Trung Cộng Giao động Thay Đổi Việt-Nam

Tiến sĩ Nguyễn Văn Lương
(ghi chép buổi nói chuyện 
trên Paltalk 30-4-2012)

Năm 1991, sau sự sụp đổ của Liên Bang Sô Viết vì sự chạy đua không gian với Hoa Kỳ (HK), hàng hóa Trung Cộng (TC) bắt đầu ồ ạt xuất cảng vào Hoa-Kỳ, đánh dấu sự “chạy đua” kinh tế giữa“hai anh hùng không sống chung một quả đất” bắt đầu.
Cứ mỗi tam cá nguyệt, kể từ khi giao thương với TC, Hoa-Kỳ luôn luôn báo cáo sự bất quân bình mậu dịch với quốc gia mà thế giới ai cũng biết là Hoa Kỳ đã giúp đỡ để được mang danh là một“siêu cường TC” ngang hàng hoặc sẽ vượt qua kinh tế Hoa-Kỳ trong thập niên sắp tới. 
Thời gian trôi di, cả hai thập niên, sự thương lượng quân bình kinh tế bế tắc, khiến TC lầm tưởng rằng, chính phủ Hoa Kỳ không còn đường lối nào khác hơn là ngậm đắng nuốt cay, phải chấp nhận sự nhập cảng hàng hóa TC càng ngày càng gia tăng, để người dân HK có được một cuộc sống căn bản cao phải tùy thuộc vào hàng hóa TC vì rẻ mà không quốc gia nào trên quả điạ cầu này cạnh tranh được. 
       Khi biến cố 911 (năm 2001) xảy ra cho 2 tòa nhà của Trung Tâm Thương Mại Thế Giới (World Trade Center) tại NữuƯớc, thế giới bàng hoàng, người dân Mỹ ngẩn ngơ, và khi TT Bush quyết-định đưa quân trừng phạt Iraq và A Phú Hãn, thì lãnh tụ Trung Cộng mở tiệc ăn mừng, vì nghĩ rằng, Hoa Kỳ sẽ bị sa lầy vào một chiến tranh mà có thể còn khốc-liệt hơn cả chiến tranh Viet-Nam  nữa. Do đó, họ đã âm thầm khuyến khích gia tăng sản xuất để xuất cảng bành trướng sang châu Âu vì nghĩ rằng, họ chế ngự được thị trường HK, thì những quốc gia Âu Châu không có gì là đáng kể. 
Chính vì thế, giới thương gia đổ tiền của vào sản xuất với rất nhiều tín dụng cá nhân, và với sự bóc lột lao động tối đa nên có lợi điểm với gía cả rẻ mạt, hàng hóa TC tràn ngập Mỹ và Âu Châu trong khoảng thời gian ngắn kỷ lục.
Đến năm 2004 là năm mà HK bắt đầu sửa chữa thị trường theo “thứ tự” của kinh tế thế giới .Theo kinh nghiệm, tại HK, cứ 8 đến 10 năm một lần, HK phải “điều chỉnh” kinh tế để “quân bình” tài chánh hầu tránh sự kinh tế sụp đổ tương tự diễn ra cho thế giới vào năm 1930s, và sự điều chỉnh này dài hay ngắn, nhanh hay chậm, là tùy thuộc vào sự chênh lệch tài chánh của HK trong sự giao thương của khoảng thời gian liên quan đó. Chúng ta cũng nên biết rằng, kể từ khi người Việt tị nạn đặt chân đến HK sau chiến tranh VN năm 1975, Hoa-Kỳ có 4 lần điều chỉnh: 
(1) Đầu thập niên 80s, điều chỉnh với nền kinh tế Nhật Bản, 
(2) đầu thập niên 90s thì thế giới tự do 
“đóng góp hơn 100 tỉ” trợ giúp HK trong chiến tranh Trung Đông, 
(3) Cuối thâp niên 90s thì sự đầu tư vào sự khai thác mạng lưới (internet developments) sụp đổ, tiền mất của người đầu tư vào những công ti bị phá sản này, trở thành tài sản của HK… 
Trong thời gian này, 
(4) HK có kế hoạch “điều chỉnh” kinh tế với TC, nhưng chưa áp dụng thi biến cố 911 xảy ra, khiến bị trì hoãn đến năm 2004, khi TT Bush tuyên bố phải áp dụng 3 điều căn bản chính đểgia tăng xuất cảng, đó là: 
(1) giảm trị giá Dollars để khuyến khích 
ngoại quốc mua hàng HK vi rẻ hơn; 
(2) phải giảm tiền lời đề khuyến khích những 
công ty HKđược vay rẻ thi sản xuất rẻ và nhiều hơn, và 
(3) phải tạo điều kiện dễ dàng đểngười dân HK có cơ hôi làm chủ chính căn nhà của họ… đó chính là giai đoạn khai hỏa “trừng phạt” TC bắt đầu. 
       Kế hoạch của TT Bush nêu trên đã làm trương mục của những “chủ nợ” của HK (điển hình là TC) bị xuống giá, tiền lời lại không có (cần phải nói là giai đọan này là thời kỳ đen tối của những người sống bằng lợi tức chắc chắn, cố định, những công dân HK về hưu, hưởng tiền già và sinh sống tại nước ngoài), Thêm vào đó, những đại công ty đầu tư của HK như AIG, Leman Brothers, Merrill Lynch có đưa ra những kế họạch, chương trình đầu tư khá hấp dẫn, đáng tin cậy, “không” bảo đảm nhưng rất “an toàn” đó là đầu tư vào bất động sản tại HK như hệ thống ngân hàng HK đã và đang áp dụng: vì chủ nhân ngôi nhà phải có bảo hiểm khi mượn nợ nên không sợ bị hư hỏng, người mua nhà đặt cọc tiền nên phải cố gắng gìữ nhà, không bỏ hoang,.. giá nhà tại HK luôn luôn lên giá…  với tiền lời 5%, 7% cố định, cho cả 30 năm thì không phải lo lắng về tiền lời nữa…
Do đó, khi điều căn bản (3) của TT Bush được áp dụng thì người dân đổ xô đi mua nhà nhưng thực tế chỉ xảy ra tại 4 tiểu bang nóng bỏng nhất, đó là: Arizona, California, Florida, và Neveda… vì dân chúng những tiểu bang khác có những ước mơ về đây sinh sống khi lớn tuổi, khiến giá nhà tăng nhanh một cách khủng khiếp do kết quả số lượng CUNG-CẦU chênh lêch nhau quá sức tưởng tượng.
Và tất cả nợ nần của những ngôi nhà mới bán này được bán cho những chủ nợ ngoại quốc giàu có.dưới hình thức của “Mortgage Notes” …cho đến khi trái bóng nhà cửa bị nổ tung vì giá quá cao vào đầu năm 2008, AIG, Merill Lynch, and Leman Brothers khai phá sản, thì các chủ nợ ngoại quốc cũng đành chung số phận, phải ngậm đáng nuốt cay vì đầu tư vào bất động sản rất “an toàn” tại HK, ôm những căn nhà tráng lệ bị bỏ rơi bởi chủ nhân làm tài sản, còn tiền để dành đã chạy hết vào ngân hàng dự trữ Hoa Kỳ một cách hợp pháp…
Thêm vào đó, khi Thống Đốc Ngân Hàng Bernanke yêu cầu quốc hội HK gia tăng nợ nần ngân sách quốc gia cho HK thếm 1 trillion dollars nữa, thế giới kinh hoàng vì hiểm lầm là HK nợ nần quá nhiều nên không thể trả nợ nổi, khiến bao nhiêu chủ nhân của TRÁI PHIẾU (US Bonds) tung ra bán hết với giá thật thấp, để lấy tiền mua vàng. Vì số CUNG nhiều hơn số CẦU (HK mua lại 800 tỉ mà thôi); do đó, Hoa Kỳ có dip thâu hồi trái phiếu một cách hợp pháp mà không phải trả tiền lời cho những trái phiếu này… và giá vàng trên thế giới đã lên rất cao vì nhu cầu đòi hỏi của người có tiền của…không tin tưởng vào trị giá của US dollars nữa, chỉ vì không hiểu rằng căn bản tiền tệ của HK căn cứ vào tín dụng, có nghĩa là HK đã khá hơn, có khả năng trả nợ thêm 1 trillion dollars nữa… 
Là một siêu cưòng, HK không thể không thi hành những luật lệ kinh tế quốc tế mà những quốc gia đã ký ước…Thi dụ Hoa Kỳ không thể cấm hàng hóa TC nhập cảng vào HK , chính vì thế, HK phải có những phương pháp khác để hàng hóa TC không có người tiêu thụ. Do đó, HK không ngần ngại đưa tỉ lệ thất nghiệp của quốc gia này lên cao, thật cao, với lý do bị ảnh hường bởi kinh tế TC không hợp tác Với số lượng thất nghiệp này, HK không còn có nhu cầu tiêu thụ khối hàng TC khổng lồ nhập cảng nữa, dù rẻ mạt… 
Và tổng số thất nghiêp cao của xứ cờ hoa này sẽ còn kéo dài trong những năm sắp tới cho đến khi sự “quân bình kinh tế” được giải quyết. Đó cũng là lúc Dollars sẽ lên giá và vàng sẽ xuống giá như dầu lửa dưới thời TT Clinton (vì vàng cũng chỉ là món hàng trao đổi, HK không dùng vàng làm kim bản vị cho tiền dollars của nước HK); và đây cũng là giai đoạn cuối cùng của nền kinh tế suy thoái HK.
     Khi hàng hóa sản xuất để xuất cảng bị ứ đọng, không phải là nhu yếu phẩm của quốc gia, tiền lương lao động TC thấp nên không có mãi lực trong nước, khiến nhiều công ty TC bị phá sản; 
Sự thất nghiệp (không có trợ cấp như HK) gia tăng, đã và đang tạo nhựng sự xáo trộn xã hội lớn tại TC, và có chiều hướng gia tăng. Thêm vào đó, sự rút lui của giới tư bản HK vì luật thuế vụ áp dụng cho những công ty có chi nhánh tại hải ngoại, sẽ làm cho tình trạng lao động TC gặp nhiều khó khăn hơn. Chính phủ TC biết rõ điều này, nhưng không công nhận sự thực, chỉ cố gắng đổ lỗi cho lãnh đạo yếu kém, tham nhũng, hối lộ nên có những kế hoạch thanh trừng với mục đích chính là củng cố địa vị trong giai đoạn đen tối của quốc gia mà không thể tránh nổi. 
Nói một cách khác đi, TC sẽ phải đối diện với một giai đoạn cực kỳ khó khăn trong nội bộ, mà nguy cơ có thể đưa đến một sự tan rã như Liên Bang Sô Viết, cáo chung chủ thuyết cộng sản trên qủa địa cầu.
Lẽ dĩ nhiên, lãnh đạo Trung Cộng sẽ không ngồi yên, họ cũng có những đường lối “ngoại giao” để làm nhẹ gánh bớt cho tình hình nội bộ của TC như:
1. TC sẽ tạo chiến tranh thế giới để giải quyêt kinh tế nội bộ? – Điều này không thể xảy ra, vì với vũ khí quá tối tân mà con chim đầu đàn của thế giới tự do, sẽ không cho phép TC làm được chuyện này… Và nếu có, sự thiệt hại không thể hủy diệt được toàn cầu, hoặc sẽ không lôi kéo những quốc gia khác vào chiến tranh, mà ngược lại, có rất nhiều sự bất lợi cho chính TC. Chúng ta cần phải hiểu rằng, khi HK thỏa hiệp với Nga-Sô để hủy bỏ vũ khí nguyên-tử, thì họ phải có những vũ khác hiệu nghiệm hơn và chính xác hơn… 
2. 
TC mong chờ có một phong trào chống chính phủ HK vì thất nghiệp cao? – cũng rất khó vì HK có cả trăm ngàn công ăn việc làm mà nhân công HK cần phải huấn luyện khá hơn để được tuyển dụng… có hơn 12 triệu việc làm lao động mà những người cư ngụ bất hợp pháp Mễ Tây Cơ đang làm… nếu cần phải thay thế bằng lực lượng lao động HK 
3. 
TC cũng mong có những cuộc biểu tình phản chiến chống chiến tranh của người dân HK lan tràn khi gia tăng quân sự ỏ DNA? – chuyện này sẽ không bao giờ xảy ra, vì thái độ lạnh lùng, ngạo mạn của lãnh tụ TC trong những chuyến thăm TC để điều đình thương mại của TT tài chánh và TT Obama; khiến truyền thông HK có những sự bất lợi cho TC, hàng loạt tài liệu kêu gọi tẩy chay hàng hóa của TC vì thiếu tiêu chuẩn sản xuất trong số đó, sự vi phạm vệ sinh là chính thức… và người dân HK thức tỉnh là quốc gia nguy cơ, cũng như kết quả thất nghiệp đã và đang đến từ ảnh hưởng kinh tế của TC 
4. 
Tìm đồng minh thế giới chăng? – Không có, nhìn từ Đông sang Tây, từ Mỹ, Phi, và Á châu: phong trào chống TC lan tràn và gia tăng. Sự đồng lòng của những quốc gia thành lập Trans-Pacific Economic Partnerships (TPP) chứng minh cho thấy là không một quốc gia nào hưởng ứng theo TC. 
5. Không theo kịp sự tiến bộ kỹ thuật, TC có những kế hoạch gia tăng quốc phòng, và những chương trình phá hoại kỹ thuật HK – Điều này TC đã và đang làm, có chiều hướng gia tăng nhưng tỉ lệ thành công rất thấp… Gia tăng quốc phòng thì cả trăm năm nữa cũng không bằng HK… Phá hoại kỹ thuật HK chăng? Nhìn những kết qủa trong qúa khứ, WTC bị phá hủy hoàn toàn, 133 hệ thống ngân hàng thế giới với số tiền trao đổi vài trillion dollars hàng ngày, chúng ta có nghe đến những sự than phiền, mất mát, thiếu hụt không? những hệ thống điện toán thương mại của công ty HK có dễ dàng bị xâm chiếm không??? Thì không cần phải bàn đến sự tinh vi về kỹ thuật của bộ Quốc Phòng, Quân Sự HK mà TC có đủ khả năng phá rốí. 
Nhìn về thể chế chính trị và xã hôi Viêt Nam
, chúng ta phải đồng ý rằng TC và VN có những sự tổ chức và ràng buộc với nhau. Có khác đi, VN có được một ưu điểm duy nhất mà TC không có, đó là một quốc gia nhỏ bé nhưng có được sự trợ giúp“không chính thức”, có kế hoạch của chính phủ HK với mục đích tách rời VN ra khỏi ảnh hưởng của TC, nên số tiền của người Việt tị nạn gửi về VN có chiều hướng gia tăng đã được làm ngơ. 
Số tiền này chính là sư quyết đinh sống còn cùa chế độ hiện hữu. Nói như thế, không phải là HK chấp nhận chế độ CSVN hiện tại, mà chỉ muốn kéo dài sự “yên ổn” của VN cho đến hồi kết cuộc của TC. Nhưng ngược lại, VN có một vị trí bất lợi là nằm bên cạnh TC nên bị áp lực và ảnh hưởng rất lớn của quốc gia này. Nếu so sánh VN và Cuba, nguời dân tị nạn Cuba có dược những lợi điểm trong sự đấu tranh thay đổi thể chế Cuba, vì nước này nằm trên một vị trí chỉ cách bờ biển HK hơn 90 dậm anh (160 Km), nên không có quốc gia CS đàn anh nào bén mảng đến gần; và với một tổ chức kinh tế xuất nhập cảng, phát triển mạnh mẽ hầu như bao trùm tất cả Nam Mỹ (một khối
người nói tiếng Tây Ban Nha (Spain)) của cộng đồng tị nạn Cuba tại Little Havana (Miami, Florida), cộng đồng Cuba có ảnh hưởng rất lớn với chính phủ HK. Chính vì thế, nhà cầm quyền nước 
Cuba gặp rất nhiều khó khăn vì sự đấu tranh của khối người tị nạn Cuba
 đó. 
      Là người VN, chúng ta cần phải nhận thức rằng, Chúng ta đã bị CSVN lừa đảo quá nhiều rồi và chờ đợi vì những sự lừa đảo đó, hết thủ đoạn này đến đường lối khác, dùng MTGPMN là công cụ đánh phá miền Nam, dùng nơi học tập làm trại tù để nhốt những người có khả năng chỉ huy lãnh đạo,,,thay đổi sự lãnh đạo để người miền Nam mơ tưởng có sự cởi mở, và bây giờ dùng gia đình Nguyễn Tấn Dũng để tạo sự mơ tưởng một chính phủ thân Mỹ nên có những sự “yên ổn” kéo dài chờ đơi… (vì chờ đợi Dollars gửi về, vì có những suy diễn chính phủ Nguyễn Tấn Dũng là chính phủ thân Mỹ, nên HK sẽ trở lại VN…)… 
Chúng ta cũng cần biết thêm rằng, Hitler bị kết án là một kẻ độc tài sắt máu, nhưng ông ta chỉ giết người Do Thái trong giai đọan chiến tranh, còn chế độ CSVN hiện tại, giết người dân của chính dân tộc mình, mà giết trong thời bình, không chiến tranh, thí chúng ta nghĩ sao về chế độ này?… Chúng ta cũng biết rằng, TC sẽ gặp nhiều khó khăn trong giaiđọan sắp tới, không đấu tranh CSVN cũng phải thay đổi vì quan thày của chúng suy xụp, nhưng những sự kéo dài chờ đợi của người dân VN trong giai đoạn này là mắc mưu chế độ cầm quyền, vì họ chỉ mong có thế để biến đổi tình thế khi có dip.
Nói khác đi, sự chờ đợi sẽ không có những lợi điểm cho đất nước chúng ta, cũng như sự chờ đợi cho đến ngày TC sụp đổ để thay đổi VN thì e rằng qúa trễ,vì những lý do sau đây: 
1) Tài nguyên bị tịch thu bán cho ngoại quốc để trục lợi của bè nhóm chế độ hiện hữu: Đã không biết bao nhiêu mẫu đất từ Bắc xuống Nam của người dân bị tịch thu bán cho ngoại quốc làm sân golf (!), khu kỹ nghệ… mới đây nhất là Bắc Giang, Hưng Yên; cũng như tài nguyên thiên nhiên Bô Xit thuộc vùng cao nguyên, Dà Lạt… người dân trong nước có chống đối nhưng không hiệu quả.
2) Sự đồng hóa sẽ nhanh chóng của TC: với con số hơn 200 triệu đàn ông không có đàn bà để lấy làm vợ của kết qủa cách mạng văn hóa Mao Trạch Đông từ năm 1960s, thì lượng di dân của khối người này đến VN phải xảy ra…qua những hình thức như nhân công, du lịch đến VN dài hạn… để tìm vợ; hoặc trong tương lai di dân vì lý do an-ninh, kinh tế..
3) Thiếu khả năng, thiếu sức mạnh của một quốc gia khiến VN mất dần tài nguyên ngoài khơi, và hải sản… hoặc người lãnh đạo sẽ bán ăn chia những tài nguyên cho ngoại quốc khai thác như những lãnh đạo của những quốc gia độc tài Lybia, Trung Đông…
4) Nhân tài VN của hải ngoại già yếu hoặc qua đời, VN sẽ mất đi những khả năng chuyên môn, tiền của, đặc biệt là những gạch nối, móc nối tốt đề tái thiết cho VN và những quốc gia có người Việt hải ngoại cư ngụ… lực lượng đấu tranh và người dân trong nước sẽ thiếu đi điểm tựa đấu tranh vững chắc 
5) Sự thiếu dinh dưõng, không có điều kiện căn bản sống của môt quốc gia VN lạc hậu, chỉ biết có ăn để mà sống, trực tiếp tạo điều kiện rất khó khăn cho sự tiến bộ của đất nước, sự mạnh mẽ của xã hội… người dân chết dần mòn theo thời gian mà không có năng xuất…
Chinh vì thế, chúng ta cần phải thay đổi VN càng nhanh càng tốt…và cần phải chuẩn bị gấp cho một đường lối chính trị của VN trong tương lai, phải có lập trường dứt khoát: ai là bạn, ai là thù, không nên đúng chàng hảng, lòng thòng, đúng giữa, chia phe nhóm thủ lợi…vì những khía cạnh này chì phí tổn thêm nhân sự và thời gian mà thôi. Những người phục vụ đất nước trong tương lai phải nghĩ đến quyền lợi chung của dân tộc Viêt-nam khi quyết đinh. 
Chúng ta không ngồi chỉ đọc lại nhũng chồng tài liệu cũ, lấy những sự chỉ trích Henry Kissinger là sự suy luận để thỏa mãn là chúng ta đã làm đúng, 40 năm nhìn lại đểchúng ta có những trận chiến oai hùng trên chiến trường, đổ lỗi cho đồng minhđã làm sai… 
Nói như thế, không có nghĩa là tôi phủ nhận những gía trị tài liệu, hoặc những chiến công hiển hách của miền Nam; vì cha của tôi cũng là môt quân nhân của liên đoàn 1 BĐQ, học khóa đầu tiên tại Dục-Mỹ, em thứ hai của tôi là một chiến sĩ trẻ của trường Thiếu Sinh Quân, và trước ngày này của năm 1975, là một Thiếu Uý của ĐĐ Trinh Sát Sư Đoàn 2… Nhưng tôi thấy, chúng ta ngồi ôn lại lịch sử nhưng chúng ta không áp dụng những gì đã có kết qủa oai hùng, chiến công lừng lẫy, cho một kế hoạch nào đó để tìm một phương pháp giải thể chế độ hiện tại mà ngược lại, chỉ để mãn nguyện, phô trương thành tích…như những vị có bằng cấp khoa bảng nổi tiếng mà không hành nghề… thậm chí mua bằng giả để hãnh diện,,, vì tôi thấy có những quân nhân cấp cao đã quên đi sự nhục nhã trong trại tù cài tạo, quên đổng đội của mình, đi Việt nam hí hố một cách trơ trẽn; hoặc nịnh bợ, luồn cúi vì quyền lợc cá nhân, không biết nhân phẩm của chính mình, và đơn vi mình đã phục vụ. đã hãnh diện, 
Tôi muốn nói đến những gì chúng ta có kinh nghiệm và hãnh diện, phải được phải đem ra áp dụng để thay đổi một nước VN hiện tại, nơi vẫn còn kẻ thù của chúng ta đang cai trị, đang đàn áp 90 triệu người dân lành. Trong số đó, gần 30 triệu người chúng ta đã bảo vệ khi đang cầm súng, và chúng ta đã có giấc mơ giải phóng phần còn lại sống đói khổ tại miền bắc Viet Nam trước năm 1975 … và quên đi rằng chúng ta đã không có những lãnhđaọ giỏi giang, những sức mạnh của chính quốc gia mình để hợp tác với ngoại bang, mà không bị ngoai bang chi phối…Hãy nhìn Đài Loan và Do Thái là những thi dụ cho đất nước…
Do đó, ngay bây giờ đây, lúc này hơn bao giờ hết, chúng ta phải biết là HK đến DNA chứ không trở lại VN, và chúng ta cần phải làm những gì nhân cơ hội này để có một sự thay đổi VN hiện tại.Những sự chờ đợi khiến HK và ngoại quốc hiểu lầm là chúng ta bầng lòng vối chế độ hiện tại, chấp nhận những gì đang có. Do đó, chúng ta phải nghĩ đến những yếu tốchính, những gi chúng ta làm được, để thay đổi VN càng sớm càng tốt, chỉ có nhưthế, chúng ta mới hãnh diện với những gì chúng ta đã có, bắt đầu cải thiện cuộc sống cho người dân VN, và đưa VN trở lại vị trí “hòn ngọc của Viễn Đông”.
Chúng ta làm được vì chúng ta có nhiều ưu điểm:
1) Chúng ta có một khối chuyên viên hùng hậu trên thế giới, có thể nói là chỉ thua nước Hoa Kỳ.Kinh nghiệm của những chuyên viên này, hấp thụtừ Dông sang Tây, từ quân sự đến dân sự, từ văn phòng đến hầm mỏ, từ tài chánhđến kỹ thuật… họ không những chỉ có tài mà có tiền nữa, công thêm một gía trị vô giá là có sự móc nối với những đầu óc chuyên gia của người dân bản xứ… Chính vì thế, nếu đồng lòng, không có gì là chúng ta không làm được…
2) Hoa-Kỳ hiện diện trong vùng Đông Nam Á. Đây là một điểm rất thuận lợi… Nhìn trên bản đồ thế giới, từ Nato đến Nam-Hàn, sự hiện diện của HK khiến có sự ổn định. Sự ổn định mang đến sư dễ dàng phát triển của quốc gia… Đó là chưa kể đến sự tái phối trí hiện hữu dài hạn của quân đội HK từ Nhật Bản, Phi Luật Tân, Singapore, va Úc Đại Lợi (Trong thời gian gần đây, Phi Luật Tân đã chứng tỏ lập trường rõ ràng để được vịtrí đó; và lãnh tụ PLT chứng tỏ rất khôn ngoan khi có quyết định này). Giả sử rằng năm 1954, TT Ngô Đình Diệm yêu câu HK đóng ở vĩ tuyến 17, hoặc năm 1975, chế độ CSVN hiện tại, mời HK đọ quân ở biên giới Việt-Hoa thì đất nước VNđâu có tệ hại, người dân đâu có lầm than như bây giờ. 
3) Người dân từ Bắc xuống Nam bất mãn, đói khổ lầm than, họ rất mong HK trở lạì VN, mơ ước một sự thay đổi cho VN,
4) Hệ thống tài chánh VN gặp trở ngại một cách khá trầm trọng, cố gắng trả tiền lời cao để chiêu dụ người ký thác (deposits) nhưng khó rút tiền ra (withdrawal) khi cần đến 
5) 
Nước VN có đươc một bộ “Ngoại Giao” vững chắc vì sự hiện diện của người tị nạn tại những nơi cưngụ hậu thuẫn… nói chung là của một Cộng Đồng Việt-Nam lớn Hải Ngoại 
Đầu tiên, chúng ta phải làm những gì?
Như đã trình bày ở trên, VN có một lợi đíểm hơn TC, đó là nguồn lợi tức gửi về VN của người dân tị nạn. Nếu không có nguồn lợi nay, chế độ VN và ngườì dân có những lợi điểm cũng như sẽ đối diện với rất nhiều khó khăn như sau:
1) VN không có sư giao thương với quốc gia lân cận một cách mạnh mẽ: Không có Dollars, những quốc gia này không mang hàng hoá thừa thãi, vi phạm luật lệ đển bán rẻ cho VN (thay vì phế thải,,,); người dân VN không phải mua những hàng hóa có danh mà không có phẩm chất tốt, có thể không nguy hại tức khắc nhưng ảnh hưởng lớn cho sức khỏe trong tương lai
2) Công An, Quân Đội, công quyền nhà nước… không có cơ hội hối lộ, sách nhiễu dân để có lợi cho cá nhân vi hệ thống tham nhũng, hối lộ ỏ VN quá tệ hại. Họ không còn lý do “đoàn kết”, bám víu nhau để thủ lợi nữa
3) Việt kiều không du lịch Việt Nam thì làm gì có phe nhóm, hối lộ của Hải Quan trong phi trường Tân Sơn Nhất
4) Nền thương mại giả tạo có được trong VN là kết qủa luân lưu của tiền người Việt gửi về sẽ bị bế tắc như TC hiện tại vì không có mãi lực
5) Sự cấm xử dụng Dollars và vàng (áp dụng từ 25 tháng 5 năm 2012) trên thị trường sẽ giúp chế độ kìm chế sự lạm phát giả tạo nhưng sẽ bất lợi cho người Việt trong nước làm chủ những“hàng quốc cấm” này. Thí dụ, khi thân nhân của người Việt hải ngoại nhận tiền dollars từ ngân hàng hay từ một nơi trung gian nào đó, những nơi này có thể tố cáo người nhận tiền để được thưởng hoặc để tránh sự liên lụy. Do đo, gửi tiền về than nhân tại VN có thể tạo sự khó khăn (hôi lộ, tịch thu…) hoặc nguy hiểm (vì bị cướp bóc…)
6) Không có Dollars, VN không còn giao thưong với nước ngoài, vì tiền VN không còn được công nhận nhiều nơi
Người Việt hải ngoại, phải hợp tác với người dân đang sống cực khổ tại VN, phải có kế hoạch vô hiệu hóa những nguồn lợi tức gửi về VN.
1. Hoa Kỳ có kế hoạchđể người dân không xử dụng hàng hóa TC, Người Việt chúng ta phải có kế hoạch tảy chay hàng hóa nhập cảng từ VN
2. Vi danh dự của người dân quân Miền Nam, nếu chúng ta còn hãnh diện về qúa khứ, còn ngẩng mặt lên ngạo nghễ khi VN thay đổ, ngay từ bây giờ chúng ta phải tự thi hành nhữngđiều sau đây:
a. Không du lịch VN như người Cuba đã và đang còn áp dụng cho đất nước của họ
b. Không gửi tiền nhiều về VN (chỉ $50.00 /tháng như người tị nạn Cuba đã thi hành từ năm 2003)… Năm 1954, chúng ta còn nhớ, hàng triệu người miền Bắc di cư vào Nam không có sự trợgiúp nào nhưng vẫn sinh sống được
c. Không ủng hộ,không quyên góp cho những tổ chức từ thiện, tôn giáo, những tổ chức danh nghiã tại VN …
3. Không gửi tiền, thân nhân không bị theo dõi, ăn cướp, ăn trộm, có khi bị nguy hiểm đến tánh mạng vì có dollars
4. Thât là mâu thuẫn khi chúng ta có những thỉnh nguyện thư yêu cầu chính phủ HK không viện trợ, trợ cấp, qùa tặng khi biến cố, thiên tai như bão lụt, mà chúng ta lại trực tiếp hoặc gián tiếp chuyển về VN hàng tỉ dollars. Số tiền này chiếm khỏang 1/3 ngân khoản tài chánh CSVN hàng năm… Sự tự nguyện không gửi tiền, không du lịch VN sẽ làm chế độ đang cầm quyền khốn đốn từ quốc nội (vi không có mãi lực) đến đối ngoại (vì không có hối đoái)… Nếu cá nhân chúng ta vô ý thức với lý do ở những xứ tự do chúng ta muốn làm gì thì làm, thi tôi xin đề nghị với những đoàn thể chính trị, tôn giáo, cộng đồng…hãy hoạt động, sinh hoạt một cách hiệu quả hơn trong đường lối đấu tranh của đoàn thể mình, bằng cách vận động chính phủ nơi quốc gia mình đang cư ngụ, ban hành những Đạo Luật cấm gửi tiền, cấm du-lịch về VN, … 
Không do dự, vì những băn khoăn không gửi tiền của chúng ta là những băn khoăn của đồng bào tị nạn Cuba, của chính phủ HK từ giữa thập niên 1980s, nhưng họ đã thi hành, bây giờ họ đã rất vui mừng vì đã quyết định làm như thế vào năm 2003, để đến năm 2009, Cuba phải thay đổi chính sách.
Còn những người trong nước, chúng tôi biết được những khó khăn của qúi vị, đang sống trên đe, dưới búa. Nhưng không có nghiã là không làm được, trong mọi cuộc cách mạng, muốn có sự thay đổi, phải có sự hy sinh… ngồi chờ đợi thì sự chết chóc cũng sẽ đến với tốc độ chậm hơn mà thôi… Ngày xưa, những kẻ đang ngồi trên đầu quí vị đã áp dụng “du kích chiến” đánh phá để chiến thắng, thì ngày nay, quí vị cũng áp dụng ngược lại để thay đổi cuộc sống của chính quí vị. Từng phường, từng xã, từng ấp,,, đêm nào cũng có sự tổn thương vì kết quả của những anh hùng du kích, thì tinh thần công an, quân đội nhân dân, bọn cường hào ác bá cũng phả tìm cách lo thân, và quí vị dần dần sẽ chủ động…
Những người cầm bút, những nhà chính trị (lãnh đạo hoặc không lãnh đạo), và những người quan tâm đến nước VN cần phải thay đổi sự phân tách, suy diễn, phê bình của chính mình… Không nên nói về người khác, phóng đại những tài liệu để thỏa mãn cá nhân, đoàn thể… mà nên phân tách rút tỉa những kinh nghiệm đưa đến những gì  chúng ta có thể làm được, thi hành được, phải chủ động…và có lợi cho chính quốc gia của chúng ta… 
Khi gặp những khó khăn, phải được bàn cãi, tìm một phương pháp đồng nhất đề giải quyết.Những người quan tâm thay đổi VN cần phải có ưu tiên chung để cùng quyết định và thi hành thì sẽ không tốn nhiều công sức cũng như vật chất. Đừng lấy cái sai của người làm điều hãnh diện cho mình, mà phải xét đoán chúng ta đã làm được gì từ kết qủa đó.. 
Hãy dẹp chữ TÔI mà hãy dùng chữ CHÚNG TA, đừng cho rằng ý kiến của mình đúng mà phải nghĩ đến quyết định chung đem đến kết quả nào tốt nhất cho đất nước Viêt Nam về cả hai phương diện: đối nội cũng như đối ngoại. 
· Đài Loan bị hất ra khỏi Liên Hiệp Quốc mà vẫn làm được, giữ được đất nước của họ, tại sao Việt-Nam chúng ta không làm được?.
· Do Thái đơn độc đối diện với khối Trung Đông được, giữ được chủ quyền được, tại sao Việt-Nam chúng ta không làm được?.
· Cộng đồng tị nạn Cuba thay đổi nước Cuba được, vì quyết định không gửi tiền về Cuba, tại sao tịn ạn Việt-Nam chúng ta không làm được? 

Hay là chúng ta không muốn VN thay đổi vì những sự du lịch gia-tăng, và người Việt Kiều hí hố quá nhiều, nếu có thay đổi người dân trong nước sẽ biết rõ bộ mặt thật của Việt Kiều? hoặc nếu có sự thay đổi thực sự thì các ngài du lịch VN sẽ hết hí hố?, chẳng lẽ chúng ta ích kỷ chỉ nghĩ đến cá nhân chúng ta như vậy sao?
Chúng ta phải suy nghĩ kỹcàng và tìm hưóng đi cho chính chúng ta, và cho Việt-Nam của chúng ta! Điều phải làm ngay từ bây giờ là không du lịch và gửi tiển về Viêt-Nam! Người Việt trong nước khẳng định không nhận tiền tù nưới ngoài gửi về dù nhiều hay ít! 
    Và ngưòi viết cũng tin chắc rẳng, với sự hợp tác của người Việt trong và ngoài nước, chỉ trong một tương lai gần, rất gần, nước Việt Nam sẽ được kính phục khắp Năm châu trong đó có cả kẻ thù của VN tại Phương Bắc! đó là Trung Cộng.

Nguyễn Văn Lương
Florida 4/2012

NHỮNG THẢM HỌA & NAN ĐỀ CỦA TRUNG CỘNG

Cuộc phát triển thần kỳ của Trung Cộng trong thế kỷ XXI làm cho cả thế giới kinh ngạc. Bọn Trung Nam Hải thừa thắng xông lên với tham vọng thống trị thế giới bằng chủ nghĩa thực dân mới đã lỗi thời bị nhân loại vứt vào thùng rác lịch sử tiến hóa của nhân loại.

 Trung Cộng bây giờ ví như một cây cổ thụ khổng lồ mà cái tàng cây và các rễ phụ bò tràn lan trên mặt đất, trùm phủ lên trên một diện tích rộng của thế giới để thu hút các tài nguyên thiên nhiên nhằm thỏa mãn cơn khát quyền lực. Nhưng, cây cổ thụ không có rễ cái ăn sâu trong lòng đất để giữ cho gốc bền vững thì làm sao có thể chống lại những trận động đất, cuồng phong? Và bên trong thân cây cổ thụ khổng lồ nầy bị ruỗng nát bởi những loại mối mọt đụt khoét trong cốt lõi của nó? Đó chính là những đại thảm họa và nan đề sẽ hủy diệt tên thực dân mới Trung Cộng trong thập niên tới đây, một căn bệnh ung thư nan trị đang tàn phá cơ thể người khổng lồ Trung Cộng.

I.  NHỮNG ĐẠI THẢM HỌA CỦA TRUNG CỘNG:
MÔI SINH:
Một trong những ưu tư hàng đầu của thế giới hiện nay là làm sao cứu vãn và bảo vệ môi sinh hiện bị đe dọa trầm trọng trên địa cầu. Thật vậy, tại nhiều nước lương thực không kịp sản xuất để cứu đói, diện tích canh tác đang thu hẹp dần vì thiên tai, kỹ nghệ đang phát triển làm ô nhiễm bầu khí quyển, không kể trái đất trở nên quá tải vì bị khai thác quá mức. Trung Hoa Lục Địa ở vào một trong số quôc gia suy thoái nhất về môi sinh. Trong ba thập niên qua, Trung Cộng không chú trọng đến môi sinh mà chỉ chạy theo chỉ tiêu phát triên kinh tế, gây nên tình trạng ô nhiễm đến độ cực kỳ nguy hiểm.
Một viên chức môi sinh hàng đầu của Trung Cộng nói rằng, cuộc chiến chống nạn ô nhiễm kinh niên của nước ông đang gặp nhiều khó khăn vì tình trạng đô thị hóa và tăng trưởng nhanh chóng. Phó Bộ Trưởng Bộ Môi Trường tên Trương Lập Quân phát biểu tại cuộc họp báo tháng 3/2011, số lượng các chất ô nhiễm ở Hoa Lục tiếp tục ở mức cao và một số khu vực không đạt được chỉ tiêu do chánh phủ đề ra. Các công nghiệp mới cũng tạo nhiều hóa chất nguy hiểm và các loại chất thải điện tử. Điều nầy tạo ra những vấn đề tác hại tới sức khỏe của nhân dân.
Theo báo cáo chính trị Đại Hội XVII, cái giá phải trả cho sự phát triển kinh tế thần kỳ của Trung Cộng trong ba thập niên qua: Nguồn nước bị ô nhiễm với nhiều mức độ khác nhau: 70% nước sông hồ và 90% nguồn nước ngầm đã làm cho hơn 10% cây công nghiệp bị nhiễm kim loại nặng:
SÔNG DƯƠNG TỬ (Yangtze): Mổi năm có khoảng 30 tỷ tấn nước ô nhiễm chưa xử lý đã thải ra sông hồ. Ngoài ra, sông Dương Tử còn phải gồng mình tiếp nhận 24 tỷ tấn chất phế thải công nghiệp.
SÔNG HOÀNG HÀ (Huanghe): Con sông nầy dài 4.666 km chảy qua miền cao nguyên đất vàng gọi là hoàng thổ độ dầy đến 100 thước tại vùng Thiểm Tây đem lại phù sa đất vàng phì nhiêu. Nhưng, vì sự sai lầm chết người của Mao Trạch Đông trong kế hoạch “đấp đập trị thủy” đem đại họa triền miên cho vùng Hoa Bắc, bởi mỗi khi đê vỡ, sông Hoàng Hà sẽ đổi dòng chảy vào Bột Hải. Mỗi lần đổi dòng làm nhà cửa ruộng vườn, đất đai canh tác bị tàn phá nặng nề làm hàng trăm người chết. Hoa Bắc ít mưa, nhưng sau trận lụt là hạn hán kéo dài 2, 3 năm, gây ra nạn đói triền miên. Rồi đến thời kỳ kỹ nghệ hóa, nạn đốn cây phá rừng bừa bãi để lấy đất canh tác theo phương pháp cũ, được giới chuyên gia kinh tế mệnh danh “Slash and burn farming”, xin đọc bài nghiên cứu “Cultivating trouble” của Murray Hiebert trong FEER, July, 1997.
BỘT HẢI: là nội hải của Hoa Lục vì phải chứa các nguồn nước ô nhiễm và chất phế thải công nghiệp nên đang đứng trước nguy cơ sẽ là “biển chết”.
THÁI HỒ: là hồ chứa nước ngọt lớn nhất ở Hoa Lục đã bị ô nhiễm tới mức chánh phủ phải bỏ ra 15 tỷ USD để cứu Thái Hồ trong vòng 10 năm. Chánh quyền phải đóng cửa 772 xí nghiệp hóa chất, 125 nhà máy chế tạo bình điện accu và 76 nhà máy giấy.
HẮC LONG GIANG (Heilóngjang): Chạy dọc theo biên giới Nga – Hoa là dòng sông ô nhiễm nhất Hoa Lục. Nhiều khúc sông dài cả trăm cây số, nước đen ngòm vì chất thải kỹ nghệ. Dân Nga ở phía bên kia biên giới, hàng ngày phải vớt hàng ngàn thùng hóa chất bằng nhựa do dân Tàu quăng xuống dòng Hắc Long Giang một cách vô trách nhiệm.
THAN ĐÁ: Năng lượng chính của Hoa Lục sử dụng đến 3.000 triệu tấn than đá/ năm đạt tới 70%, cộng thêm khói và bụi của hàng chục ngàn nhà máy công kỹ nghệ, hàng trăm triệu chiếc xe hơi và xe có động cơ thải ra hàng ngày đã làm cho Hoa Lục trở thành nước có số lượng khí thải CO2 lớn nhất thế giới. 60% dân các thành phố Hoa Lục phải thở bầu không khí ô nhiễm cao hơn 5 lần tiêu chuẩn của WHO ấn định. Mỗi Năm có khoảng 750.000 người chết vì thở không khí ô nhiễm.
RÁC RƯỞI: Hoa Lục coi như là quốc gia bị rác rưởi bao vây nghiêm trọng nhất thế giới. Trong hơn 600 đô thị lớn nhỏ của Trung Cộng thì có tới 2/3 thành phố bị rác rưởi bao vây. Tổng số lượng rác thải ra trong các thành phố nầy hàng năm lên tới 150 triệu tấn.
Xin liệt kê vài thành phố điển hình:
BẮC KINH: Thủ đô Bắc Kinh có khoảng 14 triệu người sinh sống trong cơn sốt xây dựng cao ốc, nhà cửa, công thự…chỗ nào cũng thấy xe trộn xi măng, xe cầu cẩu hoạt động rầm rộ. Một hình ảnh tương phản là những công nhân xây dựng vẫn còn sử dụng cuốc xẻng thô sơ để xúc cát đá vào những các ki đan bằng tre, phải chăng để giải quyết nạn thất nghiệp? Bụi mù quanh năm che phủ Bắc Kinh, đây cũng là một trong những thành phố ô nhiễm nhất, nhì thế giới. Vào mùa đông, dân chúng sống trong những căn nhà ổ chuột, lụp xụp ở ngoại ô vẫn còn dùng than đá để sưởi ấm, trong không khí đầy mùi than đá nồng nặc. Khi rửa mặt, soi gương thấy màng mũi dính đầy bụi than. Chưa kể những cơn bão cát từ sa mạc Gobi thổi về làm tối tăm trời đất. Đại họa sa mạc hóa đang tiến dần đến ngưỡng cửa Bắc Kinh.
THƯỢNG HẢI: Đầu tàu kinh tế của Hoa Lục, một New York của Tàu ở bờ dọc bờ biển phía Đông, cũng trong cơn sốt xây dựng công kỹ nghệ hiện đại và hàng trăm nhà máy điện chạy bằng…than đá. Dân chúng Thượng Hải không còn không khí sạch để thở, không còn nước sạch để uống, mọi sự sống đang chấm dứt trên sông Dương Tử vì phải hứng chịu hàng năm ước tính khoảng 25 tỷ tấn hóa chất, rác độc từ những xưởng công kỹ nghệ dọc theo sông Dương Tử.
Cả thành phố Thượng Hải chìm  trong bầu không khí màu vàng đục do các nhà máy chạy bằng than đá thải khói ra bao trùm thành phố. Theo báo cáo mới đây cho biết, tình trạng thiếu hụt năng lượng đang lan rộng và tác động tiêu cực đến xã hội Hoa Lục. Trong khoảng thời gian từ đây đến tháng 9, sẽ có ít nhất 10 tỉnh thành của Hoa Lục phải trải qua cảnh cạn kiệt năng lượng. Riêng Thượng Hải sẽ có tới 24.000 doanh nghiệp được thông báo về nguy cơ thiếu điện trầm trọng và 70% nhu cầu năng lượng của Trung Cộng vẫn là THAN ĐÁ. Trong khi đó, giá than đá nhập cảng lại không ngừng tăng giá. Trung Cộng hiện tiêu thụ đến 46 % năng lượng than đá trên thế giới, trong khi giá cả tăng gắp đôi trong vòng 5 năm qua. Chính sự tăng giá của nguồn than đá nhập cảng là nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng lạm phát cao ngất ngưỡng của Trung Cộng làm gia tăng tốc độ lạm phát ở mức 6,7 % hồi tháng 7 và có thể leo thang lên tới 7,2 % vào cuối năm 2011.
QUẢNG CHÂU: Thành phố Quảng Châu là nơi tổ chức Á Vận Hội lần thứ XVI bị bụi khói do các nhà máy sản xuất xi măng chạy bằng than đá thải ra, bao trùm cả thành phố Quảng Châu. Bầu không khí bụi bặm là một trong những mối lo ngại lớn nhất cho dân chúng.
TÌNH TRẠNG HẠN HÁN:
Hoa Lục đang trải qua một hạn hán khủng khiếp từ trước tới nay. Chánh quyền cho biết tình trạng khô hạn kéo dài nhiều tháng ở miền Trung và miền Đông là vụ hạn hán nghiêm trọng nhất kể từ hơn thế kỷ nay, khiến hàng triệu mẫu đất canh tác khô nức nẻ vì đã lâu không có giọt mưa nào, gây nên tình trạng thiếu nước cho hơn 1 triệu dân  của 13 thành phố lớn trong tỉnh Hồ Nam. Tân Hoa Xã cho biết sông hồ trong khu vực nầy bị cạn nước gây nên nạn thiếu nước ở hơn 150 thành phố và thị trấn tại các tỉnh khác. Có hơn 170.000 hecta đất canh tác tại tỉnh Hồ Nam bị thiếu nước, trong số nầy có hơn 100.000 hecta mùa màng không gặt hái được. Trong tháng 5 vừa qua, nhà chức trách cho biết tại tỉnh Hồ Bắc có gần 1.400 hồ  chứa nước ở đây không sử dụng được vì mực nước hồ xuống quá thấp.
Theo AFP, Trung Cộng đang quay cuồng trong cơn hạn hán (reeling from drought) đang hoành hành ác liệt ở khu tự trị Nội Mông và Hồi Ninh Hạ cùng các tỉnh Cam Túc, Quý Châu và Hồ Nam là do nhiệt độ nóng và không mưa kéo dài từ đầu tháng 7 đến nay. Theo báo cáo của Cơ quan Hạn hán của Trung Cộng cho biết: Tính đến ngày 31/7 năm nay, Trung Cộng có tổng cộng 422 triệu ha đất canh tác chịu ảnh hưởng nặng nề của hạn hán làm nông dân Hoa Bắc và 3.88 triệu gia súc lâm vào tình trạng thiếu nước uống trầm trọng và còn kéo dài chưa biết đến khi nào mới chấm dứt.
BĂNG TAN TRÊN ĐỈNH HIMALAYA:
Nhưng, tất cả chưa đáng sợ bằng thảm họa khi các băng hà trên đỉnh Himalaya tan hết thì cả tỷ người Trung Hoa sẽ lâm vào cảnh khốn đốn. Đó là một cái máy chém “guillotine” đang treo lơ lững trên đầu người dân Hoa Lục trong vài thập niên tới.
Trung Tâm International Centre for Intergrated Mountain Development (ICMOD) đã loan báo trong một buổi hội thảo về chủ đề toàn cầu vào tháng 6/2007: Trong vòng một thế kỷ qua, nhiệt độ bầu khí quyển đã tăng lên 0.74 độ C do sức ép quá lớn của hiện tượng nóng lên toàn cầu trong 3 thập niên qua. Nhiệt độ trung bình của vùng núi Himalaya đã tăng thêm tới 0.6 độ C, đó là những con số không thể bỏ qua.
Theo Surendra Shrestha – Giám đốc khu vực của cơ quan Environment Programme for Asia & the Pacific của LHQ – đưa ra nhận xét: “Nếu nhiệt độ trung bình của bầu khí quyển của trái đất cứ như đà tăng lên như hiện nay thì trong vòng 50 năm tới, khối băng hà và băng sơn vĩ đại trong vùng núi hiểm trở Himalaya sẽ tan hết, làm cho 1,3 tỷ con người từ Trung Hoa, Ấn Độ, Pakistan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam sẽ bị lâm nguy vì khối băng hà trên Himalaya là nguồn dự trữ và cung cấp nước cho 9 dòng sông lớn của Châu Á và bán đảo Ấn Độ.
Theo Andrea Schild – Giám đốc ICIMOD – cho biết: “Vì băng hà tan rã như thế sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng trên nhiều lãnh vực khác nhau. Đầu tiên là hệ sinh thái của vùng nầy sẽ biến đổi, các nhà máy thủy điện sẽ ngưng hoạt động, các nền công nghiệp và nông nghiệp sẽ lâm nguy và toàn vùng đất rộng lớn nầy sẽ trở nên nguy hiểm cho sự sống.
Một viễn tượng kinh hoàng nhất là hệ thống đập nước trên dòng sông Mekong sẽ ra sao khi Himalaya tan băng? Đó là hiện tượng tràn hồ và các hồ nước sẽ vỡ ra bất cứ vào lúc nào và làm ngập lụt vùng rộng lớn phía dưới hạ nguồn,” ông  nói tiếp. “Nếu một trận động đất xảy ra thì sao? Chỉ cần một trận động đất với cường độ nhỏ thôi, cũng khiến cho tất cả hồ chứa nước sụp đổ đồng loạt. Hiện tượng nầy sẽ giống như cơn sóng thần Tsunami, nó sẽ tàn phá sạch, quét sạch, giết sạch mọi sinh vật trên con đường đi của nó từ thượng nguồn đến hạ nguồn sông Mekong.”
Theo ông Om Bajrachatya, một nhà Thủy văn Học (Hydrologist) hàng đầu của chánh phủ Nepal, loan báo một tin không vui cho cả thế giới: “Khu vực băng hà KHUMBHU có ngọn núi Everest nổi tiếng đã giảm diện tích đều đặn hằng năm và lùi dần đến 30 thước kể từ 1978 tới 1995.”
II.  NHỮNG NAN ĐỀ CỦA TRUNG CỘNG:
CHÁNH SÁCH MÂU THUẨN:
DAVID SHAMBAUGH – Giáo sư Đại học George Washington – tác giả bài viết “Coping with a conflicted China” (Đối phó với một Trung Hoa mâu thuẩn). Xin tóm tắt một vài điểm chính yếu trong bài viết nầy về những mâu thuẩn trong chánh sách đối ngoại của Trung Cộng với những định hướng mâu thuẩn nhau. Ông đưa ra “7 quan điểm” thuộc những trường phái tư tưởng khác nhau như sau:
1/ CHỦ NGHĨA BẢN ĐỊA (Nativisme):
Trường phái nầy gồm những người có tư tưởng “dân túy” bài ngoại, mang nặng dân tộc tính và trung thành với chủ nghĩa Marxism truyền thống. Họ kịch liệt chỉ trích phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ đang nổ lực biến đổi Trung Cộng một cách hòa bình để làm suy yếu sự thống trị của Đảng CSTQ, dẫn đến sự phục hồi của chủ nghĩa tư bản Trung Hoa bằng đường lối “diễn tiến hòa bình”. Những người theo “Chủ nghĩa Bản Địa”  cũng lập luận rằng “Toàn cầu hóa” mà thực tế của nó là một quá trình  quốc tế hóa tư bản. Nhiều người cho rằng, Chủ nghĩa Tư bản Độc quyền Nhà nước” (State monopoly capitalism) cuối cùng sẽ đưa kinh tế thế giới đến bờ vực thẳm của thảm họa.
2/ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC:
Những người theo “Chủ nghĩa Hiện thực” lấy chủ quyền quốc gia và nhà nước là tối thượng và cho rằng xây dựng một nhà nước hùng mạnh để có thể vạch một hành trình theo cách riêng và chống lại sức ép từ bên ngoài là quan trọng hơn hết. Những người theo trường phái hiện thực chia ra làm 4 hệ phái như sau:
•           QUYỀN LỰC CỨNG: Những người theo hệ phái nầy lập luận rằng, đó là để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia (tổng hợp quốc lực) đặc biệt về “Quân sự” và “kinh tế”.
•           QUYỀN LỰC MỀM: Những người theo hệ phái nầy thì nhấn mạnh quan điểm về “Ngoại giao” và “Văn hóa”.
•           HIỆN THỰC THẾ CÔNG: Những người theo hệ phái nầy thì cho rằng: Trung Cộng nên sử dụng ảnh hưởng cả về Quân Sự – Kinh Tế – Ngoại Giao  mà Trung Công vừa tạo lập được, nhẳm để ép buộc các quốc gia khác hướng về những mục tiêu mà Trung Cộng mong muốn. Họ muốn Trung Cộng thiết lập một sự hiện diện quân sự, đặc biệt là HẢI QUÂN mở rộng hơn ở Tây Thái Bình Dương nhằm buộc Hoa Kỳ phải chấm dứt các hoạt động gần bờ biển của Trung Hoa.
•           HIỆN THỰC THẾ THỦ: Những người theo trường phái nầy đồng ý rằng, Trung Cộng nên có quân đội hùng cường. Nhưng, họ cho rằng nên giữ THUỐC SÚNG KHÔ và chỉ sử dụng nó chủ yếu để ngăn chận sự độc lập của Đài Loan.
Ngoài ra, một trường phái ủng hộ quan điểm “Chủ nghĩa Hiện Thực” có xu hướng lập luận giống như trường phái theo “Chủ nghĩa Bản Địa” rằng, nổ lực của Phương Tây muốn Trung Cộng tham gia nhiều hơn vào quản lý và quản trị thế giới, đó  là một cái bẫy nguy hiểm nhằm trói Trung Cộng lại, tận dụng tài nguyên của Trung Cộng đến cạn kiệt và làm chậm lại sự phát triển của nước ta.
3/ TRƯỜNG PHÁI CÁC “CƯỜNG QUỐC CHÍNH”:
Những thành viên của trường phái nầy có xu hướng cho rằng, Trung Cộng cần tập trung ngoại giao với các cường quốc trên thế giới và các khối: HOA KỲ – NGA – LIÊN MINH CHÂU ÂU. Nhưng họ không xem Ấn Độ, Nhật Bản và khối Asean là cường quốc, cuộc vận động hiện đại hóa Trung Cộng là định hướng của trường phái nầy. Hoa Kỳ và liên minh Châu Âu là nguồn chính các công nghệ tiên tiến và vốn đầu tư. Nga là trường hợp đặc biệt, được xem là nhà cung cấp lớn về các nguồn năng lượng và các thiết bị quân sự, một nơi để đầu tư và quan yếu với an ninh Trung Cộng. Do đó Trung Cộng lập luận việc duy trì mối quan hệ với Washington là ưu tiên hàng đầu của việc ngoại giao Trung Cộng. Tuy nhiên, một vài nhân vật cho rằng chánh sách đối ngoại của Trung Cộng phải được điều chỉnh và hướng tới một mối qua hệ chặc chẽ hơn với Nga.
4/ CHÂU Á TRƯỚC HẾT:
Trường phái “Châu Á trước hết” tin rằng, nếu vùng quan yếu Trung Cộng không ổn định, đó sẽ là một trở ngại chính cho sự phát triển của đất nước và an ninh quốc gia. Do đó, nên ưu tiên vào việc xây dựng các quan hệ và một môi trường ổn định khắp xung quanh ngoại vi Trung Hoa. Một học giả phát biểu: “MỖI CƯỜNG QUỐC PHẢI LO BẢO VỆ SÂN SAU CỦA MÌNH”. Họ lập luận không xem thường Châu Á so với các cường quốc khác, hay quan hệ của Trung Cộng đối với thế giới đang phát triển.
5/ TRƯỜNG PHÁI PHƯƠNG NAM TOÀN CẦU:
Trường phái “Phương Nam Toàn Cầu” (Global South) tin rằng, trách nhiệm của Trung Cộng là nằm trong thế giới đang phát triển và Trung Cộng tự coi mình là nước đang phát triển. Họ lập luận rằng, Trung Cộng nên đặt ưu tiên cho các nước đang phát triển nào mà lâu nay đã là đối tác và là khách hàng. Trung Cộng nên có chánh sách đối ngoại cân bằng hơn và ủng hộ lợi ích của những nước ấy. Chủ thuyết nầy được bộc lộ qua “Diễn đàn về hợp tác Trung Cộng – Châu Phi (FOCAC)” đưa ra chương trình “Viện trợ không ràng buộc”, giảm nợ và đặt gánh nặng về sự biến đổi khí hậu lên các nước đang phát triễn trong G-20. Đối với nhóm ủng hộ trường phái tư tưởng nầy cho rằng: Trung Cộng nên tiếp tục xem mình là một nước đang phát triển, bắt buộc phải hợp tác với các nước đó vì sự phát triển chung và lập trường quốc tế chung, ngay cả khi Trung Cộng đã ngoi lên được vị thế cường quốc toàn cầu.
6/ CHỦ THUYẾT ĐA PHƯƠNG CHỌN LỌC:
Trường phái “Đa phương chọn lọc” (selective multilateralisme) tin rằng, Trung Cộng nên mở rộng dần dần sự tham gia toàn cầu nhưng có chọn lọc, liên hệ trực tiếp đến lợi ích an ninh Trung Hoa. Họ chia ra làm nhiều nhóm lý luận khác nhau:
•           Nhóm nầy cho rằng Trung Cộng chỉ nên tham gia vào các hoạt động được LHQ ủy nhiệm.
•           Nhóm khác thì cho rằng Trung Cộng chỉ nên tham gia vào khu vực chung quanh lãnh thổ của mình và không đi quá xa.
•           Một nhóm khác nữa tin tưởng rằng, Trung Cộng không nên tự hạn chế việc tham gia vào các hoạt động đa quốc gia cùng với các cường quốc khác.
•           Một chuyên gia hàng đầu khác phản bác rằng: “Trung Quốc thậm chí chưa quản lý được mình thì làm sao có thể quản lý thế giới?”
•           Hầu hết các nhà phân tích Trung Cộng với sự đồng thuận của các trường phái tư tưởng kể trên cho rằng toàn bộ khái niệm: “Cai quản thế giới là cái bẫy của Phương Tây giăng ra để làm suy yếu chủ quyền của Trung Quốc.”
7/ CHỦ NGHĨA TOÀN CẦU:
Cuối cùng là trường phái “Toàn Cầu” (Globalism) tin rằng, Trung Cộng phải gánh vác trách nhiệm để giải quyết vấn đề quản trị thế giới tương xứng với tầm vóc, sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc. Về mặt triết lý, những người ủng hộ có xu hướng nghiêng về chủ nghĩa nhân đạo, ủng hộ toàn cầu hóa, ít đặt nặng chủ quyền quốc gia và tin rằng những thách thức xuyên quốc gia đòi hỏi đối tác xuyên quốc gia. Họ quan tâm đến “quyền lực mềm” không phải “quyền lực cứng” và đặt niềm tin vào ngoại giao và quan hệ đối tác liên khu vực. Họ ủng hộ và tin tưởng nhiều hơn các thể chế đa phương hơn là trường phái “Đa phương chọn lọc”. Họ nghĩ rằng, với sự trỗi dậy toàn cầu của mình, Trung Cộng có bổn phận đóng góp nhiều hơn nữa vào việc quản trị thế giới và hành sử như một cường quốc có trách nhiệm trên trường quốc tế.
NHỮNG CUỘC TRANH GIÀNH QUYỀN LỰC TRONG ĐẢNG CSTQ:
Tuần báo Outlook Weekly của đảng, số ra tháng 11/2009 có bài viết về “Quan điểm Hồ Cẩm Đào trong thời đại mới” (Hu Jintao’s viewpoints about the times) gồm 5 điểm do Zhang Xiaotong, một lý thuyết gia nâng bi của Đảng CSTQ viết:
1.         Sự thay đổi sâu rộng của thế giới.
2.         Xây dựng một thế giới hài hòa.
3.         Cùng nhau phát triển.
4.         Chia xẻ tách nhiệm.
5.         Nhiệt tình hợp tác vào công việc thế giới.
Giáo sư Wang Yukai nói quan điểm nầy là một học thuyết toàn diện với tầm nhìn hướng về quốc tế. Thật ra, sáng kiến của Hồ Cẩm Đào chẳng có gì là mới lạ chỉ là dung hòa tư tưởng của những trường phái kể trên mà thôi.
Nhưng, thực chất trong thời đại Hồ Cẩm Đào đã biến Trung Cộng thành tên Thực Dân Mới kinh tởm, một “HỌA DA VÀNG” của nhân loại trong thế kỷ XXI và dưới thời đại của hắn ta đã biến QĐND Trung Cộng nói chung và HQTC nói riêng là một loại HẢI TẶC SOMALIA BIỂN ĐÔNG chuyên đánh cướp những tàu đánh cá của ngư phủ Việt Nam đang đánh cá trong vùng lãnh hải của Việt Nam để cướp hải sản, giữ tàu và người đòi tiền chuộc mạng và dã man nhất là bắn giết những người ngư phủ VN hiền lành, vô tội không một tấc sắt để tự vệ, rồi quăng xác họ xuống hầm nước đá đông lạnh, chở về bến cảng của Tàu Cộng để khoe khoang thành tích vẽ vang của Hải Quân Trung Cộng anh hùng? Đây cũng là thời đại KHỦNG BỐ dã man các phong trào đòi Tự do – Dân chủ trong nước và của các dân tộc thiểu số Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông. Nhận định của Lobsang Sangay – học giả Harvard –  Tân Thủ tướng Lưu vong Tây Tạng là chính xác nhất : “Ở Tây Tạng không có XHCN mà chỉ có chủ nghĩa THỰC DÂN TRUNG CỘNG.”
Hiện nay, hệ thống chánh trị của Đảng CSTQ hiện nay chia ra làm 2 phe phái để tranh giành quyền lực:
•           Một bên là phe “dân túy” với cặp bài trùng Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo muốn cải thiện hệ thống an ninh xã hội và làm cân bằng việc phát triển giữa vùng duyên hải giàu có và các nông thôn trong nội địa nghèo khổ.
•           Còn phe phái bên kia là những người thuộc giới “tinh hoa”, có cả con cháu của những quan chức cao cấp thuộc dạng công thần của chế độ trước đây, họ thiên về gia tăng phát triển cho vùng duyên hải và thúc đẩy hơn nữa cho tăng trưởng kinh tế và tự do thương mại.
Sự phát triển của hai phe “dân túy” và “tinh hoa” đang gây ra tình trạng rạn nứt mới trong hệ thống lãnh đạo của Đảng CSTQ . Trước đây, các phe phái tranh chấp chỉ xảy ra trong nội bộ Đảng CSTQ và thường dựa vào yếu tố cá nhân. Nhưng hiện nay, những phe phái mới với chủ trương khác biệt về vấn đề kinh tế, chánh trị thực tiễn…nó đã vượt qua khỏi phạm vi nội bộ Đảng CSTQ. Theo nhận định của Cheng Li – một chuyên gia về Trung Cộng tại viện Brookings ở Washington DC – tiên đoán rằng, Trung Cộng sẽ xuất hiện hệ thống chánh trị “lưỡng đảng” hoặc “đa đảng” trong khoảng thập niên tới đây.
Nếu phe “Dân Túy”  củng cố được quyền lực sẽ báo hiệu mối quan hệ kinh tế với Hoa Kỳ và phương Tây sẽ gai góc hơn, sẽ có một Trung Cộng dân tộc chủ nghĩa hơn, sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc cải thiện môi trường đang suy thoái, hứa hẹn tăng ngân khoảng an sinh xã hội. Trong khi đó phe “Tinh Hoa” có thể tiếp tục theo môi hình hướng về xuất cảng, ưu tiên cho các thành phố, bỏ rơi vùng nông thôn còn nghèo khổ.
Những cuộc tranh chấp giữa 2 phe đã bung ra khỏi phạm vi nội bộ Đảng CSTQ từ mùa hè năm 2009. Một ủy viên BCT có quyền lực tên Wang Yang – Bí thư tỉnh Guangdong –
theo phe “Dân Túy” đã chỉ trích quan niệm phát triển bằng mọi giá của phe “Tinh Hoa”. Wang Yang nói các chỉ số kinh tế giữa năm 2009 đã bị gian lận. Hai tỉnh  của Hoa Lục  đã có tốc độ tăng trưởng tới 16% theo cái loa tuyên truyền của Đảng là tờ Nhân Dân Nhật Báo, nhưng thực tế cả nước chỉ tăng có 7%. Điều vô lý hơn nữa là 24 trong số 31 tỉnh đã báo cáo tốc độ tăng trưởng cao hơn con số trung bình  cả nước, rồi ông ta kết luận: “Một dữ kiện về GDP của chúng ta chắc chắn được TÔ HỒNG.” Tất cả chỉ là BỊP!
Cuộc đấu đá tranh giành quyền lực vẫn còn tiếp diễn, mặc dù Ủy viên BCT tên Tập Cẩm Bình (Xi Jingping) đã được Trung Ương Đảng CSTQ bầu làm Phó Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương, có nghĩa là họ Tập đang chuẩn bị Hồ Cẩm Đào sau ngày Đại Hội Đảng lần thứ XVII vào năm 2012. Họ Tập là con củamột lãnh tụ đầy quyền lực tên Xi Zhongxun là đồng chí của Đặng Tiểu Bình, ông nầy đả kích kịch liệt chống lại đa đảng. Vây Trung Cộng còn có cơ hội thay đổi không? Một Trung Cộng to con lớn xác, nhưng lục phủ ngũ tạng đầy những chứng bệnh nan y, chờ ngày biến chứng thành căn bệnh ung thư hết thuốc chữa.
THAM NHŨNG:
Tham nhũng bây giờ đã trở thành quốc nạn là mối quan tâm hàng đầu của nhân dân Trung Hoa. Theo BBC news ngày 19/6/ 2011 với đề tài “ CHINESE OFFICIALS STOLE $120 BILLION, FLED MAINLY TO USA” cho biết: “Các tham quan Trung Cộng có khoảng từ 16 đến 18.000 người đã ăn cắp tài sản của nhà nước 120 tỷ USD gởi ra nước ngoài, chủ yếu là Hoa Kỳ, Australia, Canada và Hòa Lan dưới danh nghĩa các khoản đầu tư bất động sản. Hoạt động tham nhũng được che đậy dưới nhiều hình thức như các giao dịch kinh doanh thông qua việc thành lập các công ty tư nhân để nhận tiền chuyển khoản. Theo báo cáo trên, tham nhũng ở Trung Cộng đã đến độ nghiêm trọng, có thể đe dọa đến sự ổn định kinh tế và chánh trị của Hoa Lục. Các tin tức liên quan còn cho biết: Bọn tài phiệt Trung Cộng còn che dấu khối tài sản gần 1/3 GDP của cả nước.
Credit Suisse vừa công bố một báo cáo vào tháng 8/2010 gây chấn động. Theo đó, những người giàu tại Hoa Lục che dấu khối tài sản trị giá hàng ngàn tỷ USD. Theo nghiên cứu kéo dài nhiều năm của tập đoàn tài chánh Thụy Sĩ, các hộ gia đình Trung Hoa còn che dấu khoảng 9.300 tỷ nhân tệ, tương dương khoảng 1.400 tỷ USA không báo cáo thu nhập cá nhân. Số tiền khổng lồ nầy, chủ yếu là bất hợp pháp tương đương với 30% tổng sản lượng quốc nội (GDP) của cả nước. Nhóm 20% dân nhà giàu sở hữu tới 81,3% của con số 1.400 tỷ USD.
Theo các nghiên cứu của Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Trung Cộng, số tiền ăn cắp của cán bộ từ các ngân sách công cộng đang gia tăng. Theo báo cáo của CASS 2005, có hơn 40 triệu hộ sở hữu bất động sản bị các quan chức tham nhũng tịch thu trái phép kể từ đầu năm 1990. Đảng CSTQ biết rằng, các tổ chức tranh đấu cho Tự do – Dân chủ lớn mạnh thì Đảng CSTQ sẽ mất đặc quyền, đặc lợi trong xã hội Trung Hoa về kinh tế và cuối cùng Đảng CSTQ sẽ có khả năng mất quyền lực chánh trị.
Lần đầu tiên, tờ Hoàn Cầu Thời Báo đưa tin: Quá trình đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế ở Trung Cộng diễn ra với tốc độ chóng mặt làm xã hội Trung Hoa mất định hướng trước thay đổi quá nhanh chóng nầy. Và cảnh báo tình trạng xuống dốc nghiêm trọng của đạo đức và tệ nạn tham nhũng, nạn hối lộ tràn lan từ trung ương đến địa phương. Sự xuống cấp trầm trọng của xã hội đến mức các đại gia có thể thuê sát thủ loại trừ lẫn nhau.
Tờ Courrier International nhận định trong một bài xã luận, tình hình rất trầm trọng trong xã hội Trung Hoa như lạm quyền, tham nhũng, hối lộ, bè phái… đã gây ra nhiều hệ lụy như bất công xã hội, tình trạng vô pháp, vô thiên, đàn áp đẫm máu, bắt bớ tùy tiện, trưng dụng đất đai cưỡng bức, môi trường ô nhiễm…chắc chắn Trung Cộng sẽ phải đối mặt với sự trỗi dậy của nhân dân Hoa Lục và sự sụp đổ toàn bộ hệ thống lãnh đạo của Đảng CSTQ.
KHOẢNG CÁCH GIÀU VÀ NGHÈO TRONG XÃ HỘI TẠI HOA LỤC:
GIAI CẤP NÔNG DÂN TẠI NÔNG THÔN:
Diện tích canh tác trên đầu người tại nông thôn, một khu vực có bình diện rộng lớn ở Hoa Lục đang thu hẹp dần vì kế hoạch công nghiệp hóa và đô thị hóa nông thôn của nhà nước và nạn cướp đất của bọn cường hào ác bá tại địa phương. Nông dân chiếm khoảng 70 – 80% dân số có số thu nhập rất thấp vì không còn đất để canh tác nên họ phải tha phương cầu thực, trôi giạt ra các thành phố lớn để bán sức lao động với giá rẻ mạt. Họ sống tập thể chui rúc trong các căn nhà ổ chuột, thiếu hẳn những tiện nghi tối thiểu. Nhà ở của họ chỉ là một căn phòng nhỏ, có một giường đơn cho cả người ngủ chung và không gian đủ cho một cái tủ nhỏ, cả 100 người chỉ dùng chung 3 nhà vệ sinh tại nơi tạm trú. Hiện nay, có từ 120 đến 200 triệu nông dân vào thành phố làm thuê, làm mướn. Nếu tính theo GDP/ đầu người thì họ được chia ra như sau:
•           Trên 150 triệu người chỉ làm được 1 USD/ ngày.
•           Trên 450 triệu người tức 36% dân số chỉ thu nhập được 2 USD/ ngày tức ở mức 700 – 800 USD/ năm.
Do quá tham vọng “đô thị hóa” (urbanization) của Trung Cộng nên xã hội Trung Hoa càng phân tán. Khoảng cách giữa giàu và nghèo, giữa các tỉnh thành dọc theo duyên hải phía Đông giàu có và vùng nông thôn trong nội địa nghèo khó. Trong tiến trình công nghiệp hóa, nông dân Hoa Lục bị mất dần ruộng đất ngày càng nhiều, nhưng tiền đền bù thiệt hại quá thấp. Theo báo cáo về xã hội nông thôn của Tiến sĩ Chen Quangjin – Phó Viện trưởng Viện Xã Hội học Trung Cộng nhận định: “Khi so sánh bất bình đẳng giữa nông thôn với đô thị, đặc biệt trong bối cảnh khó khăn bức bách ở nông thôn, người nông dân phải tìm lối thoát ra đô thị. Loại trừ xã hội với cư dân nông thôn tới các đô thị, thị trấn là một thực tế, xuất phát chủ yếu từ chế độ quản lý hộ khẩu giữa đô thị và nông thôn,” ông khẳng định. “Tại nhiều nơi ở Trung Quốc, chính quyền địa phương vẫn còn phân biệt hộ tịch giữa nông thôn và đô thị. Việc nầy gây nên xã hội BẤT BÌNH ĐẲNG dẫn tới nhiều cuộc xung đột bạo lực chống đối cá nhân hoặc tập thể đối với việc thu thuế nông nghiệp và trưng thu ruộng đất.”   
Nhà bỉnh bút Rana Foroohar thuộc tuần báo Newweek nói: “Chỉ cần khoảng 50 phút lái xe ra khỏi Bắc Kinh, quang cảnh hoàn toàn đổi khác. Trong lúc tầng lớp trung lưu sống thoải mái với thu nhập 10.000 USD/ năm thì có tới 36% trong số 1.3 tỷ dân Tàu sống chỉ với 1 USD/ ngày.”
Theo Nan Zhenzhong – Phó Chủ tịch Ngoại Vụ của Quốc Hội TC – nói: “Trên thế giới, Ấn Độ đứng đầu số dân nghèo và Trung Quốc đứng thứ nhì. Theo nghĩa đó, Trung Cộng là quốc gia đang mở mang trên bình diện phát triển của Quốc tế.” Riêng về mặt giáo dục, tính ra một học sinh con của nông dân khi học xong 4 năm đại học thì cha mẹ phải nhịn ăn, nhịn mặc tới 20 năm mới đủ tiền trả học phí. Vì nghèo nên con em nông dân bỏ học ngày càng nhiều, số sinh viên đại học là con em nông dân ngày càng giảm. Nhiều em phải lâm vào cảnh  ngộ mà báo chí Hoa Lục gọi là “công nhân nô lệ” như một số trẻ em là nô công tại các lò gạch tại địa phương thuộc tỉnh Sơn Tây.
Một gia đình nông dân vào thành phố làm thuê, khi người vợ bị bệnh nặng chữa chạy không khỏi, người chồng đã phải ký một hợp đồng với bệnh viện cam kết trả nợ trong vòng 106 năm. Mỗi năm phải trả góp 5.000 NDT.
TẦNG LỚP TƯ SẢN MỚI TẠI CÁC THÀNH PHỐ:
Tại Bắc Kinh, các tỷ phú Trung Hoa đang tiêu tiền như rác. Tiền đối với họ chẳng là vấn đề gì cả. Các show room xe hơi siêu sang trọng và chọn mua những chiếc xe có giá 7 – 8 triệu nhân dân tệ (khoảng 1 triệu USD) và trả bằng tiền mặc ngay sau đó.
Theo Hurun Report có trụ sở tại Thượng Hải, mới đây đã công bố danh sách 1.000 người giàu nhất tại Hoa Lục. Rất nhiều trong số họ phất lên nhờ bất động sản và chứng khoán và 130 người trong số đó là tỷ phú USD. Tính đến tháng 9/ 2010, tổng số tài sản của 1.000 người này có khoảng 571 tỷ USD. Người giàu ở Trung Cộng tăng lên với tốc độ chóng mặt, vì thế nhu cầu hàng hóa cao cấp xa xỉ của thế giới tăng vọt, để đáp ứng nhu cầu thỏa mãn thị hiếu của người giàu Hoa Lục. Không giống như giai cấp trung lưu của vốn đang chịu đựng nạn lạm phát cao, còn những người giàu Trung Cộng không hề cảm thấy áp lực đó đối với đời sống của gia đình họ.
Hảng xe BMW cũng sở hữu thương hiệu Rolls-Royce gần như tăng gắp 4 lần lợi nhuận quý đầu trong năm nay là một phần nhờ vào nhu cầu gia tăng từ Trung Cộng. Ngoài ra, BMW còn thiết lập một danh sách dài, liệt kê các thương hiệu hàng cao cấp hàng đầu thế giới, nhờ vậy mà lợi nhuận cũng tăng vọt. Theo Barclays Capital, hiện toàn Trung Cộng đang mua 12% hàng hóa xa xí phẩm của thế giới.
Theo báo cáo của Merrill Lynch, hiện Trung Cộng có khoảng 500.000 triệu phú USD cao hơn 31% so với với năm 2008. Có người nói rằng, tại Hoa Lục có khoảng 300.000 người có thể mua phi cơ riêng. Nguồn tin khác còn cho biết có tới 90% người giàu Trung Cộng là con em cán bộ cao cấp và nó đã đào sâu thêm cái hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo trong một xã hội Hoa Lục đầy ắp những mâu thuẩn.
XÃ HỘI CĂNG THẲNG BẤT ỔN:
Mầm mống bạo loạn trong lòng xã hội Hoa Lục càng ngày lan rộng trên phạm vi cả nước. Chỉ riêng trong năm 2010, Đảng và Nhà nước CSTQ thống kê có khoảng 100.000 vụ bạo động dữ dội và biểu tình chống chánh phủ. Những vụ bạo động vẫn tiếp tục nổ bùng ác liệt ngày càng gia tăng từ đầu 2011 tới nay do tình trạng bất mãn và căng thẳng xã hội.
Báo Le Firago của Pháp số ra ngày 15/6/ 2011 có bài viết của đặc phái viên tại Bắc Kinh cho biết: Trong những năm gần đây, tại Hoa Lục mỗi năm xảy ra hàng chục ngàn vụ bạo động, xung đột xã hội ngày càng diễn tiến phức tạp và những người tham gia vào các phong trào tranh đấu bị lực lượng an ninh gia tăng bạo lực trấn áp dã man  khiến Đảng CSTQ từ trung ương đến tỉnh, huyện, xã…như ngồi trên đống lửa.
Theo báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển thuộc Quốc Vụ Viện Trung Quốc công bố ngày 14/6 cảnh báo: Nếu bất ổn xã hội không được giải quyết kịp thời thì mối đe dọa an ninh sẽ ngày càng nghiêm trọng, nhất là số người lao động di cư từ nông thôn lên các thành phố có khoảng 153 triệu người, đang trở thành một vấn đề lớn lao,” báo cáo nầy nhấn mạnh. “Người lao động nhập cư đang đứng bên lề xã hội trong các thành phố, họ bị xem như là lực lượng lao động rẻ tiền, không được hội nhập và thậm chí còn bị phân biệt đối xử.
Cảnh báo thực trạng trên được đưa ra chỉ vài ngày sau sự kiện hàng chục ngàn công nhân, nhập cư từ các nhà máy đổ về tấn công các đồn cảnh sát và đốt phá nhiều xe của lực lượng an ninh ở thủ phủ Quảng Châu của tỉnh Quảng Đông. Họ bất bình vì một phụ nữ bán hàng rong đang mang thai bị cảnh sát xô ngã. Ở một thành phố khác xảy ra một vụ xung đột tương tự sau khi một công nhân bị đâm trọng thương, trong lúc đòi tiền công lao động. Cùng thời điểm trên tại tỉnh Hồ Bắc có hơn 1.500 người đã đụng độ với cảnh sát trong lúc họ biểu tình đòi làm rõ cái chết đáng nghi ngờ của ông Nhiễm Kiến Tân – nguyên Cục Trưởng Cục Phòng Chống Tham Nhũng của thành phố Lợi Xuyên – ông là người hết mình ủng hộ dân chúng trong vụ thưa kiện đất đai bị tịch thu làm dự án. Trong khi đó, tại khu vực tự trị Nội Mông đã xảy ra cuộc biểu tình chưa từng có của giới sinh viên và chăn nuôi cừu để phản đối tình trạng khai thác quá mức quặng mỏ và chánh quyền không quan tâm đến bản sắc văn hóa cũng như môi trường sống của họ.
Theo tờ Le Monde, sự nổi loạn của người lao động nhập cư đã phản ảnh nỗi bất mãn của những người thuộc tầng lớp thua thiệt trong nền kinh tế phát triển thần kỳ của Trung Cộng, cũng như bộc lộ sự bất cập trong chánh sách độ thị hóa không bảo đảm quyền lợi căn bản của dân nhập cư. Và một khi sự kiện bức xúc xảy ra luôn lôi kéo nhiều người tham gia, chứng tỏ sự chống đối đã âm ỷ từ lâu trong lòng chế độ. Nhờ sự tiếp cận nhiều thông tin phổ biến trên Internet, họ đã đứng lên phản kháng chế độ vì không chấp nhận mãi sự bất công, tham nhũng, phân hóa giàu nghèo, những hành vi lạm quyền của cảnh sát…những sự hủy hoại môi trường sống, tình trạng hạn hán, khí hậu khắc nghiệt, đất đai bị tịch thu cưỡng bức tràn lan và thực phẩm nhiều độc chất không an toàn làm người dân phẩn nộ khi phải đối mặt thường xuyên với cuộc sống  ngày càng tồi tệ chung quanh mình.
III. KẾT LUẬN:
Trung Cộng luôn nuôi tham vọng thống trị thế giới bằng chủ nghĩa “thực dân mới” đã tăng chi tiêu về quân sự ngay từ năm 2010. Nhưng, ngân sách của Trung Cộng dành cho ngành an ninh nội địa đã tăng nhanh vượt qua chi tiêu về quân sự trong năm 2011. Đây là số liệu vừa được Bắc Kinh công bố ngày 5/3/ 2011: Theo báo cáo của Bộ Tài Chánh Trung Cộng trước Quốc Hội, cả thế giới không ngờ rằng: vào năm 2010, chi phí dành cho công việc duy trì pháp luật và nền an ninh trật tự nội địa tăng lên đến 548,6 tỷ NDT (83,2 tỷ USD). Như vậy, con số nầy đã vượt qua ngân khoảng chi tiêu về quốc phòng được ước tính là 533,5 tỷ NDT (81,2 tỷ USD).
Theo các nhà quan sát, dĩ nhiên là ngân sách quốc phòng và an ninh nội địa trên thực tế cao hơn nhiều so với con số được công bố vì những nhu cầu chi phí dùng cho công tác tình báo, giám sát theo dõi bí mật…chánh quyền Bắc Kinh không tiết lộ cụ thể các khoản chi của ngân sách khổng lồ nầy. Nhưng, một số nhà quan sát đã căn cứ vào phát biểu của Ôn Gia Bảo ngày 5/3 cho rằng, một phần sẽ được dùng vào việc kiểm soát Internet. Trong bản báo cáo chánh trị, Ôn Gia Bảo đã đã xác định: “Chúng ta sẽ củng cố và cải thiện hệ thống an ninh công cộng. Chúng ta sẽ cải thiện hệ thống phản ứng khẩn cấp và nâng cao năng lực của xã hội trong việc giải quyết khủng khoảng và hạn chế rủi ro. Chúng ta sẽ tăng cường an toàn bảo mật thông tin và cải thiện việc quản lý của cách mạng thông tin.”
Việc gia tăng ngân sách chi tiêu dành cho ngành an ninh nội địa, đã cho thấy các nhà lãnh đạo Trung Cộng hết sức lo sợ về nguy cơ xã hội sẽ trở thành bất ổn giống như những gì đã và đang xảy ra tại Bắc Phi và Trung Đông, vì bản chất của tất cả các chế độ ĐỘC TÀI – THAM NHŨNG – THỐI NÁT đều giống nhau sẽ làm quần chúng phẩn nộ. Trung Cộng đang đứng trước nguy cơ xã hội căng thẳng và bất ổn định. Vì vậy, bọn lãnh đạo Bắc Kinh sẽ không từ bỏ bất cứ biện pháp nào để triệt tiêu các phong trào đòi “Tự Do – Dân Chủ” tại Hoa Lục, rập khuôn theo kiểu “CÁCH MẠNG HOA LÀI” trong thế giới Á Rập và sẵn sàng chi ra ngân sách khổng lồ phục vụ cho an ninh nội địa để củng cố quyền lực thống trị của Đảng CSTQ.
Một số học giả Trung Hoa cho rằng, guồng máy an ninh nội bộ khổng lồ của Trung Cộng đã tiêu tốn một nguồn ngân sách đáng kể. Đáng lẽ ra, nó phải được sử dụng một cách hữu ích hơn vào việc nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện các dịch vụ công cộng như an sinh xã hội. Chính điều nầy mới có khả năng giải quyết tận gốc rễ căn nguyên của tình trạng bất ổn xã hội đang làm cho Đảng CSTQ lo sợ.
Nhưng, tương lai chế độ Cộng Sản Trung Quốc sẽ sao?  Giáo sư Lưu Hiểu Ba – nhà ly khai – đồng tác giả Hiến Chương 08 xác quyết: “Cái lòng yêu nước chính thức mà Đảng CSTQ vinh danh chẳng qua là yêu cầu nhân dân ủng hộ một chế độ và một đảng độc tài,” ông nói. “Tương lai của nước Trung Hoa không tùy thuộc vào những cái lệnh độc đoán phát xuất từ giới cầm quyền mà sẽ được quyết định từ những lực lương mới càng ngày càng phát triển trong nhân dân.”
Nhà báo kiêm giáo sư Đại Học Nhật Bản và Hong Kong WILLY LAM kết luận: Thái độ chà độ công lý của chế độ CSTQ, cộng với bất công xã hội, phân hóa giàu nghèo đã chèn ép người dân Hoa Lục bấy lâu nay, càng làm họ ghê tởm hơn. Thủ đoạn “sát kê dọa hầu” (giết gà nhát khỉ) của Bắc Kinh lần nầy sẽ không hiệu quả. Dù chính quyền Bắc Kinh có chi ra nhiều ngàn tỷ NDT để tăng cường bộ máy công an bảo vệ chánh trị, đó là những dấu hiệu rệu rã của chế độ đã lộ rõ với hơn 10.000 người ký vào Hiến Chương 08 kể từ năm 2010 cho tới nay, cộng với hàng ngàn vụ nỗi dậy chống chánh phủ của các dân tộc thiểu số Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông đòi Độc Lập Dân Tộc. Chế độ CSTQ đang lâm vào ngõ cụt…
Tổng hợp các tài liệu, phân tách và nhận định.
Nguyễn Vĩnh Long Hồ
Người lính thủ QUỐC KỲ VNCH
KBC 3402  

About the author
Leave Comment