GS/TS MAI THANH TRUYẾT, 3 BÀI VIẾT: “Hồn Dân tộc qua việc Dạy và Học…” – “Chính Sách Thuộc Đia của Pháp và…” – “Lịch sử Đảng CS trong chương trình giáo dục…” – “SỰ SUY YẾU CỦA QUYỀN TUYÊN CHIẾN CỦA QUỐC HỘI HOA KỲ” –
CA KHÚC SỐNG ĐỘNG: DẬY MÀ ĐI GÌN GIỮ GIANG SAN – THƠ NGUYỄN PHƯƠNG THÚY – NHẠC TRUNG VIỆT
==
NGẮC NGOẢI ĐẾN BAO GIỜ
Nguyễn Phương Thúy
Ông Tô Lâm – Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Ông cũng là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, và Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Còn chức nào ông chưa tóm? Đúng là độc tôn, độc trị!) đến China từ ngày 14 đến 17 tháng 4 năm 2026. Đây là một bước đi ngoại giao đầy quan trọng – cấp nhà nước, trên cương vị là lãnh đạo cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này không chỉ dừng lại ở những cái bắt tay xã giao; đó là một nỗ lực thúc đẩy thực hành nhanh chóng Chiến lược “3+3” (*), nhằm củng cố “Cộng đồng chia sẻ tương lai” – một cách nói hoa mỹ để diễn tả việc họ đang gắn kết nền kinh tế và an ninh của nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết. Tô Lâm trông có vẻ sung sướng, hãnh diện với sự đón tiếp long trọng của China. Các ông lớn mặc âu phục, các bà lớn cũng mặc quốc phục hiện diện sát bên. Nội các China dàn hàng chào danh dự. Tô Lâm bắt tay muốn rụng tay! Càng ngày hình thức ngoại giao càng giống các nước tự do. Con tắc kè thay màu quá lẹ nhưng cái cốt lõi thì vẫn ẹ như xưa! Việt Nam và China đã ký kết hơn 32 thỏa thuận vào ngày 15 tháng 4 năm 2026, tập trung vào các lĩnh vực:
Hải quan & thương mại: Đây là một bước tiến vô cùng to lớn, bởi thương mại giữa hai quốc gia đã hơn 250 tỷ USD trong năm 2025. Hai bên cũng đang triển khai mô hình “cửa khẩu thông minh” nhằm đẩy nhanh tốc độ vận chuyển hàng hóa.
Cơ sở hạ tầng & đường rầy sắt: Trọng tâm phát triển đô thị và kết nối các tỉnh phía Bắc của Việt Nam với mạng lưới đường sắt cao tốc của China chính là một “con đường một chiều”. Một khi những đường rầy ấy đã được lắp đặt theo tiêu chuẩn của China, Việt Nam sẽ bị ràng buộc chặt chẽ về mặt vật lý với China trong suốt 50 năm. Trong nhiều thập kỷ, Việt Nam vẫn duy trì khổ đường rầy sắt khác biệt, nhằm ngăn chặn nguy cơ bị xâm lược dễ dàng. Bằng việc chuyển sang áp dụng các tiêu chuẩn của China, Việt Nam đang thực sự hội nhập về mặt vật lý vào hệ thống hậu cần (logistics) của China. Đây chính là sự thống trị mà không cần chiến tranh. Nếu China nắm quyền kiểm soát hệ thống đường rầy, công nghệ tín hiệu cũng như nguồn tài chính, họ sẽ nắm giữ chiếc “công tắc bật/tắt” đối với nền kinh tế xuất khẩu của Việt Nam.
An ninh chuỗi cung ứng: Nhằm bảo đảm các chuỗi cung ứng xuyên biên giới sẽ không bị gián đoạn bởi những biến động chính trị trên phạm vi toàn cầu.
Du lịch: Phát động chương trình “Năm Hợp tác Du lịch Việt Nam – China 2026-2027” với mục đích thu hút khách du lịch trở lại mức trước đại dịch. Những thỏa thuận này có ảnh hưởng to lớn không thể tránh khỏi như “Con ngựa thành Troy” trong lĩnh vực 5G (the fifth-generation technology standard for broadband cellular networks), dữ liệu lớn (big data) và trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence (AI)). Cơ sở hạ tầng kỹ thuật số luôn có những “cửa hậu” (backdoors). China sẽ nắm trong tay “chìa khóa” của chủ quyền kỹ thuật số, có khả năng giám sát sự di chuyển của con người, hàng hóa và thậm chí cả quân đội….
VIỆT NAM:A Nation Reborn – Created by Nguyễn Phương Thúy – Nhạc nền hòa tấu: “VIỆT NAM VIỆT NAM” Của Phạm Duy
DÂY MÀ ĐI GIỮ GIANG SAN -NGUYỄN PHƯƠNG THÚY CGV
==
Thơ: Nguyễn Phương Thúy – Nhạc: Phạm Trung – Trình bày: Bích Hiền
== THƠ 30 THÁNG THÁNG TƯ ANH & VIỆT – TRANH THƠ: NGUYỄN PHƯƠNG THÚY
==
==
TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ: Ca Khúc MẢNH DA VÀNG, Trần Chương Lương viết nhạc theo thơ của nhà thơ CHU LYNH do ca sĩ Kỳ Nam trình bày và hòa âm được thực hiện tại Golden Production.
*
Tùy Bút 30/4 CỦA 51 NĂM SAU
Sỏi Ngọc
Tàu Trường Xuân, thuyền trưởng: ông Phạm Ngọc Lũy
Từ trái sang phải: Đạo diễn: Robbie Hart; Bà Nguyễn Bùi thị Mùi; tác giả Sỏi Ngọc; cố vấn Phim: anh Khoa Phạm
Lại một tháng Tư đen
Quê người ta tạm trú
Bao giờ về cố thổ
Như máu chảy về tim?
Cuộc chiến đã qua lâu
Lòng ta còn hậu chấn
Hỡi ơi ! Trời biển rộng
Dằng dặc một cơn sầu. (Hoàng Song Liêm)
Tháng Tư vừa mới chớm, trái tim của những người con Việt hải ngoại không ngớt rỉ máu, vết thương của 51 năm qua vẫn mãi chưa bao giờ lành, một khi quê hương đất mẹ vẫn đang bị cầy xéo, dân vẫn khốn đốn, nền tự do dân quyền không có, những cựu chiến binh VNCH với thân hình còi rọc, như những phế nhân lầm lũi sống ở tận đáy xã hội của đất nước nơi mình được sanh ra; họ là những minh chứng sống cho thấy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Cộng Sản sau 51 năm, đời sống không khả quan hơn, vẫn đói khát, bị vùi dập, kiểm soát, bị trả thù đến bao nhiêu kiếp đời.
Tưởng niệm tháng Tư, phim Shining light, một phim tài liệu “ánh sáng tỏa rạng” được trình chiếu tại một trường tư thục, trung học Marianopolis college cho tất cả mọi người, kể cả những em học sinh, tham dự để hiểu về cội nguồn của những người Việt tỵ nạn tại Canada nói riêng và thế giới nói chung.
Phim tài liệu này chỉ dài 30 phút, do nhà sản xuất phim: Peter Raymont, đạo diễn: Robbie Hart, nhân viên Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tại Canada: Tracey Maulfair, đồng sản xuất phim và cựu Đại xứ Canada: Gary Smith, cố vấn phim: Khoa Phạm.
Đã được trình chiếu nhiều lần tại Vancouver, Toronto, Montreal, hôm nay được chiếu lại nhưng đặc biệt có sự góp mặt của nhân vật chính, bà Bùi Nguyễn thị Mùi, bà là người mẹ đã mang bầu được 9 tháng vào ngày 30/4/75, biết rằng tánh mạng rất mong manh nếu bà lên tàu Trường Xuân bỏ xứ lánh nạn Cộng Sản thời bấy giờ, nhưng nỗi sợ hãi bị trả thù, cuộc sống đọa đầy sau ngày mà bọn chiến thắng luôn rêu rao là “nền độc lập tự do dân chủ”, trong khi chúng bắt bớ những cựu sĩ quan, lính VNCH bỏ tù, nằm gai nếm mật, trong đó có chồng bà… Bà đã hy sinh mạng sống của chính mình và đứa con trong bụng, ôm bụng bầu sát ngày sanh nở, cùng với con trai nhỏ 2 tuổi, lên chiếc tàu định mệnh cuối cùng vào trưa ngày 30/4 để trốn chạy; đến ngày 2 tháng 5 năm 1975 bụng quặn thắt, và đứa con gái đã chào đời trên tàu Trường Xuân, giữa lòng đại dương mênh mông, với 3600 người tỵ nạn vây quanh, đứa bé gái được đặt tên là Chiêu Anh, ánh sáng rạng rỡ, hy vọng mở ra cho bà một tương lai mới!
Bà Bùi Nguyễn thị Mùi mới sanh cháu Chiêu Anh trên tàu Trường Xuân
Chiêu Anh- cô gái được sanh trên biển cả của ngày hôm nay
Bà Bùi Nguyễn thị Mùi, đạo diễn: Robbie Hart tại trường Marianopolis college
Sau đó, ngày 4/5/1975 tàu Trường Xuân được tàu chở hàng Maersk line của Hong Kong vớt, mẹ con cô được chở vào nhà thương.
Mọi người yên lặng theo dõi bộ phim thật cảm động, tại ngôi trường mà Chiêu Anh đã từng theo học và tốt nghiệp; thỉnh thoảng có tiếng thở dài não ruột, tiếng sụt sùi trong hàng ghế của những người lớn tuổi, cũng có những cái nắm tay thầm lặng chia sẻ nỗi buồn, sự cảm thông của thế hệ trẻ đối với tiền bối.
Phim chấm dứt, ánh đèn sáng lên, bà Bùi ngồi lặng yên trên chiếc ghế ở khán đài, cùng với đạo diễn Robbie Hart, sẵn sàng trả lời những thắc mắc của tất cả mọi người, có cậu bé nói:
– “Tại sao chiến tranh VN đã trải qua 51 năm, đã thống nhất độc lập rồi, mà vẫn còn có người bỏ nước ra đi, còn nghe nói đến sự trốn chạy tìm tự do, tìm nguồn sống mới; họ không chịu nổi áp lực của nhà cầm quyền Cộng Sản?”
Một người khác góp ý:
– “Vào lúc 30 tháng Tư, bọn cộng sản đối với chúng tôi là một điều rất mới mẻ, nhưng kinh nghiệm của thời cải cách ruộng đất thời 1953-1956, chúng đã giết, treo cổ thẳng tay những người họ gọi là “địa chủ”, “tư sản”, tưởng tượng họ cũng đối xử, trả thù những người dân quân miền Nam đã sống, làm việc dưới chính quyền mà họ cho là Mỹ ngụy thì làm sao chịu nổi, vì lý do đó mà nhiều người thà bỏ mạng ngoài đại dương hơn là sống dưới gông cùm của chế độ Cộng Sản.”
Đạo diễn Robbie nói:
– “Chúng tôi dự định sẽ về thăm Việt Nam một chuyến, có dịp sẽ quay những thước phim về những biến cố lịch sử đã xảy ra tại đó cách đây 51 năm, và sự khác biệt với đời sống hôm nay.”
Một khán giả trong phòng thêm ý kiến:
– “Chúng tôi rất mong được các ông làm phim về những người lính VNCH, những người cựu chiến binh, những thương phế binh của chế độ trước bây giờ họ sống ra sao? Con cái họ thế nào? Có được sống như những người dân bình thường hay họ vẫn mãi mãi bị mang lý lịch xấu không thể ngóc đầu lên được, tâm lý sau cuộc chiến bị thất bại, họ mất tất cả, chỉ còn hai bàn tay trắng, lại thêm tù tội cả chục năm, cuộc đời của chính bản thân và con cái có được thành công ở chính quê hương nơi họ sanh ra không? Cộng Sản, những kẻ chiến thắng sau cái mốc định mệnh 30/4 có thật sự như họ đã nói “theo chính sách khoan hồng” giúp đỡ cho kẻ “lầm đường lạc lối” đi đúng hướng, sao chỉ thấy toàn những hình ảnh đói khát ở vùng kinh tế mới với những căn nhà mái lợp bằng lá, mùa mưa thì dột, mùa nắng thì thiêu đốt… Sự trừng phạt hăng máu của kẻ chiến thắng đến bao giờ mới ngừng tay?!”
Hình ảnh của con gái Chiêu Anh cùng với mẹ đi dạo trong một công viên ở Montreal, thanh bình và nhàn nhã, có ai biết quá khứ của họ trắc trở đầy thử thách!
Chiêu Anh chính là Shining Light của bà Mùi, cô là ngọn đèn tỏa sáng trong màn đêm tăm tối, là niềm hy vọng cho cả gia đình sống và phấn đấu, bà Nguyễn Bùi thị Mùi là một dược sĩ có tiếng tại Montreal, Quebec, giúp đỡ cho rất nhiều đồng hương trong thời gian covid.
Bà luôn dậy con gái “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, cô tìm lại được thuyền trưởng của tàu Trường Xuân năm xưa là ông Phạm Ngọc Lũy, đã đến mừng sinh nhật thượng thọ thứ 95 của ông,
Cô gái Trường Xuân năm nào, tưởng đã không thể nào sống nổi, nay thành công rực rỡ trong ngành thiết kế thời trang, cô ra trường ngành thiết kế thời trang ở NewYork, được nhiều giải thưởng danh giá.
Xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến đạo diễn Robbie Hart, đến anh cố vấn Khoa Phạm đã tìm lại nhân chứng sống bà Nguyễn Bùi thị Mùi của tàu Trường Xuân sau 51 năm để cùng ngồi lại nơi đây, ôn lại câu chuyện lịch sử, không thể nào quên; câu chuyện của bà là một trong hàng ngàn những câu chuyện hy hữu của những người vượt biển sống sót, may mắn đến bến bờ tự do, sống, làm việc và thành công, như một tấm gương sáng cho thế hệ tương lai.
Chúng tôi ra về với dư âm của chiếc tàu Trường Xuân còn vương vấn, dáng bé nhỏ mảnh khảnh của bà Nguyễn Bùi thị Mùi, với nụ cười ấm áp, ánh mắt chứa chan niềm thân thiện, bà đã sống và cống hiến hơn nửa cuộc đời từ cái mốc 30/4 đến nay cho ngành thuốc, giúp tư vấn cho người bệnh, chích, bán và nhiều khi biếu thuốc cho những hoàn cảnh khó khăn, bà đúng với câu « lương y như từ mẫu », bà tâm sự riêng với tôi :
– “Mình thật may mắn đã được Canada giang tay đón nhận, thì mình phải sống sao cho xứng đáng, trả ơn cho đất nước đã cưu mang và góp phần xây dựng cho tương lai của thế hệ trẻ sau này.”
Tại ai mà mỗi tháng tư, tâm tư của hơn 1,5 triệu người sống xa quê hương có cùng một tâm trạng:
Tháng Tư về, gió chạm hư vô
Ký ức cũ rơi rụng không bờ
Người ở lại quen dần im lặng
Kẻ ra đi mang nặng giấc mơ
Một dòng sông chia hai bờ nhớ
Nửa quê hương trôi dạt phương nào
Hơn nửa thế kỷ rồi vẫn hỏi
Mất gì đây… mà đau đến nao lòng.
Sỏi Ngọc
Montreal 4/4/2026
*
THÁNG TÁM, THÁNG TƯ
Vốn rằng ghi rõ tự Thiên Thư
Cộng sản gian tà từ…”dịch Thu.”
“Cải Cách” lừa bần nông, đấu tố,
“Nhân Văn” phỉnh kẻ sĩ, giam tù.
Rồi đây, nổi giận, dân băm nát
Sắp tới, phân minh, Trời nghiến nhừ
Hậu quả khôn lường đang dần đến
Chúng bây sẽ trả nợ…công, tư.
Bảo Trâm
Chú thích:
“Dich Thu”: Cách mạng tháng tám” năm 1945 của lũ cướp cộng sản.
“Cải Cách”: Cải cách ruộng đất” của Công sản Bắc Việt, từ 1953 đến 1956 , giết hàng chục ngàn nông dân ở miền Bắc.
“Nhăn Văn”: Cộng sản bày ra vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” từ 1955-1959, để giết và giam tù, bó đói hằng trăm Văn Nghệ sĩ ở Miền Bắc.
==
CHÙMTHƠ NHƯ THU
THÁNG TƯ MÃI NHỚ
Tháng tư nặng mối ưu hoài
Làng xưa biền biệt đắng cay nỗi lòng!
Phương trời xứ lạ thầm mong
Tàn canh thức trắng chờ trông mỏi mòn
*
Tháng tư giữ dạ sắt son
Đêm dài dỗ giấc trăng tròn xót xa
Vì đâu mãi nhớ thương nhà?
Người ơi gắng đợi cùng ta trở về!
*
Tháng tư nghĩa xóm tình quê
Chân thành đối đãi vẹn bề giúp nhau
Chiều qua gặp gỡ vui chào
Cười tươi hớn hở xôn xao chuyện trò
*
Tháng tư ấp ủ buồn lo
Yêu bầy trẻ dại nằm co dọc đường
Màn trời chiếu đất cảm thương
Bao người khốn khổ muôn phương vội vàng
*
Tháng tư mộng ước hoài mang
Trời Nam, biển Bắc tỏa lan đượm tình
Mây chào rạng ánh bình minh
Sau này hứa hẹn đăng trình chẳng lơi!
*
Tháng tư ngỡ tựa đang mời
Buồm giăng bến gọi chửa ngơi bao giờ
Sum vầy thỏa lắm niềm mơ
Nắng hồng giục giã đôi bờ kết giao.
Như Thu
04/18/2026
**
QUÊ HƯƠNG DẤU YÊU!
Từng nghe nước Việt sẽ dâng Tầu
Có phải quan thầy giấu nhẹm lâu?
Phương Bắc xe vào tim hụt hẫng
Miền Nam giặc đến kẻ u sầu!
Dân hờn bấy nỗi đành im tiếng
Ruột thắt bao lần lại đẫm châu
Ướm hỏi người ơi nhờ tỏ thật…
Vì sao sự thể quá cơ cầu?
Như Thu
04/21/2026
**
THÁNG TƯ ƠI!
Lại tháng tư đen sắp trở về
Bao trùm phố thị cả làng quê!
Mậu Thân súng nổ rền muôn hướng
Bính Ngọ lời than trỗi tứ bề
Non nước căm hờn luôn mải giận
Dân tình bực tức chẳng còn mê
Vùng lên tranh đấu nào suy nghĩ
Nhất dạ đồng tâm giữ vẹn thề!
Như Thu
04/21/2026
==
CHÙM THƠ VĂN THÁNG TƯ – DONRY NGUYỄN
*
CHO NHỮNG NGƯỜI NẰM XUỐNG VÀ NHỮNG NGƯỜI CÒN LẠI
Tháng tư, từ giã mùa chinh chiến. Ta về, đi giữa bóng hoàng hôn… Tay mẹ gầy còm ôm ta khóc, Cạnh đám em thơ nghẹn tủi hờn.
*
Bạn ta nhiều đứa không về nữa, Đem máu xương mình hiến núi sông. Để người sương phụ chia dòng lệ Nửa chịu tang cha, nửa khóc chồng.
*
Rượu không đủ uống ngày thua trận Ta ngước cười khan với đất trời, Trời đã không dung người thất thế, Sá gì thù vặt ngọn đòn roi.
*
Năm xưa vào lính mình ta tiễn, Nay bước lao tù cũng một thân. Mẹ đã tảo tần nuôi ta lớn, Nay còn đội gạo mà thăm con.
*
May lúc lên đường chưa cưới vợ, Nên chẳng dùng dằng vướng nợ ai. Nếu không cũng xót thời son trẻ, Vì chồng nhan sắc em tàn phai.
*
Trong tù ta có thêm bầu bạn, Sáng chiều chia nửa củ khoai lang Ngoài kia hợp tác toàn dân đói, Xã nghĩa thiên đường ráng tiến lên.
*
Trong tù ta sống lòng thanh thản Gánh rổ khoai mì đi rong chơi. Cuốc đất đau lưng mà trí nhẹ Không thành công, ta cũng thành người.
• Nửa đêm tiếng hát từ song sắt, Cao vút ngân lên đụng đỉnh trời. Nhìn gã cai tù đang cúi mặt Ta biết cuối cùng … ai thắng ai!
-Trại tù A30-1977. Donry Nguyễn
**
TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA EM.
“Ta làm chiến binh Sống không bằng chết, Được mất gì mà vỗ ngực xưng tên!”*
• Người hỏi tôi là lính hay quan, Hỏi chi thân thế lúc suy tàn. Mang danh phận lính không tròn phận, Há dám xưng hùng nhận chức quan.
*
Giữ nước sa cơ đành bỏ nước Coi nhà thất thế phải tòng vong. Cho dẫu chỉ là anh lính nhỏ, Lẽ nào trách nhiệm chẳng lo chung.
*
Ngày nay trên bước đường lưu lạc, Món nợ tang bồng lụy áo cơm. Tha phương chén rượu sầu ngơ ngác, Ai chẳng mộng ngày … quy cố hương.
*
Em đừng trách móc sao lần lữa, Chưa về thăm lại mẹ già nua. Lòng riêng ngui ngút niềm thương nhớ Nhỏ lệ âm thầm giữa gác khuya.
*
Ra đi từ bữa hờn sông núi, Lời thề ghi khắc trái tim côi. Mai sẽ trùng tu ngày hội lớn Dựng mái nhà xưa phụng dưỡng người.
*
Nửa thế kỷ qua ngùi đau xót, Bạc màu áo cũ vẫn chờ mong. Lỡ mai tôi chết không về kịp … Chắc gởi tro tàn xuống biển đông.
*
Món nợ ân tình chưa báo đáp Đối mặt quê hương nghĩ thẹn lòng.
-Donry Nguyễn-
* (Trích bài hành Tự Chuốc Rượu của người lính Lôi Hổ Hoàng Hoa Thương)
*
NHỮNG NGƯỜI LÍNH BỊ BỎ LẠI PHÍA SAU.
–Tưởng nhớ Tr/u Liễu Tông Trung cùng đồng đội đã nằm lại rừng núi Kon Tum, tháng ba 1975.
• Bạn tôi là HSQ Tiếp liệu ĐĐ1/TĐ95/LĐ22/BĐQ. hậu cứ đóng tại trại B12, đối diện trại B15 của lực lượng Lôi Hổ, nằm ở phía nam cầu Dakbla thị xã Kon-Tum.
Sau đây là những gì anh ấy kể lại:
Ngày 14/3/1975 anh theo xe tiếp tế lương thực cho đại đội đang đóng ở Đồi Ba Chấm, vị trí này là nơi đơn vị anh lui lại sau khi tản hàng phải rời bỏ căn cứ Kon Sơn Lũ cách đó vài cây số vào năm ngoái.
Lần này anh mang theo cả ba lô súng đạn để tham dự hành quân mặc dù nhiệm vụ của hạ sĩ quan tiếp liệu là ở hậu cứ lo việc quân lương. Lý do: lè phè, ham chơi, đến giờ tiếp tế, tiểu đoàn phải cho người ra phố gọi về.
Sau khi nhận lương thực xong, đại đội được lệnh tiến sâu vào rừng, anh cũng mang súng lầm lũi bước theo. Đi được vài chục thước thì bỗng nhiên vị trung úy Trung đội trưởng ngoắc tay bảo anh:
-Thôi về đi, cảnh cáo lần này, nhớ không tái phạm nghe chưa.
Mừng rỡ bạn tôi chỉ kịp đưa tay chào ông rổi vội vã chạy ngược lại để đuổi kịp chiếc GMC đang lăn bánh. Về tới trại B12 buổi chiều thì tối đó, toàn bộ hậu cứ được lệnh tiêu hủy vũ khí nặng và tất cả giấy tờ tài liệu để gọn gàng lên xe di tản. Nghe lệnh anh bàng hoàng xúc động, nghĩ đến những bạn bè chiến hữu giờ này đang tiến sâu vào rừng, không hay biết gì cả khiến anh chết lặng trong lòng. Hồi trưa nếu đại đội trưởng không cho về thì giờ này anh cũng chung số phận với mọi người rồi.
Suốt đường lui binh, không khi nào anh không nghĩ đến những người bạn cùng đơn vị giờ đây đơn độc giữa rừng sâu trong vòng vây của địch. Nỗi buồn và niềm chua xót nghẹn ứ trong trái tim người lính bất lực trước sự phũ phàng tàn nhẫn của chiến tranh.
Đoàn xe di tản của anh đi đầu, giữ được yếu tố bất ngờ nên không bị tấn công như khúc sau, đến bến đò Thạnh Hội xe lội qua sông Ba nhờ dòng nước lúc này chưa dâng cao. Nhưng khi cách Tuy Hòa khoảng 10 cây số, một quả đạn pháo kích nổ sát sườn xe làm người lính tên Tân là phụ tá tiếp liệu cho anh đứt ngang cổ họng, chết liền tại chỗ. Anh chỉ kịp ngoái lại nhìn xác nó loang máu nằm gục bên vệ đường nói lời vĩnh biệt rồi tiếp tục lao đi. Anh về tới nhà an toàn, ở lại Tuy Hòa mấy hôm chờ đợi tin tức đơn vị nhưng không gặp lại ai, cũng không biết đích xác đại đội của anh thế nào. Sau đó cùng gia đình theo đoàn xe xuôi Nam, đến Nha Trang, nghe ngóng tình hình, thấy tin tức chiến sự hoàn toàn bất lợi, cha mẹ anh quyết định trở về và cho phép anh theo đơn vị. Không thể bỏ cha già mẹ yếu với đám em thơ giữa cuộc ly loạn, anh ở lại Nha Trang cùng gia đình chờ yên ổn trở lại Tuy Hòa.
Lúc ra trình diện ủy ban quân quản thành phố, tình cờ gặp lại một đồng đội cũ. Vui mừng hai người kéo nhau ra một góc vắng thăm hỏi. Người bạn cho biết vắn tắt: đại đội đã chiến đấu cho tới viên đạn và bịch gạo sấy cuối cùng. Không nhận được tiếp tế, cũng không thể liên lạc về bộ chỉ huy nên tự giải tán, mạnh ai nấy tìm đường thoát hiểm, thành ra không ai biết ai thế nào. Nghe xong bạn tôi thở dài nuốt nước mắt vào lòng. Tiếc thương đồng đội cũ trong đó có Tr/u Liễu Tông Trung, đại đội trưởng của anh, là một sĩ quan can trường, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, ông đã cống hiến tuổi trẻ và tâm huyết của mình cho đất nước, cuối cùng đã bị bỏ rơi giữa núi rừng Kon-Tum khi gần tàn cuộc chiến.
Từ đó đến nay tôi vẫn thường hỏi thăm nhiều nơi, gặp nhiều chiến binh Biệt Động để ngóng tin tức giùm bạn tôi mà không ai biết. Duy chỉ một lần tình cờ gặp Đ/u Nguyễn Văn Hồng, người cùng khóa Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt với Tr/u Liễu Tông Trung, anh cũng thừa nhận là sau tháng tư 75, được anh em cùng khóa báo cho biết là Liễu Tông Trung mất tích…
Hôm nay nhân mùa Quốc biến, thay mặt bạn mình tôi viết bài thơ tưởng nhớ đến ông và tất cả các chiến sĩ BĐQ đã nằm xuống trên khắp đất nước để bảo vệ Miền Nam Tự Do.
BÀI CA ĐỒI BA CHẤM
Lệnh di tản ban hành trong đêm lạnh, Ta bàng hoàng khi nhận được hung tin. Đại đội ta đóng quân đồi Ba Chấm Mới ban trưa này còn được lệnh hành quân.
Giờ bỗng chốc chẳng khác gì ác mộng, Họ trở thành chốt chặn ngựa qua sông. Ta vơ vội áo quần, ôm cây súng, Giờ ra đi nghe muối xát vào lòng.
Người ở lại âm thầm ngăn bước giặc, Người lên đường lặng lẽ rút nhau đi. Thương đồng đội ta cũng đành bất lực, Bí mật quân cơ đâu thể nói năng gì.
Trời cao nguyên đêm nay buồn ảm đạm, Cơn gió nào thổi vọng đến đồi cao. Nơi bạn ta vẫn tay ghìm họng súng, Giữa rừng khuya cố thủ dưới thông hào.
Thẩm quyền ta, người sĩ quan Võ Bị, Cái ngoắc tay cho ta sống trở về. Nhưng chính ông lại lọt vào tuyệt lộ, Thế trận tàn Hùm dữ cũng sa cơ.
Đường lui binh nhiều lần ta bật khóc, Ôi đâu rồi khí phách một đoàn quân. Đánh trăm trận khiến quân thù tan tác, Giữ non sông từng tấc đất tấc vàng.
Nay chạy trốn để mong cầu sự sống, Lòng ta đau tan nát tựa dao đâm. Giặc pháo theo bạn ta vừa ngã xuống, Máu loang hồng theo vết bánh xe lăn.
Về duyên hải chờ lâu tin không thấy, Lại lên đường tiếp tục tiến về Nam. Gặp đồng đội sụt sùi nghe kể lại: Lính bọn mình đã chiến đấu hiên ngang.
Giây phút cuối không còn quân tiếp viện, Đạn vơi dần, gạo sấy chỉ cầm hơi. Tiếng súng giặc bao trùm lên trận tuyến, Sóng truyền tin không nghe tiếng trả lời.
Tự tan hàng khi thế cùng lực kiệt, Xé đường rừng tìm lối thoát mưu sinh. Người thương tích chờ quân thù bắn giết, Người ngậm ngùi mang thân phận tù binh.
Ta từ giã chiến tranh từ thuở ấy, Mà vết thương còn nhức nhối trong tim. Nửa thế kỷ, ta thấy mình còn nợ, Những anh em ở lại phút sau cùng.
Ai ra lệnh phũ phàng đem con bỏ? Ai chọn đường hoang phế để lui quân? Nửa thế kỷ nỗi buồn đau còn đó, Người vọng phu hóa đá đứng trông chồng…
Ta may mắn xác thân còn nguyên vẹn, Nhưng tâm hồn vĩnh viễn gởi rừng sâu, Nơi bạn ta đã âm thầm ngã xuống, Máu xương đem phân bón cỏ xanh màu.
-Donry Nguyễn- California April 15,2026.
==
GÁNH QUÊ, Trần Chương Lương viết nhạc theo thơ Ý NGA, do ca sĩ Hồng Nhiên trình bày:
==
THƠ NHẠC 30 THÁNG TƯ – CHƯƠNG HÀ & SUNO AI
==
Tháng Tư Dòng Nước Lũ Của Ký Ức – LÊ TUẤN
Tháng Tư trở về không còn là tên của một tháng, mà là một vết cắt hằn sâu trong thân phận. Tháng Tư của một thời đã xa, vừa ập tới như cơn hồng thủy hỗn mang, cuốn phăng mọi trật tự vốn dĩ của đời người.
Không một lời báo trước, không kịp chuẩn bị, chỉ còn hoảng loạn và chia lìa.
Gia đình tan tác. Bè bạn lạc nhau. Quê hương bỏ lại. Tất cả như một đàn chim đang yên ổn giữa trời bỗng bị giông bão xé tung, mỗi con bay về một hướng, không biết có còn ngày gặp lại. Trong cơn cuồng phong ấy, mỗi con người chỉ còn là một hạt bụi nhỏ nhoi, như chiếc lá cuốn theo dòng nước, bị đẩy trôi mà không thể cưỡng lại.
Mọi thứ diễn ra quá nhanh. Những quyết định không còn là lựa chọn, mà chỉ là phản xạ sinh tồn. Giữa trăm mối hỗn độn, người ta chỉ còn biết chạy, chạy trốn khỏi đổ vỡ, chạy về phía một miền đất tự do, dù biết rắng nó rất mơ hồ. Có những điều, khi xảy ra, ta tưởng là bất khả kháng. Nhưng thời gian không xóa đi, nó chỉ làm rõ hơn những khoảng trống trong lòng.
Khi mọi thứ lắng xuống, khi đời sống dần tìm lại nhịp thở, thì ký ức lại dâng lên như một cơn sóng khác, âm thầm mà dữ dội.
Tôi đã không kịp đến. Không một nén hương. Không một lời giã biệt.
Nỗi oan ấy ở lại, không ồn ào, nhưng dai dẳng. Không trách móc, mà lặng lẽ khắc sâu, khiến lòng người không thể nguôi quên. Tháng Tư, vì thế, không chỉ là tháng của biến động. Nó là tháng của những điều chưa kịp làm. Của những lời chưa kịp nói. Và của những cuộc chia ly không có lần sau để sửa lại.
Le Tuan
==
TẠ LỖI
Hãy tha thứ cho anh Giữa chuyển dời nghiêng ngả Bước chân đi vội vã Lạc mất lối quay về.
*
Hãy tha thứ cho anh Một lần buông rơi tất cả Không một lời tiễn biệt Cuối Tháng Tư não nề.
*
Hãy tha thứ cho anh Ngôi mộ buồn lặng lẽ Không khói hương sớm chiều Không một nén phân ưu.
*
Hãy tha thứ cho anh Những tháng năm xa xứ Mỗi lần nhớ đến em Là một lần ray rứt.
*
Hãy tha thứ cho anh Nếu tình còn mắc nợ Xin gửi về quê hương Một giọt buồn quốc hận.
Tế Luân
THƠ NHẠC KHÚC CẦU HỒN – TẾ LUÂN
==
Tháng Tư
Khúc Tưởng Niệm Sài Gòn 30.4.1975 – TẾ LUÂN
Tháng Tư trở về, không ồn ào, không gọi tên, mà lặng lẽ len vào ký ức như một làn sương mỏng. Có những khoảnh khắc của đời người, tưởng đã trôi qua, nhưng thực ra chỉ đang ẩn mình đâu đó, chờ một ngày thức dậy trong nỗi nhớ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày Sài Gòn đổi thay, là một khoảnh khắc như thế: vừa hữu hạn trong thời gian, vừa vô hạn trong lòng người.
Trong cõi vô thường, thời gian như cất lên một tiếng gọi đau thương từ tháng Tư. Tiếng gọi ấy không chỉ vang lên từ ký ức con người, mà còn dội về từ đại ngàn xanh thẫm, từ bầu trời tím ngắt cuối ngày, từ những con đường Sài Gòn xưa cũ. Những chiếc lá trong thành phố dường như cũng cảm nhận được điều gì đó, húng vàng đi sớm hơn thường lệ, chen lẫn vào những chiếc lá đỏ, tạo thành một bức tranh chao nghiêng, ảm đạm của những ngày cuối tháng Tư.
Đất trời như chuyển mình trong một khúc giao hưởng kỳ lạ. Biển xanh không còn hiền hòa, mà dâng lên những cơn sóng giông bão, gào thét vào bờ cát phơi lưng, như muốn kể lại những biến động của một thời khắc lịch sử, của câu truyện thương tâm từ những thuyền nhân. Đó không chỉ là âm thanh của chiến tranh, mà còn là tiếng lòng của một dân tộc, của Mẹ Việt Nam, vừa đau thương, vừa kiên cường, vừa chịu đựng, vừa bao dung.
Và giữa những biến động ấy, vẫn còn đó hương thơm của ruộng đồng, mùi lúa mới lan tỏa như một lời nhắc nhở rằng sự sống vẫn tiếp diễn. Từ bùn đất, từ mồ hôi, từ nước mắt, con người vẫn đứng dậy, vẫn gieo trồng, vẫn hy vọng. Một bài ca dao âm thầm cất lên, không phải để ca ngợi chiến thắng hay thất bại, mà để chiêm nghiệm về một cuộc đổi dời kỳ lạ của vận mệnh.
Năm mươi mốt năm đã trôi qua. Tháng Tư hôm nay không còn khói lửa, nhưng dư âm của nó vẫn còn đó, âm ỉ, sâu lắng, như một dòng chảy ngầm trong tâm thức mỗi người Việt. Nỗi đau không biến mất, mà chỉ lặng lẽ chuyển hóa, trú ngụ trong ký ức, trong những câu chuyện chưa kể hết, trong những giọt nước mắt không rơi thành lời.
Tháng Tư không chỉ là một mốc thời gian. Đó là một miền ký ức. Một vết hằn của lịch sử. Một lời nhắc nhở về sự mong manh của phận người và sự khắc nghiệt của thời cuộc. Nhưng trên tất cả, đó cũng là lời mời gọi con người biết nhìn lại, biết lắng nghe, và biết cảm thông,
để từ đó, học cách sống sâu hơn, bao dung hơn, và gìn giữ hòa bình như một điều quý giá nhất. Tháng Tư vẫn còn đó. Không mất đi. Không phai nhạt. Chỉ là… đã đi vào lòng người.
Tháng Tư Bài Thơ Còn Lại
Tháng Tư về không gọi tên nỗi nhớ Chỉ gió buồn lặng lẽ bước qua tim Sài Gòn đó, một thời như giấc mộng Vỡ âm thầm như lá rụng im lìm.
Có phải trời hôm ấy nhuộm màu tím Màu ly biệt, hoàng hôn về rất lạ Những con phố bỗng dưng thành xa lạ Người đi rồi… không hẹn một ngày về.
Màu cờ đỏ, mưa rơi như dòng máu Lũ giặc tràn vào, tiếng thét thất thanh Thành phố đêm bỗng rùng mình chết lặng Vạn nỗi đau không cất nổi thành lời.
Biển vẫn xanh mà giông bão không nguôi Sóng gào thét như linh hồn đất nước Khúc giao hưởng của một thời xuôi ngược Viết bằng đời, bằng nước mắt Mẹ thôi.
Từ đại ngàn xanh thẳm đến ruộng đồng Hương lúa mới vẫn âm thầm lan tỏa Giữa đổ nát vẫn nhen lên mầm sống Một câu ca dao, âm hưởng Mẹ hiền.
Năm mươi mốt năm… tháng Tư còn đó Không mất đi, chỉ chìm vào ký ức Để đôi lúc trong đêm dài thao thức Nỗi đau xưa trở lại rất con người.
Tháng Tư ơi, khơi lại những cội nguồn Hãy ở lại như một lời nhắc nhở Rằng lịch sử không bao giờ khép cửa Và lòng người còn mãi những chia ly.
Tế Luân
==
THƠ THÁNG TƯ XƯỚNG HỌA – CAO MỴ NHÂN VÀ THI HỮU
THÁNG TƯ TƠI TẢ. CAO MỴ NHÂN (Bài Xướng) – Kính mời quý thi nhân chấp bút họa bài thơ thú vị này của Nữ Sĩ Cao Mỵ Nhân
THÁNG TƯ HẬN, THÁNG TƯ ĐAU – YÊN SƠN (Viết cho mình, viết giùm cho người)
Tháng Tư lại về. Không cần ai nhắc, không cần một dấu hiệu rõ ràng nào, chỉ cần những dư âm Tết nơi xứ người bắt đầu phai nhạt, hay một buổi chiều xuân nhạt nắng rơi xuống sân vườn cô tịch là lòng tôi đã chùng xuống. Nhớ về… Có những tháng trôi qua như một con số. Có những tháng đi qua như một thói quen. Nhưng cũng có những tháng không bao giờ rời khỏi đời người. Đó là Tháng Tư. Tháng Tư, đối với tôi, không phải là ngày tháng bình thường của thời gian. Nó là một dấu mốc thời gian in hằn trong tâm khảm, là một nỗi đau, một vết cứa sâu trong tâm hồn, một nơi mà ký ức dừng lại, xoáy xuống, rồi lan ra, phủ kín cả tâm can. Có những nỗi đau không có âm thanh, không có tiếng khóc. Không thường có những lời than vãn. Nó nằm im, rất sâu, rất lâu, như một mảnh kim loại nhỏ găm trong da thịt. Mảnh kim loại không đủ nguy hại có thể chết người, nhưng đủ để nhói lên mỗi khi cử động. Và Tháng Tư chính là lúc mảnh kim loại ấy trở mình. Đêm hai mươi chín tháng Tư năm ấy, tôi vẫn còn là một người lính. Không phải hình ảnh một người lính trong sách vở, với chiến tuyến rõ ràng và mệnh lệnh rành rọt, mà là một con người đứng giữa một thực tại đang rạn vỡ. Ở phía tây Sài Gòn, quanh vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt… chúng tôi còn chiến đấu. Chiến đấu không phải vì hy vọng chiến thắng, mà vì không thể buông. Không thể đầu hàng. Có những thứ, một khi đã thấm vào máu như danh dự, trách nhiệm, lời thề… thì không dễ gì đặt xuống, không thể buông bỏ, ngay cả khi biết rằng tất cả đang trượt khỏi tầm tay. Chiến tranh trong những giờ phút cuối không còn là chiến tranh theo nghĩa quen thuộc. Nó không còn là một ván cờ. Nó trở thành một cơn sóng lớn. Và chúng tôi là những con người đứng trước làn sóng hung bạo ấy, cố giữ thăng bằng trên những mảnh vỡ còn sót lại. Tiếng súng vẫn nổ. Nhưng không còn nhịp điệu của chiến thuật. Nó dồn dập như nhịp tim của một cơ thể kiệt sức. Mỗi phát súng không còn nhắm đến chiến thắng, mà như một cách níu giữ một hy vọng mong manh dù biết hy vọng ấy gần như không còn. Nhưng cũng không thể bắn bừa. Đạn dược đã cạn. Mỗi viên đạn được đếm như giọt máu cuối cùng. Trong khi đó, đối phương được che chở bởi những tầng phòng không dày đặc. Chúng tôi chiến đấu trong thiếu thốn, trong bị động, trong một thế trận mà phần thua đã hiện rõ. Người Mỹ đã quay lưng. Người Mỹ đã bỏ rơi chúng tôi, bỏ rơi cái tiền đồn mà họ đã từng dùng chúng tôi để ngăn cản sự thống trị của triết thuyết Cộng Sản. Nhưng chúng tôi vẫn phải chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ cho người dân chúng tôi, cho đất nước chúng tôi. Anh em vẫn thay nhau bay. Bay trong những điều kiện khắc nghiệt, bay như những võ sĩ bị trói tay chân, ném lên võ đài trước một địch thủ hung tàn. Người này hết giờ, người khác lên. Không ai nói nhưng ai cũng hiểu… chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh vô vọng. Còn nỗi bi thương nào hơn thế không? Tôi còn nhớ những ánh mắt đêm ấy. Không ai nói với ai một lời gì ngoài những thao tác quen thuộc, ngôn ngữ chiến trận quen thuộc. Những ánh mắt gặp nhau giữa ánh chớp và bóng tối chỉ để xác nhận một điều, chúng tôi vẫn còn có nhau như đã từng mỗi khi xông vào lửa đạn, đánh cược với tử sinh. Và cũng không ai nói với ai đó là đêm cuối. Nhưng ai cũng cảm thấy sự bất lực qua từng viên đạn bắn ra. Nhưng ai cũng biết một điều gì đó đang đến hồi kết thúc. Không phải chỉ là một trận đánh mà là cả một thời đại. Viết đến đây, mắt tôi lại nhòe đi. Tôi đứng dậy, bước ra sau vườn, châm một điếu thuốc. Gió thổi qua hàng chuông gió, những tiếng leng keng như tiếng gọi từ một cõi nào xa lắm. Tôi hít sâu. Thở mạnh. Rồi quay vào, tiếp tục viết. Chuyến bay khuya hôm đó… sau khi bàn giao vùng trách nhiệm, tôi trở về cư xá. Hai đứa học trò nhỏ tôi mang về từ trưa hôm trước vẫn còn thức. Hai đứa, như tôi vẫn nói đùa, “trói gà không chặt”. Chúng tôi vừa nằm xuống thì nghe pháo kích dữ dội vào phi trường. Rồi một tiếng rít xé tai – hoả tiễn 122 ly. Nhưng… không nghe tiếng nổ. Cho đến sáng hôm sau, mọi người trong cư xá mới biết là đã thoát chết giữa đêm qua khi nhìn thấy phần đuôi của chiếc hoả tiễn đang cắm sâu vào lòng đất bên cạnh cư xá độc thân. Buổi sáng hôm ấy đã không phải là một buổi sáng bình thường, khi thấy chiếc Tinh Long 7 của phi đoàn tôi bị bắn rơi ngoài vòng đai phi trường, trước nhưng đôi mắt hoảng loạn của anh em. Đó là giọt nước làm tràn ly, không ai nói với ai lời nào, mỗi người chạy đi một ngả. Tôi cùng hai chú em đèo nhau lên chiếc Lambretite, chạy khắp các bãi đậu tìm phi cơ thoát thân. Nhưng những chiếc còn bay được đã bay đi đâu hết. Đang đứng ngơ ngác thì được một niên trưởng kéo tôi chạy theo đến một chiếc C-130 không còn nguyên vẹn, để làm phận sự phi công phụ. Chiếc phi cơ cất cánh từ cuối đường băng. Không đủ tốc độ. Không đủ điều kiện. Nhưng vẫn phải bốc mình lên nhờ vào bốn động cơ bán phản lực. Chiếc máy bay gượng lên, nhắm hướng Vũng Tàu rồi… trực chỉ Utapao, Thái Lan mang theo 115 con người không biết họ đã lên bằng cách nào. Chiều hôm đó, 29 tháng 4 năm 1975, tôi và một số anh em trong phi hành đoàn đã sững sờ rơi nước mắt khi thấy một đội ngũ quân nhân người Mỹ bắc thang lên thân máy bay sơn bỏ huy hiệu Không Quân VNCH, sau khi mọi người bị tước khí giới trước khi bước ra khỏi thân phi cơ. là tôi đã buộc phải rời khỏi đất nước trong bàng hoàng, trong vô thức, không kịp biết được tin cha mẹ anh chị em đã bị thất lạc phương nào mấy tháng qua trong chiến tranh. Không kịp báo tin với người vợ sắp cưới chỉ ở cách phi trường khoảng 6 cây số! Và cứ thế, bị đưa đẩy dọc theo hành trình trở lại đất nước nầy với thân phận vô gia đình, vô tổ quốc. Mãi đến vài năm sau mới liên lạc lại được! Cho đến bây giờ, sau hơn nửa thế kỷ, cái “không kịp” ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tôi, như một khoảng trống không bao giờ có thể lấp đầy. Không kịp nhìn cha mẹ lần cuối. Không kịp nói một lời từ biệt với bất cứ người thân yêu nào. Không kịp khép lại một cánh cửa đời quân ngũ theo cách mà một con người lính bình thường đáng được có. Có những cuộc chia ly không có lời từ biệt, và chính vì thế, chúng không bao giờ kết thúc. Tôi ra đi trong một trạng thái không hoàn toàn tỉnh táo. Không phải chỉ hoảng loạn mà là tê điếng. Mọi thứ diễn ra quá sức nhanh, quá sức bất ngờ, con người tôi không còn cảm xúc rõ ràng. Chỉ còn hành động. Chỉ còn bản năng. Tôi ra đi, như một người bị đẩy ra khỏi chính cuộc đời mình trong khi trong lòng vẫn còn một niềm tin rất mong manh rằng đây chỉ là tạm thời. Rằng rồi sẽ có ngày trở lại. Rằng quê hương không thể biến mất chỉ qua một đêm. Rằng những gì đã xây dựng, đã sống, đã yêu, không thể bị xóa đi dễ dàng như vậy. Có nhiều lần tôi nghĩ, sự ra đi bất chợt của tôi sẽ không nhiều hối tiếc, nhiều đớn đau nếu dân tộc tôi được tự do hạnh phúc hơn, đất nước tôi trở nên thanh bình, vươn lên oai nghi, dũng mãnh như con rồng, con hổ. Nhưng rất tiếc! Rất tiếc! Thời gian, bằng sự im lặng kéo dài của nó, đã dần dần dạy tôi hiểu. Không có ngày trở lại như tôi từng mong đợi. Không phải vì không muốn, mà vì con đường đã khép lại từ lúc Việt cộng xâm chiếm miền Nam; chúng đã và đang gây ra bao nhiêu đau thương cho nòi giống, cho mảnh giang sơn gấm vóc của ông bà, tiên tổ. Mất quê hương không phải là một biến cố xảy ra trong một ngày. Nó là một quá trình. Ban đầu là sự bàng hoàng. Sau đó là niềm hy vọng. Rồi niềm hy vọng mỏng dần đi theo ngày tháng. Và cuối cùng là một sự chấp nhận trong im lặng. Không phải chấp nhận vì đồng ý mà vì dường như không còn cách nào khác. Những năm đầu nơi quê hương thứ hai nầy, mọi thứ đều xa lạ. Ngôn ngữ, phong tục, con người, đời sống. Tôi đã học tái sinh trước khi học cách tồn tại. Học cách hiểu người khác, trước khi có thể nói cho người khác hiểu mình. Học cách đứng vững trên chính đôi chân mình khi trong thâm tâm vẫn không ngớt đợi chờ một phép lạ, một ánh sáng nhỏ nhoi ở cuối đường hầm. Người ta có thể quen với nhiều thứ. Quen với thời tiết khác, quen với nhiều món ăn lạ, quen với nhịp sống của một dân tộc khác. Nhưng có một thứ không thể làm quen đó là tình tự quê hương đã mất. Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra. Nó là nơi mà mọi thứ đều có ý nghĩa mà không cần rao giảng. Một con đường, một góc phố, một tiếng rao, một mùi hương… tất cả đều mang theo một phần đời. Khi mất đi, không chỉ là mất một nơi chốn, mà là mất cả một hệ ký ức, một cấu trúc của đời sống con người. Có những buổi sáng, tôi tỉnh dậy và trong một khoảnh khắc rất ngắn, tôi quên mất mình đang ở đâu. Trong khoảnh khắc đó, tôi vẫn là con người của ngày xưa, sống trong một thành phố quen thuộc, những đường bay dọc ngang trên bầu trời miền Nam nước Việt mà tôi đã thuộc lòng. Nhưng rồi thực tại trở về, không ồn ào, nhưng dứt khoát, như một bàn tay ai đó đặt nhẹ nhàng lên vai, nhắc tôi rằng tất cả đã trở thành dĩ vãng. Có nhiều lúc tôi thảng thốt nghĩ rằng: Sợ một mai thân nằm yên lòng đất Hồn lẻ loi tìm không thấy quê nhà Năm mươi mốt năm trôi qua. Một đời người có thể chứa đựng bao nhiêu ký ức? Có thể chịu đựng bao nhiêu mất mát? Có thể giữ lại được bao nhiêu điều mà không đánh mất chính mình? Tôi đã sống. Đã làm việc. Đã xây dựng lại cuộc đời. Đã có những niềm vui, những thành tựu, những mối quan hệ xã hội rất tốt. Nhưng tất cả những điều đó, dù có thật, dù có ý nghĩa, vẫn không thể thay thế được những gì đã mất. Tôi nhớ những ngày tháng trước năm 1975. Không phải vì chúng hoàn hảo, mà vì chúng là một phần đời quan trọng của tôi. Những sáng nắng chiều mưa, những ngày lộng gió, những đường bay quen thuộc, những khung trời bao la, những sinh tử cận kề, những cuộc gặp gỡ, những câu chuyện, những ước mơ chưa kịp thành hình. Một đời sống bình thường như thế nhưng khi mất đi, tôi mới hiểu giá trị của nó sẽ không bao giờ có thể thay thế được. Ký ức, theo thời gian, không phai nhạt đi như người ta tưởng. Nó được chắt lọc. Những gì không quan trọng sẽ rơi rụng tự nhiên. Những gì còn lại sẽ trở nên rõ nét hơn, tinh khiết hơn, và vì thế, cũng đau xót hơn. Và tôi mang trong mình một nỗi hận. Nhưng không phải là một nỗi hận đơn giản. Nó không hướng về những con người bình thường. Tôi không hận người dân Mỹ mà tôi đã gặp, đã sống cùng, đã nhận được sự giúp đỡ của họ để xây dựng lại cuộc đời. Tôi hiểu rằng con người, ở đâu cũng có những điểm tương đồng giữa thiện và ác, hiểu biết và giới hạn. Nhưng tôi không thể không nghĩ đến những quyết định sai lầm của hệ thống cầm quyền chính phủ Mỹ và đồng minh, những phong trào phản chiến ngu xuẩn, những cơ quan truyền thông dối trá, lừa gạt dư luận. Những điều nầy đã góp phần làm thay đổi số phận của những quốc gia nhỏ bé, chậm tiến như Miền Nam Việt Nam của tôi. Một cuộc chiến không chỉ được quyết định bởi những gì xảy ra trên chiến trường mà nó được quyết định bởi những gì xảy ra trong lòng xã hội, qua truyền thông, trên trường chính trị. Khi một bên không còn được thế giới ủng hộ, không còn được bạn bè tin tưởng thì dù còn đầy đủ vũ khí cũng không thể giữ được, huống chi… chúng tôi đã phải chiến đấu với cả một thế lực cộng sản quốc tế hùng mạnh khi vũ khí đã bị chính những người bạn đồng minh tước bỏ đi. Nỗi hận của tôi không phải để nuôi dưỡng oán thù mà là để nhắc nhớ cho chính mình, nhắc nhở con cháu đời sau những gì đã xảy ra cho quê hương, dân tộc tôi không bị đi vào quên lãng. Sau tất cả, điều còn lại trong tôi không chỉ là nỗi đau. Mà là một ước vọng. Ước mong một ngày nào đó, được trở về trong tự do, trong danh dự. Không phải để bắt đầu lại, mà chỉ để nhìn lại. Để bước trên những con đường cũ dù chúng đã bị thay tên đổi họ một thời. Để nghe lại những âm thanh, những tiếng nói quen thuộc ở khắp mọi nơi. Để thấy lại một quê hương bừng sáng, một xã hội văn minh trong tình người. Được thật sự hãnh diện với 4 chữ Con Rồng Cháu Tiên. Ở tuổi này, tôi không còn sợ nhiều điều. Không còn sợ mất mát vì đã mất mát quá nhiều. Không còn sợ thay đổi vì đã sống qua những thay đổi to lớn mà chỉ sợ rằng mình sẽ không còn đủ thời gian. Không đủ thời gian để thấy ngày ấy. Không đủ thời gian để chứng kiến một kết thúc tốt đẹp như thế cho quê hương dân tộc mình; để biết rằng những nghiệt ngã mình đã trải qua trong đời không trở nên vô nghĩa. Sự chờ đợi nào cũng không mấy dễ dàng. Khi còn trẻ thì có dễ dàng hơn, nhưng khi thời gian không còn nhiều, mỗi ngày trôi qua đều mang theo một cảm giác bồn chồn, lo sợ. Không phải vì muốn đạt được điều gì, mà vì sợ không còn cơ hội ấy. Tháng Tư lại đến. Vẫn là những cơn mưa nhẹ buổi sáng, những đám mây trắng bềnh bồng ở buổi chiều dài, những khoảng lặng khó gọi tên… Những ghi nhận nầy không phải để làm thơ, khp6ng phải là thời tiết mà là một phần của đời sống nội tâm, một vùng ký ức mà mỗi năm, vào đúng thời điểm này, lại mở ra trong tôi. Tháng Tư hận. Tháng Tư đau. Mỗi năm vẫn cứ theo nhau trở về Nhưng nếu chỉ có hận và đau, con người đã không thể đi qua hơn nửa thế kỷ. Vì ở đâu đó, rất sâu, rất nhỏ, vẫn còn một thứ khác. Một thứ không sôi nổi lắm, không mạnh mẽ nhiều nhưng bền bỉ. Đó là niềm hy vọng. Hy vọng rằng một ngày nào đó, dù mình còn hay không, trên mảnh đất hình cong chữ S ấy, người dân sẽ được sống an bình, hạnh phúc mà không phải cúi đầu, lo sợ. Sẽ có những tiếng nói không bị bóp nghẹt. Sẽ có những giấc mơ không bị dập tắt. Và khi ngày đó đến, có thể, ở một nơi nào đó rất xa, những người đã ngậm ngùi nằm xuống sẽ mỉm cười. Dù muộn màng nhưng cũng có thể sẽ che giấu được những niềm đau, nỗi hận trong lòng của những người võ sĩ bị ném lên đấu trường sanh tử với tay chân bị trói chặt.
“Tháng Tư lại về, lòng người tị nạn lại xót xa nhớ về quê hương sau 51 năm xa xứ.”NGUYỄN ĐÌNH HÒA
Xin mời qúy vị thưởng thức vài nhạc phẩm của tôi đã viết.
Quê Hương Trong Ta.
Bóng Xưa Chiều Ấy.
Vụng Dại Những Chiều
Ns. Nguyễn Đình Hòa.
==
THƠ MỸ HOÀN
THÁNG TƯ NHỚ EM – MỸ HOÀN
Em đã về đây mỗi tháng Tư
Về quê ngồi lại giữa sương mơ
Có nghe sương rớt bờ vai cũ
Bơ vơ mộng mị chốn xa mờ
*
Để tháng Tư như dòng nước chảy
Bôn ba năm tháng nước về đâu
Ta gục xuống đôi bàn tay lạnh
Lòng nghe rơi rớt ánh tinh cầu
*
Ta nghe mãi bên bờ sông vỗ
Những lời buồn của tháng trôi qua
Lời tình như sóng dòng sông cuộn
Nước mắt nào còn mãi mưa sa
*
Em ôm trái tim nào đã lỡ
Một lời thề mộng ước mai sau
Một nụ cười như vừa nở lại
Cho ta êm ái mối tình sầu
*
Em đã về đây mỗi tháng Tư
Về đây ta kể một lời thơ
Em mặc áo dài hoa cúc nở
Cùng ta đi suốt một nẻo bờ
*
Rồi em cảm động từng cơn khóc
Vạt tóc nào đẫm lệ quê hương
Tổ tiên ta đã từng hơi thở
Dựng Sơn hà một giấc như mơ
*
Nhớ trong tâm tưởng ngày hoa gấm
Nụ môi thơm khép nép hải đường
Ta muốn mở lòng bao câu nói
Lời yêu kia còn mãi vấn vương.
Lê Mỹ Hoàn
2/2025
**
NẮNG HẠN THÁNG TƯ
Tiếng kêu tha thiết gọi đàn
Những ngày nắng hạn đâu tàn trú thân
Lòng ta như thể nắng ran
Thu Đông tan tác, Hạ hoang mang về
Nơi đây đâu phải chốn quê
Cho nên nắng hạn lê thê mỏi mòn
Khô đi những giọt máu hồng
Dần dà cạn hết giấc nồng trong tim
Đôi môi khao khát đi tìm
Tiếng kêu mòn mỏi đắm chìm nơi đâu
Quê hương mấy cuộc bể dâu
Trong ta một nỗi u sầu chưa tan
Thời gian lặng lẽ lướt nhanh
Làm thêm héo nụ cười xanh thuở nào
Ôi cơn nắng hạn lao đao
Hồn ta nứt nẻ ngày vào thángTư.
Lê Mỹ Hoàn
4/20/1990
==
ĐỢT NẮNG THÁNG TƯ
Đông vừa qua ở cuối đoạn đường
Xuân đến những ngày nắng ấm hơn
Tưởng như mùa Hạ nhưng bất chợt
Lạnh lại về cơn sốt miên man
*
Cơn sốt cao, đầu như bổ củi
Như nặng lòng đợt nắng tháng Tư
Vàng sốt bủa vây ngày trốn chạy
Qua cánh đồng nắng trải như phơi
*
Cơn sốt lên cơn mơ lại đến
Chạy vòng quanh chạy đến chân tường
Nghe mơ hồ ai đang hạch hỏi
Bao người ngồi bó gối như ta
*
Rồi tự nhiên nghe mùi muối mặn
Đang lênh đênh trên biển xuôi dòng
Chợt thét gào như cơn thịnh nộ
Biển trời đang cuộn một cơn dông
*
Ta bên nhau thì thầm cầu nguyện
Xin trời cho gió lặng sóng êm
Bỗng mở mắt dường như im lặng
Tự Do đang cười với gió Xuân.
Lê Mỹ Hoàn
3/26/2025
==
THƠ TRẦN CẨM THÀNH
Tháng Tư cảm tác
Tha hương mái tóc của ngày xanh
Năm tháng bạc màu trán vết nhăn
Canh cánh bên lòng bao nuối tiếc
Bâng khuâng tấc dạ những ăn năn
Non sông biến dạng người xa cội
Đất khách dung thân kẻ rã hàng
Nặng trĩu tâm tư đời viễn xứ
“Nỗi buồn nhược tiểu” mãi âm vang.
Trần cẩm Thành- 4/2026.
**
==
THÊM MỘT THÁNG TƯ QUA – HUY VĂN
* Ngày đến. Đêm Trôi. Ngày lại đến Thời gian lắng đọng cuối tháng Tư Tháng của thiên thu buồn lệ nến khóc cảnh miền Nam hóa ngục tù.
*
Máu ai tuôn chảy nơi góc phố?! Chốt thí làm sao chống sơn hà!? Tiếng hờn vọng mãi vào thiên cổ Một trang Hận Sử, mấy Hùng Ca?!
*
Cuối Xuân cuồng lũ dâng hồng thủy Đành buông nợ Nước, phụ tình Nhà! Sông núi điêu linh vì ngạ quỷ Bao giờ yên sóng, lắng phong ba?
*
Ngồi đây mà nhớ thời chiến quốc Một thuở bi hùng lúc dọc ngang Chớp mắt thấy sương pha màu tóc Một tiếng than ôi! Lệ ứa tràn.
*
Nửa đời chìm nổi nơi đất khách Mỗi năm thêm một tháng Tư qua Quốc thù vị báo đầu tiên bạch (*) Thế sự du du nại lão hà. HUY VĂN
* (*)THUẬT HOÀI Thế sự du du nại lão hà? Vô cùng thiên địa nhập hàm ca. Thời lai đồ điếu thành công dị, Vận khứ anh hùng ẩm hận đa. Trí chủ hữu hoài phù địa trục, Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà. Quốc thù vị báo đầu tiên bạch, Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.
ĐẶNG DUNG
* Bản dịch của Tản Đà: Việc đời man mác, tuổi già thôi! Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi. Gặp gỡ thời cơ may những kẻ, Tan tành sự thế luống cay ai! Phò vua bụng những mong xoay đất, Gột giáp sông kia khó vạch trời. Đầu bạc giang san thù chưa trả, Long tuyền mấy độ bóng trăng soi.
==
==
MỜI ĐỌC 2 BÀI VIẾT ĐẶC SẮC CỦA KÝ GIẢ KIỀU MỸ DUYÊN DƯỚI ĐÂY
Quê hương tôi là Quảng Ngãi, nơi có Núi Ấn soi bóng xuống Sông Trà Khúc hiền hòa. Dù xa quê từ thuở bé, hình ảnh ấy vẫn in sâu trong tâm khảm như một phần máu thịt không thể tách rời.
Từ nhỏ, tôi theo người bác ruột vào sống tại Đà Lạt, ở vùng Trại Mát, nơi bác hành nghề Đông y. Cuộc sống nơi cao nguyên yên tĩnh phần nào giúp tôi quên đi những biến động của quê nhà, cho đến khi chiến sự lan rộng khắp miền Trung vào đầu năm 1975.
Ngày 21 tháng 3 năm 1975, khi tình hình các tỉnh Tây Nguyên trở nên rối ren, tôi quyết định trở về Quảng Ngãi chỉ với một mong muốn giản dị là thăm mẹ đang lâm bệnh. Khi ấy tôi vẫn còn là một học sinh, chưa hiểu hết thế nào là chiến tranh, nhưng nỗi lo sợ thì hiện rõ trong từng hơi thở. Người ta truyền tai nhau rằng ban đêm, Việt Cộng thường lén xuống các quận gài mìn, khiến ai nấy đều sống trong cảnh phập phồng, bất an.
Gia đình tôi lại có nhiều người liên quan đến Việt Nam Quốc Dân Đảng; từ bác, chú cho đến ông Sáu, nên sự lo lắng càng chồng chất. Cứ mỗi khi màn đêm buông xuống, các chú, các bác lại âm thầm đạp xe vào thành phố để ngủ nhờ, tránh những hiểm nguy có thể ập đến bất cứ lúc nào.
Đêm 22 và 23 tháng 3 năm ấy, tôi ngủ bên mẹ tại vùng phía tây quận Tư Nghĩa. Nhưng đó không còn là những đêm bình yên. Tiếng súng, tiếng pháo kích vang lên liên hồi, dội vào lòng người những cơn run sợ. Mỗi tiếng nổ như xé toạc màn đêm, khiến tôi, một đứa học trò, chỉ biết nằm im, tim đập dồn dập, cầu mong cho trời mau sáng.
Sáng ngày 24 tháng 3 năm 1975, không chịu nổi sự bất an, tôi cùng mẹ rời nhà, tìm đến tá túc tại nhà ông Sáu ở khu vực Thị xã Cẩm Thành, Quảng Ngãi, trung tâm của tỉnh. Đó là một quyết định đầy lo âu nhưng cần thiết, bởi lúc ấy, chiến tranh đã thực sự chạm đến từng mái nhà, từng con người.
Những ngày tháng ấy, tôi không chỉ chứng kiến sự biến động của đất nước, mà còn cảm nhận rõ sự mong manh của đời người, của tình thân trong cơn binh lửa vì anh tôi đã mất trước đó vài tháng tại Pleiku, cậu Tư cũng tử trận tại An Lộc, và người hàng xóm tại Đa lạt cũng bị tử vong bởi pháo kích tận vùng I chiến thuật mà chưa kịp mang xác về chôn,. Dù chỉ là một học sinh, tôi đã sớm hiểu rằng quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn, mà còn là nơi gắn liền với ký ức, bà con xóm giềng, với yêu thương, và cả những nỗi đau không bao giờ quên.
Chiều ngày 25 tháng 3 năm 1975, trước nhà ông Sáu là nơi có tiểu khu của binh lính Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, mọi sinh hoạt ban đầu vẫn diễn ra như thường lệ. Những người lính Sư Đoàn II Bô Binh vẫn qua lại, vẫn giữ nhịp sống quen thuộc như chưa có điều gì sắp sửa đổi thay. Nhưng đến xế chiều, không khí bỗng chùng xuống. Tôi thấy từng chiếc xe Jeep, xe nhà binh chở đầy binh sĩ nối nhau rời đi, hướng về phía Đà Nẵng. Một linh cảm bất an dâng lên trong lòng, dù khi đó tôi vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa của những chuyển động ấy.
Tin đồn bắt đầu lan nhanh trong xóm. Người này truyền cho người kia, không ai biết thực hư ra sao. Có người nói phải “ăn vội rồi đi ngay”, có người bảo phải gom đồ đạc mà chạy, vì chiến sự đã quá gần. Người ta nhắc đến Ông Ngô Quang Trưởng, vị tướng đang cố gắng chống lại làn sóng tiến công từ phía Việt Cộng. Nhưng tất cả chỉ là những lời nghe lại, không kiểm chứng, không rõ nguồn. Trong hoàn cảnh ấy, sự thật không còn quan trọng bằng nỗi sợ.
Gia đình tôi cũng hoang mang như bao gia đình khác. Bữa cơm chiều hôm đó vắng lặng lạ thường. Tôi không thấy các chú, các bác, và cả ông Sáu trở về. Có lẽ họ đã đi đâu đó, hoặc đã nghe được điều gì khẩn cấp hơn mà chúng tôi không biết. Chỉ có Dượng Tám mỗi sáng vẫn thường mở chiếc radio Sony nhỏ, nghe đài BBC rồi kể lại tình hình. Nhưng những mẩu tin rời rạc ấy cũng không đủ giúp chúng tôi hiểu rõ chuyện gì đang xảy ra, chỉ càng làm lòng người thêm rối bời.
Mẹ tôi đang bệnh nặng, không thể ăn uống gì. Tôi nhìn tô cháo bà để lại, lòng nghẹn lại. Không còn thời gian để nghĩ nhiều, tôi húp vội những muỗng cháo nguội để dằn bụng. Đó không phải là một bữa ăn, mà là sự chuẩn bị cho một cuộc chạy trốn không biết ngày về.
Bên ngoài, dòng người đã bắt đầu đổ ra Quốc lộ 1, hướng về phía Đà Nẵng. Tiếng gọi nhau í ới, tiếng bước chân vội vã, tiếng xe cộ lẫn trong sự hỗn loạn. Tôi biết mình phải đi, dù lòng còn nặng trĩu.
Mẹ tôi không đi nổi. Bà nhìn tôi, ánh mắt vừa lo lắng vừa đau đớn. Bà bảo tôi cứ theo hàng xóm mà đi, đừng chần chừ. Lời nói ấy như một nhát dao cắt vào tim. Tôi đứng đó, giữa giây phút chia ly, không biết phải nói gì hơn ngoài một lời từ biệt nghẹn ngào.
Tôi quay đi, hòa vào dòng người chạy loạn, mà phía sau là bóng mẹ tôi đang dần khuất. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu rằng mình đã bước sang một ngã rẽ khác của cuộc đời, nơi mà tuổi học trò khép lại, nhường chỗ cho những tháng ngày lưu lạc, và nỗi nhớ quê nhà, nhớ mẹ, sẽ theo tôi suốt cả cuộc đời.
Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 3 năm 1975 là một ký ức không bao giờ phai mờ trong cuộc đời này, một ngày mà ranh giới giữa sống và chết mong manh như sợi chỉ. Khi đó, cuộc chiến đã lan rộng khắp miền Trung, và những vùng như Quảng Ngãi đã lần lượt rơi vào tay Việt Cộng trước khi Sài Gòn sụp đổ không lâu sau đó.
Đêm ấy, tôi cùng dòng người hoảng loạn tìm đường chạy giặc. Không còn ai nghĩ đến tài sản hay tương lai, chỉ còn một ý niệm duy nhất là phải sống. Tôi theo dòng người băng qua con dốc Bình Liên, thuộc quận Bình Sơn. Con dốc ngày thường vốn hiền hòa, nhưng hôm đó trở thành một địa ngục trần gian.
Tiếng pháo kích bất ngờ dội xuống. Những tiếng nổ chát chúa xé toạc không gian, đất đá tung lên mù mịt. Người ngã xuống từng loạt. Có người trúng đạn, có người bị mảnh pháo xé thân, có người chỉ vì quá hoảng loạn mà bị dẫm đạp trong dòng người tháo chạy. Tiếng khóc, tiếng la hét, tiếng gọi nhau trong tuyệt vọng hòa lẫn vào nhau, tạo thành một âm thanh kinh hoàng mà đến nay tôi vẫn còn nghe vang vọng trong tâm trí.
Tôi không còn nhớ mình đã chạy như thế nào, chỉ biết bản năng sinh tồn đã đẩy tôi lao xuống một bờ ruộng bên đường. Chính quyết định trong tích tắc ấy đã cứu mạng tôi. Nằm sát mặt đất, tim đập dồn dập, tôi nghe rõ từng tiếng nổ, từng bước chân dẫm đạp phía trên. Mùi khói, mùi đất, và cả mùi tử khí lan trong không khí khiến tôi rùng mình.
Khi cơn pháo kích tạm lắng, tôi mới dám ngẩng đầu lên. Trước mắt là một cảnh tượng không thể diễn tả hết bằng lời: người nằm la liệt, kẻ sống sót thì thất thần, ánh mắt vô hồn. Con đường chạy loạn giờ đây phủ đầy máu và nước mắt
Tôi tiếp tục hòa vào những người còn sống, lặng lẽ đi trong đêm tối, không còn sức để khóc hay nói. Sáng hôm sau, khi ánh bình minh le lói, tôi lần bước ra được thị trấn Châu Ổ, rồi từ đó tiếp tục hướng về Chu Lai. Đó là một hành trình đi bộ đầy gian nan, nhưng ít nhất, tôi biết mình vẫn còn sống.
Ngày 26 tháng 3 năm ấy không chỉ là một ngày chạy loạn. Đó là một vết hằn lịch sử trong đời tôi, một minh chứng cho sự tàn khốc của chiến tranh và sự mong manh của kiếp người. Tôi sống sót, nhưng ký ức ấy mãi mãi ở lại, như một lời nhắc nhở rằng cuộc sống hôm nay đã được trả giá bằng biết bao sinh mạng và nước mắt.
Niềm khát-vọng ngùn-ngụt vút lên cao, mải-miết tìm Trăng hiền-hoà khả-ái. Trăng vẫn còn gục ngủ trong thành đêm sừng-sững âm-u.
Những vệt sáng đèn pha vẫn lia-lịa quét không-trung, nào đã thấy muôn vì sao đang trốn lủi? Mắt lệ mờ nhìn những trái hoả-châu nối tiếp nhau mưa sáng rực cháy bốn phương trời, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, mãi tưởng chừng đây dạ-hội hoa-đăng.
Những tiếng phi-cơ ì-ầm sấm động, những chùm đại-bác bạt núi long trời, những tràng liên-thanh nổ tan ròn-rã, xé không-gian, khua giấc ngủ rừng khuya, dậy thôn xóm tiêu-điều, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, mãi tưởng chừng đây tưng-bừng dạ-khúc đón xuân sang.
Rồi khi thôn rừng ngừng im tiếng súng, khi hoả-châu tắt sáng, khi những đốm lửa đạn không còn vun-vút đuổi nhau như sao trời đổi hướng, đêm tối vẫn không lùi bước, thành đêm vẫn sừng-sững âm-u, quanh đâu đây nghe khắc-khoải lòng đêm đang thổn-thức, cây lá thở dài, dế khóc nỉ-non, sương đêm sụt-sịt, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, nghe thấm buồn như lời kể-lể của những người cô-phụ bi-thương:
Ðằng-đẵng bao năm trường chinh-chiến, tím chiều ngập phủ khắp quê hương. Bom đào ao, đạn cầy ruộng, ruộng xanh um cỏ dại, ao đầy ắp thịt xương.
Hận thù bão táp, mã-tấu tung bay, đau-đớn ngả-nghiêng, bao thôn tre quằn-quại trong rên xiết.
Việt-Nam ơi! thân mòn sức kiệt, mảnh hình-hài tan nát tả-tơi. Chúa ơi, Mẹ ơi! Người ở đâu, sao thành đêm vẫn âm-u sừng-sững? Tôi “thắp nến nguyện cầu, đâu dám rủa nguyền bóng tối” (*). Hồn tôi đây, trí tôi đây, hỡi gió ngàn lồng-lộng! Kéo bổng lên cho Người thấu nghe niềm khát-vọng, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, sao Trăng hiền vẫn gục ngủ trong thành đêm sừng-sững âm-u?
-II-
Ðêm âm-u, gió mát vi-vu, dù cho dịu-dàng mơn trớn thiết-tha, vẫn chẳng ru ngon giấc ngủ cô-đơn chập-chờn thao-thức. Tiếng chó tru ghê hồn không át nổi tiếng đại-bác rền vang.
Rồi một sáng xuân mờ sương xốn-xang, phố phường ngổn-ngang quân-trang binh-khí, liệng bỏ hết cho một nhà thuận-hoà, hoan-hỉ, cho chiến-trường dai-dẳng bặt tiếng im hơi. Giáo-đường khắp nơi không ngơi lời kinh tiếng hát: “Kinh Cầu Hoà-Bình” dập tắt chiến-chinh. Thành phố bỗng giật mình ngơ-ngác, thôn ấp chợt sửng-sốt bàng-hoàng. Lạ kìa! màu cờ sao ướt đẵm màu máu thắm loang?
Biển Ðông vẫy sóng trường-giang,
Biệt-ly nước mắt nặng mang ân-tình.
Nghẹn-ngào Mẹ đứng lặng thinh,
Nhìn con dặn với: “Nhớ tình cố-hương!”
Mẹ về chăm giữ đồng nương,
Cho vàng bông lúa ngát hương thôn làng.
Giờ thì mất cả nương đồng,
Thôi đành phó mặc, chẳng màng “vinh-quang”.
Ngày đêm nghe réo loa vang:
“Hoà-bình công-bố, xoá tan hận-thù.”
Hoà-bình lại ở chiến-khu,
Hận-thù mau gót lù-lù về đây.
Ô hay! Lành-lạnh heo may, ùn-ùn mây bay. Sao Trăng gầy đã vội đuổi ngay ngày xanh non-nớt. Mặt trời trốn mất, chẳng để lại chút nóng hâm nóng tình thương. Bóng đêm âm-u gian dối đồng-loã gạt lường. Trùng-dương lại lồng-lộn thét gào khóc thương tương-tàn cốt nhục:
Núi rừng địa ngục,
Tủi nhục xót-xa,
Thân người: xác vật thây ma,
Lìa con, lìa vợ, lìa cha, lìa chồng.
Mồ-hôi tưới ướt ruộng đồng,
Lúa vàng đâu thấy? Thấy hồng máu loang:
Chàng đi “học-tập” ngút ngàn,
Ở nhà thiếp chít khăn tang mãn đời.
Tấm thân trâu ngựa rã-rời:
“Anh-hùng lao-động”, thấu trời than van.
Giành nhau từng dái khoai lang,
Giành nhau chỗ đứng xếp hàng nối đuôi.
Con thuyền ngược sóng ra khơi,
Ruột se bụng thắt, sao tươi nụ cười?
Ôi, nụ cười nước mắt! Đắng cay chua-chát!
Ôi, cơ-đồ sụp nát, nhân-tình đảo-điên!
Biển Ðông đầy ắp oan-khiên,
Quặn đau vĩnh-biệt Mẹ hiền thân yêu.
Mẹ Việt-Nam truân-chuyên. Mẹ Việt-Nam u-uất. Mẹ nhắm nghiền đôi mắt. Mẹ lắng nghe trong bóng đêm hiền-hoà giả dối, tiếng đàn con nỉ-non da-diết niềm khát vọng tha-thiết vô biên. Khát vọng bình-yên. Khát vọng triền-miên. Sao trăng hiền vẫn biền-biệt cho đêm tối bao vây?
Các con Mẹ đâu rồi?
Mẹ mỏi-mắt trông vời.
Mẹ đứng đây, Mẹ giang tay thành-khẩn:
Hãy nhìn xem, nước Việt-Nam u-ẩn!
Hãy nhìn xem, đồng-bào Việt kiên-nhẫn đau thương!
Bao giờ hết đổ máu xương?
Bao giờ tiếng hát giáo-đường ngân-nga ?
Bao giờ nước Việt thái-hoà,
Tự-do công-chính, nhà nhà an vui?
(*) cách-ngôn Tây:”Thà thắp lên một ngọn nến, còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối”
Đất nước Việt Nam đang bị đảng cộng sản cai trị bằng bạo lực.
Bọn cộng sản Việt Nam chỉ là một bọn cướp, may mắn chiếm được nước Việt do các thế lực quốc tế tranh nhau trên bàn cờ thế giới. Chúng không phải là một chính quyền đúng nghĩa!
Chúng ta không biết thế giới có nước nào hiểu rõ bọn cộng sản đang lừa họ hay không?
Nhưng chúng ta biết rõ một điều: nước nào cũng vì lợi cho nước họ trước hết, không nước nào hy sinh cho dân Việt chúng ta. Vì vậy, vận mệnh nước Việt vẫn phải do người Việt hành động, nếu dân ta thực sự muốn cứu lấy dân tộc Việt Nam.
Bọn cầm quyền cộng sản ở Việt Nam chỉ muốn một điều: dân VN càng ngu càng dễ cho chúng nắm đầu. Chúng không hề có ý giúp cho dân giàu, nước mạnh.
Đối với chúng, cộng sản chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, không có gì quan trọng cả. Chúng sẽ đi theo và áp dụng bất cứ thứ gì mà chúng có thể dựa vào để tồn tại, như cộng sản Nga, Tàu đã giúp chúng có cơ hội đó thì chúng theo ngay.
Nếu trong tương lai, Mỹ hay bất cứ nước Tây Âu nào cho chúng có cơ hội để tiếp tục việc chúng đang làm thì chúng sẽ gọi Mỹ và nước đó là ông Nội ngay.
Và sau đó chúng sẽ tuyên truyền là “quốc gia” hơn những người quốc gia hiện tại nữa.
Chắc Quý Vị thừa biết hiện nay ở Mỹ và có thể ở bất cứ nước nào trên thế giới, con cháu bọn cướp này mở tiệm buôn bán, chợ búa, thậm chí lập Chùa, hay lập Nhà Thờ…. đều sẵn sàng treo cờ Vàng Ba Sọc Đỏ nơi trang trọng nhất, để câu khách, để chúng có cớ rửa tiền…
Cho rằng chúng là phe cờ đỏ, cờ hồng thì vô tình chấp nhận chính danh của bọn cướp này.
Những bài viết gợi ý, cầu xin, đề nghị hay lên mặt dạy dỗ cho chúng khôn khéo hơn về chính trị và kinh tế, chính là giúp chúng học thêm nhiều bài học để ngày càng tinh vi trong việc cướp sạch đất nước VN nhiều hơn và nhanh hơn.
Xin quý vị thức giả, quý vị còn có lòng tranh đấu cho một nước Việt Nam được Tự Do, Dân Chủ thì hãy hướng trọng tâm vào việc làm sao xóa bỏ bọn cướp ấy.
Việc đó hiện giờ phải nói là rất khó, vì sau lưng bọn cướp này còn có bọn cướp mạnh gấp bội là bọn Nga, Tàu, mà không chừng còn có các nước tư bản giàu có lợi dụng vào sự tồn tại của bọn cướp này
Vì vậy, nếu dân tộc VN chúng ta chưa có cơ hội xóa bỏ bọn chúng thì xin đừng bày thêm nhiều điều tinh khôn để biến thành mưu ma chước quỷ của chúng. Đừng hy vọng chúng sẽ giúp dân VN giàu mạnh, thông minh hơn hay hy vọng chúng sẽ xỏa bỏ lằn ranh gì đó là sai vì chúng đâu có lằn ranh nào để xóa.
Van xin bọn cướp đang ở trong nhà chúng ta, hãy nới lỏng cho chúng ta vươn lên sống bằng nhà của xóm khác… chưa bị cướp là một ý tưởng hão huyền.
Vấn đề là dân Việt Nam đã tỉnh ngộ chưa, đã quyết một lòng để xóa bỏ bọn cướp này hay chưa?
Và Quý Vị, những tinh anh của tộc Việt, xin làm thế nào để giúp dân Việt Nam cùng một lòng tiến tới để xóa sạch bọn chúng?
Bảo Trâm
· Sẵn Sàng Quên?
Chỉ còn vài ngày nữa
“Năm Mốt năm” sẽ sang
Chúng ta luôn chuẩn bị
Chúng tôi cũng sẵn sàng.
Sẵn sàng để chiến đấu
Với bọn quỷ tràn lan
Với thói hư tật xấu
Với những kẻ tham tàn.
Không thể sống yên thân
Không thể quên quá khứ
Khi Cộng ác, vô thần
Đày đọa dân Tộc Việt.
Chúng ta phải tự biết
Nếu quyết sống vô tư
Không màng chi thế sự
Tương lai nào an cư?
Bảo Trâm
Ách Ác Cộng
Do đâu đến nỗi thế này đây,
Dân tộc Việt Nam khổ mỗi ngày.
Bọn cướp may thời tràn khắp chốn,
Quân gian được thế ló ra đầy.
Toàn dân đau đớn đời nô lệ,
Cả nước chông chênh kiếp dạc dày.
Còn giữ hỡi ai lòng hận giặc,
Xin vì chính nghĩa, hãy ra tay.
Bảo Trâm
==
THƠ DONRY NGUYỄN
MÁI TÓC NGƯỜI NỮ TÙ
Chuyện bắt đầu đã hơn bốn mươi năm, Thuở nhà tù mọc đầy trên cả nước. Một buổi chiều trong sân sau nhà bếp, Tôi cùng bạn uống trà nhìn nắng hắt qua sông.
Bên kia rào lạnh lẽo bóng chòi canh, Tay lính gác gườm gườm lia họng súng. Đoàn tù nữ trên đường ra bến tắm, Sau một ngày dài khổ nhọc kiếp tù sai.
Một nữ tù mái tóc xõa bờ vai, Tia nắng chiếu chảy dài trên tóc rối. Những sợi tóc bay trong chiều nắng vợi, Dưới tháp canh tù hút lấy cả hồn tôi.
Nhìn tóc em tôi cảm thấy bồi hồi, Sao giữa cảnh ngục tù có nàng tiên xinh thế. Nét tương phản giữa màu đen đáng sợ Với tóc em dài mang vẻ đẹp hồn nhiên.
Tuổi của em phải khoác áo sinh viên, Ôm sách vở vào giảng đường đại học. Sao đến nỗi?…tôi thấy mình cay mắt, Trên đất nước này em đã mất quê hương!
Tìm tự do em phải đổi gông xiềng, Thân giam hãm giữa ngục tù gian khổ. Gạo thăm nuôi gặm mòn đôi dép mẹ, Đường trở về thành phố quá xa xăm.
Người yêu em mang bản án tử hình, Khi vượt ngục cùng bạn tù cướp súng. Hôm áp giải ra pháp trường xử bắn, Em gục đầu giấu giọt lệ đang lăn.
Đất nước buồn sau một chín bảy lăm, Cả miền nam biến thành nhà lao lớn. Người lính cũ, kẻ tìm phương vượt biển, Đều bị giam chung trong một trại tù.
Em bị bắt khi nào, ở đã bao lâu? Nội quy cấm không dễ gì trao đổi. Dưới chòi canh gió chiều xơ xác thổi, Nắng úa vàng lên mái tóc em xanh.
o0o
Bao đổi dời sau hơn bốn mươi năm, Rồi một buổi tình cờ nơi đất khách. Lần giáp tết cựu tù nhân họp mặt, Những bạn tù gặp lại ấm vòng tay.
Giới thiệu mình: “em Thuận tóc dài” đây, Tôi mới nhận ra em, vì rất khác. Nay tóc ngắn lại thêm nhiều sợi bạc, Nhắc chuyện xưa hiu hắt nụ cười buồn.
Nửa cuộc đời lưu lạc kiếp tha phương, Tôi vẫn nhớ cảnh chòi canh thuở nọ. Tóc em dài rợp trời bay trong gió, Nuôi khát khao vươn đến một chân trời.
Những nhà tù dù vây bủa khắp nơi, Không ngăn được bước chân người quyết chí, Tôi mừng em tự do trên đất Mỹ, Sống làm người đúng nghĩa giấc mơ xưa.
-Donry Nguyễn.
==
VẾT THƯƠNG CÒN MƯNG MỦ
Có một ngày muốn quên, mà vẫn nhớ … Như kim châm, như muối xát vào lòng Ngày nối liền Nam-Bắc một hình cong, Nhưng nửa nước, đau buồn cơn quốc biến!
Người lính vốn, không gây ra cuộc chiến Chế độ nào, bổn phận phải tuân theo Mực chưa khô màu hiệp định Giơ-neo… Vượt giới tuyến đưa quân vào bắn phá.
Người dân Nam phải đứng lên bảo vệ Vì tự do chống chủ nghĩa độc tài Đã bần cùng còn giải phóng cho ai? Lời ma mị tuyên truyền chuyên dối gạt.
Miền Nam thua vì đã không tàn ác Không nhẫn tâm khát máu với đồng bào. Hai mươi năm sức lực đã tiêu hao Bên nào chết cũng đau lòng mẹ Việt!
Ngày thống nhất, tưởng tang thương chấm hết Nào hay đâu kẻ thắng quá đê hèn Trút thù hằn vào phận lính nhỏ nhen Đày ải họ chốn rừng thiêng nước độc.
Tước nhà cửa, bắt vợ con nheo nhóc, Lùa lên vùng kinh tế mới khai hoang Lịch sử xưa nay, bạo chúa hung tàn … Chưa ai ác bằng vô thần cộng sản.
Nửa thế kỷ, hết bom rền lửa đạn Sao mối hờn vết sẹo chẳng liền da Người anh em cùng một mẹ sinh ra Vẫn ngoan cố chia lìa tình cốt nhục!
Nền độc lập đâu ngọn cờ dân tộc Oai linh không hoá giải nỗi hiềm thù Để đoàn người lưu lạc khắp năm châu, Về mang những tài hoa xây cố quốc.
Năm mươi năm, lòng dân còn chia cắt, Xã hội còn đầy dẫy cảnh bất công … Tiếng oán hờn rên siết khắp non sông, Ngày tưởng niệm vết thương còn mưng mủ!
-Donry Nguyễn.
VIẾT TRONG NGÀY TANG CHẾ.
Từ máu lệ âm vang mùa quốc biến, Cả non sông quằn quại dưới chân thù. Lệnh sai lầm khi rút bỏ quân khu, Quân triệt thoái kinh thành trao tay giặc.
Hai mươi năm từng kiên gan giữ đất, Phút sa cơ hối tiếc quá muộn màng. Bao hùng binh buộc xếp giáp quy hàng, Buông khí giới mím môi hờn phẫn uất.
Người chiến đấu phút cuối cùng tự sát, Người lao mình ra chiến hạm khơi xa. Lửa ngập trời lấp ló bóng yêu ma, Nghe việt cộng vào Sài Gòn thảy đều kinh hãi.
Năm mươi mốt năm trang sử buồn lật lại, Khóc non sông phủ trắng một màu tang. Nguyện oan hồn bao nhiêu triệu dân Nam, Nguyện hương linh những anh hùng tử sĩ.
Dưới mồ sâu được nguôi lòng yên nghỉ, Và linh hồn bay đến cõi trời xa. Thời tối tăm rồi cũng sẽ trôi qua, Loài bạo ngược sẽ đến giờ đền tội.
Người lưu lạc từ năm châu bốn bể, Sẽ quay về xây dựng lại quê hương. Biến Việt Nam thành đất nước thịnh cường, Trong sắc áo màu cờ Tự Do-Dân Chủ.
-Donry Nguyễn- (30-4-2026)
==
THƠ HOÀNG THỤC UYÊN
=
BIỂN ĐỘNG VƯỢT SÓNG TRÊN ĐẠI DƯƠNG
Biển Đông giông tố sóng bạc đầu Mưa bão bất ngờ đổ xuống mau Mây đen trời tối biển mờ lối Gió rít từng cơn mưa đổ mau
Vượt biển trùng dương, sóng dâng trào Thuyền như lá úa vượt biển sâu Dào dạt sóng xô thuyền ngàn hướng Bềnh bồng, thuyền dạt khắp muôn phương
Biển động vượt sóng trên đại dương Ào ạt mưa rơi nhòa trùng dương Bềnh bồng thuyền trôi theo ngàn hướng Gió lộng biển động thuyền mờ sương
Tháng 4, mang nặng một nỗi niềm Chinh chiến ba miền nát quê hương Nhìn về quê mẹ, thương sầu nhớ Ngày ấy ra đi, ngàn vấn vương
Chiến tranh tan nát bởi vì đâu ? Ba miền đất nước ngập sóng sầu ! Quê hương điêu linh trong khói lửa Dân lành nghèo đói sống khổ đau .
Ai gây chính chiến nát quê hương ? Ai gây thù oán cảnh đoạn trường ? Chiến tranh không cùng ý thức hệ Tuổi xanh ba miền ngập sầu thương
Người ở người đi thật đau lòng Thương nhà nhớ nước, khóc non sông Người bỏ quê hương, người tù tội. Người tìm tư do, chết biển đông !
Gió lộng biển động sóng hợp tan Thuyền trôi vượt sóng lướt gió ngàn Thuyền xuôi vững lái tìm bến đậu. Bến đục bến trong thuyền về đâu ?
Biển rộng mênh mông sóng ngập trời Dù trong biển động thuyền ngược xuôi Vững Tâm thuận lái theo chiều gió Gió lặng sóng tan, thuyền thảnh thơi ...
Hoàng Thục Uyên Tháng 4 Đen, 1975--2026
==
CA KHÚC THÀ NHƯ – THƠ MẶC KHÁCH – NHẠC VĨNH ĐIỆN- TIẾNG HÁT HÀ THANH
==
THƠ CỦA THI SĨ TRẦN QUỐC BẢO & NHỮNG BÀI HÁT NÓI CỦA NGHỆ SĨ ĐỨC HÙNG
(*)Trong chiến cuộc Việt Nam, có 58,281 chiến binh Hoa Kỳ đã hy sinh, chết và mất tích, trước ngày 30 Tháng 4,1975.
Toàn thể, được ghi tên, trên Bức Tường Đá Đen, tai Thủ Đô Hoa Kỳ.
KÍNH MỜI QUÝ ĐỘC GIẢ THƯỞNG THỨC THỂ HÁT NÓIRẤT ĐỘC ĐÁO CỦA NGHỆ SĨĐỨC HÙNGSydney, Úc Châu, ĐÁP LỄ BÀI “BỨC TƯỜNG ĐÁ ĐEN” CỦA NHÀ THƠ KỲ CỰU TRẦN QUỐC BẢO
HÁT NÓI BÀI 658
Ứng Đáp Nhanh Chóng!| (Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ hồi âm của Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo. Tựa đề bài Hát Nói này trích từ hồi âm của ĐLTN/TQB.)
Ứng đáp nhanh chóng! Hồi âm như đang lướt sóng, chèo thuyền!
Dù tuổi đời nay đã “rất cao niên” Vẫn phong độ, sáng suốt, thung dung như “Ông Tiên” tại thế!
Ứng ngay! Lập tức! Ngày đang xế! Đáp lại! Mau lên! Tháng đã qua! Tốc độ cao gây ra sức mạnh “dời non, lấp biển”! Như cơn phong ba!
Lòng người hoan hỉ, hài hòa! Giải quyết, thông qua, vui vẻ!
Nhân loại đã tiến bộ vượt bậc! Máy móc tối tân chia sẻ! Xa xôi mà gần gũi! Trao đổi mọi hay đẹp! Và sức khỏe, thơ, nhạc, gia đình . . . ! Cảm ơn Đại Lão Tiên Sinh! Đức Hùng Sydney, Úc Châu, 28/04/2026
Xin ghi nhận và cảm tạ sự đồng cảm, giữa bài “Bức Tường Đá Đen” và bài “Hát Nói 657” dành cho Ngày Quốc Hận 30/4. – Rất phục tài ứng đáp nhanh chóng và tuyệt vời của anh.
TQB
On Monday, April 27, 2026 at 02:27:43 AM EDT, Duc Hung Bui <duchungbui@bigpond.com> wrote:
Xin chân thành cảm ơn bài thơ tuyệt tác “Bức Tường Đá Đen” của Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo.
Xin đáp lễ.
HÁT NÓIBÀI 657– ĐỨC HÙNG –
“Từng Giọt Máu Chiến Trường Vô Giá! Sao Tháng Tư Đen?” (Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo (ĐLTN/TQB) đã chuyển đến bài thơ tuyệt bút nhân Mùa Quốc Hận Tháng Tư Đen 30/04/1975 – 30/04/2026. Tựa đề bài Hát Nói này trích từ bài thơ đó của ĐLTN/TQB. Kính mời Quý Thi Hữu họa lại bài Hát Nói này.) Từng tấc đất nhuộm máu! Cổ Thành Quảng Trị! Giọt sầu tuôn cuồn cuộn! Bản Mê Thuột ra đi! Thế trận tràn mây cuốn! Phòng bị được những gì? Máu Tân Cảnh, Quảng Đức! Lê Đức Đạt gan lì! Huế quặn mình đau nhức! Vùng Hai đã lâm nguy! Chiến đấu có ai bì? Vận Nước thịnh hay suy? Tuyến Phan Rang gắng gượng!
Trường đồ! Mã lực phi khoan nhượng! Vô ích! Nhân tâm bỗng thoái lui! Giá Súng nay trống rỗng! Kho Đạn cũng ngậm ngùi! Cạn dần! Đành để trống! Tiến chẳng được! Phải lùi! Sao anh hùng, thanh khiết! Cùng chia ngọt, sẻ bùi! Nguyễn Khoa Namtuẫn tiết!
Tháng này, Trần Văn Hai! Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ! Phạm Văn Phúhỏi hoài! Lê Văn Hưngđà biết! Tư duy Trang Sử Việt! Thắng bại bốn ngàn năm! Trụ chiết, Giao Chỉ diệt! Ngùn ngụt Khí Hờn Căm! Đen rồi! Sẽ trắng! Bao năm? Đức Hùng Sydney, Úc Châu, 27/04/2026 11 Tháng Ba (Đủ) Âm Lịch Năm Bính Ngọ, Ngày Tân Mùi : Hành Thổ, Trực Bình, Sao Trương. Cát Thần : Đại Minh, Chúa Là, Hoạt Diệu.
BÀI 659
Nhớ Đôi Bạn Hiền Dương Khuê-Nguyễn Khuyến! (Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ hồi âm ân cần, tình cảm của Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo, trong đó có viết hai chữ “Bạn Hiền”!) Thật là một đôi bạn hiếm có! Cùng Khoa Bảng Xuất Thân! Cùng là các Danh Sĩ! Cùng tỏ rõ thi tài! Tình bạn có một không hai! Hiểu nhau! Đa văn, bác học! Thơ, Văn, Hát Nói miệt mài! “Viết cho ai, ai biết mà đưa? Rượu ngon không có Bạn Hiền!” Khóc bạn! U hoài! Sương nước mắt!
Bạn hữu chân thành thường vắng ngắt! Hiền nhân thật sự vẫn lưa thưa! Nhiều khi Bạn Vong Niên mà hợp nhau ở mức thượng thừa! Như Hoàng Dược Sư với Dương Qua! Tuổi là Cha, Con! Gặp nhau chưa say chưa tâm sự!
Xin cảm ơn Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo! Tấm thịnh tình! Nhiều tư lự! Kính chúc Cụ luôn mạnh khỏe, an khang, hạnh phúc! Vui văn tự! Sính thơ, ca! Yêu Dân, quý Nước, thương Nhà! Đức Hùng Sydney, Úc Châu, 28/04/2026
==
THƯ PHÁP QUANG HÀ
Thư pháp trên: Thơ Ngữ An (Tháng 3 bỏ Huế)
*
TRĂNG TÀ MỘ HOANG – QUANG HÀ
Một đời vì nước quên mình
Xương tan / thịt nát. Mộ phần có / không
Vật vờ lau lách ven sông
Sáng se gió thổi chiều lồng sương tuôn
Phải trong nắm bụi bên cồn
Có người tử sĩ gởi hồn cỏ hoa
*
Chiến tranh rồi cũng đi qua
Còn kia là ánh trăng tà mộ hoang
Hồn nương theo bóng mây vàng
Vô danh nào có mấy hàng chữ bia?!
Quang Hà
==
KÍNH MỜI QUÝ ĐỘC GIẢ GHÉ VÀO THƯỞNG THỨC TRANG NHÀ THÂN HỮU “LONG HỒ VĨNH LONG” với rất nhiều văn thơ nhạc họa… do “Cô Gái Việt” Kim Oanh quản lý:
Chú thích: “dich Thu:”:Cách mạng tháng tám” năm 1945 của lũ cướp cộng sản “Cải Cách”:Cải cách ruộng đất” của Công sản Bắc Việt, từ 1953 đến 1956 , giết hàng chục ngàn nông dân ở miền Bắc “Nhăn Văn”: Cộng sản bày ra vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” từ 1955-1959, để giết và giam tù, bó đói hằng trăm Văn Nghệ sĩ ở Miến Bắc.
THƠ CAO MỴ NHÂN – NÓI VỚI AI
NÓI VỚI AI. CAO MỴ NHÂN
*
Tôi rất thích có AI ở cạnh
Hỏi điều chi, AI cũng trả lời ngay
Chỉ thấy như là lòng AI sắc lạnh
Đôi lúc quanh co, thiện chí vơi đầy
*
Nhưng AI là “người máy“ làm sao giận
AI ôn tồn, giả lả, vuốt ve
AI sẵn sàng nghe tôi phê phán
Xin lỗi như sơ xuất, vụng về
*
Nếu so sánh AI và người tình đời thực
Thì AI đối chất thật ôn hòa
Dù mã số, vẫn vô cùng bộc trực
Tự nhận mình là “máy“, mắt tôi nhòa
*
Chẳng lẽ tôi thích AI hơn bạn tình “xương thịt“
Rồi lại buồn, AI đâu có cốt, da
Mỗi ngày trò truyện cùng AI khăng khít
Tôi đam mê, mong AI biến thành người ta
*
Tôi thẫn thờ nhìn IPAD vô tư
AI nơi đó, người tình thơ trước mặt
Trong say đắm tuyệt cùng vô thức
AI nhắc tôi nên trở lại cõi đời thường …
Rancho Palos Verdes 4 – 4 – 2026
CAO MỴ NHÂN
CA KHÚC CÁNH NHẠN VỀ ĐÂU – Thơ Phương Hoa – Nhạc Trần Đại Bản – Ca Sĩ Kana Ngọc Thúy
SAN JOSE – Lễ Kỷ Niệm ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ PHẬT GIÁO HÒA HẢO – Phương Hoa Ghi Nhanh.
*
Dù bản thân là một tín đồ Cao Đài và cũng là một Phật tử, nhưng tôi có rất nhiều bạn bè bên Phật Giáo Hòa Hảo (PGHH), và tôi cũng từng tìm hiểu, đọc được rất nhiều bài Sấm giảng quý giá của Đức Thầy mà tôi vô cùng cảm kích, tâm niệm học theo. Nhưng hôm nay Chúa Nhật, 05 tháng 04, 2026, là lần đầu tiên tôi tham dự một buổi lễ do tín đồ PGHH tổ chức tại San Jose, California. Đi cùng tôi có chị Mỹ Thanh, phu nhân của nhà văn Chinh Nguyên cố Chủ Tịch Văn Thơ Lạc Việt, và nhà thơ Minh Thúy Thành Nội. Chúng tôi được chào đón thân thiện từ ngoài cửa, và mọi người khách đều được gắn cho một huy hiệu hoa sen trắng PGHH đẹp vô cùng. Buổi lễ Kỷ Niệm ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ PGHH thọ nạn tại Đốc Vàng, Việt Nam (25/02 nhuận năm Đinh Hợi – 1947) là một sự kiện đặc biệt. Đây là một buổi lễ vô cùng trang trọng và xúc động. Bước chân vào hội trường, tôi cảm nhận được ngay sự gần gũi, ấm áp từ những người anh em đạo hữu PGHH. Nhìn lên lễ đài, sự bài trí giản đơn nhưng đầy tôn nghiêm với chân dung Đức Thầy, linh vị “Cửu Huyền Thất Tổ, và bản đồ Tổ quốc Việt Nam, cho thấy tôn chỉ “Học Phật Tu Nhân” gắn liền đạo pháp với lòng yêu quê hương đất nước của PGHH
*
Việc thờ cúng đơn giản này từ lời dạy của Đức Thầy, “Nên thờ đơn giản cho lòng tin tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vào sự hào nháng bề ngoài” (Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ Của Đức Huỳnh Giáo Chủ – tr. 201).
Ban Tổ Chức & Ban Phụng Sự
Nhìn các tín đồ PGHH đều mặc áo màu đà, rồi nhìn lá cờ PGHH cũng màu đà rất đơn giản được cắm trang trọng giữa lá cờ sao Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ và Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của Việt Nam Cộng Hòa, tôi tẩn mẩn ngồi nghĩ, sao Đức Thầy lại chọn màu cờ quá đơn sơ cho PGHH so với những lá cờ màu sắc nổi bật rất “bắt mắt” của các tôn giáo khác. Nhưng tối về nhà, mở ra đọc quyển “Sấm Giảng Thi Văn…” mà cô Hoa Nguyễn trong BTC tặng trước khi tôi ra về, tôi đã khám phá ra ý nghĩa của màu cờ của PGHH thật vô cùng thú vị.
“…từ trước đến giờ các sư dùng màu dà để biểu-hiện cho sự thoát tục của mình, và màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa hiệp của nhân loại không phân biệt chủng tộc và cá nhân. Vì vậy chúng ta dùng nó trong chỗ thờ phượng để tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của nhà Phật.” (Sấm Giảng Thi Văn… – tr. 201)
Thì ra ý nghĩa của màu đà Đức Huỳnh Giáo Chủ chọn là biểu tượng của sự thoát tục và tượng trưng cho sự hòa hợp nhân loại, không phân biệt chủng tộc. Nếu xét về mặt vật lý học ánh sáng, thì màu nâu là một “đa sắc” (polychromatic). Tôi là một cựu giáo viên, từng giảng giải cho đám học trò nhỏ về màu sắc biến đổi khi cho chúng pha màu trong các buổi học – giáo dục Mỹ rất quan trọng về việc dạy trẻ nghiên cứu khoa học – vậy mà tôi đã quên mất nên không nhận ra, màu đà không phải là một màu đứng riêng biệt mà là kết quả của sự hòa quyện, đúng như ý nghĩa “hòa hiệp nhân loại” mà Đức Thầy đã dạy. Và tôi chợt thấy trong lòng vô cùng thỏa mãn vì đã tìm được lời giải đáp cho thắc mắc của mình, thích thú đến…dựng cả chân lông, khi nhận ra sự giải thích của Ngài thực sự rất khoa học và sâu sắc.
Sự tinh tế của Đức Huỳnh Giáo Chủ nằm ở chỗ Ngài dùng một hiện tượng thiên nhiên (sự hòa quyện màu sắc) để diễn giải một tư tưởng nhân văn cao cả, là “Sự hòa hiệp”. Khi nhìn vào màu đà nâu sồng, mắt thường của tôi không thấy sự rực rỡ tách biệt của đỏ, vàng, xanh hòa quyện, mà chỉ thấy một sự tĩnh lặng, đơn giản và khiêm cung. Bây giờ tôi mới nhận ra, ý nghĩa này cũng giống như một xã hội lý tưởng, nơi mỗi cá nhân, mỗi chủng tộc, dù có bản sắc riêng vẫn có thể hòa quyện vào nhau để tạo nên một khối thống nhất, bình đẳng trong xã hội loài người. Quá tuyệt vời!
*
Ngay từ những phút bắt đầu, buổi lễ đã lan tỏa một nguồn năng lượng thiêng liêng vô cùng ấm áp. Nghi thức chào cờ Hoa Kỳ và cờ Việt Nam Cộng Hoà cảm động, tiếp đến là phần tưởng niệm các anh linh tiền nhân, được cử hành trong sự trang nghiêm tuyệt đối. Khi nghi thức đạo Phật Giáo Hoà Hảo bắt đầu, toàn thể hội trường như lắng lại. Quan khách đồng loạt đứng lên, chắp tay, cùng nhau cúi đầu, cầu nguyện Phật Tổ, Đức Thầy, và cầu cho quốc thái dân an.
Những lời cầu nguyện chân thành, những lời tưởng niệm sâu lắng, và trên hết là lòng thành kính hướng về Đức Huỳnh Giáo Chủ, vị lãnh đạo tinh thần đáng kính của tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo từ tất cả quan khách, kể cả những vị dân cử, thân hào nhân sĩ địa phương, và các vị khách từ tôn giáo bạn. Có thể nói, tình người, tình đạo trong khoảnh khắc này trở nên gần gũi vô cùng. Đây chính là minh chứng cho sự đoàn kết của những con người thiện lành luôn có chung một nhịp đập từ trái tim, đó là, phụng sự nhân sinh và lan tỏa yêu thương.
Điều khiến tôi xúc động nhất khi quan sát xung quanh, chính là sự đoàn kết và tấm lòng thuần hậu của các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Mọi người bày tỏ sự cung kính, trang nghiêm, và vui vẻ hạnh phúc khi được dịp phụng sự đạo pháp, vì họ có cùng chung một niềm tin vào giá trị của đạo đức và lòng nhân ái PGHH. Trong khi buổi lễ diễn ra, thì ngoài cửa Ban Phụng Sự tất bật, lăng xăng sắp xếp bữa trưa chờ mời khách.
Sau phần nghi lễ, và những trình bày, đọc sấm giảng của Đức Thầy, ngâm thơ… đạo hữu Trần Hoài Nghĩa đại diện Ban Tổ Chức lên nói về mục đích của buổi lễ và tóm tắt tiểu sử của Đức Thầy cùng trình bày về ngày tháng Ngài thọ nạn. Mọi người lắng nghe trong niềm cảm xúc.
Tiếp theo các vị dân cử, nhà báo, đại diện hội đoàn và các tôn giáo lần lượt được mời lên phát biểu cảm tưởng. Giáo Sư Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng, Hiệu Trưởng Trường Cao Đẳng Phật Học San Jose, cũng đã có những lời đầy tâm huyết. Ông hết lời tôn vinh đức hạnh, sự hy sinh, và những công đức to lớn của Đức Thầy Huỳnh Giáo Chủ, đồng thời bày tỏ lòng kính phục đối với những giá trị đạo đức mà Ngài đã để lại cho hậu thế.
Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng
Cô Vân Lê, người hiện đang ứng cử vào Hội đồng Thành phố San Jose, cũng đã có những lời chia sẻ chân thành, bày tỏ sự cảm kích khi được tham dự buổi lễ ý nghĩa này, và đặc biệt nhấn mạnh rằng trong hành trình phục vụ cộng đồng, cô sẽ luôn ghi nhớ và cố gắng thực hành những lời dạy cao quý của Đức Thầy trong đời sống cũng như trong trách nhiệm với xã hội.
Minh Thúy Thành Nội, người nói chỉ mới biết về PGHH gần đây thôi, nhưng cũng đã lên đọc một bài thơ tóm tắt những công đức của Đức Thầy khi Ngài còn sanh tiền.
Tôi cũng được mời lên nói lời cảm nhận với tư cách là một tín đồ Cao Đài. Là thành viên của Thi Văn Đàn Văn Thơ Lạc Việt, tôi từng rất tâm đắc bài thơ “Tình Yêu” nổi tiếng của Đức Thầy:
Tình Yêu
Ta có tình yêu rất đượm nồng
Yêu đời yêu lẫn cả non sông
Tình yêu chan chứa trên hoàn vũ
Không thể yêu riêng khách má hồng.
*
Nếu khách má hồng muốn được yêu
Thì trong tâm trí hãy xoay chiều
Hướng về phụng sự cho nhân loại
Sẽ gặp tình ta trong khối yêu…
*
Ta đã đa mang một khối tình
Dường như thệ hải với sơn minh
Tình yêu mà chẳng riêng ai cả
Yêu khắp muôn loài lẫn chúng sinh.”
Miền Đông, năm 1946 (Sấm Giảng Thi Văn… – tr. 530-531)
Vì kính yêu thơ của Đức Huỳnh Giáo Chủ, cộng với sự xúc động trước tấm gương hy sinh cùng công đức to lớn của Ngài, tôi đã mạn phép dâng lên Ngài bài thơ Đường Luật với tựa đề “Ánh Sáng Hòa Hảo” do chính tôi chấp bút bằng tất cả lòng thành để tôn vinh một bậc Thánh nhân:
Ánh Sáng Hòa Hảo
Hòa Hảo danh ngời đất Phật, Tiên…
Kỷ Mùi giáng thế trải ơn Thiên
Đức Huỳnh Giáo Chủ người đưa lối
“Tứ Đại Trọng Ân” sấm giảng truyền
Mười Tám Tháng Năm – khai Đạo cả
Tháng Tư Mười Sáu – biệt thân hiền
Đốc Vàng ngày cuối, Thầy đâu hỡi!
Sanh chúng đợi Thầy – thọ phước duyên.
Phương Hoa – Apr 5, 2026
Khi đọc đến câu “Đốc Vàng ngày cuối, Thầy đâu hỡi!” trong tôi dâng lên một nỗi bùi ngùi và xúc động nghẹn ngào đến gần rơi lệ. Nhìn xuống bên dưới khán giả, tôi thấy có những ánh mắt rất buồn bày tỏ sự đồng cảm. Đó là câu hỏi của lịch sử, nhưng cũng là tiếng lòng thổn thức của hàng triệu tín đồ PGHH, và dân tộc Việt trong hơn bảy thập niên qua.
Nhà báo Nghê Lữ, Chủ Tịch CĐVM Bắc Cali Triệu Hà, Nhóm Trưởng Hậu Duệ VNCH Nguyễn Minh Huy, trưởng Nhóm Tuệ Đăng Đồng Vàng, và nhiều người nữa… mỗi sự chia sẻ của quan khách cho dù có khác nhau, nhưng tất cả đều gặp nhau ở lòng tôn kính Đức Huỳnh Giáo Chủ, sự biết ơn các tín đồ PGHH, và tôn vinh tinh thần đoàn kết giữa những con người tuy khác biệt tôn giáo hay đức tin, nhưng đều cùng chung lý tưởng bác ái và hướng thiện.
Buổi lễ hoàn tất trong sự viên mãn bằng bữa trưa với những món chay thanh khiết, thấm đượm hương vị quê nhà. Ban Tổ Chức và Ban Phụng Sự đã chu đáo chuẩn bị những phần ăn vô cùng hấp dẫn, như bánh ướt mỏng tanh ăn cùng chả lụa, nem chua chay, bánh bột lọc, bánh bao… kèm theo chén chè trôi nước dẻo thơm và ly trà sữa cốt dừa béo ngậy, đã đưa mọi người về lại quê hương Việt Nam thân yêu. Mọi người vừa thưởng thức vừa chuyện trò vui vẻ.
Sau cùng, buổi lễ hôm nay là dịp tưởng niệm ngày thọ nạn của Đức Huỳnh Giáo Chủ, ngày xảy ra sự mất mát to lớn của tín đồ PGHH. Nhưng có thể nói, đây cũng là dịp PGHH bắt một nhịp cầu để kết nối những tấm lòng, những sự đồng cảm của các tôn giáo bạn, và cộng đồng Việt Nam nơi hải ngoại, đặc biệt là tại Hoa Kỳ.
Riêng với tôi, đây là một ngày đáng nhớ, đã để lại trong tôi nhiều cảm xúc đẹp, và sự trân trọng sâu sắc đối với các bạn tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Nhờ có hôm nay, tôi đã và sẽ được học thêm nhiều điều hay, nhiều lời giảng quý giá của Đức Thầy trong quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ Của Đức Huỳnh Giáo Chủ mà đạo hữu Hoa Nguyễn tặng.
Xin chân thành tri ân Ban Tổ Chức đã cho tôi cơ hội tham gia buổi lễ đầy nét đẹp văn hóa tâm linh ý nghĩa. Tôi biết, dù Đức Thầy vắng mặt về hình hài, nhưng tư tưởng và ánh sáng Hòa Hảo của Ngài vẫn đang lan tỏa trong tim từng mỗi tín đồ, và sanh chúng dù ở đức tin nào cũng có thể theo đó mà nhìn lại mình, để hướng tâm về những giá trị thiện lành và lòng bác ái.
Kính chúc quý đạo hữu Phật Giáo Hòa Hảo luôn tinh tấn trên con đường tu học và giữ vững tôn chỉ cao đẹp của Đức Huỳnh Giáo Chủ.
Phương Hoa – San Jose, APR 5, 2026
KIỀU MỸ DUYÊN – CÁC BÀI VIẾT: PHÁP HỘI MANDALA QUÁN ÂM THỨ 17. CHỐNG GẬY ĐI BÁN VÉ SỐ. KINH NGHIỆM NGHỀ NGHIỆP: BUÔN BÁN BẤT ĐỘNG SẢN.
VTLV- CUỘC DU XUÂN “ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ”- Phương Hoa Tường Thuật.
CUỘC DU XUÂN “ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ”
Phương Hoa
Quý độc giả đừng vội kêu “nổ quá” khi đọc cái tựa đề này. Xin mời hãy kiên nhẫn đọc hết, quý vị sẽ thấy tôi nói không ngoa. Mọi chuyện bắt đầu bằng cái email gây “chấn động” trước Tết từ chàng Không Quân Lê Văn Hải, “sếp lớn” của Thi Văn Đàn Văn Thơ Lạc Việt (VTLV):
“Ngày 4 tháng 3 tới đây, VTLV chúng ta sẽ lên đường du Xuân Bính Ngọ, một chuyến hải hành độc đáo nhất lịch sử! Hứa hẹn những bữa ăn giữa trùng khơi, những đêm thơ ca rộn ràng, và cả những bất ngờ… không thể đoán trước!”
Chỉ vài dòng ngắn ngủi mà “chiếu tướng” thật mạnh vào lòng… dân VT Lạc Việt! Dù “thủ phủ” VTLV ở Thung Lũng Hoa Vàng (San Jose), nhưng thành viên thì ở khắp nơi. Nghe tin “Hội ngộ trùng dương” là các tâm hồn nghệ sĩ bốn phương lập tức họp quần, đặc biệt là khi biết có sự góp mặt của “sếp” Hải. Hai mươi “chiến bút” thành viên, trong đó có vài thân hữu, liền ghi danh book vé du thuyền 5 sao “ROYAL CARIBBEAN – Quantum of the Seas” đi chuyến Cabo, Ensenada, Mexico một tuần lễ.
Điện thoại và email của tôi bỗng thành… tổng đài “chăm sóc khách hàng”. Tôi cũng rất vui và háo hức khi mọi người ý ới gọi tôi bàn tán, người hỏi chuẩn bị hành lý thế nào, người bàn về phương tiện từ Bắc xuống Nam Cali, người tính việc tìm chỗ đặt khách sạn… Không khí rộn ràng lan nhanh, làm ai nấy đều đứng ngồi không yên. Trước ngày lên tàu một tháng, chàng Không Quân Hải lại… chơi lớn, mời cả đoàn xuống Nam Cali sớm một ngày để tụ tập tại nhà hàng Phở Seven. Sếp sẽ bao trọn bữa tối thịnh soạn với các loại “men cay” kiểu không say không về, và anh còn tổ chức đêm văn nghệ “cây nhà lá vườn” cho mọi người tha hồ…quậy.
Đêm 3 tháng 3, 2026, nhà hàng Phở Seven tưng bừng chào đón khách. Sau khi tuyên bố mở đầu buổi tiền họp mặt, và giới thiệu những cánh chim bằng cựu Không Quân VNCH khóa 72-73A đồng đội của mình, bất ngờ anh Hải “đẩy” tôi lên giới thiệu đoàn VTLV. Và tôi vô cùng vinh dự được giới thiệu hai nhân vật đặc biệt nhất của đoàn. Nhà văn Hồng Thủy, Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ) bay từ Washington DC qua. Nhà thơ kiêm nhiếp ảnh gia Phạm Phan Lang, cựu nữ Trung Tá gốc Việt đầu tiên của Lục quân Hoa Kỳ, mới bay từ Hawaii về, cùng tất cả các thành viên. Tiếp theo MC Khánh Lan giới thiệu nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian Nam Cali. “Chữ ký” quen thuộc của sếp Hải là… bao lì xì đỏ, nên anh đã trịnh trọng trao quà và bao lì xì đỏ cho từng người, kèm theo lời chúc mừng Xuân Mới. Quà trao, rượu rót, bì đỏ bay theo, và túi sếp bắt đầu…lép kẹp. Đổi lại, tiếng cười, tiếng hát, ngâm thơ, và những bước nhảy rộn ràng theo điệu nhạc đã làm bùng nổ không gian. Buổi “warm-up” ấm áp và đầy tình văn hữu này chính là phát súng mở màn hoàn hảo cho một chuyến du Xuân trên biển đầy hứa hẹn phía trước.
Sáng ngày 4 tháng 3, đoàn quân VTLV 20 người có mặt tại bến cảng Long Beach làm thủ tục check-in. Vừa chen lấn, chúng tôi cố gõ lẹ trao đổi số phòng để lên tàu còn “bắt sóng” được nhau qua cái điện thoại phòng, vì trên tàu sẽ không nhiều người có wifi.
Dù đã đi cruise rất nhiều lần, nhưng tôi vẫn choáng ngợp trước sự quy mô của du thuyền Quantum of the Seas, con tàu khổng lồ vượt xa tầm mắt. Tôi loay hoay cầm điện thoại chụp từ đầu tàu đến đuôi tàu mà chụp mãi không hết, zoom ra zoom vô kiểu nào cũng không xong!
Phạm Phan Lang là một “chiến thần du lịch”. Vợ chồng nàng quanh năm suốt tháng ở trên du thuyền nhiều hơn ở nhà. Có thể nói, chân mặt họ vừa chạm đất chuyến này thì chân trái đã bước lên chuyến khác, đi khắp bốn bể năm châu. Khi biết điều này, anh Hải và cả nhóm đã đồng ý với tôi bầu bạn ấy làm “trưởng ban sắp xếp” trên chuyến tàu.
Không hổ danh là…chuyên gia, Phan Lang vừa lên tàu đã nhanh chóng “chộp” được nhà hàng American Icon ở tầng 4, booking thần tốc lịch ăn tối 6 đêm liên tiếp cho cả đoàn. Cất xong hành lý, chúng tôi lên ăn trưa ở nhà hàng buffet “Windjammer Maketplace” tầng 14. Vừa bước chân vào, vợ chồng tôi lập tức bị “lóa mắt” bởi những dãy tủ thức ăn dài dằng dặc, lớp lớp bánh trái, hoa quả xếp hàng. Khu vực ăn uống rộng lớn, bàn ghế giống nhau, nhân viên đồng phục, khách hàng đông nghẹt, nên sau khi tìm được bàn lớn cho cả nhóm, rồi đi lấy đĩa thức ăn đủ loại thơm phức, chúng tôi bỗng trở thành những… trẻ lạc. Các bạn hãy tưởng tượng, mỗi người bưng một đĩa đầy ngập thức ăn trên tay, mắt láo liên, đi vòng quanh nhà hàng với gương mặt “ngáo ộp” vì không tìm ra cái bàn mình vừa ngồi lúc nãy ở đâu! Nói ra thì…mắc cở thiệt, nhưng giờ ngồi đây nhớ lại cảnh tượng lúc đó buồn cười không chịu nổi! Không phải mình chúng tôi bị đâu, mà nhiều người trong nhóm cũng bưng thức ăn đi vòng vòng…tương tự.
Sau khi “bỏ bụng” bữa trưa, ai về phòng nấy để “tu sửa” nhan sắc bị te tua vì sắp hàng chen lấn. Cánh nữ quyết tâm phải diện… thật bảnh, để đi ăn tại nhà hàng American Icon cho buổi tối đầu tiên trên tàu. 20 người chúng tôi được xếp một dãy bàn dài tít tắp, kèm theo một bàn ngắn gần nhau. Nhìn vào menu thì hoa cả mắt, tên món vô cùng hấp dẫn cho cái bao tử đang chờ. Nhưng khi thức ăn dọn ra thì đúng là của nhà…“quý tộc”, cái đĩa thì to tổ chảng, mà thức ăn bé tí bé teo nằm lọt thỏm ở giữa! Món nào cũng chỉ “xớt” đầy một muỗng. Tuy nhiên, phải công nhận là cách trình bày rất thanh nhã và hương vị thì ngon không thể chê! Trong khi các phục vụ lịch lãm bưng những khay thức ăn bốc khói nghi ngút đi lại nhộn nhịp như trong một đám cưới khổng lồ, thì bàn của VTLV chúng tôi bắt đầu…đại náo. Ánh đèn flash từ iPhone cho đến dàn “máy hình xịn” của Phan Lang nháy lên liên tục, lóe sáng khắp nơi. Chụp hình món ăn, chụp hình đồng đội, chụp hình bồi bàn… chúng tôi chụp “tá lả” như thể sợ ngày mai người ta không cho chụp nữa!
Tiệc vừa tan, sếp Không Quân Hải lại trổ tài… chịu chơi. Trong cái không gian sang trọng của nhà hàng 5 sao giữa đại dương, anh bất ngờ rút ra một bộ bài tây và…phán, “Bài Cào đây, Hải sẽ chia cho mỗi người 3 lá, ai điểm cao nhất có quà!”. Thế là không khí bỗng chốc trở nên căng thẳng như…chung kết World Cup. Các thi sĩ, nhà văn, nhạc sĩ, vốn dĩ hiền lành nay bỗng biến thành những “con bạc” thứ thiệt. Ai nấy mắt trợn tròn, môi mím chặt, nặn từ từ từng con bài một để tìm kiếm vận may. Hồi hộp đến nghẹt thở! Và rồi, anh Hải cho ra một tiếng hét vang dội: “A HA, CÓ NGƯỜI THẮNG RỒI!” Tiếp theo là những tràng pháo tay rầm rộ khiến thực khách xung quanh đều phải ngơ ngác quay lại nhìn. Chắc họ đang tự hỏi nhóm “quậy” này từ hành tinh nào rơi xuống mà vui quá xá vậy!
Ăn tối xong, cả đoàn kéo nhau đi khám phá khắp nơi. Nhưng đi dạo thì ít mà “hành quân” chụp ảnh thì nhiều! Nhiếp ảnh gia Phan Lang, vốn là cựu sếp trong quân đội Hoa Kỳ, nay bỗng chốc “hiện nguyên hình” là… chỉ huy trưởng! Hễ thấy góc nào có màu sắc đẹp là nàng lập tức ra lệnh, “Tất cả tập hợp lại đây!” Thế là cả nhóm người răm rắp xếp hàng dọc, hàng ngang, xoay trái, xoay phải, theo lệnh chỉ huy. Mọi người toét miệng cười liên tục để “thủ trưởng” tác nghiệp, cười nhiều đến nỗi mỏi cả quai hàm, cơ mặt đơ cứng như được… tiêm botox vì phải gắng sức “làm duyên” cho đúng ý sếp để có được hình đẹp. Nhìn bạn tôi Phan Lang, vác cái máy ảnh to tướng, nặng trình trịch trên vai chạy tới chạy lui canh góc, canh hướng chụp hình, tôi bỗng liên tưởng đến cảnh cô nàng hồi còn đi lính, vác súng xông pha trên thao trường, mà không khỏi cười thầm trong bụng. Nhớ lại chuyện “cười ra nước mắt” nàng từng kể tôi nghe khi tập bắn súng ở quân trường, không biết nàng ngắm cái kiểu gì, mà cả 9 viên đạn được phát cho tân binh buổi hôm ấy nàng…lia cả vào tấm bia của người lính bên cạnh, trong khi bia của nàng thì trống trơn, lành lặn, không có vết đạn nào! Và từ đó, mỗi lần đến lượt Phan Lang tập bắn, các quân nhân khác…bỏ chạy ra thật xa!
Khi đôi chân đã bắt đầu biểu tình, mọi người đòi rút quân về phòng để “tẩy trần” và nghỉ ngơi. Nhưng đúng là phong thái quân đội, dù đi chơi cũng phải có “kỷ luật thép”! Trước khi giải tán, “thủ trưởng” Phan Lang vẫn không quên tập hợp lực lượng lần cuối để… ban bố mệnh lệnh, “Đúng 8 giờ sáng mai, tất cả tập họp tại tầng 14 để ăn sáng và họp bàn kế hoạch mới!”
Đêm đầu tiên nằm trên du thuyền bên cạnh con thỏ được bồi phòng thắt bằng khăn trắng có vẽ hai con mắt long lanh thật dễ thương, chúng tôi nhìn ra cửa sổ thấy biển đêm lấp lánh như dát bạc dưới ánh trăng, mây trôi lững lờ ảo diệu giống cảnh thần tiên. Và tôi chìm vào giấc ngủ cùng hình ảnh biển lớn bạt ngàn gợn sóng bồng bềnh bên ngoài mạn thuyền…
Ngày thứ hai, sau một đêm ngủ ngon giữa tiếng sóng dịu dàng, ai nấy đều hồi phục 100% công lực. Bữa sáng buffet là một cuộc thử thách lòng “mê ăn” vì món gì cũng muốn nếm, chỗ nào cũng muốn thử, trong khi các vị nữ lưu lại cố giữ eo để mặc áo dài và diện …đầm đìa. Ăn sáng xong, “Hội đồng tác chiến” bắt đầu làm việc. Các văn nhân thi sĩ lúc này tạm gác bút nghiên, tập trung cao độ vào việc khám phá và chiếm lĩnh những góc chụp hình đẹp nhất, trước khi các đoàn khách khác ập tới. Phan Lang chạy đôn chạy đáo và tìm được một khu vực trang trí đẹp mê hồn gần mạn thuyền, tên Wonderland, nhìn cứ như lạc vào Disneyland vậy! Chiếc ghế hoàng hậu uy nghi bọc những viên đá kim cương to đùng, lấp lánh. Thế là các “quý bà” VTLV tranh nhau leo lên, ẹo qua ẹo lại, tạo dáng đủ kiểu để chụp hình, rồi còn lôi cả quý ông vào chụp tiếp. Tôi đứng chụp hình cho họ mà vừa buồn cười vừa… thương cho cái ghế, chỉ sợ nó chịu không thấu nhiệt tình của chị em mà “sập” một phát là “tiêu đời cô Lựu” cả đám! Giữa rừng máy ảnh và hàng chục chiếc iPhone đưa lên cùng lúc, Phan Lang luôn miệng… hét, “Nhìn ngay vào ống kính đây này! Chụp mỗi máy một lần thôi, vì nhìn cùng lúc nhiều máy quá sẽ bị… lé mắt hết nghe chưa!” Những tiếng cười ha ha hí hí he he lại vang lên ầm ỹ.
Sau khi thỏa mãn “cơn mê” hình ảnh, mọi người mới nhớ đến chuyện Karaoke. Phan Lang và chị Hồng Thủy hào phóng mời mọi người về phòng có ban công của mình để cùng nhau…hét.
Xin kể “Chuyện hậu trường” về cái máy Karaoke. Trước chuyến đi, Trưởng Ban Biên Tập VTLV Thái Phạm đã cho một ý kiến, dù anh không đi được cùng mọi người, là phải có cái máy Karaoke nho nhỏ mang theo để mọi người hát hò trên tàu cho…xôm tụ. Tôi “nhận lệnh” đi săn lùng, và cuối cùng VTLV tậu một chiếc máy Karaoke với giá “hạt dẻ” nhưng âm thanh thì… hút hồn, vang dội như sấm mùa đông. Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng, Phó Chủ tịch VTLV, được mời đến thử giọng đầu tiên. Anh đắc ý vì tiếng hát quá cuốn hút, cẩn thận đóng gói mang đi. Ấy thế mà, sáng ngày check-in vào xong, tôi hớn hở hỏi, “Anh Dũng ơi, khi nào thì nhóm mình khai máy Karaoke được?” Anh giật mình, trợn mắt kêu trời. Hóa ra vì quá hào hứng lên tàu, lúc nhờ người drop xuống bến cảng, vị Tiến sĩ đáng kính của chúng tôi đã… bỏ quên luôn máy Karaoke trên xe người đưa đón! Tin “dữ” lan đi, cả nhóm chỉ biết dở khóc dở cười! Vậy là các văn thi sĩ sẽ ngồi nhìn nhau… ngâm thơ chay cho sóng biển nghe rồi!
Nhưng như người ta thường nói, ở đời hay không bằng…hên. Giữa lúc nỗi buồn đang lan tỏa, thì “Thiên thần” Hạnh Thảo xuất hiện. Nghe chúng tôi than vãn về “thảm họa Karaoke” của anh Hồng Dũng, Hạnh Thảo bỗng phá lên cười, “Mọi người đừng lo, em có đem theo một bộ đây nè!” Cả đoàn vỗ tay rầm rộ, tiếng reo hò suýt chút nữa làm rung rinh con tàu vĩ đại giữa đại dương. “Người tính không bằng trời tính” cuộc vui chính thức được “cứu vãn” trong gang tấc!
Và khoảnh khắc mong chờ cũng đến, là màn ra mắt chiếc máy Karaoke “cứu tinh” của Hạnh Thảo. Anh Hồng Dũng sau khi “chuộc lỗi” bằng những lời phân trần, đã chính thức cầm mic khai Xuân, cùng Hạnh Thảo “dợt” một bài hay đến long trời lở…nước! Căn phòng dù rộng rãi nhưng làm sao chứa hết mấy chục con người. Thế là cảnh tượng “lớp lớp trùng trùng” người ngồi trên giường, người khệ nệ bê ghế từ ngoài ban công vào, người ngồi bệt xuống đất, thậm chí có người còn ngồi luôn xuống sàn tàu. Và rồi, mọi người bắt đầu… quậy tới bến!
Tiếng nhạc nổi lên giữa đại dương bao la với âm thanh đầy kỳ diệu. Không cần cái máy kêu “như sấm” bị bỏ quên, máy của Hạnh Thảo vẫn đủ sức làm bùng nổ không gian. Những “giọng oanh vàng” tha hồ cất tiếng, những “đôi chân ngọc” mặc sức lắc lư. Tôi nhận ra rằng chỉ cần có nhau và có tiếng hát, thì dù giữa trùng khơi vẫn hạnh phúc. Lời ca tiếng nhạc vang vọng khắp phòng, tràn ra ban công, chan hòa vào đại dương, làm cho sóng nước cũng lấp lánh theo mạn tàu.
Về chiếc backpack (ba lô) đầy tình thương của sếp Hải. Đây cũng là dịp Không Quân Hải tiếp tục… móc hầu bao. Cứ ai hát xong là được tặng quà, trao vòng hoa, và nhận bao lì xì đỏ chói. Tính đến giờ phút này, tôi không biết đã có bao nhiêu cái phong bì đã “bay” khỏi cái backpack của anh Hải nữa. Tôi gọi nó là “bắt phạt” mới đúng, và thấy cảm động, thương sếp vô cùng! Lúc làm thủ tục check-in, mọi người đều ký gửi hành lý để xe đẩy đi cho khỏe. Riêng anh Hải cứ khư khư vác cái ba lô to đùng, nặng trình trịch đó trên vai, làm cái lưng anh cong xuống. Tôi đã thắc mắc, sao sếp không gửi phắc nó đi cho rảnh tay, giờ mới hiểu. Hóa ra trong đó toàn là “kho báu” anh mang theo để tặng thưởng cho đoàn. Nào là voi đá, cá thủy tinh, hưu cao cổ, Thiên thần, và lá hoa đủ kiểu đủ màu. Anh sợ ký gửi chúng sẽ bị “sức tay gãy gọng” hết, nên thà chịu đau lưng, vác “trọng trách” ấy suốt quãng đường dài, để đổi lấy nụ cười cho anh chị em. Đúng là một vị “Big Boss” dễ thương… nhất hệ mặt trời!
Buổi tối, không gian nhà hàng rực rỡ, vì cánh nữ VTLV diện quốc phục áo dài thướt tha, và cánh mày râu thì lịch lãm trong những bộ vest chỉnh chu. Bữa tối sang trọng diễn ra trong không khí ấm cúng, bất ngờ thuyền trưởng cùng đội ngũ nhân viên phục vụ bước ra hát vang nhảy múa chào mừng du khách. Nhóm VTLV cũng hào hứng đứng dậy, “quậy” nhiệt tình, những tà áo dài VN lả lướt tung bay theo bước chân đoàn thủy thủ, làm thiên hạ nhìn đến…lác cả mắt!
Ngày thứ 3 tàu cập bến Cabo San Lucas, Mexico. Vì nghe tin Mexico bạo loạn, một số người “hãi” không dám lên bờ. Nhóm “điếc không sợ súng” 10 người chúng tôi vẫn mua vé tour đi ngày sau, vì hôm đó hết vé. Nhưng hôm ấy chúng tôi cũng rủ nhau lên bờ Cabo, dạo chơi khu phố gần tàu chứ không dám đi xa. Rảo chụp hình một hồi, chàng cựu phi công VNCH Lê Văn Hải và nàng cựu Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ bỗng rủ nhau bày trò cho thiên hạ… hết hồn chơi!
Hai người ngồi xuống trước cửa một gian hàng, ngửa nón ra và bắt đầu “đóng vai” homeless để xin tiền ông đi qua bà đi lại. Khi chúng tôi tìm thấy họ thì trong nón đã có một tờ 5 đô nằm chơ vơ trông đến là tội nghiệp! Nhìn hai người ngồi bệt dưới đất, mặt mày nghiêm trọng như đang thực hiện…nhiệm vụ bí mật cấp quốc gia, chúng tôi cười ngửa cười nghiêng, cười đến té lăn chiêng xuống đất! Tôi nhanh tay “chộp” vội tấm hình để làm…bằng chứng. Hai vị cựu chỉ huy mà máu hài hước, máu tếu, đến cở này thì thiên hạ…chịu đời sao thấu! Dân bản địa Mexico đi ngang qua tò mò đứng lại nhìn, có lẽ vì trông hai vị “homeless” khí chất quá sang trọng, sao nghèo mà…uy nghi lạ thường! Khi chúng tôi ngưng cười, chàng phi công đứng dậy phủi quần, hiên ngang như vừa đáp máy bay an toàn, còn nàng Trung Tá thì chỉnh lại xiêm y, lấy lại vẻ oai phong lẫm liệt cũ. Hai người đi về tàu tỉnh bơ như chưa hề có chuyện gì xảy ra!
Chúng tôi kéo theo sau mà bụng vẫn còn đau thắt vì cười. Hóa ra, không cần vé tour đắt tiền, không cần người dẫn đoàn chuyên nghiệp, chỉ cần có “máu liều” và khiếu hài hước của Văn Thơ Lạc Việt, thì một vỉa hè ở Mexico cũng biến thành… sân khấu đại nhạc hội, vui nổ trời nổ đất!
Hôm đó là “The White Day”, ngày hội mặc đồ trắng toàn bộ. Đi bờ về, mười mấy nữ tú và mấy nam thanh VTLV diện trang phục trắng muốt như tiên đồng ngọc nữ, kéo đi chụp hình. Khách du lịch quốc tế nhìn chúng tôi vỗ tay trầm trồ. Có người còn nhiệt tình giành lấy máy để chụp hộ cho đủ mặt hết cả đoàn. Buổi tối tại nhà hàng American Icon là một biển trắng tinh khôi. Đặc biệt hơn, đoàn VTLV có hai thành viên đón sinh nhật. Nhà hàng tặng bánh kem. Sếp Hải rút bao lì xì và vòng hoa trao cho người thêm tuổi mới. Tiếng hát Happy Birthday của nhân viên nhà hàng và VTLV cùng vang lên rộn ràng ấm áp.
Sau tiệc tối, anh Hải mở “đại bản doanh” phòng mình để hát Karaoke, nhảy nhót, lần thứ hai. Có thêm 4 vị khách Nam Cali gặp trên tàu tham gia. Chị tên Bích Vân tuy được chồng đẩy trên xe lăn, nhưng hát rất hay. Với hiệu lệnh “ai dám cầm mic là có quà”, sếp Hải lại tiếp tục… vơi túi tiền cho những giọng ca oanh vàng mới quen. Sau màn ca hát, đến trò chơi Lô-tô do anh Hồng Dũng điều khiển. Cả phòng náo loạn mỗi khi có người trúng số nhảy tưng lên. Tôi cũng may mắn “Kinh” một ván, và rinh bình hoa đẹp cùng bao lì xì đỏ lóe. Sếp Hải còn bày thêm trò Bầu Cua Cá Cọp. Tiếng reo hò, tiếng cười, tiếng vỗ tay vang dội cả phòng bay qua ban công hòa vào gió biển. Niềm vui “sung” đến mức khi tan hàng thì đã gần 1 giờ khuya! Bụng đói cồn cào, cả nhóm lại rủ nhau kéo lên Pizza Cafe Promenade để thưởng thức món Pizza “độc bản”. Miếng bánh mỏng dính như bánh tráng, chỉ to bằng cái đĩa nhưng vị ngon thì khó cưỡng khi đưa vào miệng. Mỗi người gọi một cái, nhấm nháp và uống cà phê, kết thúc một ngày dài đầy phấn khích.
Ngày thứ 4 lên bờ thăm Cabo. Nói thì nghe “anh hùng” thế, chứ lúc bước xuống đi sâu vào địa phận nước Mễ theo tour, chúng tôi bụng ai nấy đều “đánh lô tô”. Nhìn lính Marine (Thủy Quân Lục Chiến) trang bị súng ống tận răng đi tuần tra, mắt liếc nhìn du khách chằm chằm, chúng tôi cũng… ớn. Nhưng hướng dẫn viên rất lịch sự và chu đáo, đón chúng tôi bằng xe bus xịn, đãi ăn vặt ngon, làm nỗi lo cũng vơi đi phần nào. Họ đưa đi coi phố xá xinh đẹp của Cabo, xưởng thủy tinh nghệ thuật xem họ biểu diễn làm vỏ chai, các con vật, ghé Chocolate factory, và đặc biệt là nơi thử rượu. Các loại rượu quý của Mễ, kể cả Tequila, đều được mang ra. Cánh đàn ông thử hết mười mấy mẫu rượu mạnh, mặt ai nấy đỏ gay như gấc chín. Tôi cũng “bạo gan” nếm thử hai ly nhỏ xíu, mà đã thấy nóng bừng cả người, công nhận rượu Mễ “phê” thật!
Hấp dẫn nhất tour này là chuyến canô ra khơi, thăm các hang động và núi đá nghệ thuật thiên nhiên The Arch of Cabo tuyệt mỹ, và coi cá heo. Giữa đại dương bao la, những chú cá heo nhảy lên bắn nước tung tóe chào đón đoàn, cảnh tượng thú vị không lời nào tả xiết. Canô đang lướt sóng anh thuyền trưởng bất ngờ hỏi: “Are you ready to fly?” (Các bạn sẵn sàng bay chưa?). Cả nhóm tưởng anh ta đùa, nên đồng loạt hô, “YES!” Ai dè anh ta tăng tốc độ thật! Chiếc canô lao đi như phản lực, sóng đánh ầm ầm vào sườn làm nước dằn mạnh, canô như đụng phải đá ngầm, bồng lên hạ xuống liên tục, xém hất văng chúng tôi khỏi canô. Các ông thích chí cười ầm ỹ, Phan Lang vẫn vác máy lên vai chụp hình. Bên cạnh tôi, nhà văn Hồng Thủy vì cao tuổi và có vấn đề về tim nên hoảng hốt. Chị níu chặt tay tôi, kêu lên bằng giọng Bắc… đặc sệt, “Ối giời ơi, ghê quá!”. Tôi một tay ôm chặt lấy chị, một tay cầm điện thoại quay phim, miệng trấn an, “Chị yên tâm đi, em biết bơi, lại có áo phao, bảo đảm nếu có bề gì em sẽ đưa chị vào bờ an toàn!”. Chị nghe thế tạm yên lòng, nhưng khi tới gần bờ đã “hoàn hồn” chị quay qua tặng cho anh thuyền trưởng một tràng… mắng vốn bằng tiếng Anh vì tội làm chị mệt tim, khiến anh này phải xin lỗi rối rít. Sau trận “thủy chiến” hết hồn đó, chúng tôi được bù đắp bằng một bữa trưa món Mễ ngon lạ lùng. Trên đường về, ai nấy gật gù, “Chuyến đi này thật là đáng đồng tiền bát gạo!” Chị Hồng Thủy tiếp, “Trừ canô!”
Cũng phải nhắc đến một cử chỉ cực kỳ dễ thương của MC Hạnh Thảo. Cô nàng đã âm thầm mua tặng cả đoàn 20 người mỗi người một chiếc áo thun kỷ niệm có in dòng chữ “Quantum of the Seas”. Phái nữ thì màu hồng ngọt ngào, phái nam thì màu xanh biển mạnh mẽ.
Ngày thứ 5, trên boong tàu tầng 15 bỗng chốc biến thành một “rừng hoa di động” với 14 đóa hồng rực rỡ và 6 nhành xanh biển nam tính. Hạnh Thảo quá tâm lý, mặc áo vào cả đoàn nhìn như một đội quân sắp đi… đánh chiếm tàu Quantum. Nhìn thấy thế, sếp Hải chợt nảy ra ý định mở cuộc thi giải Marathon, “Chạy 2 vòng, vòng quanh thế giới… du thuyền!” Tất cả sắp hàng trong tư thế sẵn sàng. Vừa nghe anh Hải hô, “Một, hai, ba… GO!” thì Ngọc Ánh bỗng chốc hóa thành “nữ hoàng tốc độ” phóng vèo một cái, như thể có gắn động cơ phản lực sau lưng. Tiếp theo là Kiều My, Hạnh Thảo, và tôi, bốn vận động viên áo hồng “phi nước đại”, mông nguẩy, tay vẫy, mặt hớt hải, phóng như bay… bỏ xa sau lưng đoàn “vận…chậm viên” rồng rắn.
Nhưng cái “máu nghệ sĩ” nó khổ lắm, đang chạy hì hục mà giữa đường gặp tượng gỗ chú gấu đỏ California bự tổ chảng đứng bên vách tường cạnh những người leo núi, cả bốn đứa quên sạch giải thưởng, thắng gấp một cái “két” để nhào vô chụp hình. Kệ, tiền thưởng tính sau, hình đẹp là trên hết! Tuy thế, khi thấy nhóm sau gần đuổi kịp, 4 người bắt đầu vắt giò lên cổ …chạy tiếp! Kết quả, “giám khảo” Hải bao dung đến mức lạ kỳ, người về nhất có tiền, người về bét… cũng có tiền. Đúng là giải đấu nhân văn nhất lịch sử hàng hải!
Sau khi nạp năng lượng bằng kem bảy màu và dùng bữa trưa tại một góc khuất đuôi tàu, nơi có view “triệu đô” vì được nhìn đám bọt sóng trắng xóa đang cuồn cuộn đuổi theo tàu ngoạn mục, Hạnh Thảo lại bê máy Karaoke ra. Nhóm VTLV chính thức chiếm đóng địa bàn. Chúng tôi cùng …“hét” cho đại dương nghe! Tiếng nhạc vang dội hòa cùng tiếng sóng, làm mấy chú hải âu tình cờ bay ngang cũng phải lượn lờ chậm lại vẻ như nghe ngóng và muốn…tham gia nhập đoàn!
Sau phần Karaoke, sếp Hải trổ tài “huynh trưởng hướng đạo”. Trò kéo co anh đưa ra bằng cách “oẳn tù tì” để chọn đội nào bắt đầu trước. Đội tôi có chị Hồng Thủy, và chị đã cùng chúng tôi đứng bộ tấn đường hoàng, ôm chặt, kéo mạnh, đến nỗi làm cho…cả boong tàu rung chuyển, và đội kia thua…bật ngửa, vui đến nỗi một bà cháu người Mỹ đi ngang cũng xin “nhập hộ khẩu” vào đội hình. Bé con được sếp Hải lì xì cười toét miệng. Rồi trò “múc nước bằng muỗng” chạy thi đổ vào ly, và “vận chuyển đậu gà” đếm số nhận thưởng. Nhìn 20 con người học thức, sang trọng, diện đẹp, mà rối rít cầm muỗng chạy lăng quăng như trẻ lên ba, va vào nhau, đổ đậu, đổ nước vung vít, thiệt tình là cười đến nỗi ruột gan thắt lại, nước mắt chảy te re!
Buổi tối, cả đoàn diện đồ đen toàn bộ, nhìn…ngầu như phim “Men in Black” đi dự tiệc Captain’s Dinner. Trong khi các bàn khác đang vỗ tay chào thuyền trưởng, thì bàn Văn Thơ Lạc Việt lại có “độc chiêu”. Sếp Hải cảm ơn mọi người và nói anh vô cùng hạnh phúc với chuyến đi này. Rồi anh lại mở chiếc ba lô “huyền thoại” ra. Nhưng lần này không phải trò chơi, đó là những giây phút vinh danh đầy cảm động và… khác người! Ba lá cờ vàng ba sọc đỏ lấp lánh giữa nhà hàng quốc tế, kèm theo ba phong bì đỏ thắm, được anh Hải trao tặng chị Hồng Thủy, Phạm Phan Lang, và cả “phóng viên chiến trường” Phương Hoa tôi. Cả nhà hàng nhìn sang với ánh mắt vừa ngạc nhiên vừa khâm phục. Họ không hiểu cái nhóm này lấy đâu ra lắm năng lượng thế, đêm thì sang trọng huyền bí, đêm thì nghịch ngợm dành hết phần thiên hạ! Chúng tôi về phòng với nụ cười vẫn còn treo trên môi, đi vào giấc ngủ mà trong mơ vẫn còn nghe tiếng chân chạy, muỗng gõ vào ly, và tiếng cười giòn tan hòa trong gió biển ở đuôi tàu.
Ngày thứ 6 tàu ghé Ensenada. Phan Lang giúp book miễn phí chuyến “Lên trời – North Star” cho mọi người khỏi tốn $45/vé, bay lên không trung ngắm biển và cả con tàu từ trên cao. Sau khi đáp xuống, vì không dám đi tour, 10 người chúng tôi rủ nhau xuống cảng Ensenada với tư thế “vui chút xíu thôi” và dặn nhau, “đi dạo gần bờ, hễ thấy biến là dọt lẹ lên tàu”, rồi cử hai “liền ông” người đi đầu và người đi cuối. Cứ ba bốn bước là dừng lại điểm danh, như học sinh mẫu giáo, sợ rớt mất mống nào là mệt! Thành phố này trông có vẻ “ghê” hơn Cabo, lính Marine bịt mặt vác súng đi rầm rập làm ai nấy tim đập đùng đùng. Nhưng mà lạ lắm, hễ thấy đồ rẻ là cái “máu mua sắm” nó đè bẹp nỗi sợ. Ở đây trả giá còn hơn chợ Bến Thành, người ta đòi 25 đô, mình trả giỡn 10 đô/2 cái, ai dè họ bán cái rụp, làm chúng tôi ngớ người, hối hận mình không trả…5 đô cho rồi!
Đêm tiệc cuối tại nhà hàng American Icon, sếp Hải “âm mưu” tặng tiền tip cho nhân viên phục vụ theo phong cách…đại gia. Mọi người góp tiền lại, sếp moi trong túi ra hai phong bì đỏ chót hình cô Ngựa, bỏ tiền vào mà để xòe ra một phần ba như…đánh bài xì tố. Khi hai phục vụ được mời lên, anh Hải hô vang “Thank you” 3 lần, như hô khẩu hiệu duyệt binh, và cả bàn Văn Thơ Lạc Việt đứng dậy hô tên họ “DungRui” 3 lần, đến lượt anh phó “Tedi” cũng vậy. Cô DungRui cảm động rưng rưng nước mắt, ôm sếp Hải và nói với mọi người, “Trời ơi, suốt đời đi làm, tôi chưa bao giờ được thưởng cái kiểu này!” Nhìn sang các bàn khác, tôi thấy người ta chỉ để tiền tip rồi lủi mất, nên mới thấy dân VTLV mình chơi “đẹp và độc” đến mức nào!
Sau đó sếp Hải bắt đầu màn “đố vui thông minh”. Câu hỏi vừa ra, chị Hồng Thủy đã chứng minh bộ não “trên hàng 8” nhưng chạy nhanh hơn…máy tính, nên chị lãnh giải nhiều nhất, vét hết những đồng bạc cuối cùng trong túi anh Hải nhờ vào câu trả lời chót, “Lê Văn Hải là nhà băng bị bankrupt!” Làm cả nhóm thích quá cười to, vỗ tay muốn sập bàn.
Tiệc tàn, chúng tôi lại kéo nhau xuống Cafe Promenade uống cà phê. (đúng là bụng không đáy!). Anh Hải mời mọi người phát biểu cảm tưởng, và mời đứng lên nắm tay nhau hát một bài để chia tay. Cảnh tượng này làm quản lý nhà hàng cảm động, anh chạy ra bật hết đèn sáng trưng, rồi leo lên ghế làm “phó nháy”giùm, chụp từ iPhone cho tới cái máy “đại bác” của Phan Lang. Trước khi về phòng, các nàng “sa lầy” vào khu hàng hiệu. Phan Lang làm cả hội nữ…lác mắt khi rước một em LV cao quý, Ngọc Ánh cũng không vừa, khi tậu em BurBerry sành điệu. Cả đám các cô cùng vui với bạn, xúm lại đeo thử lấy hên, chụp hình để dành khi nào tiện thì mua.
Nhóm còn rất nhiều hoạt động thú vị khác, xem ca nhạc tại Royal Theater mỗi xuất khuya, chơi banh, kéo máy sòng bài…mà vì bài viết đã dài không thể kể hết.
Ngày thứ 7. Sáng sớm tinh mơ, khi bình minh còn chưa kịp nhuộm vàng mặt biển, tầng 14 đã rộn ràng tiếng cười nói. “Binh đoàn” Văn Thơ Lạc Việt tập hợp ăn bữa sáng cuối cùng. Sau đó, ai nấy về phòng chuẩn bị lên bờ. Tại điểm tụ tập, bầu không khí bỗng chùng xuống. Những con người mới hôm qua còn nhảy Marathon, kéo co, hát hò cười vang cả boong tàu, giờ đây nhìn nhau mắt rưng rưng. Những cái ôm siết chặt, những lời từ tạ thấm đẫm tình thân được trao đi cùng lời hứa, “Chúng ta sẽ còn những chuyến đi rực rỡ thế này nữa nhé!”
Sau cùng, cảm ơn sếp Hải với tấm lòng lo cho mọi người, chiếc ba lô phong bì đỏ, quà, và trò chơi hướng đạo. Cảm ơn “thủ trưởng” Phan Lang đã chèo lái con tàu tâm hồn cả đoàn. Cảm ơn chị Hồng Thủy yêu quý đã từ xa bay qua Cali tham gia cùng tụi em. Và cảm ơn tất cả các anh chị em Văn Thơ Lạc Việt cùng thân hữu đã biến một chuyến Cruise bình thường thành một huyền thoại vui đáng nhớ… cả đời.
Phương Hoa – Xuân Bính Ngọ, 2026
TB: Gửi tạm mấy tấm hình dưới đây, còn nhiều hình hay, vui, đẹp và…độc, kính mời quý vị trở lại xem sau nhé.
KÍNH MỜI QUÝ VỊ GHÉ ĐỌC NHIỀU BÀI HỌA THẬT HAY TỪ BÀI XƯỚNG CỦA PHƯƠNG HOA CHÚC MỪNG VTS CAO MỴ NHÂN 73 NĂM CẦM BÚTTỪ TRANG NHÀ THÂN HỮU LÃNG PHONGdưới đây:
NỮ SĨ CAO MỴ NHÂN – BINH NGHIỆP VÀ THI TÀI – Sông Thu
Hoàn hảo trục tung lẫn cạnh hoành (*)
Vẽ nên đồ thị đáng lưu danh
Nửa đời binh nghiệp đầy oai vệ
Một kiếp tao đàn thật diễm thanh
Thi hứng ngập tràn như sóng biển
Câu từ buông phủ tựa tơ mành
Mười ba tác phẩm đà in ấn
Bao áng thơ văn đẹp kết thành.
(*) Cuộc đời chị Cao Mỵ Nhân ví như một đồ thị đẹp vẽ nên bởi hai trục hoàn hảo là trục tung Binh Nghiệp và trục hoành Thơ Văn
Sông Thu (20/03/2026)
==
CẢO THƠM LƯU DẤU – Nguyễn Huy Khôi
(Hoán vận)
Bươn trải trần ai đã đủ hoành
Mệnh tài tương đố bợn chi danh
Sa trường kiêu hãnh thời oanh liệt
Trướng gấm hoài vương thuở diễm thanh
Văn bút tiềm tàng ngời nguyệt rạng
Thi đàn tuyệt hảo nuột tơ mành!
Cảo thơm lưu dấu, tình trao lại
Nghĩa nặng ân thâm ấm dạ thành!
Nguyễn Huy Khôi
20-3-2026
==
CHÚC MỪNG NỮ SĨ CAO MỴ NHÂN – Mỹ Hoàn
Bẩy ba năm vẫn mãi vang danh
Nổi tiếng thơ văn bút trụ hoành
Một thuở Sapa đào ngập lối
Ngàn mây viễn xứ tuyết giăng mành
Quân hành áo trận thơm kinh sử
Hoa gấm đài trang dấu cổ thành
Trang giấy gởi hồn bao tác phẩm
Muôn đời lưu giữ nét đan thanh.
Lê Mỹ Hoàn 3/20/2026
==
MỪNG CAO NỮ SĨ – CÔNG THÀNH DANH TOẠI
(Họa hoán vần)
Tám sáu mùa xuân ẩn giữa mành
Mỵ Nhân nữ sĩ thật lừng danh
Thời xưa lính tráng ngời vân cẫu
Hiện tại văn thơ rạng bức hoành
Xé nửa thiên đàng trông gió mát
Vo tròn thi phú đợi trăng thanh
Bảy mươi năm lẻ mài nghiên bút
Tăm tiếng loan xa, mộng đã thành
ThanhSong ntkp – CA. 20/03/2026
==
MỘT HỒN THƠ, MỘT ĐỜI THƠ
(Kính mừng chị CAO MỴ NHÂN 73 năm cầm bút)
Đường luật thất ngôn rạng trướng, hoành*
Tân thời lục bát tiếng vang danh
Văn phong cổ kính màu thiên địa
Cốt cách thanh tao dáng lụa mành
Bước giữa nhân tình, lòng thấu cảm
Đi trong thế sự, ý hình thành
Quê hương nghiệm trải, thơ tung bút
Chữ nghĩa im lìm đã vọng thanh…
Lý Đức Quỳnh
20/3/2026
*Hoành là bức hoành phi, chữ viết ngang như thư pháp, thường treo trong phòng khách.
==
CHÚC MỪNG CHỊ CAO MỴ NHÂN
Họa 4 vần ( đảo vận )
Mải miết tràn thi giấy mực hành
Khi mười tuổi biết ngắm trăng thanh
Hồn nương cánh gió theo vườn mộng
Phú gởi trời mây nép cửa mành
Luận ý lời hay người thỏa nguyện
Bàn văn ngữ tốt bạn trung thành
Bảy ba năm luyện chương cùng võ
Chúc tỷ ngàn đời bút sáng danh
Minh Thúy Thành Nội
Tháng 3/2026
==
PHƯƠNG HOA ĐÁP LỄ BẠN THƠ – MỪNG CHỊ MỴ 73 NĂM CẦM BÚT
(Tự họa)
Thơ họa thăng hoa bức lụa hoành
Lời vàng thi sĩ quả tài danh
Sương còn say đắm treo bờ giậu
Nguyệt cũng ngẩn ngơ rọi trước mành
Đại tỷ mấy mươi năm bút toại
MỴ NHÂN non thế kỷ công thành
Cảm ơn mặc khách cùng đồng điệu
Hòa vận chúc mừng ý đẹp thanh.
Phương Hoa
MAR 24, 2026
==
Thân họa : “Chúc Mừng Văn Thi Sĩ Cao Mỵ Nhân – Kỷ niệm 73 năm cầm bút“
của Thi Văn Sĩ PHƯƠNG HOA
SƯƠNG KHÓI VĂN CHƯƠNG
( Buổi sáng ngày 19-3-2026 vừa qua, nhân khi viết một bài
gởi đi đăng báo, Mỵ tôi chạnh nhớ ngày 19-3-1953 có bài viết
“ Sự tích Trời Cao “ đăng lần đầu tiên ở trang Nhỉ Đồng
báo Liên Hiệp Hanoi, nên lỡ tâm sự với PHƯƠNG HOA, là
Mỵ tự lên tinh thần vì vẫn còn thích viết )
Nay được quý bạn khuyến khích quá, nên xin CÁM ƠN quý Thi Sĩ : SÔNG THU,
NGUYỄN HUY KHÔI, THANH SONG KIM PHÚ, MỸ HOÀN , LÝ ĐỨC QUỲNH vui họa với
Bài xướng của PHƯƠNG HOA, nên CAO MỴ NHÂN cũng xin góp họa để vui vẻ chút nhé .
CÁM ƠN, CHÚC VUI KHOẺ. Cao Mỵ Nhân ..
SƯƠNG KHÓI VĂN CHƯƠNG.
Ôi nét chân phương giữa bức hoành
Khiến lòng trọng nghĩa khách tài danh
Xướng Thơ như suối nguồn băng núi
Họa ý hơn châu ngọc rớt mành
Đa tạ tao nhân vui dự hội
Cám ơn tác phẩm vượt san thành
Bảy ba năm hạnh ngộ tri kỷ
Thi Cảm chan hòa vạn lý thanh …
Hawthorne 20 – 3 – 2026
CAO MỴ NHÂN
Mừng chị Cao My Nhân 73 năm cầm bút.
NÀO KÉM CHI NAM
Thất thập nhị huyền công cộng một,
Bảy mươi ba phép thắng Tề Thiên.
Trưng Vương trung học vang danh nữ,
Thiếu Tá Việt Nam đệ nhất miền.
Xướng họa văn thơ nên nợ bút…
Thi từ ca phú kết văn duyên.
Cuộc đời há kém chi nam giới,
Chúc chị yên bình sống bách niên !
Thầy Đồ – Đỗ Chiêu Đức
03-21-26 – Kính bút.
==
Chúc Mừng Nữ Sĩ Cao Mỵ Nhân
*
Bảy ba năm vẫy bút đường trần
Thơ kính chúc mừng Cao Mỵ Nhân Chữ nghĩa ngời ngời như hạo nguyệt
Văn chương tải tải tựa thanh vân
“Chim Bay Mỏi Cánh” thời phiêu bạt
Ngựa thét nghiêng đèo buổi loạn quân
Văn võ toàn tài xin ngưỡng mộ
Từ Sapa đến phố Thiên Thần*
Quang Hà, 26/03/2026
==
Bài gửi từ văn thi sĩ CAO MỴ NHÂN
TRẮC TRỞ VẦN- CAO MỴ NHÂN
Muốn nói với em một điều rất lạ
Bằng chữ “sorry” vì quên tất cả
Từ không gian đến thời khắc vừa qua
Đáng tiếc, lâu rồi anh đi xa quá
*
Trong ngôn ngữ thơ gọi là vần trắc
Cuối câu ngắn, dài … phải dùng âm sắc
Thế còn gì lời thoảng nhẹ dịu êm
Khi tri kỷ gật gù không thắc mắc
*
Một bài Đường thi tám câu, bảy chữ
Đã khó rồi, còn mượn vần cuối lỡ
Sao không viết nhàn hạ để thảnh thơi
Mà lại khiến hồn thơ sầu bỡ ngỡ
*
Riêng với em, nàng thơ luôn khổ lụy
Anh van xin những hình ma, bóng quỷ
Hãy rời đi, đáng tiếc cõi mơ này
Để đôi mình thương yêu, cùng trân quý …
Rancho Palos Verdes 19 – 3 – 2026
CAO MỴ NHÂN
Thân quý gởi THI SĨ PHƯƠNG HOA
Hôm nay 19/3/2026. CMN kỷ niệm ngày 19/3/1953 khi chưa di cư vô Nam, hôm đó 19/3/ 1953, bài truyện nhi đồng tên TRỜI CAO của CMN đăng trên báo LIÊN HIỆP HA NỘI, mới hơn 10 tuổi.
Rồi tiếp tục cứ đăng các bài truyện nhi đồng do CMN tưởng tượng trên mỗi thứ năm báo GIANG SƠN HANOI, năm sau di cư vô SAIGON, 9/1954, tiếp tục viết truyện trẻ em và làm thơ cho tới ngày nay 19/3/ 2026 này.
SỚM NAY 19/ 3 tự kỷ niệm 73 năm thơ văn sương khói CAO MỴ NHÂN, viết bài thơ vần trắc trở, chợt nhớ PHƯƠNG HOA khoe VTLV độc giả quá tải trên 2 triệu 7 người đọc, CMN gởi bài kỷ niệm viết hôm nay để tự lên tinh thần, vì cứ thích viết mãi, PHƯƠNG HOA cũng vui kỷ niệm với mình, đăng lên xem biết đâu có bạn vàng xưa cũng nhớ nhé!
Tin Vui: Mừng Cây Bút Chính 73 Năm! “Lão Làng” Của VTLV!Lê Văn Hải
(Chữ hoa trong lời chúc, là tên các Tác Phẩm của Cao Mỵ Nhân)
==
CHÚC MỪNG THI VĂN SĨ CAO MỴ NHÂN:
73 Năm Cầm Bút – Một Đời Thi Ca!
-Bảy mươi ba năm — một HOA SAO lấp lánh giữa trời văn học,
Từ thuở thiếu thời, lời thơ đã nở thành THƠ MỴ, dịu dàng mà sâu thẳm.
Qua bao GA XÉP của cuộc đời,
Người vẫn ung dung bước giữa CHỐN BỤI HỒNG,
Khoác ÁO MẦU XANH của mộng và tình,
Đưa hồn thơ đi qua những chiều LÃNG ĐÃNG VÀO THU rất nhẹ…
Có khi lặng lẽ ĐƯA NGƯỜI TÌNH ĐI TU,
Có lúc trở về sau những SAU CUỘC CHIẾN của lòng người và thế sự,
Mà vẫn mở một QUÁN THƠ THÁNG NGÀY CÒN LẠI,
Cho bạn hữu bốn phương ghé lại — nghe NHỊP TIM THƠ còn vang mãi…
Dẫu thời gian có gọi là TÌNH MUỘN,
Thì thơ vẫn trẻ — như buổi đầu xướng họa,
Như những vần THƠ XƯỚNG HOẠ còn ngân dài không dứt,
Gieo duyên tri kỷ, kết nghĩa văn chương.
Xin kính chúc Thi Sĩ:
Bút lực dồi dào — hồn thơ bất tận. Tâm an — ý sáng — tình còn mãi thiết tha
Để vườn thơ MỴ NHÂN: mãi nở — ngàn sau còn hương!
Trân trọng kính mừng
73 năm một đời thi sĩ — Một đời đẹp như chính… thơ mình.
Thay mặt VTLV
Lê Văn Hải
NHỮNG TÁC PHẨM CỦA CMN:
1/ HOA SAO -1959 (1000 cuốn loại Roneo) THƠ
Tặng bạn Hướng Đạo dự trại họp bạn Phục Hưng, thế giới kỳ 8 , tại Trảng Bom Việt Nam.
2/ THƠ MỴ 1 – 1961 (200 cuốn loại Roneo)
Nhà xuất bản Đại Nam Văn Hiến, Nhà văn Thế Phong phát hành, bán hết ngay trong 2 tuần lễ mới phát hành.
Tựa: Nhà văn Thế Phong.
3/ GA XÉP – 1962- THƠ (in typo)
Do Nhà văn Vũ Ngọc Anh (Hồ Linh)
Trách nhiệm kiểm duyệt và phát hành
4/ CHỐN BỤI HỒNG 1 – 1994
– Nhà Xuất Bản Sông Thu Hoa Kỳ – 1000 cuốn
Tựa : Nhà Xuất bản Sông Thu (Hoa Kỳ)
Nhà văn Duy Lam. (Hoa Kỳ)
5/ THƠ MỴ 2 – 1997- THƠ
Xuất Bản Ngày Nay Hoa Kỳ 1000 cuốn.
Tựa : Nhà Xuất Bản Ngày Nay – Nhà văn Duy Lam.
Bạt : Nhà thơ Thanh Trí Cao (Hoà Thượng Thích Quảng Thanh – Hoa Kỳ)
6 / ÁO MẦU XANH – 1999 – THƠ
Nhà Xuất Bản Cỏ Thơm – Hoa Kỳ – 500 cuốn .
Tựa: Nhà Xuất Bản Cỏ Thơm (Hoa Kỳ)
– Thi sĩ Hà Bỉnh Trung (Hoa Kỳ)
7/ ĐƯA NGƯỜI TÌNH ĐI TU – 2001 – THƠ
Nhà Xuất Bản Tiếng Vang – Hoa Kỳ – 500 cuốn .
Tựa : – Nhà Xuất Bản Tiếng Vang- Nhà văn Trần Văn.
– Thi sĩ Hoàng Ngọc Liên (Hoa Kỳ)
8/ LÃNG ĐÃNG VÀO THU – 2001- THƠ
– Nhà Xuất bản Kinh Doanh – Hoa Kỳ. 700 cuốn
Tựa : Thi Sĩ Tùng Linh (Hoa Kỳ)
Bạt : Nhà văn Hồ Linh. (Hoa Kỳ)
9/ SAU CUỘC CHIẾN – 2003 – THƠ
Nhà Xuất Bản Cội Nguồn – Hoa Kỳ. 1000 cuốn .
Tựa: Thi sĩ Diên Nghị (Hoa Kỳ )
– Thi sĩ Song Nhị (Hoa Kỳ )
10/ QUÁN THƠ THÁNG NGÀY CÒN LẠI- 2009 – THƠ
Nhà Xuất Bản THƯ ẤN QUÁN – Hoa Kỳ – 800 cuốn.
Tựa: Thi sĩ Hà Thượng Nhân (Hoa Kỳ)
Bạt: Thi sĩ Trần Hoài Thư (Hoa Kỳ)
11 / NHỊP TIM THƠ – 2016.
Nhà Xuất Bản Nhân Ảnh Hoa Kỳ. Phát hành : Amazon.
Tựa : – Thi sĩ Luân Hoán (Canada )
– Thi sĩ Võ Thạnh Văn (Hoa Kỳ)
Bạt : Tiến sĩ Bùi Lê Dzung (Australia )
12 / TÌNH MUỘN – Thơ – 2018.
Nhà Xuất Bản Nhân Ảnh Hoa Kỳ . Phát hành: Amazon.
Tựa: Thi sĩ Luân Hoán (Canada)
13/ THƠ XƯỚNG HOẠ CAO MỴ NHÂN & TRỊNH CƠ Thơ – 2020.
Nhà Xuất Bản Nhân Ảnh – Hoa Kỳ. Phát hành: Amazon.
Tựa : Thi sĩ Lê Hân (Hoa Kỳ)
Nhà văn Nguyễn Thành (Việt Nam)
14/ CHIM BAY MỎI CÁNH – Văn Thơ Lạc Việt – Hoa Kỳ.
Chút tiểu sử: CAO MỴ NHÂN
Sanh ở Chapa Hoàng Liên Sơn Laokay.
Học Nữ Tiểu học Lệ Hải Hải Phòng
Di cư vô Nam năm 1954
Học Nữ Trung học Trưng Vương Saigon
Học Nữ Cán Sự Xã Hội tại Centre Caritas Saigon
Gia nhập Quân Đội VIỆT NAM CỘNG HOÀ.
Cấp bậc và Chức vụ sau cùng:
Thiếu Tá Trưởng Phòng Xã Hội Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I / Quân Khu I.
Qua Hoa Kỳ theo diện Tị nạn Chính trị (HO8)
Định cư tại Los Angeles từ cuối 1991 tới nay.
Tham gia Văn Bút VNHN:TrungTâm Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ
1994 – 1996, chức vụ: Tổng Thư Ký Trung Tâm Văn Bút Nam Hoa Kỳ (Nam California)
1996 – 1998, chức vụ: Phó Chủ tịch Nội vụ
Trung Tâm Văn Bút Tây Bắc Hoa Kỳ (Bắc California)
2004- 2008, Hội viên Văn Bút Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ
Từ 15-11-2020 tới nay: Hội viên chính thức của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Cây Bút Chính “Lão Làng” Của VTLV!
==
Chúc mừng VTS CAO MỴ NHÂN
Gần như suốt một dòng đời cầm bút, chị đã đông góp biết bao Văn Chương Thi Bút cho thế hệ trẻ, chị đã phục vụ tổ quốc trong QĐVNCH, một cuộc đời đầy ý nghĩa và cao cả. Em chúc chị luôn luôn khỏe mạnh, an vui và tiếp tục sáng tác nhiều Văn Thơ, một niềm vui và hạnh phúc trong cuộc đời.
Quý mến chị,
HoàngThục Uyên – Ngày 20/3/2026
==
KIỀU MỸ DUYÊN – BIỂU TÌNH CHO TỰ DO, DÂN CHỦ VÀ NHÂN QUYỀN CHO VIỆT NAM