Tác giả “Chuyện tình buồn” qua đời

 

Tác giả bài thơ “CHUYỆN TÌNH BUỒN” mà đa số nhớ câu hát “NĂM NĂM RỒI KHÔNG GẶP” được Phạm Duy phổ nhạc trong ca khúc cùng tên, Cựu đại úy Thủy Quân Lục Chiến, Phạm Thanh Bình vừa qua đời tại Nam California, Hoa Kỳ.

 

Một còm trên FaceBook chia buồn với con của Đại Úy Bình như sau:

“Bác hai thay mặt gia đình chia buồn cùng con và toàn gia quyến về sự ra đi của ba con xin cầu cho ba con sớm siều thoát”

 

Mời độc giả thưởng thức ca khúc Chuyện Tình Buồn qua giọng ca Bằng Kiều

 

Toàn bộ bài thơ trên website thica.net như sau:

 

 

Năm năm rồi không gặp

Tác giả: Phạm Văn Bình

… Năm năm rồi không gặp

Từ khi em lấy chồng

Anh dặm trường mê mải

Đời chia hai nhánh sông

Phong thư tình ngây dại

Và vai môi rất mềm

Những hẹn hò cuống quýt

Trên lối xưa thiên đường

Ngày nhà em pháo nổ

Anh cuộn mình trong chăn

Như con sâu làm tổ

Trong trái vải cô đơn

Ngày nhà em pháo nổ

Tâm hồn anh rớm máu

Ôi nhát chém hư vô

Ôi nhát chém hư vô

Năm năm rồi đi biệt

Đường xưa quên lối về

Trong đìu hiu gió cuốn

Nằm chơ vơ gác chuông

Năm năm rồi trở lại

Một màu tang ngút trời

Chúa buồn trên thánh giá

Mắt nhạt nhòa mưa qua

Năm năm rồi không gặp

Từ khi em lấy chồng

Thương người em năm cũ

Thương góa phụ bên sông

 

Vài kỷ niệm riêng của gia đình tôi với Đại Úy Bình. Bình người Đông Hà, thành phố địa đầu thuộc Tỉnh Quảng Trị. Tôi người Saigon ra trấn giữ Vùng Hỏa Tuyến, trong khi Bình người Vùng Hỏa Tuyến lại đi trấn giữ khắp bốn vùng chiến thuật, luôn luôn xa nhà. Khi tôi đi tù về thì Bình vác cây đàn ghi ta trên vai tới tham dự cuộc vui đoàn tụ của gia đình tôi sau hơn 9 năm bầm dập vì giặc Cộng. Bình ra tù trước tôi; chàng chỉ bị đi tù hơn 6 năm. Như mọi cựu sĩ quan bên thua trận, cuộc sống gia đình của đại gia đình các cựu sĩ quan thua trận chúng tôi thường có những điều không được xuông xẻ và tôi chỉ biết Bình sống đơn độc. Cũng như tôi, và mọi sĩ quan thất trận khác, chúng tôi bị đòi hỏi phải có công ăn việc làm (để trở thành công dân tốt) nhưng chúng lại không cho chúng tôi làm gì cả chỉ cho phép chúng tôi làm những việc lao động phổ thông, trong khi với trình độ ít nhất là tú tài của các cựu sĩ quan, chúng tôi, so với giáo chức Cộng Sản, thì quá thừa khả năng mở lớp dậy học tư. Nhưng bọn CS gian ác đầy mặc cảm, không chấp thuận cho chúng tôi làm thầy mà bắt phải lao động chân tay, cấp thấp nhất. Ví dụ tôi phải khai trong giấy khai sinh của con tôi ở mục nghề nghiệp là “THỢ MAY”. Mọi người ngạc nhiên hỏi tôi biết may quần áo à? thì tôi trả lời, có biết đâu, nhưng ai hỏi may thì mình nói tôi là THỢ MÁY, mà ai mang máy tới thì mình bảo là THỢ MAY. Họ cười!

 

Ông bố vợ tôi, cũng 1 cựu sĩ quan bị tù cải tạo, mỗi khi tới vườn nhà tôi chặt cây chuối về băm cho heo ăn thường có tôi phụ vác một đầu. Tôi đi trước định hướng ra quốc lộ cho dễ đi, nhưng ông bảo “Đi đường làng, ngang qua cổng ủy ban để chúng nó thấy mình lao động.” Khoảng năm 1988, tại miền Nam có mở lớp “Chính trị Mác Lê Nin” cho những người có bằng cử nhân luật của chế độ cũ được ghi tên theo học để làm luật sư, đó là lớp duy nhất, tôi cầm tờ báo có thông cáo đó mang hỏi công an đang chịu trách nhiệm quản chế tôi thì anh ta nói “Anh không đủ tiêu chuẩn thành phần tốt để làm luật sư đâu.”

 

Bình dĩ nhiên cũng ở hoàn cảnh tương tự, và ngày nào chàng cũng cầm theo cái kìm. Khi gặp tôi Bình giải thích Bình làm ở hợp tác xã mành trúc “xuất khẩu”!, công việc là lắp các đốt trúc vào làm thành bức mành nên ngày nào cũng dùng kìm. Mà buồn cười là đi làm tiền công rất ít nhưng dụng cụ (cái kìm) mình phải mang tới. Sáng mang đi chiều mang về, để lại chỗ làm thì sợ bị mất!. Mặc dù tiền công không đủ sống nhưng vì “phải có công ăn việc làm để trở thành người dân tốt” nên Bình vẫn hàng ngày phải tới hợp tác xã gọi là “cúng cô hồn” 8 tiếng. Bình thân với gia đình tôi ngay từ trước khi tôi đi tù về là vì Bình có họ bên ngoại của vợ tôi.

 

Khi tôi đi tù thì vợ tôi ở nhà rất vất vả nhưng phải nuôi bốn con nhỏ học cấp 2, không ai trông nom. Thực sự thì con nhà nghèo cũng chẳng cần ai trông, miễn là mỗi tối, sau một ngày vất vả ngoài chợ trời, mẹ mang về đủ lương thực cho các con cho ngày hôm sau là yên tâm. Trong khi Bình lại rảnh và cũng cần thêm chút đỉnh tài chánh. Do đó vợ tôi nhờ Bình tới nhà mỗi tuần vài bận, mỗi bận vài giờ sau buổi làm ở hợp tác xã, dậy đàn ghi ta cho các con tôi. Nhưng các con tôi không có khiếu nên học mãi cũng không thành “nghệ sĩ” được. Vợ tôi kể, các con có học được gì đâu nhưng là bà con nên muốn giúp đỡ anh ấy thôi và cũng là để có người lớn trong nhà một số thời gian ngắn trong khi vợ tôi suốt ngày phải bươn chải ngoài chợ. Tình bạn qua lại giữa gia đình tôi và Bình như vậy cho tới ngày tôi đưa gia đình đào thoát khỏi gông cùm CS thì không còn liên lạc nữa.

 

Sau này, tôi nghe nói, sau khi “đổi mới”, sự đi lại dễ dàng hơn nên Bình đã “trôi dạt” vào Saigon. Sang tới Mỹ, được tin Bình ở Denver, Colorado, tôi có gọi điện thoại liên lạc một lần cách nay hơn 20 năm. Từ đó bận bịu cuộc sống, chúng tôi không liên lạc với nhau, nhưng do mối liên lạc đồng hương Đông Hà nên gia đình tôi vẫn biết sơ sơ về cuộc sống của Bình. Bình đã rời về miền đất ấm Nam Cali. Các con của Bình cũng như các con tôi đều đã lớn và có cuộc sống ổn định. Nay đột ngột nghe anh đại diện đồng hương Đông Hà báo tin Bình qua đời, gia đình tôi đều bàng hoàng. Kể ra thì tuổi chúng tôi cũng lớn rồi. Anh lại còn hơn tôi vài tuổi. Chẳng có gì tiếc nuối. Ngoài những hy sinh tuổi trẻ cho tổ quốc, Bình còn may mắn là có được một tác phẩm mà người đời ưa thích. Thế cũng tạm đủ. Cầu mong Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến & nhà thơ Phạm Văn Bình tìm thấy chốn bình yên.

 

 

 

About the author
Leave Comment