VĂN – CAO MỴ NHÂN: “ĐOẠN ĐƯỜNG MÒN” & “QUỐC HOA” Và CHÙM THƠ LÍNH CAO MỴ NHÂN

“QUỐC HOA”.    CAO MỴ NHÂN 

Mặc dầu hoa sen mang nhiều phẩm chất quý giá, nào là mầu sắc đẹp, trắng thanh khiết, vàng rực rỡ, xanh lá non lợt dịu dàng, hay hồng cánh sen đặc biệt chỉ có ở hoa sen…vv, với hương thơm ngào ngạt cả lúc hoa tươi lẫn khi đã được ướp trà, xấy khô…

Hoa sen mọc trên sình lầy , ao hồ chẳng được thường xuyên vét rửa, thay nước …nên mùi tanh tưởi của bùn phảng phất xông lên, song không thể nào phá tan được hương ngát nhuỵ hoa đằm thắm của loài hoa tự tôn, tự trọng đó. 

Vì thế cho nên, hoa sen còn được ví như biểu tượng của người trong sạch, cao quý, quân tử…

Đã vậy,  hoa sen còn không bị bướm, ong là 2 loài sinh vật bay trong không gian, đi tìm hương hoa để hút mật . 

Nên, một lần nữa đặc tính hoa sen lại được tôn sùng tính chất thiêng liêng, đạo hạnh, đã khiến người dân VN phải khiêm tốn ( là bốn tự kiêu ) rằng: 

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông tráng lại chen nhị vàng 

Nhị vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn 

            ( ca dao ) 

Ca tụng phẩm chất của hoa sen như vậy, để thưa với quý vị là, tôi chẳng biết ngày xưa dân tộc ta có định lấy hoa sen làm biểu tượng cho đất nước VN, hay hoa gì khác . 

Nhưng mới đây tôi đọc được điều VN đã đưa hình ảnh hoa sen lên làm ” Quốc Hoa “. 

Tôi đang ngẫm nghĩ, chúng ta đã thường đề cập tới những danh xưng như : quốc kỳ, quốc ca, quốc huy, quốc hiệu, quốc tuý , quốc hồn, quốc lễ , quốc tang, nay thêm quốc hoa cũng chẳng có gì làm lạ, hay mới mẻ gì. 

Thậm chí cũng không hoàn toàn đặc biệt, vì trong bản danh sách quốc hoa trên thế giới, cũng đã có một nước châu Á chọn hoa sen làm quốc hoa là Ấn Độ. 

Tôi chỉ chú ý tới mấy quốc hoa đặc biệt và gần gụi với sự tìm kiếm của tôi là :

Hoa hồng ( đỏ)    Quốc hoa của Hoa Kỳ

Hoa anh đào          Q/hoa            của Nhật Bản

Hoa sen ( mầu hồng cánh sen )  Q/hoa VN 

Có một điều đặc biệt loại hoa thuốc phiện, tên văn hoa là hoa Anh Túc, thì có tới 5,6 nước trên thế giới chọn làm quốc hoa của họ . 

Sấp xỉ số nước dùng hoa anh túc ( mầu tuỳ theo mỗi nước) , là mấy quốc gia lựa hoa tuy líp  làm quốc hoa, cũng không thấy nói mầu sắc thế nào . 

Như vậy quý vị đã biết từ nay, cứ thấy ở đâu có cái nhãn bông hoa sen, mầu cánh sen nở toàn vẹn, ấy là dấu hiệu quốc hoa VN, cũng có nghĩa là địa phận, cơ sở, sản phẩm, công trình vv…có in hình hoa sen nở mầu cánh sen, chính là của người  VN vậy. 

Bình thường hoa nào cũng đẹp, như phụ nữ nào cũng không xấu, chu choa xin phép kể cả …tui. Chỉ khác nhau là đẹp nhiều hay đẹp ít thôi, nên cần trang điểm cho đẹp thêm vậy. 

Nếu hoa không thể tự vươn ra trang điểm cho mình, tức hoa, nên mặc nhiên người ta hay liên tưởng, hình dung loài hoa ấy được người đời áp cho một ý nghĩa gì, thí dụ hoa chung thủy, hoa bất tử, hoa trường sinh, hoa đừng quên tôi vv…kèm theo mầu sắc thế nào

Chẳng hạn hoa hồng bạch như anh vẫn tặng cho mình, là muốn mình, người được tặng, hãy luôn làm đẹp cho cuộc tình thanh khiết, thanh cao…

Nhưng nếu vẫn anh gởi cho mình đóa hoa hồng vàng, là muốn người được tặng mãi đắm say trong yêu thương lẫn ngoài sự nghiệp, tròn vẹn tinh thần, vật chất …

Hay là bông hồng mầu da cam công danh, mơ mộng. 

Nhưng nếu hồng mầu đỏ thắm, ấy là yêu đương cuồng nhiệt, cùng lúc với sự quyết thắng trong vinh quang vv…

Khi nói chuyện về hoa, thì lập tức tôi bị méo mó nghề nghiệp công tác xã hội của tôi ngày xưa trươc 30 -4 – 1975 ngay, ấy là chúng tôi ở trong hoàn cảnh chiến tranh, thiếu thốn nhiều , có thể nói đồng còn không trồng nổi lúa khoai rau đậu, làm sao có dư dả đất đai trù phú để vỡ đất trồng hoa ? 

Nhưng chúng tôi vẫn duy trì sự việc thực hiện những vòng hoa chiến thắng choàng lên cổ các chiến sĩ trở về từ mặt trận, đồng thời cũng cố gắng mang những bó hoa ân nghĩa đặt bên tử sĩ đã hy sinh vì tổ quốc VNCH thân yêu. 

Trong tiến trình xây dựng niềm thông cảm, chia sẻ nỗi gian lao trên đường hành quân, bảo vệ chính nghĩa quốc gia … hầu như quân nhân các cấp QL/VNCH luôn nhớ về nhau từng gói cơm xấy tới bông hoa rừng chan chứa tình thương. 

Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, khi ông mang cấp Đại Tá, làm Tham Mưu Trường Bộ Tư Lệnh QĐI /QKI của …tôi, ông cứ luôn luôn chỉ thị chúng tôi lo phần việc nêu trên , không nên 

và không được quên công ơn chiến sĩ VNCH . 

Cả trong ngoại giao cũng vậy, chúng tôi phải lo hoa hoét đón chào các phái đoàn quân đồng minh, khi có việc biểu lộ tình thân lửa đạn …

Do đó có lần chúng tôi phải chía nhau đi tìm hoa nơi các nhà tư để thực hiện hoa mừng chiến thắng cho vui vẻ đơn vị, bởi ngoài chợ Hàn giá rét, hoa đã không còn một cành nhỏ . 

Quốc hoa ? Có lẽ vì thế mà đoạn phim ” chơi ” trên mạng X đã chiếu một cảnh phái đoàn tổng thống Hoa Kỳ mới nhứt tới sân bay Đà Nẵng, dù ông tổng thống Mỹ ấy còn đang chu du nơi khác cũng châu Á như  thông báo…

Người làm phim ” chơi ” đã thực hiện nhiều tình tiết như chảng một nhân vật lớn nhỏ CSVN nào ở địa phương được tới sát phái đoàn dù chỉ 1 m, vì hàng trăm mật vụ Mỹ cản bước để tránh khủng bố vv…

Thì hỡi ơi, một cô hoa hậu cơ sở,, được vinh hạnh ôm bó Quốc Hoa với dự trù dâng lên Tổng Thống Hoa Kỳ, là chục đoá sen chưa nở, tím ngắt, có lẽ chờ lâu, đã héo quẹo, gục xuống một lượt .  

Tôi không có ý khôi hài quốc hoa VN hiện nay, là những bông hoa sen thơm ngát, dạt dào tình quê hương dân tộc , vì hoa đã vô hình chung hiện diện ở hầu hết các nơi thờ phượng , đã là những sản phẩm quý giá như trà sen, bánh hạt sen vv…mà tôi rất mến chuộng . 

Như tôi đã trình bầy, là tôi chỉ thấy sao kể vậy . 

Đang ” thao thao ” bấm trên bàn phím về một loài hoa chứa chan tình nghĩa, hương sắc vẹn toàn là Sen, thì nhận được cái ” túp” anh gởi khẩn cho mình vào lúc 12 giờ khuya nay 8 qua 9 – 11 – 2017, phái đoàn Tổng Thống Hoa Kỳ đang bước vô đại lễ của  Trung Cộng bành trướng, với biết bao hân hoan bởi sự đón tiếp dềnh dang của Trung cộng, không thấy hoa hoét gì cả. 

Trung cộng mà tiền thân là Trung Hoa phong kiến kia, với  số dân chiếm 1/4 tổng số dân trên thế giới, thì họ chỉ có nguyên liệu ” người ” là chính.

 Nên tất cả những lễ nghi tiếp đón là công trình biểu diễn tài nghệ của những người và người …dân họ. 

Nhưng dù Tự Do như Phái Đoàn Tổng Thống Hoa Kỳ, hay cộng sản như Trung Quốc hiện nay, qua video của HẢI NGOẠI PHIÊM ĐÀM  mà anh đã gởi cho mình, thì mình cũng thấy được sự kiện ” Hoành tráng, vĩ đại ” e chỉ những nước lớn, mới có phương tiện biểu diễn được, để lại thở dài nhớ tới loài hoa cố gắng khiêm nhường, mà vẫn chẳng … an ổn tâm tư đâu, mặt nào cũng thua sút vì thói quen ” nhược tiểu ” rồi . 

Anh sẽ an ủi mình trong suy nghĩ, rằng thôi chỉ là phù vân, dù cho phô trương khiếp đảm như đã từng phô diễn với mấy lần đăng cai Thế Vận Hội, Trung cộng vẫn chỉ là phồn vinh giả tạo đúng nghĩa. Họ, Trung cộng giống như những cái máy biết nói vậy. 

Thường khán giả coi video, nghe YouTube, là muốn thấy tận mắt, nghe tận tai những gì không chối cãi được, kể cả những cuốn phim “chơi” như tôi nêu dẫn ở trên, rằng Tổng Thống Hoa Kỳ chưa đến Đà Nẵng mấy hôm nay, mà phim ” chơi ” cứ tò le cho đồng bào kiểu không biết gì như tôi  tò mò . 

Tuy là chuyện ngoài đường, nhưng trong lòng tôi cứ dạt dào nhớ về anh với hình ảnh sen nở kín mặt hồ Tĩnh Tâm xưa, thủa đầu tiên mình biết Huế . 

Dẫu Hoa Sen có đang là quốc hoa, thì anh Thân Kính vẫn đang là nguồn hương bất tận cho tình thơ mình say đắm, ngất ngây, để không thể nào không ví anh như vị vua tình cảm của mình được : 

Hỡi vị vua tình cảm của em

Đưa tay em nắm, bước qua thềm 

Ta xô đổ hết tường rêu cản 

Anh dẫn em vào chơi ngự viên 

       ( Nhịp Tim Thơ.     Cao Mỵ Nhân  ) 

Mình ngẫm câu: sen Huế là sen của vua, của người quân tử …để tĩnh tâm trước sự thắng bại ở đời …

             CAO MỴ NHÂN 

THƠ

SẮC QUÊ HƯƠNG.     CAO MỴ NHÂN

Rủ nhau đi nhặt nắng về 

Hoa xuân chưa lạt, gió hè đang lên

Một trời bát ngát yêu em

Từng đôi chim hót êm đềm thanh trong

*

Này em, có biết gì không

Mây đang thả xuống cõi lòng nhân gian

Bao nhiêu tình tự chứa chan

Đường trường cố lý vô vàn thân thương

*

Cờ vàng đẹp sắc quê hương

Rỡ ràng Dân Chủ giai chương Cộng Hoà 

Từ đây đất nước chúng ta

Lẫy lừng Chính Nghĩa Quốc Gia muôn đời

*

Phượng hoàng đan cánh em ơi

Quê hương quang phục tái hồi thịnh hưng

Trao nhau từng chén rượu mừng

Thành xưa ấm áp, tưng bừng hồi sinh …

    Hawthorne  28 – 4 – 2024              CAO MỴ NHÂN 

**

QUÁCH THÀNH XƯA.       CAO MỴ NHÂN

Đã nhiều lần biết cuộc đời tuyệt đẹp

Lũ chúng ta yêu trời đất cao vời

Chẳng bao giờ đôi vai trần nhức mỏi

Bởi suối nguồn tâm thức tựa ngàn khơi

*

Dù song cửa hay chân mây rực rỡ

Lũ chúng ta vẫn thả bước phiêu du

Trên đường trường bao la non nước đó

Đất quê hương sống đẹp tự muôn thu

*

Lũ chúng ta chưa làm chi lầm lỗi

Để bâng khuâng nhân thế gọi quay về

Tháng năm rạng rỡ mừng vui dự hội

Từ đô thành tới làng xóm đồng quê

*

Tuổi xuân thắm đừng than mùa hạ vội

Hay thu phong lùa lá đỏ bên rừng

Không có chi buồn sông kêu, biển gọi

Tiếc than gì phai nhạt sắc nhan dung

*

Ôi cảnh đẹp dẫu đông sầu lỡ dở

Một mai kia tuyết nhuộm tóc hoang sơ

Vẫn đầy tình tri âm chan chứa cũ

Lũ chúng ta gìn giữ quách thành xưa …

Hawthorne    28 -8 – 2022         CAO MỴ NHÂN  

**

VIẾNG TƯỢNG ĐÀI .      CAO MỴ NHÂN 

Hôm nay tới hẹn ” cờ vàng ” 

Hình anh cao ngất, tượng chàng chơi vơi

Chuyện xưa, nửa thế kỷ rồi

Bao câu tình tự, nhớ người chiến binh

*

Câu thơ yên ngựa hồi sinh

Sắc cờ sáng rỡ bình minh tượng đài

Nụ cười hiu hắt hồn ai

Không chuông chiêu mộ, chẳng cài hoa đăng

*

Người đi vào cõi ngàn năm 

Rồi thôi tất cả lặng thầm thế gian

Nắng mưa sương gió điêu tàn

Đá thêm hoang lạnh giữa làn khói bay

*

Thôi ta cách biệt thủa này 

Muôn sau tái ngộ tình đầy xuân thu

Lẫn trong thương tiếc mịt mù 

Lệ rơi thấp thoáng lời ru não nùng …

 Hawthorne  15 – 8 – 2024 .           CAO MỴ NHÂN     

**

 MÌNH VỀ.    CAO MỴ NHÂN 

Mình về tạ lỗi cùng nhau 

Trong tâm tư chứa nỗi sầu giang san

Bao nhiêu tình tự miên man

Làm sao quên được lệ than vãn người 

*

Tạ nhau hoang vắng nụ cười 

Mình về nhớ lại một thời lửa binh

Đã tàn cuộc lỡ tử sinh

Thương ta để lại chút tình thơ thôi

*

Mình về đốt lửa bên trời 

Kiếm hoa chinh phạt chơi vơi cõi lòng 

Khói sương phủ trắng non sông 

Đưa tay xoá mặt trời hồng đang sa

*

Mai sau tạ lỗi sơn hà 

Bao nhiêu tàn lửa, bấy là đạn bom 

Mình về góc biển hoàng hôn

Chờ nghe tiếng quốc gọi hồn quê hương…

    CAO MỴ NHÂN 

**




PHƯƠNG HOA – Bút Ký: Nhờ Một Bài Thơ Hay – Tôi Tập Làm “Ngâm Sĩ”- Về Buổi Lễ Tưởng Niệm Ngày Tiểu Tường Của Hoà Thượng Thích Tuệ Sỹ.

Phương Hoa

Vào đầu:

KÍNH DÂNG THẦY THÍCH TUỆ SỸ

(Tam khúc liên châu)

Lễ tưởng niệm Thầy buổi tối nay

Lời thơ, tiếng hát, điệu đàn bay…

Vinh danh đức cả tình thêm trọng

Kính ngưỡng ân sâu nghĩa quá dày

TUỆ SỸ dịch tàng kinh tháng tháng

SƯ ÔNG truyền Đạo sử ngày ngày

Dù cho phàm thể đà tan biến

Danh Thánh còn lưu thế giới này.

*

Thế giới này lời Phật giảng sâu

Từ bi bác ái ngự chương đầu

SƯ ÔNG đức rộng nhuần thi phú

HOÀ THƯỢNG tài cao nhuyễn Đạo mầu

Phàm thể bất an lòng nguyệt tỏ

Trần tâm định ổn trí tươi mầu

Trước khi vĩnh biệt Người còn gắng

Để lại dương trần những ngọc châu.

*

Những ngọc châu gồm ĐẠO, PHẬT, KINH

Hàng đêm SƯ cố để vươn mình

Hậu nhân dạy bảo nguồn trung trực

Đệ tử trao truyền cội khiết tinh

Cao cả tấm lòng THẦY trọn nghĩa

Dày sâu tâm huyết CỤ chân tình

Tạ ơn con kính bài thơ nhỏ

TUỆ SỸ dâng Ngài cõi Thánh linh.

Phương Hoa – Viết trong ngày Lễ Tưởng Niệm Thầy Tuệ Sỹ – DEC 22, 2024

Chiều nay, 22 tháng 12, 2024, một buổi lễ Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ thật là trang trọng đã diễn ra, nhân dịp ngày Tiểu Tường của Ngài vừa qua, do nhóm Cư Sĩ Phật Tử Bắc Cali, nhóm thân hữu Cựu Sinh Viên Sài Gòn, Vạn Hạnh, Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang, và Tu Viện Quảng Hương Già Lam tổ chức tại nhà Hàng Chay Di Lạc, San Jose.

Tôi và cô bạn Minh Thúy đã đến sớm hơn một chút theo lời Thúy Nga – trưởng Ban Văn Nghệ một hội đoàn khác – và cũng là trưởng Ban Văn Nghệ của Văn Thơ Lạc Việt (VTLV) chúng tôi, để gặp anh Long nhạc sĩ phụ trách buổi văn nghệ cúng dường Thầy Tuệ Sỹ, và “dợt tông”  trước chuẩn bị cho những bài thơ chúng tôi sẽ diễn ngâm trong buổi lễ.

Đến sớm mà không sớm. Nhà hàng Di Lạc đã đông người từ trong ra tận ngoài cửa.  Rất nhiều Phật tử, học viên trường Cao Đẳng Phật Giáo, sư thầy, ni cô, và bà con thân hữu trong cộng đồng Viêt Nam ở thành phố San Jose và các vùng phụ cận.  Thôi thì cánh nữ mặt hoa da phấn ngoài trang phục áo lam lại có thêm đủ màu đủ sắc khoe duyên trong mùa Lễ.  Các ông còn trang trọng hơn nữa với những bộ “đồ lớn” càng làm tăng thêm vẻ uy nghi của các “đấng anh hùng” thời VNCH xưa.

Thực ra tôi chỉ là tên “thợ” nghiệp dư, mà vì yêu thơ của thầy Tuệ Sỹ nên khi nghe Thúy Nga mời thì “xâm mình” tình nguyện hưởng ứng, theo kiểu …thử chút chơi, chứ tôi đâu có rành nhạc lý chi mô mà dợt với tập, tông với nốt.  May mắn, anh chàng nhạc sĩ trẻ Long này rất dễ tính. Nghe tôi nói không rành nhạc lý và chỉ có thể nhận chữ “đọc” thôi, còn chữ “ngâm” xin nhường cho các vị nghệ sĩ chuyên nghiệp, thì Long nói, “Chị cứ ngâm thoải mái, em sẽ ráng…chạy theo cho, không sao đâu.”

Nói chuyện với Long xong tôi ngồi vào bàn cùng Minh Thúy, thích thú nhìn quanh.  Nhà hàng được trang trí đẹp rực rỡ sáng chói ánh vàng Phật Giáo, với hai cây cờ Đạo, cờ Vàng VNCH thật lớn, băng rôn, cùng hình ảnh Phật, và chiếc bàn hương án trên sân khấu có đặt bức di ảnh của Thầy Tuệ Sỹ uy nghi. Không Quân Lê Văn Hải, anh Chủ Tịch VTLV hội chúng tôi, mang thật nhiều chậu hoa Trạng Nguyên trắng đỏ đến bày biện khắp nơi trong nhà hàng, càng làm tăng thêm phần đẹp đẽ.  

Lúc này đã có mặt của những vị dân cử địa phương, cô Vân Lê Chủ Tịch Học Khu East Side San Jose, tân Giám Sát Viên mới đắc cử Betty Dương, cùng các vị thân hào nhân sĩ quanh vùng San Jose và các nơi. Nhiều nhà báo, phóng viên truyền thông, đài TV, và nhiều Hội đoàn với máy quay phim rộn ràng tới lui trông thật nhộn nhịp.  Các món chay hấp dẫn đang được nhân viên nhà hàng Di Lạc chuẩn bị bày ra đầy bàn trông thật đẹp mắt, và tất cả quan khách đều được những Phật tử tình nguyện viên tới từng bàn mời nước mời trà với vẻ mặt đầy thân thiện hân hoan.

Ngồi cạnh tôi và Minh Thúy, là một Phật Tử, cũng là học viên trường Cao Đẳng Phật Học online của GS Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng (Như Ninh) với chúng tôi mà lần đầu tiên gặp mặt.  Chị tên Thanh Hạnh, đến từ Nam Cali và đi thẳng tới buổi lễ không kịp ăn uống gì.  Điều này cho thấy sức ảnh hưởng và sự kính quý Hòa Thượng Tuệ Sỹ vô cùng to lớn đối với cộng đồng.  Thanh Hạnh ngồi xem văn nghệ mà miệng không ngớt trầm trồ, chắc cô nàng cũng có máu văn nghệ không nhỏ.  “Trên này sinh hoạt vui quá, ước gì em ở đây sẽ theo các chị học tập hát và ngâm thơ.”

Từ trái: TS Nguyễn Hồng Dũng, Thanh Hạnh, Phương Hoa, Hoa, Minh Thúy

Mở đầu buổi lễ, vẫn là anh cựu binh VNCH Hoàng Thưởng, một anh hùng của quê xưa, cũng là trưởng Ban Nghi Lễ của VTLV – và của các hội đoàn quanh vùng Thung Lũng Hoa Vàng – lên điều khiển thủ tục đầu tiên, chào cờ Mỹ, cờ VNCH và Phật Giáo Ca một cách đầy trang trọng.  Cảm động nhất, là khi anh Hoàng Thưởng đọc lời trong phút mặc niệm anh linh các chiến sĩ, anh hùng, và tiền nhân VN cũng như 58 nghìn tử sĩ Hoa Kỳ đã nằm xuống tại Việt Nam.  Nhắc sơ qua một chút về anh trưởng ban Nghi Lễ của VTLV chúng tôi.  Anh Hoàng Thưởng là phu quân của trưởng ban Văn Nghệ Thúy Nga, nên chúng tôi thường ghẹo, “Hai người đều trưởng cả, thì không biết khi ở nhà ai là phó nhỉ?” Có lần tôi hỏi Thúy Nga: -Anh Hoàng Thưởng rất có tài và có tâm với Tổ Quốc, hai người thật xứng đôi, làm sao mà gặp nhau hay vậy, trước 75 hay sau? – Sau 75, sau 5 năm rưỡi đi tù cải tạo. Thúy Nga trả lời. Tôi khen: – Wow! Đúng là tình nghèo! Sau khi đi tù về ai cũng trắng tay mà còn có người thương xinh thế thì đúng là… True Love!

Trái: Hoàng Thưởng, Trưởng ban Nghi Lễ.  Phải: Minh Thúy, Trưởng ban Văn Nghệ Thúy Nga, Phương Hoa

Đột nhiên, Minh Thúy kêu tôi và chỉ vào một “đấng hùng anh” đang đứng phía ngoài. Chúng tôi đã hẹn hôm nay sẽ gặp anh Lê Bình Định, Trưởng Ban Biên Tập của diễn đàn văn thơ “Văn Bút Tao Đàn Hải Ngoại” mà chúng tôi mới tham gia gần đây.  Anh Định là người San Jose, “cội nguồn gốc rễ” của thành phố biệt danh “Thung Lũng Hoa Vàng”.  Kể cũng vui và có chút hơi…hồi hộp, khi chờ đợi người bạn “ảo” sắp thành thật.  Hai chị em cứ mãi ngóng trông ra cửa mà không biết ai là người mình sẽ gặp, cuối cùng “người ấy” cũng xuất hiện, và đã nhận ra chúng tôi. Rất tiếc vì đông người quá khó tiếp cận nhau, nên anh đã …lặng lẽ ra về. Nhưng chúng tôi cũng rất vui, vì ít ra buổi Lễ cũng đã “đón tiếp trong thầm lặng” một người bạn văn thơ mới của chúng tôi.

Hình trên: Tân Giám Sát Viên Betty Dương & Vân Lê đang trao tặng bằng Tương Lục cho các nhân vật có công với cộng đồng Phật Giáo vùng San Jose 50 năm qua.

Không phải chỉ mình anh Hoàng Thưởng là “người cũ”, hôm nay nơi đây còn có nhiều vị cựu công chức, học giả, nhà báo, Giáo Sư, Tiến Sĩ, cựu quân nhân VNCH mà chiến công xưa từng rất oai hùng. 

Sau khi anh TS Nguyễn Hồng Dũng giới thiệu khai mạc buổi lễ xong thì một vị Sư Thầy đọc kinh Niệm Hương và dâng lời cầu nguyện Thầy.  Cư Sĩ Nguyên Lợi là nhà báo Huỳnh Lương Thiện đã lên đọc tiểu sử của Hòa Thượng Thích Tuệ

Sỹ, một bản tiểu sử khiến người người xúc động, ngưỡng mộ, và yêu thương.  Tiểu sử và tài năng của Thầy Tuệ Sỹ đã phổ biến khắp nơi từ trước tới giờ, ở đây tôi không cần lập lại.  Chỉ xin nhắc một chút là Thầy thông thạo nhiều ngôn ngữ, từ Hán Tự, đến Anh ngữ, Pháp, Lào, Thái, Nhật, Tây Tạng, và còn cổ ngữ Pali và Sanskrit cùng Đức ngữ, đáng khâm phục.

Khi đến dự lễ, cô Vân Lê đã mang tới rất nhiều bảng Vinh Danh để cho Tân Giám Sát Viên Betty Dương thay mặt Thành Phố trao tặng cho các vị Phật Tử và thân hữu đã có công lớn trong việc giúp đỡ, phục vụ cộng đồng Phật Giáo địa phương trong gần năm chục năm qua. Mọi người hạnh phúc, lên nhận bằng khen, và vui vẻ cùng nhau chụp hình.

Xen lẫn các màn văn nghệ là quan khách được mời lên nói chuyện, và vinh danh, tưởng niệm vị Cao Tăng tài hoa xuất chúng của Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất còn lại từ thời VNCH.  Nhóm Tuệ Đăng, Thu Nga cùng toàn ban văn nghệ, cộng thêm nhóm VTLV của Thúy Nga đã cùng nhau dâng lên Thầy những ca khúc, vọng cổ, và diễn ngâm thơ của Thầy làm cho buổi lễ thật là rôm rả tươi vui.

Trở lại chuyện ngâm thơ.  Tôi yêu thích hết các bài thơ của Thầy Tuệ Sỹ nhưng tôi không phải là nghệ sĩ ngâm thơ.  Lâu nay trong các buổi họp hành hay đại hội của VTLV tôi chỉ… đọc thơ và hát Karaoke bậy bạ cho vui với mọi người.  Trong nhóm văn nghệ hôm nay, Thúy Nga kêu mọi người tự chọn bài thơ nào của Thầy mà mình thích rồi gửi cho cô ghi vào danh sách.  Các chị em nghệ sĩ đã chọn nhiều bài thơ từng được nhiều người diễn ngâm và phổ biến khắp nơi, bài nào cũng hay không gì sánh nổi.

Riêng phần tôi, dù ngâm thơ không phải là “nghề của nàng” nhưng tôi đã tìm được trong vô số bài thơ nổi tiếng của Thầy Tuệ Sỹ một bài thơ Hán Việt rất là xúc động.  Bài thơ Đường luật Thất Ngôn Bát Cú có tựa đề là “Tự Thuật” đã làm cho tôi phải dừng lại, nghiền ngẫm, và rồi quyết định lấy xuống bài thơ đậm vị Thiền này.

  TỰ THUẬT

Tam thập niên tiền học Khổ Không

Kinh hàm đôi lũy ám Tây song               

Xuân hoa bất cố xuân quang lão          

Thúy trúc tà phi túy mộng hồn            

Nhẫm nhiễm trường mi thùy hoại án 

Ta đà tố phát bán tàn phong               

Nhất triêu cước lạc huyền nhai hạ    

Thủy bả Chân Không đối tịch hồng   

      Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ

Tôi và nhà tôi đã theo học nhiều khóa Thiền, tập trường trai, và thực hành Thiền định cũng đã mấy năm. Đọc bài thơ này tôi có cảm giác như là “Cá gặp nước” như là tìm được tôn chỉ cho mình noi theo. Thầy Tuệ Sỹ dù gặp phong ba bão táp trong cuộc đời tù tội, thầy chỉ cần dùng cái thuyết “Chân Không” mà đối lại với những gian truân. Và thầy đã tồn tại để trở về chùa tiếp tục theo đuổi công việc Phật Pháp cho đến cuối đời.

Sau khi nghiền ngẫm kỹ, tôi mạo muội…cắn bút tạm phỏng dịch và họa lại một bài:

TỰ THUẬT

(Kính tạm phỏng dịch và họa y đề)

Ba chục năm từng học “Khổ Không”

Kinh tàng chất đống ngập đầu song

Xuân nồng không thưởng xuân già cội

Trúc biếc lờ bay bóng não hồn

Mấy chốc mi dài xòa án cũ

Nay đà tóc trắng phủ đồi phong

Một ngày hụt bước rơi triền thẳm

Dùng thuyết “Chân Không” địch tối hồng.

        Phương Hoa – DEC 16/2024

Không dừng lại ở đó, vì quá ngưỡng mộ bài thơ Tự Thuật của Thầy, sau khi đưa bài họa cho chàng xã nhà tôi đọc và được sự ‘vỗ tay” của chàng, gần ngày đi tôi bèn “lấy trớn” họa luôn một bài nữa theo cái thể …vui vui tôi thường xướng họa cùng bạn thơ trên các diễn đàn,  “Thể Song điệp lưỡng đầu xà” mục đích để đọc dâng tặng Thầy trong ngày Lễ Tưởng Niệm.

TỰ THUẬT

(Song Điệp Lưỡng Đầu Xà – Kính tạm phỏng dịch và cẩn họa y đề)

Không khổ, trường kỳ luyện “Khổ Không”

Song đầu kinh chất ngập đầu song

Cội già Xuân lỡ, Xuân già cội

Hồn não trúc lay, trúc não hồn

Án chạm mi dài, đà chạm án 

Phong ngời tóc trắng, đã ngời phong

Sẩy chân triền thẳm, dù chân sẩy

Hồng ánh “Chân Không” địch ánh hồng.

         Phương Hoa – DEC 21, 2024

Tôi chỉ là hàng hậu học, rất ngại múa rìu qua mắt thợ, nhưng vì cảm xúc đối với bài Tự Thuật của Thầy nên mới “xâm mình” gửi mấy bài thơ họa cho cô Trưởng Ban hỏi ý kiến xem có thể dùng được cùng với bài xướng của Thầy hay không.  Và khi Thúy Nga nói “Ổn lắm mà chị” tôi vui mừng in ra và ráng “tụng đi tụng lại” suốt một đêm.

Lúc được Thúy Nga gọi tên trước mọi người, tôi thực tình …run lắm.  Nhưng sau khi quay lại án thờ xá Hòa Thượng ba xá xong, nhìn di ảnh Người tôi như thêm sức.  Tôi đã trình bày cả ba bài thơ xướng và họa suông sẻ không vấp váp, và được sự cổ vũ của nhiều người lúc bước xuống chỗ ngồi, thì tôi rất vui.

Nhưng rồi đến khi thưởng thức các bạn nghệ sĩ diễn ngâm những bài thơ khác của Thầy Tuệ Sỹ thì tôi thấy…ốt dột quá, và biết mình cần phải học hỏi, tập luyện nhiều hơn nữa nếu muốn tiếp tục với sở thích ngâm thơ này.

Ca sĩ Thu Nga ngâm một bài, tôi đã quên mất tựa đề, nhưng giọng cô trong vắt, ngân nga quá hấp dẫn mượt mà; Minh Thúy diễn ngâm giọng Huế thật ngọt ngào bài “Cho Ta Chép Nốt Bài Thơ Ấy”. Nàng thơ này tính hay khiêm nhượng nên có khen cũng dãy nãy lên không bao giờ chịu nhận, còn cự nự nữa, nên tôi “hỏng thèm” khen, mà chỉ… vỗ tay.  Trưởng Ban Văn Nghệ Thúy Nga diễn ngâm bài “Tống Biệt Hành” và một bài khác nữa.  Đến giờ ngồi ghi lại những dòng này, tai tôi như còn nghe giọng ngâm ấm áp đầy truyền cảm của Thúy Nga. Những nhấn nhá, những âm vang, và luyến láy nghe thật là hấp dẫn vô cùng.  Thế mới biết, nghệ thuật là phải qua tôi luyện mới có thành quả đáng kể.  Không thể giỡn chơi.

Trong khi mọi người thưởng thức văn nghệ đồng thời cũng được nhân viên nhà hàng Di Lạc dọn ra những món ăn chay nhẹ nhàng mát ruột.  Món chả giò chay đặc biệt của nhà hàng Di Lạc mà hương vị chúng tôi đã thưởng thức rất nhiều lần, ăn đến mê luôn phải thêm togo về nhà.   Ngoài ra còn có món súp nấm chay ngon tuyệt hảo, các chị ngồi gần trầm trồ nói súp này ăn giống hệt món “Súp măng cua” mà họ thường ăn ở nhà hàng đồ mặn.  

Họ nói không sai, vì nhà hàng Di Lạc hàng năm đều được An Toàn Thực Phẩm Thành Phố San Jose trao bằng Vinh Danh, công nhận là nhà hàng sử dụng toàn thực phẩm hữu cơ (Oganic) giúp bảo vệ an toàn cho sức khỏe cộng đồng.  Thật là thương người khách “viễn phương” Thanh Hạnh, nàng múc một mạch là …hết sạch sành sanh chén súp, và nói, “Món súp …cứu mạng này ăn vào là thấy khỏe ngay, vì em nhịn đói từ lúc xuống máy bay đến giờ.” Tôi trách nàng sao không nói, vì trong xách tôi lúc nào có mấy viên “kẹo cứu đói” để phòng ngừa những lúc bị kẹt xe.

Cuối chương trình, mọi người trong ban văn Nghệ đều được mời lên để tặng hoa, những chậu hoa Trạng Nguyên dành riêng cho mùa Giáng Sinh đón Chúa hạ trần.  Thật là vui và cảm động.

Có thể nói, buổi Lễ Tưởng Niệm ngày Tiểu Tường của Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ thành công mỹ mãn.  Tôi không phải dân “Thung Lũng Hoa Vàng” chánh hiệu, mà là khách đến từ Vùng Đông Vịnh, San Fransisco, nên xin có vài nhận xét khách quan chia sẻ cùng ban tổ chức. Nhà hàng Di Lạc tuy nhỏ nhưng đẹp, ấm cúng, thức ăn ngon, và phục vụ tử tế thân thiện. Ban Tổ Chức buổi lễ lập chương trình rất bài bản, đúng giờ, và trang trọng; khách mời toàn những nhân vật có uy tín trong cộng đồng, và những người có công lao đối với Phật Giáo địa phương làm cho quan khách chăm chú lắng nghe và không cảm thấy lạc lỏng.  Đặc biệt, chương trình văn nghệ hôm nay tuy đơn giản nhưng rất tuyệt vời, nhạc hay chọn lọc, thơ của Thầy Tuệ Sỹ thì hay miễn bàn, làm cho một số khách ở lại đến giờ chót mới ra về.

Trân trọng chúc mừng và cảm ơn ban Tổ Chức đã cho nhóm VTLV chúng tôi cơ hội cùng tham gia và được thưởng thức một chương trình Lễ Tưởng Niệm Thầy Tuệ Sỹ thật là cảm động.

Phương Hoa – DEC 22, 2024




KIỀU MỸ DUYÊN – CON VỀ THĂM THẦY, THẦY ĐÃ RA BIỂN & CHƯƠNG TRÌNH CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA.

https://www.youtube.com/watch?v=D5sbB5YZr_o&t=1s



CA KHÚC “Quasimodo” – Thơ Thi Sĩ Trụ Vũ, Trần Đại Bản Phổ Nhạc; Ca sĩ Duyên Quỳnh. 




CHÙM THƠ CUỐI NĂM – ĐÔNG RY NGUYỄN




Tham Luận: THÁI CÔNG TỤNG – Nước và Các Bến Đò Trong Thơ Nhạc Việt    

Nước và các bến đò trong thơ nhạc Việt                                                                   

 Thái Công Tụng

1.Dẫn nhập.Sông nước là dòng chảy bất tận của thời gian (Dù cho sông cạn, đá mòn…), là sự xác định giới hạn về không gian (Đôi ta cách một con sông…), là nguồn cội thiêng liêng (Uống nước nhớ nguồn), là niềm tin trong cuộc sống (Có nước, có cá / Sông có khúc, người có lúc), là đạo đức và cách hành xử (Thác trong hơn sống đục / Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo)… Những tính chất: lỏng, mềm, trong, linh hoạt, liên kết không có ranh giới, truyền nhiệt, dễ bốc hơi… của nước dường như đều có ảnh hưởng tính cách của người Việt. Đó cũng là hệ quả tất yếu từ mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Trong nhận thức của người Việt, sự hiện hữu của sông nước khẳng định sự tồn tại của sự sống, hay nói khác hơn, giá trị của nước chính là đem lại cuộc sống cho con người. Nước dồi dào, cây cối xanh tươi, mùa màng sung túc; sông cạn, nước khô có nghĩa là sự sống đang cạn kiệt, đang bị hủy diệt. Dần dần, từ tự nhiên tồn tại khách quan, nước hiện hữu, chi phối nhận thức và cách ứng xử trong mỗi con người. Mỗi con người sinh ra đều gắn liền với một dòng sông, mà tất cả mỗi dòng sông đều có không dưới một bến đò. Mỗi đời người như một dòng sông chảy đi, chảy đi, rồi cũng có lúc trở về bến cũ với những kỷ niệm; hay ít nhất cũng giữ lại trong lòng bao ký ức không phai. Mộc mạc, chân quê thế thôi, nhưng bến nước, dòng sông, mãi cứ tắm mát trong tâm thức mỗi con người với hình ảnh của một thời để nhớ: Đò dọc-Đò ngang!

Nước quan trọng cho cuộc sống nên trong khoa học về nước, người ta còn phân chia ra hai thứ:-thủy văn (hydrology) là nói về thời tiết mưa, bão, bốchơi, thoát hơi; –thủy lợi là tưới nước, thoát nước.

2.Mùa mưa khác nhau tùy vùng. Nước Việt nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên mưa rất nhều. Chỉ trừ vài vùng khô hạn như Phan Rang, Phan Rí còn ra thì mưa to nhưng mưa có mùa:

-có vùng mưa về mùa hè như Hà Nội, Saigon đúng như bài thơ: Tháng sáu trời mưa, trời mưa không dứt /Trời không mưa tôi vẫn lạy trời mưa hoặc :Em đứng lên gọi mưa vào hạ, Từng cơn mưa, từng cơn mưa

-có vùng mưa về mùa thu như Trị Thiên, đúng như tục ngữ địa phương: Ông tha mà bà chẳng tha/ Sinh ra cái lụt hăm ba tháng mười.

Cũng vì vũ lượng cao nên nước Việt sông ngòi rất nhiều, chưa kể đầm, ao, trủng, bưng với kinh, rạch, suối. Người Việt nào cũng có kỷ niệm với dòng sông. Sông nưóc là nguồn cảm hứng dào dạt cho bao nhiêu nhạc sĩ, thi sĩ và để lại cho tâm thức những hoài niệm như dòng sông miền Trung mà Phạm Đình Chương, một nhạc sĩ gốc Bắc, nói về dòng sông Hương miền Trung rất chính xác: Miền Trung vọng tiếng,em xinh em bé tên là Hương giang,đêm đêm khua ánh trăng vàng mà than.Hò ơi, phiên Đông Ba buồn qua cửa chợ,bến Vân Lâu thuyền vó đơm sâu.Hỡi hò, hỡi hò.Quê hương em nghèo lắm ai ơi,mùa đông thiếu áo hè thì thiếu ăn.Trời rằng, trời hành cơn lụt mỗi năm à ơi,khiến đau thương thấm tràn, lấp Thuận An để lan biển khơi, ơi hò ơi hò

Xuyên qua các đồng bằng miền Trung là con đường cái quan, xuyên đèo, qua suối, với câu hát trữ tình và trêu ghẹo: Hỡi anh đi đường cái quan, Dừng chân đứng lại em than đôi lời Đi đâu vội lắm ai ơi, Công việc đã có chị tôi ở nhà.

 Sông Hương và núi Ngự Bình được nhắc đến trong lời bài hát Ai ra xứ Huếsáng tác bởi nhạc sỹ Duy Khánh: Ai ra xứ Huế thì ra, Ai về là về núi Ngự, Ai về là về sông Hương,  Nước sông Hương còn vương chưa cạn,Chim núi Ngự tìm bạn bay về, Người tình quê ơi người tình quê thương nhớ xin trở về.

3.Sông và các bến đò. Nói đến các dòng sông, ta liên tưởng ngay đến các bến đò. Nhà nhạc sĩ có ghi lại nét nhạc để đánh dấu kỷ niệm với các bến đò qua các bài hát như Bến Mơ, Bến nước, Bến Hàn Giang, Bến củ:Xa nhau bến xưa ngày ấy,Anh như bóng mây hồng trôi,Về chốn xa vời,Lòng nặng nhớ mong,Cố quên sầu thương đi,Anh nguyện đi theo gió,Chớ buồn khóc chi,Càng khổ người đi.  Xa nhau bến xưa ngày ấy Anh đi thế thôi từ đây, Sầu chết bên lòng, Hồn nặng nhớ mong, Bến ấy chiều sương,chờ mong vấn vương lòng ta,Gió cuốn mây trôi về đâu,Cố nén sầu lòng bao năm, Bến ấy ngày xưa người đi vấn vương biệt ly,Gió cuốn muôn phương về đây, thấy bóng người về hay chăng?

Mà nói đến bến đò là hình dung ngay cô lái đò với các đò dọc, đò ngang. Nhiều khi đò ngang chở nhiều khách quá dễ xẩy ra tai nạn nên ca dao có khuyên: Thương em anh mới dặn dò, Sông sâu chớ lội, đò đầy đừng qua!

4.Sông nước trong văn học dân gian. Sông ngòi luôn luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho thơ, văn, nhạc. Những bài thơ Đường của Lý Bạch, của Thôi Hiệu, bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, bản nhạc Dòng Sông Xanh đều lấy sông làm nguồn cảm hứng. Nhiều bài nhạc dùng sông làm chủ đề như Sông Mã trong bài nhạc Tây Tiến của Quang Dũng; Sông Hương thì khá nhiều với Phạm Đình Chương, Dương Thiệu Tước (Đêm tàn Bến Ngự, Thương về miền Trung v.v.), Nha Trang có Nha Trang ngày về v.v. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác có Sông Côn mùa lũ.

Riêng văn học dân gian cũng có nhiều điệu hò trên sông nước. Vì sự vận chuyển hàng hoá bằng ghe thuyền đòi hỏi chèo chống khó nhọc nên để bớt vất vả khi chèo đò, nhiều loại hò ra đời với nội dung rất phong phú, phản ánh phong cảnh thiên nhiên, mối tình trai gái v.v.Cùng với mái chèo cất nhịp, những lời ca giàu tính chất trữ tình giúp cả khách lẫn trai chèo quên đi những nhọc nhằn, nỗi lạnh lẽo tịch mịch của đêm truờng.Trong nền âm nhạc dân tộc dân gian, Hò là một trong những thể loại gắn bó thân thiết với sinh hoạt lao động của người dân Việt. Đã có một thời, những điệu hò được xem như món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống.Từ miền sơn thượng với bao thác ghềnh hiểm trở, đến miền đồng bằng phì nhiêu, bao la bát ngát, cho tới tận những nơi cửa biển hay ngoài khơi xa sóng to gió cả, đâu đâu cũng vang vọng những giọng hò. Hò bảng lảng dọc triền sông, hò véo von trên những cánh đồng lúa chín mùa thu hoạch, hò xuất hiện trong sinh hoạt hàng ngày ở mỗi miền quê. Văn học dân gian được phong phú thêm với những hò Huế, hò Quảng, hò sông Mã v.v. Hò có nhiều loại tùy động tác như hò rời bến, hò đò xuôi, hò mắc cạn v.v.Nhạc điệu tùy lúc.

Hò đò xuôi khi thuận buồm xuôi gió với nhạc điệu dài đều; hò mắc cạn thì khi dứt một câu hò thì trai đò phải đồng lên tiếng ‘vác’ đồng thời đem hết sức vác thuyền và cứ dứt một câu hò, thuyền nhích được một đoạn. Hò đò xuôi gồm những điệu hò chủ yếu của hò sông Mã. Khi đã thuận buồm xuôi gió, con đò nhẹ trôi trên dòng nước, công việc của người chèo đò cũng trở nên nhẹ nhàng đỡ vất vả thì tiếng hò của họ cũng cất lên không những với nhiều âm điệu, nhiều màu sắc mà cũng chính nội dung lời ca cũng bao la, rộng rãi và số lượng bài bản cũng nhiều hơn : Đôi ta như đũa tre non, Khen ai khéo vuốt đũa tròn nên đôi, Đôi ta như đũa tre già,  Khen ái khéo tiện đũa đà bằng đôi

Hò đò ngược còn gọi là hò chống sào vì lúc này chủ yếu trai đò dùng sào để chống, để đẩy con thuyền đi ngược dòng sông theo hiệu lệnh của người “bắt cái”.Hò đò ngược chỉ có một làn điệu. Giọng hò đò ngược nghe chậm chạp và có phần nặng nề hợp với cảnh lao động chống sào nặng nhọc, nhưng vẫn đượm màu sắc trữ tình nhiều lúc lại còn đầy vẻ dí dỏm lạc quan: Thương ai đứng bụi nấp bờ, Sáng trông đò dọc tối chờ đò xuôi, Thuyền ngược anh bỏ sào xuôi Khúc sông bỏ vắng để người sầu riêng.

 Dòng sông ở Huế với nhiều điệu hò: mái nhì, mái đẩy, dô hậy, đẩy nôốc là những thể hò dân gian trên sông nưóc.Tiếng hò của mối tình ngang trái: Nước chảy xuôi, con cá buôi lội ngược Nước chảy ngược, con cá vượt lội ngang Thuyền em xuống bến Thuận An Thuyền anh lại trẩy lên ngàn anh ơi! Câu hò mái nhì gợi nhiều rung cảm do tình yêu đôi lứa:Nước đầu cầu, khúc sâu khúc cạn, Chèo qua Ngọc Trản, đến mạn Kim Long ,Sương sa gió thổi lạnh lùng, Sóng xao trăng lặn, gợi lòng nhớ thương.

 Tình yêu chân thật, tình yêu không son phấn là những đề tài trong các câu hò dân gian:Thiên sanh nhân, hà nhân vô lộc, Địa sanh thảo, hà thảo vô căn,  Một mình em ngồi dựa lòng thuyền, dưới nước trên trăng,  Biết cùng ai trao duyên gửi phận, cho được bằng thế gian.

Hò khoan có cả hò trên vạn, hò dưới nước. Hò khoan cũng được gọi với nhiều tên như hò đối đáp, hò chào mừng.Nhiều loại hò có tính cách chơi chữ dân gian và lối chơi chữ của nhà nho rất thông dụng:Cá có đâu mà anh ngồi câu đó Biết có không mà công khó anh ơi ..hoặc: Gái Xuân em đi chợ Hạ Mua con cá Thu về chợ hãy đang Đông, Ai nói với anh em đã có chồng,  Tức mình em đổ cá xuống sông em về,  hoặc: Người Kim mã cưõi con Ngựa vàng,  Đất Phù Long rồng nổi, thời chàng đối chi. Người con trai cũng đối lại:Người Thanh Thủy gặp khách Nước Trong,Hoành Sơn ngang núi, đã thoả lòng em chưa ?

 Những câu hò, câu hát cũng dùng sông để ví von, so sánh:-Bao giờ cho sóng bỏ gành, Cù lao bỏ biển, anh mới đành bỏ em;-Cây đa cũ, bến đò xưa,Người thương có nghĩa, nắng mưa ta vẫn chờ -Nào khi mô, em nói với anh:Sông cạn, mà tình không cạn, Vàng mòn, mà nghĩa chẳng mòn, Nay chừ nước lại xa non, Đêm năm canh tơ tưởng, héo hon ruột tằm–Mười hai bến nước là duyên, Em cũng muốn bến hiền thuyền đậu,  Nhưng em trách cho hai bên phụ mẫu, Làm cho hai đứa không nên thất nên gia, Xa cách này bởi tại mẹ cha, Làm cho nên nỗi bướm hoa lìa cành

Bản nhạc sau đây ghi lại một cảnh bến đò vào mùa thu, trên sông Thương miền Bắc:Đêm nay thu sang cùng heo may,Đêm nay sương lam mờ chân mây,Thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng,Như nhớ thương ai chùng tơ lòng,Trong cây hơi thu cùng heo may,Vi vu qua muôn cành mơ say,Miền xa lời gió vang thông ngàn,Ai oán thương ai tàn mơ màng, Lướt theo chiều gió, Một con thuyền, theo trăng trong, Trôi trên sông Thương, Nước chảy đôi dòng, Biết đâu bờ bến, Thuyền ơi thuyền trôi nơi đâu,Trên con sông Thương, Nào ai biết nông sâu?Nhớ khi chiều sương,Cùng ai trắc ẩn tấm lòng.Biết bao buồn thương,Thuyền mơ buồn trôi xuôi dòng,  Bến mơ dù thiết tha, Thuyền ơi đừng chờ mong, Anh trăng mờ chiếu, Một con thuyền trong đêm thâu,Trên sông bao la, Thuyền mơ bến nơi đâu

-tình yêu cũng dùng sông để nhắn nhủ như Ai về sông Tương, Về sông Hậu nhớ sông Hồng, Trở về dòng sông tuổi thơ, Nhắn về sông Hương.

Qua các làng quê vùng sông nước Nam bộ, ở đâu cũng thấy xuồng ba lá trên dọc ngang kênh rạch. Từ nhiều đời nay, phương tiện chủ yếu để đi lại, làm ăn của người dân vùng sông nước Cửu Long là ghe xuồng, mà chiếc xuồng ba lá mang nét đặc trưng rất độc đáo. Xuồng ba lá được coi là phương tiện mang tính văn minh sông nước ở một vùng phù sa trẻ, xứ ruộng sình kinh ngập, mùa mưa lũ kéo dài tới 6 tháng mỗi năm. Xưa, vùng đất sình lầy quanh năm ngập nước này đường bộ rất ít, kênh rạch thì dọc ngang. Kênh rạch đi vào tận trước cửa mỗi nhà. Mùa lũ và những đợt triều cường càng khó khăn cho người dân đi lại.Người dân vùng Đồng Tháp Mười còn nhớ câu hò quen thuộc:

–Dẫu xuồng ba lá lênh đênh/ Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi/ Anh ơi chớ ngại ngần chi/ Ngồi xuồng ba lá giữa kỳ nước lên

–Em buồn thưa với mẹ em, Em theo sông nước đi tìm người thương!-Bao năm trường em theo đò dọc,Mưa nắng hai mùa xuôi ngược Tiền Giang,mẹ già một nắng hai sương

Cần lưu ý là nước, ngoài khía cạnh giáo dục vật chất, phải được xem có giá trị tinh thần vì hồ ao, sông suối có tác động thẩm mỹ, thông thoáng,giúp con người bớt các căng thẳng của cuộc sống xô bồ ngày nay.Thực vậy:

-tình yêu nẩy nở bên cạnh dòng suối: Dưới cầu nưóc chảy trong veo,Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha (Kiều);

-cuộc biệt ly cũng bên cạnh dòng sông: Đưa người ta không đưa sang sông,Sao có tiếng sóng ở trong lòng (Thâm Tâm);

-nhớ nhà khi nhìn con nước thủy triều lên xuống:Lòng quê dờn dợn vời con nưóc,Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà (Huy Cận);

 -tương tư nhớ nhung trên dòng sông:Em như cô gái hãy còn Xuân,Trong trắng thân chưa lấm bụi trần,Xuân đến hoa mơ, hoa mận nở,  Gái Xuân giũ lụa trên sông Vân. Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng. Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng, Đôi tám xuân đi trên mái tóc.Đêm xuân cô ngủ có buồn không? Gái Xuân (thơ Nguyễn Bính).

Trong văn chương bác học, nói về sắc đẹp của phụ nữ cũng dùng biểu tượng nước  như nghiêng nước nghiêng thành hoặc mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da. Nỗi nhớ nhà , nhớ nước được diễn tả trong câu: Buồn trông ngọn nước mới sa,  Mây trôi man mác biết là về đâu (Kiều).Thề nguyền cũng dùng nước: Còn non, còn nước, còn dài, Còn về còn nhớ đến người hôm nay (Kiều).Làm gì cũng phải có kế hoạch, không đợi ‘nước đến chân mới nhảy’:Lánh xa trước liệu tìm đường Ngồi chờ nước đến nên dường còn quê (Kiều).

Nguyễn Khuyến tả cảnh ao làng vào mùa thu: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyên câu bé tỉ teo. Nước trong, không ô nhiễm trong câu thơ của Chinh Phụ ngâm: Ngoài đầu cầu nước trong như lọc, Đường bên cầu cỏ mọc còn non.

Nhưng vượt lên ca dao, tục ngữ, nước là một tài nguyên quan trọng vì nước là một chất không thể thiếu được trong sự sống của loài người, từ động vật đến thực vật; là chất đảm bảo sự cân đối của những vận động tuần hoàn không những của trái đất vĩ mô mà còn cả những chuyển hóa vi mô trong từng tế bào là đơn vị nhỏ nhất của động vật và thực vật.

5.Kết luận. Với dân số càng ngày càng tăng, với kỷ nghệ hoá, nhiều chất phế thải theo dòng nước thải đều chảy về chỗ trủng, nghĩa là các kinh mương rồi đến sông suối. Nhiều kinh rạch đầy lục bình cản trở lưu thông và thoát nước. Ô nhiễm nước trở thành một vấn nạn nhức nhối cho người dân vì sức khoẻ tùy thuộc nhiều vào nước uống. Với sự phá rừng, nhiều dòng sông có lưu lượng thấp hẳn, không đủ nước tưới miền đồng bằng, không đủ để đẩy nước mặn vào mùa nắng. Ghe thuyền xúc cát ngày đêm trên sông làm chế độ dòng chảy sông ngòi bị đảo lộn, gây nạn xói lở bờ sông, nhiều gia đình ven sông phải di dời đi chỗ khác. Chợt nhớ về bài hát: Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người,Này em xin cứu một người,Này em hãy đến tìm tôi, Vì những con sông đã cạn nguồn rồi,Vì gió đêm nay hát lời tù tội quanh đời,Về cùng tôi đứng bên âu lo này.

Với biến đổi khí hậu, kỹ nghệ hoá, đô thị hoá, các vấn đề của những dòng sông càng ngày càng nhiều vì ô nhiễm, vì nước mặn xâm nhập, vì lượng nước ngầm ít đi. Mọi chất thải đều vứt xuống sông. Nước phế thải từ các nhà máy cũng như nước sinh hoạt đô thị cần được xử lý nghĩa là làm giảm bớt nồng độ các độc tố trước khi cho thoát ra kinh rạch vì nếu không sẽ nguy hiểm cho sự tôn vong nhiều loài cá, tôm.      Thái Công Tụng

0Thái Công Tụng

1. Tổng quan

Bài tham luận này bàn về các sắc thái của miền Đông Nam phần (MĐNP) và miền Tây Nam phần (dưới đây gọi là đồng bằng sông Cửu Long, viết tắt là ĐBCL).

1.1 Miền Đông Nam phần gồm các tỉnh như sau, từ Tây sang Đông : Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước (túc Bình Long và Phước Long củ ), Đồng Nai (tức Biên Hoà và Long Khánh củ), Bà Rịa-Vũng Tàu (tức Phước Tuy củ ) và một thành phố lớn : Saigon.

Bảng 1. Diện tích các tỉnh MĐNP: