Phương Tấn.

 

Năm 1962 anh em làm văn nghệ như chúng tôi thường độ tuổi 18, 20. Chúng tôi thường lập bút nhóm và một số anh em ngoài bút hiệu còn đặt thêm một cái tên con gái. Châu Thị Ngọc Lệ là nhà thơ Luân Hoán. Hoàng Thị Bích Ni là nhà thơ, nhà biên khảo, dịch thuật Nguyễn Kim Phượng (Nguyễn Phú Long), Nguyễn Thị Liên Phượng là nhà thơ Nguyễn Nho Sa Mạc. Riêng tôi cũng lập bút nhóm và một cái tên con gái dưới một số bài thơ đăng báo.

Có một điều tôi muốn nói là thời làm văn nghệ của chúng tôi – anh em thường khi chỉ mới biết nhau qua bút hiệu, qua thơ, qua văn trên các báo và tạp chí là đã thương nhau, quý nhau. Đến khi gặp nhau là có thể trở thành tri kỹ. Tâm tính của chúng tôi rất hồn nhiên, thật thà và dễ thương. Và một điều tôi cũng muốn nói là thời làm văn nghệ của chúng tôi, ngoài độ tuổi 18, 20 còn có một số nhà văn, nhà thơ đã thành danh hoặc lớn tuổi. Họ sáng tác và cộng tác báo này, tạp chí nọ thì chúng tôi cũng sáng tác, cũng cộng tác báo này, tạp chí nọ. Báo chí thời làm văn nghệ của chúng tôi tuyển chọn bài vở không do sự quen biết, do tuổi tác, do địa vị mà do giá trị của tác phẩm. Không khí văn nghệ thời ấy thật đáng yêu, đáng nhớ và rộn ràng làm sao! Một bài thơ đăng trên một tạp chí uy tín với làng báo và bạn đọc miền Nam thời ấy thì có thể không chỉ lớp biết, trường biết, thành phố biết mà anh em văn nghệ cả nước đều biết.

 

“Vàng Lạnh” là bài thơ đầu tiên của nhà thơ Nguyễn Nho Sa Mạc đăng trên tạp chí Mai. Trong bài thơ “Vàng Lạnh” có một câu tôi rất thích: “Nhìn phố dài bỗng chốc hóa rừng hoang” vì nó cùng tâm trạng trong bài: “Đà Nẵng” của tôi đăng trước đó trên tạp chí Gió Mới do nhà thơ Nguyên Sa chủ trương: “Lầu dinh mà như cồn cát, thênh thang hút nẻo đường đi”. Chúng tôi biết nhau qua thơ trên các báo và tạp chí, nhưng chưa hề gặp mặt.

 

Đầu năm 1963, tôi cùng một số anh em in chung thi tuyển “Rừng”. Tập thơ chưa có giấy phép in ấn, nhưng những tờ quảng cáo khổ lớn đã được in và dán đầy thành phố Đà Nẵng. Một hôm tôi vào nhà sách Sông Đà chợt thấy trên tờ quảng cáo có hàng chữ viết tay bằng mực tím, đều đặn: “Anh em chờ đến mù mắt sao Rừng vẫn chưa có hở Phương Tấn?” có cả chữ ký và tên Nguyễn Nho Sa Mạc. Tôi vui không kể xiết.

 

Tháng 3 năm 1963, thi tuyển “Rừng” bị Ty Kiểm Duyệt Thừa Thiên – Huế không cho ấn hành vì “phạm vấn đề chính trị và tôn giáo”. Do sự khiếu nại của tôi, “Rừng” được chuyển vào Sài Gòn cho Hội Đồng Kiểm Duyệt Trung Ương quyết định. Tháng 4 năm 1963, Hội Đồng Kiểm Duyệt Trung Ương trả “Rừng” lại cho Ty Kiểm Duyệt Thừa Thiên – Huế với hàng chữ “Cấm phổ biến”. Tôi chết lặng trước những bài thơ của tôi và anh em đầy những hàng gạch nát bằng bút đỏ. Tháng 7 năm 1963, thi tuyển “Rừng” liều in “không giấy phép” và phát hành tại các nhà sách ở Đà Nẵng, một số tỉnh thành và qua tay anh em văn nghệ thân quen, trong đó có Nguyễn Nho Sa Mạc.

 

Tháng 12 năm 1963, tôi bất ngờ và vui mừng được anh Nguyễn Kim Phượng đưa Nguyễn Nho Sa Mạc đến nhà thăm tôi. Nguyễn Nho Sa Mạc hiền lành và dễ thương quá! Anh xoan tuổi tôi và cùng chung nỗi niềm trước một đất nước bị chia cắt. Anh tâm sự cùng tôi nhiều dự định về văn nghệ, trong đó có việc xuất bản tập thơ “Vàng Lạnh” mà anh ấp ủ. Trong 2 tháng sau đó, chúng tôi còn gặp nhau 3 lần. Lần nào anh cũng đọc những bài thơ mới làm để tặng tôi và chúng tôi cùng say sưa bàn chuyện văn chương và thế sự.

 

Thật bàng hoàng, 8 giờ tối đêm 25 Tết năm Quí Mẹo (1964), Nguyễn Nho Sa Mạc đột ngột qua đời tại Đà Nẵng. Tôi không còn một lần nào được nghe anh đọc thơ nữa. Nguyễn Nho Sa Mạc đã xa tôi vĩnh viễn. Tôi đã khóc như chưa từng được khóc hôm tiễn anh về lòng đất ở Hội An.

 

Hay tin Nguyễn Nho Sa Mạc mất, nhà văn Trần Phong Giao thư ký tòa soạn tạp chí Văn có nhờ tôi viết vài dòng về buổi tiễn biệt Nguyễn Nho Sa Mạc. Tôi đã viết và đã đăng trên tạp chí Văn cùng với 2 bài thơ thương tiếc Nguyễn Nho Sa Mạc.

___________________

NGUYỄN NHO SA MẠC

* thơ Phương Tấn

VÁN KHUA LÁCH CÁCH

HỒN KHE KHẼ VỀ

Khuya xa xác đổ về trời

Phố cao sầu cũng nghe dời vóc hoa

Tay lùa con nước xót xa

Chân lùa bóng vỡ phôi pha thiên tài

Từ anh bỏ lại tuổi mai

Cát vàng thả gió chia hai bạn bè

Bừng bừng xô dạt lòng khe

Ván khua lách cách hồn khe khẽ về…

@ THÔI YÊN SẦU THỔI

NHẠC VÀNG XUỐNG THÂN

Dấy từ bão cát trôi lên

Cỗ xe người trắng lênh đênh theo về

Ngàn con nước kéo lê thê

Một vùng biển lạ trăm bề hoang mang

Xôn xao lụa gió điêu tàn

Thôi yên sầu thổi nhạc vàng xuống thân…

(Hội An 25 Tết năm Quý Mẹo, 1964)

__________________________________________________________

* Trân trọng giới thiệu 2 bài thơ cùng mang tên VÀNG LẠNH của thi sĩ NGUYỄN NHO SA MẠC, và một bài viết về thi sĩ NGUYỄN NHO SA MẠC của nhà phê bình văn học ĐẶNG TIẾN được trích trong tập thơ VÀNG LẠNH do Thư Ấn Quán (Tủ sách Di sản Văn chương Miền Nam) in và phát hành tại Hoa Kỳ năm 2007.

 

VÀNG LẠNH

chuyện bữa ấy chiều nay em kể lể

màu môi chôn kỷ niệm đã lâu rồi

mi mắt đó ghi ân tình đổ vỡ

đời nữ sinh vàng lạnh tháng ngày trôi

em đã khóc cả buổi chiều hôm trước

chúng bạn đùa biết hết chuyện riêng tư

những yêu thương trong đời người con gái

bảo em buồn nức nở trước trang thư

mới hôm nao người và em gặp gỡ

chiều bên ni, bên nớ mãi trông tìm

người bước qua con đường thơm lá cỏ

trời mùa Xuân em đứng đón bên thềm

em thầm bảo thương yêu người ấy lắm

những chiều xanh, chiều tím đợi người sang

tình thơ dại với môi hồng má thắm

nhìn phố dài bỗng chốc biến rừng hoang

chuyện bữa ấy chiều nay em kể lể

dáng mi trầm nuối tiếc những ngày qua

thứ bảy chiều chúng mình mừng sinh nhật

của mối tình sớm nở, sớm đi qua.

Image may contain: text

Image may contain: 1 person

VÀNG LẠNH 2

đừng nói nữa bài thơ vàng lạnh ấy

tình ngày xưa xin trả lại cho người

kỷ niệm buồn vui một thuở xa xôi

chợt đứng dậy đi lần vào thương nhớ

anh bỏ đi tìm tình yêu thành phố

những khi buồn muốn nhắc lại tên em

đếm các vì sao rơi rụng bên thềm

chợt thức giấc thấy đời mình cô độc

làm con trai lần đầu yêu để khóc

tập thư màu xanh nước mắt đau thương

xin trả lại tôi thành phố với con đường

từng buổi sáng buổi chiều tôi qua đó

hai mươi tuổi hôm nào yêu người em môi đỏ

tình khai sinh bằng tiếng hát hoàng hôn

những âm thanh não nuột chảy trong hồn

em có thấy tình ra đi nhè nhẹ

em còn nhớ chuyện hôm nào kể lể

đôi bàn tay chưa siết chặt làm cầu

khi tâm hồn hai đứa chửa yêu nhau

con nước chảy đi xa rồi cát lở

em có nghe muôn hành tinh đổ vỡ

những mảnh buồn bốc cháy giữa không trung

tình yêu hôm nay mệt mỏi vô cùng

đời “vàng lạnh” xin em đừng nói nữa.

 

 

____________________________________________________

THƠ HỌC TRÒ, NGUYỄN NHO SA MẠC.

* Đặng Tiến

 

Thơ Nguyễn Nho Sa Mạc là thơ học trò. Học trò hiểu theo nghĩa ngây thơ trong trắng, hồn nhiên, đôn hậu, và hiểu theo số mệnh của tác giả, làm thơ trong tuổi học trò. Rồi ra đi, vĩnh biệt thơ trong tuổi học trò, sau một buổi liên hoan tất niên với bạn bè, tại một trường trung học tỉnh lẻ.

Phận bạc tầm thường, ảm đạm, có chút gì thảm đạm. Nhà thơ tên thật là Nguyễn Nho Bửu, sinh năm 1944 tại Quảng Nam; ở tuổi 17 đã có thơ đăng báo. Dưới bút hiệu Nguyễn Thị Liên Phượng, đã có tập thơ in chung, Chung nhau tuổi mộng, 1963; đang chuẩn bị tập Vàng lạnh thì đột ngột qua đời, đầu năm 1964, chưa tròn tuổi đôi mươi. Lạ lùng là anh đã có bài thơ tiên tri, gọi là “xúi quẩy” cũng được:

 

Chiều cuối năm ngồi trên tầng phố cũ

Trời quê hương nhiều mây trắng sa mù

Hai mươi tuổi những ngày nuôi mộng nhỏ

Đã xanh rồi cây trái mọc suy tư

(…) Tôi gọi nhỏ tên mình sa nước mắt

Sống trên đời vừa đúng hai mươi năm

Máu sẽ khô xin tim này đừng rụng

Giữa hư vô phần mộ nhỏ yên nằm…

(“Mùa Xuân của một con người”)

 

Xuất thân từ một gia đình nông dân, sinh trưởng tại nông thôn trong thời kỳ giặc giã, Nguyễn Nho Sa Mạc làm thơ thật thà, bình dị như cuộc sống:

Tôi sinh ở xóm nghèo (…)

Mẹ già ăn khoai sắn (…)

Cha cày sâu cuốc bẫm

Đất cát thắm mồ hôi (…)

Người anh đi đánh giặc

Nhớ nhà mòn con mắt (…)

Mẹ dạy tôi làm người

Phải yêu thương đồng loại (…)

Nên tôi buồn biết mấy

Làm người dân Việt Nam

Hằn vết thương chia cắt

Đớn đau mầu da vàng

(“Cuộc đời”, 1963)

 

Đã xa rồi, cái thời “hoa niên” thơ mộng, vô tư của Đinh Hùng (1920-1967):

Khi mới nhớn tuổi mười lăm mười bảy

Làm học trò mắt sáng với môi tươi (…)

Ngoài cặp sách trần ai xem cũng nhẹ

Đời thấp thoáng qua học đường nhỏ bé

Phố phường vui, cuộc sống mới lên hoa…

(Đinh Hùng, “Khi mới nhớn”)

 

Và bây giờ, là tâm sự của lớp thanh niên sinh ra giữa thế kỷ XX:

Thằng con trai mười tám

Lớn lên với nỗi buồn

Một bàn tay rỏ máu

Một vết thương trong hồn…

Đi giữa đời quạnh quẽ

Khuôn mặt nó buồn tênh

Môi sầu cao bằng núi

Sự nghiệp còn lênh đênh

(“Tâm sự”)

 

Khi mới nhớn là thơ hoài niệm, Đinh Hùng làm khi đã trưởng thành, đã có địa vị trên thi đàn. Lăng kính hồi quang có khi thay màu đổi sắc thực tại. Nhưng thử lấy trường hợp Tế Hanh (sinh 1921), làm tập Nghẹn ngào vào tuổi mười lăm mười bảy, được giải Tự lực Văn đoàn 1939, khi xuất bản đổi tên là Hoa niên, 1944. Đây thật sự là thơ học trò, tiêu biểu là bài “Quyển vở nháp”. Chàng học trò thời đó, như mọi thời, cũng yêu đương, mơ mộng vẩn vơ, nhưng rõ nét tin tưởng ở cuộc đời:

Chân bước khoan thai giữa biếc hường

Và lòng vơ vẩn giữa yêu thương

Cả hai: không hẹn đều mang máng

Biết có mùa xuân đợi cuối đường

(Tế Hanh, “Phơi phới”)

 

Nguyễn Nho Sa Mạc không có niềm tin đó, và nói trong bài tự thuật: cuộc đời vốn buồn, biết chi chuyện mai sau. Hạnh phúc trong câu thơ Tế Hanh nằm trong chữ mang máng. Mang máng chỉ có nghĩa là mơ hồ, nhưng mơ hồ một cách êm ả, dịu dàng. Thế hệ sau này không có cảm giác dịu nhẹ ấy. Họ hoang mang, ngờ vực, khắc khoải, ưu tư. Trong giấc yêu đương, Nguyễn Nho Sa Mạc vẫn hoang mang:

Là từ giã màu môi em rất đỏ

Những lần hôn chưa định nghĩa cuộc đời

Cầm tay nhau mà vẫn thấy xa xôi

Để thương nhớ như mây trời xa vắng

Là từ giã con đường em đi học

Mỗi chiều qua thành phố nuối thương

Kỷ niệm tươi nguyên bỗng chốc hoang đường

Cho thương nhớ lại lần vào dĩ vãng.

(“Từ giã”)

 

Không có mùa xuân phía trước, như trong thơ Bùi Giáng hay Tế Hanh, vì trong thơ Nguyễn Nho Sa Mạc không có “phía trước”. Cái bút danh Sa Mạc dường như là niềm hoang tưởng về một tiền sử nào đó:

Xòe bàn tay vốc lên từng hạt cát

Bỗng vô cùng đau xót ở trong tim

Người lặng lẽ một mình trong sa mạc

Như một mình trong tiền sử buồn tênh.

(“Tự thuật”)

 

Hướng về tiền sử là một cách khước từ hiện tại và tương lai – với một phần quá khứ gần gũi.

Thơ học trò của Nguyễn Nho Sa Mạc mang những hình ảnh chung chung:

Áo nữ sinh qua cửa đời thèn thẹn

Em trở về ôm cả một trời thu

Thành phố xưa tan những lớp sa mù

Áo em trắng màu đông phương e lệ

(“Màu áo đông phương”)

 

Thơ học trò của Nguyễn Bính có bài “Trường huyện”, 1938, được truyền tụng:

Học trò trường huyện ngày năm ấy

Anh tuổi bằng em lớp tuổi thơ

Những buổi học về không có nón

Đội đầu chung một lá sen tơ

Lá sen vương phấn hương sen ngát

Ấp ủ đôi ta chút nhụy hờ

Lũ bướm tưởng hoa cài mái tóc

Theo về tận cửa mới tan mơ

Em đi phố huyện tiêu điều quá

Trường huyện giờ xây khác kiểu rồi

Mà đến hôm nay anh mới biết

Tình ta như chuyện bướm xưa thôi.

 

Câu chuyện chắc là hư cấu để nói lên giấc mơ tình ái và tấm lòng hoài cựu của Nguyễn Bính, cũng như chuyện Phường chèo làng Đặng, yếm đỏ khen thâm trẩy hội chùa… Nhưng ông tin yêu những hình ảnh ấy, muốn sống lại và khôi phục nó cho kẻ khác. Nguyễn Nho Sa Mạc không có cái may mắn và niềm hạnh phúc kia. Sinh ra rồi lớn lên trong chiến tranh Việt Pháp, tiếp theo là chiến tranh Nam Bắc, cuộc sống thu hẹp không gian, cho đến những giấc mơ cũng nghèo đi:

 

Tôi khôn lớn nhìn nỗi buồn đất nước

Một dòng sông biên giới hai loài người

Nỗi đau đớn chất chồng cao bằng núi

Ôi Sài Gòn – Hà Nội chảy trong tôi

Tôi còn lại nửa mùa xuân phiêu lãng

Giữa lênh đênh tìm nắm một bàn tay

Trời tháng giêng những ngày sầu nổi gió

Nhớ Sài Gòn thương Hà Nội mây bay.

(“Mùa Xuân của một người”)

 

Ngày nay, người ta nói đến những phong tục của xứ sở, ca ngợi lễ hội ngày xưa, là tâm hồn đã thư thái. Ca tụng lễ hội xa xưa cũng là một cách nhấm nháp hiện tại. Thế hệ Nguyễn Nho Sa Mạc không được diễm phúc đó. Sinh quán của anh, làng La Qua – năm anh sinh 1944 – còn là tỉnh đường, dinh Tổng đốc Quảng Nam, như Nguyễn Tuân đã kể lại trong tùy bút Cửa Đại.

 

Trường huyện anh theo học tại Vĩnh Điện xưa kia là một thị trấn phồn thịnh đã từng thu hút những đêm hát bội tưng bừng. Nem chua Vĩnh Điện gói với lá ổi, chả lụa bằng ngón tay cái, những món ăn đặc sắc, là dư vị của một thời vàng son vang bóng. Nhưng hào quang này không để lại tia sáng nào nơi tâm hồn Nguyễn Nho Sa Mạc và lớp thanh niên thế hệ anh, nửa tỉnh nửa quê, quê nhiều hơn tỉnh, mải lo học hành, chiến tranh, cơm áo:

Lấy mồ hôi người cha

Thêm nước mắt người mẹ

Tôi lớn lên một mình

Giữa cuộc đời quạnh quẽ

(…) Tôi trưởng thành lặng lẽ

Giữa cuộc đời phong ba

(“Thân phận”)

 

Gió thổi sân trường chiều chủ nhật… Một câu thơ đơn giản, thậm chí tầm thường. Nhưng làm một câu thơ như thế, phải là Huy Cận, và trong một thoáng tâm hồn êm ả, trong một xã hội ổn định. Thơ học trò của Nguyễn Nho Sa Mạc không có những câu bình an như thế kia, và ngược lại Huy Cận cũng không làm được những câu chơn chất như Nguyễn Nho Sa Mạc: Những người con thời đại / Mấy ai lo ngày sau.

Tản Đà mô tả ngôi mả cũ bên đường, có câu thơ: tài cao phận thấp chí khí uất, có thể vận vào Nguyễn Nho Sa Mạc.

 

Anh sống cuộc đời ngắn ngủi, sáng tác thơ trong tuổi học trò, không nhiều, ít kinh nghiệm sống và ít tìm tòi thi pháp, nhưng chân thành, trong lành và trong sáng, đánh dấu một tâm trạng trong thời đại. Tâm trạng này ít được quan tâm, nay bè bạn sưu tập những bài thơ bất hạnh, phiêu bạt từ bốn mươi năm nay để xuất bản và giới thiêu [1] .

Tình người ở đây là quan trọng và cao quý nhất.

Văn nghệ, nơi đây là những mảnh vụn, làm bãi hẹn cho tình người.

Ưu tiên cho những người cô thế tìm nhau, mà không trông chờ một vinh quang nào ráo.

 

* Ngày giỗ Xuân Diệu

Orléans, 18/12/2006

About the author
Leave Comment