Với những lý giải về sự sống của vũ trụ trên cơ sở “Đồng hồ sinh học”, ba nhà khoa học đoạt giải Nobel Y học 2017 đang cho thế giới khoa học một chủ đề rất cơ bản, đầy thử thách và cũng rất lý thú để lý giải về tiến hoá của sự sống và vũ trụ.

Với những lý giải về sự sống của vũ trụ trên cơ sở “Đồng hồ sinh học”, ba nhà khoa học đoạt giải Nobel Y học 2017 đang cho thế giới khoa học một chủ đề rất cơ bản, đầy thử thách và cũng rất lý thú để lý giải về tiến hoá của sự sống và vũ trụ. Thú vị là khi soi lại “Ngũ vận lục khí” của Đông Y là lý thuyết về mối quan hệ vĩ mô giữa những biến động của vũ trụ tác động lên vạn vật (con người, thực vật, động vật, thời tiết, khí hậu, ánh sáng, bóng tối…), quả thật, có một nét tương đồng giữa hai nền Y học Đông – Tây, đó là: Đều nói đến tác động của tự nhiên lên nhịp sinh học cơ thể sống.

 

Giải thưởng Nobel 2017 về Sinh Lý – Y học được trao cho Jeffrey C. Hall, Michael Rosbash và Michael W. Young dựa trên phát hiện về cơ chế phân tử điều khiển nhịp độ hằng ngày. Nhịp độ hằng ngày được kiểm soát bởi đồng hồ sinh học nội tại, là loại đồng hồ có khả năng liệu trước chu kì ngày – đêm nhằm tối ưu hóa các hoạt động sinh lý và hành vi của sinh vật, trong đó có con người. “Đồng hồ sinh học” liên quan đến vũ trụ và đời sống. Nói cách khác, Đồng hồ sinh học được hình thành do sự tiến hóa sinh vật để duy trì hoạt động và sự sống theo sự vận hành ngày đêm của vũ trụ. Khái niệm về mối tương quan sinh lý và vũ trụ này thực sự không mới, bởi vì từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên, điều này đã được ghi nhận trong sách Hoàng Đế Nội kinh Tố vấn của Đông Y trong các chương Ngũ vận lục khí và Thời sinh học, tuy nhiên khác chăng là Đồng hồ sinh học được minh chứng trên cơ sở khoa học, còn với Đông Y thì nặng tính suy diễn trên nền tảng triết học.

Giải Nobel sinh lý Y học 2017

Nghiên cứu để phát kiến được “Đồng hồ sinh học” (ĐHSH) khá phức tạp, bao gồm sinh lý học, di truyền, sinh học phân tử, ngoại di truyền (epigenetic) và tập tính (behaviour science). Trung tâm hoạt động của ĐHSH nằm ở não bộ, có chức năng điều hành những hoạt động sinh lý cần thiết của chúng ta như ngủ, thức, lưu thông tuần hoàn, thân nhiệt, mức độ tỉnh táo và nhận thức trong ngày. Đồng hồ sinh học chính (Master Clock) nằm ở trung tâm não bộ được kích động bởi ánh sáng truyền vào mắt khi ta thức dậy, đánh thức các giác quan, tạo luồng xung động lan truyền, điều hòa các chức năng sinh lý trong cơ thể. Một số dấu ấn sinh học của ĐHSH như thân nhiệt, cortisol liên quan đến hoạt động và biến dưỡng; melatonin liên quan đến giấc ngủ,…

 

Kết quả nghiên cứu khởi nguồn của ba nhà khoa học đoạt giải Nobel đã giúp giải thích cặn kẽ các cơ chế sinh lý cơ bản trong hoạt động sống của con người, được điều hành bởi ĐHSH. Việc phát hiện ra TTFL (Transcriptional/post-translational delayed feedback loop – Vòng lập phản hồi giải – dịch mã), của 3 nhà khoa học là nền tảng để các gen đồng hồ sinh học dựa vào đó điều khiển dao động nhịp ngày – đêm tại tế bào và mô, đưa đến một số khái niệm mới về cách thức sinh vật dự liệu và thích nghi với tín hiệu môi trường bình thường hằng ngày. Ví dụ như ánh sáng tác động kích thích võng mạc mắt, chuyển tiếp đến trung tâm vỏ não, từ đây phản hồi lại mệnh lệnh điều khiển, điều hòa và duy trì hoạt động sinh lý các chức năng trong cơ thể.

 

Như đã nêu trên, ĐHSH điều chỉnh những chức năng sinh lý như tập tính, giấc ngủ, nhiệt độ cơ thể và biến dưỡng, nên ĐHSH có ảnh hưởng quan trọng đến sức khoẻ của chúng ta và có thể xảy ra qua hai cơ chế ngoại lai và nội tại. Cơ chế ngoại lai hoạt động khi di chuyển lệch múi giờ, vị trí. Ví dụ điển hình là du lịch máy bay bị trái giờ ngày đêm gây hiệu ứng mất ngủ, mệt mỏi. Cơ chế nội tại hoạt động do đột biến gen của ĐHSH và được cho rằng có liên hệ đến các chức năng sinh lý cơ bản như giấc ngủ, khả năng tập trung, cảm xúc, trí nhớ. Sai lệch hoạt động của ĐHSH dẫn đến sai lệch về biến dưỡng gây ra bệnh lý như huyết áp, béo phì, thần kinh, thậm chí gây ung thư,…

Ngũ vận lục khí là gì?

Ngũ vận lục khí là học thuyết của Đông y, giải thích sự biến hóa của môi trường (khí hậu – thời tiết,…) đối với con người. Cơ sở lý luận chủ yếu dựa vào các học thuyết cơ bản của triết học Đông phương như Âm Dương, Ngũ hành, Thiên Nhân hợp nhất.

Đông y nhìn nhận con người là một “tiểu vũ trụ”, là một hệ thống mở nằm trong vũ trụ. Con người và thiên nhiên là một thể thống nhất (học thuyết Thiên Nhân hợp nhất); mọi hoạt động sinh mệnh của con người đều gắn liền với những biến đổi của tự nhiên (môi trường, sinh thái, khí hậu,…).

Học thuyết Âm – Dương với các quy luật của nó, được mô tả các trạng thái Ngày – Đêm, Sáng – Tối, Trong – Đục; Nước – Lửa, Trong – Ngoài, Kinh – Lạc, Tạng – Phủ, Khí – Huyết,… các mặt đối lập nhưng luôn hỗ trợ nhau tạo sự quân bình – cân bằng các sự vật, hoặc các chức năng sinh lý cơ thể.

 

Học thuyết ngũ hành gồm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là 5 dạng vật chất trong vũ trụ tác động lên nhau không ngừng, để tạo ra sự sống và giúp cho sự sống tồn tại. Học thuyết ngũ hành được các y gia vận dụng để mô tả hệ cơ quan của cơ thể, gọi là ngũ tạng gồm Tâm hỏa, Can mộc, Tỳ thổ, Phế kim và Thận thủy. Ngũ tạng liên kết với Lục phủ là Tiểu trường, Đởm, Vị, Đại trường, Bàng quang và 12 kinh mạch để vận hành hoạt động sống. Các hoạt động sống của cơ thể chịu sự chi phối của Lục khí trong tự nhiên đó là Phong, Hàn, Thử, Thấp, Táo, Hỏa (mang tính đại diện, bao gồm tất cả từ khí hậu thời tiết, đến các vi sinh vật sống trong vũ trụ này, ví dụ, Phong không chỉ là gió, mà còn là yếu tố gây bệnh diễn tiến nhanh, gây ngứa,… Sự biến hóa của các khí trở thành nguyên nhân gây bệnh được gọi là lục dâm.

 

Học thuyết Ngũ vận lục khí là công cụ lý luận đơn giản hóa, thuyết minh mọi mặt trong hoàn cảnh tự nhiên và các quan hệ về mặt y học, cụ thể là nắm bắt được quy luật biến hóa của thời tiết, khí hậu, để biết nhân tố gây bệnh của lục dâm, và diễn biến phát triễn bệnh theo ngày, tháng, mùa, của năm sau đó, đây là cơ sở để phòng và chữa bệnh của Đông Y. Theo quy luật này, mỗi ngày, tháng, mùa và năm đều có chủ khí (khí chính) và khách khí (khí khác lạ xuất hiện), chủ khí tác động và cơ thể điều hòa duy trì hoạt động. Cách sống của con người cùng chế độ ăn uống giúp hoạt động cơ thể luôn được bảo trì, chính khí sung mãn, khách khí không dễ dàng xâm phạm gây rối loạn chức năng hoặc gây bệnh.

 

Nội kinh viết: “Trời nuôi người bằng lục khí, Đất nuôi người bằng ngũ vị”, con người sống bằng nguyên khí do trời đất hợp lại. Khí dương của trời được hít vào theo hệ hô hấp để được phối hợp với ngũ cốc của đất, khí hóa thành vật chất – năng lượng cho cơ thể hoạt động. Cơ thể sống hình thành tinh khí nội tại, giúp duy trì sức khỏe, ứng phó với các nguyên nhân gây bệnh, được gọi là “Chính khí” để đối lại với “Tà khí” (mọi nguyên nhân gây bệnh). Là một minh chứng về một loại đồng hồ sinh học của Đông Y.

 

Sức khỏe là một trạng thái cân bằng động. Cân bằng giữa nhân thể với môi trường bên ngoài và cân bằng giữa các bộ phận bên trong cơ thể. Sự vận động và biến đổi của tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, đến sự hình thành bệnh tật. Qua đó hiểu biết được quy luật vận hành của thời sinh học hay nói khác đi hiểu biết về Ngũ vận lục khí, có thể dự báo được các điều kiện sinh bệnh tật, tiên lượng diễn tiến bệnh trên mỗi cơ địa và từ đó có thể đề ra phép tắc để phòng và chữa bệnh. Phép Dưỡng sinh của Đông y là một ví dụ điển hình về phòng bệnh.

Dưỡng sinh là gì?

Dưỡng sinh là nuôi dưỡng và bảo trì sự sống.

Phép dưỡng sinh là một trong những phương pháp phòng bệnh giúp tăng tuổi thọ, được sáng tạo theo quy luật âm dương, điều hòa theo thuật số. Âm dương là quy luật của trời – đất, thuật số là cương lĩnh của sự vận hành cần phải được tuân thủ.

Phương pháp dưỡng sinh của Đông y bao gồm 4 nội dung:

  • Thích nghi với hoàn cảnh môi trường – khí hậu (Cách sống).
  • Điều tiết ăn uống – sinh hoạt (Thực dưỡng).
  • Rèn luyện thân thể (Tập luyện).
  • Điều dưỡng tinh thần (Thái độ tinh thần trong cuộc sống).

 

Mỗi năm có 4 mùa và các quy luật của nó như là Xuân sinh (tăng trưởng, thay cũ đổi mới) – Phong mộc là chủ khí của mùa xuân; Hạ trưởng (nẩy nở phồn vinh, đơm hoa kết trái) – Thử là chủ khí của mùa hạ; Thu thu (thu liễm, khí hậu heo hắt) – Táo là chủ khí của mùa thu, Đông tàng (ẩn giấu, tích trữ) – Hàn là chủ khí của mùa Đông. Với phép dưỡng sinh, con người cần sống thuận theo quy luật 4 mùa như ăn uống có điều độ, làm lụng – nghỉ ngơi có chừng mực, biết theo sự biến hóa của âm dương mà sinh hoạt thích nghi phù hợp mỗi mùa, điều dưỡng tinh thần, và rèn luyện thân thể giúp duy trì năng lượng sống.

 

Mỗi ngày có 12 canh, nên ngủ đủ 6 đến 8 tiếng đồng hồ, đêm nên bắt đầu đi ngủ lúc 9 giờ tối (canh 2), thức dậy vào lúc 5 giờ sáng (canh 5). Mùa xuân, hạ có thể ngủ muộn hơn nhưng không quá 11 giờ (canh 3), để các bộ phận trong cơ thể được nghỉ ngơi, giải độc, tái tạo năng lượng. Tương ứng, sự bài độc cơ thể diễn ra như sau:

  • Từ 21- 23 giờ là quãng thời gian hệ thống miễn dịch đào thải chất độc.
  • Từ 23 – 1 giờ sáng là quãng thời gian bài độc của gan.
  • Từ 1 – 3 giờ sáng là quãng thời gian bài độc của mật.
  • Từ 3 – 5 giờ sáng là quãng thời gian bài độc của phổi.
  • Từ 5 – 7 giờ là quãng thời gian ruột già bài độc.
  • Từ 7 – 9 giờ là lúc ruột non hấp thụ chất dinh dưỡng nhiều nhất.

 

Thời gian ngủ sâu, cơ thể hoàn toàn nghỉ ngơi, là lúc các hệ thống bài độc giúp tinh sạch cơ thể. Buổi sáng thức dậy đi tiêu, tống xuất các chất độc ra ngoài, và sẵn sàng đón nhận chất tinh vi mới, từ khí thở đến thức ăn uống, hấp thu vào nuôi dưỡng và tạo năng lượng cho cơ thể hoạt động.

 

Chế độ ăn uống mỗi ngày cũng theo quy luật bốn mùa như: buổi sáng là mùa xuân sinh khí phát triển, nên ăn no, ăn nhiều; buổi trưa là mùa hạ, thức ăn nên đa dạng phong phú, nhưng đừng quá no; buổi chiều lúc mặt trời lặn là mùa thu, nên giảm thịt cá và thức chua cay, ăn nhiều rau củ quả nhưng cũng đừng quá no; nửa đêm là mùa đông tuyệt đối không nên ăn uống gì.

Sống đúng với phép dưỡng sinh, thuận khí bốn mùa giúp chính khí bền vững, thì dù có gió độc dữ (hư tà – tặc phong); Lệ khí (khí độc từ thiên tai – địch họa); Lục dâm (sáu loại nguyên nhân gây bệnh từ môi trường) cũng không làm hại đến sức khỏe.

 

Với “Đồng hồ sinh học” đang cho thế giới khoa học một chủ đề rất cơ bản, đầy thử thách và cũng rất lý thú để lý giải về tiến hoá của sự sống và vũ trụ, cũng như việc phát hiện ra TTFL, nền tảng để các gen đồng hồ sinh học dựa vào đó điều khiển dao động nhịp ngày – đêm tại tế bào và mô, đã đưa ra một số khái niệm mới về cách thức sinh vật dự liệu và thích nghi với tín hiệu môi trường bình thường hằng ngày, ba nhà khoa học đoạt giải Nobel đã tạo nên một hiệu ứng tích cực hơn trong các nghiên cứu giúp phòng và chữa bệnh. Soi lại, “Ngũ vận lục khí” của Đông Y là lý thuyết về mối quan hệ vĩ mô giữa những biến động của vũ trụ tác động lên vạn vật (con người, thực vật, động vật, thời tiết, khí hậu, ánh sáng, bóng tối,…). Quả thật, có một nét tương đồng (dù khá khập khiễng vì khoảng cách thời gian và phương tiện tư duy) giữa hai nền Y học Đông – Tây, đó là: Đều nói đến tác động của tự nhiên lên nhịp sinh học cơ thể sống. Cụ thể hơn, dựa trên các quy luật, dự báo về sự biến đổi của thời tiết – khí hậu – môi trường tác động lên cấu trúc cơ thể, lên chức năng sinh lý người và cách gây ra bệnh tật của học thuyết “Ngũ vận lục khí”, nội dung của phép Dưỡng sinh được các y gia xưa sáng tạo để phòng bệnh là một minh chứng giá trị cơ sở khoa học của Đông y mà hậu thế có thể nghiên cứu ứng dụng phục vụ cho việc duy trì và bảo vệ sức khỏe cho con người.

 

Nguyễn Thị Bay

http://www.khoe24h.vn/dong-y/tu-duong-sinh-cua-dong-y-den-giai-thuong-nobel-sinh-ly-y-hoc-2017/82340.html

About the author
Leave Comment