tường Thuật Ngày Lễ Tốt Nghiệp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng”.
Tựa đề bài Hát Nói này trích từ hồi âm của Phương Hoa.)
“Thay vì họa”! Đó là lời của Phương Hoa, “Bà Hoàng Bút Ký”!
“Trám chỗ ngay” bằng bài tường thuật Lễ Tốt Nghiệp Lớp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng”! Hết ý! Quá hay!
Viết đã như “chiếu phim phóng sự”! Hình minh họa thì đẹp rõ nét! Nhưng không có tên tuổi trình bày?
Chắc là “quá khiêm cung” nên xảy ra cảnh tượng “ kiến kỳ hình” này! Nhưng “bất tri danh tánh”!
Thay vì Hát Nói liền “nghiêng gánh”!
Họa lại Ca Trù? Vội “chuyển nghề”!
“Nghề Của Nàng”! Đang ở trên “đỉnh non cao”, ngào ngạt hương quê!
“ Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”! Bút Ký Phương Hoa! Ai đọc phải là “mê như điếu đổ”!
Văn Học Việt Nam phong phú, đa dạng! Trải khắp bốn phương, kim cổ!
Cảm ơn Nữ Sĩ Phương Hoa đã “Hồi Âm Có Dấu”! Bổ ích tuyệt vời!
Thay vì họa! Viết ngàn lời!
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 02/06/2026
NGUYỄN HỒNG DŨNG: Thăng Hoa Cuộc Đời – TẬP 150, 151, 152, 153, 154, 155.
==
==
==
==
==
HỒNG THỦY: Hồi Ký NGÀY XƯA HÀ NỘI

NGÀY XƯA HÀ NỘI
Hồng Thủy
Tôi là Bắc-kỳ chính cống nhưng lại mở mắt chào đời ở miền Trung khi bố tôi đổi ra làm việc ở Bến Thủy thuộc tỉnh Vinh. Nơi có núi Hồng Lĩnh thật đẹp và nổi tiếng, mà người ta thường gọi tắt là núi Hồng. Bố mẹ tôi đã lấy tên núi Hồng với Bến Thủy ghép lại để đặt tên cho tôi là Hồng Thủy. Tên tôi có nghĩa thật mơ mộng, hiền hòa, chứ không phải ghê gớm, hãi hùng như nạn lụt lội hồng thủy. Sau đó ít lâu, bố tôi đổi về làm việc ở Thanh Hóa. Do đó tôi lớn lên ở Thanh Hóa, nơi có hòn Vọng Phu, có hang Từ Thức, có chợ Rừng Thông , có Cầu Bố, Quán Mật nổi tiếng
Gia đình tôi hồi cư về Hà Nội năm tôi 10 tuổi.Cảm giác đầu tiên khi đặt chân lên đất Hà Nội là tất cả đều mới lạ, huy hoàng, tráng lệ. Khác hẳn với Thanh Hóa đổ nát, xơ xác, hoang tàn vì bom đạn, vì chiến tranh tàn phá.
Hồi ở Thanh Hóa, tôi phải tản cư về làng Sơn Lương. Một làng nhỏ thật thơ mộng, với những dẫy núi đá xanh, những đồi hoa sim tím, nhưng cũng thật nghèo nàn, đơn sơ. Quanh năm chỉ thắp đèn dầu, không hề có điện, nên tôi chẳng bao giờ được nhìn thấy cục nước đá hay những que kem.
Ngày đầu tiên vừa đặt chân đến Hà Nội, tôi được ông anh họ dẫn ra tiệm kem Cát Thành, mua cho một cây kem dâu màu hồng.Tôi cầm cây kem, sung sướng ngắm nghía mãi, rồi mới thận trọng mút thật nhẹ. Tôi chậm rãi nhâm nhi để thưởng thức cái mát lạnh, thơm thật thơm của cây kem, cho đến khi ông anh phải nhắc:
– Em không ăn nhanh nó chảy ra hết bây gìờ.
Với tôi , đó là cây kem đầu tiên và cũng là cây kem ngon nhất trên đời.
Thời gian này, mẹ gửi anh em tôi ở với ông Nội để Mẹ vào Huế lo bán nhà. Ông bà ngoại tôi có một ngôi nhà rất lớn ở số 5 Đường Saigneau Huế , sau này đổi là đường Lý Thường Kiệt. Bây giờ họ đã phá ngôi nhà đầy kỷ niệm của gia đình tôi để xây thành HOTEL thật lớn , sang và thật đẹp.
Ông nội tôi là Thầy Lang Thuốc Bắc rất giỏi và mát tay. Ông mở tiệm thuốc bắc Tiền Vàng ở phố Hàng Bột, Hà Nội , gần Văn Miếu (Quốc Tử Giám) và Bích Câu Kỳ Ngộ.
Về Hà Nội tôi ghi tên đi học lại ngay ở trường Trần Hưng Đạo do GS Nguyễn Văn Toại (là thân phụ giáo sư Nguyễn Ðông Ngạc của trường Trưng Vương sau này). làm HiêuTrưởng
Trường đối diện với Văn Miếu nên giờ ra chơi tôi thường cùng các bạn chạy sang Văn Miếu chơi đi trốn đi tìm.
Ngày nghỉ anh em tôi cùng vài người bạn hay thuê xe đạp nhỏ , đạp xe chạy lòng vòng chơi ở đường Cổ Ngư. Ðường Cổ Ngư là con đường rất thơ mộng ngăn giữa Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch , quanh năm suốt tháng rợp bóng mát vì những cây phượng vĩ và những cây bàng lớn trồng dọc suốt hai bên đường.
Chúng tôi hay vào chùa Trấn Quốc lấy cục đá to hơn nắm tay, cố đập dập những hột bàng, lấy nhân ở trong ra ăn thật là bùi. Tôi thích lòng vòng quanh quẩn ở hồ Trúc Bạch hơn là ra phía Hồ Tây, vì Hồ Tây lúc đó dưới mắt tôi nó rộng mênh mông như biển cả,làm tôi rất sợ bị chết đuối.
Trên đường về, chúng tôi thường ghé vào “Bích Câu Kỳ Ngộ “chơi. Ở đây phong cảnh rất đẹp. Không hiểu sao sau này nhân dịp về Hà Nội lo phần mộ cho bố tôi. Tôi không sao tìm được ‘Bích Câu kỳ ngộ ‘ nữa. Hỏi rất nhiều tài xế Taxi cũng không ai biết tại sao một di tích thần thoại nổi tiếng như vậy mà có thể biến mất luôn.
Một kỷ niệm thời thơ ấu không thể quên là một hôm đi chơi ở đường Cổ Ngư. Tôi bị vạt áo dài quấn vào dây xích xe đạp làm tôi xém ngã, và bị rách nát cả vạt áo dài mới may. Tôi ngồi khóc
thút thít suốt cả buổi, vừa sợ bị mắng, vừa tiếc chiếc áo dài lụa màu vàng mơ Mẹ mới may cho
Nhắc tới kỷ niệm ở phố Hàng Bột khiến tôi nhớ đến cô bạn hàng xóm Dương Thị Nhị sau này định cư ở San Jose đã cùng tôi chơi nhảy dây, đánh chuyền. Cô bạn thời thơ ấu đó sau này cũng là
bạn đồng môn với tôi ở trường Trưng Vương. Nhưng rất buồn là bạn tôi qua đời đã mấy năm rồi.
Hồi đó, bọn trẻ tụi tôi mê nhất là món nước gạo màu trắng đục bán ở góc vườn hoa, gần chợ Con Bò của phố Hàng Bột. Nước gạo uống ngon và thơm thật là thơm. Tôi biết họ làm bằng gạo rang xay, thường gạo rang có mầu nâu nhưng không biết họ làm cách nào mà nước gạo lại có màu trắng đục như sữa loãng
Từ ngày rời Hà Nội, tôi không bao giờ còn được thưởng thức món nước gạo thật ngon đó nữa. Cuối tuần, tôi luôn luôn được Ông Nội cho đi ăn cơm thịt bò xào cải làn ở tiệm Ðông Hưng Viên
món ăn mà cho tới bây giờ ở tuổi già tôi vẫn còn rất thích. Có hôm còn được ăn bánh tôm ở quán Mụ Béo rất nổi tiếng gần bờ hồ Hoàn Kiếm. Ngoài ra còn được ăn Cơm tám giò chả và nem cua rán (chả giò) ở phố Hàng Bông cũng ngon tuyệt. Chủ Nhật tan lễ, Ông Nội còn dắt tôi đi Ăn phở Giảng ở phố Cầu Gỗ. Sau đó hay đi ăn kem dừa ở tiệm Hồng Vân gần Hồ Hoàn Kiếm. Nhưng Món quà rẻ tiền mà hấp dẫn trẻ con chúng tôi nhất lại là những quả sấu cắt khoanh tròn ngâm trong nước đường và gừng với cam thảo, sấu dầm ăn hoài không bao giờ chán, ăn đến phát đau bụng mới thôi. Buổi tối trời hơi lạnh mà được ăn lạc rang húng lìu của ông già người Tầu đi bán rong với tiếng rao khàn đục kéo dài “phàn xôi phá xa …” thì không còn gì thích thú hơn .
Những món ăn đăc biệt của Hà Nội còn có cốm Vòng. Những hạt cốm dẹp màu xanh được bọc bởi những chiếc lá Sen xanh mướt. Cốm vòng ăn dẻo và thơm ngon vô cùng. Quà Hà Nội còn rất nhiều, tôi không sao nhớ hết được.
Tôi hay theo thím Diễn (vợ giáo sư Nguyễn Duy Diễn chuyên dạy Việt văn ở Hà Nội là chú ruột tôi) đi chợ Cửa Nam ở phố Sinh Từ gần nhà. Thỉnh thoảng Thím cũng dẫn tôi đi chợ Ðồng Xuân.
Luôn tiên dạo phố Hàng đào xem tơ lụa vải vóc.
Bố tôi chết sớm, tôi lại mới ở vùng Việt Minh trở về. Mẹ tôi phải đi Huế lo bán nhà để lấy tiền mua nhà ở Hà Nội. Không có mẹ ở gần, nên tôi được cả họ nội cưng chiều, dẫn đi đây đó.
Chủ Nhật nào ông nội cũng dẫn tôi đi lễ nhà thờ Ðức Bà ở gần Ngõ Huyện. Ði lễ xong là được đi ăn cơm Tầu hoặc ăn phở, ăn kem và đi dạo xung quanh hồ Hoàn Kiếm. Tôi thích đi bộ dán mắt vào tủ kính nhà hàng Godard để ngắm những bộ quần áo và nữ trang đắt tiền. Lạ một điều, tôi chỉ thích ngắm, nhưng không bao giờ mơ ước những bộ quần áo kiểu cọ đó.
Hình ảnh tôi mê nhất vẫn là những cô gái Hà Nội mặc áo dài, được trang điểm thêm bằng những chiếc khăn quàng mỏng đủ màu, nhẹ nhàng, phất phơ trong gió.
Những phim tôi thích nhất thời đó, không phải là phim ngoại quốc mà là hai phim Việt Nam rất người lớn. Phim“Bến Cũ” và “Giá Hạnh Phúc” do Liên Hương, Bích Ngà và Hoàng Vĩnh Lộc (nếu tôi không nhớ nhầm) thủ vai chính.
Dù còn bé, tôi đã biết thưởng thức nhạc và rất thích bài hát “Bến Cũ” có trong phim.
Tầu điện cũng là một hình ảnh của Hà Nội rất quen thuộc với tôi, vì tầu điện chạy qua lại nhà ông nội tôi mỗi ngày. Thỉnh thoảng tôi cũng được đi tầu điện. Tôi không thể quên ông già chuyên môn quảng cáo bán thuốc ho Bà Lang Trọc và thuốc Hồng Nhi tán Ông Tiên trên tầu điện. Tiếng rao hàng đặc biệt của ông ấy luôn làm tôi cười ngặt nghẽo.
Tôi vừa thi đỗ tiểu học xong, thì hiệp định Genève chia đôi đất nước. Gia đình tôi dọn xuống Hải Phòng trong lúc CS sắp tiếp thu Hà Nội. Mẹ tôi có một ngôi nhà ở Đường Bonnal HẢI PHÒNG nhìn ra con sông trước mặt với hàng cây phượng vĩ đầy hoa đỏ thắm và có cây cầu đưa mọi người trong khu phố tôi ở đi chợ SẮT ở phía bên kia sông
Ở Hải Phòng một thời gian ngắn, thì chúng tôi phải giã từ đất Bắc, di cư vào Nam, làm quen với miền mưa nắng hai mùa.
Thời gian đầu ở Sài Gòn, tôi nhớ Hà Nội da diết. Nhớ hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Hồ Trúc Bạch. Nhớ những hàng cây đầy hoa Phượng đỏ thật đẹp và con đường Cổ ngư với bao kỷ niệm. Nhớ trường Trần Hưng Đạo với những tình cảm thơ ngây không thể nào quên . Nhớ những giờ ra chơi quanh quẩn bên những con rùa khổng lồ làm bằng đá xanh xám ở Văn Miếu mang bảng tên các Tiến sĩ , ông nghè, ông cống thuở xưa . Buồn cười là không nhớ ai xúi mà trước khi đi thi Tiểu học chúng tôi đã rủ nhau vào Văn Miếu xoa vào các đầu rùa để lấy hên. Nhớ cả khu “Bích Câu Kỳ Ngộ “mà bây giờ bỗng dưng bị biến mất thật lạ kỳ. Hai món quà đặc biệt tôi nhớ nhất và chẳng bao giờ được thấy ở miền Nam là nuớc gạo và sấu dầm. Hai món tủ của thời thơ ấu.
Tôi ở Hà Nội có hơn hai năm, nhưng tình với Hà Nội thì lại quá tràn đầy. Bởi Hà Nội cho tôi toàn những kỷ niệm thật đẹp. Hà Nội chào đón tôi với đầy tình thương, với tất cả sự nuông chiều. Với những ngày tháng thật vô tư sung sướng. Hà Nội Và tôi như một cặp tình nhân mới yêu nhau. Tình đang nồng thắm đã phải chia lìa. Hỏi sao tôi không nhớ, hỏi sao tôi không thương, dù Hà Nội đã nghìn trùng xa cách.
Hồng Thủy
VĂN -THÚY MESSEGEE: Xe “Hại Điện”

Xe “Hại Điện”
Cuối năm 2018, tôi tậu một chiếc Tesla Model 3. Tôi không có thói quen vài ba năm lại đổi xe mới cho sang, mà giữ truyền thống có xe nào là lái cho đến khi nó chết bẹp chết dí, khoảng gần 200 nghìn miles hay đến tuổi mười tám đôi mươi mới thay. Năm đó chiếc Camry đã đến tuổi hưu cần phải thay xe mới để chạy qua chạy lại từ tiểu bang Maryland sang Virginia kiếm cơm mỗi ngày. Tính tôi lại thích bảo vệ môi trường, không thích đốt xăng dầu làm độc không khí. Năm 2018, Tesla còn khá mới trên thị trường, nhất là Model 3 vừa được tung ra cho giới tiêu dùng hạng trung, có ngân quỹ khiêm tốn, không thể với tay đến loại Model X giá cả trăm nghìn đồng. Thường thì ta không nên thử thời vận với những xe vừa được tung ra thị trường. Chúng còn quá mới, thế nào cũng có sơ sót khi gặp thực tế, đợi vài năm sau nhà chế tạo rút kinh nghiệm thì tốt hơn. Tuy nhiên, thời điểm đó, nếu tôi ôm một chiếc Camry nữa hay loại gì tương đương về dùng thì sẽ phải gắn bó với nó ít nhất hơn chục năm nữa, làm sao có cơ hội dùng xe điện để thỏa chí bảo vệ môi trường. Thế là một liều ba bảy cũng liều, tôi nhắm mắt đưa chân rước một em Model 3 về.
Dùng rồi mới thấy thích. Nó êm ru bà rù, không phát tiếng động rầm rĩ như xe xăng. Những ngày kẹt xe ngồi cứng trên xa lộ tôi vui trong bụng rằng mình không nhả khói làm ô nhiễm môi trường như cả nghìn xe khác chung quanh. Xe điện chạy như máy may điện ở nhà: đạp ga thì nó đi, khi thấy đèn đỏ từ xa cứ việc rút chân ga ra thì nó mất điện nên từ từ dừng lại, không phải đạp thắng. Chỉ dùng thắng trong trường hợp phải thắng gấp để tránh tai nạn. Nó không cần thay dầu nhớt, dầu hộp số, không thay bố thắng thường xuyên vì ít phải đạp thắng, không đại tu hay tiểu tu. Điều bất tiện cho nhiều người là nạp điện tốn thời gian. Tôi đi làm về gắn ống nạp điện tại nhà theo hệ thống chậm, qua đêm là đủ để đi làm ngày hôm sau. Cuối tuần nạp suốt 24/24, đầu tuần lại đầy bình đi làm trở lại. Khi đi đường xa thì khoảng 4 tiếng phải “đổ xăng”, nhưng đó cũng là lúc tài xế cần “xả nhớt” hay mua nước giải khát ; khoảng 45 phút là lên đường trở lại.
Đến cuối năm 2025 thì chiếc Tesla chưa đến tuổi hưu nhưng lại vướng phải một lỗi khá lớn: nó chỉ có thể nạp điện theo cấp bậc 1 tại nhà, chậm nhất, mất khoảng 24-48 tiếng mới đầy bình, hay cấp bậc 2, dùng điện 240 volt (mà nhà tôi không có) khoảng 4, 5 tiếng. Cấp bậc nạp điện nhanh nhất tại các trạm Supercharger của Tesla dọc theo xa lộ là cấp 1, chỉ mất độ 45 phút, thì xe tôi nó “chê” không chịu làm việc. Đi đường trường xa mà không ghé supercharger để nạp điện được thì tựa như cưỡi ngựa què rồi, hỏng bét. Đồ đạc càng hiện đại thì càng hại điện. Tìm hiểu trên mạng thì vấn đề này tốn độ 1 nghìn 6 để chỉnh lại. Sẵn dịp tôi cũng muốn “tút” lại nhan sắc cho nó một tí sau nhiều lần cọ quẹt trầy trụa chỗ này chỗ nọ làm mất đi sắc đẹp thuở xuân thì. Xưởng sửa chữa thân xe (body shop) của Tesla bảo tôi chụp hình vài tấm gửi cho họ rồi phán: hơn 10 nghìn đồng!
Thế này thì quăng nó đi, ẵm một em mới về cho rồi. Dịp Giáng sinh là lúc mình có thể làm ông già Lô Ên tự thưởng quà cho mình. Tiền giảm thuế $7500 của chính phủ dành cho ai tậu xe điện đã hết hạn từ tháng 9, nhưng Tesla có deal đặc biệt giảm giá $6500 cho những người thuê xe (lease). Thế là bút sa gà chết, tôi ký hợp đồng thuê xe 3 năm.
FSD Full Self Driving – Hệ thống tự lái
Chiếc xe mới có hệ thống lái xe tự động FSD – Full Self Driving, muốn dùng phải trả thêm giá $99 một tháng, hình như trả đến 8 nghìn thì đủ, khoảng gần bảy năm. Hệ thống lái xe tự động cho phép mình khỏi lái, chỉ ngồi chơi xơi nước để “nó” lái cho mình. Nghe như chuyện khoa học giả tưởng mà có thật. Tôi đang hứng chí “chịu chơi chơi tới cùng” nên đặt bút ký luôn. Người ta bảo muốn trẻ lâu thì mỗi năm làm một điều mới mình chưa làm bao giờ. Điều ấy là đây: dùng xe tự lái. Tự thấy mình vẫn còn sáng suốt có thể tiếp tục lái đi đây đó như hằng mấy chục năm nay, nhưng càng lớn tuổi càng hay gặp những điều bất ngờ. Hôm nay khỏe mạnh đàng hoàng, sáng mai ngủ dậy không đứng lên được nữa; hay tai bỗng ù đi, ai bảo gì cũng “Hả? Hả?”; hay mắt bỗng mờ đi không thấy đường, v.v. Nhiều ông bà cụ hàng xóm trong làng già, nơi tôi ở, ngày càng thu hẹp việc lái xe đi lại. Hoặc là họ chỉ lái xe ban ngày, tránh ban đêm; hoặc chỉ lái trong nội bộ làng già, tránh ra đường xá đông đúc bên ngoài; hoặc bỏ lái xe hẳn, chỉ đón xe bus hay kêu Uber khi cần đi lại. Tôi thì thích khám phá mới, và cũng phòng khi mình cần lái xe đường dài 4, 5 tiếng như đi lên New York chẳng hạn, hay đi họp hành tiệc tùng ban đêm, ra về lúc khuya khoắt mệt mỏi, thì để “nó” lái mình đi cho khỏe!
Lớn tuổi rồi tập tành cái gì mới cũng bỡ ngỡ. Gặp thế hệ Gen X, Gen Z thì chuyện chẳng có gì mà ầm ĩ. Chúng nó sẽ tắc lưỡi : “Ối dào! Dễ như ăn cơm sườn!” Mình thì cứ bình tĩnh mà run! Tesla cũng rất cẩn thận, đòi hỏi tất cả các điều kiện “ắt có và đủ” mới chịu khởi hành. Phải buộc dây an toàn, chân phải nhấp thắng thì nút “tự lái” mới khởi động được, không thì nó mờ đi, bấm vào cóc có di chuyển. Sau đó thì nó bắt đầu thi công. “Nó” bẻ tay lái, nhìn trước sau qua lại, nhấn ga, lùi ra khỏi garage, đạp thắng, xoay đầu xe, tiến tới, cứ như tài xế thật đang điều khiển xe. Mắt “nó” không biết để đâu nhưng quan sát chung quanh rất kỹ. “Nó” thấy những lane xe trên đường, thấy xe cộ trước mặt hay bên cạnh mình, thấy đèn xanh đèn đỏ, thấy bảng Stop, thấy khách bộ hành đang băng qua đường hay vẫn còn đang đứng đợi bên góc đường, thấy xe bus đang bật đèn đậu lại rước khách thì đổi lane; thấy cả những xe đang đi bên cạnh bỗng chốc quẹt sang trước mặt mình một cách bất ngờ, v. v. Những điều “nó” thấy đều hiện lên trên màn hình trước mặt để mình theo dõi và trấn an. Đừng có lo, để “nó” lo cho.
Ba phong cách tự lái
Hệ thống tự lái này cho mình lựa chọn một trong ba “phong cách lái” tùy theo tuổi tác và tính khí của mình.
Thoạt tiên “nó” chọn cho tôi phong cách “rùa bò – sloth”. Ối giời ơi! Xe di chuyển chậm chạp như cụ già, nhất định tôn trọng vận tốc cho phép một cách nghiêm nhặt. Đường giới hạn 35 miles một giờ thì “nó” cương quyết giữ vững 35! Khi ngừng Stop thì dường như “nó” lẩm bẩm đếm “một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười!” rồi mới đủng đỉnh xê dịch! Giời ơi! Lái kiểu “rùa bò” này thì ra đường chúng chửi, mà mình cũng sốt ruột điên tiết, nghiến răng kèn kẹt không chịu được.
Thế là tôi đổi sang hệ thống “cơ bản – standard”. Loại này nhanh nhẹn hơn và hơi trái luật “trong phạm vi cho phép” Vận tốc cho phép là 35 miles thì “nó” chạy phom phom ở tốc độ 40 miles. Đây đúng là tính khí của tôi. Trên đời này nào có ai giữ đúng tốc độ cho phép bao giờ, tôi luôn vượt lên chút đỉnh “trong phạm vi cho phép”! Ra ngoài xa lộ vận tốc 55 thì “nó” dũng cảm vượt lên 65-70 để không thua chị kém em đang chạy cùng trên đường. Thế mới phải chứ! Khi ngừng Stop thì “nó” chỉ đếm đến ba rồi đi, không nằm ụ như hệ thống “rùa bò – sloth”. Tôi đã chọn phong cách lái hợp với tính khí của mình.
Ngoài ra còn có phong cách “hung hăng – aggressive” nhưng tôi chưa dám thử. Nghe nói phong cách này sẽ thường xuyên vượt tốc độ lên đến 120%, lạng qua lạng lại, đổi lane liên tục để rút ngắn thời gian, v.v. Loại phong cách này ta thấy nhan nhãn trên đường, nhất là lúc tan sở kẹt xe. Nếu Tesla không tạo ra phong cách tự lái hung hăng này thì thế nào cũng bị khách hàng tẩy chay. Tôi thì tôi để cho lũ trẻ chọn phong cách hung hăng, mình lớn tuổi rồi, an toàn là chính. Đôi khi cũng hơi thắc mắc: hung hăng đến mức độ nào? Nếu xe chạy quá tốc độ hay quá hung bị pú lít phạt thì ai trả tiền phạt nhỉ? Có thể gửi giấy phạt về cho Tesla được chăng? Rồi ai chịu trách nhiệm khi bảo hiểm tăng tiền? Người ta kiện Tesla ra ba tòa quan lớn đấy chứ! Muốn biết thì phải thử cho biết, nhưng thôi, tôi đành ngồi nhà chịu dốt.
Để xe tự lái cho mình có sướng không?
Cái gì mới, lạ cũng phải tập cho quen mới thấy thích được. Cũng như khi mới có hệ thống định vị GPS, mọi người phải học vừa lái xe, vừa nhìn đường, vừa liếc nhìn bản đồ, vừa lắng nghe “lệnh” phát ra từ máy. Đối với hệ thống tự lái cũng vậy. Khi phải ngồi yên như bụt trên chùa, để xe tự lái tôi mới thấy mình trở lại bản tính “back seat driver” ngày xưa khi còn ông xã. Ông lái xe còn mình “lái tài xế”, mồm liên tục la lối ối a: “Thắng! Thắng! Đèn đỏ kìa!” ; “Coi chừng! Có xe bên cạnh! Đừng sang lane!”; “Quẹo! Quẹo! Tới chỗ quẹo rồi!”, v.v. Bây giờ ngồi với hệ thống tự lái của Tesla, mình tính một đàng còn “nó” nghĩ một nẻo. Tính tôi nếu biết sẽ phải quẹo trái cách đó 3 miles là tôi tìm cách sang lane trái ngay từ bây giờ. Tesla thì không. “Nó” cứ tà tà ôm lane phải, đến còn 0.3 hay 0.2 mới chịu bật đèn hiệu sang lane! Sốt ruột lắm, nhưng nghĩ cho cùng “nó” vẫn thực hiện được điều cần làm, còn tôi thì cứ nhắng nhít không yên! Để “nó” lái đưa mình đi mà nhiều khi ruột nóng như lửa đốt, tiếng Anh gọi là “bụng thắt lại một nùi”.
Tuy nhiên, có những lúc “nó” xuất sắc hơn người trần mắt thịt như mình. Lần đó tôi lái xe sang Virginia, đang trên xa lộ 495 thì mưa tuôn xối xả, nước đập ào ào lên mặt kính xe cứ như mình đang vượt thác Niagara! Lúc đó tôi hoàn toàn không thấy đường, chỉ thấy nước đổ dày đặc trên cửa kính. Nếu mình đang lái thì chắc phải bật đèn khẩn cấp rồi ráng tách vào lề tạm ngừng lại giây lát. Trong khi đó thì “nó” vẫn chạy phom phom! Mắt mình nhìn vào kính xe trước mặt (windshield) chẳng thấy chi, còn “nó” nhìn dưới lòng đường hay trên trời đâu đó, và thế là “đường ta ta cứ đi”! Phục quá!
Những lúc khác thấy quý “nó” là những lúc đường kẹt xe phải nhích từng chút một. Ngày xưa còn đi làm, đến chiều lái xe về nhà sau một ngày vất vả mệt mỏi, tôi sơ nhất cảnh kẹt xe gần như đứng chựng lại. Mình cứ căng mắt ra nhấp thắng, nhấp ga, nhấp thắng, nhấp ga, vừa cố bám đuôi xe trước, vừa cố giữ khoảng cách nhỏ để không ủn đít nó. Lái xe một giờ với vận tốc 10-20 miles còn mệt hơn lái một giờ vận tốc 60 miles rất nhiều. Bây giờ để “nó” lái thì tôi ngồi tỉnh bơ, nghe radio hay mơ mơ màng màng, mackeno, bao giờ đến thì đến.
Ngày xưa lúc còn ông anh, tôi hay đưa mẹ tôi lên thăm anh, sáng đi chiều về, lái độ hơn 3 tiếng mỗi chiều. Ra về, xuôi Nam vào buổi trưa hay bị mặt trời chiếu vào mặt, vừa chóa mắt vừa buồn ngủ, cứ phải căng mình lái cho tỉnh táo. Bây giờ ông anh đã mất nên không lên New Jersey nữa. Nếu có đi thì sẽ để hệ thống tự lái làm bác tài, bà chủ cứ lim dim gật gù cho khỏe.
Đối với những quý vị cao niên như tôi, mắt mờ dần, não chậm dần, tay chân bắt đầu lạng quạng, thì vẫn lái xe đi lại được, chưa đến nỗi gây tai nạn khủng khiếp, nhưng phải tội hay cọ quẹt trầy xước đây đó. Cũng rầu lắm chứ. Để “nó” lái thì bảo đảm xe lành lặn trơn tru. Bình thường tôi dùng hệ tthống xe tự lái độ 30 phần trăm, còn lại thì mình tự lái. Cũng muốn giữ tay nghề, và thật ra ngồi cho “nó” lái thì mình vẫn phải ngồi quan sát chăm chú, đâu dám bỏ lơi.
Những cái “ dở hơi “ của xe tự lái
Tesla luôn cố gắng cải thiện hệ thống tự lái, chẳng hạn như gần đây “nó” biết tránh ổ gà hay những ụ nổi (bump) trên đường khá tốt, chứ lúc đầu dở lắm. Tuy nhiên, hệ thống tự lái của Tesla vẫn chưa hoàn hảo. Có lúc bản đồ bảo đến đó thì quẹo mà nó đi trớt quớt, sau đó phải vòng lại tốn kém thì giờ. Sau này mỗi lần thấy sắp “lỡ chuyến đò” là tôi cướp tay lái bắt nó quẹo ngay. Có những lúc đang chạy bon bon bỗng “nó” kêu “keng” một tiếng rồi ngưng hệ thống tự lái! Thế này là thế nào? “Nó” bảo mình một cách ngon ơ: “Thôi bây giờ không lái nữa, bà tự lái đi nhé!” Thế là mình phải ra tay lèo lái, đến lúc nào đó nút “tự lái” bật lên lại thì mới được quyền bấm nút ra lệnh cho “nó” lái tiếp. “Nó” còn màu xám xịt là không được ép “nó”, bấm vào chẳng ăn thua gì. Tôi nhận xét hình như những lúc xe cộ nhốn nháo hỗn loạn, “nó” không dám xử lý tình hình nên giao trách nhiệm cho bà chủ liệu lấy. Không sao, để bà tính cho, chứ bà cũng không tin tưởng mày lắm đâu!
Điều tôi không ưng ý lắm là khi vào bãi đậu, “nó” hay tìm chỗ đậu xa xa, không dám chen vào nơi chen chúc ngay trước cửa hàng cửa tiệm. Hay có lẽ tại tôi chọn phong cách lái “căn bản – standard”? Nếu chọn cách lái hung hăng thì nó có mạo hiểm hơn không? Chẳng biết được nhưng vào đến bãi đậu thì tôi hay giành tay lái đến đậu đúng chỗ mình muốn.
Những lúc “nó” muốn đi một đàng mà mình muốn đi một nẻo thì mình có quyền cướp tay lái làm theo ý mình. Khi mình giành tay lái, dẹp “nó” qua một bên thì “nó” bật lên câu hỏi: “Tại sao bà không để tui lái?” và cho bốn câu trả lời để mình chọn: 1- Navigation (mi đi lộn đường rồi, ta phải sửa lại); 2- Preference (mi lái không hợp ý ta, ta phải giành lái theo kiểu ta thích); 3- Discomfort (mi lái ta không cảm thấy thoải mái); 4- Critical (nguy kịch, cần phải giành lái với mi không thì có tai nạn). Thường thì tôi chọn câu trả lời “Preference”. Ừ tao thích lái kiểu của tao hơn!
Cách đây chục năm tôi đã nghĩ đến lúc mình mắt mờ, tai lãng, đầu óc mụ mị thì cần phải dùng xe tự lái. Lúc đó chuyện tự lái vẫn còn như khoa học giả tưởng. Những năm đó mình còn nghĩ tếu: ngồi xe tự lái không biết có lúc nào phải lên tiếng năn nỉ “nó”: Làm ơn dừng lại cho ngộ lái chút đi. Không dừng lại ngộ lái ướt xe hết bi giờ!” Bây giờ nhớ lại cứ tủm tỉm cười một mình. Muốn lái thì cứ bảo “nó” dừng lại cho mình lái, ai cấm đâu. “Lái” theo nghĩa nào cũng vậy!
Thúy Messegee, 5/2026