Nhà văn Nguyên Thanh Xuân (TT/VTLV 2016)

Nhà Văn Nguyễn Thanh Xuân

 

inviteh

Thanh Xuân là một đứa con gái sinh trưởng và lớn lên tại thành phố Đalat trong một gia đình mười hai anh chị em với người cha làm Trưởng Ty Thú Y kiêm Phó Trưởng Ty Nông Nghiệp.

Từ nhỏ Thanh Xuân được đi học trường Mến Thánh Giá , Đà lạt, sau được đổi tên là trường tiểu học Thiên-Hương do các bà sơ dòng Mến Thánh Giá thành lập.

Khi đến tuổi vào trung học, Thanh Xuân được thi đậu vào Trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân năm 1970 học lớp đệ thất.  Đến năm 1975, khi đất nước bị rơi vào tình trạng khói lửa, bắt đầu từ tháng 3, những tỉnh lỵ miền trung mất dần theo bản đồ và bị cộng sản chiếm đóng.  Khoảng giữa tháng tư, dân chúng ở Đà Lạt kéo nhau bỏ chạy tuy rằng không có một tiếng súng nổ.  Gia đình cha mẹ Thanh Xuân và mấy anh chị em đi đường xe đò chạy về Nha Trang bỏ lại sau lưng ngôi nhà yêu quý và bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu.  Năm đó Thanh Xuân vừa học hết lớp 11C (C tượng trưng cho môn văn chương) trường Bùi Thị Xuân.

Sau khi Viet Nam đã rơi vào tay cộng sản ngày 30 tháng tư năm 1975, cả gia đình cha mẹ anh chị em đang ở Saigon và trú ngụ tại nhà người chị thứ Ba nằm trên đường Công Lý gần phi trường Tân Sơn Nhất.

Tháng tư 1975 cả gia đình bị kẹt lại Saigon với niềm đau buồn của người dân bị bỏ rơi.  Thanh Xuân đã ghi tên vào học năm cuối lớp 12A tại trường Nguyễn Thượng Hiền và thi đậu tú tài toàn phần năm 1976.  Vì lý do gia đình cha cô làm cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thời trước 1975 (bọn cộng sản liệt kê vào thành phần con ngụy) cho nên Thanh Xuân không được tuyển vào đại học.

Tuổi mới 18, cô mang một tâm hồn mơ mộng như tất cả những người con gái Việt Nam trong lứa tuổi này, nhưng trong một xã hội như cộng sản thì họ chỉ muốn vinh danh dân lao động cho nên ép buôt tất cả những thanh niên thiếu nữ trong lứa tuổi 17, 18, nếu không đi học thì phải đi về vùng kinh tế mới khai phá đất để trồng trọt phát triển kinh tế cho nhà nước.

Chính vì thế khoảng cuối tháng chín năm 1977, gia đình người chị lớn âm thầm thu xếp một chuyến đi vượt biển qua đường Rạch Giá, hai người em được chọn để mang theo làThanh Xuân và người chị kế Thanh Loan.  Sự lựa chọn để dấn thân trong một cuộc ra đi mạo hiểm mà người ta thường nói: “Một sống, hai chết” đã làm cho Thanh Xuân trở nên gan dạ, chấp nhận cái chết nếu đi không lọt.

Con thuyền định mệnh đã rời Rạch Giá vào một đêm không có trăng nên tối mịt, sau năm ngày năm đêm trôi dạt trên biển khơi đã được tắp vào một đảo bỏ hoang chỉ dành cho dân tị nạn lúc bấy giờ, đó là đảo Paula Tengah nằm gần Maylasia.  Trại tị nạn lúc bấy giờ có khoảng hơn 1000 người đang chờ giấy tờ đi định cư xứ người.

Trong danh sách những người chọn đi Mỹ, gia đình Thanh Xuân thuộc diên có làm cho Mỹ thời trước và có thể nói và đọc Anh ngữ lưu loát cho nên thời gian chờ đợi chỉ có ba tháng (so với những người khác đã chờ đợi hơn một năm mà vẫn chưa thấy được gọi tên).

Đầu năm 1978, Thanh Xuân và gia đình đã đặt chân đến Mỹ, định cư tại Mountain View, California dưới sự bảo lãnh của người anh rễ và chị dâu.

Thanh Xuân bắt đầu một cuộc sống hoàn toàn mới lạ, ban ngày đi làm cho một hảng điện tử và ban đêm đi học ở Foothill College, sau đó chuyển qua San Jose State University học về kinh doanh, và hiện đang làm địa ốc tại Intero Real Estate Almaden về buôn bán nhà cửa.

Năm 1985, Thanh Xuân lập gia đình với một người Mỹ Ed Cutshaw và có ba người con trai.  Năm 1989 nhờ sự bảo lãnh của phu quân, Thanh Xuân đã đem cha mẹ và 4 chị em còn lại qua đoàn tụ tại San Jose.

Năm 2009, khi thân phụ qua đời, Thanh Xuân đi với con trai út về Việt Nam thăm quê hương lần đầu tiên sau 25 năm xa quê hương đất tổ.  Khi trở về Mỹ, cô có một cảm hứng dâng tràn và viết hai tác phẩm đầu tay bằng hai thứ tiếng Anh và Việt ngữ với chủ đề: “Con đường đi đến giàu sang và hạnh phúc” và cuốn thứ nhì “Bí ẩn của sự thành công”.  Hai cuốn sách xuất bản qua nhà xuất bản Mỹ và đã được đưa vào thư viện toàn cầu (library of congress) và đang hiện bán qua Amazon hoặc Barn and Nobble.

Sách của cô thuộc diện tâm linh và nói rất nhiều về những định luật của vũ trụ như luật thu hút, luận nhân quả, luận cho và nhận.v.v.

Nguyện vọng của Thanh Xuân là bằng cách nào cho người đời sống và biết cách áp dụng những định luật này trực tiếp vào những lối suy nghĩ và hành động của mình mỗi ngày để tạo cho mình một cuộc sống như những ước mơ mình có sẵn.

Cô còn nói rằng mỗi người, vật hay sinh vật đang sống trong thế giới vũ trụ đều phải theo như nhau, không một ai hay một vật gì có thể đi ngược chiều.  Nếu biết cách đi thuận buồm xuôi gió thì cuộc sống trở nên đẹp vô cùng.

Thế thì tại sao con người chúng ta luôn tìm kiếm hoài mà không thấy hạnh phúc?  Tại sao bao nhiêu người mơ ước được cuộc sống giàu sang nhưng mãi hoài vẫn loay hoay cơm gạo áo tiền, sống chật vật và thiếu thốn?  Nếu bạn nào chưa hài lòng với cuộc sống hiện tại và muốn thay đổi cuộc đời, hãy tìm đọc sách của Thanh Xuân. Website:  www.xuanthanhnguyen.com hoặc vào Amazon www.amazon.com tìm tựa đề : ”A Road to Wealth and Happiness” or “ The secret to success” by Nguyen Thanh Xuan.

con-duong-di-toi-sang-giau               bi-an-su-thanh-cong

Quê Hương Việt Nam trong ký ức
Nguyễn Thanh Xuân

 

Quê hương tôi trước 1975, một hình ảnh đẹp nên thơ cho dù trong thời chinh chiến, cho dù mãnh đất quê hương Việt Nam đã bị dày xéo bởi bom đạn khói lửa như những lớp hằn trên con lưng con ngựa hoang.  Riêng tôi, có lẽ tôi chưa lớn đủ để có nhận thức được bao nỗi hoang mang lo lắng từng ngày của mẹ cha, những ưu tư của mẹ tôi nhớ đứa con trai lớn đang đi ra chiến trường không trở về thăm nhà trong những dịp tết.

Tôi còn nhớ năm 1967 khi tôi được 9 tuổi, một năm trước biến cố Mậu Thân 1968, cảnh chết chóc mỗi ngày trên Tivi và cảnh tan tóc ở cố đô Huế.  Năm đó gia đình tôi cũng hay tin anh hai tôi tử trận, ba má tôi đau buồn mà người đau khổ nhất là má tôi, bà thương anh tôi vì đó là con trai đầu lòng, má tôi khóc sưng cả mắt.

Đám tang của anh ở Sài Gòn, vìcả gia đình tôi lại ở Đà Lạt cho nên chỉ có người chị thứ ba và má tôi đi đưa đám tang của anh với một vài người thân.  Gia đình năm đó mất đi một người anh nên vắng tiếng cười, tuy tôi chỉ mới 9 tuổi, chưa đủ tuổi để hiểu được sự mất mác lớn lao đến dường nào.

Năm kế là biến cố tết Mậu Thân, Đà Lạt không ngoại lệ, mỗi ngày tôi đi học về thấy xác Việt Cộng nằm phơi trên đồi, máu me còn chưa khô.  Tôi vừa sợ vừa buồn vì không hiểu tại sao lại con người có thể giết nhau khi cùng một giống nòi.  Quê hương tôi đẹp quá nhưng cảnh tang tóc khắp nơi, gia đình nào cũng có ít nhất một người con hy sinh vì tổ quốc.  Hình ảnh mẹ ôm con chạy loạn ngoài miền trung mỗi ngày chiếu trên tivi ám ảnh vào trong đầu óc tôi.  Ngoài những buổi sáng đi học, những buổi trưa dài tôi thường đi vào rừng thông lượm củi đem về cho má tôi nấu bếp.  Những buổi trưa hè lang thang bắt bướm, bắt dế hoặc thả diều trên sân banh.

Quê hương Việt Nam của tôi, chiến tranh càng ngày càng khốc liệt khi tiến dần đến năm 1972, mùa hè đỏ lửa ở Quảng Trị, từng thị trấn một bị chiếm đóng và mất đi dần dần trên bản đồ, từ miền trung chạy đến miền nam và cuối cùng năm 1975, Viêt Nam đã hoàn toàn ngã gục trong hơi thở cuối cùng khi Sài Gòn thất thủ và giọng ca của Bill Cosby với bản nhạc White Christmas vang lên vào tháng tư như một dấu hiệu cho tất cả mọi người sự bỏ cuộc.

Trãi qua 10 năm lớn lên trong thời chinh chiến, năm 1975 tôi vừa mới 17 tuổi, tuổi đẹp nhất của thời con gái, tuổi vừa biết yêu và biết mơ mộng viễn vông.

Tôi thường ngồi lặng lẽ một mình để suy ngẫm về cuộc đời, tôi chưa biết yêu chàng trai nào, chỉ biết yêu quê hương và mẹ cha.  Khi gia đình phải rời bỏ Đà Lạt để về Sài Gòn năm 1975, tôi nhớ mái nhà xưa của tôi với căn phòng nhỏ, tôi nhớ cảnh mưa dầm trên Đà Lạt những ngày lội sình đi chợ với má tôi.  Tôi nhớ chiếc xe đạp mini màu đỏ và những con dốc đường Võ Tánh và hàng thông xanh.

Phải tôi là một cô gái trưởng thành hơn một chút thì đã là người yêu của lính rồi, ngôi trường Chiến Tranh Chính Trị và Võ Bị giáp lưng ngay sau sân trường Bùi Thị Xuân và cách nhau có một hàng rào kẻm gai.  Trường nữ trung học lại gần ranh giới của mấy anh chàng sinh viên trường võ bị trở thành những huyền thoại cho nhiều cuộc tình đẹp.

Tôi thường lén nhìn trộm những chàng trai oai hùng trong bộ đồng phục khi họ đi ra phố vào cuối tuần.  Dĩ nhiên mấy người chị của tôi cũng có vài người bạn phi công ghé nhà chơi, nhưng tuổi tôi lúc đó chưa được ai ngó ngàn đến.  Tôi chỉ lấp ló và nhìn trộm những anh chiến sĩ oai hùng này và mơ tưởng đến một ngày nào mình cũng sẽ sánh vai đi bên cạnh một người lính đẹp trai đó.

Quê hương tôi tuy dập vùi với chiến tranh nhưng nếu nói về tình yêu thì phải nói là một quê hương nhiều tình yêu nhất.  Bài hát “Những đồi hoa sim” nói lên cái chết của người em gái hậu phương thay vì người binh sĩ.  Bài ca “Anh không chết đâu anh” với giọng ca nức nở của Thanh Lan làm bao nhiêu người đổ lệ.  Quê hương của tôi chứa chan đầy tình yêu, đầy sự chia ly, kẻ ở người đi, hình ảnh người mẹ quê với đồng lúa chiều, hình ảnh khói lam chiều lan dần trong ống khói của từng nhà, hoặc tiếng chó sủa trong đêm làm cho người mẹ có cảm giác lo âu không biết Việt Cộng có về bắt con trai bà đi theo chúng.

Tình yêu quê hương nói rất nhiều về tình mẹ thương cho con trai đi đánh trận nơi xa và trông đợi con từng ngày.  Tình quê hương nói về những người chiến sĩ lấy trăng làm đèn để viết thư tình cho em gái hậu phương.  Tình cảnh của cô gái cầm trong tay tấm thẻ bài, quấn trên đầu vành khăn tang trắng, đứng bên ngôi mộ người yêu với dòng lệ tuôn tràn.

Hình ảnh của quê hương tôi với những nét mặt u buồn của người thua trận, khi mấy anh lính Việt Nam Cộng Hòa phải bỏ súng khi thấy đoàn xe tăng của Cộng Sản lăn vào đường phố Sài Gòn. Tôi không thể nào cầm được nước mắt khi chứng kiến một vài người lính trẻ vào nhà xin quần áo thường dân để thay bộ áo lính còn đóng đầy bụi ngoài chiến trường.

Nói về quê hương và tình yêu thì không bút mực nào tả cho xiết.  Tôi đã là một cô gái xuân thì đang ở tuổi mộng mơ thì phải trút bỏ chiếc áo dài trắng, xếp bút nghiên để bỏ nước ra đi trong một đêm tối.  Bước lên chiếc ghe nhỏ để vượt biên bằng đường biển.  Tôi đã bỏ lại sau lưng quê hương tôi, cha mẹ và anh chị em tôi để lên chiếc tàu định mệnh.

Đêm hôm đó, vào khoảng cuối mùa thu năm 1977 tại Rạch Giá, trời tối đen như mực vì họ lựa ngày không có trăng để dễ dàng tránh mặt bọn công an.  Bổn phận của tôi chỉ là một đứa con gái quêgiả vờ xách gào mên cơm đem xuống ghe cho mấy người đánh cá ăn.  Tôi chỉ việc đi lầm lũi trong chiếc áo bà ba cũ kỷ, không cần ngẩng đầu lên nhìn ai, cứ việc đi và khi nhảy được vào ghe rồi thì có người trong đó mở hầm đựng cá để nhảy xuống.

Sau khi vào hầm cá, có một người đậy nấp lại chỉ để hở một khe nhỏ đủ để thở.  Tôi còn nhớ rỏ mùi tanh tưởi trong hầm làm tôi khó chịu nhưng tôi cố gắng nhắm mắt và lẩm nhẩm đọc kinh cầu nguyện trong khi nước mắt chảy dài vừa lo sợ vừa thương quê hương, thương cha mẹ.

Đầu óc tôi quay lại như một cuốn phim dĩ vãng với tuổi thơ mà Phạm Duy từng phổ những bài hát nói về tuổi hồng, thời đi xe đạp với tà aó trắng.  Tôi thiếp đi trong một phút chốc để thấy đỡ buồn nôn vì sự chật chội tanh tưởi trong hầm cá.

Cuốn phim quay lại như một giấc mơ tuyệt đẹp, có những ngày hè tôi được má tôi dẫn về quê ngoại ở Bến Lức.  Nhà tôi anh chị em đông nên mỗi lần hè đến má tôi chỉchọn một đưá và tiếp tục mỗi năm sau đến lượt đứa kế tiếp.  Tôi thứ 11 trong gia đình nếu tính theo thứ, ba má tôi có 14 đứa con, nhưng nếu đếm theo những nhân vật còn sống thì chỉ có 12 anh chị em thôi.  Người Việt Nam thường có câu “Nhà đông con là nhà có phúc”, cho nên má tôi rất hãnh diện có được 12 đứa con xinh xắn, anh em trai thì khôi ngô tuấn tú, chị em gái thìđẹp mặn mà và thỉnh thoảng được đóng vai trò hoa khôi như chị thứ ba của tôi.

Mùa hè năm 1965 tôi được về Bến Lức thăm bà con bên ngoại, năm đó tôi chỉ lên bảy.  Nắm tay theo má tôi đi từ chuyến xe đò này qua chuyến xe đò khác, khi đến quê ngoại tôi là cánh đồng lúa bay thẳng cánh.  Từ ngoài lộđi vào trong làng phải đi qua những con đê sình lầy trơn trợt, phải đi bằng chân đất mới không trợt té.  Tôi rất sợ vì chưa bao giờđi như thế này nhưng có má tôi dẫn dắt nên tôi cảm thấy an tâm.  Từ đằng xa tôi nhìn thấy bóng cây dừa vàđàn vịt đang lội dưới ao, cảnh thanh bình quá, không một tiếng ồn ào chỉ trừ tiếng sáo diều quanh quẩn đâu đây.  Đây không phải là bức tranh vẽ hay trí tưởng tượng mà chính là cảnh vật thật, quê ngoại của tôi đẹp nhưng buồn quá.

Ngước mắt lên trời tôi thấy một vài con diều bay, có lẽ của một vài đứa trẻđang vui chơi thả diều ngoài ruộng.

Khi đến nhà bà ngoại, con chó mực chạy ra mừng nhưđã quen với má tôi từ xưa, tiếng một bà già vọng ra từ cửa trước: “Phải con Vận vềđó không?”, má tôi dạ lớn rồi kéo tay tôi tiến gần lại và thúc dục: “Con chào bà ngoại đi con.”

Tôi lúng túng nói không ra hơi vì thấy bà tôi ăn trầu và ngồi trên võng với gương mặt khóđăm đăm, sau này má tôi cắt nghĩa với tôi là mấy bà nhà quê rất tốt bụng, thương con cháu vô cùng nhưng họ luôn tỏ vẻ chay đá vì hờn giận con cái không về thăm thường xuyên hơn.

Tôi cũng ngạc nhiên khi nghe bà gọi tên má tôi là Vận, sau này má tôi cũng giải thích làông bà ngày xưa hay sợ gọi tên đẹp thì không tốt cho người đó vì ma quỷ sẽ hờn ghen vàám hại.

Tôi thích quê ngoại nhưng má tôi thường nói bà không thích ở dưới quê vì bà không muốn lấy chồng nông phu và các con bà phải ra ruộng cấy lúa mà không được đi học.  Bà quyết tâm lên thị thành và kiếm được công việc làm trong một nhà in sách ở Sài Gòn.  Mỗi ngày bán sách cho những người yêu thích đọc sách và cũng nhờ vậy gặp được ba tôi, một chàng trai trẻ mêđọc sách.

Thời đó còn là thời Pháp thuộc, ba tôi có khuôn mặt khôi ngô làm cho ai cũng lầm tưởng ông là người Pháp hay ít nhất cũng lai một phần.

Tình yêu của ba má tôi chớm nở bắt đầu từ cuốn sách “Gánh nặng cang thường” và “Ngọn cỏ gióđùa” của tác giả Hồ Biểu Chánh.  Vì hai cuốn sách này mà hai người gặp nhau và yêu nhau tha thiết.  Má tôi kể lại cho các con nghe chuyện tình của hai người, khi ba tôi mua hai cuốn sách đem vềđọc, trong cuốn Gánh nặng cang thường có nhiều trang bị lộn xộn và thiếu vài trang, ba tôi đem lại nhà sách để than phiền và đổi sách.  Cơ hội đầu tiên của một cô gái quê được nói chuyện với một anh chàng đẹp trai và trí thức, và từđó má tôi đã yêu thầm nhớ trộm người thanh niên đẹp trai này.

Thế là hai người yêu nhau và làm đám cưới một năm sau.  Ba má tôi thương yêu nhau như hình với bóng, từ thời Việt Minh, thời Nhật Bản, rồi đến thời Pháp thuộc, hai vợ chồng nương tựa, chung thủy sống với nhau qua nhiều thời đại.  Từ ruộng nương đến thành thị, từ thời thanh bình đến thời chiến, cả hai bồng bế con cái đi tìm nơi sinh sống.

Khi ba tôi bị Việt Minh bắt vì có người chỉ điểm làông đã từng làm việc cho Tây, cũng là một ngày ba mươi tết năm Ất Dậu 1946, má tôi sau hay tin ba tôi bị bắt, bà chuyển bụng và hạ sinh chị ba tôi ởmiền quê ngoại Bến Lức chỉ cómột bà mụ đỡđẻ, loay hoay với đứa con gái mới sinh và đứa con trai đầu lòng mới lên một, bà bồng chống con thơđi tìm chú tôi ở Sài Gòn để nhơ2chú giúp đỡđi tìm ba tôi.

Tình yêu của ba má tôi dài như cuốn tiểu thuyết của Hồ biểu Chánh, tình yêu đậm đà và ngọt ngào chan chứa đầy tình quê hương như một cuốn phim lịch sử.

Khi ba tôi nhận được giấy phép làm cho sở Thú Y vàđược chuyển lên Đà Lạt để làm Trưởng Ty Thú Y và Phó Trưởng Ty Nông Nghiệp năm 1956, gia đình tôi dọn về vàđịnh cư tại thành phố này, trong số những đứa con sinh sau trong đó có tôi sinh trưởng và lớn lên tại đây.

Những ngày sống ởĐà Lạt được xem như thời huy hoàng và hạnh phúc nhất của gia đình tôi, thời tổng thống NgôĐình Diệm và đến thời tổng thống Thiệu.

Đà Lạt là nơi tôi được sinh ra và lớn lên, một thành phố đầy mộng mơ và tình tứ.  Khi đi học trong trường, chị em chúng tôi được mệnh danh là “Con ông bà Thú Y”, chúng tôi rất hãnh diện vô cùng.

Năm 1975 đất nước bắt đầu cảnh loạn ly, khi gia đình tôi di tản bằng đường đèo để đến Nha Trang, rồi từđó vào Sài Gòn cũng là những tuần lễ cuối cùng của thời Việt Nam Cộng Hòa.

 

*****

 

… Tiếng động lớn và có người mở nấp hầm làm tôi giật mình để trở lại với thực tế là mình đang nằm trong một chiếc ghe bé nhỏ chòng chành trên biển cả.

“Mọi người có thể lên bong được rồi vì chúng ta đã ra được hải phận quốc tế an toàn rồi”

Nhiều tiếng thở phào hòa lẫn với vài tiếng reo hò, ánh mặt trời chói chan trên bong tàu làm đôi mắt tôi cay xè, tôi đưa mắt tìm kiếm thì thấy người hai chị tôi, anh rễ và đứa cháu gái mới lên năm.  Mừng mừng tủi tủi tôi ôm chầm chị khóc ròng.

Thế là cuộc sống thay đổi như lật một trang sử mới, tôi khóc thật nhiều vì vui mừng mình đã thoát tay bọn cộng sản, nhưng đau khổ vì mình đã bỏ một quê hương yêu dấu và cha mẹ lại sau lưng.

Tôi muốn quay đầu trở lại nhưng không được nữa, nhìn nước biển đen nhánh như mực tàu và mặtnước biển chấm với chân trời, không thấy đất liền.  Con tàu còn lênh đênh giữa biển rộng mênh mông, tương lai sẽđi vềđâu?  Hàng ngàn câu hỏi bấn loạn trong đầu, cổ khô, miệng đắng, tôi cúi đầu nuốt vào những nỗi đau thương.  Tình yêu quê hương chưa bao giờ thấm thía như lúc này, tình yêu cha mẹ và anh chị em chưa bao giờ được đánh giá cao hơn bao giờ.  Đúng vậy, trong cuộc sống chỉ khi nào mình mất trong tay rồi thì mình mới thấy giá trị thật của nó.

Quê hương tôi chan chứa đầy tình yêu, đậm đà tình ruột thịt máu mủ, đầy những vết hằn vì chiến tranh và tan tóc, nhưng vẫn là một mảnh đất linh thiêng của bao nhiêu đồng bào, tổ tiên đã đổ xương máu.  Quê hương Việt Nam ơi, tiếng quốc ca còn văng vẳng như mỗi buổi sáng thứ hai chào cờ trước sân trường Bùi Thị Xuân.

Tiếng nước biển gầm thét làm cho chiếc tàu bé nhỏ chòng chành như muốn lật, sau 5 ngày 5 đêm vật lộn với tử thần, chiếc tàu bé nhỏ trung thành cũng đưa 27 người trong ghe và chị em tôi đến đảo Pulau Tengah gần Malaysia.

Khi tàu tôi đến gần bờ biển, vài người trong hội Red Cross ra dấu cho chúng tôi dừng lại và không được tiếp tục vào bờ.  Ngồi trên tàu chờ đợi mấy tiếng đồng hồ sau mới được cập vào bờ.

Ai cũng nhảy xuống tàu để vào làm thủ tục giấy tờ, chỉ còn tôi ngồi lại trên tàu. Bổng nhiên òa khóc nức nở vì bắt đầu thức tỉnh với thực tế phủ phàng.  Tôi đã xa quê hương tôi vĩnh viễn, tôi đã xa cha mẹ tôi vĩnh viễn.  Tiếng khóc nức nở hòa điệu với tiếng sóng đang rì rào như vỗvề, tôibước chân xuống đất liền với một cảm giác mát rượi của cát, với tay hất một chút nước để rửa mặt, nước biển mặn và nước mắt pha trộn làm cho cặp mắt cay xè như ai chà xát muối.  Nhìn bóng dáng bơ phờ của tôi trong mặt nước đang bị sóng đánh vỡ tan nhưđang cố tình xóa đi những dĩ vãng.

Tôi ngước nhìn lại góc chân trời xa tắp bên kia biển đông, tôi vẫy tay chào Việt Nam, chào cha mẹ mà không biết bao giờ mình sẽ trở về.  Từ giã quê hương, xin chào tạm biệt quê hương dấu yêu.

 




Nhà thơ Đông Anh (TT/VTLV 2016)

Nhà Thơ Đông Anh.

Cựu Chủ Tịch Sáng Lập Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt.
Đông Anh là bút hiệu của Nguyễn Đình Tạo,
quê quán tại Huyện Đông Anh trước thuộc tỉnh Phúc Yên,
sau thuộc ngoại thành HàNội.

Năm 1954 theo học khóa Cương Quyết Phụ Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, ra trường tháng 10 năm 1954.

Đơn vị sau cùng là Tiểu Khu Lâm Đồng

Tù Cộng Sản 9 năm.

Vượt biên tới Galang năm 1985.

Qua Mỹ năm 1986. Hiện định cư tại San Jose, California.

Tác phẩm đã xuất bản:
Chín Năm Tù Ngục 1989
Chim Di Trú 1997
Hoa Giáp Đông Anh 2000
Ngựa Vực Hồn Thơ 2002
Vui Tuổi Hạc 2007

Dòng Kỷ Niệm viết chung với Chinh Nguyên 2011
Hiện là Cố Vân Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt.

Trước 1975 Trung tá Quân lực VNCH

——————————————————————————

Ðọc Bài Thơ Cũ

Vào năm 1959 Băng Ðình và tôi cùng chung một đơn vị, Tiểu đoàn 3/12 sư đoàn 4 dã chiến, chúng tôi cùng sống trong một dãy cư xá dành cho các sĩ quan độc thân tại trường Bộ Binh Thủ Ðức vì đơn vị chúng tôi được cử về làm tiểu đoàn thao diễn và an ninh cho trường sau kỳ thao dượt Ðông Phong ở Phan Thiết.

Cứ mỗi buổi chiều, sau khi nghỉ việc và cơm chiều tại câu lạc bộ, chúng tôi ngồi trên hành lang nhìn ra đường và vũ đình trường mà nói chuyện tào lao. Thôi thì đủ thứ chuyện, hết chuyện đời đến chuyện thơ. Ðọc cho nhau nghe những vần thơ mới hình thành, bình luận cùng nhau những vần thơ xướng họa. Rất tiếc là không có giọng ngâm nên chúng tôi cứ đọc “rống” lên gây rất nhiều phiền toái cho mấy anh hàng xóm độc thân khác.

Bài Mưa Chiều Hời đã được chúng tôi đọc đi đọc lại gần như thuộc lòng. Rất tiếc cho cây quế giữa rừng. Rất cảm phục mối tình của Trần Khắc Chung với nàng công chúa cùng họ. Miền Nam sớm nắng chiều mưa, khiến thi nhân như hòa nhịp với thời tiết lạ xứ Hời mà nhớ về quê Bắc xa xăm:

Người đi mây trắng xây thành
Miền Nam mưa nắng một mình người thôi

Bài thơ như một bài hành khi xung trận để mở rộng biên cương. Như bài hát tả nỗi lòng cô phụ bỏ hết lại đằng sau dấn thân vào nơi gió cát xứ người. Những mưa rơi chiều Hời. Những gió bay biên địa. Những sầu muộn mong manh. Những ánh tà dương ngăn ngắt. Tất cả đã khiến cho sự hy sinh của nàng công chúa thêm thê lương, mối tình của Huyền Trân thêm ray rứt. Nhân đó tôi cũng có đôi vần ca ngợi bài thơ của BÐ ghi ở phần sau.

Năm 1990, khi liên lạc với nhau tại Mỹ, tôi hỏi lại bài thơ xưa thì được BÐ trả lời tất cả đã mất hết rồi, mất theo hành trình đốt sách của kẻ thù. Chúng tôi rất buồn, rất tiếc.

Bỗng đầu năm 2003 anh gọi điện thoại cho tôi khoe rằng đã tìm thấy bài thơ. Bài thơ này tìm lại được cũng kỳ bí như huy hiệu con Phượng Hoàng(*), biểu tượng đầu tiên của Trung Tâm Quốc Gia Ðiện Ảnh Việt Nam mà BÐ làm giám đốc khi xưa.

Nhận được bài thơ, tôi muốn chia xẻ với các bạn yêu thơ, với bằng hữu. Nhưng nếu chỉ đăng lên không thôi, e rằng không hết ý. Do vậy mới có vài lời dông dài này.

Ðông Anh

Tháng Tư  năm 2016
* Băng Ðình đã viết về biểu tượng Phượng Hoàng qua chuyện Phượng trong Còn Một Chút Này sắp in.

 

 

Mưa Chiều Hời

Huyền Trân một sớm lìa kinh khuyết
Rượu tiễn run môi lạnh tiếng đàn
Ô Lý hai châu còn chật hẹp
Một trời Chiêm Việt mấy quan san
Gió mưa ướt nẻo Ðồ Bàn
Rưng rưng lệ đổ hai hàng máu khô
Ðá tường chìm khuất cung vua
Biết đâu lá biếc mùa thu ngả mình
Quê xưa trời có đẹp
Năm mầu mây thanh bình
Người xưa giờ có chép
Những vần thơ xinh xinh
Một đi là mãi mãi
Mưa rơi vào tâm tình
Mong chi ngày trở lại

Còn chi mộng tuổi xanh
Ðêm đêm nhầu chăn gối
Trăng úa rụng bên mành
Tay Chiêm Vương vội vã
Tình Chiêm Vương mong manh
Thân gửi ngoài biên địa
Hồn mơ về Long Thành
Có mùa xuân minh mị
Có mùa hè nắng xanh
Có mùa thu sầu muộn
Có mùa đông buồn tênh

Mộng đẹp dài canh vắng
Tay ai chuốc chén quỳnh
Tin đâu về náo nức
Chiêm Việt dứt đao binh
Phụ Vương một hẹn sầu đôi trẻ
Ô Lý hoang vu lạt chữ tình
Lịch sử thêm tươi mầu má thắm
Riêng lòng ai chết những mầm xanh
Người đi mây trắng xây thành
Miền Nam mưa nắng một mình người thôi
Mưa bay buồn những chiều Hời
Nhỏ thưa tiếng địch não người biệt ly
Sắc chìm hương lạt thâm khuê
Âm u đá tháp dặm về mù sương
Heo may thổi lạnh đêm trường
Xiêm y sô lệch phấn hương nhạt nhoà
Mây vẫn trôi về Bắc
Sầu chưa thôi nở hoa
Mưa lụt trời Chiêm Quốc
Tơ run trên phím ngà
Ðiệu Nam Bình ai oán
Van mùa mưa mau qua
Gấm the nào ấm được
Những chiều mưa nhớ nhà
Vó câu mờ sắc áo
Chiều dâng tím nẻo xa
Khắc Chung còn ruổi ngựa
Hồn chìm đáy ly ca
Mưa vẫn dài thương nhớ
Ngăn ngắt ánh dương tà
Huyền Trân lệ đổ tràn vai áo
Giữa gấm hoa ngồi khóc tuổi hoa
Mắt lệ mỏi mòn trông hướng cũ
Những ngày qua tiếp những ngày qua
Rừng thu sơ xác lau già
Trong sương nghe vẳng tiếng gà sang canh
Hồn khuya nhẹ gót đầu cành
Lung linh nến cháy sử tình hắt hiu

BĂNG ÐÌNH
 

10-vui-tuoihac   8-chin-nam-tu-nguc   6-hoagiapdong-anh

(Gửi Băng Ðình, người viết Mưa Chiều Hời)

Khắc Chung rong ruổi trên lưng ngựa
Theo bóng Huyền Trân nắng chập chờn
Một mối tình si muôn dặm thẳm
Ngàn trùng gió cát lạnh mưa tuôn
Người đi về phía hoàng hôn
Ðể vầng trăng khuyết mỏi mòn kinh đô
Qua Chiêm đem mối tình hờ
Lược trâm bỏ lại ngẩn ngơ hoàng thành

Lưu lạc xứ người thân lạc bóng
Giữa rừng cây quế nghẹn chua cay
Chiều thu chợt biến thành sương phụ
Ðợi lửa lên giàn hương phấn phai
Bỗng dập dồn vó ngựa
Từ biên địa qua đây
Ðưa nàng về cố quốc
Mưa Hời quyện khói bay
Thuyền chao tình sóng vơi đầy
Lướt đi trong cõi trời mây mịt mù
Ngàn sau tình sử, áng thơ
Lung linh ánh nến đọc Mưa Chiều Hời

ĐÔNG ANH

 




Chuyên Một Linh Mục

CHUYỆN MÔT LINH MỤC

“Bọn trẻ đã tập họp lại với nhau và bắt đầu khoe những thứ mà chúng đã lượm được. Ngoài những cái bọc nylông thông thường, có đứa khoe lượm được cái chân gà, hay một món đồ ăn được gói kỹ. Bỗng dưng có con bé khoảng 10 tuổi la to:
– Hôm nay nhà tao không phải đói rồi.!” Sống ở xã hội VNCS làm sao mà đành tâm với cảnh này !!!!!!!!!!!
Mời đọc câu chuyện có thực của một linh mục hóa thân vào thế giới trẻ em nghèo khổ. DgN

luom-racluom-rac-1

Chuyện Một Linh Mục.

Đây là câu chuyện linh mục gỉa vờ đi bán vé số, ăn xin và lượm rác với các em nhỏ để biết thân phận của các em như thế nào và tìm cách cải thiện đời sống của các em

Linh mục kể:

– Tôi bừng tỉnh và như quên đi cái hôi thối, tôi lao vào trong đống rác như bao đứa trẻ khác. Khoảng hơn hai tiếng, chúng tôi đã “quần nát” cái đống rác. Tôi lượm cũng gần đầy cái bao bố. Thế là tôi đã lẽo đẽo theo các em để bán vé số và ăn xin trên các đường phố Sài Gòn được hai ngày! Không biết bao nhiêu lần giở khóc giở cười. Có lẽ giờ này nếu bạn bè hay gia đình có gặp tôi thì họ cũng không thể nào nhận ra được. Tôi đã biến thành một người nghèo nàn, đen đủi, đơ dáy và hôi hám như những mảnh đời bất hạnh lê lết hết từ quán ăn này đến quán ăn khác. Để được theo các em đi ăn xin và bán vé số không phải là dễ. Tôi đã phải lân la làm quen và giúp các em rất nhiều, tôi đã lấy được niềm tin của các em và gia đình các em. Tôi đã ăn và ở chung với họ. Tôi đã cho họ thấy được tôi thực sự muốn sống cảnh màn trời chiếu đất với họ để có thể hiểu và cảm thông nỗi khổ của họ! Tối hôm nay là tối cuối cùng tôi theo các em, như dự tính ban đầu, hôm nay tôi sẽ không ngủ trong các ngôi nhà bằng giấy, trong thế giới của kẻ chết, mà tôi đã chia sẻ ở trên (Bài “Tôi Đến Thăm Em”) nhưng tôi sẽ theo một nhóm trẻ mồ côi lang thang về ngủ ở khách sạn “ngàn sao” toạ lạc dưới chân cầu Chữ Y bên Khánh Hội. Chiều hôm đó tôi đã được phép theo nhóm trẻ mồ côi lang thang. Dẫu tôi cũng đã biết các em từ trước qua hai ngày đi bán vé số và ăn xin, tuy nhiên trước khi tôi đi cụ trưởng làng dặn tôi: – Cháu cẩn thận nhé, tụi nó không có hiền giống như tụi nhỏ bên này đâu! Khoảng 3 giờ chiều, tôi hoà nhập với các em tại công viên bên cạnh Nhà Thờ Đức Bà. Tôi nhập ngay vào với bọn nó một cách dễ dàng. Bọn trẻ đang bàn kế hoạch cho tối hôm nay, chúng quyết định sẽ không đi ăn xin nữa mà sẽ đi lượm ống lon, và ve chai tại đống rác bên quận 4. Nghe chúng nói đến đó tôi đã rùng mình run sợ, tôi thật sự sợ cái mùi hôi thối bốc lên từ rác, nhất là tim tôi thì yếu, không biết có thể sống nổi không. Tôi ngước lên nhìn tượng Mẹ trước nhà thờ đọc một kinh Kính Mừng xin mẹ cầu bầu cùng Chúa cho con.. Trong bóng đêm, cảnh đống rác thật hãi hùng, cao như dãy núi. Tiếng người cười nói, tiếng cãi nhau, tiếng chửi rủa hoà lẫn vào nhau, cả hàng trăm người cứ như là những bóng ma di động. Mùi hôi thối nồng nặc, tôi rùng mình run sợ. Lại đọc thêm một kinh Kính Mừng. Thấy tôi tỏ vẻ ngần ngại, con bé đứng cạnh tôi thét lên: – Nhảy vô đi cha nội, đứng đó là đói, lấy gì ăn.! Tôi bừng tỉnh và như quên đi cái hôi thối, tôi lao vào trong đống rác như bao đứa trẻ khác. Khoảng hơn hai tiếng, chúng tôi đã “quần nát” cái đống rác. Tôi lượm cũng gần đầy cái bao bố. Bọn trẻ đã tập họp lại với nhau và bắt đầu khoe những thứ mà chúng đã lượm được. Ngoài những cái bọc nylông thông thường, có đứa khoe lượm được cái chân gà, hay một món đồ ăn được gói kỹ. Bỗng dưng có con bé khoảng 10 tuổi la to: – Hôm nay nhà tao không phải đói rồi.! Nói xong nó lôi trong cái bao của nó ra một cái đầu chó! Tôi đứng đó mà nước mắt tuôn trào, cứ như là trong mơ. Đến phiên tôi, tôi không kể gì mà chỉ đưa cho thằng bé “trưởng nhóm” cái bao bố và nói là cho hết tụi nó. Em vẫn cười tươi bên… rác Chắc cũng khoảng nửa đêm, khi chúng tôi trở lại chân cầu chữ Y bên Khánh Hội. Các em chắc mệt mỏi, lăn ra ngủ ngay. Riêng tôi không biết vì quá mệt mỏi hay là quá xúc động không tài nào ngủ được. Tôi cứ nằm nhìn trăng chiếu xuyên qua các khe hở của thành cầu. Trăng đêm nay sáng quá, nhưng đời các em thì thật tối! Đêm nay là đêm đầu tiên trong đời tôi hiểu được ý nghĩa của “màn trời chiếu đất”. Tôi trằn trọc, nước mắt cũng không còn để mà rơi. Tôi muốn thét lên, thét lên thật to, nhưng lại dằn lòng đau xót. Sáng hôm sau, tôi thật sự mỏi mệt và kiệt sức. Tôi đứng dậy, lê từng bước nặng nhọc ra khỏi gầm cầu, đón taxi để quay về Khách Sạn, nhưng không một chiếc nào ngừng. Nỗi mệt mỏi và đau nhức trong thể xác tôi, không tài nào so sánh với nỗi đau tinh thần, nước mắt tôi cứ tuôn trào. Nếu như mọi khi, tôi ăn mặc lịch sự thì Taxi đã nối dài thành hàng để chào mời tôi rồi, nhưng hôm nay tôi tiều tụy và nghèo nàn. Cũng chẳng trách gì được những anh lái Taxi, vì họ cũng làm thuê cả mà. Cuối cùng tôi cũng đã thuyết phục được một cụ già chạy Honda ôm chở tôi về. Honda dừng trước cửa khách sạn, tôi vừa bước xuống đã bị anh bảo vệ xua đuổi, nhưng khi nhận ra tôi là khách quen, anh ta cười bẽn lẽn và xin lỗi. Cụ già đứng ngoài chờ tôi vào Khách Sạn lấy tiền. Tôi đến bàn tiếp tân, xin chìa khoá phòng 205. Cô tiếp tân mọi ngày niềm nở với tôi lắm, bỗng dưng hôm nay cáu gắt lạ thường, cô nói và liếc nhìn tôi thật khó chịu: – Ông tìm ai! Chủ nhân phòng 205 đi ra ngoài rồi!! Tôi giở chiếc mũ lụp xụp ra, mùi hôi bốc lên, và mỉm cười nói với cô bé: – Thưa cô, tôi là chủ nhân của căn phòng 205 đây!! Cô nhìn tôi, tí nữa thì té lăn ra khỏi ghế, cô đứng bật giậy và hỏi tôi: – Anh Thông, anh có sao không? Bị cướp giật à?! Tôi nói cho cô biết tôi không sao, chỉ mệt mỏi và muốn lên phòng nghỉ. Cô cầm chìa khoá phòng và còn dẫn tôi lên đến tận cửa… Tôi nhờ cô lấy 50 ngàn trả cho cụ già chạy xe ôm. Tôi lao vào phòng cởi quần áo và lăn ra ngủ! Một giấc ngủ bình yên và hạnh phúc! Lạy Chúa, không có khoảng cách nào lớn hơn giữa lòng người với người, giữa các con tim của nhân loại. Cái hố sâu ngăn cách giữa giàu sang và nghèo đói đã làm cho lòng người chai đá, làm cho con tim họ dửng dưng trước những đau khổ và bất hạnh của người khác. Xin Chúa hãy thay thế quả tim bằng đá khô cằn của chúng con bằng quả tim bằng da bằng thịt, trái tim với những vòng chảy không ngừng của những giọt máu yêu thương. Xin cho chúng con biết chia sẻ với anh em những ân huệ chúng con lãnh nhận từ Chúa, Amen. LM Martino Nguyễn Bá Thông –




Họa Sĩ Nguyễn Cát Tường

Họa Sĩ Nguyễn Cát Tường

A-NguyenCatTuong-HoaSi-8-18-2014Rev

LE MUR NGUYỄN CÁT TƯỜNG :

Mt ha sĩ, mt nhà to mu tài danh ca đt nước

Thanh Thương Hoàng

Thú thực khi còn nhỏ, vào những năm 1942, 1943 (khi đó tôi mới ngoài 10 tuổi) tôi đã mê đọc sách, nhất là những cuốn truyện của các nhà văn Vũ Trọng Phụng, Nhất Linh, Khái Hưng và những cuốn truyện Tầu rồi tới kiếm hiệp, trinh thám…vv… Tôi không chú ý ( vì chẳng “hấp dẫn”gì với tôi) những tờ báo nổi tiếng thời ấy                  ( thời tiền chiến trước năm 1945) với nội dung đả phá cái cũ (hủ lậu) quảng bá cái mới trong nếp sống dân tộc như báo PHONG HÓA NGÀY NAY. Thỉnh thoảng ông Bố tôi đem về nhà mấy tờ báo này, tôi chỉ lật vài trang xem mấy cái tranh khôi hài châm biếm (humour) với hai nhân vật chính Lý toét, Xã xệ. Tôi cũng chẳng để ý tới tên tác giả. Ông Bố tôi thường mua cho tôi báo CẬU ẤM CÔ CHIÊU chuyên đăng những bài, những tranh vui về tuổi thơ – mà bây giờ tôi cũng quên mất những mục, những bài đã làm bọn nhỏ chúng tôi (hồi đó) say mê thích thú. Sau này lớn lên tôi cũng chỉ biết tới tên một số họa sĩ nổi danh mà thôi. Tuy nhiên thỉnh thoảng tôi nghe trong đám bạn họa sĩ (cùng lớp tuổi tôi) nhắc tới tên một họa sĩ có tên là Le Mur. Tôi tưởng ông này là “ông Tây” hay ít ra cũng là “dân Tây”nên thú thực tôi không có cảm tình mấy và cũng chẳng tìm hiểu về ông làm gì. Khi bước vào làng văn làng báo Saigon tôi mới được biết nhiều hơn về một số họa sĩ tên tuổi “thời tiền chiến” và tranh của họ quý và mắc hơn vàng như các ông bà Nguyễn Gia Trí, Lê Thị Lựu, Lê Phổ, Tô Ngọc Vân, Bùi Xuân Phái vv…nhưng vẫn ít thấy tên ông Le Mur Nguyễn Cát Tường.

Mấy chục năm sau, tôi sang Mỹ sống, mới đây tình cờ được coi một đĩa (DVD) thâu hình buổi trình diễn trang phục phụ nữ của Họa sĩ Le Mur Nguyễn Cát Tường (do các bà cựu nữ sinh trường Trưng Vương trình diễn) nhân cuộc triển lãm và hội thảo về báo Phong Hoá Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn do Nhật báo Người Việt (Quận Cam) và Đài truyền hình STBN tổ chức. Cuộc triển diễn về trang phục phụ nữ của ông Le Mur Nguyễn Cát Tường được tổ chức nguyên một buổi thật tuyệt vời. Xem hết cuốn băng quả thật là một sự bất ngờ, tôi cứ tưởng những người đẹp VN đang biểu diễn thời trang thế kỷ 21. Đây là một nhân tài của đất nước, một họa sĩ, một nhà tạo mẫu trang phục cho nữ giới nước nhà, đã đi trước thời đại gần một thế kỷ. Ông tên thật là Nguyễn Cát Tường nên lấy bút danh Le Mur (tiếng Pháp cái tường). Về tiểu sử cũng như sự nghiệp của ông xin coi phần cuối của bài này.

Vì sự tò mò và nhất là muốn tìm hiểu một nhân tài trải qua ngót thế kỷ, các “tác phẩm” của ông, các công trình sáng tạo của ông tới ngày nay (qua buổi trình diễn vừa rồi) vẫn “sống” và “sống” một cách huy hoàng lộng lẫy trải rộng khắp nước Mỹ và cả thế giới (vì cho tới bây giờ (năm 2016) những bộ quần áo theo “mẫu” của Le Mur vẫn được các bà các cô trưng diện trong những buổi hội hè đình đám. Những chiếc áo dài tha thướt, những chiếc quần trắng, quần mầu, những chiếc khăn choàng cổ vẫn lộng lẫy duyên dáng gợi cảm, chẳng những không lạc hậu chút nào mà còn tôn cao vẻ đẹp đặc biệt của người phụ nữ VN.

 

Ông Lemur Nguyễn Cát Tường tốt nghiệp trường cao đẳng mỹ thuật Đông Dương, năm “1933” Năm “1932” đã có tranh khôi hài (vui cười) trên báo Phong Hóa. Sau khi ông Nguyễn Tường Tam mua tờ báo, ông vẫn tiếp tục gửi tranh khôi hài đăng trên báo…

Nhà văn Nhất Linh giao cho ông phụ trách mục “Vẻ đẹp riêng tặng các bà các cô”. Tuổi mới ngoài 20 sau khi tốt nghiệp hội họa vào đời ông Tường đã có những tham vọng lớn về cải cách trang phục phụ nữ nước nhà cho hợp với trào lưu phụ nữ thế giới. Chúng ta nên nhớ vào thời điểm đó (những năm đầu thế kỷ 20) các cụ ông cụ bà ta còn chịu ảnh hưởng nặng nề chế độ phong kiến. Các cụ ông trong lễ lạc tết nhất thì mặc áo the dài đầu đội khăn đen xếp, còn các cụ bà thì mặc áo tứ thân mặc váy đầu đội nón quai thao để răng đen. Nếu là nhà giầu thì đi hài, còn thuộc giới trung lưu thì đi guốc gỗ sơn mài đen gót bằng, thấp. Ông đã tạo ra những kiểu giầy cao gót mũi nhọn cho tới ngày nay vẫn thịnh hành, cả Đông và Tây phương. Ông Cát Tường muốn đem cái sở học của mình ở nhà trường kết hợp văn hóa Đông phương với văn hóa Tây phương (mà ông đã học đã đọc được qua sách báo của Pháp) để sáng tạo những “mốt” áo quần giầy dép mới thích hợp với phụ nữ Việt Nam. Phải nói đây là một việc làm táo bạo có thể nói là một cuộc cách mạng về trang phục phụ nữ. Vào thời đại đó việc làm này quả vô cùng khó khăn trở ngại. Nhất là táo bạo khi ông sáng tạo các kiểu “xú-chiêng”, quần lót cho phái nữ. Chỉ dẫn cách luyện tập cho bộ ngực thon gọn đẹp. Theo ông phụ nữ thích làm dáng làm đẹp để  giữ chồng bảo vệ hạnh phúc gia đình. Chúng ta nên nhớ các bà các cô thời đó, trừ một số nhỏ mà người ta gọi là “phụ nữ tân thời” ở thành phố, còn tất cả đều mang yếm và mặc váy, đầu vấn khăn hoặc chùm khăn mỏ quạ. Ông còn hướng dẫn các bà các cô đánh phấn bôi son thích hợp với da và khuôn mặt mình, cách vấn tóc, chải rẽ đầu ngôi sao cho hợp với khuôn mặt, mặc đồ hai mảnh tắm biển, tập thể dục thể thao. Ông quan tâm rất nhiều đến quần của các bà các cô. Ông cho đây chính là điều cần thiết để tôn vinh cái đẹp và sức quyến rũ của phụ nữ VN. Ông đã tỉ mỉ vẽ những cái nhỏ nhất nhưng cần thiết cho những chiếc quần này. Chính ông là người tạo ra mốt áo hở cổ với hình trái tim, hình lá sen, kiểu hình chéo một bên vai (sau gọi là Raglan), hình hở phần cổ và trên ngực với giải khăn mầu quấn quanh cổ. Thời đệ nhất cộng hòa bà Ngô Đình Nhu phát động phong trào phụ nữ mặc áo dài hở cổ mà người ta gọi là ”áo bà Nhu” do bà “sáng chế”. Thực sự là bà Nhu đã “phác” theo mẫu của họa sĩ Le Mur Nguyễn Cát Tường. Thời gian đó bà Ngô Đình Nhu cũng bị dư luận đả kích nặng nề (thật oan cho bà). Cả quần ống loe cũng vậy. Ông Tường kết hợp Đông Tây tạo mốt mới thích hợp với cẳng đùi phụ nữ Việt Nam sao cho gọn gàng hấp dẫn. Thế mà mãi tới thập niên 50 (thế kỷ 20) chiếc quần ống loe mới được phổ biến rộng rãi thông dụng trong dân gian. Ông Tường cũng không quên “bầy việc” cho giới mày râu trong những bộ “com – lê” kết hợp Đông Tây tới nay vẫn còn là “mốt” thông dụng sang trọng lịch sự. Phải nói đây là một cuộc cách mạng táo bạo nên ông Tường đã gặp phải các thế lực thủ cựu chống đối dữ dội. Họ diễn thuyết, viết báo, vẽ tranh đả kích ông, chế nhạo ông đủ điều. Ông phải quyết tâm và can đảm lắm mới thoát khỏi trận “đánh phá” này. Ngoài những tài kể trên ông Le Mur còn là người mở phòng trà đầu tiên ở Hà Nội (cũng là cả nước) và ông cũng không quên giới bình dân lao động nghèo khổ phải đạp xe xích lô mưu sinh khi đưa ý kiến và vẽ mẫu cải tiến để “mỹ thuật hóa” chiếc xích lô đạp.

Có thể nói họa sĩ, nhà tạo mẫu tài năng xuất chúng Le Mur Nguyễn Cát Tường đã đi trước thời đại ngót một trăm năm. Những mẫu áo quần ông tạo ra tới ngày nay vẫn còn hợp thời. Từ chiếc áo dài hở cổ, chiếc quần lụa trắng cải cách, chiếc quần tây gọn gàng gợi cảm (nhưng đứng đắn) những chiếc áo ngắn cộc tay có viền “ren” quanh cổ áo, ống tay áo, mặc trong nhà hay làm việc đều mới, lạ, đẹp, gọn gàng sẽ còn tồn tại lâu dài với người phụ nữ VN, và người ngoại quốc cả nam lẫn nữ cũng rất mê những bộ trang phục này.

Tới đây tôi cũng xin có một “nhận xét nhỏ” góp vào bài viết này. Theo tôi nhận xét thì những chiếc áo Bà Ba của nữ giới Miền Nam chúng ta cũng “thoát thai” từ những chiếc áo hở cổ của họa sĩ Le Mur. Bằng chứng: những ảnh phụ nữ miền Nam chụp những năm đầu thế kỷ 20 các áo dài hay áo Bà Ba đều kín cổ cả. Kể cả các quần hai ống từ đùi xuống tới chân khá rộng gọi là “quần Mỹ a”. Sau đó tôi thấy khắp miền Nam các cổ áo Bà Ba của các bà các cô đều hình trái tim hoặc hình vuông hở cổ và một phần ngực.

Họa sĩ Le Mur NGUYỄN CÁT TƯỜng rất xứng đáng để quý bà quý cô và cả chúng ta vinh danh và biết ơn ông.

THANH THƯƠNG HOÀNG

(3.9.2016)

[pdf-embedder url=”http://vantholacviet.com/wp-content/uploads/NguyenCatTuong-HoaSi-8-18-2014Rev-copy.pdf” title=”nguyencattuong-hoasi-8-18-2014rev-copy”]




Mạnh Thường Quân

Việt Cộng đã và đang bán đất biên giới và biển đảo cho Trung Cộng.Biển Đông đang dậy sóng vì những giàn khoan dầu mà người Việt hải ngoại và thề giới tự do đang nhìn về Biển Đông để thấy Việt Cộng nhu nhược và đánh lừa cả thế giới để bán biển đảo cho Trung Cộng với đường vẽ 9 đoạn rồi 10 đoạn.

SÁCH BÁN TRÊN INTERNET PAYPAL :

Việt Cộng đã và đang bán đất biên giới và biển đảo cho Trung Cộng.
Biển Đông đang dậy sóng vì những giàn khoan dầu mà người Việt hải ngoại và thề giới tự do đang nhìn về Biển Đông để thấy Việt Cộng nhu nhược và đánh lừa cả thế giới để bán biển đảo cho Trung Cộng với đường vẽ 9 đoạn rồi 10 đoạn.

Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt xin mời quý vị tham dự bưổi ra mắt tác phẩm “Đại Đế Quang Trung –Nguyễn Huệ: Trận Đánh Cuối Cùng chấm Dứt Hoạ Bắc Thuộc” để người Việt chúng ta học hỏi tinh thần Quang Trung và đoàn kết” Diên Hồng” hầu tiêu diệt nội thù Việt Công và cùng đứng lên chống ngoại xâm Bắc Phương.
Tác phẩm “Đại Đế Quang Trung – Trận Đánh Cuối Cùng chấm Dứt Hoạ Bắc Thuộc” đánh thẳng vào ý đố bá quyền Trung Cộng và kêu gọi đoàn kết dân tộc chống giặc phương Bắc.

Gía 20.00 Mỹ Kim, ngòai USA thêm 20.00 Mỹ Kim tiền Bưu điện đi quốc ngoại.
Quý vị có thể liên lạc nhà thơ Chinh Nguyên e-mail :cnchinhnguyen7@gmail.com

Xin quý vị vào link dưới để mua sách hoặc bảo
trợ cho sinh ho
ạt Văn Thơ Lạc Việt:

https://www.paypal.com/cgi-bin/webscr?cmd=_s-xclick&hosted_button_id=S5YH6RTJT6GEC

————————————————————————

 

VĂN THƠ LẠC VIỆT
LỜI CÁM ƠN VÀ XIN LỖI.
Buỗi tiệc được thành công như mong muốn của ban tổ chưc nhờ được sự hổ trợ của quí vị và những mạnh thường quân, và truyền thông báo chí.

Thành thật cám ơn quí vị trưởng bối, quí vị đại diện hội đoàn, quí văn nghệ sĩ, quí truyền thông báo chí quí thân hữu chiến hữu, và anh chị em thành viên đã tới dự buổi tiệc .

 

Đặc biệt cám ơn báo Phụ Nữ Cali (chị Cao Anh Nguyệt), Thằng Mõ (Anh Lê Văn Hải), TinVietNews (Nhà Báo Cao Sơn), Đài Phố Đêm (Anh Phạm Xuân Nam), Little SàiGòn Radio (Nghệ Sĩ Mai Hân), Hệ thống radio Viên Thao (NV Đỗ Vẵn Trọn), và chương trình TV Dân Sinh (Anh Phạm Phú Nam) đã giúp phổ biến chương trình trên hệ thống truyền thông.

Các quí anh chị MC TS Nguyễn Hồng Dzũng, Chị Kim Phượng Anh Hoàng Thưởng (LL SV Sĩ Quan Thủ Đức), Ký gỉa Cao Sơn, Ký giả Thư Sinh, và Nghệ sĩ Kiều Loan đã giúp điều hành chương trình 20 năm thành lập và phát giải Văn Thơ Lạc Việt 2012.

Tôi mong rằng quí vị bỏ qua những lỗi lầm chẳng đặng đừng nếu có của ban tổ chức,  và nối tay đoàn kết để cùng đưa Văn Thơ Lạc Việt tiến lên trong tương lai với mục đích giữ lại nền văn hoá nhân vị yêu thương mà chúng ta đã xem như một món quà quý giá duy nhất đã mang theo sau năm 75.

Trân trọng

Chinh Nguyên

 

 

Vài hình ảnh  PHÁT GIẢI VĂN THƠ của VT Lạc Việt   07-15-12

 

http://www.photoshop.com/users/longuyen_vnaf68/albums/4c498dbc3fca42fb9f4728242c363195?wf=slideshow

San Jose (Ý Dân): Khoảng 300 quan khách đã đến tham dự tiệc kỷ niệm 20 năm thành lập Văn Thơ Lạc Việt và  Phát Giải Văn Thơ Lạc tại nhà hàng Phú Lâm, San Jose vào 6 giờ chiều ngày 15-7-2012 vừa qua.

Trong thành phần khách tham dự chúng tôi nhận thấy có nhà báo lão thành Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh, các văn thi hữu gồm có Ðông Anh, Trường Giang, Chu Tấn, Thanh Thương Hoàng,Nguyễn Phước Ðáng, Song linh,  Ngọc Bích, Lê Diễm, Hồng Hà, Kiều Loan, Thanh Xuân, Kim Hà v.v. cùng đại diện các hội đoàn và giới truyền thông.

Sau nghi thức khai mạc, thi sĩ Chinh Nguyên, chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt gời lời chào mừng , cảm tạ quan khách và xin bỏ qua những sơ suất của Ban Tổ Chức.

Tiếp đến nhà báo lão thành Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh , hơn 90 tuổi,cố vấn của Hội với hình dáng tiều tụy vì sức khoẻ suy yếu ngỏ lời chúc mừng hội và khen ngợi việc làm duy trì và phát hụy văn hoá VN của ông Chinh Nguyên, nguyên là học trò yêu qúi của cụ.

Thi Sĩ Ðông Anh, cố vấn hội cho biết rất cám ơn một số văn thi hữu đến từ xa như Canada , Nam Cali và Hoa Thịnh Ðốn. Ông cho biết Văn Thơ Lạc Viêt  hoạt động từ năm 1992 đến nay là 20 năm và giải Văn Thơ Lạc Việt năm nay là lần thứ 3. Ông cho biết hội rất nghèo, vì thế ông rât cám ơn các mạnh thường quân đã giúp đở hội trong công tác duy trì và phát huy văn hoá VN.

Nhà báo Lê Văn Hải, phó chủ tịch hội cho biết Giải văn thơ Lạc Viêt lá nhằm khuyến khích các văn thi hữu thi đua sáng tác .Sau đó, ông Hải đã công bố  những người trúng giải gốm có:

Về Văn:

–  Giải Nhất :Bà Tâm Ngọc ( Nguyễn Mộng Giang) ở San Jose với truyện ngắn “Sống Chết Cho Tình Yệu “

–  Giải Nhì : Bà Lê Ngọc Huyền ở Canada với truyện ngắn  “ Giáng Sinh trên miền đất trọ”

–  Giải Ba :Bà Trần Khải Thanh Thủy, ở Sacramento , vắng mặt ,với truyện ngắn “Ở nơi đất  nước mặt trời lặn “

–  Giải Khuyến Khích: Hồng Thúy vắng mặt với truyện ngắn :”Cám ơn chị Viêt Nam ”.

 

Về Thơ:
K
hông có giải nhất và nhì

–  Giải Ba :Ông Trần Ðông Phong  do ông Phan Phi Ô đai diện lảnh với bài thơ:” Lòng Vòng”

–  Giải Khuyến Khích : Ông Từ Thanh Hà ở Texas vắng mặt với bài thơ “Hoa nở trên quê hương”

Ðược biết tổng cộng tiền mặt cho các giải văn thơ trao tặng cho các người trúng giải là 1700 mỹ kim và một số hiện vât .

Buổi tiệc sau phần văn nghệ, xổ số đã chấm dứt vào 9 giờ 30 tối cùng ngày.

Nguyen Van Binh
dacsanydan@att.net

dacsanydan@yahoo.com

——————-
Vài hình ảnh trong Facebook vê 20 năm thành lập và phát giải Văn Thơ Lạc Việt 2012

http://www.facebook.com/chinh.nguyen.33483

Lời  mở đầu

Kính chào quí vị trưởng bối, quí vị đại diện hội đoàn, quí văn nghệ sĩ, quí truyền thông báo chí quí thân hữu chiến hữu và anh chị em.

Tôi đại diện ban điều hành Văn Thơ Lạc Việt xin kính chào quí vị và mong rằng cái tình thân hữu này sẽ liên kết mãi đễ chúng ta có những ngày vui như hôm nay.

Kính thưa quí vị. Tôi biết quí vị tới với Văn Thơ Lạc Việt vì cái tình, mà nợ tiền thì dễ trả mà nợ tình thì khó trả. Tôi xin khất…Kiếp sau..!

Tôi mong rằng quí vị bỏ qua những lỗi lầm chẳng đặng đừng nếu có của ban tổ chức và nối tay đoàn kết để cùng đưa Văn Thơ Lạc Việt tiến lên trong tương lai với mục đích giữ lại nền văn hoá nhân vị yêu thươngmà chúng ta đã xem như một món quà quý giá duy nhất đã mang theo sau năm 75.

Kính thưa quí vị. Vì tình người quí vị tới với Văn Thơ Lạc Việt, Vì tình thày trò, thày tới với trò trong ngày lễ lớn mặc dù thày bệnh. Thày tôi đã cố gắng tới với Văn Thơ Lạc Việt và muốn có vài lời chào mừng quí vị, nên tôi nhường vài phút cho thày được chào đón quí vị. Tôi

nghĩ đây là lần cuối ông xuất hiện trước quí vị, vì năm sau chân mềm tay mỏi có muốn cũng không được nữa.

Thày hom hem xương da
Con đã đà tóc pha
Đau nửa đời biệt xứ
Gánh thời gian đi qua.

Thày tôi là trưởng nhóm giám khảo trong kỳ thi giải Văn Thơ lạc Việt năm nay sau khi Thi sĩ Hà Thượng Nhân qua đời. Trước 75 ông là Phó giám đốc Việt Tấn Xã. Mặc dù báo chì có từ lâu nhưng ông là người mở khoa báo chí đầu tiên cho Miền Nam Việt Nam. Năm nay ông đã hơn 90 và hơn 70 năm làm nghề báo.

Xin giới thiệu với quí vị Thày tôi bình luận gia Sơn Điển Nguyễn Viết Khánh người của “Nói Trước Thời cuộc”.

Con xin thày bỏ hết tất cả chuyện thế giới chính chị, chính em mà chỉ nên nói chuyện vui ngày hôm nay.

Hôm nay là ngày hội của Văn Thơ Lạc Việt.
Xin giới thiệu quí vị ban điều hành Văn Thơ Lạc Việt :

Nhà Thơ Dông Anh Cố Văn Trực Tiếp của Văn Thơ Lạc Việt
Chủ nhiệm báo Thằng Mõ, nhà báo Lê Văn Hải, phó chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt
và trưởng ban kế hoạch .
Nhà thơ Hồng Hà Phụ tá trưởng ban kế hoạch.
Nhà Văn Thanh Xuân : Tổng Thư ký .
Nhà thơ Cẩm Vân : Thủ Quỹ.

Quí vị thành viên trực tiếp giúp Văn Thơ Lạc Việt :

Nữ nghệ sĩ : Kiều Loan ái nữ cố thi sĩ Hoàng Cầm.
Nhà Báo Thư Sinh Chị Mộng Hoa, Nhà Báo Cao Sơn, Mỹ Thanh .

——————————————————–

 

http://www.youtube.com/watch?v=5BKqkmK4RHA

Văn Thơ Lạc Việt 2012.

Thi đàn Lạc Việt được thành lập năm 1992, sau kỷ niệm 15 năm đổi tên là Văn Thơ Lạc Việt. Năm nay kỷ niệm 20 năm thành lập Lạc Việt, Một hội văn học nghệ thu…

Chinh Nguyên
Theo: Văn Thơ Lạc Việt




Thành thật cám ơn qí vị đã hổ trợ VănThơ Lạc Việt.

Thành thật cám ơn qí vị đã hổ trợ VănThơ Lạc Việt.

Quí vị order bất cứ  tác phẩm nào của Văn Thơ Lạc Việt trên web site Văn Thơ Lạc Việt là đã gián tiếp hổ trợ sinh hoạt của Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt, hầu gìn giữ nền văn hóa nhân vị, tự do ngôn luận, để chống đối nền văn hóa phá sản của Cộng Sản bán nước tại quốc nội.

Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt.
Chinh Nguyên. 

 

Kính chào quí vị .

Xin quý vị vào link dưới để mua sách, hoặc bảo trơ
cho sinh hoạt Văn Thơ Lạc Việt:

 

https://www.paypal.com/cgi-bin/webscr?cmd=_s-xclick&hosted_button_id=S5YH6RTJT6GEC
Từ đó quí vị có thể mua bất cứ tác phẩm nào, Văn Thơ Lạc Việt sẽ
gởi thẳng tới địa chỉ của quí vị không qua trung gian.

Nếu quí vị muốn biết thêm chi tiết và gặp trở ngại trong vần đề mua tác phẩm xin liên lạc với
Chinh Nguyên e-mail : cnchinhnguyen7@gmail.com
Tele : (408) 279-2532 (Phone nhà)
(408) 594-9274 (Cell phone)

 

—————————————————————————————————-

 

Vũ Ngọc Đĩnh sinh năm 1933 tại Hà Nội

Di cư vào Nam : 1954

Dạy học, viết báo, biên tập viên trưởng Tin Tức Đài Phát Thanh Saigon, đài Phát thanh Voice of Freedom (Saigon).

Sau tháng Tư 1975 đi tù về tội “ hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân 80-88”, tiếp tục viết.

Danh sách hổ trợ in tác phẩm của
Nhà Văn Vũ Ngọc Đĩnh.
“Đại Đế Quang Trung Trận Đánh Cuối Cùng Chấm Dứt Họa Bắc Thuộc”

Sô TT , Họ và tên                              Hổ trợ                         Ghi chú

1/ Mr. Tony Đinh (21 Centery)          $300.00           Chinh Nguyên đã nhận
2/ Mr. Phạm Đức Vượng                   $200.00           Chinh Nguyên đã nhận
3/ Mr. Chu Tấn                                  $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
4/ Mr. Thư Sinh                                 $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
5/ Mr. Thanh Thương Hoàng              $100.00           Chinh Nguyên đã nhận .
6/ Mr. Đông Anh                                $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
7/ Mr. Giao Chỉ                                  $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
8/ Mr. Nguyễn Phi                              $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
09/ Mr. Chinh Nguyên                        $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
10/ TS Nguyễn Hồng Dzũng               $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
11/ BS Hồng Hà                                 $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
12/ Mrs Nguyễn Thanh Xuân              $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
13/ GS Nguyễn Cao Can                    $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
14/ Mr. Lê Đình Thọ                           $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
15/ Mr. Đỗ Hữu Nhơn                        $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
16/ Nhà Báo Kiều Mỹ Duyên             $100.00           Đã gởi tặng tác gỉa
17/ Thằng Mõ Mr. Lê Văn Hải       $1000.00         Người quan trọng, bao chót.

 

 

NHỮNG TÁC PHẨM của
Nhà văn : VŨ NGỌC ĐĨNH

Đã xuất bản :

(trước 1975)

  • Mười Hai Sứ Quân tiểu thuyết lịch sử
  • Máy cưa máy khoan truyện
  • Trên tháp chuông nhà thờ truyện
  • Một màn xiếc truyện
  • Bàn tay trên cỏ truyện
  • Tình trên non cao dịch “La Maison de Petrodava”của C.Virgil Georghiu

nhà xuất bản Âu Cơ-Saigon, ký tên Lê Vũ

  • Niki truyện con chó tác giả Roumanie không nhớ tên

 

Đã xuất bản

(sau 1975)

  • Mười Hai Sứ Quân * tiểu thuyết lịch sử,nxb Trẻ tp HCM-1999
  • Bắn Rụng Mặt Trời * tiểu thuyết lịch sử nhà Trần phá Nguyên Mông ,nxb Trẻ tp HCM-2000
  • Hào Kiệt Lam Sơn (Lê Lợi đuổi Minh)tiểu thuyết lịch sử-1995
  • Ứng Vận Thần Vũ (Lê Đại Hành Hoàng đế phá Tống)tiểu thuyết lịch sử; nxb Văn Hóa Thông Tin tp. HCM-2005
  • Đôi Hài Tiên truyện thần tiên VN **
  • Chiếc Mõ Sừng Trâu truyện thần tiên VN
  • Ngọn Đèn Lưu Ly truyện thần tiên VN
  • Thủy Thủ Khăn Vàng truyện thần tiên VN
  • Cô Gái Tật Nguyền truyện thần tiên VN
  • Miếng Da Ếch truyện thần tiên VN
  • Chiếc Chiếu Thần truyện thần tiên VN
  • Hoa Trường Mộng truyện thần tiên VN
  • Ống Sáo Thần Kỳ truyện thần tiên VN ( 9 truyện thần tiên này xb năm 1993, nxb Văn Hóa tp.HCM
  • Tự Điển Anh-Việt Bộ Giáo Dục và Đào Tạo-Trung Tâm Ngôn Ngữ và Văn Hóa VN-nxb Thế Giới-1994
  • Tự Điển Pháp Việt nxb Thế Giới-1995 –Công ty Phát hành Sách FAHASA tp HCM
  • Tự Điển Thương Mại Anh-Pháp-Việt -2003 , Nhà Xuất Bản Thống Kê – Hội Ngôn Ngữ Học thành phố HCM
  • Musashi Giang Hồ Kiếm Khách tác giả Eiji Yoshikawa; tiểu thuyết kiếm đạo kiệt xuất của Nhật Bản 2000 trang,dịch theo bản tiếng Pháp, nxbVăn Học tp.HCM 2008

* Hai bộ tiểu thuyết lịch sử (mỗi bộ 8 tập – 3000 trang) Mười Hai Sứ Quân, Bắn Rụng Mặt Trời, đã được Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ ghi tên và bảo vệ tác quyền trên toàn thế giới cho tác giả ;

 

** Bộ 9 truyện thần tiên (tổng cộng 2000 trang)

 

Các tác phẩm chưa xuất bản :

  • Ca Dao & Tục Ngữ Dẫn Giảng 6100 trang
  • Ca Dao thời Cộng sản 500 trang
  • Lý Thường Kiệt Phạt Tống-Phá Tống , tiểu thuyết lịch sử 1615 trang khổ lớn
  • Lịch sử & các thành cổ VN
  • Bảo Toàn & Ngày gặp lại
  • Sao Mai Đã Mọc, Này Cai Ngục…
  • Buồn Cười Chả Được
  • Tiếng Hát Bên Trong Cửa tiểu thuyết
  • KÀMA SÙTRA bộ sách kinh điển của Ấn độ về đạo đức và thực hành tình dục có từ trước công nguyên, viết lại bằng tiếng Phạn cổ thế kỷ thứ 4 sau công nguyên, giáo sư học giả Alain Daniélou dịch trọn bộ sang tiếng Anh , bản duy nhất trên thế giới không cắt bỏ một dòng một chữ nào, nxb Park Street Press-Rochester, Vermon USA, bản dịch tiếng Việt của VNĐ năm 1997.
  • Núi Hồn Tanios Le Rocher de Tanios, tác giả là nhà văn nhà báo người Liban,

từng chu du hơn 60 nước trong đó có cả VN thời chiến, tác phẩm viết bằng tiếng Pháp,là tiểu thuyết lịch sử vùng Trung đông, được giải Văn học Goncourt năm 1993, tác giả được ghi nhận là “nhà kể chuyện kiệt xuất”, VNĐ dịch xong năm 1999.

  • Những Âm Thanh Nhức Buốt Ngàn Đời
  • Sao Mai Đã Mọc, Này Cai Ngục…
  • Chửi
  • Đại Đế Quang Trung –(Quang Trung đả bại Đại Thanh Càn Long–Trận đánh cuối cùng kết thúc nghìn năm Bắc thuộc)
  • Ngô vương Quyền
  • Hai Bà Trưng

Ba cuốn cuối (14-15-16 đang tiếp tục viết (2013))




Nhạc Sĩ ANH BẰNG

ns-anh-bang

Anh Bằng (tên thật Trần An Bường (5/5/1926 – 12/11/2015) là một nhạc sĩ nổi tiếng của Việt Nam với số lượng sáng tác khoảng 650 tình khúc để lại cho đời. Ông là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu dòng của dòng nhạc vàng và nhạc hải ngoại, là người đã sáng lập Trung tâm Asia vào năm 1980.

Ngoài những tác phẩm của chính ông, Anh Bằng còn là một trong nhóm ba người hợp tác soạn nhạc với bút hiệu Lê Minh Bằng.

Tên thật là Trần An Bường. Sinh năm 1925 tại Hà Nội, sau 1954 sống tại Sài Gòn, hiện định cư tại Hoa Kỳ. Năm 1965 – 1975 cùng hai nhạc sĩ Lê Dinh và Minh Kỳ lập nhóm sáng tác ký tên chung là Lê Minh Bằng

Anh Bằng tên thật An Bường, sinh năm 1925 tại thị trấn Điền Hộ thuộc tỉnh Ninh Bình gần ranh giới tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội khoảng 100 cây số về phía Nam. Ông theo học Trung học ở Hà Nội trước khi theo gia đình di cư vào Nam năm 1954 và sinh sống ở Sài Gòn cho đến năm 1975.

Trong thời kì 1954 – 1975, nhạc sĩ Anh Bằng rất nổi tiếng với nhiều tác phẩm sáng tác và phổ nhạc. Các tác phẩm như Nếu vắng anh (phổ từ bài Cần thiết của nhà thơ Nguyên Sa), Khúc Thụy du (phổ từ bài thơ cùng tên của Du Tử Lê), Người thợ săn và đàn chim nhỏ… đã được các ca sĩ Tuấn Ngọc, Ngọc Lan, Khánh Ly… thể hiện rất thành công.

Năm 1975, Anh Bằng cùng gia đình di tản sang Mỹ ở độ tuổi 50, và vẫn tiếp tục hoạt động âm nhạc với Trung tâm sản xuất và phát hành băng nhạc cassettes Dạ Lan (1981 – 1990).

Năm 1966, Anh Bằng cùng với hai nhạc sĩ khác là Lê Dinh và Minh Kỳ thành lập một nhóm sáng tác nhạc, kí chung tên là Lê Minh Bằng. Các hoạt động chính của nhóm bao gồm:

Mở lớp dạy nhạc có tên là “Lớp Nhạc Lê Minh Bằng” tại địa chỉ số 102/8 đường Hai Bà Trưng, Tân Định, Sài Gòn. Ba nhạc sĩ thay phiên nhau giảng dạy về lý thuyết (nhạc lý, ký âm) và thực hành (luyện giọng, xướng âm).

Thành lập ban nhạc “Sóng Mới”, chuyên trình diễn trên đài phát thanh Sài Gòn.
Cố vấn cho giám đốc hãng đĩa hát Asia là ông Nguyễn Tất Oanh trong việc lựa chọn bài hát và ca sĩ.
Phụ trách trong việc tổ chức chương trình “Tuyển Lựa Ca Sĩ” được tổ chức hàng tuần ở rạp hát Quốc Thanh, do Đài Phát Thanh Sài Gòn thực hiện.

Sáng tác, xuất bản, và phổ biến nhiều ca khúc mới dưới nhiều bút hiệu khác nhau: Lê Minh Bằng, Vũ Chương, Mạc Phong Linh, Mai Thiết Lĩnh, Mai Bích Dung, Dạ Ly Vũ, Dạ Cầm, Giang Minh Sơn, Hoàng Minh, Trần An Thanh, Tây Phố, Trúc Ly, Tôn Nữ Thụy Khương, Phương Trà, Huy Cường… Trong đó tác phẩm nổi tiếng nhất có lẽ là Chuyện tình Lan và Điệp.

Những ca khúc thịnh hành của Anh Bằng :

* Nếu Vắng Anh
* Hẹn Anh Ðêm Nay
* Chuyện Giàn Thiên Lý (theo thơ Yên Thao)
* Bướm Trắng
* Nỗi Lòng Người Ði
* Anh Biết Em Ði Chẳng Trở Về (thơ Thái Can)
* Tango Dĩ Vãng
* Sài Gòn Thứ Bảy
* Nửa Ðêm Buốt Giá
* Tình Yêu Tuyệt Vời
* Lời Tình Băng Giá
* Trả Em Cay Ðắng Mộng Vàng
* Dù Nắng Có Mong Manh
* Nhớ Sài Gòn (cùng Trúc Giang)
* Tâm Hồn Cô Ðơn
* Cô Bé Môi Hồng
* Chuyện Người Con Gái Ao Sen
* Người Thợ Săn Và Ðàn Chim Nhỏ
* Mất Nhau Mùa Ðông
* Từ Ðộ Ánh Trăng Tan (thơ Ðặng Hiền)
* Khúc Thụy Du (thơ Du Tử Lê)
* …

Những ca khúc sáng tác chung dưới tên Lê Minh Bằng:

* Ðêm Ngoại Ô
* Ðêm Nguyện Cầu
* Nó
* Tình Là Sợi Tơ
* …




Tiếng Việt Hiện Đại 1

Tiếng Việt Hiện Đại 1: Tình Yêu Phai Nhạt

Tôi nhìn đồng hồ hai cửa sổ không người lái trên tay, bây giờ đã 6 giờ sáng. Bật kênh phát sóng số 3 nghe bản thông tin, TV tiên đoán hôm nay có khả năng mưa. Tình hình Ai-Cập đã bớt căng vì công an, quân đội, kể cả lính gái và lính thủy đánh bộ kiểm soát đường phố khắp nơi.   Một tướng lãnh đọc bài nói loan báo an ninh đã được bảo quản, tình trạng đất nước tốt, báo cáo tốt, các quan chức nhà nước sẵn sàng làm việc nghiêm túc trở lại để phục hồi đất nước. Vẫn còn quá sớm để thức dậy, nhất là hôm nay Thứ Bẩy  tôi không phải động não đi quảng trường quy hoạch quy trình cho nhân viên được quán triệt phương án, thế nhưng tôi vẫn ráng động viên cơ thể đứng dậy,  bước ra khỏi giường.
          Xuống dưới nhà, tôi vào bếp bắc nồi vừa chiên con sâu mỡ, vừa pha cà phê cái nồi ngồi trên cái cốc cùng một lúc cho tranh thủ  thì giờ. Pha xong, tôi vất xác cà phê ngay vào thùng rác, không dám đổ xuống bồn rửa bát sợ gây ra sự cố, ống nước bị ùn tắc. Mang ly cà phê nóng ra sau vườn nhâm nhi trong khi đọc báo, ngắm cây xanh tốt vì đất được phân bón cải cách, hoặc viết lách vào sáng sớm cuối tuần là cái thú thư giãn của tôi. Căn hộ tôi không được hoành tráng mấy thế nhưng nó xa phi khẩuđảm bảo yên lặng cho chất xám của tôi được tăng trưởng kiệt suất khi tôi muốn viết lách. Nhà tôi ở núi non xa cách thành thị như thế này thì chắc chắn nhà nước chẳng bao giờ giải phóng mặt bằng để xây đường cao tốc.
          Ngày xưa mới lấy nhau thì không sáng nào hai vợ chồng không dậy sớm ngồi thủ thỉ với nhau. Bây giờ sau 27 năm lấy nhau thì căn hộ vắng vẻ, sáng nào tôi cũng ngồi một mình, còn nàng thì vẫn tiếp tục đánh giấc cho đến 8, 9 giờ mới dậy. Sinh hoạt hai vợ chồng vì thế cách ly hẳn.
          Tôi còn nhớ rất rõ tình cảm mật thiết nàng dành cho tôi khi lần đầu tiên chúng tôi mới gặp nhau. Ở cuộc gặp lần thứ hai, nàng đã nhờ chị của nàng ở bên  (cùng đi nhà thờ với tôi) làm rõ gia cảnh tôi, biết rằng tôi chưa có đối tượng. Vì thế, dù rằng chỉ mới là bạn sơ hữu, nàng nói là nàng muốn liên hệ tình cảm với tôi. Mừng như bắt được vàng, tôi bảo nàng cởi áo ra (lúc ấy đã là buổi đêm). Vừa nghe xong nàng tát cho tôi một bạt tai nháng lửa. Tôi ngạc nhiên quá đỗi nhưng chỉ cần  vài giây suy nghĩ  là tôi đoán ngay lý do tại sao nàng tát tôi: nàng kẹt ở lại Việt Nam tháng 4-1975, chỉ sang Paris năm 1980 nên dùng chữ liên hệ tình cảm, có nghĩa là “muốn làm quen với anh”. Tôi thì đi ngày 30-4-1975  nên đâu có bao giờ nghe chữ ấy, chỉ biết chữ “liên hệ tình dục” nên khi nàng nói liên hệ tình cảm, tôi nhanh nhẩu đoảng nghĩ ngay là nàng muốn liên hệ tình dục do đó mới bảo nàng cởi áo ra! Vì vậy mà tôi ăn tát! Đối với các cô khác thì đã  point final tình bạn, không thể nào cho nó triển khai thêm, thế nhưng nàng là người dễ dãi, và nhất là dễ gì tìm được một con trai chảnh như tôi nên sau khi nghe giải thích sự tình, nàng bỏ tất cả bức xức, tha thứ cho tôi.
          Hai chúng tôi giao lưu thư từ và trao đổi điện thoại thường xuyên. Nàng là dân trường Tây, lại ở Paris nên viết thư dùng những từ tiếng Pháp làm nhiều lúc tôi phải tìm tự điển hay tư liệu để tra cứu. Mắt tôi kém, lúc nào cũng cần phải đeo kính để hiển thị thơ nàng. Tuy rằng ởParis, nàng nỗ lực bố trí có cơ hội là sang Mỹ thăm tôi. Khi còn bé tôi ước mơ lớn lên sẽ làm nghệ nhân hay chủ nhiệm, thế nhưng lúc quen nàng thì đời sống tôi thất bại. Tôi không thuộc loại người có đỉnh cao trí tuệ  mà chỉ là một người thợ quèn. Ấy thế mà nàng không sốc khi biết nghề nghiệp thật sự của tôi, còn yêu và xem tôi như tôi là một siêu sao! Xa nhau cả đại dương, tôi năng nổ viết thư cho nàng. Nhận đượcthư tôi nàng phản hồi ngay lập tức. Vài tháng sau, trong một lá thư, tôi đề xuất chúng tôi nên lấy nhau. Câu đáp án của nàng là bằng lòng. Còn sáu tháng nữa mới học xong đại học ở Paris mà nàng bỏ ngang không học nốt làm cho tôi ngạc nhiên khôn xiết khi một tuần sau tôi nhận điện thoại đột xuất của nàng báo hiện đang ở Sân bay Los Angeles! Ra đón nàng ở Sân bay, gần Trung Tâm Quản Lý Bay Dân Dụng, tôi không khỏi trào nước mắt khi thấy nàng đứng một mình với một chiếc valise to tổ bố. Nàng ôm chầm lấy tôi và nói:
          -Em ra trễ vì phải trình giấy tờ ở Hải Quan. Em đi máy bay yên lắm vì tổ lái tốt. Em đăng ký mua vé máy bay hôm kia, bảo cô bán vé khẩn trương tìm vé cho em.  Gia tài em còn lại chỉ có cái hộ chiếu trong tay và cái valise này. Em bỏ học, bỏ việc làm bán phần với thu nhập chẳng là bao nhiêu, bỏ doanh nghiệp xuất khẩu em làm cho người quen, bỏ cả chứng minh nhân dân Tây bên Pháp, bỏ hết tất cả để sang  thi công sống với anh. Em có mang học bạ bên Pháp sang để chuyển ngữ, em sẽ đi học tiếp bên  nên anh đừng lo em bỏ học.
          Ngừng một lúc, nàng tiếp:
          -Em muốn anh quản lý đời em. Thế anh có tiếp thu em không?
          Quá cảm động với tình yêu nàng dành cho tôi, dù rằng tôi là người vạm vỡ, ngày xưa là vận động viên của Viện Ung Bứuvận động viên bóng đá, từng dùng dây thừng kéo những xe đò quá tải, tôi khóc òa và ôm chầm lấy người bạn gái thân thương, hứa rằng sẽ trọn đời yêu và nuôi nấng nàng. Nếu nghề chính của tôi không đủ nuôi hai đứa, tôi sẽ tìm nghiệp dư, tìm đủ mọi cách kiếm sống, quyết không bao giờ để nàng đói. Khi độc thân tôi có một con chó và một chiếc xe gắn máy, mua với một giá bèo. Từ ngày lấy vợ, tôi bán chiếc xe gắn máy để khỏi phải đội mũ bảo hiểm. Tôi giải phóng luôn con chó để có thì giờ tiêu khiển với nàng.
          Những năm tháng đầu và cho cả đến thời gian gần đây, đời sống vợ chồng tôi thật hạnh phúc. Hai chúng tôi lúc nào cũng có ý tưởng nhất quán, không bao giờ gây gỗ nhau.  Nàng mê tôi còn hơn Alain Delon, chiêu đãi tôi ngày này qua ngày khác. Thế nhưng từ ngày nàng bắt đầu xem phim bộ hay Paris By Night, nàng bắt đầu sao lãng, bỏ bê tôi, không thèm đi tham quan với tôi mà chỉ liên hệ với những cô khác cùng sở thích. Đã thế, nàng còn chỉ đạo tôi làm việc nhà nữa chứ!
          Một lần tôi mổ răng về nhà nằm liệt giường sự cố, cần cứu hộ. Nàng hỏi tôi có muốn ăn cháo thì để nàng nấu. Tính tôi không thích người khác mệt nhọc vì mình, không muốn vợ phải vất vả vì tôi nên tôi mới bảo nàng là không cần nấu, tôi ăn mì gói là món ăn chủ đạocũng được rồi vì mì gói cũng đủ chất lượng. Tôi ăn mì gói một ngày, hai ngày, ba ngày thì không sao, nhưng đến ngày thứ tư, thứ năm thì ngán đến tận cổ, muốn tranh thủ ăn lắm nhưng nuốt không trôi, thế mà nàng vẫn không nấu gì cho tôi ăn. Qua đến ngày thứ sáu, tôi mới hỏi nàng sao không thấy nấu cháo gà, cháo thịt cho tôi ăn thì nàng lý giải chính tôi là người nói  với nàng  không cần nấu nên nàng để dành thì giờ rảnh rỗi xem hát đôi, hát tốp của những ca sỹ trên sân khấu đại trà tiên tiến của Paris By Night! Cứ theo chế độ dinh dưỡng nàng dành cho tôi như thế này, thay vì thổi cơm tốc độ cho tôi ăn thì không nấu niếng gì hết cho tôi đói,  chẳng mấy chốc tôi sẽ là hành khách trong bài “Con đò đưa xác”.
          Hơn 27 năm sống với nhau, sau khi đã tốn bao nhiêu công sức nâng cấp một người ở chợ Bàn Cờ  như tôi (nhà tôi gần Hội Chữ Thập Đỏ), vợ tôi không còn mê tôi nữa. Tôi đã tư duy định leo lên máy bay lên thẳng rồi khi ở trên không, nhẩy ra ngoài máy bay tự tử để cho vợ tôi thấy hệ quả khi nàng không còn yêu tôi. Thế nhưng một ông bạn già Phó Tiến Sĩ của tôi 70 tuổi, đã về hưu, tuần vừa rồi cảnh báo tôi không nên phí đời giai như vậy. Ông ta muốn dẫn tôi  đến nơi này đàn ông có giá trị hơn vàng vì số đàn bà gấp ba lần đàn ông. Tôi đến thì ông ta đảm bảo bao nhiêu bà sẽ hồ hởi tranh giành chém giết nhau để dành lấy tôi. Ông ta làm việc ở ba nơi. Chỗ nào họ cũng  trả tiền ông ta đến nhẩy đầm với mấy bà vì nơi nào đàn ông cũng đều khan hiếm trầm trọng, không đủ người để nhẩy.  Khi đến nơi làm việc, lúc nào ông ta cũng không có thì giờ nghỉ ngơi vì hết bà này đến bà khác dành giật nhẩy với ông ta. Đã thế, họ còn cho ông thêm tiền bồi dưỡng! Tôi không cần nhẩy giỏi, chỉ biết cơ bản là đủ. Nếu tôi nhận lời đi theo ông ta thì tôi nhất định sẽ không còn buồn vì vợ bỏ bê tôi. Ngược lại tôi sẽ hưng phấn  vì các em gái này sẽ thống nhất tranh nhau o bế tôi, không rời tôi nửa bước, không cho tôi về nhà sớm. Ngoài ra, ở đó họ còn dùng máy điện tính, máy quét, thỉnh thoảng hư cần người sửa. Tôi sửa được mọi sự, đến đó vừa nhẩy đầm vừa sửa phần cứng, phần mềm cho họ thì họ lại càng yêu mến, đời sống tôi sẽ được hoàn toàn thoải mái vô tư.
          Tôi chưa biết xử lí ra sao vì hôm qua ông ta mới nói cho tôi biết nơi ông ta làm: Viện Dưỡng Lão Cao Cấp Thành phố với tuổi trung bình của hội viên là 73 tuổi.
Nguyễn Tài Ngọc
http://saigonocean.com/index. php/en/
March 2011
TaiNgoc



PHÁT HIỆN ĐÁNG KINH NGẠC

Yeu
Một bài viết rất hay chúng ta nên đọc. tế bào ung thư sợ nhất là tình yêu. Lòng thù hận, khổ đau, phiền muộn, ghen tuông, đố kỵ chính là cơ hội phát triển tế bào ung thư.

Bệnh tật bị đẩy lùi một cách vô điều kiện là nhờ ‘yêu và được yêu’.

Vậy thì còn chờ gì nữa chúng ta hãy mở cửa tâm hồn để yêu và được yêu. Trước khi đọc bài viết xin mời quý vị đọc qua bài thơ tôi viết về với chủ đề (Tình Yêu là ân sủng)

 

Tình yêu là ân sủng

Ta bước lên vùng cô liêu tỉnh thức
Đem cô đơn vào thánh địa tâm linh
Nơi sâu kín tình yêu là ân sủng
Là bình an, yên nghỉ của tâm hồn.

Người ẩn sĩ, cả đời tìm chân lý
Ngồi suy tư bên cội gốc hư vô
Bỗng nhận ra có điều gì rung động
Từ trong tim bừng sáng một tình yêu.

Ta tắm mát trong dòng sông bản thể
Xoá sạch bụi trần, cho thân xác lâng lâng
Rồi nằm xuống cho tình yêu mời gọi
Bởi vì em là nguồn cội muôn loài.

AET Lê Tuấn

PHÁT HIỆN ĐÁNG KINH NGẠC
 Có thể bạn chưa tin nhưng nghiên cứu mới tại Mỹ cho thấy điều mà tế bào ung thư sợ nhất không phải là hóa trị hay bất kỳ loại thuốc trị ung thư nào.
Sau khoảng thời gian tiếp xúc với nhiều bệnh nhân từ nhiều quốc gia trên thế giới, Tiến sĩ David Hawkins – một bác sĩ rất nổi tiếng tại Mỹ cho biết, chỉ cần nhìn thấy bệnh nhân là ông biết người đó vì sao bị bệnh. Bởi trên cơ thể người bệnh không xuất hiện chữ “yêu”, thay vào đó là “khổ, hận, phiền muộn”.
Điều này có thể khiến nhiều người trong chúng ta không tin nhưng đây là kết luận hoàn toàn dựa trên cơ sở khoa học. Sau 20 năm nghiên cứu về cơ và vận động học, tiến sĩ Hawkins đã phát hiện ra “ý nghĩa của thang bậc chỉ số rung động trong cơ thể con người từ 1 đến 1000”. Tần số rung động chính là từ trường mà mọi người thường hay nói.
Theo đó, những người có suy nghĩ tiêu cực thường rất hay bị bệnh. Đó là những người có chỉ số rung động dưới 200.
Rất nhiều người bị bệnh vì không được yêu, ở họ chỉ thấy nỗi khổ và phiền muộn.
Phát hiện mới tại Mỹ cho thấy điều mà tế bào ung thư sợ nhất chính là “tình yêu”.
  
Từ góc độ y học ông cho rằng, ý niệm có ảnh hưởng vô cùng lớn đến sức khỏe con người. TS Hawkins đã từng làm bệnh án cho hàng triệu người, các chủng loại người khác nhau trên toàn thế giới, tất cả đều cho một đáp án giống nhau.
Chỉ cần tần số rung động thấp hơn 200 là người đó sẽ bị bệnh. Trên 200 sẽ không bị bệnh, những suy nghĩ có tần số rung động trên 200 gồm có:
– quan tâm đến người khác,
– giàu lòng từ bi, nhân ái, hướng thiện,
– bao dung, độ lượng, v.v.
Đây đều là những đức tính có tần số rung động rất cao, đạt đến mức 400 – 500.
Mặt khác, người có tính căm ghét, phẫn nộ, hay chỉ trích, trách móc, đố kị, đòi hỏi người khác, luôn tư lợi cá nhân, ích kỷ, không màng đến cảm nhận của người khác sẽ có tần số rung động rất thấp. Tần số rung động thấp là nguyên nhân dẫn đến các bệnh như ung thư, tim v.v.
Lý giải cho điều này, tiến sĩ Hawkin cho biết những người hay oán giận, chỉ trích, hận thù người khác, tần số của họ chỉ là 30, 40. Trong quá trình trách móc người khác sẽ làm tiêu hao rất nhiều năng lượng của họ vì thế tần số rung động sẽ giảm thấp hơn 200, những người này có nguy cơ bị mắc rất nhiều loại bệnh.
Chỉ số rung động cao nhất là 1000, thấp nhất là 1. Tiến sĩ Hawkin cho biết trong cuộc đời của mình, ông chưa gặp ai có tần số rung động đạt ở mức cao nhất, 1000. Những người mà ông ấn tượng nhất cũng chỉ đạt mức 700. Năng lượng trong cơ thể họ rất dồi dào. Khi những người này xuất hiện, họ sẽ làm ảnh hưởng đến từ trường của cả khu vực xung quanh.
Nghiên cứu về chỉ số rung động của tiến sĩ David R.Hawkins.
Lấy ví dụ, như khi bà tu sĩ Trisara lên nhận giải thưởng Nobel Hòa bình, không khí cả hội trường rất tốt, tần số rung động rất cao, từ trường của bà làm cho cả hội trường đều cảm nhận được năng lượng tràn ngập sự tốt đẹp và cảm động từ bà.
Khi người có năng lượng cao xuất hiện, từ trường của họ sẽ làm cho vạn vật trở lên tốt đẹp hơn. Còn với người có suy nghĩ tiêu cực, không chỉ làm tổn hại chính họ mà còn làm cho từ trường xung quanh cũng bị xấu đi.
Một trường hợp cụ thể nhất về tác động của tình yêu với các tế bào ung thư chính là nghệ sỹ chơi đàn Violoncelle Sean của Nhật Bản. Khi bị bệnh ung thư, ông đã không ngừng chiến đấu với bệnh tật nhưng xem ra tình trạng ngày một nặng hơn.
Cuối cùng, ông quyết định thay đổi tâm trạng và chuyển sang yêu từng tế bào ung thư trong cơ thể mình. Ông lạc quan với cuộc sống, mọi việc ông đều luôn thấy vui vẻ và biết ơn các tế bào ung thư. Ông thấy cảm giác này rất tuyệt. Sau đó, ông đã quyết định yêu mọi thứ trong cuộc sống, bao gồm cả mỗi con người và mỗi sự việc.
Kết quả hết sức bất ngờ và nằm ngoài sức tưởng tượng của tất cả mọi người, toàn bộ các tế bào ung thư đã không còn nữa. Sau này, ông trở thành bác sĩ trị liệu nổi tiếng tại Nhật Bản. Đây chính là bản chất của cuộc sống: Tình Yêu.

Các nhà khoa học cho biết, căn nguyên của bệnh tật là do trong cơ thể người bệnh thiếu tình yêu thương. Bệnh tật bị đẩy lùi một cách vô điều kiện là nhờ ‘yêu và được yêu’.

 




Cái chết của tâm hồn người Việt Nam

da dieu 1

Cá chết tại Việt Nam chỉ là mặt nổi của vấn đề đang được che dấu vì thực chất còn nhiều cái chết đang bị che đậy dưới ách thống trị của đảng cộng sản VN đó là những cái chết của tâm hồn VN, cái chết của lương tâm, cái chết của luân thường đạo lý, cái chết của lý trí (nhìn thấy nhưng sợ mất miếng cơm manh áo nên phải ngậm miệng là ngơ) và cái chết của sử lệ thuộc chính trị (lệ thuộc Tầu Cộng lệ thuộc Việt Cộng do đó sẵn sàng làm Hán ngụy, bán nước cầu vinh)

Cái chết của tâm hồn người Việt Nam

image

 Trong chuyến thăm vùng biển Vũng Áng, Hà Tĩnh, chứng kiến cảnh chết chóc tràn bờ, Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt nhận định: “Tôi thấy cái chết của biển cũng như của cá nó chỉ là cái ngọn vấn đề, cái chính gây ra cái chết này là do cái chết của tâm hồn con người. Tôi thấy có ít nhất có bốn cái chết: cái chết của lương tâm, cái chết của luân lý, cái chết của lý trí, cái chết của chính trị.” 

image

 

Lương tâm là ơn Chúa ban cho người ta để người ta phân biệt được điều gì tốt điều gì xấu, khi làm điều tốt thì lương tâm thanh thản, an ủi còn khi làm điều xấu lương tâm cắn rứt. Nhưng khi lương tâm chết rồi nó không còn cắn rứt nữa. Cho nên khi làm điều xấu mà nó không còn cắn rứt nữa thì lương tâm đó chết rồi. 

Luân lý là những chuẩn mực, quy luật để hành xử cho đúng đạo lý. Khi cư xử không còn theo đạo lý nữa, không còn biết đâu là xấu – tốt thì luân lý đó chết rồi, nó không bị chi phối bởi những chuẩn mực đạo đức, không còn quy tắc đạo lý nữa.

image

Lý trí là sự hiểu biết để giúp người ta biết phân định những giá trị cao thấp khác nhau như Đức Thánh Cha nói rằng: “thời gian lớn hơn không gian, toàn phần lớn hơn một phần”. Bây giờ người ta chọn một phần mà quên đi toàn phần thì cái đó là cái chết của lý trí không còn phân định được và chọn các giá trị thấp mà bỏ các giá trị cao. 

Chính trị chính là nghệ thuật tổ chức sắp xếp để cho mọi người được hạnh phúc. Khi việc mưu cầu hạnh phúc cho con người đã chết thì biển chết, cá chết là hậu quả.” Lời nhận định của một nhà lãnh đạo tôn giáo quả thật rất sâu sắc và chí lý.

image

Đất nước VN đang đối phó với cái chết thể lý do nhiễm độc mà ai cũng thấy sờ sờ trước mắt, ngay trên mâm cơm nhà mình mỗi ngày. Nhưng sự nhiễm độc này chưa tàn phá và chết chóc cho bằng sự nhiễm độc trong tâm hồn mà Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp trong bài giảng ngày 13.06, lễ thánh Antôn tại Trại Gáo, Vinh đã nói: “Hôm nay người dân VN với mâm cơm đầy nghi nan, không biết đâu là thực phẩm bẩn – sạch và ranh giới giữa chúng rất mong manh. Một số người ham lợi nhuận, vì đồng tiền đã bán rẻ lương tâm, chế biến những thực phẩm bẩn đem bán trên thị trường.” 

Hai vị chủ chăn cùng chung một nhận định về cái chết trong tâm hồn con người. Đây là thứ chất độc đáng sợ hơn cả! Bởi độc bên ngoài, theo thời gian người ta có thể cùng chung tay loại trừ nó, nhưng độc tố hận thù trong lòng khiến người ta hại nhau, giết nhau một cách thản nhiên thì không còn thời gian để cứu vớt. 

image

Máu độc trong tâm hồn là hậu quả một nền giáo dục độc tôn do Đảng Cộng Sản VN Vô Thần cai trị hơn 70 năm ngoài Miền Bắc và hơn 40 năm trong Miền Nam. Một nền giáo dục mà theo lời nhận định của Đức Cha Phaolô là “đã bị nhiễm bẩn” bởi lòng bạo lực, thù hận và ích kỷ. Bao thế hệ trẻ VN dưới mái trường XHCN đã được “dạy” cho biết về lòng thù hận đối với Mỹ, Ngụy. Tôi còn nhớ như in ngày mình được học về lòng căm thù “thằng Ngụy”. Đầu óc non nớt trẻ thơ chưa hiểu “thằng Ngụy” là thằng nào mà nó phải đáng nguyền rủa như thế! Tôi đem thắc mắc ấy về hỏi Cha tôi, vốn là một cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, Cha tôi cười chua chát và chỉ vào mình: 

“Là thằng này đó con!”

image

Những khái niệm về sự quảng đại, lòng bao dung, ơn tha thứ là những mệnh đề khó hiểu. Bởi thế, khi cá chết trắng Miền Trung, bao gia đình đớn đau tuyệt vọng, đói khát lầm than, nhiều người đến làm từ thiện thì họ lại nêu ra câu hỏi: “làm từ thiện để làm gì?”, trên một chương trình truyền hình hẳn hoi. 

Sự im lặng, làm ngơ của nhà cầm quyền trước tình trạng nhiễm bẩn môi trường biển, cá chết hàng loạt hơn 70 ngày qua không phải là ngẫu nhiên. Họ thừa cơ sở dữ liệu để có thể tuyên bố nguyên nhân trong 1 ngày, nhưng cố tình che đậy. Đó chính là thứ độc hại trong tâm hồn mà CS đã chủ mưu từ khi lên cầm quyền.

image

Giả như tuyên bố nhanh nhà máy Formosa là thủ phạm thì chẳng khác nào thừa nhận việc làm phi nhân của mình khi vì lợi lộc của một nhóm lợi ích mà gây thiệt hại cho toàn dân. Nếu chỉ mặt Formosa cũng đồng nghĩa việc thừa nhận hối lộ, để làm ngơ cho Trung cộng hoàn toàn thao túng trên đất Việt. 

Vì lẽ, Cộng sản xây dựng học thuyết không phải trên lòng yêu thương, tình đồng loại hay sự dấn thân cho lợi ích cộng đồng mà hoàn toàn ngược lại. Sức mạnh của người Cộng sản hình thành trên nền tảng của lòng ích kỉ, tính thù hận và óc vụ lợi. Lúc mới hình thành, người Cộng sản đã dựa vào hạt gạo tình thương của nhân dân để mà sống, đến khi phát triển, có chỗ dựa thì họ quay sang đề phòng nhân dân và hoàn toàn xa rời nhân dân.

 

water red smoke sea moon

Đến khi nắm quyền lực trong tay, họ tồn tại bằng cách duy trì lòng thù hận, giáo dục về lòng thù hận và phát triển lòng thù hận. Lòng thù hận luân chuyển trong lòng chế độ như một thứ máu độc, nó kích thích tính ích kỉ, sự dửng dưng và vô cảm trước nỗi đau đồng loại. Và chưa bao giờ mà thứ máu độc này lại hoành hành trên dân tộc Việt Nam như bây giờ. 

Và một khi chất độc tâm hồn đã gây cái chết trong lòng người, thì mọi thứ độc tố bên ngoài chỉ còn là phụ tùy.

GNsP

22.06.2016

 
image



4 mẩu chuyện làm thức tỉnh lòng người.

Hanh phuc
(Trích trên net work)

Cuộc sống chính là triết lý để ta suy ngẫm, chúng ta sẽ học được những bài học thật ý nghĩa ngay chính trong cuộc sống hiện tại. Tôi chợt nhớ đến một định luật tự nhiên của Trời Đất, đo là định luật (Lực và phản Lực) bất cứ một lực nào đẩy về phía trước thì đều có một lực tương đồng đẩy lùi về phía sau. Từ đó ta suy ngẫm ra, bất cứ một hành động nào tạo ra đều có một sự phản hồi cho hành động đó, đôi khi chúng ta không để ý đến những trên thực tế nó vẫn tồn tại. Ví như một lời nói ân tình nghe thật êm tại nó có tác dụng xoa dịu hệ thần kinh làm ấm lòng người nghe, ngược lại một lời nói hằn học nó có tác dụng gây ra giận dữ làm hại đến tâm gan.


Hãy Yêu người, yêu đời, cho đi yêu thương thì nhận lại thương yêu để rồi khi “nhắm mắt ra đi” vẫn còn lại trong thương tiếc của nhiều người….

Cuộc sống  là  triết lý để ta suy ngẫm…
4 mẩu chuyện làm thức tỉnh người đọc.

 

1- Chuyện thứ nhất: Duyên nợ đời người.

Xưa, có một chàng tên Thư Sinh, anh và bạn gái đã đính ước và chuẩn bị hôn lễ. Thế nhưng trước đó ít ngày, cô gái lại lấy người khác.Thư Sinh bị lâm bệnh nặng. Vừa khi đó, một du khách đưa Thư Sinh chiếc gương soi.Thư Sinh nhìn thấy xác một cô gái trôi dạt vào bờ biển, trên người cô ta không một mảnh vải che thân.
Người đầu tiên đi qua chỉ thoáng nhìn, lắc đầu rồi…đi. Người thứ 2 đi qua cởi chiếc áo khoác đắp lên người cô gái. Người thứ 3 đi qua bèn đào hố và xây mộ cho cô gái và cho biết cô gái xấu số đó chính là bạn gái anh ta trong kiếp trước.

“Anh là người qua đường thứ 2 đã đắp áo cho cô gái. Đến nay, cô gái gặp chỉ là để trả..nợ lòng tốt  của anh thôi! Còn người mà cô ấy phải báo đáp cả đời đó chính là người thứ 3 đã chôn cất cô cẩn thận, người đó chính là chồng hiện tại của cô gái“.. Thư Sinh nghe xong liền tỉnh ngộ mọi chuyện.

 

Chuyện thứ 2: Tấm lòng trẻ thơ.

Một bà mẹ đơn thân vừa chuyển nhà, bà phát giác hàng xóm là một gia đình nghèo với bà góa và hai con. Một hôm bị cúp điện, bà đành thắp nến cho sáng. Lúc sau, có tiếng người gõ cửa, bà mở cửa ra…thì chính là con của hàng xóm. Đứa bé nói: “Kính chào Dì, Dì có thêm cây nến nào không?” Bà ta thầm nghĩ: “Gia đình này nghèo đến nỗi cả nến cũng không có ? Tốt nhất không cho,vì cứ cho như thế họ sẽ ỷ lại không chịu mua”.
Bà liền trả lời : “Không có!”. Đúng lúc bà ta đang đóng cửa, đứa bé cười và nói: “Con biết là nhà dì không nhiều nến..”. Nói xong, nó lấy trong túi 2 cây nến và thưa: “Mẹ con sợ dì sống một mình thiếu nến..và sai con đem  tặng dì 2 cây vì cúp điện lâu lắm”… Bà ta vừa tự trách vừa cảm động rơi nước mắt  ôm chặt đứa bé!

 
3- Chuyện thứ ba: Chúng ta chỉ bất tiện khoảng 3 giờ thôi!

Ngày nọ…tôi may mắn mua được vé về quê ngoại cùng chồng, nhưng khi lên xe thì nhìn thấy một  cô đang ngồi ở ghế của chúng tôi.Chồng tôi bảo tôi ngồi ở cạnh cô đó và chàng thì đứng. Tôi phát giác chân phải của cô này bị tật..có chút trở ngại, lúc đó tôi hiểu ra tại sao chồng tôi làm như thế. Chồng tôi đứng như vậy từ  Đà Nẵng ra Huế mà không hề đòi lại chỗ của mình.
Khi đến nơi tôi nói với giọng điệu buồn xót xa: “Nhường ghế là việc nên làm, thế nhưng đường quá xa… sao anh không nói cô này luôn phiên đổi chỗ đứng và anh ngồi một lúc chứ?”.

Chồng tôi nhẹ nhàng nói: Cô này bị tật sẽ chịu cả đời.. còn anh chỉ mỏi chân có 3 tiếng thôi mà em!
Nghe chồng nói vậy, tôi quá  xúc động tự nghĩ:” Được chồng vừa tốt bụng vừa lương thiện là mãn nguyện lắm rồi!”.. và lòng tôi trở nên ấm áp thêm nhiều.

Chuyện thứ 4: Luật nhân quả.

Một đêm khuya đầu Xuân, lúc mọi người đều ngủ say thì đôi vợ chồng tuổi đã cao bước vào khách sạn, đáng buồn.. là khách sạn hết phòng.
Nhân viên tiếp tân không đành lòng để cặp vợ chồng này phải lủi thủi tìm khách sạn khác, anh liền dẫn họ vào căn phòng và thưa: “Đây không phải là phòng tốt nhất nhưng ít nhất 2 bác cũng không phải đi tìm nơi khác nữa”.

Cặp vợ chồng thấy căn phòng tuy nhỏ nhưng sạch nên quyết định ở lại.
Hôm sau, khi trả tiền phòng thì anh nói: “Hai Bác không cần trả tiền…vì phòng đó là phòng của cháu! Xin chúc hai Bác có cuộc du lịch vui vẻ”.
Thì ra, anh ta đã ngủ qua đêm tại quầy tiếp tân và  nhường phòng cho họ. Cặp vợ chồng cảm động và nói: “Chàng trẻ à, cậu là nhân viên khách sạn tốt nhất mà chúng tôi gặp…Cậu sẽ được đền đáp”. Chàng trai cười rồi tiễn cặp vợ chồng.. và nhanh chóng quên chuyện này.

Bỗng một ngày, anh ta nhận được bức thư, trong đó có tấm vé đi du lịch New York, chàng xin phép chủ và đi. Khi đến đúng địa chỉ ghi trong thiệp  là căn biệt thự to lớn sơn mầu xanh. À thì ra… 2 người mà anh ta tiếp đón trong đêm khuya đó chính là vợ chồng nhà tỷ phú! Ông bà này còn mua tặng một tiệm rượu lớn  giao cho anh làm quản lý.

Kết luận: NHÂN-QUẢ đều do mỗi người nắm giữ, khi chưa xác định được mục tiêu  của đời.. thì hãy dùng tấm lòng của mình để làm việc gì đó. Mỗi một cá nhân đều là một nhân viên phục vụ, những điều lớn lao đều bắt nguồn từ việc ta phục vụ cho người khác: Phục vụ  người khác nhiều bao nhiêu thì kết quả chúng ta nhận được càng nhiều bấy nhiêu!
Trên đường đời, có lúc ta cười sảng khoái, nhưng cũng có khi buồn đến nhỏ lệ!. Vui lúc thành công.. thì xin đừng tuyệt vọng khi gặp thất bại.
Giàu sang phú quý đến.. thì vui nhưng xin đừng khổ đau buồn chán khi thất bại nghèo túng! Trên  đời không cần điều quá cao, chỉ cần làm việc bằng sự chân thật là đủ:
– Nếu muốn có bạn tốt, thì ta phải đối tốt với người khác.
– Nếu muốn vui vẻ và hạnh phúc, xin hãy cố gắng làm việc thiện giúp người khác, không lâu  bạn sẽ nhận ra mình cũng đầy đủ và sung sướng!
Yêu người, yêu đời, cho đi yêu thương thì nhận lại thương yêu và rồi “nhắm mắt ra đi” trong thương tiếc của nhiều người….




Địa Lý Việt Nam !!

Tran Hung Dao

Đây là một bài viết rất hay của nữ Kiến trúc sư Trần Thanh Vân một người đã trưởng thành và được đào tạo trong chính quyền cộng sản nhưng đã có cách nhìn cao rộng trong sáng với lòng yêu quốc gia sâu xa. Mọi chính thể đều tan biến theo thời gian, chỉ có quốc gia mãi mãi vẫn trường tồn.
Địa mạch Việt Nam: Là một cấu trúc Âm Dương hoàn chỉnh.

Nếu chúng ta dùng cây compa chấm vào điểm giữa bản đồ VN (Miền Trung) khoanh một vòng tròn chúng ta sẽ nhận ra chữ S phân định Âm Dương thật rõ ràng, đó chính là dấu hiệu của Lưỡng Nghi là khởi thủy của vũ trụ “lưỡng nghi sinh tứ trụ, tứ trụ sinh bát quái) đây chính là vùng lãnh thổ mà Người Tầu đã thèm muốn từ mấy ngàn năm qua, từ thời Cao Biền qua chiếm nước ta và trù yểm vào những long huyệt quý hiếm của Việt Nam, nếu trung cộng chiếm được vùng đất có một địa thế cấu trúc âm dương hoàn chình là Việt nam, thì trong tương lai chúng sẽ chiếm luôn thế giới.

Đây là một bài viết rất hay những ai có quan tâm đến tiền đồ dân tộc Việt thì nên đọc bài viết này để mở rông tầm hiều biết. Tôi xin gửi lời cám ơn và ngưỡng mộ KTS Trần Thanh Vân, bài viết của chị đã nói lên bản chất thâm độc của Tầu Cộng và phân tích rõ về yếu tố địa lý phong thủy của nước Tầu và nước Việt Nam rất hay.

 Địa lý VN !

Tôi không ngờ một KTS học lên từ miền Bắc rồi đào tạo ĐH ở Trung Cộng về nước làm việc cho chế độ CS miền Bắc bao nhiêu năm,mà KTS Trần Thanh Vân lại có một tinh thần tự học với tầm suy nghĩ cao rộng kết tinh trong đó lòng yêu nước sâu xa,thật đáng trân trọng biết bao!

Tôi thật ngưỡng mộ chị KTS Trần Thanh Vân!

Xin trân trọng chuyển đến quý bạn hiền 1 bài viết của chị về bản chất của bọn bành trướng Bắc Kinh và về Phong Thủy Địa thế của Việt Nam ! Rất hay và rất tâm huyết!

TTN

Bài này – phần đầu KTS Thanh Vân đã viết từ 2008 -có nhắc nhở bọn Lãnh Đạo khi làm Kỷ Niệm Thăng Long 2010. Cô này về Dịch Lý và Phong Thủy ( 2 kỳ thư của Cổ Trung Hoa – mà các Khoa Học Gia Tây Phương rất ngưỡng mộ – Máy Tính phát sinh từ căn bản Âm Duơng ) rất căn bản và thâm sâu – có ” lòng yêu nước ” rất đáng trân trọng. Cũng như Cô tôi tin Địa Thế của VN về Phong Thủy – duy nhất trên Thế Giới có Hình Tượng ( logo) của Âm Dương: Nếu lấy Compas để tâm điểm là Huế vẽ Vòng Tròn thì chữ S là vạch chia Âm Dương gồm Tứ Tượng : Thái Dương là phần đất liền trong đó có Thiếu Âm là Biển Hồ – Biển Đông là Thái Âm với Đảo Hải Nam là Thiếu Dương!.

 

This is an article written by Architect Tran Thanh Van who has had a lot of experience in the Geology and Structure of the land mass in Asia, i.e. the “Phong Thuy” of China and VN, etc…. Tran Thanh Van believes the reason that China has always wanted to occupy VN is because the Chinese Government thinks that North VN with Ha Long Bay is the tail of a giant Dragon, whose head is the Peak of Himalaya Mountain Ranges. Tibet (Tay Tang) the peak of Fansipan (the Sa-Pa area) and the Northwest VN (the “Bauxit” mines) are parts of this giant Dragon. The Chinese believes that if they take over the control of the land where this Dragon lies, then they can take control of the entire world!….They are now trying to accomplish this ambition!

 

KTS Trần Thanh Vân
TÔI BIẾT GÌ VỀ TRUNG QUỐC?

Lâu nay mọi người vẫn nghĩ rằng tôi là một Kiến trúc sư cảnh quan có hiểu chút ít về phong thủy Thăng Long, âu cũng là chuyện bình thường, cho nên những vấn đề gì liên quan đến phong thủy của Kinh đô Thăng Long xưa và Hà Nội mở rộng ngày nay thì họ hay hỏi tôi, ngoài ra tôi không biết điều gì khác. Tôi cũng tự nghĩ như vậy, nên không muốn chen vào những lĩnh vực nhạy cảm mà tôi không thông thạo như kinh tế, xã hội, đặc biệt là các vấn đề an ninh, chính trị và thời sự quốc tế!

Cách đây vài tháng, khi xây dựng chương mục Địa linh của Chương trình văn hóa 1000 năm Thăng Long, một nhóm nghiên cứu của Ban khoa giáo Đài truyền hình trung ương đến gặp tôi để lấy tài liệu về Địa mạch và Hồn cốt Thăng Long. Giữa chừng câu chuyện, họ hỏi tôi “Chị nghiên cứu đề tài này lâu chưa?” Tôi lưỡng lự giây lát, rồi trả lời họ: “Khoảng chừng đã 55 năm”

– “Cái gì? 55 năm?”
– “Vâng! từ ngày còn là con bé con”.

Thế rồi tôi kể cho họ nghe những câu chuyện khiến tôi phải chứng kiến, phải tìm hiểu từ ngày tôi còn nhỏ.. Vào đại học, tôi làm đơn thi Bách khoa vô tuyến điện hoặc Tổng hợp Lý toán, nhưng lại bị phân công theo ngành Kiến trúc. Sau này, tôi học phong thủy cho biết để hành nghề kiến trúc sư, càng ngày tôi càng ý thức được đó là cái nghiệp đời người của tôi. Vâng, đúng là nghiệp đời người đặt tôi vào tình huống liên tiếp phải va chạm với những sự thật và tôi không thể không theo đuổi đến cùng sự thật đó. Xin nhắc lại rằng kiến thức của tôi bắt nguồn từ những sự thật, từ những điều mắt thấy tai nghe, không phải từ lý thuyết.

Sự thật và trải nghiệm

Tôi xin mở đầu câu chuyện nghiêm túc này bằng mối “quan hệ” của tôi với vấn đề Trung Cộng mà tôi sắp kể ra, đó là lý do thôi thúc tôi phải đi sâu tìm hiểu bản chất của mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Trung Hoa này. Có thể có những nhà nghiên cứu chiến lược lâu năm có cách nhìn khác và chưa công nhận những điều tôi sắp nói, nhưng với trách nhiệm của một công dân, một người con đất Việt, tôi như là một nhân chứng có thể khẳng định rằng ít ai có cơ hội để “hiểu” Trung Cộng hơn tôi. Cho nên, dù đã có thời gian dài tôi tránh nhắc tới những chuyện đó, nhưng càng tránh tôi càng thấy phải nói ra hôm nay để mọi người cùng biết.

Đúng vậy, tôi không chỉ từng có kỷ niệm 5 năm du học ở Thượng Hải, cái thời mọi người hay hát “Việt Nam – Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông / Chung một Biển Đông, thắm tình hữu nghị…”; trước đó tôi đã có hai kỷ niệm sâu đậm và rất hãi hùng liên quan đến Trung Quốc.

 

       Kỷ niệm thứ nhất: Cải cách ruộng đất năm 1953

Ngày ấy tôi còn nhỏ lắm. Vùng quê ngoại Đức Thọ Hà Tĩnh, nơi chúng tôi theo mẹ tản cư về đã hết yên ổn của vùng tự do thời kháng chiến và bắt đầu chịu cảnh máy bay bắn phá. Nhưng, cuộc “bắn phá” tàn khốc hơn lại chính là những cuộc đấu tố địa chủ và Việt gian phản động trong mọi làng xã ở Hà Tĩnh lúc bấy giờ. Ông ngoại tôi là một thầy thuốc Đông y giỏi có tiếng, chuyên nghề xem mạch bốc thuốc và ông tôi đã cứu sống nhiều người nên được dân trong vùng nể trọng gọi bằng thầy. Tiền bạc chắc chẳng có nhiều, nhưng mùa nào thức nấy, trong nhà ông ngoại tôi không bao giờ thiếu của ngon vật lạ do gia đình bệnh nhân mang đến tág¡ ơn cứu mạng như rổ lạc đầu mùa, cân đỗ xanh, thúng gạo nếp, mớ khoai lang, nải chuối chín, có khi còn có cả con gà sống thiến hay chục trứng tươi… Nhà chỉ có hơn một mẫu ruộng, ông ngoại tôi giao hẳn cho mấy người bà con trong họ trồng cấy và không thu tô, nhưng trong CCRĐ ông tôi vẫn bị quy là địa chủ, mà là địa chủ cường hào.

Mẹ tôi nguyên gốc là cô gái làng dệt lụa Tùng Ảnh ở Đức Thọ, đã theo ông ngoại ra sinh sống ở Hà Nội nhiều năm và có cửa hàng bán tơ lụa ở Hà Nội. Đêm toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, mẹ tôi đã bỏ lại hết nhà cửa và tài sản, đưa chúng tôi tản cư về Đức Thọ Hà Tĩnh, vận động nhiều nữ thanh niên bỏ nghề dệt lụa, xây dựng một nghề mới là xe sợi, nhuộm sợi và đan áo rét cho bộ đội. Cặm cụi làm việc đó, mẹ tôi vừa nuôi sống cho gia đình và bản thân, vừa đóng góp tích cực cho kháng chiến. Tôi còn nhớ bài hát “Áo mùa đông” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác vào những ngày đó: “Gió bấc heo may / xào xạc rung cây lá lá bay / một mùa đông bao người đan áo…” chính là nói về công việc của mẹ tôi và các chị, các cô trong Hội phụ nữ kháng chiến cứu quốc. Vào những ngày đó, ở vùng tự do nghèo nàn Thanh Nghệ Tĩnh làm gì có len để đan áo, sáng kiến xe sợi bông, nhuộm sợi thành các màu xanh, màu nâu, màu cỏ úa rồi đan thành áo gửi ra chiến trường, đã được ca ngợi như một chiến công lớn.

Nhưng trong CCRĐ thì công cũng thành tội, có một người bạn thân hồi nhỏ của mẹ tôi là Bí thư bộ xã đã treo cổ tự tử vì bị truy bức quá, lập tức mẹ tôi bị gán tội là trùm Quốc dân đảng đã giết ông Bí thư đó để bịt đầu mối hoạt động gián điệp và mẹ tôi liền bị lôi ra đấu tố. Cay đắng hơn cả là người được Đội cải cách bôì dưỡng để đứng lên đấu tổ mẹ tôi hăng nhất lại là một bà bạn cũng tản cư từ thành phố về và đã được mẹ tôi đưa vào tổ đan áo binh sĩ.

 

Cha tôi đang ở vùng ATK của chiến khu Việt Bắc nghe tin đó thì hoảng hốt, vội vào Hà Tĩnh đón chị em tôi lên Việt Bắc để lánh nạn. Vừa đặt chân đến Chợ Chu – Định Hóa – Thái Nguyên thì tôi được nghe câu chuyện họ vừa xử bắn bà Nguyễn Thị Năm ở thôn Đồng Bẩm huyện Đại Từ. Một vụ xử bắn oan nghiệt đối với một người phụ nữ từng có công lớn mà đến nay mọi người vẫn còn nhớ.

Trong các xó xỉnh của Việt Bắc hôì đó, người ta bàn tán về hoạt động của các chuyên gia Trung Quốc sang giúp ta kinh nghiệm phát động quần chúng đấu tranh giảm tô và đòi ruộng đất về chia cho dân cày mà Việt Bắc và vùng tự do Liên khu 4 được chọn làm điển hình.

Sau này, khi ông ngoại tôi đã mất rồi, đại gia đình có dịp gặp nhau ôn lại chuyện cũ, mọi người đều bảo nhau hãy nén lòng quên nỗi đau buồn đó đi.

     Kỷ niệm thứ hai: Trời phạt

Chưa hết hoang mang về chuyện bức hại chém giết lẫn nhau trong CCRĐ, thì chúng tôi được ném vào “Trận đồ bát quái” của tháng hữu nghị Việt – Trung – Xô.

 

Liên Xô thì ở tận đẩu tận đâu xa xôi lắm, nhưng Trung Cộng thì ở ngay bên cạnh. Suốt ngày hễ gặp nhau ngoài đường dù chưa quen biết là người ta cũng liền nắm tay nhau hát múa rộn ràng. Hòa bình lập lại, Chính phủ về tiếp quản Thủ đô, thì trên đường phố Hà Nội cũng xuất hiện rất nhiều chuyên gia Trung Cộng. Còn nhỏ xíu nhưng tôi dễ dàng nhận ra họ vì cái áo kiểu Tôn Trung Sơn rộng thùng thình dài đến gần đầu gối, cái quần xanh công nhân cũng rộng thùng thình và cái mũ lưỡi trai bằng vải cũng mầu xanh như vậy. Tòa dinh thự hoành tráng của Hoàng Trọng Phu trước Vườn hoa Canh nông và các biệt thự kế tiếp trên phố Hoàng Diệu và phố Khúc Hạo trở thành Đại sứ quán và khu dành riêng của người Trung Cộng. Mỗi buổi sáng sớm họ đứng kín nửa Vườn hoa Canh nông tập thể dục và hô “I, ơ, xan, xư” ầm vang khu phố Cột Cờ.

Ngày đó gia đình tôi ở gần kề các Đại sứ quán. Là con bé mới học đến cấp 2, tôi không thể hiểu nổi những chuyện đã xẩy ra, nhưng tôi có thói quen ghi nhật ký. Đến tận bây giờ tôi vẫn còn giữ được những trang nhật ký trẻ thơ ghi tỷ mỷ kỷ niệm về lễ mít tinh ngày 1/1/1955 nhân dân Thủ đô chào đón T.Ư Đảng và Chính phủ từ Việt Bắc trở về, đặc biệt trong cuốn nhật ký cũ ấy, tôi có ghi lại kỷ niệm về một người con gái Trung Cộng tên là Khương Nãi Tuệ, chị ta được tôi tặng hoa và tặng khăn quàng đỏ trong buổi chiêu đãi Đoàn văn công Tề Tề Cáp Nhĩ do Chủ tịch UBND thành phố Trần Duy Hưng tổ chức tại Cung thiếu nhi Hà Nội tối hôm 10/9/1955 và cả câu chuyện chiều hôm sau, ngày 11/9/1955, chị Văn công Khương Nãi Tuệ bị chết trong cơn lốc Hồ Tây, khi chị ta đang đóng vai Sen Chúa trong điệu Múa Hoa Sen, trên chiếc sân khấu ghép tạm cạnh Đầm Trị – Phủ Tây Hồ.

 

Khương Nãi Tuệ chết, mang theo chiếc khăn quàng đỏ do tôi tặng. Cùng chết trong tai nạn đó còn có nghệ sĩ thổi sáo Phùng Tử Tồn và hai người nữa.. Mộ của họ mai táng ở nghĩa trang Bất Bạt huyện Ba Vì…

Sau cơn lốc khủng khiếp đó, tôi hay rơi vào tâm trạng ngẩn ngơ vì luyến tiếc chiếc khăn quàng đỏ thì ít mà vì sợ hãi như thể tôi có liên can tới cơn lốc làm lật úp ba chiếc thuyền và hại chết cô nghệ sĩ múa thì nhiều, nên tôi hay đi lang thang nghe ngóng chuyện người lớn. Rất nhiều câu chuyện nhỏ to đập vào tai tôi về một âm mưu yểm huyệt Hồ Tây nhưng bất thành và những người tham gia vào âm mưu đó đã bị Trời phạt. Ngày đó Trung Cộng và Việt Nam thân nhau lắm, nên người ta chỉ dám xầm xì nửa kín nửa hở và một cô bé con như tôi không sao hiểu nổi thứ tình hữu nghị quái gở gì mà “người bạn lớn thân thiết” lại tìm mọi cách làm hại “đứa em tội nghiệp” vừa thoát khỏi chiến tranh chống Pháp và đang rơi vào cuộc chiến tranh chống Mỹ?

Mấy chục năm sau, để giải tỏa tâm lý cho tôi quanh chuyện chiếc khăn quàng đỏ, nhà ngoại cảm Phan Oanh làng Xuân Đỉnh tặng tôi một bài thơ dài, trong đó có mấy câu: “Tâm con trẻ hồn nhiên không xấu / Dấu nhà Trời ai thấu được đâu / Một dải khăn đào kết một cái cầu / Để hồ thẳm nước sâu / Bà là nhịp cầu giữ yên non nước…”.

Du học ở Trung Cộng

 

Tuổi trẻ hồn nhiên với nhiều ham thích đã có lúc cuốn hút tôi, khiến tôi tạm quên đi cảm giác hoang mang lẫn sợ hãi hồi nhỏ.

Năm 1960 tôi tốt nghiệp phổ thông trung học, được miễn thi đại học, tôi được cử đi học ngoại ngữ để sang Trung Cộng theo học ngành kiến trúc. Niềm háo hức khiến tôi và các bạn cùng lứa sung sướng trong cảnh được “ăn cơm Bác Mao”, được chăm sóc dạy dỗ ân cần, lúc ốm đau được đầu bếp nấu những món ăn theo ý thích rồi mang đến tận phòng riêng phục vụ tận tình.

Những năm tháng đó, mọi sinh hoạt vật chất và tinh thần của chúng tôi đều được chăm sóc đặc biệt. Học Kiến trúc thì được học vẽ mỹ thuật trong 3 năm đầu, học kỳ nào chúng tôi cũng được thầy giáo là một hoạ sĩ danh tiếng dẫn đi vẽ dã ngoại ở các khu danh lam thắng cảnh cách Thượng Hải hàng trăm cây số, như các thành phố Hàng Châu, Vô Tích, Tô Châu và ở hẳn đấy vài tuần. Ông họa sĩ già hai bàn tay lấm mầu nhem nhuốc tận tình hướng dẫn chúng tôi cầm bút lông chấm phá các mảng mầu xanh đỏ, còn vợ ông thì đi theo chăm sóc chồng và cần mẫn gọt những trái lê trái táo bê đến từng góc vườn chia cho đám học trò chúng tôi. Ngoài ra, những ngày ở trong trường chúng tôi luôn luôn được hưởng ưu đãi hơn người, riêng tôi vì ham thích âm nhạc nên còn được giữ chìa khoá một căn phòng có chiếc Piano sang trọng để tự do luyện tập. Đó là những thứ mà khi ở nhà với cha mẹ, tôi chưa bao giờ dám mơ tới.

Chưa bao giờ tôi tự đặt cho mình câu hỏi: “Có phải họ đang vỗ béo chúng tôi để sau này về nước chúng tôi sẽ trở thành hạt giống cho họ gieo mầm bành trướng phá hoại đất nước mình hay không?” Chưa bao giờ tôi tự hỏi như thế cả, nhưng trong lòng không thể không gợn lên những thắc mắc vô cớ. Tôi biết Trung Cộng ngày đó còn nghèo lắm, các bạn sinh viên Trung Cộng phải ăn ở chen chúc trong những căn phòng chật chội của ký túc xá, bữa cơm của họ chỉ có chiếc bánh bao không nhân, một bát cháo hoa loãng và vài miếng ca-la-thầu.

Ngược lại tôi và chị bạn gái người Sài Gòn tập kết thì được hai cô bạn người Thượng Hải nữa ở cùng trong một ngôi nhà dành riêng cho giáo viên và trợ giảng. Đó là một tòa nhà 2 tầng có nhiều phòng, chúng tôi ở tầng hai cùng các giáo viên nữ, còn tầng một dành cho giáo viên nam. Đã là giáo viên và trợ giảng đại học, nhưng họ còn rất trẻ và đều chưa có gia đình riêng. Tôi hay lui tới thăm nom họ và ái ngại thấy họ sống rất đạm bạc. Hóa ra họ phải nhịn ăn nhịn mặc để nuôi chúng tôi. Tôi phát hiện biết có một thầy giáo bị bệnh gan và tiểu đường rất cần bồi dưỡng nhưng tiêu chuẩn tem phiếu không đủ cung cấp, thầy luôn luôn bị ngất xỉu, thấy vậ­y tôi hay đi mua thêm các thức ăn mang đến biếu thầy. Chúng tôi trở thành người thân của các thầy cô giáo. Có những buổi chiều ngày thứ 7, khi 2 cô bạn Thượng Hải đã về nhà, tôi và chị bạn Sài Gòn xuống ghế đá trên vườn hoa ngồi hóng gió, thì các thầy cô giáo lân la đến bên chúng tôi, họ tâm sự, chuyện trò và cho chúng tôi biết rất nhiều chuyện bí mật trong trường và trong xã hội, tôi có cảm giác như đất nước này sắp có đại loạn.

Rồi đại loạn đến thật, cách mạng văn hóa nổ ra, đại đa số học sinh trung học và sinh viên đều bỏ học, xuống đường tham gia Hồng vệ binh. Chúng tôi phải chứng kiến cảnh suốt ngày Hồng vệ binh đi phá phách, hò hét, rạch quần áo, cắt tóc người qua đường và báo chữ to xuất hiện khắp mọi nơi. Thê thảm hơn là chính mắt chúng tôi được chứng kiến các Giáo sư trong trường đã từng giảng dạy chúng tôi tận tình, bị làm nhục ngay trong sân trường bằng cách phải đeo các biểu ngữ bằng giấy báo dán trên lưng hoặc đội những chiếc mũ có chóp nhọn, ghi những dòng chữ tục tĩu.

Là một đứa con gái xuất thân trong một gia đình có nền giáo dục truyền thống ở Việt Nam, tôi không sao chấp nhận nổi thứ triết lý cách mạng cho phép học trò đấu tố thầy, hành hạ và sỉ nhục thầy như vậy. Nhận thức về một nước Trung Hoa có truyền thống văn hóa lâu đời, hơi phong kiến một chút, nhưng rất nề nếp và rất có kỷ cương đã hoàn toàn sụp đổ trong tôi. Đây là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi phải chứng kiến hiện tượng vô đạo và bất nhân đáng sợ đó. Rất lâu về sau tôi vẫn không thể hàn gắn được vết thương như những nhát chém trong tim mình, về hình ảnh những Giáo sư đáng kính của chúng tôi bị hành hạ lên bờ xuống ruộng bởi chính những người bạn sinh viên đã từng học tập ca hát bên chúng tôi. Trong số đó, tôi biết, có người không muốn hành xử đê tiện như vậy, nhưng nếu họ đi ngược lại phong trào chung, thì chính họ bị lôi ra đấu tố.

 

Chúng tôi rất sợ bị liên lụy nên nín lặng quan sát và nhìn nhau thầm hỏi: “ Họ đang cắn xé nhau, đến bao giờ thì họ cắn mình đây?”

Đó là giữa năm 1966, đúng lúc chúng tôi làm xong đồ án tốt nghệp, trường học gần như không hoạt động, chúng tôi không được bảo vệ luận án tốt nghiệp mà chỉ được cấp bằng có đóng dấu nhưng không có chữ ký. Chúng tôi khăn gói vội vàng rút về nước. Tất cả bạn học và thầy giáo đã bị đưa đi ra khỏi trường, một số đi lao động quản thúc ở vùng nông thôn nào đó, một số khá đông đang là Hồng vệ binh ngày ngày đi đập phá hò hét hoặc đả đảo ai đó. Cảnh Trường đại học Đồng Tế, ngôi trường được xếp loại nhất nhì Trung Cộng, do người Đức thành lập đã gần 100 năm trở nên hoang vắng buồn thảm đến lạnh sống lưng. Giáo sư nổi tiếng Lý Đức Hóa, người từng được nhiều giải thưởng Quốc tế và bà vợ Bác sĩ người Đức của ông không biết đã trôi dạt đi đâu? Lúc chúng tôi lên xe để ra ga về nước, chỉ có mấy ông bà cấp dưỡng từng chăm sóc bữa cơm hàng ngày lặng lẽ gật đầu đưa tiễn chúng tôi, mắt họ rơm rớm lệ.

Đến lúc đó thì tình cảm trong tôi hoàn toàn mất phương hướng và tôi thực sự hiểu rằng người dân lao động Trung Cộng rất tốt, giới trí thức Trung Cộng cũng thật tốt, các bạn học của tôi cũng tốt lắm. Nhưng các nhà cầm quyền? Tôi không sao hiểu nổi các nhà cầm quyền và thứ “tình hữu nghị” mà suốt ngày họ ra rả trên đài phát thanh và trên báo chí. Tôi rất muốn tìm hiểu xem cái gì là động lực thúc đẩy họ? Nhưng điều đó nằm ngoài khả năng của tôi.

Chúng tôi rời Thượng Hải buồn bã và vội vàng như ma đuổi…

Thời kỳ đã trưởng thành

Chúng tôi về đến nhà đúng vào lúc máy bay Mỹ đang đánh phá Miền Bắc ác liệt. Không khí cả nước có chiến tranh cuốn hút chúng tôi, khiến chúng tôi tạm quên đi những cảm giác khó chịu của những ngày cuối cùng sống trên đất Thượng Hải. Ngày ấy sinh viên từ nước ngoài về vẫn chưa nhiều, nên hôm đầu tiên về nhận công tác ở Bộ Kiến trúc, chúng tôi đã được Bộ trưởng Bùi Quang Tạo đón tiếp ân cần. Bộ trưởng khuyên chúng tôi vứt bỏ lối sống cậu ấm cô chiêu ở nước ngoài và sớm thích nghi với khẩu hiệu “Ba sẵn sàng” của thanh niên thời chiến.

Sau đó, mỗi người đến nơi sơ tán ở các làng quê theo địa chỉ riêng của từng đơn vị công tác. Viện Quy hoạch đô thị của tôi ở huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên.

Vĩnh Tường của bà Hồ Xuân Hương rất đẹp, nhưng chỉ đẹp ban ngày. Còn đêm đến, khi ngồi tư lự một mình bên ngọn đèn dầu trong nhà dân, những ký ức thời trẻ thơ và những kỷ niệm ở Thượng Hải lại ập về khiến tôi suy nghĩ nhiều lắm.

Lúc này đã đủ lớn để có những chính kiến của riêng mình, nhưng tôi không thể nói ra với ai. Tôi ở cùng nhà với mấy chị tốt nghiệp ở thành phố Kiev về, chúng tôi quý nhau và luôn giúp đỡ nhau, còn “Liên Xô xét lại” và “Trung Cộng giáo điều” thì mặc kệ họ, miễn là họ vẫn đang giúp ta những chiếc máy bay Mic bay trên bầu trời và những phong lương khô để chống đói.

Dù sao, 5 năm ở Thượng Hải cũng để lại cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp hơn kỷ niệm xấu, tôi cố tự lý giải rằng sự cố đã xẩy ra là do sự quá đà của một nhóm người hãnh tiến nào đó. Khoảng 10 năm tiếp theo, không thể liên lạc thư từ với bạn học cũ, nhưng tôi theo dõi và nuôi trong lòng chút hy vọng đổi thay của một đất nước đã nuôi tôi ăn học thời sinh viên, ở đó tôi từng có những thầy giáo và bạn học thân thiết. Khi nghe tin ông Đặng Tiểu Bình được phục chức, tôi những tưởng tình hình sẽ khá hơn, nhưng tôi chưa kịp mừng thì liền xẩy ra cuộc tấn công biên giới đầu năm 1979 do ông Đặng Tiểu Bình chỉ huy để “Cho Việt Nam một bài học”. Không chỉ có thế, mười năm sau lại thấy cuộc tàn sát đẫm máu nội bộ của Sự kiện Thiên An Môn cũng do Đặng Tiểu Bình chỉ huy, tôi thực sự thất vọng và hiểu rằng những người cầm đầu nhà nước Trung Cộng thời nào cũng vậy, họ chống nhau, phá nhau chỉ vì tranh cướp quyền lực và càng lộ rõ thói cường quyền, tàn bạo kiểu thời Trung cổ của họ mà thôi.

Trung Quốc hôm nay?

Sau 60 năm thành lập nước CHND Trung Hoa, chẳng tìm hiểu kỹ thì ai cũng biết Trung Cộng đã thay đổi rất nhiều và rất đáng kính nể. Tuy vậy, khi tôi trở lại thăm trường cũ, thăm thầy giáo và thăm bạn học cũ, thì tôi hiểu: ngoài bộ mặt hào nhoáng đầy khí thế của một Trung Cộng đại nhảy vọt mà họ đang ra sức quảng bá, vẫn còn có một Trung Cộng khác rất âm thầm, u uất và đau đớn của tầng lớp trí thức và những người dân lương thiện ở trên khắp nước Trung Hoa đã từng bị chà đạp, bị sỉ nhục và chịu nhiều đắng cay trong nửa thế kỷ qua. Tầng lớp này không ít đâu, con số có thể đến hàng trăm triệu hoặc hơn và đang sống trên khắp miền của đất nước họ. Chính quyềện tại đang áp đảo họ, khiến họ phải câm lặng, nhưng chính quyền không thể thu phục được lòng họ và họ sẽ bùng lên bất cứ lúc nào.

Đến Thượng Hải, tôi thấy Thượng Hải thay đổi rất nhiều. Nhưng khi tôi về thăm trường cũ, đến thăm thầy cô giáo cũ vẫn đang sống trong “Đồng Tế tân thôn” bên cạnh trường và thăm nhà riêng một vài bạn học cũ, tôi thấy một cuộc sống khác hẳn. Họ rất nghèo nàn và thật khắc khổ. Có bạn vừa gặp tôi, liền ôm hai vai tôi và khóc nức nở. Đây không phải vì họ cảm động, vì mừng vui hội ngộ sau nhiều năm xa cách. Họ khóc vì gặp lại chúng tôi là gặp lại nhân chứng của một thời nhục nhã và đáng xấu hổ. Tôi đọc được tình cảm đó khi tôi xem bộ phim truyện “Nghiệp chướng” nói về những éo le và mất mát đeo đẳng suốt đời lớp thanh niên trí thức Thượng Hải, trong đó có rất nhiều người từng là bạn tôi. “Nghiệp chướng” là cái giá rất đắt mà những người cầm đầu đất nước này đã gây ra cho bao gia gia đình trí thức để rồi đến lúc họ sẽ phải trả. Một người bạn tôi nói vơí tôi: “Tôi từng là Hồng vệ binh và đang là nạn nhân của Hồng vệ binh suốt đời. Đó là lũ con tôi, cháu tôi hôm nay”.

Có trong tay cuốn địa chỉ và số điện thoại của bạn cũ ở khắp nơi, chúng tôi đã dành ra gần 2 tháng đi thăm bạn và để quan sát sự thay đổi của nước Trung Hoa. Nhưng khắp Trung Cộng hôm nay, ngoài những người rất câm lặng, rất đau khổ như tôi vừa nói, còn lớp người Trung Cộng thứ ba đang vừa là chỗ dựa vừa là gánh nặng uy hiếp Nhà nước Trung Cộng: Bọn này đông lắm. Đó là lũ lưu manh mạnh vì gạo bạo vì tiền. Đáng tiếc, các vị trong chính quyền Nhà nước Trung Hoa đã từng có thói quen dùng bọn lưu manh này làm “chỗ dựa” để đối phó với các lực lượng thù địch, nhưng khi không cần nữa hoặc không sử dụng được nữa thì họ tiêu diệt “chỗ dựa” đó đi.

Tôi nhớ lại ngày chúng tôi chuẩn bị về nước năm 1966, bà Giang Thanh nổi lên oai phong y như Võ Tắc Thiên ngày xưa, cạnh bà có 3 kẻ thân cận là Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên và Trịnh Xuân Kiều, tạo thành một “Bộ tứ trụ” điều khiển gần một tỷ dân. Nhưng thời nay còn có rất nhiều người cao thủ hơn bè lũ bốn tên thời đó. Thời nay có các băng đảng lưu manh kết hợp với công an và chính quyền hình thành hệ thống Mafia ở khắp mọi nơi. Sự kiện triệt phá Mafia ở thành phố Trùng Khánh vừa qua là một thí dụ. Không thể tin được trong một đô thị hiện đại của một quốc gia hùng mạnh mà bọn lưu manh côn đồ bị truy bắt trong một đợt đã lên đến ngót 2000 tên, trong số đó có cả Giám đốc Sở Tư pháp và nhiều sĩ quan công an.

Cuôí cùng, có thể quan sát “Trung Cộng hùng cường hôm nay” bằng cách quan sát những người Trung Cộng đang xuất hiện ở Việt Nam ngày càng nhiều với vai trò lao động chui. Những người này có thể vì đói khát quá hoặc vì đã là tội phạm bị giam cầm lâu quá, nay được đưa sang đây để sống cuộc đời phá phách, trộm cắp, lừa đảo và để tìm cách lấy vợ sinh con và sẽ là lực lượng nằm vùng nội ứng cho các cuộc tấn công của quân chính quy sau này.

Lũ người này có đáng sợ không? Làm cách nào để dẹp chúng? Thiết nghĩ mọi người đều hiểu.

TÔI HIỂU GÌ VỀ TRUNG QUỐC?

Sau khi đã biết quá rõ mục tiêu truyền kiếp của nhà cầm quyền Trung Hoa suốt mấy ngàn năm là trấn áp nội bộ, tranh chấp quyền lực và chiếm bằng được đất nước ta, tôi quyết định xin về hưu từ năm 1992 với nhiều lý do riêng, một lý do trong đó là muốn tập trung thời gian vào nghiên cứu các lý thuyết về phong thủy địa mạch, thứ lý thuyết mà từ năm 1955 tôi đã “không may” bị tận mắt chứng kiến.

Chúng ta phải cám ơn các nhà truyền giáo Phương Tây, đặc biệt là các giáo sĩ Bồ Đào Nha có công đầu về việc sử dụng chữ gốc La-tinh để phiên âm tiếng Việt trong việc truyền đạo vào nước ta ở thế kỷ XVI-XVII như Francisco de Pina, đến người biên soạn cuốn từ điển Việt-Bồ-La đầu tiên là Alexandre de Rhodes (1651) và nhất là người có công hoàn chỉnh chữ quốc ngữ ở thế kỷ XIX để trở thành chữ viết chính thống của nước ta đầu thế kỷ XX là Bá Đa Lộc – Pierre Joseph Georges Pigneau de Béhaine. Cám ơn các vị Giáo sĩ đã góp phần giúp ta thoát ra khỏi ảnh hưởng của văn hóa nô dịch Trung Hoa. Nhưng đây cũng là một sơ hở khiến lớp trí thức trưởng thành trong thế kỷ XX đã lãng quên một số cơ sở quan trọng của khoa học Phương Đông, trong đó có Phong thủy, Địa mạch và Kinh Dịch.

 
Sau 17 năm nghỉ việc ở Bộ Xây dựng, tôi đã cố bù lại những lỗ hổng mà lớp trí thức ở lứa tuổi của tôi đã mắc phải. Lúc này tôi đã có nhiều thời gian để hiểu rõ trong cấu trúc phong thủy địa mạch của nước ta có một thứ mà nhà cầm quyền Trung Cộng rất thèm muốn. Họ thèm muốn vì họ không có và họ hiểu rằng làm chủ được cái đó là họ chiếm được nước ta và chiếm được nước ta là họ làm chủ được cả thế giới. Tôi nói nhà cầm quyền thèm muốn chứ không phải nhân dân, bởi vì thực hiện mộng bá quyền, người dân lương thiện Trung Cộng không hề được hưởng lợi.

Hệ Địa mạch nước Trung Hoa: Chiếc bánh sandwich

Một đất nước rộng lớn mà các lớp đất, đá, núi, sông… chồng xếp thành từng lớp như cái bánh sandwich
                 Nước Trung Hoa hình quẻ chấn 

Theo phân tích và tổng kết hệ thống đã công bố tháng 5/2005 của KTS Lý Thái Sơn, thì đó là một thứ liên kết rời rạc của hệ Tam đại càn long sẽ bị trôi tuột đi bất cứ lúc nào, đó là một nước Trung Hoa có các khu vực Bắc Hoàng Hà, khu kẹp giữa Hoàng Hà và Trường Giang, khu Nam Trường Giang, tạo thành một quẻ Chấn gồm hào một liền và hào hai gãy, hào ba gãy có nghĩa là sấm sét, không ổn định, dễ vỡ tung; cũng như khu Đông và khu Tây là hai vệt thẳng đứng, không có mối quan hệ về kinh tế, phong tục tập quán, sắc tộc và có thể tách ra thành 4 hoặc 5 quốc gia độc lập.
Mặt khác, ngay cả đến dân tộc Đại Hán cũng là kết quả của một quá trình chiến tranh và đồng hóa lẫn nhau, vì người Hán nguyên gốc rất ít, nhưng người ta có chính sách cưỡng chế người dân tộc khác biến thành người Hán, nên họ bị phản đối và ở nước Trung Hoa chưa bao giờ hết nội chiến. Ở Trung Hoa không có hai chữ “ĐỒNG BÀO” và trên đất nước này không có cụm từ sức mạnh đoàn kết toàn dân.. Hiện nay không chỉ Đài Loan là quốc gia độc lập mà Tây Tạng, Tân Cương, Hồng Kông, Ma Cao… đang như các quốc gia bị Bắc Kinh đô hộ. Nếu tách được ra thì các quốc gia đó sẽ giàu có và trù phú hơn nhiều. Còn Bắc Kinh thì luôn phải dùng biện pháp đàn áp. Họ đã đàn áp ở ngay giữa Thủ đô như sự kiện Thiên An Môn năm 1989 và đàn áp dã man các vùng xa xôi như  Tây Tạng, Tân Cương trong năm 2008 và 2009.

Tuy vậy, các thế hệ cầm quyền Trung Hoa từ thời cổ đến nay đều đã nghiên cứu kỹ phong thủy địa mạch và họ ý thức được rằng có một cách vãn hồi được điểm yếu cấu trúc trượt của chiếc bánh sandwich là phải làm chủ đường kinh mạch lợi hại đi từ đỉnh Everest cao gần 9000m của dãy Hymalaya qua cao nguyên Tây Tạng, qua cao nguyên Vân Nam, qua đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, xuống vịnh Hạ Long rồi đi đến đáy đại dương sâu nhất thế giới gần 11Km ở vịnh Mindanao Philippin. Đó cũng là mạch đất độc đáo nối từ “Cổng Trời” đầy thiên khí đến “Địa Huyệt” đầy của cải có độ cao chênh nhau ngót 20Km và là đường kinh mạch quan trọng nhất thế giới. Nếu họ làm chủ được đường kinh mạch này thì không những họ có gọng kìm xiết chặt chiếc bánh sandwich đó, không cho nó trôi trượt đi, mà họ còn có thể mau chóng làm chủ cả thế giới. Bởi vậy, lúc này họ đang cố sức “củng cố nơi họ đã là chủ và chiếm thêm nơi họ chưa chiếm được” để thực hiện ước nguyện bá chủ toàn cầu.

* Sau hàng ngàn năm với nhiều thủ đoạn, cao nguyên Vân Nam rộng 390.000Km2 có 26 dân tộc đến nay đã bị họ khống chế hoàn toàn, người dân tộc Di, dân tộc Choang mỗi ngày một ít, người Hán đã di cư về đây trên 20 triệu và thành phố Côn Minh hiện đại hơn ba triệu dân ngày nay là thành phố của người Hán (người Hán thật thì ít, người Hán mới bị đồng hóa thì nhiều).

* Ngược lại, khu tự trị Tây Tạng, nóc nhà của thế giới và là Thủ đô của Đạo Phật, vốn là một quốc gia độc lập văn minh, đã bị chính thức lệ thuộc vào Trung Hoa từ năm 1914 đến nay. Thật xấu hổ và nhục nhã cho một cho một chính thể, một Nhà nước suốt ngày hô hào “đoàn kết các dân tộc” lại đang đàn áp và hủy diệt người Tây Tạng, đập phá chùa chiền đến mức người đại diện cho Đạo Phật và là linh hồn của dân tộc Tạng là Đức Đa Lai Lạt Ma phải đi lưu vong, việc đó đã khiến Ấn Độ và các quốc gia Tây Á không thể làm  ngơ và đang ở bên dân tộc Tạng. Điều đó cũng có nghĩa là Nhà nước Trung Cộng sẽ không thể đạt được cái họ muốn (Tây Tạng).
Cung điện Tây Tạng Potola

Còn ở Việt Nam chúng ta? Lịch sử bốn ngàn năm của nước ta là lịch sử chống ngoại xâm. “Ngoại xâm” đây là chỉ giặc Phương Bắc, bởi vì Phương Đông, Phương Tây và Phương Nam gần như không có. Hơn hai ngàn năm qua thì giặc ngoại xâm đã bị chỉ đích danh những những nhân vật cụ thể như Triệu Đà, Mã Viện, Cao Biền… Bởi thế ta rất cần biết tại sao họ quyết chiếm nước ta và tại sao họ không thể chiếm nổi?

Địa mạch Việt Nam: Khúc quan trọng trong địa mạch toàn cầu

Trong quá trình địa kiến tạo vỏ trái đất, có những nếp gấp lớn tạo ra dãy núi cao đóng vai trò đường kinh mạch trọng yếu xuyên qua nhiều quốc gia như phần trên đã phân tích. Sau Tây Tạng, Vân Nam, thì đồng bằng Bắc Bộ nước ta là phần rất quan trọng của mạch đất này (đọc Đại địa mạch quốc gia). Dãy Hymalaya chạy vòng vèo như hình con rồng lớn, đoạn đến nước ta là dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh Phan Xi Pan cao 3143m, đến Việt Trì mạch đất lặn xuống, tỏa ra và qua sông Đà lại xuất hiện cụm Ba Vì cao 1226m, điểm nhấn của THĂNG LONG NÚI CHẦU SÔNG TỤ. Trước khi Vua Lý Thái Tổ chọn nơi này dựng Kinh đô Thăng Long thì người Trung Hoa đã dòm ngó vùng đất kỳ bí này và Cao Biền tấu thư kiểu tự là một trong những kết quả tìm kiếm công phu nhất. Theo báo cáo của Cao Biền, một người tài giỏi gốc Mãn Châu thì vùng đất nhỏ bé này tụ hội rất nhiều linh khí đất trời và sản sinh ra nhiều hiền tài, ông ta tìm thấy 632 huyệt chính, huyệt phát đế và 1617 huyệt bàng, huyệt phát quan, nên một mặt ông ta theo lệnh vua Đường Y Tông yểm phá các báu huyệt để tiêu diệt hiền tài của nước ta, mặt khác ông ta hiểu giá trị của vùng đất này, nên đã xây thành Đại La, mưu đồ thực hiện mộng bá vương và đã bị vua Đường trị tội.. Âm mưu yểm huyệt Thăng Long chưa bao giờ ngơi nghỉ trong đầu các nhà cầm quyền Trung Hoa và hành động thô bạo ngày 11/9/1955 mà tôi vô tình chứng kiến có làm cho họ thận trọng hơn.

Hiện nay họ biết không thể ngang nhiên đổ bộ vào Thủ đô, họ đi vòng vèo từ phía Tây qua Lào, qua Cam pu chia và họ đang chiếm Bauxite Tây nguyên, còn tại Trung tâm Thủ đô, họ đang nhờ bàn tay nào phá Thủ đô của ta? Tinh ý, chúng ta sẽ biết.

Địa mạch Việt Nam: Vùng Biển Đông, yết hầu của Đông Nam Á

Không phải ngẫu nhiên vô cớ mà trên vịnh Bắc Bộ rộng lớn của chúng ta còn có vịnh Hạ Long bao gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, ngay sát Cảng Vân Đồn lại có vịnh Bái Tử Long, và ngoài khơi xa của Hải Phòng có đảo Bạch Long Vĩ, ngoài ra còn có nhiều đảo có tên liên quan đến Rồng như Hòn Rồng, Long Châu, thôn Cái Rồng…, cái tên Long liên quan đến phần đuôi của con Rồng lớn xòe ra ở đồng bằng Bắc Bộ, đi xuống nước ở Cảng Vân Đồn và kết thúc ở đáy Đại dương thuộc vịnh Mindanao thuộc Philippin. Có lẽ đây cũng chính là cái chốt trọng yếu khiến Trung Quốc quyết tâm xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh và ngang nhiên công bố đường lưỡi bò chín đoạn trên Biển Đông vào tháng 5/2009, vi phạm trực tiếp đến 5 quốc gia Đông Nam Á và nền an ninh cả thế giới. Đây là sản phẩm kế thừa của chính quyền Quốc dân Đảng từ năm 1947, điều đó cũng cho thấy thời nào cũng vậy, mưu đồ bá quyền của chính quyền nhà nước Trung Quốc không thay đổi. Chắc hẳn lúc này không chỉ các nước Việt Nam, Philippines, Brunei, Indonesia và Malaysia ý thức được đường lưỡi bò này vi phạm đến chủ quyền của mình, mà gần như cả thế giới đã nhận ra mưu đồ chiếm cứ con Rồng lớn nhất thế giới của nhà nước Trung Hoa, bởi vì chiếm cứ được cái yết hầu này là họ chiếm được cả Châu Á và một khi chiếm được Châu Á rồi thì bước đi tiếp sẽ ra sao? Thế giới, trong đó có Mỹ, Nhật, Ấn Độ và các nước Châu Âu có để cho họ làm điều đó không ?

Địa mạch Việt Nam: Cấu trúc Âm Dương hoàn chỉnh

Đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi đầu tiên của Nhà nước Văn Lang, nhưng hình chữ S của Con Rồng đất nước Việt Nam ngày nay đã tạo nên một thế cân bằng Âm Dương rất hoàn chỉnh. Như sự ví von của nhà thơ Xuân Diệu, thì Đất nước ta như một con tàu / Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau.
Núi chầu sông tụ Thăng Long theo hình thế Âm Dương 

Điều đó cho thấy từ mấy ngàn năm trước cái nôi đồng Bằng Bắc Bộ đã vững như bàn thạch, từ thế kỷ XVI trở lại đây, khi đất nước đã phát triển xuống phía Nam thì con thuyền đất nước đã đủ tư cách rẽ sóng ra khơi và điều đó cũng cho thấy đã là con thuyền thì các phần mũi thuyền, thân thuyền và đuôi thuyền không thể tách rời nhau. Bởi vậy hơn lúc nào hết, chúng ta cần ý thức được sự sống còn của vận mệnh đất nước, để xác định thái độ và hành động của mình..

LỜI CUỐI BÀI

Để kết thúc bài viết, tôi muốn quay lại những dòng mở đầu, rằng tôi không có chút năng khiếu nào trong những vấn đề kinh tế, xã hội và an ninh chính trị, nhưng do nghề nghiệp và do số phận, tôi đã có dịp hiểu rất sâu vào cốt lõi của vấn đề kinh tế và chính trị trong mối quan hệ với Trung Cộng hiện nay. Bởi vậy tôi muốn khuyên tất cả mọi người, nhất là các vị sinh ra sau tôi và chưa có dịp trải nghiệm như tôi, là hãy tỉnh táo để thoát ra khỏi cõi u mê của sự hoang tưởng trong mối quan hệ với Trung Cộng. Cha ông ta đã trải qua hàng ngàn năm mới đưa ra được lời dạy bảo và bản thân tôi phải trải qua hơn 55 năm để chiêm nghiệm và thấm nhuần lời dạy bảo của cha ông.

Tôi biết, lúc này đã có rất nhiều người suy nghĩ như tôi hoặc sâu sắc hơn tôi, nhưng vẫn còn khá đông người đang lầm lẫn và ảo tưởng, không ít người còn rất sợ vía người bạn lớn vĩ đại Trung Hoa, tôi không trách họ vì đôi lúc chính tôi cũng tin ở họ và nể sợ họ lắm. Nhưng xin mọi người hãy bình tâm và suy ngẫm xem cái gì tạo nên sức mạnh của họ và cái gì đang giết chết sức mạnh đó?

 

Đông dân là một sức mạnh

Đúng vậy, ngày tôi đang học ở Thượng Hải thì Trung Cộng mới xây xong cầu Trường Giang, họ rất tự hào nói rằng, chỉ cần toàn dân Trung Hoa, mỗi người tiết kiệm một cái bánh bao là đủ xây một cái cầu Trường Giang. Đó là một việc làm tốt.

Trong thế vận hội 2008 ở Bắc Kinh, họ xây dựng Sân vận động Tổ Chim độc đáo hết 432 triệu USD, nếu chia cho 1,3 tỷ dân thì họ phải cắt xén của mỗi người 0,32 USD, việc đó có vẻ cũng vẫn tốt.

Hiện nay họ đang làm nhiều việc ghê gớm hơn như xây dựng đại hàng không mẫu hạm trên Biển Đông và các căn cứ hải quân… tôi nghĩ họ cũng sẽ làm được đủ để dọa nạt chúng ta và các nước trong vùng,

Mô hình hàng không mẫu hạm ở vũ Hán

Có điều, một thảm họa đông dân mà Nhà nước không vì dân thì Nhà nước sẽ khốn đốn. Có ai biết rằng trên đất nước Trung Hoa vĩ đại đang có 200 triệu người sống lang thang không nhà cửa và đặc biệt hệ thống băng đảng Mafia ở hầu hết các thành phố lớn như Thẩm Quyến, Thượng Hải, Quảng Châu… đang chia cắt quyền lực của đất nước họ hay không? Việc tầy trời này thiết nghĩ cũng không cần nhiều lời và chính là việc của các nhà chiến lược.

Vậy thì mọi nỗ lực của họ có thể có một kết thúc có hậu hay không?

  KTS Trần Thanh Vân




Lòng Mẹ Bao La

Lòng Mẹ Bao La – Nguyễn Văn Sâm

Thể chất tôi èo uột ngay từ lúc mới ra đời nên người nuôi rất cực khổ. Ba tôi mất sớm, gánh nặng đó chuyển lên vai của má. Tôi thường bị bịnh ban cua, lưi trắng, bên trong miệng lại có đẹn nên ăn gì cũng đau rát, không muốn nhai nuốt, thường phun nhả. Những ai trông coi thường đánh tôi vì chuyện đó, nhưng má tôi thì không bao giờ, bà xuýt xoa, dỗ dành, khuyên tôi cố gắng ăn uống. 

<!>

Tôi mới 4, 5 tuổi, chẳng hiểu gì nhiều nhưng cảm nhận những lời ngọt ngào và cử chỉ thương mến của bà, thích cái vỗ tay của bà khi tôi cố gắng nuốt nên khoái được má đút cơm. Bà kiên nhẫn, còn tôi thì gượng đau rát. Mỗi bữa cơm là một cực hình cho cả hai má con, tốn nhiều thời giờ ít ỏi của bà, nhưng tôi chưa bao giờ thấy bà bực mình vì chuyện đó.
Người ta nói tôi bị ban khỉ vì bịnh làm cho chưn tay tôi trở nên khẳng khiu và dài sọc, mặt mày ốm trơ xương, giống như mặt khỉ già.
Mỗi tuần hai ngày má cõng tôi trên lưng khom khom đứng đón xe ngựa đi lên nhà thuốc Ông Tạ để được bắt mạch hốt hai thang thuốc đem về. Xe ngựa chật, ngộp, bó rọ trong lòng má, tôi thường khóc giảy khiến bà phải dỗ dành và xoa xoa lưng tôi mới cảm thấy dễ chịu mà nín khóc. Xe ngựa ngừng ở ngoài đường lớn, má lại cỏng đi vô đường đất đỏ cả một đoạn dài, lắm khi trơn trợt sau cơn mưa. Nhiều lần bà té lên té xuống nhưng lúc nào tôi cũng cảm nhận là bà che chỡ cho tôi khỏi ướt, khỏi dơ còn bà sao cũng được, nhiều khi tới nơi rồi thì sình bùn đã hơi khô khô, dính vô cái áo túi của bà từng mảng, từng mảng. Trong khi chờ đợi được kêu tới số thẻ của mình, bà từ tốn lột quăng ra xa. Phòng chờ đợi quá đông nên nóng hầm, tôi thưng đòi chạy ra sân, nhưng má tôi sợ con té, lạc đường hay bị chó cắn, bà thường giằng lại trong lòng, cam chịu sự giảy dụa, bất bình của tôi. Lúc nhỏ mình chỉ biết làm cho đã nư, lớn nên nghĩ lại, nhớ ánh mắt thương mến của bà khi nhìn tôi mà cảm động và thương má muộn màng, nghĩ là có chết cũng chẳng đền bù được.
Vậy đó, tôi sống còn, tuy đau yếu, chậm lớn, nhỏ con, nhưng trong tim tôi chứa đầy ánh mắt bao dung và lòng thương mến bạt ngàn của má mà trời biển cũng còn nhỏ hơn. 
Còn nhớ năm đầu đi học lớp Năm, hầu như mỗi ngày đi học tôi đều khóc, và má phải cỏng tôi tới trường, đứng lúp ló ngoài cửa lớp hèn lâu rồi mới len lén đi về. Trưa tan trường, trống chưa đánh tôi đã thấy bóng dáng má tôi với cái nón lá và cái áo bà bà quen thuộc.
Lúc học năm thứ hai trường Đại Học Văn Khoa Sàigòn thì ý định đi vào đường nghiên cứu văn học Việt Nam đã rõ nét sau khi đã sưu tập được một số tài liệu quan trọng cũng như đã khởi thảo được một vài tác giả cơ bản. Tất cả tư liệu và bản thảo đều được xếp vào một thùng giấy trước đây người ta dùng đựng sửa hộp, thời đó gọi đơn giản là thùng sửa, đêm đêm tôi lôi ra đọc đọc viết viết cần cù quên mệt mỏi. Má tôi học ít, chỉ đọc được chậm chạp những hàng chữ lớn trên báo hằng ngày mà thôi, thấy con mình quí thùng sửa giấy rách đó và say mê công việc nên bà thường yên lặng đặt kế bên con một ly nước trà đá chanh đường cũng như sẵn sàng xếp lại gọn gàng mỗi khi tôi bày binh bố trận.
Năm đó, khi đang ngồi ở Thư Viện Quốc Gia ở đường Gia Long học bài thì nghe tin lửa cháy bên kia Cầu Ông Lãnh, khu nhà tôi ở phía đó, xóm Vĩnh Hội. Tôi lật đật kiếm đường về mà không được, các cầu đi về hướng có đám cháy đều bị ngăn chặn, đò ngang cấm không được cặp bến để cho lính chửa lửa làm việc và nhân viên công lực ngăn ngừa trộm cắp.
Nóng ruột về tài liệu khó kiếm chắt mót bấy lâu nay, về quyển sách coi như đã hoàn thành được hơn một nữa, lòng tôi bồn chồn, lăng xăng lên xuống bên Bến Chương Dương ngó ngọn lữa mà thở dài, nhiều khi muốn cỗi áo lội qua sông nhưng thấy có nhiều nguy hiểm nên đành đứng trong đám đông bên nầy trơ mắt ngó.
Gần sáng, khi đám cháy tàn, tôi lò mò về khu nhà cũ. Mọi thứ đều hoang tàn, mấy cây dừa xưa lã ngọn nên thơ giờ chỉ còn trơ gốc đen xì giáp mép bùn khô, buồn bã. Cầu khỉ cầu ván đi vào hư vô, ao rạch cạn cùn phơi đáy trơ vơ những góc ván ngựa nám đen ai đó trong khi quính quáng đã chùi vội xuống nước. Tôi nôn nóng tìm má thì ít mà lo cho số phận thùng sách của mình thì nhiều. Biết bao nhiêu công trình tìm tòi và suy nghĩ. Biết bao nhiêu thời gian lục lọi nằn nì. Mất nó chắc tôi bỏ cuộc luôn chuyện viết lách mới nhen nhúm đầu đời.
Khi gặp má tôi đương ngồi đăm chiêu, mệt mõi, gương mặt lấm lem vài vệt lọ nghẹ, câu hỏi đầu tiên của thằng con là thùng sách của mình. Má tôi vui cười chỉ thùng báu vật của con mà bà đương ngồi trên đó, ý chừng để ngăn ngừa bọn hôi của đương hoành hành đâu đó. Tôi nhớ mình vì quá mừng, lính quính nên đã quên hỏi má về những vật dụng của riêng bà.
Gần mười năm sau quyển sách đầu đời của đứa con vô tâm được in thì má nó đã đi vào nơi hằng cữu một vài năm trước. Cầm quyển sách đầu tiên thơm mùi giấy mực tôi không vui mà chỉ buồn nhớ má, mắc cở  cho thái độ của mình ngày xảy ra đám cháy. Tôi nói thầm: Má ơi. Má viết quyển sách nầy chớ không phải con! Nếu má không cứu cái thùng sửa thì ngày nay đâu có sách.. Mỗi khi cầm sách nầy lên là con nhớ hình bóng má với ly nước trà đá chanh hay cử  chỉ  chịu đựng khi dọn dẹp tài liệu  bừa bãi của con ngày trước… Con cám ơn và xin lỗi má dầu muộn màng!
Vậy mà chẳng phải chỉ lỗi lầm đó với má tôi thôi, còn nhiều lỗi lầm khác nữa. Cũng dàng trời mây luôn. Chỉ xin đơn cử một trường hợp.
Từ khi cưới vợ và ra ở bên nhà vợ, tôi ít khi về thăm má mình. Vợ giàu không thích về thăm má chồng nghèo nên tôi chỉ về thăm má một mình, năm khi mười họa.
Một hôm rảnh rang, bỗng nhiên nhớ tới má, tôi lái xe hơi về xóm nhỏ thăm bà. Quẹo vô cái chợ chồm hổm tự phát đầu xóm tôi nhói tim khi thấy má ngồi trước cái ông lò than đỏ đương nướng trỡ  bánh tráng, bánh phồng. Dáng má khẳng khiu, ốm o, hốc hác. Tôi ngừng xe trước hai rỗ bánh đầy ấp của má. Má vội vã giải thích rằng bà kiếm thêm chút đỉnh, ngồi không chẳng ích gì. Đi bán cho vui, ở nhà tù túng thêm bịnh.
Tôi thương má gần như muốn khóc, năn nỉ bà về, bỏ hết ba cái thứ lỉnh kỉnh đó đi, má bán lời bao nhiêu một ngày, con sẽ đưa cho má tiền lời một lần bằng năm bảy tháng bán. Má nói bán lời chút nào hay chút nấy, tiền con để con xài. Năn nỉ hoài má cũng không chịu về, tôi đưa tay đè nhấn bể hết hai rỗ bánh tráng nướng của bà, tôi bắt gặp ánh mắt tiếc rẻ của bà mà xót ruột. Thấy chuyện dằn co, người bán hàng kế bên khuyên má tôi nên về và hứa sẽ đem thúng mũng lại nhà chiều nay. Má tôi về nhưng nhứt định không lên xe hơi. Bà quơ cái khăn rằn choàn lên đầu, trước khi bước đi không quên ngó ngoái lại lò than nướng bánh tráng của mình.
Má tôi vậy đó, không bao giờ đi xe hơi của con, dầu tôi năn nỉ bao nhiêu cũng vậy thôi, nhiều lắm bà chỉ rờ rờ khen xe đẹp mà từ chối lên xe với lý do đi không quen, chóng mặt, khó chịu, nếu đi rồi sẽ nhức đầu cả buổi…
Bữa đó tôi ở nhà má, được ăn bánh tráng nướng, bánh phồng kẹo, những món tôi rất thích khi còn nhỏ mà nước mắt rưng rưng. Tôi đã bỏ bê má mình để chạy theo những công danh phù phiếm bấy lâu nay. Tôi hứa với lòng là sẽ thăm viếng má nhiều hơn. Tôi móc đưa bà tất cả số tiền có trong túi như nhiều lần trước. Má nhận với gương mặt thoáng ưu tư, ngần ngừ, không cười cười như những lần trước.
Nhưng rồi tôi không có dịp thăm viếng má nhiều, má mất sau đó ít lâu. Anh Hai đưa tôi một gói giấy dầu cuộn tròn, mở ra mới thấy từng xấp từng xấp tiền, vẫn còn y nguyên như những lúc tôi đưa cho má mình trước đây. Phía dưới cùng của xấp tiền có tờ giấy xé ra từ tập học trò, chữ rất xấu của má: trịnh má thương con nhiều con không có lỗi gì với má hết. Má tôi viết không chấm, không phết, không viết hoa, chẳng ngay hàng nhưng tôi đọc được trong đó lòng bao la của má tôi, giờ đây kể lại chuyện nầy mà tôi vẫn còn muốn khóc.
Chuyện đời đưa đẩy, tôi vào quân đội, vô Sư Đoàn 7 Bộ Binh, mỗi khi hành quân tôi đều vái van má tôi trước, coi như vị Bồ Tát bổn mạng của tôi. Người ta kẻ đeo bùa cà tha, kẻ mang nanh heo rừng hay ngậm răng cọp, tôi thì mang hình ảnh má mình trong tim với lời xin lỗi muộn màng. Vậy mà đạn tránh tôi nhiều lần, lúc thì trợt trên nón sắt, lúc thì tránh trái tim, chỉ xuyên qua bả vai. Nhưng đó là chuyện nhỏ. Chuyện lớn là chuyện lúc tôi linh đinh trên biển mới đáng nói.
Cho nghỉ uống miếng nước thấm giọng nghen! Nói nhiều khô cổ quá! Nhỏ tới giờ mang hình ảnh mẹ trong lòng, hôm nay xin cám ơn Dì Chưởng với Chú Hoạt đã cho tôi có dịp nói lên lòng mình. Nói mà tôi cảm thấy bóng dáng má thấp thoáng trước mặt. Nhiều khi tôi ước ao, dầu thấy rằng vô lý, là phải chi mỗi người có cả chục người má, mới thỏa được cái tình má con. Nói tóm lại, tôi thèm tình mẹ, cho đến ngày nay dầu đầu bạc cổ lai hy, tôi vẫn không hiểu hết chiều sâu trong trái tim của Mẹ.
Trở về chuyện vượt biên.
Năm nào đó tôi được biệt phái về lại nhiệm sở cũ là Trường Trung học nhỏ trong quận Cần Đước. Má tôi quá vảng cũng đâu được mấy năm rồi. Dạy học thì cũng thường thôi, vai trò của thầy giáo dạy Việt Văn tôi làm nhiệm vụ chuyển tải những kiến thức văn học trung thực cho học sinh chẳng liên quan vì đến chánh trị đương thời. Sau biến cố 75 thì tôi bị cho ra ngoài biên chế, không được lưu dụng vì môn dạy của mình. Giữa một đất nước mọi thứ trao đổi kinh tế đều bị cấm đoán, không việc làm có nghĩa là thiếu thốn cùng cực và bị dòm ngó nặng nề. Chứng kiến thêm những bất công hằng ngày chung quanh, tôi phải bỏ đi thôi nếu không thì có ngày mang khổ lụy vì phản ứng trước những bất công.
Và tôi vượt biên. Bốn ngày linh đinh trên biển, một đêm kia trong khi phần đông khách đi tàu đương ngồi ngủ chồm hổm dưới khoang tàu tối đen như mực thì một đóm lửa của cụm nhang do chủ tàu chuyền tay cho khách với giọng ai đó vừa ai oán vừa chịu đựng:
“Bà con cầm một cây nhang cho gia đình mình, còn bao nhiêu chuyển cho người kế bên nha. Ai đạo Phật thì cầu Phật Bà, ai đạo Chúa thì cầu Đức Mẹ, tàu mình bị vô nước, tối quá không thấy chỗ lủng. Tàu sẽ chìm trong vài giờ nữa…”
Có tiếng ai đó nhẹ nhàng nhưng trong hoàn cảnh nầy nghe hơi bi hài:
“Còn tôi đạo Cao Đài thì sao?”
“Thì vái Phật Mẫu!” Tôi vẫn không biết tại sao mình buột miệng mau như vậy. Lại còn nói thêm: “Tên gọi thế nào thì  cũng chỉ là một thôi, cũng là tạo thành bằng yếu tố Tử Bi. Từ Bi mà, bà con biết đó!”
Tôi tiếp nhận cụm nhang, lấy riêng cho mình một cây, trao cho vợ một cây, còn bao nhiêu đưa cho người ngồi kế bên. Nước lên ướt đít lạnh lạnh. Tôi vái Phật Bà, tôi van vong hồn má tôi cho chúng tôi người lớn chết hết cũng được, không ân hận gì, nhưng các con tôi và tất cả con nít khác trên tàu xin được cứu sống, chúng vô tội, chưa từng hưởng điều sung sướng nào trên cỏi đời nầy. Nước từ từ ngập tới háng, tôi cố gắng ngồi nhón chưn cho thân mình cao hơn, buồn ngủ quá, tôi thiêm thiếp trong mơ màng.
Thời gian trôi qua, trong đêm tĩnh lặng chỉ có tiếng gió biển rít trong không gian, tới một lúc tôi nghe văng vẳng chủ tàu nói  mơ hồ là tìm được lổ lủng rồi, yêu cầu bà con có áo quần dư chuyển sang phía bánh lái tàu để bịt lổ. Tôi không còn sức để mở mắt, mà dầu có mở lớn mắt cũng không thấy gì, hầm tàu tối đen như đêm ba mươi, thỉnh thoảng cảm thấy ai đó chuyển quần áo đụng vô mặt mình hôi hám dơ dáy. Trong mơ hồ tôi thấy hình ảnh Đức Phật Bà Quán Thế Âm và gương mặt vui vui của má tôi. Ánh mắt hai người đều hiền từ. Rồi giống như trong kỷ thuật điện ảnh, hình ảnh hai bà từ từ chồng khít lên nhau để rồi cũng một bức hình đó khi thì hiện lên má tôi, khi thì hiện lên đức Quán Thế Âm Bồ Tát.
Tôi hứa với lòng là sẽ thờ Phật Bà khi sống sót, lập một cái trang thờ mẹ và kỵ giỗ long trọng hằng năm. Vậy mà suốt thời gian hơn hai mươi năm sống ở đây tôi mãi chạy theo công ăn việc làm lại không làm được cái trang thờ dầu chỉ là một tấm ván nhỏ đóng lên tường có dựng hình mẹ và một lư hương. 
Đứa con trai tôi mua nhà trước khi cưới vợ, hôm đám cưới nó dọn hình ảnh ba má tôi lên chừng độ hơn hai giờ đồng hồ rồi ngay sau khi đàng gái vừa ra về khỏi cửa nó với vợ mới cưới liền đem hình ông bà nội xuống. Nhà là nhà của nó, tôi không thể mở miệng nêu ý kiến gì, nói ra thêm dư lời mà chắc chắn không kết quả. Chúng sẽ xúm lại công kích tôi vụ hình thức, tôi còn quá Việt Nam nên chú ý tới chuyện nhỏ mọn, chuyện tào lao. Nhà của tôi còn bị chê bày biện sao nhà quê giống Việt Nam ruộng, huống chi nhà nó. Tôi chiêm bao thấy má mình nhiều lần nhưng chưa lần nào nghe má tôi nhắc đến lời tôi hứa lập trang thờ.
Khi vô sống ở nhà Dưỡng Lão nầy, ngồi buồn tôi nhớ hình ảnh chồng lấp của má và Đức Quán Thế Âm, tôi nghiệm ra rằng má ta là Đức Bồ Tát của ta, là sự Từ Bi rót lên đời ta ngay từ lúc mới sơ sanh để ta sống sót. Phật Bà nói chung là má của tất cả mọi người. Má của người nào là Phật Bà mà chỉ có đứa con mới cảm nhận được thôi.
Gần đất xa trời tôi mới cảm nghiệm được chơn lý đơn giản nầy. Tiếc quá!
Tiếc nhưng biết làm sao hơn, nhân loại sanh ra để va vướng vào những mê lầm muôn thuở mà dầu ta có học xong bài học và được phép mầu làm cho trẻ lại nhiều lần đi nữa thì cũng mắc mê lầm lại y chang như cũ, cũng hờ hững và không thấu được lòng mẹ bao la…..



Lời cám ơn chân tình của Yên Sơn

Lời cám ơn chân tình của Yên Sơn, gặp cô thầy Nguyễn Thanh Liêm.

Inline image 2

* Buổi hội ngộ sau 4 ngày thì GS Liêm ra đi. Trích một phần bài bút chuyến viếng thăm Orange County, California vừa qua gửi đến tất cả bằng hữu như lời cám ơn chân tình của thi sĩ Yên Sơn.
…Từ giã anh chị Vũ Ngọc Thạch, từ giã tân Linh Mục Dòng Tên Vũ Ngọc Dzao, từ giã Thánh đường Đại học Loyola Marymount, Los Angeles… chúng tôi vội vã đến cái hẹn 1g chiều ở nhà hàng Hồng Ân trên đường Westminster để hội ngộ với một số anh chị em văn nghệ sĩ quen biết đã nhiều năm, do bạn văn Trần Việt Hải và Khiếu Như Long tổ chức.
 
1:30 trưa tới nơi đã thấy một nhóm đang chụp hình, cười đùa rôm rả. Thấy có vợ chồng Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, tôi cảm động đến chào Thầy. Đây là lần thứ hai tôi gặp Thầy (lần đầu gặp Thầy trong Hội Ngộ Liên Trường Trung Học Quảng Ngãi ở Washington DC 2013). So với lần trước, Thầy trông có vẻ gầy ốm và dĩ nhiên già hơn nhiều. Với sức khoẻ như vậy mà Thầy Cô cũng có mặt vui vẻ với anh chị em thật là đáng trân trọng. Trong suốt buổi gặp gỡ, Thầy chỉ ngồi cười nhiều và vỗ tay tán thưởng cùng với mọi người. Theo đề nghị của Việt Hải, tôi đặc biệt hát tặng Thầy một câu Vọng cổ của 6 câu “Đêm Mộng Hồ Tây”. Câu này không có gì đặc biệt chỉ là nhớ đâu hát đó cho vui chứ đâu có ai ngờ đó là câu vọng cổ cuối cùng Thầy nghe được trước khi giã biệt cõi đời!
Inline image 6
Inline image 7
Viết đến đây bỗng dưng xúc động, ngồi một phút lặng yên tưởng nhớ đến Thầy. Dạ thưa Thầy, dù em không có may mắn được học với Thầy, nhưng tiếng thơm của Thầy được sách vở và người đời truyền tụng khắp cả Miền Nam Việt Nam; trong nhiều thập niên Thầy đã dày công đóng góp cho một nền giáo dục của VNCH vô cùng tốt đẹp đầy nhân bản và khai phóng. Em cảm tạ tình nghĩa của Thầy đối với lũ hậu bối chúng em; cảm tạ Thầy đã không ngại nắng gió hôm nay đến chung vui với tụi em trong bầu không khí thân tình. Và em cũng không ngờ, em vô tình hát tặng Thầy Cô bản Thư Tình Cuối Mùa Thu của Phan Huỳnh Điểu khi khi nhớ lại bức tranh Cô dìu Thầy ra xe về trong chiều ly biệt, “…Tình ta như hàng cây đã qua mùa bão gió. Tình ta như dòng sông đã yên ngày thác lũ. Thời gian như ngọn gió mùa đi cùng tháng năm, tuổi theo mùa đi mãi chỉ còn anh và em. Chỉ còn anh và em cùng tình yêu ở lại…”
 
Khi chúng tôi tới nhà hàng, ngoài Thầy Cô Nguyễn Thanh Liên, thấy có khoảng mười mấy anh chị em, hầu hết đã quen biết như: Khiếu Như Long, Trần Việt Hải, Nhược Thu, Cò Tuấn và hai cô nương, chị Hồng Vũ Lan Nhi lúc nào cũng tươi vui, chị Bích Huyền vẫn còn khá nhiều nét yêu kiều, Dương Viết Điền, Trịnh Thanh Thuỷ, Quỳnh Hương; bạn quen nhưng mới gặp lần đầu: anh Trần Mạnh Chi, Ngọc Quỳnh, Lâm Dung, chị Gina Nga (phu nhân NS Lê Trọng Nguyễn), nha sĩ Kim Loan, anh chị Huệ, Huỳnh Anh, Băng Tâm, phó nhòm vô cùng dễ thương Nguyễn Thiều Minh, nhạc sĩ keyboard thiên tài David Tòng, anh Thiên Đức… rồi từ từ thêm nhiều người khác đến gồm có anh Đào Ngọc Nhuận, ông bạn hai quần Đồng Văn… Nếu thiếu ai cho tôi xin lỗi nha.
Dù là bạn cũ, bạn mới chúng tôi cũng rất trân trọng tình nghĩa bạn bè. Một lần nữa, xin cùng với các bạn, đốt nén hương lòng tưởng niệm đến Thầy Nguyễn Thanh Liêm, chúc Cô Phương nhiều nghị lực để phấn đấu trong những tháng năm cô đơn sắp tới; xin chân thành cảm tạ Bạn Khiếu Như Long, bạn Việt Hải, không có hai bạn chắc chắn chúng ta không có buổi hội ngộ thân thương và mang nhiều kỷ niệm này.
 
Yên Sơn
Kingwood, 25/8/2016.



Sóng Gió Biển Đông

 

Diễn gỉa Phó chủ tịch ngoại vụ Văn Thơ Lạc Việt, TS Nguyễn Hồng Dzũng.
Thuyết trình về Sóng Gío Biển Đông tại Câu Lạc Bộ/Báo Chí/Mây Bốn Phương
Bắc California.
Số 730 S. 2th Street San Jose CA 95122.
Lúc 1 PM November 14, 2015




Mạn Đàm cùng cô Vân Lê Chủ Tịch Học Khu East site

Cô Vân Leê chủ tịch học khu East Site, khu vực 7, là ngưới luôn thích làm từ thiện, và chăm lo tới
giáo dục cho các em người Mỹ gốc Việt.




Mạn Đàm Tryuyện Kiều Phần 3

VTLV Mạn đàm truyện Kiều sẽ còn tiếp tục….
Xin quý vị đón xem tại chương trình TV Dân Sin & ViệtToday
chanel 26.5 lúc 3:00 PM cách tuần vào thứ sáu.

Kính chú quý vị luôn vui, khỏe và an bình.
Nhóm thực hiên Chinh Nguyên – Lê Tuấn và TS Hồng Dzũng.

 




Mạn đàm truyện kiều phần 2


VTLV Mạn đàm truyện Kiều sẽ còn tiếp tục….
Xin quý vị đón xem tại chương trình TV Dân Sin & ViệtToday
chanel 26.5 lúc 3:00 PM cách tuần vào thứ sáu.

Kính chú quý vị luôn vui, khỏe và an bình.
Nhóm thực hiên Chinh Nguyên – Lê Tuấn và TS Hồng Dzũng.




Thông Báo Giải Văn Thơ Lạc Việt 2016

Dầu Thư VTLV

Thông Báo Giải Văn Thơ Lạc Việt 2016


Nhằm mục đích bảo tồn và phát triển văn học dân tộc nơi hải ngọai, đồng thời cũng nhằm khuyến khích tinh thần sáng tác của mọi tầng lớp người Việt yêu thích văn thơ. Cơ sở Văn Thơ Lạc Việt xin trân trọng thông báo đến đến quý vị, cuộc thi Truyện ngắn, và Thơ của Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt lấy tên là Giải Văn Thơ Lạc Việt 2016.

 

  1. Nội dung: Giải Văn Thơ Lạc Việt 2016 không hạn chế đề tài, tuy nhiên ưu tiên những tác phẩm viết về: Tình yêu quê hương, Ca ngợi lòng ái quốc đang nổi lên trong nước bằng những cuộc biểu tình vừa qua, để lật đổ chế độ Cộng Sản đảng trị, và chống đối Trung Công xâm lăng lãnh thổ.
    Không chấp nhận các bài viết đề cao hoặc tuyên truyền cho Cộng Sản, không phỉ báng đoàn thể hay cá nhân trong cộng đồng.
  2. Điều kiện dự thi:
    2A/ Tất cả mọi người Việt không kể tuối, sống trong, và ngoài nước đều có quyền dự thi. Một người có thể dự thi cả hai bộ môn văn và thơ ,

2B/ Mỗi người được gửi hai truyện ngắn tối đa, mỗi truyện năm trang đánh máy, và thơ tối đa ba bài, mỗi bài không quá 28 câu. (Nếu bài thơ dài quá giới hạn 28 câu sẽ bị loại)
2C/ Tác phẩm dự thi chưa hề công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng, hoặc ấn phẩm nào. Trong thời gian cuộc thi diễn ra, các tác phẩm dự thi không được công bố trên các tuyển tập và báo chí. Trừ trường hợp tác giả dự thi đề nghị được rút tác phẩm khỏi cuộc thi.

  1. Điều kiện gởi bài:

3A/ Bản thảo được đánh máy rõ ràng gởi qua e-mail,
3B/ Dùng Unicode – Font chữ Time New Roman-12, và không trình bày khác lạ. (Nếu có trình bày khác lạ sẽ bị loại)
3D/ Không nhận bài viết tay, hoặc bài đánh máy trên giấy gởi qua bưu điện.
3E/ Bài gửi qua e-mail về xin ghi kèm địa chỉ, email, số điện thoại. Lý lịch kèm theo một tấm hình (Phần này sẽ được dùng để in Tuyển Tập nếu có thể.)
Các tác phẩm dự thi sẽ được chọn đăng trên báo chí Việt ngữ vùng Vịnh, và web site VTLV.
3F/ VTLV giữ bản quyền những bài trúng giải, Ban tổ chức không trả lại bản thảo.
3G/ Trong trường hợp VTLV dự trù in Tuyển Tập Đặc Biệt giải thi Văn Thơ Lạc Việt sẽ thông báo sau tới các tác giả dự thi về vấn đề tài trợ in ấn phí.

  1. Giải thưởng: Giải nhất, nhì, và ba đối với tác gỉa trên 20 tuổi.
    Giá trị giải thưởng cho mỗi bộ môn văn và thơ như sau:
    Giải Nhất : $500.00 US
    Giải Nhì : $300.00 US
    Giải Ba : $200.00 US
  2. Thời gian: Bắt đầu nhận tác phẩm dự thi từ tháng 03 năm 2016, hạn cuối cùng là ngày 30 tháng 10 năm 2016. Công Bố kết quả tháng 10 năm 2016 phát giải thưởng vào tháng 11, năm 2016.5- Gửi Tác Phẩm:
    5A/ Tác phẩm gởi qua địa chỉ email giaivantholacviet@gmail.com Phần lý lịch, hình cá nhân : Ghi rõ tên các tác phẩm dự thi dưới phần lý lịch.
    Ban Tổ Chức dành quyền loại bỏ những tác phẩm vi phạm thuần phong mỹ tục hoặc gây chia rẽ hận thù.
    Ban Điều Hành Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt, tác giả đã trúng giải VTLV không được dự thi.

Muốn biết thêm chi tiết và gởi bài xin liên lạc :
Nhà thơ : Đông Anh : donganhndt@gmail.com, (408) 896-0158.
Nhà văn : Chinh Nguyên: cnchinhnguyen7@gmail.com, (669) 279-2532.
Nhà báo: Lê Văn Hải: khongquanlevanhai@gmail.com, (408) 365-2947

Nhà văn : Thanh Xuân : sueannec@hotmail.com (408) 679-1400
Nhà văn Thai NC : thainc2013@gmail.com  (408) 891-0991

Ghi chú :
Để việc chấm thi được công bằng BDH/VTLV sẽ thực hiện như sau :
1/ Không công bố ban giám khảo trước ngày công bố kết quả trúng giải.
2/ Xóa bỏ tên tác giả trên tác phẩm và đánh dấu mật mã cho mổi tác giả trên mỗi tác phẩm.
3/ Sau khi điểm chấm từ các quí vị giám khảo gởi về, Ban Điều Hành làm tổng kết trung bình cộng để thấy tác phẩm nào cao điểm.
4/ BDH sẽ bỏ tên tác giả trở lại cho mỗi tác phẩm để biết ai trúng giải.
5/ Báo cáo với quí vị giám khảo kết quả giải thi Văn Thơ Lạc Việt năm 2016.
6/ Thông báo trên web Văn Thơ Lạc Việt và Facebook kết quả giải thi Văn Thơ Lạc Việt năm 2016,
7/ Dự trù ngày phát giải.
8/ Liên lạc với quí vị giám khảo và tác giả trúng giải để thông báo về ngày phát giải Văn Thơ Lạc Việt năm 2016.
San jose, ngày 20 tháng 05 năm 2016
Chủ tịch Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt
Chinh Nguyên

stampVTLV




Mục đích của Văn Thơ Lạc Việt

promotion

KÍNH CHÀO QUÍ VỊ

Không thể quan niệm một tập thể con người không có tiếng nói. Khi chúng ta ra khỏi nước, di sản quí giá nhất mà chúng ta có thể mang theo là cái thứ tiếng nói nhân vị Việt tộc thuần nhất. Nếu ở lại chúng ta sẽ phải từ bỏ để nói thứ ngôn ngữ chủ nghĩa xã hội, trong đó các giá trị quen thuộc của đất nước lâu đời hoàn toàn bị xoá bỏ.
Nhờ tiếng nói chúng ta mang theo có khuynh hướng tự do, yêu thương và  bình đẳng mới có các cộng đồng Việt Nam tị nạn, sinh hoạt phồn thịnh như ta thấy ngày nay.
Cái tiếng nói bị ruồng bỏ ngay trên quê hương mình đã xuất hiện khi ngoại xâm bắt đầu gậm nhấm những thực thể ruộng dất, biển Đông của quê hương ta qua 4 tốt và 16 chữ vàng, mà chính thể hiện thời coi như kim chỉ nam để đi tới sự bán nước, và hủy diệt dân tộc.
Nhưng ngôn ngữ Việt được bảo tồn hầu hết tại các nước tự do trên thế giới, qua hàng trăm tờ báo, đài phát thanh, phát hình, các trang web và blog trên mạng toàn cầu, hầu là chất keo cho người Việt đoàn kết nắm lấy tay nhau để vượt qua vấn nạn suy diệt đã và đang xẩy ra trong quốc nội.
Bỏ qua những náo nhiệt đáng ngờ của các người cộng sản luôn lớn tiếng mị dân đòi tự do dân chủ ảo, tiếng Việt truyền thống đang được phục sinh trong đời sống dân gian trong nước, và sự thành tâm phục hưng ngôn ngữ của giới trẻ, qua những bài viết được gởi qua Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt để dự giải Văn Thơ Lạc Việt hàng năm, và cũng có nhiều tác giả trúng giaỉ.
Giấc mơ của Văn Thơ Lạc Việt là trong tương lai rất gần, chính quốc và người Việt hải ngoại cùng nói một thứ ngôn ngữ, trong đó các giá trị nhân vị của tổ tiên đuọc phục hồi, các quyền tự do căn bản của dân được tôn trọng.
Đó là khởi điểm cho cuộc hoà giải thống nhất dân tộc thật sự.

Administrator
Chủ tịch VTLV
Chinh Nguyên

stampVTLV




Mạn đàm truyện kiều

 

VTLV Mạn đàm truyện Kiều sẽ còn tiếp tục….
Xin quý vị đón xem tại chương trình TV Dân Sin & ViệtToday
chanel 26.5 lúc 3:00 PM cách tuần vào thứ sáu.

Kính chú quý vị luôn vui, khỏe và an bình.
Nhóm thực hiên Chinh Nguyên – Lê Tuấn và TS Hồng Dzũng.




Playlist Tình yêu trong thi ca