LÊ XUÂN MỸ – Vĩnh Biệt Một Người Bạn Văn Biển Cát

Vĩnh biệt một người bạn văn Biển Cát

Tôi thật sự không biết phải bắt đầu những dòng này như thế nào, bởi tin chị Biển Cát đột ngột qua đời đến với tôi quá bất ngờ. Mới hôm qua thôi, tôi còn nhìn thấy bài viết mới nhất của chị đăng trên báo, bài “Màu vàng của gió”. Tôi không thể ngờ rằng đó lại là những dòng chữ cuối cùng của chị mà tôi được đọc khi chị còn hiện diện trên cõi đời này. Bài viết mở đầu bằng những câu thơ thật đẹp, thật buồn:

“Ở lại nhé anh
Đồi dã quỳ dập dờn vàng màu gió
Tan vào hư không
Tuổi mười tám rạng ngời…”

Tôi cứ đọc đi đọc lại những câu thơ ấy mà không thể nghĩ rằng chỉ một ngày sau, người viết ra chúng đã “tan vào hư không”. Những câu chữ vốn chỉ là một phần của câu chuyện, của ký ức, của tuổi mười tám rạng ngời, hôm nay bỗng trở thành một lời tiễn biệt chính người viết. Có lẽ không ai trong chúng ta có thể biết được bài viết nào sẽ là bài viết cuối cùng của mình, câu nói nào sẽ là câu nói cuối cùng, hay lần gặp gỡ nào sẽ là lần cuối cùng.

Với tôi, Biển Cát không chỉ là một người bạn văn, mà còn là một người đã để lại trong tôi rất nhiều kỷ niệm đẹp. Tôi nhớ năm 2023, khi tôi may mắn đoạt giải Nhất, chị cũng đạt giải Á hậu. Chúng tôi cùng đi qua một mùa viết với những niềm vui, những hồi hộp và những câu chuyện văn chương. Rồi đến năm 2025, chị lại một lần nữa đạt giải Á hậu. Tôi biết trong lòng chị có một chút thất vọng, bởi người cầm bút nào cũng mong một ngày tác phẩm của mình được ghi nhận ở vị trí cao nhất. Tôi vẫn nghĩ rằng chị còn nhiều cơ hội. Tôi vẫn hy vọng đến năm 2027, chị sẽ đạt được điều chị mong muốn, sẽ có một lần được đứng ở vị trí mà chị từng ao ước.

Nhưng bây giờ thì không còn năm 2027 nào nữa cho chị. Nghĩ đến điều đó, lòng tôi đau nhói. Những ước mơ chưa kịp hoàn thành, những bài viết chưa kịp viết, những dự định còn ở phía trước… tất cả bỗng nhiên dừng lại. Cuộc đời thật mong manh. Chúng ta cứ nghĩ mình còn ngày mai, còn một mùa viết nữa, còn một cuộc gặp nữa, còn có thể nói với nhau những điều chưa kịp nói. Nhưng đôi khi, ngày mai không bao giờ đến.
Điều khiến tôi xúc động và bàng hoàng nhất là mới hôm qua, bài “Màu vàng của gió” của chị vẫn còn được đăng trên báo. Chị vẫn còn viết, vẫn còn gửi những cảm xúc của mình đến người đọc. Những dòng chữ ấy vẫn còn đó, nhưng người viết thì đã đi xa. Tôi không thể không nghĩ đến bốn câu thơ mở đầu của chị: “Ở lại nhé anh / Đồi dã quỳ dập dờn vàng màu gió / Tan vào hư không / Tuổi mười tám rạng ngời.” Hôm qua đọc, tôi chỉ thấy đó là những câu thơ đẹp và man mác buồn. Hôm nay đọc lại, tôi lại cảm thấy như một lời chia tay mà chị vô tình để lại cho những người còn ở lại.

Biển Cát ơi, chị đã không kịp chờ đến năm 2027 để thực hiện điều mình mong muốn. Nhưng có lẽ những giải thưởng, những danh hiệu rồi cũng chỉ là một phần rất nhỏ của đời người. Điều còn lại lâu hơn chính là những trang viết, những cảm xúc và những kỷ niệm mà một người để lại trong lòng người khác. Chị đã viết, đã sống với văn chương, đã để lại những câu chuyện của mình. Và giờ đây, những trang viết ấy sẽ thay chị ở lại.
Tôi sẽ nhớ chị qua những mùa Viết Về Nước Mỹ, qua những lần gặp gỡ, qua những câu chuyện về văn chương, qua niềm vui khi cùng được ghi nhận trong năm 2023, và cả chút tiếc nuối khi chị một lần nữa chỉ đứng sau giải cao nhất vào năm 2025. Tôi sẽ nhớ một người bạn văn vẫn còn nhiều ước vọng, một người mà tôi từng nghĩ chắc chắn sẽ còn viết thêm rất nhiều.

Vậy mà hôm nay, tôi phải viết những dòng này để nói lời vĩnh biệt. Có lẽ câu “Tan vào hư không” trong bài viết cuối cùng của chị sẽ còn ám ảnh tôi rất lâu. Bởi con người có thể tan vào hư không, nhưng những gì họ viết, những gì họ yêu thương và những kỷ niệm họ để lại thì không dễ dàng mất đi.

Xin vĩnh biệt chị, Biển Cát.

Mới hôm qua chị còn ở đó, với “Màu vàng của gió”, với đồi dã quỳ vàng trong gió, với tuổi mười tám rạng ngời của những ngày xa xưa. Hôm nay chị đã đi về một nơi rất xa, nơi chúng tôi không thể gọi chị trở lại. Chỉ mong ở nơi ấy, chị được bình yên.

Và nếu có một mùa Viết Về Nước Mỹ năm 2027, chúng tôi vẫn sẽ nhớ rằng đã từng có một người bạn văn tên Biển Cát, từng ôm một ước mơ chưa kịp hoàn thành, từng để lại những trang viết đẹp, và từng có mặt trong những kỷ niệm mà chúng tôi sẽ mang theo suốt phần đời còn lại.

Vĩnh biệt chị. Mong chị nhẹ nhàng đi vào miền bình yên, như màu vàng của dã quỳ tan vào trong gió.

Lê Xuân Mỹ 
San Jose 8/15/2026




LÊ XUÂN MỸ – CHIỀU NHỚ HUẾ LẦN THỨ BẢY

CHIỀU NHỚ HUẾ LẦN THỨ BẢY

Buổi Họp Mặt Vui Hát “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy do chị Thanh Huệ tổ chức tại Walnut Creek đã kết thúc lúc 7 giờ tối, nhưng khi mọi người lần lượt ra về, trong lòng tôi vẫn còn nguyên một cảm giác bâng khuâng khó tả. Một buổi chiều chỉ kéo dài vài tiếng đồng hồ, vậy mà dường như chúng tôi đã đi qua rất nhiều năm tháng của cuộc đời. Có những buổi gặp mặt đến rồi đi, người ta vui một chút rồi quên. Nhưng cũng có những buổi gặp mặt mà khi trở về nhà, người ta vẫn còn nghe đâu đó tiếng đàn, tiếng hát, tiếng cười và những câu chuyện chưa kịp kể hết. “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy đối với tôi là một buổi chiều như thế. Đó không chỉ là một buổi vui hát của hơn ba mươi người bạn, mà là một cuộc trở về. Một cuộc trở về không cần máy bay, không cần vé tàu, không cần phải đi hàng ngàn dặm đường. Chỉ cần một câu hát, một tiếng đàn, một cái tên quen thuộc của một người bạn cũ, là cả một khoảng trời quê hương có thể hiện về.

Buổi chiều hôm ấy có đến ba mươi bốn người tham dự, mà phần đông đều đã quá tuổi thất thập. Có những U90 như anh Mai, anh Toàn, còn U80 như tôi thì nhiều như lá rụng mùa thu. Anh Tiến, chú Bình, chị Bích Thọ, chị Hà anh An…ngay cả vợ chồng Xuân Mỹ tui. Nhìn những khuôn mặt bạn già ngồi bên nhau, tôi chợt nghĩ rằng nếu tính tổng số năm tháng của tất cả mọi người trong căn phòng ấy thì chắc chắn đó là một con số rất lớn. Mỗi người mang đến đây không chỉ một cuộc đời đã đi qua hơn bảy mươi năm, mà còn mang theo một trời ký ức riêng. Có người từng sống những năm tháng tuổi thơ ở Huế, có người từng học dưới những mái trường cũ, Quốc Học, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Nguyễn Tri Phương, có người từng yêu, từng lập gia đình, từng chia tay bạn bè để rồi cuộc đời đưa đẩy đến một phương trời rất xa quê nhà. Có người đã rời Việt Nam từ rất lâu, có người sang Mỹ khi tuổi đời còn trẻ, có người đến khi tóc đã bắt đầu pha màu bạc. Nhưng dù hoàn cảnh mỗi người khác nhau, chúng tôi có chung một điều, trong sâu thẳm của tâm hồn vẫn có một miền quê  không bao giờ mất. Hơn ba mươi năm tôi chưa từng trở lại, quê hương ấy có thể đã thay đổi rất nhiều, những con đường ngày xưa có thể đã khác, những ngôi nhà cũ có thể không còn, những người thân yêu có thể đã lần lượt ra đi, nhưng ký ức về quê hương thì vẫn còn nguyên vẹn trong một góc nào đó của trái tim.

Có lẽ càng lớn tuổi, người ta càng hiểu giá trị của hai chữ “gặp nhau”. Khi còn trẻ, chúng ta thường nghĩ rằng ngày mai, tháng sau hay năm tới mình vẫn còn nhiều dịp để gặp lại bạn bè. Một cuộc hẹn có thể dời sang tuần sau, một chuyến đi có thể để năm sau, một người bạn lâu ngày không gặp có thể nói “khi nào rảnh mình gặp nhau”. Nhưng khi bước qua tuổi 70, chúng ta bắt đầu nhìn thời gian bằng một con mắt khác. Không ai nói ra, nhưng ai cũng hiểu rằng cuộc đời không còn dài như trước. Vì vậy, một lời mời gặp mặt, một buổi ca hát, một bữa cơm với bạn bè bỗng trở nên quý giá vô cùng. Chúng ta đến với nhau không chỉ vì thích hát, không chỉ vì thích nghe nhạc, mà còn vì muốn nhìn thấy nhau khi chúng ta vẫn còn có thể nhìn thấy nhau, muốn nghe tiếng nhau cười khi tiếng cười vẫn còn vang lên, muốn nắm bàn tay của một người bạn khi bàn tay ấy vẫn còn bên cạnh.

Và rồi những bài hát về Huế bắt đầu vang lên. Tôi không biết trong lòng mỗi người lúc ấy có một Huế như thế nào, nhưng chắc chắn Huế của mỗi người đều đẹp theo một cách rất riêng. Với người này, Huế có thể là dòng Hương Giang lặng lờ trôi. Với người khác, Huế có thể là tiếng chuông Thiên Mụ ngân vang trong một buổi sáng. Có người nhớ những con đường rợp bóng cây, nhớ những cơn mưa Huế dai dẳng, nhớ những tà áo dài đi qua sân trường, nhớ một người bạn cũ mà đã mấy chục năm không còn gặp. Có người chỉ cần nghe một câu hát là nhớ đến mẹ, đến cha, nhớ một căn nhà nhỏ, một khu vườn, một bữa cơm gia đình ngày xưa. Những điều ấy tưởng như đã ngủ yên trong ký ức, vậy mà âm nhạc có thể đánh thức tất cả chỉ trong vài phút. Với tôi là An Lăng dưới chân núi Ngự Bình quê ngoại, là Vĩ Dạ, Nam Phổ quê nội.

Đó là điều kỳ diệu của âm nhạc. Âm nhạc không có biên giới. Nó không hỏi chúng ta đang ở Việt Nam hay Hoa Kỳ, không hỏi chúng ta bao nhiêu tuổi, giàu hay nghèo, đang vui hay buồn. Một bài hát cũ có thể đưa một người 75 tuổi trở lại với tuổi 20 của mình. Một giai điệu quen thuộc có thể làm cho một người đang ngồi ở Walnut Creek tưởng như đang đứng bên dòng Hương Giang. Một câu hát có thể làm sống lại hình ảnh của một người thân mà ta đã tưởng rằng mình không còn nhớ rõ khuôn mặt. Có lẽ vì vậy mà những người xa quê thường yêu âm nhạc hơn. Bởi âm nhạc là một trong những chiếc cầu hiếm hoi có thể nối lại hiện tại với quá khứ, nối đất Mỹ với quê nhà, nối những người đang sống với những người đã khuất, nối tuổi già hôm nay với tuổi trẻ của ngày xưa.

“Chiều Nhớ Huế” không phải là một buổi chiều chỉ để nhớ và để buồn. Trái lại, tiếng hát càng vang lên thì niềm vui càng lớn. Sau những ca khúc về Huế là “Tiếng Dân Chài”, là chương trình dạ vũ sôi động với tiếng đàn của nhạc sĩ Nguyễn Tươi. Không khí trong phòng như thay đổi hẳn. Những người vừa ngồi yên lặng nghe những bài hát đầy hoài niệm bỗng đứng lên, mời nhau khiêu vũ. Có những bước chân không còn nhanh, có những động tác không còn mềm mại như thời còn trẻ, nhưng chẳng ai quan tâm đến điều đó. Người ta cười. Người ta dìu nhau đi. Người ta nhìn nhau bằng ánh mắt đầy thân tình. Và trong khoảnh khắc ấy, tuổi tác dường như biến mất. Không còn 70, 75 hay 80 tuổi. Chỉ còn những chàng trai, những cô gái của một thời xa xưa đang trở lại với tuổi trẻ của mình.

Tôi thấy vừa vui vừa xúc động. Bởi chúng ta đã dành phần lớn cuộc đời để lo cho người khác. Khi còn trẻ, chúng ta lo học hành, lo công việc, lo cha mẹ, lo chồng vợ, lo con cái. Sang Mỹ rồi lại tiếp tục một cuộc sống mới với biết bao nhiêu trách nhiệm. Đi làm, mua nhà, trả tiền nhà, nuôi con, giúp con mua nhà, chăm sóc gia đình, rồi đến khi con cái trưởng thành, chúng ta lại lo cho cháu. Thời gian cứ thế trôi qua. Đến một ngày, khi nhìn vào gương, chúng ta mới chợt nhận ra tóc mình đã bạc, đôi chân không còn nhanh, đôi mắt không còn tinh anh như trước. Nhưng sâu bên trong, có lẽ người thanh niên hay cô gái của ngày xưa vẫn còn đó. Chỉ cần một tiếng nhạc, họ lại bước ra.

Tiếng đàn của nhạc sĩ Nguyễn Tươi hôm ấy giống như một lời mời gọi. Và những người bạn của chúng tôi đã đáp lại lời mời ấy bằng những nụ cười. Các MC Bình, An và Hương Đức cũng góp phần làm cho chương trình thêm sinh động. Những lời giới thiệu, những câu nói vui, những tiếng cười làm cho buổi chiều trở nên gần gũi. Không cần một sân khấu lớn, không cần một chương trình cầu kỳ. Chỉ cần có tiếng đàn, tiếng hát và những người bạn cùng chung một tình yêu với âm nhạc, thế là đủ.

Tôi nghĩ điều đáng quý nhất của những buổi sinh hoạt như “Chiều Nhớ Huế” không nằm ở chỗ hát hay hay hát dở. Cũng không nằm ở việc ai nhảy đẹp, ai nhảy chưa đẹp. Điều quý nhất là chúng ta còn muốn hát cho nhau nghe. Còn muốn nghe một người bạn hát. Còn muốn vỗ tay. Còn muốn cười. Còn muốn đứng lên khiêu vũ. Đó chính là dấu hiệu của sự sống. Có những người dù còn trẻ nhưng tâm hồn đã mệt mỏi, già nua. Cũng có những người tóc đã bạc nhưng tâm hồn vẫn còn trẻ trung. Tuổi trẻ thật sự có lẽ không nằm ở số tuổi mà nằm ở nơi của con người trong việc tiếp tục yêu thương, tiếp tục vui sống và tiếp tục mở lòng với cuộc đời.

Sống ở Mỹ, chúng ta có rất nhiều điều kiện để sống một cuộc sống đầy đủ hơn. Đường sá rộng rãi, nhà cửa tiện nghi, bệnh viện hiện đại, con cháu có cơ hội học hành và thành đạt. Nhiều người trong chúng ta đã có một cuộc sống mà thời trẻ ở Việt Nam chưa bao giờ dám nghĩ đến. Nhưng càng sống lâu ở Mỹ, tôi càng nhận ra rằng có những thứ tiền bạc không mua được. Đó là những người bạn cũ. Là những tiếng hát quen. Là một buổi chiều ngồi cạnh những người có cùng một ký ức, cùng một miền quê. Là cảm giác khi nghe ai đó nhắc đến một con đường, một mái trường, một góc phố mà mình từng đi qua cách đây hơn nửa thế kỷ. Là giây phút một bài hát vang lên và mình bất chợt thấy mẹ, thấy cha, thấy tuổi thơ, thấy kỷ niệm hiện về.

Có lẽ đó cũng là lý do những cộng đồng người Việt ở Mỹ vẫn luôn cần những buổi gặp gỡ văn nghệ như thế này. Chúng ta không chỉ cần những hội đoàn để tổ chức công việc, không chỉ cần những buổi họp để bàn chuyện cộng đồng. Chúng ta còn cần những nơi để hát, để cười, để kể chuyện, để nhớ quê hương. Những sinh hoạt như “Chiều Nhớ Huế” âm thầm giữ lại một phần văn hóa Việt Nam giữa đời sống Mỹ. Một bài hát Việt được cất lên, một câu chuyện về Huế được kể lại, một người bạn cũ được gặp lại, tất cả đều góp một chút vào việc giữ cho ký ức của một thế hệ không bị mất đi.

Bởi thế hệ của chúng tôi là một thế hệ đã đi qua rất nhiều biến động. Chúng tôi lớn lên trong chiến tranh, trưởng thành trong những năm tháng đầy khó khăn, rồi rời quê hương đến một đất nước xa xôi để bắt đầu lại cuộc đời. Có người đi bằng máy bay, có người trải qua những ngày tháng gian nan trên biển, có người đến Mỹ với hai bàn tay gần như trắng. Chúng tôi đã học cách thích nghi với một ngôn ngữ mới, một nền văn hóa mới, một cuộc sống mới. Chúng ta làm việc, xây dựng gia đình và nuôi con. Nhưng dù đã sống ở Mỹ bao nhiêu năm, trong tâm hồn chúng ta vẫn có một phần Việt Nam không thể thay thế. Và Huế là một phần như thế.

Huế không chỉ nằm trong những trang sách lịch sử. Huế nằm trong những bài hát. Huế nằm trong giọng nói của người bạn. Huế nằm trong cách chúng ta gọi tên nhau. Huế nằm trong những kỷ niệm tưởng như rất nhỏ. Đôi khi chỉ là một cơn mưa. Một hàng cây. Một chiếc xe đạp. Một buổi tan trường. Một ly cà phê. Một người con gái mặc áo dài đi ngang qua. Một người mẹ đứng trước cửa chờ con về. Những điều ấy, khi còn trẻ, chúng ta không biết rằng một ngày nào đó chúng sẽ trở thành gia tài của ký ức.

Bây giờ chúng ta đã ở tuổi quá 70. Những người thân của thế hệ trước phần lớn đã không còn. Những người bạn cũ ngày càng ít đi. Mỗi lần nghe tin một người bạn qua đời, chúng ta lại thấy vòng tròn của mình nhỏ hơn một chút. Vì vậy, mỗi lần có dịp gặp nhau, tôi càng trân trọng hơn. Nhìn hơn ba mươi người bạn ngồi bên nhau trong buổi chiều hôm ấy, tôi không nghĩ đó chỉ là những người đến dự một chương trình văn nghệ. Tôi nghĩ đó là 34 câu chuyện của một thế hệ. 34 cuộc đời. 34 vùng trời ký ức. Và trong vài tiếng đồng hồ, tất cả đã gặp nhau dưới một mái nhà ở Walnut Creek.

Có lẽ sau này, khi một trong chúng ta không còn nữa, những người còn lại sẽ vẫn nhớ đến buổi chiều hôm ấy. Có thể sẽ nhớ một bài hát. Có thể nhớ một người bạn đã cười rất vui. Có thể nhớ một đôi bạn đã cùng nhau khiêu vũ. Có thể nhớ tiếng đàn của nhạc sĩ Nguyễn Tươi. Có thể nhớ giọng nói của các MC. Và cũng có thể nhớ người đã tổ chức, chị Thanh Huệ. Những kỷ niệm như thế tưởng rất nhỏ, nhưng càng về lâu càng trở nên quý giá.

Khi đồng hồ gần 7 giờ tối, chương trình kết thúc. Mọi người bắt đầu thu dọn, chào nhau và ra về. Có những người còn đứng lại nói chuyện. Có người hẹn lần sau gặp lại. Tôi nhìn theo những bước chân chậm rãi của bạn bè mà trong lòng bỗng thấy thương. Thương cho những người đã đi một đoạn đường thật dài của cuộc đời. Thương cho những người đã mất đi nhiều người thân yêu. Và cũng thương cho chính mình, bởi chúng ta đều biết thời gian không còn nhiều như trước.

Nhưng thay vì buồn, tôi lại thấy biết ơn. Biết ơn vì chúng ta vẫn còn gặp nhau. Biết ơn vì chúng ta vẫn còn nghe được tiếng nhạc. Biết ơn vì chúng ta vẫn còn có thể hát. Biết ơn vì trong một đất nước rộng lớn như Hoa Kỳ, chúng ta vẫn có thể tìm thấy những người bạn cùng quê, cùng thế hệ, cùng ký ức để ngồi lại bên nhau. Và trên hết, biết ơn vì chúng ta vẫn còn có một nơi để nhớ về.

Buổi “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy đã kết thúc, nhưng có lẽ không ai thật sự muốn nó kết thúc. Bởi những buổi chiều như thế này không chỉ được tính bằng số giờ từ lúc bắt đầu đến lúc 7 giờ tối. Nó được tính bằng số kỷ niệm mà mỗi người mang về. Một bài hát có thể kéo dài vài phút, nhưng ký ức mà nó đánh thức có thể kéo dài cả một đời người.

Đêm hôm ấy, khi trở về nhà, có lẽ nhiều người vẫn còn nghe tiếng đàn vang đâu đó trong trí nhớ. Có lẽ vẫn còn nhớ những bài hát về Huế. “ Mưa Trên Phố Huế”, “ Bài tình Ca Xứ Huế”, “Huế Xưa”…Có lẽ vẫn còn nhớ nụ cười của người bạn bên cạnh. Và biết đâu, trước khi đi ngủ, mỗi người lại một lần trở về với Huế của riêng mình.

Tôi cũng vậy. Tôi trở về với một Huế rất xa, một Huế của những ngày còn trẻ. Một Huế có những người thân mà bây giờ chỉ còn trong ký ức. Một Huế có những người bạn mà có lẽ cả đời này cũng không thể gặp lại. Một Huế mà mỗi lần nhớ đến, lòng vừa vui vừa buồn. Buồn muốn khóc.

Nhưng tôi hiểu rằng mình may mắn. Bởi không phải ai cũng còn có một quê hương để nhớ. Không phải ai cũng còn có những người bạn để cùng hát. Và không phải ai cũng có cơ hội, ở tuổi ngoài 70, được ngồi giữa những người bạn, nghe tiếng đàn, nghe tiếng hát, cười với nhau và một lần nữa sống lại thời tuổi trẻ.

Cảm ơn chị Thanh Huệ đã tổ chức “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy. Cảm ơn nhạc sĩ Nguyễn Tươi với tiếng đàn đã mang lại sức sống cho buổi chiều. Cảm ơn các MC đã làm cho chương trình thêm vui tươi và gần gũi. Và cảm ơn tất cả những người bạn đã có mặt. Mỗi người đến mang theo một câu chuyện, một ký ức, một nỗi nhớ, nhưng khi ra về, chúng ta đã có thêm một kỷ niệm chung. Và chắc chắn không thể không cảm ơn Vành Khuyên, người con của một mối tình đẹp của người chú Lê Khắc tài hoa, người em gái photographer dể thương luôn có mặt với mấy chú mấy bác với những tấm hình kỷ niệm tuyệt đẹp  Có lẽ đó là món quà đẹp nhất của tuổi già, không phải có thêm bao nhiêu nhà cửa tiền bạc, mà là có thêm những kỷ niệm đẹp để nhớ.

Và nếu có ai hỏi tôi “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy có gì đặc biệt, tôi sẽ không nói đó là một chương trình văn nghệ hay một buổi dạ vũ. Tôi sẽ nói rằng đó là một buổi chiều mà 34 người bạn đã tạm quên tuổi tác để trở lại làm những chàng trai, những cô gái của ngày xưa, một buổi chiều mà tiếng hát đã đưa những người xa quê trở về với Huế, một buổi chiều mà những người Việt ở Mỹ đã tìm thấy nhau giữa một đất nước rộng lớn; và một buổi chiều mà chúng tôi nhận ra rằng, dù thời gian có lấy đi rất nhiều thứ, vẫn có những điều không bao giờ mất. Đó là tình bạn. Đó là âm nhạc. Đó là ký ức. Và đó là quê hương.

Buổi chiều đã khép lại lúc 7 giờ tối nơi Walnut Creek. Nhưng trong lòng những người bạn, có lẽ một buổi chiều khác vẫn đang tiếp tục,  một buổi chiều có tiếng đàn, có tiếng hát, có những bước chân khiêu vũ và có một dòng Hương Giang lặng lẽ chảy qua miền ký ức. Chiều Nhớ Huế lần thứ bảy đã qua. Nhưng Huế thì vẫn còn đó. Và chúng ta, những người đã đi hơn bảy mươi năm của một đời người như tôi, vẫn còn may mắn được cùng nhau nhớ Huế, nhớ nhau và nhớ một thời tuổi trẻ.




LÊ XUÂN MỸ: TIẾNG VỌNG ÂN TÌNH – CÁM ƠN ANH NGƯỜI THƯƠNG BINH VNCH




LÊ XUÂN MỸ – TIẾNG VỌNG ÂN TÌNH

Càng đến gần ngày 26 tháng 7, lòng tôi càng trĩu nặng một niềm bồi hồi khó tả. Đó không
phải là sự háo hức của một buổi họp mặt đồng hương, cũng chẳng đơn thuần là niềm vui gặp lại
những người bạn cũ. Đó là một khoảng lặng đầy thao thức. Cứ mỗi lần nhìn thấy dòng chữ “Đại
Hội Cám Ơn Anh”, lồng ngực tôi lại thắt lại.

Ba chữ đơn sơ ấy thôi mà nặng trĩu những giọt nước mắt, chứa đựng cả một trời kỷ niệm và hơn nửa thế kỷ ân tình của những người con ly hương dành cho các thương phế binh năm xưa, những người đã gửi lại một phần thân thể nơi chiến trường, và giờ đây đang lặng lẽ đi qua nốt những ngày xế chiều gian khó trên quê hương.

Hơn năm mươi năm đã trôi qua kể từ biến cố tháng Tư năm 1975. Thời gian đủ dài để những
mái đầu xanh ngày nào giờ đã bạc trắng như sương, đủ dài để một thế hệ cứ thưa vắng dần sau
những lần đưa tiễn.

Nhưng thời gian ấy vẫn chưa bao giờ đủ để xóa nhòa ký ức của một cuộc chiến đầy máu và nước mắt. Đối với những người Việt trên đất Mỹ, cuộc chiến ấy chưa bao giờ là những trang sử đã khép lại. Nó vẫn hiển hiện mồn một trong những câu chuyện kể nghẹn ngào của cha anh, trong những giấc mơ chập chờn thức giấc giữa đêm muộn của người lính già, và trong nỗi day dứt khôn nguôi dành cho những đồng đội còn ở lại quê nhà.

Ngày ấy, họ cũng là những chàng trai đôi mươi đầy hoài bão. Có người vừa xếp lại chiếc áo
thư sinh, gác lại giảng đường đại học, có người chỉ vừa kịp trao chiếc nhẫn cưới cho người
thương. Họ khoác lên mình bộ quân phục màu áo trận không phải để kiếm tìm vinh quang, mà
bởi tiếng gọi thiêng liêng của hai chữ “Tổ Quốc”. Rồi cuộc chiến đi qua, có người mãi mãi nằm
lại dưới lòng đất lạnh. Nhưng cũng có những người trở về mà không còn nguyên vẹn, một cánh
tay gửi lại đâu đó trên ruộng đồng, một đôi chân gửi lại bờ kinh, hay những mảnh đạn nhức nhối
găm sâu vào da thịt mỗi khi trái gió trở trời. Những vết thương ấy đâu chỉ làm đau thân xác, nó là
nỗi đau gặm nhấm tâm can suốt cả một đời người.

Thế nhưng, điều nghiệt ngã nhất lại ập đến khi tiếng súng đã ngừng vang. Bước ra khỏi cuộc
chiến, những người thương phế binh ấy mất đi cả tương lai. Không còn quân ngũ, không còn chế
độ bảo trợ, họ trở thành những cái bóng bên lề xã hội, phải gồng gánh mưu sinh bằng chính thân
hình tàn phế của mình. Nhắm mắt lại, tôi như thấy hình ảnh người lính năm xưa bước thấp bước
cao trên đôi nạng gỗ, chìa từng tờ vé số giữa trưa nắng cháy, thấy người ngồi vá xe bên lề đường
bụi bặm, hay nằm liệt giường mòn mỏi trong góc tối căn nhà dột nát. Và điều làm tôi thắt lòng
nhất, suốt bao năm tháng dâu bể ấy, họ chọn cách im lặng. Họ gánh chịu số phận bằng lòng tự
trọng kiêu hãnh cuối cùng của một người lính.

Năm 1998, tôi đặt chân đến nước Mỹ với hai bàn tay trắng, mang theo hành trang duy nhất là
thân phận của một kẻ tị nạn. Nước Mỹ bao dung đã mở rộng vòng tay, cho tôi và gia đình một
cuộc đời mới, một tương lai tự do. Mỗi sáng nhìn lá cờ hoa tung bay trong gió, tôi lại tự hỏi,  nếu
ngày ấy, những người lính không chấp nhận đứng nơi đầu sóng ngọn gió, nếu họ không lấy máu
xương để kìm giữ bước chân thù, liệu có bao nhiêu người trong chúng ta kịp bước chân lên con
tàu tự do? Câu hỏi ấy là một vết cứa sắc nhọn vào trái tim, nhắc nhở tôi rằng mình đang mang
một món nợ ân tình lớn đến mức cả đời này cũng không cách nào trả hết.

Là con của một người sĩ quan đã vĩnh viễn nằm lại trong trại tù Vĩnh Phú năm 1979, tôi thấu
cảm đến tận cùng nỗi đau của người ở lại. Tôi biết thế nào là một căn nhà vắng bóng cha, thế nào
là tiếng thở dài thâu đêm của mẹ, và thế nào cái cảm giác nghẹn ngào của những đứa trẻ phải lớn
lên khi chỗ dựa của gia đình đã mất. Vì vậy, mỗi lần nhìn vào hình ảnh các anh thương phế binh,
tôi không chỉ thấy những người lính năm xưa. Tôi thấy cha tôi. Tôi thấy những người bạn của
cha. Tôi thấy cả một thế hệ đã đi qua một khúc quanh lịch sử quá nhiều nghiệt ngã.

Có lẽ vì thế mà mỗi năm, tôi đều cố gắng tìm về với Đại hội Cám Ơn Anh. Với tôi, đây không
phải là một chương trình giải trí thông thường, mà là nơi để lương tâm của người Việt ly hương
lên tiếng. Mỗi tấm vé, mỗi phong bì quyên góp đều mang theo một lời hứa thủy chung từ nửa
vòng trái đất: “Các anh ơi, xin đừng tuyệt vọng, các anh không bị lãng quên.”

Đến với đại hội, điều chạm vào góc sâu thẳm nhất trong tim tôi chính là những hình ảnh đầy
xúc động. Là những mái đầu bạc phơ, lưng đã còng nhưng vẫn trang trọng khoác lên mình bộ
quân phục thời Việt Nam Cộng Hoà, đứng nghiêm trang chào lá quốc kỳ. Là những giọt nước
mắt lặng lẽ lăn dài trên gò má nhăn nheo khi giai điệu chinh chiến ngày cũ vang lên. Và ấm lòng
biết bao khi tôi bắt gặp ánh mắt những người trẻ sinh ra và lớn lên trên đất Mỹ. Các em may mắn
được sống trong thanh bình, không biết đến mùi thuốc súng, nhưng tại đây, nhìn thấy giọt nước
mắt của người đi trước, các em đã biết cúi đầu trước sự hy sinh của thế hệ ông cha. Sự tiếp nối
ấy là minh chứng hùng hồn nhất rằng tự do không bao giờ có sẵng, và lòng tri ân sẽ không bao
giờ bị chôn vùi.

Các anh thương phế binh ở quê nhà giờ đều đã như đèn treo trước gió. Phần lớn đã bước qua
tuổi tám mươi, cái tuổi gối mỏi chân chồn, bệnh tật bủa vây. Mỗi một năm qua đi, danh sách ấy
lại càng ngắn lại. Thời gian tàn nhẫn lắm, không đợi một ai. Nếu hôm nay chúng ta còn có thể
gửi cho các anh một lời thăm hỏi, một chút quà sưởi ấm lòng, thì xin đừng chần chừ thêm nữa.
Đừng để đến một ngày, khi tất cả chỉ còn là những tấm di ảnh khói hương nghi ngút, ta mới giật
mình tự trách: “Giá như ngày ấy mình làm nhiều hơn…”

Món quà lớn nhất mà chúng ta gửi về bên kia đại dương, có lẽ không phải là những tờ dollar
lạnh lùng, mà là tấm lòng của tình đồng bào. Để ở một góc khuất nào đó tại quê nhà, giữa những
chật vật của cuộc sống, các anh biết rằng sau nửa thế kỷ trôi qua, giữa một nước Mỹ phồn thịnh,
vẫn có hàng triệu trái tim người Việt luôn nhớ về các anh. Chừng nào người Việt còn yêu tự do,
chừng đó các anh vẫn sống mãi trong lòng dân tộc.

Nếu có một phép màu để gửi một lời đến thế giới bên kia, tôi chỉ muốn nói với cha rằng:
“Cha ơi, con chưa bao giờ quên. Những gì cha và thế hệ của cha đã trải qua vẫn luôn nguyên vẹn
trong tâm khảm của con. Hôm nay, con đến đây để thay cha nói lời cảm ơn đến những người
đồng đội của cha, đến các chú, các bác đã mất hay đang là thương phế binh đã kiên cường chịu
đựng suốt bao năm qua.”

Đại hội Cám Ơn Anh năm 2026 rồi sẽ khép lại. Sân khấu trước Grand Century Mall sẽ được
tháo gỡ, khoảng sân rộng trước cổng vào sẽ được trả về nguyên vẹn, mọi người sẽ quay lại với
những lo toan thường nhật. Nhưng dư âm của ngày hôm ấy sẽ hóa thành dòng máu chạy trong
tim mỗi người. Bởi vì có những ngày không chỉ được ghi trên tờ lịch, mà đã được khắc sâu vào
tâm khảm. Và với riêng tôi, ngày 26 tháng 7 này sẽ là ngày tôi hoàn thành tâm nguyện lớn nhất
của đời mình, được thay cha nói lên lời tri ân mà tôi đã ấp ủ suốt bao nhiêu năm dài viễn xứ,
Cám Ơn Anh.

Lê Xuân Mỹ

San Jose Tháng 6/2026




LÊ XUÂN MỸ – Khi Tượng Người Lính VNCH Bị Kéo Ngã.

Khi Tượng Người Lính VNCH Bị Kéo Ngã

Lê Xuân Mỹ

Tuần qua, cộng đồng người Việt tại San Jose không khỏi bàng hoàng khi hay tin bức tượng người lính Việt Nam trong tượng đài “Thank You America” bị kẻ gian lấy đi cùng chiếc lư hương đặt phía trước tượng đài.

Vài ngày sau, người ta tìm thấy bức tượng bị kéo lê và bỏ lại trong một khu vực của những người vô gia cư. Điều khiến nhiều người suy nghĩ là trong cụm tượng có hai người lính đứng cạnh nhau, một người lính Mỹ và một người lính Việt Nam Cộng Hòa, nhưng chỉ có bức tượng người lính Việt Nam bị lấy đi.

Tôi đọc tin ấy nhiều lần. Ban đầu là sự ngạc nhiên, sau đó là nỗi buồn. Không phải vì giá trị của một pho tượng bằng đồng, mà vì ý nghĩa của những gì bức tượng ấy tượng trưng. Đối với nhiều người Mỹ, đó có thể chỉ là một tượng đài chiến tranh. Nhưng đối với nhiều người Việt tị nạn như tôi, đó là biểu tượng của lòng biết ơn. Hai người lính đứng cạnh nhau không chỉ nói lên một giai đoạn lịch sử mà còn nhắc nhở về sự hy sinh, tình đồng minh và mối ân tình mà cộng đồng người Việt tị nạn luôn dành cho nước Mỹ.

Cho đến hôm nay, không ai biết chính xác vì sao chỉ có tượng người lính Việt Nam bị lấy đi. Có thể đó chỉ là một vụ trộm cắp đơn thuần. Có thể kẻ gian thấy bức tượng ấy dễ tháo gỡ hơn. Cũng có thể hoàn toàn là sự ngẫu nhiên. Cũng có thể có một chủ đích nào đó. Chúng ta không nên vội vàng kết luận khi chưa có kết quả điều tra.

Tuy nhiên, đối với nhiều người thuộc thế hệ của tôi, sự việc ấy vẫn để lại một cảm giác thất khó tả. Câu hỏi “Vì sao chỉ có người lính Việt Nam?” cứ quanh quẩn trong đầu như một nỗi trăn trở không dễ trả lời.

Có lẽ bởi vì phía sau bức tượng ấy là hình ảnh của biết bao con người thật. Tôi nhìn bức tượng và nhớ đến cha tôi. Ông là một sĩ quan Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa. Sau năm 1975, ông bị bắt đi tù cải tạo và qua đời trong trại giam Vĩnh Phú năm 1979. Gia đình tôi từ đó rơi vào cảnh thiếu thốn. Mẹ tôi phải gồng gánh nuôi đàn con, còn tôi phải làm đủ nghề để cùng mẹ chăm sóc bảy người em còn nhỏ. Những năm tháng ấy đã lùi xa gần nửa thế kỷ nhưng chưa bao giờ phai nhạt trong ký ức.

Khi sang Mỹ năm 1998, tôi mang theo không chỉ hành trang của một người di dân mà còn mang theo ký ức của một người con mất cha trong trại cải tạo. Nước Mỹ không thể trả lại cho tôi những năm tháng đã mất, không thể mang cha tôi trở về với gia đình, nhưng nước Mỹ đã cho gia đình tôi cơ hội xây dựng lại cuộc đời. Các con tôi trưởng thành trên đất nước này. Các cháu tôi được sinh ra trên đất nước này. Và tôi có cơ hội sống những năm tháng tuổi già trong bình yên, được viết lại những câu chuyện của một thế hệ đã trải qua chiến tranh, tù đày, mất mát và hành trình đi tìm tự do.

Có lẽ vì vậy mà mỗi lần nhìn tượng đài “Thank You America”, tôi luôn cảm nhận đó là một lời cảm ơn được đúc thành hình tượng. Cảm ơn những người lính Mỹ đã từng chiến đấu tại Việt Nam. Cảm ơn đất nước đã mở rộng vòng tay đón nhận hàng triệu người tị nạn. Cảm ơn cơ hội mà nước Mỹ đã dành cho những gia đình như gia đình tôi.

Điều khiến tôi xúc động hơn nữa là chiếc lư hương cũng bị lấy đi. Trong văn hóa Việt Nam, lư hương không chỉ là một vật trang trí. Đó là nơi người sống gửi gắm lòng tưởng nhớ đến người đã khuất. Đó là nơi một nén nhang được thắp lên để nối quá khứ với hiện tại. Nhìn hình ảnh bức tượng và lư hương bị kéo khỏi vị trí vốn có của chúng, tôi chợt nghĩ đến số phận của những người lính Việt Nam Cộng Hòa sau cuộc chiến.

Nhiều người ngã xuống trên chiến trường. Nhiều người chết trong các trại cải tạo. Nhiều người lưu lạc khắp thế giới. Và không ít người đã ra đi trong lặng lẽ.

May mắn thay, bức tượng đã được tìm thấy. Rồi đây nó sẽ được dựng lại. Những vết trầy xước có thể được sửa chữa. Chiếc lư hương có thể được thay mới. Nhưng sự việc ấy đã nhắc cho chúng ta thấy rằng ký ức cần được gìn giữ và lịch sử không nên bị lãng quên. Người ta có thể kéo ngã một bức tượng, nhưng không thể kéo ngã lòng biết ơn của một cộng đồng. Người ta có thể lấy đi một khối đồng, nhưng không thể lấy đi những ký ức đã khắc sâu trong trái tim của hàng trăm ngàn người Việt tị nạn.

Hơn năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày chiến tranh kết thúc. Những người lính năm xưa giờ đây phần lớn đã già yếu hoặc đã ra đi. Nhưng chừng nào vẫn còn những người nhớ đến họ, chừng nào vẫn còn những người dừng chân trước tượng đài để tưởng niệm, thì người lính ấy vẫn còn đứng đó. Không chỉ đứng trong công viên của thành phố San Jose, mà còn đứng trong ký ức của cả một thế hệ và trong lòng biết ơn của những người Việt đã tìm được cuộc sống mới trên quê hương thứ hai của mình.

Lê Xuân Mỹ

Viết trong ngày chờ đợi chương trình Cam Ơn Anh tại San Jose ngày 22/7/2026




VTLV WELCOME VĂN THI SĨ LÊ XUÂN MỸ

*

*VĂN THƠ LẠC VIỆT CHÀO MỪNG LÊ XUÂN MỸ

VĂN THƠ vườn nội lại tươi màu

LẠC VIỆT chào người mới đến sau

XUÂN MỸ kỹ sư thời nước thịnh

BÁCH KHOA đại học thuở quê giàu

Bài đưa chuyển tải tình man mác

Truyện viết truyền lưu ý dạt dào

Thung Lũng Hoa Vàng hoa nở rộ

Mừng LÊ XUÂN MỸ! Thật vui nào!

     Phương Hoa – JUN 3, 2026

*

*

Tóm Tắt Tiểu sử tác giả Lê Xuân Mỹ :

*Tên thật và cũng là bút hiệu:  Lê Xuân Mỹ

*Lê Xuân Mỹ năm 1951 tại Huế, Việt Nam.

Tốt nghiệp: Kỹ sư điện tử Đại Học Bách Khoa Saigon năm 1974.

*Cha là Sĩ quan Cảnh Sát đi tù CS từ 1976 và chết trong trại K2 Tân Lập Vĩnh Phú năm 1979

Sau khi định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1998, Lê Xuân Mỹ tiếp tục gìn giữ và phát triển niềm đam mê viết lách như một cách lưu giữ ký ức và kết nối với cộng đồng người Việt hải ngoại.

Sáng tác các thể loại: Bút ký, tản văn, và tùy bút, viết về nước Mỹ dưới góc nhìn của một người Việt xa xứ.

Giải thưởng:

* Giải Nhất cuộc thi Viết Về Nước Mỹ 2023 của Việt Báo, California.

* Giải Vinh Danh Tác Phẩm Viết Về Nước Mỹ 2021.

*Giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ  2019.

*Hiện là hội viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Tây Nam Hoa Kỳ

*Là Tân thành viên trong Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Tây Nam Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2027 -2029.

+

SÁNG TÁC

MẸ VẪN NGỒI CHỜ NGOÀI KHUNG CỬA

Mùa đông ở San Jose năm ấy đến sớm hơn mọi năm, những cơn mưa lạnh kéo dài làm cả thành phố chìm trong một màu xám buồn không dứt. Trong khu nursing home nằm yên lặng phía nam thành phố, ngày nào cũng giống ngày nào, tiếng television mở nhỏ trong phòng sinh hoạt, tiếng xe lăn chậm chạp trên hành lang, và mùi thuốc sát trùng quen thuộc của tuổi già.  Ở căn phòng cuối dãy lầu hai, bà Lan ngồi cạnh cửa sổ, lặng lẽ nhìn ra khoảng sân nhỏ nơi những chiếc xe ra vào mỗi ngày. Bà đã chín mươi ba tuổi, tóc bạc mỏng, gương mặt hằn dấu thời gian và bệnh tật, bàn tay lúc nào cũng giữ chặt chiếc khăn xanh đã cũ như một thói quen không ai hiểu. Bà mắc bệnh Alzheimer nhiều năm, trí nhớ rời rạc như những mảnh giấy bị gió cuốn đi, có hôm quên cả tên mình, có hôm gọi nhầm con cháu, có khi nhìn người thân mà không nhận ra, nhưng lạ lùng thay, bà không bao giờ quên một điều duy nhất: chờ con, chờ cháu.

Những đứa con của bà sống rải rác khắp nước Mỹ. Người ở California, người ở Texas, người tận New York. Cuộc sống của họ đầy đủ va bận rộn . Họ làm việc trong các hãng lớn, đi họp, đi công tác, đi du lịch, cuối tuần là những chuyến bay, những kỳ nghỉ ở Las Vegas, Hawaii, châu Âu hay cruise trên biển Caribbean. Trên mạng xã hội, hình ảnh của họ luôn rực rỡ, nhà hàng sang trọng, ly rượu vang, những nụ cười trong nắng, những chuyến đi xa đầy trải nghiệm. Họ thành đạt, họ vẫn yêu mẹ, vẫn nói về mẹ, nhưng thời gian để quay về San Jose, ngồi xuống bên mẹ, thì ngày càng ít đi. Họ luôn có một lý do rất hợp lý: bận công việc, bận lo con cái, cuộc sống không dừng lại được, và rồi họ tự an ủi rằng mẹ ở nursing home đã có người chăm sóc tốt, có y tá, có bác sĩ, có mọi thứ cần thiết.

Nhưng với bà Lan, điều cần thiết nhất lại không phải thuốc men đầy đủ hay sự chăm sóc chuyên nghiệp, mà là một gương mặt quen thuộc ngồi bên cạnh bà vào mỗi buổi chiều.

Ngày bà mới vào nursing home, các con còn đến đều đặn. Người con trai cả còn chỉnh lại hướng tivi cho bà nhìn rõ hơn, người con gái út còn mang đến tô phở bà thích nhất, những đứa cháu còn chạy quanh hành lang cười nói. Nhưng rồi từng tháng trôi qua, những chuyến ghé thăm thưa dần. Ban đầu là bận công việc, sau đó là bận gia đình, rồi dần dần trở thành “tuần sau sẽ về”, “tháng sau sẽ ghé”, “đợi con rảnh hơn một chút”. Và những lời hứa đó cứ kéo dài mãi mà không bao giờ thành sự thực. Bà cứ chờ đợi tronh hiu hắt, trong mỏi mòn.

Nhưng cũng có những ngày mà các con bà luôn nhớ. Mother’s Day, những đứa con ở xa luôn nhớ đến mẹ. Họ đặt những bó hoa rất đẹp gửi về nursing home, hoa hồng trắng, hoa lan tím, có khi cả những bó hoa nhập khẩu đắt tiền. Nhân viên mang hoa vào phòng bà Lan, đặt cạnh giường, kèm theo những tấm thiệp viết rất đẹp: “Mom, we love you”, “We miss you so much”, “Happy Mother’s Day”. Mỗi lần như vậy, bà Lan nhìn hoa rất lâu, vuốt từng cánh hoa như cố nhớ điều gì đó đã xa. Có lần bà hỏi y tá: “Ai gửi vậy con?”, người y tá mỉm cười nói: “Con bà đó”, nhưng bà chỉ gật đầu, ánh mắt trống rỗng vì không còn nhận ra đó là ai.

Ở ngoài kia, ngày lễ Mẹ, những đứa con lại là những người bận rộn nhất với việc “thể hiện tình yêu”. Họ đăng hình hoa lên Facebook, viết những dòng trạng thái xúc động về mẹ, về sự hy sinh, về tình mẫu tử. Họ nhận được rất nhiều lời khen từ bạn bè: “Hiếu thảo quá”, “Thương mẹ quá”. Nhưng ngoài những dòng chữ ấy, vẫn không có một chuyến bay nào về San Jose.

Có những năm, người con trai cả định về nhưng lại có cuộc họp quan trọng ở Seattle. Người con gái út định ghé nhưng con bị ốm. Người con trai thứ nói sẽ về sau nhưng rồi lại bận rộn cho chuyến đi cruise với nhóm bạn thời đại học. Và thế là Mother’s Day năm nào cũng có hoa gửi về, nhưng không có người ngồi xuống bên mẹ.

Trong khi đó, bà Lan ngày càng yếu đi. Alzheimer khiến bà quên nhiều hơn, nhưng cảm giác chờ đợi thì vẫn còn nguyên. Mỗi chiều bà vẫn ngồi cạnh cửa sổ, nhìn ra parking lot, mỗi tiếng xe dừng lại là một lần hy vọng, rồi lại một lần im lặng. Có những buổi chiều mưa, bà ngồi rất lâu, không nói gì, chỉ nhìn ra ngoài như đang tìm một điều mà chính bà cũng không còn nhớ rõ. Cô y tá người Phi làm việc ở đó nhiều năm nói rằng người già không cần nhiều thứ, họ chỉ cần biết có người đang nhớ đến họ thật sự.

Một lần vào dịp lễ, nursing home vắng hơn vì nhiều người được đón về nhà. Bà Lan vẫn ngồi một mình trong phòng. Hoa Mother’s Day năm đó vẫn được gửi về như mọi năm, rất đẹp, rất trang trọng, nhưng bà chỉ hỏi một câu quen thuộc: “Con tôi chưa tới hả?” Không ai trả lời. Không ai có thể trả lời một câu hỏi đã lặp lại quá nhiều năm.

Rồi một ngày mùa đông, bà Lan qua đời trong giấc ngủ. Không đau đớn, không vật vã chỉ như một ngọn đèn cạn dầu leo lét tắt. Cũng có thể bà đã chờ quá lâu và cuối cùng cũng buông tay. Nursing home gọi điện cho các con lúc sáng sớm. Chỉ vài tiếng sau, những đứa con từ khắp nơi vội vã bay về San Jose. Người con trai cả khóc ngay từ sân bay, người con gái út khóc trên xe, người con trai thứ khóc khi bước vào hành lang bệnh viện. 

Tang lễ được cử hành trọng thể với con cháu nội ngoại gần năm mươi vành khăn tang. Một đám ma thật lớn mà lâu lắm mới thấy lại ở Oakhill Memorial Park. Trong tang lễ, họ là những người khóc nhiều nhất, ôm nhau, kể lại kỷ niệm, kể về mẹ, về sự hy sinh, về những ngày thơ ấu, về những ngày đầu tiên đến Mỹ, về tình yêu không bao giờ quên.

Một gia đình con cháu rất hiếu thảo, đẹp trai đẹp gái và thành đạt. Ai cũng trầm trồ khen bà có phước. Nhưng những người từng làm việc ở nursing home thì nhớ một điều rất khác. Họ nhớ những buổi chiều bà Lan ngồi bên cửa sổ, nhớ ánh mắt bà nhìn ra parking lot, nhớ những bó hoa Mother’s Day đẹp đẽ nhưng không có người đi cùng, nhớ những câu hỏi lặp đi lặp lại: “Con tôi sắp tới chưa?”

Một năm sau, ngày giỗ đầu, gia đình lại tụ họp rất đông. Nhà hàng sang trọng, bàn tiệc đầy đủ, ảnh mẹ đặt trang trọng ở giữa. Bà con nội ngoại được mời dự đông đủ. Họ chụp hình, đăng mạng xã hội, viết những lời xúc động về mẹ, kể về những nỗi nhớ thương của năm đầu tiên vắng mẹ. Nhưng trong tất cả những điều đó, điều mà bà Lan từng cần nhất khi còn sống lại không bao giờ quay trở lại được nữa: một buổi chiều có con cháu ngồi bên cạnh, một bữa cơm bình thường, một tiếng gọi “mẹ ơi” giữa đời thật, không phải trong ký ức hay trên tấm thiệp hoa gửi về mỗi năm.

Và rồi, giữa những tiếng cười nói và cả những giọt lệ trong buổi giỗ đầu, có một khoảnh khắc rất nhỏ mà không ai để ý. Khi mọi người đang chụp hình, người con gái út bỗng nhìn di ảnh mẹ rất lâu. Cô không nói gì, nhưng nước mắt cứ rơi xuống từng giọt, không kịp lau. Không phải vì hôm nay, ngày này năm trước mẹ mất, mà vì trong một khoảnh khắc rất muộn, cô mới nhớ lại có những buổi chiều mẹ ngồi một mình bên cửa sổ ở nursing home, vẫn nhìn ra parking lot, vẫn chờ một chiếc xe mà có lẽ đã không bao giờ dừng lại nữa.

Ở nước Mỹ này, có những nỗi buồn không ồn ào, không bi kịch, không oán trách nhưng lại kéo dài suốt đời trong im lặng. Đó là nỗi buồn của người mẹ ngồi chờ con trong viện dưỡng lão, và những đứa con chỉ kịp hiểu ra tình yêu ấy khi mọi thứ đã trở thành ký ức.

Có những giọt nước mắt trong tang lễ là nước mắt của tình thương. Nhưng cũng có những giọt nước mắt là của muộn màng. Và nỗi đau sâu đậmnhất không phải là khi mất mẹ, mà là khi nhận ra đã có một người từng chờ mình rất lâu, rất lâu… trong cô đơn lặng lẽ, mà mình đã không còn kịp quay về.

Lê Xuân Mỹ
San Jose -Tháng 5, 2026