TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG QUÂN SỰ VIỆT-TRUNG NẾU XẢY RA XUNG ĐỘT TRÊN BIỂN ĐÔNG

 

TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG QUÂN SỰ TẠI BIỂN ĐÔNG

(Hoàng  Nam) Trung Quốc ở vị thế áp đảo so với các nước và vùng lãnh thổ khác trong tranh chấp ở Biển Đông. Tương quan lực lượng có chiều hướng tiếp tục nghiêng mạnh về phía Trung Quốc trong tương lai với tốc độ tăng trưởng chóng mặt . Trước căng thẳng gia tăng tại Biển Đông, có xu hướng chuyển dịch trong chiến lược của các nước trong khu vực từ “phòng thủ” sang “phòng thủ từ xa”, tích cực mua sắm, sản xuất các vũ khí tối tân, hạng nặng. 

***************************

Sức mạnh trên biển của mỗi quốc gia được đo đạc bằng sức mạnh hải quân và không quân. Trên chiến trường này, quân số không có nhiều ý nghĩa so với mức độ hiện đại của các loại phương tiện, vũ khí, và khí tài chiến tranh, và khả năng hiệp đồng tác chiến giữa các đơn vị, vị trí địa lý của các căn cứ quân sự và năng lực hậu cần.

Trung Quốc là nước sức mạnh tấn công lớn nhất trong khu vực xung quanh Biển Đông và khả năng đó tiếp tục tăng lên nhanh chóng. Lực lượng hải quân của Trung Quốc lên tới 255.000 quân với 75 đơn vị tham chiến, hơn 60 tàu ngầm, 55 tàu đổ bộ loại lớn và loại vừa và khoảng 70 tàu tuần tra có trang bị tên lửa, các radar Sky Wave và Surface Wave OTH; 2 tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp SHANG loại 093 và một tàu SSBN lớp JIN, 4 tàu SSN lớp HNN và SSBN lớp XIA và khoảng 13 tàu ngầm chạy bằng động cơ diezel, nước này vẫn tiếp tục tập trung đầu tư trang bị cho lực lực hải quân của mình. Gần đây Trung Quốc đã tiếp nhận 2 tàu khu trục lớp LUYANG II thuộc loại 052C, 2 tàu khu trục lớp LUZHOU thuộc loại 051C có trang bị tên lửa tầm xa đất đối không SA-N-20 của Nga, 4 tàu khinh hạm có trang bị tên lửa dẫn đường lớp JIANGKAI II lớp 054A. Trung Quốc cũng tiếp tục thiết kế tàu chiến lớp HOUBEI loại 022. Hơn 40 tàu tuần tra loại này đã được đưa vào sử dụng. Mỗi tàu có thể mang được 8 tên lửa hành trình đối hạm YJ-83. Đồng thời, Trung Quốc dự kiến sẽ trang bị các tàu ngầm tấn công lớp YUAN. Hiện tại một tàu lớp này đã được đưa vào sử dụng, một chiếc khác đang trong giai đoạn chạy thử và sẽ đóng thêm 15 tàu ngầm lớp YUAN.[1]

Lực lượng không quân Trung Quốc hiện có khoảng 330.000 quân[2] với 490 máy bay như loại máy bay đánh chặn F-7/FISHBED và F-8II/FINBA, 23 máy bay Su-30MK2/FLANKER cho tác chiến trên biển tầm xa. Trung Quốc đã triển khai 8 tiểu đoàn SAM tầm xa (200 km) SA-20 PMU-2 của Nga và Trung Quốc sẽ nhận thêm 8 tiểu đoàn loại này nữa trong vòng 2 năm tới. Đặc biệt, Trung Quốc tiếp tục tập trung phát triển loại máy bay cảnh báo sớm (AEW&C) bao gồm KJ-200 và KJ-2000 để tăng cường khả năng trinh sát trên biển; đồng thời, dự định mua Su-33, 34 máy bay vận tải IL-76 và 4 máy bay tiếp dầu IL-78 của Nga.[3] Đáng chú ý là các lượng lượng hải quân và không quân của Trung Quốc có thể hiệp đồng tác chiến thông qua một hệ thống vệ tinh hiện đại. Trung Quốc có hệ thống vệ tinh do thám phục vụ cho quân sự như: vệ tinh Yaogan 1,2,3,4,5, vệ tinh Haiyang-1B vệ tinh CBERS-2 và 2B. Trong tương lai, Trung Quốc sẽ lắp đặt thêm 8 vệ tinh mới. Hiện tại, Trung Quốc đang sử dụng hệ thống định vị toàn cầu GPS của Mỹ, GLONASS của Nga và Bắc Đẩu-1; dự kiến, năm 2011, Trung Quốc sẽ triển khai Bắc Đẩu-2.[4]

Báo cáo cho Quốc hội Mỹ về “Hiện đại hóa Hải quân của Trung Quốc: Hệ lụy cho các khả năng hải quân của Mỹ” năm 2009 cho biết “các nỗ lực hiện đại hóa hải quân bao gồm nhiều chương trình xây dựng vũ khí, bao gồm tên lửa đạn đạo chống tàu chiến, tên lửa đất đối không, mìn, máy bay, tàu ngầm, tàu khu trục, tàu tuần tra, và các tàu đổ bộ. Đáng chú ý nhất là báo cáo cho rằng Trung Quốc sẽ sớm bắt đầu chương trình xây dựng tàu sân bay. Hiện tại Trung Quốc bắt đầu đào tạo 20 phi công lái máy bay cho tàu sân bay, và đang đàm phán với Nga để mua 50 máy bay Su 33.[5] Theo báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ đầu năm 2009, các chuyên gia của Mỹ cho rằng Trung Quốc sẽ không có được tàu sân bay tự đóng có khả năng hoạt động tốt, cùng với đội tàu kèm theo trước 2015. Tuy nhiên, thay đổi trong khả năng đóng tàu của Trung Quốc và sự giúp đỡ từ bên ngoài có thể thay đổi tiến trình này. Trung Quốc dự kiến xây dựng nhiều tàu sân bay từ 2020.[6] Đây thực sự là diễn tiến đáng lo ngại cho các quốc gia Đông Nam Á đang tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ ở Biển Đông. Với khả năng và phạm vi hoạt động của tàu sân bay, hỏa lực, khả năng tác chiến và hậu cần của hải quân Trung Quốc tăng lên gấp bội. Căn cứ quân sự – quốc phòng của các nước khác trên các đảo tại Biển Đông không còn khả năng phòng thủ.
Đài Loan có một hệ thống phòng thủ hải – không quân mạnh. Mối đe dọa từ Trung Quốc đại lục buộc Đài Loan liên tục tăng cường các khả năng phòng vệ. Chính quyền Đài Loan ưu tiên phát triển các khả năng hải quân và không quân với sự giúp đỡ từ phía Mỹ. Năm 2008, chính quyền Mỹ thông báo họ đã thông qua hợp đồng bán vũ khí cho Đài Loan trị giá 6,4 tỉ USD. Một phần của hợp đồng này được đề xuất từ năm 2001, nhưng bị dừng lại do sự phản đối từ Quốc hội Đài Loan và từ phía Trung Quốc.[7] Như vậy, những vũ khí mới nhất mà Đài Loan mua được từ phía Mỹ gồm: 330 tên lửa Patriot hiện đại (trị giá 3,1 tỉ USD), 30 máy bay trực thăng tấn công Apache, và 32 tên lửa Harpoon, và 182 tên lửa hành trình Javeliin, và 4 hệ thống E-2T.[8] Hiện nay, lực lượng hải quân của Đài Loan gồm 45.000 lính, được trang bị 4 tàu ngầm (loại Hai Lung và Hai Shih), 26 khu trục hạm và 22 tàu chiến, 70 tàu tuần duyên, 12 tàu phóng và phá ngư lôi, 2 tàu đổ bộ. Lực lượng không quân gồm 55.000 lính với 478 máy bay chiến đấu các loại và 34 trực thăng.[9] Lực lượng tên lửa gồm 6 hệ thống tên lửa đất đối không SAM; 6 hệ thống tên lửa PAC -3; 6 hệ thống Tien Kung (Sky Bowl)
Malaysia có lực lượng hải quân và không quân đáng gờm trong khu vực. Lực lượng hải quân của nước này gồm 14.000 quân[10] và đây là một lực lượng nhận được nhiều ưu ái của chính phủ. Mặc dù hiện nay Ma-lai-xia đang sở hữu một lực lượng tàu chiến khá lớn nhưng Malaysia vẫn tiếp tục đề ra những chủ trương phát triển mới mẻ hơn. Đặc biệt và đáng lưu ý nhất là dự án mua 2 tàu ngầm lớp “Scorpene” chạy bằng động cơ diesel. Ngày 03/9, chiếc tàu ngầm đầu tiên đã chính thức về tới Malaysia, đến ngày 17/9 tàu này sẽ về tới căn cứ tàu ngầm tại vịnh Sepanggar. Bộ trưởng Quốc phòng Ma-lai-xi-a Ahmad Zahid đã nhấn mạnh, Ma-lai-xi-a sẽ đề xuất đóng thêm các tàu ngầm mới trong tương lai nếu cần thiết và tài chính cho phép.[11] Điều này chứng tỏ rằng, việc phát triển một hạm đội tàu ngầm đã và đang được Malaysia tiến hành. Đồng thời, hải quân Ma-lai-xi-a cũng đang xem xét khả năng mua trực thăng tuần tra của Hãng Embraer và Lockheed Martin, cũng như kế hoạch mua máy bay không người lái phục vụ tuần tra ở khu vực eo biển Ma-lắc-ca và biển Đông.
Không lực của Ma-lai-xi-a gồm 15.000 quân[12] được hiện đại hóa với những hợp đồng mua trang thiết bị, vũ khí trị giá hàng triệu đô-la với Nga, Pháp và Mỹ. Từ đầu năm 2003, Bộ Quốc phòng Ma-lai-xi-a đã xúc tiến một số dự án mua sắm trang bị như: dự án mua 18 máy bay chiến đấu Su-30MKM mà Ma-lai-xi-a đã ký với Nga tháng 8 năm 2003 với tổng trị giá 900 triệu USD. Trong đó, 6 chiếc đã nhận hồi tháng 09 năm 2007, tiếp đó nhận 6 chiếc vào tháng 11 năm 2008 và 6 chiếc còn lại sẽ nhận vào cuối năm 2009; dự án mua 12 máy bay trực thăng EC-725 của hãng Eurocopter trước năm 2011 để thay thế số máy bay trực thăng loại Nuri S61A-4 đã hết hạn sử dụng; từ năm 2013-2014, không quân Ma-lai-xi-a sẽ tiếp nhận 4 máy bay A-400M của hãng Airbus và một số dự án máy bay khác như: mua 08 máy bay cảnh báo sớm và Chỉ huy trên không (AEWAC), dự án nâng cấp máy bay F/A-18D.[13]
Ngoài những dự án quan trọng trên, Ma-lai-xi-a đã tiếp tục nghiên cứu và tự chế tạo các máy bay không người lái, với mục đích tăng cường khả năng hoạt động tình báo, trinh sát, do thám và chiến đấu cho quân đội. Ngày 3 tháng 8 năm 2009, hãng thông tấn (Bernama) của Malaysia cho biết, đầu năm 2010, quân đội nước này sẽ thực hiện chuyến bay đầu tiên của máy bay không người lái (UAV) loại Aludra. Mà quân đội Malaysia đã triển khai tại khu vực bờ biển Pandanan và Sipadan. Về hệ thống vệ tinh, hiện Ma-lai-xi-a đã đặt mua 9 ra-đa tác chiến của Mỹ nhằm tăng cường khả năng kiểm soát khu vực biển Xa-ba. Loại ra-đa này có chức năng thu thập hình ảnh và truyền dữ liệu về sở chỉ huy tác chiến.
Sức mạnh tấn công trên biển của Việt Nam tương đối hạn chế, cơ cấu lực lượng thiên về hướng phòng thủ. Về hải quân, Việt Nam đang dần hiện đại hóa về số lượng và chất lượng để tăng khả năng chiến đấu cho lực lượng hải quân 13.000 quân[14] của mình. Điển hình như việc Việt Nam tự đóng 3 tàu chiến cỡ nhỏ, đặt mua 5000 thiết bị từ Ấn Độ để tân trang lại ba tàu chiến loại Petya và hiện đại hóa hệ thống ra-đa cứu hộ bờ biển.[15] Việt Nam đang chú trọng đầu tư vào các tàu chiến nhỏ cao tốc, mang tên lửa chống hạm đảm bảo kiểm soát 1000 km vùng lãnh hải như việc đặt mua thêm 2 tàu chiến có khả năng tàng hình, săn tàu ngầm và chống hạm Gepard, cải tiến tàu Molnya, BPS-500… Theo các nguồn tin nước ngoài, Việt Nam đã thương thảo với Nga để mua 6 tàu ngầm tấn công Kilo lớp 636 chạy bằng diesel để tăng cường khả năng phòng thủ.[16] Về không quân, Việt Nam đang tăng cường hiện đại hóa cho lực lượng không quân gồm 30.000 quân[17] của mình. Hiện, Việt Nam có khoảng 64 máy bay công kích (Su-22, 27, 30), 140 máy bay chiến đấu MIG-21, 26 chiếc trực thăng vũ trang Mi-24, 4 chiếc máy bay trinh sát biển Be-12.[18] Tuy nhiên, ngân sách quốc phòng của Việt Nam có vẻ chưa cho phép Việt Nam đặt mua thêm 8 chiếc máy bay chiến đấu Su-30MK mà không lực Việt Nam đang cần để bổ sung vào 4 chiếc Su-30S Việt Nam đã mua vào năm 2004.[19] Có vẻ như đối với Việt Nam, những trang thiết bị phòng thủ của phương Tây là những món đồ đắt tiền. Tuy nhiên, sự sửa đổi những điều khoản trong Các Quy tắc Lưu thông Vũ khí Quốc tế của chính phủ Mỹ tháng 4/2007 cho phép Mỹ xem xét việc xuất khẩu những vũ khí không gây tử vong cho Việt Nam trên cơ sở từng trường hợp cụ thể, mở đường cho các cuộc đàm phán sơ bộ về khả năng bán các trực thăng Chinook CH-47D. Về hệ thống vệ tinh, tháng 4 năm 2008, công ty Arianespace của Pháp đã phóng vệ tinh đầu tiên của Việt Nam, Vinasat-1, từ căn cứ ở Korou, French Guiana. Vệ tinh Vinasat-1 sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường bảo vệ độc lập và an ninh của quân đội Việt Nam cũng như các thông tin vệ tinh dân sự.

Khả năng tấn công và phòng ngự của Phi-lip-pin trên Biển Đông hiện nay là rất yếu so với Trung Quốc và Ma-lay-sia. Về hải quân, theo chương trình hiện đại hóa quân đội Phi-líp-pin, lực lượng hải quân gồm 24.000 người[20] của nước này có thể được tăng cường thêm các tàu mới vào năm 2017. Tổng thống Gloria Arroyo đã chỉ đạo tìm cách đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa Hải quân, không những để tăng cường bảo vệ an ninh chủ quyền biển, đảo mà còn để gìn giữ môi trường an ninh đại dương. Tuy nhiên, theo Bộ Quốc phòng Phi-líp-pin, sẽ phải mất thêm 2 đến 3 năm nữa để các thiết bị này về tới Phi-líp-pin. Về không quân, không lực với 16.000 quân[21] của Phi-líp-pin vừa được trang bị trực thăng chiến đấu có khả năng tác chiến bàn đệm song không phải dành cho chiến lược của Phi-líp-pin trên biển Đông mà để đáp ứng các nhiệm vụ giải quyết lực lượng quân nổi dậy ở miền Nam nước này. Vừa qua, Phi-líp-pin đã tiếp nhận một số trực thăng chiến đấu UH-1H. Năm 2008, Phi-líp-pin đã không thành công với kế hoạch mua 6 trực thăng chiến đấu MD530F loại một động cơ của tập đoàn MD Helicopters. Phi-líp-pin đang cân nhắc việc mua hơn 10 trực thăng AH-1 Cobra mà hải quân Mỹ đang sử dụng. Nhiều khả năng hợp đồng mua sắm máy bay AH-1 Cobra sẽ được hai bên thực hiện vào cuối năm 2009. Ngoài ra, Phi-líp-pin cũng đang nhận được lời đề xuất nâng cấp các máy bay AH-1 của nước này từ I-xra-en.[22]

Tương quan lực lượng khu vực(2007)[23]

Lực lượng quân sự của Bru-nây không phải là mối đe dọa cho lực lượng quân sự của các quốc gia và vùng lãnh thổ khác trong tranh chấp ở Biển Đông. Quân đội Bru-nây có 7.000 lính trong đó quân số của lục quân là 4.900, của hải quân là 1.000 người, và không quân là 1.100.[24] Ngân sách quốc phòng của B-ru-nây còn rất khiêm tốn so với các quốc gia khác. Tuy nhiên, trước sức nóng của tình hình trên biển Đông B-ru-nây đang tìm cách hiện đại hóa và kiện toàn sức mạnh quân sự của mình. Ngày 12/10/2008, Quốc vương Brunei, Hassanal Bolkiah, thăm Nga và có các cuộc gặp với các quan chức của Tập đoàn xuất khẩu vũ khí Rosoboronexport để đàm phán về khả năng mua vũ khí của Nga trong tương lai. Tháng 6/2009, các cuộc thử nghiệm trên biển của tàu tuần tra đầu tiên lớp mới dùng cho hải quân Brunei đã được bắt đầu. Tính đến thời điểm này, chưa có bất kỳ công ty nào cũng như lãnh đạo Bru-nây khẳng định chính thức việc kí kết hợp đồng đóng tàu, tuy nhiên các nguồn tin trong tổ hợp công nghiệp quốc phòng Đức cho rằng xưởng đóng tàu của Đức đã nhận được đơn đặt hàng đóng một vài tàu tuần tra từ quốc vương Brunei.
Tóm lại, so sánh từ mọi góc độ của sức mạnh, chúng ta thấy Trung Quốc ở vị thế áp đảo so với các nước và vùng lãnh thổ khác trong tranh chấp ở Biển Đông. Tương quan lực lượng có chiều hướng tiếp tục nghiêng mạnh về phía Trung Quốc trong tương lai với tốc độ tăng trưởng chóng mặt của nền kinh tế và ngân sách quốc phòng của nước này. Điều đáng chú ý là hiện nay, có xu hướng chuyển dịch trong chiến lược của các nước trong khu vực từ “phòng thủ” sang “phòng thủ từ xa”, tích cực mua sắm, sản xuất các vũ khí tối tân, hạng nặng. Trung Quốc luôn lập luận rằng, nỗ lực hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc là nhằm mục tiêu phòng thủ. Tuy nhiên, trong thời gian trở lại đây, Trung Quốc ngày càng có nhiều biểu hiện phô diễn sức mạnh, tăng cường sự hiện diện quân sự ở bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc, và quan chức quân sự nước này công khai nói đến các ý định tiếp tục nâng cấp thực lực quân sự – quốc phòng. Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa đã đã gửi tàu chiến đến vịnh Aden tham gia tấn công cướp biển, tích cực triển khai kế hoạch xây tàu sân bay với tham vọng trở thành cường quốc hải quân. Các học giả Trung Quốc bắt đầu bàn luận về các khả năng triển khai các căn cứ quân sự ở nước ngoài.[25]

TS. HOÀNG NAM


[2] Military Balance 2009
[5] Ronald O’Rourke, China Naval Modernization: Implicatioin for US Navy Capabilities – Background and Issues for Congress, CRS Report for Congress, July 2009.
[7] Phipps, G., US deal breaks “freeze” on arms sale to Taiwan, Jane’s Defense Weekly, 10 Dec 2008, p.38.
[8] Overview of Taiwan’s military, xem tại: http://www.globalsecurity.org/military/world/taiwan/intro.htm
[9] Military Balance 2009, tr. 410-412.
[10] The military balance 2009, tr.399.
[12] The military balance 2009, tr.399.
[14] The military balance 2009, tr. 415.
[15] The military balance 2009,  tr. 368
[16] Vietnam Reportedly Set to buy Russian Kilo Class Sub, Defense Industry Daily, 28/4/2009, xem tại:http://www.defenseindustrydaily.com/Vietnam-Reportedly-Set-to-Buy-Russian-Kilo-Class-Subs-05396/
[17] The military balance 2009, tr. 415.
[18] The military balance 2009, tr. 416 – 417.
[19] The military balance 2009, tr. 368.
[20] The military balance 2009, tr. 406.
[21] The military balance 2009, tr.406.
[23] Tổng hợp từ Military Balance năm 2008
[24] Military Balance 2009, tr.380.

[25] CHANGES IN BEIJING’S APPROACH TO OVERSEAS BASING?, CHINA BRIEF VOLUME, VOL.9, NO. 19, SEPTEMBER 24, 2009.

 Nguồn: seasfoundation

 

Việt Nam đã chuẩn bị chiến tranh, Trung Quốc còn chờ đợi điều gì?

Tác Giả Hoàng Sa – Trường Sa
Đăng ngày 04.09.08

HS-TS dịch từ nguồn Sina
Đây là tiêu đề của một bài Viết được đăng lên diễn đàn Sina vào tối hôm qua ( 27 tháng 8 ) tức là lập tức ngay sau khi thứ trưởng bộ ngoại giao Việt Nam đã có một phát biểu cứng rắn hợp lí khẳng định chủ quyền hợp pháp đối với các dự án dầu khí hợp tác với nước ngoài.

Mặc dù mạng sina không phải là trang báo chính thức của chính phủ Trung Quốc, nhưng trang này vẫn phải thông qua kiểm duyệt và chính phủ TQ gián tiếp gửi thông điệp qua đây, vì thế các bài viết thường là của những người có khả năng và trình độ nhất định, sau đây là toàn bộ nội dung bài viết này do Hoàng Sa Trường Sa dịch:

Hiện nay sau những thông tin về việc công ty dầu khí Exxon Mobil của Hoa Kỳ và Việt Nam ký hiệp định về thăm dò dầu khí được truyền ra ngoài, khiến cho bộ ngoại giao Trung Quốc rất quan ngại, người phát ngôn bộ ngoại giao Việt Nam khẳng định " các hiệp định được kí đều nằm trong chủ quyền của Việt Nam ". Về sau thậm chí có trang mạng của Việt Nam còn xuất hiện những luận điệu cứng rắn cái gọi là " không ngại một cuộc chiến tranh ".
CHUẨN BỊ SẴN SÀNG

Những luận điệu cứng rắn của Việt Nam dựa vào những tiềm lực quân sự trọng yếu tại Nam Sa ( tức Trường Sa ), quân đội Việt Nam đã tăng cường điều chỉnh bố trí lực lượng, ý đồ là tiến thêm một bước khống chế 29 đảo và vùng biển phụ cận Trường Sa mà đã phi pháp chiếm đóng.

Chiếm đoạt và khống chế Trường Sa thành quyết tâm của quân đội Việt Nam

Địa thế của Việt Nam từ bán đảo Trung Nam khu vực Đông bộ trải về hai phía Nam, Bắc hình thành địa hình chật hẹp chữ " S ". Sau một thời gian dài đến nay, quân đội Việt Nam đã vận dụng chiến lược " Bắc phòng Nam tấn " làm trọng điểm, dồn lực phát triển lục quân, tập trung quân lực phía Bắc Bộ, hải quân và không quân ở đây xây dựng tương đối lạc hậu. Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 9 đề xuất " chiến lược phát triển biển " ý đồ hướng về biển phát triển, trở thành một " cường quốc hải dương ( biển ) " Vì thế mà chiến lược quân sự của quân đội nhân dân Việt Nam cũng được điều chỉnh thành " lục địa phòng thủ hải quân tiến công " hướng về Nam Hải ( tức Biển Đông ), đặc biệt là dã tâm chuẩn bị tốt về quân sự nhằm " chiếm đoạt và khống chế các đảo ở Trường Sa, Việt Nam đã đầu tư mạnh vào Hải quân và không quân, điều chỉnh các căn cứ theo chiều sâu kiến thiết trận tuyến địa Trường Sa, hình thành hệ thống kiến trúc trận địa Trường Sa 3 đại trụ cột.

Hiện nay tổng binh lực của hải quân Việt Nam ước tính đạt tới 55, 000 người, phân thành 4 khu vực bộ tư lệnh hải quân 1, 3, 4, 5 trong đó

Bộ tư lệnh hải quân vùng 1 đặt tại Hải Phòng, quản lữ đoàn tầu chiến 170, lữ đoàn lục chiến 147.

Bộ tư lệnh hải quân vùng 3 đặt tại Đà Nẵng quản lữ đoàn tầu chiến 161,

Bộ tư lệnh hải quân vùng 4 đặt tại Vũng Tầu quản lữ đoàn tầu chiến 171, đoàn cảnh giới 103,

Bộ tư lệnh quân khu vùng 5 đặt tại Rạch Giá quản lí lữ đoàn tầu chiến 175 , đoàn lục chiến 126.

Tổng cộng các loại tầu chiến khoảng hơn 300 chiếc, các tầu chiến chủ chiến bao gồm các tầu hộ vệ 7 chiếc, tầu quét ngư lôi 5 chiếc, tầu đổ bộ 6 chiếc, các loại tầu phóng ngư lôi và tầu phóng hoả tiển hơn 40 chiếc, tầu đổ bộ cỡ nhỏ hơn 30 chiếc, 2 chiếc tầu ngầm Mini.

Tổng binh lực của không quân Việt Nam khoảng 30, 000 người, quản lí 4 hàng không sư, 13 đoàn phi hành ( 5 đoàn chiến đấu cơ, 3 đoàn vận tải cơ, 3 đoàn huấn luyện cơ, 2 đoàn tăng cường lục chiến cơ ), có các loại máy bay Su – 27, Su – 30 và Mic – 23, Mic – 21 và nhiều loại khác tổng số hơn 480 chiếc, bộ đội phòng không quản lí 17 binh đoàn hoả tiển , 7 binh đoàn pháo cao xạ, 6 đoàn Rada, có các thiết bị cảnh giới trên không và Rada khoảng hơn 1000 bộ.

Lợi dụng các đảo chiếm được làm căn cứ tiền tuyến

Nhằm mục đích thay đổi bố trí trận địa trước đây là " Coi trọng phía Bắc, lớn ở phía Nam, gọn nhẹ ở giữa " quân đội Việt Nam đã đầu tư lớn xây dựng các căn cứ quân sự hướng về Biển Đông bao gồm 11 căn cứ hải quân: Vạn Hóa, Cẩm Phả, Hồng Gai, Hà Tiên, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Rạch Giá, Cam Ranh, TP Hồ Chí Minh, Quy Nhơn. 15 căn cứ không quân bao gồm: Nội Bài, Yên Bái, Hòa Lạc, Kiến An, Thọ Xuân, Đà Nẵng, Phú Cát, Phan Rang, Biên Hòa, Tân Sân Nhất, Tuy Hòa, Cam Ranh, Chu Lai… với dã tâm kết hợp vững chắc hải không quân.

TRƯỜNG SA NAM YẾT

Đồng thời quân đội Việt Nam gấp rút tiến hành xây dựng trận tuyến mạng nhện trên các đảo chiếm được, các đảo này đóng vài chục cho đến vài trăm quân, Năm 2004, 2005, hoàn thành việc xây cất sân bay trên hai đảo Nam Yết và Trường Sa lớn, nhờ vậy mà không quân Việt Nam có được chỗ hạ cất cánh tiên tiến tại Trường Sa. Một khối lượng lớn vũ khí và đạn dược được thông qua " hành lang trên không " không ngừng chuyển đến Trường Sa.

Đặc công trên nước quấy rối các tầu thăm dò Trung Quốc

Nhằm tăng cường khả năng tác chiến với " một quốc gia nào đó " Quân đội Việt Nam mấy năm trở lại đây đã đề xuất cái gọi là " thò ba đại cánh tay sắt " tức là kết hợp uy lực lớn của các tầu phóng hỏa tiễn với lực lượng máy bay chiến đấu tầm xa, cùng lực lượng đặc công trên nước tác chiến. Ý đồ nhằm dùng nhỏ khắc chế lớn, dùng ưu thế bất đối xứng tấn công.

Dựa vào việc Việt Nam mua 4 tầu phóng ngư lôi cỡ lớn, có trang bị hoả tiển tầm trung từ Nga, và dựa vào Việc năm 2007 Việt Nam – Nga kí hiệp định cho phép Việt Nam sử dụng kĩ thuật của Nga xây dựng nhà máy đóng tầu chiến ở trong nước, chế tạo 10 tầu chiến cao tốc " tia chớp " trang bị hoả tiển

Năm 2009 Nga sẽ còn bàn giao cho Việt Nam hai khu trục hạm trị giá 350 triệu đô la, với những trang thiết bị hiện đại nhất hiện nay, có thể tàng hình, tấn công từ xa…đã cho thấy quần đảo Trường Sa bị hải quân Việt Nam đặc biệt coi trọng, và dựa vào những hoàn cảnh phức tạp tại đây để lợi dụng " dùng nhỏ uy hiếp lớn ".

Dựa vào việc Việt Nam trang bị các máy bay chiến đấu tầm xa tối tân ( 13 chiếc Su – 27 và 4 chiếc Su – 30 ),
quân đội Việt Nam đang tập chung sức chiến đấu tại khu vực tranh chấp vùng biển Trường Sa, tiêu tốn 3,8 tỉ đô la Mỹ để mua 17 chiếc máy bay chiến đấu tiên tiến toàn bộ được đặt ở căn cứ không quân Phan Rang, hình thành bán kính vượt qua 1500Km, phủ rộng toàn bộ khu vực quần đảo Trường Sa tăng cường năng lực không – hải tác chiến. Theo tìm hiểu trong vài năm nữa Việt Nam sẽ tiếp tục đầu tư mua thêm nhiều máy bay chiến đấu Su – 27, Su – 30 và nhiều loại chiến đấu cơ tối tân nữa.


SU-27
SU-30

Những binh chủng đặc biệt tác chiến trên biển đó là " truyền thống " của quân đội Việt Nam . Hiện nay tổng binh lực của lực lượng hải quân lục chiến của Việt Nam ước trừng khoảng 27 000 người quản lí lữ đoàn lục chiến 126, 147 binh đoàn đặc công nước 861 và một số binh chủng đặc biệt khác. " Tổng công ty khác thác hải sản Biển Đông " vốn thuộc công ty 128, 129, ( nguyên là thuộc lực lượng vũ trang ) cũng có những nhiệm vụ tác chiến đặc biệt.

Để tăng cường thực tế khống chế Trường Sa, Việt Nam đã đưa vào huấn luyện, cả người nhái bí mật, tấn công chiếm đóng tầng cao, đặt thuỷ lôi, chi viện Trường Sa khi tác chiến làm trọng điểm. Trong lúc hải quân Việt Nam giám sát các tầu thăm dò của Trung Quốc, trong các hoạt động gây nhiễu có thể nhìn thấy ẩn hiện bộ đội đặc công Việt Nam trên mặt nước.

Do các đảo ở Trường Sa không thể cố định đề phòng các tầu chiến,nhiệm vụ hải quân Việt Nam tuần tra trong vùng biển Trường Sa thông thường bao gồm hàng trăm các tầu cá vũ trang đảm nhiệm.

Nói hoảng khi cho rằng " vì thế vận hội " nên Trung Quốc " chịu nhịn "

Trong lúc tích cực chuẩn bị chiến tranh thì Việt Nam vẫn xử dụng chiêu bài " Hợp tung liêm hoành " , ý đồ mượn các thế lực bên ngoài để tiếp tục chiếm đóng các đảo Trường Sa, ở phương diện thứ nhất: về chính trị thì hợp tác liên minh với các nước ASEAN, đề cao lập trường nhất trí của các nước đối với Trung Quốc, đặc biệt là tăng cường hợp tác với Phillipin và Malayxia, một mặt khác Việt Nam lại kêu gọi nước ngoài đầu tư vào hợp tác khai thác dầu khí, ý đồ lôi kéo Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ .. và một số nước khác vào Trường Sa, khiến cho vấn đề Trường Sa bị Quốc tế hóa, đồng thời từng bước tăng cường hợp tác giao lưu quân sự với các nước Mỹ, Ấn, Nhật… đề cao vị thế của Việt Nam là một nước lớn trong khu vực.

Như năm 2003, 2004, 2005 chiến hạm của Hoa Kỳ liên tục thăm viếng Việt Nam, tháng 7 năm 2007 hai bên Việt – Ấn ký hiệp định quốc phòng song phương, xác lập từ nay về sau Ấn Độ ưu tiên bán cho Việt Nam các trang bi quân sự trong đó có cả hoả tiển đạn đạo " Bulamobs " Ấn Độ còn giúp Việt Nam nâng cấp các máy bay chiến đấu Mig – 21 đã quá hạn đồng thời cũng phụ trách huấn luyện các phi công Việt Nam lái chiến đấu cơ Su – 30. Tháng 3 năm 2008, 2 tầu hộ vệ của Nhật Bản cũng đã viếng thăm thành phố Hồ Chí Minh và cùng hải quân Việt Nam tiếp hành liên hiệp diễn tập.

Lần này Việt Nam đã cùng với công ty dầu khí quốc gia Mỹ Exxon tiếp ký hiệp định hợp tác dầu khí trong vùng biển tranh chấp Trường Sa, khi phán đoán rằng Trung Quốc trong một thời gian dài sau thế vận hội Bắc Kinh sẽ không có hành động cứng rắn nào trong khu vực vùng biển Trường Sa, công nhiên xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc. Việc phán đoán sai lầm này không chỉ bất lợi với cục diện ổn định ở Trường Sa, đồng thời cũng tổn hại đến bản thân của nền an ninh và phát triển của Việt Nam trong thời gian dài sau này.

Nguồn: http://en.wikipedia .org/wiki/Sina.com
Trung Quốc chưa thể có hành động quân sự tại biển Đông 

Trong bối cảnh hiện nay, còn rất nhiều rào cản khiến Trung Quốc chưa thể áp dụng hành động quân sự thực tế trong tranh chấp chủ quyền biển Đông. Các chuyên gia quân sự Trung Quốc cũng cảnh báo nếu Bắc Kinh Trung áp dụng hành động quân sự, cái giá phải trả sẽ rất đắt, thậm chí ảnh hưởng quốc tế tiêu cực của hành động này đối với Trung Quốc còn lớn hơn cả phát động một cuộc chiến tranh tại Eo biển Đài Loan.



 Một số tờ báo của Hồng Công gần đây như "Đại công báo", “Văn Hối”, “Đông phương” và nguyệt san “Phòng vệ Hán Hoà” dẫn lời các nhà quan sát quân sự Bắc Kinh cho rằng tuy từ đầu năm 2009 đến nay, các bước chuẩn bị đấu tranh quân sự của Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển Đông (Trung Quốc gọi là biển Hoa Nam) vô cùng rầm rộ. Thế nhưng trong bối cảnh hiện nay, còn rất nhiều rào cản khiến Trung Quốc chưa thể áp dụng hành động quân sự thực tế trong tranh chấp chủ quyền biển Đông. Các chuyên gia quân sự Trung Quốc cũng cảnh báo nếu Bắc Kinh Trung áp dụng hành động quân sự, cái giá phải trả sẽ rất đắt, thậm chí ảnh hưởng quốc tế tiêu cực của hành động này đối với Trung Quốc còn lớn hơn cả phát động một cuộc chiến tranh tại Eo biển Đài Loan. Dưới đây là tổng hợp nội dung cơ bản của các bài viết này.


1- Rào cản chính trị: 

– Tại khu vực Biển Đông, hiện nay có ba nước tồn tại bất đồng lớn nhất với Trung Quốc về lãnh hải và hải đảo là Việt Nam, Philippin và Malaixia, trong đó Việt Nam là hàng đầu. Vì thế, khả năng bùng nổ xung đột quân sự tại khu vực biển Đông chỉ có thể là Trung Quốc tấn công quân sự chiếm các đảo, bãi mà Việt Nam đang kiểm soát tại quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọil à Nam Sa). Còn khả năng Trung Quốc và Malaixia nổ ra xung đột quân sự do tranh chấp đảo Layan Layan (đá Hoa Lau) trong tương lai gần, cơ bản bằng không. Thế nhưng, vấn đề quan trọng là Trung Quốc áp dụng hành động quân sự quy mô lớn với Việt Nam, thế tất sẽ thiêu huỷ hoàn toàn hình tượng quốc tế “hoà bình phát triển” mà Trung Quốc tạo dựng trong gần 20 năm qua. Hệ quả là sự cảnh giác của Ôxtrâylia, Mỹ, Nhật Bản và cả Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN) đối với Trung Quốc sẽ tăng cao.



– Gần đây, hợp tác và trao đổi quân sự giữa Mỹ với ASEAN và Việt Nam đã có những bước tiến lớn, một khi Trung Quốc áp dụng hành động quân sự, dư luận và báo chí chính thức của Mỹ, ấn Độ, Nhật Bản và các nước phương Tây khác sẽ đứng về phía Việt Nam. Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản thậm chí còn cung cấp cho Việt Nam chi viện về tình báo và hậu cần quân sự cho Việt Nam. Bên cạnh đó, “Học thuyết quân sự mới” của Ôxtrâylia cho rằng biển Đông chính là “biên cương lợi ích” của Ôxtrâylia sẽ có cớ phát triển. 

– Một khi chiến tranh bùng nổ, sẽ thúc đẩy nhanh hơn sự thành lập chính thức của tập đoàn “NATO biển Đông”, bước đi Nam tiến của Lực lượng Tự vệ trên biển của Nhật Bản cũng sẽ trở thành hiện thực và tạo ra căn cứ hợp pháp để Mỹ can thiệp quân sự trực tiếp. Hơn thế, tại khu vực này, tồn tại “Hiệp ước đồng minh Mỹ – Xinhgapo – Ôxtrâylia” và từ sau năm 1995, Mỹ cùng với 6 nước ASEAN là Philippin, Thái Lan, Xinhgapo, Malaixia, Inđônêxia và Bruney tổ chức cuộc diễn tập quân sự hàng năm mang tên “Karat”, được mệnh danh là “Tập đoàn Karat” và trên thực tế đã trở thành quan hệ “chuẩn đồng minh”. 

– Quần đảo Trường Sa hiện nay, có một số đảo nằm sát bờ biển Malaixia, có một số đảo gần đường trung tuyến Việt Nam – Malaixia, cách Trung Quốc xa như vậy, nói là của Trung Quốc thật khó có sức thuyết phục. Do vậy, khi Trung Quốc áp dụng hành động quân sự, hình tượng quốc tế của các nước hữu quan, nhất là Việt Nam sẽ tốt hơn nhiều so với Trung Quốc, theo đó các nước lớn châu Âu, thậm chí cả Mỹ và Ấn Độ sẽ cùng đưa ra đề nghị cung cấp vũ khí cho Việt Nam, khiến cho nhân tố thiên thời và nhân hòa là bất lợi đối với Trung Quốc.
 
2- Rào cản về quân sự

– Các nhà quan sát quân sự Bắc Kinh nêu rõ nhìn bề ngoài, so sánh sức mạnh quân sự giữa Trung Quốc với Việt Nam, phía Trung Quốc có vũ khí hiện đại mang tính áp đảo, nhất là ưu thế về số lượng và chất lượng tàu mặt nước, tàu ngầm cỡ lớn. Thế nhưng, phân tích sâu về học thuyết địa – quân sự, thực sự bùng nổ chiến tranh trên không và trên biển với Việt Nam, ưu thế sức mạnh quân sự không hẳn nghiêng về Trung Quốc. Bởi vì đặc điểm mới của chiến tranh kỹ thuật công nghệ cao với vũ khí tên lửa là không có khái niệm so sánh sức mạnh của nước mạnh, nước yếu. Theo đó, nước yếu có một số ít tên lửa hiện đại, trong chiến tranh trên biển và trên không, vẫn có thể dựa vào ưu thế thiên thời, địa lợi, nhân hòa v.v. 

– So sánh cụ thể hơn, về hải quân và không quân của Trung Quốc tham gia cuộc chiến tranh này sẽ chủ yếu là Hạm đội Nam Hải (Bộ Tư lệnh đặt tại Trạm Giang, Quảng Châu). Còn Việt Nam lực lượng không quân được trang máy bay chiến đấu “Su- 30MKV” và “Su- 27SK/UBK”. Hải quân Việt Nam được trang tàu tên lửa tốc độ cao “Molniya-12418” và tới đây có cả tàu ngầm “KILO- 636”. Như vậy, xu thế so sánh sức mạnh tại biển Đông đang phát triển theo hướng bất lợi cho Trung Quốc.

– Trong tương lai gần, khi Hải quân Việt Nam đưa tàu ngầm “KILO- 636” vào sử dụng, quyền kiểm soát cục bộ dưới nước có thể sẽ nghiêng về phía Hải quân Việt Nam. Ngoài ra, Trung Quốc phải tính đến nhân tố máy bay chiến đấu “Su- 30MKV” của không quân Việt Nam có thể sẽ được trang bị tên lửa siêu âm không đối hạm “BRAHMOS” (của ấn Độ) và “YAKHONT” (của Nga) với tầm bắn đạt 300 km.

– Về năng lực phòng không, Trung Quốc và Việt Nam đều được trang bị tên lửa đất đối không hiện đại “S- 300PMU1”. Lực lượng phòng không của Việt Nam có 2 tiểu đoàn, còn con số này của Trung Quốc là 20. Thế nhưng, lực lượng này (của Trung Quốc) chủ yếu bố trí trên đất liền, do vậy vai trò có thể phát huy trong chiến tranh trên biển và không phận trên biển khá hạn chế.

3- Rào cản về địa lý

– Toàn bộ 29 đảo, bãi mà Việt Nam kiểm soát hiện nay tại Trường Sa, cách đất liền từ 400 – 600 km. Tại khu vực này, Việt Nam có các căn cứ không quân tại vịnh Cam Ranh (Nha Trang), Đà Lạt (Lâm Đồng) và ở Thành phố Hồ Chí Minh, đa số không phận tại khu vực tranh chấp này đều nằm trong tầm tác chiến của máy bay tấn công “Su- 22” của không quân Việt Nam, chưa kể đến máy bay chiến đấu “Su- 30MKV” và “Su- 27SK” với b&aac
ute;n kính tác chiến lên đến 1.500 km. Từ đó cho thấy cả Trung Quốc và Việt Nam đều có đủ năng lực tấn công tầm xa đối với các căn cứ hải quân tung thâm của đối phương.
 


– Việt Nam đã xây dựng sân bay tại đảo Trường Sa. Nếu so sánh, không quân Trung Quốc kể cả cất cánh từ sân bay tại đảo Hải Nam, khoảng cách đường thẳng đối với 29 đảo bãi Việt Nam đang kiểm soát đã lên đến từ 1.200 – 1.300 km, còn cất cánh từ khu vực quần đảo Hoàng Sa, khoảng cách đến Trường Sa cũng lên đến từ 900 – 1.000 km… Điều này buộc máy bay chiến đấu “J- 10” và “J- 8D” và cả “Su- 30MKK” và “Su- 27SK” của Không quân Trung Quốc đều cần được tiếp dầu trên không mới có thể tham chiến. Tuy vậy, thời gian tác chiến trên vùng trời biển Đông so với máy bay chiến đấu cùng loại của không quân Việt Nam cũng ngắn hơn khoảng 50%.

– Khi chiến tranh bùng nổ, sân bay trên đảo Vĩnh Hưng (Hoàng Sa) và thậm chí cả sân bay trên đảo Hải Nam của không quân Trung Quốc nhiều khả năng trước tiên sẽ bị máy bay chiến đấu “Su- 22” của không quân Việt Nam thực hiện tấn công phủ đầu. Căn cứ Toại Khê, Căn cứ Quế Lâm (Quảng Tây) của Sư đoàn không quân số 2 cũng nằm trong phạm vi bán kính tác chiến tấn công của máy bay chiến đấu “Su- 30MKV” của Không quân Việt Nam. Ngoài ra, còn một yếu tố quan trọng khác là xung đột không chỉ hạn chế ở khu vực biển Đông, toàn bộ các mục tiêu chiến lược tại đảo Hải Nam, Hồng Kông, Côn Minh (Vân Nam) và Nam Ninh (Quảng Tây) đều nằm trong phạm vi bán kính tác chiến của máy bay chiến đấu “Su- 30MKV” của Không quân Việt Nam. 

– Địa hình lãnh thổ của Việt Nam dài hẹp, máy bay “Su- 27SK” và “J- 10A” của Trung Quốc, sau khi tham chiến, trên đường bay trở về căn cứ tại đảo Hải Nam hay căn cứ Toại Khê, Quế Lâm (Quảng Tây), đều nằm trong tầm tác chiến của máy bay chiến đấu “MiG- 21Bis” của Không quân Việt Nam cất cánh từ các căn cứ không quân miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Do vậy, MiG- 21Bis của Việt Nam có thể cất cánh đánh chặn máy bay chiến đấu của Trung Quốc đã hết vũ khí và thiếu nhiên liệu vào bất cứ lúc nào. 

4- Rào cản về chiến thuật

– Máy bay chiến đấu “Su- 22” của không quân Việt Nam có thể sẽ áp dụng chiến thuật không kích siêu thấp và có được sự yểm hộ hoả lực trong tấn công đảo, bãi. Vì thế, ngay cả khi Trung Quốc chiếm lĩnh được các đảo bãi Việt Nam đang kiểm soát hiện nay, bảo vệ lâu dài là vấn đề cực kỳ khó khăn. Ngoài ra, Không quân Việt Nam áp dụng chiến thuật không kích tầm siêu thấp, sẽ tránh được sự theo dõi của các loại rada trên tàu mặt nước của Trung Quốc và trực tiếp tấn công các tàu mặt nước cỡ lớn của hải quân Trung Quốc. 

– Hải quân Việt Nam không có tàu mặt nước cỡ lớn, cho nên không ngại Trung Quốc áp dụng chiến thuật không kích tầm siêu thấp. Hơn thế, như vậy còn khiến cho tàu ngầm hiện đại của Trung Quốc không thể phát huy sức mạnh, chỉ có thể tấn công tàu vận tải của hải quân Việt Nam
  Nhưng phán đoán từ loại tàu đổ bộ từ đất liền tiến ra đảo, bãi quần đảo Trường Sa của Việt Nam hiện nay, đa số là tàu vận tải cỡ nhỏ lớp từ 300 – 500 tấn trở xuống, hơn thế phần nhiều là được đóng bằng gỗ, cho nên điều động tàu ngầm hiện đại để tiêu diệt là không cần thiết./.


ĐỐI TRỌNG KHÔNG QUÂN VIỆT NAM – TRUNG QUỐC

Trong bối cảnh tranh chấp vùng đảo Hoàng Sa – Trường Sa, Việt Nam và Trung Quốc đều có những lí lẽ và lập luận của riêng mình. Và tất cả lí lẽ của Trung Quốc chỉ là ngụy biện cho sự xâm chiếm trái phép trên chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam. Sau khi xâm chiếm Hoàng Sa từ năm 1974 và cho đến nay Trung Quốc đã kịp thời xây dựng một sân bay chiến lược ở quần đảo Woody mà chúng ta được biết với tên Phú Lâm. Và tương lai của Woody sẽ được Trung Quốc biến thành như thế này
                          (Đảo Woody trong tương lai theo mô hình của TQ)
Mục đích của Trung Quốc muốn biến Hoàng Sa từ khu vực quân sự thành dân sự và dựa vào đó làm cơ sở cho tiến trình khai thác vùng biển Đông lâu dài. Và sau này nếu có sự kiện chiến tranh ở đây thì Trung Quốc vẫn “chính ngôn” chống trả, sử dụng vũ lực tối đa để bảo vệ vùng đất phi quân sự “của mình”. Một cơ sở từ quân sự sang phi quân sự cho thấy Việt Nam muốn đánh cũng rất khó, vì sẽ mang tiếng là “xâm lược” và bị lên án do hành động đánh vào nơi dân sự. 
Ngoài việc xây dựng căn cứ tàu ngầm chiến lược ở Hải Nam nhằm mục đích kiểm soát toàn bộ vùng biển Đông thì sân bay ở đảo Woody là một miếng ghép hoàn hảo về quân sự. Dưới đường thủy – trên đường không, tàu ngầm và máy bay thì là tuyệt vời nếu như xảy ra chiến tranh trên biển . Từ đảo Woody đến quần đảo Trường Sa chỉ mất 700km là cự ly vừa tầm máy bay tác chiến và quay về tiếp nhiên liệu. Sâu xa hơn sân bay trên đảo Woody không chỉ xây như thế mà thực sự nó là đối trọng với sân bay quân sự Thành Sơn ở Ninh Thuận. Sân bay Thành Sơn là một trong những sân bay chiến lược của không lực Mỹ ở đây. Nơi đây có thể đáp được những máy bay cỡ lớn như C-130s.
USAF C-130 at Phan Rang AB - June 1967
                              (Một góc nhìn từ sân bay quân sự Thành Sơn)
Cơ sở vật chất của sân bay Thành Sơn sau 1975 thì hầu như không bị thiệt hại nhiều và cho đến nay thì Quân Đội Nhân Dân Việt Nam sử dụng nó như là căn cứ không quân chiến lược. Có sự yểm trợ nào nhanh nhất ngoài việc sử dụng máy bay chiến lược? Khoảng cách từ sân bay Woody đến quần đảo Trường Sa là 700 km và từ sân bay Thành Sơn đến Trường Sa là 600 km. Nói đến đây thì bạn cũng hiểu được sự quan trọng của sân bay Woody là như thế nào. Nếu xảy xung đột ở thì từ Woody các tiêm kích của Trung Quốc sẵn sàng từ đây bay ra nghênh chiến với không quân Việt Nam chỉ với khoảng thời gian gần bằng nhau. Và có thể qua bay về đảo để tiếp thêm nhiên liệu mà tiếp tục chiến đấu.    
img49/2237/vntqva7.jpg
                           (Sân bay Thành Sơn và Woody cự ly đến Trường Sa)
Trong số 150 Mig-21, 53 Su-22, 12 Su-27,  4 Su-30MK2VS, hầu như những máy bay chiến lược của không quân Việt Nam phần lớn tập trung ở sân bay Thành Sơn . Những chiếc Su 22 cải tiến này có khả năng mang được tên lửa chống hạm hiện đại nhất, sẽ là “con bài chiến lược” của ta trong tác chiến bảo vệ Trường Sa. 
img386/2379/su30bienhoaairbaseid3.jpg
(SU-30MK2 niềm tự hào của không quân Việt Nam. Chụp từ Biên Hòa Airbase)
 Thêm vào đó lực lượng phòng không cũng được trang bị thêm các dàn hỏa tiễn địa đối không S-300 PMU1 và hiện đại thêm hải quân. Đọc thêm về lực lượng hải quân Việt Nam Chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc đã khiến Mỹ và các cường quốc phương Tây phải e dè thì nói chi Việt Nam mỗi năm từ 1 đến 2 tỷ dollars (số liệu theo sách trắng quốc phòng) thì khó có khả năng đương đầu được với Trung Quốc trong một cuộc hải chiến. Sở dĩ Việt Nam mua vũ khí Nga mà không mua vũ khí của Mỹ bởi vì bạn hàng vũ khí lớn nhất của Trung Quốc là Nga (Mỹ cấm vận vũ khí với Trung Quốc). Qua đó chúng ta biết được ít nhiều về những “tính năng bí mật” của những vũ khí đó để tìm ra điểm yếu. Việt Nam và Nga luôn có mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp từ thời Liên Bang Xô Viết và cho đến nay thì Việt – Nga vẫn còn duy trì tình đồng chí hữu hảo. Nếu không may xảy ra chiến tranh thì Nga sẽ cung cấp cho Việt Nam những tính năng của vũ khí Trung Quốc. Chính vì vậy mối quan hệ Nga – Việt là mang tầm chiến lược lâu dài. Trong những chuyến thăm Mỹ của Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam vào những năm 2002 – 2003, đây không đơn thuần chỉ là cuộc thăm viếng xã giao mà là là sự hội đàm mua những thiết bị mới để thay thế cho số vũ khí mà Mỹ đã trang bị cho quân đội Sài Gòn sau chiến tranh còn để lại. Ví dụ như những chiếc trực thăng UH-1 cho đến nay vẫn được không quân Việt Nam sử dụng tốt hay những chiếc C-130 được mệnh danh là những con ma bóng đêm… Việt Nam – Trung Quốc hơn thua nhau không chỉ là vũ khí hay sức mạnh quân sự, mà còn là chiến lược ngoại giao.
——————————————————————————————-c\



TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG HẢI QUÂN MỸ-TRUNG QUỐC-VIỆT NAM TRÊN BIỂN ĐÔNG 

Theo news.hnce Việt Nam bây giờ chỉ có 7 khu trục hạm nhỏ ,cùng 41 tàu phóng tên lửa và tàu tuần tra và hai tàu ngầm mini của Triều tiên . Hải quân Việt Nam “yếu thậm tệ “.Họ đã bắt đầu mua một số lượng lớn các vũ khí cao cấp của Nga , đã mua sáu tàu ngầm Kilo-class . Việt Nam dự kiến đến năm 2020, sẽ có tàu ngầm 20 Kilo-class, 5-7 tàu chiến tên lửa và 18-20 tàu tuần tra .v.v., để tạo thành một đội ngũ của 12 khu trục hạm nhỏ , 20 tàu ngầm Kilo-class , 60 tàu tên lửa tuần tra để hình thành một lực lượng “cá mập ở Biển Đông” .

Chiến hạm lớp Gepard của Việt Nam
 
 Việt Nam sẽ có 6 tàu ngầm lớp Kilo

Việt Nam đang hình thành lực lượng “những cá mập ở Biển Đông”, sẵn sàng chiến tranh với Trung Quốc trên Biển Đông. Việt Nam dự kiến đến năm 2020 Trung Quốc sẽ không thể can thiệp vào Biển Đông Việt Nam. Vì vậy, Việt Nam phải giữ được “hòa bình” thời gian này để xây dựng “các cá mập ở Biển Đông.” Việt Nam khi lực lượng “cá mập ” được xây dựng xong Trung Quốc sẽ bị giáng trả những đòn đáu đớn. 

Mỹ có 12 tàu sân bay

Theo như phía Việt Nam tư duy hiện nay họ sẽ duy trì sự có mặt của Hàng không mẫu hạm của Mỹ trên Biển Đông cùng với lực lượng của Philippine và Malaysia , Trung Quốc sẽ phải chi phối lực lượng cho một cuộc chiến lớn với nhiều nước , lúc đó Việt Nam sẽ giáng cho lực lượng hải quân Trung Quốc những đòn thích đáng .
Hạm đội 7 của Hoa Kì
Tỷ lệ tàu chiến của Hoa Kỳ , Trung Quốc , Việt Nam năm 2009 : 205:139:50 
 
Hiện nay, lực lượng tàu chiến chủ lực của Mỹ trên Biển Đông là 205 chiếc, Trung quốc lực lượng tàu chiến là 139, Hải quân Việt Nam có 50 tàu chiến chính. Tuy nhiên, tỷ lệ chất lượng các tàu là hoàn toàn khác nhau. Hoa Kỳ đã có 12 Hàng không mẫu hạm chạy bằng hạt nhân , Trung Quốc không; Hoa Kỳ 11 trực thăng vận tải , Trung Quốc không; Hoa Kỳ có 22 tàu tuần dương tên lửa , Trung Quốc không; Hoa Kỳ có 60 tàu khu trục tên lửa , Trung Quốc 27; Hoa Kỳ có 30 tàu khu trục nhỏ , Trung Quốc có đến 48; Hoa Kỳ có đến 14 tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo , Trung Quốc chỉ có 3 .

Hạm đội Nam Hải, lực lượngg hải quân của Trung Quốc tại biển đông
Tỷ lệ tham chiến của lực lượng Trung Quốc và Việt Nam trên Biển Đông là 150:50. Sức mạnh của Hải quân Việt Nam và sau đó để tăng gấp đôi trong cuộc chiến trên Biển Đông với Trung Quốc. Vì vậy, Việt Nam đã được xác định để xây dựng “các cá mập trên Biển Đông”, sẽ nâng cao khả năng chiến đấu của Hải quân Việt Nam lên nhiều hơn gấp đôi, một đối trọng với hải quân Trung Quốc ở Biển Đông.

                                    Nguồn: Blog Tbmainam.wordpress.com 
7-08-09
Việt Nam trong thế tương quan lực lượng trên Biển Đông 

HÀ TƯỜNG CÁT
Trong vùng Biển Đông, Việt Nam và Philippines có những va chạm trực tiếp và nhiều mối quan tâm lo ngại hơn mọi nước Đông Nam Á khác về ý đồ bành trướng của Trung Quốc. Hải quân Việt Nam đã hai lần đụng độ với hải quân Trung Quốc ở Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa năm 1988, kết quả đều là Trung Quốc lấn chiếm thêm một số đảo. 
Philippines cũng đã có tranh chấp với Trung Quốc ở Mischief Reef trong quần đảo Trường Sa năm 1995. Để đương đầu hiệu quả, không thể dựa vào sức mạnh, vì lực lượng quân sự của cả hai nước đều kém Trung Quốc rất xa, nhưng cũng không thể hoàn toàn bằng chính trị ngoại giao nếu thiếu khả năng tối thiểu để tự vệ. 
Chưa cần tăng viện từ hai hạm đội Bắc Hải và Đông Hải, hạm đội Nam Hải của Trung Quốc đã sẵn có những chiến hạm cơ hữu mạnh và nhiều hơn gấp bội: 11 khu trục hạm, 14 hộ tống hạm gắn hỏa tiễn và gần 20 tiềm thủy đĩnh. Máy bay chiến đấu và oanh tạc của hải quân cũng như không quân Trung Quốc từ căn cứ trên đất liền và đảo Hải Nam có tầm hoạt động xa tới vùng quần đảo Trường Sa. Trong một trận hải chiến lớn, Trung Quốc hoàn toàn có ưu thế về lực lượng và hỏa lực, như vậy chiến thuật đối phó hiệu quả của Việt Nam chỉ có thể theo kiểu đột kích và du kích chiến trên biển. 
Trong chiều hướng ấy người ta có thể nhận thấy rõ là kế hoạch phát triển lực lượng hải quân của Việt Nam ngày nay tập trung trên hai điểm: củng cố khả năng phòng vệ duyên hải và tạo tiềm lực ngăn trở không để cho hải quân Trung Quốc tự do hành động. Thể hiện rõ nét nhất của chiến lược này là việc Việt nam mới đặt mua của Nga 6 tàu ngầm loại Kilo, sẽ được giao trong năm 2010. Còn trên mặt biển dù chỉ có một ít chiến hạm nổi, khoảng 8 hộ tống hạm trung bình có đủ tầm hoạt động viễn dương, nhưng chú trọng tăng cường thêm nhiều tiểu đĩnh phóng hỏa tiễn, phóng lôi hay tạc đạn chống tàu ngầm, phối hợp cùng các giàn trọng pháo phòng duyên và hỏa tiễn địa – hải. 
Chiến lược này không khác Trung Quốc trước kia đã áp dụng để phòng chống Đài Loan và hải quân Hoa Kỳ. Vấn đề khó khăn của Việt Nam là không thể có đủ ngân khoản mua chiến cụ nước ngoài và kỹ nghệ chưa đạt tới trình độ tự cung ứng. Những loại vũ khí mới nhất cho đến bây giờ đều mua của Nga, lý do chính không phải vì tốt hơn nhưng vì giá rẻ và nhiều điều kiện dễ dàng hơn là từ Tây phương. 
Kilo là tên do NATO đặt cho loại tàu ngầm do Liên Sô sản xuất từ những năm 1980, đã qua nhiều cải tiến và đến nay Nga không còn chế tạo nữa để chuyển sang một thế hệ mới. Tuy nhiên tàu ngầm Kilo đợt Project 636 vẫn còn có nhiều ưu điểm và thích hợp với nhu cầu của Việt Nam. Đây là loại tàu ngầm sử dụng được cho cả hai mục tiêu chống tàu nổi và tàu ngầm địch, cũng như tuần phòng canh giữ duyên hải ở những vùng biển không sâu. 
Tàu ngầm Kilo chiều dài 70 mét, trọng lượng rẽ nước 2,300 tấn khi nổi và 3,500 tấn lúc lặn; và tầm hoạt động tối đa 7,500 hải lý trong 45 ngày, lặn sâu được 300 mét và di chuyển dưới mặt nước xa 400 hải lý. Tàu có 6 khoang và khi một hoặc hai khoang bị lủng vẫn còn có thể chạy được, Vũ khí trang bị bao gồm một ống phóng cho 8 hỏa tiễn hải – không Strela-3 tầm bắn 6 km, hoặc 4 hỏa tiễn bình phi chống tàu nổi tầm bắn xa 220 km, đầu nổ 450kg, tất cả đều có thể bắn đi khi đang lặn. Ngoài ra còn có 6 ống phóng cho 18 ngư lôi (torpedo) 533 mm hoặc 24 thủy lôi (mìn). Tàu Kilo Project 636 là loại êm nhất trong các tàu ngầm diesel/điện, nghĩa là khó bị phát hiện dưới nước bởi máy dò sonar. 
Trước kia Việt Nam đã có 2 tàu ngầm tí hon loại Yugo do Bắc Hàn sản xuất, những tàu ngầm này chỉ có hiệu lực phòng thủ bờ biển hay đưa người nhái đột kích, hai tàu này đã cũ và sẽ bị phế thải. Số tàu ngầm Kilo mới, dù là ít, có thể là mối đe dọa đáng kể cho hải quân Trung Quốc trong vịnh Bắc Việt hay vùng biển xa như Trường Sa. Tuy nhiên Trung Quốc cũng đã sử dụng tàu ngầm loại Kilo từ lâu, thoạt đầu mua 2 chiếc của Nga rồi sau theo mẫu tự chế tạo lấy. Do đó có thể hải quân Trung Quốc đã hiểu rõ tính năng và phương cách đối phó. 
Một số quan sát viên thuộc cơ quan nghiên cứu Global Security ở Anh nhận xét
nếu Việt Nam dùng loại tàu ngầm Scorpène của Âu Châu, nhỏ hơn chút ít nhưng nhiều khả năng tân tiến thì có thể hiệu quả hơn. Tàu ngầm Scorpène mỗi chiếc trị giá $400 triệu, còn Kilo chỉ có $300 triệu và Việt Nam có thể thanh toán bằng dầu lửa, có lẽ đó là lý do chính khiến đến nay Việt Nam vẫn mua vũ khí từ Nga. 

Chiến hạm trên mặt biển của Việt Nam cũng là những hộ tống hạm mua của Nga, kể cả các loại mới như Gepard, Petaya III vũ trang pháo 127 mm , hỏa tiễn hải – không hay hải – hải, ngư lôi và tạc đạn chống tàu ngầm. Những tàu này có thể hoạt động xa bờ, nhưng chủ lực phòng thủ có lẽ là khoảng 30 khinh tốc đĩnh trong số có kiểu Project 12418 Molniya đủ khả năng chiến đấu với những chiến hạm lớn. Molniya thế hệ mới, trọng tải 550 tấn vũ trang súng 76mm, hỏa tiễn hải – hải có tầm bắn xa tới 500 km, radar và kỹ thuật chiến tranh điện tử. 
Không quân Việt Nam đã có một số máy bay chiến đấu phản lực MiG-21 và F-5E, đến nay được coi là lỗi thời đã quá cũ. Loại máy bay chiến đấu phản lực mới hơn bao gồm 36 chiếc MiG-23ML/UB, 36 chiếc Sukhoi Su-27SK/UB và mới nhất là 12 Sukhoi Su-30MK2V cùng 24 chiếc khác đã đặt hàng của Nga. Su-30MK2V dùng cho hải quân, vũ trang hỏa tiễn không – không và không – hải, với tầm hoạt động 3,000 km được coi là đủ khả năng tác chiến trên vùng Biển Đông. 
Với những lực lượng này, Việt Nam gây khó dễ không ít cho Trung Quốc trong ý đồ bá chủ trên Biển Đông. Tuy nhiên yếu tố quan trọng nhất về cán cân lực lượng ở đây do chỗ Biển Đông là một đường hàng hải quốc tế quá quan trọng, các cường quốc hải quân bao gồm Hoa Kỳ, Nga, Anh và cả Ấn Độ sẽ không để Trung Quốc tự do khống chế khu vực Đông Nam Á. 
Trong thập niên 1980, Nga rút khỏi căn cứ Cam Ranh và Hoa Kỳ cũng triệt thoái khỏi Subic Bay ở Philippines, Biển Đông trở thành vùng bỏ trống đúng vào thời gian Đặng Tiểu Bình đang thực hiện chương trình hiện đại hóa quân đội Trung Quốc trong đó có kế hoạch phát triển hải quân từ một lực lượng phòng thủ bờ biển thành một lực lượng hải quân viễn dương. Cùng lúc với nhận định về tầm quan trọng của nguồn hải sản và tài nguyên dầu khí dưới lòng biển, tranh chấp chủ quyền thềm lục địa và các hải đảo trở nên gay gắt giữa 5 nước Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Brunei, Malaysia. 
Từ 1995, Việt Nam nhận rõ sự kết hợp cần thiết của các quốc gia trong vùng và đã trở thành một rong những thành viên hoạt động tích cực nhất của khối ASEAN. Tuy vậy, Bắc Kinh hiểu rõ là ASEAN sẽ chỉ phản đối sự bành trướng tới Trường Sa bằng miệng ngoại trừ Việt Nam là có thể chống lại bằng vũ lực. Tháng 11 năm 2002, Tuyên ngôn về ứng xử của các bên tại Biển Đông được ký kết giữa 10 nước thành viên ASEAN và Trung Quốc nhằm làm giảm căng thẳng tại các đảo tranh chấp với mong ước của các nước liên quan giải quyết vấn đề chủ quyền ‘mà không sử dụng vũ lực thêm nữa ‘. Nhưng Bộ luật ứng xử trên Biển Đông không mang tính bắt buộc và nhiều vi phạm hay va chạm khác vẫn thỉnh thoảng xảy ra trên biển. 
Ngoài Việt Nam trực tiếp phải đương đầu với Trung Quốc, lực lượng hải quân các quốc gia Đông Nam Á khác chú trọng đến việc phòng thủ bờ duyên hải hơn là mở rộng hoạt động ra vùng biển xa. Hải quân Hoàng gia Thái Lan là duy nhất trong vùng có những chiến hạm đủ khả năng hoạt động viễn dương, kể cả một hàng không mẫu hạm HTMS Chakri Naruebet. Nhưng quốc gia này chỉ quan tâm đến vịnh Thái Lan và bờ biển Ấn Độ Dương, không đóng góp nhiều cho nền an ninh chung trong Biển Đông. 
Đầu thế kỷ 21, Việt Nam đã mong mỏi hải quân Ấn Độ mở rộng tầm hoạt động đến Biển Đông, thể hiện qua sự thăm viếng Việt Nam của chiến hạm Ấn Độ và dự án tổ chức một cuộc thao diễn hỗn hợp giữa hai nước. Gần đây, Ấn Độ tỏ rõ đường lối phát triển hải quân với dự án tự đóng ít nhất là 2 hàng không mẫu hạm và hợp tác với Nga sản xuất máy bay chiến đấu. Nhưng hơn bất cứ tác động nào khác, sự hiện diện của Hải quân Hoa Kỳ mới có kết quả quân bình cán cân lực lượng tại vùng biển nhiều tranh chấp này. Điều mà người ta chờ đợi là những dấu hiệu cụ thể, chẳng hạn như lời Ngoại trưởng Hillary Cinton vừa tuyên bố ở hội nghị ASEAN là “Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á”, thì mới có thể dự đoán tương lai ổn định của Biển Đông sẽ diễn biến theo chiều hướng nào. (HC)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=99270&z=1

————————-
Đăng bỡi Tranhung09:


Tiềm lực quân sự Việt Nam (PI)
Tiềm lực quân sự Việt Nam (PII)
Tiềm lực quân sự Việt Nam (PIII)
Tiềm lực quân sự Việt Nam (PIV)
Tiềm lực quân sự Việt Nam (PV)
Tiềm lực quân sự Việt Nam (PVI)
Tiềm lực quân sự Việt Nam (PVII)
Tiềm lực quân sự Việt Nam (PVIII)
Tiềm lực quân sự Việt Nam (PIX)
Tiềm lực quân sự Việt Nam (PX- hết)


Xem chuyên mục khác:

Bom tấn của Tranhung09:

Mục lục sự nghiệp ăn chơi bát ngát của lão 

 

 

3 Nhận xét:

  1. van de bien dong chi la cai co cua be noi ma thoi ! no la cai bay de nguy trang cho Bac Kinh , thon tinh Viet Nam tu dat lien la chinh ( vua lan dat vua o ep lam nhuc va khuat phuc lanh dao vn . vua tieu diet suc song va su phat trien cua nguoi Viet — > qua phim anh + qua do tieu dung gia re + qua cac loai thuc pham va do dung doc hai + qua viec co tinh nang gia mua cac loai nguyen vat lieu ke ca cac phe thai === >> 

    suy nghi coi dung vay kg hoi cac nguoi co trach nhiem voi DAN TOC VIET , voi nhan dan viet nam

    Trả lời

  2. bác có những bài sưu tập hay quá, và đáng nể về số lượng!!! Chúc bác mạnh giỏi

    Trả lời

  3. bai viet dc.nhung ko dc chu quan. nhung ma Viet Nam yeu the rat nhieu ve moi mat. neu Viet Nam muon giữ hoa binh thi can phai tang cuong hop tac quan su voi cac nuoc lon nhu : An Đo, Nga, My,va Nhat Ban

    Trả lời

About the author
Leave Comment