BA MƯƠI SÁU NĂM NGÀY QUỐC HẬN

NHÌN LẠI CUỘC CHIẾN VIỆT NAM

AI THẮNG AI?

 

Phạm Trần Anh

Ba mươi sáu năm đã trôi qua nhưng chúng ta vẫn canh cánh bên lòng nỗi buồn “Mất nước khiến toàn dân Việt sống trong lầm than thống khổ, hơn 87 triệu đồng bào trong nước đang quằn quại trong ngục tù bao la gọi là nhà nước CHXHCNVN và gần 4 triệu đồng bào Hải ngoại phải sống đời lưu vong tại các quốc gia tự do. Đã đến lúc, chúng ta cùng bình tâm nhìn lại lịch sử để từ đó sẽ có một nhận định toàn diện và đúng đắn về cuộc chiến Việt Nam. Từ những sự thật lịch sử, chúng ta mới nhận thức rõ về hoàn cảnh của đất nước Việt Nam và chúng ta phải làm gì để đưa dân tộc Việt vượt qua cơn khổ nạn
để sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới.

 

BẢN CHẤT CUỘC CHIẾN VIỆT NAM

Sau hiệp định Patenôtre 1884, thực dân Pháp chính thức đặt ách đô hộ trên đất nước thì nhân dân Việt Nam đã anh dũng đứng lên chiến đấu giành độc lập dân tộc. Nửa đêm 22-5-1885, Tôn Thất Thuyết tấn công dinh Khâm Sứ Pháp ở kinh đô Huế thất bại nên triều thần phò vua Hàm Nghi, một vị vua trẻ tuổi yêu nước chạy ra Quảng Trị, mở đầu cho phong trào Cần Vương, phong trào Văn Thân và sĩ phu yêu nước trên toàn quốc. Đất nước chúng ta chưa thoát khỏi sự đô hộ của thực dân Pháp thì đảng CSVN lại đưa dân tộc Việt vào cuộc chiến tranh ý thức hệ, đối đầu giữa CS và tư bản khiến hàng triệu người dân Việt đã phải hy sinh. Đảng CSVN đã núp dưới danh nghĩa Việt Minh với chiêu bài kháng chiến, lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân đánh đuổi thực dân Pháp để nhuộm đỏ đất nước Việt Nam. Do đó , cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã bắt đầu ngay từ khi thực dân Pháp đô hộ nước ta tính tới thời điểm Trung Công và Liên Xô công nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tháng 1 năm 1950 thì cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến giành độc lập Dân tộc.

Đầu năm 1950, đất nước Việt Nam bước sang một khúc quanh lịch sử sau khi Trung Cộng công nhận VNDCCH ngày 14-1-1950 và Liên Sô công nhận nhà nước VNDCCH ngày 31-1-1950. Hồ chí Minh và nhà nước VNDCCH đã chính thức đứng vào hàng ngũ các nước CS nên Hoa Kỳ, Anh Quốc và các nước trong thế giới tự do công nhận chính phủ Quốc gia Việt Nam do Đức Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo ngày 7-2-1950. Cuộc chiến đã chuyển sang một thời kỳ lịch sử mới: cuộc chiến ý thức hệ đối đầu giữa 2 ý thức hệ Tư Bản và Cộng sản chứ không còn là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc nữa, mặc dù cộng sản vẫn tuyên truyền rêu rao là “giải phóng dân tộc” là “chống Mỹ cứu nước”.

Chính vì vậy, chúng ta phải hiểu rõ bản chất của cuộc chiến hay nói cách khác, hiểu rõ ý đồ của các thế lực quốc tế toan tính những gì trên xương máu mồ hôi và nước mắt của toàn dân Việt Nam chúng ta mới thấy rõ toàn bộ vấn đề. Như vậy kể từ tháng 1 năm 1950, cuộc chiến Việt Nam không còn thuần túy là cuộc kháng chiến chống Pháp nữa mà đã chuyển sang cuộc chiến tranh ý thức hệ mà ta thường gọi là chiến tranh lạnh giữa 2 khối tư bản và Cộng sản. Đây là một sự thật lịch sử về bản chất của cuộc chiến Việt Nam mà từ trước đến nay chúng ta mỗi người hiểu một cách. Thật vậy, đồng bào miền Bắc nhất là các đảng viên đoàn viên CS bị nhồi nhét tuyên truyền “Bác Hồ” là người yêu nước và đảng Cộng sản Việt Nam có công giành lại độc lập từ tay thực dân Pháp. Đồng bào trong Nam thì hiểu là cuốc chiến tranh ý thức hệ để ngăn chặn làn sóng đỏ, còn đa số quần chúng nhân dân thì hiểu đơn giản là cuộc nội chiến Nam Bắc tương tàn. Thật vậy, đối với người dân bình thường thì đó là một cuộc nội chiến tương tàn nồi da xáo thịt “Ba mươi năm nội chiến từng ngày ” khiến 4 triệu đồng bào Việt Nam ở miền Bắc đã hi sinh cho một cuộc chiến vô nghĩa như các nhà văn từng sống trong chế độ Cộng sản đã phải viết lên những sự thật phũ phàng của cái gọi là “Chống Mỹ Cứu nước …!

 

THỰC CHẤT CỦA CUỘC CHIẾN VIỆT NAM

Chúng ta đã thấy rõ bản chất của cuộc chiến nhưng một vấn đề quan trọng nữa được đặt ra là “Thực chất” của cuộc chiến tranh Việt Nam là gì?. Nói cách khác, các phe tham chiến ở VN mưu đồ tính toán những gì trên xương máu của nhân dân Việt Nam?

1.Đối với Liên Xô và Trung Cộng thì ngoài mục đích bành trướng chủ nghĩa CS, họ còn dùng chiến tranh Việt Nam để tiêu hao sinh lực “đế quốc” Mỹ cho đến “người Việt Nam cuối cùng” trong cuộc chạy đua vũ trang giành quyền bá chủ thế giới. Trong nhiều năm dài, điện Kremli luôn luôn phủ nhận việc Liên Xô có quân đội tham chiến tại Việt Nam. Mãi đến khi Liên bang Xô viết sụp đổ vào năm 1991, giới chức Nga mới công nhận là có hơn 3.000 quân Liên Xô tham gia trận chiến chống quân đội Mỹ tại Việt Nam. Tướng Vladimir Abramov được giao nhiệm vụ chỉ huy các sĩ quan và binh lính Xô Viết trong vùng Đông Nam Á. Việc lắp ráp hoả tiễn, radar và huấn luyện là do các chuyên gia Liên
Xô chuyên gia về hậu cần, chuyên gia về hải quân, chuyên gia về tên lửa, chuyên gia về không quân, về các loại binh chủng … Theo báo Russia Today, các chuyên gia Xô Viết đã đóng vai trò trọng yếu trong việc huấn luyện các lực lượng Bắc Việt Nam, và tên lửa Xô Viết gây thiệt hại nặng cho các phi cơ Mỹ. Nikolay Kolesnik phát biểu trên báo Russia Today “Chúng tôi chỉ được coi là chuyên gia quân sự Nga. Cấp chỉ huy thì mang danh là chuyên gia cao cấp nhưng chúng tôi là binh sĩ Liên Xô. Chúng tôi làm tât cả để ngăn các cuộc không kích”.

2. Đối với Trung Cộng thì chủ trương cố hữu của các triều đại Hán tộc xưa và Trung Cộng ngày nay là xâm chiếm Việt Nam bằng mọi giá để mở đường xuống Đông Nam Á. Ý đồ chiến lược của Trung Cộng là chiếm đóng khu vực này để khống chế eo biển Mallacca, kiểm soát toàn bộ lộ trình huyết mạch của Trung Quốc cũng như các nước khác có quyền lợi sinh tử ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Mao Trạch Đông đã công khai tuyên bốtrắng trợn ý đồ xâm chiếm Việt Nam: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả Miên, Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore. Việt Nam là bàn đạp tiến xuống phía Nam, chúng ta phải chiếm cho bằng được …”. Đế quốc mới TC còn ngang nhiên vẽ bản đồ Trung Quốc bao gồm nhiều nước chung quanh kể cả Đông Nam Á và biển Đông với “Lưỡi Bò” độc chiếm Biển Đông Nam Á.

Sự thật lịch sử đã chứng minh rằng có mặt của 300.000 hồng quân Trung Cộng đã tạo nên chiến thắng Điện Biên Phủ 1953 và xâm chiếm miền Nam Việt Nam. Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tức Trung Cộng đã công bố sự thật như sau: “ Trong giai đoạn giúp Việt chống Mỹ, nhân dân Trung Quốc đã vì Việt Nam mà đóng góp không biết bao nhiêu tài lực, nhân lực, vật lực, pháo binh, công binh, nhân viên đường sắt, nhân viên thư tín, hải quân, không quân, hậu cần vận tải … 16 chi đội ( tương đương với trung đoàn, hoặc sư đoàn), hơn 30 vạn người ở Việt Nam trong hơn 3 năm 9 tháng đấu tranh. Tác chiến đối không 2153 lần, bắn rơi 1707 máy bay Mỹ, bắt sống 42 phi công Mỹ, viện trợ Việt Nam xây dựng Hải Phòng, Hòn Gai, các thành phố duyên hải và xây dựng hệ thống phòng ngự ở tam giác châu thổ sông Hồng, tu sửa và xây dựng các tuyến đường huyết mạch, sân bay, tuyến đường sắt đông tây, mở đường trên biển và chi viện cho đường mòn Hồ Chí Minh. Từ năm 1950 đến năm 1978, Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam hơn 200 tỷ mỹ kim, và trong đó đến 93% là viện trợ không hoàn lại, đó là chưa kể xương máu mà 1446 chiến sỹ đã hy sinh, 4200 người trọng thương… những hy sinh đó tuyệt đối không thể tính bằng tiền”. Bắc Triều Tiên đến 2001 mới thừa nhận họ cũng đưa 200 phi công Bắc Hàn đã trực tiếp chiến đấu bảo vệ Hà Nội trong các đợt tấn công của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam. Tháng Bảy 2001 Bình Nhưỡng và Hà Nội mới bốc mộ những phi công Băc Hàn tử trận tại Việt Nam về Bắc Hàn.

2. Hoa Kỳ và các nước Tây phương nhận thấy hiểm họa to lớn khi “Siêu đế quốc” Liên Xô kết hợp với “Siêu bành trướng” Trung Cộng sẽ là mối nguy cho toàn thể nhân loại. Chính vì vậy, sau Hiệp định Genève Hoa Kỳ đã chính thức thay thế Pháp trong cuộc chiến đối đầu với cộng sản để thử nghiệm các loại vũ khí mới, đồng thời phân hoá Liên Xô và Trung Cộng hầu giảm bớt nguy cơ CS nhuộm đỏ Đông Nam Á. Sau chuyến ngoại giao bóng bàn và Hội nghị Trung Nam Hải giữa Nixon và Mao Trạch Đông, Trung Cộng đã mật ước với Hoa Kỳ nên người Đồng minh Hoa Kỳ đã làm ngơ khi Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa như một món qùa cho sự giao hảo giữa hai nước. Sự việc không chỉ ngưng ở đó, người bạn đồng minh của chúng ta còn bật đèn xanh cho CSVN xâm chiếm miền Nam …! Đây là bài học lịch sử đầy máu và nước mắt cho những ai còn tin vào “tình nghĩa đồng minh” mà phải luôn nhớ rằng nỗ lực tự thân mới là yếu tố chính để sống còn. Chính tập đoàn cố vấn chính trị của đại hhoc Michigan đã khuyến cáo TT Carter rằng “Ngày nay, TQ đã là đồng minh của chúng ta, nhưng cúng ta luôn nhớ rằng, đồng minh không có nghĩa là người bạn tốt”. Nói như vậy, không có nghĩa là chúng ta phủ nhận những gì Hoa Kỳ đã giúp chúng ta nhưng chúng ta phải thấy một điều là chính quyền Nixon thời đó đang khốn đốn vì vụ Nghe lén “Watergate” và một khi đã kéo TQ về đồng minh với Hoa Kỳ thì người Mỹ đã đạt mục tiêu chiến lược của họ nên Hoa Kỳ đã áp dụng một chiến lược toàn cầu mới là xoá bỏ thế cân bằng chiến lược cũ để xây dựng một chiến lược toàn cầu mới: Bằng mọi giá rút chân ra khỏi VN, dùng tiền viện trợ cho VN dành cho Do Thái ở Trung Đông để dồn hết nỗ lực vào việc đối phó với Liên Sô. Chúng ta thử làm một con tính thì sẽ thấy rõ vấn đề. Mỗi năm Hoa Kỳ viện trợ cho VNCH khoảng 20 tỉ mỹ kim, trong khi Liên Sô chi viện cho Hà ội chỉ 1 tỉ mỹ kim. Như thế, Hoa Kỳ mất đi 19 tỉ mỹ kim để cạnh tranh vũ khí với Liên Sô nên người bạn đồng minh Việt Nam hoá chiến tranh để hoá giải ý đồ làm suy giảm tiềm lực của CS Liên Sô. Nhờ vậy, năm 1981, chỉ với 11 tỉ Mỹ Kim, Hoa Kỳ đã chế tạo thành công phi thuyền con thoi vượt trội hơn CS Liên Sô trong lãnh vực không gian …

AI ĐƯA DÂN TỘC VIỆT VÀO CUỘC CHIẾN TRANH Ý HỆ TƯƠNG TÀN?

Thế nhưng, không phải tự nhiên mà CS Liên Sô và Trung Cộng vào Việt Nam mà chính Hồ Chí Minh, cán bộ của quốc tế CS, tội đồ của dân tộc đã “Rước voi Liên Sô về giầy mả Tổ Hùng Vương”, “Cõng rắn độc Trung Cộng về cắn gà nhà Dân tộc”. Nguyễn Tất Thành sau này đổi tên là Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy rồi Hồ Chí Minh là người Việt Nam theo cộng sản đầu tiên khi sang Pháp năm 1911, rồi sang các nước Phi Châu, Âu Châu, Nam Mỹ, Hoa Kỳ và Anh Quốc. Năm 1917, trở về Pháp hoạt động với tư cách đảng viên đảng xã hội Pháp và theo Luật sư Phan văn Trường, chí sĩ Phan Chu Trinh và những trí thức VN yêu nước chân chính chống thực dân Pháp ngay trên đất Pháp. Những trí thức này sống ngay trênđất Pháp nên không thể xuất hiện công khai nên lấy một tên chung là Nguyễn Ái Quốc để viết báo chống thực dân Pháp. Nguyễn Tất Thành được hướng dẫn học tập rồi được giao nhiệm vụ tuyên truyền vận động công khai chống Pháp với tên Nguyễn Ái Quốc. Năm 1919, gia nhập Đệ tam quốc tế CS tại đại hội Toulouse Pháp. Năm 1920, Nguyễn Tất Thành lợi dụng cái tên Nguyễn Ái Quốc trong sinh hoạt của đảng Xã Hội để trở thành một trong những sáng lập viên của đảng Cộng sản Pháp. Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc nhận lệnh sang Nga học tập về tổ chức cách mạng. (1)

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân phiệt Nhật đảo chánh hất chân thực dân Pháp ra khỏi Đông Dương. Ngày 11 tháng 3, vua Bảo Đại chính thức tuyên bố độc lập, ngày 17 tháng 4 nhà vua mời sử gia Trần trọng Kim thành lập chính phủ nhưng không có quân đội nên không giải quyết được vấn đề cấp bách lúc đó. Tình hình thế giới biến chuyển bất ngờ thuận lợi cho công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Ngày 6 tháng 8, Hoa Kỳ thả bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima, ngày 10 tháng 8, thành phố Nagasaki cũng bị bom nguyên tử khiến ngày 10 tháng 8 năm 1945, Nhật hoàng phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Ngay khi Nhật đầu hàng, nhà vua Bảo Đại đã gửi điện văn tới nguyên thủ các nước đồng minh nhưng không được hồi đáp. Các đảng phái quốc gia lúc đó bao gồm thành phần trung lưu trong xã hội chỉ biết chờ đợi các lãnh tụ trở về, các lãnh tụ thì lại chờ quyết định của Quốc Dân Đảng Trung Hoa nên không thu phục được lòng tin của quần chúng nhân dân vốn đã khốn khổ vì thực dân Pháp. Trong
khi đó, Quốc tế CS đã nắm bắt thời cơ chỉ thị thành lập Đảng CS Đông Dương để bành trướng chủ nghĩa cộng sản. Để lấy niềm tin của quần chúng yêu nước, Hồ Chí Minh đã ra lệnh giải tán đảng CS Đông Dương, thành lập Hội Nghiên cứu Mác Xít rồi lại thành lập đảng Lao Động để che giấu bộ mặt thật CS không được quần chúng tín nhiệm. Hồ Chí Minh do sự chỉ đạo của quốc tế CS, nắm được thời cơ quân phiệt Nhật đầu hàng lại khéo vận dụng lòng yêu nước của nhân dân dưới chiêu bài Việt Minh chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc và nhất là Cộng sản Việt Nam biết lợi dụng sự thống khổ của quần chúng nhân dân sau nạn đói kinh hoàng, kích động lôi kéo thành phần bần cố nông vô sản vào hàng ngũ cộng sản.

Nhận được chỉ thị của quốc tế cộng sản, đảng Cộng sản Đông Dương tiến hành tổng khởi nghĩa. Lợi dụng cuộc biểu tình của Tổng hội Giáo chức công chức Hà Nội tuần hành qua đường phố ngày 17-8 để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, cán bộ cộng sản trà trộn vào hàng ngũ biểu tình hô khẩu hiệu kêu gọi nhân dân nổi lên cướp chính quyền. Cuộc biểu tình của công chức biến thành của Việt Minh trong sự ngỡ ngàng của các đảng phái quốc gia lúc đó còn đang trông chờ lãnh tụ bên Trung Hoa trở về. Sáng hôm sau, ngày 18 tháng 8, Việt Minh xách động quần chúng yêu nước biểu tình bao vây Bắc Bộ phủ yêu cầu Khâm sai Phan Kế Toại từ chức. Ngày 19 tháng 8, một cuộc biểu tình lớn được tổ chức tại nhà hát lớn Hà Nội, cán bộ Việt Minh xách súng lên cướp diễn đàn, hô to khẩu hiệu và giương cao cờ đỏ sao vàng. Quần chúng sục sôi lòng yêu nước rồi dưới sự xách động của Việt Minh, từng đoàn người kéo nhau đi chiếm đóng các cơ sở chính quyền của thực dân Pháp. Việc cướp chính quyền thành công quá bất ngờ đến nỗi mãi đến ngày 22 tháng 8, mặt trận Việt Minh mới chính thức xuất hiện tại Hà Nội và Sài Gòn. Việt Minh gửi điện văn thông báo với triều đình Huế là họ đã cướp được chính quyền nên yêu cầu vua Bảo Đại xin hãy vì nền độc lập của nước nhà, xin Ngài thoái vị. Vua Bảo Đại trước tình hình biến chuyển bất ngờ đã đặt quyền lợi dân tộc lên trên quyền lợi cá nhân và dòng họ nên đã chính thức tuyên chiếu thoái vị. Nhận được tin vua Bảo Đại thoái vị, ngày 23 tháng 8, Hồ Chí Minh mới thành lập chính phủ lâm thời. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh từ chiến khu về đọc “Tuyên ngôn Độc lập” tại quãng trường Ba Đình. (2)

BỘ MẶT THẬT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Từ trước tới nay, Cộng sản Việt Nam vẫn thường rêu rao họ chiến đấu để giải phóng dân tộc, giành lại độc lập dân tộc. Tất cả đã được phơi bầy khi Liên Xô và Trung Cộng công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Cộng sản Việt Nam là nhà nước Công-Nông, là thành trì của Xã hội chủ nghiã đầu tiên ở Đông Nam Á vào tháng 1 năm 1950. Chính vì vậy, tháng 2 năm 1950, Hoa Kỳ, Anh, Pháp đã nhân danh thế giới tự do trực tiếp can thiệp vào cuộc chiến ở Việt Nam. Nhân dân Việt Nam lâm vào thế trên đe dưới búa của một cuộc chiến tranh giữa 2 thế lực tư bản và cộng sản mà kết cục bi thảm là mấy triệu đồng bào Việt Nam đã hi sinh một cách hết sức phi lý. Thực tế lịch sử đã chứng minh hùng hồn là thế kỷ XX là thế kỷ chấm dứt chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Bằng chứng cụ thể là Hoa Kỳ tự ý trả lại chủ quyền cho Phi Luật Tân (Philippine) năm 1946, Anh Quốc thừa nhận nền độc lập của Ấn Độ năm 1947, Hoà Lan giao trả độc lập cho Nam Dương (Indonesia) năm 1949 mà không phải hy sinh một ngươì dân nào. Thế thì tại sao, nhân dân Việt Nam phải hy sinh hàng triệu người để giành độc lập dân tộc? Đó chính là cốt lõi của vấn đề mà bất cứ ai cũng nhận thấy sau khi phân tích cụ thể rõ ràng. Chính vì Hồ Chí Minh là cán bộ đệ tam Quốc tế cùng với những Trần Phú, Lê Hồng Phong … đã rước voi Mác-Lê về giầy mả Tổ Hùng Vương, cõng rắn Trung Cộng về cắn gà nhà dân tộc nên các nước tự do phải tham dự cuộc chiến Việt Nam để ngăn chặn CS nhuộm đỏ Đông Nam Á! Cộng sản Việt Nam đã lợi dụng lòng yêu nước, dưới chiêu bài “Kháng chiến, giải phóng dân tộc” hy sinh hàng triệu người dân vô tội để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản xuống Đông Nam Á.

Lịch sử một lần nữa lại chứng tỏ CSVN là tập đoàn Việt gian bán nước khi Phạm văn Đồng gửi công hàm ngoại giao cho Chu Ân Lai, Thủ Tướng CHNDTH ngày 14-9-1958 ngay sau khi CHNDTH tuyên bố là chủ biển Đông ngày 4-9-1958. “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể”. Lịch sử cũng chứng minh Việt gian CS là công cụ của quốc tế CS khi hy sinh công cuộc kháng chiến để ký kết hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 theo chỉ thị của Bắc Kinh. Thật vậy, giữa lúc cao trào kháng chiến dâng lên cao, thực dân Pháp bị lâm vào thế bí dẫn đến sự thất bại hoàn toàn về quân sự thì CSVN bị áp lực của quốc tế CS phải vào bàn hội nghị Genève chia đôi lãnh thổ. CSVN đã biến kháng chiến thành thỏa hiệp chia đôi đất nước, một lần nữa Việt Nam lại chịu cảnh qua phân hai miền Nam Bắc. Sau khi Mao Trạch Đông tuyên bố phải chiếm miền Nam để mở đường đánh chiếm các nước Đông Nam Á bằng mọi giá thì ngày 20 th áng 12 năm 1960, CSVN lại dựng lên cái gọi là “Mặt trận Giải phóng miền Nam” lợi dụng chiêu bài “Chống Mỹ cứu nước” để bành trướng chủ nghĩa CS, nhuộm đỏ cả đất nước Việt Nam. Bộ mặt thật của CS đã phơi bầy sau khi CSVN đã đổi tên đảng Lao Động trở lại là Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 25-4-1976. Điều này chứng tỏ rằng kể từ ngày toàn quốc kháng chiến, nhân dân Việt Nam yêu nước tham gia mặt trận Việt Minh để đánh đuổi thực dân Pháp chứ nhân dân Việt Nam không hề ủng hộ hoặc tham gia đảng CSVN. Do đó, công lao kháng chiến là của toàn dân là chứ không phải của đảng CSVN.
Nếu nói rằng do đảng lãnh đạo thì trong lịch sử Việt, biết bao nhiêu cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đâu cần có đảng CS lãnh đạo cũng chiến thắng quân thù. Ngược lại, sự thật đã chứng tỏ CSVN chỉ lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân VN để bành trướng chủ nghĩa CS mà thôi. Nếu Hồ Chí Minh không phải là cán bộ quốc tế cộng sản hoặc là bất kỳ một người Việt Nam nào khác thì Tổng Thống Roosevelt đã đặt Viêt Nam dưới sự ủy trị của Liên Hiệp Quốc rồi và đất nước Việt Nam đã độc lập tự do m à kh ông tốn xư ơng máu 4 triệu người dân vô tội và đất nước VN cũng đã giàu mạnh từ lâu rồi. Sự thật lịch sử đã chứng minh Hồ Chí Minh nói riêng và Đảng CSVN nói chung không hề có công mà ngược lại là có tội với nhân dân Việt Nam, họ mới chính là những “kẻ phản động” là “Tội đồ” của dân tộc vì đã hành động ngược lại quyền lợi của dân tộc Việt Nam, đã dâng đất nhường biển từng bước bán đứng VN cho Tàu Cộng.

Đối với tất cả người Việt Nam yêu nước thì ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày “Quốc hận”. Ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày “mất nước” không phải do ngoại xâm mà là kẻ nội thù ngay trong lòng dân tộc và hàng triệu đồng bào Việt Nam yêu nước chuộng tự do dân chủ đã phải bỏ nước ra đi. Hơn tám mươi triệu đồng bào Việt Nam đang sống quằn quại trong một nhà tù khổng lồ mệnh danh là nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam do chính những người cộng sản Việt Nam thống trị. Những người cộng sản tuy là người Việt Nam nhưng họ đã bán linh hồn cho quỉ đỏ Mác-Lê, họ không còn là người Việt Nam nữa mà là những cỗ máy vô hồn vô cảm kềm kẹp nhân dân mình, họ chính là những tên “Thái thú Thời đại Xác Việt hồn Tầu”. Giai cấp mới thống trị là lớp đảng viên được hưởng đặc quyền đặc lợi trở thành những cường hào đỏ, những tư sản đỏ, mặc sức vơ vét tài sản của nhân dân, cướp nhà cướp đất để làm giàu trên mồ hôi nước mắt và xương máu của nhân dân. Hàng triệu dân oan bị cướp nhà cướp đất, hàng triệu công nhân bị giai cấp thống trị cấu kết với tư bản nước ngoài bóc lột sức lao động của họ, hàng triệu công nhân đưa đi xuất khẩu lao động, hàng trăm ngàn phụ nữ phải bán rẻ thân xác để kết hôn với người nước ngoài để cứu bản thân và gia đình đang đói khổ. Thực chất cái gọi là xuất khẩu lao động, xuất ngoại kết hôn không khác gì cuộc bán buôn nô lệ người da đen sang tân lục địa mấy thế kỷ trước. Nếu có khác là thay vì những tên lái buôn nô lệ thì là nhà nước cộng sản đứng ra thu thuế lợi tức xuất khẩu và những con người khốn khổ đi khỏi đất nước vì nghèo nàn đói khổ lại phải sống khổ hơn người nô lệ da đen thời trước. Trong suốt trường kỳ lịch sử, chưa bao giờ người dân lại chịu cảnh đói khổ như bây giờ kể cả thời thực dân Pháp. Biết bao người đã phải tha hương chịu cảnh gia đình ly tán để đổi lấy một cuộc sống tốt đẹp hơn.

AI THẮNG AI TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM ?

Phải chăng Việt Nam Cộng hòa là người thua trận và Cộng sản Việt Nam là kẻ chiến thắng? Sự thật lịch sử đã chứng minh rằng quân đội VNCH nói riêng và Miền Nam VN nói chung bị đồng minh bán đứng trở tay không kịp trong một ván bài quốc tế nên trở thành người chiến bại. Quân cán chính VNCH đã làm hết sức mình để bảo vệ phần đất tự do nhưng không thể làm gì hơn khi tương quan lực lượng đã thay đổi: Quân số CS gần gấp đôi quân lực VNCH sau khi Mỹ rút quân, vũ khí đạn dược thua kém quân CS nhất là khi HK chỉ viện trợ cho VNCH sau năm 1972 có 18 triệu dollars, trong khi LS và TC viện trợ cho Hà Nội 1 tỷ rưỡi dollars nên quân đội chúng ta không còn đạn dược để tác chiến. Vả chăng, một khi thượng tầng chính trị đã xụp đổ do những tính toán sai lầm thì kéo theo sự tan rã của quân sự là một điều không tránh được. Trên thực tế, cái gọi là “Đại thắng mùa Xuân!” chính là sự thất bại không gì cứu vãn nổi cuả CSVN kể từ ngày 30-4-1975. Cộng sản đã để lộ bộ mặt thật giả nhân gỉa nghĩa của họ là một tập đoàn bán nước, một chế độ độc tài toàn trị tước đoạt mọi quyền tự do căn bản nhất của con người. Một chế độ rêu rao là Nhân dân làm chủ thực ra là làm chủ nhân dân, tước đoạt tài sản đất đai tư hữu của người dân, chế độ thuế khóa nặng nề, tham nhũng bóc lột nhân dân còn thậm tệ hơn chế độ phong kiến thực dân trước đây. Hơn tám mươi lăm triệu đồng bào sống trong trại tù khổng lồ gọi là nhà nước CHXHCNVN và hàng triệu đồng bào phải bỏ nước ra đi tìm tự do. Cái gọi là thống nhất của Cộng sản Việt Nam chỉ là thống nhất tài sản nhân dân trong tay nhà nước quản lý mà thôi chứ không thống nhất được lòng người. Đứng trên quan điểm Dân tộc, một cuộc chiến mới bắt đầu: Cuộc chiến của “TOÀN DÂN CHỐNG CỘNG” cả trong Nam lẫn ngoài Bắc đều đứng lên chống lại chế độ bạo tàn phi nhân Cộng sản kể cả những đảng viên Cộng sản cao cấp từng bị lừa dối đã giác ngộ quyền lợi của dân tộc…Chính vì vậy, chưa bao giờ công luận quốc tế lại ủng hộ cuộc đấu tranh giành lại tự do, dân chủ của toàn dân Việt Nam.

DÂN TỘC VIỆT NAM THẮNG

Sau ngày mất nước, trong khi hàng trăm ngàn quân nhân viên chức chế độ VNCH phải lao động khổ sai trong các trại tù thì hàng trăm đoàn thể tổ chức tự phát đứng lên chống lại ách thống trị bạo tàn của Cộng sản. Hàng trăm tù nhân chính trị cầm đầu các tổ chức đã bị chế độ Cộng sản đem ra xử bắn để răn đe quần chúng trong đó có ít nhất 2 phụ nữ và 2 linh mục.  Cộng sản tưởng rằng dùng bạo lực cách mạng trấn áp được sự nổi dâỵ của quần chúng nhưng họ đã thất bại khi quần chúng nhân dân không thể chịu đựng được nữa đã vượt qua nỗi ám ảnh sợ hãi … Từ trong nước vang ra những lời thề “phục quốc” dội ra đến hải ngoại, rồi từ Hải ngoại lại “chuyển lửa” về quê nhà. “Lời kêu gọi Dân chủ cho Việt Nam” ngày 21-2-2001 của Đại lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ âm vang như một Tuyên ngôn Dân chủ, một bức thông điệp lịch sử gửi tới toàn dân phá tan bức màn vô minh ám chướng, vượt thoát mọi u mê sợ hãi để giành lại quyền sống làm người. Cả nước sục sôi lòng yêu nước đã can đảm đứng lên đòi lại quyền sống làm người. Khởi đi từ vụ “ Thái Bình nổi dậy” rôì “Gia Kiệm vùng lên” tới sự ra đời của hàng loạt tổ chức đấu tranh cho dân chủ nhân quyền Việt Nam như khối 8406, đảng Dân chủ XXI, đảng Dân chủ Nhân Dân, Hội Ái hữu Tù nhân chính trị Việt Nam, Hội Dân Oan, Hiệp hội Công Nông Việt Nam, đảng Thăng Tiến … Phong trào đấu tranh cho Dân chủ Việt Nam nở rộ năm 2006 với các chiến sĩ dân chủ công khai trực diện với chế độ CS bạo tàn như Đại lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Thượng tọa Thích Thiện Minh, Linh mục Nguyễn văn Lý, Linh mục Phan văn Lợi, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, Luật sư Nguyễn văn Đài, Luật sư Lê thị Công Nhân, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, Phạm Thanh Nghiên, nhà giáo Vũ Hùng, Vi Đức Hồi, Trần Anh Kim, nhà văn Trần Đức Thạch…Tạ Phong Tần và LS Cù Huy Hà Vũ với phiên tòa lịch sử 4-4-2011 vừa qua…

Lịch sử đã chứng minh là khi người dân sống trong tận cùng của sự đói khổ, nỗi uất ức hờn căm dồn nén dưới sự thống trị bạo tàn hà khắc cực độ của tập đoàn cầm quyền thì người dân sẽ xuống đường để đòi hỏi quyền lợi chính đáng của họ. Trước trào lưu dân chủ của toàn thế giới, không một chế độ độc tài chuyên chế đã lỗi thời nào có thể tồn tại được. Người dân sẽ không thể cam chịu sống dưới một chế độ chỉ nhằm phục vụ một cá nhân, một đảng tham nhũng hối lộ, đạo đức suy đồì, xã hội quá bất công, dân chúng càng ngày càng nghèo khổ, trong khi đó thì các quan chức càng ngày càng giàu có, sống trên xương máu của dân, nếu ai lên tiếng thì bị bộ máy công an đỏ kết hợp với xã hội đen khủng bố, đàn áp, đánh đập, tra tấn…

Sau những thành công vang dội của quần chúng nhân dân, từ ngọn lửa bùng lên ở Tunisie, nó đã chuyển thành cơn bão lửa cách mạng lan tới Ai Cập, Libie, Côte d’ivoire … Toàn dân VN trong và ngoài nước đang sẵn sàng chờ đợi bão táp cách mạng quét tới Việt Nam, thế nhưng tình hình dường như đang chùng xuống nhưng vẫn âm ỉ trong lòng mọi người sau đợt trấn áp các chiến sĩ đấu tranh dân chủ…Tại sao cuộc cách mạng “Trống Đồng” vẫn chưa bùng nổ ở Việt Nam dù rằng đã hội đủ điều kiện “Ắt có” của một cuộc cách mạng?. Tất cả còn phải chờ một điều kiện “Đủ” cần thiết cho cuộc cách mạng bùng nổ. Như vậy, điều kiện đủ của cuộc cách mạng là điều kiện gì? Trả lời câu hỏi để tìm ẩn số của bài toán chính là để chúng ta cùng nhau chuẩn bị chu đáo sẵn sàng cho điều kiện đủ của cuộc cách mạng sẽ xảy ra bất cứ lúc nào.

Trước hết, chúng ta phải thấy rằng cuộc cách mạng ở VN không giống các cuộc cách mạng ở Tunisie, Ai C ập, Libie … vì ở các nước Trung Đông Bắc Phi, quần chúng tự phát cuộc cách mạng để đòi tự do, cơm áo. Tình trạng đất nước VN chúng ta đang bên bờ vực thẳm của nguy cơ mất nước do “Thù Trong” chính là kẻ nội thù Việt gian CS đang rắp tâm bán nước và “ Giặc ngoài” Trung Cộng xâm lược đã và đang lăm le xâm lấn nước ta. Chính vì vậy, cuộc cách mạng ở VN trước hết là cuộc CÁCH MẠNG DÂN TỘC CỨU QUỐC, song hành với một cuộc CÁCH MẠNG DÂN CHỦ KIẾN QUỐC để giành lại tự do, cơm áo và quyền làm chủ đất nước để cứu quốc và kiến quốc. Đặc biệt hơn nữa là bạo quyền CSVN với bộ máy công an trị dày đặc khắp nơi để kềm kẹp trấn áp người dân đã học tập tất cả những kinh nghiệm đàn áp khủng bố nhân dân từ chế độ Phát Xít đến độc tài CS, cộng với những tinh ranh xảo quyệt của Việt gian CS nên bất cứ một cuộc kêu gọi xuống đường nào đều bị chúng phá vỡ ngay trong trứng nước. Thế nên chúng ta phải rút tỉa kinh nghiệm đừng vội tin vào những lời kêu gọi có thể do Việt gian CS tung ra để bắt hết những chiến sĩ dân chủ yêu nước để ngăn ngừa cho những cuộc xuống đường tranh đấu. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải chuẩn bị kỹ càng hơn, tinh vi hơn, giới trẻ Việt Nam phải học hỏi những kinh nghiệm từ bài học Tunisie, Ai Cập tận dụng tối đa ưu thế của internet, thành lập những emailgroups, những Facebook để truyền bá tin tức, rỉ tai anh em trong quân đội đứng về phiá nhân dân, vận động quân chúng trẻ tập hợp sẵn sàng trên mạng để chờ thời cơ sẽ đến do những tác động khách quan như vật giá leo thang, đồng tiền mất giá, kinh tế khủng hoảng, thất nghiệp lan tràn, bắt bớ đánh đập dân oan, khủng bố trấn áp công nhân. … Lúc đó, chỉ cần một hiệu lệnh được thông báo tất cả đồng loạt xuống đường khắp mọi nơi trên cả nước vào cùng một lúc để cùng đứng lên tranh đấu đòi hỏi những mục tiêu thiết thực của cuộc sống, buộc bạo quyền CS phải giải quyết, kiên trì đấu tranh không lùi bước trước những đàn áp, những hứa hẹn nhượng bộ nhất thời để giành thắng lợi từng bước một, từ thắng lợi nhỏ dẫn đến thắng lợi hoàn toàn …

Tập đoàn Việt gian CS đang lo sợ cuộc cách mạng Trống Đồng sẽ xảy ra nên chúng đã thành lập những biệt khu quân sự tại Hà Nội và Sài Gòn để sẵn sàng tung lực lượng công an chống bạo loạn đi khắp nơi trên toàn quốc vì sợ rằng công an địa phương sẽ đứng về phiá bà con nhân dân. Nếu bất ngờ nhiều cuộc xuống đường biểu tình xảy ra cùng một thời điểm, lực lượng công an sẽ bị dàn trải ra, không đủ cấp số để đàn áp mà trái lại sẽ bị đông đảo quần chúng tràn ngập buộc chúng phải bó tay đầu hàng hoặc quay về với nhân dân.

Chưa bao giờ lịch sử Việt lại trải qua một giai đoạn bi thảm như hiện nay. Bộ mặt thật hại dân bán nước của tập đoàn Việt gian Cộng sản phơi bày trắng trợn. Tập đoàn Việt gian đã lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản, đưa dân tộc vào vòng nô dịch đói khổ chưa từng thấy trong lịch sử. Tội ác do tập đoàn Việt gian CS gây ra “Trời không dung, đất chẳng tha. Thần người đều căm hận, Trời đất chẳng dung tha”… Ngày nay, nhân dân Việt Nam không còn gì để mất nữa, không còn sợ hãi gì nữa khi tất cả đồng loạt xuống đường làm lịch sử. Tất cả đã hội đủ những điều kiện cần thiết để bùng nổ một cuộc “cách mạng Trống Đồng” sống lại “Hào Khí Diên Hồng” và “Tây Sơn Thời đại” trong nay mai. Một cuộc cách mạng của quần chúng tự đứng lên đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình, giành lại quyền dân chủ tự do, quyền làm chủ đất nước. Lòng dân lòng quân muôn người như một, căm hận phẫn uất tột cùng. Bài học lịch sử lại tái diễn trong thời gian trước mắt, bất cứ lúc nào. Thật là điều may mắn cho đất nước nếu có những người cộng sản phản tỉnh, biết đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết thì có thể một Góc Ba Chốp, Một En- xin Việt Nam khi một số đảng viên CS giác ngộ đứng về phiá nhân dân cùng với một số tướng Tá trong quân đội nhân dân đứng lên làm lịch sử. Nếu không được như vậy, chắc chắn là đất nước Việt Nam sẽ sản sinh ra không phải chì một Quang Trung mà là cả một thế hệ Quang Trung thời đại, đó là tất cả anh chi em thanh niên sinh viên học sinh yêu nước cùng với đồng bào cả nước xuống đường làm lịch sử hôm nay …

Đặc biệt, vụ án bất công phi lý xử LS Cù Huy Hà Vũ, người đại diện cho tiếng nói của các trí thức tiến bộ XHCN, đại diện cho hàng ngũ tướng lãnh quân nhân yêu nước là phát súng bắn thẳng vào thành trì cuối cùng của tập đoàn Việt gian CS. Biến cố này khiến tất cả mọi người không phân biệt tôn giáo đoàn kết lại qua những lễ cầu nguyện tại Thái Hà, hàng ngàn người ký tên yêu cầu phải thả ngay người LS trẻ tuổi can trường dũng khí này. Tập đoàn Việt gian chỉ trông cậy vào lực lượng công an nhưng bên cạnh đó, hàng ngũ quân nhân yêu nước cũng sẵn sàng đứng về phiá nhân dân dẹp tan bọn công an ác ôn côn đồ nếu có đổ máu. Hơn nữa, nghị quyết 1973 mới đây của Hội đồng Liên Hiệp Quốc cho phép các quốc gia can thiệp nếu chính quyền độc tài đàn áp nhân dân nên tập đoàn Việt gian CS không dám trấn áp nhân dân bằng bạo lực như trước đây.

Bộ mặt thật của Cộng sản giả nhân gỉa nghĩa đã phơi bầy lộ ra chân tướng của một tập đoàn thống trị vô nhân phi nghĩa bóc lột trắng trợn, cường hào đỏ tư bản đỏ cấu kết với mafia đen, với tư bản nước ngoài làm giàu trên mồ hôi nước mắt và xương máu của quần chúng nhân dân. Đã thế, Cộng sản Việt Nam lại “mãi quốc cầu vinh” cam tâm bán nước dâng đất nhường biển cho quan thầy Trung Quốc, hòng duy trì địa vị, chức quyền để tiếp tục vơ vét bóc lột đến tận xương tủy của người dân đen thấp cổ bé miệng. Một khi tất cả đồng bào oan khiên, tất cả công nhân nghèo đói, tất cả thanh niên sinh viên yêu nước, tất cả tôn giáo từ Phật giáo, Thiên chúa giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin lành cùng nhất loạt nắm chặt tay nhau ngồi cầu nguyện cho tự do tôn giáo, đòi lại tài sản giáo hội. Một cuộc đấu tranh giành lại quyền sống tự do dân chủ, quyền làm chủ đất nước trong ôn hòa bất bạo động, bất hợp tác đã và đang diễn ra trên cả nước.Thanh niên sinh viên học sinh bãi khóa, công nhân đình công, tiểu thương bãi thị cho đến khi cộng sản phải thoả mãn yêu cầu chính đáng của nhân dân thì ngày đó là ngày thắng lợi của Dân tộc Việt Nam. Bằng không, lòng dân muôn người như một đứng lên giành lại quyền sống làm người đến, tất cả u uất căm hờn tự bao năm sẽ gom lại như ngọn sóng thần, bất cứ lúc nào sẽ trào dâng như thác đổ thành bão táp cách mạng sẽ cuốn trôi tất cả tập đoàn Việt gian bất nhân hại dân bán nước, những tàn dư rác rưởi tệ hại xấu xa của chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân xuống hố thẳm của lịch sử.

Một khi toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước cùng nhất loạt đứng lên làm cuộc cách mạng Trống Đồng chuyển đổi lịch sử thì mùa Xuân Dân tộc sẽ trở về trên quê hương yêu dấu của chúng ta trong một ngày rất gần, rất gần đây để nhân dân được sống trong dân chủ tự do ấm no hạnh phúc thực sự như đại danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi đã viết trong “Bình Ngô Đại cáo”:

Đại nghĩa thắng hung tàn ..

Chí nhân thay cường bạo ..!”

Tổ Quốc Việt Nam trường tồn,

Dân tộc Việt Nam tất thắng.

PHẠM TRẦN ANH

 

 

 

Năm 1966, Pháo binh và Thiết đạo binh (Công binh) Hồng quân TC tuyên thệ tại Hữu
Nghị Quan trước khi tiến vào lãnh thổ VN giả dạng quân đội nhân dân VN để chiến
đấu chống các cuộc oanh tạc của không lực HK. Hướng về Trung Quốc đồng thanh hô
lớn: “Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Nguyện mang vinh quang trở về!”. Trong ảnh là
Sư đoàn 62 Cao Xạ Hồng quân TC.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHÚ THÍCH

1-Nguyễn Tất Thành sau này đổi tên là Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy rồi Hồ Chí Minh là
người Việt Nam theo cộng sản đầu tiên khi sang Pháp năm 1911, rồi lưu vong sang các
nước Phi Châu, Âu Châu, Nam Mỹ, Hoa Kỳ và Anh Quốc. Năm 1917, trở về Pháp hoạt
động với tư cách đảng viên đảng xã hội Pháp và theo Luật sư Phan văn Trường, chí sĩ
Phan Chu Trinh và những trí thức VN yêu nước chân chính chống thực dân Pháp ngay
trên đất Pháp. Những trí thức này sống ngay trênđất Pháp nên không thể xuất hiện
công khai nên lấy một tên chung là Nguyễn Ái Quốc để viết báo chống thực dân Pháp.
Nguyễn Tất Thành được hướng dẫn học tập rồi được giao nhiệm vụ tuyên truyền vận
động công khai chống Pháp với tên Nguyễn Ái Quốc. Năm 1919, gia nhập đệ tam quốc
tế CS tại đại hội Toulouse Pháp. Năm 1920, Nguyễn Tất Thành lợi dụng cái tên Nguyễn
Ái Quốc trong sinh hoạt của đảng Xã Hội để trở thành một trong những sáng lập viên
của đảng Cộng sản Pháp. Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc nhận lệnh sang Nga học tập về
tổ chức cách mạng. Trong lá thư gửi Quốc tế CS chứng tỏ họ Hồ là cán bộ của Quốc tế
CS, ăn lương của Quốc tế CS để bành trướng chù nghĩa CS ở Đông Dương

Trong thời gian hoạt động tại Trung Quốc, Hồ Chí Minh bị Quốc Dân Đảng Trung Hoa bắt giam, Hồ Chí Minh đã tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa CS để gia nhập Việt Nam Cách mệnh
Đồng minh Hội là một liên minh các đảng phái chống thực dân Pháp và Phát Xít Nhật
do Quốc Dân Đảng Trung Hoa hỗ trợ. Họ Hồ viết bản dự thảo kế hoạch cải tổ cơ cấu
kháng chiến và thành lập mạng lưới tình báo cho đồng minh ở VN nên tháng 9 năm
1943, Trương Phát Khuê mới thả Hồ Chí Minh và giao cho nhiệm vụ thực hiện kế hoạch
với tư cách một thành viên dự khuyết trong Uỷ ban Điều hành Việt Nam Cách mạng
Đồng minh hội. Khi đưa ra đề nghị với Pháp, Hồ Chí Minh đã tính toán kỹ lưỡng biết
rằng khi nhờ OSS chuyển đề nghị cho Pháp nhưng Pháp sẽ không trả lời nhưng đó là
cái cớ cho Hoa Kỳ qua toán tinh báo chiến lược OSS tiến hành tiếp tế vũ khí đạn dược
trang bị cho trung đội võ trang tuyên truyền đầu tiên mà hình chụp có cả họ Hồ và Võ
nguyên Giáp mặc áo kaki vàng đeo súng lục Mỹ. Toán OSS huấn luyện 4 tuần cho
khoảng 200 cán bộ chỉ huy bộ đội Việt Minh về cách sử dụng những vũ khí mới nhất và
chiến thuật du kích chiến quân sự cho Việt Minh. Lợi dụng cơ hội này Hồ đã gộp luôn
cả huấn luyện viên người Mỹ vào du kích quân và đặt tên là “Bộ đội Việt Mỹ”. Ngày
29 tháng 3 năm 1945, Hồ Chí Minh dưới tên gọi là Lucius, cộng tác viên của tình báo
chiến lược OSS mới được gặp tướng Claire Chennault, tư lệnh phi đoàn “Cọp Bay” ở
Côn Minh sau khi đã cứu được viên phi công Mỹ Rudolph Shaw năm 1944. Họ Hồ đã
xin được chụp chung một tấm hình và được viên tướng Cọp Bay đề tặng. Chính tấm
hình này cũng như bìa tờ báo Việt Minh vẽ hai bàn tay Mỹ-Việt nắm tay nhau đã khiến
mọi người tham gia Việt Minh lúc đó tin tưởng rằng Hồ Chí Minh được Hoa Kỳ yểm trợ.
Những lời tuyên bố của Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt chỉ trích chế độ thực dân Pháp,
sự thành lập bộ đội Việt Mỹ từ chiến khu Tân Trào với sự hiện diện của các sĩ quan tình
báo chiến lược Hoa Kỳ OSS và tấm hình tướng Cọp bay Chennault ký tặng Hồ Chí Minh
ở Côn Minh đã được Việt Minh sử dụng và thuyết phục được đại đa số nhân dân ủng hộ
họ.

Vấn đề đặt ra cho chúng ta là Hồ chí Minh có thực sự là người yêu nước hay không? Có một thực tế là trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp thống trị thì bất cứ người Việt Nam nào lại không yêu nước, lại không căm thù thực dân Pháp đến tận xương tủy. Sau nhiều năm sống ở ngoại quốc, Hồ Chí Minh lại nộp đơn vào xin học trường thuộc điạ và bị từ chối. Nếu được thu nhận thì con đường hoạn lộ hẳn sẽ thênh thang và không biết Hồ Chí Minh sẽ đi về đâu, một viên quan cai trị chắc chắn sẽ thẳng tay trấn áp các phong trào VN yêu nước? Đảng CS vẫn tuyên truyền là “Bác” vui mừng khi thấy con đường giải phóng thuộc địa … và chỉ qua quốc tế CS để giải phóng dân tộc. Tài liệu mới nhất “Văn kiện Đảng” toàn tập vô hình trung lại tiết lộ “Bác” chính là một cán bộ đệ tam quốc tế CS sang Liên Xô chờ lệnh về Trung Quốc và hàng tháng vẫn nhận tiền lương của Quốc tế CS để thực hiện công tác của quốc tế CS. Năm 1920, Nguyễn Tất Thành lợi dụng cái tên Nguyễn Ái Quốc trong sinh hoạt của đảng Xã Hội để trở thành một trong những sáng lập viên của đảng Cộng sản Pháp. Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc nhận lệnh sang Nga học tập về tổ chức cách mạng. Trong lá thư gửi Quốc tế CS chứng tỏ họ Hồ là cán bộ của Quốc tế CS, ăn lương của Quốc tế CS để bành trướng chù nghĩa CS ở Đông Dương … chính họ Hồ thú nhận trong lá THƯ GỪI BAN CHẤP HÀNH QUỐC TẾ CỘNG SẢN.
Từ lúc tôi tới Mátxcơva đã có quyết định rằng sau 3 tháng lưu lại ở đây, tôi sẽ đi Trung Quốc . Bây giờ đã là tháng thứ chín tôi lưu lại và tháng thứ sáu tôi chờ đợi, vậy mà việc lên đường của tôi chưa được quyết định. Vậy chuyến đi sẽ là một chuyến đi để khảo sát và nghiên cứu:

– Thiết lập những quan hệ giữa Đông Dương và Quốc tế Cộng sản.- Thông báo cho Quốc tế Cộng sản về tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của thuộc địa này.

– Tiếp xúc với các tổ chức đang tồn tại ở đó, và

– Tổ chức một cơ sở thông tin và tuyên truyền. Tôi hành động thế nào để hoàn thành
nhiệm vụ này? Số tiền cần thiết cho sự ăn ở của tôi sẽ là bao nhiêu? – Hẳn là tôi sẽ
phải đổi chỗ luôn, duy trì những mối liên hệ với các giới khác nhau, trả tiền thư tín, mua
những ấn phẩm nói về Đông Dương, tiền ăn và tiền trọ, v.v., v.v.. Tôi tính rằng, sau khi
tham khảo ý kiến các đồng chí người Trung Quốc phải có một ngân sách xấp xỉ 100
đôla Mỹ mỗi tháng, không kể hành trình Nga – Trung Quốc (vì tôi không biết giá vé).
Ngày 11-4-1924. (Hồ Chí Minh Toàn Tập – tập 2)

2. Đặc biệt ngoài sự yểm trợ trực tiếp của Quốc tế CS, Hồ Chí Minh lại khôn khéo vận động sự trợ giúp của Hoa Kỳ qua chiêu bài đề nghị 5 điểm cải cách “Bầu cử một nghị viện” do “một toàn quyền Pháp làm chủ tịch và trả laị độc lập cho VN sớm nhất là 5 năm nhưng không quá 10 năm”. Điều này phù hợp với quan điểm của Tổng thống Roosevelt là muốn Pháp trao trả lại độc lập cho các thuộc địa cũ của Pháp. Cả Thiếu tá Archimedes “Al” Patti của toán OSS tại Đông Dương và sau này Trung tá Allison Thomas đều tin tưởng những gì Hồ Chí Minh đã cam kết với tướng Trương Phát Khuê Quốc Dân Đảng Trung Hoa rằng, mục tiêu trước mắt cuả ông ta là khôi phục độc lập tự do cho Việt Nam và “… quả quyết rằng một xã hội cộng sản ở Việt Nam phải ít nhất 50 năm sau mới thành lập được”.

Sau khi Nhật đầu hàng, quân Anh được giao cho nhiệm vụ giải giới quân đội Nhật ở
miền Nam, quân đội Trung Hoa giải giới quân Nhật ở miền Bắc. Chính phủ Anh cùng chủ
trương “thực dân” nên đã cho quân đội Pháp theo chân vào miền Nam. Ngày 28 tháng 2 năm 1946, sau khi Pháp cam kết giao trả các đặc quyền nhượng địa đã chiếm đoạt từ thế kỷ trước nên Trung Hoa đã ký với Pháp thỏa ước Trùng Khánh, trong đó đồng ý cho quân đội viễn chinh Pháp ra Bắc thay thế quân đội Trung Hoa ở miền Bắc.. Tư lệnh quân viễn chinh Pháp tướng Leclerc ra lệnh chiến hạm chuyển quân ra Bắc, Hồ Chí Minh đã vội vã chấp nhận các điều khoản trong Hiệp ước Sơ bộ trong đó qui định Việt Nam là một nước tự do trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên Hiệp Pháp. Việt Nam có chính phủ riêng nhưng chỉ được chia 1 phần quyền cai trị về đối nội … nhưng họ Hồ vẫn chấp nhận vì nhiều lý do. Thứ nhất là loại vai trò của Bảo Đại ra khỏi chính trường lúc đó đang đề cập tới một giải pháp Bảo Đại nên họ Hồ sẵn sàng ký kết trực tiếp với Pháp sau đó đưa Bảo Đại sang Hồng Kông rồi không cho trở về nữa. Thứ hai là chấp nhận nhượng bộ Pháp thì quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa phải rút về nước để họ Hồ rảnh tay tiêu diệt các đảng phái quốc gia. Điều này chính Võ nguyên Giáp thú nhận trong hồi ký là “Ngày 9.3.1946 Trung ương họp, chủ tịch Hồ Chí Minh phấn khởi báo tin ta đã ký được hiệp ước 6 tháng 3 năm 1946. Thắng lợi lớn của đảng đã đuổi khỏi đất nước 18 vạn tên chống cộng khét tiếng. Cách mạng đã gạt đi một kẻ thù hết sức nguy hiểm, trút đi một gánh nặng …”.

Sau khi sắp xếp xong mọi việc, ngày 30 tháng 5 năm 1946 Hồ Chí Minh lên đường sang
Pháp để chỉ đạo phái đoàn do Phạm văn Đồng cầm đầu tại hội nghị Việt Minh thành lập mặt trận Liên hiệp Quốc dân Việt Nam gọi tắt là Liên Việt. Mục đích của Mặt trận Liên Việt là để lôi kéo sự ủng hộ của quần chúng trong chiến dịch tổng tấn công tiêu diệt các lực lượng đảng phái quốc gia. Chiến dịch cầm đầu bởi Võ Nguyên Giáp khi đó là Bộ trưởng bộ Nội vụ. Việt Minh trưng ra các bằng chứng ngụy tạo là cán bộ Việt Minh bị các đảng phái Quốc Gia thủ tiêu rồi Võ nguyên Giáp hạ lệnh đồng loạt tấn công bất ngờ tất cả các trụ sở của Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng minh Hội. Đảng kỳ, bảng hiệu bị tháo gỡ triệt hạ và cán bộ Việt Nam Quốc Dân đảng bị Việt Minh bắt giữ rồi thủ tiêu. Các chiến khu của các đảng phái quốc gia cũng lần lượt bị tiêu diệt. Các lãnh tụ Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam phải bỏ chạy sang Trung Hoa, nhiều lãnh tụ các đảng phái khác bị Việt Minh bắt đi thủ tiêu như Trương Tử Anh (Đại Việt Quốc Dân Đảng), Lý Đông A (Duy Dân), Khái Hưng Việt Nam Quốc Dân Đảng … Trong Nam, Hồ văn Ngà Mặt trận Quốc gia Thống nhất, Huỳnh văn Phương, Dương văn Giáo, vợ chồng bác sĩ Hồ Vĩnh Ký, ông Bùi Quang Chiêu lãnh tụ đảng Lập Hiến cũng bị thủ tiêu. Trước đó, ngay sau cách mạng tháng 8 những thủ lãnh phe Đệ tứ Quốc tế Cộng sàn như Phan văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Lương Đức Thiệp, Phan văn Chánh, Trần văn Thạch … đều bi thủ tiêu. Ngay cả những nhà lãnh đạo tôn giáo yêu nước không cộng sản cũng bị Việt Minh thủ tiêu như Đức Giáo chủ Phật giáo Hòa
Hảo Huỳnh Phú Sổ cũng bị thủ tiêu, năm 1947, Phối sư Cao Đài Thượng Vinh Thanh Trần Quang Vinh cũng bị bắt nhưng trốn thoát, sau 1975 Phối sư Trần Quang Vinh bị Cộng sản bắt và xử tử tháng 9 năm 1975. Theo tài liêụ của của hai tôn giáo Cao Đài Hòa Hảo thì chức sắc, tín đồ và binh sĩ bị giết lên tới 20 ngàn người.

Luật sư Trịnh Đình Thảo, Bộ trưởng bộ Tư pháp trong chính phủ Trần Trọng Kim nhận được tin là Đại úy Landsdale, phụ tá Thiếu tá Archimèdes Patti, trưởng đoàn OSS ở vùng Đông Nam Á … thay vì tiếp tế cho những nhóm quân Pháp còn đang chiến đấu chống Nhật trong vùng rừng núi biên giới thì lại thả dù vũ khí và đạn dược xuống cho Việt Minh để trang bị cho 1 tiểu đoàn đầu tiên và phái Aoron Bank tới huấn luyện cho bộ đội Việt Minh …. Sau này theo tiết lộ của trung tướng Chu văn Tấn thì trong đoàn quân từ Pắc Pó trở về Hà Nội có các sĩ quan OSS người Mỹ và chính Thiếu tá A Patty là người giúp họ Hồ viết bản Tuyên ngôn và chính Trung tá Allison viết tối hậu thư bằng tiếng Anh buộc quân Nhật ở Lạng Sơn đầu hàng. Một sự thực lịch sử nữa vừa mới được công bố là chính Hoa Kỳ chứ không ai khác đã góp phần quan trọng trong cái gọi là “cách mạng mùa Thu 19-8” và “Tuyên ngôn độc lập” 2 tháng 9 năm 1945. Tổng thống Roosevelt lúc đó muốn Pháp phải trả lại độc lập cho Việt Miên Lào và đặt dưới chế độ Ủy trị của Liên Hiệp quốc nên ông ta đã chỉ thị cho các cấp quân đội Mỹ không cho thực dân Pháp mượn phương tiện trở lại Đông Dương, chính vì vậy tướng Cọp bay chỉ cho trưởng phái bộ quân sự Pháp là Sainteny lên phi cơ về Hà Nội sau ngày 2 tháng 9 năm 1945 thì mọi việc
xem như đã xong rồi …! Hồ Chí Minh công bố chính phủ Lâm thời bao gồm các đảng phái
nhưng Việt Minh tức CS nắm phần chủ động, họ Hồ còn khôn ngoan mời vua Bảo Đại làm cố vấn rôì sau đó tìm cách đưa Bảo Đại sang Hồng Kông rôì không cho về lại Việt Nam nữa. Sau khi “chớp thời cơ, cướp chính quyền” họ Hồ bắt đầu nghĩ tới việc loại bỏ các đảng phái quốc gia sau khi bị áp lực của Quốc Dân đảng Trung Hoa phải thành lập chính phủ Liên hiệp Lâm thời và phải chia 20 ghế cho VNCMĐMH và 50 ghế cho VNQDĐ còn lại 280 ghế là của CS. Để che mắt quần chúng nhân dân, ngày 11 tháng 11, Đảng CS Đông Dương tuyên bố tự giải tán và thay thế bằng Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Karl Marx ở Đông Dương. Đây chỉ là một chiến thuật lùi vào bóng tối nhưng trên thực tế họ vẫn tiếp tục hoạt động dưới danh nghĩa mặt trận Việt Minh cho đến năm 1951, họ lại chính thức hoạt động dưới cái tên mới nhẹ nhàng hơn là Đảng Lao Động Việt Nam. Ý đồ qủi quyệt này của Hồ Chí Minh đã được Võ Nguyên Giáp viết lại trong hồi ký như sau: “Đâù tháng 9, bác ra mắt nhân dân với danh hiệu chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là bí danh mà Bác đã dùng mấy năm trước để che mắt bọn Quốc dân đảng Trung Hoa. Những người cách mạng đã về sống giữa đồng bào nhưng mọi hoạt động của đảng vẫn tiến hành theo phương thức bí mật. Cán bộ đảng chưa ra làm việc công khai. Hầu hết đảng viên đều công tác dưới danh nghĩa cán bộ Việt Minh

 

 

“Kính Thưa Đồng chí Tổng Lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng Lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của chính phủ nước
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho
các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung
Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.

Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng Lý lời chào trân trọng.

Hà Nội ngày 14 tháng 9 năm 1958
Phạm văn Đồng
Thủ Tướng Chính phủ
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa


Bản công hàm ngoại giao của Phạm văn Đồng Thủ Tướng Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa chính thức gửi công hàm ngoại giao cho Chu Ân Lai, Thủ Tướng CHNDTH
ngày 14-9-1958 ngay sau khi CHNDTH tuyên bố là chủ biển Đông ngày 4-9-1958.

About the author
Leave Comment