LÊ XUÂN MỸ: TIẾNG VỌNG ÂN TÌNH – CÁM ƠN ANH NGƯỜI THƯƠNG BINH VNCH




LÊ XUÂN MỸ – TIẾNG VỌNG ÂN TÌNH

Càng đến gần ngày 26 tháng 7, lòng tôi càng trĩu nặng một niềm bồi hồi khó tả. Đó không
phải là sự háo hức của một buổi họp mặt đồng hương, cũng chẳng đơn thuần là niềm vui gặp lại
những người bạn cũ. Đó là một khoảng lặng đầy thao thức. Cứ mỗi lần nhìn thấy dòng chữ “Đại
Hội Cám Ơn Anh”, lồng ngực tôi lại thắt lại.

Ba chữ đơn sơ ấy thôi mà nặng trĩu những giọt nước mắt, chứa đựng cả một trời kỷ niệm và hơn nửa thế kỷ ân tình của những người con ly hương dành cho các thương phế binh năm xưa, những người đã gửi lại một phần thân thể nơi chiến trường, và giờ đây đang lặng lẽ đi qua nốt những ngày xế chiều gian khó trên quê hương.

Hơn năm mươi năm đã trôi qua kể từ biến cố tháng Tư năm 1975. Thời gian đủ dài để những
mái đầu xanh ngày nào giờ đã bạc trắng như sương, đủ dài để một thế hệ cứ thưa vắng dần sau
những lần đưa tiễn.

Nhưng thời gian ấy vẫn chưa bao giờ đủ để xóa nhòa ký ức của một cuộc chiến đầy máu và nước mắt. Đối với những người Việt trên đất Mỹ, cuộc chiến ấy chưa bao giờ là những trang sử đã khép lại. Nó vẫn hiển hiện mồn một trong những câu chuyện kể nghẹn ngào của cha anh, trong những giấc mơ chập chờn thức giấc giữa đêm muộn của người lính già, và trong nỗi day dứt khôn nguôi dành cho những đồng đội còn ở lại quê nhà.

Ngày ấy, họ cũng là những chàng trai đôi mươi đầy hoài bão. Có người vừa xếp lại chiếc áo
thư sinh, gác lại giảng đường đại học, có người chỉ vừa kịp trao chiếc nhẫn cưới cho người
thương. Họ khoác lên mình bộ quân phục màu áo trận không phải để kiếm tìm vinh quang, mà
bởi tiếng gọi thiêng liêng của hai chữ “Tổ Quốc”. Rồi cuộc chiến đi qua, có người mãi mãi nằm
lại dưới lòng đất lạnh. Nhưng cũng có những người trở về mà không còn nguyên vẹn, một cánh
tay gửi lại đâu đó trên ruộng đồng, một đôi chân gửi lại bờ kinh, hay những mảnh đạn nhức nhối
găm sâu vào da thịt mỗi khi trái gió trở trời. Những vết thương ấy đâu chỉ làm đau thân xác, nó là
nỗi đau gặm nhấm tâm can suốt cả một đời người.

Thế nhưng, điều nghiệt ngã nhất lại ập đến khi tiếng súng đã ngừng vang. Bước ra khỏi cuộc
chiến, những người thương phế binh ấy mất đi cả tương lai. Không còn quân ngũ, không còn chế
độ bảo trợ, họ trở thành những cái bóng bên lề xã hội, phải gồng gánh mưu sinh bằng chính thân
hình tàn phế của mình. Nhắm mắt lại, tôi như thấy hình ảnh người lính năm xưa bước thấp bước
cao trên đôi nạng gỗ, chìa từng tờ vé số giữa trưa nắng cháy, thấy người ngồi vá xe bên lề đường
bụi bặm, hay nằm liệt giường mòn mỏi trong góc tối căn nhà dột nát. Và điều làm tôi thắt lòng
nhất, suốt bao năm tháng dâu bể ấy, họ chọn cách im lặng. Họ gánh chịu số phận bằng lòng tự
trọng kiêu hãnh cuối cùng của một người lính.

Năm 1998, tôi đặt chân đến nước Mỹ với hai bàn tay trắng, mang theo hành trang duy nhất là
thân phận của một kẻ tị nạn. Nước Mỹ bao dung đã mở rộng vòng tay, cho tôi và gia đình một
cuộc đời mới, một tương lai tự do. Mỗi sáng nhìn lá cờ hoa tung bay trong gió, tôi lại tự hỏi,  nếu
ngày ấy, những người lính không chấp nhận đứng nơi đầu sóng ngọn gió, nếu họ không lấy máu
xương để kìm giữ bước chân thù, liệu có bao nhiêu người trong chúng ta kịp bước chân lên con
tàu tự do? Câu hỏi ấy là một vết cứa sắc nhọn vào trái tim, nhắc nhở tôi rằng mình đang mang
một món nợ ân tình lớn đến mức cả đời này cũng không cách nào trả hết.

Là con của một người sĩ quan đã vĩnh viễn nằm lại trong trại tù Vĩnh Phú năm 1979, tôi thấu
cảm đến tận cùng nỗi đau của người ở lại. Tôi biết thế nào là một căn nhà vắng bóng cha, thế nào
là tiếng thở dài thâu đêm của mẹ, và thế nào cái cảm giác nghẹn ngào của những đứa trẻ phải lớn
lên khi chỗ dựa của gia đình đã mất. Vì vậy, mỗi lần nhìn vào hình ảnh các anh thương phế binh,
tôi không chỉ thấy những người lính năm xưa. Tôi thấy cha tôi. Tôi thấy những người bạn của
cha. Tôi thấy cả một thế hệ đã đi qua một khúc quanh lịch sử quá nhiều nghiệt ngã.

Có lẽ vì thế mà mỗi năm, tôi đều cố gắng tìm về với Đại hội Cám Ơn Anh. Với tôi, đây không
phải là một chương trình giải trí thông thường, mà là nơi để lương tâm của người Việt ly hương
lên tiếng. Mỗi tấm vé, mỗi phong bì quyên góp đều mang theo một lời hứa thủy chung từ nửa
vòng trái đất: “Các anh ơi, xin đừng tuyệt vọng, các anh không bị lãng quên.”

Đến với đại hội, điều chạm vào góc sâu thẳm nhất trong tim tôi chính là những hình ảnh đầy
xúc động. Là những mái đầu bạc phơ, lưng đã còng nhưng vẫn trang trọng khoác lên mình bộ
quân phục thời Việt Nam Cộng Hoà, đứng nghiêm trang chào lá quốc kỳ. Là những giọt nước
mắt lặng lẽ lăn dài trên gò má nhăn nheo khi giai điệu chinh chiến ngày cũ vang lên. Và ấm lòng
biết bao khi tôi bắt gặp ánh mắt những người trẻ sinh ra và lớn lên trên đất Mỹ. Các em may mắn
được sống trong thanh bình, không biết đến mùi thuốc súng, nhưng tại đây, nhìn thấy giọt nước
mắt của người đi trước, các em đã biết cúi đầu trước sự hy sinh của thế hệ ông cha. Sự tiếp nối
ấy là minh chứng hùng hồn nhất rằng tự do không bao giờ có sẵng, và lòng tri ân sẽ không bao
giờ bị chôn vùi.

Các anh thương phế binh ở quê nhà giờ đều đã như đèn treo trước gió. Phần lớn đã bước qua
tuổi tám mươi, cái tuổi gối mỏi chân chồn, bệnh tật bủa vây. Mỗi một năm qua đi, danh sách ấy
lại càng ngắn lại. Thời gian tàn nhẫn lắm, không đợi một ai. Nếu hôm nay chúng ta còn có thể
gửi cho các anh một lời thăm hỏi, một chút quà sưởi ấm lòng, thì xin đừng chần chừ thêm nữa.
Đừng để đến một ngày, khi tất cả chỉ còn là những tấm di ảnh khói hương nghi ngút, ta mới giật
mình tự trách: “Giá như ngày ấy mình làm nhiều hơn…”

Món quà lớn nhất mà chúng ta gửi về bên kia đại dương, có lẽ không phải là những tờ dollar
lạnh lùng, mà là tấm lòng của tình đồng bào. Để ở một góc khuất nào đó tại quê nhà, giữa những
chật vật của cuộc sống, các anh biết rằng sau nửa thế kỷ trôi qua, giữa một nước Mỹ phồn thịnh,
vẫn có hàng triệu trái tim người Việt luôn nhớ về các anh. Chừng nào người Việt còn yêu tự do,
chừng đó các anh vẫn sống mãi trong lòng dân tộc.

Nếu có một phép màu để gửi một lời đến thế giới bên kia, tôi chỉ muốn nói với cha rằng:
“Cha ơi, con chưa bao giờ quên. Những gì cha và thế hệ của cha đã trải qua vẫn luôn nguyên vẹn
trong tâm khảm của con. Hôm nay, con đến đây để thay cha nói lời cảm ơn đến những người
đồng đội của cha, đến các chú, các bác đã mất hay đang là thương phế binh đã kiên cường chịu
đựng suốt bao năm qua.”

Đại hội Cám Ơn Anh năm 2026 rồi sẽ khép lại. Sân khấu trước Grand Century Mall sẽ được
tháo gỡ, khoảng sân rộng trước cổng vào sẽ được trả về nguyên vẹn, mọi người sẽ quay lại với
những lo toan thường nhật. Nhưng dư âm của ngày hôm ấy sẽ hóa thành dòng máu chạy trong
tim mỗi người. Bởi vì có những ngày không chỉ được ghi trên tờ lịch, mà đã được khắc sâu vào
tâm khảm. Và với riêng tôi, ngày 26 tháng 7 này sẽ là ngày tôi hoàn thành tâm nguyện lớn nhất
của đời mình, được thay cha nói lên lời tri ân mà tôi đã ấp ủ suốt bao nhiêu năm dài viễn xứ,
Cám Ơn Anh.

Lê Xuân Mỹ

San Jose Tháng 6/2026




LÊ XUÂN MỸ – Khi Tượng Người Lính VNCH Bị Kéo Ngã.

Khi Tượng Người Lính VNCH Bị Kéo Ngã

Lê Xuân Mỹ

Tuần qua, cộng đồng người Việt tại San Jose không khỏi bàng hoàng khi hay tin bức tượng người lính Việt Nam trong tượng đài “Thank You America” bị kẻ gian lấy đi cùng chiếc lư hương đặt phía trước tượng đài.

Vài ngày sau, người ta tìm thấy bức tượng bị kéo lê và bỏ lại trong một khu vực của những người vô gia cư. Điều khiến nhiều người suy nghĩ là trong cụm tượng có hai người lính đứng cạnh nhau, một người lính Mỹ và một người lính Việt Nam Cộng Hòa, nhưng chỉ có bức tượng người lính Việt Nam bị lấy đi.

Tôi đọc tin ấy nhiều lần. Ban đầu là sự ngạc nhiên, sau đó là nỗi buồn. Không phải vì giá trị của một pho tượng bằng đồng, mà vì ý nghĩa của những gì bức tượng ấy tượng trưng. Đối với nhiều người Mỹ, đó có thể chỉ là một tượng đài chiến tranh. Nhưng đối với nhiều người Việt tị nạn như tôi, đó là biểu tượng của lòng biết ơn. Hai người lính đứng cạnh nhau không chỉ nói lên một giai đoạn lịch sử mà còn nhắc nhở về sự hy sinh, tình đồng minh và mối ân tình mà cộng đồng người Việt tị nạn luôn dành cho nước Mỹ.

Cho đến hôm nay, không ai biết chính xác vì sao chỉ có tượng người lính Việt Nam bị lấy đi. Có thể đó chỉ là một vụ trộm cắp đơn thuần. Có thể kẻ gian thấy bức tượng ấy dễ tháo gỡ hơn. Cũng có thể hoàn toàn là sự ngẫu nhiên. Cũng có thể có một chủ đích nào đó. Chúng ta không nên vội vàng kết luận khi chưa có kết quả điều tra.

Tuy nhiên, đối với nhiều người thuộc thế hệ của tôi, sự việc ấy vẫn để lại một cảm giác thất khó tả. Câu hỏi “Vì sao chỉ có người lính Việt Nam?” cứ quanh quẩn trong đầu như một nỗi trăn trở không dễ trả lời.

Có lẽ bởi vì phía sau bức tượng ấy là hình ảnh của biết bao con người thật. Tôi nhìn bức tượng và nhớ đến cha tôi. Ông là một sĩ quan Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa. Sau năm 1975, ông bị bắt đi tù cải tạo và qua đời trong trại giam Vĩnh Phú năm 1979. Gia đình tôi từ đó rơi vào cảnh thiếu thốn. Mẹ tôi phải gồng gánh nuôi đàn con, còn tôi phải làm đủ nghề để cùng mẹ chăm sóc bảy người em còn nhỏ. Những năm tháng ấy đã lùi xa gần nửa thế kỷ nhưng chưa bao giờ phai nhạt trong ký ức.

Khi sang Mỹ năm 1998, tôi mang theo không chỉ hành trang của một người di dân mà còn mang theo ký ức của một người con mất cha trong trại cải tạo. Nước Mỹ không thể trả lại cho tôi những năm tháng đã mất, không thể mang cha tôi trở về với gia đình, nhưng nước Mỹ đã cho gia đình tôi cơ hội xây dựng lại cuộc đời. Các con tôi trưởng thành trên đất nước này. Các cháu tôi được sinh ra trên đất nước này. Và tôi có cơ hội sống những năm tháng tuổi già trong bình yên, được viết lại những câu chuyện của một thế hệ đã trải qua chiến tranh, tù đày, mất mát và hành trình đi tìm tự do.

Có lẽ vì vậy mà mỗi lần nhìn tượng đài “Thank You America”, tôi luôn cảm nhận đó là một lời cảm ơn được đúc thành hình tượng. Cảm ơn những người lính Mỹ đã từng chiến đấu tại Việt Nam. Cảm ơn đất nước đã mở rộng vòng tay đón nhận hàng triệu người tị nạn. Cảm ơn cơ hội mà nước Mỹ đã dành cho những gia đình như gia đình tôi.

Điều khiến tôi xúc động hơn nữa là chiếc lư hương cũng bị lấy đi. Trong văn hóa Việt Nam, lư hương không chỉ là một vật trang trí. Đó là nơi người sống gửi gắm lòng tưởng nhớ đến người đã khuất. Đó là nơi một nén nhang được thắp lên để nối quá khứ với hiện tại. Nhìn hình ảnh bức tượng và lư hương bị kéo khỏi vị trí vốn có của chúng, tôi chợt nghĩ đến số phận của những người lính Việt Nam Cộng Hòa sau cuộc chiến.

Nhiều người ngã xuống trên chiến trường. Nhiều người chết trong các trại cải tạo. Nhiều người lưu lạc khắp thế giới. Và không ít người đã ra đi trong lặng lẽ.

May mắn thay, bức tượng đã được tìm thấy. Rồi đây nó sẽ được dựng lại. Những vết trầy xước có thể được sửa chữa. Chiếc lư hương có thể được thay mới. Nhưng sự việc ấy đã nhắc cho chúng ta thấy rằng ký ức cần được gìn giữ và lịch sử không nên bị lãng quên. Người ta có thể kéo ngã một bức tượng, nhưng không thể kéo ngã lòng biết ơn của một cộng đồng. Người ta có thể lấy đi một khối đồng, nhưng không thể lấy đi những ký ức đã khắc sâu trong trái tim của hàng trăm ngàn người Việt tị nạn.

Hơn năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày chiến tranh kết thúc. Những người lính năm xưa giờ đây phần lớn đã già yếu hoặc đã ra đi. Nhưng chừng nào vẫn còn những người nhớ đến họ, chừng nào vẫn còn những người dừng chân trước tượng đài để tưởng niệm, thì người lính ấy vẫn còn đứng đó. Không chỉ đứng trong công viên của thành phố San Jose, mà còn đứng trong ký ức của cả một thế hệ và trong lòng biết ơn của những người Việt đã tìm được cuộc sống mới trên quê hương thứ hai của mình.

Lê Xuân Mỹ

Viết trong ngày chờ đợi chương trình Cam Ơn Anh tại San Jose ngày 22/7/2026




VTLV WELCOME VĂN THI SĨ LÊ XUÂN MỸ

*

*VĂN THƠ LẠC VIỆT CHÀO MỪNG LÊ XUÂN MỸ

VĂN THƠ vườn nội lại tươi màu

LẠC VIỆT chào người mới đến sau

XUÂN MỸ kỹ sư thời nước thịnh

BÁCH KHOA đại học thuở quê giàu

Bài đưa chuyển tải tình man mác

Truyện viết truyền lưu ý dạt dào

Thung Lũng Hoa Vàng hoa nở rộ

Mừng LÊ XUÂN MỸ! Thật vui nào!

     Phương Hoa – JUN 3, 2026

*

*

Tóm Tắt Tiểu sử tác giả Lê Xuân Mỹ :

*Tên thật và cũng là bút hiệu:  Lê Xuân Mỹ

*Lê Xuân Mỹ năm 1951 tại Huế, Việt Nam.

Tốt nghiệp: Kỹ sư điện tử Đại Học Bách Khoa Saigon năm 1974.

*Cha là Sĩ quan Cảnh Sát đi tù CS từ 1976 và chết trong trại K2 Tân Lập Vĩnh Phú năm 1979

Sau khi định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1998, Lê Xuân Mỹ tiếp tục gìn giữ và phát triển niềm đam mê viết lách như một cách lưu giữ ký ức và kết nối với cộng đồng người Việt hải ngoại.

Sáng tác các thể loại: Bút ký, tản văn, và tùy bút, viết về nước Mỹ dưới góc nhìn của một người Việt xa xứ.

Giải thưởng:

* Giải Nhất cuộc thi Viết Về Nước Mỹ 2023 của Việt Báo, California.

* Giải Vinh Danh Tác Phẩm Viết Về Nước Mỹ 2021.

*Giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ  2019.

*Hiện là hội viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Tây Nam Hoa Kỳ

*Là Tân thành viên trong Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Tây Nam Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2027 -2029.

+

SÁNG TÁC

MẸ VẪN NGỒI CHỜ NGOÀI KHUNG CỬA

Mùa đông ở San Jose năm ấy đến sớm hơn mọi năm, những cơn mưa lạnh kéo dài làm cả thành phố chìm trong một màu xám buồn không dứt. Trong khu nursing home nằm yên lặng phía nam thành phố, ngày nào cũng giống ngày nào, tiếng television mở nhỏ trong phòng sinh hoạt, tiếng xe lăn chậm chạp trên hành lang, và mùi thuốc sát trùng quen thuộc của tuổi già.  Ở căn phòng cuối dãy lầu hai, bà Lan ngồi cạnh cửa sổ, lặng lẽ nhìn ra khoảng sân nhỏ nơi những chiếc xe ra vào mỗi ngày. Bà đã chín mươi ba tuổi, tóc bạc mỏng, gương mặt hằn dấu thời gian và bệnh tật, bàn tay lúc nào cũng giữ chặt chiếc khăn xanh đã cũ như một thói quen không ai hiểu. Bà mắc bệnh Alzheimer nhiều năm, trí nhớ rời rạc như những mảnh giấy bị gió cuốn đi, có hôm quên cả tên mình, có hôm gọi nhầm con cháu, có khi nhìn người thân mà không nhận ra, nhưng lạ lùng thay, bà không bao giờ quên một điều duy nhất: chờ con, chờ cháu.

Những đứa con của bà sống rải rác khắp nước Mỹ. Người ở California, người ở Texas, người tận New York. Cuộc sống của họ đầy đủ va bận rộn . Họ làm việc trong các hãng lớn, đi họp, đi công tác, đi du lịch, cuối tuần là những chuyến bay, những kỳ nghỉ ở Las Vegas, Hawaii, châu Âu hay cruise trên biển Caribbean. Trên mạng xã hội, hình ảnh của họ luôn rực rỡ, nhà hàng sang trọng, ly rượu vang, những nụ cười trong nắng, những chuyến đi xa đầy trải nghiệm. Họ thành đạt, họ vẫn yêu mẹ, vẫn nói về mẹ, nhưng thời gian để quay về San Jose, ngồi xuống bên mẹ, thì ngày càng ít đi. Họ luôn có một lý do rất hợp lý: bận công việc, bận lo con cái, cuộc sống không dừng lại được, và rồi họ tự an ủi rằng mẹ ở nursing home đã có người chăm sóc tốt, có y tá, có bác sĩ, có mọi thứ cần thiết.

Nhưng với bà Lan, điều cần thiết nhất lại không phải thuốc men đầy đủ hay sự chăm sóc chuyên nghiệp, mà là một gương mặt quen thuộc ngồi bên cạnh bà vào mỗi buổi chiều.

Ngày bà mới vào nursing home, các con còn đến đều đặn. Người con trai cả còn chỉnh lại hướng tivi cho bà nhìn rõ hơn, người con gái út còn mang đến tô phở bà thích nhất, những đứa cháu còn chạy quanh hành lang cười nói. Nhưng rồi từng tháng trôi qua, những chuyến ghé thăm thưa dần. Ban đầu là bận công việc, sau đó là bận gia đình, rồi dần dần trở thành “tuần sau sẽ về”, “tháng sau sẽ ghé”, “đợi con rảnh hơn một chút”. Và những lời hứa đó cứ kéo dài mãi mà không bao giờ thành sự thực. Bà cứ chờ đợi tronh hiu hắt, trong mỏi mòn.

Nhưng cũng có những ngày mà các con bà luôn nhớ. Mother’s Day, những đứa con ở xa luôn nhớ đến mẹ. Họ đặt những bó hoa rất đẹp gửi về nursing home, hoa hồng trắng, hoa lan tím, có khi cả những bó hoa nhập khẩu đắt tiền. Nhân viên mang hoa vào phòng bà Lan, đặt cạnh giường, kèm theo những tấm thiệp viết rất đẹp: “Mom, we love you”, “We miss you so much”, “Happy Mother’s Day”. Mỗi lần như vậy, bà Lan nhìn hoa rất lâu, vuốt từng cánh hoa như cố nhớ điều gì đó đã xa. Có lần bà hỏi y tá: “Ai gửi vậy con?”, người y tá mỉm cười nói: “Con bà đó”, nhưng bà chỉ gật đầu, ánh mắt trống rỗng vì không còn nhận ra đó là ai.

Ở ngoài kia, ngày lễ Mẹ, những đứa con lại là những người bận rộn nhất với việc “thể hiện tình yêu”. Họ đăng hình hoa lên Facebook, viết những dòng trạng thái xúc động về mẹ, về sự hy sinh, về tình mẫu tử. Họ nhận được rất nhiều lời khen từ bạn bè: “Hiếu thảo quá”, “Thương mẹ quá”. Nhưng ngoài những dòng chữ ấy, vẫn không có một chuyến bay nào về San Jose.

Có những năm, người con trai cả định về nhưng lại có cuộc họp quan trọng ở Seattle. Người con gái út định ghé nhưng con bị ốm. Người con trai thứ nói sẽ về sau nhưng rồi lại bận rộn cho chuyến đi cruise với nhóm bạn thời đại học. Và thế là Mother’s Day năm nào cũng có hoa gửi về, nhưng không có người ngồi xuống bên mẹ.

Trong khi đó, bà Lan ngày càng yếu đi. Alzheimer khiến bà quên nhiều hơn, nhưng cảm giác chờ đợi thì vẫn còn nguyên. Mỗi chiều bà vẫn ngồi cạnh cửa sổ, nhìn ra parking lot, mỗi tiếng xe dừng lại là một lần hy vọng, rồi lại một lần im lặng. Có những buổi chiều mưa, bà ngồi rất lâu, không nói gì, chỉ nhìn ra ngoài như đang tìm một điều mà chính bà cũng không còn nhớ rõ. Cô y tá người Phi làm việc ở đó nhiều năm nói rằng người già không cần nhiều thứ, họ chỉ cần biết có người đang nhớ đến họ thật sự.

Một lần vào dịp lễ, nursing home vắng hơn vì nhiều người được đón về nhà. Bà Lan vẫn ngồi một mình trong phòng. Hoa Mother’s Day năm đó vẫn được gửi về như mọi năm, rất đẹp, rất trang trọng, nhưng bà chỉ hỏi một câu quen thuộc: “Con tôi chưa tới hả?” Không ai trả lời. Không ai có thể trả lời một câu hỏi đã lặp lại quá nhiều năm.

Rồi một ngày mùa đông, bà Lan qua đời trong giấc ngủ. Không đau đớn, không vật vã chỉ như một ngọn đèn cạn dầu leo lét tắt. Cũng có thể bà đã chờ quá lâu và cuối cùng cũng buông tay. Nursing home gọi điện cho các con lúc sáng sớm. Chỉ vài tiếng sau, những đứa con từ khắp nơi vội vã bay về San Jose. Người con trai cả khóc ngay từ sân bay, người con gái út khóc trên xe, người con trai thứ khóc khi bước vào hành lang bệnh viện. 

Tang lễ được cử hành trọng thể với con cháu nội ngoại gần năm mươi vành khăn tang. Một đám ma thật lớn mà lâu lắm mới thấy lại ở Oakhill Memorial Park. Trong tang lễ, họ là những người khóc nhiều nhất, ôm nhau, kể lại kỷ niệm, kể về mẹ, về sự hy sinh, về những ngày thơ ấu, về những ngày đầu tiên đến Mỹ, về tình yêu không bao giờ quên.

Một gia đình con cháu rất hiếu thảo, đẹp trai đẹp gái và thành đạt. Ai cũng trầm trồ khen bà có phước. Nhưng những người từng làm việc ở nursing home thì nhớ một điều rất khác. Họ nhớ những buổi chiều bà Lan ngồi bên cửa sổ, nhớ ánh mắt bà nhìn ra parking lot, nhớ những bó hoa Mother’s Day đẹp đẽ nhưng không có người đi cùng, nhớ những câu hỏi lặp đi lặp lại: “Con tôi sắp tới chưa?”

Một năm sau, ngày giỗ đầu, gia đình lại tụ họp rất đông. Nhà hàng sang trọng, bàn tiệc đầy đủ, ảnh mẹ đặt trang trọng ở giữa. Bà con nội ngoại được mời dự đông đủ. Họ chụp hình, đăng mạng xã hội, viết những lời xúc động về mẹ, kể về những nỗi nhớ thương của năm đầu tiên vắng mẹ. Nhưng trong tất cả những điều đó, điều mà bà Lan từng cần nhất khi còn sống lại không bao giờ quay trở lại được nữa: một buổi chiều có con cháu ngồi bên cạnh, một bữa cơm bình thường, một tiếng gọi “mẹ ơi” giữa đời thật, không phải trong ký ức hay trên tấm thiệp hoa gửi về mỗi năm.

Và rồi, giữa những tiếng cười nói và cả những giọt lệ trong buổi giỗ đầu, có một khoảnh khắc rất nhỏ mà không ai để ý. Khi mọi người đang chụp hình, người con gái út bỗng nhìn di ảnh mẹ rất lâu. Cô không nói gì, nhưng nước mắt cứ rơi xuống từng giọt, không kịp lau. Không phải vì hôm nay, ngày này năm trước mẹ mất, mà vì trong một khoảnh khắc rất muộn, cô mới nhớ lại có những buổi chiều mẹ ngồi một mình bên cửa sổ ở nursing home, vẫn nhìn ra parking lot, vẫn chờ một chiếc xe mà có lẽ đã không bao giờ dừng lại nữa.

Ở nước Mỹ này, có những nỗi buồn không ồn ào, không bi kịch, không oán trách nhưng lại kéo dài suốt đời trong im lặng. Đó là nỗi buồn của người mẹ ngồi chờ con trong viện dưỡng lão, và những đứa con chỉ kịp hiểu ra tình yêu ấy khi mọi thứ đã trở thành ký ức.

Có những giọt nước mắt trong tang lễ là nước mắt của tình thương. Nhưng cũng có những giọt nước mắt là của muộn màng. Và nỗi đau sâu đậmnhất không phải là khi mất mẹ, mà là khi nhận ra đã có một người từng chờ mình rất lâu, rất lâu… trong cô đơn lặng lẽ, mà mình đã không còn kịp quay về.

Lê Xuân Mỹ
San Jose -Tháng 5, 2026