Thơ,  Văn

TẢN MẠN: ẢO GIÁC TÌNH THƠ + BÍ KÍP THỰC HƯ & CHÙM THƠ VỀ NHỮNG NỤ HÔN – CAO MỴ NHÂN

Ảo Giác Tình Thơ

Cao Mỵ Nhân

Chuyện tình của quý vị cao niên nếu có thì lớp hậu sinh cũng nên trân trọng.

Tôi vốn là người trọng nguyên tắc thời gian, thường làm cái việc vô tích sự là cứ tẩn mẩn tính tháng, tính năm cho mỗi tuổi tác các quý vị nhân vật chính cao niên, có thể là lão niên nữa.

Số là hôm nay tôi được đọc truyện ngắn Hoa ti gôn của nhà văn Thanh Châu đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy từ năm 1937, rồi đăng lại năm 1939 cũng trên tờ báo ấy, sau khi những bài thơ của tác giả T.T.Kh. được tung ra ở Bắc Việt, giai thoại đó già hơn tôi mấy tuổi lận.

Thế thì câu chuyện Hoa ti gôn nào có chi bi thảm, tác giả T.T.Kh. và ông họa sĩ trẻ tên Lê Chất chỉ hoàn toàn tình cờ, nhẹ nhàng như bất cứ cặp nam nữ trẻ trung thời nào cũng có thể xảy ra, chỉ qua những cái nhìn ấn tượng. Rồi có thể ai nấy sẽ quên đi mối tình thoang thoảng, hay thấp thoáng cũng được.

Thực ra trong truyện ngắn Hoa ti gôn, T.T.Kh. không phải là nhân vật nữ của họa sĩ Lê Chất mà người nữ đó tên Mai Hạnh, sau lấy chồng giàu có là một viên chức của Tòa lãnh sự Pháp. Lê Chất đã là một họa sĩ danh tiếng được Tòa lãnh sự Pháp mời dự tiệc ở Vân Nam.

Qua bữa tiệc, họa sĩ Lê Chất đã tỏ bày lòng yêu thương với Mai Hạnh và chết nỗi thời gian tưởng trôi qua cả chục năm, giờ lại tái phát cuộc tình trễ muộn, lỡ làng… Tất nhiên có những phút giây không hợp với xã hội Việt Nam thủa thượng bán thế kỷ 20 là Lê Chất rủ Mai Hạnh bỏ trốn qua Nhật, thoạt thì Mai Hạnh phu nhân viên chức X. tòa lãnh sự bằng lòng, sau suy nghĩ lại đã từ chối chuyến đi định mệnh bỏ gia đình theo người tình gặp lại, vân vân và vân vân.

Và thế nên Hai sắc hoa ti gôn được T.T.Kh. gởi đăng báo sau bài Hoa ti gôn của nhà văn Thanh Châu. Sự kiện tưởng như là từ một nguyên do: truyện ngắn Hoa ti gôn của nhà văn Thanh Châu (sinh 7 – 9 – 1912, mất 8 – 5 – 2007, thọ 95 tuổi) đăng báo năm 1937, kế tới bài thơ Hai sắc hoa ti gôn của T.T.Kh., không rõ tên thật nên làm sao biết tuổi tác, cũng đăng báo năm 1937 ấy.

Có thế thôi, thế là hết câu chuyện tình… bình thường, như khá nhiều chuyện tình của thiên hạ, có điều đoạn thơ thê thảm của bài Hai sắc hoa ti gôn (khổ thơ thứ 7 trên 11 khổ thơ thất ngôn), T.T.Kh. viết:

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim một bóng người…

(T.T.Kh.)

…làm cho cả một thời đại xúc động, cả một thế hệ người tình xao động, cho tới bây giờ 78 năm, văn học sử và quý độc giả vẫn chưa giải mã được ẩn danh, ẩn tích T.T.Kh. là ai.

Khoảng 21 năm trước, hai tác giả Thế Phong (miền Nam) và Trần Nhật Thu (miền Bắc) tạo ra một làn sóng văn chương, viết nên một… giai thoại kế thừa Hoa ti gôn của Thanh Châu và T.T.Kh.:

T.T.Kh. là ai?

Giai thoại bí ẩn 57 năm được giải mã

Tôi nhớ đại khái thế vì tên sách hơi dài, vả chăng tôi không định nói về cuốn sách của Thế Nhật nêu trên, mà tôi định góp ý… thô thiển về trường hợp sách được phát hành rộng rãi ở Việt Nam, bên cái xã hội chủ nghĩa xa vời mà thôi.

Khi thấy tuần báo Dân ta ở Texas đăng từng kỳ cuốn sách Thế Nhật, tôi chưa biết… phải làm gì. Lý do hai tác giả trên khẳng định nữ sĩ Vân Nương ở hội thơ Quỳnh Dao đều bất bình, không cảm thấy vui, bởi lẽ nữ sĩ Vân Nương, một trong bốn nữ sĩ sáng lập hội thơ Quỳnh Dao (Mai Oanh, Đinh Thị Việt Liên, Thu Nga, Vân Nương đã mời các nữ thi sĩ chuyên thơ Đường luật tham dự năm 1961 ở Sài Gòn mà tôi lại là người tham gia cuối cùng năm 1979, được gọi em út Quỳnh Dao, thế chỗ Tôn Nữ Hỷ Khương lên hàng áp út),chẳng lẽ tôi không lên tiếng sao?!

Còn đang loay hoay, thì nhà văn Đặng Trần Huân cười nói:

Cao Mỵ Nhân không lên tiếng thì ai nói rõ ra việc đó, các bà chị lớn của cô không bao giờ… trả lời vụ này đâu.

Tôi đã tức tốc viết một bài, cũng không có ý tranh cãi, nhưng để thanh minh nữ sĩ Vân Nương không thể nào là T.T.Kh. được. Tên bài viết của tôi:

T.T.Kh. hậu chiến

Tuy đề bài có vẻ khôi hài nhưng nội dung đan cử rất nhiều chi tiết cần thiết đính chính nữ sĩ Vân Nương không phải T.T.Kh. Chỉ căn cứ vào cuộc đời thực tế và văn chương, nữ sĩ Vân Nương không và chắc chắn không thể là T.T.Kh. được.

Nữ sĩ Vân Nương tên thật là Trần Thị Vân Chung, phu nhân của luật sư Lê Ngọc Chấn, nguyên bộ trưởng Bộ quốc phòng thời Đệ nhất Cộng hòa, nguyên đại sứ hai nhiệm kỳ ở Anh Cát Lợi và Tunisie.

Ông bà đại sứ luật sư đương nêu trở về Việt Nam trước 30 – 4 – 1975 để chuẩn bị đi đại sứ ở một nước khác …trừ đổi đời, luật sư Lê Ngọc Chấn phải đi tù cải tạo ở nhiều trại ngoài Bắc rồi trở về Nam, sau qua đời vì bệnh tim năm 1986 ở Sài Gòn.

Đám cưới của luật sư Lê Ngọc Chấn và nữ sĩ Vân Nương ở Thanh Hóa năm X. có hai nhà thơ lớn tiền chiến phụ rể là Huy Cận và Xuân Diệu.

Ông bà Lê Ngọc Chấn, Vân Nương sống rất hạnh phúc, được bốn người con, hai trai, hai gái. Cô con gái đầu một thời đã xuất bản tập thơ Y., sau thành hôn với một nhà quý tộc nước Ý. Những người còn lại hiện đang cùng con, cháu ở Pháp.

Nữ sĩ Vân Nương sinh năm 1920 nên năm nay đã 95 tuổi.

Cách sống đức hạnh của bà đã viết những vần thơ vô cùng phẩm chất, đã xuất bản hai tập thơ tình cảm chân chất, và tập thơ đạo Đi tìm lý tưởng theo bước chân thiện tài, tầm sư, học đạo, sau đổi là Con đường lý tưởng.

Thế sao lại có huyễn thoại, tôi phải nhấn mạnh là huyễn thoại T.T.Kh. nàng là ai như Thế Nhật viết chứ?

Số là có hai vị nữ lưu tài sắc rất đáng ngợi ca, từ nhiều năm trước đã nổi tiếng là những trang quốc sắc. Đó là nữ sĩ Vân Nương và nữ sĩ Thư Linh, phu nhân của vị tổng giám đốc Z. họ Nghiêm ở Sài Gòn trước 30 – 4 – 1975.

Nhị vị nữ sĩ thường đến nhà nhau đàm đạo thơ ca cổ kim, trong số có giai thoại Hai sắc hoa ti gôn – nữ sĩ Vân Nương vốn ở Thanh Hóa, là chị ruột của bà Trần Thị Anh Minh, phu nhân nhà thơ Hà Thượng Nhân, bản tính vui vẻ, bặt thiệp, đôi khi cũng bông đùa kiểu chị em bạn gái.

Một lần nào đó tôi được nghe hai thi sĩ cười giỡn, vui đùa:

Chị Vân Nương ở Thanh Hóa thì đúng rồi, T.T.Kh. chứ còn ai.

Nữ sĩ Vân Nương hóm hỉnh trả lời:

Thì T.T.Kh. đấy, làm sao biết được.

Tất nhiên không phải câu chuyện ngắn gọn như vậy, có nhiều điều dài dòng hơn, tôi chỉ đề cập tới hai câu đối thoại dính tới danh xưng T.T.Kh..

Cả mười mấy năm sau, cuốn sách T.T.Kh. là ai được tung ra. Sách mỏng nhưng đập vào thị hiếu độc giả trong nước, gây phiền toái cho cá nhân nữ sĩ Vân Nương, gia đình và chúng tôi, những thành viên trong thi đàn Quỳnh Dao. Khiến nữ sĩ Mộng Tuyết niên trưởng Quỳnh Dao quốc nội bất bình, nữ sĩ Trùng Quang niên trưởng Quỳnh Dao hải ngoại khó chịu không kém.

Năm ấy 1995, tai họa T.T.Kh. là ai áp đặt vào nữ sĩ Vân Nương khiến bà phải khẳng định ngay hoàn cảnh và lập trường. Từ đấy sau bút danh Vân Nương có ba chữ Lê Ngọc Chấn để không cần phải đính chính. Bằng những nụ cười nhạt, nữ sĩ Vân Nương đã trả lời mấy cuộc phỏng vấn báo chí. Đồng thời dư luận bạn đọc cũng chẳng ai tin những điều viết trong cuốn sách T.T.Kh. là ai , bởi lẽ độc giả Việt Nam rất đơn giản nhưng cũng rất quyết đoán, phải có bằng chứng xác thực họa may mới gọi là khả tín.

Tới nay đã 20 năm qua, tôi được đọc truyện ngắn Hoa ti gôn của nhà văn tiền chiến Thanh Châu, phân tích sự việc ngoài đời và chủ nghĩa mới hay có nhiều sự hiểu lầm đáng tiếc: nào là nhà văn Thanh Châu đó cũng có quen với gia đình nữ sĩ Vân Nương, nào là luật sư Lê Ngọc Chấn phu quân nữ sĩ cũng là một nhà ngoại giao… gộc, vân vân và vân vân, thì cái ảo giác cứ lan man đối với những người ưa tưởng tượng, huống chi tất cả xuất phát từ Vườn Thanh (Thanh Hóa).

Nhưng cho dẫu suy diễn, tưởng tượng… vẫn chỉ là phỏng đoán, nôm na gọi là đoán mò thì cũng sẽ rơi vào quên lãng những hoa, lá, cành về T.T.Kh.. Còn giai thoại T.T.Kh. vẫn tồn tại như những chuyện cổ tích, không nhất thiết phải hay nhưng lạ thì chắc chắn rồi.

Hôm nay bên trời Pháp Quốc, ở một vùng thuộc miền Nam ấm áp, nữ sĩ Vân Nương đã 95 tuổi rồi, không gian đã bàng bạc như là dĩ vãng xa gần. Em út Quỳnh Dao của chị không bày tỏ được gì thật trọn vẹn như ý trong huyễn thoại T.T.Kh. hậu chiến, cảm thấy đáng trách quá.

Riêng nhà văn tiền chiến Thanh Châu thì mãi tới năm 2007 mới mãn phần ở Sài Gòn, nơi nổ ra ảo ảnh T.T.Kh. mà thơ Hai sắc hoa ti gôn lại được viết sau truyện ngắn Hoa ti gôn, sao nhà văn không lên tiếng, sau đúng một giáp cuốn sách T.T.Kh. là ai kia chất ngổn ngang khắp đường phố ông mới ra đi vậy!

Ý tôi muốn nói rằng ở một tỉnh nhỏ như Thanh Hóa có chuyện gì mà không trong nhà chưa tỏ, ngoài ngỏ đã thông. T.T.Kh. chẳng những làm một bài Hai sắc hoa ti gôn, còn có thêm vài bài nữa như Bài thơ thứ nhất, Bài thơ đan áo, v.v., với người dân Việt Nam ta nói chung, ba bảy hai mươi mốt ngày, chuyện đời dẫu bí mật vẫn có thể lan ra một cách không kìm lại được.

Phu quân T.T.Kh. họa may là một ông Tây mới bỡ ngỡ trước văn chương giấu giếm tình ái của vợ, chứ là một vị quan quyền Việt Nam thì ôi thôi, chỉ cần hắt hơi một cái ổng cũng tìm ra ngay cái điều ấp ủ nêu trên.

Thành cuối cùng, tôi vẫn suy diễn dù chủ quan, nhà văn Thanh Châu tác giả truyện ngắn Hoa ti gôn biết được ít nhiều về T.T.Kh., mới quá cố có 8 năm nay (2007) tại sao hai tác giả viết T.T.Kh. là ai? không tìm đến cụ văn sĩ này mà hỏi thăm, chắc cũng có điều bổ ích lắm.

Còn T.T.Kh. hậu chiến của tôi thì đang sống trong nỗi nhớ quê hương, người thân kẻ thích xa mờ, bàng bạc, mơ hồ, vì nữ sĩ Vân Nương đã 95 tuổi.

Hawthorne, 28 – 1 – 2015
CAO MỴ NHÂN

Bí Kíp Thực Hư

Cao Mỵ Nhân

Không phải cứ nhốt mình trong một căn phòng bốn bề tường dày như lô cốt, ăn uống trong đó rồi ngó tường chăm chăm thì gọi là diện bích đâu.

Quả tình lúc đầu thì tôi tưởng thế đấy. Diện bích thì phải đối diện vách tường, cao hay thấp thì tuỳ, rồi cứ thế ngó tường suy nghĩ này kia.

Từ xưa rồi, khi lớn lên, tôi đã chẳng rung cảm những pho truyện chưởng Tàu, đan cử như những kho kinh điển truyện hư cấu như Tiếu ngạo giang hồ hay thích nói mau là Lệnh Hồ Xung của nhà văn lớn Kim Dung chẳng hạn.

Chỉ cần học thuộc tên một vài nhân vật tên tuổi trong bộ chưởng ấy là đã có vẻ hiểu biết Hán lắm rồi.

Song tôi dở đến nỗi như kiểu diện bích không biết cả thế nào là quân tử Tàu trời ạ.

Cho đến năm đầu 80 của thế kỷ trước, bạn tôi tên Kim Oanh tới nhà để chở tôi bằng xe đạp qua bên nhà mẹ chồng tôi nhận một chút quà từ Mỹ gởi về cứu… đói.

Thông qua cái fax gì đó, tôi phải nhận quà qua mẹ chồng tôi do ông xã gởi về.

Oanh biết tôi khí khái, chở tôi tới tận nơi nhận tiền, dọc đường còn dặn dò: Chồng cho bao nhiêu thì cứ nhận, chứ không phải quân tử Tàu đâu mà thiệt thòi đó nghe.

Tôi biết Oanh dặn dò là có ý tốt cho mình, nhưng vẫn hỏi bạn: Oanh nói quân tử Tàu là thế nào?

Trời, quân tử Tàu mà không biết à? Là những ông cứ giả bộ tốt lắm, ai cũng lầm, thực chất thì không ngay thẳng tí nào… gạt gẫm, phỉnh phờ đó mà.

Ôi thế mà lâu nay mình cứ tưởng quý vị ấy là những bậc chính nhân quân tử, giữa đường thấy sự bất bằng chẳng tha, cứu nhân, độ thế chứ?

Oanh cười: Mỵ không đọc Tiếu ngạo giang hồ à? Trong truyện có ông tên Nhạc Bất Quần là một nguỵ quân tử, giả bộ người quân tử thôi. Về tìm Tiếu ngạo giang hồ coi đi cho biết.

Thế là tôi biết quân tử Tàu không thật sự quân tử, nói cho văn vẻ là nguỵ quân tử vậy.

Nhưng tại sao phải làm thế? Không thật trong cái cách đối xử nó có vẻ gì kịch tính, xa vời, bí ẩn với chung quanh v.v..

Song tha nhân gặp họ, quân tử Tàu, nguỵ quân tử lại có cái vẻ giữ chút ân nghĩa ở đời, cũng có chút nể nang. Đôi khi đã hiểu nguỵ quân tử rồi thì cũng sẵn sàng chia sẻ quyền lợi tinh thần, vật chất chung…

Chính vì tư tưởng chính khí bốn bề là nhà nên ít người nhẹ dạ như tôi hay thần thánh hoá các đấng quân tử Tàu mỗi lần vô tình hạnh ngộ quý đấng Nhưng cũng may phước đức ông bà tôi chưa đến nỗi cuồng tín máy móc để phải nản lòng hết thuốc chữa sau này.

Thế nhưng ở xã hội người Hoa nói cho văn vẻ, để xoá đi hình ảnh người quân tử Tàu không mấy đẹp, tôi nghĩ điều đó cũng chỉ là một trong có thể nhiều hơn đặc tính của dân tộc luôn có sẵn hai mặt giả chân, hư thực ở đời.

Dân ta và có lẽ cả các dân tộc khác trên thế giới đều biết ở lãnh vực nào, phương diện nào, người Tàu cũng có mặt phải, mặt trái của sự việc.

Thí dụ máy móc thật (tương đối thôi) thì lập tức có máy móc giả (tuyệt đối như hàng mã).

Cứ phương châm chân giả xen kẽ ở đời mà sống cho hết tháng, hết năm.

Người Hoa bất kể theo chủ nghĩa nào vẫn duy trì hư thực như một học thuyết mà có tốn công tốn của đến mấy, thảo luận, trách cứ, v.v. họ vẫn không thay đổi quan niệm chính tà của mình.

Đôi khi tôi thấy cái chính thống của họ hay, mà cái tà thuật của họ cũng tinh xảo không kém.

Muốn chứng minh thì cũng chẳng cần phải tìm tòi đâu xa.

Lại đưa chưởng ra làm ví dụ.

Thí dụ làm sao có thể vận dụng công lực, khí thế để di chuyển con người lẫn cảnh vật trước đám đông, như làm xiếc?

Tuy nhiên đó cũng mới kể là nghệ thuật ảo.

Còn thực tế thì cũng hàng trăm đồ dùng, vật dụng giả ngó thấy ngay từ khi cầm trong tay, cũng đành chỉ ngó, tiếc hùi hụi là mình đã lầm coi xét, ham rẻ, v.v. chứ kẻ bán hàng giả đó có đoan chắc với mình là đồ tốt đâu.

Hôm xưa bà bạn tôi tới phi trường X. thấy ai cũng mua đôi dép rất đẹp, xinh xắn, có 2 đồng USD một đôi, có miếng giấy in nhỏ xí Made in China, nào họ có gian dối gì cho cam.

Bà bạn tôi mua ngay năm đôi năm màu. Tính là hễ mặc y phục color gì thì xài đôi dép sắc đó.

Song hỡi ơi, bà kể cho tôi nghe là xỏ chân vào đi một chập, chưa tới cửa tiệm thịt quay ở khu chợ Phước Lộc Thọ quai dép đã rời ra, ông bán thịt quay cười giơ dao chặt thịt quay lên nói:

Dép đó chỉ mang cho lẹp (đẹp) đứng trên sân khấu chút thôi, không phải dép thể thao đâu mà…

Đất nước Trung Hoa xưa với có lẽ hàng vạn năm xưa rích tự ghép rồi tự rã… cứ thế liên miên. Danh xưng đệ nhất anh hùng, toàn thắng, bất bại, vô song gì đó cũng là một cách lý giải tâm tư hỗn loạn thực hư, chân giả của họ. Điều họ không muốn phục thiện làm tốt, có lẽ sợ rằng khi tốt quá, tốt hết thì còn gì chân lý để so sánh nữa.

Do đó họ yên tâm sắm vai trò của họ cho thật xuất sắc, trong phạm vi nào cũng muốn làm thiên hạ đệ nhất.

Thành thử vai trò quân tử Tàu cũng không đến nỗi làm vướng bận ai nếu tôi có lỡ lời… giới thiệu giáo sư X., đại học sĩ Y. ở khuôn viên nào đó là quân tử Tàu chắc cũng bình thường như thiên hạ ở bốn phương trời thôi. Không có ý xấu. Chỉ là quen mắt, quen tai lâu rồi, về cái tật cố hữu chân giả, thực hư miên man nơi xã hội mà người Trung quốc chiếm 1/4 sắp lên 1/3 dân số trên thế giới quý vị ạ.

CAO MỴ NHÂN

CHÙM THƠ NHỮNG NỤ HÔN

Cao Mỵ Nhân

NỤ HÔN VỘI.     CAO MỴ NHÂN 

Chúng mình mở khẩu trang 

Hôn nhau rồi đậy lại

Hơi thở trong không gian

Bỗng đậm mùi quan tái

*

Chợt một tiếng ho khan

Rồi cơn ho rũ rượi 

Em ôm ngực than van

Yêu không còn đắm đuối

*

Vốn đam mê miên man

Em hỏi thầm anh hỡi 

Đại dịch bao giờ tan 

Khăn che mồm buồn tủi 

*

Em không thấy mặt anh

Để thì thầm tiếng nói

Anh không thấy mặt em

Để nồng nàn hôn vội 

*

Quà sinh nhật năm nay

Không hồng vàng, táo đỏ 

Trái tim sẽ ngủ say 

Trong cảm hàn buồn nhớ …

*

   CAO MỴ NHÂN 

*

NỤ HÔN THẦM LÉN.   CAO MỴ NHÂN

Sao anh phải thắp sáng

Nụ hôn lúc bình minh

Nồng nàn như ánh nắng 

Mời cuộc tình hồi sinh

*

Em đợi trời thơ ấm

Để viết lời thương yêu

Bằng mầu son môi thắm 

Trước khi tuổi xuân chiều

*

Anh nhìn em ái ngại 

Chắp thêm cánh mộng bay

Vượt đường trường quan tái

 Cho mơ ước, đắm say

*

Tình mình ôi trọn vẹn

Người tình ôi thiết tha

Nụ hôn ôi thầm lén 

Đã chia cách chúng ta…

*

   CAO MỴ NHÂN

NỤ HÔN TAN.   CAO MỴ NHÂN 

Sáng nay, một nụ hôn suông

Từ nơi xa thẳm gió sương thoáng về

Em ngồi đón nhận đam mê 

Nhủ thầm anh hỡi môi tê tái buồn

*

Vẫn là chuyện một nụ hôn

Anh mang đi mãi, khiến hồn em vơi

Nhìn sương gió mong manh rơi

Như anh còn dấu nửa vời tình theo

*

Sáng nay vương vấn mỗi điều 

Là sao em mãi thương yêu một người 

Nụ hôn lâu tưởng phai rồi 

Nào ngờ nó bỗng bồi hồi trong mơ

*

Niềm vui thả lỏng ngày xưa

Hôm nay có chút nắng mưa hoang tàn 

Đưa tay sờ nụ hôn tan 

Thẫn thờ năm tháng đá vàng hắt hiu…

*

   CAO MỴ NHÂN 

*

NỤ HÔN BỆNH.    CAO MỴ NHÂN 

Anh tiếc gì nụ hôn

Khi em vô bịnh viện

Ánh mắt nhìn van lơn

Tình yêu không giấu giếm

*

Cả một trời vi trùng

Từng bụi hoa, luống cỏ

Anh mỉm cười ngại ngùng

Ngó em sầu lỡ dở

*

Anh tới đây làm chi

Cuộc tình trôi lãng đãng

Theo lòng dạ từ bi

Xót xa buồn quá vãng

*

Nụ hôn cho người tình

Giữa cơn đau thức giấc 

Trái tim em bất bình

Trào dâng tràn nước mắt…

*

    CAO MỴ NHÂN 

NỤ HÔN GIÓ.   CAO MỴ NHÂN

Anh biết em yêu

Nên anh nuông chiều 

Mỗi ngày em viết 

Thơ đăng rất đều

*

Giữa cõi người ta

Đôi khi lơ là 

Tơ vương diễm tuyệt 

Tưởng tình ai xa

*

Anh dửng dưng xem

Nào có chi thêm 

Vẫn tình yêu cũ 

Trốn nơi trái tim

*

Em khóc trong mơ

Ô hay tình thơ

Có chi khổ luỵ

Tâm tư bâng quơ

*

Thế sao em buồn 

Thương tiếc nụ hôn

Nồng nàn anh gởi 

Gió gọi hồn đơn …

*

 CAO MỴ NHÂN