Chiến Hữu Võ Đại Tôn, sau nhiều năm lâm bệnh trầm trọng, qua đời tối Thứ Sáu 23/5/2025 tại bệnh viện Bankstown (NSW), hưởng thọ 90 tuổi. Ngoài thơ, văn, anh được gọi là nhà hoạt động chính trị, nhà đấu tranh cho quê hương, Tổ Quốc. Với tôi trong tình thân đồng hương (đề cập trong bài viết nầy) nên anh cho biết gọi nhau là “chiến hữu”.
Các tác phẩm thơ, văn: Lời Viết Cho Quê Hương (Năm 1979 tại Hoa Kỳ). Đoản Khúc Người Ra Đi (Năm 1986 tại Úc Châu). Hồi ký Tắm Máu Đen (Năm 1992 tại Úc, Hoa Kỳ năm 2000). Thơ Tiếng Chim Bên Dòng Thác Champy (Năm 1992 tại Úc Châu và năm 2000 tái bản tại Hoa Kỳ). Tập Truyện Chim Bắc Cành Nam (2002). Tuyển Tập Thơ Văn Tổ Quốc – Hành Trình 30 Năm” (Úc Châu 2005).
Trước đây, cũng vào tháng 5, tôi viết bài Hồi Ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh (1945-1950) của Võ Đại Tôn. Theo lời anh, tăm đắc với bài viết nầy vì chỉ có người đồng hương mới hiểu rõ nơi chốn để chia sẻ.
Nay đăng lại bài viết:
Hồi ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh (1945-1950) của Võ Đại Tôn ra đời cách nay một thập niên. Tại California, sách đã ra mắt ngày 16/5/2010, tại phòng họp của cơ quan Stockton Boulevard Partnership, Bắc California quy tụ các hội đoàn, đoàn thể, nhân sĩ và đồng hương tham dự rất đông để nghe diễn giả Võ Đại Tôn từ Úc sang, với tuổi đời 75. Trong bài viết của Khuất Đẩu ở trong nước “Để Tang Cho Sách” ghi lại thời điểm từ “chiến dịch bài trừ văn hóa” xuống đường đốt sách 21/5/1975… trong đó, những tài liệu trung thực về giai đoạn lịch sử nầy đã bị tiêu hủy. Bài viết mới nhất (4/2021) của Song Thao ở Canada: Tháng Tư Nghĩ Về Sách Sài Gòn Xưa “Gần hai chục năm trước, khi Cộng Sản tiếp thu Hà Nội, trò đốt sách đã được bày ra. Trên hai thập niên sau, họ làm y chang lại, bài vở là một thứ bổn cũ soạn lại”. Đọc lại với bao nỗi ngậm ngùi!
Ngày 12/6/2010 trong buổi sinh hoạt “Hành trình công tâm để xây dựng lại niềm tin” và ra mắt thơ văn của tác giả Võ Đại Tôn tại nhà hàng Emerald Bay, Santa Ana đã được các văn hữu như Cao Tiêu, Nguyên Sa, Đỗ Tiến Đức và các nhân sĩ… ca ngợi tinh thần đấu tranh của chiến sĩ Quốc Gia cho lý tưởng tự do, dân chủ.
Nay đọc các bài viết trong nước đã bị lệch lạc, bóp méo sự thật vì dựa vào tài liệu tuyên truyền… Vì vậy viết lại hồi ký của tác giả Võ Đại Tôn, chứng nhân thời cuộc để trả lại sự thật của giai đoạn lịch sử: “Cái gì của César, hãy trả lại César”.
Với hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” trong tháng 6/2010 qua nhận định của Nguyễn Mạnh Trinh cho thấy: Đọc bút ký “Tắm Máu Đen” rồi đọc “Hồi Ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh”, và đọc những bài thơ ký tên Hoàng Phong Linh, tôi cảm nhận rõ một điều: Sáng tác của ông là tình yêu dành cho quê hương đất nước. Phải có một tình yêu mạnh mẽ thúc đẩy nên con người chiến sĩ, thi sĩ, nghệ sĩ hòa hợp thành một con người Việt Nam đã chiến đấu trong những năm tháng khốc liệt của chiến tranh từ lúc tuổi thơ cho đến khi trưởng thành. Là chiến sĩ, ông hành động theo lý tưởng của mình, chấp nhận hy sinh gian khổ. Là thi sĩ, ông làm thơ, để gần hơn với mơ mộng, để yêu thương hơn quê hương. Là văn sĩ, ông mang tấm lòng thiết tha của mình giãi bày tâm can của một người nặng lòng với đất nước…
Sau khi dẫn chứng những đoạn trong hồi ký, phân tích với đoạn kết: Đọc bút ký “Tắm Máu Đen” rồi đọc “Hồi Ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh”, và đọc những bài thơ ký tên Hoàng Phong Linh, tôi cảm nhận rõ một điều: Sáng tác của ông là tình yêu dành cho quê hương đất nước. Phải có một tình yêu mạnh mẽ thúc đẩy nên con người chiến sĩ, thi sĩ, nghệ sĩ hòa hợp thành một con người Việt Nam đã chiến đấu trong những năm tháng khốc liệt của chiến tranh từ lúc tuổi thơ cho đến khi trưởng thành. Là chiến sĩ, ông hành động theo lý tưởng của mình, chấp nhận hy sinh gian khổ. Là thi sĩ , ông làm thơ, để gần hơn với mơ mộng, để yêu thương hơn quê hương. Là văn sĩ, ông mang tấm lòng thiết tha của mình giãi bày tâm can của một người nặng lòng với đất nước.
Trong hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” của Võ Đại Tôn in bài giới thiệu của Trần Trung Đạo, là đồng hương, tuy tuổi đời cách nhau hơn hai mươi năm nhưng cùng chung cảnh ngộ đau buồn và cùng chung tâm cảm.
“Chúng tôi những người con đi xa, gánh trên vai đôi gánh nặng. Đất nước, quê hương, tình thương và nỗi nhớ. Nhiều khi tôi thèm làm một con chim nhỏ, bay về đậu trên tấm bia và đọc cho mẹ nghe những bài thơ được đan kết từ mấy mươi năm trầm luân thống khổ. Nhưng không, đôi cánh chúng tôi quá nhỏ và quảng trời thì quá xa, ước mơ cũng chỉ là mơ ước. Chúng tôi chọn lựa một cách sống mà chúng tôi nghĩ là đúng nhất cho đời mình và đất nước nhưng chọn lựa nào mà chẳng có hy sinh. Chúng tôi đã phải hy sinh những riêng tư thân thiết nhất.
… Từ thuở chào đời, tôi đã là một đứa bé bất hạnh. Mẹ và anh chị tôi đều mất rất sớm. Trí nhớ của tôi còn quá non nớt để giữ lại hình ảnh mẹ. Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có đến một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống.
Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ giòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ.
Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn là tuyệt đối. Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu, một ngôi làng dệt lụa bên bờ sông Thu Bồn. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ, nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuỗi ngày buồn và chờ đợi một điều gì sắp đến.
Một tuổi thơ như thế có thể tạm gọi là tuổi thơ bất hạnh. Nhưng tuổi thơ tôi không phải là bất hạnh nhất hay ít bất hạnh hơn anh Võ Đại Tôn.
… Anh bất hạnh hơn tôi vì mẹ anh, người đàn bà vốn đang trọng bịnh trong người, đã phải chết trong hoàn cảnh vô cùng thảm thương, đau đớn.
… Anh Võ Đại Tôn cũng đã xác định quan điểm này trong hồi ký Tuổi Thơ và Chiến Tranh: “Viết lại cho tuổi trẻ của tôi trong nỗi trầm luân của cả một Dân Tộc và viết cho Tuổi Trẻ Việt Nam với niềm mong ước các thế hệ tương lai hiểu thấu, tránh xa, ngăn chặn, cùng nhau vượt qua mọi chướng ngại để cứu nguy Tổ Quốc và hóa giải mọi trở lực để quang phục quê hương.
… Với tuổi đã ngoài bảy mươi, lẽ ra anh nên dành khoảng thời gian mà anh tự nhận là “hoàng hôn của một đời người” để đi đây đi đó thăm viếng người thân, tạm biệt bạn bè, hay ngồi an nhàn bên tách trà, chén rượu, nhìn mặt trời lên cao ngoài biển rộng, nhìn bóng tà dương khuất dần sau đỉnh núi cao, không, anh không thể an nhàn như thế được. Còn một hơi thở anh còn đóng góp, còn cất lên được một tiếng nói anh còn tìm cách để trao gởi những ước mơ chưa làm được hết của anh cho các thế hệ mai sau. Anh cố gắng dành thời gian còn lại để viết. Dù bàn tay anh có run hơn, đôi mắt có yếu hơn, anh vẫn cố gắng viết, bởi vì con người ai cũng phải chết nhưng sự thật lịch sử phải được sống, sống cho hôm nay và cho mãi mãi về sau…”.
Với hồi ký của anh Võ Đại Tôn qua các bài viết của các văn hữu, trong đó có Trần Trung Đạo và Nguyễn Mạnh Trinh, tôi thấy cũng đủ để cảm nhận những gì tác giả Võ Đại Tôn chia sẻ sau sáu thập niên về nơi cố hương.
Trong thời gian qua, anh và tôi thường viết qua email, anh than tuổi già sức yếu, mỗi lần nghĩ đến đất nước và cố hương lòng đau quặn thắt, không cầm được nước mắt. Cho đến lúc nầy, anh vẫn mang niềm đau vì không về được cố hương, không ôm mồ mẹ trong vòng tay như lúc tuổi thơ!
Trong mùa đại dịch quái ác nầy, ở nhà chán quá, tôi lục lại những quyển sách cũ ra đọc lại để giết thời giờ, nào ngờ hồi ký của anh Võ Đại Tôn, một lần nữa làm tôi xúc động nên ghi lại những dòng cảm nghĩ.
Sau biến cố tang thương của đất nước, tháng năm 1975, vợ chồng anh Võ Đại Tôn vượt biển sang Mã Lai đến định cư tại Úc Châu năm 1976.
Năm 1972, Võ Đại Tôn (Trung Tá) kết hôn với chị Tuyết Mai, dạy ở trung học Long Khánh và làm xướng ngôn viên đài truyền hình Việt Nam, băng tần số 9. Năm 1978, vợ chồng sinh được cháu trai Võ Đại Nam (Cu Lỳ) và sau đó mở quá cà phê Cu Lỳ để có dịp gặp gỡ thân hữu. Với cuộc sống gia đình đang hạnh phúc như vậy nhưng anh mang nặng tấm lòng nợ nước nên tháng 2 năm 1981 trở về lại quê hương để tham gia kháng chiến phục quốc (qua đường rừng Thái-Lào) nhưng đã bị sa cơ vào tháng 10, 1981, tại biên giới Lào Việt.
Anh bị tù biệt giam hơn 10 năm tại tại trại tù Thanh Liệt (B-14), ngoại thành Hà Nội. Thế nhưng từ khi ở tù cho đến khi được thả ra để trở về Úc, anh là người đi giữa hai lằn đạn bởi thủ thuật Cộng Sản Hà Nội đã dàn dựng, gài bẫy, bôi nhọ… khi anh nói rồi bị cắt xén để phát thanh và đăng báo!
Trong cuộc họp báo quốc tế ngày 13 tháng 7 năm 1982 tại Hà Nội, anh lên án chế độ tàn bạo CSVN nhưng do CS tổ chức, dàn dựng thì thành phần hiện diện (trong và ngoài nước) là người của tổ chức nên việc phổ biến qua thủ thuật tráo trở, đánh lận con đen. (Trong bài Phỏng Vấn Võ Đại Tôn, 40 Năm Đấu Tranh của Hữu Nguyên đã trả lời chi tiết về chuyến trở lại phục quốc và cuộc họp báo).
Khi được ra khỏi trại tù CS, anh cũng được ăn uống và chụp hình đăng báo… Từ nhỏ anh đã chứng kiến những trò gian manh, lật lọng của Việt Minh trong gia đình nhưng không hiểu vì sao anh lại bị gài bẫy dàn dựng như vậy? Điều bí ẩn đó tuy bất thường với mọi người nhưng với anh chỉ là “vở kịch” của bọn chúng trong giai đoạn, anh vẫn tiếp tục con đường đấu tranh suốt cuộc đời ở hải ngoại.
Trong thời điểm đó có hàng vạn sĩ quan, viên chức VNCH đang bị cầm tù ở miền Bắc nhưng CS không dàn dựng mà đem con cờ phục quốc ra với dụng ý đen tối cho thành phần nầy trước công luận. Vào thời điểm năm 1981, ở Úc có ít người Việt tỵ nạn, chưa có tổ chức đấu tranh nào, anh dấn thân trong đơn lẽ, tổ chức là trái tim và con đường quang phục là quê hương.
Với tôi, khi còn ở trong nước đã biết và khi tỵ nạn tại Hoa Kỳ khi đọc hai nguồn tin trái ngược nhau bênh vực và chống đối… nên im lặng. Ngay cả bản thân anh cũng bị xuyên tạc là “Hạ sĩ quan thông dịch viên, viên chức quèn của VNCH”!.
Khi người chồng ra đi, cuối năm 1981 chị Tuyết Mai dẹp quán rồi vào làm việc ở Bưu Điện Úc. Sau khi biết tin chồng bị cầm tù, chị đã vận động với báo chí và chính quyền can thiệp cho chồng (thân phụ chị bị chết trong lao tù CS) nên chị quyết tâm tranh đấu đến cùng cho đến khi cuối năm 1991, Bộ Ngoại Giao Úc báo tin cho biết anh Võ Đại Tôn được ra tù và trở lại Úc… Có lẽ trong hoàn cảnh nghiệt ngã nhất, bi thảm nhất chỉ có người vợ mới cảm thông và lặng lẽ tìm mọi cách để cứu thoát cho chồng. Hình ảnh chị cũng như bao người “vợ tù cải tạo” đã viết nên “trang sử” đẹp, đáng trân trọng…
Trong email, tôi nói anh viết vài dòng tiểu sử cho chính xác, và anh chỉ viết là người lính, viên chức VNCH, là chiến sĩ đấu tranh cho lý tưởng Quốc Gia, Dân Tộc. Cấp bậc, chức vụ có gì đáng nói… mà điều đáng nói đã thể hiện qua thơ văn của Hoàng Phong Linh, Võ Đại Tôn trong bốn thập niên qua. Nay tuổi anh đã gần đất xa trời, đau yếu những vẫn giữ vững tinh thần chống Cộng, yêu chuộng tự do, dân chủ cho quê hương, đất nước. Tôi hiểu và nhân quyển hồi ký nầy để chia sẻ cho nhau.
Thật ra, viết về hồi ký nầy chỉ là phần nhỏ với tóm lực, phải đọc từng dòng trong hồi ký mới cảm nhận được những gì tác giả nói lên trong tận đáy lòng.
*
Quê nội tôi nằm bên cạnh sông Thu Bồn, từ Quốc Lộ I, từ cầu Cao Lâu chạy dài theo hướng Đông xuống các làng ở phía Nam thành phố Hội An. Tên gọi xã Điện Phương hiện nay qua những lần thay đổi thuộc quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ranh giới xã Điện Phương ở phía Tây thành phố Hội An, phía Bắc giáp Tỉnh Lộ 608 (Vĩnh Điện – Hội An), phía Đông của Quốc Lộ 1 (cạnh cầu Cao Lâu) và phía Nam giáp sông Thu Bồn). Điện Phương vẫn giữ tên các làng cũ như Thanh Chiêm, Phước Kiều, Phú Chiêm, Kim Bồng (thời gian thuộc xã Cẩm Kim)… Theo dòng lịch sử thì những làng nầy được hình thành mấy trăm năm về trước thời Nguyễn Hoàng, trong đó có di dân từ Thanh Hóa. Vài làng nơi nầy nổi tiếng nghề đúc đồng từ thời vua Tự Đức. Nghề bánh tráng và mì Quảng nổi tiếng từ xưa. Làng Kim Bồng rất nổi tiếng về nghề mộc, hầu hết các kiến trúc cổ kính của Hội An đều do bàn tay tài hoa của nơi nầy. Nghề diệt chiếu phổ biến ở nhiều làng.
Dòng họ Tộc Trần có 5 phái nên con cháu rất đông, ở dọc theo tả và hữu ngạn sông Thu Bồn trong hai xã Xuyên Quang, Xuyên Thái, quận Duy Xuyên (nay là xã Duy Phước) cũng gần với làng Kim Bồng. Nhà thờ Tộc Trần của tôi có ở Phú Chiêm và nhà thờ Tộc Võ của anh ở Kim Bồng.
Cũng như các nơi khác của Quảng Nam, đất đai khô cằn vào mùa hè, nghề nông vất vả nên người dân phải sống bằng những ngành nghề khác. Hơn nữa ở địa danh nầy gần sông Thu Bồn nên gánh chịu bao thiên tai vào mùa bão lụt. Quê nội anh Võ Đại Tôn ở Kim Bồng, cũng khoảng thập niên 1920, thân phụ anh ra Đà Nẵng lập nghiệp, xây dựng cơ ngơi vững chắc.
Hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” dày 212 trang, bài giới thiệu của Trần Trung Đạo (trang 5 đến trang 26) ghi nhận những điều, theo tôi, là đồng hương, cùng cảnh ngộ, cùng văn giới, chứng nhân nỗi thống khổ với nhau, nơi cố hương, thăng trầm của lịch sử, cảm nhận nỗi lòng anh Võ Đại Tôn qua thơ văn… mới viết được như vậy. Bài viết là tâm bút, khó có người cầm bút thứ hai trang trải với tận đáy lòng.
“Tôi sinh ra tại Hải Châu, thị xã Đà Nẵng nhưng thực ra nguyên quán dòng họ Ông Cha là làng Kim Bồng, xã Điện Phương… Tôi là đứa con thứ tám trong số mười người con của cha mẹ tôi, chín anh em trai và một chị gái” (trang 32).
“Gia đình bác, cha mẹ và chú tôi, đầu sống chung trong một ngôi nhà tạ Ngã Năm thành phố Đà Nẵng Được xây cất từ năm 1924, hiện nay là Long Phụng Từ Đường thuộc Tộc Võ)” (trang 34). Bác, cha và chú anh trúng thầu với người Pháp xây cất ngôi nhà thờ Thiên Chúa Giáo Chính Tòa (nhà thờ Con Gà) năm 1923, nổi danh công trình độc đáo. Vì vậy cha mẹ anh cho con cái học trường Pháp ở Đà Nẵng.
Sau Đệ Nhị Thế Chiến, Nhật đầu hàng, Việt Minh cướp chính quyền. Pháp trở lại Việt Nam, khi Pháp chiếm lại Đà Nẵng và lập lại hệ thống cai trị, cuộc chiến xảy ra… Hồi ký ghi lại giai đoạn tản cư vì chiến tranh (1945-1950). Giữa năm 1946, sợ chiến tranh xảy ra ở thành phố Đà Nẵng nên gia đình anh di tản về quê nội ở Kim Bồng “Tuổi thơ của tôi bắt đầu đi vào một khúc quanh gai góc, vì chiến tranh” (trang 51).
Rồi từ đó người dân sống trong tình cảnh “một cổ hai tròng”, ngày thì bị Pháp bố ráp (ruồng, càn), Việt Minh bắt phải nộp gạo để nuôi quân trong khi người dân thiếu thốn ăn cơm độn với khoai, sắn. Và đêm thì bị Việt Minh bắt thanh niên (nam, nữ) tham gia lực lượng chống Pháp. Riêng gia đình anh gặp phải tình cảnh trớ trêu vì nghi còn thân Pháp. Việt Minh còn bắt buộc nhà của anh phải treo hình “cụ Hồ” cũng là trò thâm độc vì khi Pháp đi ruồng bố vào nhà mà thấy hình nầy thì đốt nhà để gây lòng hận thù với Pháp. Trong hồi ký, anh tả từng chi tiết về thủ đoạn gây tai họa cho gia đình anh.
Trong một lần Pháp đi ruồng, vào nhà anh lục soát, chú và các anh chị nói chuyện bằng tiếng Tây nên không làm khó dễ gì cả. Nhưng tai họa lại giáng lên đầu nhà anh “Từ lúc có Tây qua làng ruồng bố, rồi có người cố tình phao tin đồn là nhà tôi điềm chỉ cho Tây bắt cán bộ Việt Minh…” (trang 88). Ông “chủ tịch, cán bộ cao cấp của Cộng Sản” là con trai của người tá điền làm ruộng cho nhà anh, trở thành hung thần. Trong khi tất cả cơ ngơi song thân anh ở Đà Nẵng bị Tây tịch thu thì gia đình anh ở làng quê bị kết tội thân Tây. Gia đình bị cô lập, sống trong hoàn cảnh khó khăn, luôn luôn bị rình rập, cả tuổi thơ của anh chịu đựng mọi cơ cực. Nỗi đau tột cùng khi mẹ anh bị ho lao, làm cái chòi nhỏ để ở riêng vì sợ bị lây (theo ý mẹ anh), không có thuốc men nên bị cơn đau hành hạ ngày đêm. Trước tình thế đó “Sau nhiều đêm bàn tán, thêm nhiều ý kiến tính tới tính lui. Tôi được biết bác và cha tôi đồng thuận để cho mẹ tôi về lại Đà Nẵng, có hai chú đi theo” (trang 104). Đoạn đường từ Kim Bồng theo đường bộ ra Đà Nẵng rất khó khăn vì bị kiểm soát gắt gao cả Việt Minh và Tây. “Lúc ra đi, mẹ tôi 43 tuổi, chú Tám Dương 47, còn chú Mười 31 (Tháng 6 năm 1947)” (trang 110). Chuyến đi định mệnh đã biệt tăm cho đến năm 1959, 1960 mới biết thảm cảnh xảy ra!.
“Đến năm 1955, các anh tôi đều đã là sĩ quan trong Quân Đội Quốc Gia. Tôi vẫn còn đi học tại Sài Gòn. Anh Hai tôi được đi tu nghiệp tại Pháp (trường bộ binh Saint Maxent), có gởi về cho anh Năm tôi một bức thư dài kể lại chi tiết sự kiện năm 1949 về đôi giày cườm của mẹ tôi tại làng Cổ Lưu (xã Điện Nam, Quảng Nam), kèm theo một bản đồ ghi rõ địa điểm liên hệ… Lúc nầy anh Năm tôi phục vụ tại Phân Khu Nam-Ngãi-Định trong chiến dịch tiếp thu hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Anh Sáu tôi thì đã mãn khóa sĩ quan trừ bị Thủ Đức (khóa 4/54, và đi tu nghiệp khóa “commando” ở Watchay – Hải Phòng (Ghi thêm: Khóa 4 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, nhập khóa ngày 23 tháng 11 năm 1953 (dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại) và mãn khóa ngày 1 tháng 6 năm 1954. Tổng số sĩ quan ra trường hồi đó là 1200)… Chúng tôi phải đợi đến năm 1959 (gần 13 năm sau, đêm mẹ và hai chú tôi ra đi từ làng Kim Bồng, 1947) sau khi anh Năm tôi được bổ nhiệm làm Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 2 Bộ Binh… Năm 1960, anh Năm tôi được bổ nhiệm làm tỉnh trưởng Quảng Nam” (trang 118, 119).
Tác giả chỉ gọi anh chị theo thứ tự trong đình như cách gọi của nhiều gia đình mà thôi. Anh Năm của anh là Đại Tá Võ Hữu Thu, lúc đó ở Quảng Nam có sự tranh chấp đảng phái và tôn giáo nên chọn vị tỉnh trưởng của địa phương, không tôn giáo. Đại Tá Võ Hữu Thu nổi tiếng thanh liêm, cương trực, người dân nơi nầy rất quý mến (sau nầy ứng cử vào Dân Biểu Quốc Hội).
(Ghi thêm: Năm 1960, anh Võ Đại Tôn làm Trưởng Ban 5, Trại Biệt Kích Long Thành, anh thông thạo tiếng Pháp và Anh nên không cần thông dịch viên nên sau nầy họ xuyên tạc, gán anh là hạ sĩ quan thông dịch viên. Sang thời Đệ Nhị Cộng Hòa, chính phủ Phan Huy Quát thành lập ngày 16/02/1965 nâng Phủ Đặc Ủy Dân Vận Chiêu Hồi thành Bộ Chiêu Hồi. Tổng Trường đầu tiên là Trần Văn Ân (trong tháng 3) kế đến là đến là Thiếu Tướng Nguyễn Bảo Trị. Anh Võ Đại Tôn, sĩ quan cấp tá trong QL Việt Nam Cộng Hòa, đã từng được biệt phái ngoại ngạch sang nhiều công vụ dân chính và sau cùng Giám Đốc Công Tác Bộ Chiêu Hồi).
Trở lại với hồi ký “Anh Năm tôi có nhờ ông Quận Trưởng quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam lúc bấy giờ (ông Trần Quốc Thái) đưa đi thám sát vùng làng Cổ Lưu (theo bản đồ của anh Hai tôi vẽ lại)… Ông Quận Trưởng còn cho biết là trước đây trong thời kỳ chiến tranh, khu vực nầy do Việt Minh (Cộng Sản) kiểm soát. Có một đảng viên Cộng Sản tên là Huỳnh Thân làm trưởng ban ám sát, nổi tiếng giết người không run tay trong làng nầy và các vùng lân cận. Trong một cuộc hành quân của Quân Đội Quốc Gia, t5en6 thân bị bắt và hiện còn giam tại lao xá tỉnh Quảng Nam ở Hội An…
Qua hồ sơ lý lịch và những bản cung khai của tên Thân nầy, các cơ quan anh ninh Quốc Gia tại địa phương kiểm chứng, anh Năm tôi cho chuyển đương sự về sở An Ninh Quân Đội để thẩm vấn thêm, Anh tôi đích thân hỏi cung, ghi thêm chi tiết nhiều sự kiện vào hồ sơ tội ác của đương sự” (trang 118, 119).
Theo lời kể của hai ông Minh và Miêng (chủ nhà, ân nhân giúp tá túc) và lời cung khai của Huỳnh Thân, tên sát thủ ghi lại:
“Mẹ và hai chú tôi từ giã nhà hai ông Minh và Miêng vào giữa đêm khuya sau khi vào nhà xin tạm nghỉ chân một lúc, băng qua làng Cổ Lưu để ra đường cái thì bị một nhóm Việt Minh (Cộng Sản) bắt giữ… Cả ba người đã bị tra kháo, đánh đập suốt 3 ngày đêm, bị kết tội là tìm đường đi “liên lạc” với Tây” (trang120) và đề cập đến các thủ đoạn tra khảo quá tàn nhẫn, nhất là người đàn bà đang bị bệnh ho lao trầm trọng.
“Hắn và hai tên thanh niên dẫn ba người ra một bãi cát trống, đêm sáng lờ mờ qua ánh trăng khuyết. Không có đem theo đèn đuốc gì cả, chỉ có cầm theo hai cái cuốc. Hắn bắt mẹ tôi ngồi riêng một chỗ. Còn hai chú thì được lệnh lấy cuốc tự đào một cái hố nhỏ. Xong rồi, khi chú Mười tôi còn đang đứng bên miệng hố, chưa biết làm gì thêm, thì thình lình tên Thân chụp một cái cuốc, phang ngang lưng chú một nhát mạnh làm chú ngã chúi xuống hố, nằm sấp, đau quằn quại.
Trước cảnh tượng bất ngờ như vậy, chú Tám Dương tôi chưa kịp la lên thì hắn đứng phía sau dùng chân đạp chú té xuống hố. Chú tôi vừa cố lóp ngóp bò lên vừa la xin tha mạng. Hắn đứng trên miệng hố cát, cầm cuốc phang xuống, trúng ngay vào trán của chú tôi, làm chú té bật ngửa ra, nằm đè trên lưng chú Mười. Hai người chưa chết.
Rồi, hắn đến xốc mẹ tôi đứng dậy trong khi mẹ tôi đang ôm mặt khóc lớn. Hắn lạnh lùng dẫn mẹ tôi đến cạnh miệng hố, xô xuống thật mạnh, mẹ tôi rớt xuống, nằm sấp trên người chú Tám. Hắn đứng trên hố, cầm cuốc cúi xuống phang mấy nhát thật mạnh vào lưng mẹ tôi, làm cả thân hình mẹ tôi quằn cong lại.
Cả ba người chưa chết, nhưng không còn sức bò dậy được nữa, nằm im trong máu, chung một hố cát cạn. Tên Thân và đồng bọn dùng cuốc xúc cát lấp hố lại rồi bỏ đi. Chôn sống!” (trang 124, 125).
Với tội ác dã man tày trời của tên Huỳnh Thân, nhưng người con của mẹ – Đại Tá Tỉnh Trưởng Quảng Nam – với cái tâm nhân bản của người Quốc Gia, không đem ra xử bắn mà “Sau nhiều ngày bàn tính trước sự đau khổ cùng cực của gia đình, anh Năm tôi đành phải chuyển tên Thân ra lao xá Thừa Phủ ở Huế để cho chính quyến xét xử theo luật pháp về nhiều tôi trạng giết người khác, không để cho chúng tôi thấy mặt hắn” (trang 130).
Ba quan tài được di chuyển từ làng Cở Lưu về bờ sông Thu Bồn gần Hội An để an táng.
Anh lại chứng kiến hình ảnh quá bi thương: Nước Trôi Mồ Mẹ. Năm 1972, anh từ Sài Gòn ra Quảng Nam trong một chuyến công tác, đứng bên nầy bờ sông Hội An thấy nước lụt dâng lên ngập cả làng Kim Bồng bên kia sông, tưởng chừng nước cuốn trôi luôn mồ mẹ anh nên xúc động làm bài thơ:
“Con quỳ bên ni dòng sông
Bên tê mồ Mẹ!
Trời ơi, nước ngập tràn đồng
Từng khúc xương trôi đau lòng con trẻ.
Con mang trong người thịt xương của Mẹ
Chừ trông nước lụt dâng về
Con còn bên ni, Mẹ mất bên tê,
Sóng bao la vỗ, bốn bề Mẹ mô?
Ngày xưa Mẹ chết, con khóc mắt khô,
Chừ xương Mẹ trôi, hồn con nước lụt.
…
Con quỳ bên ni, linh hồn tê buốt
Mần răng mà về bên tê chừ, Mẹ ôi!
Quê hương nước ngập tận trời
Hồn con khóc suốt một đời không nguôi!…”
(Trang 142, 144)
Sau khi mẹ anh và hai người chú ra đi biệt tăm, cha và người thân trong gia đình anh còn ở lại làng quê Kim Bồng trong 3 năm, năm tháng đó với anh là tháng này bất hạnh, đau thương nhất, địa ngục của của cuộc đời. Tuổi thơ của anh được mẹ cưng nhất, nuông chìều, lúc nào cũng gần gũi bên mẹ nay mất đi hình ảnh thiêng liêng, cao quý nhất mà anh luôn luôn tơn thờ cùng với cuộc sống tận cùng của xã hợi với bao đắng cay!
“Chúng tôi về lại Đà Nẵng sau gần 5 năm (1945-1950) đi tản cư về làng quê Kim Đồng, vì chiến tranh… Tôi đã mất tuổi thơ và điều đau đớn nhất, còn in sâu vào suốt đời tôi mãi đến hôm nay, là tôi đã mất mẹ!” (trang 183).
Cũng như anh, quê nội tôi ở các làng nơi đây lâu đời, thầy tôi là nhà nho, sùng đạo Phật nên rời quê rất sớm khoảng năm 1920 theo dòng Trường Giang vào Thăng Bình mưu sinh với chữ nghĩa, lập nghiệp và các anh chị ra đời từ đó. Tuổi thơ học ở Hội An nên thỉnh thoảng tôi ghé về quê nội… cho đến nay hơn sáu thập niên, tôi chưa biết gì về cố hương, ngay nhà thờ Tộc Trần và nơi chốn xa xưa chỉ được biết qua hình ảnh, email của các cháu…
Trong thời kỳ Việt Minh, tôi chưa biết gì, chỉ nghe qua lời kể của anh chị trong gia đình, hình như các làng quê miền Trung dọc theo duyên hải, ở đâu cũng vậy, người dân hoàn cảnh “một cổ hai tròng” qua các năm dài. Tôi đã đọc nhiều về sử liệu trong giai đoạn nầy như quyển Chiến Tranh 1946-1954 (từ chiến tranh Việt Minh – Pháp đến chiến tranh ý thức hệ Quốc – Cộng) của Trần Gia Phụng năm 2018, dày 568 trang. Đây là một quyển sách viết rất công phu với chú thích và hình ảnh trong bộ sách Sử Việt Đại Cương của tác giả trong mấy thập niên ở Canada. Nhưng chưa đọc tác phẩm nào viết lại giai đoạn nầy ở làng quê của 3 miền để am tường. Bút ký lịch sử Một Cơn Gió Bụi của cụ Trần Trọng Kim cho đến nay được đánh giá là tác phẩm quan trọng của giai đoạn lịch sử nhưng tổng quát trên chính trường…
Hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” của tác giả Võ Đại Tôn chỉ đề cập đến quãng thời gian 5 năm (1945-1950) xảy trong gia đình và nơi cố hương với gọng kìm giữa Việt Minh & Pháp. Tháng 6 năm 1948, Hiệp định Vịnh Hạ Long, Pháp đồng ý thành lập Quốc Gia Việt Nam gồm cả ba miền Bắc Trung Nam, nằm trong Liên Hiệp Pháp. Hè năm 1949 chính phủ Quốc Gia Việt Nam ra đời, cựu hoàng Bảo Đại về nước làm Quốc Trưởng, đất nước có hai chính phủ trong tình trạng tranh tối tranh sáng. Theo sách của Trần Gia Phụng: “Lãnh thổ hai chính phủ không phân biệt giới tuyến rõ rệt. Chính phủ nào cũng tự nhận là chủ nhân chính thống toàn bộ đất nước” (Sđd trang 235)… nên ngoại trừ ở những thành phố lớn, những nơi “xôi đậu”, làng quê bị Việt Minh răn đe, ám sát người theo Quốc Gia và đảng phái đối lập… tình trạng càng căng thẳng và bi đát giữa cuộc chiến ý thức hệ Quốc/Cộng trước khi phân chia hai miền chiến tuyến. Qua sử liệu giúp tôi liên tưởng đến các bài viết đã đọc với bối cảnh, thân phận, nỗi đau thực sự trên quê hương!
Từ lâu, qua thơ văn của anh Võ Đại Tôn mới nhận nhau là đồng hương, khi đọc lại hồi ký của anh Võ Đại Tôn mới biết thêm được gốc gác, gợi lại trong tôi niềm cảm xúc.
Anh viết hồi ký nầy, theo lời chia sẻ, bằng trái tim, cảm xúc tột cùng và theo anh, nhiều lúc mắt nhòe đi trước màn hình computer vì quá xúc động. Lời thật chân tình và thán phục anh có trí nhớ rất tốt.
Có hiểu nỗi lòng, lý tưởng của anh mới hiểu được vì sao khi vừa mới tỵ nạn tại Úc, vợ anh còn trẻ, con thơ nhưng anh đành từ bỏ để chọn con đường gian nguy.
Tôi không đề cập đến vấn đề chính trị ở đây vì trong quá khứ, như đã nói, anh là nạn nhân “đi giữa hai lằn đạn”. Anh đã đi khắp nơi gặp gỡ, trình bày công cuộc dấn thân cho chính nghĩa. Như đã đề cập, anh không bao giờ nhắc đến thân thế của gia đình, của những người anh trong Quân Lực VNCH mà chỉ nói về bản thân từ khi rời quê hương và trở lại cố hương với cái mộng, nếu gọi là “đội đá vá trời” để “quang phục quê hương”! Vì sao và tại sao, chỉ có trái tim chân chính của anh với tinh thần đầy nhiệt huyết người con họ Võ ở Kim Bồng ảnh hưởng những bậc tiền nhân ngày xưa của Quảng Nam đã hy sinh cho đại cuộc.
Sự dấn thân cho quê hương của anh Võ Đại Tôn đã trả cái giá quá đắt từ lao tù và cả thị phi, từ tấm lòng chân chính của bản thân đến sự hoài nghi của nhiều người và sự đánh phá của kẻ thù… nhưng với tôi, anh vẫn là chiến sĩ, người lính của QLVNCH.
Với bút hiệu Hoàng Phong Linh qua các bài thơ trước năm 1975. Sau nầy với các thi phẩm Lời Viết Cho Quê Hương, Đoản Khúc Người Ra Đi và Tiếng Chim Bên Dòng Thác Champy, nhà xuất bản Bất Khuất ấn hành năm 1992, dày 119 trang.
Một số bài thơ của anh đã được phổ nhạc, trong đó có bài Mẹ Việt Nam Ơi! Chúng Con Vẫn Còn Đây, sáng tác năm 1972 được Nguyễn Ánh 9 phổ thành ca khúc vào tháng Giêng 1975. Ca khúc nầy được các ca sĩ trình bày, phổ biến rộng rãi vào thời điểm đó. Ở hải ngoại, Việt Dzũng và Nguyệt Ánh khi lưu diễn khắp nơi đều mở đầu với ca khúc nầy. Bài thơ và ca khúc nầy cho đến nay vẫn được người Việt tị nạn hải ngoại coi như lời tâm niệm.
Lời kết trong hồi ký của anh: “Tôi đã mất Tuổi Thơ và điều đau đớn nhất in sâu vào suốt cuộc đời tôi mãi đến hôm nay là tôi đã mất Mẹ” niềm đau và nỗi lòng của người con, chiến sĩ Quốc Gia bị đánh mất quê hương!
*
Trong những năm qua, anh nằm trong bệnh viện, thỉnh thoảng hai anh em email với nhau, anh không than cho bệnh tật bản thân vì đã một đời cống hiến cho quê hương và đã trải qua bao nhiêu nghiệt ngã, đau thương nhưng than cho tuổi già đau yếu nên không được theo đuổi giấc mơ cho quê hương được tự do, thanh bình!
Nay anh đã ra người thiên cổ! Vĩnh biệt Chiến Hữu Võ Đại Tôn! Xin thắp nén hương lòng tưởng nhớ đến anh.
Little Saigon 5/2025
Vương Trùng Dương
MEMBER LIST (TEST)
Trang thơ Tuyết Nhung
VĂN THI SĨ CHINH NGUYÊN, NHẬN ĐƯỢC BẰNG KHEN, VINH DANH NHIỀU NHẤT! TRONG MỘT NGÀY!
Hôm qua, là ngày bận rộn cho Tang quyến Ông Chinh Nguyên và cho Cơ sở thi văn Lạc Việt, vì tới tấp nhận được bằng khen, sáng trên Quận, chiều ở Thành phố.
Trong Một Ngày! Ông Chinh Nguyên, Văn Thi Sĩ Việt, Đã Nhận Được Bằng Vinh Danh Nhiều Nhất! Từ Cấp Thành Phố, Đến Cấp Quận Hạt. Trước Đó Chính Quyền Cấp Tiểu Bang, Cũng Đã Gởi Nhiều Bằng Khen Đến Tang Gia Và VTLV.
Khắp Nơi Ghi Nhận, Sự Đóng Góp Của Ông.
Vào đầu tháng 4 này, nhà văn Chinh Nguyên, đã giã từ gia đình cùng bạn bè, Văn nghệ sĩ bốn phương, tìm về dưới chân Chúa, để lại bao niềm thương tiếc cho thành viên Văn Thơ Lạc Việt cùng bằng hữu. Ông là nhân vật đã tiếp bước nhà văn Đông Anh trong 13 năm, với chức Chủ Tịch VTLV, lèo lái con thuyền vững vàng trên Dòng Sông Văn học Nghệ Thuật Việt Nam nơi đất Mỹ, cụ thể là Vùng Thung Lũng Hoa Vàng, Bắc California. Những thành quả tốt đẹp về con đường gìn giữ bản sắc Dân Tộc đó, đã được chính quyền địa phương công nhận và tặng bằng khen thưởng.
Giám sát viên Betty Dương, đã đề xuất và Hội Đồng Giám Sát Quận hạt Santa Clara, đồng thuận cấp bảng Vinh Danh cho Cố Nhà Văn Chinh Nguyên.
Sáng Thứ Ba, ngày 22 tháng 4 năm 2025, hồi 9.30, tại Phòng Họp Board Chambers Quận hạt Santa Clara, số 70 W.Hedding, Trong cuộc họp của Hội Đồng Giám Sát Hạt Santa Clara, với phần Adjournment in Memoriam, Bà Betty Dương, thay mặt Hội Đồng, trao Bảng Vinh Danh cho Bà Thanh, Vợ của người quá cố Chinh Nguyên, cùng gửi lời chia buồn sâu sắc đến Gia đình Văn Thơ Lạc Việt. Giây phút cảm động nhất, cả Hội Đồng Giám Sát, đều rời khỏi ghế, xuống bắt tay chia buồn, chụp hình chung với Tang gia và VTLV.
Ông Lê Văn Hải đương kim Hội Trưởng VTLV và Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng, đã vắn tắt, bày tỏ Lời Cám ơn đến Chính quyền và mọi người tham dự.
Tại Hội Đồng Thành Phố San Jose.
Chiều cùng ngày, trên 20 thành viên và thân hữu đã tham dự, trong giây phút trang trọng, Thành phố vinh danh người quá cố. Anh Hội trưởng, thay mặt Tang quyến và VTLV, có lời cám ơn Hội đồng thành phố như sau:
“Cảm tạ hội đồng thành phố San Jose, đã vinh danh Ông Chinh Nguyên, cựu chủ tịch hội văn thơ lạc việt, 13 năm. Ông là một nhân sĩ, chiến sĩ văn hóa, có nhiều đóng góp tích cực trong cộng đồng người Việt chúng tôi, tại vùng Bay Area, California, nói riêng, và cộng đồng người Việt Hải Ngoại nói chung. Sự vinh danh của Ông hôm nay, khuyến khích người lớn giữ gìn ngôn ngữ, “tiếng Việt còn, nước Việt còn!” Khuyến khích con em chúng tôi, vừa hòa đồng trên đất Mỹ, vừa giữ bản chất tốt đẹp của người Việt. Một lần nữa, tôi xin được thay mặt Hội, thay mặt Tang gia cảm tạ buổi vinh danh này. Cám ơn nhiều!”
Sau đây là một vài hình ảnh phần trao Bảng Vinh Danh cho ông Chinh Nguyên, tại Quận hạt và Thành phố, xin được Chia sẻ Cùng Quý Vị và Các Bạn.
Thân ái
Mpd&lvH
ÁC PHẨM SONG NGỮ PLEASE ENTRY-VÀO ĐI TÌNH ƠI!
Phong Thu Nguyễn phỏng vấn Nv Chinh Nguyên
Cáo Phó
Buổi Ra Mắt Sách của Tôn Nữ Áo Tím
CHÙA THẠNH ĐỨC, THÀNH PHỐ KONTUM
PHÁT CƠM CHAY TỪ THIỆN CHO BỆNH NHÂN NGHÈO
Bông Hoa Cẩm Chướng Đã Bay Lên Trời
Lời mở đầu
Quý vị có biết ai là cô sinh viên Sài Gòn ra Bắc học y khoa đã cất tiếng hát lần đầu tiên bài tiếng gọi sinh viên sau này trở thành bài quốc ca VNCH. Cô Phạm thị Bình tức bà bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn đã qua đời ngày 11 tháng 11 năm 2012 tại Palo Alto, CA hưởng thọ 90 tuổi.
Hai tháng trước tôi và anh Phạm phú Nam có lên nhà quay đoạn phim chị Bình kể lại chuyện hát bài ca lịch sử tại nhà hát lớn Hà Nội. Đoạn phim này sẽ là phần quan trọng về dữ kiện lịch sử bài quốc ca của miền Nam được đưa vào DVD Hồn Việt của Việt Nam Film Club phát hành 17 tháng 11-2012.
Tang gia cho biết sẽ phát tang vào ngày thứ bẩy 24 tháng 11-2012 . Các chi tiết sẽ được loan báo.
Trong niềm thương tiếc một nữ lưu có nhiều liên quan đến lịch sử, tôi xin gửi đến quý vị bài viết về bà Nguyễn Tôn Hoàn 4 năm trước 2008 vào dịp chúng tôi mời bà lên sân khấu 2 lần để cùng hát bài ca đã trở thành quốc ca. Trong bài viết này chúng tôi có nhắc đến quý vị Nguyễn bá Cẩn, Vũ văn Ước đều đã ra đi. (Ghi Chú Xin chia buồn cùng tang quyến và chị Ngô Quang Thiều. Ông bà Hoàn là cậu mợ của Ms. Lạc Ngô.)
Sau đây là bài viết tháng 3-2008 BÔNG HOA CẨM CHƯỚNG CỦA NGÀY VĂN NGHỆ LỊCH SỬ NGÀN NGƯỜI VIẾT Văn nghệ tháng Ba Foothill 2008 Văn nghệ tháng Tư San Jose 2008 Ai sẽ hát bài quốc ca lịch sử. Ai sẽ là các nam ca sĩ hát phụ họa. Ca sĩ nào là hoa cẩm chướng 86 năm tuổi Giao Chỉ San Jose giới thiệu tháng 3-2008
Chiều ngày chủ nhật 16 tháng 3 năm 2008, khi mở màn buổi trình diễn văn nghệ dành cho cựu sinh viên Việt Nam tại sân khấu Foothill ai là người sẽ hát bài quốc ca lịch sử: “Này sinh viên ơi…”
Hình ảnh minh họa
Bà quả phụ Nguyễn Tôn Hoàn, nhũ danh Phạm thị Bình, cũng vừa từ trần.
Xin trả lời. Ban tổ chức sẽ mời những ca sĩ và các sinh viên đã hiện diện vào một ngày lịch sử năm 1942 tại Hà Nội, cách đây 66 năm, khi bài Tiếng gọi sinh viên đã được trình diễn lần đầu tiên. Quí vị này hiện nay đã trên 80 tuổi. Sẽ cùng đứng lên cất tiếng gọi sinh viên nay đã trở thành tiếng gọi công dân. Và thêm một lần nữa, bài quốc ca VNCH sẽ được chính thức hát mở đầu cho buổi văn nghệ : “Lịch sử ngàn người viết “ vào chiều chủ nhật 6 tháng 4-2008 tại San Jose. Quí vị có thể hỏi rằng những vị niên trưởng đó là ai. Đó là bông hoa cẩm chướng Sài Gòn cùng với sự hiện diện của những ch àng trai của thập niên 40. Chúng tôi mời niên trưởng Nguyễn Khánh, Lâm lễ Trinh của miền Nam và Vũ văn Ước, Trần đỗ Cung của miền Bắc cùng tham dự. Để độc giả có thể hiểu rõ ý nghĩa của câu chuyện hơn nửa thế kỷ đã qua, chúng tôi xin nhắc lại đầu đuôi như sau về người nữ sinh viên đã hát bài quốc ca lần đầu tại thủ đô Hà Nội.
Vào đầu tháng 5 năm 2007, ban tổ chức ra mắt sách của luật sư Lâm Lễ Trinh tại San Jose có nhã ý mời đại tướng Nguyễn Khánh lên mở đầu diễn đàn. Vị quốc trưởng Việt Nam Cộng Hòa đã nhường danh dự cho một phụ nữ. Đó là bà bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, nhũ danh Phan thị Bình. Bà cũng là một cư dân lâu năm tại Bắc California ít có dịp đến sinh hoạt với cộng đồng. Nhưng thực sự đây là một phụ nữ đã tham dự hoạt động đảng phái chính trị một thời gian rất dài. Bà tham gia phong trào sinh viên kháng Pháp đầu thập niên 40 cho đến nay vẫn còn là đảng viên với vai trò cố vấn. Thời gian hoạt động đã ghi lại đủ 66 năm, suốt chiều dài của một người từ lúc sinh ra cho đến lúc về hưu.
Trong 30 năm qua, người Việt quốc gia tha hương vẫn ôm mối u hoài, vẫn còn giữ mãi lá cờ vàng và bài quốc ca của miền Nam. Nhưng mấy ai biết được rằng những giọng ca nữ nào đã cất tiếng lần đầu tiên bản Tiếng Gọi Sinh Viên của một thời toàn dân đang chuẩn bị đứng lên chống Pháp.
Từ thuở xưa rất xa, trong Nam chưa có trường đại học, các thanh niên nam nữ của Sài Gòn muốn học thêm phải ra Hà Nội.
Thế chiến đệ nhị đang đi vào những giai đoạn cuối. Đồng Minh phản công từ Âu Châu qua Thái Bình Dương. Nhạc sĩ Nam Kỳ Lưu Hữu Phước soạn bài ca tiếng gọi sinh viên: “Này sinh viên ơi, đứng lên đáp lời sông núi. Đồng lòng cùng đi…”
Thanh niên sinh viên Việt Nam hàng ngày theo dõi tin tức chiến cuộc trên thế giới và nao nức muốn đứng lên làm lịch sử.
Vào một buổi sáng của năm 1942, có hai cô sinh viên Sài Gòn đứng giữa khuôn viên đại học Hà Thành cất tiếng hát bài ca bất hủ: Này sinh viên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi.
Hiện diện trong những giây phút lịch sử đó có những chàng sinh thanh niên như Lâm lễ Trinh, Nguyễn Khánh,Trần đỗ Cung và cả cậu thiếu niên Hà nội Vũ văn Ước…Hai nữ sinh viên Sài Gòn lúc đó ở tuổi 19 và 20. Một người là chị của dược sĩ Nguyễn Văn Bẩy của San Jose. Bà chị hiện còn ở miền Nam California. Và một cô gái nhỏ bé khác là Phan Thị Bình của miền Bắc California. Cô sinh viên đứng lên đáp lời sông núi đó sau này đã thành hôn với sinh viên y khoa năm thứ sáu là anh Nguyễn Tôn Hoàn. Vợ là sinh viên phụ khoa với bằng cấp cô đỡ quốc gia và chồng là y khoa bác sĩ. Nhưng thời cuộc chuyển vần, thế chiến đệ nhị chấm dứt. Cuộc kháng chiến mùa thu bắt đầu, cả hai vợ chồng bác sĩ chẳng làm nghề y khoa mà đã cùng đi theo con đường cách mạng.
Lúc đó ở ngoài Bắc, Phạm Duy viết bài ca kháng chiến đầu tiên: Một mùa thu năm qua, cách mạng tiến ra đất Việt. Vợ chồng Bác Sĩ Hoàn bắt đầu hoạt động cách mạng trong Nam. Cuộc đời ba chìm bẩy nổi của một gia đình sinh viên Nam Kỳ đứng lên đáp lời sông núi đã đưa đẩy hai vợ chồng trẻ lưu lạc nơi đất khách quê người. Trải qua bao nhiêu năm từ Pháp qua Mỹ. Đến thời tướng Nguyễn Khánh cầm quyền thì bác sĩ Hoàn đã có cơ hội về Việt Nam giữ chức vụ Phó Thủ Tướng. Nhưng sau đó việc tham chính cũng không được lâu dài, ông bà trở lại Hoa Kỳ và làm người dân lưu vong trước khi miền Nam thất thủ.
Sau cuộc phong ba đổi đời tháng 4 năm 1975, những người Việt di tản đến miền Bắc Cali đôi khi có dịp ghé tiệm ăn Mekong trên con đường chính của thành phố Mt.View sẽ gặp ông bà Nguyễn Tôn Hoàn. Đôi vợ chồng sinh viên ngày xưa vẫn còn hoạt động chính trị bền bỉ một lòng với đất nước. Bây giờ lại có thêm thành tích 19 năm làm ăn trong lãnh vực nhà hàng.
Những chính khách Việt Nam không có duyên số với đất nước như bác sĩ Hoàn bỏ nước ra đi tháng trước thì tháng sau lại đến lượt đại tướng Nguyễn Khánh ra đi. Ông phó thủ tướng Hoàn đi mở nhà hàng ở Mỹ thì ông quốc trưởng Khánh cũng đi mở nhà hàng bên Tây. Cho đến năm 1975, vị thủ tướng cuối cùng là ông Nguyễn Bá Cẩn đến Bắc Cali đã nhận job trông nom việc điều hành một cây xăng. Đôi khi cây xăng thiếu người thì chủ tịch hạ viện đồng thời là thủ tướng cũng sẵn sàng đứng giữa trời mà đổ xăng full serve cho thiên hạ.
Vào cái thời đó các cây xăng đều phải có người phục vụ. Lâu lâu bác sĩ phó thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn chạy đến đổ xăng của thủ tướng Nguyễn bá Cẩn để gọi là có thêm chút tình đồng hương. Ông Phó đi đổ xăng bên ông Chánh để rồi vào buổi chiều cuối năm, Anh chị thủ tướng đến ăn ở nhà hàng anh chị phó thủ tướng ở nơi đất khách quê người. Những nhà chính trị, những chính khách cao cấp và cao niên của một thời oanh liệt gặp lại nhau để ngồi nói chuyện Nam Kỳ. Cho đến mùa quốc hận oan nghiệt năm nay qua các đề tài Về nguồn và Thức tỉnh của luật sư Lâm Lễ Trinh, những người muôn năm cũ lại có dịp gặp nhau ở San Jose.
Xem ra, vị đại tướng quốc trưởng nổi danh một thời lại là người ít tuổi nhất. “Chàng”vào năm 2007 chỉ mới có 83 mùa xuân đã lái xe từ Sacramento xuống. Hỏi rằng thế ai ngồi bên cạnh, niên trưởng Nguyễn Khánh trả lời rằng trước sau thì vẫn có một bà vợ Bắc Kỳ từ thời còn là sĩ quan cấp úy ở Hà Nội. Bây giờ nàng vẫn là người quản giáo giữ cho chàng luôn luôn Thức tỉnh mà Về nguồn. Đó là tên các tác phẫm của tác giả Lâm Lễ Trinh, dù tung hoành ngang dọc với vai trò phóng viên của chính trường trong buổi hoàng hôn, niên kỷ cũng đã 84. Nhưng tất cả đều thua bà chị phu nhân của bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn vào năm 2007 đã 85.
Chiều thứ bẩy khi lên nói chuyện trong buổi ra mắt sách đầy hồi tưởng của lịch sử, Bác gái Nguyễn Tôn Hoàn như lửa đốt trong lòng. Tối thứ sáu đứa cháu gái xinh đẹp của bà ngoại đi cắm trại đã gặp tai nạn bị phỏng cấp ba cháy cả hai tay.
Bà ngoại vừa trông cháu nhỏ cho cả nhà túa vào nhà thương mà lại còn phải soạn bài nói chuyện. Ngồi giữa hội trường bàn chuyện lịch sử mà lòng bà ngoại vẫn còn xao xuyến vì đứa cháu gái bị tai nạn.
Từ bà ngoại Nguyễn Tôn Hoàn, cành hoa cẩm chướng 85 năm, người phụ nữ một đời làm cách mạng khi bước lên diễn đàn đã trở lại thành cô Phan Thị Bình của 65 năm trước tại Hà Nội. Cô sinh viên của nhà thương miền Bắc ngày xưa, tóc xanh xõa trên vai đứng hát bài ca kêu gọi tuổi trẻ lên đường.
Sáu mươi lăm năm sau, “nàng” lại một lần nữa lên tiếng kêu gọi tuổi trẻ ở quê nhà Việt Nam hãy đứng lên làm lịch s ử cho thế kỷ thứ 21.
Cái bục thuyết trình hội trường hơi cao. Cậu Nguyễn Khánh hào hoa phong nhã đứng lên lấy tay đỡ cho cô Phan thị Bình bước xuống. Hình ảnh như vẫn còn không khí Hà nội hơn 60 năm về trước.
Trong số các phụ nữ Việt Nam ở miền Bắc California ít ai trải qua cuộc đời cách mạng với sinh hoạt đảng phái lâu dài hơn bà Nguyễn Tôn Hoàn. Mười chín tuổi đã đi theo chàng và đi theo cách mạng. Suốt cuộc đời nổi trôi đất khách quê người, trải qua 19 năm lấy nhà hàng ẩm thực để làm sinh kế lo cho chồng, cho con và cho cháu. Bây giờ bà già 85 với chiếc gối kê ở chỗ ngồi, một cái gối dựa lưng vẫn còn lái xe van Hoa Kỳ to tướng để ngược xuôi từ Los Altos ở miền bắc xuống Los Angeles ở miền Nam thăm cháu và họp đảng. Bà già vẫn thường lái xe tỉnh queo.
Nhưng hôm nay thì tấm lòng cách mạng sắt đá xem chừng sao xuyến nhiều lắm rồi. Hai cánh tay đứa cháu gái bị phỏng nặng. Biết bao lần sẽ phải giải phẫu thay da. Ôi những đứa con gái, những đứa cháu gái cưng của bà. Gia đình Việt Nam ở nước Mỹ mà nói chuyện toàn bằng tiếng Tây. Con với cháu vẫn la rầy bà ngoại:
“A lô” Măng tưởng là măng còn trẻ lắm sao, Măng đi họp gì mà 2 giờ sáng chưa về “
Mùa lễ Mothers’ Day năm 2007 đứa cháu trưởng nữ của con gái bà nằm trong nhà thương. Ai sẽ mua tặng bà ngoại cành hoa carnation màu hồng thắm.
Một ngày của mẹ đầy hệ lụy đã làm nhỏ lệ cho cành hoa cẩm chướng 85 tuổi.
“Này sinh viên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi, đồng lòng cùng đi..” Sông núi hôm nay là sông núi nào… Ở bên kia chân trời con sông Cửu long Giang rồng thiêng chín khúc nay đã cạn giòng. Ở bên này bờ biển Thái bình Dương chúng ta chỉ còn rặng núi Rocky với con sông Sacramento mùa này cũng chẳng còn đủ nước cho vùng Bay. Sau mùa lễ của mẹ năm nay, bông hoa cẩm chướng 85 năm sẽ lại một mình lái xe van tất tả trên xa lộ số 5 xuống miền Nam thăm con cháu. Nếu có ai không biết mà hỏi thăm thì chỉ làm bà nhớ lại anh sinh viên y khoa năm thứ 6 rất đẹp trai tên là Nguyễn tôn Hoàn. Sau ngày của Mẹ là đến ngày của Cha. Hoa của Mẹ là hoa Cẩm Chướng, Carnation. Hoa của cha là hoa Hồng. Còn sống thì mầu đỏ mầu hồng, đã đi xa thì mầu trắng. Bà ngoại sẵn sàng đi xa vạn dặm để nhắc nhở con cháu về một bông hồng trắng cho người tình bây giờ đã đi thật là xa….
Hồng trắng đã ra đi, bây giờ Đóa hoa cẩm chướng cũng bay về trời
Giao Chỉ San Jose.
VĂN THƠ LẠC VIỆT – TRANG ĐẶC BIỆT Vĩnh Biệt Anh CHINH NGUYÊN.
LỜI CẢM ƠN TỪ CHỊ TRƯƠNG MỸ THANH – HIỀN THÊ ANH CHINH NGUYÊN
==
===
LÀ ANH CHINH NGUYÊN
Là anh_Lạc Việt của văn thơ
Hội trưởng năm dài đạt ước mơ
Bóng mát che chung thuyền tỵ nạn
Là anh_tâm huyết bỏ hằng giờ
*
Là anh_tuổi trẻ chọn con đường
Không phận bay mờ những tối sương
Dâng hiến đời trai cho lý tưởng
Chim bằng chiến hữu giữ quê hương
*
Là anh_văn hóa kết trao đời
Ngôn Việt lưu vong giữ sáng ngời
In sách tiếng Anh lời Việt dịch
Lưu truyền tuổi trẻ quyết không ngơi
*
Là anh_dốc lực hiến dâng mình
Hải ngại quê người đạt hiển vinh
Tiền bối từng thời luôn kính nể
Văn Thơ Lạc Việt sống bao tình
Là anh_như nắng đẹp mây hồng
Góp sức lo toan việc cộng đồng
Thi phú văn chương tràn suối chảy
Câu vần khỏa bút nhớ non sông
*
Là anh_buột gió những chiều vàng
Hạ trắng thu về dệt vẽ trang
Gối nguyệt thì thầm trao mộng ước
Thi cài bút vẫy mặc thời gian
*
Là anh luôn mãi tốt bao điều
Sức khỏe an lành hội mến yêu
Tửu phú Chinh Nguyên hồn nghệ sĩ
Bên Thanh-vợ tốt quý thương nhiều.
MTTN
25/01/2025
VĂN THƠ LẠC VIỆT TIỄN CHINH NGUYÊN
Thơ Phương Hoa
Chiều SAN JOSE mưa đổ Khóc một vì sao rơi Hoa Vàng Miền Thung Lũng Tiễn CHINH NGUYÊN nghẹn lời
* Từ quê hương chao đảo Biết bao điều nhiễu nhương Xứ người lòng anh vững Trái tim anh quật cường
* Tình yêu ngôn ngữ Mẹ
Văn Hoá của ông cha Hết lòng đem lan tỏa
Tiếng nước Nam ngọc ngà
* Nhiều thập niên anh giữ
LẠC VIỆT ngời VĂN THƠ Giai nhân cùng tài tử
Niềm vui rộn bến bờ…
* Năm châu và bốn bể
Anh kết nối tình thương Như vì sao sáng chói
khắp nơi nơi tỏ tường
* Đến thăm anh lần cuối
Tấm thân gầy mong manh Nghe lời cầu ĐỨC MẸ
Giọt lệ tràn mắt anh
* Từng một thời bảo vệ Tổ Quốc và Không gian CHINH NGUYÊN giờ vĩnh biệt Ôi đớn đau ngập tràn…
* Bài ca xin đưa tiễn Nốt nhạc buồn bâng khuâng Quyện hồi chuông Chúa đợi Rước anh đến Thiên Đường …
Phan Hà xin tiễn biệt anh Chinh Nguyên thân thương của VTLV
CHINH NGUYÊN LẠC VIỆT ĐÃ RA ĐI
Một trời tiếc nuối vì anh ấy
Sẽ bao phủ trôi toàn mây xám
Anh chị em ta cùng ngấn lệ
Tiễn đưa anh một đoạn đường ngắn
Để trọn tình anh với chúng em
Mai sau này đâu còn anh nữa
Cùng họa cùng ca Lạc Việt ta
Hoàng Sa kính bút
TIỄN ANH CHINH NGUYÊN
Đã biết trước nhân sinh là cõi tạm
Nhưng rất buồn nhận tin bạn ra đi
Phương trời xa còn biết nói năng chi
Xin ghi vội vài dòng thơ tưởng niệm
*
Bè dễ có, bạn tâm đầu khó kiếm
Nên đau lòng nghe tin dữ hôm nay
Khói không vương vào sao mắt lại cay
Ngó về phương đó chập chờn sương khói
*
Nén hương lòng thay cho lời muốn nói
Chinh Nguyên ơi! Thôi vĩnh biệt từ đây
Biết sẽ không lâu cũng có một ngày
Mình gặp lại nhau bên kia cõi sống
*
Bạn biết rồi trần gian là cõi mộng
Chúc bạn an vui bên Chúa nhân từ
YÊN SƠN
ĐỜI ĐÓNG LẠI … ́(LA BOUCLE EST BOUCLEE)
Đời đóng lại , lúc hồn ta lìa thế Chắc thoảng vui khi đậy nắp quan tài Vào chốn lạ, chẳng còn mầu dâu bể Và cõi lòng, giải tỏa tiếng bi ai …
Có phải chăng, phút giờ ta nhắm mắt Bỏ gian trần, bỏ ngàn nỗi truân chuyên Đời tục lụy, thoát từ, thôi vướng mắc Thản linh hồn, vĩnh cửu chốn thiên tiên…
Huu-Thien Paul Pham
*******
Lời Chia Buồn Của Nhà Văn Hồng Thủy –
Chủ Tịch Văn Bút ViệtNam Hải Ngoại Vùng ĐôngBắc Hoa Kỳ:
Được tin rất buồn:
Anh CHINH NGUYÊN đã vĩnh viễn ra đi. Xin chân thành chia buồn cùng chị THANH và toàn thể tangquyến. Xin CHÚA và MẸ MARIA đón anh về nước Thiên Đàng. Ở quá xa xôi không đưa tiễn anh được, xinchị THANH tha lỗi. Mình không bao giờ quên được sự đón tiếp nồng hậu của anh chị và các anh chị trong VTLV khi mình qua SAN JOSE.
Hồng Thủy (MARYLAND )
Lời Phân Ưu của văn thi sĩ Yên Sơn:
Nhận tin trễ – vì nhà có nhiều khách phương xa đến thăm Houston-Kingwood từ 19/3 đến hôm nay vừa tiễn vị khách cuối cùng – bạn Chinh Nguyên đã rời bỏ anh chị em chúng ta. Xin thành kính chia buồn cùng chị Thanh và gia đình tang quyến. Chúng tôi xin được cùng ACE chung lời cầu nguyện cho cầu linh hồn anh KQ nhà mình được đời đời an vui bên Chúa nhân từ; chúc Chị và tang quyến sớm vượt qua sự mất mát lớn lao trong đời.
Vô cùng thương tiếc Chinh Nguyên
Đã biết trước nhân sinh là cõi tạm
Nhưng rất buồn nhận tin bạn ra đi
Phương trời xa còn biết nói năng chi
Xin ghi vội vài dòng thơ tưởng niệm Bè dễ có, bạn tâm đầu khó kiếm
Nên đau lòng nghe tin dữ hôm nay
Khói không vương vào sao mắt lại cay
Ngó về phương đó chập chờn sương khói Nén hương lòng thay cho lời muốn nói
Chinh Nguyên ơi! Thôi vĩnh biệt từ đây
Biết sẽ không lâu cũng có một ngày
Mình gặp lại nhau bên kia cõi sống Bạn biết rồi trần gian là cõi mộng
Chúc bạn an vui bên Chúa nhân từ
Thân kính,
Yên Sơn & Ngọc Bích
Lời Chia Buồn Của Văn Thi Sĩ Phạm Phan Lang:
Phan Lang rất xót xa được tin anh Chinh Nguyên đã ra đi vĩnh viễn.
Xin thành kính chia buồn cùng chị Thanh & tang quyến và Thi Đàn VTLV.
Cầu nguyện cho linh hồn anh Chinh Nguyên sớm được hưởnh Nhan Thánh Chúa.
Mong chị Thanh cố nén đau buồn và giữ gìn sức khỏe để lo hậu sự cho anh.
Thành kính phân ưu,
Phạm Phan Lang
Lời Phân Ưu Của Nữ Dịch Giả Thái Lan:
Biết rằng ngày này sẽ đến, nhưng vẫn không khỏi nghẹn ngào… Anh Chinh Nguyên với sự giúp đỡ của chị Thanh đã cống hiến cho cộng đồng thật nhiều công sức của anh chị- Xin kính ơn anh chị-
Mong anh được đón nhận vào Nước Thiên Đàng, nơi không có đau khổ, chỉ có tình yêu và hạnh phúc vô tận. Xin Chúa ban cho chị Thanh và tang quyến sự kiên nhẫn, sức mạnh và niềm hy vọng để vượt qua thời gian đau buồn và mất mát này-
Thành kính phân ưu𝓽𝓷𝓵-thailan/phannữlan
Lời Chia Buồn Của văn thi Sĩ Thủy Lâm Synh:
Được tin nhà thơ Chinh Nguyên đã được về chầu Chúa ngày 8 tháng 4 năm 2025. Xa xôi lắm, chúng tôi không thể đích thân đưa tiễn. Đây nén hương lòng cung tiễn anh về với đấng vô cùng. Thành thật chia buồn cùng tang quyến – Đặc biệt bà quả phụ Chinh Nguyên và nhóm chủ trương Văn Thơ Lạc Việt.
Rất thương tiếc.
Thủy Lâm Synh
CHIẾN SĨ VÕ ĐẠI TÔN: SYDNEY 09.4.25 – CHÂN THÀNH CHIA BUỒN CÙNG TANG QUYẾN VÀ QUÝ THI-VĂN HỮU LẠC VIỆT.
Tin Buồn:
“Gia Đình”, cũng là Thi Đàn Văn Thơ Lạc Việt, xin báo tin buồn đến: Quý Niên Trưởng Cố Vấn, Quý Anh Chị Em Thành Viên, Quý Văn Thi Hữu, Quý Bạn Bè Thân Hữu bốn phương.
Sau thời gian dài, trên nửa năm, chống chọi với căn bịnh ung thư tuyến tụy, Vị Cựu Chủ Tịch thân yêu, đáng kính của chúng tôi là:
Nhà Thơ, Nhà Văn:
Giuse Chinh Nguyên
Vừa được Chúa gọi về:
Lúc 3 giờ sáng, ngày hôm nay! Thứ Ba, ngày 8 tháng 4 năm 2025
Tại bịnh viện Kaiser, San Jose, California, Hoa Kỳ.
Hưởng Thọ 82 Tuổi.
Đây là “Đại Tang” với VTLV, một vị Chủ Tịch nhiều khả năng, nhiệt huyết, tính tình hiền hòa, ai cũng thương, cũng mến. Trên 13 năm nắm giữ, điều động, trong mục đích “bảo tồn và phát huy Tiếng Việt” đã đưa Hội trở thành, một trong những Hội, năng động, hữu hiệu nhất, hoạt động trong mục đích này! nhất tại Miền Bắc Cali nói riêng và tại Hải Ngoại nói chung!
Sự ra đi của Ông, là một mất mát lớn với VTLV, không ai, không gì, có thể thay thế, bù đắp!
(Cáo Phó và chương trình Tang Lễ xin được thông báo sau.)
Quý Vị có thể gởi lời Chia Buồn đến Phu Nhân của Người Quá Cố là Chị Thanh (408) 348-0103
Vô Cùng Thương Tiếc, xin thông báo.
Tiễn Đưa Văn Thi sĩ CHINH NGUYÊN (Minh Thúy Thành Nội)
Vui lòng click vào hình để đọc
TIỄN BIỆT ANH
Tiễn biệt Chinh Nguyên luyến nhớ vương Rời xa chữ nghĩa bỏ lên đường Nỗi đau tiếc nuối người thân thuộc Xót dạ tâm tình Lạc Việt thương Xin Chúa ở trên ân sũng phước Để anh được đến cõi Thiên Phương Cuộc đời cống hiến bao công sức Gát bút an tâm thỏa mộng nhườn
Hoàng Mai Nhất 4/13/2025
Giới Thiệu Chút Hoạt Động,Cảm Nghĩ Về Cơ Sở “Văn Thơ Lạc Việt”
MINH THÚY
Vui lòng click vào hình để đọc
====
KÍNH GỬI đến gia đình anh Chinh Nguyên:
Anh Chinh Nguyên không mất đi mà do anh đã làm tròn nhiệm do Thiên Chúa vgiao phó cho anh ở Trần Gian. Anh Chinh Nguyện đã vác trọn con đường Thánh Giá của anh,và nay anh được Thiên Chúa gọi về và với tài nghệ của anh, tôi tin là anh sẽ được giao phó nhiệm vụ khác, có thể ở Trần Gian này, hay nới nào khác trong không trùng Vũ Trụ, anh ấy sẽ đem Hương Hoa Văn Thơ Lạc Việt trãi thêm Hương Hoa trong vùng Đất Mới.
Bảo Trâm
Tiễn Anh – Chinh Nguyên
Anh đi, nhẹ bước giữa trời,
Tháng Tư sao lại nghẹn lời chia ly!
Năm mươi năm dấu quốc kỳ,
Anh rời nhân thế, sớm quỳ bên Cha.
San Jose chiều gió nghiêng tà,
Văn chương thổn thức, lệ nhòa bài thơ.
Văn Thơ Lạc Việt ước mơ,
Giọng anh chan chứa, ấm bờ thi ca.
Anh đi, ngọn lửa chưa nhòa,
Chúng em giữ lấy, truyền qua hậu đời.
Trần gian cõi tạm đến chơi,
Tám mươi năm chẵn, sáng ngời tài hoa.
Nụ cười anh, dáng hiền hòa,
Thành viên thương mến, bạn già tiếc thương.
Chén trà, khúc hát nghê thường,
Còn vương kỷ niệm ngát hương chữ tình.
Anh về bên cõi yên bình,
Hưởng nhan Thánh Chúa lời kinh “Kính Mừng”
Văn Thơ lạc Việt chẳng ngừng,
Tiếp nối sự nghiệp tôn xưng Lạc Hồng.
Tiễn biệt anh “sắc tức không”
Thơ anh quyện giữa mênh mông ta bà!
Điếu Văn Tưởng Niệm Nhà Thơ Chinh Nguyên
Kính thưa quý vị,
Hôm nay, ngày 4 tháng 5 năm 2025, đúng 50 năm kể từ ngày Quốc Hận lại là ngày ly biệt phân kỳ. Văn Thơ Lạc Việt tụ hội nơi đây để tiễn biệt một người thân, một người bạn văn chương tri kỷ, một thi sĩ tài hoa, Nhà Thơ Chinh Nguyên, một người từng là chủ tịch của nhóm chúng ta đến 13 năm tại vị trưởng nhóm văn đàn, giờ đây anh lặng lẽ rời xa
cõi tạm vào ngày 8 tháng Tư năm 2025 tại San Jose, California.
Nhà Thơ Chinh Nguyên không chỉ là một nhà văn, truyền thông, quay film mà còn là một người gìn giữ và phát huy văn hóa Việt Nam nơi hải ngoại. Với ba nhiệm kỳ làm Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt, anh đã không ngừng nỗ lực kết nối những tâm hồn yêu văn chương, âm nhạc và nghệ thuật, tạo nên một cộng đồng gắn bó, đầy nhiệt huyết và sáng tạo.
Anh luôn hiện diện với nụ cười hiền hậu, ánh mắt ấm áp và tấm lòng rộng mở. Sự hòa nhã và chân thành của anh đã khiến mọi người xung quanh cảm thấy được an ủi và khích lệ. Anh là người bạn, người anh mà ai cũng quý mến, là ngọn lửa âm thầm thắp sáng niềm tin và hy vọng cho thế hệ tiếp nối.
Sự ra đi của anh để lại một khoảng trống lớn trong lòng Văn Thơ Lạc Việt. Nhưng chúng ta tin rằng, anh đã an lành trở về với Chúa, nơi không còn tranh chấp, thị phi, bởi ở đó chỉ có ánh sáng và tình yêu thương vĩnh cửu.
Anh Chinh Nguyên kính mến,
Anh an lòng về bên chân Chúa. Văn Thơ Lạc Việt, những thành viên cũ mới còn ở lại trần gian, xin hứa sẽ tiếp tục con đường anh đã bước, mãi giữ gìn và phát huy ngọn lửa
văn hóa mà anh đã thắp sáng để rồi giờ đây những thành viên còn lại sẽ truyền ngọn lửa ấy cho thế hệ mai sau, với niềm tin rằng, bằng văn hóa và nghệ thuật, chúng ta có thể mang lại niềm tin nhân bản và sự an bình cho dân tộc Việt Nam.
Vĩnh biệt anh – Nhà thơ Chinh Nguyên.
Nguyễn Hồng Dũng
ReplyForwardAdd reaction
Tưởng niệm 50 năm Saigon mất tên
Viết Về Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa – Mai Thanh Truyết
Tiếc Cho Một Người Lầm Lỡ Vừa Nằm Xuống
LTS. Bài này viết trong năm 2006, “về trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa, một thành viên của Mặt trận Giải phóng Miền Nam… để chúng ta cùng suy nghiệm, đặc biệt cho một số trí thức hải ngoại và quốc nội.” Bài này đăng lại nơi đây để cảnh báo về chiến dịch mới thực hiện nghị quyết 36 của CSBV.
Thân tặng tất cả những người Việt còn có tấm lòng yêu quê hương.
Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH) vừa nằm xuống ngày thứ bảy 25 – 2 – 2006 tại Sài Gòn, và cũng vừa được hỏa táng vào ngày thứ ba 28/2. Báo chí trong nước cho đến hôm nay, không hề loan tải tin tức trên. Đài BBC có phỏng vấn Ông Võ Nhơn Trí ở Pháp về tin nầy và phát đi ngày 28/2.
Sự im lặng của Việt Nam khiến cho người viết thấy có nhu cầu trang trãi và chia xẻ một số suy nghĩ về cái chết của BS DQH để từ đó rút ra thêm một kinh nghiệm sống về tính chất “chuyên chính vô sản” của những người cầm quyền tại Việt Nam hiện tại.
1- Ô. Bà DQH và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam
BS DQH là một người sống trong một gia đình theo Tây học, có uy tín và thế lực trong giới giàu có ở Sài Gòn từ thập niên 40. Cha là GS Dương Minh Thới và anh là LS Dương Trung Tín; gia đình sống trong một biệt thự tại đường Bà Huyện Thanh Quan xéo góc Bộ Y tế (VNCH) nằm trên đường Hồng Thập Tự. LS Tín đã bị ám sát tại Đà Lạt trong đó cái chết của ông cũng không được soi sáng, nhưng đa phần có nhiều nghi vấn là do lý do chính trị vì ông có khuynh hướng thân Pháp thời bấy giờ.
Về phần Bà Hoa, được đi du học tại Pháp vào cuối thập niên 40, đã đỗ bằng Bác sĩ Y khoa tại Paris và về lại Việt Nam vào khoảng 1957 (?). Bà có quan niệm cấp tiến và xã hội, do đó Bà đã gia nhập vào Đảng CS Pháp năm 1956 trước khi về nước.
Từ những suy nghĩ trên, Bà hoạt động trong lãnh vực y tế và lần lần được móc nối và gia nhập vào Đảng CSVN. Tháng 12/1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN dưới bí danh Thùy Dương, nhưng còn giữ bí mật cho đến khi Bà chạy vô “bưng” qua ngõ Ba Thu –Mõ Vẹt xuyên qua Đồng Chó Ngáp. Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, tin tức trên mới được loan tải qua đài phát thanh của Mặt Trận.
Khi vào trong bưng, Bà gặp GS Huỳnh Văn Nghị (HVN) và kết hôn với GS. Trở qua GS Huỳnh Văn Nghị, Ông cũng là một sinh viên du học tại Pháp, đỗ bằng Cao học (DES) Toán. Về VN năm 1957, ông dạy học tại trường Petrus Ký trong hai năm, sau đó qua làm ở Nha Ngân sách và Tài chánh. Ông cũng có tinh thần thân Cộng, chạy vô “bưng” năm 1968 và được kết nạp vào đảng sau đó.
Do “uy tín” chính trị quốc tế của Bà Hoa thời bấy giờ rất cao, Mặt Trận, một lá bài của CS Bắc Việt, muốn tận dụng uy tín nầy để tạo sự đồng thuận với chính phủ Pháp hầu gây rối về mặt ngoại giao cho VNCH và đồng minh Hoa Kỳ. Từ những lý do trên, Bà Hoa là một người rất được lòng Bắc Việt, cũng như Ông Chồng là GS HVN cũng được nâng đỡ theo.
Vào đầu thập niên 70, Ông được chuyển ra Bắc và được huấn luyện trong trường đảng. Tại đây, với một tinh thần thông thoáng dân tộc, cộng thêm nhiều lý luận toán học, Ông đã phân tích và chứng minh những lý thuyết giảng dạy ở trường đảng đều không có căn bản lý luận vững chắc và Ông tự quyết định rời bỏ không tiếp tục theo học trường nầy nữa.
Nhưng chính nhờ uy tín của Bà DQH trong thời gian nầy cho nên ông không bị trở ngại về an ninh. Cũng cần nên nói thêm là ông đã từng được đề cử vào chức vụ Bộ trưởng Kinh tế nhưng ông từ chối.
2- Ô.B DQH và Đảng Cộng sản Bắc Việt
Chỉ một thời gian ngắn sau khi CS Bắc Việt giải tán Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, Ô Bà lúc đó mới vỡ lẽ ra. Về phần Ô HVN, ông hoàn toàn không hợp tác với chế độ. Năm 1976, trong một buổi ăn tối với 5 người bạn thân thiết, có tinh thần “tiến bộ”, Ông đã công khai tuyên bố với các bạn như sau:”Các “toi” muốn trốn thì trốn đi trong lúc nầy. Đừng chần chờ mà đi không kịp. Nếu ở lại, đừng nghĩ rằng mình đã có công với “cách mạng” mà “góp ý” với đảng”. Ngay sau đó, một trong người bạn thân là Nguyễn Bá Nhẫn vượt biên và hiện cư ngụ tại Pháp. Còn 4 người còn lại là Lý Chánh Trung (giáo sư văn khoa Sài Gòn), Trần Quang Diệu (TTKý Viện Đại học Đà Lạt), Nguyễn Đình Long (Nha Hàng không Dân sự), và một người nữa người viết không nhớ tên không đi. Ông Trung và Long hiện còn ở Việt Nam, còn ông Diệu đang cư ngụ ở Canada.
Trở lại BS DQH, sau khi CS chiếm đóng miền Nam tháng 4/1975, Bà Hoa được “đặt để” vào chức vụ Tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các chính phủ. Vào tháng 7/75, Hà Nội chính thức giải thể chính phủ Lâm thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng Thứ trưởng và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Định… Chính trong thời gian nầy Bà lần lần thấy được bộ mặt thật của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á.
Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô Nguyễn Hữu Thọ:”Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả”. Đến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ Thứ trưởng. Dĩ nhiên là Đảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.
Mười năm sau đó, sau khi được “phép” nói, Bà nhận định rằng “Đảng CS Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải quyết nạn nghèo đói trong nước. Trong thời gian nầy Bà tuyên bố :” Trong hiện trạng của Đất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo tức là xuất cảng sức khỏe của người dân” Và Bà cũng là một trong những người đầu tiên lên tiếng báo động vào năm 1989 cho thế giới biết tệ trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9,10 tuổi cho các dịch vụ tình dục trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ quan chính phủ và quân đội điều hành.
Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi khoa. Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động được sự giúp đỡ của hai giới trên để thành lập Trung Tâm Nhi Khoa chuyên khám và chữa trị trẻ em không lấy tiền và Bà cũng được viện trợ thuốc men cho trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các lọai vitamin. Nhưng tiếc thay, số thuốc trên khi về Việt Nam đã không đến tay Bà mà tất cả được chuyển về Bắc. Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được “yêu cầu” phải xin lại viện trợ vì…nhân dân (của Đảng!).
Về tình trạng trẻ con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội nghị ngày 1/12/03 tại Hà Nội :” Hiện Việt Nam có 5,1 triệu người khuyết tật chiếm 6,3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648 gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Sài Gòn cho thấy có tới 24% trẻ em tàn tật dạng vận động, 92,3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh chiếm tới 72%.
Vào năm 1989, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳnh Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà.
Cũng trong cuốn sách vưà kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà không luyến tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại quốc ra khỏi đất nước Việt Nam.
Sau cùng, chúng tôi xin liệt kê ra đây hai trong những nhận định bất hủ của BS DQH là :”Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẻ thù tiềm ẩn”. Và khi nhận định về bức tường Bá Linh, Bà nói:” Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại”.
3- BS DQH và Vụ kiện Da Cam
Theo nhiều nguồn dư luận hải ngoại, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện Hoa Kỳ, và đối lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong tương lai.
Có lẽ vì “mật ước” Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn nhân chất Độc Da cam/Dioxin Việt Nam ngày 10/1/2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ Nội vụ ngày 17/12/2003. Đây là một Hội dưới danh nghĩa thiện nguyện nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát. Ban chấp hành tạm thời của Hội lúc ban đầu gồm:
– Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự;
– Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND làm Chủ tịch;
– GS,BS Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm Phó Chủ tịch;
– Ô Trần Văn Thụ làm Thư ký.
Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng:”Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hoá học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp”. Theo một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hoá học và là đại diện pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh sách nầy (Được biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà thôi.
Vào ngày 30/1/2004, Hội đã nộp đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, New York do luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Được biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Đại sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm 49 trang trong đó có 240 điều khoảng. Danh sách nguyên đơn liệt kê như sau:
– Hội Nạn nhân Chất Da cam/Dioxin Việt Nam;
– Bà Phan Thị Phi Phi, giáo sư Đại học Hà Nội;
– Ông Nguyễn Văn Quý, cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989);
– Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh Trung Sơn; và
– Những người cùng cảnh ngộ.
Đây là một vụ kiện tập thể (class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn. Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất chánh để (1) đòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong, và dị thai và (2) yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và (3) để hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản xuất thuốc khai quang.
Không có một bằng chứng nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief). Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường Y tế Công cộng Houston thuộc trường Đại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman của trường Đại học Columbia, New York.
Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng như quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại. Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải nghiên cứu cặn kẽ.
Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt thuốc khai quang nặng nề. Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi. (Cũng xin nói ở đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?).
Năm 1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi.
Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đầu bị chứng ngứa ngáy ngoài da. Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần lễ. Năm 1972, Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai. Năm 1985, BS Hoa đã được chẩn bịnh tiểu đường. Và sau cùng năm 1998 Bà bị ung thư vú và đã được giải phẫu. Năm 1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức).
Và sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là: Bà BS Hoa và con là nạn nhân của chất độc Da cam.
Qua những sự kiện trên chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn?
Để tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn những phát biểu của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại Paris trung tuần tháng 5/2004. Theo lời Bà (từ miệng Bà nói, lời của một người bạn tên VNT có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì “người ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli).
“Tên tôi đã được ghi vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không thông báo cho tôi biết. Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký giả người Úc thấy tên tôi trong vụ kiện yêu cầu được phỏng vấn tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam.”
Dĩ nhiên cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Úc không bao giờ xảy ra.
Bà còn thêm rằng:”Trong thời gian mà tất cả mọi người nhất là đảng CS bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin trong máu của tôi dưới mức trung bình (2ppt).”
Đến đây, chúng ta có thể hình dung được kết quả của vụ kiện.Và ngày 10 tháng 3 năm 2005, Ông chánh án Jack Weinstein đã tuyên bố hủy bỏ hoàn toàn vụ kiện tại tòa án Brooklyn, New York.
4- Bài học được rút ra từ cái chết của BS DQH
Từ những tin tức về đời sống qua nhiều giai đoạn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, hôm nay Bà đã đi trọn quãng đường của cuộc đời Bà. Những bước đầu đời của Bà bắt đầu với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, lý tưởng phục vụ cho tổ quốc trong sáng. Nhưng chính vì sự trong sáng đó Bà đã không phân biệt và bị mê hoặc bởi những lý thuyết không tưởng của hệ thống cộng sản thế giới. Do đó Bà đã bị lôi cuốn vào cơn gió lốc của cuộc chiến VN. Và Bà đã đứng về phía người Cộng sản.
Khi đã nhận diện được chân tướng của họ, Bà bị vỡ mộng và có phản ứng ngược lại. Nhưng vì thế cô, Bà không thể nào đi ngược lại hay “cải sửa” chế độ. Rất may cho Bà là Bà chưa bị chế độ nghiền nát. Không phải vì họ sợ hay thương tình một người đã từng đóng góp cho chế độ (trong xã hội CS, loại tình cảm tiểu tư sản như thế không thể nào hiện hữu được), nhưng chính vì họ nghĩ còn có thể lợi dụng được Bà trong những mặc cả kinh tế – chính trị giữa các đối cực như Pháp và Hoa Kỳ, trong đó họ chiếm vị thế ngư ông đắc lợi. Vì vậy, họ không triệt tiêu Bà.
Hôm nay, chúng ta có thể tiếc cho Bà, một người Việt Nam có tấm lòng yêu nước nhưng không đặt đúng chỗ và đúng thời điểm; do đó, khi đã phản tỉnh lại bị chế độ đối xử tệ bạc. Tuy nhiên, với một cái chết trong im lặng, không kèn không trống, không một thông tin trên truyền thông về một người đã từng có công đóng góp một phần cho sự thành tựu của chế độ như Bà đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, suy nghĩ về tính vô cảm của người cộng sản, cũng như suy nghĩ về tính chuyên chính vô sản của hệ thống xã hội chủ nghĩa.
Đối với chế độ hiện hành, sẽ không bao giờ có được sự đối thoại bình đẳng, trong đó tinh thần tôn trọng dân chủ dứt khoát không hề hiện hữu như các sinh hoạt chính trị của những quốc gia tôn trọng nhân quyền trên thế giới. Vì vậy, với cơ chế trên, hệ thống XHCN sẽ không bao giờ biết lắng nghe những tiếng nói “đóng góp” đích thực cho công cuộc xây dựng Đất và Nước cả.
Bài học DQH là một bài học lớn cho những ai còn hy vọng rằng cơ hội ngày hôm nay đã đến cho những người còn tâm huyết ở hải ngoại ngõ hầu mang hết khả năng và kỹ năng về xây dựng quê hương. Hãy hình dung một đóng góp nhỏ nhặt như việc cung cấp những thông tin về nguồn nước ở các sông ngòi ở Việt Nam đã bị kết án là vi phạm “bí mật quốc gia” theo Quyết định của Thủ tướng Việt Nam số 212/203/QĐ-TTg ký ngày 21/10/2003. Như vậy, dù là “cùng là máu đỏ Việt Nam” nhưng phải là máu đã “cưu mang” một chủ thuyết ngoại lai mới có thể được xem là chính danh để xây dựng quê hương Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Chúng ta, những người Việt trong và ngòai nước, còn nặng lòng với đất nước, tưởng cũng cần suy gẫm trường hợp Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa ngõ hầu phục vụ tổ quốc và dân tộc trong sự thức tỉnh, đừng để bị mê hoặc bởi chủ thuyết của cường quyền.
Tổ quốc là đất nước chung.
Dân tộc là tất cả thành tố cần phải được bảo vệ và
thừa hưởng phúc họa bình đẳng với nhau.
Rất tiếc điều này không xảy ra cho Việt Nam hiện tại.
Ghi chú: Ngày 3/3/2006, trên báo SGGP, GS Trần Cửu Kiếm, nguyên ủy viên Ban Quân y miền Nam, một người bạn chiến đầu của Bà trong MTDTGPMN, có viết một bài ngắn để kỷ niệm về BS DQH. Chỉ một bài duy nhứt từ đó đến nay.
Mong tất cả trí thức Việt Nam đặc biệt là trí thức miền Nam học và thấm thía bài học nầy qua trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa.
Phóng viên Phạm Khanh phỏng vấn Kiều Mỹ Duyên nhân ngày kỷ niệm Thư Viện Việt Nam 26 năm thành lập, tại 10872 Westminster Ave, Suite 214- 215 Garden Grove, CA 92843. (Ảnh: Christina Lê)
Bác sĩ Võ Đình Hữu và giáo sư Dương Văn Sum (Ảnh: Christina Lê)
Ông Du Miên đang ký tặng sách “Little Saigon Chronicles”. (Ảnh: Christina Lê)
Ký giả Du Miên, cô Thái Việt Phan- Nghị Viên thành phố Santa Ana, bác sĩ Võ Đình Hữu và nhà văn Phạm Gia Đại. (Hình từ trái sang phải) (Ảnh: Christina Lê)
Đông đảo đồng hương đến tham dự buổi lễ kỷ niệm thư viện Việt Nam 26 năm thành lập. (Ảnh: James Zoll)
Đông đảo đồng hương đến tham dự buổi lễ kỷ niệm thư viện Việt Nam 26 năm thành lập. (Ảnh: Christina Lê)
Cô Khánh Lan (ngồi hàng đầu bên phải) (Ảnh: Christina Lê)
Cô Mỹ Linh, xướng ngôn viên đài truyền hình VNA TV 57.3 (Ảnh: Christina Lê)
Nghị Viên thành phố Westminster- ông Mark Nguyễn, Thị Trưởng thành phố Westminster- ông Nguyễn Mạnh Chí và ông Vũ Hải (Hình từ trái sang). (Ảnh: Kiều Mỹ Duyên)
Nhà báo Du Miên đang kể lại quá trình hình thành và phát triển của Thư Viện Việt Nam trong 26 năm qua. (Hình: Kiều Mỹ Duyên)
Chúa Nhật, ngày 30/3/2025, thư viện Việt Nam kỷ niệm 26 năm thành lập, được tổ chức lúc 11 giờ sáng nhưng từ 10 giờ đồng hương đã đến sắp hàng để được nhà báo Du Miên- ký tặng sách. Sách viết về Little Saigon bằng tiếng Anh, sách tiếng Việt đã phát hành rồi. Ấn bản tiếng Anh “Little Saigon Chronicles” của tác giả Ngọc Hà và Du Miên giúp những người trẻ sinh ra và lớn lên ở Mỹ hay ở các quốc gia nói tiếng Anh như Úc, Canada, Tân Tây Lan, v.v., có thể đọc hiểu được về lịch sử hình thành Little Saigon. Năm 1975, Việt Cộng chiếm Sài Gòn, xóa tên Sài Gòn, chúng ta đã dựng lại được Little Saigon ở hải ngoại, quyển sách giới thiệu lịch sử Little Saigon với nhiều hình ảnh giá trị từ 1975 đến 2024. Đông đảo đồng bào tham dự gồm thế hệ thứ nhất, người trẻ thế hệ thứ hai, và thứ ba, …
Thư viện Việt Nam được thành lập vào tháng 9/1990 do nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, bác sĩ Võ Trọng Di, giáo sư Trần Lam Giang, nhà văn Nguyễn Đức Lập và nhà báo Du Miên. Đồng hương không quên những người có tâm huyết trong ban chấp hành thư viện Việt Nam đã qua đời như nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, nhà văn Nguyễn Đức Lập, giáo sư Trần Lam Giang. Hiện nay, chỉ còn hai người trong ban chấp hành còn hiện hữu là nhà báo Du Miên và bác sĩ Võ Trọng Di.
Nhiều đồng hương khắp nơi đem sách, báo, cổ vật đến tặng thư viện với hơn 60 ngàn cuốn sách, một số cổ vật rất quý hiếm như đồng tiền cổ cách nay 600 năm, bộ 5 bức tranh của một cựu chiến binh Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam làm bằng bột giấy diễn tả phong cảnh quê hương Việt Nam, bộ tiền Việt Nam thời các Vua triều Nguyễn và thời Việt Nam Cộng Hòa, tem thư Việt Nam Cộng Hòa và nhiều cổ vật quý hiếm khác.
Thư viện vẫn sinh hoạt đều đặn: ra mắt sách, họp hội, văn nghệ, thuyết trình vào cuối tuần. Ngày thường, thư viện vẫn mở cửa cho đồng hương đến đọc sách, báo, v.v.
Đồng hương rất quan tâm đến văn hóa Việt Nam, nên ngày kỷ niệm 26 năm thành lập thư viện, quan khách và đồng hương đến rất đông như: giáo sư Dương Văn Sum, ông Nguyễn Văn Liêm, nhân sĩ Phan Kỳ Nhơn, bác sĩ Võ Đình Hữu, Dân Biểu Liên Bang- ông Derek Trần, Thị Trưởng thành phố Westminster- ông Nguyễn Mạnh Chí, ông Mark Nguyễn- Nghị Viên thành phố Westminster, ông Nguyễn Đức Luận- Chủ Tịch Hội Ái Hữu cựu sinh viên chiến tranh chính trị Đà Lạt, ông Nguyễn Văn Chuyên, ông Phạm Đình San, cô Cindy Trần- Nghị Viên thành phố Garden Grove, cô Thái Việt Phan- Nghị Viên thành phố Santa Ana, nhà văn Phạm Gia Đại, ông Bổng và cô Khánh Lan- ca sĩ tài tử nổi tiếng làm việc xã hội. Có những em nhỏ thế hệ thứ 3 tham dự kỷ niệm 26 năm thành lập thư viện Việt Nam như cháu Nhật Anh Bùi học lớp 3 trường Demille, cháu nói tiếng Việt thông thạo, lễ phép, cháu nâng niu quyển sách trên tay, cháu rất thông minh, dễ thương.
Phóng viên đài truyền hình như rừng, gồm có ông Lê Hoan- chủ đài truyền hình 57.3, và cô Mỹ Linh, Phan Đại Nam và Trần Vũ đài SBTN, Jimmy đài Little Saigon CaliTivi, đạo diễn Nguyễn Ngọc Chuấn cũng là tài tử trong phim “Vì tôi là linh mục”. v.v.
Buổi lễ kỷ niệm 26 năm thành lập thư viện Việt Nam rất thành công vì đồng hương đến rất đông đảo và ai ra về cũng cầm trên tay quyển sách. Đồng hương nào cũng chúc thư viện sẽ phát triển mạnh mẽ để cho người già, người trẻ có sách để đọc.
Người Việt còn, tiếng Việt còn, hy vọng khắp nơi trên thế giới, nơi nào có người Việt, nơi đó có thư viện Việt Nam. Thư viện là nơi mà độc giả muốn sách nào sẽ có sách đó, sách có từ ngàn năm trước vẫn có lưu trữ ở thư viện, truyện Kiều của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên, Chinh Phụ Ngâm, Chinh Chiến Điêu Linh, v.v., vẫn có trong thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ.
Thư viện là nơi để mọi người đến đọc sách. Ngoài giờ làm việc, thư viện là nơi để mở mang trí tuệ, người thích đọc sách thường tìm đến thư viện, thư viện là nơi thanh bình nhất. Muốn tìm hiểu lịch sử, muốn đọc sách của tác giả nào cũng có. Hy vọng người tị nạn Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới quan tâm đến tiếng Việt, đến văn hóa Việt Nam, mở thư viện, duy trì thư viện Việt Nam để cho con cháu đời sau.
Quý đồng hương muốn mua sách, xin liên lạc nhà báo Du Miên (714) 657-5500 hoặc đến Thư Viện Việt Nam, địa chỉ 10872 Westminster Ave, Suite 214-215, Garden Grove, CA 92843.
Orange County, 31/3/2025
KIỀU MỸ DUYÊN
(kieumyduyen1@yahoo.com)
Tưởng Niệm Tháng Tư Đen – 50 Năm Ly Hương
**
**
ĐAU ĐỚN QUÁ: VIỆT NAM CỘNG HÒA THUA DO
SỰ PHẢN BỘI CỦA KISSINGER!!!
**
**
THƠ VÀ NHẠC THÁNG TƯ 1975 – PHẠM PHAN
LANG
Thưa quý vị và các bạn,
Trong niềm thao thức sau 50 năm xa xứ, Phan Lang đã viết bài thơ Tháng Tư Trong Tôi vào ngày đầu tháng Tư năm 2025. Từ những vần thơ mộc mạc ấy, nhạc sĩ Vĩnh Điện đã phổ thành một ca khúc mang âm hưởng hoài niệm thiết tha, được thể hiện thật sâu lắng và truyền cảm qua giọng hát của ca sĩ Tuấn Giang.
Tháng Tư Trong Tôi, thơ PhamPhanLang, Nhạc Vĩnh Điện, Ca sĩ Tuấn Giang
**
**
THÁNG TƯ TRONG TÔI
Bốn bể trôi thân lạc Tháng Tư đen u hoài Quê hương thành mây khói Một thời nét tranh phai
Gót lưu vong lạnh giá Trời tự do chưa xanh Mắt khô cùng năm tháng Tim rướm máu không lành
Nghe quê nghèo nức nở Ngục tù thay mái tranh Tre già rơi tiếng nấc Lúa non rụng đầu cành
Thuyền nhân trôi sóng dữ Xác tan theo mộng lành Chim bay không thấy tổ Chỉ còn gió mong manh
Con lớn khôn đất lạ Cháu quên tiếng mẹ hiền Ta gom lời thầm lặng Dệt giấc mộng đoàn viên
Năm mươi năm biệt xứ Tóc pha sương mịt mù Tim còn nghe thổn thức Nhớ một thời hoang thu
Mái tranh xưa rêu phủ Giếng làng còn đợi ai? Khóm cau già lặng lẽ Ngóng bóng người lạc loài
Mơ một ngày đất mẹ Tan khói lửa, yên lành Ta trở về thăm lại Lối nhỏ phủ cỏ xanh
Dẫu chân run, lưng mỏi Dẫu trán hằn gió sương Lòng vẫn mang quê cũ Như thuở còn sân trường
Cầu quê hương thanh bình Hận thù chóng đi qua Cho cháu con ca hát Giữa mảnh trời ông cha
1/4/2025
phamphanlang
Xin được gửi lời tri ân sâu sắc đến nhạc sĩ Vĩnh Điện và ca sĩ Tuấn Giang – những người đã thổi hồn vào bài thơ mộc mạc này bằng những giai điệu và giọng ca tuyệt vời, giúp nó thăng hoa và chạm tới trái tim người nghe.
Trong ngày Quốc Hận đánh dấu 50 năm mất nước, xin kính mời quý chị em ùng lắng nghe và thắp lên một niềm hy vọng – rằng sẽ có một ngày quê hương thanh bình, để những người con ly hương có thể quay về, dẫu chỉ để cúi đầu trước mảnh đất mẹ bằng đôi chân đã nhuốm bụi thời gian.
PL xin chân thành cảm ơn và kính chúc sức khỏe, bình an.
Thân kính, Phạm Phan Lang
**
**
**
**
**
TRÁI TIM THÁNG TƯ –CAO MỴ NHÂN
Mới nghĩ tới thôi, cái Trái Tim Tháng Tư nó bỗng nở to chi lạ, có lẽ bất cứ với ai bị đảo lộn sinh hoạt của tháng tư, bị nhào lộn thói quen bởi tháng tư, và bị mất mát, bị tước đoạt, thân bại danh liệt cũng qua danh nghĩa tháng tư bất hạnh, mà 42 năm nay, người dân miền Nam gọi là Tháng tư Đen.
Mình quên bẵng cái Tháng Tư Đen này, trái tim mình bị bất ổn như thế nào?
Ngay từ đầu tháng, đã phải tới văn phòng Bác sĩ Vĩnh Khiêm và bác sĩ Tuyết Mai khám định kỳ 3 tháng/ 1 lần trái Tim và cặp Mắt.
Vào một sáng thứ 7, ngó chỗ nào cũng thấy chiến sĩ VNCH lưu vong, phong cách cũ, nhưng nhân dáng đã đổi thay ít nhiều…
Quý vị huynh đệ chi binh nêu trên, có 2 bửu bối quý giá, thì hết cả 2 đang trong thời kỳ hư hao, lão hoá.
Bác sĩ Khiêm sẽ theo dõi nhịp tim cho quý vị, bên cạnh đó, Bác sĩ Mai coi thử ánh mắt quý vị còn linh hoạt, hay đã mờ mờ.
Lẽ thường quý vị niên trưởng đang ở niên tuế 80-90, hơn một chút, hay kém một chút, đơn thân tới khám bịnh hay kèm theo phu nhân, cũng một thời xuân sắc. Cũng không ngoại lệ, tôi đã quen thuộc nơi này từ cả chục năm nay.Trái tim tôi được cân đo là “lớn vừa”, nhưng nếu coi thường … “quả thịt đỏ” ấy, nó sẽ chín hơn và rụng xuống bất cứ lúc nào không hay.
Mặt khác, nó, trái tim, được đong đếm chính xác, là nó có thể đập mau hơn, nhẩy tưng lên bất loạn, trật nhịp, lỡ nhịp, hay sai nhịp một cách… khủng khiếp.
Nếu anh không níu nó lại, giữ cho thăng bằng, thì khó mà an toàn trong cuộc sống thường tình thôi, đừng nói sôi nổi, nhiệt thành làm gì cho uổng đời hoa gấm.
Anh dư biết điều đó, song cho là chẳng có gì quan trọng. Bởi điều gọi là quan trọng đã phá sản từ 42 năm nay, bây giờ tìm một dấu lửa binh trong quá khứ, như tìm con ốc vỡ dưới lớp cát thiên thu.
Sáng nay, anh khuyên mình là đừng chăm chú cái định kiến sợ hãi mình sai, vì chưa chắc những người phê phán mình đã đúng.
Mọi sự việc phải được hiểu thật rõ ràng, trong cuộc chiến ngày xưa, hay giữa cuộc tình hôm nay, đừng để trái tim phải “bức xúc” vì sao đó.
Tại sao không nói trái tim xúc động, mà “bức xúc” chớ.
Ôi, nếu chỉ làm công tác chiến tranh chính trị, thì với đám đông kia, quen nghe tiếng “bức xúc”, ta phải xài “bức xúc” để đi nhanh vào tập thể đó, còn nếu viết lách văn hoa, thì cuốn tự điển dày cộm của anh, rất có ích cho ta tìm kiếm.
Mà thôi, hãy để cho trái tim “yêu”, đừng “bức xúc” những chuyện không đáng, hay không cần thiết.
Ô, anh cũng đánh giá đúng công việc của trái tim à?
Mình tưởng chỉ có mình đắm chìm vào cõi mê si, khổ luỵ, bắt trái tim thổn thức khá nhiều, khiến nó, trái tim, đập tăng tốc, đập quá tải…khiến bây giờ mỗi 3 tháng phải đi tới phòng mạch Bác sĩ, khám lại một lần.
Anh sợ mình không hiểu ” thiện chí ” của anh, nên anh nêu ra một loạt từ ngữ mà bây giờ trong nước thích dùng, không phải chữ nghĩa chuẩn của cái gọi là giai cấp “công nông “thống trị, mà chính ở thực thể dân chúng tự phát ngôn ngữ xem như mới lạ với họ.
Nay muốn họ” theo ta”, ta phải chuyển hoá họ.
Quý vị truyền giáo ngày xưa, đi tới đâu phải hiểu tiếng nói nước đó, nên ta không lạ, là quý vị truyền giáo tới Ấn Độ thì học tiếng Ấn Độ, tới Trung Hoa thì học tiếng Trung Hoa vv… sơ đẳng nhất là ở nước ta ngày xưa, quý vị học chữ nôm, khai sáng chữ Quốc ngữ vv…, nhưng vẫn tìm hiểu tiếng Thượng, để truyền giáo thẳng cho đồng bào Thượng.
Tôi chạnh nhớ hồi chúng tôi học “Cán sự Xã hội”ở Trung Tâm Caritas của các soeurs dòng Nữ tử Bác Ái, chúng tôi được lên tĩnh tâm ở Trung Tâm Công giáo Tiến hành Đalat do Linh mục Nguyễn Văn Nhân , gốc Canada, chính danh ngài là Gerard Gagnon, tổ chức và điều hành.
Cha Gerard Gagnon bảo rằng: cha thấy người VN đa số họ Nguyễn, nên cha xin là người họ Nguyễn, phái Nam nên tên lót chữ Văn, còn chữ Nhân thì đúng với nhiệm vụ truyền đạo của cha, phải có lòng nhân từ, nhân ái, nhân đạo vv…
Cha Gerard Gagnon viết một quyển sách tiếng Việt ngợi ca tinh thần nhân ái, hiếu hoà của đa số người Việt, tác phẩm tên Hồn Việt, tác giả ghi Nguyễn Văn Nhân (Gerard Gagnon) .
Do đó, trở lại chuyện anh khuyên mình không nên đặt nặng vấn đề về những linh tinh, khi phải viết một bài văn có những ý kiến khác với điều… mình lỡ viết theo thói quen, giống với mọi người.
Hãy để trái tim “yêu” thôi, mệt quá rồi, nếu yêu đến phải vong mạng, thì phản lại chân lý sống của một thành viên trong hội yêu đời như tôi đấy.
Nên, tôi phải chăm sóc trái tim, nhất là mùa tháng tư đen, mà vô hình chung những ai bị tan hoang cuộc sống sau cuộc đổi đời bi thảm 30-4-1975, đều bị ôm một trái tim xúc cảm trầm kha, và ánh mắt tối mờ bởi cuộc sống tan hoang đó..,
CAO MỴ NHÂN
THƠ THÁNG TƯ – CAO MỴ NHÂN
DẶM VỀ THÁNG TƯ . CAO MỴ NHÂN
Gởi em trọn vẹn nỗi lòng
Từ khi giã biệt phương đông, tới đoài
Từ khi tiếng quốc u hoài
Nghe trong thân phận lạc loài, xót xa
*
Năm châu thiên hạ bao la
Lòng thêm buồn tủi sơn hà hờn căm
Này đây gió thổi mê lầm
Lệ đang thả giọt âm thầm hoang liêu
*
Dặm về khói sớm , sương chiều
Hồn nghe phiền muộn những điều trái ngang
Tháng tư phai sắc hoa vàng
Đốt trầm lên, lạy dở đang mộ người
*
Tháng tư hiu hắt bên trời
Níu chân bước lẻ trọn đời tiếc thương
Nén nhang thắp đã tàn hương
Biển dâu hay cả đại dương nghẹn ngào…
Utah 12 – 4 – 2025 CAO MỴ NHÂN
===
XÉ LỊCH THÁNG TƯ ( 1 ). CAO MỴ NHÂN
Này là ngày tháng cô đơn
Tháng tư cùng với nỗi buồn phục sinh
Xưa anh thắp lửa biên đình
Đốt tan hoang những u tình chiến tranh
*
Núi mùa xuân thắm rừng xanh
Mầu chinh yên vẫn nhuộm thành quách tươi
Mai vàng bát ngát nắng phơi
Ngắt bông ” bạch tuyết ” tuyệt vời tặng em
*
Bỗng bầy dã thú cuồng điên
Từ phương bắc đến bôi đen sử vàng
Tháng tư lịch rớt ngàn trang
Còn trong anh nỗi uất tràn phút giây
*
Bom rơi, đạn nổ đó đây
Tháng tư tử hận từ ngày ba mươi
Bốn mươi chín năm xa khơi
Ngó về cố tổ, lệ rơi vạn trùng …
CAO MỴ NHÂN
11 – 4 -2025
===
XÉ LỊCH THÁNG TƯ ( 2 ) . CAO MỴ NHÂN
Xé bao nhiêu lịch tháng tư
Vẫn không lấp được hận thù cộng nô
Bên tai đạn nổ, quân hô
Dân xô đẩy kiếm đường vô lánh thù
*
Chiến hào khói lửa mịt mù
Tiếng chuông báo tử, lao tù khắp nơi
Người đi sóng nổi trùng khơi
Người về phiền muộn tả tơi tháng ngày
*
Sớm chiều ngó xuống đôi tay
Thấy không kéo nổi trời mây tận tình
Quen nhìn trận địa đao binh
Còn nghe âm hưởng tiến trình hoang liêu
*
Hỡi ôi, thương nhớ tan theo
Nửa trăm năm đợi nhạc thiều quân ca
Bốn phương quang phục Quốc Gia
Từ nam ra bắc nước nhà Tự Do …
Utah 8 – 4 – 2025
CAO MỴ NHÂN
===
MẠC PHƯƠNG ĐÌNH: buổi văn nghệ Tưởng Niệm 50 năm Tháng Tư Đen của Công Đồng người Việt tại San José
Khi bước chân đời người Việt chạm vào con số 2025, những người lớn tuổi đều giật mình “mới đó mà đã là nửa thế kỷ rồi”!, Cái dấu mốc 50 năm của Tháng Tư Đen, Tháng Tư mất nước, Tháng Tư đầu hàng, Tháng Tư giải phóng, Tháng Tư của những kẻ man rợ chiến thắng kẻ văn minh…,xoáy vào mỗi trái tim đau đớnViệt Nam nơi viễn xứ,..và như không hẹn mà công đồng tị nạn khắp nơi trên thế giới đều tập họp lại, tổ chức những buổi Tưởng Niệm, nhớ về những mất mát, đau thương của hàng trăm ngàn đồng bào đã phải bỏ xác bỏ thây trong rừng sâu, trên biển cả và hàng triệu đồng bào trong nước phải sống trống trong khốn khó nghèo hèn dưới chế độ công sản”hèn với giặc, ác với dân”..Trong tinh thần đó, buổi văn nghệ Tưởng Niệm 50 năm Tháng Tư Đen của Công Đồng người Việt tại San José bắc California đã do ông Lê Văn Hải, Hội Trưởng Văn Thơ Lạc Việt đứng ra tổ chưc, với sư cộng tác của Doàn Du Ca Bắc Cali, cùng Ban Văn nghệ Saigon nhớ, với sư bảo trợ của bà Better Dương Giám Sát viên Quận Hạt…, đã được khai diển tại Phòng Hội của Quận Hạt, 70 W, Hedding, Santa Clara vào hồi 3PM ngày hôm qua, Chúa Nhật 13 tháng 4-2025, Buổi Văn nghê được đông đảo đồng hương tham dự cùng với sự hiện diện của Giám Sát Viên Betty Dương và Nghị viên Khu vực 7 Biên Đoàn..Sau đây là một vài hình ảnh chúng tôi đã ghi lại, xin được chia xẻ đén Quý Vị cùng Các Bạn Xa gần.
MPĐ
https://www.youtube.com/watch?v=O5_SHYVv6YI
ĐÔI LỜI TỪ TÁC GIẢ PHẠM PHAN LANG
Tháng Tư lại về, mang theo từng đợt sóng ký ức cuồn cuộn dội về. Năm nay đánh dấu 50 năm ngày đau thương lịch sử – ngày chúng ta mất nước, mất quê, mất cả một thời tuổi trẻ hoa mộng… để rồi lưu lạc bốn phương trời.
Đã từ rất lâu, PL không còn làm thơ. Nhưng càng gần đến ngày Quốc Hận, lòng lại càng trĩu nặng, tim quặn đau khi nghĩ đến một quê hương vẫn còn chìm trong mù mịt, không ánh sáng của tự do. Trong nỗi buồn tái tê ấy, PL đã viết bài thơ “Tháng Tư Trong Tôi”, như một tiếng lòng hoài niệm và thương tiếc.
Xin kính mời quý vị cùng đọc, cùng cảm, và cùng thắp lên niềm hy vọng cho một ngày quê hương thanh bình để những người con xa xứ có thể tìm về, cho dẫu chỉ để cúi chào mảnh đất mẹ bằng đôi chân run rẩy.
PL chân thành cảm ơn và kính chúc sức khỏe, an yên.
Kính quý, PLang
THÁNG TƯ TRONG TÔI
Bốn bể trôi thân lạc Tháng Tư đen u hoài Quê hương thành mây khói Một thời nét tranh phai
Gót lưu vong lạnh giá Trời tự do chưa xanh Mắt khô cùng năm tháng Tim rướm máu không lành
Nghe quê nghèo nức nở Ngục tù thay mái tranh Tre già rơi tiếng nấc Lúa non rụng đầu cành
Thuyền nhân trôi sóng dữ Xác tan theo mộng lành Chim bay không thấy tổ Chỉ còn gió mong manh
Con lớn khôn đất lạ Cháu quên tiếng mẹ hiền Ta gom lời thầm lặng Dệt giấc mộng đoàn viên
Năm mươi năm biệt xứ Tóc pha sương mịt mù Tim còn nghe thổn thức Nhớ một thời hoang thu
Mái tranh xưa rêu phủ Giếng làng còn đợi ai? Khóm cau già lặng lẽ Ngong bóng người lạc loài
Mơ một ngày đất mẹ Tan khói lửa, yên lành Ta trở về thăm lại Lối nhỏ phủ cỏ xanh
Dẫu chân run, lưng mỏi Dẫu trán hằn gió sương Lòng vẫn mang quê cũ Như thuở còn sân trường
Cầu quê hương thanh bình Hận thù chóng đi qua Cho cháu con ca hát Giữa mảnh trời ông cha
phamphanlang
1/4/2025
Chuyển ngữ
April returns once more, bringing with it wave after wave of surging memories. This year marks the 50th anniversary of a historic sorrow – the day we lost our homeland, our country, and the youthful dreams we once cherished… leaving us scattered across the world.
It has been a long time since I last wrote poetry. But as the National Day of Mourning draws near, my heart grows heavier, and a deep ache stirs within me when I think of a homeland still shrouded in darkness, devoid of the light of freedom. In that aching sorrow, I penned the poem “April Within Me” – a voice from the heart, filled with remembrance and mourning.
Please read, feel, and together let us kindle hope – lhope for a peaceful homeland, where one day, we – its faraway children – may return, if only to bow with trembling steps upon the sacred earth of our motherland
With heartfelt thanks and wishes for your health and peace, Respectfully, Pham Phan Lang
APRIL WITHIN ME
Across four seas, I drift, alone— Dark April casts its mournful tone. My homeland fades in smoke and haze, A portrait lost in youthful days.
Exile’s path, so cold and bare, Freedom’s sky still veiled with care. Eyes gone dry through endless years, A heart still bleeds its silent tears.
I hear the cries from poor, scorched lands, Where prisons rise on thatched-roof strands. Old bamboo sighs with breaking groan, Young rice falls from its tender throne.
Boat people lost in storm-swept flight, Dreams shattered in the endless night. No nest awaits the wing-worn bird, Just trembling winds and voices blurred.
Our children grow on foreign shores, Grandkids forget our native lore. We gather silent words once more, To weave the dream we’re longing for.
Fifty years in exile’s hold, Hair now streaked in misty gold. Yet still the heart can feel the sting Of autumns lost, of vanished springs.
That mossy thatch of long ago— Who waits beside the village well? Old areca trees in silence grow, Still watching for lost souls to dwell.
I dream one day the war will cease, Our motherland will rest in peace. And we return, though frail we be, To find that path beneath the green.
Though legs may shake, and backs be bowed, Though time has carved its mark and shroud— This heart still holds the schoolyard’s grace, That homeland love no age can erase.
May peace at last embrace our land, May hatred pass like drifting sand. So children sing with voices free Beneath the skies of ancestry.
phamphanlang
April 1st, 2025
Mời nghe nhạc
“Tháng Tư Trong Tôi” – bài thơ mang nỗi niềm về ký ức tháng Tư, đã được người bạn Ns Thái Phạm, cùng với sự hỗ trợ của AI, phổ nhạc thành ca khúc song ngữ Việt-Anh đầy cảm xúc. Mỗi giai điệu là một hồi ức, mỗi lời ca là một tiếng vọng của lịch sử và tình quê.
Xin mời nghe và cùng cảm nhận một Tháng Tư không bao giờ phai trong trái tim người Việt ly hương.
(April Within Me is a poem filled with deep and tender reflections on the memories of April. Now, beautifully set to music by my musician friend Thái Phạm, with the support of AI, it is presented as a bilingual Vietnamese-English song. Each melody is a memory; each lyric an echo of history and homeland. We invite you to listen and feel the enduring spirit of an April that forever lives in the hearts of Vietnamese living far from home.)
Vui lòng click vào hỉnh để đọc sách
Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài hơn hai thập niên, hàng triệu người đã ngã xuống, hàng triệu gia đình tan nát, và hàng ngàn đứa trẻ sinh ra trong cảnh loạn lạc, mang trong mình hai dòng máu nhưng lại không được xã hội chấp nhận. Những đứa trẻ lai Mỹ-Việt, kết quả của mối quan hệ giữa lính Mỹ và phụ nữ Việt, đã trở thành một trong những hậu quả đau thương nhất của chiến tranh. Họ lớn lên trong sự kỳ thị, nghèo đói, và bị xã hội ruồng bỏ, trở thành những kẻ lạc loài trong chính quê hương mình. “Những Đứa Trẻ Lạc Loài” là một tác phẩm xúc động và chân thực, kể về số phận của những đứa trẻ lai Mỹ-Việt sinh ra trong thời kỳ chiến tranh và lớn lên trong sự kỳ thị, nghèo khó, và bị xã hội ruồng bỏ. Cuốn sách không chỉ là câu chuyện cá nhân của Tâm An, nhân vật chính, mà còn là tiếng nói đại diện cho hàng ngàn đứa trẻ khác cùng cảnh ngộ.
War is not merely a confrontation between factions but also a tragedy for innocent people whose lives are caught in the whirlpool of violence. It is not just an armed conflict but also the lingering pain of those trapped between the crossfire. The Vietnam War lasted over two decades, with millions falling, countless families shattered, and thousands of children born into chaos, carrying two bloodlines yet not accepted by society. The Amerasian children, the result of relationships between American soldiers and Vietnamese women, became one of the most painful consequences of the war. They grew up in stigma, poverty, and abandonment by society, becoming outcasts in their homeland. “The Unwanted Children” is a poignant and authentic work that tells the fate of Amerasian children born during wartime and growing up in stigma, hardship, and neglect. The book is the personal story of Tam An, the main character, and a voice representing thousands of other children in similar circumstances.
50 NĂM NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HÒA.
( kể từ 1975- 2025).
Hỏi nắng Biên Hòa gió Dĩ An
Bao nhiêu năm dài đã thân quen
Nắng gió về Nghĩa Trang Quân Đội
Xin một lần cho tôi quá giang.
*
50 năm tàn cuộc chiến trường
Những mộ tử sĩ ở lại buồn
Bức tượng Thương Tiếc không còn nữa
Tôi sợ mình đi sẽ lạc đường.
*
Hỏi Đền Tử Sĩ, Cổng Tam Quan
Có đợi người về thắp nén nhang?
Lạnh lùng lá khô rơi trên lối
Tiêu điều thềm cũ bóng thời gian.
*
Hỏi Nghĩa Dũng Đài, Vành Khăn Tang
Có còn nghe tiếng khóc đau thương?
Ngậm ngùi từng cành cây ngọn cỏ
Những lúc mưa chiều lúc nắng lên.
*
Hỏi mộ vô danh nằm ở đây
Nỗi sầu chinh chiến có nguôi ngoai?
Những ngôi mộ xanh rêu hoang phế
Người lính năm xưa, anh là ai ?
*
Hỏi người lính trẻ mộ bia tên
Trận địa nào anh đã hi sinh?
Mang theo những mộng đời dang dở
Có chạnh lòng không, ai cố nhân ?
*
Hỏi Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa
50 năm thời cuộc đã qua
Nghĩa trang đã đổi tên xa lạ
Có ngủ yên không những nấm mồ ?
*
Các anh nằm đây như một nhà
Những tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa
Dù ai hương khói, không hương khói
Vẫn ấm tình đồng đội bên ta.
*
Bốn mùa hàng cây cao nghĩa trang
Lá khô rơi chuyện trò cùng anh
An ủi 16 ngàn ngôi mộ
Ru hồn tử sĩ giấc ngàn năm.
*
Nguyễn Thị Thanh Dương
( Viết cho Tháng Tư 1975- 2025)
LÁ THƯ TÌNH 50 NĂM TRƯỚC.
Trên tờ nhật báo hiếm hoi còn phát hành ở Sài Gòn
Những ngày tháng Tư 1975
Ngập tràn tin chiến sự
Cộng quân phương Bắc tấn công miền Nam
Đau thương và chết chóc
Tôi đọc thấy một lá thư tình lẻ loi cô độc
Mỗi dòng thư là một dòng nước mắt
Của một cô gái cậy đăng
Gởi người tình, người lính không quân
Đã bặt tăm tin tức
Cô ghi rõ tên tuổi số quân và đơn vị
Khi mà những phương tiện liên lạc giao thông đều khó khăn
Qua tờ báo này cô hi vọng nhận được tin anh.
Có thể anh đang bay trong vùng trời lửa đạn
Có thể anh đã gục ngã hi sinh
Cô cầu mong
Anh sẽ trở về bình yên
Anh sẽ trở về dù là một thương binh
Anh sẽ trở về dù là một bại binh.
Cô vẫn yêu anh và chờ đợi.
Các tỉnh thành miền Trung lần lượt thất thủ
Bao xác người chết ngoài đường ngoài phố
Dân chúng di tản
Chen chân lên những chuyến tàu, những chuyến xe
Về thủ đô Sài Gòn lánh nạn
Những tin tức nóng bỏng in to đậm trên trang báo
Mấy ai quan tâm đến một lá thư tình
Sự sống chết và chia ly không chỉ riêng mình.
Cộng quân tiến vào đánh chiếm thủ đô Sài Gòn
Thành trì cuối cùng của miền nam Việt Nam xụp đổ
Sài Gòn chết tháng Tư.
Trong nỗi đau chung kia
Tôi vẫn chạnh lòng
Chàng không quân của cô gái có đọc được lá thư không ?
………………..
Chỉ là một lá thư đọc tình cờ
Mà tôi còn nhớ đến bây giờ
Người con gái ấy
Lá thư tình tháng tư đẫm lệ thương yêu ấy
Tháng Tư năm nay
Tôi lại chạnh lòng
Cô là ai?
Người tình không quân của cô là ai?
Anh còn sống hay đã chết trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến?
Cuộc đời dâu biển
Đã 50 năm trôi qua
Có lần nào họ gặp lại nhau chưa?
Nguyễn Thị Thanh Dương
( Jan.22, 2025)
CUỐI ĐƯỜNG MẸ ĐI
(Quê hương, những ngày di tản đầy máu và nước mắt, trong tháng 4, 1975 – QUỐC HẬN)
Mẹ già đi từ Cam Lộ Nước mắt chảy mềm Gio Linh. Gia tài không đầy đôi rổ, Mẹ nhìn máu lửa Thần Kinh.
Đá đổ mồ hôi: Thạch Hãn Chạy dài đến đỉnh Hải Vân. Leo đèo, Mẹ như mê sảng, Chân voi: sưng đôi bàn chân.
Mẹ đi giữa trời thiêu đốt Thây con lớp lớp trải dài Dọc theo con đường Số Một, Nằm bên dăm củ sắn khoai.
Tam Kỳ chạy vô Quảng Ngãi Bầy con đói khát bên đàng. Biển người xô nhau, quằn quại, Ngã dần… trong tiếng khóc than.
Mẹ vào Quy Nhơn, Phú Bổn, Nhìn trời khói lửa Pleiku. Đoạn đường mang tên Mười Bốn Thành mồ hoang lạnh, thâm u.
Máu chảy lan dần mạch đất Nha Trang chết vạn đàn con. Vào Nam, sức già lây lất Về đâu? – Nẻo sống không còn !
Cần Thơ, Hà Tiên, Rạch Giá, Mẹ lần đến mũi Quê Hương Cà Mau nhìn ra biển cả
Tàn hơi, Mẹ chết bên đường !
Mẹ già đi từ Cam Lộ Cuối đường, chết mũi Cà Mau. Trọn đời sống trong đau khổ Chết còn trông thấy khổ đau !…
Võ Đại Tôn (1975).
MẸ VIỆT NAM ƠI! CHÚNG CON VẪN CÒN ĐÂY
Thơ: Hoàng Phong Linh (Võ Đại Tôn) Sáng tác năm 1972 Mẹ Việt Nam ơi! chúng con vẫn còn đây Mẹ Việt Nam ơi! chúng con vẫn còn đây Những đứa con bầu nhiệt huyết dâng đầy Mang giòng họ của Lê Lý Nguyễn Trần Mẹ mặc cho con vải thô áo mầu lam Mẹ dưỡng nuôi con giòng sữa Bắc Trung Nam Con của Mẹ đều một giống da vàng Quyết một lòng diệt hết lũ tham tàn
Trên đầu voi rạng ngời vung ánh thép Gái Triệu Trưng bồ liễu chống xâm lăng Hé môi cười nghe tiếng sóng Bạch Đằng Con Hưng Đạo như Rồng Tiên vùng vẫy Vượt Trường Sơn, Nguyễn Huệ, Bắc Bình Vương Quyết một lòng đi giữ vững quê hương Và còn nữa con của Mẹ toàn danh tướng Lòng Mẹ vui hãnh diện với đàn con
Nhưng Mẹ ơi giờ đây sao Mẹ khóc? Hai vai gầy run rẩy nát tâm can Mẹ lòng đau thương xót cảnh lầm than Áo nâu nghèo Mẹ rách để phơi than Một đàn con rồi quên ơn Mẹ nuôi dưỡng Súng đạn cày tan nát luống quê hương Mẹ lòng đau thương xót cảnh lầm than Xót xa nhiều phương Bắc chiếm phương Nam
Nhưng Mẹ ơi! Mẹ đừng than khóc nữa! Vì chúng con tuổi trẻ vẫn còn đây Chúng con nguyện cùng ra sức đắp xây Quê hương mình trong TỰ DO ấm no
Xin Mẹ yêu Mẹ đừng than khóc nữa! Vì chúng con mười bảy triệu vẫn còn đây Chúng con nguyện cùng ra sức đắp xây Chúng con nguyện đi dựng lại Quê hương Mẹ Việt Nam ơi! chúng con vẫn còn đây Mẹ Việt Nam ơi! chúng con vẫn còn đây… Không phản bội giòng sữa thơm nuôi đưỡng Chúng con nguyện đi dựng lại Quê hương
Mẹ Việt Nam ơi! Mẹ Việt Nam ơi! Mẹ Việt Nam ơi!
***
Hồn Ca trên Biển Đông
Kính dâng lên hương hồn hơn nửa triệu đồng bào đã tử nạn trên Biển Đông, mong vượt thoát chế độ cộng sản VN, mưu tìm Tự Do sau cơn Quốc Nạn 30 tháng Tư Đen 1975. (Lưu niệm chuyến đi viếng thăm mộ bia Thuyền Nhân tại các đảo Galang và Pinang (Nam Dương) cùng phái đoàn Văn Khố Thuyền Nhân và các Bạn từ các quốc gia trên thế giới. CSVN đang yêu cầu chính quyền Nam Dương đóng cửa các khu di tích Thuyền Nhân trên các đảo. Ngày nào còn CSVN, ngay cả những người đã chết trên các đảo hoang vu, lìa xa Tổ Quốc, cũng không được yên nghỉ ngàn thu…) Viết tại đảo Pinang ngày 14.10.2009 Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh) 1. Hồn ai đó? Chập chờn trên khói sóng Dòng máu tươi theo nước chẳng hòa tan. Hồn ai đó? Vạn tinh cầu chao bóng Đảo ghềnh xa còn vọng tiếng kêu than. Hãy về đây – trên sóng nước dâng tràn Chung tiếng khóc nghẹn đau cùng Dân Tộc. Hồn ai đó? Đã lìa xa Tổ Quốc Vẫn còn ôm sông núi xuống mồ hoang. Tiếng oan khiên từ đáy vực còn vang
Hay chìm đắm giữa khơi ngàn sóng dữ? Mảnh thuyền tan, bập bềnh trôi viễn xứ Biết về đâu? Hồn phiêu bạt nơi đâu? Thân cá Hồi tan tác đã chìm sâu Không tìm thấy lối quay về chốn cũ! Giữa trùng khơi vang tiếng cười dã thú Hải tặc giằng co thân xác – kinh hoàng. Tiếng Mẹ kêu, dòng máu chảy đầy khoang Tay vời níu đàn con run khiếp sợ. Biển lạnh chiều hoang, trần gian nín thở, Vòng tai ương kiếp nạn đến vô cùng. Hồn ai đó? Bờ Tự Do bốn hướng, cõi mông lung Tìm đâu thấy – giữa muôn trùng đen thẳm? Tiếng kêu “Trời!” trước phút giây chìm đắm Biến tan vào giông bão, thét trùng dương. Vực mồ sâu thịt rã máu còn vương San hô trắng hay là xương ai trắng? Dòng tóc đen bám ghềnh xa hoang vắng Thành rong rêu sẫm tím một màu tang. Hồn ai đó? Chiếc thuyền Không Gian Trôi về Vô Tận. Bánh xe Thời Gian chuyển ngàn uất hận Chập chờn mấy cõi U Minh. Lịch Sử nghìn thu trang giấy rợn mình Ghi chép lại phút kinh hoàng vượt biển!
2. Hồn ai đó? Đảo hoang sơ, ai về đây khấn nguyện Mộ bia tàn, ai thắp nén hương dâng? Nơi Ba-Đình vui chuốc rượu Vô Thần Cười nghiêng ngả mừng reo hò chiến thắng! Đồng ruộng phơi bày xương trắng Oan khiên máu lệ thành sông. Bao thây vùi trong sóng nước biển Đông Còn sót lại mấy hoang tàn di tích? Hồn ai đó? Đảo xa xôi mộ phần cô tịch Giấc ngủ chẳng bình an. Họ còn theo, cố phá đập tan Để tô hồng chế độ:
“Chủ nghĩa huy hoàng, không ai chối bỏ Không có người vượt thoát để tồn sinh !!!” (*CSVN) Nhưng bia đời như nắng rọi bình minh Luôn soi rõ từng vết sâu tội ác Của loài dã tâm với ngôn từ khoác lác Đang tôn thờ chủ thuyết lai căng. Hồn ai đó? Từ bao cõi vĩnh hằng Xin về đây chứng kiến. Tấm lòng chúng tôi, trọn đời Tâm Nguyện Chí bền gan, xin vẹn Nghĩa Tình. Dù ngăn cách Tử Sinh Giữa hai bờ Nhật Nguyệt. Dù có ai phá tan mộ huyệt Đến nghìn sau hồn mãi còn đây. Nhìn trùng khơi sóng nước dâng đầy
Gửi mơ về cố quốc. Hồn vẫn sống trong lòng Dân Tộc Vì hai chữ Tự Do. Chiều GALANG bão tố sóng to Hay tĩnh lặng trăng rơi thềm đá. Sáng PINANG nắng xuyên rừng lá Hay đêm vờn tiếng hát nhân ngư. Hồn mãi còn đây, dù bia mộ hoang vu Không tên tuổi – sá gì tên với tuổi! Dù xác thân đã hòa chung cát bụi Biển Đông còn – HỒN MÃI SỐNG THIÊN THU! VÕ ĐẠI TÔN (HOÀNG PHONG LINH)
Kính gửi quý vị, quý chiến hữu, thân hữu và các thế hệ hậu duệ VNCH tự do nhân bản, hải ngoại/quốc nội,
Người ta thường nói: “Thời gian là thần dược có thể chữa lành mọi vết thương”, nhưng theo tôi suy nghĩ theo kinh nghiệm sống lưu vong của kẻ mất quê hương cội nguồn thì ngày nào chưa giải trừ được chế độ cộng sản bạo tàn, quang phục quê hương tự do dân chủ, thì ngày đó vẫn còn ngập tràn máu đen trong tâm não. Nằm trên giường bệnh cuối đời, chờ phút cuối theo lẽ vô thường kiếp nhân sinh, tôi nhớ lại những bài thơ của tôi đã hân hạnh được nhiều nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc và nhiều ca sĩ có lòng thương trình diễn.
Tôi xin chân thành cảm tạ.
VÕ ĐẠI TÔN
Xin gửi đến quý vị ba (3) bài thơ dưới đây được phổ nhạc. Kính mong chia sẻ chung nỗi lòng vong quốc.
Youtube/Video – Mẹ VN Ơi Chúng Con Vẫn Còn Đây.
Thơ võ đại tôn (hoàng phong linh) – 1972 – cố nhạc sĩ nguyễn ánh 9 phổ nhạc – ca đoàn văn nghệ la-san trình diễn.
2. Youtube/Video – Cuối Đường Mẹ Đi.
Thơ Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh) – Nhạc Sĩ Võ Tá Hân Phổ Nhạc.
Youtube/Video – Hồn Ca Trên Biển Đông. Thơ Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh) Nhạc Sĩ Yên Sơn Phổ Nhạc.
NHỮNG NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ –
BÀI VIẾT CỦA GIAO CHỈ – NHÂN DỊP KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY QUỐC HẬN
Chín lần cảm ơn
Giao Chỉ San Jose viết về lần tổ chức tại San Jose năm 2015. Đến năm 2017 dự trù sẽ trở lại San Jose nhưng không còn cô Hạnh Nhơn nữa. Cô ra đi 9 giờ tối hôm ấy. Xin đọc lại chuyện cũ để tưởng nhớ người xưa.
Hình ảnh Bà Hạnh Nhơn – ân nhân của thương phế binh VNCH
Kỳ đại hội văn nghệ Cám Ơn Anh, người thương phế binh VNCH tại San Jose đã ghi nhận có sự hiện diện của nhiều vị niên trưởng trong quân đội. Đô đốc Trần văn Chơn 95 tuổi vẫn không quản tuổi già bình tĩnh ngồi giữa trưa nắng với hàng ngàn khán giả. Một vị cao niên khác là trung tướng Hoàng Xuân Lãm 87 tuổi. Được tin ông qua đời nên bác đến tham dự cũng để bày tỏ ý nghĩa của lời ca nổi tiếng. “Anh không chết đâu em.” Đó là các vị cao niên trong hàng quan khách danh dự. Người đứng ra nhận trách nhiệm là đại tá không quân Nguyễn Hồng Tuyền. Năm ấy ông 85 tuổi. Mấy năm trước tưởng người đã đi xa, nhưng người vẫn quanh đây.Vị nữ lưu số một của cộng đồng bền bỉ 9 năm qua là trung tá nữ quân nhân không quân Hạnh Nhơn 87 tuổi. Chị là hội trưởng của tổ chức đứng mũi chịu sào tổng cộng 9 kỳ đại hội. Không có thành tích nào lớn hơn có thể so sánh với “9 lần gươm báu trao tay, thuyền quyên thay thế anh hùng một phen”. Tổng cộng kỳ nầy tổ chức lần thứ 3 tại San Jose thu được trên tám trăm ngàn. Trong đó có Canada góp 100 ngàn và riêng Texas đưa về 300 ngàn. Nếu tính chung tất cả các kỳ tổ chức thu được gián tiếp và trực tiếp con số đã lên đến trên 7 triệu mỹ kim. Trong khi đó hồ sơ thương phế binh ghi nhận hôm nay trên 14 ngàn.
Trung tá Hạnh Nhơn, nguyên trưởng đoàn nữ quân nhân không quân khi đứng ra nhận công tác hơn 10 năm qua, chị không biết đã bắt đầu trở thành con tằm.”Nàng” đã mang làm kiếp con tằm, dù cho đến thác vẫn còn vương tơ”. Câu chuyện năm xưa bắt đầu từ khi nhà văn Huy Phương dẫn cô Hạnh Nhơn lại gặp nghệ sĩ Nam Lộc. Xem ra chính Nam Lộc là người mở đường cho chương trình Cảm ơn anh từ đầu. Khi trận thứ nhất mở màn, Trúc Hồ vận dụng tối đa các nghệ sĩ của Asia nhập cuộc và tiếp theo sau này là phương tiện của truyền hình SBTN. Với khả năng truyền thông mở rộng toàn thể giới, tiếng ca của Asia chuyên chở hùng ca cùng nước mắt Việt Nam Cộng Hòa đã đem lại tiền bạc gửi về cho thương phê bình ở quê nhà.
Những yếu tố thành công
40 năm xưa, khi miền Nam thất thủ, Ngày 30 tháng tư một trăm ba mươi tư ngẩn người chạy thoát. Ngày 15 tháng 5-1975 chiến hạm của đệ thất hạm đội Hoa Kỳ rút khỏi biển Đông sau khi vớt hết dân ty nạn. Từ sau ngày đó, những con thuyền ra đi được coi là thuyền nhân đầu tiên. Những chuyến đi liên tiếp kéo dài từ 75 đến 95 với 1 triệu người vượt biển. Tiếp theo là ODP, HO, con lai chúng ta làm thành các cộng đồng tại hải ngoại. Ngày nay tổng cộng có 3 triệu dân tỵ nạn rải rác khắp năm châu. Nhưng chúng ta đã để lại 16 ngàn tử sĩ tại nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Đã để lại hơn 50 ngàn thương binh và trên 100 ngàn quả phụ. Ngay từ giữa thập niên 80 khi Việt Dzũng viết bài ca gửi chút quà về quê hương thì đã có nhiều người nghĩ đến thương binh chiến hữu còn ở lại Sài Gòn. Hai mươi năm sau, giữa thập niên 90 khi người Việt về thăm gia đình thì việc cứu giúp thương phế binh đã trở thành phong trào tại Âu châu, Úc châu, Canada và Mỹ châu. Qua đến thập niên đầu thế kỷ 21 thì lời cảm ơn anh mạnh mẽ cất lên bằng tiếng hát đã trải qua 9 mùa thu từ 2006 đến nay 2015.
Trong số các phong trào quần chúng hải ngoại 40 năm qua thì Cảm Ơn Anh đã trở thành truyền thống tốt đẹp và thành công nhất. Yếu tố căn bản là lòng người vẫn hoài niệm tinh thần Việt Nam Cộng Hòa và người lính Cộng Hòa. Đã gần nửa thế kỷ trải qua mà nam nhi vẫn còn muốn mặc bộ quân phục oai hùng và nữ nhi vẫn mãi mãi là người yêu của lính. Thêm vào đó, cuộc chiến ngày này không phải bằng vũ khí mà bằng phương cách đấu tranh chính trị thì nghệ sĩ, danh ca đã trở thành chiến sĩ và truyền thông Việt ngữ đã chuyển tải các thông điệp cảm ơn anh vô cùng hữu hiệu để nhận về tình nghĩa từ khắp bốn phương trời. Trong việc phối hợp tổ chức xem ra vẫn có nhiều khiếm khuyết, nhưng tinh thần hợp tác vì mục đích chúng đã thể hiện được sự thành công tốt đẹp sau cùng. Về phương diện quản trị và điều hành tài chánh lên đến hàng triệu mỹ kim, chắc hẳn cũng có nhiều điều cần cải tiến và công bố. Chúng tôi sẽ có dịp tìm hiểu và đóng góp ý kiến xây dựng sau này. Nhưng nói chung sự hưởng ứng của đồng bảo là điều quan trọng nhất. Xin chúc mừng đại hội thành công.
Các nghệ sĩ như Nam Lộc, Khánh Ly, Ý Lan, Kiều Chinh, Việt Dzũng và nhiều tài danh khác đã từng đến thăm viếng Viện bảo tàng Việt Nam tại San Jose. Buổi tối chủ nhật thêm anh chị Trúc Hồ là những người khách thăm viếng rất muộn. Sau một ngày dài đại hội, Trúc Hồ và Diệu Quyên đến vào lúc 7 giờ chiều. Kelley Park đã chính thức đóng của từ 5 pm nhưng Viet Museum cũng mở cửa đặc biệt dành cho người thanh niên vượt biên đường bộ hơn 30 năm trước. Trúc Hồ đến thăm Museum đồng thời cũng thăm lại người bạn văn nghệ Việt Dzũng với đầy đủ hình ảnh và đôi nạng sắt được lưu lại ở đây cả trăm năm sau. Sau khi thăm viếng suốt một giờ,
Trúc Hồ hỏi bác Lộc rằng cháu có thể làm được chuyện gì. Tôi nói rằng bác là quá khứ, cháu là hiện tại. Museum này là di sản quý giá từ quá khứ muốn giao cho hiện tại để chuyển cho tương lai. Hãy xử dụng phương tiện của Asia và SBTN để hải ngoại quan tâm đóng góp di sản và nuôi dưỡng lâu dài. Bản thông điệp từ quá khứ đã trao cho hiện tại vào buổi tối sau một ngày dài đại hội văn nghệ lần thứ 9 tại San Jose.
Đêm nay cơn ác mộng lại trở về. Thơ giật mình thức giấc, tâm trí hoang mang thảng thốt. Trái tim đập thình thịch trong lồng ngực. Bên cạnh nàng Tú vẫn ngủ say sưa. Sau biến cố mất nước năm 75, từ khi may mắn thoát khỏi Việt Nam vào phút cuối, lại được định cư ở xứ Canada, nhưng có lẽ bị chấn thương tâm lý khá nặng nên thỉnh thoảng Thơ lại gặp ác mộng trong giấc mơ. Thật sự kinh hoàng, vì lần nào Thơ cũng thấy mình về Sàigòn thăm gia đình và không cách nào tìm được phương tiện trở qua Canada. Nàng tự sỉ vả mình ngu ngốc, đang sống yên ổn với chồng con, khi không trở về Việt Nam làm gì để ra cớ sự! Có lần trong cơn mơ Thơ khóc sướt mướt, tỉnh dậy hai má còn ướt đẫm nước mắt.
Thơ kể cho vài người bạn nghe, không ngờ cũng có người gặp ác mộng y như nàng. Một người bạn thân kể rằng, trong mơ anh thấy mình đi vượt biên và bị bắt lại. Mà người bắt anh lại là tên thủ trưởng nơi anh làm việc. Anh nghĩ chắc chắc mình tiêu đời rồi. Khi giật mình tỉnh dậy, nhận ra mình đang ở Hoa Kỳ, anh thấy trong đời chưa bao giờ hạnh phúc đến thế!
Thấy đồng hồ chỉ 5 giờ, Thơ cố dỗ giấc ngủ lại, nhưng sao đầu óc vẫn tỉnh táo và tâm trí lan man nhớ về những ngày tháng xa xưa. Thủa còn ở Việt Nam và chưa bao giờ nghĩ rằng sẽ bỏ quê cha đất tổ, đến một nơi xa lắc xa lơ, mùa đông lạnh thấu xương để sinh sống. Vì đâu và vì ai? Nếu không phải vì những người cùng giòng giống, cùng tổ tiên như nàng, nhưng lại đem cái chủ thuyết chết người của ngoại bang về áp đặt một cách dã man lên đồng bào ruột thịt của mình?! Miền Nam của Thơ trước khi bị cưỡng chiếm xinh đẹp, hiền hòa biết bao. Lúa gạo đầy đồng, tôm cá đầy sông, đi lại tự do. Làm sao tả hết những cái hay, cái đẹp mà người dân miền Nam đã được hưởng cho đến ngày 30-04-1975!
Từ năm 1972 gia đình nhỏ của Tú và Thơ thuyên chuyển từ miền Cao Nguyên về tỉnh lỵ Sa Đéc. Thật tiện lợi vì quê nội Thơ ở Cao Lãnh và quê ngoại ở Vĩnh Long. Và qua Long Xuyên cũng cùng một quãng đường dài. Nàng nhớ những trái soài Hòn mập ú, ngọt như đường mà chỉ có ở Cao Lãnh. Qua Vĩnh Long thưởng thức món xôi chiên phồng ăn với gà rô ti nổi tiếng. Sầu riêng Cái Mơn không đâu ngon bằng. Vú sữa Lò Rèn cũng tuyệt diệu. Có khi theo bạn về quê Cái Bè ăn cam. Cam Cái Bè nổi tiếng ngon ngọt. Thích hơn nữa là đi thuyền qua mấy cái cù lao ăn chôm chôm, nhãn. Sa Đéc cũng là một địa danh nổi tiếng với nhiều loại trái cây và tôm cá, gà vịt. Loại mận da người màu xanh cẩm thạch, ruột đặc không hột và rất ngọt. Vú sữa hột gà màu trắng ửng hồng ngon ngọt vô cùng. Đặc biệt vùng này có loại ốc gạo thịt béo ngậy, ăn một lần là mê tít luôn. Không thể quên loại cá thu nước ngọt, nhỏ hơn cá thu biển, mình óng ánh nhiều màu. Cá này kho với nước dừa tươi là tuyệt cú mèo. Nói đến vịt xiêm Sađéc thì ai cũng biết. Bình thường vịt được nuôi bằng lúa, tép riu đầy sông rạch nên rất mập, thịt mềm, thơm ngọt. Mỗi lần có bạn phương xa đến thăm thế nào họ cũng được Thơ đãi món thịt vịt trứ danh Sa Đéc. Khi cả nhà Thơ về Sài Gòn thăm gia đình Tú, ngoài trái cây đủ loại không bao giờ thiếu cặp vịt xiêm.
Lúc này Thơ đã có hai tí nhau, một trai hơn 3 tuổi và một gái chưa 2 tuổi. Tú đi làm và Thơ ở nhà trông con. Tưởng rằng giòng đời cứ êm đềm trôi như giòng Cửu Long hiền hòa. Chiến tranh khốc liệt ở đâu xa, chứ tại thị xã thì đời sống vẫn bình thường. Chợ búa vẫn họp đông đúc mỗi ngày. Nơi Tú làm cũng không thấy thay đổi gì cả. Chợt ngày 25 tháng 4, Tú nhận được điện thoại của bà chị trên Sàgòn bảo gia đình Tú phải lên SàiGòn gấp. Chị đã làm thông hành cho đại gia đình đi ngoại quốc. Thế là vợ chồng con cái chất nhau lên xe chạy một lèo lên Sàigòn. Té ra nhờ hai ông anh rể sĩ quan cấp Tá làm việc trong Tổng Tham Mưu nên họ biết người Mỹ đã rút khỏi Việt Nam và một số tướng lãnh cũng như công chức cao cấp đã tìm đường chạy ra ngoại quốc. Ôi chao, lên đây mới thấy cả Sàigòn hỗn loạn. Ngoài đường đông nghẹt người. Tất cả các tiệm vàng chen chân không lọt. Người mua vàng, kẻ đổi đô la. Thơ cũng chen lấn đổi được 80 đô la Mỹ.
Cả gia đình Thơ cũng được ông anh rể cho vào danh sách xin đi máy bay Mỹ. Cơ quan D.A.O bảo chờ họ sẽ tới rước. Chờ mãi đến hôm 28 Việt cộng pháo kích dữ dội vào phi trường Tân Sơn Nhất thì Thơ tuyệt vọng, ôm con khóc mùi mẫn. Sáng sớm 29, sau một đêm thức trắng, cả nhà lên xe chạy vào Cư xá Sĩ quan trong bộ Tổng Tham Mưu, nhà ông anh họ của Tú. Ông này thân cận với 1 ông Tướng vùng, ông Tướng hứa sẽ có máy bay đón. Hy vọng tràn trề, nhưng chờ gần tới trưa vẫn chẳng thấy gì, người nào mặt mày cũng buồn rầu ủ rũ, căng thẳng tột độ. May sao gần 12 giờ, một sĩ quan dưới quyền của ông anh rể báo tin có chiếc tàu Đại Hàn đang đậu ở Tân Cảng sắp nhổ neo. Mừng quýnh mọi người lên xe chạy ra Tân Cảng. Dọc đường rất hỗn loạn vì dân chúng đang hôi của trong mấy cơ sở Mỹ bỏ trống. Kẻ khuân, người vác chạy đầy đường. Thỉnh thoảng có những tràng súng nổ dòn dã và những người lính còn mặc quần áo trận, có người bị thương máu me tùm lum, tay cầm súng chạy dọc theo hai bên đường khiến Thơ kinh hãi ôm cứng hai đứa trẻ. Tụi nhỏ chắc cũng linh cảm thấy sự nguy hiểm nên im lặng không dám hó hé. Sau này nàng mới biết một nhóm lính Việt Nam Cộng Hòa lúc đó vẫn còn cố gắng đánh nhau với Bắc quân trên cầu Xa Cảng. Thương thay những người chiến sĩ miền Nam anh dũng, thà hy sinh đến giọt máu cuối cùng chứ quyết không đầu hàng quân địch!
Xe quẹo vào bến Tân Cảng. Trên bến tàu nhiều người Mỹ đang đứng chỉ huy cho đoàn người xếp hàng dọc lên tàu. Họ bắt tất cả quân nhân phải cởi quân phục và bỏ súng lại trước khi lên tàu. Tất cả mọi người phải xuống hầm tàu thông qua một cái miệng hầm nhỏ, vừa một người qua lọt. Đây là chiếc tàu của Đại Hàn do Mỹ thuê chở vũ khí sang Việt Nam. Giờ đây Mỹ thuê để chở người tị nạn rời khỏi đất nước. Hầm tàu dùng để chứa hàng hoá, chỉ có một chỗ lên xuống nhỏ xíu nên nóng hầm hập. Gia đình Thơ kể như là những người đến muộn nhất nên mười một người chia nhau một chỗ độ chừng một mét vuông ngay dưới miệng hầm. Nàng đưa mắt nhìn chung quanh thấy người là người, nằm ngồi ngổn ngang. Tháng tư trời nóng, trong hầm như cái hỏa lò nên người nào cũng dùng cái gì đó quạt phành phạch, trông toàn cảnh cứ như những cánh bướm đang bay chấp chới! Riêng hai nhóc tì của Thơ cũng phải cởi áo ở trần mới chịu nổi.
Độ nửa tiếng sau thì tàu tách bến chạy về hướng Vũng Tàu. Thú thật là đến giờ phút đó vợ chồng nàng cũng không biết mình sẽ đi đâu? Thấy người ta chạy thì mình cũng chạy theo, miễn là thoát khỏi Việt Nam đang rơi vào tay Cộng quân. Gia đình Tú vốn người Bắc. Năm 54 ba mẹ anh đã bỏ hết của cải, cơ ngơi ở Hà Nội để chạy vào Miền Nam lánh nạn. Lần đó họ còn biết mình sẽ đi đâu. Nhưng lần này thì quả thật rất mơ hồ, chỉ biết nhảy lên tàu rồi sau đó phó mặc cho ông Trời!
Lúc tàu chạy ngang Rừng Sát, mặt mày người nào cũng nghiêm trọng, không dám thở mạnh. Chỉ sợ một quả đạn gì đó trong rừng bắn ra trúng tàu thì gần một ngàn sinh mạng sẽ đi chầu Hà bá! May quá không sao. Nhưng trọng trách của con tàu này là phải đón cho được một ông cố vấn gộc người Mỹ. Vì thế tàu cứ chạy dọc theo bờ biển từ Vũng Tàu cho tới Cà Mau suốt 3 ngày liền. Đến ngày thứ tư mới trực chỉ ra khơi từ Vũng Tàu. Lúc này mọi người đã biết tin Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng nên ai nấy đều buồn dàu dàu. Tàu ra khỏi Vũng Tàu thì gặp vô số thuyền con từ đất liền chạy ra. Họ vây quanh tàu nên thuyền trưởng bắt buộc phải vớt họ lên. Ôi thôi thì gồng gánh đủ thứ, cả TV, cả xe gắn máy. Tất nhiên thủy thủ Đại Hàn vứt hết mấy thứ này xuống biển để lấy chỗ cho người. Lúc rời Tân Cảng con số chưa tới một ngàn, giờ đây đã lên đến hơn ba ngàn người! Thì ra có vị linh mục dẫn cả làng Phước Tỉnh chạy ra khơi! Đến giờ thì vấn đề vệ sinh thật nan giải. Tất cả mọi người già trẻ bé lớn đều bị đau mắt. Mà làm gì có thuốc cho ngần ấy người? Đành chịu thua! Gia đình Thơ chạy vào phút chót, lại hy vọng đi máy bay nên không chuẩn bị đem theo lương khô, đành chấp nhận ăn những khẩu phần của lính tráng đi hành quân: gạo sấy và cá khô. Cũng có nhiều gia đình có quan hệ với thủy thủ Đại Hàn nên họ đã xuống tàu trước mấy hôm với đầy đủ lương thực, mì gói và bánh trái các loại. Nhưng lúc này hồn ai nấy giữ nên chẳng ai “dại gì” chia cho người không quen biết! Gạo sấy thì đổ nước lạnh cho nở ra, cá khô thì cứ vậy mà ăn. Tội nghiệp hai đứa nhỏ, Thơ phải năn nỉ chúng mới miễn cưỡng ăn chút ít nên suốt tuần lễ dưới tàu hai đứa gầy nhom.
Đến ngày thứ bảy thì tàu ghé Subic Bay Phi Luật Tân lấy thêm nhiên liệu để đi tiếp qua đảo Guam. Chỉ một số người được đặc biệt xuống tàu để sang đảo Guam bằng máy bay. Nhờ hai anh rể sĩ quan cấp Tá nên gia đình nhỏ của Tú-Thơ cũng được hưởng ân huệ này. Số còn lại tiếp tục đi tàu sang Guam. Đặt chân xuống đảo, thấy cảnh trùng phùng của nhiều gia đình, vợ con đi trước bằng máy bay, chồng đi sau bằng tàu, may mắn gặp lại nhau thật vô cùng hạnh phúc. Mỗi gia đình được chia một căn lều, có ghế bố và mền để ngủ, ngoài ra trống trơn. Ngày 3 lần đi sắp hàng lảnh cơm do đầu bếp Mỹ nấu. Chỗ của Thơ thì trường kỳ mỗi người được 1 vá cơm trắng và 1 vá trứng gà bột chiên. Có chai xì dầu hay hủ muối nào nhà bếp bỏ ra cũng bị chôm mất nên mọi người ăn cơm lạt nhách cũng đành chịu. Những người có tiền thì vào căng tin mua thức ăn. Thơ chỉ có 80$ nên…không dám, vì “biết ra sao ngày sau??? Thấy những người lính Mỹ phục vụ dân tị nạn Việt Nam mà thương.
Thơ không nhớ có bao nhiêu người tới đảo, chỉ nhớ là đông lắm. Lều trại nhìn mút mắt. Chỉ khổ ngày thật nóng và đêm thật lạnh. Suốt ngày đi sắp hàng lấy cơm (Mỗi bếp có 3 hàng. Mỗi hàng dài hàng trăm mét) nên ai cũng đen thui như Chà Và! Đến nỗi có người quen gần nhà, gặp Tú còn hỏi “phải anh Tú không?”May mà lúc gia đình Thơ đến đảo thì phái đoàn Canada cũng vừa đến mở văn phòng. Tú-Thơ vội vàng đến xin đi Canada. Ban đầu họ chỉ nhận dân professionel, nhưng sau đó Mỹ phản đối gay gắt nên họ nhận luôn mọi ngành nghề. Nhiều bác sĩ, kỹ sư, giáo sư phải khai gian là thợ sơn, thợ máy mới được nhận. Hai tuần sau thì đại gia đình Tú lên máy bay trực chỉ Québéc. Lúc quá cảnh Hawai có người bịnh nặng nên cả gia đình phải xuống để đưa người bệnh vào nhà thương. Rồi sau đó nghe nói họ lập nghiệp luôn ở đây. Cũng may mắn vì khí hậu Hawai quá tuyệt vời.
Dân tị nạn đến Montréal vào tháng năm nên khí hậu đã ôn hòa, dễ chịu. Người dân nơi đây thật hiền hòa, hiếu khách, tuy nhiên họ không biết tí gì về Việt Nam. Vì chỉ nhìn chiến tranh VN qua truyền thông, chỉ thấy cảnh quê nghèo, đồi núi chập chùng, rừng rậm âm u nên trong trí họ VN là một xứ nghèo nàn lạc hậu. Chẳng vậy mà có 1 conseiller người bản xứ đã khuyên các bác sĩ VN nên đi học nghề y tá để kiếm sống. Họ không biết rằng trường Đại học Nha Y Dược Việt Nam là một chi nhánh trực thuộc trường Nha Y Dược của Pháp và sinh viên học bằng tiếng Pháp. Rồi chỉ vài năm sau họ ngạc nhiên xiết bao khi hầu hết các bác sĩ, dược sĩ đã trở lại hành nghề và trong trường trẻ em Việt Nam học hành đều xuất sắc. Hơn thế nữa các em rất lễ độ với thầy cô nên được quý mến vô cùng. Tóm lại, thuở đó dân Việt Nam sống ở Montréal được người bản xứ hết sức kính trọng.
Thơ nhớ lại những tháng ngày vất vả trong cuộc sống mới nơi xứ người. Những ngày đi làm trong bão tuyết lạnh căm, gió thổi muốn bay vì người mình vốn nhỏ bé. Nhưng gian nan nào rồi cũng qua. Cái giá tự do trả thế cũng còn quá nhẹ. Cuộc sống êm đềm vì cả Tú lẫn Thơ đều không nhìn lên, không ganh tị hay so sánh với ai. Thơ vẫn tâm niệm rằng mỗi một con người đều có số mệnh riêng. Và mình biết đủ là đủ. Con cái lớn dần, đã ra riêng để sống cuộc sống của chúng. May mắn sức khỏe hai vợ chồng nàng khá tốt. Thơ luôn cám ơn Trời Phật đã cho gia đình nàng thoát khỏi chế độ bạo tàn và đưa đẩy đến xứ sở Canada, một xứ sở giàu mạnh lại đầy lòng nhân ái, vị tha. Một trong những nơi đáng sống nhất thế giới. Vợ chồng nàng không mong gì hơn. Thỉnh thoảng cơn ác mộng vẫn hiện ra, nhưng hình như càng ngày càng cách xa nhau. Thơ hy vọng trong tương lai “Nó” sẽ không đến quấy rầy nàng nữa. Thơ chỉ cầu mong được sống một cuộc đời bình lặng, thanh thản bên Tú và các con. Mong lắm thay!
TiểuThu
Mùa Đông 2024
THƠ THANH THANH
NGUYỄN XUÂN GIÁO1
1Cựu Trưởng Ty Cảnh-Sát Công-An Quốc-Gia, Tỉnh Thừa-Thiên.
Tôi ở “An-Điềm” mới chuyển qua,
Anh từ “Tiên-Lãnh” cũng đưa ra.
Một trăm bốn chục tù nguy-hiểm
Nhốt kín rừng sâu “Đồng-Mộ” xa.
Ai bảo! Bên ngoài: dân không “an”!
Bên trong: can-phạm cũng không “ngoan”!
Những tên đầu-sỏ: cần cô-lập,
Dập tắt trong đầu… mọi tính-toan!
Chúng bắt đi làm, mệt xỉu xâm;
Ngày hai lạng sắn (quý hơn sâm!)
Trích trong tiêu-chuần không lao-động:
Mấy chục ăn vào, trăm mấy thâm!2
2Mấy chục người đi “lao-động” được cấp thêm mỗi người mỗi ngày 200 gr sắn, xén bớt từ khẩu-phần cầm-hơi của hơn một trăm người không đi “lao-động”.
Những lúc đi chung một chặng đường,
Thấy anh tôi qúa ngậm-ngùi thương:
Tôi còn bước được theo đồng-đội,
Anh lết chân sên – một bộ xương!
Âu-dược gia-đình tiếp-tế cho:
Trại không có thuốc – nhập vào kho!
Cầu nhiều, cung ít, tù nhiều bệnh,
Đến lúc anh cần: hết sạch vo!
Bảy chín qua đi trong tối-tăm,
Tám mươi dời trại xuống “Thôn Năm”.
Rồi anh ngã bệnh, ngày càng yếu,
Đi+đứng xiên xiêu, phải dựa+nằm.
Xin chúng cho anh được viết thư:
Thư mang hy-vọng hoá huyền-hư.
Chúng cho viết hết, nhưng… không gửi!
(Điều đó, anh+tôi đã biết dư!)
Trí lụn, thân suy, óc muộn phiền;
Cháo ngày hai sét, đói liên-miên!
Thuốc-men chẳng có, không săn-sóc!
(Nếu chết thì lôi ra trước hiên!)
Đến lúc anh như đã hụt hơi,
Nửa mình lạnh cứng, tay buông xuôi,
Chúng cho võng chở về “Tiên-Lãnh”;
Chúng bảo: anh đi bệnh-viện rồi!
Đồng-bạn mừng cho anh gặp may:
(Không như Xuân, Xáng3 chết trong này)
Nào: “tiêu-chuẩn” thuốc! nào: “y-tá”!
Nếu được cho về nữa, lại hay!
3 Trung-tá Trần Như Xuân chết tại “Đồng-Mộ”; trung-tá Trần Phước Xáng chết tại “Nhà Trắng” trong trại “Thôn 5” (Trại “Tiên-Lãnh 2”); đều thuộc Quận Tiên-Phước, Tỉnh Quảng-Nam.
KHG Dương Nguyệt Ánh quyết tâm giải oan cho chiến sĩ VNCH, giáo dục giới trẻ, không thể hoà giải với nhà cầm quyền VNCS
KHG Dương Nguyệt Ánh – Hình do cô Ánh gửi cho HLC 2025
Đã 50 năm qua kể từ ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản (CS). 50 năm là một thời gian đủ dài để cho những người Việt tha hương xây dựng lại mái nhà và một đời sống sung túc mới bên ngoài quê hương. Nhưng 50 năm vẫn chưa đủ dài và có lẽ sẽ không bao giờ đủ dài để chúng ta quên đi cái tang chung và quên được Việt Nam (VN), hay nói rõ hơn là quên được Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).
Những ngày tháng đầu đặt chân đến Hoa Kỳ (HK) tị nạn, tôi vô cùng ngỡ ngàng khi thấy truyền thông, báo chí, sách vở, phim ảnh và học đường HK mô tả chiến tranh VN khác hẳn với những gì chính tôi và gia đình tôi đã sống qua. Vì thiên tả và phản chiến, họ đã thiếu lương thiện hoặc mù quáng đến nỗi bóp méo sự thật và nhục mạ không chỉ quân đội VNCH mà cả binh sĩ HK của họ. Vì thế quần chúng HK nói riêng và thế giới nói chung có một hiểu biết rất sai lệch về chính nghĩa của miền Nam. Bao nhiêu năm sau khi miền Nam sụp đổ, tôi vẫn mang trong lòng một cái hận. Cái hận nước mất nhà tan chưa đủ, tôi còn mang thêm nỗi uất hận và cảm giác đau đớn bất lực khi thấy chiến sĩ của mình tiếp tục bị hàm oan và sỉ nhục. Những người quân nhân HK thì bị vơ đũa cả nắm là những tên sát nhân phụ nữ và trẻ thơ. Những chiến sĩ VNCH vào sinh ra tử trong đó có anh ruột tôi thì bị vu khống là hèn nhát. Cả quân đội VNCH bị bỏ rơi và cuối cùng bị ra lệnh đầu hàng vào 30 tháng 4 mà tại sao bị đổ tội làm cho mất nước.
Hôm nay, tôi vẫn còn mang trong lòng sự tức giận này nhưng tôi không còn cảm thấy bất lực nữa. Trong khi tôi từ một người tị nạn buồn tủi năm xưa trở thành một công dân HK với đầy tự tin hôm nay thì tôi cũng đã học hỏi và nhận ra được nhiều điều. Tôi nhận ra rằng chính chúng ta phải tự giúp mình, chính chúng ta phải lên tiếng phản bác lại bọn truyền thông thiên tả, phải tự giải oan và không trông chờ vào ai khác. Ở những quốc gia tự do dân chủ như HK, ai cũng có thể lên tiếng tranh đấu hay bênh vực cho bất cứ một điều gì. Ngày nay với những sách báo điện tử và những trang mạng xã hội, truyền thông dòng chính không còn giữ độc quyền hướng dẫn dư luận nữa, và tiếng nói của thiểu số như chúng ta sẽ không sợ bị át giọng, miễn là ta có đủ quyết tâm.
Là thế hệ tị nạn đầu tiên chúng ta đã tạm lo xong chuyện cơm áo, đã thành công rực rỡ trên quê hương mới ở nhiều phương diện, và đã dựng lên những cộng đồng Việt trù phú ở khắp nơi. Bây giờ là lúc chúng ta đủ phương tiện và kinh nghiệm để dồn nỗ lực vào việc trả lại sự thật cho lịch sử. Chính chúng ta phải phục hồi danh dự cho chiến sĩ của mình và chính chúng ta phải giáo dục quần chúng về chiến tranh VN và chính nghĩa của quân dân VNCH, nhất là cho thế hệ con cháu của chúng ta. Với tình trạng thiên tả ở các học đường HK, từ sách vở tài liệu giảng huấn cho đến khuynh hướng chính trị của giáo sư, chính con cháu chúng ta cũng sẽ hiểu biết sai lệch nếu cha mẹ không giải thích.
Hậu quả là con cháu chúng ta không những sẽ không biết hãnh diện mà có thể còn mặc cảm về nguồn gốc VNCH của họ, cho rằng cha ông chỉ là những kẻ thua trận cay cú nên mới chống chính quyền VNCS. Từ đó họ không tha thiết đến việc tìm biết thêm về cái gốc của mình, không tham gia vào sinh hoạt của cộng đồng người Việt quốc gia (CDNVQG), và thờ ơ với những vấn đề liên quan đến sự trường tồn của dân tộc VN. Còn nếu họ có lòng và vẫn quan tâm đến VN thì chính vì họ xa lạ với CDNVQG, họ sẽ dễ nhiễm tuyên truyền và dễ ngả về phía CSVN.
Một trong những chiêu bài bọn tay sai CS ở hải ngoại dùng nhiều nhất là kêu gọi hòa hợp hòa giải và hợp tác với chính quyền VN. Đã gọi là hợp tác tức là phải có một mục đích chung. Mục đích của chúng ta là bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền quốc gia của VN, là tạo tự do, cơm no áo ấm cho người dân VN. Mục đích của họ chỉ là củng cố quyền lực cho đảng và giai cấp tư bản đỏ, bằng mọi giá và bất chấp mọi hậu quả cho dân tộc và tổ quốc VN, như đã được chứng minh bằng những hành động dâng đất dâng biển cho Trung Cộng và ăn cắp tài nguyên quốc gia làm của riêng. Mục đích của họ và của ta không những không thể dung hòa mà còn đối kỵ nhau nên người Việt quốc gia hải ngoại không thể hợp tác hay hòa hợp hòa giải gì với nhà cầm quyền VN được.
30 tháng 4 không thể chỉ là một ngày tang buồn với những hồi tưởng và nước mắt. Khi nhớ đến những cái chết bi hùng của chiến sĩ VNCH và những tai ương đã đổ lên đầu quân dân miền Nam, chúng ta cần có những bước tới tích cực hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa, để trả lại sự thật cho lịch sử, để giáo dục tuổi trẻ VN và dư luận thế giới về chiến tranh VN và phục hồi danh dự cho quân dân VNCH.
Tôi xin nhân dịp này bầy tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với những ai đã từng tranh đấu và hy sinh cho chính nghĩa tự do của miền Nam VN, những chiến sĩ đã bỏ mình, và những thưong phế binh đang sống tủi cực ở quê nhà. Nhờ chiến sĩ mà hôm nay tôi được sống tự do và bình an, được có cơ hội để theo đuổi những hoài bão riêng và mưu tìm hạnh phúc cho riêng mình. Tôi mãi mãi không quên ơn chiến sĩ.
Dương Nguyệt Ánh
April 2025
===============================
==============================
CHUẨN-TƯỚNG HUỲNH THỚI TÂY
Lê Xuân Nhuận
MỘt hôm, vào đầu tháng 3 năm 1975, tôi được Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia/Ngành Đặc-Biệt gọi vào mà không cho tôi biết trước lý-do hay mục-đích gì.
Cũng được xe-hơi dân-sự đón từ phi-trường, nhưng đến văn-phòng của Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương thì viên thiếu-tá bí-thư mời tôi qua gặp Trung-Tá Phạm Văn Ca, Giám-Đốc E2 (Nha Phản-Tình-Báo/Nội-Chính), theo lệnh của Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây.
Tôi đã từng cùng Trung-Tá Ca đi tu-nghiệp về “Chống Khuynh-Đảo” tại Úc-Đại-Lợi vào năm 1970 nên quen thân nhau.
Ca bảo tôi:
‒ Ông Tướng muốn biết trong thời-gian qua anh có làm gì sai trái hay không. Anh hãy ngồi đây, viết bản tự-thuật, kể hết những gì mà anh thấy là khuyết-điểm, xong rồi hãy qua gặp ông.
*
Tôi ngồi ôn lại mấy việc lớn/nhỏ mà tôi nghĩ là có thể đã làm Tướng Tây bất-bình về tôi…
Trong một buổi họp các cấp Trưởng E (Giám-Đốc Nha tại Trung-Ương và Nha tại các Vùng), Đại-Tá Huỳnh Thới Tây hỏi về “Biệt-Đội Thiên Nga” cùng các cơ-cấu không thấy có ghi trong Sắc-Lệnh tổ-chức của Ngành.
Tôi trình-bày về “Chiến-Dịch Đại Phong” và “Ký-Giả Tự Do”.
“Chiến-Dịch Đại Phong” là tên gọi của một phương-thức hoạt-động, theo đó thì nhân-viên Đặc-Cảnh sử-dụng người chỉ-điểm, là cán-bộ/bộ-đội/cơ-sở Việt-Cộng bị bắt mà tự-nguyện hợp-tác với ta, bằng cách ngụy-trang và tạo ngụy-tích cho đương-nhân không bị công-chúng, nhất là đối-phương, nhận ra.
“Ký-Giả Tự Do” là một/vài viên-chức Đặc-Cảnh hoặc cảm-tình-viên của Ngành, có năng-khiếu viết báo, làm phóng-sự, được giao nhiệm-vụ bí-mật trà-trộn vào giới ký-giả hiện đang ào-ạt săn tin giật gân, trong đó có nhiều phần-tử phản-chiến, thân-Cộng và cả là cộng-sản trá-hình. Ngành Đặc-Biệt can-thiệp với Bộ Thông-Tin, cấp “Thẻ Ký-Giả” cho họ, để phòng có ai thắc-mắc thì đưa ra cho họ xem. “Tự Do” nghĩa là gửi bài đăng trên bất-cứ báo nào, không hẳn là cộng-tác-viên nhất-định của một báo nào.
Tôi đã thật-tình và vô-tình nói rằng đó là những sáng-kiến của Trung-Tá Nguyễn Mâu.
Đại-Tá Tây ném mạnh cây bút xuống bàn, dằn giọng:
‒ Tôi là Huỳnh Thới Tây; làm việc với tôi thì hãy chỉ biết có tôi; tôi không cần biết Nguyễn Mâu là ai.
Việc Thăng-Thưởng Nhân-Viên
Một lần khác, cũng họp tham-mưu như trên, bàn về vai trò của “Cán-Bộ Điều-Khiển” (Case Officer: Điệp-Trưởng) trong các công-tác xâm-nhập (nguời của ta, do ta xây-dựng rồi cài vào hàng-ngũ địch) và nội-tuyến (người của địch, được ta móc-nối, sử-dụng làm tay-trong cho ta).
Đại-Tá Huỳnh Thới Tây ngỏ ý muốn nâng-đỡ giới này.
Tôi lấy tư-cách là người thực-sự đi sát và hiểu-biết nội-tình tại chỗ, trình-bày:
‒ Trước đây, Người Bạn Đồng-Minh đã nghĩ đến việc cấp một ngân-khoản phụ-trội hàng tháng cho tất cả viên-chức Ngành Đặc-Biệt, nhưng bên Cảnh-Sát Sắc-Phục phản-đối, nên việc không thành. Theo tôi, đáng khuyến-khích nhất là Cán-Bộ Điều-Khiển, như đại-tá vừa nêu ra. Nhưng đa-số Cán-Bộ Điều-Khiển thì là hạ-sĩ-quan.
“Nếu dùng sĩ-quan thì không những dễ-dàng hơn trong việc tiếp-xúc và nhờ-vã sự giúp-đỡ của người khác, mà còn có nhiều uy-tín và được tin-tưởng hơn đối với chính mật-viên của mình. Nhưng sĩ-quan Cảnh-Sát Đặc-Biệt thì đa-số đều mong được giữ chức-vụ chỉ-huy, mà khi đã là cấp chỉ-huy rồi thì họ lại mong được qua Sắc-Phục, hay nói đúng hơn là họ mong được hưởng những lợi-lộc như bên Sắc-Phục. Thí-dụ, ngay cả khi đã được cấp một chiếc xe Jeep rồi, mà xe lại có màu sơn và mang bảng số của xe thường-dân, thì họ vẫn thấy thua-kém xe Jeep sơn 2 màu lục+trắng của Cảnh-Sát (Sắc-Phục), vì bên Sắc-Phục vẫn được dân-chúng nể-sợ và dành cho nhiều ưu-tiên hơn.
“Còn muốn tưởng-thưởng các hạ-sĩ-quan CBĐK hữu-công thì cách xứng-đáng nhất là thăng cấp cho họ; nhưng họ vẫn nằm ở dưới các Trưởng G (Phòng), Trưởng H (Ban), nên họ còn lâu mới được thăng lên sĩ-quan.”
Đại-Tá Tây dằn mạnh cây bút xuống bàn, thốt lên một tiếng chửi thề, bỏ ra khỏi phòng.
Mọi người lặng im, lo sợ giùm tôi. Trung-Tá Nguyễn Văn Thuận, Trưởng D3 (Phụ-Tá Chuyên-Môn của Trưởng Ngành ĐB Trung-Ương) đưa tay ra dấu cho tôi chú ý đến anh. Trước kia, anh cũng đi Úc cùng chuyến với Ca và tôi.
Thuận nói:
– Mọi sự thưởng/phạt―thăng ai, giáng ai―đều nằm trong tay của ông. Nếu anh xin ông ban ơn đặc-cách thăng cấp cho các phần-tử hữu-công, thì ông sẽ mát lòng hơn.
Hệ-Thống Liên-Lạc Cảnh-Sát Hình-Sự
Trong vụ phi-cơ “Air Vietnam” bị nổ lựu-đạn tại Phi-Trường Phú Bài, Huế, khi tôi biết được thủ-phạm là Nguyễn Cửu Viết, tôi liền gửi điện cho Bộ Chỉ-Huy CSQG Quận liên-hệ tại Sài-Gòn, là nơi cư-ngụ của một người bạn của thủ-phạm (mà theo tin-tức tôi nhớ từ hồi còn ở Vùng II thì Viết đã nhờ chính người bạn này tìm-kiếm cho y một quả lựu-đạn) yêu-cầu trong đó chấp-cung “người-bạn” ấy.
Đại-Tá Tây cho rằng tôi đã vượt quyền, không trình lên ông là cấp trên, để ông ra lệnh cho các cấp dưới hữu-trách ở địa-phương khác thi-hành.
Theo tôi thì đây là thủ-tục hình-sự; tôi, với tư-cách Hình-Cảnh-Lại (danh-xưng mới, trước kia là Tư-Pháp Cảnh-Lại), Phụ-Tá Biện-Lý (Công-Tố-Viên) của Tòa Án Sơ-Thẩm, tại Đà-Nẵng (tôi cũng là Phụ-Tá Chưởng-Lý của Tòa Án Thượng-Thẩm Vùng I, tại Huế), tôi có thể phát lệnh truy-nã, trực-tiếp nhờ sự tiếp tay của các Hình-Cảnh-Lại khác (Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Khu, Tỉnh, Thị, Quận, v.v…) trên khắp nước, trong những vụ án cần được khẩn-cấp tầm+tra.
Huống chi CSQG của Việt-Nam Cộng-Hòa đã là Hội-Viên của Cảnh-Sát Quốc-Tế (InterPol).
[Hoa-Kỳ đã giúp Việt-Nam Cộng-Hòa tuyển-dụng viên-chức có bằng đại-học luật-khoa, nghiên-cứu về luật quốc-tế, hướng-dẫn tham-gia tổ-chức Cảnh-Sát Quốc-Tế [InterPol], thành-lập chi-nhánh Việt-Nam của Cảnh-Sát Quốc-Tế, đặt trụ-sở tại Tổng-Nha (nay là Bộ Tư-Lệnh) Cảnh-Sát Quốc-Gia.]
Trong một số trường-hợp khẩn-cấp các Hình-Cảnh-Lại còn có thể liên-lạc phối-hợp hoạt-động với nhau, không những vượt quản-hạt hành-chánh trong một nước, mà còn có thể vượt cả biên-giới quốc-gia.
Cấp-Hiệu CSQG cho Thám-Sát Đặc-Biệt
Vì đã huy-động Thám-Sát Đặc-Biệt* đi hoạt-động chung với Cảnh-Sát Dã-Chiến, Cảnh-Sát Sắc-Phục, và cả Nghĩa-Quân, Địa-Phương-Quân, nên tôi đề-nghị với Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng CSQG Khu I, và đã được ông chấp-thuận, cho một số cấp chỉ-huy của Thám-Sát Đặc-Biệt tại Vùng I được mang cấp-hiệu CSQG, để có uy-tín đối với các đơn-vị bạn mỗi khi đi phối-hợp hành-quân.
Họ mặc sắc-phục Cảnh-Sát Dã-Chiến, đội mũ-nồi bằng nỉ màu lục của Thám-Sát Tỉnh (PRU= Provincial Reconnaissance Unit) cũ, nhưng cấp chỉ-huy không mang dấu-hiệu gì để các cơ-quan đơn-vị bạn nhận biết rõ-ràng.
Nay thì tại Vùng I họ được mang thêm cấp-hiệu CSQG: Chỉ-Huy-Trưởng Liên-Đội Thám-Sát Đặc-Biệt Khu I mang cấp-hiệu thiếu-tá. Chỉ-Huy-Phó của đơn-vị này mang cấp-hiệu đại-úy. Các Chỉ-Huy-Trưởng của Đội Thám-Sát Đặc-Biệt thuộc các Tỉnh/Thị trong Vùng I cũng mang cấp-hiệu đại-úy.
Đại-Tá Huỳnh Thới Tây cho rằng tôi đã lạm quyền, vì Quyết-Định của Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc là do đề-nghị của tôi.
Riêng về việc này thì tôi tự nhận là đã xúi ẩu để Đại-Tá Lộc chấp-thuận, vì nếu chờ-đợi Trung-Ương thì chắc khó có kết-quả, bởi lẽ Thám-Sát Đặc-Biệt chưa có quy-chế thực-thụ CSQG―không có cấp-bậc, chỉ có chức-vụ và còn hưởng lương theo mức cố-định từ thời còn ở dưới quyền của CIA. Vả lại, việc mang cấp-hiệu này chỉ có giá-trị đối với 2 viên-chức tại cấp Vùng, và một viên-chức tại mỗi Tỉnh/Thị, và chỉ trong khi tham-gia hành-quân phối-hợp mà thôi.
[Hồi tôi còn làm Trưởng Ngành Cảnh-Sát Đặc-Biệt Vùng II, tôi đã trình xin và được Tư-Lệnh Quân-Đoàn II/Vùng II Chiến-Thuật chấp-thuận cho một trung-sĩ Cảnh-Sát Đặc-Biệt ở Tỉnh Bình-Thuận được mang cấp-bậc đại-úy QLVNCH để vào làm việc trong Ban Liên-Hợp Quân-Sự 4-bên. Nay làm Giám-Đốc Đặc-Cảnh Vùng I, tôi cũng đã xin và đã được Tư-Lệnh Quân-Đoàn I/Quân-Khu I chấp-thuận cho vài trung-sĩ Cảnh-Sát Đặc-Biệt của tôi ở Đà-Nẵng được mang cấp-bậc đại-úy QLVNCH để vào làm việc tại Ban Liên-Hợp Quân-Sự 2-bên.]
Một Khẩu K-59 Tước Được của VC
Trong một cuộc hành-quân, Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Quảng-Nam có tịch-thu được của Việt-Cộng một khẩu súng lục mới lạ, Địa-Phương chưa thấy lần nào.
Thiếu-Tá Chánh-Sở Lâm Minh Sơn báo-cáo lên tôi, tôi báo-cáo lên Bộ Tư-Lệnh/Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương.
(Lệnh trên ban xuống từ trước là trong trường-hợp tương-tự thì hãy chụp ảnh, mô-tả đặc-điểm hình dáng khẩu súng để xem nó thuộc loại nào.)
Sau đó, tôi nhận được lệnh nạp trình chiến-lợi-phẩm ấy lên Trung-Ương.
Gặp lúc có một cuộc họp tại Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, tôi được mời vào tham-gia.
Sau phần thuyết-trình tổng-quát của tôi, Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây hỏi tôi về khẩu súng trên.
Tôi có mang theo bản sao của tờ báo-cáo kèm theo hình-ảnh mô-tả của khẩu súng lục―gửi rồi nhưng chắc chưa đến tay ông―nên tôi lấy ra đưa cho ông xem. Tướng Tây đọc báo-cáo và nhìn hình-ảnh, xong hỏi khẩu súng đâu rồi, hãy trao cho ông.
Tôi đâu có khẩu súng ấy mà trao.
Số là Đặc-Cảnh ở Tỉnh đồng-thời cũng có báo-cáo kết-quả hành-quân lên Tỉnh, nên viên Tỉnh-Trưởng sở-tại đòi xem khẩu súng ra sao. Thấy khẩu súng quý, vì mới bắt được lần đầu, viên đại-tá Tỉnh-Trưởng bèn giữ lại, nói là mượn xem ít hôm. Liền đó, gặp dịp Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu ra thăm Quảng-Nam, viên Tỉnh-Trưởng sở-tại đưa khẩu súng ấy ra khoe; và thấy Tổng-Thống tỏ ý thích nó nên viên Tỉnh-Trưởng tặng luôn.
Thường thì chúng tôi báo-cáo tóm-tắt sự-việc ngắn gọn ra ở phần trước, còn các chi-tiết phụ-thuộc thì ghi ra ở phần sau, với các tài-liệu liên-hệ kèm theo.
Do đó, tôi đáp (như có ghi ở phần sau báo-cáo):
– Trình thiếu-tướng, Tổng-Thống đã lấy khẩu súng ấy rồi.
Nhưng Chuẩn-Tướng Tây chưa đọc phần sau của bản báo-cáo, không hỏi chi-tiết làm cách thế nào mà khẩu súng ấy lại đến thấu tay Tổng-Thống; ông nghĩ là tôi đã “qua-mặt” ông, tự ý vượt cấp tâng công trực-tiếp với vị Nguyên-Thủ Quốc-Gia.
Ông tức, gằn giọng:
– À, anh đã muốn “kiếm điểm” trực-tiếp với Tổng-Thống thì từ nay trở đi có gì anh cứ lên thẳng Tổng-Thống, đừng cần thằng này nữa nghe!
Vài Ngoại-Lệ
Tôi nghĩ cũng cần báo-cáo cả những việc-làm ra ngoài nguyên-tắc, phần thì để tỏ là mình thành-thật, phần thì để phòng Cấp Trên đã biết cả rồi (?).
1. Đời công: Tôi đã tự-ý thành-lập một “Phòng Tình-Hình” (không có trong sơ-đồ tổ-chức chính-thức của Ngành), để nhân-viên thay phiên nhau cùng làm việc 24 giờ/7 ngày với tôi, bắt cả nhân-viên trực máy tại các Tỉnh/Thị cũng cùng ở trong tình-trạng sẵn-sàng làm việc bất-cứ lúc nào liên-tục suốt ngày+đêm như tôi.
2. Đời tư: Có lần một viên Thanh-Tra Trung-Ương ngỏ ý muốn xem sinh-hoạt ban đêm tại Đà-Nẵng. Trong thời-gian đó, Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng cấm các sĩ-quan quân-nhân không được đến khiêu-vũ tại các vũ-trường, nên các Tỉnh/Thị-Trưởng cấm chung mọi người, mặc dù các chủ tiệm-nhảy đã được chính-quyền cấp cho giấy phép hành-nghề. Tôi đã đưa viên Thanh-Tra ấy vào một phòng trà+ca+vũ+nhạc; gặp lúc không có nhân-viên Cảnh-Sát Sắc-Phục, các cô vũ-nữ đã ào ra sàn, ông cũng ôm eo một cô lả-lướt như ai.
*
Tôi nhờ đả-tự-viên tại văn-phòng E2 đánh máy, xong ký tên, đưa bản Tự Thuật ấy cho Trung-Tá Phạm Văn Ca. Anh mang ngay vào trình cho Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây.
Lát sau, Ca trở lại, nói rằng Ông Tướng đang bận, bảo tôi tiếp-tục tường-trình các hoạt-động tại các Tỉnh/Thị thuộc Miền Trung.
*
Công-việc của tôi không phải chỉ là gửi+nhận công-văn & công-điện và đi thanh-tra, bình-thường như một số cấp chỉ-huy trung-gian khác, nhất là cấp Vùng.
Tôi đã tích-cực thực-hiện công-tác an-ninh & phản-gián của chính cấp Vùng. Có như thế mới xứng-đáng với sự hiện-diện và hiện-hữu của một cơ-quan cấp Vùng.
Đồng-thời tôi cũng hòa-nhập hoạt-động với các địa-phương, góp phần cụ-thể cùng họ vượt khó, tiến nhanh.
Tôi chỉ ghi lại một số sự-việc thí-dụ mà thôi. Tính từ Quảng-Trị vào đến Quảng-Ngãi. [Đã viết trong cuốn hồi-ký “Cảnh-Sát-Hóa” (trang 137-240) nên không nhắc lại ở đây.]
Tôi đưa bản thảo nhờ đả-tự-viên đánh máy giùm, xong nghĩ là mình cũng nên ghi ra những gì mà các thuộc-viên có thể hiểu lầm, dẫn đến bất-mãn, xuyên-tạc gì chăng.
Đại-Úy Cao Viết Song của Tỉnh Quảng-Tín
Không hiểu vì sao mà Đại-Úy (sau này là Thiếu-Tá) Lâm Minh Sơn, Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Quảng-Nam, và Đại-Úy Cao Viết Song, Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Quảng-Tín, được Bộ Tư-Lệnh CSQG thuyên-chuyển vào Sài-Gòn; xong rồi Sơn được trở lại với trách-vụ cũ, còn Song thì không.
Nhân dịp vào Bộ Tư-Lệnh, tôi hẹn với Song hãy đến gặp tôi, để tôi dẫn vào trình-diện và xin với Đại-Tá Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, cho anh trở lại nhiệm-sở cũ.
Nhưng Song trễ hẹn.
Tôi chỉ có thể nhân lúc báo-cáo thành-quả công-tác mà xin cho Song.
Tôi vào gặp Đại-Tá Tây―như một diễn-viên xuất-hiện trên sân-khấu vào một lúc nào đó nhất-định trong một vở tuồng―chứ đã ra khỏi phòng-giấy của ông rồi, đã đóng xong vai tuồng của tôi rồi, thì diễn-viên-tôi không thể tự-dưng vào lại sân-khấu. Tôi không thể nào trở lại, vào gặp bất-thường mà xin cho Song, bởi lẽ Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương bận rất nhiều việc―có lần tôi thấy buổi chiều ông vẫn ở lại làm việc cho đến tối đêm―vả muốn vào gặp thì phải trình xin phép trước―mà tôi thì không phải là một người thân-cận của ông. Thế thôi.
Đại-Úy Nguyễn Văn Tuyên của E Khu I
Vì Đại-Úy X, Chánh Sở Nghiên+Kế tại E6 (Ngành Đặc-Biệt Khu I) của tôi, được Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng CSQG Khu I, cử đi làm CHT/CSQG một Quận trong Vùng, tôi chọn một trong các đại-úy giảng-viên tại F4 (Trung-Tâm Huấn-Luyện Tình-Báo Căn-Bản Khu I), là các sĩ-quan chưa giữ chức-vụ chỉ-huy, lên thay.
Tôi không quen biết ai, mà chỉ xét qua hồ-sơ cũng như nhận-xét của cấp chỉ-huy trực-tiếp là Trưởng F4, thấy họ đều tốt như nhau, nên tôi chọn Đại-Úy Nguyễn Văn Tuyên. Tuyên là người có nét chữ viết tay khá đẹp, viết nhanh như tốc-ký (phòng khi tôi cần đọc gấp cho anh viết một văn-bản gì), và là tín-đồ Đạo Ki-Tô (để chứng-tỏ là mình không kỳ-thị ai―Ngay chính một viên vệ-sĩ và hai viên tài-xế của tôi, tôi cũng chọn người theo Đạo Kitô).
Nhân dịp cuối năm, có đợt thăng-thưởng chung cho mọi người, tôi đề-nghị cho anh lên thiếu-tá.
Tôi đích-thân thảo một Phiếu Trình đặc-biệt, bảo Tuyên cho đánh máy ngay, ghi số, đóng dấu, rồi trao tận tay cho tôi ký, để sáng hôm sau tôi mang vào Sài-Gòn, định sẽ nhân lúc tường-trình công-việc với Đại-Tá Huỳnh Thới Tây thì trao cho ông mà xin cho Tuyên.
Rồi tôi lo làm hồ-sơ thuyết-trình đến khuya, sáng lại là lên phi-cơ, vào gặp Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương.
Khi tôi đã làm xong việc tại Bộ Tư-Lệnh/Ngành Đặc-Biệt, nhân-viên biệt-phái tiếp-phát văn-thư tại Sài-Gòn mới tìm đến nơi tôi tạm-trú ở Sài-Gòn mà trao Phiếu Trình nói trên.
Cũng như trường-hợp của Cao Viết Song, tôi không thể nào vào lại, xin riêng cho Nguyễn Văn Tuyên. Hồ-sơ (bình-thường) đề-nghị thăng cấp cho anh, nằm chung danh-sách với các ứng-viên khác, đã không qua lọt hội-đồng tuyển-lựa bình-thường tại Nha Viên-Chức/Tiếp-Trợ, vì không có kèm Phiếu Trình đặc-biệt của tôi―đáng lẽ, nếu có, thì có bút-phê chấp-thuận đặc-biệt của Trưởng Ngành rồi.
Một Đại-Úy Muốn Có Chức-Vụ Chỉ-Huy
Có một đại-úy, tôi không nhớ tên, trong số các giảng-viên tại F4, có vợ là người quen thân với vợ của Đại-Tá Chỉ-Huy-Trưởng CSQG Khu I, đã nhờ bà này xin cho chồng mình được giữ chức-vụ chỉ-huy.
Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc ngỏ ý với tôi.
Tôi hứa là sẽ thu-xếp giùm.
Nhưng đối với Ngành Đặc-Cảnh thì việc đề-cử trách-vụ có phần khó-khăn hơn bên Sắc-Phục.
Ở Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia, hồi đó, có sự thi-đua hoàn-tất bổ-nhiệm, ổn-định chức-vụ, giữa các Khối, Nha, Sở, Phòng; từ Trung-Ương xuống các địa-phương.
Trưởng Ngành Đặc-Biệt tại Bộ Tư-Lệnh không muốn bị chê là mình làm chậm, hoặc không chính-xác―nếu cứ thường-xuyên thay-đổi phương-vị người này, kẻ kia, nếu không có gì khẩn-thiết―tức là xáo-trộn hệ-thống quản-trị, thống-kê, kế-toán―vì mỗi chức-vụ (có hưởng phụ-cấp) đều cần được hợp-thức-hóa bằng một Nghị-Định của Bộ/Trung-Ương.
Rất tiếc là mãi rất lâu tôi vẫn chưa thể đề-cử anh được vào một vị-trí chỉ-huy nào, vì chưa có chỗ nào khuyết―điều này hẳn là không làm vừa lòng bà vợ, và ngay cả cấp chỉ-huy trực-tiếp hàng ngang của tôi tại Vùng này…
*
Vì mọi người rất sợ Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình, không dám trình ông nhiều hơn những gì ông đã chỉ-thị, nên Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây cũng theo cách đó, ít ai dám hỏi nhiều hơn những gì ông đã nói ra.
Tôi nhớ có lần Đại-Tá Tây ra lệnh cho Cảnh-Sát Đặc-Biệt toàn-quốc báo-cáo về vấn-đề “giành lấn đất-đai”. Các nơi đua nhau thu-thập tài-liệu về chuyện chủ đất tranh-tụng nhau về bất-động-sản, công-thổ, tư-điền. Tôi hỏi Nha Tình-Báo (E1) là nơi phát ra lệnh ấy, thì trung-tá Giám-Đốc Nha ấy cũng chỉ nhắc lại lệnh của Cấp Trên như thế mà thôi.
Riêng tôi tự nghĩ chủ-quyền đất-đai là một hộ-sự, không thuộc Cảnh-Sát Quốc-Gia―coi về hình-sự―huống gì Ngành Đặc-Biệt là cơ-quan chính-sự. Chắc-chắn là việc Việt-Cộng nhân dịp ngưng bắn theo Hiệp-Định Paris mà lấn chiếm lãnh-thổ ở vùng xôi-đậu, nên đã bảo riêng các Tỉnh/Thị tại Vùng I tường-trình thêm về vụ này. Quả-nhiên, trong buổi họp tại Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương mà Đại-Tá Tây cho mời cả các Phụ-Tá Đặc-Biệt cấp Tỉnh/Thị tại Khu I vào dự, tất cả các Chánh Sở Đặc-Cảnh liên-hệ đều thuyết-trình giống như tài-liệu cấp Vùng của tôi; lúc đó mới biết là đúng nhu-cầu của ông.
Do đó, tôi không biết―vì hẳn Trung-Tá Phạm Văn Ca cũng không hỏi nên không biết―thực-sự Chuẩn-Tướng Tây muốn tôi trình-bày những gì.
*
Cuối cùng tôi được mời vào gặp Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây.
Ông cười hỏi tôi:
– Anh ngạc-nhiên lắm hả?
Tôi chưa biết phải nói gì thì Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương đã nói ngay:
– Chính tôi mới là người ngạc-nhiên, về anh.
“Ở Vùng I: Chánh Sở An-Ninh Quân-Đội đề-cao anh; Tham-Mưu-Trưởng Quân-Đoàn & Quân-Khu khen-ngợi anh; Trung-Tướng Tư-Lệnh Ngô Quang Trưởng ban-thưởng Anh-Dũng Bội-Tinh cho anh 3 lần, 2 với ngôi sao bạc, 1 với ngôi sao vàng. Cộng chung, tại Vùng I, cũng như tại Vùng II, ngoại-trừ các sĩ-quan quân-đội biệt-phái qua, thì anh là sĩ-quan Cảnh-Sát có nhiều huy-chương nhất, cả các loại của các quân-chủng bên quân-sự lẫn các loại của các Bộ bên dân-chính, và các loại huy-chương của Cảnh-Sát Quốc-Gia.
“Ở Trung-Ương: tôi hỏi các phụ-tá của tôi, Giám-Đốc các Nha, thì không ai chê-trách gì anh, mà họ còn tỏ ra quý-mến anh.
“Tôi đã phái Trung-Tá Phạm Trọng Tú, Thanh-Tra-Trưởng, ra tận nơi dò xét về anh, nhưng không tìm thấy điều gì sai trái, chỉ toàn ưu-điểm mà thôi…”
Ông cười, khiến tôi―từ chỗ thoạt đầu lo-ngại, tiếp đến ngạc-nhiên, rồi là vui-mừng―cũng cười theo ông.
Rồi ông đứng dậy, khiến tôi cũng đứng dậy theo.
Ông kết-luận:
– Tôi chỉ trực-tiếp trắc-nghiệm, để anh tự mình nói ra, rằng mình đã có làm gì bậy-bạ hay không. Mà không thì là tốt rồi. Thiếu-Tướng Tư-Lệnh cũng có đường dây kiểm-soát riêng, và cũng nhận thấy là anh có tài, có công, có tư-cách, đáng được tưởng-thưởng. Thiếu-Tướng đã ra lệnh thăng cấp cho anh vào “Ngày Cảnh-Lực” 1-6-1975* này. Bộ Tư-Lệnh đã dự-trù sẽ bổ-nhiệm anh vào một chức-vụ nào đó, quan-trọng và xứng-đáng hơn cương-vị hiện-thời.
“Thôi, chúc mừng anh. Tiếp-tục cố gắng.
“Và vui-vẻ ghé Nha-Trang thăm gia-đình nha!”
*Ngày ấy chưa đến thì Việt-Nam Cộng-Hòa đã tiêu-vong.
Cựu Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Biệt toàn-quốc (mà tôi gọi làTư-Lệnh Đặc-Cảnh Trung-Ương), sau ngày mất nước, đau nỗi đau chung, đã lặng-lẽ ẩn mình trong bóng tối, không xuất-hiện nơi công-cộng, không tuyên-bố, phát-biểu điều gì.
Ông mất tại Westminster, CA, USA, ngày 12-9-2010, hưởng-thọ 78 tuổi.
=====
ĐẠI-TÁ NGUYỄN HỮU DUỆ
Lê Xuân Nhuận
TÔI đã phát-biểu với Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia, có cả Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương, cùng nghe, rằng nếu tôi còn đảm-trách an-ninh & phản-gián Vùng I ngày nào thì ngày đó tôi còn ngăn-chận được mọi cuộc biến-loạn, cho Vùng ấy, và, do đó, cho cả Miền Nam*.
Tôi nói như thế liền sau khi tôi đề-nghị bổ-nhiệm hai sĩ-quan tín-đồ Kitô-Giáo làm Tỉnh/Thị-Trưởng và Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh/Thị, là hai chức-vụ quan-trọng nhất trong chính-quyền tại Tỉnh Thừa-Thiên và Thị-Xã Huế. Như thế nghĩa là sau khi thay-đổi hai quan-chức ấy, mà nếu tình-hình ngoài đó vẫn còn bất-an, thì chính tôi mới là người có thể dẹp yên các mưu-đồ quấy rối nội-chính tại Huế và Thừa-Thiên.
Đề-nghị của tôi đã được Trung-Ương chuẩn-y ngay.
Thế rồi, mới dự lễ giao+nhận chức-vụ Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh/Thị giữa Thiếu-Tá Liên Thành và Trung-Tá Hoàng Thế Khanh ở Huế xong, tôi đã phải ra ngoài đó lại để chủ-toạ lễ giao+nhận chức-vụ Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh/Thị: Trương Công Đảm thay-thế Trương Công Ân.
*
Nhớ hôm Trung-Tá Hoàng Thế Khanh nhậm-chức, ngay sau buổi lễ tôi đã đi vào một số văn-phòng thuộc Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực cũng như thuộc Sở Đặc-Cảnh Tỉnh/Thị sở-tại, để quan-sát và nghe-ngóng tình-hình chung. Ngoại-trừ số đông lâu nay vốn có thiện-cảm với tôi, có một số ít viên-chức sắc-phục cũng như dân-phục mà qua ánh mắt của họ nhìn nhau trước, trong và sau khi họ nói chuyện với tôi, tôi cảm thấy rõ-ràng rằng, dù Ngành Công-Lực ở cố-đô có do cá-nhân hay phe-nhóm nào đứng đầu đi nữa, thì bây giờ, đối với thiểu-số ấy, tôi vẫn chỉ là một người khách lạ, một người dưng, đáng nghi, đáng phòng.
Trước kia, Liên Thành tưởng tôi ăn-ý với Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng I, là Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, vốn có khuynh-hướng Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng, để chống phe-phái Đại-Việt Cách-Mạng-Đảng mà trong đó anh cùng Trương Công Ân là đảng-viên cấp cao.
Giờ đây, cánh ấy lại tưởng tôi thoả-hiệp với lớp mới là những phần-tử cực-đoan của dư-Đảng Cần-Lao để chống phá Phật-Giáo.
Trong lúc đó, chính Hoàng Thế Khanh cũng lo đề-phòng tôi, vì tôi nguyên là nhân-vật đầu tiên công-khai đơn-độc chống chế-độ độc-tài nhà Ngô, bị mật-vụ triều Ngô gán cho là thành-viên quá-khích của Đảng Đại-Việt để phát-vãng tôi ra khỏi Miền Trung vào năm 1960…
Tôi thì xưa nay vẫn là một người độc-lập. Tôi coi nhẹ các cấp lãnh-đạo nhất-thời; tôi chỉ chú-trọng quảng-đại quần-chúng miên-viễn ngoài đời và đa-số công-chức & quân-nhân trung-chính trong Chính-Quyền mà thôi.
Tôi tách mình riêng ra khỏi các bộ-phận đón-tiếp và tháp-tùng, để tiện tiếp-xúc với một số cá-nhân bộc-trực, trong số này có Đại-Uý Trần Vĩnh Thuận tức “Thuận Xù”*. (*Xem “Ông Đồn Lợi”). Anh có một bộ tóc bù-xù nên bạn-bè đặt cho anh cái tên như trên.
Thuận là một trong số các bạn thân của tôi ngày xưa, nhất là giai-đoạn liền trước biến-cố 1960, là năm chúng tôi xa nhau. Bây giờ anh là Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực một Quận ngoại-ô trong Tỉnh Thừa-Thiên.
Được tôi kéo ra để chuyện-trò riêng với nhau, câu nói đầu tiên của anh là trách-móc tôi:
– Tôi tưởng anh đã quên hết dĩ-vãng và bạn-bè!
Tôi chưa kịp nói gì thì Thuận đã nói tiếp, như để tăng phần khuấy-động tình-cảm trong lòng tôi:
– Anh Đặng Hữu Lợi đã chết, anh Trần Văn Cư đã mất, anh Phan Văn Trực đã qua đời, anh Lê Tấn Lực đã đi xa, anh Nguyễn Mầm đã thành phế-nhân, anh Nguyễn Duy Hát đã ra khỏi Ngành…
Những việc ấy, và cả nhiều việc khác nữa, tôi đã biết từ bao lâu rồi; nhưng khi nghe “Thuận Xù” nhắc lại tự-nhiên lòng tôi bỗng nhói đau như mới lần đầu tiên nhận được tin buồn về những người thân thương.
Chưa hết, “Thuận Xù” còn oái-oăm thò tay vào trong cổ áo tôi, nắn tìm xem tôi có mang một sợi dây chuyền nào không. Khi không thấy gì, anh mới ôm chầm lấy tôi mà hôn.
Ngày xưa, khi Ông Ngô-Đình Diệm mới về nước chấp-chánh, tôi là người đã ủng-hộ ông tận-tình, đơn-độc, liều-lĩnh ly-khai khỏi BTL Đệ-Nhị Quân-Khu, tức chống lại nhóm Hinh+Xương, dùng phương-tiện của Quân-Đội Quốc-Gia lúc ấy đang chống Diệm để phát-triển ảnh-hưởng ban sơ đang còn mong-manh của họ Ngô, mở đường cho thế-lực nền Đệ-Nhất Cộng-Hoà sớm vững mạnh bắt đầu từ Miền Trung.
Do đó, sau khi chính-quyền Diệm đã ổn-định, giới-chức hữu-trách trong Quân-Đội đã đề-nghị Trung-Ương ban thưởng “Quân-Công Bội-Tinh” cho tôi. Các sĩ-quan lãnh-đạo Ngành Chiến-Tranh Tâm-Lý tại Đệ-Nhị Quân-Khu, lúc đó toàn là những phần-tử thân-tín của Cố-Vấn Ngô Đình Cẩn, đã tặng tôi một sợi dây chuyền có treo một thập-tự-giá bằng vàng để làm kỷ-niệm khi quân-nhiệm của tôi đã mãn hạn-kỳ.
Thủa ấy, có nhiều công-chức và quân-nhân bỏ đạo của mình để theo Đạo Kitô. Số người cả trong lẫn ngoài chính-quyền tuy không phải là con chiên của Chúa mà cũng đeo thập-tự-giá dưới cổ thì khá đông. Không rõ do ai kể lại mà Thuận biết tôi cũng có một cái, nên anh cứ dòm chừng tôi, xem tôi có đeo hay không.
Ngày nay, “Thuận Xù” cố ý nhắc tôi nhớ lại cái vật trang-sức ấy, cái ý-nghĩa tượng-trưng của một phản-ứng người, trước một bối-cảnh đời.
Chỉ vừa mới thay-đổi cấp lãnh-đạo chính-viện Tỉnh có mấy hôm, và đến hôm nay thì mới thay-đổi cấp chỉ-huy Ngành An-Ninh (chưa động đến Ngành Phản-Gián) sở-quan, mà màu-sắc tín-ngưỡng của cá-nhân họ đã tác-động sâu-đậm lên tâm-lý của số đông viên-chức địa-phương như thế này sao?
Tôi cũng đã có linh-tính và ước-tính là sẽ có một cái gì đó xảy ra, nhưng tôi đã cắt đứt chiều-hướng xung-khắc của nhóm Linh-Mục Nguyễn Kim Bính ở Phú Cam đối với Chính-Quyền Tỉnh/Thị dưới thời Đại-Tá Tôn Thất Khiên rồi. Thế mà đường-lối đối-nghịch của họ lại nhắm sâu vào cả các chính-đảng và tôn-giáo khác, nhất là Phật-Giáo, mà tổ-chức quần-chúng là “Lực-Lượng Hoà-Hợp Hoà-Giải Dân-Tộc” thì cũng đang cùng đương-đầu với Chính-Quyền Trung-Ương.
Trong trường-hợp Đại-Việt Cách-Mạng-Đảng bất-hòa với Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng, chắc “Thuận Xù” không cần nhắc-nhở gì tôi. Chỉ có trường-hợp Kitô-Giáo chèn ép Phật-Giáo, mới khiến anh phải bày-tỏ thái-độ như thế với tôi.
Thế mới biết, làm một người trung-lập không phải là việc dễ. Hầu như mọi người, nhất là trong Chính-Quyền, trong các giáo-hội và trong các chính-đảng, đều đinh-ninh rằng, người nào cũng phải là đảng-viên của một đảng nào đó, tín-đồ của một đạo nào đó, hay ít nhất cũng là đồ-đệ của một nhân-vật nào đó. Điều tệ-hại nhất là khi người ấy không thuộc cùng một cánh với mình thì người ta coi người ấy như kẻ phản-động, như kẻ thù.
Đáng lẽ tôi nói cho “Thuận Xù” biết về lập-trường của tôi; nhưng tôi lại ngại là anh sẽ kể lại với người khác, và người khác ấy lại tưởng rằng tôi cốt thanh-minh để mong cầu một chút ân-huệ gì của họ chăng.
Năm 1954, nếu tôi vượt qua những thủ-tục thông-thường trong các cơ-quan quân-sự và hành-chánh, nhất là vượt qua lòng tự-trọng của chính mình, như lắm kẻ đã làm, đến kể công với Cố-Vấn Ngô Đình Cẩn, hoặc Cố-Vấn Ngô Đình Nhu, hoặc chính Thủ-Tướng Ngô Đình Diệm, thì chắc-chắn là tôi đã được ban cho nhiều đặc-quyền đặc-lợi rồi. Năm 1967, nếu tôi kể công với Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu rằng tôi đã bí-mật nhúng tay phá vỡ âm-mưu đảo-chính của Thiếu-Tướng Nguyễn Cao Kỳ để bảo-toàn kết-quả cuộc bầu-cử đem lại thắng-lợi cho ông ngồi vững trên ghế Nguyên-Thủ Quốc-Gia, thì cũng chắc-chắn là tôi đã được trọng-thưởng nhiều rồi.
Vì tự-trọng và tự-ái, tôi chấp-nhận im-lặng, chỉ mình tự biết lấy mình.
Và mình đã nghĩ đúng, nói phải, làm hay, là đủ rồi.
Tuy nhiên, về vấn-đề đối-nghịch giữa Kitô-Giáo với Phật-Giáo thì tôi phải nói, vì tôi là một chứng-nhân.
Xét chung thì chế-độ Ngô Đình Diệm đã tạo hoàn-cảnh cho một số tín-đồ Kitô-Giáo, và cả một số không phải là con chiên của Chúa, xúc-phạm đến các tôn-giáo khác, nhất là Phật-Giáo mà tổng-số tín-đồ lên đến trên chín mươi phần trăm dân-số, nên các lãnh-tụ Phật-Giáo phải đứng lên tranh-đấu đưa đến cuộc Cách-Mạng 1-11-1963.
Ngày xưa, dưới thời Pháp-thuộc, các quan cai-trị thực-dân Pháp và triều-đình Huế tay-sai đều nằm trong vòng ảnh-hưởng của các cha-cố thuộc Toà Thánh Vatican, nhưng việc lấn-át chỉ xảy ra trong một số lãnh-vực và nhắm vào một số đối-tượng nhất-định, chứ không chèn-ép tràn lan người dân nô-lệ Việt-Nam vốn đại-đa-số là đệ-tử Cửa Thiền.
Liền trước thời Diệm, khi đế-quốc Pháp trở lại với súng đạn viễn-chinh thì cụ Trần Văn Lý lên chấp-chánh ở Miền Trung. Dù là một nhân-sĩ Kitô-Giáo, được Pháp và giáo-hội hậu-thuẫn và nể-vì, nhưng cụ có ỷ vào chức quyền để rẻ-rúng người nào không cùng tín-ngưỡng với mình đâu.
Dù sao, nếu cho rằng mọi tín-đồ Đạo Kitô dưới thời Diệm đều muốn đè bẹp Đạo Phật thì cũng không hoàn-toàn đúng.
Năm 1960, tôi bị đày lên xứ Thượng và bị “mật theo-dõi hành-vi chính-trị”, nghĩa là tôi thuộc thành-phần “phản-loạn” (dưới chế-độ Diệm không có “đối-lập”). Trớ-trêu thay, tôi được Giám-Đốc Cảnh-Sát Công-An trên này cử làm Trưởng Ban Điều-Tra Đặc-Biệt của Nha, bất-chấp lệnh cấm của Tổng-Nha. Nhiệm-vụ và quyền-hạn của tôi là bắt giữ, thẩm-vấn và lập hồ-sơ truy-tố các vụ vi-phạm, cả hình-sự lẫn chính-trị, khắp các Tỉnh ở cựu-Hoàng-Triều Cương-Thổ này.
Tại thủ-phủ của Cao-Nguyên, tôi đã đối-diện với nhiều tín-đồ Kitô-Giáo, vừa là thanh-niên học-thức, vừa là chấp-sự thân-cận của các Cha Xứ ở các Địa-Điểm Dinh Điền và Khu Trù Mật nổi tiếng thịnh-vượng và an-ninh của đồng-bào Miền Bắc di-cư, như Châu Sơn, Kim Châu Phát, Khuê Ngọc Điền, v.v…
Về mặt chính-trị nội-bộ, các thành-viên Kitô-Giáo bị báo-cáo là có ngôn-ngữ và thái-độ chống-đối Chính-Quyền, mà tôi lần-lượt mời đến hỏi cung, đều mạnh-dạn vạch rõ sai-lầm của chế-độ Diệm trong vấn-đề tôn-giáo, và khẳng-định rằng họ phản-đối mọi âm-mưu và hành-động của những kẻ đàn-áp Phật-Giáo. Chính Linh-Mục Nguyễn Viết Khai, là cha đỡ-đầu của Diệm, mà cũng chống Diệm về vấn-đề này. Theo họ, Thánh-Kinh tức là Lời Chúa, có khuyến-khích con chiên mở rộng Hội Thánh, nhưng bằng rao-giảng chứ không phải bằng bạo-lực hay mồi-bả vật-chất của thế-gian.
Biên-Tập-Viên Nguyễn Hữu Liêm và Thẩm-Sát-Viên Nguyễn Giang, ngồi cùng phòng với tôi, vừa làm việc vừa liếc nhìn tôi mà cười. Mà buồn cười thật, chính tôi cũng tự cười mình: một viên-chức an-ninh bị chế-độ trừng-phạt vì chống-đối chế-độ mà lại nhân-danh chế-độ đứng ra bắt lỗi những phần-tử cũng chống-đối chế-độ như mình!
Không lâu trước ngày tôi bắt đầu điều-tra các đối-tượng này, ở Ban Mê Thuột đã xảy ra một cái chết gây sôi-nổi dư-luận gần xa. Nguyên dưới quyền của Biên-Tập-Viên Liêm có một Đội Biệt-Kích Công-An, chuyên đi lùng diệt Việt-Cộng tại khắp các tỉnh Cao-Nguyên. Một hôm, có một đội-viên tên Nguyễn Văn Nam, cùng với đồng-đội mới đi công-tác về, bị mót đại-tiện nên vừa từ trên xe nhảy xuống là đã vội-vàng chạy tuốt vào trong nhà tiêu. Vì gấp-rút và không có gì khác hơn nên anh đã dùng một mảnh giấy báo mà lau hậu-môn. Ngẫu-nhiên có một đội-viên khác, cũng vào cầu-tiêu, trông thấy mảnh giấy báo của Nam có in ảnh của Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, nên lưu-ý anh về việc này. Người bị bắt gặp quả-tang “phạm-thượng” đã rút súng tự bắn vào đầu chết ngay tại chỗ―Anh sợ bị đưa ra “phê-bình” trong các buổi “Học-Tập Chính-Trị và Công-Dân Giáo-Dục”, và sau đó là những hậu-quả khôn lường.
Một số trong các tín-đồ Kitô-Giáo nói trên, trong lúc khai-cung, đã đề-cập với tôi về vụ đó, và một người đã chất-vấn tôi:
– Dưới thời Nho-Giáo cực-thịnh, mọi người đều phải tôn-trọng ngay cả bất-cứ một mảnh giấy nào trên đó có Chữ Nho, vì Chữ Nho là biểu-tượng của Đạo Nho, của Đức Khổng-Tử. Tuy thế, nếu có kẻ dùng sách giấy có Chữ Nho, hình-ảnh Đức Khổng-Tử, mà lau hậu-môn, thì kẻ ấy chỉ bị quở mắng, hoặc bị đánh đòn, một lần rồi thôi, chứ có ai vì cái lỗi ấy mà bị hành-hạ tàn-nhẫn đến độ thà tự-tử chết còn hơn để bị bắt giam? Qua cái chết của anh ấy, cũng là đồng-nghiệp Công-An với các anh, các anh nghĩ sao về chế-độ này?
Các anh Liêm và Giang đã đồng-ý với tôi, dẹp bỏ biên-bản chấp-cung, để cho các phần-tử “Công-Giáo công-chính” ấy tự tay viết các lời khai theo ý họ, xong để họ ra về tự-do, rồi đệ-trình hồ-sơ lên Cấp Trên “để tuỳ-nghi thẩm-định” với cái đề-nghị đã trở thành công-thức là “tiếp-tục mật theo-dõi hành-vi chính-trị” của các đương-nhân.
Tôi nhấn mạnh với “Thuận Xù” điều đó, và nhắc thêm về biến-cố 1960: cùng bị đày ra khỏi Huế và các tỉnh thành lớn, lên miền lam-sơn chướng-khí một lần với tôi, còn có các anh Trần Văn Liệu và Trần Tòng; họ cũng là tín-đồ Kitô-Giáo, cũng là dân Phú-Cam, trung-tâm ảnh-hưởng của gia-đình họ Ngô. Trước đó, nhân-sĩ Trần Điền mà tôi quen thân hồi ông còn làm Giám-Đốc Nha Thông-Tin và hầu hết đồng-bào gần xa đều biết tiếng, là thủ-lãnh Hướng-Đạo Việt-Nam, là một nhà trí-thức Kitô-Giáo lừng danh, mà cũng chống-đối Diệm và bị Diệm kết án tử-hình…
Thế thì đâu có phải là đồng-bào Kitô-Giáo nào cũng dễ-dàng đồng-minh với Quỷ Satan?
Thế mà hiện nay vẫn còn có một số thuộc cả hai bên chưa chịu làm lành với nhau.
Ở Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia, người ta kháo chuyện với nhau về một chuyến đi thanh-tra Thừa-Thiên/Huế vừa rồi của Trung-Tá Trần Văn Hương.
Các cấp chỉ-huy ở đây bố-trí cho Hương ngủ ở khách-sạn, ăn ở nhà-hàng, và chi-tiêu linh-tinh gì đó. Khi anh về Trung-Ương rồi, Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực ngoài này, dưới thời Thiếu-Tá Liên Thành, liền gửi một xấp hoá-đơn vào Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia, nơi đã phái Hương đi công-tác, để xin thanh-toán tiền phòng, tiền ăn, v.v… cho Hương!
Ngoài việc Hương bị xem như đã có đòi-hỏi địa-phương cung-phụng này kia, các viên-chức khác từ đó về sau đều ngán Miền Trung, nếu phải ra Huế là lo giữ mình đủ điều.
Nguyên-do là Hương nguyên là Cảnh-Sát-Trưởng ở Huế, dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Hoà, và là tín-đồ Đạo Kitô.
Vấn-đề tôi đặt ra với anh+em, không phải chỉ là cá-nhân Trần Văn Hương thật ra là một người tương-đối không quá xấu, không đáng để bị chơi khăm cách đó, nhưng mà là đối với bất-cứ ai, dù trong quá-khứ đã làm việc gì không hay, mà sau đó tình-trạng đã được giải-quyết rồi, và trong hiện-tại họ là người mới, không phạm lỗi gì, thì mình không nên tiếp-tục oán thù vì chuyện đã qua.
Chúng ta ai nấy đều có rất nhiều bạn thân, kể cả thân-nhân, không cùng tôn-giáo với mình. Đừng để sự khác-biệt tín-ngưỡng xen vào làm sứt-mẻ mối gắn-bó trong đời sống giữa những con người với nhau.
*
Trong nội-bộ Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên, có hai Phòng quan-trọng, là Nghiên+Kế và Tác-Vụ; mà hai Chủ-Sự Phòng thì không hợp nhau vì tín-ngưỡng khác nhau.
Trước kia, tôi được cho biết là Trung-Uý Dương Đại Chung báo-cáo tình-hình chính-trị quốc-nội cho Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, ngay cả trước khi lập công-điện hay công-văn trình lên Cấp Trên. Đây là một vấn-đề phức-tạp và tế-nhị vô cùng. Đúng ra, trên nguyên-tắc thì công-chức và quân-nhân không được tham-gia hoạt-động cho một đảng-phái chính-trị nào; nhưng trên thực-tế thì, dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Hoà, Đảng Cần-Lao Nhân-Vị đã rập khuôn đảng cộng-sản mà đặt nền-móng bên trong các cơ-quan chính-quyền và đơn-vị quân-lực; và, dưới thời Đệ-Nhị Cộng-Hoà, Đảng Dân-Chủ tuy ra đời sau nhưng cũng đã lan tràn bên trong các công-sở và quân-doanh; cho nên không ai nhớ đến cái nguyên-tắc ấy nữa. Trong lúc đó, không có văn-bản nào cấm các tín-đồ tiết-lộ việc công và việc quân cho các vị “lãnh-đạo tinh-thần”. Có thể là người ta tin rằng việc ấy sẽ không xảy ra; hoặc có thể là người ta cố ý tránh né vì sợ làm mếch lòng các giáo-phái; mà cũng có thể là người ta mặc-nhiên chấp-nhận và cho phép việc làm này? Và, lẽ tất-nhiên, một khi các chính-trị-gia đã có tai+mắt trong các công-đường và binh-trại rồi, thì các tu-sĩ cũng chẳng chịu thua-kém gì ai. Cho nên tôi không trách phạt gì Chung, vì thật ra có một số viên-chức thuộc các giáo-hội khác, các chính-đảng khác, ở khắp nơi, sau này cũng có bắt chước hành-động như Chung, mặc dù không nhất-loạt và tích-cực bằng. Bù lại, lần nào ra Huế tôi cũng tiếp-xúc với anh, để xoá cho anh cái mặc-cảm bị lạc-lõng vì khác phe, và để tận-dụng trong anh cái tinh-thần phục-vụ vốn tiềm-tàng của mỗi người.
Tôi đã lập lại cái thế thăng-bằng trong quan-hệ đối-nhân, và thấy được kết-quả tốt. Ít nhất thì anh cũng đã góp phần gỡ bí chung, khi Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây trực-tiếp gọi máy hỏi tôi về cuộc mít-tinh đang diễn ra. Buổi sáng củ-mật ấy, Linh-Mục Nguyễn Kim Bính triệu-tập giáo-dân trước sân và xung quanh nhà thờ Phú-Cam, chuẩn-bị khí-thế cho một cuộc xuống-đường mới, dự-trù hùng-hậu và quyết-liệt hơn lần rồi.
Tôi đã ra Huế, có mặt tại chỗ, nhưng phải nhờ đến Chung, là người trong cuộc, mới biết đủ những gì khuất kín bên trong giáo-đường, vì các nhân-viên khác tín-ngưỡng khó lòng mà len-lỏi vào được trong cái tập-thể chọn-lọc và có cảnh-giác cao ấy, để chụp ảnh, ghi-âm, nhận-diện thành-phần cực-đoan, thu-thập hành-tung những kẻ khả-nghi, và định-vị cái đài vô-tuyến phát-thanh mà nhà thờ này được phép sử-dụng từ thời Đệ-Nhất Cộng-Hoà―ngày xưa là để giúp các tín-đồ già-yếu bệnh-tật, không đến giáo-đường nổi, cũng có thể ở nhà mà nghe giáo-lễ do đồng-đạo cử-hành; ngày nay là để phổ-biến đến khắp ngõ hẻm hang cùng những lời hô-hào chính-trị phát-động các cuộc mít-tinh, xuống đường chống chính-quyền.
Ngày nay, có Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ và Trung-Tá Hoàng Thế Khanh, Chung và các bạn của anh đương-nhiên thoả-thích hơn.
Ngược lại, Trung-Uý Dương Văn Sỏ, Trưởng Phòng Tác-Vụ, trước các cấp chỉ-huy đều mới, thì không khỏi giao-động tinh-thần, vì không ai đoán được chữ ngờ.
Thượng-Sĩ Lê Văn Y, một Trưởng Lưới Tình-Báo xuất-sắc của Đặc-Cảnh Quận Ba, Đà-Nẵng, mà vì Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực địa-phương không ưa nên đã phải đổi vùng. Thiếu-Uý Nguyễn Ba, một điệp-trưởng hữu-công của Tỉnh Thừa-Thiên, lại là người của Đảng Đại-Việt lúc đương-quyền, mà vì không được lòng các cấp chỉ-huy cùng Đảng nên cũng đã bị đẩy đi xa. Thiếu-Uý Trương Quang Thanh năng-động của Tỉnh Quảng-Nghĩa, phải sống xa quê vì tuy là đảng-viên Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng mà không cùng hệ-phái với các cấp chỉ-huy.
Huống gì gốc-gác của Trung-Uý Sỏ thì rõ-ràng xa-cách với thế-lực cầm quyền hiện giờ.
Do đó, tôi phải duy-trì chỗ đứng của Sỏ, vì đó vừa là tai+mắt vừa là tay+chân của Ngành, không thể để lọt vào người khác phe, khi mà vấn-đề phe-phái đã được chính Trung-Tá Hoàng Thế Khanh không ngần-ngại công-khai nêu lên với Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc và tôi.
Một mặt, tôi giao-tiếp với Sỏ nhiều hơn, để tỏ là đã có tôi đích-thân chăm-sóc khả-năng phục-vụ của anh; mặt khác, tôi đề-cao hai viên-chức khác, chủ ý là nếu phải thay-thế Sỏ thì hẳn là Khanh sẽ phải chấp-nhận một trong hai người này mà thôi. Tôi làm như thế là để vẫn giữ cái thế thăng-bằng trong nội-bộ cơ-quan; nếu không thì một mình Chánh Sở Đặc-Cảnh Trương Công Đảm bị kẹt ở giữa khó lòng mà hoàn-thành trách-vụ của mình.
*
Cũng như ở các Tỉnh khác, ngoài các viên-chức Đặc-Cảnh địa-phương, tôi đã có một số bạn-bè thân-tín, thuộc nhiều giới, ở Thị-Xã Huế và Tỉnh Thừa-Thiên.
Dù không phải là kẻ đa-nghi, song kinh-nghiệm bản-thân không cho phép tôi làm kẻ dễ tin. Thỉnh-thoảng tôi vẫn phải xét lại một vài vấn-đề, dù là bề ngoài không có gì bất-thường.
Tôi tin vào các cộng-sự-viên của mình; nhưng nếu chính các đương-nhân thật tình không nắm vững tình-hình hoặc bị đánh lừa, thì lẽ nào tôi chịu để cho mình cũng cùng bị thiếu-sót hay sai-lầm sao? Nhiều khi gặp phải những bài toán khó giải, tôi đã nhờ vào linh-tính, trực-giác hay “giác-quan thứ sáu”, nhất là thái-độ vô-tư của mình. Nhưng xác-thực nhất bao giờ cũng là tin-tức, tài-liệu, và sự hiểu-biết của các thân-tình-viên nói trên; nhờ họ, tôi đã nhiều lần biết được, và cả biết trước, những mưu-đồ ám-muội của một số nhân-vật này, phe-phái kia…
*
Sau cuộc họp báo của Ngành Đặc-Cảnh chúng tôi tố-cáo Tổng-Hội Sinh-Viên Huế và cả “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”, qua Linh-Mục Nguyễn Kim Bính tại Phú-Cam, đều đã bị Việt-Cộng xâm-nhập và lợi-dụng, thì tình-hình nội-an ở Huế, và cả toàn-quốc, đã lắng dịu đi rất nhiều.
Sinh-viên ở Huế trở lại sinh-hoạt bình-thường, chăm lo trau dồi kiến-thức văn-hóa, không còn bung xung hò hét ồn-ào như thời-gian qua.
Sinh-viên ở Sài-Gòn, mà cái Tổng-Hội trong đó vốn cũng đã bị Cảnh-Lực Quốc-Gia tố-cáo là bị cộng-sản giật dây, nay thêm sáng mắt―chỉ trừ số ít phần-tử cơ-sở Việt-Cộng và thân-Cộng mà thôi.
Về phần “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”, thì Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, Cha Xứ Phú-Cam, đã bị khựng lại, nên ngưng xuống đường; và Linh-Mục Trần Hữu Thanh trong Nam thì cũng, do đó, ngưng các mưu-tính biểu-tình.
Như thế là chúng tôi đã thành-công trong việc ngăn-chận và dập tắt các nỗ-lực xúi-giục toàn-quốc đồng-loạt tuần-hành, gây xáo-trộn trật-tự công-cộng, làm mất an-ninh chung trong mọi giới dân-nhân, tạo hoàn-cảnh và cơ-hội cho kẻ địch lèo-lái mà biến thành xung-đột đẫm máu, kể cả cơ nguy bị đối-phương xâm-chiếm từng cơ-quan, đơn-vị, hay khu-vực ly-khai hay tự-trị ngay trong nội-địa lãnh-thổ Quốc-Gia, mà ảnh-hưởng dây chuyền có thể là mất hẳn cả Miền Nam.
(Tuy nhiên, về mặt tinh-thần, “Phong Trào Chống Tham Nhũng” vẫn còn cố-thủ, tiếp-tục và gia-tăng các nỗ-lực sách-động cũ, trong các nhà thờ, trong các họ đạo, và cả trong giới giáo-dân quân-nhân, thậm chí kêu gọi làm binh-biến, dùng bạo-lực lật đổ Tổng-Thống Thiệu―tức là tuy không mở cổng cho địch vào đồn, mà lại mở lòng, mở ý, sẵn-sàng đón mời “đồng-minh”, vì cùng là kẻ thù của tổng-thống Việt-Nam Cộng-Hòa!)
Mục-đích của nhóm tu-sĩ Kitô-Giáo quá-khích không phải chỉ là lật đổ Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu, mà là tái-lập một chế-độ kiểu Ngô Đình Diệm, nghĩa là dù cho sẽ không có một Tổng-Thống tín-đồ Đạo Chúa với một mạng lưới khủng-bố kiểu Đảng Cần-Lao―vì vào thời đó không có một nhân-vật nào có thể có đủ điều-kiện là một ứng-viên kiểu đó vào chức-vụ đó―thì họ cũng sẽ tìm đủ mọi cách đưa vào Chính-Quyền những nhân-vật và những chính-sách hoàn-toàn do họ giật dây, mục-đích là đàn-áp các giáo-hội khác, để phát-triển Đạo Kitô.
Bây giờ, kế-hoạch thứ nhất―toàn-quốc xuống đường xáo trộn an-ninh, tạo sức ép lớn cả trong lẫn ngoài đủ để lật Thiệu―vì tôi mà đã bất-thành, thì họ xoay qua kế-hoạch thứ hai.
Tôi đã cài-cấy tay-trong trong mọi tổ-chức, dù là chính-trị, kinh-tế, văn-hóa, xã-hội, kể cả tín-ngưỡng. Đặc-biệt trong vấn-đề này tôi càng theo sát ý-đồ và đường-lối của các mục-tiêu, bắt đầu từ Huế, từ xóm Phú-Cam mà ra.
Kế-hoạch thứ hai của họ là triệt-hạ dần các phần-tử nguyên là thành-viên hoặc có cảm-tình, hoặc bị nghi là liên-hệ gần+xa với phe “Phật-Tử Tranh-Đấu” vốn đã góp phần lật đổ Nền Đệ-Nhất Cộng-Hòa. Đối-tượng của họ nằm ở mọi nơi, dân cũng như quân, ở cả ba ngành lập-pháp, hành-pháp và tư-pháp trong Chính-Quyền Đệ-Nhị Cộng-Hòa.
Và họ bắt đầu ra tay.
Một hôm, không lâu trước ngày Thừa-Thiên triệt-thoái rồi Vùng I lui quân, một số đơn-vị Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa đi hành-quân trong hoạt-vực của Chi-Khu Phong-Điền, thuộc Tỉnh/Tiểu-Khu Thừa-Thiên, đã phá vỡ được một căn-cứ của Việt-Cộng, và tịch-thu được của chúng nhiều chiến-lợi-phẩm, trong đó có một số tài-liệu quan-trọng, kể cả một Nghị-Quyết của Đảng-Ủy Liên-Khu IV về Tỉnh Thừa-Thiên/Thị-Xã Huế. Nghị-Quyết này đề-cập đến tình-hình các mặt của Việt-Nam Cộng-Hòa tại Tỉnh liên-quan, nhiệm-vụ của chúng, và kế-hoạch cho một cuộc tấn-công mới, nhằm chiếm-giữ thành-phố Huế lâu dài hơn, rút kinh-nghiệm từ cuộc tổng-công-kích vào mùa xuân năm 1968―Tết Mậu-Thân.
Như đã nói trên, nhiều tu-sĩ Kitô-Giáo đã tổ-chức cho tín-đồ mà là nhân-viên an-ninh & tình-báo của các cơ-quan & đơn-vị khắp nơi báo-cáo tình-hình, tin-tức mới nhất cho các linh-mục, ngay cả trước khi thực-hiện công-điện công-văn trình lên Cấp Trên của mình. Kết-quả hành-quân lần này cũng không ra ngoài lệ thường.
Cho nên người ta đọc thấy đoạn kết của bản Nghị-Quyết Việt-Cộng ghi rõ: sau khi chiếm được Thành-Phố Huế, dứt điểm Tỉnh Thừa-Thiên, chúng sẽ dựng lên một chính-quyền mới, gồm toàn những “đồng-chí nằm vùng công-khai hợp-pháp” của chúng, đó là sáu Nghị-Viên đương-kim của guồng máy dân-cử sở-tại của Việt-Nam Cộng-Hòa, mà đứng đầu danh-sách là Ông Nguyễn-Khoa-Phẩm, Chủ-Tịch Hội-Đồng Tỉnh Thừa-Thiên, và Ông Nguyễn-Khắc-Thiệu, Chủ-Tịch Hội-Đồng Thị-Xã Huế, v.v…
Bộ Chỉ-Huy Tiểu-Khu Thừa-Thiên đã làm báo-cáo kèm với bản chụp sao các trang tài-liệu đánh máy của Đảng-Ủy Việt-Cộng nói trên, trình lên Bộ Tư-Lệnh Quân-Đoàn I và Quân-Khu I, Bộ Tổng-Tham-Mưu, v.v…
Chánh Sở Đặc-Cảnh Thừa-Thiên/Huế trình lên tôi, tôi trình lên Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, rồi Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia (kiêm Đặc-Ủy-Trưởng Trung-Ương Tình-Báo) trình lên Tổng-Thống.
Kết-quả trông thấy trước mắt là các ông Nguyễn Khoa Phẩm, Nguyễn Khắc Thiệu, cùng bốn nhân-vật dân-cử nói trên, sẽ bị giải-nhiệm tức-thời.
Giải-nhiệm các Nghị-Viên Hội-Đồng Tỉnh+Thị-Xã không phải là một việc khó.
Trước đây, có một số Nghị-Viên Hội-Đồng Tỉnh Quảng-Nghĩa đã hành-sử tư-cách dân-cử của mình, xin Bộ Chỉ-Huy Tiểu-Khu sở-tại cấp phương-tiện phi-cơ trực-thăng cho họ chở thực-phẩm, thuốc-men, và nông-cụ lâm-cụ lên các Quận miền núi để cấp-phát cho đồng-bào vùng đó đang gặp khó-khăn. Đa-số các vật-phẩm ấy đã lọt vào tay những kẻ buôn lậu và tiếp-tế cho Việt-Cộng, thay vì đến tay người dân khó-nghèo. Thiếu-tá Đặc-Cảnh Hồ Anh Triết đã điều-tra ra sự thật, và kết-quả là Trung-Ương đã giải-nhiệm các Nghị-Viên liên-can.
Nhưng trong trường-hợp trên, các Nghị-Viên ấy chỉ phạm tội buôn lậu, chỉ bị biện-pháp hành-chánh hoặc bị phạt tiền. Đằng này, theo tài-liệu kể trên, thì nhóm Nguyễn Khoa Phẩm rõ-ràng là tay-sai của Việt-Cộng nằm vùng, lâu nay đã hoạt-động cho địch đắc-lực đến độ được chúng tín-nhiệm chọn cử cầm đầu bộ máy chính-quyền mà chúng sẽ dựng lên nay mai. Với bằng-chứng đó, các đương-nhân sẽ không những chỉ bị giải-nhiệm, mà chắc-chắn là sẽ còn bị câu-lưu truy-tố về tội phá rối trị-an, ở tù, và có vết-tích xấu về mặt chính-trị trong hồ-sơ lý-lịch cá-nhân, mất hết mọi cơ-hội để ra tham-gia chính-sự dù ở bên dân-cử hay bên công-quyền.
*
Ngay sau khi tài-liệu Việt-Cộng nói trên được Tiểu-Khu và chính-quyền Tỉnh Thừa-Thiên và Thị-Xã Huế làm bản sao gửi đi các nơi, tôi được nguồn tin tín-cẩn báo riêng cho biết: đoạn kết trong bản Nghị-Quyết Việt-Cộng ấy là do một nhóm dư-đảng Cần-Lao quá-khích thông-đồng với nhau mà ngụy-tạo thêm.
Ông Nguyễn Khoa Phẩm, ông Nguyễn Khắc Thiệu, và tất cả các Nghị-Viên có tên trong đoạn kết của bản Nghị-Quyết Việt-Cộng ấy, đều là tín-đồ Phật-Giáo, có quan-hệ chặt-chẽ với Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất; họ đồng-thời cũng là đảng-viên quan-trọng của Đại-Việt Cách-Mạng-Đảng.
Đạo Phật và Đảng Đại-Việt, cùng các giáo-phái và chính-đảng khác, đã bị chế-độ Ngô Đình Diệm đàn-áp, và đã góp phần tích-cực vào việc lật đổ chế-độ ấy.
Hiện nay, Đại-Việt và Phật-Giáo đang ngăn-chận dư-đảng Cần-Lao, là một nhóm tín-đồ Kitô-Giáo và giáo-phái khác mà quyền-lợi vật-chất hoặc tinh-thần đã quá gắn-bó với chế-độ Diệm, không để cho họ tái-lập quyền sinh-sát để trả thù cho gia-đình họ Ngô.
Từ nhiều năm qua, hầu như mọi quyền hành-pháp và lập-quy tại Tỉnh Thừa-Thiên/Thị-Xã Huế đều nằm trong tay Đảng Đại-Việt, và hầu như lần bầu-cử nào các liên-danh Phật-Giáo cũng thắng phiếu vào Hội-Đồng Tỉnh và Thị-Xã địa-phương.
Bây giờ thì nhóm cựu Cần-Lao ấy, cái thiểu-số tác-yêu tác-quái đã là tác-nhân tác-hại cho chính cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm và các anh+em của ông phải mất mạng, và cho Đảng ấy phải tự xóa tên của mình, nhóm ấy đã lại nắm được vị-thế cầm đầu cả quyền hành-pháp lẫn ngành công-lực của toàn Tỉnh & Thị rồi.
Theo kế-hoạch thứ hai của các Linh-Mục Trần Hữu Thanh và Nguyễn Kim Bính, họ muốn gấp-rút thanh-toán các phần-tử đối-nghịch hiện còn cầm đầu cơ-quan dân-cử của Tỉnh+Thị nầy.
*
Đồng-thời với tin-tức mật riêng của tôi, đích-thân Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên/Thị-Xã Huế, Trương Công Đảm, trình-bày với tôi là thuộc-viên của anh bị giao-phó công-tác thực-hiện việc giả-mạo đoạn văn vu-khống các Nghị-Viên kia.
Anh là bạn thân của Trung-Tá Hoàng Thế Khanh, hiện là cấp chỉ-huy tại chỗ của anh; nhưng việc này là “một tệ-nạn rất nguy-hiểm, vì nó là mầm-mống gây thù-nghịch ngay trong hàng-ngũ của những người đang đứng chung cùng một chiến-tuyến”. Do đó, vì “trung-thực”, vì “chính-tâm”, anh đã chọn đặt chính-nghĩa lên trên tình-cảm hay quyền-lợi cá-nhân, nên anh liền báo-cáo Sự Thật lên tôi.
Tài-liệu ngụy-tạo của Nguyễn Hữu Duệ thì chỉ đi theo hệ-thống báo-cáo tình-hình, chứ không thông-qua kỹ-thuật kiểm-tra; vả lại vấn-đề Việt-Cộng chủ-trương tái-diễn biến-cố Tết Mậu-Thân ở Huế là điều hầu như mọi người đinh-ninh là chuyện đương-nhiên; nghĩa là các cấp nhận được báo-cáo đều đã tin chắc nội-dung là đúng 100%.
Tôi liền lấy bản chụp sao của Nghị-Quyết ấy ra xem lại, chú ý nhìn kỹ thì thấy, dù bằng mắt thường, quả thật đoạn cuối đã được đánh máy bằng một máy đánh chữ khác, khác hẳn với các trang trước và với đoạn trước cùng trang.
Tôi lặng người đi một lát, rồi nhắm mắt lại ôn lại lời dạy của Đức Phật Thích-Ca: “Oán-cừu nên cởi, không nên buộc!” Năm trăm năm sau, Đức Giê-Su cũng rao-giảng như trên: “Hãy hết sức mình sống hòa-thuận với mọi người… Đừng tự mình trả thù ai… Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện mà thắng điều ác!” (Romans 12:18,21). Tôi lại lật lui, đọc thêm trong sách Proverbs 10:12: “Tính ghen-ghét phát-sinh tranh-chấp; chỉ có lòng thương yêu mới lấp hết tội-khiên”. Trước hết, và trên tất cả là “Mười Điều Răn” đã có từ xưa, trong sách Exodus 20:16: “Các con không được làm chứng gian để hại người xung quanh!”…
Kể từ biến-cố 1-11-1963, đã mười hai năm trôi qua, Đệ-Nhất Cộng-Hòa không còn, mà một nhóm nhỏ phần-tử thân-Diệm còn rơi-rớt lại vẫn còn hiểm-độc như thế. Họ mới gặp dịp chó-ngáp-phải-ruồi ngóc đầu lên được một chút mà đã gian-manh bày mưu thâm, tính kế hiểm vu-oan giá-họa để hãm-hại người khác tín-ngưỡng ngay, huống gì khi cái chế-độ độc-tài độc-tôn bạo-ác ấy đang còn phủ trùm lên khắp quê-hương, mà họ lại nắm chính-quyền trong tay, thì họ đã tác-yêu tác-quái đến mức nào.
Nếu vụ ngụy-tạo tài-liệu Việt-Cộng ở Huế mà đạt kết-quả do họ mong muốn, rồi các nơi khác cũng sẽ noi theo―giống như kế-hoạch biểu-tình, Huế mà làm xong là các nơi khác cũng sẽ làm theo―không cần Tỉnh-Trưởng, Tư-Lệnh Hành-Quân; chỉ cần bất-cứ một cá-nhân nào có thể báo-cáo tin-tức, chuyển trình tài-liệu, là đã có thể thêm-thắt theo ý của nhóm chủ-trương: hậu-quả sẽ như thế nào trên khắp vùng đất gọi là Miền Nam Tự-Do?
Tôi không là người của bất-cứ một chính-đảng hay giáo-hội nào; mà Trương Công Đảm thì cũng không nặng tình đậm nghĩa với ai đến độ mù-quáng lý-trí và thui-chột lương-tâm mà bao che cho lũ gian-manh. Huống gì anh đã thấy rõ là chúng sẽ còn lợi-dụng anh thêm trong nhiều âm-mưu tiếp theo.
Trong vụ giả-mạo tài-liệu này, điều bí-mật đã được báo-cáo lên tôi cũng rất có thể sẽ được tiết-lộ cho người khác biết, và hậu-quả tất-nhiên sẽ là một phản-ứng mạnh của giới Phật-Tử, với mối liên-kết có sẵn với nhiều tổ-chức khác, thí-dụ Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng và Đại-Việt Cách-Mạng-Đảng, mà ngoài Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc ra thì riêng Đại-Việt cũng đã là một chính-đảng có khối lượng đảng-viên đông nhất và mạnh nhất trên toàn cõi Việt-Nam Cộng-Hòa.
Việc làm bất-lương của vài ba con chiên ghẻ, làm chứng dối như thế, rất có thể sẽ châm ngòi cho một cuộc nội-chiến khốc-liệt giữa hai giới Phật-Tử và cựu Cần-Lao cực-đoan, sớm đẩy Việt-Nam Quốc-Gia đến bờ vực thẳm tương-tàn.
*
Hôm qua, tài-liệu bắt được của Việt-Cộng mà Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên/Thị-Xã Huế trình lên thì tôi đã giao cho Sở Nghiên+Kế Khu I làm Phiếu Chuyển đệ-trình lên Bộ Tư-Lệnh CSQG/Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương theo lệ thường rồi.
Nhưng hôm nay, về vấn-đề ngụy-tạo đoạn kết, có tầm quan-trọng lớn-lao đối với tình-hình an-ninh và nội-chính của Quốc-Gia, thì tôi đã tức-tốc vào báo-cáo riêng với Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng I, và tự tay đánh máy một Phiếu Trình mật, gửi riêng cho Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, bản sao gửi Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia, và cử đại-diện thân-tín mang thẳng đến văn-phòng của hai vị ấy ở Sài-Gòn.
Tôi cũng báo-cáo thẳng lên Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư-Lệnh QĐI&QKI, tức Đại-Biểu Chính-Phủ tại Vùng I, theo đúng tinh-thần của Sắc-Lệnh của Chính-Phủ đã quy-định cho trách-vụ của tôi.
Tất-nhiên tôi đã nêu tên nguồn tin và giải-thích rõ trường-hợp nhận tin, đặc-biệt là Trương Công Đảm, để giúp Cấp Trên kiểm-chứng dễ-dàng. Ngoài ra, tôi còn tuyệt-đối giữ kín vụ này tại địa-phương mình, để tránh náo-loạn trong khi chờ-đợi quyết-định của Trung-Ương.
Nguồn tin của tôi nói rõ rằng chính Đại-Tá Nguyễn Hũu Duệ, Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Trưởng Thị-Xã Huế, là nhân-vật chủ-chốt trong việc thi-hành thủ-đoạn này, việc mà, nếu ông mà từ-chối―nhân-danh dân Chúa, làm theo lời Chúa hơn là lời Cha―thì hẳn chưa biết chờ đến bao giờ Linh-Mục Nguyễn Kim Bính mới kiếm ra cho được một con chiên ngoan đạo kiểu đó theo ý của mình.
Đại-tá Duệ mà lên làm Tỉnh-Trưởng ngoài đó là do đề-nghị đặc-biệt có tính-toán của tôi, chứ không phải là do “tài” hay “đức” gì của ổng.
Nhưng ổng đã để lộ ra “tài đức” thật-sự của ổng.
Ổng đã nuôi lòng trả thù từ ngót mười hai năm nay, đúng theo lời trối của cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm (“Tôi chết thì trả thù cho tôi!”), lạm-dụng Trung-Tá Hoàng Thế Khanh―tôi nghĩ là Khanh ở thế bị-động, vì Khanh bản-chất chính-trực―hiện là Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh/Thị ở dưới quyền mình, hành-động theo kế-hoạch của nhóm “lãnh-đạo tinh-thần” cực-đoan của mình―đứng đầu Miền Trung là Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, Cha Xứ Phú-Cam―trong chương-trình chung là bứng-tỉa các nhân-sự mà họ cho là kẻ thù của phe Kitô-Giáo quá-khích và cựu-Cần-Lao ác-ôn, mà bước khởi đầu là ngụy-tạo đoạn kết vu-oan giá-họa tha-nhân trong bản Nghị-Quyết của Việt-Cộng nói trên.
Phóng-ảnh đoạn trích thư của Ô. Trương Công Đảm,
cựu Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế:
Trương Công Đảm hiện ở Thành-Phố Denver, Colorado, USA.
*
Sau Quốc-Biến 30-4-1975, ra Hải-Ngoại, cựu Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ xuất-bản cuốn hồi-kí “Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng-Thống Ngô Đình Diệm”, được mời đi nhiều nơi thuyết-trình về “ước mơ chưa đạt” của dòng họ Ngô Đình.
Tôi gửi thư trực-tiếp hỏi vài điều để thấy trình-độ và khả-năng của đương-nhân “trả thù cho lãnh-tụ anh-minh”.
Phóng-ảnh thủ-bút của cựu Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ:
“Tôi đổi ra Huế năm 1973* làm Tỉnh Trưởng Thừa Thiên và Thị Trưởng Huế – Tôi không nhớ rõ ngày tháng chỉ nhớ là thời gian rất ngắn khi rút lui khỏi Huế*.
Ngoài ra tôi chưa hề phục vụ ở Huế bao giờ.
Xin kính chúc ông và gia quyến an khang.
Kính thư,
(Chữ ký)
Xin cáo lỗi vì già nên tay run khi viết thư.”
——-
*Làm Tỉnh/Thị-Trưởng Thừa-Thiên/Huế “năm 1973” rồi “rút lui khỏi Huế” vào tháng 3-1975 mà bảo [1973-75] là “thời-gian rất ngắn”!
Viết thư là có thì-giờ tra-cứu, chứ không phải là trả lời tức-thì trên máy điện-thoại, mà còn nhớ sai ngày làm Tỉnh-Trưởng (thực-sự là nhậm-chức vào tháng 11 năm 1974), thì làm sao mà viết nổi sách hồi-ký lịch-sử (cuốn “Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm”)?
1 Anh-hùng lịch-sửViệt-Nam, bị quân Nguyên bắt, đã mắng thẳng vào mặt giặc để bị chúng giết chết hơn là bị cầm tù & làm nhục: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc!”
Nhưng, tôi lại tưởng là anh khích giục
Tôi hiến mình nêu gương sáng hy-sinh,
Nên tôi hỏi đùa: chết cái chết quang-vinh,
Sao anh chẳng chính mình làm việc ấy?
Rồi… sau đó, người nào hoàn-cảnh nấy;
Tôi xuống Chợ-Cồn, ra Hà-Nội, vô Hoà-Sơn.
Lúc chúng trả về Tiên-Lãnh, tôi mừng rơn
Vì… ít nhất… cũng trùng-phùng bạn cũ…
Nhưng, Trần Quang Trân2 trước pháp-trường thọ-tử!
Giữa kẹp-kìm Thái Khắc Lễ3 vong-thân!
Trong quật-cường dũng-liệt Trương Thanh Tân4!
Và với bất-khuất thành-nhân5 Ngô Hải Quảng!
2Sĩ-quan An-Ninh QLVNCH, chuyên-viên điện-tử (được Hãng Panasonic bảo-trợ tu-nghiệp tại Nhật), đã chế được máy vô-tuyến liên-lạc từ trong trại “cải-tạo” ra bên ngoài, tổ-chức phá trại vượt biên, bị bắt vào ngày 27-05-1982 và bị xử-tử vào ngày 19-06-1982 (cùng vụ đã có 12 sĩ-quan và Xã-Trưởng bị tù chung-thân hoặc hằng chục năm; 75 đồng-bạn bị biện-pháp hành-chánh “tập-trung cải-tạo” vô-thời-hạn, thực-sự thụ-hình 10 năm trở lên; và nhiều người không bị kết án nhưng bị kiên-giam).
1Cựu Trưởng Ty Cảnh-Sát Công-An Quốc-Gia, Tỉnh Thừa-Thiên.
Tôi ở “An-Điềm” mới chuyển qua,
Anh từ “Tiên-Lãnh” cũng đưa ra.
Một trăm bốn chục tù nguy-hiểm
Nhốt kín rừng sâu “Đồng-Mộ” xa.
*
Ai bảo! Bên ngoài: dân không “an”!
Bên trong: can-phạm cũng không “ngoan”!
Những tên đầu-sỏ: cần cô-lập,
Dập tắt trong đầu… mọi tính-toan!
*
Chúng bắt đi làm, mệt xỉu xâm;
Ngày hai lạng sắn (quý hơn sâm!)
Trích trong tiêu-chuần không lao-động:
Mấy chục ăn vào, trăm mấy thâm!2
2Mấy chục người đi “lao-động” được cấp thêm mỗi người mỗi ngày 200 gr sắn, xén bớt từ khẩu-phần cầm-hơi của hơn một trăm người không đi “lao-động”.
Những lúc đi chung một chặng đường,
Thấy anh tôi qúa ngậm-ngùi thương:
Tôi còn bước được theo đồng-đội,
Anh lết chân sên – một bộ xương!
*
Âu-dược gia-đình tiếp-tế cho:
Trại không có thuốc – nhập vào kho!
Cầu nhiều, cung ít, tù nhiều bệnh,
Đến lúc anh cần: hết sạch vo!
*
Bảy chín qua đi trong tối-tăm,
Tám mươi dời trại xuống “Thôn Năm”.
Rồi anh ngã bệnh, ngày càng yếu,
Đi+đứng xiên xiêu, phải dựa+nằm.
*
Xin chúng cho anh được viết thư:
Thư mang hy-vọng hoá huyền-hư.
Chúng cho viết hết, nhưng… không gửi!
(Điều đó, anh+tôi đã biết dư!)
*
Trí lụn, thân suy, óc muộn phiền;
Cháo ngày hai sét, đói liên-miên!
Thuốc-men chẳng có, không săn-sóc!
(Nếu chết thì lôi ra trước hiên!)
*
Đến lúc anh như đã hụt hơi,
Nửa mình lạnh cứng, tay buông xuôi,
Chúng cho võng chở về “Tiên-Lãnh”;
Chúng bảo: anh đi bệnh-viện rồi!
*
Đồng-bạn mừng cho anh gặp may:
(Không như Xuân, Xáng3 chết trong này)
Nào: “tiêu-chuẩn” thuốc! nào: “y-tá”!
Nếu được cho về nữa, lại hay!
3 Trung-tá Trần Như Xuân chết tại “Đồng-Mộ”; trung-tá Trần Phước Xáng chết tại “Nhà Trắng” trong trại “Thôn 5” (Trại “Tiên-Lãnh 2”); đều thuộc Quận Tiên-Phước, Tỉnh Quảng-Nam.
Ngày tháng trôi qua vùn vụt, mới đó đã nửa thế kỷ từ khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam. Năm nay hình như cơn buồn của người dân tỵ nạn tăng lên nhiều hơn, nỗi nhớ, nỗi uất hận cũng thấm đậm hơn. Tôi thấy nhiều hội đoàn xôn xao chuẩn bị ngày tưởng niệm mất nước trong “tháng Tư Đen” sớm hơn, thay vì những năm trước chỉ vào cuối tháng.
Chủ Nhật ngày 6 tháng 4/ 2025 chương trình ca nhạc “Kỷ Niệm 50 Năm Sài Gòn Mất Tên” do Nhóm Thân Hữu Sài Gòn, ban nhạc Sài Gòn Nhớ và ông Lê Văn Hải, Hội Trưởng cơ sở Văn Thơ Lạc Việt (VTLV), cũng là Trưởng ban Báo chí Bắc Cali và chủ báo Thằng Mõ kết hợp tổ chức tại quán Coffee Lovers tọa lạc tại 1855 Aborn Rd. San Jose, Ca 95121. Cũng như bao nhiêu lần tổ chức, người hùng Lê văn Hải luôn khoản đãi phần nước ngọt free và phần quà sổ số trúng thưởng.
Quan khách đến dự quá đông, nhiều cụ già con cháu đẩy xe lăn vào ngồi lắng nghe những bài hát mang chủ đề “Chiều Nhạc Tưởng Niệm 50 Năm Sài Gòn Mất Tên” Những khuôn mặt trầm tư với mái tóc pha sương, ánh mắt trĩu buồn xa vắng. Năm mươi năm tưởng như mới ngày hôm qua, dù Sài Gòn đã bị Việt Cộng (VC) đổi tên, nhưng nó vẫn còn sống mãi, hằn sâu trong tâm trí, và cất giữ trong trái tim người dân miền Nam đang ở trong nước, cũng như đồng bào tỵ nạn đang sống lưu vong trên khắp thế giới.
“Sài Gòn ơi! Tôi đã mất người trong cuộc đời
Sài Gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời
Giờ còn đây, những kỷ niệm sống trong tôi
Những nụ cười nát trên môi
Những giọt lệ ôi sầu đắng…” (*1)
Tiếng hát vang lên trong không khí lắng đọng…hình ảnh Sài Gòn được mang danh Hòn Ngọc Viễn Đông nhộn nhịp đầy sinh động còn đâu nữa. Ký ức không thể quên được ngày 30/4 đen tối, tang thương bị Việt Cộng chiếm đoạt miền Nam. Niềm đau buồn của đất nước, đảo lộn cuộc sống đang ấm no hạnh phúc trở thành địa ngục chốn trần gian.
“Năm 1954 ông bà Nội tôi đã đưa gia đình trốn thoát ban đêm lên Hà Nội, tới Hải Phòng xuống tàu di cư vào Nam vì có tên trong danh sách chôn sống địa chủ. Tháng tư/1975 lúc VC vào chiếm, những tiếng thở dài, những lời gào khóc đau đớn. Mẹ tôi, đôi mắt trũng sâu và quầng thâm qua một đêm thao thức, tuyệt vọng kéo tôi ra góc sân:
– Con cầm tiền thích gì thì mua ăn. Rồi đến tiệm thuốc tây mua thuốc rầy, mấy mẹ con cùng uống. Mẹ đã từng sống với họ rồi. Không chịu nổi đâu con.
Tôi quay lưng, tránh nhìn đôi mắt đầy nước mắt của mẹ, bước vội ra phố. Tôi đã không làm theo lời dặn mua thuốc vì đầu óc đang còn ngơ ngẩn.
Cũng khoảng thời gian này, bà Nội đang ở với chú tôi tại Phan Rang đã nổi cơn điên, gào thét khi thấy lá cờ đỏ sao vàng: “Quân ăn cướp! Trả lại tài sản cho tao. Quân ăn cướp!” Nửa đêm bà Nội trốn ra khỏi nhà. Không biết bà chết, vùi thây nơi đâu, đến nay con cháu vẫn không có tin tức. Sau đó là những ngày đói rách cùng tận… Tinh thần mẹ con tôi bị khủng bố theo mỗi đợt họp cưỡng bách đi kinh tế mới, ép đi lao động thủy lợi.
Cha tôi hồi đó là Trưởng Cuộc Cảnh Sát. Sau hơn một năm rưỡi đi tù cải tạo về, bị cưỡng ép lên vùng kinh tế mới với dì Hai và bảy người em. Cha tôi lạnh lẹ mở lò gạch nên dân trên vùng kinh tế mới có việc làm. Ông vận động nhà cầm quyền địa phương, xin quyền lợi cho nhân công được lãnh tem phiếu và gạo mỗi tháng. Công việc trôi chảy nếu không nói là phát triển mạnh. Dưới thành phố bệnh viện, cơ quan, trường học lên ký hợp đồng mua gạch rất nhiều. Thế rồi chủ tịch kiểm soát vùng kinh tế mới đến mượn lò gạch và ngang nhiên chiếm trâu bò của em tôi (dùng vào rừng đốn củi). Cha tôi uất ức nghẹn ngào nói với con cháu “chưa thấy chế độ nào khốn nạn như vậy, mình bị ngã nó đạp cho xuống vực, mình vừa ngoi đầu lên nó lại ăn cướp công của tài sản”.
(trích từ bài viết “Nửa Thế Kỷ Nhìn Lại của tôi được in trong tuyển tập của hội Cô Gái Việt).
Trở lại buổi chiều nghe nhạc trong không khí trầm lắng, tiếng hát buồn vời vợi đưa tâm hồn mọi người đi về miền quá khứ, tiếc nuối một Sài Gòn hoa lệ với biết bao kỷ niệm. Tôi thầm cám ơn ông Lê văn Hải đã tổ chức hàng năm cùng sự góp mặt của các ca sĩ. Những năm trước tổ chức tại Câu Lạc Bộ Mây Bốn Phương, Cà Phê Lover, và bây giờ là lần thứ 7, chúng tôi được thưởng thức những bản nhạc gợi hình ảnh quê hương yêu dấu xa ngàn trùng đầy tiếc nuối.
Thứ Hai ngày 7 tháng 4 / 2025, theo tin của phóng viên thi sĩ Mạc Phương Đình cho biết “Tại tiền đình Quận hạt Santa Clara, Giám Sát Viên Betty Dương và Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát Otto Lee đề xướng cùng Cộng Đồng Việt Mỹ Bắc Cali, phối hợp với Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Tây Bắc Hoa Kỳ, tổ chức buổi Thượng Kỳ và treo Cờ rũ VNCH để khởi đầu cho những chương trình tưởng niệm trong suốt tháng Tư, nhằm ghi nhớ và tưởng niệm một phần lịch sử chung của chúng ta.
Buổi lễ đã được long trọng khai mạc với hàng trăm các cựu quân nhân VNCH, các cựu chiến binh Hoa Kỳ và đồng hương Việt Nam tham dự. Theo dự kiến trong suốt tháng Tư, cờ Việt Nam Cộng Hòa sẽ tung bay tại trụ sở Hành Chánh của Quận Hạt, như một biểu tượng tưởng niệm những người đã hy sinh. Và như một ánh sáng dẫn đường cho hành trình tiếp tục gìn giữ các giá trị về tự do, dân chủ và nhân quyền”.
Chủ nhật ngày 13 tháng 4/2025, ông Lê Văn Hải hội trưởng của VTLV tổ chức buổi “Tưởng Niệm Tháng Tư Đen” tại County Hall (Isaac Newton Senter Auditorium 70 W Hedding ST. San Jose, CA 95110) được bảo trợ bởi Giám Sát Viên Hạt Santa Clara Betty Dương. Vẫn những khuôn mặt đáng kính của VTLV góp bàn tay đắc lực như thầy Phạm Thái lo bao quát, phóng viên Mạc Phương Đình, ông Hoàng Thưởng điều khiển nghi lễ chào cờ hát Quốc Ca Mỹ -Việt, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng mở đầu chương trình, ban nhạc Sài Gòn Nhớ do chị Thuý Nga đảm trách cùng các ca sĩ trình diễn, hai MC duyên dáng Hạnh Thảo, Thanh Loan phối hợp cùng ban Du Ca của ông Trương Tấn Mẫn, đặc biệt có cô xướng ngôn viên Đồng Thảo của đài phát thanh Quê Hương góp mặt.
Hội trường rộng với sự tham dự đông đảo của đồng hương. Sau phần phát biểu của những vị Dân Cử, Giám Sát Viên Betty Dương phát bằng tưởng lục cho ông Lê Văn Hải, phần tâm tình của Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng bày tỏ về ý nghĩa đau buồn của mùa quốc hận. Tiếng nhạc vang lên quyện vào giọng hát.
Tự do ơi tự do! tôi trả bằng nước mắt
Tự do hỡi tự do! anh trao bằng máu xương
Tự do ôi tự do! em đổi bằng thân xác
Vì hai chữ tự do! ta mang đời lưu vong … (*2)
Tôi nghe mắt mình cay cay vì ca từ diễn tả về chuyện thuyền nhân vượt biển. Ký ức đi rất xa, xa khoảng thời gian từ 1980 đến 1985 mà tôi đã ghi lại trong câu truyện “Tháng Ngày Tìm Tự Do trước đây.
*
Hơn năm năm vất vả ngược xuôi tìm đường trốn ẩn, có lần trên đường đến điểm hẹn bị bể, bà con chạy tán loạn, tôi và đứa em trai chạy chui vào rừng sâu, nghe tiếng súng nổ bà con bị Công An hốt lên xe, họ lùng sục đến nửa đêm và tôi thoát nạn ở vùng Rạch Sỏi (Kiên Giang). Theo đuổi từ năm này qua năm nọ vẫn miệt mài không sờn chí. Có lần trốn cả nhóm bảy người (dòng họ bà con) trong rừng mấy ngày bị bắt còng tay đi vào làng, được dân miền Nam hiền hậu tốt bụng đem cơm nước, thức ăn xin tổ trưởng cho chúng tôi được dùng, sau đó vào nhà tù An Biên (Rạch Giá).
Ký ức khó quên nhất trong ngày tháng bị tù đày là: Công an coi tù chỉ một hố sâu chứa nước toàn đất sét và rong rêu vàng khè tạm gọi là chỗ… phát nước uống. Mỗi sáng họ mở cửa cho lấy nước từ đó uống, bà con không uống nổi với mùi tanh của nước bẩn, các chị có sáng kiến nấu cơm đổ nước đầy nồi, nước sôi chắt ra bình để cơm cạn chín, từ đó uống bằng mùi nước gạo. Mỗi chiều họ mở cửa cho ra vệ sinh và tắm bằng con đầm nước cũng đục ngầu sau khi đàn trâu tắm trước, chỉ khác chút là không cho trâu tắm chung với người. Ra tù chẳng còn tờ giấy hộ thân, sống chui lủi tránh con mắt công an, đi tới đâu mua vé chợ đen, đêm ngủ chung với đám ăn xin vì không có giấy tờ tuỳ thân, không dám vào phòng trọ quanh bến xe.
Chuyến cuối cùng lọt đến đảo Pulau Bidong, được Ban Trật tự dẫn về căn gác ở chung hai chị độc thân. Sáng hôm sau nghe loa gắn trên các ngọn cây “Đây là tiếng nói của người dân tỵ nạn Cộng Sản trên đảo Pulau Bidong …”, tôi mới thật sự biết mình còn sống, đã thật sự rời xa mảnh đất quê hương thân yêu, và ôm mặt khóc nức nở khi nghe Thanh Thúy hát “Ai về bến Ngự cho ta nhắn cùng. Nhớ chăng non nước Hương Bình! Có những ngày xanh…” *(3)
Ngày ngày ra bến đón những chuyến tàu tấp tới, lắm lúc chứng kiến cảnh phụ nữ được khiêng băng ca vào bệnh viện vì tàu bị hải tặc. Có em bé khoảng 15 tuổi ở đối diện trước mặt nhà, nghe những người đi chung chuyến với em, to nhỏ kể chuyện chuyến đi bị cướp, vét sạch tiền vàng, lôi phụ nữ qua tàu họ làm chuyện tồi bại, khi lôi kéo dằng co, em bé này đã khóc lóc gào to: “Lạy Chúa tôi, con đâu có tội tình chi?
Chị T nằm chung gác với tôi, kể chuyến đi của chị gồm mười một người, trên tàu chỉ có ba phụ nữ, trong đó một cô khoảng 18 tuổi đi cùng chồng chưa cưới. Hai tàu từ xa đến húc mạnh vào thuyền của chị tưởng chừng muốn bể đôi. Hải tặc nhảy qua lôi ba người phụ nữ, nó giở trò nhưng thấy chị đang có kinh nguyệt, tát mấy bạt tai mạnh xô chị xuống tàu. Hai cô kia chống cự rất mãnh liệt, nó xốc lên, hai cô vật xuống, cứ như vậy vài lần các cô đuối sức, chúng xé toạt áo, vài tên kềm giữ hai bên để tên khác cười man rợ bày trò khốn nạn trước mặt mọi người. Anh chồng chưa cưới chỉ biết ôm mặt gục đầu. Chúng bắt cóc hai phụ nữ đi luôn trong tiếng khóc nức nở của người chồng.
Tôi chuyển trại qua Sungei Besi (thủ đô của Mã Lai), được Cao Uỷ sắp xếp về khu Thanh Nữ Độc Thân sống chung phòng gồm mười chị em. Chị H cuối góc phòng ít nói chuyện, suốt ngày ngồi đan len, nét mặt ẩn hiện nỗi buồn sâu lắng nội tâm. Được biết tàu chị đi bị lạc hướng lênh đênh hơn một tháng, đói khát kiệt sức nướng thịt người ăn cầm cự nhưng rồi đều chết từ từ, chồng và đứa con trai chị cũng bỏ mạng, lúc gặp tàu quốc tế vớt chỉ còn lại vài người.
Chị A có chồng bên Mỹ, dẫn theo đứa con trai bảy tuổi vượt biên trên chiếc ghe vài người chỉ mình chị là phụ nữ. Gặp hải tặc kéo chị qua tàu, chúng dụ cháu nhỏ các món đồ chơi rồi hiếp chị. Chúng dội nước lạnh vào mặt chị, sau những lần chị bị ngất xỉu, thay phiên nhau làm chuyện tồi bại cho đến khi gặp tàu buôn, chúng phi tang tội lỗi bằng cách giao chị lại. Chị được bệnh viện chăm sóc tận tụy sau thời gian dài nằm liệt người. Mỗi sáng loa phóng thanh gọi tên chị lên kiểm tra sức khỏe, lúc trở về phòng chị cho xem thuốc ngừa thai và thuốc đề phòng bệnh Aids. May mắn tinh thần chị vững mạnh vượt qua chưa bị điên loạn.
Em C hay bị đau đầu thường lên bệnh viện khám, nguyên nhân tàu em gặp ba tàu cướp bao vây tấn công. Tàu đông phụ nữ sợ hãi nhảy xuống hầm trốn, em bị một tên cướp chụp đầu lôi lên trong khi em đang ôm chặt song sắt, tên cướp túm tóc kéo giật mạnh, đang lúc dùng dằng thì tàu tuần tra trên biển xuất hiện, bọn cướp phóng về tàu mình chạy nhanh.
Đáng lẽ tôi được chuyển qua Phi Luật Tân học ba tháng Anh Văn cũng như học về đời sống Mỹ, nhưng bên đó bị tình trạng ứ nghẹt người, nên được chuyển qua đảo Galang 2 của nước Indonesia. Nơi đây tôi sống chung bốn chị em ở dãy nhà dành riêng cho phụ nữ quay ra bìa rừng. Hằng ngày đến trường học, chúng tôi đi ngang qua khu Miếu được dựng dưới gốc cây đa rậm lớn. Nghe kể lại Miếu thờ hai chị em bị hải tặc hiếp, chờ đợi diện nhân đạo hơi lâu, hai chị em nhục nhã mỏi mòn rủ nhau ra đó treo cổ chết, bà con thương tâm lập Miếu thờ.
Hai chị em H và B chung phòng cũng kể tôi nghe: Trong chuyến đi bán chính thức của người Hoa năm 1977, cả gia đình được chia ra 2 tàu, hai em chứng kiến tàu ba mẹ bị đắm chìm giữa biển cả mênh mông, trước con mắt sững sờ của tàu còn lại, nhưng đành chịu bất lực. Hai em nói hình ảnh ấy luôn hiện lại trong giấc mơ đau nhói.
Trong dòng họ bên chồng tôi có cháu gái, hai em gái con bà O ra đi mất tích biền biệt. Vợ chờ chồng đi tù về (anh tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh), cả gia đình vượt biển gặp hải tặc giết hết đàn ông. Năm ngoái tôi được xem phim “Boat People” của đạo diễn Thanh Tâm từ Canada đem qua Mỹ chiếu trong ngày 30/4, có đoạn một nhân vật kể lại: Xác các em thiếu nữ đi chung một ghe tấp vào làng biển xa xôi, được dân chôn và lập nơi thờ, tôi giật mình liên tưởng đến hai dì cháu tuổi còn thanh xuân, đi trong một tổ chức nghe đâu chuyến đó chỉ toàn con gái. Tôi bị ám ảnh nặng đầu khi xem khung cảnh chiếu ngôi làng, muốn về kể cho người chị và bà O nghe, nhưng không có can đảm vì lo ngại khơi lại nỗi buồn cố lắng xuống đã gần 40 năm.
Tôi nép thân trên mảnh thuyền mong mạnh sương gió
Như một người tìm đường về nơi đáy mồ
Tôi bước đi vì không muốn làm kẻ tội đồ
vì tôi muốn lại kiếp con người
muốn cuộc đời còn có những nụ cười… (*4)
Tâm tư tôi đã trải mênh mông trên vùng biển, hình ảnh con tàu đêm giông bão như những chiếc thuyền giấy thả trên nước lụt chơi hồi còn nhỏ. Rùng rợn mỗi cơn sóng ào đến cao ngất phủ xuống con thuyền nghiêng sát mặt nước. Tiếng la hét, tiếng đọc kinh râm ran, tiếng người điều khiển “bà con bình tĩnh tát nước ra, nước đang ngập đầy”, chỉ một tích tắc thuyền sẽ chìm hoặc lật trong đêm tối mực. Tiếng ói mửa thi nhau vào đầu, vào mặt, mùi hôi tanh của kinh nguyệt, ngồi ngâm mình trong nước lạnh cóng, tôi đuối sức nghĩ mình sắp chết, lơ mơ tự hỏi thầm “cha mẹ có linh ứng gì không? con sắp ra đi rồi…” nhưng số còn sống, không bị gặp hải tặc và ký ức chưa bao giờ quên cuộc vượt biển liều lĩnh, tìm một phần sống trong 99 phần chết.
*
Thứ Bảy ngày 26 tháng 4/2025, tại tiền đình Quận Hạt Santa Clara số 70 West Hedding St San Jose, CA 95110, Uỷ Ban Chấp Hành Cộng Đồng Việt Mỹ tổ chức “Đại Lễ Tưởng Niệm 50 Năm Quốc Hận 30 Tháng Tư”.
Chúng tôi đến sớm mang tâm trạng hồi hộp khi thấy các anh lính Việt Nam Cộng Hoà mặc quân phục theo từng binh chủng. Hình ảnh oai hùng của một thời còn sôi sục tinh thần chiến đấu chẳng chịu buông, nhưng vận nước nổi trôi đành theo số mệnh. Các anh đã bị tù đày nơi chốn rừng sâu, bị đọa đày bởi quân Cộng Sản thâm độc hiểm ác. Nhắc đến chuyện tù tội, không làm sao kể hết chuyện dài của các anh đi “cải tạo” mà tôi được nghe kể lại trực tiếp, hoặc đọc nhiều sách như “Đời Tù Một Thiên Nga” của Nữ Tình Báo Thiếu Tá Thanh Thủy, “Con Trâu Đâu Có Cải Tạo” của Nhạc Sĩ Lê Hữu Nghĩa, tôi nhớ nhất hai câu nói của người tù và cán bộ:
Người tù:
– Thưa cán bộ, muốn gia tăng năng suất lao động, ở trại có nuôi một bầy trâu mấy chục con sao không sử dụng để kéo bừa.
Cán bộ:
– Các anh cải tạo chớ con trâu đâu có cải tạo mà bắt nó kéo bừa.
Mời đọc truyện ngắn trong đường dẫn dưới đây để thấm nỗi tù đày nhục nhã bị bóc lột dã man tàn nhẫn không thể tưởng.
Thật là đau lòng uất nghẹn: họ đã ký kết hiệp định ngừng chiến nhưng lại vi phạm trắng trợn, lì lợm cố chiếm miền Nam cho bằng được, để biến một miền Nam đang sung túc bị lộn ngược nghèo đói và lạc hậu. Tôi nhớ năm 2015, giai đoạn này còn đi làm, nhưng nghe cuốn phim “Ride the Thunder” (Cưỡi Ngọn Sấm) của ông Richard Botkin đã từng là vị cố vấn sát cánh với Trung Tá Thủy quân Lục chiến Lê Bá Bình (người thật việc thật) thời chiến tranh Việt Nam. Tôi đi làm về sớm để được xem phim tại rạp, phim chiếu cảnh tù đày của người lính VNCH khiến ai cũng nín thở, đau lòng phải khóc, con mắt mọi người đỏ hoe khi ra khỏi rạp.
Xin trích lời nhận xét:
“Sự thật những người lính quân đội Việt Nam Cộng Hòa là những người quả cảm. Không ai muốn ngừng chiến đấu cả. Miền Nam Việt Nam đã gần đoạt được chiến thắng rồi. Nhưng họ phải bỏ súng vì Hoa Kỳ quyết định không hỗ trợ, không viện trợ nữa, trong khi miền Bắc vẫn tiếp tục được Nga và Tàu hỗ trợ. Còn nhiều sự thật nữa mà ông Richard Botkin muốn đưa lên màn ảnh. Sự thật về sự tàn ác của bên thắng cuộc tại những trại tù cải tạo.”
Sự thật về những người vợ có chồng đi cải tạo vừa bươn chải lo cho con, vừa đối phó với mọi khó khăn của cuộc sống, vừa chắt bóp thăm nuôi chồng, vừa mòn mỏi đợi chờ, cho đến ngày chồng hoặc được thoát khỏi ngục tù hay được tin chồng đã chết. Ông Richard Botkin cho biết cũng vì mục đích trả lại sự thật cho lịch sử mà ông muốn biến cuốn “Ride the Thunder: A Vietnam War Story of Honor and Triumph” thành phim.
Giờ đây nhìn những bộ quân phục, tôi lại liên tưởng câu chuyện của Trung Tá Võ Vàng chồng bà Đường (hiệu trưởng trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi), đã bị Việt Cộng lừa xuống suối một mình, bắn ngang nhiên nhiều phát đạn, đổ tội Trung Tá trốn trại (bạn tù kể lại), thật vô cùng dã man trong trại tù “cải tạo” và khi có dịp về Nam Cali thăm, Cô thường nhắc lại, nay thì Cô và Trung Tá Võ Vàng đã gặp nhau bên kia thế giới.
Chủ Nhật 27 tháng 4/ 2025 có 2 nơi tổ chức lễ:
1/ Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Tây Bắc Hoa Kỳ tổ chức “Lễ Giỗ Và Tưởng Niệm Anh Linh Các Chiến Sĩ Dân-Quân- Cán – Chính Việt Nam Cộng Hoà Tuẫn Tiết trong ngày 30/4 /1975” tại 2670S.White RD #175 San Jose CA 95148.
2/ Cộng Đồng Việt Nam Bắc Cali tổ chức” Tưởng Niệm Quốc Hận Lần Thứ 50” tại 1141 East William Street, San Jose CA 95116.
Thứ Tư 30/4/2025 có 4 nơi tổ chức lễ:
1/ Buổi sáng: Lực Lượng Sĩ Quan Thủ Đức/QLVNCH tổ chức “50 Năm Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4/75 & Lễ Truy Điệu Quân Dân Cán Chính VNCH và Các Vị Tướng Tá Tuẫn Tiết” tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ “Thank You America” (Khu Công Viên Vườn Truyền Thống Việt) 1499 Roberts Ave, San Jose, CA 95112 lúc 9 giờ.
2/ Buổi sáng: Liên Hội Cựu Quân Nhân tổ chức “Lễ Thượng Kỳ và Rũ Kỳ” tại Tiền Đình Toà Thị Chính Thành Phố San Jose, số 200 E. Santa Clara St, San Jose CA 95113, được sự quan tâm, phối hợp của chính quyền Thành Phố lúc 11 giờ.
3/ Buổi chiều: Tuổi trẻ Vietnamese American Roundtable tổ chức chủ đề “50 TH Anniversary Commemoration of The Fall of Sài Gòn. Honoring History, Shaping Tomorrow” tại City Hall Rotunda 200 East Santa Clara Street, San Jose CA 95113.
4/ Buổi chiều: Tại Đền Thánh Tử Đạo Việt Nam 685 Singleton Road, San Jose CA 95111: “Lễ Dâng Hương Tưởng Niệm 50 Năm Tháng Tư Đen, Thánh Lễ cầu nguyện cho những thuyền nhân đã chết trên đường vượt biển”
Mùa Quốc Hận năm nay, các hội đoàn thay phiên nhau tổ chức Lễ Tưởng Niệm ngay từ đầu tháng Tư. Thật quý hóa thay những tấm lòng yêu nước Việt Nam Cộng Hòa. Chân thành cám ơn các hội đoàn.
Chú thích:
(*1) Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt- NS Nam Lộc
(*2 & 4) Xin Đời Một Nụ Cười – Nam Lộc
(*3) Đêm Tàn Bến Ngự – Dương Thiệu Tước
Phần II
Thứ Tư đúng ngày 30 /4. Chúng tôi thức dậy thật sớm chuẩn bị lái xe lên dự lễ Tưởng Niệm ngày Quốc Hận tại công viên Vườn Truyền Thống Việt do Lực Lượng Sĩ Quan Thủ Đức tổ chức. Biết giờ cao điểm bà con đi làm, đường xá kẹt xe nên khởi hành lúc 7:30, freeway 880 nhích xe từng đoạn, tôi không dám nhìn đồng hồ phó mặc cho số mệnh, đến nơi mới dám nhìn thấy kém 5 phút đúng 9 giờ làm lễ, tôi thở phào sung sướng vì sẽ được hát bài Quốc Ca Việt Nam.
Buổi lễ trang nghiêm do ông Hoàng Thưởng và ông Lê văn Hải điều khiển chương trình. Chúng tôi thắp nén nhang thành kính trước di ảnh các vị: Thiếu Tướng Phạm văn Phú, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Nguyễn Văn Long là những vị anh hùng “Sinh vi Tướng, Tử vi Thần “đã tuẫn tiết trong những ngày mất nước. Ngoài ra còn biết bao nhiêu vị sĩ quan hoặc những người lính vô danh đã tự sát trong thời điểm đó. Thật là vinh danh các vị anh hùng đã vị quốc vong thân, đúng là “Anh Hùng tử, khí hùng bất tử”.
Màu nắng rực rỡ chan hòa, mây trời trong xanh tuy khí hậu còn hơi lạnh. Tôi ngẩng nhìn tượng đài Việt – Mỹ, pho tượng người lính Mỹ và người lính VNCH trong tư thế hiên ngang anh dũng đầy tinh thần bất khuất. Mắt nghe cay mờ, hồi tưởng biết ơn đến sự hy sinh của những người lính VNCH, quý báu hơn nữa là những người lính Mỹ, xin trích một đoạn trong bài viết “Ký Ức Chưa Phai” của tôi:
… “Trí óc tôi miên man càng lúc càng sâu về đề tài chiến tranh và sự hy sinh… Điển hình về bức tường đá đen tại Washington DC, được khắc tên hơn 58,000 anh hùng lính Mỹ đã hy sinh tính mạng trong cuộc chiến tại Việt Nam. Điều thật đáng trân trọng và hiểu rõ nỗi đau đớn khôn cùng của những bà Mẹ, những người vợ trong hoàn cảnh mất con mất chồng. Làm sao chúng ta có thể quên được hay mất đi những cảm xúc nhức nhối này, người Mỹ không chết vì nước Mỹ, một sự hy sinh quá vĩ đại dù đã 45 năm trôi qua, nó luôn là nỗi đau buồn đối với người thân họ, và chúng ta cũng sẽ ray rứt phần nào với cái chết của họ” …
Thầm lặng nguyện cầu đến những anh linh tử sĩ đã hy sinh bỏ mình ngoài chiến trận, những người tìm tự do bỏ mạng trên biển cả, đường bộ, những tù “cải tạo” chết trong rừng sâu khổ nhục, những bạn đồng minh sát cánh chiến đấu trên trận tuyến Việt Nam. Còn cái “Ơn” nào bằng giờ đây tôi được định cư nơi xứ Cờ Hoa, nhờ nước Mỹ nhân đạo mở rộng vòng tay cứu vớt, được sống trong không khí tự do và hưởng một đời sống sung túc.
Xong buổi lễ chúng tôi chạy qua Tiền đình Tòa Thị Chính do Liên Hội Cựu Quân Nhân tổ chức. Rất phấn khởi và hãnh diện nhìn trên các con đường cũng như những khu thương mại lớn, một rừng cờ vàng tung bay rực trời. Lá cờ của hồn thiêng sông núi, vì mất nước đã sống chết đem theo mình, vận động vào dòng chính Mỹ để được phát huy, phát triển tinh thần quốc gia không chịu khuất phục dưới sự đàn áp độc tài đảng trị của VC nên trốn chạy. Nơi nào có dân tỵ nạn là có cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tung bay khắp năm châu bốn bể trên toàn thế giới. Tại Bắc Cali có nhóm Hậu Duệ Cờ Vàng do em Minh Huy làm trưởng nhóm, hăng say cầm cờ diễn hành trong các buổi lễ lớn, hoặc theo dõi những tù nhân lương tâm bị bắt bớ trong nước để tìm cách vận động, đấu tranh.
Giờ đây, trước Tòa Thị Chính, lá cờ bay trong nắng, sau khi làm lễ Thượng Kỳ và treo cờ rũ, chiếc máy bay ngày trước đã từng qua VN tham chiến bay rất nhiều vòng trước sự giới thiệu của MC, bà con xúc động ngẩng lên trời đưa tay vẫy chào cùng sự tham dự của chính quyền Thành Phố.
Chúng tôi tìm quán ăn ngồi nghỉ ngơi chờ 4:30 chiều vào trong Toà Thị Chính do nhóm trẻ có cái tên “Vietnamese American Roundtable” tổ chức, được sự bảo trợ của Nghị Viên Biên Đoàn. Người đến dự rất đông mặc toàn màu đen, hội trường rộng lớn đặt ghế nhiều nhưng vẫn không đủ nên số người đứng chật chung quanh. Đây là thế hệ nối gót “tre già măng mọc”, tuổi trẻ học cao, thành đạt trên xứ người hợp lực trong tinh thần đoàn kết. Các em đặt bàn thờ bảy vị tướng tá Vi Quốc Vong Thân, dâng những vòng hoa trắng trông rất trang trọng đẹp mắt, các em rất lễ phép chào hỏi người lớn tuổi và nhờ cầm cờ vàng chung ba thế hệ một tấm lòng.
Lúc đến giờ khai mạc, đoàn người ra dàn chào với 50 lá Quốc Kỳ phất cao trong khí thế mạnh mẽ. Chương trình được Thị Trưởng, Nghị Viên, Dân Biểu Thành Phố lên phát bằng khen thưởng. Sau đó chiếu những đoạn phim của thời điểm mất nước, cảnh quân dân chạy tán loạn, cảnh người vượt biển gợi nhớ ngày miền Nam Việt Nam đầy tang thương quá đau lòng. Tiếp tục những bài hát hướng về hương yêu dấu, vinh danh tên tuổi chiếu những nhân vật công trong mọi lãnh vực, xen kẽ lời phát biểu, tâm tình của các em đầy xúc động.
Tóm tắt lời phát biểu của các em:
– Kính thưa các Cô Chú, các Bác, các Ông Bà. Chúng con sinh ra nơi đây, nhưng biết nguồn gốc của mình là người VN, lý do tại sao đến đây từ Cha, Ông kể lại lịch sử đau buồn của ngày 30/4, và cũng chính cha ông đã từng bị tù đày khốn khổ. Chúng con vô cùng biết ơn thế hệ đi trước đã hy sinh quá nhiều, để chúng con có được ngày hôm nay, và luôn nhớ mãi ngày quốc hận, cũng như quyết tâm gìn giữ nối tiếp ngọn Cờ Vàng…
– Hiện nay hàng ngày con được đi học, được sự chăm sóc của ba mẹ lo từng bữa cơm no, áo ấm. Lúc nhỏ con vô tư chẳng hiểu gì, chỉ biết vui chơi học hành, lớn lên theo ba mẹ đi dự những buổi sinh hoạt Cộng Đồng, nhất là dự những hội chợ Tết, thấy người VN chung tay tổ chức, con mới cảm nhận được hai chữ “đồng hương”. Trong nhà thương quý ba mẹ vô cùng, ra ngoài kính nể lớp người đi trước đã gầy dựng một Cộng Đồng gìn giữ truyền thống văn hóa tốt đẹp của đất nước mình trên xứ người, cho nên con đã ghi tên học lớp Việt Ngữ, nhận ra tiếng Việt mình đẹp hay quá, rồi tiếp tục dạy lại các lớp nhỏ….
– Rất mong những bạn trẻ hăng hái tham gia, góp sức gầy dựng Cộng Đồng VN mỗi ngày một vững mạnh thêm, như Tết năm nay nếu không có tổ chức buổi diễn hành hoa hậu, hay dạo ngắm quang cảnh các buổi chợ thì em sẽ buồn lắm, vì nơi đó là sức sống, là hơi thở của người Việt Nam nơi chốn tha phương…”
Vẫn còn nhiều nơi:
Buổi trưa: Việt Museum tổ chức tại 2410 Senter RD, San Jose CA 95111.
Năm giờ chiều: tại Century nhóm văn nghệ của Nhạc Sĩ Hoàng Tường (Houston qua), ban Tuệ Đăng của Thu Nga, cùng đoàn trống La San.
Sáu giờ chiều tại Đền Thánh Tử Đạo, chưa kể Sacramento (thủ phủ của tiểu bang California), và nhiều tổ chức khác nữa.
Thôi thì tùy duyên tham dự, nơi nào có dân Việt Nam lưu vong tỵ nạn là có lá cờ vàng mà lớp cha anh đã tranh đấu, vận động mạnh mẽ để có được màu cờ của tự do dân chủ bay phất phới trên xứ người. Giờ đây đã 50 năm, trong mùa Quốc Hận ở đâu có tổ chức, chúng tôi đều muốn tham dự, dẫu đường xa lái từ nhà tới San Jose nếu không kẹt xe cũng mất 50 phút.
Nhờ những buổi lễ này, chúng ta được thấy lá cờ vàng, được hát bài Quốc Ca, được thắp nén hương cho các vị tướng lãnh đã can trường tuẫn tiết trong ngày 30/4/75, được có phút mặc niệm đến các anh linh hồn thiêng sông núi, hàng triệu người trốn chạy làm mồi cho cá và đổi bằng thân xác cho cướp biển, mồ chôn tù cải tạo trong rừng sâu, được thấy những bộ quân phục của người lính VNCH gợi nhớ một thời nữ sinh đi choàng vòng hoa chiến thắng, dẫu đau nhưng lại rất dịu vợi đắp lên miền dĩ vãng, được gặp gỡ đồng bào VN, những người cùng chung tâm trạng mất quê hương, tỵ nạn nơi xứ người nhưng luôn ấp ủ lá cờ vàng trong tim.
Chúng ta nhìn nhau thông cảm thì nỗi đau, sự uất ức được an ủi và ấm lòng biết bao nhiêu.
Minh Thúy Thành Nội
30 Tháng Tư/2025 (Bắc Cali)
VẠN NGƯỜI NGHĨ ĐẾN NGƯỜI QUA ĐỜI
NỬA ĐỜI HAY MỘT ĐỜI?
Mùa Xuân Này Nắng Lên | Minh Thúy Thành Nội
VTLV CHÚC MỪNG NGÀY TÌNH YÊU. Happy Valentine’s Day!
Hôm Nay, Happy Valentine’s Day!
Lời Chúc Lễ Tình Yêu 2025!
Nhà thơ Xuân Diệu đã từng viết:
“Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều.
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,.
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu!”
Không ai định nghĩa được Tình Yêu cả! Thậm chí là không biết có thật hay không? Vì không ai thấy, không ai rờ, không ái nếm được cả! Mơ hồ như thế, vậy mà thế giới vẫn dành một ngày đặc biệt, hôm nay! mừng cho thứ tình cảm này, mà mọi người đều công nhận, nó là thứ tình cảm êm ái, ngọt ngào, cần thiết nhất trong đời sống!
Hôm nay, Thứ Sáu, ngày 14 tháng 2, là Ngày Lễ Tình Yêu! Happy Valentine’s Day! Đây là một trong những ngày Lễ mà giới trẻ Mỹ yêu thích nhất, vì ý nghĩa của nó! Giờ thì đã lan ra khắp thế giới!
Tình Yêu, là món quà quý báu nhất, mà Thượng Đế ban cho con người. Nơi nào có tình yêu, nơi đó có an bình, hạnh phúc. Ngược lại, hận thù, chỉ gây chết chóc, chiến tranh!
Cuộc đời, tình yêu, cần như hơi thở. Chính vì thế mới có câu: “Người không có tình yêu, khác gì…xác chết! mà…biết thở!”
Nhân ngày Lễ Tình Nhân, xin gởi lời chúc tốt đẹp nhất, ngọt ngào, hạnh phúc nhất, cho những cặp tình nhân đang yêu nhau. Nhưng đây chỉ là nghĩa hẹp, mở rộng hơn, là tình yêu thương giữa con người và con người, tình cảm cao quý này, mang lại niềm vui hạnh phúc, an bình cho cuộc sống. Cần thiết nhất trong thời điểm hiện tại, vì bất cứ lúc nào, thế giới cũng có thể bùng nổ chiến tranh. Chỉ vì con người, vẫn còn thiếu chất tình yêu thương nhau. Ý nghĩa này, mới là cốt lõi, thông điệp của ngày lễ!
Chúc Mừng Ngày Lễ Tình Yêu 2025!
Lê V Hải
Dù Trời Mưa Như Trút Nước, Nhóm Mõ Nhân Ái, Vẫn Tưng Bừng Ăn Mừng Ngày Valentine Với Khách Không Nhà! (Homeless!)
Khách Không Nhà vui mừng khi được tặng quà, đó là 2 bao lì xì trong có chút tiền mặt. Một bà vui mừng ôm lấy anh trưởng nhóm tâm sự: “chồng con tôi, cũng quên ngày này, mà Nhóm lại nhớ! Điều này, làm tôi cảm động quá! cám ơn!”
Đây là mục đích hoạt động của Nhóm, đưa các không khí ngày lễ đến với họ, như một món quà tinh thần an ủi, những mảnh đời bơ vơ, không một người thân bên cạnh. Mà Nhóm đã bền bỉ thực hiện biết bao nhiêu năm nay. (trên 30 năm!)
Sau đây là một vài hình ảnh:
Nhân Lễ Tình Nhân, giới thiệu những mẫu truyện ngắn hay về tình yêu, rung động trái Tim!
Tình yêu là không thể chờ đợi
Có một chàng trai thầm yêu cô gái chung lớp đã lâu, nhưng không dám bày tỏ. Chàng trai nhờ bạn bè và họ gợi ý chàng nên mua hoa và xếp thành hình trái tim trước sân trường và chờ cô gái đi học về rồi tỏ tình.
Chàng đã mua rất nhiều hoa hồng và làm theo gợi ý của bạn mình, nhưng sau khi xếp xong chàng trai lại quá nhút nhát, khi người yêu đi qua, không dám gọi tên người mình yêu. Những sinh viên tò mò đứng xem chật kín hành lang của trường đại học. Cuối cùng để phá đi không gian tò mò ngày một đông kia, chàng trai bèn đổi giọng nói: “Có ai mua hoa không?”.
Lỡ một lời tỏ tình có khi lỡ nhau cả đời! cô gái ấy lẽ ra là của chàng trai rồi, nhưng cuối cùng lại chỉ lướt qua nhau như người xa lạ mà thôi. Vì thế hãy nắm chặt lấy tình yêu của mình khi nó đến. Đừng để vuột mất cơ hội mà tiếc nuối cả đời bạn nhé. Biết bao nhiêu cuộc tình vuột mất, chỉ vì không dám nói!
Tờ tiền 100 USD
Trong một lễ cưới, người dẫn chương trình của lễ cưới lấy ra một tờ tiền, 100 đô la, hỏi tất cả những người trong hội trường rằng ai cần xin hãy giơ tay: “Nếu ai muốn xin hãy giơ tay”.
Cuối cùng cũng có người giơ tay, sau đó càng ngày càng có nhiều người giơ tay.
Người dẫn chương trình liền đổi tờ tiền lúc nãy thành tờ tiền cũ, những người giơ tay liền ít đi rất nhiều.
Người dẫn chương trình vừa cười vừa đổi lấy một tờ khác nhăn nheo cũ kỹ hơn, trong hội trường chỉ còn lác đác mấy người giơ tay.
Người dẫn chương trình mời một vị thanh niên lên sân khấu, và đưa tờ tiền cho anh ta, nói rằng:“ Tại vì anh giơ tay từ đầu đến cuối”, mọi người trong hội trường liền cười lớn. Người dẫn chương trình nói với cậu thanh niên: “Tôi đổi cho cậu tờ mới này lấy tờ cũ được không?”,
Cậu thanh niên nói: “Không cần đâu ạ, cũ mới đều giống nhau”.
Người dẫn chương trình gật đầu và mời cô dâu và chú rể đi lên sân khấu, anh nói: “Nhan sắc có đẹp thế nào đi nữa, rồi cũng sẽ có ngày già đi. Một cuộc tình lãng mạn thế nào đi nữa, rồi cũng thuận theo cuộc sống mà thay đổi. Giống như tờ tiền tôi cầm trên tay, cũng theo thời gian mà trở nên cũ kỹ nhăn nheo, giống như cậu thanh niên vừa rồi nói, cũ và mới thì giá trị của nó không vì những nếp nhăn trên bề mặt mà thay đổi. Có phải vậy không?”.
Cô dâu chú rể nhìn nhau gật đầu. Mọi người ở hội trường vỗ tay hồi lâu chúc mừng.
Chúng ta đôi khi có thể quên đi giá trị và ý nghĩa thực sự của tình yêu, đừng để đến lúc già liền quên đi lời thề hôm nay rằng sẽ yêu nhau trọn đời, đầu bạc răng long. Đừng để đến khi mất rồi mới biết trân trọng! Mà hãy trân trọng những gì bạn đang có hiện tại.
Con trai hay con gái
Người chồng đang chăm sóc vợ đang nằm trên giường trong phòng thai sản vì cô sắp sửa lâm bồn.
Người vợ hỏi anh: “Anh hy vọng em sắp sinh cho anh con trai hay con gái”.
Người chồng mỉm cười: “Nếu đó là một bé trai, hai bố con anh sẽ cùng nhau bảo vệ em. Nếu đó là một bé gái, anh sẽ bảo vệ cả hai mẹ con. “
Tình yêu không nhất thiết phải là vinh hoa phú quý, mà là cần có nhau trong lòng. Hôn nhân là một điều hạnh phúc, thật may mắn nếu bên cạnh bạn là một người đàn ông xem bạn như báu vật cuộc đời.
Trong tình yêu luôn luôn phải có sự nhường nhịn
Nhà cô gái vừa thay một chiếc cửa công nghệ cao, chỉ cần nhận diện giọng nói thì cánh cửa sẽ tự động mở ra. Cô đem mật khẩu cài đặt thành “Anh yêu em!” để anh thoải mái đi vào.
Một ngày họ cãi nhau to. Cô một mạch nói lời chia tay. Lại suốt ngày ở nhà ảo não hối hận không thôi. Cô đem mật khẩu đổi thành “Thực xin lỗi!”, mỗi ngày khi mở cửa đều nhỏ giọng nói “Thực xin lỗi” với cánh cửa. Dường như làm như vậy cô có thể giảm bớt sự hối hận cùng mong nhớ trong lòng.
Một ngày, cô đang ngồi bần thần trên ghế, cánh cửa lại đột nhiên mở ra. Anh ta và cả cô đều kinh ngạc nhìn thấy nhau, rồi chạy vào ôm nhau thắm thiết!
Hóa ra khi yêu nhau, họ cùng ý tưởng, cùng nói một ngôn ngữ!
Trong tình yêu luôn luôn phải có sự nhường nhịn đến từ hai phía! Dừng chen tự ái vào tình yêu!
Câu hỏi khó
Buổi tối, trước khi đi ngủ nàng quay sang hỏi ông xã: “Nếu em mắc bệnh nan y, anh có chạy chữa cho em không?”
Ông xã đang buồn ngủ, mơ mơ màng màng rằng: “Em đừng nói bừa… Bán hết gia sản cũng phải chữa chứ!”
Nàng nói: “Nếu anh mắc bệnh thì sao?”
Ông xã: “Không trị!”
Nàng ngạc nhiên: “Vì sao?”
Ông xã: “Còn lại một mình em, kiếm tiền không dễ. Anh không để em làm như thế được”
Người vợ cảm động, rươm rướm nước mắt!
Bạn không biết khi bạn gặp nguy hiểm, người ấy sẽ quan tâm lo lắng cho bạn như thế nào. Như Chúa phán: “Tình yêu cao cả nhất, là dám hy sinh, chết cho người mình yêu!”
Hai quả táo
Vì nàng thích ăn táo nên mỗi ngày anh đều gọt hai quả táo một cho cô một cho anh, cô rất thích cảm giác chăm sóc ấm áp này. Chỉ là cô hơi khó chịu, khi anh luôn cắn một miếng ở cả hai quả táo trước khi đưa cho cô.
Một ngày nọ, thừa lúc anh đang gọt táo, thì ra ngoài nghe điện thoại, cô liền cắn lén quả táo của anh để trả đũa. Cô chợt phát hiện quả táo này nhạt nhách, không ngon ngọt bằng quả táo của mình. Nước mắt không tiếng động. lướt nhanh qua khuôn mặt của nàng
Yêu là thế! những gì tốt nhất, người đó sẽ luôn dành cho bạn! vui khi chịu thiệt thòi!
Yêu người bạn thân!
Di động rung, một dòng tin nhắn hiện lên: “Anh quyết định đi tỏ tình với cô ấy! cho anh một lời khuyên!”
Anh chàng là bạn thân với cô từ lâu, cô nén chặt cảm xúc rồi trả lời rằng: “Ồ…Vậy anh cố lên.”
“Anh đứng ngoài cửa nhà cô ấy đã lâu, không dám gõ cửa!”
“Đánh bạo gõ cửa đi! Ôm lấy cô ấy rồi nói anh yêu em!”
“Em nghĩ, cô ấy có đồng ý không?”
“Em không biết nữa!”
Cô buông điện thoại nằm xuống, nước mắt rơi xuống không ngừng, người ta không yêu mình!
Di động lại rung, là điện thoại.
“Anh đánh bạo gõ cửa rồi đây, đứng trước nhà em nè! ra mở cửa đi nào, cô bé!”
Khi yêu là thế, luôn mang đến chuyện bất ngờ, nhiều khi đứng tim! với người mình thương!
Có thể chăm sóc anh không?
Buổi sáng nọ cô mở cửa thì thấy chú mèo con có đeo nơ đỏ của anh chàng lầu trên, trên cổ mèo lộ ra một tấm bảng: Chủ nhân đi công tác xa, xin cô giúp, có thể chăm sóc tôi vài ngày được không ?
Cô ôm lấy mèo con đi vào phòng chăm sóc cẩn thận. Rồi sau đó chú mèo nhỏ kia thường xuyên xuất hiện với diện mạo giống như trên. Hôm nay, cô lại nghe tiếng gõ cửa. Nhưng ngạc nhiên chưa khi lần này lại thấy anh chàng kia, mà không phải con mèo! anh ta vừa cười vừa gãi tai: “Con Mèo đi công tác xa, em có thể chăm sóc anh không?”
Thích một người, sẽ luôn dành sự bất ngờ nhất cho người đó!
Chàng ngốc
Chàng và cô gái hẹn hò đã khá lâu. Một ngày nọ, cô gái chia tay anh và nói với anh, “Em không muốn gặp lại anh nữa.”
Vài tháng sau, cô nhận ra mình còn yêu chàng trai, vì vậy cô tìm gặp và nói với anh, “Hãy cho em thêm một cơ hội. Suy nghĩ kỹ rồi, em yêu anh và em cần anh. Em hứa sẽ không làm anh bị tổn thương thêm nữa.”
Nhưng chàng trai cười lớn và nói với cô, “Chỉ có anh chàng ngốc mới quay lại với người đã làm cho hắn ta tổn thương, tan nát cả trái tim, nhiều lần như thế.”
Cô gái thất vọng và bắt đầu khóc òa, nhưng chàng trai vòng tay quanh người cô “Em chưa nghe hết mà,… và anh là một trong những chàng ngốc đó mà! Nín đi em!”
Không thể chờ đợi!
Nàng và bạn trai ra ngoài ăn tối và có một cặp vợ chồng già ngồi gần họ. Chợt nàng nghe thấy người chồng nói “Em còn nhớ khi chúng ta còn trẻ, chúng ta…. ?”
Tôi quay sang nhìn bạn trai tôi và cười khúc khích, tỏ ý rằng cặp đôi họ thật hạnh phúc. Nhưng tôi ngạc nhiên khi thấy anh bạn trai cầm một chiếc nhẫn cầu hôn trong tay và nói “Anh không thể chờ đến tận lúc chúng ta già đi giống như họ! Mình yêu ngay đi em!”
Tấm hình
Hồi còn bé, cô có một anh bạn thân trạc tuổi thường chơi chung gần nhà, thời gian sau nhà bạn trai chuyển đi đâu mất cô không rõ. Thứ duy nhất cô giữ là tấm hình này cho đến tận khi cô lấy chồng.
Một ngày nọ khi dọn nhà, chồng cô chợt thấy tấm hình được cô cất kỹ trong một quyển nhật ký và hỏi cô cậu bé trong tấm hình là ai. Cô trả lời hóm hỉnh: “Mối tình đầu của em!”
Sau đó chồng cô cười và nói: “Anh đánh mất tấm hình này khi anh 7 tuổi! Em giữ, thì cho anh xin!”
Dành thời gian bên em
Nàng bắt đầu câu chuyện: “Anh biết không…”
Chàng trai đáp ngay “Em yêu, anh có việc, hôm khác trò chuyện nhé…”
Nàng bắt đầu nũng nịu “Cái đó…”
Chàng kiên nhẫn “Thôi nào em yêu.”
Cô vẫn tiếp tục “Nhưng mà…”
Chàng kết thúc “Ngoan, ngủ ngon nhé!”
Cô cúp máy “Ờ…” rồi nằm cuộn mình trong chăn lặng lẽ khóc lóc, đã mấy tuần nay anh không ở bên cô, ang thật sự bận rộn như vậy sao?
Hôm sau cô kinh ngạc khi anh xuất hiện trước cửa nhà, với đôi mắt thâm quầng thiếu ngủ. Cô hỏi “Sao anh lại ở đây thế?”
Anh dụi mắt nói: “Ngày hôm qua anh thức khuya làm xong công việc của hôm nay, cuối cùng cũng có thời gian ở cùng em rồi!”
Khi yêu thì “mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua!”
Lá thư tình
Cô và anh học chung lớp từ cấp 2 và cô đã thầm mến thương anh đã lâu. Một hôm nọ, anh đưa cho cô một lá thư tình.
Nhịp tim cô đập nhanh, ấp úng: “Đây…đây là…”
Anh đỏ mặt nói “Tớ thiếu can đảm, không dám đưa, nhờ bạn chuyển dùm cho San San nhé” (San San là tên của bạn thân của cô)
Cô cố gắng gượng cười: “Bạn bè với nhau mà! Ha ha,…không thành vấn đề!”
“Nhưng trước khi đưa cho San San, bạn có thể giúp tớ đọc qua và góp ý được không?”
“Được.” Khi cô mở thư ra, trên đó chỉ có một hàng chữ: “San San, tớ thích cô bạn thân của San, để ý đã lâu! đưa giúp tớ thư này được không?”
Cô kinh ngạc ngẩng đầu! trái tim đập loạn xạ! chưa kịp nói lời gỉ, lại bị anh ôm vào trong lòng!
Tên trộm
Buổi tối trước ngày thi cuối kỳ, cô yên lặng ở nhà ôn tập toán học, loáng thoáng nghe tiếng gõ cửa, là anh: “Làm bài này coi như ôn tập môn toán học, sau đó nghỉ ngơi sớm mai đi thi nhé.”
Cô cảm ơn, dặn anh đi về cẩn thận rồi đóng cửa lại. Xuyên qua mắt mèo, cô nhìn thấy dáng đi của anh hơi kỳ lạ…chân cà nhắc?
Sáng hôm sau môn thi đầu tiên là toán học, cô ngạc nhiên phát hiện bài thi được phát ra y chang như bài ôn tập tối qua! Trúng tủ! mừng rên!
Rất nhiều năm sau, khi đã cưới nhau, nhắc lại chuyện xưa, anh mới cười khoái chí. Anh nói khi ấy, anh làm học trò ngoan đứng đầu lớp nhiều năm như vậy, nhưng lại sợ cô bạn gái ngốc, rớt môn toán này, nên trèo tường đi trộm đề thi!
Khi yêu, thì chuyện gì cũng chả làm được!
Những viên kẹo
Cậu bé nói với cô bé: Bạn đoán xem trong cái túi của tớ có mấy viên kẹo? Cô bé nhỏ nói: Đoán đúng rồi cậu sẽ cho tớ ăn sao?
Cậu gật đầu: Đúng thế, bạn đoán đúng rồi tất cả đều cho bạn!
Cô bé nuốt nước miếng: Tớ đoán có 5 viên kẹo!
Sau đó, cậu bé cười đặt đường vào tay cô bé, nói: Tớ còn thiếu cậu ba viên nhé.
Khi yêu, người yêu nói gì cũng đúng thôi!
Bản lĩnh
Họ cãi nhau khá lâu, cô gái tức giận vươn tay tát chàng trai. Chàng trai lớn tiếng thách thức: “Có bản lĩnh, thì em tát anh thêm một cái nữa đi! sẽ biết!”
Cô gái không do dự tát ngay. Chàng trai dừng một chút, nắm chặt tay cô gái: “Em đã nghe lời như vậy, anh nói gì em cũng làm! chúng mình đừng cãi nhau nữa, về nhà thôi!”
Lời cảm ơn
Sau mội thời gian hẹn hò, tối đó chàng trai đưa nàng về nhà và nói với nàng: “Anh muốn em làm cho anh một việc quan trọng.”
Cô gái: “Dạ. Việc gì vậy anh?”
Chàng trai đáp khi em vô nhà, em hãy cảm ơn mẹ em giúp anh.”
Cô gái: “Nhưng vì sao hả: “K anh?”
Chàng trai mỉm cười: “Em hãy cảm ơn mẹ vì đã sinh ra một thiên thần dễ thương, an ủi cho cuộc đời anh và một ngày anh hy vọng thiên thần đó sẽ trở thành vợ của anh!”
Cô sung sướng, ngả đầu vào vai anh!
Là em
Một buổi sáng nọ, anh vừa tỉnh ngủ liền nhìn thấy cô đang nhìn mình chằm chằm, anh nghi hoặc hỏi: “Sao vậy em?”
“Em chợt suy nghĩ ra một vấn đề muốn hỏi anh rất lâu rồi, em không xinh đẹp, còn không giỏi việc nhà. Lúc ấy vì sao anh vẫn cưới em?”
Anh trông thấy vẻ mặt mong chờ của cô, bật cười nói: “Thì ra em cũng biết mình có nhiều khuyết điểm như vậy à?”
Cô hơi khó chịu: “Nghiêm túc chút đi!” Anh cười véo mặt cô: “Bởi vì đó là em!” Không có ai trên đời giống em cả! chính vì đó, anh yêu em!
Lễ Valentine Này, Hãy Quan Sát Những Gì Mà Mọi Hình Thức Tình Yêu Mang Lại Cho Đời Sống Mình
-Ngày lễ Tình nhân dành cho những người yêu nhau – nhưng bạn không cần một người bạn tâm giao lãng mạn để ăn mừng.
Ngày lễ là cơ hội để xem xét mọi hình thức tình yêu phong phú, đa dạng và có lợi như thế nào trong trải nghiệm của con người, cho dù tình yêu đó đến từ gia đình, bạn bè, thú cưng, hàng xóm hay cộng đồng của bạn.
Ba chuyên gia đã chia sẻ cách nuôi dưỡng tình yêu dưới mọi hình thức khi cô đơn là một “đại dịch”, chính trị gây chia rẽ và việc chuyển sang kỹ thuật thường dễ dàng hơn trong các tương tác xã hội ngoài đời thực.
Bạn Cần Nhiều Hơn Là Chỉ “Tình Yêu ấy” của Cuộc Đời Mình
Tình yêu lãng mạn – mối quan hệ sâu sắc, thân mật với một người hoặc nhiều người khác – là một phần giá trị của cuộc sống. Nhưng các chuyên gia cho biết chúng ta nên nhớ rằng chúng ta cần có nhiều nguồn kết nối.
“Đặc biệt là khi chúng ta già đi, chúng ta nhận ra rằng không có mối quan hệ nào có thể cung cấp cho chúng ta mọi thứ”, bà Mikaela Frissell, một nhân viên xã hội của UT Health Austin nói.
Tình yêu cũng không phải là thứ có thể dễ dàng được xác định bằng một định nghĩa hoặc hành vi duy nhất.
Theo nhà dịch tễ học Tyler VanderWeele, người chỉ đạo Chương trình Phát triển Con người của Đại học Harvard,nói. Là một động từ, tình yêu có hai tác dụng. Nó có thể là cả hai hoặc “hợp nhất” – nghĩa là bạn mong muốn và muốn ở bên người hoặc vật mà bạn yêu – hoặc “góp phần”, nghĩa là bạn muốn đóng góp thêm vào điều tốt đẹp của người mình yêu.
Các chuyên gia cũng cho biết một định nghĩa và quan điểm mở rộng về tình yêu mở ra khả năng bạn có thể hướng những cảm xúc “thống nhất” và “góp phần” này đến ai và đến điều gì.
Mối Liên Hệ Giữa Tình Yêu, Sự Cô Đơn và Sức Khỏe
Vào năm 2023, nguyên Tổng Y sĩ Hoa Kỳ Vivek Murthy đã tuyên bố sự cô đơn là một đại dịch sức khỏe cộng đồng.
Phúc trình của ông Murthy cho biết một nửa người Mỹ đã từng trải qua sự cô đơn và nó gây ra những rủi ro sức khỏe chết người như hút 15 điếu thuốc mỗi ngày. Nghiên cứu cũng phát giác ra rằng những người có mối quan hệ xã hội kém có nguy cơ đột quỵ và bệnh tim cao hơn, và sự cô lập làm tăng nguy cơ mắc chứng trầm cảm, lo âu và chứng mất trí nhớ của một người.
Bà Frissell nói, các mối quan hệ xã hội, sự gắn kết và hỗ trợ mạnh mẽ của tình yêu có liên quan đến sức khỏe tốt hơn, vì nó cho phép não bộ báo hiệu với cơ thể rằng bạn an toàn và đưa hệ thần kinh của bạn ra khỏi trạng thái “chiến đấu hoặc bỏ chạy”. Nghiên cứu cho thấy việc ở bên những người thân yêu có thể làm giảm huyết áp, hormone gây căng thẳng, giảm viêm – thậm chí giúp bạn ngủ ngon hơn và kiểm soát cơn đau tốt hơn.
Nghiên cứu về sự Phát triển của Người lớn của Harvard đang diễn ra, là nền tảng của cuốn sách “The Good Life”, đã chỉ ra giá trị của các mối quan hệ trong suốt cuộc đời.
Ông Anthony Chambers, một nhà tâm lý học và là Giám đốc học thuật tại Viện Gia đình thuộc Đại học Northwestern, cho biết một trong những phát giác của nghiên cứu Harvard là những người hạnh phúc nhất trong các mối quan hệ của họ ở tuổi 50 là những người khỏe mạnh nhất về mặt tinh thần và thể chất ở tuổi 80.
“Kết luận là gì? Xây dựng các mối quan hệ có ý nghĩa và thỏa mãn là chìa khóa cho sức khỏe và hạnh phúc của chúng ta”, ông Chambers, người đã làm việc về nghiên cứu này vào giai đoạn đầu sự nghiệp của mình, nói.
Làm Thế Nào Tôi Có Thể Nuôi Dưỡng Tình Yêu?
Các chuyên gia cho biết, nói một cách đơn giản, hãy cố ý tìm kiếm các mối quan hệ trực tiếp.
Điều không đơn giản là lên kế hoạch cho mọi thứ với người khác. Có thể bạn sẽ thấy không thoải mái khi phải lướt qua lịch để tìm một cuộc hẹn ăn tối với một người bạn bận rộn hoặc gọi điện thoại cho anh chị em của mình, những người không có nhiều điều để nói. Có lẽ sẽ rất ngại khi bắt chuyện với người hàng xóm lớn tuổi mà bạn chưa từng gặp hoặc tham gia một đội bóng.
Bà Frissell cho biết hãy thừa nhận và thẩm vấn những nỗi sợ hãi hoặc giả định khiến bạn không thể tiếp cận trong những khoảnh khắc đó.
Cũng có thể làm những điều tốt đẹp cho người khác – ngay cả khi bạn không biết rõ về họ. Bà Frissell thách thức khách hàng khen ngợi ai đó mỗi ngày và sẵn sàng chấp nhận lời khen đáp lại. Bà cho biết lợi ích của việc nhận và trao tình yêu là như nhau.
Ông VanderWeele khuyên bạn nên thực hiện một bài tập mà ông thực hành: Chọn một ngày trong tuần, trong sáu tuần, để thực hiện năm hành động tử tế. Ông cho biết, điều này buộc bạn phải lên kế hoạch và ưu tiên lòng tốt một cách có chủ đích, giống như bất kỳ nhiệm vụ hàng ngày nào khác.
Tình Yêu Có Thể Xây Dựng Khả Năng Phục Hồi
Vào Ngày lễ Tình nhân năm nay, các chuyên gia khuyến khích bạn suy nghĩ vượt ra ngoài các mối quan hệ một-một và suy ngẫm về cộng đồng và thế giới của bạn. Họ nói thêm rằng việc cam kết với một mục đích hoặc nhóm sẽ xây dựng khả năng phục hồi về mặt tinh thần.
“Tất cả chúng ta đều muốn được hiểu và xác nhận, đặc biệt là trong những thời điểm khó khăn. Và các mối quan hệ được cho là bối cảnh quan trọng nhất để chữa lành cảm xúc”, ông Chambers nói. “Khi thế giới xung quanh chúng ta có vẻ hỗn loạn hoặc chúng ta cảm thấy cô đơn, các mối quan hệ mang đến cho chúng ta cơ hội để cảm thấy được xác nhận”.
Ông VanderWeele cũng cho biết điều quan trọng là phải “yêu kẻ thù” – những người mà chúng ta không đồng tình hoặc phản đối chúng ta.
Ông nói: “Mức độ chúng ta yêu thương người khác, yêu thương hàng xóm của mình sẽ định hình nên xã hội mà chúng ta đang sống”.
Hoa Hồng Tình Nhân
Cành hồng mới nở đóa hoa xinh Gửi tặng em yêu những nụ tình Tình nhân ngày lễ hoa hồng đỏ Để mãi yêu đương chuyện chúng mình.
Nghe nhịp thời gian chuyện gió mưa Sông thu liễu rũ thuyền đong đưa Loài hoa chớm nở thơm hương sắc Mây nước bèo trôi ngọn gió lùa.
Ôm bó hồng hoa đến tặng em Nụ hôn nồng ấm ngất ngây thèm Rót ly rượu đỏ men tình ái Ngày lễ tình nhân ngọn nến đêm.
Âm hưởng vang lên nhạc phổ thơ Cho tình lãng mạn phút mong chờ
Ái ân nồng ấm như ngày mới Tóc xoã ngang vai mảnh lụa mờ.
Ngào ngạt hương xuân má đỏ hây Tình em rạo rực phút sum vầy Hồn em khép cánh hoa trinh nữ Ngày ấy tình em đã rót đầy.
Tế Luân
Món Quà Valentine Cuối Cùng
Trời tháng Hai vẫn mang cái lạnh khe khẽ, như một lời nhắc nhở về những ngày Lễ Tình Nhân đã qua. Ngồi bên cửa sổ, nhìn những cặp đôi dắt nhau trên đường, tôi không thể ngăn được cảm giác nhớ thương người đã xa.
Ngày 14/2/1985, đúng 40 năm trước, tôi có ca trực làm AOD (Administrative Officer of the Day) từ 4 giờ chiều đến 8 giờ sáng hôm sau tại bệnh viện quân đội Hoa Kỳ, Moncrief Army Medical Activity (MAMA), Fort Jackson, SC. Khi ấy, tôi đã gia nhập ngành Y của Lục quân Hoa Kỳ được 5 năm và mang cấp bậc Đại úy. MAMA cũng là nhiệm sở đầu tiên của tôi sau khi hoàn thành khóa huấn luyện quân sự và khóa Thực tập Dinh dưỡng gần hai năm.
Hôm đó, tôi tranh thủ hoàn thành công việc sớm hơn thường lệ và xin phép về nhà lúc 2:00 chiều để có thể trở lại bệnh viện nhận ca trực AOD lúc 4:00 chiều. Nhà tôi nằm trong khu cư xá sĩ quan, cách bệnh viện chỉ một dặm, nên tôi nhanh chóng về nhà chăm sóc mẹ chồng đang bị cảm (mẹ chồng tôi bị bệnh tiểu đường, áp huyết cao, bệnh tim và bệnh thận), giúp bà uống thuốc và tiêm insulin. Sau đó, tôi nấu sẵn bữa cơm chiều cho bố mẹ chồng và chồng con, rồi vội vã trở lại bệnh viện nhận ca trực trước khi chồng và con tôi đi làm và đi học về.
Đêm hôm đó, tôi rất bận rộn với trách nhiệm AOD. Ngoài những công việc thường trực, tôi còn lo thủ tục hành chính cho một binh sĩ tự tử bằng thuốc độc cần cấp cứu và hai bệnh nhân qua đời. Mãi đến gần 11 giờ đêm, tôi mới có cơ hội trở về phòng trực để nghỉ ngơi, người mệt nhoài và bụng đói meo vì từ trưa đến giờ chưa được ăn gì. Khi mở cửa phòng, tôi sững sờ ngạc nhiên khi thấy chồng tôi đã ngồi đó từ bao giờ. Bên cạnh anh là một lọ hoa với 12 đóa hồng nhung đỏ thắm, một hộp kẹo chocolate và bữa cơm chiều tôi đã nấu sẵn ở nhà. Anh đứng dậy, dịu dàng ôm tôi vào lòng, nhẹ nhàng hôn tôi và nói: “Happy Valentine vợ yêu của anh, chắc em mệt lắm. Anh đã mang hoa và cơm tối đến cho em đây. Anh đã đợi em từ lúc 7:00 tối để mình cùng ăn cơm với nhau…”
Tôi ngồi ăn cơm với chàng mà nước mắt cứ ứa ra vì lòng cảm động nghẹn ngào và hạnh phúc. Chúng tôi đã lấy nhau được 16 năm, có với nhau ba con 11, 13 và 15 tuổi, đã định cư ở Mỹ được 10 năm sau ngày miền Nam Việt Nam bị mất vào tay Cộng sản. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi nhận được hoa hồng trong ngày Lễ Tình Nhân từ chàng. Tôi biết không phải vì anh không yêu tôi – trái lại anh thương yêu tôi tha thiết – mà vì phong tục Việt Nam không có ngày lễ này, anh luôn cho rằng lòng yêu thương chân thành từ trái tim mới là điều đáng quý. Tôi cũng đã quen tính anh, không vì điều này mà buồn giận, cũng không mong nhận hoa hồng vào ngày Valentine.
Nhưng tôi nào ngờ đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng anh tặng hoa hồng cho tôi vào ngày Lễ Tình Nhân. Chỉ vài tháng sau đó, định mệnh cướp anh ra khỏi đời tôi vào ngày Lễ Độc Lập Hoa Kỳ 4/7/1985, khi anh cố gắng cứu bốn đứa bé (trong đó có con gái út của tôi) bị sóng ngầm cuốn xa trong lần picnic cùng bạn bè bên bờ biển Folly Beach, Charleston, SC.
Sau khi chàng mất đi, trong ngày Lễ Tình Nhân năm sau, tôi đã mua 12 đóa hồng nhung đặt trên bàn thờ và mộ chàng. Đêm ấy, lần đầu tiên chàng hiện về trong giấc mơ…
CHIÊM BAO
Trong giấc mơ anh trở về mờ ảo Dáng anh gầy tóc rối mắt hư hao Anh nhìn em không nói một lời nào Và cứ thế anh dần dần tan biến…
Trong khói sương dáng anh mờ ẩn hiện Em nghẹn ngào níu kéo bóng hình anh Một tí thôi tí nữa đừng đi nhanh Xin anh đó xin anh đừng đi vội….
Anh mờ dần tia mắt anh bối rối
Lẫn ngậm ngùi chua xót và yêu thương
Anh đi rồi em ôm lấy mùi hương
Đừng tan mất xin hương đừng tan mất…
phamphanlang
HAPPY VALENTINES’ DAY!
VALENTINE ngày TÌNH YÊU Chúc nhau nhận được bao điều dễ thương Tình yêu hâm nóng thường thường Thứ tha lầm lỗi đoạn đường cùng ai Dù cho đêm ngắn ngày dài Dù cho bão tố bàn tay không rời Quên đi những lúc sai lời Nhớ thêm những buổi tình ngời trăng khuya Trời còn khi nắng khi mưa Người tâm phàm tục ghét ưa chuyện thường Trách nhau là chẳng chung đường Chừ em hiểu được nên thương càng nhiều… VALENTINE ngày TÌNH YÊU Bó hoa hồng thắm mọi điều…thăng hoa.
HAPPY VALENTINES’ DAY! Phương Hoa – FEB 14TH, 2025
ĐÓN MỪNG LỄ TÌNH YÊU
Tháng hai, mười bốn mãi YÊU Chung lòngchia sẻ vạn điều mến thương Ngộ ra đối cảnh vô thường Nghe hồn thanh thản một đường bên ai Nào lo tháng rộng năm dài Nào lo vất vả siết tay chẳng rời Hờn chi thủa ấy không lời Hai mình vui ngắm sao ngời nửa khuya Cho dầu sáng nắng chiều mưa Keo sơn bền chặt hoài ưa lẽ thường Giờ đây dạo khắp nẻo đường Tình sâu nghĩa nặng đà thương thật nhiều Tháng hai, mười bốn mãi YÊU Tâm đầu ý hợp muôn điều trổ hoa.
Như Thu
02/14/2025
Những bức tranh về tình yêu qua từng thời đại
TIẾNG VIỆT TẠI HẢI NGOẠI SAU 50 NĂM VÀ VYEA – HỘI GIÁO DỤC TRẺ EM VIỆT NAM VÙNG HOA THỊNH ĐỐN