VTLV: CUỘC HỌP MẶT VĂN THƠ “RẤT MỸ”

==

CHUYỆN VĂN THƠ Và CUỘC HỌP MẶT ĐỘC ĐÁO “RẤT MỸ”

Phương Hoa

Nhiều người bạn văn thơ của tôi vẫn thường xúc động bảo rằng, thật may mắn khi chúng ta được đặt chân và sinh sống trên đất nước Hoa Kỳ, một đất nước có không gian tự do ngút ngàn, nơi những giá trị nhân bản và tư tưởng sáng tạo luôn được trân trọng, nâng niu. Chính bầu khí quyển tự do ấy đã trở thành mảnh đất lành nuôi dưỡng bao mầm sống văn hóa, giúp các hội đoàn, văn đàn của người Việt khắp nơi mọc lên rực rỡ như những đóa hoa giữa lòng xứ sở cưu mang mình.

Quả đúng vậy. Nước Mỹ đã cho chúng ta một quê hương thứ hai để an cư, và trao tặng một vùng trời thênh thang để tiếng Việt được vang vọng, để nền văn học nghệ thuật ly hương không bị mai một theo thời gian. Nhờ hít thở bầu không khí tự do “rất Mỹ” ấy, Thi Văn Đàn Văn Thơ Lạc Việt (VTLV) chúng tôi mới có thể kiên trì đồng hành cùng chữ nghĩa, và gìn giữ hồn Việt qua hơn 35 năm dâu bể.

Một trong cái sự “rất Mỹ” chúng tôi hưởng được là tinh thần tự do phóng khoáng, và nó đã thấm đượm vào cả cách chúng tôi gặp nhau, thương quý nhau và… “quậy” cùng nhau theo phong cách Mỹ! Tự do sáng tác là một chuyện, nhưng tự do bày trò, tự do trao gửi tiếng cười trong những buổi hội ngộ thân tình lại là một câu chuyện độc đáo khác.  Và buổi họp mặt hôm thứ Bảy vừa qua chính là một minh chứng sống động nhất cho cái chất “rất Mỹ” ấy, vì buổi họp mặt là nơi văn chương hàn lâm bắt tay cùng sự rộn rã, phá cách, tạo nên một ngày hội ngộ tưng bừng mà có lẽ chỉ ở VTLV mới có. Xin kính chia sẻ cùng quý bạn đọc.

Hồi tháng 7, nhóm “cựu du thuyền Quantum of the Seas VTLV”, từng quậy tưng bừng trên tàu trong tháng 3 vừa qua, (Bài tường thuật chuyến đi đã được đăng trên Việt Báo và VTLV:    https://vantholacviet.com/vtlv-cuoc-du-xuan-doc-nhat-vo-nhi-but-ky-phuong-hoa/ )  đang rục rịch chuẩn bị đón “Trưởng ban hình ảnh” Phạm Phan Lang từ Nam Cali lên miến Bắc dự hội cựu học sinh Nữ Trung Học và Võ Tánh Nha Trang.  Cả nhóm còn đang tính nước quậy thêm trận nữa cho… bõ thèm, vì lần trước quậy trên tàu dập dềnh sóng nước vẫn… “chưa đã đời”.

Mọi người đang bàn tính “trong vòng bí mật” chỉ một nhóm nhỏ chừng một tá người thôi, thì đùng một cái, văn thi nhạc sĩ Yên Sơn từ xứ cao bồi Texas đánh tiếng sẽ “cưỡi ngựa phi nước đại” qua thăm Bắc California!

Thế là bao nhiêu tính toán âm thầm của nhóm “cựu du thuyền” chúng tôi bị “Trưởng tàu” Lê Văn Hải phanh phui và… lật bài sạch bách trên sóng truyền tin! Thấy cơ hội ngàn năm có một, anh Hải tính đường “theo kiểu Mỹ, tổ chức 2-in-1”, nên anh lập tức… gõ mõ khua chiêng, ra lời triệu tập rộn rã làm diễn đàn VTLV rung rinh chao đảo! Lần này, đại gia đình mình “chơi lớn” khi đón sóng đôi hai vị khách “văn võ song toàn” cực kỳ đặc biệt, anh Hải nói và giới thiệu…ầm ỹ:

1).Thi sĩ, nhà văn Phạm Phan Lang, người con gái xứ biển Nha Trang, cựu nữ sinh Võ Tánh tài hoa, từng là Trung tá Lục quân Hoa Kỳ, một tâm hồn thi sĩ dạt dào với một trăm mấy chục bài thơ được phổ thành những ca khúc đi cùng năm tháng.

2). Văn thi nhạc sĩ Yên Sơn, vị khách từ Texas, một võ sư danh lừng bốn…bên bạn bè, cựu phi công VNCH phóng khoáng, một cây bút đa tài, viết văn, làm thơ sáng tác nhạc, với tấm lòng lúc nào cũng tha thiết, đau đớn cùng quê hương.  

Một người từ Nam Cali bay vút lên, một người từ Texas cưỡi ngựa phi nước đại sang, đường xa vạn dặm mà người ta còn tìm đến, thì dân nhà VTLV ngay San Jose mà vắng mặt là… coi chừng bị phạt! Đã vậy, chị Mỹ Thanh lại còn hào phóng mở rộng cửa “lâu đài tình ái của chị và cố Chủ Tịch VTLV Chinh Nguyên” để đón tiếp. Với dàn karaoke “khủng” của ca sĩ Văn Khoa, cùng thực đơn “chơi kiểu Mỹ Potluck” và thùng rượu vang của “Kiều My – Hải” thì hổng say hổng về…”

Thế là họp thư của tôi lập tức…nổ tung vì các “đồng đạo” dồn dập gửi thực đơn ghi danh. Đang lu bù đầu với núi bài vở, thơ văn, tôi đành phải gác hết sang một bên để đóng vai “Giám đốc Potluck”. Đúng là tình thân Văn Thơ Lạc Việt, ai ai cũng tràn đầy tấm lòng, muốn mang đến món ngon nhất để đón hai vị khách quý.

Sáng thứ Bảy tôi dậy sớm, từ khi trời còn… chưa say giọt nắng, để trổ tài làm món “Mì xào nấm 7 món”, món ăn được tôi tự hào gắn nhãn là món ăn “heo thì” (healthy) nhất thế giới, để đãi đãi 2 vị khách quý và bạn bè trong Văn Thơ Lạc Việt. Tôi biết ai cũng cần món ăn đầy sức khỏe này, vì chắc chắn những vị khác đem tới sẽ là những món nhiều chất đạm “cao lương mỹ vị” rồi, thì món mì rau củ nấm của tôi rất cần để “quân bình âm dương” cho mọi người.  Bạn tôi Phan Lang là một “cựu thủ lĩnh” ngành quân y về dinh dưỡng của quân đội Hoa Kỳ chắc chắn sẽ vỗ tay cho món này của tôi.  Còn tướng quân Yên Sơn người Võ nghệ “nhiều đẳng nhiều đai” chắc sẽ cần những món nhiều chất đạm như vịt quay, gà nướng.

Trước đó, tình cờ chủ tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Cung Thị Lan gọi cho tôi, nói về việc bài đăng trên tuyển tập của Văn Bút.  Hỏi ra mới biết cô hiện đang ở San Jose, chờ dự đại hội cựu học sinh Nữ Trung Học -Võ Tánh Nha Trang. Nghe thế tôi mời CT Thị Cung Lan ghé qua chỗ Văn Thơ Lạc Việt nơi chúng tôi đang tổ chức chào đón Phạm Phan Lang (khóa đàn chị Võ Tánh của Cung Lan), cũng vì một số thành viên của Văn Thơ Lạc Việt đồng thời là thành viên của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, cho nên CT Cung Lan nhận lời, nhưng cô dặn tôi đừng nên thông báo trước cho mọi người để đúng 11g cô sẽ “drop in” gây sự ngạc nhiên cho thêm phần hứng thú.

Lần này tôi nan nỉ “chàng người dưng khác họ” đi cùng, vì bình thường chàng ít khi muốn đi tới những nơi đông đảo mà tôi tham gia, bởi vì bận ở nhà lo thiền và nghiên cứu kinh sách kinh dịch. Chàng thường chọc tôi, “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn người đến chôn lao xao” (Cảnh Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm). Chàng gật đầu đi với tôi lần này vì gặp bạn Phan Lang của tôi và cũng vì từng là “đồng môn” trong nhóm du thuyền Quantom of The Sea… quậy bữa trước. Khi chúng tôi đến nơi, chị Mỹ Thanh nói anh Hải tới từ sáng sớm và trong chuyến này không phải là “cái ba lô huyền thoại” như chuyến du thuyền trước mà anh Hải mang đến “chiếc xe van huyền thoại” và trong cái trunk của xe anh Hải chứa đầy đủ thứ, và chị Mỹ Thanh phải mất một thời gian phụ cùng anh Hải khiêng vào chất hết trong chỗ studio quay phim của anh Chinh Nguyên trước đây.

Tôi nghe thế thì bước ra phòng quay phim và giật cả mình, đứng im… tắt tiếng.  Anh Hải đã sắp xếp bàn ghế tươm tất, trải khăn màu xanh mạ, trên bàn là những bình hoa đủ màu đứng thi nhau điệu đà khoe sắc rất là trang trọng như bàn tiệc cưới!  Nhìn sang dãy bàn bên phải gần hồ cá, tôi xém kêu lên.  Trời đất ơi, anh Hải định mở… “Siêu thị Walmart” ở đây hay sao!  Trên đó chất cao như núi, không biết cơ man nào là đồ vật, quà tặng, bánh hộp, hình tượng, tranh ảnh, hoa, sách báo, và chất men Heineken lẫn Corona cũng chen lấn nhau nằm cả trên bàn.  Thì ra sếp Hải còn sợ “dân chơi” văn nghệ mà thiếu “nhiên liệu” thì niềm vui chưa trọn! Đúng là “thần đèn” Lê Văn Hải, đi tới đâu là… ngợp cả không gian tới đó.

Vì tôi có hẹn nên đến sớm một chút, họp cùng ban tổ chức VTLV về chương trình ca nhạc Tác Giả Tác Phẩm sắp tới vào ngày 18 tháng 9, để giới thiệu, tôn vinh những nhạc sĩ tài năng và những khúc ca tâm huyết của họ ra cộng đồng. Trong khi đang họp cùng anh Hải, thầy Thái Phạm, Thanh Loan, Thúy Nga, và Hoàng Thưởng… tôi bỗng nhận điện thoại từ chủ tịch Cung Thị Lan xin địa chỉ để nhờ người chở tới.

Anh Hải và mọi người thật bất ngờ khi CT Cung Lan bước vào và tôi giới thiệu vị khách quan trọng mà “bất ngờ ngoài dự tính” này. Thế là không khí vui vỡ òa.

Khi chúng tôi họp xong thì các “đầu bếp văn chương” cũng bắt đầu rầm rộ kéo đến. Chao ôi, mỗi người góp một món, và nguyên dãy bàn dài anh Hải chuẩn bị lập tức lấp đầy chen chúc, những bình hoa đẹp phải…đi chỗ khác chơi!  Vợ chồng TS Nguyễn Hồng Dũng & Ngọc Ánh còn hào phóng tài trợ hai khay đồ chay lớn thật lớn, cực kỳ hấp dẫn từ nhà hàng Di Lặc nổi tiếng của chính họ, ở San Jose.  MC Hạnh Thảo mang đến chiếc bánh đông sương “loại xịn cao cấp” trên có ghi Chúc Mừng Sinh Nhật tên Phan Lang, Yên Sơn, và toàn VTLV.  Chiếc bánh ngon này về sau rất… đắc hàng.

*

*

Nghe CT Cung Thị Lan cần đi gấp, anh Hải vội vàng khai mạc tiệc dù khách đến chưa đủ hết.  Anh Hải giới thiệu chủ tịch Văn Bút Cung Thị Lan với mọi người và anh cũng vinh danh những vị tiền khai đã khôi phục VBVNHN khi ra nước ngoài dù cho bão tố phong ba, và mừng là VB vẫn tồn tại đến ngày nay.  CT Cung Thị Lan cũng phát biểu, nói lời cảm ơn anh Hải, và cô mời các thành viên VBVNHN về dự Đại Hội VB vào tháng 11 tới tại Nam Cali. Và đúng với phong cách “độc quyền” của sếp Hải chúng tôi, hễ gặp khách là tặng quà, CT Cung Thị Lan dù đến bất ngờ cũng được anh Hải trao tặng một món quà thật dễ thương.  Đáp lại, Cung Lan cũng tặng một món quà từ DC cho anh Hải.

Có chuyện vui là, khi gửi địa chỉ nhà chị Mỹ Thanh cho mọi người trên email, tôi có nhắn đùa một câu, “Quý vị nhớ coi kỹ bản đồ, kẻo VTLV lại phải huy động lực lượng kéo nhau đi… tìm trẻ lạc!”. Ai ngờ nói chơi mà thiệt! Trong khi bàn dân thiên hạ đang hăng hái “check-in”, chụp hình từng ngóc ngách trong nhà lẫn ngoài vườn chị Mỹ Thanh, thì điện thoại tôi đổ chuông. Đầu dây bên kia, Phan Lang với giọng…hớt hải, báo tin cô nàng đã đi lạc sang tận khu nào rồi, hoàn toàn mất phương hướng! Thế là cả nhóm lại một phen cuống cuồng cắt cử “biệt đội giải cứu” lao ra đường… hộ tống Phan Lang về bến an toàn!

Do đường sá xa xôi, lại thêm lo chuẩn bị cho anh xã ốm yếu, Minh Thúy và anh Lộc đến trễ và cũng còn vài người khác đến lai rai.  Và khi tất cả các vị khách đến đầy đủ, thì sếp Hải lại tiếp tục. Khách mời chính thức Phạm Phan Lang và Yên Sơn được giới thiệu rầm rộ, trao quà rộn rã, và mọi người xúm chụp hình ào ào.

Nếu chỉ kể về ba vị khách quý phương xa thì vẫn chưa đủ bộ rộn ràng đâu nhé quý vị ơi! Tiệc hôm nay còn có sự xuất hiện của hai vị khách đặc biệt, hai tân thành viên vừa “về chung nhà” VTLV là văn thi sĩ Hoàng Hy và văn thi sĩ Dương Vũ! Đặc biệt nhất là anh Dương Vũ, người vừa có tác phẩm truyện ngắn tiếng Anh được Văn Bút Quốc Tế chọn đăng trên trang chủ. Anh mới gia nhập VTLV đúng… 2 ngày trước! Thế mà vừa nghe tôi rủ rê đi đón hai vị tiền bối kỳ cựu, anh đã hào hứng ghi danh ngay, còn xách theo chai rượu ngon.  Anh Hoàng Hy và phu nhân đem chiếc bánh ngọt Paris La Baguette vừa thơm ngon quyến rũ! Sếp Hải còn mời tôi lên giới thiệu hai chàng lính “mới toanh” này. Để thêm phần long trọng, anh đã giao nhiệm vụ cho hai cô MC duyên dáng Thanh Loan và Hạnh Thảo đứng ra trao quà.  Sau khi trao quà, hai cô em còn tự tay đeo lên cổ hai tân binh hai “vòng hoa chiến thắng” rực rỡ! Hình ảnh này làm tôi xúc động nhớ về thời VNCH xưa, khi các nữ sinh xinh đẹp trao vòng hoa đón các chiến sĩ trở về từ chiến trận! Dù hai MC hôm nay không là nữ sinh trung học, nhưng độ xinh đẹp “triệu đô” và sự duyên dáng thì có thừa! Được hai mỹ nhân đeo vòng hoa và trao quà, hai chàng “tân binh VTLV” xem ra cảm động lắm. Anh Dương Vũ nói lời cảm ơn chân thành khiến cả vườn hoa VTLV như bừng sáng.

Đúng ra lần này có thêm hai thành viên mới…vừa vừa (không phải mới toanh!), đó là văn thi sĩ Lê Xuân Mỹ và văn thi sĩ Quang Hà, hai vị cũng ở Bắc CA, đã tham gia vào VTLV mới thời gian gần đây, chưa có cơ hội “trình diện” với mọi người, rất muốn đến chung vui, nhưng vì kẹt sinh nhật trong gia đình. Anh Lê Xuân Mỹ kẹt là sinh nhật của chính chủ, còn anh Quang Hà là kẹt sinh nhật của… “quan cháu ngoại”, còn quan trọng hơn cả “quan huyện”, và hơn luôn sinh nhật của… “quan cụ ngoại” nữa, nên không tham gia được. Rồi thì đến lượt nhà thơ kỳ cựu, từ tận miền núi của Bắc Cali, Lê Thị Diễm Buồn mà nhiều người trước giờ nghe danh chưa biết mặt, và chị nhà báo chủ nhiệm tờ Phụ Nữ Cali San Jose, xinh đẹp trẻ hoài như người không tuổi, cũng được mời lên để anh Lê Văn Hải trao quà.

Sau đó sếp Hải trịnh trọng tuyên bố khai tiệc, và một khung cảnh… chưa từng có trong lịch sử đã diễn ra, giờ ngồi đây ghi lại tôi không khỏi bật cười một mình. “Bàn dân thiên hạ” ai nấy tay lăm lăm đĩa, dao, nĩa, nhưng lại đứng… “đóng băng” nhìn một lượt từ đầu bàn đến cuối bàn! Lý do là vì menu Potluck quá sức hấp dẫn, 30 món ăn, món nào trông cũng ngon mắt, ngon mũi, nhìn đến là muốn gắp ngay, thành ra ai cũng rơi vào trạng thái “ngơ ngác ngỡ ngàng” không biết nên gắp món nào trước, bỏ món nào sau!  Đến cả người viết bài này cũng đứng tần ngần giữa “ma trận” thức ăn một lúc, dù đã ngắm nghía mấy món chay healthy từ trước đó!

Thế mới thấy, đúng là cái kiểu tiệc Potluck của Mỹ này vừa vui, vừa ngon, vừa tiện lợi vô cùng cho khách và gia chủ.  Tiếp nguyên một “quân đoàn” khách khứa đông nghẹt mà chị Mỹ Thanh chẳng phải đầu bù tóc rối dưới bếp. Dù đã dặn chị Thanh không phải làm gì, vị phu nhân tốt bụng của cố chủ tịch Chinh Nguyên cũng làm món xôi cẩm dừa tím đậm đà, và món “bánh bò rễ tre” món ruột, sốp mềm thơm của chị mà sau tàn tiệc ai cũng tranh nhau togo về nhà.  Nhìn khay rau xà lách tươi ngon, giòn rụm của Ngọc Ánh, mọi người xúm lại xúc lấy múc để, tôi cũng nhào vô, ăn mà nghe giòn tan! Cuối cùng, đĩa ai đĩa nấy cũng chất đầy thức ngon vật lạ dù cái đĩa chỉ đủ chỗ cho mỗi thứ một chút xíu! Cả nhà vừa gắp, vừa hít hà khen ngon, vừa chụp hình các món.  Xin phép được “nổ” một chút, là chắc trên đời này hiếm có bữa tiệc nào mà tràn ngập tình cảm, rộn rã tiếng cười, và đa dạng ẩm thực như bữa tiệc Potluck này!

Mọi người đang còn thưởng thức thì sếp Hải đã vỗ tay ra lệnh cho dàn MC xuất quân.  Thế là hai cô MC duyên dáng bước lên… sân khấu.  MC “Triệu đô” Thanh Loan và vị đàn chị MC Hạnh Thảo được Thanh Loan nâng tầm lên thành MC “Triệu mốt đô”!  Hai cô nàng khởi động ngay chương trình xổ số bằng cách phát cho mỗi người một chiếc phong bì của anh Hải chứa những đồng đô la may mắn, bên ngoài dán thêm 1 vé Lô Tô. Hai MC bắt đầu xóc xóc, hô hô…

Cảm động nhất là TS Nguyễn Hồng Dũng. Anh đang có khóa tu học bên Ấn Độ xa xôi, nhưng nghe tin hai người bạn Phạm Phan Lang và Yên Sơn hội ngộ là vội vàng bay về tham dự.  Tiếp đó, ca sĩ Hoàng Kim, MC Thanh Loan, rồi đến anh Hồng Dũng lần lượt bước lên “hò lô tô”. Những bài hô loto vừa giòn giã, vừa tếu hài, nhưng đến đoạn kết lại “bẻ lái” sang những con số… trớt quớt không ăn nhậu gì tới câu hò, khiến cả nhà lại được một trận cười ha hả ngả nghiêng! Người may mắn trúng số thì hét lên ầm ĩ, vỗ tay ăn mừng; kẻ không trúng như tôi thì… tiếc, đứng nhìn thiên hạ ôm quà chụp hình mà cười như…mếu! Còn giải Độc Đắc là một món quà “siêu vĩ đại”, dù chẳng ai biết bên trong giấu cái gì nhưng vẫn vui mừng giùm vỗ tay như hội!

“Chàng người dưng khác họ” của tác giả trúng Lô Tô

Trong khi mọi người còn đang say sưa thưởng thức “ma trận” món ăn tuyệt hảo, và xong hết màn xổ lô tô, thì chàng cựu Không Quân Lê Văn Hải lại tiếp tục ra chiêu độc! Hóa ra trong mỗi chiếc phong bì vàng lúc nãy ngoài những đồng dollards may mắn còn có giấu sẵn 3 lá bài cào. Anh Hải yêu cầu mọi người mở ra, nặn bài, xòe bài từ từ để “săn” giải thưởng. Chiêu bài cào này của anh Hải đúng là độc quyền, lần nào chơi cũng biến tấu đa mưu túc trí, chẳng món nào… đụng hàng với chuyến du thuyền hồi tháng 3!

Đầu tiên, anh thông báo ai… cào ra 3 con Ếch (con Ách) thì lên ẵm giải Độc Đắc.

Cả hội hồi hộp nặn đến mướt mồ hôi, nhưng nhìn quanh nhìn quất… chẳng thấy bóng dáng con Ếch nào! MC đành đổi thể lệ: “Ai có 3 con Tây (J, Q, K) đứng lên giật giải bự!”. Ối giời ơi, tìm mỏi mắt cả hội trường cũng chẳng ai kiếm nổi 3 con Tây làm thuốc! Đến nước này, MC đành ngậm ngùi… hạ giá, “Thôi giờ ai có 3 con bất kỳ lên lãnh quà!” Vậy mà cũng… bặt âm vô tín! Cuối cùng, trận chiến bài cào đành vỡ trận theo kiểu truyền thống, ai 9 nút lên nhận quà lớn, rồi tới 8 nút, 7 nút, 6 nút… Cả nhà được dịp cười nghiêng ngả! Riêng tác giả bài viết này nhìn xuống 3 lá bài của mình mà muốn… khóc tiếng Campuchia, vì dính ngay con số buồn-muôn-thuở: 10 nút (0 nút)! Là số “bù lu!” Hu hu, đúng là “đời không như là mơ”! Nhưng vui một cái là với “thần đèn” Lê Văn Hải thì chẳng ai phải về tay không, không thắng giải lớn thì cũng có bình hoa, quyển sách, hộp trà, hay phong bì lì xì, mang về làm kỷ niệm.

*

*

Sau đó, “khách xịn” Phạm Phan Lang cũng lên phát biểu những lời cảm tưởng vô cùng xúc động, bày tỏ lòng biết ơn đến anh Lê Văn Hải và Ban Tổ Chức VTLV vì đã luôn yêu quý các văn thi sĩ xa quê, tận tụy giữ gìn nét đẹp văn hóa của ông cha. Lời chia sẻ chân thành ấy khiến ai nấy đều ấm lòng và hãnh diện vô cùng. Lần này vì mang thân phận là “khách VIP”, nên nhiếp ảnh gia Phan Lang từ bỏ… quyền nhiếp ảnh, mà giao phó cho Trưởng Ban Biên Tập VTLV Thái Phạm ra tay. Nhìn thấy thầy Thái lần đầu tiên vác cái máy bự sư của Phan Lang, chạy đôn chạy đáo chụp hình, mà tôi thầm mong cho khi Phan Lang mở máy ra thì nhìn thấy hình đẹp, chứ không phải chỉ có…mây vàng thung lũng!  Vì lần này có văn thi sĩ Lê Tuấn “chuyên gia video và hình ảnh” quay phim, nên tôi chỉ đi vòng vòng chụp hình cho bài tường thuật.

Đang vui rộn rã thì chủ tịch Cung Thị Lan xin phép về trước để kịp lo cho Đại hội, vì cô ở trong Ban Tổ Chức.  Tôi “báo cáo” anh Hải lén chuồn vài chục phút để chở CT Cung Lan về rồi quay lại “trận địa”.

Vừa bước trở vào cửa nhà chị Mỹ Thanh là trời ơi… màn Karaoke trong phòng thu âm nhà chị Mỹ Thanh đã nổ tung tự khi nào, rất là ầm ỹ! Nhạc trổi vang lừng, tiếng hát rộn rã, người ngồi nhịp chân, người đứng thì nhún nhảy, người đang ăn thì gõ bàn gõ ly nhịp nhàng… vui không thể nào chịu nổi! Dù chẳng phải ca sĩ ca siếc chi cả, nhưng thấy “khí thế bừng bừng” quá, tôi cũng “săn tay áo” xông lên tình nguyện “hét” bài Bèo Dạt Mây Trôi. 

Phải công nhận “dàn ca sĩ” ngày hôm nay quá tuyệt vời! Từ những giọng ca thực lực như ca sĩ Văn Khoa, Hồng Dũng… thì Trưởng Ban Nghi Lễ Hoàng Thưởng, phu quân của Trưởng Ban văn Nghệ Thúy Nga hát cũng quá là “chuyên nghiệp”, diễn rất truyền cảm từ điệu bộ đến phong thái… tất cả đều nhận được những tràng vỗ tay vang dội! Cho dù có bỏ sót những tiết mục lúc tôi đi vắng, thì quý vị cứ tưởng tượng một chương trình “Paris By Night” bung hết cỡ ngay tại phòng thu âm nhà chị Mỹ Thanh là sẽ thấy độc đáo đến mức nào rồi.

Đang hát hò hăng say thì mọi người đành phải ngậm ngùi “hãm phanh” dừng lại, vì còn đi dự chương trình gây quỹ của Hội Bạn Người Cùi, giúp bệnh nhân phong cùi tội nghiệp tại quê nhà. Nghe việc làm đầy ý nghĩa, nên hôm ấy ai đi được thì đi, ai bận cũng gửi chút quà tình nghĩa nhờ bạn bè chuyển.

Nhưng bạn ạ, cái màn “oanh liệt” nhất, thực tế nhất, và hấp dẫn nhất, của buổi họp mặt chính là màn…TO-GO! Thử tưởng tượng xem, gần ba chục khay thức ăn ngập tràn, mà mỗi người chỉ có… đúng một cái bụng, làm sao tiêu thụ cho hết cái “ma trận ẩm thực khổng lồ” ấy! Thế là MC Hạnh Thảo tức tốc săn tay áo lên, chị Mỹ Thanh bê ra hàng loạt thùng Ziploc, khay, hộp nhựa đủ kích cỡ.  Mọi người xúm lại phân chia “chiến lợi phẩm” rộn ràng, ai thích gì chọn nấy, vui như đi chọn hàng chợ Tết! Nào là vịt quay, gà hấp, chả giò, mì xào nấm, xôi lá cẩm, rồi đến bánh kem, bánh bò xịn… tất cả đều được đóng gói cẩn thận. Mọi người ra về ai nấy nách mang tay xách, lớp thì quà tặng từ “chiếc xe van huyền thoại” của anh Hải, lớp thì vòng hoa tươi thắm, lớp thì những hộp đồ ăn To-go đầy ắp. Nhìn cảnh tượng ấy vừa tếu hài, vừa rộn rã, lại vừa trào dâng một niềm cảm động sâu sắc cho tình thân ấm áp của đại gia đình Văn Thơ Lạc Việt.

Đúng là, gặp nhau vì chữ nghĩa, ở lại với nhau vì tình thân! Một ngày hội ngộ quá trọn vẹn, trọn cả niềm vui, trọn cả nghĩa tình và trọn luôn cả… những hộp đồ ăn mang về!

Sau cùng, xin cảm ơn những vị khách quý, Phạm Phan Lang, Yên Sơn, và CT Cung Thị Lan, đã không quản đường xa tìm về Thung Lũng Hoa Vàng, cùng với các anh chị … đường gần, Hoàng Hy, Dương Vũ, và Dư Thị Diễm Buồn. Sự hiện diện của quý vị chính là cơ hội quý báu để đại gia đình Văn Thơ Lạc Việt được tiếp đón.  Đó là niềm hãnh diện, là sợi dây kết nối giữa những người con ly hương yêu chữ nghĩa, quyết tâm bảo tồn văn hóa và ngôn ngữ ông cha giữa lòng đất Mỹ tự do.

Xin dành tràng vỗ tay thương mến nhất cho “thủ trưởng” VTLV, chàng cựu Không Quân Lê Văn Hải của chúng tôi! Anh là người mang một trái tim tràn ngập tình yêu thương và sự tử tế.  Dù là ai, ở vị trí nào, khi đến với anh cũng đều nhận được sự đối xử bình đẳng, chân thành như tình yêu thương bao la của Chúa. Nhờ có anh dẫn dắt, những người đồng hành cùng anh như chúng tôi mới học hỏi được tấm lòng vị tha, thương người vô bờ bến, để sống trọn vẹn với tâm từ bi của Phật, lòng bác ái của Chúa, và tình thương nhân loại của các vị thánh nhân.

Cũng xin chân thành cảm ơn tất cả quý văn thi sĩ trong Văn Thơ Lạc Việt cùng quý thân hữu đã luôn đồng hành và chung tay xới đất gieo mầm cho vườn hoa văn học tại Thung Lũng Hoa Vàng này, để rồi từ đây lan tỏa sức sống mạnh mẽ đến khắp các diễn đàn trên toàn nước Mỹ và khắp năm châu.

Và chính sự đồng lòng của tất cả chúng ta mới tạo nên một ngày hội ngộ “kiểu Mỹ” thật rực rỡ và thành công rực lửa như hôm nay!

Xin cảm ơn nước Mỹ vô vàn.

    Phương Hoa

=

Screenshot



ĐỖ DUNG: TRUYỆN NGẮN – CẦM BẰNG THEO GIÓ

CẦM  BẰNG THEO GIÓ – Đỗ Dung

                                                                                                   

Hảo dậy sớm hơn mọi ngày. Nàng thấy nóng ruột, dạ bồn chồn. Hôm nay có kết quả kỳ thi ra trường. Hoặc là nàng tốt nghiệp thành Dược sĩ, hoặc lại phải ở lại tụng bài, chờ khóa thi sau.

Mặc dù biết bài làm của mình cũng khá, phần thi vấn đáp cũng trả lời suôn sẻ, nhưng sao tim nàng vẫn hồi hộp, lo âu…

Sau khi chắc chắn nhìn thấy tên và số báo danh của mình trên bảng vàng, Hảo chuyện trò, chia vui với những người bạn vừa tốt nghiệp cùng khóa. Nàng khoan khoái cho chiếc Honda chạy từ từ trên con đường Cường Để ngập nắng, rồi hướng về Đinh Tiên Hoàng để về nhà báo tin vui.

Mặt ngẩng cao, hít đầy bầu không khí trong lành vào lồng ngực, lòng nàng lâng lâng sung sướng.

Một tiếng nói mơ hồ, nhẹ như gió thoảng bên tai:

— Hảo… Bích Hảo!

Hảo xoay người ngoái nhìn về phía sau. Một chiếc Honda nhẹ lướt lên ngang xe nàng. Một giọng nói trầm ấm cất lên:

— Xin lỗi… Phải Bích Hảo, con cô giáo Khanh không?

Hảo cho xe ghé sát lề đường gần trường Nông Lâm Súc. Nàng nhìn sững người thanh niên trước mặt.

— Huân! Phải Huân, con bác giáo Ngọc không? Trời ơi! Lâu lắm chúng mình không gặp nhau! Huân có thay đổi nhưng Hảo nhận ra ngay. Đi đâu đây?

— Huân vừa ghé thăm một thằng bạn ở Văn Khoa ra, nhìn thấy xe Hảo chạy ngang nên vội phóng theo liền. Đúng là lâu quá rồi, vậy mà mình cũng nhận ra Hảo ngay. Chúng mình ghé vào quán cà phê gần đây nói chuyện đi.

Hai người bước vào một quán cà phê nhỏ trên đường Đinh Tiên Hoàng, cùng nhau nhắc lại chuyện ngày xưa.

Ngày ấy, hai gia đình còn ở Hà Nội. Hai bà giáo còn rất trẻ, cùng dạy chung trường, cùng chia sẻ với nhau những vui buồn của nghề giáo. Dần dần, hai bà trở thành đôi bạn thân, chuyện trường lớp, chuyện gia đình, chuyện chồng con, chuyện vui buồn trong cuộc sống… chuyện gì cũng kể cho nhau nghe.

Hai gia đình cũng trở nên thân thiết theo. Con cái hai nhà lớn lên cùng nhau. Khi ấy, mỗi nhà mới có ba đứa trẻ, hằng ngày ríu rít chạy sang nhà nhau, sinh hoạt vui vẻ như anh chị em trong cùng một nhà. Cứ thế, một mối dây thân tình được tạo nên, tưởng rằng sẽ không bao giờ bị chia cắt.

Trong đám trẻ ấy có Huân, con trưởng của bà giáo Ngọc, và cô con gái lớn của bà giáo Khanh là Bích Hảo. Huân còn có một mối liên hệ đặc biệt nữa: Chàng là học trò cưng của bà giáo Khanh.

Rồi năm 1954 đến.

Đất nước chia đôi. Một dòng người di cư từ Bắc vào Nam. Hai gia đình cũng theo dòng người ấy vào Sài Gòn.

Từ đó, cuộc sống không còn giống trước. Hai bà giáo không còn cùng chung nhiệm sở. Hai gia đình cũng không còn ở gần nhau. Mỗi người có một công việc, một cuộc sống, một mái nhà riêng. Cha của Huân là một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cha của Bích Hảo làm nghề thầu, chuyên cung cấp đồ trang trí nội thất, bàn ghế, giường tủ.

Những mối liên lạc ngày trước dần thưa đi, rồi có lúc tưởng như đã mất hẳn.

Hai đứa trẻ ngày nào nay cũng đã lớn. Huân bước vào đời quân ngũ. Hảo theo học ngành Dược.

Cuộc sống cứ thế cuốn mỗi người đi một hướng. Không ai biết người kia đang ở đâu, và cũng chẳng ai chờ đợi một cuộc gặp lại. Có lẽ nếu cuộc đời cứ bình lặng như thế, Huân và Hảo chỉ còn là hai cái tên trong một miền ký ức xa xôi của tuổi nhỏ.

Vậy mà hôm nay, tự nhiên Hảo cảm thấy bồn chồn, nao nao khác lạ. Cuộc gặp gỡ thật tình cờ. Không có sự sắp đặt, không chuẩn bị, mà bây giờ Hảo đang ngồi đây, trong một quán cà phê nhỏ, đối diện với Huân, người con trai trưởng của bà giáo Ngọc.

Như có một định mệnh nào đó an bài, từ những đứa trẻ xa nhau khi chỉ mới lên chín, lên mười, nay đã trở thành hai người trưởng thành thế mà chỉ vừa thoáng nhìn đã nhận ra nhau ngay.

Cả hai đang ngồi trầm ngâm nhớ về những ngày thơ ấu, Hảo chợt hỏi:

— Bây giờ Huân có thêm mấy người em nữa?

— Năm! Tổng cộng Huân có tám anh chị em, bốn trai, bốn gái. Còn gia đình Hảo?

— Cũng không thua kém. Hảo có tám chị em gái, chỉ có một đứa em trai. Vậy là chín đứa, hơn nhà Huân rồi nhé!

Cả hai cùng cười, nghĩ bụng: Hèn gì các cụ bận rộn, không có thì giờ nghĩ đến bạn xưa.

Huân chợt nói:

— Hảo cho Huân về nhà thăm mẹ Hảo xem cô còn nhận ra mình không nhé!

Về đến nhà, bà Khanh cũng vừa mới đi làm về, còn đang ngồi nghỉ trong phòng khách.

Hảo chạy ngay đến gần, ghé vào tai mẹ nói nhỏ, báo tin vui:

— Mẹ! Con của mẹ đã là Dược sĩ. Con thi đậu rồi!

Rồi nàng cười:

— Con mới gặp lại một người. Xem mẹ có nhớ không nhé!

Đúng lúc đó, Huân bước vào, kính cẩn cúi đầu:

— Con chào cô ạ!

Bà Khanh ngước mắt nhìn lên:

— Chào cậu!

— Thưa cô, mẹ con là cô giáo Ngọc!

Tiếng Hảo vang lên:

— Mẹ có nhớ ai đây không?

— Ôi Trời! Huân, học trò giỏi của cô đây mà! Lớn quá rồi. Nhưng có nói cô mới nhận ra, chứ nếu gặp ngoài đường thì chưa chắc cô đã nhận ra được đâu. Ngồi chơi đi con!

Rồi bà giáo Khanh tíu tít hỏi thăm Huân những chuyện về gia đình xưa nay.

Từ sau lần gặp lại đó, hai bên bắt đầu qua lại. Những thân thiết giữa hai nhà được nhắc đến, và từ cái tình thân cũ, một tình cảm mới dần dần nảy nở. Hai bầy con có dịp quen biết nhau và càng ngày càng thân hơn. Thỉnh thoảng, ông bố của Hảo lại lấy chiếc xe van lớn của hãng, chở cả đám trẻ đi ăn, đi chơi…

Tình cảm của Huân và Hảo ngày càng thắm đượm, lại được cả hai gia đình ủng hộ. Ngày nghỉ là Huân đã có mặt ở nhà Hảo.

Và kết quả là sang năm 1973, một đám cưới tốt đẹp của Huân và Hảo đã diễn ra.

Đám cưới giản dị nhưng ấm cúng, lịch sự và trang trọng.

Hai bà giáo không thể ngờ rằng hai đứa trẻ ngày nào còn chạy qua chạy lại giữa hai nhà, nay đã trở thành một đôi vợ chồng. Một mối duyên tưởng như thời gian đã cất đi, vậy mà sau gần hai chục năm lại tìm đường quay trở lại.

Bích Hảo bước vào cuộc hôn nhân của mình với những ước vọng thật bình thường và hồn nhiên của một thiếu nữ trẻ. Sau đám cưới, nàng có một người chồng yêu thương, có một gia đình hạnh phúc riêng. Một tương lai phơi phới đang đợi chờ…

Nhưng thực tế, Hảo phải về ở chung với gia đình nhà chồng.  Mặc dù cả hai vợ chồng đều đã có công việc làm chắc chắn với đồng lương ổn định. Hằng ngày, nàng vẫn phải dậy sớm sửa soạn đi làm tại hãng bào chế Biofarmo gần hồ Con Rùa. Khi về nhà, dù mệt nhoài, nàng vẫn phải chu toàn nhiệm vụ của người con dâu trưởng. Ở chung với gia đình đông người, trong một căn nhà nhỏ càng lúc càng khó khăn, càng có những xung đột tuy nhẹ nhàng nhưng khó hàn gắn.

Người thương nàng nhất có lẽ vẫn là ông bố.

Ông hiểu con gái mình. Ông cũng hiểu những điều khó giải quyết trong một gia đình, nhất là chuyện mẹ chồng nàng dâu. Có những điều càng nói ra càng thấy khó. Hai bà mẹ vốn là bạn thân từ thuở còn trẻ, vậy mà khi con cái thành vợ thành chồng, tình bạn giữa hai người cũng không đủ để ngăn những va chạm xảy ra giữa mẹ chồng với nàng dâu.

Ông không muốn con gái phải chịu cảnh ấy lâu dài.

Thương con là một chuyện, còn giữ thể diện cho con rể và gia đình bên chồng lại là một chuyện khác. Ông vốn làm nghề thầu, chuyên cung cấp đồ gỗ và trang trí nội thất. Thế là ông âm thầm lo cho con một căn nhà ở cư xá Thanh Đa.

Một căn nhà nhỏ nhưng thật đẹp. Một căn nhà được ông sửa sang tươm tất bằng tất cả tấm lòng thương con của người cha. Từng món đồ trang trí được ông nắn nót, chăm chút. Những thứ cần thiết cho một gia đình trẻ được ông sắp xếp đâu vào đó. Ông muốn khi dọn ra ở riêng, con gái ông có một nơi ấm áp để trở về; Huân có một nơi để xây dựng cuộc sống hạnh phúc của một gia đình nhỏ.

Ai có hỏi, ông không nói đó là căn nhà ông mua cho con gái, mà khéo léo nói đó là nhà của chính hai vợ chồng con tự mua. Người trong nhà hiểu. Ông hiểu. Con gái ông hiểu. Và có lẽ Huân cũng hiểu. Nhưng chẳng ai cần nói ra. Đó là cái tế nhị của người cha. Thương con đến đâu cũng giữ cho con một chút tự trọng; thương con rể cũng không muốn làm con rể mất mặt, ngại ngùng.

Căn nhà đã xong.

Có lẽ lúc ấy Hảo đã nghĩ đến cuộc sống mới. Không còn những va chạm trong căn nhà đông người. Buổi sáng đi làm, chiều về nhà mình. Có chồng bên cạnh trong căn nhà xinh xắn.  Buổi tối, dưới ánh đèn vàng ấm áp tỏa ra từ cây đèn góc nhà, hai vợ chồng có thể thoải mái, vui vẻ bên nhau ngồi xem TV hoặc thả hồn theo tiếng nhạc.

Hai vợ chồng còn trẻ. Huân đang là sĩ quan Hải quân và được gửi đi học tại trường Phú Thọ. Chàng cũng đã hoàn tất chương trình để lấy bằng kỹ sư điện.

Cuộc đời tưởng như đã đi đúng đường.  Cứ thế cuộc sống sẽ êm ả trôi.

Hai vợ chồng đã dọn vào căn nhà mới, rộn ràng sửa soạn ngày mời gia đình hai bên cùng bạn bè thân hữu đến ăn tân gia.

Nhưng bữa ăn tân gia ấy không bao giờ có.

Bởi lịch sử đã không cho họ kịp vui hưởng căn nhà mà ông bố đã lo lắng thu xếp.

Tháng Tư năm 1975 ập đến.

MẤT NƯỚC!

Chỉ một biến cố tang thương mà bao nhiêu dự định của biết bao gia đình tan theo.

Căn nhà Thanh Đa vẫn còn đó, đẹp đẽ, đầy đủ, nhưng thiếu một điều quan trọng nhất:

Một cuộc sống hạnh phúc bình thường mà Hảo từng ao ước.

Cha của Huân là sĩ quan, đáng lẽ phải đi học tập nhưng ông không đi trình diện.

Huân thì phải đi. Chàng phải vào nơi tập trung cải tạo, để Hảo ở lại. Tổ ấm hai vợ chồng bây giờ trở thành ngôi nhà chỉ còn có người vợ trẻ cô đơn chờ chồng.

Hằng ngày nàng vẫn đi làm ở viện bào chế cũ, nay đã đổi tên thành Xí nghiệp Dược phẩm 25. Chiều về lạnh lẽo, cô đơn, ngồi một mình lặng lẽ trong căn nhà nhỏ nhớ chồng. Mong ngóng đến ngày được giấy thăm nuôi để sửa soạn mua sắm và nấu nướng. Bao nhiêu lần ngóng tin. Bao nhiêu đêm nằm trằn trọc một mình trong căn nhà vắng, không biết ngày mai sẽ ra sao.

Những lần có giấy phép chính thức, Hảo cùng mẹ chồng lên trại tập trung học tập ở Trảng Táo, Tây Ninh. Hai mẹ con vất vả tàu xe, khuân mấy bao đồ nặng trĩu. Gặp Huân được mấy tiếng, đau xót nhìn nhau rồi nghẹn ngào, lủi thủi ra về.

Ngoài những lần chính thức, Hảo cũng liều lĩnh theo mấy người vợ có giấy phép, coi như người nhà đi theo để đi thăm lén. May có lần được gặp chồng.  Khi Huân không tìm cách ra được, nàng đành lặng lẽ quay về.

Rồi một ngày, khi nghe tiếng chuông cửa.  Chàng đã trở về.

Vợ chồng mừng tủi ôm nhau, tưởng như trong mơ!

Những ngày sau đó quấn quýt, âu yếm, chăm sóc nhau cho bõ bao năm dài xa cách. Hảo tưởng rằng sau ba năm chờ đợi, cuối cùng hai vợ chồng cũng có thể bắt đầu lại.

Nhưng cuộc sống lứa đôi êm đềm không được bao lâu.

Họ vừa bước ra khỏi một cánh cửa thì trước mặt lại mở ra một cánh cửa khác.

Lần này là một cánh cửa dẫn đến con đường mà thời ấy rất nhiều người Việt Nam phải chọn:

Vượt biên. Ra đi.

Hai vợ chồng chưa kịp sống một cuộc đời bình thường đã phải tính chuyện rời khỏi quê hương. Hảo và Huân cứ như những chiếc lá trong cơn dông, cuốn theo chiều gió lốc.

Cha của Huân phải trốn tránh vì không đi học tập, thỉnh thoảng cũng đến tá túc tại nhà của con.  Cuộc sống thật nặng nề, ngột ngạt, nơm nớp lo âu. Tương lai không biết sẽ ra sao.

Mọi người phải tìm đường để ra đi, mà mỗi lần ra đi là một lần đánh cược với sinh mạng.

Rồi một tin buồn như sét đánh ngang tai.

Ông bố của Huân và hai đứa em cùng bước lên một con tàu. Sau đó không ai có tin tức gì về chuyến đi mang mấy chục con người ấy. Con tàu đã vĩnh viễn biến mất giữa biển khơi.

Nhưng biến cố đã không dừng lại ở đó.

Người cha đã từng thương con gái, âm thầm mua cho vợ chồng con căn nhà đẹp ở cư xá Thanh Đa, chưa được vui với cuộc sống mới của con thì con rể phải đi tù. Con rể mới được thả về thì bây giờ chính ông cũng bị cuốn vào vòng lốc xoáy.

Ông làm nghề thầu, cung cấp đồ gỗ và đồ trang trí nội thất. Với chính quyền mới, ông bị xếp vào thành phần tư sản. Một ngày người ta đến nhà bắt ông đi, giam ông ở Xuyên Mộc, Đồng Nai. Họ không chỉ bắt người mà xưởng gỗ và những của cải trong nhà cũng bị tịch thu.

Căn nhà từng đầy đủ, từng là nơi ông bỏ bao công sức để dựng nên một cuộc sống tử tế cho gia đình, dần dần cũng trở nên trống trải. Nhưng mất mát lớn nhất của ông là cảm giác bất lực của một người cha. Ông từng nghĩ mình có thể che chở cho vợ con, có thể lo cho con một mái nhà, có thể nhìn con cái trưởng thành, dựng vợ gả chồng. Vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn, tất cả những gì ông từng gây dựng đã bị lấy đi.

Ông vào trại cải tạo trong nỗi uất ức không bút mực nào tả xiết.

Hai gia đình vốn từng có một mối giao tình đẹp từ thuở còn trẻ, giờ đây lại gặp nhau trong một hoàn cảnh không ai có thể tưởng tượng nổi. Một người mẹ vừa mất chồng và hai đứa con ngoài biển. Một người mẹ thì chồng phải đi tù và mất hết tài sản. Vậy mà cả hai bà mẹ ấy vẫn phải dành dụm, lo lắng cho những đứa con tìm đường vượt biên.

Ba người em của Huân được mẹ lo cho đi ba nơi khác nhau cũng may mắn thoát được, tấp vào mấy đảo nhỏ, nhưng từ từ cũng gặp nhau tại đảo Galang, Nam Dương. Tiền bạc gia đình đã cạn kiệt nên hai cô con gái còn lại đành ở nhà với mẹ, đợi ngày ông ngoại bên Pháp bảo lãnh

Và rồi, sau bao lần tính toán, bao nhiêu lần thất bại, vợ chồng Hảo cũng vẫn tìm cách ra đi. Có chuyến đi rồi lại trở về. Có chuyến bị lừa nên mất tiền nhưng may không bị bắt. Cuối cùng tiền bạc cạn dần. Hảo đành để Huân đi một mình. Và chuyến đi ấy thành công.

Tàu Huân được vớt, đưa vào đảo Pulau Bidong ở Mã Lai.

Huân ở đảo chờ ngày đi định cư.

Hảo ở lại.

Nàng bán căn nhà Thanh Đa, về sống với mẹ và các em. Nàng vẫn tin rằng rồi sẽ có ngày hai vợ chồng được đoàn tụ. Dù chồng ở một nơi rất xa, nhưng nàng vẫn cương quyết đợi chờ.

Hằng ngày nàng vẫn đến sở làm, bận rộn với công việc và có bạn bè gần bên nên cũng khuây khỏa. Nhưng khi trở về, nằm trên chiếc giường cũ của một thời con gái, nàng không khỏi xót xa cho phận mình.

Nhà Hảo có một bầy con gái. Ba người em liền sau Hảo đã đi du học từ trước năm 1975. Cậu con trai được gửi theo một gia đình quen từ ngay Tháng Tư năm mất nước. Mấy cô con gái nhỏ đành ở nhà với mẹ và chị để chờ bố và chờ mấy chị bên Mỹ gửi giấy về bảo lãnh.

Sự chờ đợi kéo dài không biết đến bao lâu. Nhưng Hảo vẫn chờ. Chờ người chồng đầu gối tay ấp, người mà nàng đã thương yêu, đã cùng nàng đi qua những bước thăng trầm, những nỗi khó khăn của cuộc đời.

Thư từ qua lại hàng tuần, rồi hàng tháng.

Nàng vẫn yên chí đợi chờ.

Một năm.

Hai năm.

Rồi ba năm.

Nàng vẫn vững lòng chờ đợi.

Nhưng ngày 1 tháng 3 năm 1983, tin ông bố vì tuổi già sức yếu và vì quá uất ức đã chết trong tù khiến cả nhà sững sờ, đau xót.

Cùng thời gian ấy, nàng nhận được một lá thư từ Mỹ gửi về. Không phải tờ giấy mà nàng chờ đợi. Mà là tờ giấy ly hôn.

Không có đoàn tụ. Không có ngày lên đường. Không có căn nhà mới ở một đất nước khác mà nàng hằng mong đợi.

Tờ giấy trả lại nàng hai chữ: TỰ DO.

Hơn ba năm đợi chờ là một khoảng thời gian rất dài đối với một người vợ trẻ trong một xã hội mới đầy đổi thay. Hảo không hiểu nổi tại sao Huân lại lạnh lùng viết thư nói rằng chàng trả lại nàng hai chữ “Tự Do”.

Mẹ nàng thật giận.

Các em và bạn bè của Hảo thì tức.

Tức đến mức không hiểu nổi tại sao, trong khi một người vợ mỏi mòn chờ đợi chồng mấy năm, đã cùng chồng chống chọi qua những ngày học tập, trải qua những năm tháng lo vượt biên, những ngày đói khổ và sợ hãi… Cuối cùng lại nhận được từ người chồng một tấm giấy ly hôn.

Hai điều đau khổ đã đến với Hảo thật tàn nhẫn.  Vừa có tin buồn mất cha chưa lâu, nàng lại nhận được giấy ly hôn từ chồng. Người Hảo như tê đi, không còn cảm giác.

Nhưng điều lạ lùng nhất là Hảo không nổi giận với Huân mà vẫn đem lý lẽ ra để bênh vực. Nàng cho rằng do thời cuộc nên con người dễ đổi thay.  Có lẽ sống xa nhà, một mình nơi đất khách, trải qua những năm tháng đầy biến động, con người ta dễ yếu lòng.

Hảo nói một câu nghe vừa buồn vừa thương:

“Ông ấy có phải là Bụt đâu.”

Bạn bè nghe xong chắc muốn… nổi quạu thay cho nàng!

Một người chịu không nổi, bật lại:

“Thế mày là Bụt à?”

Cả đám bạn vừa tức vừa thương. Tức vì Hảo hiền quá. Thương vì Hảo vẫn còn tìm một lý do để bảo vệ người đã làm mình đau.

Có lẽ lúc ấy Hảo cũng biết. Biết rằng Huân đã thay đổi. Biết rằng ở bên kia, chàng đã có một cuộc sống khác. Nhưng lòng người đâu phải cái công tắc, muốn tắt là tắt được.

Gần bốn năm chờ đợi đâu phải chỉ nói một câu “ly hôn” là có thể xóa sạch. Và một cuộc hôn nhân bắt đầu từ một tình yêu có gốc rễ tận những ngày thơ ấu càng không dễ dàng biến thành một mối quan hệ xa lạ chỉ vì một tờ giấy.

Hảo vẫn hy vọng.  Không phải hy vọng Huân sẽ quay lại ngay. Mà có lẽ nàng chỉ mong một điều rất nhỏ: Nếu một ngày nào đó Huân nhận ra mình đã sai, nếu chàng quay về xin lỗi, nàng vẫn có thể tha thứ. Bởi Hảo chưa bao giờ nghĩ mình là người hoàn hảo. Và nàng cũng chẳng bắt Huân phải là một vị thánh. Nàng chỉ nghĩ: Con người ta có thể sai. Nếu biết sai thì vẫn còn có thể tha thứ.

Cũng có thể hai điều đau khổ quá lớn cùng lúc đến với Hảo. Thương xót cha nhiều hơn nên nỗi đau về sự phụ bạc của chồng cũng vì thế mà nhẹ bớt.

Các em của Hảo lúc ấy đã ở Mỹ. Một người trong gia đình tìm hiểu và biết rằng Huân đang sống chung với một người phụ nữ khác. Người phụ nữ ấy muốn được chính thức kết hôn với Huân, và điều kiện để chuyện đó có thể xảy ra là Huân phải chấm dứt cuộc hôn nhân với Hảo. Vậy là mọi chuyện trở nên rõ ràng. Không còn là chuyện thời cuộc. Không còn là chuyện xa cách. Cũng không còn là một cuộc hôn nhân bị hoàn cảnh đẩy đưa đến chỗ lạnh nhạt.

Đó là một sự lựa chọn. Huân đã lựa chọn.

Hảo đau. Đau đến tê điếng.

Nhưng điều đáng nói là nàng không làm ầm lên, cũng không chạy đi tìm chồng để níu kéo.

Bạn bè biết Hảo đau. Nhưng Hảo lại cứ tìm cách nói đỡ cho người làm mình đau. Có lẽ vì Hảo hiểu con người vốn yếu đuối. Có lẽ vì nàng không muốn biến một mối tình đã từng đẹp thành một cuộc chiến của oán hận. Và cũng có lẽ, sâu trong lòng, nàng vẫn còn thương. Nhưng thương không có nghĩa là phải níu kéo. Hảo không van xin. Nàng chấp nhận.

Không phải vì nàng không đau, mà vì nàng hiểu một điều rất rõ:

Khi người ta đã muốn đi, giữ lại cũng chẳng còn là tình yêu.

Hảo ký giấy.  Cuộc hôn nhân bắt đầu từ cuối năm 1973 chính thức kết thúc sau những năm tháng mà cả hai đã cùng trải qua quá nhiều biến cố.

Năm 1982, bà giáo Ngọc cùng hai cô con gái sang Pháp theo sự bảo lãnh của ông ngoại Huân.

Mãi đến tháng Năm năm 1991, chị em Hảo cùng mẹ mới đặt chân sang Mỹ.

Đến phi trường San Francisco, Hảo nhìn quanh, trong lòng vẫn có một niềm hy vọng mong manh: biết đâu Huân sẽ ra đón. Nhưng không. Chỉ có mấy cô em gái của Hảo và vài người bạn thân của mẹ nàng.

Vân, em của Hảo, cho biết người đàn bà đã sống với Huân, đã bắt Huân phải ly dị vợ, cuối cùng cũng không ở với Huân. Bây giờ Huân đang sống chung với mẹ và mấy người em.

Vậy là Huân đã không trở về. Có thể vì ăn năn. Có thể vì tự ái hay quá mắc cỡ vì hành động bội bạc của mình.

Nhưng có một điều Hảo đã hiểu. Hiểu rằng tình yêu của Huân với nàng không đủ đầy, không đủ mạnh. Hoặc có thể vì Hảo mới sang, tay trắng, nên Huân ngại phải cưu mang.

Dù vì lý do gì đi nữa, Hảo cũng thấy nhẹ lòng.

Nàng phải mạnh mẽ và quên đi những chuyện ưu phiền.  Và nếu cuộc đời đã lấy đi của nàng nhiều thứ, thì nàng phải quyết định giữ lấy một thứ: Tương lai của mình.  Phải đứng trên đôi chân của mình.

Chỉ bốn tháng sau, Hảo đã xin được việc làm teacher aide tại một trường học gần nhà.

Nàng chấm dứt khoản trợ cấp mà chính phủ thường cấp cho người mới nhập cư, 300 đô-la một tháng trong tám tháng. Nàng quyết tâm học lại.

Ở thời điểm ấy, các giáo sư của Đại học Dược Sài Gòn cũ đang tranh đấu, nên những dược sĩ Việt Nam có cơ hội được thi lấy bằng tương đương.

Hảo liên lạc với các bạn sang trước, rồi ghi tên học lớp hàm thụ để thi bằng tương đương Dược sĩ trên toàn nước Mỹ.

Liên lạc lại với những người bạn cũ, mỗi đứa mỗi hoàn cảnh nhưng vẫn có dịp gặp nhau để an ủi, chia sẻ.  Cuộc sống tuy vất vả nhưng Hảo thấy vui vẻ và yêu đời hẳn lên.

Bốn năm.

Bốn năm miệt mài học hành, vừa học vừa đi làm tại các dược phòng. Bốn năm ấy không có chồng bên cạnh. Không có ai hứa hẹn tương lai. Không có một mái gia đình mới để trông chờ.  

Hảo tự nhủ:

“Đời mình còn dài. Không thể cứ ngồi đó mà chờ một người đã chọn rời bỏ mình.”

Rồi ngày tốt nghiệp cũng đến. Hảo có bằng Dược sĩ.

Và thật may, đó cũng là lúc ngành Dược ở Mỹ đang phát triển mạnh. Những hệ thống siêu thị lớn bắt đầu mở thêm các dược phòng, nhu cầu dược sĩ tăng cao. Hảo có việc làm. Nàng bắt đầu đứng vững bằng chính đôi chân mình. Có lẽ đó là lần đầu tiên sau rất nhiều năm, Bích Hảo không còn là người vợ của ai, không còn là người đàn bà ngồi chờ giấy bảo lãnh của một người chồng ở phương xa.

Nàng chỉ đơn giản là Bích Hảo. Một Dược sĩ. Một người đàn bà tự mình xây dựng lại cuộc đời.

Nhưng đúng lúc Hảo bắt đầu tìm được nhịp sống mới, một hôm người em của Huân lại liên lạc với nàng;

“Chị Hảo về với anh Huân đi!”

Câu nói ấy, nghe thì đơn giản, Hảo nghe mà chẳng biết nên cười hay nên khóc. Hảo đã bước qua bao khó nhọc, bao đớn đau.  Người đã gửi cho nàng giấy ly hôn, giờ đây lại được nhắc đến như thể chuyện cũ có thể quay ngược trở lại. Hảo đã bước qua đoạn đời đau khổ đó rồi!

Sau đó, Huân chính thức cưới một người vợ khác và chẳng bao lâu sau, Huân bị ung thư và qua đời vài năm sau đó.

Lần này, giữa họ không còn là một cuộc hôn nhân. Hảo cũng có một thoáng bâng khuâng nhớ  lại một đoạn đời đã từng có thật. Một đoạn đời rất dài.Rất đau. Nhưng cuối cùng, Hảo đã mạnh mẽ sống tiếp.

Chuyện vợ chồng coi như đến đó là hết. Không ai biết trong lòng hai người lúc ấy còn gì với nhau, mà có lẽ cũng chẳng cần biết nữa. Có những chuyện của một đời người, đến cuối cùng chỉ còn lại một chữ: Thôi.

Hảo tiếp tục sống.

Các em đều học hành xong, lập gia đình, ra ở riêng. Còn nàng vẫn ở với mẹ, hai mẹ con nương tựa nhau. Hảo cương quyết không lấy chồng nữa. Mẹ còn sống ngày nào thì nàng ở với mẹ ngày đó.

Bạn bè thấy nàng cứ một mình mãi cũng sốt ruột. Hết người này tới người kia tìm cách mai mối.

Một hôm, Hảo buông một câu:

“Tao chỉ thay tã cho mẹ tao thôi…”

Thế là cả đám bạn im luôn. 😂

Sau đó mẹ Hảo mất.

Các em ai cũng có gia đình riêng nhưng vẫn gần gũi với chị. Bạn bè cũng vậy.

Hảo sống một mình nhưng chẳng đến nỗi cô độc. Nàng vui vẻ đi đây đi đó với bạn bè, gần gũi các em, các cháu; chăm chút cho căn nhà và khu vườn của mình.

Cho đến một ngày, Hảo ra vườn tưới cây. Nàng vấp phải cái ống nước nằm dưới đất, té xuống mà không ai hay biết. May sao có người hàng xóm đi ngang nhìn thấy, gọi 911 đưa nàng vào phòng cấp cứu. Hảo bị gãy xương vai, dập xương ống tay. Sau một thời gian nằm nhà thương, nàng được về nhà.

Các em chia nhau luân phiên đến thăm. Có therapist đến nhà tập hằng ngày, lại có cô giúp việc đến mỗi ngày bốn tiếng.

Vậy là cũng ổn.

Nghĩ lại, có lẽ Hảo không phải Bụt thật. Nàng chỉ là một người đàn bà có lòng. Mà người có lòng thì đôi khi chịu thiệt. Hảo đã chịu thiệt nhiều rồi. Nhưng may mắn là nàng không để những chuyện ấy làm mất đi niềm vui sống.

Bây giờ Hảo vẫn ở đó, gần các em, gần bạn bè. Có lúc đau ốm, có lúc té ngã, có lúc cần người giúp, nhưng bên cạnh vẫn có người.  Sau một đời long đong như vậy, Hảo còn có người thân để nương tựa, còn có bạn bè để gọi nhau một tiếng, còn có một căn nhà để yên ổn trở về.

Hôm nay trời đã vào Thu, những chiếc lá vàng đã lác đác rơi,  Hảo thấy người đã khỏe, bước ra sân sau nhìn lên trời cao, nhìn quanh thấy phong cảnh thiên nhiên đẹp quá. Hảo sẽ chịu khó tập tành cho khỏi hẳn để đại hội Trưng Vương năm nay sẽ đi gặp bạn bè. Từng khuôn mặt, từng khuôn mặt hiện ra. Một bầy con gái tung tăng trên lòng đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Một đời người trôi đi quá nhanh. Hảo nhớ quá một thời ngây thơ trẻ dại!

Đỗ Dung




TRẦN QUỐC BẢO – THẢM HỌA KHỦNG KHIẾP Ở NEPAL




MINH THÚY THÀNH NỘI – MẸ THÍCH LÀM DÂU

==

MẸ THÍCH LÀM DÂU – MINH THÚY THÀNH NỘI

Bà Phương ngắm nghía những đòn bánh tét mới vớt ra trong nồi đầy thích thú. Nó nhỏ bằng nắm tay, trông xinh xắn làm sao. “Vậy là mình yên tâm phần nào rồi, vì hai hôm nay đã gói được bánh ít đen, bánh lọc, bánh tét và làm chả chay xong .” Bà vừa dọn dẹp các thứ vừa nhìn đồng hồ điểm 2 giờ sáng – mau lẹ ngủ thôi, mai còn dậy sớm đi thăm đám nữa.

Tháng Tám của những ngày cuối hạ, cái nóng bứt rứt người. Bà ghé chở bà Minh cùng đến nhà quàn thắp nén hương đưa tiễn người đi. Sau đó bà muốn ghé chợ mua thức ăn. “Mai có đám giỗ mẹ chồng, hôm qua đã mua chợ gần nhà một xe rồi, vẫn chưa đủ.” Bà vừa nói với bạn vừa mở Google tìm chợ nào gần nhất vùng San Jose. Hai bà chọn chợ Đại Thành.

Trên đường lái xe, bà P khoe đã làm được các thứ bánh

– hèn chi sáng nay được chị tặng đòn bánh tét. Bà M gật gù nói: “Chị mời ai đông không mà chuẩn bị làm nhiều vậy?”

– “Thì chỉ là con cháu trong nhà.”

_“Rứa không phải các dâu mỗi người làm một món à? Đám giỗ gia đình chồng em khoẻ lắm, cho biết trước ai đem món gì, tránh tình trạng 10 khay mì xào, 10 khay xôi trùng nhau.”

Bà P bật cười: “Thôi, thôi tội dâu con sống ở đây, chúng nó bận rộn theo công việc thở không ra hơi, ngoài ra còn chăm con, đầu tư công sức đưa đón con học bơi, học đàn, học võ tối mặt chứ đâu có đùa được.”

Trời nắng gắt, dù máy lạnh đã mở, nhưng cái nóng vẫn còn hừng hực. Ngày trong tuần đường xá kẹt xe đông đúc. Hai bà để khoảng yên lặng, thả tâm tư suy nghĩ điều gì đó. Bà M chợt nhớ mẹ mình, hình ảnh xa xưa qua những đám giỗ bố chồng, dù không có chồng bên cạnh. Nhất là những ngày cuối năm lạnh giá mùa Tết, bà chứng kiến cảnh mẹ mình nhổ cỏ quét dọn mộ ông nội, đem các thức ăn, bông hoa trái cây trình bày trên mộ, thắp nhang nói với ông nội những điều kính mến yêu thương rất lâu… Nghĩ đến mắt bà M muốn mờ. Nay nhìn hình ảnh bà bạn lo đám giỗ mẹ chồng, kính trên nhường dưới. Đó là cái đẹp của người phụ nữ thời xưa, thời Khổng Tử giáo dục.

Bây giờ đã đi qua thời đại khác, nhất là ở các nước phương Tây phóng khoáng, nam nữ bình đẳng. Như ở Mỹ, con người đều muốn dùng trí tuệ cho sự nghiệp hơn nên bù đầu óc bận rộn. Vậy mà tôi vẫn thấy hình ảnh đẹp và nếp sống đâu đó còn giữ lại. Nghĩ miên man đến chợ Đại Thành hồi nào không hay.

Hai bà già mỗi người đẩy một chiếc xe. Có lẽ đây là ngôi chợ có giá cả rẻ nhất so với những chợ Việt Nam khác, thức ăn tươi tốt lôi cuốn. Bà M tha hồ bốc chôm chôm, trái thơm, măng cụt, thanh long, nectarine, khoai dương châu tím, rau trái. Bà P cũng bốc trái cây không kém, và cả những thứ nấu cúng giỗ. Lướt qua hàng thịt, bà P dừng lại quầy trưng bày những con gà đi bộ nằm trong vỉ tươi tốt, chọn lấy bỏ vào xe.

-“Anh chị ăn chay trường sao lại mua gà?” bà M trố mắt.

-“Nấu cho cháu nội”  bà P ra dấu đi lẹ. Lúc lu bu với khách đông chen chúc, bà M chẳng có thì giờ hỏi lại.

Hai bà lẹ làng ra quầy tính tiền mà bụng còn nuối tiếc, ưa quan sát nhiều mặt hàng, muốn mua thêm nữa, nhưng phải về gấp trước 3 giờ chiều, tránh kẹt xe nơi freeway 101 và 880.

Trên đường dài, bà P bắt đầu kể lể: hồi nãy mua con gà vì các cháu nội thường gọi “cơm gà bà nội”, chúng rất thích món này. Con trai thích món bánh tét, mì cà ri, con dâu đứa này thích bánh ít, đứa kia thích canh chua. Nói chung con nào thích món gì đều có trong mâm cúng giỗ.

-“Ôi trời! Chị đã qua thời làm dâu, giờ muốn làm lại ha?”

– “Ừ! Gần tới ngày cúng giỗ lòng mình nao nao cảm giác mong đợi này. Đầu tiên

là thích ngắm mâm cơm chay được trình bày đẹp mắt trước di ảnh mẹ chồng, bông hoa trái cây tươi tô điểm thêm bàn thờ. Thích ngắm khói hương bay nghi ngút. Thích nhìn vào đôi mắt “người đời xưa” và tưởng như mẹ chồng còn sống, mẹ chồng đang hiểu tâm tình đứa con dâu được thể hiện qua hành động. Thích cả cái phút tay run run cài cây nhang, như chạm được vào tay mẹ chồng ngày cũ… Kế tiếp là thích nhìn ông chồng nét mặt sáng rỡ tươi vui, bày tỏ sự hài lòng với nửa mình bên cạnh, chung nhà chung cuộc sống. Cuối cùng là mong chờ các con, các cháu về ‘trước cúng sau cấp’. Bụng dạ cứ hồi hộp chúng nó không thuận duyên, bận rộn giờ phút cuối, như đã từng trước đó thì buồn lắm. Cháu nội hấp thụ cách sống nơi đây, thường ít gần người lớn. Chúng bận học, bận đọc sách và có thế giới riêng của nó. Lo chúng cảm thấy ‘boring’ khi gần người lớn sẽ không đến, nên phải tìm cách nào đó chiêu dụ, chẳng hạn nấu các món chúng thích. Chưa kể tuy ăn chay nhưng vẫn thỉnh thoảng nấu từng nồi món mặn, cho mỗi gia đình đem về nhà, để gia vị cầm chừng dặn mẹ chúng nêm nếm lại.”

Bà M ngắt lời: “Vậy khi con cháu về ăn, nó có phê bình gì không?”

– “Có chứ, thằng Robert nói: ‘Chỉ thích ăn chả giò của bà nội thôi, mấy lần mẹ mua ở tiệm không ngon’. Dâu út: ‘Con mê món cháo nấm của mẹ’. Dâu nhì: ‘Con ăn kiêng nên rất khoái các món chay mẹ cho ăn, nếu còn mẹ cho con… togo nữa nha’. Dâu cả: ‘Hôm trước 200 chả giò mẹ đem lên, giờ gần hết sạch rồi mẹ ơi’. Có đứa còn nhắn tin: ‘Mom, nhớ làm extra cho con mang lên trường nha’. Đọc tin nhắn mà mẹ hết đau lưng… Đó, chỉ chừng đó thôi cũng làm tăng sức sống, tăng niềm vui của mình rồi. Ông xã cười híp mắt luôn miệng trả lời: ‘Để bà nội, để mẹ làm, nấu cho các con đem về’.”

Bà M phá lên cười: “Ôi cái bếp của mẹ nơi xứ người luôn rực tươi ánh lửa hồng, mẹ tình nguyện làm dâu cho cả nhà rồi đó.”

– “Tình mẹ và đời con vậy mà. Con cái thương mẹ, nhưng công việc, chồng con, nhà cửa bị cuốn đi thì sao. Mình hiểu, mình không trách, chỉ sợ mỗi năm chúng nó bận hơn, nên năm nay phải nấu ngon hơn, nhiều hơn, để ‘dụ’ về được chứ.” Tiếng bà P cười tiếp: -“Vì thương con nhớ cháu, mình tình nguyện làm dâu cho cả nhà. Cái bếp là nơi mình giữ lửa, giữ tình thân. Miễn con cháu về đông đủ, mình cực mấy cũng vui, đó là hạnh phúc tìm được.”

Câu chuyện dừng ngang đó vì đã đến nhà bà M. Bà còn ráng nói thêm câu nữa trước khi xách giỏ vào nhà: “Hiểu rồi, chị thích làm dâu một đời, để được làm mẹ trong ngày đoàn tụ phải không?”

****

Thứ Bảy khoảng 5 giờ chiều. Tiếng bà P gọi ở đầu giây bên kia: “Mới thắp nhang nè, xong xuôi hết rồi. Đang ngồi nghỉ mệt nhìn ra đường chờ con về. Gớm! Con cháu mình thôi mà sao tim lại đập, lòng hồi hộp ngóng từng chiếc xe, giống như ngày xưa đợi người yêu vậy cà. A thì ra ngày xưa yêu chàng, bây giờ yêu con, yêu cháu, cảm giác tâm trạng cũng xêm xêm hè.”

Bà quay gửi qua video bàn cỗ chay thiệt đẹp mắt. Trên bàn thờ, tấm hình mẹ chồng cười hiền. Bà P đặt thêm chén chè đậu trắng, món ngày xưa mẹ chồng thích, mà không đứa con nào biết… Bà M cảm thấy vui theo người mẹ Việt Nam dạt dào tình như sông dài biển rộng với con cháu.

Bà M mở đống thư từ các chùa mời dự lễ Vu Lan. Ngày con cái vinh dự vì đi chùa được cài đóa hoa hồng, đóa hoa còn mẹ. Bà M thích quan niệm vị bổn sư của mình: chỉ được dùng một màu hồng cài trên áo dù mẹ còn hay mất. Tuy thể xác đã trở về cát bụi, nhưng hình ảnh, kỷ niệm với mẹ luôn chất đầy ký ức. Không phải chỉ một ngày rằm tháng Bảy mới nhớ về mẹ, mà mẹ vẫn luôn sống hằng ngày hằng giờ trong tâm trí con.

*****

Chiều 4/7 âm lịch, bà M cùng chồng dự lễ Vu Lan chùa Thiên Trúc đầu tiên của tháng 7. Quý thầy hướng dẫn thời kinh Vu Lan Bồn nói về phẩm hiếu hạnh của ngài Mục Kiền Liên đối với mẹ. Hầu như tâm tư mọi người đều chùng xuống.

Vu Lan nhớ những điều gì

Mục Kiền Liên đáp hiếu vì mẹ yêu

Bài kinh thấm đẫm những điều

Nhắc mình phụng dưỡng đến nhiều song thân

Công ơn dưỡng dục cao ngần

Hy sinh vất vả muôn phần vì con

Nhịn dành các thức ăn ngon  Con đau mẹ thức mỏi mòn đêm thâu

Đội mưa phơi nắng dãi dầu

Không nề gian khổ nhiệm mầu tình thương

Mẹ là bóng mát che đường

Là vòng tay ấm thơm hương sữa ghiền

Cài hoa tưởng nhớ mẹ hiền

Dầu người đã bước về miền tịnh an

Bài ca dâng hát lời vàng

Tri ân phụ mẫu nhẹ nhàng đầu thu

MTTN

Hình ảnh các em đến cài hoa trên ngực áo khiến bà M nghĩ đến mẹ chồng, mẹ mình. Những bà mẹ hiền hòa, nhân đức luôn có tình yêu độ lượng với tha nhân, với chồng con một đời. Và trong hiện tại, trước mắt bà là hình ảnh một bà mẹ thích được làm dâu để tìm nguồn hạnh phúc. Bà M tiếc mình không có con để giẫm lên, nếm trải cảm giác đó. Thời đại hôm nay vẫn còn tấm lòng người mẹ Việt Nam thoáng như mây trời, êm dịu như mùa thu, tươi mát như suối nguồn, mênh mông như biển cả…

Bà M nghe âm vang vọng lại từ tiếng hát ca sĩ, cư sĩ Quang Tuấn đầy dịu vợi:

(*)

Mẹ mẹ là dòng suối dịu hiền

Mẹ mẹ là bài hát thần tiên

Là bóng mát trên cao

Là mắt sáng trăng sao

Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối

Mẹ mẹ là lọn mía ngọt ngào

Mẹ mẹ là nải chuối buồng cau

Là tiếng dế đêm thâu

Là nắng ấm nương dâu

Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời…

Minh Thúy Thành Nội

Tháng 8/16/2026

( * )Thơ: Sư ông Thích Nhất Hạnh

Nhạc: Phạm Thế Mỹ




KIỀU MỸ DUYÊN – LỄ VU LAN TẠI CÁC CHÙA Ở QUẬN CAM




THỦY NHƯ – ĐỌC TRUYỆN HÀNG XÓM – DIỄN ĐỌC Giọt Sương Thu