Tạp ghi của NNS, Sơn Nguyễn : Trang Thơ Nhạc

Phan Ni Tấn

Phi Nhung


3.Thơ:

   

   

Lý Con Sáo Bạc Liêu, có đề cập đến Cầu Quay. Hồi còn bé được Mẹ đưa về Mỹ Tho thăm Bà con, trước khi ra đi nước ngoài, NNS thật ấn tượng về (địa danh) cầu Quay. Dù bao nhiêu năm tháng qua đi, NNS vẫn nhớ hình ảnh hai bên đường, qua cầu Quay, là xã Tân Mỹ Chánh, trên đường đi Chợ Gạo. Rồi bên phải là Vàm Kỳ Hôn, với những vườn mận bát ngát. Đứng nhìn qua bên kia Sông, nước chảy cuồn cuộn, thấp thoáng những đệ tử của Ông Đạo Dừa mặc áo màu nâu đi qua đi lại trên chiếc thuyền hoa lớn. Năm 2006 về dạy học và giúp cho chương trình Liên Hiệp Quốc, trên đường xuống Cần Thơ, NNS nói với người Tài xế (của Viện Đại Học Cần Thơ phái lên rướt từ Phi cảng Tân Sơn Nhất), ghé qua đây cho NNS nhìn lại cảnh cũ thời nào. Cũng nao nao trong lòng, dù sinh quán ở tận miền Trung. Chả trách một người nặng lòng với sông nước miền Nam như Anh Phan Ni Tấn, đã từng cỡi xe đạp đi cùng khắp nẻo đường, yêu Quê nhà đến thế đó, thì viết Nhạc Quê hương không hay sao được…

(NNS)

ở phía bCầu Quây, vĩ rằng tôi không phải lợ. Hồi đó, cái hồi bắt đầu từ những năm nết cho đến năm 1954, Cầu Quây lới chia tỉnh Mỹ ối liền đôi bờ sông Bảo ịnh. Mấy chữ "bầu Quây“ đồng nghĩ với mấy chữ "vấn đề an ninh“, tuy chiều chiều nam thanh nữ tú vẫn thường thơ ẩn bầu hóng gió vền qua lại. Dạo ấy, cho tới đầu những năm người bại sang bắm, cũng như vào thời 60, 70 nói tới Cầu Vỹ lũng

Gia đình tôi tản cư lên Mỹ Tho đâu năm 1946 và tìm được một căn phố ở bên kia Cầu Quây, đường Trịnh Hoài Ðức, gần ngả tư, tức là không xa đầu Cầu Quây bao nhiêu. Chiến tranh đã tàn phá gần hết làng tôi, làm tiêu tan cả tài sản ba má tôi, cho nên dù có là con nhà khuê các ai trong hoàn cảnh đó cũng đều trở thành hạt cát. Mỗi ngày tôi phải lội bộ đi học trường Cầu Bắc. Quãng đường đó đối với người lớn chắc cũng đã không gần, huống hồ là cho một đứa bé 7 tuổi, mà đoạn ngán ngẩm vô biên là lên dốc cầu, nhứt là dốc phía bên chợ nó dài và rộng gấp hai lần dốc bên nây, và những phút đi ngang qua cầu giữa mùa nóng đốt. Ba má tôi cũng không có phương tiện di chuyển nào khác, nên phải giải quyết bằng cách cho tôi  ở lại trường buổi trưa. Năm lớp tư, má tôi sáng sớm nấu cơm bỏ vào hộp để tôi mang theo.

ạn nhỏ đắn đường đi bằng cách quăng cái cặp đệm xuống đất, từ đoạn đường d´Ariè trướ Tđá ặp đẩy đóng lá me bệ đường chạy đới trước rồi chạy theo cặp, vứ tiếp tục cho đến hết khúc đường có nhiều lá me rơi. Chúng tôi vui thú đến quên đường dài, nhưng tới nơi thộp cơm bằng giấy của má tôi đđổi ạng. Năm lớp ba, tôi được ăn cơm ở cantine trường vđới năm lớp nhđược ba má sắm cho một chiếc xe đạp. Thế là con đường không cằng dặc nữa, nhưng đạp lốc trước nhốc tây Trần văn Khánh vền ịa thẫn cừ khi có xe đạp tôi thường lấy cớ để chạy xe. Tuy sợ dốc cầu nhưng mỗi chiều tôi đều đều đạp xe qua tiệm bán nước đá cây ở con đường sau khám Mỹ Tho, mua một cục cột dây lát ề cho cả nhà có nước đá uống trong bữa cơm. ứt lảng năm 1950 có một tiệm lọt vọt có ộn nho khô. Thế lọn con nít xóm tôi cứ đúng 6 giờ chiều lạy xe đạp sang ợ để mua bánh mới ra lĐó là mode "mới“ của dân bời sống bầu Quây là đời sống nửa quửa tỉnh. Xóm tôi ở xui xẻo lỉ có toở tuổi tôi với vị lớn vột hai bé gái cỏ hơn tôi nữa, nơi sau trường học của tôi cũng độc đáo. Tức lập bọn với đám con trai đi đánh trổng, đá ầu, chọi đáo… , rồi tẫy hái rau đắng về cho dế ăn hay đi vớt lăn quăn ở các đường mương để nuôi cá lia thia đá. Lối sống của hạt cát, hỏi đó đững ệm tuyệt vời ể có được đối với ững bé gái cổi ở chợ hay ững tiểu thơ măng non trong nhà cao tường kínững kệm cới một đám "quỷ ật đổi sao dời chúng tôi cũng cếm nhau lại để ỉnh thoảng trao đổi văm hỏi.

ều khó quên là đời sống ở đó không phải lúc nũng êm như bàn thạch. Nghe súng đạn ện giữa đêm thường xuyên đến ỗi dưới sũng được lau chùi bóng lưởng vải chiếu cẩn thận. đêm má tôi dựng một tấm nệớn trước đầu nằm, tưởng như đạn vệm sẽ ở luôn đó. Mỗi khi nghe súng nổ nồ, nhứt lếng nổ to từ bót số 1 gần đầu cầu, lả nhập tức chun xuống sẻ con thật vô tư, tôi thấy vui mủ dưới sàn trong khi người lớn lo âu sợ sệớ, hồi ở quũng đừng chun xuống tranchée để trốn bom, cái hầm đống đất được trét đất sét láng trơn và mát rượi lứ thả tư là khu bán thức ăn đủ loại, là nơi nhậu nhẹt của đám lính Pháp và lính đầu đỏ Việối tuần hay ngễ. Thế nở đây cũng có tiếng lựu đạn nổ hầm. Ngọi thế để chỉ ngọ không cần biết lỉ biết ngục nhổi sáng vểm buổi chiều. Buổi ộc lễ to ở đầu cầu, cách bót số 1 vài mươi thước. Năm nũng có trỡ bđể lấy ần thưởng ở đỉnh cột, vội sông bắt vịt. Ai có thương cho cái cảnh "năm tấc trột thước tuột xuống "hay có bắt được rồ vẫn cứ vuột“ thương, chớ hTây Ta và các bà đầm cứ cười nghi
ửa. Nhưng "vui“ là"vui“ buổi sáng thôi, ới tối khi cả bọn đầu đỏ ắt xanhấy tiếng đồng hồ hcàng bên hàng đống chai rượu lắc

Gia đình tôi dọn nhà qua chợ một năm sau khi tôi đậu vào Lycée Le Myre de Vilers. Trường vẫn còn mang tên Pháp mặc dù niên học tôi bắt đầu cho chương trình Việt. Năm 1954, Pháp về nước. Vùng bất an ninh đã được an ninh. Cầu Quây thật sự là nhịp cầu nối kết hai vùng của tỉnh. Mùi hủ tiếu Phánh Ký bay sang tận bên chợ mời mọc hằng bao nam nữ học sinh của ngôi trường trung học đã được đổi tên thành Nguyễn Ðình Chiểu từ ngày 22.02.1953. Và con đường đi Chợ Gạo không còn là con đường cho hàng dọc xe nhà binh Pháp mang đầy sình đất nặng nề chạy về sau những cuộc hành quân, mà là con đường dẫn xuống nơi gặp gỡ thơ mộng của thanh thiếu niên Mỹ Tho: chùa Vĩnh Tràng!

ới tuổi đời chồng chất mấy nhịp Cầu Quây như thân già yếu ớt, nặng trĩu trền xi măng nứt rạn và sườn sắt rỉ sét. Cầu Quây chỉ dùng cho người đi bộ. Chỉ cểu tượng cho thố Mỹ Tho vấu vết đầy thân thương trong lỹ Tho!

Đỗ Thanh Vân (Vinh Lan)

ội San 14 / 2008

……………………………………………………

 

Phan Trung Nghĩa

 

 

 
   

"Vì chưng lẻ bạn mới ốm o cung đàn". Câu này có rất nhiều người hiểu sai, nghĩ là cái chân (vì cái chân, người Nam đọc là cái chưng, cái cẳng). Thật ra đây là Từ cổ xưaCụ đồ Chiểu từng dùng…

Cốt truyện xoay quanh cuộc xung đột giữa Thiện và Ác, nhằm đề cao tinh thần Nhân nghĩa, thể hiện khát vọng lý tưởng của tác giả về một Xã hội tốt đẹp.
Câu thơ này nằm trong đoạn trích từ câu 473 đến câu 504 trong truyện Lục Vân Tiên ( Một quyển truyện thật đặc thù miền Nam, như Chú Tư Cầu sau này của Nhà văn Lê Xuyên hay Xuân Tóc Đỏ của miền Bắc…).
Nội dung là cuộc nói chuyện giữa nhân vật ông Quán với 4 chàng Nho sinh: Vân Tiên, Tử Trực, Trịnh Hâm và Bùi Kiệm.
Những điều ông Quán ghét:
Ghét đời Kiệt Trụ mê dâm. – Ghét đời U, Lệ đa đoan. – Ghét đời Ngũ Bá phân vân. – Ghét đời Thúc, Quý phân băng… Đó là những triều đại Vua chúa say đắm tửu sắc,ăn chơi sa đọa, lộng hành quyền lực làm cho đất nước suy yếu, bấn loạn, nhân dân khốn cùng. Mỗi câu thơ lục bát là một tiếng dân. Nhà thơ đứng về quan điểm của người bình dân để bình phẩm lịch sử.
Những điều ông Quán thương: 
Đó điều là những con người có tài, có đức, muốn hành đạo giúp đời nhưng đều không đạt sở nguyện.
Điển hình như: Thương đức Thánh nhân (Khổng Tử) , vì long đong, lận đận – Thương thầy Nhan Tử:  hiếu học nhưng mất sớm – Thương ông Gia Cát: phí hoài tài năng công sức – Thương thầy Đổng Tử: không có điều kiện để thi thố tài năng. – Thương người Nguyên Lượng: bất đắc chí – Thương ông Hàn Dũ: bị đi đày – Thương thầy Liêm Lạc: không được trong dụng…
"Vì chưng hay ghét cũng là hay thương": Ghét và thương là hai thái cực tình cảm trái ngược nhau ở một con người vậy mà ở Nguyễn Đình Chiểu "lẽ ghét thương" lại xuất phát từ một điểm: Ông ghét cũng vì dân và thương cũng vì dân.

.