Thái Lan

Tổng hợp bài viết về Giáng Sinh-THÁILAN

Câu chuyện về lễ Hanouka: Năm đối với năm

 TháiNữLan dịch

Đôi vợ chồng Spitzer phải đợi ngót mười năm mới có con được. Sau mười năm, bỗng dưng họ lại có đến năm đứa con: người vợ đã sinh năm. Trước khi các bé chào đời, cuộc sống của họ rất khiêm tốn, vì khả năng hạn hẹp, rồi khi gia đình thành bảy miếng ăn, thì cảnh túng quẫn lại càng bi thảm hơn. Ở bang Florida, quanh khu gia đình Spitzer sinh sống, có một phụ nữ lớn tuổi rất khá giả là bà Gordon. Bà nghe nói đến gia đình nghèo khổ ấy, và quyết định cứu giúp họ bằng cách tặng cho họ những số tiền khổng lồ.

Một hôm, bà Gordon muốn đến thăm sản phụ. Bà muốn gặp gia đình mà bà đang trợ giúp. Vừa bước vào nhà, bà nhìn thấy một tấm hình chân dung treo ở tường. Bà đến gần nhìn cho kỹ, bỗng ngất xỉu và ngã xuống. Xe cấp cứu phải chở bà đến nhà thương.

Ngày hôm sau, người mẹ mới sinh đến thăm bà, vì bà ấy đã cứu giúp gia đình họ rất nhiều .Người mẹ trẻ không thể hiểu được điều gì đã làm cho vị ân nhân xúc động đến như vậy khi nhìn thấy bức hình của mẹ mình.

Bà Gordon rất cảm động khi thấy người khách đến thăm mình, và sự xúc động ấy lại càng gia tăng thêm khi biết rằng bà Spitzer chính là con gái của người đàn bà trong tấm ảnh.

“Nhờ mẹ của cháu mà ta còn sống đến ngày hôm nay”.

Bà ấy tâm sự, và bắt đầu kể câu chuyện của mình.image.png

Trong thời kỳ Thế Chiến Thứ Hai, ta bị bắt làm tù binh ở trại tập trung Bergen-Belsen. Nhóm của ta là một nhóm nhỏ, gồm những bé gái từ 14 đến 16 tuổi. Cho dù cuộc sống đầy khổ hình trong trại địa ngục ấy, tất cả chúng ta đều quyết tâm phải đạt được càng nhiều Mitsvot càng tốt (Mitsva – số nhiều là Mitsvot:  quy định về hạnh kiểm trong Do Thái giáo).

Vài ngày trước lễ Hanouka, ta và các bạn đã chuẩn bị khẩu phần bơ thường ngày, những phần rất khiêm nhường, để sử dụng thay cho dầu thắp sáng. Chúng tôi đã lấy ra vài sợi chỉ từ quần áo để xe thành bấc nến. Sau đó chúng tôi cần dụng cụ để bỏ bơ và bấc vào.

Chúng tôi chọn vỏ khoai tây để dùng cho mục đích đó. Nhưng ngay cả việc làm sao để có được “dụng cụ” đó, chúng tôi phải thật can đảm và bạo gan. Chúng tôi phải chạy ra khỏi căn trại dùng làm nơi trọ rồi đến nhà bếp để ăn cắp khoai tây.

Trong giai đoạn dò xét được thực hiện sau đó, chúng tôi khám phá rằng trong suốt 24 tiếng một ngày, thì có một khoảng thời gian chừng năm phút sẽ không có người canh gác ở cửa bếp: từ nửa đêm đến quá nửa đêm 5 phút. Thế là năm đứa con gái quyết định mạo hiểm sinh mạng của mình để cố lấy cho được mớ khoai tây quý giá kia. Và ta là một trong năm đứa đó.

Nhưng thật không may cho chúng tôi, chúng tôi bị bắt. Người gác đêm phát hiện ra chúng tôi, ghi tên và số tù rồi hống hách tuyên bố rằng ngày mai chúng tôi sẽ bị hành hình bằng cách treo cổ trước mặt tất cả những nữ tù nhân ở trại. Để cho tất cả mọi người học được bài học.

Ở trại của chúng tôi có một cô gái Do Thái không sống cùng với đám con gái khác trong các lều trại. Cô ấy thông thạo nhiều ngôn ngữ, và bọn Đức giao cho cô một công việc đặc biệt: cô phải lắng nghe tường trình về những thông tin ở các đài phát thanh nước ngoài rồi dịch lại cho mấy tên sĩ quan. Nhờ công việc ấy cô được sống trong một lều trại riêng biệt, nơi đó cô hưởng được nhiều đặc quyền.

Thế là giữa đêm khuya chúng tôi lén đến lều của cô ta. Căn lều chìm trong bóng tối, nhưng một điệu nhạc rất mơ hồ đưa chúng tôi vào đến một khoảng đất trống bên cạnh căn lều. Chúng tôi ngạc nhiên xiết bao khi thấy cô đốt một ngọn nến Hanouka và hát bài Maoz Tsour (Theo Hồi Giáo, đến lễ Hanouka — lễ này thể hiện sự bành trướng không ngừng của đức tin Do Thái – trong suốt mùa lễ, mỗi đêm họ hát hai bài chính ngay sau khi thắp nến: Maoz Tzur và Hanerot Halalu).

Vừa nhìn thấy những bằng chứng về Do Thái giáo, chúng tôi rất phấn khởi. Chúng tôi nói chuyện với cô ta và khẩn nài xin cô cứu giúp chúng tôi. Nhưng cô ấy không muốn nghe. Cô khiển trách chúng tôi và yêu cầu chúng tôi phải rời khỏi nơi ấy ngay.

Hôm sau, ngày đầu tiên của lễ Hanouka, vào buổi chiều, tất cả nữ tù nhân trong trại đến tập trung ở quảng trường để chứng kiến vụ hành quyết năm cô gái. Sự căng thẳng và nỗi kinh hãi lên đến cực điểm. Mỗi cô gái đứng trên một cái ghế, một chiếc thòng lọng quẩn quanh cổ. Khi tên sĩ quan bước đến, hắn đọc tên của chúng tôi, kèm theo câu “ là những tên tội phạm mưu toan ăn cắp khoai tây”.

Những tên đao phủ được giao việc hành hình đang chờ lệnh để đạp vào ghế của chúng tôi để đưa chúng tôi vĩnh viễn sang thuợng giới. Bỗng dưng, cô nữ thông dịch viên đến gần tên sĩ quan và rỉ vào tai hắn điều gì đó. Cô ấy khoa tay rất nhiều lần, và lộ vẻ rất lo âu. Viên sĩ quan có vẻ bối rối và không mấy hài lòng về những điều cô ấy vừa nói. Tuy nhiên ông ấy cũng hạ lệnh cho tháo dây thừng ở cổ chúng tôi ra và bắt buộc chúng tôi phải biến đi ngay.

*

Bà Gordon hít vào một hơi thật dài, lau hàng nước mắt chảy dài trên đôi má. “Một thời gian không lâu sau điều thần diệu xảy đến cho chúng tôi vào lễ Hanouka, tất cả các nữ tù nhân ở Bergen-Belsen đã được phóng thích. Cuộc chiến đã kết thúc, mà chúng tôi cũng không có cơ hội để cám ơn vị ân nhân đã cứu mạng tôi. Cô ấy luôn luôn đi theo tôi. Tôi đã không thể nào quên cô ấy được. Rồi bỗng nhiên, tôi tìm ra được cô ấy – ngay trên tường nhà của cháu đây.

Giờ đây, đến lượt người sản phụ bị xúc động. Cô nói tiếp theo để đem phần kết cuộc cho câu chuyện ấy:

“Buổi tối trước khi cháu sinh, cháu thấy mẹ cháu hiện ra trong giấc mơ và nói bằng tiếng Yiddish (ngôn ngữ của người Do Thái): “Finf fur finf” (Năm chống với năm). Cháu hỏi mẹ cháu: “Mẹ ơi, Mẹ muốn nói gì vậy? Bà không trả lời câu hỏi của cháu. Ngày hôm sau, cháu đã sinh được năm em bé. Cháu nghĩ rằng mẹ cháu muốn ám chỉ đến việc cháu sẽ sinh năm. Lúc đó cháu không hề biết căn cứ vào đâu mà cháu có quyền hạ sinh được năm bé như vậy. Nhưng bây giờ thì cháu đã hiểu…”

TháiNữLan dịch

CÂU CHUYỆN SAU ĐÊM GIÁNG SINH–  KHUYẾT DANH- TL dịch

Một khi những người chăn chiên đã ra đi và mọi việc đã trở nên yên tĩnh trở lại, em bé trong máng cỏ ngẩng đầu lên và nhìn về phía cánh cửa hé mở. Một cậu bé đang đứng đó, e dè bẽn lẽn… rụt rè và sợ sệt.

– Đến đây nào cậu bé, Chúa Giêsu bảo. Tại sao con e sợ đến vậy con?

– Dạ bẩm, con không dám…Con không có gì để tặng ngài cả, cậu bé trả lời.

– Ta ước mong biết bao cậu sẽ tặng cho ta một món quà, bé sơ sinh nói.

Cậu bé xa lạ đỏ mặt lên vì hổ thẹn.

– Thật sự con không có gì cả , thưa ngài… con không sở hữu được bất cứ gì cả ạ; nếu như con có món gì, con sẽ tặng ngài …ngài xem đây ạ.

Rồi moi móc lục lọi trong hai túi quần vá chằm vá đụp của mình, cậu bé lôi ra một lưỡi dao cũ đã rỉ sét .

– Dạ con chỉ có chừng này thôi, nếu ngài muốn con xin tặng ngài ạ.

– Không đâu, con cứ giữ đi, chúa Giêsu trả lời. Ta muốn những thứ khác của con kia. Ta muốn con cho ta ba món quà.

– Con rất hân hạnh, thưa ngài, cậu bé nói, nhưng con sẽ làm gì cho ngài ạ?

– Hãy tặng ta hình vẽ sau cùng của con đi.

Vẻ mặt của cậu bé trở nên lúng túng và đỏ rần lên . Cậu ta bước đến gần mạng cô và để tránh cho Mẹ Marie và  Thánh Joseph không thể nghe mình nói gì, cậu thì thầm vào tai Chúa Hài Đồng Giêsu:

– Thưa ngài, con không thể.. hình con vẽ quá tệ hại xấu xí..không ai muốn nhìn thấy đâu ạ!

-Con ạ, chính vì nó xấu nên ta mới nói con đưa cho ta, em bé trong máng cỏ trả lời…Con phải luôn luôn tặng cho ta tất cả những gì người khác gạt bỏ đi, và những gì  mà con cũng không ưa thích.

-Và nữa nè, ta muốn con đưa cho ta cái đĩa của con, em bé tiếp tục.

  -Nhưng mà sáng nay con đã làm bể đĩa mất rồi, thưa ngài! chú bé ấp úng trả lời.

– Bởi vì vậy nên ta muốn con đưa cho ta… Con luôn phải tặng cho ta tất cả những gì bị gãy bể trong suốt cuộc đời của con, ta muốn dán chúng lại…

– Còn bây giờ con hãy lập lại cho ta nghe con đã trả lời ba mẹ con như thế nào khi họ hỏi lý do làm sao con đã làm bể cái đĩa,  

Chúa Giêsu nhất định hỏi để xem chú bé kể lại sự việc ra sao… Chú bé liền sa sầm nét mặt, cúi mặt xuống, xấu hổ và nói thì thầm một cách buồn bã:

-Con đã nói dối.. con đã nói rằng vì sơ ý nên cái đĩa đã tuột khỏi tay con; nhưng sự thật thì không phải như thế.. Lúc đó con đang tức giận và con đã đẩy mạnh cái đĩa cho nó rớt xuống nền gạch hoa và đã vỡ ra!

– Con ạ, đó chính là điều ta muốn con thổ lộ ra! Chúa Giê Su nói. Con hãy giao hết cho ta tất cả những thứ xấu xa phiền toái trong cuộc đời của con, nào là những điều dối gian, những lần vu khống, những sự hèn nhát và những điều ác độc của con. Ta muốn con hay trút hết những gánh nặng đó cho ta…Con không cần đến những thứ đó… Ta muốn làm cho con luôn hạnh phúc vui sướng và con hãy nhớ rằng ta luôn luôn tha thứ cho những lỗi lầm của con, con ạ.

Rồi vừa ôm hôn cậu bé vì đã tặng mình ba món quà đó, chúa GiêSu nói:

– Bây giờ thì con đã biết đường dẫn đến Trái Tim của ta rồi, ta ước mong mỗi ngày con đều đến thăm ta con nhé.
KHUYẾT DANH- Thailan dich

NẾU NHƯ ÔNG NOEL QUÊN GHÉ THÌ?

TL dịch theo lời kể CÂU CHUYỆN THẬT của bà ngoại bạn Mone Dompnier 

 Kính nhớ các bác các chú, những ngày tháng dài ở miền Bắc đồng khô cỏ cháy núi rừng hiểm độc…đã thiếu miếng đường, như cô bé Sylvie năm 1900 trong câu chuyện thật này,

Và kính tặng tất cả

 những ruột thịt  Đất Mẹ, sau năm 75…

Một buổi sáng Giáng sinh. 

Dưới gốc cây thông, những tờ giấy màu bị xé toạc, những chiếc hộp mở toang cả ra, và bọn trẻ thì phấn khích giữa bao nhiêu là quà mà ông già Noel mang đến cho chúng vào đêm qua.

Bà tôi thì ngồi hơi xa một chút, đang mỉm cười khi thấy niềm hạnh phúc và sự ngạc nhiên vui thích của các cháu.

– Bọn nhỏ này được cưng chiều quá chừng, bà nói khẽ, có vẻ như bà sợ rằng tôi sẽ nghĩ bà trách móc khi thấy vô số đồ chơi và những thiết bị tân thời cho những môn chơi trên máy như thế.

Đúng là tôi không thể cưỡng lại để lựa chọn khi lướt qua các món ở cửa hàng đồ chơi. 

Là thú vui của tôi khi chọn từng món đồ và chắc chắn sẽ khiến các con reo lên vì thích thú.

Đem giấu tất cả những món ấy đi. Rồi cuối cùng sắp chúng dưới gốc cây thông, với niềm nôn nao chờ đợi giây phút bọn nhỏ thức dậy và khám phá-

– Cháu biết không, bà vẫn nhớ một Giáng sinh từ thời thơ ấu.

Từ rất lâu lắm rồi…

 *******

Một đêm đầy sao, lạnh cóng. Một cô bé trằn trọc, quay qua quay lại trên giường, quá bồn chồn để có thể nhắm mắt.

 Ở trường, chiều nay cô giáo đã kể về ông già Nô En, các chú tuần lộc và chiếc xe trượt tuyết của ông ấy, những món quà ông phân phát cho trẻ em.

– Và chẳng mấy chốc, ông sẽ đi qua tất cả các trang trại của làng. Nếu con đã tỏ ra ngoan ngoãn trong suốt năm học, ông ấy sẽ mang đến cho con một món quà vào đêm Giáng sinh. Nhưng các con đừng quên đặt đôi guốc của mình trước lò sưởi con nhé…

Bọn trẻ nghe cô giải thích, vẻ kinh ngạc. Cô giáo trẻ của họ đến từ thành phố, cô ấy biết rất nhiều, cô ấy không thể sai được.

Vì vậy, khi Sylvie về nhà cũng kể mọi chuyện cho cha mẹ và các chị nghe, và em cũng mang đôi guốc gỗ của mình đặt ngay ngắn trước lò sưởi, như lời cô giáo đã dặn dò.

  Nhưng sau khi làm điều đó, bé cũng có vẻ bồn chồn lo âu.

– Nếu ông già Nô En quên đến nhà mình thì sao? Trang trại của chúng ta ở trên dốc rất cao của ngôi làng. Có lẽ ông Nô En sẽ không nhìn thấy nhà của ta đâu, Ba Mẹ ạ.

– Bé cưng của mẹ, con đừng lo, con ạ. Trước khi đi ngủ, ba mẹ sẽ máng đèn lồng ở cửa chuồng ngựa nhe con. Đôi mắt các chú tuần lộc rất tinh tường, chúng sẽ nhìn thấy, con yên tâm nhé con.

Đêm ấy, cô bé Sylvie thật khó mà dỗ giấc ngủ. Nếu như mình vẫn còn thức, có lẽ mình sẽ nghe  

tiếng ông già Nô En và chiếc xe trượt tuyết với tiếng chuông rung trên con đường đầy tuyết nè ha.  

Nhưng cô chỉ nghe thấy những lời thì thầm, tiếng cười thật khẽ vọng lên từ dưới nhà bếp.

Cô bỗng nhìn thấy một tia sáng vàng rọi lên ở khe gỗ sàn nhà. Và nhìn lên ô kính cửa sổ,

những hạt bông tuyết lấp lánh thật đẹp. Cha cô đã treo đèn lồng lên rồi.

Sylvie mỉm cười, yên tâm. Và rồi cuối cùng đêm tối cũng mang bé đi vào giấc mộng đẹp…

Khi cô mở mắt ra…  “Ôi, hôm nay là Giáng sinh rồi!” “.

Một niềm hy vọng to lớn làm tim cô đập rất mạnh. Vẫn còn đang mặc áo ngủ, đi chân trần, cô

chạy ngay đến đôi guốc của mình, và nhìn thấy góc một chiếc khăn tay ca rô màu xanh trắng nhô ra, giống như khăn của cha mình.

– Ôi, con có quà nè !  Ông Nô En đã tặng con một món quà! Cha ơi, Mẹ ơi!

Bên trong chiếc khăn tay…là một miếng đường thật to! Chỉ của mình con thôi phải không? 

– Cha nhìn này! Có phải thật sự là của riêng con không?

– Ôi, đúng rồi đó con. Chắc là ông già Nô En biết rằng con là một đứa bé rất thích ăn quà đó con.

Các chị của cô bé cười vang khi thấy bé vui thích. Họ biết rằng thỏi đường mà cha để bên trong chạng thức ăn được bọc cẩn thận trong một chiếc khăn, là nỗi thèm thuồng của cô bé mỗi khi cha cô lấy con dao nhíp nạo một miếng nhỏ cho bé, đôi mắt bé sáng lên như muốn nói cha cho thêm tí nữa… Sau đó cô bé liếm ngấu nghiến những đầu ngón tay một cách tiếc nuối…

 Vậy mà giờ đây cô sở hữu nguyên cả một miếng thật to, chỉ riêng cho mình cô thôi! 

– Đừng ăn hết một lần con ạ, cha bảo cô bé.

Ôi không, đẹp quá, ngôn tuyệt quá, phải kéo dài niềm hạnh phúc này càng lâu càng tốt. Mở khăn tay ra và rón rén liếm cục đường nhiều lần trong ngày thật vui thích biết bao!

Cô bé nóng lòng chờ đợi cho hết ngày lễ để kể về món quà của mình cho cô giáo, một người thầy biết rất nhiều câu chuyện tuyệt vời.

Và rồi… Khi cô giáo vừa cười vừa hỏi bọn trẻ về kỳ nghỉ lễ của chúng, thì Sylvie là người rất nóng lòng nên đã lên tiếng trước, cô bé có rất nhiều điều để kể. Chiếc đèn lồng trong đêm, chiếc khăn tay trắng xanh, miếng đường… 

Nhưng, đến khi cô kể xong câu chuyện và im tiếng thì tất cả bạn bè cô bé trở nên im lặng một cách kỳ lạ.

Ở ngôi làng miền núi này, nơi mà sự nghèo đói, thậm chí khốn khổ, đã càn quét toàn vùng, thì chỉ có Sylvie được Ông già Noel đến thăm vào ngày 25 tháng 12. Những đôi guốc của bạn bè cô bé vẫn trống rỗng một cách đáng thương trước lò sưởi.

– Có lẽ chúng ta không ngoan như lời ông Nô En dặn dò rồi, cô bé Marie thốt lên một cách buồn bã.

Trên bục giảng, nụ cười cô giáo bỗng trở nên héo hắt và đôi mắt cô đẫm lệ…

Tôi cũng nhìn thấy đôi mắt của Sylvie ướt đẫm khi bà vừa kể cho tôi nghe ngày ấy

niềm hạnh phúc của bà bỗng chốc tan biến khi nhận thấy nỗi buồn của các bạn trong lớp , những người khốn khổ mà ông Nô En đã quên ghé nhà chúng.

Ôi bài học về cuộc đời mà bà Ngoại đã truyền cho tôi qua câu chuyện trên thật quý hóa biết dường nào!

Bà có biết chăng món quà Giáng Sinh mà bà vừa ban tặng cho tôi mang ý nghĩa như thế nào đối với tôi không?

 Con xin dâng tặng câu chuyện này cho bà ngoại S. của con, đã kể cho con nghe về lễ Giáng Sinh của bà thời thơ ấu, năm 1900-  Mone Dompnier.

image.png

Đôi vợ chồng Spitzer phải đợi ngót mười năm mới có con được. Sau mười năm, bỗng dưng họ lại có đến năm đứa con: người vợ đã sinh năm. Trước khi các bé chào đời, cuộc sống của họ rất khiêm tốn, vì khả năng hạn hẹp, rồi khi gia đình thành bảy miếng ăn, thì cảnh túng quẫn lại càng bi thảm hơn. Ở bang Florida, quanh khu gia đình Spitzer sinh sống, có một phụ nữ lớn tuổi rất khá giả là bà Gordon. Bà nghe nói đến gia đình nghèo khổ ấy, và quyết định cứu giúp họ bằng cách tặng cho họ những số tiền khổng lồ.

Một hôm, bà Gordon muốn đến thăm sản phụ. Bà muốn gặp gia đình mà bà đang trợ giúp. Vừa bước vào nhà, bà nhìn thấy một tấm hình chân dung treo ở tường. Bà đến gần nhìn cho kỹ, bỗng ngất xỉu và ngã xuống. Xe cấp cứu phải chở bà đến nhà thương.

Ngày hôm sau, người mẹ mới sinh đến thăm bà, vì bà ấy đã cứu giúp gia đình họ rất nhiều .Người mẹ trẻ không thể hiểu được điều gì đã làm cho vị ân nhân xúc động đến như vậy khi nhìn thấy bức hình của mẹ mình.

Bà Gordon rất cảm động khi thấy người khách đến thăm mình, và sự xúc động ấy lại càng gia tăng thêm khi biết rằng bà Spitzer chính là con gái của người đàn bà trong tấm ảnh.

“Nhờ mẹ của cháu mà ta còn sống đến ngày hôm nay”.

Bà ấy tâm sự, và bắt đầu kể câu chuyện của mình.image.png

Trong thời kỳ Thế Chiến Thứ Hai, ta bị bắt làm tù binh ở trại tập trung Bergen-Belsen. Nhóm của ta là một nhóm nhỏ, gồm những bé gái từ 14 đến 16 tuổi. Cho dù cuộc sống đầy khổ hình trong trại địa ngục ấy, tất cả chúng ta đều quyết tâm phải đạt được càng nhiều Mitsvot càng tốt (Mitsva – số nhiều là Mitsvot:  quy định về hạnh kiểm trong Do Thái giáo).

Vài ngày trước lễ Hanouka, ta và các bạn đã chuẩn bị khẩu phần bơ thường ngày, những phần rất khiêm nhường, để sử dụng thay cho dầu thắp sáng. Chúng tôi đã lấy ra vài sợi chỉ từ quần áo để xe thành bấc nến. Sau đó chúng tôi cần dụng cụ để bỏ bơ và bấc vào.

Chúng tôi chọn vỏ khoai tây để dùng cho mục đích đó. Nhưng ngay cả việc làm sao để có được “dụng cụ” đó, chúng tôi phải thật can đảm và bạo gan. Chúng tôi phải chạy ra khỏi căn trại dùng làm nơi trọ rồi đến nhà bếp để ăn cắp khoai tây.

Trong giai đoạn dò xét được thực hiện sau đó, chúng tôi khám phá rằng trong suốt 24 tiếng một ngày, thì có một khoảng thời gian chừng năm phút sẽ không có người canh gác ở cửa bếp: từ nửa đêm đến quá nửa đêm 5 phút. Thế là năm đứa con gái quyết định mạo hiểm sinh mạng của mình để cố lấy cho được mớ khoai tây quý giá kia. Và ta là một trong năm đứa đó.

Nhưng thật không may cho chúng tôi, chúng tôi bị bắt. Người gác đêm phát hiện ra chúng tôi, ghi tên và số tù rồi hống hách tuyên bố rằng ngày mai chúng tôi sẽ bị hành hình bằng cách treo cổ trước mặt tất cả những nữ tù nhân ở trại. Để cho tất cả mọi người học được bài học.

Ở trại của chúng tôi có một cô gái Do Thái không sống cùng với đám con gái khác trong các lều trại. Cô ấy thông thạo nhiều ngôn ngữ, và bọn Đức giao cho cô một công việc đặc biệt: cô phải lắng nghe tường trình về những thông tin ở các đài phát thanh nước ngoài rồi dịch lại cho mấy tên sĩ quan. Nhờ công việc ấy cô được sống trong một lều trại riêng biệt, nơi đó cô hưởng được nhiều đặc quyền.

Thế là giữa đêm khuya chúng tôi lén đến lều của cô ta. Căn lều chìm trong bóng tối, nhưng một điệu nhạc rất mơ hồ đưa chúng tôi vào đến một khoảng đất trống bên cạnh căn lều. Chúng tôi ngạc nhiên xiết bao khi thấy cô đốt một ngọn nến Hanouka và hát bài Maoz Tsour (Theo Hồi Giáo, đến lễ Hanouka — lễ này thể hiện sự bành trướng không ngừng của đức tin Do Thái – trong suốt mùa lễ, mỗi đêm họ hát hai bài chính ngay sau khi thắp nến: Maoz Tzur và Hanerot Halalu).

Vừa nhìn thấy những bằng chứng về Do Thái giáo, chúng tôi rất phấn khởi. Chúng tôi nói chuyện với cô ta và khẩn nài xin cô cứu giúp chúng tôi. Nhưng cô ấy không muốn nghe. Cô khiển trách chúng tôi và yêu cầu chúng tôi phải rời khỏi nơi ấy ngay.

Hôm sau, ngày đầu tiên của lễ Hanouka, vào buổi chiều, tất cả nữ tù nhân trong trại đến tập trung ở quảng trường để chứng kiến vụ hành quyết năm cô gái. Sự căng thẳng và nỗi kinh hãi lên đến cực điểm. Mỗi cô gái đứng trên một cái ghế, một chiếc thòng lọng quẩn quanh cổ. Khi tên sĩ quan bước đến, hắn đọc tên của chúng tôi, kèm theo câu “ là những tên tội phạm mưu toan ăn cắp khoai tây”.

Những tên đao phủ được giao việc hành hình đang chờ lệnh để đạp vào ghế của chúng tôi để đưa chúng tôi vĩnh viễn sang thuợng giới. Bỗng dưng, cô nữ thông dịch viên đến gần tên sĩ quan và rỉ vào tai hắn điều gì đó. Cô ấy khoa tay rất nhiều lần, và lộ vẻ rất lo âu. Viên sĩ quan có vẻ bối rối và không mấy hài lòng về những điều cô ấy vừa nói. Tuy nhiên ông ấy cũng hạ lệnh cho tháo dây thừng ở cổ chúng tôi ra và bắt buộc chúng tôi phải biến đi ngay.

*

Bà Gordon hít vào một hơi thật dài, lau hàng nước mắt chảy dài trên đôi má. “Một thời gian không lâu sau điều thần diệu xảy đến cho chúng tôi vào lễ Hanouka, tất cả các nữ tù nhân ở Bergen-Belsen đã được phóng thích. Cuộc chiến đã kết thúc, mà chúng tôi cũng không có cơ hội để cám ơn vị ân nhân đã cứu mạng tôi. Cô ấy luôn luôn đi theo tôi. Tôi đã không thể nào quên cô ấy được. Rồi bỗng nhiên, tôi tìm ra được cô ấy – ngay trên tường nhà của cháu đây.

Giờ đây, đến lượt người sản phụ bị xúc động. Cô nói tiếp theo để đem phần kết cuộc cho câu chuyện ấy:

“Buổi tối trước khi cháu sinh, cháu thấy mẹ cháu hiện ra trong giấc mơ và nói bằng tiếng Yiddish (ngôn ngữ của người Do Thái): “Finf fur finf” (Năm chống với năm). Cháu hỏi mẹ cháu: “Mẹ ơi, Mẹ muốn nói gì vậy? Bà không trả lời câu hỏi của cháu. Ngày hôm sau, cháu đã sinh được năm em bé. Cháu nghĩ rằng mẹ cháu muốn ám chỉ đến việc cháu sẽ sinh năm. Lúc đó cháu không hề biết căn cứ vào đâu mà cháu có quyền hạ sinh được năm bé như vậy. Nhưng bây giờ thì cháu đã hiểu…”

TháiNữLan dịch

 EM BÚP BÊ GIÁNG SINHG. LENOTRE tháinlan dch- 4,827 chữ-

Theo trí nhớ của tôi về quá khứ xa xôi, tôi vẫn nhìn thấy bà hầu tước De Flavigny, luôn tươi cười và thanh thản, bà thường ngồi ở chiếc ghế bành thấp bọc nhung màu vàng nhạt, đầu đội chiếc nón len viền ren, có vài lọn tóc bạch kim lòa xòa trên mặt. Bên cạnh bà luôn có một phụ nữ khác cùng lứa tuổi, ngồi ở chiếc ghế thấp, cũng tươi cười hiền hậu: bà ấy thường được gọi là “Cô Odile”.

Bà ấy không phải là cô hầu, mà hình như có một mối dây thân mật khiến hai bà là đôi bạn thân; họ thường ngồi đan những chiếc váy lót bằng len để rồi mỗi thứ năm đem tặng cho người nghèo cùng với một mẫu bánh mì và năm đồng tiền hai xeng ( liard= 1/4 xu của Pháp thời đó), vừa kể cho nhau những dòng tâm sự không bao giờ cạn. Vào những ngày không đan đác thì họ lại lục soạn bao nhiêu là tủ kệ, mở những hộp xinh đẹp quấn đầy cả dãi ruy băng, rồi bày ra nào là những khăn lót dĩa, lót bình hoa thêu thùa rất công phu, rồi chùi dọn suốt ngày. Bọn chúng tôi là một đám trẻ con tò mò được phép chứng kiến những hoài niệm về kho tàng cổ xưa rất hữu ích ấy, với điều kiện không được đụng đến bất cứ thứ gì.

Bên trong một cái tủ bí mật ấy, như là ngôi đền nhỏ, chúng tôi thấy một vật để đứng trong một hộp thủy tinh mà hai phụ nữ ấy chăm chút như một vật linh thiêng: đó là con búp bê lớn, mặc một chiếc áo đầm bằng lụa đã sờn theo kiểu xưa; đầu nó thì đã rụng gần hết tóc qua thời gian, mũi thì bị gãy, gương mặt và tay thì đã bị tróc hết lớp sơn bọc ngoài, và chân thì chỉ còn một chiếc giày gót cao đã bị nứt nẻ, màu đỏ phai nhòa, với khóa cài bạc đã thành đen điu  .

Khi nhìn thấy món đồ vật trang trí uy nghi ấy, bà hầu tước và cô Odile bế nó ra với sự dè dặt của đứa trẻ lễ sinh ở nhà thờ khi phải cầm vật thánh trong hòm thánh tích: họ nói từng câu ngắn với vẻ ké né:  “Ôi, CÔ BÉ lại bị rụng tóc nữa rồi…Cái váy lót lại mòn thêm nữa…Ôi ngón tay này lại sắp rơi xuống nữa nè.” Họ cẩn thận chăm chút mở nắp hộp ra, vỗ bụi trên tóc, vuốt nếp gấp chiếc váy bằng đầu ngón tay, nhẹ nhàng, âu yếm.

Rồi họ để em bê trên ngăn kệ đẹp nhất, như trên một kệ thờ.

–  “Bé có đứng được không, cô bạn yêu dấu của tôi?”, bà hầu tước hỏi bạn mình.

Còn bà Odile thì chỉ gọi bà là “Bà  Solange”, một cách thân mật,  không kèm chức tước.

 Chúng tôi không biết gì thêm về hai phụ nữ ấy và con búp bê, cho đến một đêm trước Giáng Sinh, vào một năm xa xưa lắm rồi, bỗng dưng chúng tôi được tham dự, được “kết nạp” vào toàn bộ bí mật đó. Hôm ấy Odile và bà bá tước đã nói chuyện với nhau một cách sôi nổi hơn thường ngày.

 Đến chiều tối, cả hai trở nên trầm lặng, gần như tĩnh tâm, rồi im lặng chắp hai tay lại, ngậm ngùi nhìn nhau, và ta hiểu rằng họ đang hướng về một kỷ niệm thật yêu dấu của riêng họ. Khi bên ngoài trời tối hẳn, Odile thắp nến lên; rồi lấy xâu chìa khóa từ bên trong cái tạp dề, bà mở cửa tủ đựng em búp bê. Bà bưng con bê ra khỏi hộp; trong mớ áo quần trang hoàng kiêu sa thuở nào, giờ đây với cái đầu nhẵn tóc, nó có vẻ già hơn hai người phụ nữ rất nhiều, và họ đang chuyền tay nhau vật báu bằng những cử chỉ thật chăm chút, gần như là âu yếm, như thể đối với con gái yêu.

 Nữ hầu tước để con bê lên chân mình, nhẹ nhàng kéo đôi tay bằng thạch cao đến gần thân nó, toàn bộ khớp kêu ken két như tiếng rên rỉ, rồi bà nhìn ngắm ” cô nàng” với một nụ cười thật trìu mến -” Cô bạn yêu dấu của tôi, bà gọi mà như thể nói với con bê, bây giờ ta kể chuyện của mình cho bọn trẻ nghe nhé?” Rồi Odile gật đầu đồng ý; nữ hầu ước ra dấu cho chúng tôi đến đứng quanh bà; con bê vẫn ngồi trên đùi bà, và làm như bà sẽ thuật lại câu chuyện cho mỗi con bê nghe thôi.
Bà kể rằng từ rất nhiều năm trước, khi bà con là đứa trẻ, cuộc nội chiến tàn phá xứ Bretagne của bà, đó là thời gian kinh hoàng. Từ những ngày đầu  năm 1792, cha mẹ của bé Solange đã di cư, và giao bé cho một bà nông dân sống bên cạnh lâu đài của họ ở Ploubalay trông chừng, vì tính cách nguy hiểm của cuộc trốn chạy nên không thể mang bé đi cùng; họ nghĩ rằng chiến tranh sẽ sớm kết thúc thôi, và họ sẽ trở về trong thời gian ngắn. Nhưng rồi không lâu sau đó, biên giới đã bị đóng cửa, và luật lệ gắt gao ngăn cấm những kẻ di cư trở về lại nước Pháp. Cô bé Solange phải ở với gia đình người hàng xóm tốt bụng, không nhận được tin tức gì của cha mẹ mình,  vì hình phạt sẽ là án tử hình nếu ai có ý muốn liên lạc với những người di cư.

Ploubalay là một ngôi làng rộng lớn, cách Saint-Malo khoảng ba dặm; bờ biển gần đó có đầy cả những tảng đá lớn, bao quanh là quần đảo đá ngầm, nên mọi mưu toan cập bến đều rất nguy hiểm. Bọn lính mới chiếm cứ toàn bộ thị trấn, họ đã đuổi bon lính phe bảo hoàng đi; tên trung sĩ cầm đầu bọn họ là một người có tính tình như bao nhiêu người trong quân cách mạng: thô lỗ, sắt đá.

Hắn người vùng Alsace, tên là Metzger. Mọi người đều sợ hãi hắn ta, nhất là đối với bé Solange, khi nhìn bộ ria mép, đôi lông mày rậm, ánh mắt nghi ngờ, giọng nói cứng ngắt, vang to, của người đàn ông kinh khiếp đó, là cả một cơn ác mộng cho bé.

Khi tên trung sĩ không làm việc với toán lính của hắn, thì hắn ngồi ở cửa nhà thờ, để canh chừng những con đường của thị trấn với vẻ mặt thật dữ tợn. Một hôm bé Solange đi mua bánh mì cho bà Roualt, lúc về thì thấy ông ấy đang nhìn theo mình. Bé muốn đi vòng ra sau, nhưng lại không dám. Lấy hết can đảm, bé liền đi thật nhanh như thể ở nhà đang có người đợi mình. Đến lúc tưởng rằng đã thoát đôi mắt cú vọ của hắn,  bỗng bé nghe thấy giọng nói ồm ồm của tên lính:

– Này cô bé kia, đứng lại!

 Cô bé tội nghiệp cảm thấy như tim mình ngừng đập: bé không bước được nữa, chắc là chết giấc mất thôi…

– Đến đây xem nào…- xích tới chút nữa..

 Bé phải nghe theo, không còn kiểm soát mình được nữa, bé chỉ cách tên trung sĩ hai bước chân, mà cũng chưa dám ngẩng mặt lên nhìn. Hắn để bé đứng như vậy một lúc, rồi bỗng bằng một giọng vang to như sấm làm con bé rùng mình:  – Mi thuộc dòng quý tộc phải không? Cô bé há hốc miệng, phú dâng cho Thượng Đế. Bé không hiểu lắm, nhưng biết rằng chữ đó là dành cho những người sẽ bị giết.

– Mi bao nhiêu tuổi hả?. Bằng một giọng khàn đi vì kinh khiếp, bé trả lời: – Tám tuổi, bé định nói thêm cho lịch sự , “thưa ông”, nhưng rồi không thốt ra, vì biết rằng nếu nói ra thì tên ấy sẽ bóp cổ bé ngay tức khắc. Nhưng hắn không có vẻ gì là để ý đến điều đó, lại làu bàu:

– Hừ, tám tuổi…tám tuổi! Rồi nói thầm: – Mi cao lớn và mạnh khỏe đấy, so với tuổi của mi.

Cô bé nhìn ông ta, hắn thật là kinh khủng, với vẻ mặt dữ dằn, đầu đội cái nón hai sừng có vài sợi lông chim đỏ, gương mặt rám nắng, ống điếu thì đen thui, túi đạn đeo chéo trước ngực, kiếm dài ngoằng và đôi ủng đầy cả bùn sình. Và điều ghê gớm nhất là đôi mắt hắn, sâu hoắm, sắc sảo như chực ăn tươi nuốt sống cô bé.

 -Thôi, chuồng đi! hắn ra lệnh. Cô bé liền nhanh chân chạy một mạch về nhà, vừa chạy mà tim vẫn còn đập thình thịch.

Kể từ hôm đó, cô bé có cảm tưởng như tên trung sĩ luôn theo dõi mình. Khi hắn có việc đi ngang trước nhà gia đình Rouault, là phải cố nhìn vào bên trong để tìm bé. Hoặc khi gặp bé ngoài đường, hắn gọi bé bằng cái giọng quỷ quái, thô lỗ, làm cho con bé run lẩy bẩy: – Ah! cô bé kia!

Solange ước sao không phải đi ra ngoài nữa, nhưng bà Rouault, tiên đoán rằng cha mẹ của bé sẽ không có cơ may trở về nữa, và bà không thể để bé ăn không ngồi rồi, nên thường sai đi mua những thứ cần thiết cho gia đình.

Thế là, bị ép buộc để hàng ngày phải diện kiến với con bù nhìn ghê sợ của mình, Solange đành phải chịu đựng sự nghiệt ngã của đời mình; và tên lính mới ấy chỉ còn chờ có được cơ hội. Một hôm khi đang ngồi rửa rau ở máy nước công cộng trong khu nhà, hắn bỗng xuất hiện và hỏi:  – Này bé, tên mi là gì? Cô bé biết rằng giờ ấy đã điểm, nên cam chịu trả lời:  – Solange… Tên lính reo  lên:- Solange! – (hắn đọc là Zaulanche)

-Cái tên mới ngộ làm sao! Rồi hắn nắn cánh tay bé, và bế con bé lên để xem thử nó có nặng không  – Tám tuổi ư! Sao mà lớn nhanh thế!

Cô bé có cảm tưởng như mình đang là con mồi ngon trong tay một con yêu tinh…

***  Bây giờ đang là tháng Mười Hai, những tháng ngày u buồn ảm đạm, không có ánh dương; ngày nào bọn lính mới cũng bắt được những người di cư trở về, họ sống quá cơ cực ở Jersey hoặc Luân Đôn, không chịu đựng nổi, nên quá ao ước được trở về Pháp, rất nhiều người đã mạo hiểm cập bến.

Bọn lính phục kích ở bờ biển cũng như toàn bộ khu vực , và đã luyện một đám chó to lớn đi săn loại mồi đặc biệt này, để tìm ra tung tích những kẻ khốn cùng, ban ngày thì nằm rẹp trong lau sậy, ban đêm thì men theo các mương rãnh. Dân làng thường thấy bao nhiêu người đi ngang qua Ploubalay này bị xiềng xích, áo quần thì tả tơi, bọn lính thì đi kèm họ đến Saint Malo, hoặc Rennes, rồi sau một cuộc xét xử sơ sài, bị đem ra bắn. Luật lệ không nương tha và không có kháng án: bất cứ người di dân nào bị bắt là chịu tử hình.

*** Vào đêm vọng Giáng Sinh năm 1793 ấy, trong làng không còn ai nhớ về những buổi lễ thân thương của thuở xa xưa nữa. Nhà thờ thì đóng cửa, chuông thì im vắng; đêm tối đã buông xuống, đầy sương mù; suốt ngày người dân nghe tiếng chó sủa không ngớt về phía khu Bodard: hôm nay bọn lính đã thu hoạch được khá rồi…

Cô bé Solange ngủ ở căn gác kế căn đựng thóc lúa, đầy cả bóng tối ghê rợn, và  ban đêm bé nằm bất động, nghĩ đến bao nhiêu điều bất trắc có thể xảy ra. Hôm ấy bé vừa thay áo quần vừa run vì lạnh và bé thật buồn, nhớ đến bao nhiêu đêm Giáng Sinh với cha mẹ mình, thật vui thích, và trong lòng bé thấy thương mến làm sao!

Những buổi sáng thức dậy sao sung sướng hạnh phúc quá! ở cạnh lò sưởi tràn đầy quà cáp gói bằng dãi nơ thật xinh xắn, rồi bao nhiêu là đồ chơi và bánh kẹo!

Vừa mơ mộng như thế, cô bé vừa cầm đôi guốc gỗ một cách uể oải, không muốn để cạnh lò sưởi vì biết rằng rồi đây chúng cũng sẽ trống trơn khi bé thức dậy, y như năm vừa rồi. Ngay cả Đức Chúa nhỏ bé cũng lo sợ và không đến nước Pháp nữa hay sao?

Bé có cảm tưởng như có tiếng động, thế là bé nhanh nhẩu thổi nến và chui vào chăn. Rồi bé ngủ thiếp đi. Trong giấc mơ, bé thấy như cánh của nhè nhẹ mở ra, và một bóng đen lẻn vào căn gác. Bé hé mắt ra nhìn: căn phòng bây giờ đã được ánh trăng chiếu sáng,. Ta có mơ không đây? Bé nhận rõ bóng đen là một người đàn ông: một người đàn ông ăn mặc như những người di cư mà bé thấy ở ngoài quận khi lính đem tù nhân đi Saint Malo; rồi bé nghe thấy một giọng nói thật khẽ:  – – Solange, bé con nhỏ cưng của ta, đừng sợ con ạ.

Bé cảm thấy một bàn tay đang dang những lọn tóc trên trán ra một cách cẩn thận: một tia sáng của ánh trăng đang chiếu rõ cô bé.

Người đàn ông nhìn bé:  – Ôi con yêu Solange của ta, con xinh đẹp quá, và cao lớn, mạnh khỏe nữa!

 Ông ấy không ngớt ngắm nhìn bé. Rồi ông ôm lấy bé một cách cuồng nhiệt, và hôn tới tấp làm bé suýt nghẹt thở. Bé không còn biết mình thức chưa hay còn đang mơ; nhưng bé biết ngay là nếu cha của mình còn sống, thì đây chính là giọng của người, những cái vuốt ve trìu mến, và ôm ấp bé như thế. Bé thấy người đàn ông quỳ bên cạnh giường mình, rồi bé nghe ông khóc nức nở; bé khép mình trong tay cha- rồi quá hạnh phúc! bé nhắm mắt ngủ tiếp.

Bình minh hôm sau, bé mở choàng mắt, và lúc đầu thật khó khăn để nhớ lại những gì vừa xảy ra đêm qua, nhưng rồi  bé trấn tĩnh lại: chắc chắn là mình đã nằm mơ rồi: căn phòng trống trơn, cánh cửa thì khép kín; dưới nhà bé nghe rõ bước chân bà Rouault đi qua đi lại. Solange ngồi ở mép giường, và bỗng nhiên, sung sướng hét lên,… Trên đôi guốc của mình, được sắp lại ngay ngắn, bé vừa nhìn thấy một con búp bê dựng đứng, mặc chiếc áo váy thật rực rỡ bằng lụa xanh, một con bê thật cao lớn, uy nghi, tươi cười, ăn mặc như một phu nhân, với những lọn tóc xoắn thật xinh bao lấy khuôn mặt bằng sứ thanh tao, trên vai là khăn choàng kiểu hoàng hậu, chân thì mang giày bằng da cừu, khóa cài giày lại bằng bạc sáng loáng…

Cô bé liền quỳ xuống trước “lệnh bà”, và ngay tức khắc gọi bà là Yvonne. Bé thay áo quần rất nhanh, rồi ôm “con gái” trên tay, bé đi xuống nhà.

Bà Rouault, vừa nhác thấy bé cùng với món đồ chơi tuyệt diệu ấy mà trong trí tưởng tượng của bà cũng chưa bao giờ mơ ước được, vô cùng ngạc nhiên thốt lên:-

— Lạy Trời, Solange, ai cho cháu con bê này vậy?  – Thưa bà, đó là chúa Hài Đồng Giê Su ạ, cô bé trả lời một cách hồn nhiên.

 Người đàn bà há hốc miệng kinh ngạc: ôi, nói về lòng tin theo kiểu thần thánh này thì bà chịu thua thôi. Tuy nhiên, bằng chứng rành rành đây khiến bà choáng ngợp: bà biết rằng ở Ploubalay này, hoặc ngay cả tỉnh thành Matignon, Saint Malo, hoặc Rennes đi nữa cũng không một ai có thể sắm được cho mình hay người thân một món đồ huyền diệu như thế.

Thế rồi, chính vì điều này, bà trở nên rất cung kính, và ngắm nhìn mà không dám đụng vào phu nhân mà Solange trao cho bà một cách long trọng. Bà liền gọi ông đến: – Ông xem thử món quà mà Chúa Hài Đồng mang đến cho Solange nè; ông ấy là một người chất phác,và không biết gì về những trang sức lụa là của các bà mệnh phụ đâu. Nhưng rồi các bà hàng xóm đều ùa đến. Tất cả đều choáng ngợp và chắp tay lại  kinh ngạc, rồi  xầm xì; vài người nghiêng mình trước một vật thần thánh, vài người không hiểu nổi điều thần bí này.

Còn Solange thì chẳng quan tâm đến nỗi xúc động của họ, bé đang ru Yvonne, và ôm hôn nó một cách thận trọng, môi chỉ dám phớt nhẹ lên lọn tóc vàng óng và đôi má bóng lưỡng của con gái mình; bé đem nó đến cửa sổ để cho nó thấy cảnh bên ngoài.Rồi bà Rouault  trở về với thực tế, sai con bé đi mua hàng ở tận góc xa xôi của ngôi làng; con bé hớn hở đem em búp bê theo. Hiện tượng này đã được một nửa quận biết rồi; các bà nông dân đứng ở cửa sổ để nhìn, và bé Solange biết được bây giờ mình trở nên quan trọng thế nào rồi.

 Khi bé đến trước nhà thờ, nơi đó tên Metzger vẫn ngồi vắt ngang ghế, lần này thì bé không thèm quay đầu lại để nhìn nữa: hôm nay thì chẳng có mối hiểm nguy nào đến với bé nữa rồi? Niềm vui bất tận trong lòng khiến bé không còn sợ việc gì hay ai nữa, nên khi tên trung sĩ gọi bé lại, và hỏi nó ôm vật gì, thì bé trả lời một cách tự tin: – Đó là một con búp bê – Một con bê thật đẹp! Ở đâu mà nhóc có được vậy?  – Thưa ông trung sĩ, chính Chúa Giê Su Hài Đồng đã cho tôi.

 Tên lính theo phe cộng hòa liền đứng phắt dậy, lấy chân hất cái ghế ra: – Mi nói cái gì? hắn hét lên  – Đó là con bê mà Chúa đã cho cháu nhân dịp Giáng Sinh, ông trung sĩ  – Ah, mi nghĩ là ta sẽ tin vào … nhưng trước vẻ ngây thơ của con bé, hắn ngừng nói; nhưng giật lấy con bê từ tay cô bé, hắn nhìn thật kỹ , và nói:  – Ôi, một lệnh bà đẹp thật; mà này, nhìn xem, bên dưới giày có ghi nè: Berkint-London- vậy ra con bê này là dân xứ Anh quốc? Vậy thì Chúa Giê Su Hài Đồng  là người Anh hả?

– Cháu không biết, thưa ông, cô bé vừa trả lời vừa lấy lại con búp bê; bây giờ niềm vui của cô bé đã bị hỏng rồi

 – Để xem nào, hắn làu bàu, rồi quay lại gọi thuộc hạ.

Một tên hạ sĩ chạy ra.

– Hôm qua có người lạ nào xuất hiện trong làng không?

– Dạ tôi nghĩ là không đâu ạ, hôm qua bọn lính canh đã làm việc rất tốt.  Thật ra đám chó săn đã hú lên một cách không bình thường, nhưng chúng tôi đã lục soát kỹ rồi, mà không tìm thấy gì cả.

– Được rồi, tập họp mọi người lại đi. Rồi hắn đeo túi đạn vào, cài dây lưng, lấy khẩu súng và dẫn đầu đám lính đến nhà bà Rouault.

   Solange, trở nên thật lo âu, đi bên cạnh hắn, nhưng bước nhanh hơn, và ôm ghì bé Yvonne xinh đẹp và tươi cười vào lòng.

  Đến nơi, hắn ta để hai tên lính gác trước cửa, rồi chia vài tên ra khắp nơi bên trong và quanh nhà.

Rồi bảo đám còn lại đi theo mình, hắn vô trong phòng, cầm tay bé Solange, ngồi vào ghế, rồi kéo bé đến gần mình, và bằng một giọng rất nhỏ nhẹ, có lẽ để dỗ dành con bé: – Nào, bé con, kể cho ta nghe tất cả mọi việc đi nào.

Thế là bằng một giọng rất nhỏ, buồn bã, cô bé bắt đầu kể về “giấc mơ của bé”, về người đàn ông mà bé nghĩ là đã nhìn thấy trong phòng,  về ảo tưởng của những nụ hôn mà ông ấy đã hôn bé, và rồi đến lúc sáng, cô ngạc nhiên xiết bao khi phát hiện ra con bê thật xinh…

Tên trung sĩ theo dõi thật kỳ lời của cô bé, không bỏ sót chi tiết nào. Bỗng dưng, quay lại phía đám lính đang lắng nghe, hẳn ra lệnh:

– Bọn bây, quay trở ra đi, và hãy canh cho thật kỹ mọi ngõ ngách! Nã súng vào đầu bất cứ tên nào có ý trốn chạy!

Bọn họ ra ngoài, khi còn lại một mình Metzger và cô bé:

– Nào, bé con, mi nói là người đàn ông đã hôn mi,… và gọi là “Solange bé nhỏ của ta”, rằng ông ấy đã quỳ bên cạnh giường cô bé và còn khóc nữa?

Cô bé gật đầu , không muốn nói dối, nhưng cũng cảm nhận được một tai họa sắp xảy đến.

Metzger chưa vội hành động. Hắn đặt đôi tay thô ráp lên vai bé Solange, và nói thật nhỏ, như thế nói cho chính mình:

– Ừ, hắn ta nói một cách nghiêm trang, ta cũng có một bé nhóc con như thế này, ở Alsace (miền Đông nước Pháp, cạnh Đức & Thụy Sĩ), thành phố Gersheim ( Đức)… nó cũng lên tám tuổi…đã tròn hai năm rồi ta cũng chưa gặp lại con bé… và ta nói thế này: Để chỉ nhìn thấy nó thôi, cho dù nó đang ngủ, trong bóng tối, để hôn nó một chút thôi, chỉ để cảm thấy nó thiu thiu ngủ trên vai ta, mớ tóc vàng của bé thì sát vào mặt của ta…thì ta đây cũng dám liều mạng sống của ta như vậy… Hình như người cha nào cũng như thế cả.”

Hắn ra chiều suy nghĩ thật kỹ càng. Rồi hắn trở  nên cương quyết, đứng phắt dậy, lại thô bạo, và  lắc lắc cái đầu như để xua đuổi một ý nghĩ hèn kém nào đó, rồi quay ra cánh cửa mở: – Hai người đi với ta, chúng ta sẽ lục soát căn nhà nhỏ bé này!

 Solange bỗng la lên: – Thưa ngài trung sĩ, gượng đã!

Bé đã nghe tên lính ấy nói và đột nhiên cô bé đã hiểu tất cả: đêm đó, chính ba của bé đã đương đầu với cái chết để được đến vài phút bên cạnh con gái bé cưng, đã rời khỏi nơi ẩn náu, băng qua biển cả, cặp bến vào những tảng đá nguy hiểm, trườn người giữa đám lau sậy dưới họng súng của bọn lính canh, đề về đến làng. Chính ba của bé khi nghĩ rằng bé sẽ không có món đồ chơi nào cho lễ Giáng Sinh cả, nên đã mang “lệnh bà” đến cho nó.

Ba của bé đang ẩn trốn trên căn gác kia, và rồi đây họ sẽ lên bắt ông đi, và bé sẽ nhìn thấy ông bị xiềng xích quấn vào người, và đi với bọn người lính bao quanh…
Thế rồi, cô bé, lòng dạ tan nát, khóc nức nở làm rung cả đôi vai bé nhỏ, và chạy đến bên tên trung sĩ

– Đợi đã! Đợi đã, ông ơi! 

Tên lính bây giờ đã trở lại vẻ hung ác dữ dằn, nói bằng giọng thô lỗ: – Gì nữa đây?, hắn hỏi.

Solange suy nghĩ như thế này: Để cứu cha của bé, bé sẽ đưa hết tất cả những gì bé sở hữu; nhưng hỡi ôi, bé chỉ có mỗi con bê. Bé liền nảy ra ý định hy sinh thật cao cả – Thưa ngài trung sĩ, ngài có một con gái…cùng tuổi với cháu…mà ngài chưa gặp lại từ hai năm nay phải không? Metzger liền gật đầu ra hiệu đúng như vậy.

-Thế thì! Thế thì!, Solange nói tiếp, đôi mắt ngấn lệ, có thể bởi vì ông không có mặt ở nhà nên chúa Hài Đồng Giê Su đã quên cô bé rồi chăng…

Vậy ông hãy lấy con búp bê của cháu đây này, cháu tặng ông đó.

Tên lính liền quay lại phía cô bé; hắn nhìn cô bé với đôi mắt đã ướt đẫm; hắn thở rất mạnh, đôi môi run rẩy dưới bộ ria mép, và ta nhận thấy trên gương mặt hắn những bắp thịt cử động lên xuống, tỏ rõ cảm xúc bị đè nén. Hai người lính bước vào phòng.

– Cháu đừng nói gì hết, không phải lo điều gì, tên trung sĩ nói nhỏ với bé.

Rồi hắn nói với bọn lính :

– Chúng ta sẽ lên trên kia, và lục soát mọi ngõ ngách. Bọn bây giữ súng sẵn sàng và hãy lên đạn, và cố nhìn cho kỹ. Bé con này, đi trước đi.

Cả ba người lính và cô bé leo lên bậc thang: vừa vào căn gác, hắn đặt một người ở ngưỡng cửa, người kia cạnh cửa sổ; hắn  mở cửa căn gác xép, rồi chỉ một mình hắn bước vào đó, đóng cửa lại.

Trống ngực Solange đập thình thình, muốn vỡ toang ra. Một lúc sau, cửa gác bật mở, và Metzger hiện ra: – Bên trong này không có gì cả.!

– Ta trở xuống thôi. Con chim đã bay mất rồi. Chúng ta đã bị lừa…

Rồi khi xuống bên dưới nhà, lúc chỉ còn một mình hắn và Solange, hắn nói nhỏ vào tai bé:

– Cháu hãy nhớ kỹ điều này: “Người đàn ông ấy” có thể ở lại trên đó hết đêm nay và nguyên cả ngày hôm sau. Cháu nói ông ta hãy yên tâm đi, mọi việc sẽ tốt thôi. Ông ấy sẽ ra đi vào đêm ngày mốt, và đến Lancieux và Saint-Briac, ở đó ông có thể ra khơi lại; vùng đó sẽ không có lính gác, ta sẽ đem lính của ta qua phía bên kia. Cháu hiểu rõ chưa? – Dạ hiểu, thưa ngài trung sĩ  – Vậy tốt rồi! Còn con búp bê này của cháu, ta sẽ mang nó đi: ta sẽ gởi về cho bé Odile của ta. Ta phải lấy con bê, bởi vì có thể có một người khác sẽ tò mò giống như ta khi thấy Chúa Hài Đồng Giê Su mang cho bọn nhóc như cháu những món đồ mỹ nghệ xuất xứ từ Anh Quốc đó. Cái em bé này đã gây cho cháu quá nhiều phiền toái rồi.

– Thế nhé! Và nhớ giữ bí mật nhe cháu! Và đừng quên: đi về phía Lancieux và Saint-Briac.

Rồi ông ta đi ra, gọi cả bọn lính đi theo; và rồi, ngay chiều hôm đó, mang họ đi thám hiểm về phía Matignon, cùng với lũ chó săn luôn, trong suốt ba ngày tròn. “

&&&&&&

“Và đó là câu chuyện của cả ba chúng ta, nữ bá tước Flavigny nói, đó là chuyện lôi thôi duy nhất trong suốt cuộc đời của cả ba chúng tôi, Odile, Yvonne, và tôi.

 Mười lăm năm sau, khi tôi làm đám cưới với bá tước của tôi, chúng tôi đi tham quan vùng Alsace; tôi đã đến Gersheim, và hỏi thăm về trung sĩ Metzger, về con gái Odile của ông ta, vì các con biết đấy, những cái tên đó đã in đậm trong trí nhớ của ta rồi.

Ta đã tìm thấy người lính già ở nhà máy sản xuất hoa làm rượu bia của ông ta. Ông ấy đã giải ngũ, sau khi được lãnh huân chương ở Austerlitz, do chính Hoàng đế trao tặng.. Ông ấy đã kể cho con gái mình câu chuyện về bé Solange,và Odile đã cất giữ “lệnh bà”; rồi khi ông ấy qua đời, vài năm sau đó, ta đã đưa Odile về đây với ta; cô bé đã mang Yvonne lại cho ta, và kể từ ngày đó, cả ba chúng ta không bao giờ rời nhau nữa.

G. LENOTRE tháinữlan dịch

CÂU CHUYỆN VỀ CÂY GIÁNG SINH KỲ DIỆU – (tháng 10, 2015)

Một người cha đặt cây thông Giáng Sinh trong nhà cho các con trai và không bao giờ đem bỏ đi…

Đây là một truyện cổ tích đời nay làm cho ta càng yêu thích sự kỳ diệu của mùa Giáng Sinh.

Ngày xưa có một gia đình người Mỹ sinh sống ở thành phố nhỏ Wausau ở tiểu bang Wisconsin, miền Đông Bắc Hoa Kỳ. Cha mẹ nuôi dạy sáu đứa con trai thật đáng yêu, sáu cậu đều thích đi câu cá trên thuyền với cha . Khi mùa Đông đến, chúng chạy ùa ra vui thích trượt băng trên cái hồ cạnh nhà suốt buổi chiều ,rồi tranh nhau chạy về nhà để thưởng thức ly sữa sô cô  la nóng một cách ngon lành.  Rich, người em nhỏ nhất luôn trân quý vô số những kỷ niệm yêu dấu như thế.

Nhưng, từ nhiều năm nay, kỷ niệm thường trở về với cậu ta là cây thông Giáng Sinh được đặt ở góc phòng khách trong ngôi nhà tuổi thơ của cậu. Vào một ngày đẹp trời của tháng mười hai, lúc đó Rich chỉ mới 14 tuổi, cậu  và các anh cùng với cha mẹ họ đem một cây thông vào nhà . Neil, người cha luôn tôn trọng tập tục về cây thông  Giáng Sinh này,  và không gì có thể thay đổi được  việc ấy, cho dù các con đều đã trưởng thành. Cây chễm chệ ngự trong phòng khách, đó là cây thông thuộc giống Epica xinh đẹp cao hai mét rưỡi.

Rich vẫn còn nhớ mình đã treo những quả châu đầu tiên lên cây thông  Giáng Sinh. Nhưng vài hôm trước ngày  Giáng Sinh, một thư thông báo tin không vui giáng xuống gia đình họ : đó là hai anh lớn bị gọi đi nhập ngũ  vào thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam. Người cha từng là cựu quân nhân của Thế Chiến Thứ Hai và Chiến Tranh Triều Tiên biết rằng thử thách ấy sẽ gay go như thế nào cho các con. Thế là ông đặt ngay một lời nguyền: 

“Tôi chỉ dẹp bỏ cây thông  Giáng Sinh khi mà tất cả các con tôi đều trở về sum họp trong ngôi nhà này.”

Neil đã tuyên bố lời nguyền đó từ năm 1974.  Rich, người em út của gia đình, nay đã 55t và anh ta đã kể lại câu chuyện này một cách cảm động. Và vì lý do đã kể trên, cây thông  Giáng Sinh của gia đình vẫn giữ nguyên vị trí ở phòng khách, đến nay đã được bốn mươi năm . Hai người anh đi lính đã an toàn trở về Mỹ từ cuộc chiến, nhưng một anh là thương binh hạng nặng và đang sống ở tiểu bang Washington, ở đầu mút bên kia của đất nước.

Tình trạng sức khỏe của anh chưa cho phép anh thực hiện chuyến trở về gặp mặt gia đình. Về phần cây thông  Giáng Sinh , nó vẫn hiện ngang sừng sững và qua bao nhiêu năm tháng vẫn giữ được nguyên vẹn tất cả những đồ vật trang trí trên mình nó, không sót một món nào. Còn chàng Rich từ nay rất hãnh diện về cha mình cùng với “truyền thuyết” này của gia đình, anh ta còn đùa rằng cây thông  Giáng Sinh trở nên thân quen như bàn ghế trong nhà và anh cũng không thèm để ý đến nó nữa.

 Phần lớn những cây thông  Giáng Sinh lần lượt rụng hết lá sau nhiều tháng không được ở ngoài khí trời, nhưng cây thông  của Neil, tất nhiên cũng có vài lá thông bị vàng úa, nhưng cây gần như vẫn y nguyên. Ngay cả những vật trang trí và đèn đóm đều gần 100 tuổi rồi. Đó là một trong những cây thông Giáng Sinh hiếm hoi có chiều dài lịch sử. Và người cha giải thích sự kiện này một cách hết sức đơn giản:  

“Những cành lá của cây thông  Giáng Sinh của chúng tôi vẫn còn xanh tốt chỉ vì một nguyên do, đó là chúng chờ đợi con trai tôi trở về. Thật kỳ diệu thay! Nhưng tôi dám cá cược với quý vị là ngày mà con tôi về thì tất cả lá thông ấy sẽ rụng xuống.”

Ta hãy hy vọng rằng Giáng Sinhnăm 2015 này, tất cả gia đình sẽ được sum họp đông đủ quanh cây thông  Giáng Sinh kỳ diệu ấy.

 Câu chuyện tuyệt vời trên đây nhắc cho chúng ta nhớ rằng Giáng Sinhchính là thời điểm để gặp lại người thân và sum họp để gia đình hưởng được những giờ phút đầm ấm bên nhau, và biết đâu, tin vào sự thần diệu của  Giáng Sinh…

 Nguồn: Eliane Hong,( tháng 10, 2015)- theo READER’S DIGEST- Tháinữlan dịch

THƯỢNG ĐẾ ĐÃ AN BÀI – Mục sư Bob Reid- TháiLan dịch

Đây là câu chuyện cho ta thấy những sự việc xảy đến trong cuộc đời ta luôn có lý do…

Một Mục sư và vợ ông ta vừa mới dọn đến ngoại ô thành phố Brooklyn và họ có nhiệm vụ làm cho nhà thờ ở đây sinh hoạt lại. Họ rất háo hức với cộng đoàn ở giáo xứ mới này. Khi họ nhìn thấy nhà thờ, họ biết cần phải sửa chữa nhiều vì rất nhiều nơi bị hư hỏng.

Họ tự đề ra mục tiêu là phải hoàn tất mọi việc trước lễ Giáng Sinh.

Họ đã làm việc rất cật lực trong nhiều ngày, sửa lại các hàng ghế, sơn phết tường, tô lại vách… và ngày 18 tháng 12, họ sắp hoàn thành công việc. 

Nhưng rồi, ngày hôm ấy, một cơn giơ lốc đã tàn phá khu phố, trong suốt hai ngày.

Đến ngày 21, mục sư hướng về phía nhà thờ. Tim ông se thắt lại khi thấy tòa nhà đã tróc mái, và bên trong là một lỗ hổng thật lớn, phía cuối nhà thờ, ngay sau tòa thánh.

Vị mục sư lau chùi những đống đổ nát trên sàn nhà, rồi đi về .

Trên đường về, ông nhìn thấy các văn phòng đang tổ chức bán chợ trời và ông dừng lại. Ông nhìn thấy một tấm khăn trải bàn màu ngà, với nét thêu hoa văn rất thanh nhã, với màu sắc thật đẹp ,và ở giữa là một cây thánh giá thêu rất sắc sảo. A, đây là kích cỡ thật thích hợp để che lổ hổng ở toà thánh. Ông ta mua tấm khăn và đem về nhà thờ.

Trong khi đó, trời lại đổ tuyết bên ngoài. Rồi một phụ nữ lớn tuổi đi hướng ngược lại đang cố chạy theo cho kịp chuyến xe bus, nhưng bà đã hụt mất rồi. Mục sư thấy thế liền để nghị bà vô trong nhà thờ cho đỡ lạnh trong khi chờ chuyến xe sau.

Bà đến ngồi ở băng ghế và không để ý đến ông đang bắc thang và gắn tấm khăn trải bàn vừa mới mua làm thành một bức thảm treo tường. Vị mục sư không thể nghĩ rằng tâm khăn lại tuyệt đẹp như thế khi ông vừa gắn xong và nhìn ngắm bức tường. Tấm khăn che đậy sự khiếm khuyết một cách tuyệt hảo.

Rồi bỗng nhiên ông thấy người phụ nữ đi đến gần tấm thảm. Gương mặt bà ta trở nên xanh mét như tàu lá.

 ” Thưa ngài, bà nói, làm sao ngài có được tấm khăn này?”

 Mục sự giải thích xuất xứ của tấm khăn và bà nhờ ông kiểm lại ở bên trong góc phải tấm khăn có thêu những chữ EBG không. Đó là những mẫu tự đầu của tên bà, và chính bà là người đã thêu tấm khăn đó, 35 năm trước đây, khi bà còn ở bên Áo.

Bà không thể tin nổi khi mục sư kể lại làm sao ông mua lại được tấm khăn ấy.

Bà giải thích rằng trước cuộc chiến, bà và chồng mình sống một cuộc đời rất thoải mái ở Áo.

Rồi khi bọn quốc xã đến, bà bị buộc phải ra đi, và chồng bà thì rời nhà tuần sau đó. Nhưng ông ấy bị bắt, rồi vào tù; từ đó bà chưa bao giờ gặp lại ông hoặc trở về ngôi nhà xưa của họ.

Mục sự có ý muốn trả lại tấm khăn cho bà, nhưng bà yêu cầu ông giữ lại để dùng cho nhà thờ. Mục sự đành đề nghị đưa bà về nhà, đó là điều tối thiểu ông có thể làm lúc đó. Nhà bà ở phía bên kia đảo Staten và bà đến Brooklyn hàng ngày để làm công việc thu dọn nhà cửa cho chủ.

Đêm vọng Giáng Sinh ở nhà thờ mọi việc diễn ra thật hoàn hảo. Phòng lễ gần như đông chật, ban nhạc hát Thánh Ca và niềm hân hoan của những người dự lễ thật tuyệt vời. Khi buổi lễ chấm dứt, mục sư và vợ ông ta đến chào mọi người ở ngưỡng cửa và nhiều người hứa sẽ trở lại đi lễ.

Có một người đàn ông cao tuổi hơn mục sư vẫn ngồi ở băng ghế và nhìn quang cảnh; vị mục sư không hiểu tại sao ông ấy chưa ra về.

Người đàn ông hỏi mục sư làm sao có được tấm khăn trải bàn trên tường, vì khăn đó giống hệt tấm khăn mà vợ ông đã thêu rất lâu rồi, lúc họ còn ở bên Áo trước chiến tranh, làm thế nào mà có thể có được hai tấm khăn giống nhau đến thế?

 Ông kể cho mục sư nghe rằng trước khi quốc xã đến quê hương của ông, vợ ông buộc phải rời bỏ quê nhà , và đáng lý ông phải theo bà ta một thời gian sau, nhưng ông đã bị bắt và ngồi tù.

 Ông chưa bao giờ gặp lại vợ mình hoặc trở về căn nhà của họ từ 35 năm qua.

Vị mục sư hỏi ông có cho phép mục sư đưa ông đi một vòng không.

 Mục sư chở ông ta đến đảo Staten, đến ngay ngôi nhà mà mục sư đã chở người đàn bà thêu tấm khăn về  ba ngày trước đó.

 Mục sư giúp ông ta bước lên ba bậc thềm trước nhà, đến gõ cửa, và ở đó mục sự đã trải qua một lễ Giáng Sinh vĩ đại nhất, tuyệt vời nhất mà ông chưa bao giờ tưởng tượng được.

Đây là câu chuyện thật- do Mục sư Rob Reid thuật lại; ông thêm rằng Thượng Đế luôn can thiệp một cách huyền bí.

Theo soleilinterieur- Mục sư Bob Reid-TháiLan/NữLan chuyển ngữ

NGÀY NÀO CŨNG LÀ LỄ GIÁNG SINH

1085 chữ-Virginie RonteixTháiLan dịch

 Trong gia đình Langelot, họ “thờ “đạo hạnh phúc, – hạnh phúc lan tỏa từ mỗi con tim. Ngay từ phút đầu mới quen nhau, Rose và Aimé đã cảm thấy vô cùng kinh ngạc về khung trời khả năng được mở ra trước mắt họ: mỗi ngày họ sẽ có thể làm rạng ngời tất cả những niềm hạnh phúc mà họ có thể có được bằng tình yêu của mình.  Năm tháng qua đi, bao nhiêu nghi lễ được diễn ra mỗi khi từng đứa con được sinh ra để đặt nền vững chắc cho thông lệ của gia đình. Vào những dịp đặc biệt rõ ràng, ta có thể nhìn thấy họ nhảy múa vui cười trong phòng bếp để chấm dứt một ngày buồn tẻ âm u với một ly rượu làm bằng mặt trời tuyệt hảo; rồi những ngày phải mở bung cái dù ra và mang giày ủng cao thì cả gia đình lại xua đuổi bầu trời xám xịt bằng cách nhảy vào những vùng nước bắn tung tóe ra để làm cho những đám mây ấy” rối bù lên”,  -từ ngữ riêng của Elias, cậu bé nhỏ nhất trong đàn chiên vui vẻ ấy. Hai cô chị Célia et Méline vừa khả ái vừa năng nổ bao nhiêu thì cậu bé càng tinh nghịch bấy nhiêu. Bức tranh của gia đình này sẽ chưa hoàn hảo nếu ta không kể đến cặp mèo hoang đã được cứu thoát khỏi hiểm nguy, một chú chó được huấn luyện bằng cả sự khôn ngoan của loài khuyển để canh giữ cái cơ ngơi phong phú này do bao nhiêu công khó dựng nên, vài con gà, một đàn cá đỏ hơn mươi con và đôi lúc vài chú chuột…

Cả ngôi nhà ấy là cả một con tàu đầy đủ (như con tàu của Noe trong Kinh Thánh).

Tầm quan trọng của đạo hạnh phúc này đạt đỉnh điểm vào chính đêm Giáng Sinh. Phải nói rằng kể từ ngày đầu tháng mười hai, thì dường như ngay cả ngôi nhà cũng không thể nào chịu đựng nổi. Ta thấy những ngăn kệ được trang hoàng đầy cả nến, và mỗi chiều tối thì tất cả những ngọn nến được thắp lên cùng với bếp lửa ở lò sưởi. Đó là dấu hiệu…Rồi sau đó thì những vòng hoa trang trí, những đồ vật xinh xắn do lũ nhỏ tự làm, những màu sắc, những hình vẽ được lôi ra khỏi hộp. Mùi quế và vỏ cam, mùi bánh quế có gừng, phảng phất trong không khí, đó là những mùi vị của hạnh phúc tột đỉnh…

Theo thông lệ, ngày 15 tháng mười hai, cả gia đình cùng đến khu vườn ương một cách hùng hồn nghiêm túc như một nghi thức. Đó là một sứ mệnh vào tầm quan trọng bậc nhất: chọn một cây thông giáng sinh. CÂY thông…Ý tưởng phải chọn một cây, phải chặt đứt một nguồn sống, cho dù đó là nguồn sống thực vật, làm cho họ thật khó chịu và đau lòng. Và họ cũng cần cả rễ cây.

“Kẻ” được hân hạnh tuyển chọn sau khi được xem xét tỉ mỉ, và được quyết định chung cuộc, sẽ có quyền chễm chệ ngay chính giữa phòng khách, bên cạnh lò sưởi.

Tối hôm đó Rose mang “hộp hạnh phúc” từ ngạch (kệ) của lò sưởi xuống, vì hôm nay là sinh nhật của nàng. Nguyên tắc khá đơn giản.  Mỗi thành viên của gia đình đều nhận quà gồm một mớ dãi lụa đủ màu sắc và vài dãi màu trắng. Trên những dãi đầy sắc màu thì sẽ ghi “niềm hạnh phúc trong ngày”. Một chữ, một ý tưởng, một cuộc gặp nào đó, một cảm nghĩ, một điều gì rất hay hoặc rất tuyệt vời đã “để lại dấu vết” cho ngày hôm đó. Còn trên dãi màu trắng ư? Sẽ không ghi gì cả. Điều này có nghĩa là một điều gì quá sâu kín, riêng tư để được bật mí. Nhưng nó vẫn hiện hữu ở đó, và tùy mỗi người muốn giữ lại vết tích hay không.

Và tất cả những dãi lụa xinh ấy đều có nơi đến. Chính những cành cây thông vừa mới được “xông đất” vào ngôi nhà này là nơi mà mọi người sẽ trân trọng buộc những đợt sóng vui mừng ấy vào. Dần dà, trong một nghi lễ ngập tràn niềm vui nhưng cũng không kém phần vô cùng nghiêm trang ấy, cây thông đã ngập đầy những thông điệp hạnh phúc đó và trong một khoảng thời gian rất dài trở thành một biểu tượng phúng dụ của toàn bộ những nỗi hân hoan của gia đình Langelot. Đôi khi, vào một ngày không có ý nghĩa nào đó, một kỷ niệm không vui lại hiện lên. Thế là Rose ném ngay một nhúm muối vào lửa ở lò sưởi. Những hạt muối nổ lách tách như pháo hoa kia sẽ làm vỡ tan tành những cái rùng mình buồn bã cuối cùng ấy.

Đó là một buổi tối thật tuyệt vời. Truyền thuyết của gia đình được ghi trên những dãi lụa màu ấy, và hơn lúc nào hết, bọn trẻ đã học được thế nào là sẻ chia, niềm vui sướng và vị ngọt dịu dàng khi được ở bên nhau. Rose mỉm cười và nói rằng đây là món quà sinh nhật tuyệt vời nhất cho nàng. Còn chàng Aimé thì khiến ta gởi tưởng đến một tấm chắn chống lại mọi phiền nhiễu của thế giới. Cả hai đều sở hữu một pháo đài tình yêu. Nhưng điều quan trọng nhất là họ tin vào đó…Tất cả các thành viên đều như vậy. Và niềm tin tuyệt diệu trong hạnh phúc chính đáng ấy, cùng với những động tác kèm theo, tạo nên một nơi trú ẩn an toàn, xa với phần còn lại của thế giới. Sự hiện diện của cây thông ấy ngay ở đây, trước mặt họ,  trong thời khắc này của năm tháng là phương thuốc công hiệu nhất cho nỗi u sầu.

Lễ Giáng Sinh là đỉnh điểm của tất cả những điều ấy. Cây hạnh phúc đã ngự trị suốt buổi tối hôm ấy.Thỏa thuê và tràn ngập hạnh phúc, đôi khi họ ngủ gà gật bên góc lò sưởi để chờ đợi giờ mở quà theo tập tục (những đứa bé nhất được ưu tiên!), rồi sau đó là bữa điểm tâm. Và suốt ngày hôm đó được dành để khám phá muôn vàn sự huyền diệu thêm vào những điều thần tiên đã hiện hữu trong nhà. Không bao giờ có những món quà để mà “sở hữu”, nhưng đó là những món quà để “hiện hữu”. Ngôi nhà kêu gù gù còn hơn cả mấy chú mèo…Và khi nhìn vào đôi mắt của Rose và Aimé, ta có thể nhìn thấy niềm hãnh diện và sự dũng cảm của những người đã lựa chọn cho cuộc sống của mình và họ đã bằng lòng với điều đó. Bây giờ là lúc để gợi lại những niềm vui từ xa xưa nhất. Elias thì không bao giờ chán chê nghe kể về buổi tối mà cha mẹ nó thông báo cho hai đứa chị rằng chúng sẽ có em trai. Còn Célia et Méline thì nỉ non vui thích khi kể các chú mèo con được sinh như thế nào, việc chú chim bé nhỏ được cứu vớt và mơn trớn ra sao cho đến khi bé chim có thể cất cánh bay được. Cha mẹ chúng thì nhớ lại những cuộc viếng thăm bất ngờ đã làm cho cả gia đình đều rất đỗi hoan hỉ. Những vụ thu hoạch thần kỳ, những trò chơi với cái xích đu, nước, mùa hè khi thời tiết quá sức nóng bức…Cả gia đình hiến thân miệt mài cho cuộc đời. Và cuộc đời cũng đã báo đáp họ thật là hậu hĩnh.

Bây giờ đã đến ngày đầu tháng Giêng. Từ sáng sớm, Aimé đã cực nhọc đào một cái lỗ cho thật sâu rộng, thoải mái cho cây. Một phần của mảnh đất to lớn đã được biến thành khu vực trồng thông. Rồi cây hạnh phúc được di chuyển một cách long trọng và được chuyền tay nhau để đẩy xe cút kít  đến nơi cư trú mới của nó, trên cành vẫn còn buộc lủng lẳng những dãi nơ xinh đẹp. Bọn trẻ cùng nhau giúp đặt cây vào lỗ rồi lấp đất chung quanh thế nào cho nó thật vừa vặn và thích nghi. Và rồi chúng lại xoa nhẹ vào các cành để chào cây một lần sau cuối một cách nghiêm cẩn, tỏ vẻ luyến tiếc; sau đó chúng trở vào nhà và ngồi quanh bàn bếp, quây quần rộn ràng vui nhộn. Rose thì đang chờ họ trong một mùi hương sữa sô cô la và mật ông nóng hổi. Chính giữa bàn hàng loạt những dãi nơ trắng và đủ màu sắc đã được bày ra cùng với ly sô cô la mong đợi ấy cho mỗi vị thực khách; và thế là buổi tiệc mừng năm mới có thể bắt đầu được rồi. Bên ngoài kia, khi mùa Xuân đến, ta sẽ thấy trong tổ của lũ chim những cành lá xen kẽ với những dãi lụa muôn màu. Niềm hạnh phúc, một khi đã bén rễ vào một nơi nào, sẽ mang sắc màu vĩnh cửu đến nơi đó…

Virginie RonteixTháiLan dịch

Xmas Truce

It was December 25, 1914, only 5 months into World War I. German, British, and French soldiers, already sick and tired of the senseless killing, disobeyed their superiors and fraternized with “the enemy” along two-thirds of the Western Front (a crime punishable by death in times of war). German troops held Christmas trees up out of the trenches with signs, “Merry Christmas.”

“You no shoot, we no shoot.” Thousands of troops streamed across a no-man’s land strewn with rotting corpses. They sang Christmas carols, exchanged photographs of loved ones back home, shared rations, played football, even roasted some pigs. Soldiers embraced men they had been trying to kill a few short hours before. They agreed to warn each other if the top brass forced them to fire their weapons, and to aim high.

A shudder ran through the high command on either side. Here was disaster in the making: soldiers declaring their brotherhood with each other and refusing to fight. Generals on both sides declared this spontaneous peacemaking to be treasonous and subject to court martial. By March 1915 the fraternization movement had been eradicated and the killing machine put back in full operation. By the time of the armistice in 1918, fifteen million would be slaughtered.

Not many people have heard the story of the Christmas Truce. On Christmas Day, 1988, a story in the Boston Globe mentioned that a local FM radio host played “Christmas in the Trenches,” a ballad about the Christmas Truce, several times and was startled by the effect. The song became the most requested recording during the holidays in Boston on several FM stations. “Even more startling than the number of requests I get is the reaction to the ballad afterward by callers who hadn’t heard it before,” said the radio host. “They telephone me deeply moved, sometimes in tears, asking, ‘What the hell did I just hear?’ ”

You can probably guess why the callers were in tears. The Christmas Truce story goes against most of what we have been taught about people. It gives us a glimpse of the world as we wish it could be and says, “This really happened once.” It reminds us of those thoughts we keep hidden away, out of range of the TV and newspaper stories that tell us how trivial and mean human life is. It is like hearing that our deepest wishes really are true: the world really could be different.

 ++++++++++++++++++++++++

Cuộc Ngưng Bắn đêm Giáng Sinh

Khi họ nói KHÔNG Với Chiến Tranh 650 chDavid G. Stratman NữLan dịch

22/6/2012-

Đó là vào ngày 25 tháng 12, năm 1914, chỉ mới 5 tháng kể từ khi bắt đầu Thế Chiến thứ I. Lính Đức, Anh và Pháp đã thật chán chường và mệt mỏi với những cuộc bắn giết vô nghĩa, đã bất tuân thượng cấp của họ và đã thành huynh đệ với “Kẻ thù” trong suốt hai phần ba của Mặt Trận phía Tây (một trọng tội với bản án tử hình vào thời chiến). Những đội quân Đức giương cây thông Giáng Sinh lên trên các chiến hào với biểu ngữ “Chúc Mừng Giáng Sinh”.

“Bạn không bắn,chúng tôi cũng không bắn”. Hàng ngàn dòng quân lính lũ lượt băng qua một vùng đai trắng với toàn thân người thối rửa rãi cùng khắp. Họ ca những bài hát mừng Giáng Sinh, trao đổi hình ảnh của gia đình thân thương ở quê nhà, chia nhau phần lương thực, chơi túc cầu với nhau, hoặc ngay cả quay thịt. Binh lính ôm hôn những người mà trước đây vài giờ họ đã nhắm bắn.

Bộ Tư Lệnh Tối Cao của cả hai phe đều cảm thấy ghê sợ. Đây là thảm họa đang hình thành: binh lính tuyên bố tình huynh đệ với nhau và từ chối đi chiến đấu. Tướng lãnh của cả hai phe tuyên bố việc hòa giải tự phát sinh là mưu phản và bị đưa ra tòa án quân sự. Vào tháng 3 năm 1915 phong trào huynh đệ chi binh đã bị triệt hạ và máy chém đã được đưa vào xử dụng . Đến thời điểm ngưng chiến vào năm 1918, mười lăm triệu nạn nhân đã bị hành hình.

Rất ít người nghe nói đến câu chuyện về Cuộc Ngưng Bắn đêm Giáng Sinh. Vào ngày Giáng Sinh năm 1988, một câu chuyện của Boston Globe kể rằng một xướng ngôn viên đài phát thanh FM địa phương đã cho phát rất nhiều lần bài ” Giáng Sinh ở Chiến Hào”, một ballad ( bài dân ca hoặc về truyền thống dân tộc) về Cuộc Ngưng Bắn đêm Giáng Sinh- và họ đã rất sững sốt về hậu quả của việc này .Bài hát đã trở nên bài được yêu cầu nhiều nhất trong suốt kỳ nghi lễ ở Boston trên rất nhiều trạm phát thanh FM. Và người xuống ngôn viên nói thêm” Tôi càng kinh ngạc hơn khi thấy không phải số lần bài hát được yêu cầu mà chính là phản ứng sau đó của những thính giả trước đây chưa bao giờ được nghe bài hát đó :  “Họ gọi cho tôi với tâm trạng rất xúc động, đôi khi nghẹn ngào và bật khóc, nói rằng ” Ôi Trời, tôi vừa được nghe những lời gì vậy?”

Quý vị thật dễ dàng đoán được vì sao những thính giả đó phải bật khóc chứ? Câu chuyện về Cuộc Ngưng Bắn đêm Giáng Sinh đi ngược lại với phần lớn tất cả những gì chúng ta được nghe về loài người.

Câu chuyện ấy đã cho chúng ta một ý niệm về thế giới theo ước mong của chúng ta, và nói lên rằng” Việc này đã thật sự xảy ra một lần rồi”. Điều này nhắc chúng ta nhớ về những cảm nghĩ mà ta đã giấu kín, vượt ra ngoài tầm của các câu chuyện trên truyền hình và báo chí, và cho ta biết cuộc sống con người thật tầm thường và thấp kém như thế nào. Sự kiện này giống như ta được nghe rằng những ước mơ sâu kín nhất của ta thật sự là có thật: Thế giới thật ra có thể khác đi.

Trích dẫn từ “Chúng ta CÓ THỂ Thay Đổi Thể Giới”, David G. Stratman : Ý Nghĩa Thật của Cuộc Sống Hằng Ngày (New Democracy Books, 1991)

 Nữ Lan dịch

 CÂY TẦM GỬI VÀ CÂY NHỰA RUỒI

Cây Nhựa Ruồi (Holly- Houx)
Cây Tầm Gửi (Mistletoe: Gui)

 Loại cây linh thiêng của các đạo sĩ (xứ Gaule -Gô-loa) 

Một loại cây linh thiêng của các đạo sĩ, cây tầm gửi hiện là một phần của truyền thống Giáng sinh và cuối năm ở châu Âu. Chúng tôi mời bạn khám phá những biểu tượng và truyền thống gắn liền với những cành cây trang trí xinh xắn này.

Các chú chim thich mổ loại quả màu trắng này vào mùa lạnh nhưng quả lại độc đối với con người. 

Theo Phong tục, cây được treo trên khung cửa để khách có thể hôn nhau bên dưới vào ngày đầu năm mới.  

Cây tầm gửi, mà người Hy Lạp nghĩ là gắn liền với Hermes, vị thần đưa tin của Olympus và thần sức khỏe, cũng được coi là một loại cây linh thiêng vào thời của người Gô- loa. Các đạo sĩ tin rằng loại cây này được một bàn tay thần thánh gieo trên cây sồi và cho rằng sự kết hợp giữa cây thiêng liêng của họ và những cành cây không bao giờ vàng úa này là biểu tượng của sự bất tử.

 Vào ngày thứ sáu của năm Celtic*, các đạo sĩ  đi cắt cây tầm gửi và thốt lên: “O Ghel an Heu”, một thành ngữ có nghĩa đen là “Hãy để lúa mì nảy mầm!”.

 Biểu tượng này là sự tái sinh của mặt trời sau ngày đông chí, do sự biến dạng của biểu thức “Au gui l’an neuf!”: Lễ đón năm mới được tổ chức với cây tầm gửi.

Các đạo sĩ  cũng cho rằng loài cây này có những đặc tính kỳ diệu, đặc biệt là chữa một số bệnh, cung cấp khả năng miễn dịch chống lại chất độc, đảm bảo khả năng sinh sản của phụ nữ và bảo vệ đàn ông khỏi sự trù ém phù thủy.

Hơn nữa, khi kẻ thù gặp nhau dưới cành tầm gửi trong rừng, họ phải hạ vũ khí và tuân theo thỏa thuận ngừng bắn cho đến ngày hôm sau. 

Và phong tục treo một chùm tầm gửi và trao nhau một nụ hôn bên dưới cành bắt nguồn từ đây như một dấu hiệu của tình bạn và lòng khoan dung.

Một truyền thống ngoại giáo

Nụ hôn dưới cây tầm gửi tốt lành có lẽ là một truyền thống có nguồn gốc từ Celtic*. Một lời giải thích khác là phong tục này, rất phổ biến ở người Anglo-Saxon, có liên quan đến truyền thuyết về Freya, nữ thần tình yêu, sắc đẹp và khả năng sinh sản.

Theo truyền thuyết, người đàn ông phải hôn bất kỳ cô gái nào tình cờ gặp bên dưới cành tầm gửi treo trên trần nhà.

 Truyền thống ngoại giáo này đã được duy trì, ngay cả khi Giáo hội đã cố gắng thay thế cây tầm gửi bằng cây nhựa ruồi, những chiếc gai của chúng gợi nhớ đến vương miện của Chúa Kitô và những trái màu đỏ là máu của ngài.

 Một biểu tượng của sự thịnh vượng

Mặc dù ý nghĩa ngoại giáo của nó đã bị lãng quên, phong tục trao nhau một nụ hôn dưới cây tầm gửi vẫn còn tồn tại rất nhiều ở châu Âu và Canada.

Nụ hôn của các cặp đang yêu được hiểu là lời hứa hôn nhân, là điềm báo hạnh phúc và trường thọ.

Ở Pháp, phong tục này có mối liên hệ đặc biệt hơn với đêm giao thừa và ngày đầu năm mới: nhánh tầm gửi, biểu tượng của sự thịnh vượng và trường thọ, là điềm vui mừng bước qua ngưỡng cửa của một năm mới.

GHI CHÚ * Celtes: một nhóm các dân tộc khác nhau từ Tây Bắc châu Âu-