Người thi sỹ tài hoa trong “Vang bóng một thời”

Khuất Bình Nguyên

Không phải ngẫu nhiên mà cậu Sen kẻ Bưởi – cái biệt danh thân thiết người đời gọi Tô Hoài, lại chọn Nguyễn Tuân làm nhân vật chủ chốt trong thiên hồi ký Cát bụi chân ai nhiều dí dỏm, chua cay và không biết bao nhiêu là não nùng trần ai của ông. Thảo nào mà tôi cũng như bao người khác đã và đang mê đọc Nguyễn Tuân, đặc biệt là Vang bóng một thời ngay từ khi còn trẻ. Nhưng càng về già, khi thấu hiểu lẽ đời và ở cái tuổi người ta ai nấy đều muốn tìm lại sự thanh bình của quá khứ giữa thời buổi ồn ã của xã hội thị trường, lại càng muốn đọc. Sự trải nghiệm dư vị đắng cay của lòng trung thực cũng như sự thật phũ phàng về tráo trở của người đời thì càng yêu thêm những giá trị nhân bản trong văn chương Nguyễn Tuân tỏa ra từ cái ánh sáng lấp lánh yêu thương và nhiều khi mờ tỏ của cái ngày xưa dường như mới xảy ra ngày hôm qua và cái ngày nay của lương tâm con người, làm nên vẻ đẹp kỳ lạ có một không hai trong văn chương Việt Nam hiện đại.

Tôi đọc sách Tùy viên thi thoại của Viên Mai ở quyển 2 thiên thứ 28 thấy ông ấy kể lại trong mơ một kẻ ăn mày bận áo mão đời xưa nói rằng: Văn các đời Ngụy, Tấn là thơ trong văn.Thơ các đời Tống, Nguyên là văn trong thơ. Nhiều nhà văn lớn cổ kim đông tây, trong văn của họ có thơ và họ là nhà thơ trữ tình đích thực trên chiếu trải văn xuôi mọi thời đại. Nguyễn Tuân là một người như thế trong Vang bóng một thời.

Nghe nói lúc sinh thời, ông Nguyễn Tuân cũng làm thơ. Kịp khi người bạn vong niên tóc trắng da đồng của tôi – nhà thơ Ngô Thế Oanh có chép tay cho ba bài thơ của ông Nguyễn lên trên mặt sau của mấy tờ lịch cũ. Bài SayKhúc tương tư viết theo thể lục bát, song thất lục bát đăng trên tờ An Nam tạp chí số 5 ngày 1 tháng 12 năm 1932. Và bài Giăng liềm viết về sự hồi sinh của Điện Biên Phủ theo thể thơ tự do đăng trên báo Văn học số 22 ngày 25 tháng 12 năm 1958. Cách nhau đúng 26 năm! Tôi giật mình sửng sốt vì không nghĩ đó là Nguyễn Tuân. Nếu như ông Nguyễn lấy nghiệp viết thơ làm chính thì không biết có được ngồi gần cùng chiếu với ông Tản Đà để mà nợ men gấp mấy nợ tình, cõi trần ướm hỏi Lưu Linh mấy chàng hay không ? Nhưng sự đời lại không bao giờ có chữ nếu như thế xảy ra. Cái mệnh của ông Nguyễn là làm thơ trên những dòng văn xuôi chải chuốt vô tiền khoáng hậu mà tôi được thấy.

Trên đường đi tìm cái đẹp của thời xưa yêu dấu như những áng mây cách xa chừng vài chục năm thôi, từng trang của Vang bóng một thời được viết nên bởi một tâm hồn thi sỹ tài hoa. Nguyễn Tuân viết truyện ngắn của ông không phải bằng sự lạnh lùng thường thấy của người viết văn xuôi mà bằng cảm xúc thiết tha hòa quyện tự nhiên với nghệ thuật lựa chọn ngôn từ điêu luyện vốn là đòi hỏi nghiêm cẩn và trước tiên của thi ca đã làm nên chất thơ vừa dạt dào cảm xúc vừa kiêu bạc sang trọng mà trang nhã một cách quý phái. Người ta thường nhấn mạnh cái chất khinh bạc cùng với biểu hiệu ông vua tùy bút. Nhưng trong văn ông còn đậm đà cảm xúc trữ tình say đắm của một thi nhân. Hãy xem một đôi dòng ông viết trong truyện Thả thơ: Và trên trần, có một gia đình đang lúng túng vì sự hiu quạnh … Trời đất ôi! Trên mấy gốc tre cằn không đủ gây thành bụi ấm, trận gió thanh bạch cứ lào rào thổi mãi và cảnh cô quạnh ấy của cha con quan phủ vào buổi xế chiều bên cạnh cái lâu đài quyền lực với tường thành, lầu canh đang phai tàn giống như chính cuộc đời của họ. Tiếng trống phủ trên lầu canh cứ điểm những tiếng vô vị vào một tư thất lạnh lẽo … Có những đêm mưa to gió lớn làm nhòe đi tiếng trống phủ cầm canh. Vâng. Nhòe đi tiếng trống phủ cầm canh. Đã như một câu thơ nguyên vẹn mất rồi.

Văn chương Nguyễn Tuân là sự trang trải giữa cái sang trọng với sự tràn ngập của cảm xúc trữ tình được đặt trên nền tảng và sự soi sáng của chủ nghĩa nhân văn.

Có người chê Bạch Cư Dị hồi ở Hàng Châu, thơ nhớ nhung kỹ nữ nhiều hơn là thơ nhớ nhân dân. Lời bàn người xưa cho là thô lậu ấy chẳng thể cản trở được sự trường tồn của văn chương Hương Sơn cư sỹ! Văn của Vang bóng một thời cũng thế. Nghệ thuật thi ca của Nguyễn Tuân là đi tìm cái đẹp thanh cao ở những kiếp đời trần tục cay đắng nhất. Nguyễn Tuân nâng niu trân trọng với cảm xúc về cái đẹp thanh nhã và sự lương thiện ở những phận người thất thế, đen bạc và cùng cực. Người hỏng thi. Lại là của Khoa thi cuối cùng. Thấy dặm hòe vùng Sơn Nam Hạ ngả màu vàng thì lòng bắt đầu bận bịu. Dưới mảnh trời sụt sùi hoa hòe nở đều, làm ấm lại lòng người sỹ tử đi thi trên những con thuyền nhỏ li ti đi về như lá tre rụng mùa thu giữa xứ đồng chiêm nước ngập nuốt hẳn bờ. Cảnh sắc tựa như san sẻ, neo về nỗi buồn không lấy lại. Tại nhà trọ ở thành Nam, người hỏng thi vẫn chơi sang bằng việc uống hết ba bình rượu cúc vào một đêm dài nhất trong một đời người … Với người tử tù chờ thi hành án chết thì hỏi còn vương vấn và khí phách nỗi gì? Vậy mà Nguyễn Tuân đã tìm ra vẻ đẹp vừa ngang tàng vừa khoáng đạt của một bậc nho gia. Chữ viết đẹp lắm, vuông lắm như nhân cách của ông Huấn Cao vào lúc đời thường thường rất khảnh. Chỉ viết chữ cho người tri kỷ. Mà có chữ ấy treo lên là một vật báu trên đời. Tôi đọc nhiều lần Chữ người tử tù, chẳng hiểu sao lại bâng khuâng nhớ nhà thơ được đời gọi là bậc thánh Cao Bá Quát mà cách đây đã lâu tôi về tận quê ông ở làng Sủi, bên kia sông Hồng, trèo lên bệ cao đánh chiếc khánh đá cổ phát ra cho đủ 9 tiếng trầm buồn, cũng như leo lên núi Sài Sơn tìm bài thơ Cao Chu Thần đã viết. Nguyễn Tuân dựng lại cảnh người tử tù Huấn Cao viết chữ mang một giọng điệu sử thi: Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ vẳng tiếng mõ trên vọng canh, dưới ánh sáng đỏ rực của bó đuốc tẩm dầu, Người tử tù đã viết chữ trên khuông lụa trắng để viên cai ngục phải chắp tay vái với dòng nước mắt nghẹn ngào cảm phục về tài năng và nhân cách. Người tử tù trở thành người bề trên dạy bảo kẻ đương quyền kia hãy tìm nơi lương thiện mà sống. Chữ người tử tù là bài thơ hay nhất về chữ tượng hình. Cũng như thế, ông Nguyễn Tuân dựng lên khung cảnh huyễn hoặc trong sự chuẩn bị và đối thoại hết sức bình thản của những kẻ cướp giang hồ với những cái tên dân dã: bọn Huần, Cai Xanh, Phó Kinh, Lý Văn … mà ông thân ái gọi là Những kẻ bất đắc chí được gói gọn trong 3 chữ Nghèo – Cực – Khái đi lấy chỗ tiền bạc của bọn bất nghĩa đem chia cho anh em khác nghèo như mình. Cả những thứ vũ khí cũng được gọi bằng những tên thật nhã: bút chì, bút chùng… Nguyễn Tuân không mô tả trực tiếp vụ cướp mà chỉ muốn người ta nhìn thấy cái vẻ đẹp tình người của tiếng bạc ấy.

Tìm ra cái đạo lý làm người và vẻ đẹp dung dị mà cao sang của những việc sinh hoạt đời thường như uống trà, đúng hơn là uống trà tàu và việc đánh bạc bằng thơ; cảm hứng thi ca của Nguyễn tìm thấy vẻ đẹp của những kẻ hết thời, thất thế. Những chiếc ấm đất, Chén trà trong sương sớm. Đánh Thơ, Thả Thơ … Những quan viên đang tại vị bây giờ, những người mà Nguyễn Tuân gọi là cái xã hội đàn ông mặc áo xanh ẩm ướt, không hiểu có giật mình và đỏ mặt khi đọc những truyện ấy trong sự thích thú ngấm ngầm hay không?

Có người so sánh Edgard. A. Poe với Nguyễn Tuân và cho rằng văn của Poe cảm xúc sơ sài thôi. Văn của Nguyễn Tuân cảm xúc lại vô cùng tinh tế. Tôi không dám chắc điều này. Bởi sự kinh dị đầy linh ứng của Poe trong nguyên bản tiếng Anh. Có điều rõ ràng là hầu hết các câu chuyện của Vang bóng một thời thật giản dị. Nguyễn Tuân tựa vào cái cốt chuyện giản dị không khêu gợi bằng những tình tiết éo le ấy để từ đó dọc theo con đường đi tìm cái đẹp phần nhiều trong nỗi hoài nhớ ngày xưa nhằm bày tỏ và đôi lúc dâng lên như lên đồng cảm xúc thi ca về vẻ đẹp muôn thuở của con người mà ta lại dễ dàng nhận thấy đó là cảm xúc và tình yêu đôi khi thiên vị cho văn hóa của cả một vùng đất với những đặc trưng riêng không gì pha trộn được. Vì lẽ ấy, văn của Nguyễn Tuân sẽ còn lại mãi.

Tôi đọc Vang bóng một thời thấy dường như phảng phất văn hóa xứ Đoài ở đâu đây. Cái xứ sở nghèo túng nhàn nhạt pha trộn giữa cái xưa cũ của mới ngày hôm qua với cái bóng dáng nghìn năm chưa mất của sông núi và cõi đời đâu đó vẫn còn ẩn hiện tới bây giờ. Đó là bài thơ ẩn chứa một tiếng thở dài của nơi tôi sinh ra và bị nhiễm vào cái đó từ buổi thiếu thời. Không có ở đâu nhiều đình chùa cổ và sự tích làm người như ở nơi đây. Đó là nơi muôn năm của cái cũ. Cái tàn lọng của quá khứ cứ che bóng người đi ở xứ sở này. Nguyễn Tuân thật kỳ tài khi viết về điều đó. Mặc dù ông không phải là người Sơn Tây. Văn hiến xứ Đoài chính là cái tàn lọng của quá khứ ấy che cái bóng nhiều huyền thoại và lãng tử trong văn chương Vang bóng một thời. Trên đỉnh non Tản. Chữ người tử tù và nhất là Ngôi mả cũ.

Hồi năm 1940, nhà văn Thạch Lam coi Ngôi mả cũ là truyện hay nhất của tập. Tôi không đồng với ý đó của ông. Nhưng rõ ràng câu chuyện ấy mang đậm phong vận xứ Đoài, trên cái chiếu đất dằng dặc mùi côi cút ở rừng Hưng Hóa. Ở thành Sơn Tây, người ta vẫn thường nghe thấy tiếng kèn tàu, loa đồng và trống trận nổi lên trong thành xây đá tổ ong của tỉnh Sơn, nơi quân cờ đen tế cờ thu quân. Rồi thì cái đoạn đường vỏn vẹn chừng trên dưới 30 dặm bây giờ vẫn còn đó mà xa xôi hoài niệm quá chứng với những cái tên xóm tên làng đến giờ còn chưa đổi. Làng Vòng. Làng Nhổn. Trạm Trôi. Phủ Hoài. Sơn … Qua con mắt thi sỹ Nguyễn Tuân mà hình dung ra cái đằng đẵng của con đường xứ Đoài cát bụi và xiêu diêu ấy. Cả cái bến đò sông Hát cổ xưa đã bị đất và cỏ vùi kín tự bao giờ mà sao Vang bóng một thời còn cho các nhân vật của mình đi qua thật là chậm chạp trong thấp thoáng bóng nước, bóng mây của thời xưa cũ. Cũng phải thôi. Vì cách thời ấy không xa, trong một cuốn du ký có tên là Một chuyến du hành đến đàng ngoài của một người phương Tây – William Dampiere viết năm 1688 nói rằng từ phố Hiến phải mất 2 ngày mới lên được Kẻ Chợ. Có người bảo với tôi truyện ngắn Trên đỉnh non Tản là thiên tùy bút, là bài thơ đặc sắc nhất về đồng đất xứ Đoài, nơi con người trong mỗi thôn làng sống chung với huyền thoại ngấm vào giọng nói của họ còn lại mãi từ ngàn xưa. Là bởi vì theo Nguyễn Tuân, trong bốn vị tứ bất tử của nước Nam ta thì người hay biến hóa nhiều nhất và tàng hình lẫn vào đám người trần mắt thịt là thánh Tản Viên. Và ông Phủ Quốc chỉ lỡ miệng nói mấy câu: đứng ở mái Nam đền Thượng nhìn xuống trông được cả khói của kinh thành Thăng Long… mà thánh phạt vì lộ thiên cơ phải lăn đùng ra chết. Viên đá cuội vô tri đã hai lần mang sứ mệnh con người trong Vang bóng một thời. Lần trước là Hương cuội làm cái cớ cho mấy vị hàn nho uống rượu ngâm thơ. Lần này đá cuội mang trộm từ đỉnh núi Tản về trong tay viên Phủ Quốc vừa lăn ra chết đập ra có mùi hương đượm của quả men rượu ủ trấu … Vỏ đá cuội còn lại đem thả vào bát nước mưa kinh niên uống thấy say ngát vô cùng! Rõ thật là Nguyễn Tuân. Và tôi biết trong mỗi người đàn ông xứ Đoài bây giờ vẫn còn giấu một mảnh vỏ đá như thế, mỗi khi họ bước vào một cuộc thành bại ở đời. Chao ôi! Bóng dàng thời xưa của văn hiến xứ Đoài cư như che lọng trong Vang bóng một thời. Văn chương của thi sỹ Nguyễn Tuân đã bảo tồn giá trị văn hóa của cả một dải đất phía tây Kinh thành Thăng Long giờ đã ít nhiều mai một. Sực đến khi Cát bụi chân ai ra đời, ông Tô Hoài viết: Cuộc đời phóng túng và nếp nhà quan các cụ nội đại thần trị nhậm đất Sơn Tây, đã in đậm, đã mờ chồng lên ngày tháng đời con đời cháu tự bao giờ … Chữ người tử tù, Đỉnh non Tản và tất cả vang bóng của ông đều phảng phất Sơn Tây. Tôi không chắc hẳn là như thế. Lúc sinh thời, không thấy nói cụ tú Hải Văn, tú tài khoa thi sau cùng, thân phụ Nguyễn Tuân đã từng trị nhậm ở đất này … Chỉ thấy Nguyễn hay cùng Tô Hoài, Nguyên Hồng lên Sơn, thường ngồi bên hào nước của tòa thành đã đổ nát dưới thời gian và dưới gốc cây sữa đã quá nhiều cằn cỗi quên cả nở hoa theo mùa ở nơi nửa tỉnh nửa quê. Nhưng tìm làm chi cái nguồn gốc xa mờ đó của văn chương. Hãy để quá khứ yên lặng như thế. Cũng giống như chúng ta không còn ai tìm nữa ai là người nguyên mẫu của Tóc chị Hoài. Mặc dầu, ở Sà Goông, có người đàn bà nhận thầm qua bao nhiêu mưa nắng năm trường trong đời người và trong cách trở Bắc Nam là bóng dáng ấy đấy thôi. Cũng như thân phận của cô đào Chu Thị Năm, người cùng thời với ca nương Quách Thị Hồ, dõi theo chàng Nguyễn lên chiến khu Việt Bắc thời kháng Pháp. Chàng đi đâu nàng cũng biết và thường gửi vàng cho chàng tiêu pha … Người ấy đã mờ hẳn, đừng có mà tìm ở phố Khâm Thiên vì cuộc bể dâu, ta chỉ còn tên phố bây giờ …?

Trở về với văn chương Nguyễn Tuân, đâu chỉ để yêu một thời đã qua. Cuối thế kỷ 20 và tràn sang thế kỷ 21, một số người muốn đi tìm góc tối của cái ban ngày. Vết sẹo sau lưng của bức tượng thờ muôn thuở. Mùi xú khí giả tưởng của hoa tử đinh hương. Treo cái tục tĩu vào cổ tượng đài vốn được coi là thiêng liêng … Tức là mỹ học của việc đi tìm cái xâú xí trong cái đẹp. Một con đường khác ngược lại với con đường của Nguyễn Tuân. Mặc dầu con đường của Nguyễn không phải lúc nào cũng êm xuôi cả. Ví như tôi hơi ngờ ngợ khi người ta cố gắng gắn vào cái ý nghĩa xã hội nào đấy của Bữa tiệc máu hay Chém treo ngành. Trong Vang bóng một thời, chỉ có một lần duy nhất, ông Nguyễn Tuân đã để chủ nghĩa duy mĩ của mình đi hơi xa một chút. Xa đến mức thiếu chút nữa người đọc cảm thấy cái đẹp của Chém treo ngành ở cái đoạn đao phủ Bát Lê tập chém người bằng cách vừa chém chuối vừa hát, hay việc mô tả chẻ đôi cây tre đực dài ra cặp cổ người tử tù như lối cặp gắp chả chim mà nướng … Nói thế để cho hết nhẽ. Không ai phản đối và cũng không việc gì phải phản đối mỹ học đi tìm cái xấu xí trong cái đẹp. Nhưng văn chương tuyệt đối không phải là nơi tôn thờ sự tục tĩu tầm thường, đi ngược lại những giá trị  nhân bản của con người. Người xưa từng nói: Nhờ văn mà kinh luân được quốc gia. Chỉnh lý được pháp độ. Làm vẻ vang cho sự nghiệp. Làm giàu đẹp cho văn tự… Sự tục tĩu tầm thường mang dáng vẻ của sự phá cách, liệu có làm được những điều ấy chăng? Người viêt văn chưa kịp làm được việc góp phần chấn hưng đất nước mà có thể, rất có thể lại làm trầm trọng thêm những tai ương của thời cuộc trong cơn bế tắc của chính người viết. Tất cả người cầm bút không ai mong muốn điều  đó.

Sang năm 2017, đúng 30 năm Nguyễn Tuân trở về giời. Cuộc đời ông xê dịch bốn biển là nhà mà lại còn thiếu quê hương nữa. Không biết giờ này ông đang ở đâu? Cái tín ngưỡng của người Việt chúng ta muôn đời quan niệm rằng: người cõi âm ở chung với người trên dương thế.Ngày tết lễ, họ ở ngay trong nhà ngày xưa. Nhưng Nguyễn Tuân có biết bao nhiêu nhà.

Nhà số 49 Hàng Bạc. Bao lâu rồi nó vẫn khép nép đứng ở góc này bởi số 47 nhô ra một chút. Cạnh đó, nhà 51 lại được trùng tu bởi một dự án giữa tỉnh Toulouse-Pháp với Ủy ban Hà Nội. Có treo biển đồng hẳn hoi. Không hiểu họ có nhớ sát vách 51 là nơi sinh thành của một trong những văn tài đặc sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại hay không? Phía trước tầng trệt của rìa bên phải nhà 49 là quầy bán ngọc và sửa chữa đồ trang sức bằng bạc. Rìa bên trái là lối nhỏ đi vào phía trong sâu lắm. Một lối kiến trúc đặc sản của nhà phố cổ Hà nội. Có chừng 5 hộ dân đang ở. Không một  ai biết được cái vinh dự họ được ở trong ngôi nhà, cách đây hơn 100 năm-năm 1910- Nhà văn Nguyễn Tuân đã cất tiếng khóc  chào đời ở đây. Một đôi vợ chồng già ở ngay phòng đầu tiên của số 49. Như là nghiệp chướng của chủ nghĩa xê dịch, chủ nhân của 12 thước vuông ấy nghe nói là người Nam Bộ. Bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc từ 1954-1955; Giờ lại trở thành dân phố cổ của kinh thành Thăng Long xưa, ngày ngày chắp nối quãng đời còn lại bắc cầu cho hai thế kỷ mịt mù sương khói. Đối chính diện bên kia đường là đình Kim Ngân – Số 42 Hàng Bạc. Ngôi đình được lập ra mấy thế kỷ trước làm nơi thu bạc nén cho sinh hoạt Hoàng Thành. Bây giờ ở ngôi đình này, cứ 20 giờ đêm thứ 4, thứ 6 và chủ nhật hang tuần đều có hát ca trù – lối hát thơ đặc biệt của người Việt, bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 15 gắn với sự ra đời của cây đàn đáy. Người ta có hẳn một tờ bướm màu rượu vang đỏ giới thiệu ca trù bằng tiếng Anh. Cái thứ tiếng không có dấu – phương tiện của mấy ông thực dân, giờ đây rất quen thuộc với người phố cổ. Chẳng khác gì trẻ con mặc váy thổ cẩm, đeo vòng bạc ở phố núi gần nhà thờ đức mẹ Mân Côi trên Sa pa nói sõi tiếng Anh như tiếng Mèo. Catru – a form of Vietnamese traditional music, was recognized by UNESCO in 2009 as a world intangible culture heritage. Dường như, một lần nữa, trời đất lại chiều lòng cái xê dịch của ông Nguyễn mang tiếng tom chát bị ngắt quãng đến mức xót xa bởi 3 dây đàn đáy, nghe như nhấc lên đặt xuống của thân phận con người; cái thứ nghệ thuật vừa thượng lưu vừa trần tục đời thường lúc sinh thời ông Nguyễn rất thích, về ngay trước cửa nhà nơi ông đã sinh ra.

Cách một ngày nữa là rằm tháng 8. Không khí tết trung thu đã có mặt dểnh dang ở sân đình Kim Ngân. Người ta treo những chiếc nón quai thao với quai nón là những rải lụa buông dài đủ màu mà phần nhiều là màu hồng và màu thanh thiên. Đây đó, đặt một vài đầu sư tử nhiều màu theo kiểu truyền thống có nhẽ có từ thời Nguyễn Tuân. Tôi bước vào trong đình đặt mấy đồng bạc lẻ lên bàn thờ lễ, cầu may được thấy Nguyễn Tuân. Dường như, ở bên số 49, Nguyễn Tuân tay cầm gậy song, mặc bộ áo cánh lụa màu cậy nhà Phật, vốn là quà tặng của một người nhận thầm là Tóc chị Hoài tặng cho nhà văn sau năm 1975. Trời mùa này ở phố cổ Hà Nội dâng lên một màn sương khói của tiết thu se lạnh. Từ đình Kim Ngân này, sớm mai trời còn nhạt mặt người, nhà văn của chúng ta có thể đi bộ ra Ô Quan Chưởng để đợi bóng những cô hàng rượu từ bến Bồ Đề sang đây. Nhà văn sẽ nhập vai vào nhân vật của mình có tên gọi Bố Ô làm người ăn mày rượu đáng yêu trong truyện Yêu Ngôn như ông đã viết. Bây giờ ông không phải sang sông đến xóm Thượng Cát nghe đào nương hát ca trù trong những quán bình dân rách rưới và ẩm ướt của Một đêm họp đưa ma Phụng nữa. Uống rượu bằng bát gỗ ở Ô Quan Chưởng xong, lại về đình Kim Ngân nghe con cháu Quách Thị Hồ hát ca trù nhấc lên đặt xuống phận người như những ngày xưa. Có tiếng hỏi. Bốn biển là nhà. Ngài thường ngự tại đâu? Ông Nguyễn bảo. Cũng tùy. Nhưng thường ở bên số 90 Trần Hưng Đạo. Ở bên ấy còn để chiếc va li da cũ màu nâu nhạt trên nóc tủ sách. Dường như đó là chiếc va li trong thiên tùy bút cùng tên viết tặng bà Tuệ, vợ Ông từ hồi ở tỉnh Thanh. Cả những chiếc ấm đất đặt dưới sàn gỗ và trên những bức họa đang phôi pha dần theo năm tháng. Thi thoảng đi taxi qua mặt hồ Hoàn Kiếm lên Hàng Bạc nghe hát ca trù.

106 năm. Kể từ khi ông sinh ra. Cuộc đời có biết bao nhiêu xê dịch – Cái con người có lúc đã không biết sợ thời gian nữa. Tự nhận là kẻ không có dĩ vãng. Lắm khi lặng lẽ nhìn vào buổi chiều trơ trẽn mà cảm thán hình như buổi chiều nào cũng đều không có hoàng hôn. Nhưng lại mắc bệnh chơi mưa như thiên tùy bút Chiếc va li mới đã viết: Mỗi lần ở đâu đó gặp mưa lại tưởng như mình già thêm một ít. Con người tưởng như sớm nắng chiều mưa ấy, lại là người ngay từ khi mới cầm lấy sự bút nghiên đã cảm nhận sâu sa cái cao cả và lương tâm của người viết văn đi tìm cái đẹp. Một người viết văn để yêu sống, để tìm nhân loại, đi tìm mình trong nhân loại, để được thấy nhân loại trong mình mình. Đó là lời tâm sự nghề văn say đắm và trang trọng nhất mà ông Nguyễn đã từng nói. Nguyễn Tuân đã ra đi xa lắm. Ba mươi năm rồi. Chỉ còn lại văn chương ghi dấu ấn nhà văn như là một thi sỹ trong Vang bóng một thời đã không mệt mỏi tụng ca và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống như một phần nhân loại mang tên Việt Nam vẫn còn lại mãi cho muôn đời sau.

Mùa thu, 2016




Lịch sử và ý nghĩa của ngày lễ Tạ ơn

Lễ Tạ ơn (Thanksgiving) là một ngày lễ hằng năm tại Hoa Kỳ và Canada. Có ý nghĩa lúc đầu là tạ ơn Thiên Chúa đã cho sống no đủ và an lành.

thanksgiving
Lễ Tạ Ơn như đem những người sống trên đất nước Hoa Kỳ trở về với những ngày đầu của tổ tiên họ… Lễ hội này đầu tiên tại Bắc Mỹ được tổ chức tại Newfoundland bởi Martin Frobisher và nhóm Thám hiểm Frobisher năm 1578, để mừng tạ Chúa đã cho sống sót, qua cuộc hành trình dài và nhiều bão tố từ Anh.

Chuyện kể rằng, mùa đông đầu tiên quá lạnh, thật vô cùng khắc nghiệt, đến với họ. Thực phẩm lại thiếu thốn trầm trọng. Tháng 12 năm ấy có sáu người qua đời, qua tháng Giêng có tám người, tháng Hai tăng lên 17 người, và 13 người qua đời trong tháng Ba. Những người này đã âm thầm chôn cất những thi hài trong đêm tối vì sợ Thổ Dân (Native Indians) biết được có thể tấn công họ chăng! May mắn thay, không có một xung đột nào đáng kể giữa Người Da Đỏ và Người Hành Hương như họ dự đoán. Trái lại Thổ Dân rất thân thiện và tận tình giúp đỡ những Người Hành Hương trong cuộc sống mới về việc dạy cách trồng tỉa, săn bắn, nấu nướng các thứ hoa quả lạ…

Tháng Tư họ cùng nhau trồng bắp dưới sự chỉ dẫn của một Người Da Đỏ tên là Squanto. Những luống bắp nầy quyết định sự sống còn của họ trong mùa Đông sắp tới. Họ vui mừng vì mùa Xuân và mùa Hè năm 1621 thật quá tuyệt đẹp! Bắp lên tươi tốt hứa hẹn một vụ mùa no nê như lòng họ mơ ước. Mùa Đông lại về, nhưng bây giờ không còn là một đe dọa nữa. Mùa màng đã gặt hái xong, họ có dư thực phẩm để sống qua những ngày đông giá rét. Cũng không còn sợ lạnh vì đã làm được 11 cái nhà vững chắc đủ chỗ để quây quần sum họp. Họ quyết định tổ chức một Hội Ngày Mùa (Harvest Festival) để tạ ơn Thượng Đế cho họ sống sót qua mùa đông đầu tiên. Đó là lễ Tạ Ơn đầu tiên trên đất Mỹ. Ngày tháng chính thức của “First Thanksgiving” nầy không được chép lại, chỉ biết đầu tháng 11 năm 1621.

Thực phẩm chính trong Lễ Tạ Ơn nầy gồm: Bắp, bí đỏ, chim, vịt, ngỗng và gà tây. Họ cũng mời khách là các Thổ Dân. Tù trưởng Massasoit dẫn 90 dũng sĩ đến dự “party” và cũng đem biếu Thống Đốc của nhóm Người Hành Hương lúc bấy giờ là Bradford năm con nai nhân ngày Lễ Tạ Ơn đó. Họ ăn uống vui chơi suốt một tuần lễ.

Lịch sử ngày Lễ Tạ Ơn của người Mỹ cũng thăng trầm, trôi nổi theo vận nước của họ. Các tiểu bang thuộc địa đầu tiên không thống nhất được ý kiến chung về một ngày Lễ Tạ Ơn. Họ giữ ngày lễ tùy ý mà họ cho là thích hợp. Khi cuộc cách mạng giành độc lập từ tay Người Anh thành công họ mới nghĩ đến một Lễ Tạ Ơn chung cho 13 tiểu bang. Tổng Thống đầu tiên của nước Mỹ, George Washington, kêu gọi dân chúng giữ ngày thứ năm 26 tháng 11 năm 1789 làm ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên cho toàn quốc (First National Thanksgiving). Nhưng sau đó lễ tạ ơn cũng không được mọi người công nhận theo một ngày tháng nhất định. Dầu vậy, càng ngày càng có nhiều người đưa ra ý kiến nên có một ngày nhất định, đưa lễ Tạ Ơn thành quốc lễ (National Holiday) và đưa quyền quyết định cho chính phủ Liên-Bang.

Một trong những người có công trong việc thúc đẩy việc thành hình ngày Lễ Tạ Ơn là bà Sarah Josepha Hale. Vào năm 1837 bà Sarah trở thành chủ bút của một tạp chí phụ nữ nổi tiếng có tên “Godey’s Lady’s Book”. Bà đã viết hàng trăm lá thư gởi đến các nghị sĩ Quốc Hội và những người có thế lực lúc bấy giờ hầu vận động đưa ngày Thanksgiving vào quốc lễ. Trong thời kỳ nội chiến (Civil War) năm 1861, bà viết một tâm thư kêu gọi hai phe buông súng một ngày để giữ Lễ Tạ Ơn, nhưng không phe nào chịu nghe cả. Bà thất vọng!

Mãi đến năm 1863, Tổng thống Abraham Lincoln nhận thấy chiến tranh đã đến hồi kết thúc nên chỉ định ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11 làm ngày Lễ Tạ Ơn cho toàn quốc. Chẳng may ông bị ám sát, Andrew Johnson lên làm Tổng Thống, tiếp tục truyền thống cũ, nhưng đổi lại ngày thứ năm tuần lễ thứ 4 của tháng 11 làm Lễ Tạ Ơn. Rồi trong khoảng thời gian từ năm 1939 đến 1941, Tổng Thống Franklin Roosevelt chỉ định ngày thứ năm của tuần lễ thứ ba trong tháng 11 làm lễ Tạ Ơn thay vì thứ năm trong của tuần lễ thứ 4. Nhưng lần nầy Roosevelt bị các thương gia và các đảng viên Đảng Cộng Hòa chống đối dữ dội, cho rằng Tổng Thống đã đi ngược lại truyền thống cũ. Hai năm sau Tổng Thống Roosevelt rút lại quyết định và đặt ngày thứ năm tuần lễ thứ 4 của tháng 11 làm ngày Lễ Tạ Ơn cho toàn quốc mãi cho đến ngày hôm nay.

Lễ Tạ Ơn là dịp để chúng ta đếm các ơn lành Trời ban. Nhìn lại những ngày tháng tại quê nhà, cuộc hành trình tị nạn đầy gian nan vừa qua và những thành quả mà Người Mỹ Gốc Việt đạt được ngày hôm nay để chúng ta dâng lên Thượng Đế lời Tạ Ơn sâu xa nhất. Tạ ơn Trời vì Ngài đã ban cho ta sự sống, hơi thở, sức khoẻ và bao nhiêu là ân huệ. Chúng ta cũng nên cảm ơn nhau. Cảm ơn thân quyến, bạn bè, những người thân quen và ngay cả những người chưa từng biết về sự chan hòa của họ trong cuộc sống của mỗi chúng ta trong cộng đồng nhân loại.




Con gái Hà Nội ở đâu?

Mẹ tôi nể phục mấy cô gái Hà Nội lắm. Dưới con mắt của người nhà quê ra Hà Nội làm việc vặt, bà thấy các thiếu nữ nơi đây ứng xử khôn khéo, nói năng lễ độ, và khuôn phép lắm. Đó là chưa kể thêu thùa may vá, nữ công gia chánh,… Nói chung là đảm. Mỗi khi thấy mấy cô Sài Gòn tân thời quá, tự nhiên quá, bà lại chép miệng, con gái Hà Nội đâu có thế. Bà nói riết, nói riết…, khiến tôi ngờ…bà muốn thằng con của bà nên đi tìm một thiếu nữ Hà Nội.

 

Nhưng thế giới của tôi lại khác. Tôi sinh ra ở Sài Gòn, lớn lên ở Sài Gòn, bạn bè Sài gòn, trong đầu tôi, nếu có, cũng chỉ là con gái Sài Gòn cho hợp… thủy thổ.

 

 

Tôi đã nhìn thiếu nữ Hà Nội qua lăng kính của những

tiểu thuyết trong Tự Lực Văn Đoàn mà tôi được học thời trung học.

 

 

Mà con gái Bắc (di cư 54) hồi đó gớm lắm, vờn qua vờn lại, làm duyên, đá lông nheo, õng ẽo  làm điêu đứng con trai Nam Kỳ đến là khổ. Một thanh niên xứ Biên Hòa đã phải cay đắng thế này:

“ Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc

Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền,

Nhớ khiêm nhường nhưng thâm ý khoe khoang,

Nhớ duyên dáng ngây thơ mà xảo quyệt…”

Tôi không có ý kiến gì về bài thơ trên, mà cũng chẳng dại gì có ý kiến. Mấy bà mấy cô Bắc Kỳ đọc bài thơ trên có nổi cơn tam bành rủa xả, thì chắc cũng chỉ mình rủa mình nghe thôi, chứ tác giả, nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên chết rồi, chết trong một chiếc xe hơi cũ kỹ ở sân chùa bên California.

Dù sao cũng nên đọc tiếp thêm vài câu nữa mới thấy “cảm thương” cho tác giả:

“…Ta vẫn nhớ dặn dò lòng tha thiết,

Nên vội vàng tin tưởng chuyện vu vơ

Nên yêu đương bằng gương mặt khờ khờ

Nên hùng hổ để đợi giờ thua thiệt…”

Những ngày sau 75, trên tivi Sài Gòn là những đoàn quân “chiến sĩ gái”, bước theo nhịp quân hành, chiếu cận cảnh với đôi mắt rực lửa căm hờn, giọng nói lanh lảnh. Cảm giác đầu tiên của tôi với các cô gái Bắc Kỳ (thứ thiệt) là…ớn lạnh. Tôi cười, “Đấy con gái Hà Nội của mẹ đấy…”. Bà cụ lại thở dài, chép miệng… “Hồi trước đâu có thế…”.

Dĩ nhiên, mẹ tôi không thể phát hiện cái trò đánh lận rẻ tiền của thằng con, tỉnh bơ xem tất cả các cô Bắc Kỳ đều là các cô Hà Nội.

Thực ra trong đầu tôi cũng có một chút gì đó mơ hồ về con gái Hà Nội. Biết tả thế nào nhỉ! Có thể là hình ảnh dịu dàng đằm thắm của cô Liên trong Gánh Hàng Hoa, hay thiếu nữ tân thời một cách bảo thủ, không sao thoát ra khỏi vòng lễ giáo của cô Loan trong Đoạn Tuyệt. Tôi cảm được nỗi cô đơn của Loan khi thả bộ trên bờ đê Yên Phụ,… Đại loại là tôi đã nhìn thiếu nữ Hà Nội qua lăng kính của những tiểu thuyết trong Tự Lực Văn Đoàn mà tôi được học thời trung học.

Cũng chẳng dừng ở đấy đâu. Khi đọc “Tuấn, chàng trai nước Việt”, một thứ tiểu thuyết hồi ký của Nguyễn Vỹ, tôi biết thêm rằng, các cô nữ sinh Hà Nội cũng lãng mạn ra rít. Họ kín đáo lập ra hội “Ái Tino”. Tino Rossi là ca sĩ người Pháp lừng danh thưở đó, và là thần tượng của vô số thiếu nữ, chẳng riêng gì thiếu nữ Hà thành. Cái “hội” kín đáo, chỉ lèo tèo dăm ba cô thế thôi, nhanh chóng tan hàng, và rồi mạnh ai người nấy tam tòng tứ đức, xuất giá tòng phu, công dung ngôn hạnh… Cái “lãng mạn tân thời” chỉ là đóm lửa, và họ nhanh chóng quay lại với sự thanh lịch, nề nếp theo giáo dục của gia đình.

Năm 1980, lần đầu tiên tôi ra Hà Nội công tác. Anh bạn đồng nghiệp trạc tuổi, tốt nghiệp từ Đông Đức, chở tôi trên chiếc Simson lòng vòng Hà Nội. Nơi đầu tiên tôi muốn ghé thăm là phố Khâm Thiên. Anh bạn tròn xoe mắt, “Làm gì còn hố bom mà ghé thăm”. Tôi chợt hiểu vì sao anh bạn ngạc nhiên, nhưng không thể giải thích. Môi trường giáo dục trong Nam ngoài Bắc khác nhau.

Cái máu phóng đãng đã dẫn tôi đến phố Khâm Thiên, chứ không phải bom rơi đạn lạc ở đó. Đến, dù chỉ để nhìn vài căn nhà xiêu vẹo, cũng thỏa đôi chút tò mò về một thời vang bóng. Phong lưu tài tử giai nhân, đúng, nhưng không phải cách phong lưu của Vân Hạc trong Lều Chõng của Ngô Tất Tố. Anh chàng Vân Hạc khi chờ kết quả thi, ra vào chốn ả đào để vui say bè bạn, để trấn an nhau, để bốc nhau, để chờ ngày bảng vàng ghi tên.

Tôi nhớ đến kiểu cách phong lưu của Cao Bá Quát, một tay chơi thứ thiệt, khi làm sơ khảo trường thi, tiếc bài thi hay mà phạm húy, đã dùng muội đèn để sửa. Việc lộ, bị kết án giảo giam hậu, ông phải đi dương trình hiệu lực, nghĩa là đi làm phục dịch cho phái đoàn đi công tác nước ngoài. Con người tài hoa này, mang theo nỗi cô đơn đến phố ả đào giải sầu bên chén rượu, làm vài bài hát nói, đào nương hát, mình gõ nhịp…

“Giai nhân nan tái đắc

Trót yêu hoa nên dan díu với tình

Mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh

Rầu rĩ lắm xuân về oanh nhớ…”

Cũng lần đầu ở Hà Nội, buổi chiều chập choạng tối, lang thang ở phố Huế, tôi thấy một bà đi xe đạp ngược chiều, bị cảnh sát ngoắc lại. Bà năn nỉ thông cảm? Không. Bà phân bua? Không. Bà cãi tay đôi với cảnh sát rằng, nhất định mình đúng. Lương và nhu yếu phẩm phân phối còn không đủ sống, đâu dễ gì chịu nộp phạt. Đôi co với nhau mà cả hai vẫn một mực xưng hô…đồng chí. Tôi phì cười. Hà Nội có những điều không nằm trong trí tưởng tượng của một người Sài Gòn, lần đầu ra Hà Nội như tôi.

Bây giờ, Hà Nội khác xa rồi. Hà Nội nhiều nhà cao tầng, cầu vượt. Hà Nội nhiều xe hơi hơn, Hà Nội giàu hơn. Hà Nội không còn những cảnh cãi tay đôi với cảnh sát buồn cười như thế nữa.  Hà Nội văn minh hơn, nhưng có thể họ phải “cãi tay đôi” với chính mình, khi mà còn những cảnh thanh niên thiếu nữ “ à la mode” hái hoa, giẵm hoa bẻ cành để chụp ảnh, hay gào thét tung hô thần tượng minh tinh Hàn Quốc. Đó là chưa kể bún mắng cháo chửi, rải rác vẫn còn đâu đó. Thương hiệu chăng? Tôi chịu! Ăn ngon mà nghe chửi, thôi thà ăn độn dễ nuốt hơn.

Tôi có bà bạn già (hơn tôi) là dân Hà Nội mấy đời. Cha bà là một trong số rất ít người xong bậc đại học thời Tây. Sau 54, nhà đông con, xoay sở không nổi, ông bố định cho 2 đứa con lớn tạm nghỉ học, đi làm rồi học bổ túc sau. Nhưng bà mẹ thì không, nhất quyết không. Bà đến gặp ông bà bác sĩ nhà bên mượn…tiền để các con tiếp tục ăn học. Họ cùng ở trong thành như bà, không vướng bận con cái, còn chút của ăn của để, đồng ý cho vay tín chấp, một thứ tín chấp tình người, thời nay khó tìm. Tôi hiểu ra, dân trí thức Hà Nội xưa có kiểu chơi “chẳng giống ai” (lúc này). Họ kín đáo giúp đỡ nhau trong những tình huống khắc nghiệt. Trong họ dường như  chất “nhân” và lòng tự trọng được rèn luyện qua giáo dục, giấy rách phải giữ lấy lề. Mực đen và bão tố không thể vấy bẩn hay phá sập.  Những năm sau 75, trong Sàigòn tôi cũng thấy vài trường hợp như thế.

Bà bạn (già) này, về chuyên môn, thì kiến thức mênh mông chứ chẳng vừa. Ăn nói nhẹ nhàng, nhưng quyết liệt khi cần. Vậy mà cư xử thì cứ dạ dạ,..cám ơn. Bà nói chuyện với tôi cũng thế, cũng dạ dạ,..cám ơn.  Tôi cười, sao chị khách sáo thế. “Không phải đâu, tôi được giáo dục trong nhà từ nhỏ như thế. Các anh chị em tôi cũng đều như vậy chứ chẳng riêng tôi. Hồi đi học, chỉ vì dạ dạ…cám ơn mà chúng tôi bị phê bình là tiểu tư sản. Ông bà cụ dạy con nghiêm khắc lắm. Tôi là con gái, đi học về là phải tập tành bếp núc, ăn trái chuối là phải bẻ đôi. Ở trường là chuyện khác, còn về nhà là đâu ra đó, vào khuôn phép.”. Tôi cũng nhận ra sự  “khách sáo chân thành” của bà, chứ không phải khách sáo đãi bôi.

Dạo sau này, vì công việc tôi thường ra Hà Nội. Đi ăn hàng với bè bạn ở đó thì không sao, nhưng hễ đi một mình là bị chặt (giá), dù chỉ là chai nước tinh khiết, 10.000 đồng ở quán ven đường phố cổ. Bị chặt riết thành quen. Tôi nhủ thầm, lần nào ra Hà Nội mà không bị chặt coi như trúng số.

Dù tôi cũng có vài người bạn thân ở Hà Nội, nhưng giữa tôi và Hà Nội, dường như vẫn còn khoảng cách nào đó. Tôi đến Hà Nội như một kẻ xa lạ, đến như đi nước ngoài không cần visa.

Sài Gòn dễ hội nhập. Cứ ở Sài Gòn là thành người Sài Gòn. Chưa thấy mình là người Sài Gòn, ở lâu thêm chút nữa cũng biến thành người Sài Gòn. Sài Gòn đồng hóa con người nhanh lắm.

Nhưng Hà Nội có lẽ khác, người ta đồng hóa Hà Nội như vũ bão, đồng hóa cạnh tranh từ nhiều nguồn khác nhau để tạo ra một văn hóa Hà thành hiện đại khó mô tả. Còn người Hà Nội (thứ thiệt) đành phải co cụm, khép kín, và giáo dục con cái theo cách riêng của họ để bảo tồn…di sản. Giáo dục từ gia đình mới tạo ra gốc rễ, chứ  không phải là quy tắc ứng xử, hay giàu sang, quyền thế.

Hà Nội nhiều hồ. Hà Nội đẹp vì hồ vào những buổi sáng thật sớm, khi trời còn nhá nhem. Sáng lên, Hà Nội biến mất. Con gái Hà Nội (xưa) chắc cũng thế. Cuộc đời dâu bể đã làm họ biến mất, nhưng thực ra cũng chỉ lẩn quất, âm thầm đâu đó thôi.

Năm ngoái, đi ngang qua ngõ nhỏ trong khu phố cổ, tôi ghé tiệm tạp hóa mua chai nước lạnh. Bà bán hàng dễ cũng gần 70, đưa chai nước: “Thưa, của ông đây, giá 5.000. Cám ơn ông…”. Tai tôi lùng bùng. Trong tiềm thức có cái gì nghe quen quen, đọc đâu đó rồi. Đã dợm chân đi, nhưng cũng quay lại: “Thưa bà, bà là người Hà Nội?”. “Vâng ạ, nhà tôi ở  ngõ này đã ba đời rồi, từ thời ông nội tôi ra làm quan ở đây”.

Mẹ tôi nói đúng về con gái Hà Nội. Họ hiếm hoi, ẩn mình như giọt nước đọng ở mặt dưới của lá cây sau cơn mưa. Có duyên mới gặp, phải tìm mới thấy.

Vũ Thế Thành




Trường vẽ Gia Định

Năm 1917 trường vẽ Gia Định là trường Mỹ Thuật duy nhất được xếp vào loại “trường Trung học đệ nhất cấp” và được nhận là hội viên của “Hiệp hội Trung ương trang trí Mỹ thuật Paris”.

Năm 1940, trường vẽ Gia Định được đổi tên thành “Trường Mỹ nghệ thực hành Gia Định” (Ecole des Arts appliqués de Gia Định). Năm 1945 nhiều học sinh của “Trường vẽ Gia Định” xếp bút nghiên để đi kháng chiến như: Huỳnh Công Nhãn, Hoàng Trầm… Thời gian này, trường cũng tạm ngưng hoạt động.

Năm 1954, chính quyền VNCH cho thành lập trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn. Cái mốc lịch sử quan trọng về đào tạo mỹ thuật ở Sài Gòn thời kỳ này là chủ trương nâng cấp về đào tạo của 2 trường: Quốc gia Cao Đẳng Mỹ thuật Sài Gòn và Trung học Trang trí Mỹ thuật Gia Định (tiền thân là trường vẽ, trường Mỹ nghệ Gia Định).

 

Năm 1975, hai trường nói trên được nhập làm một. Ngày 29-9-1981, trường được đổi tên thành “Trường Đại học Mỹ Thuật TP.HCM”.

 

Được biết ngôi trường cũ kiến trúc trăm tuổi đã không còn tồn tại từ trước năm 1975. Phần đập bỏ hiện nay là phần xây dựng sau này. Dù biết công trình đã cũ thì phải bỏ để xây cái mới an toàn, hiện đại và phục vụ hoạt động tốt hơn, nhưng lịch sử của ngôi trường là nơi đã và đang đào tạo biết bao thế hệ nghệ sĩ, họa sĩ tài danh ở miền Nam trong cả trăm năm vẫn khiến nhiều người lưu luyến.

 

Xem trọn bài




Cẩm nang cho những du khách muốn thăm viếng Việt Nam

 

Từ Thức

Một người bạn nói: ông là người Việt, sống ở ngoại quốc, hiểu cả người Việt lẫn người nước ngoài, nên làm một cẩm nang cho những du khách muốn thăm viếng Việt Nam.
Mới đầu, thấy đó là một ý hay. Làm thử vài trang dưới đây, không biết có nên làm tiếp không, không biết có giúp gì cho du khách để hiểu VN hơn hay không.

– Nếu ăn tiệm, thấy ngon, đừng khen. Người ta sẽ tăng giá gấp hai.
– Mua hàng, phải trả giá. Trả giá bao nhiêu cũng hớ. Nhưng nên an ủi: có người còn hớ hơn mình.
– Để quên iPhone hay ví tiền, đừng quay trở lại, hỏi có ai lượm được không. Bạn đang ở VN, không ở Nhật.
– Đi đường, chỉ nên đeo nhẫn hay đồ trang sức giả. Có thể bị mất ngón tay, nhưng không mất nhẫn… thật.
– Đừng lễ phép, chào hỏi, cám ơn, xin lỗi. Đó là dấu hiệu của người yếu. Không có chỗ sống cho người yếu trong một xã hội toàn những người hùng.
– Nếu mất giấy tờ, khi khai báo, phải biết điều. Người công chức ngồi trước mặt bạn đã tốn nhiều tiền mới được ngồi đó. Hãy giúp họ thu lại số tiền đã bỏ ra đầu tư. Đơn của bạn cũng chẳng có ai xét, nhưng nếu biết điều, đỡ mất công chờ đợi.
– Khi có người hỏi: có biết bác Hồ không, đừng kể lể những điều bạn biết về ông Hồ qua Wikipedia. Khổ lắm, biết rồi, nói mãi. Người ta chỉ nhắc khéo bạn đã quên chi tiền.
– Gặp một người lần đầu, cứ nói: chào tiến sĩ. Rất hiếm người không phải là tiến sĩ. Hay ít nhất phó tiến sĩ, nhưng người Việt không thích làm phó cho ai cả.
– Nếu gặp một ông tiến sĩ có trình độ thấp hơn học sinh tiểu học, đừng ngạc nhiên. Có thể ông ta chưa học xong tiểu học.
– Nếu người ta đưa một tờ giấy khổ lớn, chằng chịt những chữ, đừng nghĩ đó là một thực đơn. Đó là một danh thiếp, liệt kê bằng cấp, chức vụ…
– Đừng hỏi chức vụ này nghĩa là gì, bằng cấp kia của trường nào. Chính đương sự cũng không biết.
– Nếu muốn tơ lụa hay đặc sản Việt Nam làm kỷ niệm, đừng mua tại chỗ, vác nặng mệt xác. Chờ khi về, mua trong một tiệm Tàu cạnh nhà.
– Đừng làm gì, nói gì, nếu không muốn bị phiền phức. Nên nhớ ở nước bạn, người dân có quyền làm bất cứ điều gì luật pháp không cấm; ở Việt Nam chỉ có quyền làm những gì luật pháp cho phép.
– Đừng làm gì, ngay cả khi luật pháp cho phép. Nhiều người ở tù mọt gông vì tưởng luật pháp làm ra để áp dụng.
– Muốn biết ai thuộc giai cấp nào trong xã hội, nên nhìn móng tay họ. Câu nói nổi tiếng: tôi làm thối móng tay mới xây được nhà cửa. Nếu thấy ai có móng tay thối, nên bày tỏ sự kính trọng. Đó ít ra là một chủ tịch xã, chủ một dinh cơ, lớn gần như dinh Tổng thống Mỹ.
– Nếu bạn thấy một người diện complet, cà vạt trong khi trời nóng như lửa, nói những câu ngớ ngẩn khiến thiên hạ ôm bụng cười, đừng nghĩ đó là những anh hề. Đó là những đỉnh cao trí tuệ loài người, đang mô tả một thiên đường XHCN trong tương lai.
– Đừng ngạc nhiên khi thấy một người làm 100 dollars mỗi tháng, xài iPhone trên một ngàn đô, xe hơi trên trăm ngàn. Tại sao không? Why not?
– Thấy hàng trăm người tụ tập ồn ào, đừng nghĩ họ biểu tình đòi nhân quyền hay tranh đấu cho môi sinh. Họ đang tranh nhau chỗ trong một tiệm McDonal’s, Starbucks.
– Thấy hàng ngàn người ngoan ngoãn xếp hàng cả buổi, đừng nghĩ họ chờ vào thư viện, coi triển lãm… Họ chờ giờ mở cửa H&M hay GAP.
– McDonald’s, H&M… đối với bạn là những tiệm bình dân, ăn cho mau, mặc cho tiện trong khi lao động tốt. Với người Việt, đó là những nơi sang trọng, dấu hiệu của thành đạt. Cái gì dính dáng tới ngoại quốc cũng sang trọng. Chụp được cái hình nằm chờ trước cửa H&M là bằng chứng bạn thuộc thành phần ưu tú trong xã hội.
– Nếu thấy một người quỳ gối, hôn chân một người khác, người quỳ gối là người Việt. Vì không thể có chuyện ngược lại. Đó là một hành động vinh quang, nếu người ngoại quốc là tỷ phú. Là một niềm hãnh diện, nếu người ngoại quốc là…. người ngoại quốc.
– Thử nêu tên Mandela, Gandhi: nhiều người trẻ nghĩ đó là một hiệu quần áo Tây, và hy vọng có ngày mở tiệm ở VN để được xếp hàng chầu chực. Nhưng họ sẵn sàng kể cho bạn tất cả những giai thoại về thần tượng Jack Ma, một thương gia Tàu trở thành tỷ phú nhờ cấu kết với nhà nước, bán hàng giả.
– Đi Air VN, nếu chờ quá một giờ trước W.C, đừng nghĩ có người táo bón bên trong. Nhân viên hàng không đã khóa cửa để lấy chỗ chở đồ lậu.
– Tại sao nhiều người Việt, kể cả người có chức sắc, bị bắt vì ăn trộm ở các cửa hàng nước ngoài? Bởi vì họ biết xài, biết hàng hóa ngoại quốc có phẩm chất.
– Tại sao ở Nhật có những bảng lớn, viết bằng tiếng Việt, nơi công cộng: “Ăn cắp là xấu”? Bởi vì ngày nay tiếng Việt được dùng tại khắp nơi trên thế giới.
– Bạn thắc mắc: tại sao phải để 10 dollars vào sổ thông hành khi qua hải quan. Sự thực, không bắt buộc phải để 10 dollars. Người ta bịa đặt ra để nói xấu chế độ. Hai mươi đô cũng được. Nhưng chuyện đó là chuyện giữa người Việt. Bạn không cần làm. Người Việt giỏi bắt nạt nhau, nhưng rất nể người ngoại quốc.
– Bạn nghe thường xuyên chữ “đéo”. Đừng tra từ điển. Chỉ nên biết đó là một chữ rất thơ mộng, rất lịch sự, trang nhã. Nếu không, tại sao họ xài trong bất cứ cơ hội nào?
– Muốn băng qua đường, đừng chờ xe cộ ngưng lại. Cứ nhắm mắt lao đầu đi. Nếu gặp tai nạn, biết ngay. Đây cũng nằm trong chiến dịch bôi xấu chế đô. Chuyện có người băng qua đường mà KHÔNG bị thương tích hay mất mạng xảy ra mỗi ngày, tại sao không báo nào loan tin? Vả lại, theo triết lý Đông phương, chết sống là số mệnh.
– Tại sao ở VN có nhiều nơi dành cho Tàu, cấm người Việt? Bởi vì nếu cho người Việt vào, đâu còn là khu Tàu?
– Tại sao thí mạng hàng triệu người, nói là để tranh đấu cho độc lập, ngày nay nước Việt thành nước Tàu? Bởi vì, khi tranh đấu, không ai nói rõ là dành độc lập cho ai, cho người Việt hay người Tàu.
– Người ta nói nước Việt đang trở thành Tàu? Đó là tuyên truyền để chống phá chế độ. Trên thực tế, người Việt vẫn đông hơn người Tàu. Trên TV, thỉnh thoảng vẫn có những chương trình văn hóa Việt Nam. Lố lăng thực, lai căng thực, nhưng Việt Nam.
– Tại sao người Việt chặt hết cây, phá hết rừng để gây lũ lụt, nhà trôi, người chết ngập đồng? Bởi vì gỗ bán được giá.
– Tại sao khi đốn rừng, người ta không trồng cây để thay, như ở các nước khác? Bởi vì người Việt không ngu như thiên hạ. Trồng cây, mấy chục năm mới lớn. Đổ mồ hôi trồng cho thằng cán bộ phe khác nó chặt à? Nếu lúc đó, hết CS, trồng cây cho phản động nó chặt à?
– Tại sao rừng núi VN có nhiều sinh vật quý, hiếm, ngày nay gần như tuyệt chủng? Bởi vì nhậu thịt bò, thịt chuột, thịt chó, thịt mèo mãi cũng chán.
– Tại sao người ta chặt cây, đốn rừng mà ít người phản đối? Bởi vì theo túi khôn của người Việt “ăn cây nào, rào cây đó”. Anh đã hái trái cây ở ngoài đường bao giờ chưa? Nếu có trái, thằng khác nó cũng hái trước rồi.
– Tại sao xúc cát… Thôi, đừng hỏi vớ vẩn nữa. Anh là bạn tôi hay bạn của cây, của rừng, của cát?
– Người bị tai nạn hay bị đả thương nằm chờ chết trên đường, tại sao không ai dừng lại? Bởi vì coi người bị xe cán chết hoài cũng chán. Nhân viên công lực? Bạn đã thấy có ai sắp chết rút tiền tặng công an, cảnh sát?
– Đừng thắc mắc tại sao người Việt hung bạo, tìm mọi cớ để đánh nhau vỡ đầu, bể trán. Suốt đời, họ bị những người có quyền đè nén, đánh giết nhau là một cách để xả hơi.
– “Những người con gái buồn không nói. Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì?” (Xuân Diệu). Họ tự hỏi sẽ được xuất cảng đi đâu: Trung quốc, Đài Loan, Đại Hàn..
– Tại sao tàn nhẫn với trẻ con? Bởi vì khùng hay sao mà đi kiếm chuyện với thằng tàn nhẫn, khỏe, hung bạo, quyền thế hơn mình.
– Tại sao tàn nhẫn với đàn bà? Tại sao không? Bớp tai một cô bán hàng, không ai làm phiền, hôm sau nổi tiếng. Van Gogh bỏ cả đời vẽ tranh, chết mới nổi danh.
– Tại sao khi người Việt quét sân, hay xả rác ra đường hay đùn sang hàng xóm? Bởi vì nếu giữ rác trong nhà thì quét dọn làm gì?
– Tại sao có quán lấy nước rửa chân pha trà cho khách? Bởi vì mỗi người một sở thích. Có người thích trà hoa lài, trà sen, có người thích trà rửa chân.
– Tỷ số thất nghiệp chính thức ở VN là 2,3%, trong khi ở các nước tân tiến 5 hay 10%, có tin được không? Cố nhiên là phải tin, nếu không làm thống kê làm gì? Số thất nghiệp thấp, vì VN là một nước bình đẳng, nghề nào cũng được coi trọng, cũng được nhìn nhận. Đánh giầy là một nghề, ăn xin là một nghề, rước mối là một nghề. Đánh ghen mướn, đòi nợ thuê, đánh bả chó…
– VN đứng thứ 175 trên 180 nước về tự do báo chí? Luận điệu của phản động. Ở VN, trên lý thuyết cũng như trên thực tế, báo chí được hoàn toàn tự do ca tụng chế độ. Bạn đã thấy dư luận viên nào gặp khó dễ hay đi tù khi hành nghề chưa?
– VN bị xếp hạng trong những nước đội sổ về nhân quyền, tự do tôn giáo, về lương bổng… So what? Nếu ai cũng ngang nhau thì xếp hạng làm gì? VN cũng đứng đầu nhiều địa hạt. Thí dụ: tỷ số người bị ung thư, thành phố ô nhiễm. Sài Gòn là một trong những thành phố nguy hiểm nhất thế giới. VN là một trong ba nước có tiềm năng xuất cảng nô lệ, đàn bà mại dâm lớn nhất thế giới.
– Cùng với Trung Quốc, VN là một trong hai nước sản xuất và tiêu thụ nhiều phong bì nhất tính trên đầu người.
– Tại sao Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Đài, Anh Ba Sàm… nằm tù hàng chục năm? Bởi vì họ làm chính trị, chống nhà nước. Tại sao VN nói không có tù nhân chính trị? Bởi vì khi vào tù, họ trở thành thường phạm.
– Tự do tôn giáo? VN là nước tự do nhất thế giới. Cán bộ muốn thành sư, hôm sau cạo đầu thành sư. Ai không tin tôn giáo, cứ tự do vác súng đi hỏi tội linh mục.
– Tại sao ai cũng muốn dân chủ, nhưng VN vẫn là một nước độc tài? Bởi vì người nọ chờ người kia. Nếu anh làm, anh đi tù, người khác hưởng. Tiện nhất là chờ Tây, Mỹ nó làm giùm. Tây, Mỹ không hiểu sao nó thích buôn bán hơn là làm dân chủ. Khi nào Mỹ nó thay đổi, hết ham dollars, VN sẽ có dân chủ. Đó là vấn đề của Mỹ, không phải của người Việt.

Paris, tháng 11/2017




Hội thoại về giải Văn Thơ Lạc Việt – 3 tháng 12/2017




Hình ảnh giáo dục xưa

Education in ancient VN




Một người Sài Gòn đã thiết kế Sài Gòn từ thành Gia Định

Có thể khẳng định các trục đường khu trung tâm Sài Gòn trước và sau khi Pháp chiếm Gia Định 1859  cũng như hiện nay hầu hết theo hướng các cạnh thành Gia Định. Thiết kế, quy hoạch này của một người Sài Gòn từ năm 1790: Trần Văn Học.
Đường Bangkok (Mạc Đĩnh Chi hiện nay) chụp từ đại lộ Norodom (đường Lê Duẩn hiện nay) cuối thế kỷ 19 được xây dựng từ bức tường thành Gia Định bị Pháp đánh chiếm 1859. Dãy nhà  ngói, nhà lá bên trái ảnh hiện là khuôn viên trụ sở Tòa lãnh sự Hoa Kỳ ở TP.HCM – Ảnh tư liệu

 

Thậm chí, nhiều con đường lớn của đô thị Sài Gòn xưa, khu trung tâm TP.HCM hiện nay đã có trước khi Pháp vô 69 năm.

Đường phố trung tâm Sài Gòn do công trình sư Trần Văn Học thiết kế

Trần Văn Học là một võ tướng có công rất lớn với chúa Nguyễn Ánh từ khi bôn tẩu đến lúc lên ngôi Gia Long; từng đưa mẹ Nguyễn Ánh cùng gia quyến chạy sang Cao Miên khi Tây Sơn truy đuổi; đưa hoàng tử Cảnh đi cầu viện nước ngoài… nhưng cuộc sống lại khá bình lặng, đến mức cả sử sách, tư liệu lịch sử không rõ ông sinh ra và mất năm nào.

Chỉ chắc chắn một điều, Trần Văn Học là người huyện Bình Dương, Gia Định, cụ thể là dân khu vực ngã năm Bình Hòa (Q. Bình Thạnh, TP.HCM) hiện nay và khi mất, chôn ở nơi đây.

Trong quá trình bôn tẩu, ông từng đến Xiêm (Thái Lan), Ấn Độ, Pháp, Bồ Đào Nha, Philippines, Malaysia…  và là người Việt đầu tiên vẽ bản đồ Sài Gòn – Gia Định xưa theo phương pháp phương Tây.

Là võ tướng nhưng ông không chỉ biết chữ Nho mà còn còn giỏi quốc ngữ và tiếng Latin nên luôn là trợ tá đắc lực của Nguyễn Phúc Ánh trong thông ngôn, dịch sách, nhất là các sách kỹ thuật phương Tây và kiêm cả việc chế tạo hỏa xa (một thứ chiến cụ), địa lôi và các loại binh khí.

Năm 1790, Nguyễn Phúc Ánh cho xây thành Gia Định (thành Bát Quái) từ thiết kế của hai sĩ quan công binh Pháp Olivier de Puymanel, Le Brunt và giao Trần Văn Học “phác họa đường sá và phân khu phố phường” đường trong thành năm 1790 (để dễ phân biệt, xin lấy tên thành Phiên An – thành Quy để phân biệt với thành Gia Định xây năm 1836 – thành Phụng).

Chúa Nguyễn Ánh còn giao ông chịu trách nhiệm quy hoạch phố thị nằm ngoài thành lũy.

Bản đồ Gia Định – Sài Gòn – Bến Nghé do Trần Văn Học vẽ 1815. Khu vực trong và ngoài thành Bát Quái (Phiên An –  trung tâm tâm đô thị Sài Gòn) là những con đường ngang dọc vuông vức mà hiện chúng ta đang đi. Từ hai thành Phiên An, Gia Định, các trục lộ chính tỏa bốn hướng giờ vẫn còn: Hai Bà Trưng (giữa thành, qua Phú Nhuận, xuống Gò Vấp và quay lại thành), đường Nguyễn Trãi (đi Chợ Lớn), đường Nguyễn Thị Minh Khai (bên trái thành đi miền Tây, phải thành đi miền Đông, ra xa lộ Hà Nội, QL1), Cách Mạng Tháng 8 (đi Campuchia),  Nguyễn Tất Thành (đi Q.7, Nhà Bè, Cần Giờ).

Khi Pháp chiếm xong Gia Định, các trục đường do ông vẽ ngay lập tức trở thành trục lộ chính của đô thị Sài Gòn.

Tranh vẽ 3D của của đại úy hải quân Pháp Favre năm 1881 (có thể năm 1895 vì đã có tháp chuông Nhà thờ Đức Bà) cho thấy các các đường phố Sài Gòn hoàn toàn song song, vuông vức với quy hoạch đường phố trong và ngoài thành Gia Định trước khi Pháp vô. Thậm chí những con đường mới cũng mở theo quy cách khoảng cách giữa các con đường bằng nửa một cạnh thành (khoảng 200-250m) – Tranh tư liệu

Chẳng hạn con đường từ giữa cổng thành Gia Định đi thẳng ra sông Sài Gòn đặt tên là đường Citadelle (đường Thành – nay là đường Tôn Đức Thắng).

Các con đường xung quanh thành cũng trở thành đường (xin ghi tên hiện nay để bạn đọc không rối) Nguyễn Bỉnh Khiêm, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Duẩn.

Đại lộ Norodom (đường Lê Duẩn hiện nay) nhìn từ Dinh toàn quyền (khu vực hội trường Thống Nhất hiện nay) thời thuộc Pháp. Đây vốn là con đường chạy trước thành Gia Định trước khi bị Pháp chiếm 1859 – Ảnh tư liệu
Đến nay đoạn đường chạy ngang cổng chính thành Gia Định là đường Lê Duẩn vẫn là một trong những con đường đẹp nhất Sài Gòn – Ảnh: M.C.
Đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa hiện nay (đoạn chạy qua hội trường Thống Nhất, tức dinh Độc Lập trước 1975) vốn là một cạnh thành Phiên An 1790 – Ảnh: M.C.

Hoặc đường  Đồng Khởi (thời Pháp là đường Catinat) có từ trước khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn và nay vẫn là một trong những con đường “vàng” của TP.HCM, vốn là con đường chúa Nguyễn từ thành ra bờ sông Sài Gòn nghỉ mát và tắm (có tên xưa là Bến Ngự).

Khu trung tâm Sài Gòn, ít nhất 26 con đường của nhà thiết kế Trần Văn Học sau khi Pháp vô đã mang số thứ tự 1-26 (đến 1-2-1865, đề đốc De La Grandière đặt tên đường và đường số 16 tên Catinat).

Khu trung tâm Sài Gòn thời thuộc Pháp: đường chạy dọc bên trái ảnh là đường Hai Bà Trưng hiện nay; đường bên phải là đường Phạm Ngọc Thạch (dưới), Đồng Khởi (trên); đường ngang giữa ảnh là đường Lê Duẩn… đều nằm trong tổng thể ngang – đông nam, dọc – tây bắc của thành Gia Định. Nhà thờ Đức Bà nằm trong khuôn viên xưởng chế tạo (súng đạn – xưởng thợ) – Ảnh tư liệu

Quy hoạch Sài Gòn từ thành Gia Định 1790 giờ vẫn đang xài

Các trục đường do ông thiết kế năm 1790 (vẽ năm 1815) hiện nay vẫn còn là những trục lộ chính của một TP.HCM hiện đại, hướng ra miền Trung, về miền Tây, đi Campuchia và xuống khu vực Nhà Bè, Cần Giờ.

Vị trí thành Phiên An (thành Quy) và thành Gia Định (thành Phụng) xưa và nay - Đồ họa; T.Thiên
Vị trí thành Phiên An (màu đỏ – thành Quy – Gia Định phế thành) và thành Gia Định (màu xanh – thành Phụng) trong đường phố khu trung tâm TP.HCM hiện nay – Đồ họa: T.Thiên
Vị trí thành Phiên An (thành Quy) và thành Gia Định (thành Phụng) trên bản đồ hiện nay (2016) - Đồ họa; T.Thiên
Các trục đường, cạnh thành Phiên An (thành Quy) và thành Gia Định (thành Phụng) hoàn toàn khớp với các đường phố trung tâm TP.HCM trên bản đồ hiện nay (2016) – Đồ họa: T.Thiên

Phố xá, khu nhà ở, khu buôn bán sắp đặt linh hoạt theo hệ thống sông nước vùng Sài Gòn xưa thể hiện rất rõ sự sáng tạo của một nhà quy hoạch tầm cỡ.

Và những hình dáng của Sài Gòn xưa ấy giờ vẫn đang là khung sườn chạy tốt của khu trung tâm TP.HCM hiện nay.

Đường Nguyễn Thị Minh Khai đi về hướng Chợ Lớn, miền Tây (phía trước), ngược lại về miền Đông (sau) vốn là trục lộ chính giữa thành Gia Định (thành Phụng) – Ảnh: M.C.

Đường Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện vẫn là một trong những con đường đẹp nhất Sài Gòn, vốn là con đường chạy dọc cạnh thành Gia Định (thành Phụng) hướng đông bắc, hướng ra cổng sau thủy xưởng (đóng tàu) của nhà Nguyễn (nay là xưởng Ba Son – cuối đường trong hình) – Ảnh: M.C.

 

1792, Trần Văn Học vẽ họa đồ thành Mỹ Tho và đường phố quanh thành. Không dừng lại ở đó, năm 1821, vua Minh Mạng sai ông vẽ bản đồ núi sông, đường sá các trấn của tỉnh Gia Định, đến Tây Ninh (tỉnh Gia Định thời Gia Long bao gồm cả tỉnh Bình Dương, Tây Ninh hiện nay), biên giới với Chân Lạp (Campuchia) với lời dụ kèm theo 100 quan tiền thưởng trước: “Ngươi không còn sống bao lâu, há chẳng nghĩ đến việc lưu danh hậu thế?”.

Nhưng chỉ ít lâu sau ông mất. Dự tính của vua Minh Mạng không thành.

Dịp 300 năm Sài Gòn – TP.HCM 1998, Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật TP.HCM tổ chức hội thảo “Vai trò khoa học và kỹ thuật của Trần Văn Học trong lịch sử 300 năm thành phố”.

“Ông được đánh giá là người rất có tài vẽ địa đồ, họa đồ kỹ thuật. Đem so sánh bản đồ Sài Gòn 1799 của Dayot với bản đồ Gia Định 1815 của Trần Văn Học thì về kỹ thuật đồ bản như trắc địa hay tỉ lệ, bản đồ của ông Học chính xác hơn nhiều…” (Địa chí Văn hóa TP.HCM)

Danh sách các di tích tại Cochinchin (Nam Kỳ) thời Pháp do Học viện Viễn Đông – Pháp (École Francaise d’ Extrême – Orient) được toàn quyền Đông Dương phê chuẩn ngày 19-5-1925, mộ Trần Văn Học ở xã Bình Hòa, tỉnh Gia Định xếp thứ 9.

Sự nhầm lẫn hơn nửa thế kỷ

Tuy nhiên, lúc ấy và cả ở miền Nam trước 1975 đều “đổi” ông từ họ Trần thành họ Nguyễn. Thậm chí trước 1975, đường Nơ Trang Long mang tên đường Nguyễn Văn Học, BV Nhân dân Gia Định mang tên BV Nguyễn Văn Học.

Theo tờ trình của ông H. Mauger, quản thủ Viện Bảo tàng Sài Gòn và kỷ yếu của Học viện Viễn Đông của Pháp, Vương Hồng Sển viết: “Trước kia Pháp gọi là “tombeu du Maréchal Nguyễn Văn Học”. Nay truy ra không có công thần nào triều Nguyễn có tên họ như vậy. Có chăng là ông Trần Văn Học, tác giả bức địa đồ tỉnh Gia Định họa năm 1815?” (Sài Gòn năm xưa).

Nhà nghiên cứu Nghiêm Thẩm giải thích “sở dĩ H. Mauger ghi Trần Văn Học họ Nguyễn, vì ông nghe những người ở xung quanh ngôi mộ cổ nói vậy. Nhưng tra kỹ trong Đại Nam chính biên liệt truyện, chỉ thấy có giám thành Trần Văn Học, và không thấy chép việc ông Học được phép vua cho mang họ Nguyễn (quốc tính) bao giờ”.

Nghiêm Thẩm nhận định: “Chắc vì ông Học không có con hay thân nhân và cũng vì các người ở gần khu mộ nhớ lộn họ của ông nên ông H. Mauger mới ghi sai. (Công trình sư Trần Văn Học – Tạp chí Văn hóa – SG, 1962).

Một người Sài Gòn khác cũng từng quy hoạch Sài Gòn trước Trần Văn Học

Đó là Nguyễn Cửu Đàm (?-1777), người Gia Định, một danh tướng – nhà doanh điền thời chúa Nguyễn; được lịch sử ghi nhận là nhà quy hoạch Sài Gòn đầu tiên khi khép kín thành phố bằng ba mặt sông rạch (rạch Thị Nghè – bắc, sông Sài Gòn – đông, rạch Bến Nghé – nam) và một mặt thành lũy (lũy Bán Bích – bắc), tạo thể thống nhất về địa lý – kinh tế – xã hội – quốc phòng.

Theo Địa chí Văn hóa TP.HCM, “Sài Gòn đã là thành phố từ khi Nguyễn Cửu Đàm xây Lũy Bán Bích năm 1772″ vì khi ấy phố xá, thương cảng đã được bảo vệ bởi một vách thành dài 15 dặm”.

Cũng năm 1772, kênh Ruột Ngựa do ông sai đào. Địa chí văn hóa TP.HCM dẫn Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức: “Nguyên xưa từ Rạch Cát ra phía Bắc đến Lò Gốm thì có một đường nước đọng móng trâu, ghe thuyền đi lại không được… Nguyễn Cửu Đàm có đào con kênh thẳng như ruột ngựa nên mới đặt tên ấy. Kênh này sau đó đã giúp cho thuyền bè qua lại giữa Sài Gòn với miền Tây thêm thuận lợi”.

 

https://tuoitre.vn/mot-nguoi-sai-gon-da-thiet-ke-sai-gon-tu-thanh-gia-dinh-1055221.htm




Kỷ niệm về BS Tôn Thất Niệm (vừa mất)

Trần Thị Vĩnh Tường

Năm 1956-62, gia đình tôi nửa ở Saigon nửa ở Đà Lạt. Ba tháng hè bố cho mấy chị em lên Đà Lạt, 35C đường Thống Nhất, xế nha Địa Dư. Hai nhóc có một trò chơi thần tiên là lao từ dốc xuống chân đồi, đoạn cuối hồ Than Thở vắng người tha hồ hò hét. Một thần tiên khác, buổi tối bố cho lên xe traction đi mua bánh mì nóng. Ngoài trời lạnh run cầm cập nhưng trong ánh điện vàng và hơi ấm từ lò nướng, ủ bánh mì vàng ròn thơm và rất nóng trong áo, thiên thần trên trời nhìn xuống suýt soa lác cả mắt rụt rè xin nửa cái, em trai bẻ cho ngay.

 

Một tối, mang bánh mì về mợ cho hay anh Niệm vừa mới ghé cho trẻ con chocolat ăn với bánh mì. Chocolat lúc đó đắt lắm, không bao giờ ăn thỏa thuê đâu nhé. Lần đầu tiên ăn bánh mì nóng kẹp chocolat chảy tan.

Một hôm, “anh Niệm” cùng người bạn đến bố tôi để hát. Lúc đó tôi chưa hát sõi nhưng gia đình ai cũng hát. Nếu trời sinh ra bố tôi giỏi cơ khí đến nỗi chỉ nghe tiếng máy xe biết hư cái gì, thì cũng phú cho ông một giọng hát ma chê quỉ hờn. Ông bảo “Ma cũng phải sợ ba” thì tôi tin răm rắp.

 

Bố tôi thích hát “Gạo Trắng Trăng Thanh” của Hoàng Thi Thơ cặp Ngọc Cẩm- Nguyễn Hữu Thiết nổi tiếng hát với giọng Quảng mà người Đà Lạt ưa lắm. Ông cũng phát âm giọng Quảng “gạo tắng tong mà nên duyên mặng mà…” mà mợ tôi tấm tắc cho là “duyên dáng khó tả”.

Còn hai chị véo von Ngày Về của Hoàng Giác

“Năm tháng phai mờ lời hẹn ước – trong gió sương hình người tình mến

Oán trách ai quên lời thề lúc ra đi thôi ước mơ chi ngày mai”

 

Nên khi chú Niệm hát thì chị lấp ló nhẩm theo.

“Trông bốn phương mờ hàng lệ thắm – mơ đến em một ngày đầm ấm

Nhớ phút chia phôi cùng ai dứt đau thương tìm đến em nay còn đâu”

 

 

Giọng ông bồi hồi chậm rãi, trìu mến tha thiết như tia nhìn cũng không vào ai mà gửi khoảng không. Về sau, nghe Anh Ngoc, Duy Trác và mới đây Trọng Tấn hát Ngày Về, thì tôi càng tin chắc rằng bài hát này chỉ hợp với giọng đàn ông, chất giọng của người có sự ân cần và từ tâm trong sâu thẳm… mà… đàn bà (chúng tôi) đôi khi… thiếu (Amen)

 

Ba tôi là công chức nên hai năm sau đổi đi tỉnh khác. Từ đó, không bao giờ gặp lại chú Niệm và cũng không biết ông là bác sĩ Tôn Thất Niệm. Ở California trong một buổi tiệc, khi ông cất tiếng thì đúng giọng nói ngày xưa. Người ta có thể thay đổi, kể cả giải phẫu thẩm mỹ, trừ giọng nói. Chắc ông không nhớ bé con áo len đỏ “tròn như một cuộn len”.

 

Ba tôi khuất đã 20 năm, chị Tư tôi mất 11/2015. Nhạc sĩ Hoàng Giác vừa qua đời tháng 9/2017. Và hôm nay, Tôn Thất Niệm.

Là bác sĩ, ông dư biết cả sự chết cũng có ích cho đời sống, thay thế già nua kiệt quệ bằng trẻ trung tươi mát.

Là nghệ sĩ, ông cũng biết cái chết là phát mình vĩ đại nhất mà thượng đế trên cao ban cho loài người

Trẻ con như tôi còn điên cuồng tin là những tài hoa không chết, sẽ còn sống nhiều trăm năm nữa vĩnh cửu ở đâu đó trong ký ức của những người muốn nhớ.

 

Sẽ đến chào ông lần cuối. Chào người tình nhân của trí tuệ.

Cũng chào Tuổi Thơ chào Đà Lạt, chào Bố của con, Chị của em… cùng

“Nhấp chén men say còn vương bóng quê hương dừng bước tha hương lòng đau …”

ÔI NHỮNG NGƯỜI TÌNH NHÂN TRÍ TUỆ …

NĂM THÁNG CÓ PHAI MỜ LỜI HẸN ƯỚC…?

 

Rồi ra sẽ gặp nhau cả đấy mà…

“Lưng trời âu yếm bay tìm đàn

Lòng nguyện giờ đây quên quên hết”

 

15/11/2017

https://www.facebook.com/FuschiaArt/posts/1491643367582779

https://www.nguoi-viet.com/cao-pho/bac-si-y-khoa-ton-niem/

 

 




Mạng xã hội

 

Truong Huy San

 

Dữ liệu rất quan trọng cho công tác nghiên cứu và hoạch định chính sách. Nhưng sử dụng các số liệu từ Đức, Hàn Quốc… thậm chí từ Trung Quốc để so sánh với Việt Nam cũng giống như so sánh hai số hạng không cùng đại lượng (mét so với kg).

 

Người Đức, người Mỹ… sử dụng mạng xã hội (MXH) đôi khi chỉ để đáp ứng những nhu cầu bạn bè trong từng group nhỏ. Người Việt Nam sử dụng MXH ngoài những nhu cầu thông thường, còn là để thực hiện các quyền Hiến định – quyền tự do ngôn luận, bày tỏ chính kiến; quyền làm công tác từ thiện, giúp đỡ người yếu thế. Những quyền mà báo chí nhà nước và không gian chính trị của Việt Nam không có khả năng cung cấp.

 

Tự do biểu đạt chính kiến quan trọng đến nỗi, tổng thống của một quốc gia tự do như D. Trump cũng phải sử dụng MXH để tuyên ngôn khi ông không còn tin báo chí. Đừng so với Trung Quốc, chỉ trong một quốc gia mà việc người dân chỉ trích lãnh đạo, chỉ trích chính quyền được coi là “văn hoá” thì quốc gia đó mới có cơ may được coi là văn minh, chính quyền của quốc gia đó mới được coi là chính quyền mạnh.

 

Với những tiến sỹ rừng như ông Trương Minh Tuấn thì tôi không chấp, tôi rất tiếc khi nghe phát biểu của PTT Vũ Đức Đam. Ông có một trí nhớ tuyệt vời, một khả năng diễn thuyết rất thuyết phục, nhưng ông đã mơn trớn các đại biểu có chức có quyền trong quốc hội thay vì giúp phần lớn trong họ nắm được MXH là môi trường sống của thế giới ngày nay. Nó chứa chấp đủ thứ dịch bệnh của loài người nhưng nó cũng giúp chính loài người từng bước loại bỏ các dịch bệnh đó và nuôi nấng từng mầm tích cực.

 

Chỉ từ khi có internet, Việt Nam mới tốt lên như vậy và chính quyền mới mạnh như vậy (dù bị chỉ trích nhiều hơn, dù nhiều người chỉ trích chính quyền không muốn thế).

Dân trí của Việt Nam như ông nói, chưa bằng Thái và tất nhiên là chưa bằng Đức. Nhưng vì sao. Chưa có một quốc gia nào (tôi không tính Trung Quốc và Bắc Hàn) mà Bộ Luật Hình Sự chứa đựng nhiều điều luật để đe doạ người sử dụng MXH như Việt Nam. Tuy nhiên, các công cụ này chủ yếu nhắm vào những người sử dụng MXH để “nói xấu lãnh đạo và tuyên truyền chống chế độ”. Danh dự, nhân phẩm và bí mật đời tư của thường dân, trong thi hành luật, chưa bao giờ được ưu tiên bảo vệ.

 

Đừng lẫn lộn các khái niệm trong an ninh mạng. Những gì thuộc về bí mật quốc gia phải thuộc trách nhiệm của những người được giao nắm giữ nó. Có thể vận đông ý thức của công dân trừ những vụ việc nhân danh bí mật quốc gia để lén lút chia chác tài sản của dân. Trong thời đại ngày này, quốc gia nào cũng phải có ý thức lập nhiều tầng dữ liệu (cái gì local, cái gì international). Còn thông tin cá nhân thì kể từ khi ta mua vé máy bay, mua hàng trên Alibaba, xin visa… từng cá nhân đã chấp nhận tiết lộ bí mật đời tư của mình, đừng đổ hết cho MXH.

Cũng không nên dùng con số doanh thu quảng cáo 300 triệu USD (như anh Đam nói) hay 100 triệu (như anh Tuấn nói) để kích thích dạ dày quốc hội. Facebook, Google không kinh doanh ở VN, họ kinh doanh toàn cầu. Ngay cả các cường quốc cũng vẫn còn đang phải tranh cãi việc đánh thuế như thế nào. Các nhà cung cấp dịch vụ internet phải tuân thủ luật thương mại điện tử nhưng các quốc gia cũng phải tuân thủ các cam kết “tránh đánh thuế hai lần”.

 

Đành rằng, thu được đồng thuế nào từ con số 300 triệu đó đều tốt. Nhưng chỉ chăm bẵm vào những con số đó là đã để lá che mất rừng. Thử tính, nếu người dân Việt đã bỏ ra 300 triệu USD quảng cáo trên MXH toàn cầu thì doanh thu có đóng thuế cho ngân khố quốc gia phải tăng lên đến nhường nào.

 

Đành rằng, để MXH phát triển thì việc nhũng nhiễu dân sẽ không còn như chỗ không người nữa; việc đưa con đàn cháu đống vào bộ máy quyền lực sẽ bị săm soi; công trình nghìn tỷ đắp chiếu sẽ không thể che mắt dân cho đến khi mục nát… Nhưng, cầm quyền thì phải nhận ra rằng, MXH không chỉ đang chỉ trích chính quyền – giúp Chính phủ tu sửa để rồi vừa có quyền vừa có dân – mà còn đang chỉ trích những thói hư tật xấu trong xã hội, đang “khai dân trí và chấn dân khí” chứ không chỉ mắng nhiếc nhau. Hãy vì lợi ích bền lâu của Việt Nam, đừng vì những mục tiêu ngắn hạn.

 

PS: Những ai hay lấy Đức ra làm ví dụ thì nên đoc kỹ cái này:

www.bmjv.de

 

https://www.facebook.com/Osinhuyduc/posts/1452749764760200

 




Ngày “THANK YOU, AMERICA” – San Jose

IRCC & Dân Sinh Media

Kính mời quý vị tham dự ngày:

THANK YOU, AMERICA

Lúc 9:30AM đến 12:30PM
Thứ Bẩy Ngày 18 Tháng 11 Năm 2017
Tại Phòng Hội Quận Hạt Santa Clara, 70 West Hedding Street, San Jose.

Chúng tôi kính mời quý vị – đặc biệt là bạn bè, thân nhân, con dâu con rể người Mỹ của gia đình quý vị- cùng đến tham dự ngày họp mặt rất ý nghĩa này.
Chương trình gồm có:

Những nghi lễ hào hùng và trình chiếu phim chủ đề Thank You America rất đặc biệt.
Giải khát cà phê-nước trà và ăn trưa với croissant hay bánh mì hoàn toàn miễn phí do Lee Sanwiches bảo trợ.
Xem những tiết mục trình diễn rất ngoạn mục và hết sức hấp dẫn của Nhạc Viện Thái Bình
Xem những tiết mục trình diễn độc đáo của The San Jose Saxophone Choir.

Xin mời quý vị đến sớm lúc 9:30Am đề uống cà phê và hàn huyên bạn hữu, sau đó thưởng ngoạn chương trình đến 12:30pm, rồi ăn trưa trước khi ra về.

Tất cả hoàn toàn miễn phí và vào cửa tự do.

Trân trọng kính mời.




Sinh Hoạt VTLV năm 2017




Hãy chụp ảnh giùm tôi

 
Trần Văn Lương
Đừng khoe tôi,
hỡi người bạn tài hoa,
Những tấm ảnh mang ra từ địa ngục,
Nơi bạn mới về rong chơi hạnh phúc,
Dù bao người vẫn tủi nhục xót xa.
 
Đừng khoe tôi hình ảnh một quê nhà,
Mà bạn nghĩ đang trên đà “đổi mới”,
Những thành thị xưa hiền như bông bưởi,
Nay bỗng dưng rã rượi nét giang hồ..
 
Đừng khoe tôi 
những cảnh tượng xô bồ,
Những trụy lạc giờ vô phương cứu chữa.
Đất nước đã từ lâu không khói lửa,
Sao rạc rài hơn cả thuở chiến chinh.
 
Đừng khoe tôi 
những yến tiệc linh đình,
Những phố xá ngập phồn vinh giả tạo,
Nơi thiểu số tung tiền như xác pháo,
Khi dân nghèo không muỗng cháo cầm hơi.
 
Đừng khoe tôi cảnh tụ họp ăn chơi,
Của những kẻ đã một thời chui nhủi,
Bỏ tất cả, trong đêm dài thui thủi,
Ngược xuôi tìm đường xăm xúi vượt biên.
 
Đừng khoe tôi những con phố “bưng biền”,
Những quảng cáo, những mặt tiền nham nhở,
Những khách sạn ánh đèn màu rực rỡ,
Trơ trẽn bày, dụ dỗ khách phương xa.
 
Đừng khoe tôi chốn thờ phượng nguy nga,
Những dinh thự xa hoa nằm choán ngõ,
Những màu sắc lam, vàng, đen, tím, đỏ,
Đang uốn mình theo gió đón hương bay.
 
Đừng khoe tôi ảnh Hà Nội hôm nay,
Thành phố đã chết từ ngày tháng đó,
Khi bị ép khoác lên màu cờ đỏ,
Khi triệu người phải trốn bỏ vô Nam.
 
Đừng khoe tôi những cảnh tượng giàu sang,
Đã được bạn tóm càn vô ống kính,
Những hình ảnh mà kẻ thù toan tính,
Muốn tung ra để cố phỉnh gạt người.
 
Bạn thân ơi,sao không chụp giùm tôi,
Nỗi thống khổ của triệu người dân Việt,
Nửa thế kỷ trong ngục tù rên xiết,
Oán hờn kia dẫu chết chẳng hề tan.
 
Chụp giùm tôi đàn thiếu nữ Việt nam,
Thân trần trụi xếp hàng chờ được lựa,
Hay bầy trẻ mặt chưa phai mùi sữa,
Bị bán làm nô lệ ở phương xa.
 
Chụp giùm tôi đôi mắt mẹ, mắt cha,
Mà suối lệ chỉ còn là máu đỏ,
Khóc con cháu ra đi từ năm đó,
Biển dập vùi, đà tách ngõ u minh.
 
Chụp giùm tôi số phận những thương binh,
Đã vì nước quên mình trên chiến trận,
Mà giờ đây ôm hận,
Tấm thân tàn lận đận giữa phong ba.
Chụp giùm tôi hình ảnh những cụ già,
Bọn đầu nậu gom ra đường hành khất,
Để đêm đến, nộp hết tiền góp nhặt,
Đổi chén cơm dầm nước mắt nuôi thân.
 
Chụp giùm tôi xác chết những ngư dân,
Bị Tàu giết bao lần trên biển rộng,
Hay những chiếc quan tài chưa kịp đóng,
Chở cha, anh lao động Mã Lai về.
 
Chụp giùm tôi thảm cảnh những dân quê,
Chịu đánh đập chán chê dù vô tội,
Hay cảnh những 
anh hùng không uốn gối,
Gánh đọa đày trong ngục tối bao la.
 
Chụp giùm tôi mốc biên giới Việt Hoa,
Lấn vào đất của ông cha để lại,
Hay lãnh thổ cao nguyên còn hoang dại,
Lũ sài lang hèn nhát lạy dâng Tàu.
 
Chụp giùm tôi những nghĩa địa buồn đau,
Chúng tàn phá, chẳng còn đâu bia mộ.
Kẻ sống sót đã đành cam chịu khổ,
Người chết sao 
cũng khốn khó trăm đường.
 
Hãy chụp giùm tôi hết những tang thương,
Hình ảnh thật một quê hương bất hạnh,
Nơi mà bạn, xưa đêm trường gió lạnh,
Đã căm hờn quyết mạnh dạn ra khơi.
Chiếc thuyền con, ca nước lã cầm hơi,
Mạng sống nhỏ đem phơi đầu sóng dữ.
Rồi tha phương lữ thứ,
Tháng năm dài, quá khứ cũng dần phai.
 
Lòng người chóng nguôi ngoai,
có mấy ai còn nhớ!
Biệt phủ ở Yên Bái
Biệt phủ ở khu Đèo Hải Vân
Biệt phủ ở Bình Chánh, Saigon.



Thu Cảm

Sông Lô Lê Nam Sơn

Có lẽ mùa thu là mùa mà những ai sống nhiều với tâm hồn đều yêu thích, cái tiết khí thoải mái, dịu dàng dễ đắm say lòng người. Không gian man mát, thời gian đôi lúc thẫn thờ nhưng cũng lắm khi vội vã…, nó như một thiếu nữ xuân thì, đa tình và lãng mạn.

Em có một tình yêu
Mỏng manh như cánh lá
Em có một tình yêu
Như sóng ngầm biển cả

           (Nguyễn Thị Kim)

Mùa thu thay đổi qua từng cánh lá, cảm nhận thi nhân đối với mùa thu như cảm nhận một cái gì mơ hồ như gió thoảng, nó mỏng manh, nó nhẹ nhàng, nó tha thiết một nỗi niềm chẳng thể gọi tên.
Phong phú về mặt tâm hồn thì phải nói rằng mùa thu là mùa rất đẹp, thật đẹp nhưng không ai có thể níu giữ nó trong tay dù chỉ là một khoảnh khắc.

Thi sĩ Đinh Hùng đã cảm nhận về thu như sau,

“Hôm nay, tôi lại đi trên con đường vắng này, nghe từng chiếc lá rơi trên bờ cỏ, những cây liễu xanh đứng buồn như những nàng Cung nữ thời xưa, và trong vườn nhà ai thấp thoáng bóng hoa phù dung buổi sáng nở sớm như một linh hồn son trẻ? Nắng ở đây vẫn là nắng ngày xưa và linh hồn tôi vẫn là linh hồn tôi năm trước. Đường về hiu hắt, tôi đem lòng gặp mùa thu thương nhớ cũ, và nay lại thấy thấy thu về cho nước hồ xanh. Chân ai đi xa vắng đường xa, hay đó chỉ là gió thoảng mong manh và gió nào vương vấn hồn tôi, hay đó chỉ là dư âm ngày xưa cũ”
Cùng xúc cảm với thu, mới đây, nhà thơ Sa Huỳnh đã mơ mộng sáng tác  bài thơ “EM VỀ MÙA THU” xin chép ra đây để các bạn yêu thơ cùng thưởng thức.

Em về đây, hồn say tình Thu muộn
Đường Cổ Ngư, sương rụng tím Hồ Tây
Tan theo nước sóng đời chao, khói cuộn
Tiếng chuông ngân lay nhẹ dáng Thu gầy

Áo em xinh như màu hoa thuở đó
Thả ven hồ tao khách gởi câu thơ
Chở trên sóng tình Thu trôi dạt gió
Xuôi về đâu mưa nắng đợi quanh bờ

Bên hàng cây tháng ngày xanh kỷ niệm
Ghế đá còn thương nhớ vị môi thơm
Bước em đi xạc xào Thu lá tím
Từng chiếc rơi trên sóng nước dỗi hờn

Em về đây, mùa Thu quên mong nắng
Cây bên hồ quên đợi tiếng chim ca
Mơ gặp nhau, em vén màn sương trắng
Tìm tay nhau, em với ánh trăng ngà…


“Tức cảnh sinh tình” trước tuyệt tác của thi hữu Sa Huỳnh tôi xin đáp lại bài thơ “EM VỀ MÙA THU” của tác giả.

Em về đó, hồn say thu tình muộn
Riêng ở đây khắp nẻo lạnh giăng đầy
Đường Cổ Ngư, sương rụng tím Hồ Tây
Anh chỉ có nơi này buồn sương tuyết

Áo em xinh như màu hoa thuở trước
Khách tình si để lại mấy vầng thơ
Mùa ở đây thu chín đến mịt mờ
Bước lữ khách biết về đâu thu hỡi

Em về đó, bên hồ cây quên đợi
Mùa thu quên mong nắng, tiếng chim ca
Anh ở đây lạnh cả ánh trăng ngà
Hồn đơn lẻ cuối trời thu tê tái

Em về đó cùng mùa thu vung vãi
Lá đỏ bàng, mái ngói cổ thâm nâu
Để lại đây với cả khối u sầu
Với tiếc nuối… mùa thu đà thoi thóp




Chiều Vàng với Tôn Thất Niệm

 Để tưởng nhớ BS Niệm vừa mất

casiquynhgiao

Cố ca sĩ Quỳnh Giao viết

Sinh thời, nhà văn Mai Thảo rất trọng nghề văn và những người sống vì văn chương, báo chí. Nhưng cũng vì thế mà ông lại thiếu kiên nhẫn với những người giàu có, như y sĩ, lâu lâu viết văn một cách tài tử mà cũng tự xưng là nhà văn. Ông không coi họ là nhà văn, hoặc nói theo lối xưa, nhất định không ngồi chung chiếu!
Vậy mà con người khắt khe ấy lại rất thích nghe Luật Sư Khuất Duy Trác hát nhạc của Cung Thúc Tiến, chuyên viên Bộ Kinh Tế của Sàigòn thời xưa! Với Mai Thảo, cái nghiệp cầm ca có được trường hợp giảm khinh, và một chiếu riêng trên lãnh vực nghệ thuật!

 

duy trác
Duy Trác

 

Thật ra, Duy Trác đã lẫy lừng là một ca sĩ trước khi trở thành luật sư và nổi tiếng hơn nữa vì hát một cách tài tử. Ông thích thì hát, để làm hài lòng chính mình, và chọn bài hát với mỹ quan của một người trí thức.
Trong giới y sĩ, một trường hợp tương tự và có lẽ đầu tiên là của Thu Hà.
Thu Hà bước vào nhạc từ khi còn là sinh viên y khoa, với kỹ thuật rất gần với một danh ca là Châu Hà, trầm ấm và tròn trịa. Hát cùng thời và thân thiết với Tuyết Hằng, một giọng nữ rất đẹp được Hoàng Thi Thơ mời hát giọng chính trong các vở nhạc kịch, Thu Hà tiếp tục lên sân khấu sau khi tốt nghiệp bác sĩ. Ban ngày là lương y như từ mẫu, ban đêm, Thu Hà đội khăn mặc áo gấm hát giữ bè cho ban tam ca Ðông Phương tại Ðêm Màu Hồng.

 

Ban Tam Ca Đông Phương

 

Tam Ca Đông Phương ngày xưa
Ban Tam Ca Đông PHương1
Tam Ca Đông Phương bây giờ

 

Người nghe thường hiểu lầm về các ca sĩ hát bè phụ. Trong ban tam ca Ðông Phương, Thu Hà và Tuyết Hằng giữ bè phụ cho Hồng Vân hát giọng chính vì hai người rất giỏi về nhạc lý, cùng học nhạc pháp ở trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigòn, và hát có kỹ thuật hơn. Hoài Bắc Phạm Ðình Chương cũng hát bè phụ cho người anh là Hoài Trung trong ban hợp ca Thăng Long chính là vì ông giỏi về kỹ thuật và là cái hồn nhạc của ban hợp ca danh tiếng này. Cần nhắc lại như vậy cho công bằng khi nhớ đến Thu Hà và Tuyết Hằng của mấy chục năm về trước, và những người hát bè phụ.

 

Có một giọng nam trong ngành y khoa cũng nổi tiếng trước khi trở thành bác sĩ là Trung Chỉnh, tiếng hát lừng danh trên truyền hình Sàigòn cùng với Hoàng Oanh, khi Sàigòn bắt đầu có Ti-vi. Trẻ trung và tươi vui trong các bài song ca với Hoàng Oanh về đời lính và cô em hậu phương, Trung Chỉnh hát rất rõ lời và được mọi giới yêu chuộng.
Ðó là về những giọng ca bác sĩ trước 1975.

 

Ra tới hải ngoại, chúng ta có trường hợp của Bích Liên.
Giới yêu nhạc biết tới giọng ca Bích Liên trước khi để ý tới Bác Sĩ Bích Liên, một giọng ca đầy kỹ thuật của người có rèn luyện thanh nhạc. Y như Duy Trác, Bích Liên hát cho nghệ thuật hơn là thị hiếu của đám đông nên chọn bài rất kỹ, rất kén người nghe, với sự điêu luyện rất độc đáo.

 

Cũng trong giới y khoa, Hà Thúc Như Hỷ là một bác sĩ chuyên nghiệp có giọng ca trầm ấm và làn hơi phong phú. Nhưng ông không hát thường xuyên và cất tiếng hát là khiến bằng hữu sững sờ, vui thích. Nhiều người trong ngành y khoa có giọng ca rất đạt, hát còn vững hơn những ca sĩ chuyên nghiệp, như trường hợp của hai chị em Ngọc Sương và Như An.

Hoặc giọng “bass” rất trầm của Bác Sĩ Vũ Duy Hiển, êm nhẹ và tình cảm như Vương Ðức Hậu, trầm ấm như Phạm Gia Nghị.
Ðấy là những người hành nghề y khoa nhưng yêu nhạc và hát cho nghệ thuật hơn là một cách sinh nhai. Nếu chú ý, chúng ta cảm được nhiều điều hay và đẹp về nhạc. Quần chúng nghe nhạc của họ cũng thuộc thành phần biết nghe, và biết thưởng thức bằng tai hơn là bằng mắt.
Trong thế giới ấy, có một người lại đi ngược với mọi người. Là ca sĩ trước khi thành bác sĩ, và khi trở thành lương y thì lại ra khỏi làn sóng nhạc.

 

Ðó là Tôn Thất Niệm.

 

Ông đi hát và nổi tiếng đã từ lâu lắm rồi, từ đài phát thanh Huế rồi vào Sàigòn với đài Pháp Á, hát cùng Minh Trang – thân mẫu của người viết. Ông cũng có thời gian đã hát tại đài phát thanh Ðà Lạt. Nhớ lại về nghệ thuật và âm sắc, Tôn Thất Niệm là giọng ca độc đáo ở giữa hai danh ca Anh Ngọc và Duy Trác.
Giọng Tôn Thất Niệm “trong” và “dày” hơn giọng Duy Trác. Vì trong hơn nên có nét láy thật ý nhị, dịu dàng, nhưng vì dày hơn nên cũng có chất “trượng phu” rất đặc biệt của Anh Ngọc. Thời xưa, khi làng tân nhạc còn váng vất với những tiếng hát Quách Ðàm, Ngọc Bảo của Hà Nội, Anh Ngọc, Tôn Thất Niệm và Duy Trác đã đem lại một thế giới âm thanh khác, đàn ông hơn, thanh lịch hơn. Và Sàigòn văn minh hơn.

 

Hơn hẳn sau này…
Thời gian qua đã quá lâu, những đĩa nhạc “33 tours” đã là dư âm thời cũ. Nếu còn nhớ lại, người nghe phải nhắc mãi đến Ðêm Tàn Bến Ngự hay Áng Mây Chiều của Dương Thiệu Tước qua tiếng hát Minh Trang. Và không thể quên được Chiều Vàng, Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay hay Tiếng Chuông Chiều Thu với tiếng hát Tôn Thất Niệm.
Ðấy là những đỉnh cao giờ này ít nam ca sĩ nào vươn tới.

 

Cứ nói về nghệ thuật diễn đạt thì lại nhớ đến cách Tôn Thất Niệm dẫn vào Chiều Vàng của Nguyễn Văn Khánh, một tuyệt chiêu. Kể từ đấy, thấy ánh chiều vàng là người ta nhớ đến Tôn Thất Niệm:
Trên đồi xanh, chiều đã xuống dần
Mặt trời lấp ló sau đồi, chiều vàng…!

 

Hoặc lúc nhấn giọng để vào điệp khúc của Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay của Ðoàn Chuẩn:
Gửi gió cho mây ngàn bay,
Gửi bướm đa tình về hoa.
Gửi thêm ánh trăng, màu xanh ái ân
Về đây với Thu trần gian…

 

Cũng như câu kết trong Tiếng Chuông Chiều Thu của Tô Vũ:
Chuông reo mùa nắng mới, tình ta đẹp bao nhiêu
Lòng anh thầm nhắn tiếng chuông ban chiều (u ù)…
Ðấy là giọng ca ấm áp, dịu dàng, tình tứ, nghe mãi không chán. Tôn Thất Niệm có cách luyến láy rất khác người, mềm mại mà không ẻo lả, tình tứ mà không say đắm. Rất chừng mực. Nếu đã được nghe, và còn nhớ, chúng ta sẽ thấy là chưa ai hát ba ca khúc ấy tuyệt vời hơn Tôn Thất Niệm!

 

Ngày xưa, Tôn Thất Niệm cùng Minh Trang là đôi song ca nổi tiếng. Người viết xưng hô là “cậu Niệm” và được ông từ tốn kể lại rằng mình chỉ biết hát chứ còn kém về nhạc lý nên thường nhờ mẹ giữ nhịp cho chắc. Hai người đã song ca bài Bến Cũ của Anh Việt rất được yêu thích và vẫn còn được nhắc nhở như một chuẩn mực của thời trước!

 

Tôn Thất Niệm cũng kể lại “sự nghiệp quốc tế” của hai người khi Bến Cũ đã vang vọng tại Manila của Phi Luật Tân trong một tuần lễ văn hóa. Hai nghệ sĩ của Việt Nam hát “quện” đến nỗi thiên hạ (thiên hạ đây là người Phi!) tưởng là đôi uyên ương, dù Minh Trang lớn hơn cả chục tuổi. Người xưa kể lại rằng thời đó Tôn Thất Niệm đẹp trai lắm, hát rất hay nên dĩ nhiên là có nhiều cô ái mộ. Nhưng cậu Niệm chỉ mê mợ thôi, một người đẹp trong gia đình Nguyễn Tường.
Vì vậy mà đại đăng khoa xong là tiểu đăng khoa, và Bác Sĩ Tôn Thất Niệm xuất hiện thì tiếng hát Tôn Thất Niệm cũng dứt ngang, ở lúc sung mãn nhất.

 

Cách đây khá lâu, trong một “ngày Hoàng Tộc”, khán giả tại California bỗng được thấy một chiều đông Hà Nội qua bài Em Ðến Thăm Anh Một Chiều Mưa của Tô Vũ. Quỳnh Giao và Tôn Thất Niệm song ca! Hai thế hệ trong một ca khúc thuộc loại trữ tình nhất của Việt Nam. Giọng Tôn Thất Niệm vẫn thanh lịch ấm áp, hơi ngân dài và chuỗi ngân rất dày và chắc. Ðấy là một cách diễn tả nghệ thuật nhất của một ca khúc nghệ thuật tuyệt đẹp.

 

Cũng vì vậy mà người viết mới đề nghị Tôn Thất Niệm cùng thực hiện lại bài này trong đĩa nhạc Ngàn Thu Áo Tím. Ông nhận lời như một cách ghi lại giọng ca của mình. Sau cùng lại do dự, và thôi! Cách hòa âm và lối hát với một dàn nhạc thời bây giờ khiến ông ngần ngại. Quỳnh Giao mời Anh Dũng hát chung và quả nhiên là ca khúc đem lại thành công, nhưng chúng ta vẫn tiếc là không còn được nghe lối trình bày thật trân trọng và lãng mạn của Tôn Thất Niệm.

 

Chúng ta không thiếu bác sĩ. Nhưng vẫn tiếc sự trân quý nghệ thuật của những người biết hát vào một thời đã qua… và đang dần tắt như trong một buổi chiều vàng.

 

https://kontumquetoi.com/2017/11/15/chieu-vang-voi-bston-that-niemvua-ra-di/



Trính tã

Thời còn làm báo nhiều năm trước, tôi đã từ chối một bài viết mà không đọc, vì tác giả bài đó kết thúc mấy dòng thư gửi đến tòa soạn bằng lời chào trân thành. Chính tả nhìn chung là phép cư xử với ngôn ngữ, không hơn không kém, và dĩ nhiên có thể thay đổi như mọi tập quán. Mấy chục năm trước người Việt ngồi chỗ nào cũng bắt chấy, ngoáy ráy tai, cậy gỉ mũi tưng bừng, ai không làm thế là thiếu hòa mình với tập thể, hẳn là còn rơi rớt ý thức hệ gì đó phản động lắm. Bây giờ, những hành vi chẳng chết ai đó chỉ còn sót lại ở những người mà ta không biết nên e ngại hay ái ngại cho sự nguyên thủy của họ. Chân thành hiện vẫn là đồng thuận của đa số người dùng tiếng Việt, song không có gì đảm bảo rằng trân thành sẽ không thắng thế. Trúng ta sẽ phải trâm trước tro những kẻ trung thủy với trữ nghĩa thuở nào.

Thực ra tôi rất biết ơn các lỗi chính tả. Của người khác, tất nhiên. Chúng là những chỉ dẫn đáng tin cậy. Hãy cho tôi biết bạn mắc những lỗi chính tả nào, tôi sẽ biết bạn là ai. Nếu thỉnh thoảng bạn đi bước nửa thay vì bước nữa, bạn ngã đầu thay vì ngả đầu, đã thương ai đó thay vì đả thương chính người ấy, ngã ngủ thay vì ngã ngũ, bạn viết thư ngõ thay vì thư ngỏ… và nếu vì những mưu mô trước quỷ nào đó thay vì mưu mô chước quỷ mà bạn biệt vô âm tính thay vì biệt vô âm tín, tôi thậm chí thấy thích thú. Một ngôn ngữ cho người ta quyền lựa chọn giữa trăn trối, trăng trối, chăn chối, chăng chối, trăn chối, chăn trối, chăng trốitrăng chối, chưa kể giăng giối, là một ngôn ngữ chịu chơi. Một ngôn ngữ cho người ta cơ hội nhầm giữa xe đổxe đỗ, giữa vợ lẻvợ lẽ, giữa ăn phải và ăn phải bả, giữa ăn vãiăn vải, giữa chong đèn, trong đèntrông đèn, giữa vỡ kịchvở kịch, giữa một con sâu làm giầu nồi canhmột con sâu làm rầu nồi canh… là một ngôn ngữ hào phóng. Nhưng ngày nào cũng gặp những covfefe của Việt Nam, những nổi lòng, những đau khỗ không sức nào chịu nỗi trong xả hội, những nổ lực viển tượng, những lể hội, những khung cửa mỡ, những nhờ vã đổi chát, những thắt mắt bàn cải, những tham nhủng, lổi lầm, những bát phỡnước Mỷ, chưa kể những nóng nòng chờ hỗ trợ cây lêu ngày Tết, thì khó mà không phát điên.

Sai chính tả cũng như vi phạm luật giao thông, không ai có thể bảo mình không bao giờ mắc. Có những vi phạm khó tránh. Có những vi phạm khó thương. Và những vi phạm gây tai nạn. Có những người tham gia giao thông khiến ta mừng là không phải ra đường cùng một lúc với họ.

trinh-ta-03

trinh-ta-04

Tai nạn "Hiếp pháp“
Tai nạn “Hiếp pháp“

Lúc đọc “Đơn xin tự thú” của ông Trịnh Xuân Thanh, cuộc sống chốn chánh của ông ấy khiến tôi ngơ ngẩn mất một lúc. Nếu nghiêm khắc xét nét, có thể tính ra cả hai chục lỗi chính tả, từ chữ chốn chánh nay đã thành nổi tiếng đến những chữ viết hoa hay viết thường tùy tiện và cách chấm câu tự tung tự tác trong chưa đầy hai chục dòng viết tay ấy. Nhưng càng có tuổi, hình như tôi càng rộng rãi. Bây giờ tôi đồng ý với ông Wieland, tác gia Khai sáng Đức, rằng tôn giáo và cách chấm câu là chuyện riêng tư, người ngoài chớ bàn. Tôi cũng muốn thêm cách viết hoa hay viết thường cũng như cách viết i (ngắn) hay y (dài) vào gói riêng tư đó, vì trong khi chờ các nhà ngôn ngữ học quyết đấu thì mỗi chúng ta vẫn phải tự quyết định chân lý hay Chân lí trong chính tả cho riêng mình. Song cái tai nạn chốn chánh kia xảy ra bằng cách nào thì trước sau tôi vẫn thấy bí ẩn. Tôi có thể đem thêm một nhân vật đầy uy tín khác – một đại văn hào, cũng thuộc trường phái cổ điển Weimar, sử dụng một ngôn ngữ nổi tiếng trong thi ca và triết học, đầy những niêm luật kể cả về chính tả mà tiếng Việt nhìn thấy có lẽ chỉ biết thương cảm lắc đầu, ông Goethe – để bào chữa cho ông cán bộ cộng sản cao cấp Việt Nam hai lần trượt tị nạn tại Đức. Goethe rất vui vẻ thừa nhận rằng mình ít khi tự cầm bút mà phần lớn đọc cho thư ký chép, nên chính tả thế nào ông không quan tâm, viết thế nào không quan trọng, miễn độc giả hiểu là được. Tự tay viết thư thì thư nào của ông cũng có lỗi chính tả và không hề có dấu phẩy, cùng một chữ có khi ông viết ba kiểu khác nhau. Nhưng thời Goethe, hai trăm năm trước, cũng chưa ai phải nảy ra cái ý tưởng kỳ cục về luật giao thông. Ai có chân dùng chân, ai có ngựa dùng ngựa hoặc dùng lưng kẻ khác, miễn xê dịch được là xong. Ngày nay, một người Việt thuộc môi trường thượng lưu, tốt nghiệp đại học chuyên ngành và cao học lý luận chính trị, từ hơn hai mươi năm liên tục giữ cương vị lãnh đạo ở những tổng công ty và cơ quan nhà nước cấp bộ, thậm chí là đại biểu Quốc hội, làm thế nào để có thể rơi vào một tai nạn như chốn chánh?

 

trinh-ta-01

Trường phái chốn chánh
Trường phái chốn chánh

Song sai chính tả không phải là độc quyền của riêng giới quan chức không thạo gì hết ngoài phép chia. Công ty Luật Đại Việt ở Hà Nội cung cấp dịch vụ đòi tiền trong trường hợp chốn nợ. Tạp chí Điện ảnh giới thiệu màn chốn chạy và pha lẫn chốn trong một bộ phim. Giáo xứ Thái Hà phản đối chủ chương tiêu diệt phong trào hướng đạo của cộng sản Việt Nam. Cô người mẫu Trang Trần viết bản kiểm điểm vì đã trống lại lực lượng làm nhiệm vụ. Hãng Taxi Bình Dương quảng cáo dịch vụ xe nhanh tróng thuận tiện. Bệnh viện An Việt ở Hà Nội phân tích hội trứng não gan. Báo điện tử Soha kể chuyện Sao Việt bị gạ đổi trác. Trường THPT Ngô Gia Tự ở Bắc Giang dạy kỹ năng nói lời từ trối khéo léo. Báo Vietinfo ở Tiệp thông tin về các vùng tranh trấp ở Biển Đông, trong khi cửa hàng Gentleman ở Sài Gòn hướng dẫn quy trình giải quyết chanh chấp. Đài Truyền hình Việt Nam đưa tin về trunglợn lái. Báo Dân quyền yêu cầu đừng trà đạp lên tình yêu nước thiêng liêng. Tỉnh Đoàn Kontum kêu gọi đoàn viên chui rèn trong biển lửa. Báo Vietnamnet thông tin tăng phí chước bạ. Báo Người Việt Atlanta có hẳn một mục Chia xẻ kinh nghiệm. Công ti iMate ở Sài Gòn cho biết bí quyết trăm sóc lốp xe, trong khi Công ti Âu Việt ở Hà Đông bán máy đo lồng độ ô xy bão hòa và báo Dân trí đưa tin về một bệnh nhân bị lôn mửa, và Nhà sách Đại học Quốc gia Hà Nội giới thiệu cuốn “Thi cử học vị học hàm dưới các chiều đại phong kiến Việt Nam“.

Ông Thanh rõ ràng đã hòa mình với tập thể dân tộc cả trong và ngoài nước. Thử hình dung, giới lãnh đạo Việt Nam bỗng nhiên là những người đẹp đẽ lịch duyệt, ăn ở sành điệu, thông thạo dăm ba ngoại ngữ, phát âm chuẩn chứ không cờ-lờ-mờ-vờ, chính tả chuẩn chứ không chốn chánh, diễn thuyết hùng biện, học vấn uyên bác, đã thế lại giàu năng lực lãnh đạo và trong sạch. Chúng ta sẽ nhìn họ như những thực dân từ hành tinh khác. Và chúng ta có truyền thống chống thực dân. Hay chuyền thống trống thực dân.

20/8/2017

P.T.H.




Bộ chén dĩa đặc biệt tại tiệc chiêu đãi các nhà lãnh đạo APEC

Nguyên liệu đất để chế tác được hội tụ từ nhiều địa danh trên thế giới. 29 sản phẩm đặc biệt cao cấp thiết kế theo phong cách, đẳng cấp hoàng gia và trang trí tinh xảo với hai màu chủ đạo là vàng nhạt và xanh cobalt. Hoa sen làm họa tiết chủ đạo để tạo nên hồn sắc cho bộ dụng cụ…

Tối nay (10.11), tiệc chiêu đãi các nhà lãnh đạo APEC cùng phu quân, phu nhân diễn ra tại khách sạn Sheraton, Đà Nẵng. Bộ sản phẩm Hoàng Liên do Công ty TNHH Minh Long I chế tác được chọn phục vụ tại bữa tiệc này. Bộ bát dĩa tiệc gồm 29 sản phẩm đặc biệt cao cấp, được thiết kế theo phong cách, đẳng cấp hoàng gia và trang trí tinh xảo. Với hai màu chủ đạo là vàng nhạt và xanh cobalt (còn gọi là màu blue Huế).

Ý định thực hiện bộ sản phẩm đặc biệt này đã được nung nấu từ lâu. Đó là suy nghĩ của chính nghệ nhân Lý Ngọc Minh, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Minh Long I, rằng Việt Nam hoàn toàn có thể làm được một bộ sản phẩm phục vụ chính khách đúng nghĩa, xứng tầm.

Minh Long mất hơn hai năm để chuẩn bị các sản phẩm đặc biệt phục vụ APEC 2017 này. Hành trình đầy tâm huyết ấy của Minh Long bắt đầu với 6 tháng phát thảo ý tưởng và một năm ròng để thể hiện bằng thiết kế hình họa 3D. Kế tiếp là giai đoạn sản xuất sản phẩm mẫu để đánh giá và hiệu chỉnh. Cũng từ đây, với nửa năm, mỗi sản phẩm được nghiên cứu kỹ càng, trải qua hàng chục cuộc kiểm định khác nhau, đồng nghĩa với việc yêu cầu mọi chi tiết, dù nhỏ nhất cũng phải thật hoàn hảo.

Không chọn nhiều họa tiết rườm rà, kiểu cách, Minh Long dùng hình tượng loài hoa sen bình dị, kết hợp với dương xỉ làm họa tiết chủ đạo. Trong đó, hoa sen là quốc hoa của Việt Nam, được nhiều người yêu thích với vẻ thanh tao, nền nã, tượng trưng cho lối sống giản dị, hiền hòa; còn dương xỉ là loài cây có mặt sớm nhất và trường tồn, bất biến theo thời gian.

Từ những hình tượng có ý nghĩa đó, Minh Long khéo léo nghệ thuật hóa sống động, biểu đạt lại bằng các nét vẽ nhẹ nhàng, phúc hậu trên từng sản phẩm. Với tất cả nỗ lực của hơn 30 người, lên ý tưởng và thiết kế trong vòng nửa năm để cho ra họa tiết sen phù hợp. Đó là câu chuyện đủ thử thách sự nhẫn nại của những nghệ nhân giàu kinh nghiệm nhất.

Nguyên liệu đất để chế tác được hội tụ từ nhiều địa danh trên thế giới. Trong đó, 40% là đất từ các mỏ cao lanh tại Việt Nam, được tuyển chọn từ cả ba vùng miền. Còn lại, là đất được tinh tuyển từ các mỏ đất quý ở vùng Trung Đông, New Zealand, Ấn Độ, Canada, Mỹ, Nga, Hàn quốc, Đức, Pháp và Trung Quốc.

Nổi bật bộ sản phẩm là khay ăn chính có kích thước siêu lớn và nắp đậy lấy ý tưởng từ biểu tượng “trời tròn – đất vuông”. Trong đó, khay chính với kích thước siêu lớn và phẳng, có cấu trúc mềm mại như lụa.

Để có đầy đủ các sản phẩm đặc biệt phục vụ sự kiện đối ngoại quan trọng nhất năm, hệ thống máy móc hiện đại, đội ngũ kỹ thuật cùng các nghệ nhân giàu kinh nghiệm của Minh Long đã dành thêm 4 tháng nữa để chăm chút, tỉ mẩn trang trí và dõi theo từng sản phẩm một ra lò, đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe nhất về chất lượng, kỹ thuật và mỹ thuật của lĩnh vực sản xuất gốm sứ thế giới hiện nay.

Bộ sản phẩm Hoàng Liên được chế tác theo phong cách tinh tế, trang nhã nhưng sang trọng và quyền quý theo lối hoàng gia, với hai màu chủ đạo là vàng nhạt và xanh cobalt.

Nắp đậy to tròn với núm sen vàng sang trọng, được thiết kế theo phong cách quyền quý, hội đủ nhiều kỹ thuật sản xuất tinh tế nhất hiện nay.

Các sản phẩm đựng gia vị được trau chuốt, thiết kế kiểu dáng đẳng cấp.

Một sản phẩm đặc biệt khác, là thố súp với phần lòng thố được thiết kế đặc biệt có 2 lòng, giúp giữ nguyên độ nóng của món ăn lên đến 30 phút.

Điểm nhấn của bộ sản phẩm phục vụ các nguyên thủ là gàu rót sốt được cách điệu với chi tiết đầu rồng mỏ phượng ngậm ngọc từ bộ phận quai cầm của sản phẩm.

Bộ ly kem bằng sứ nhưng mỏng, nhẹ, có thiết kế mảnh mai, với dáng điệu lãng mạn. Đây là chế tác phá cách, được lấy cảm hứng từ vẻ ngoài kiêu sa của phái đẹp, thể hiện đẳng cấp tinh tế của người thưởng thức.

Bộ cà phê với dung tích 1.5l, lần đầu xuất hiện trong dáng vẻ hoàn toàn mới, được thiết kế và trang trí hài hòa, với các đường nét thanh thoát, sắc sảo, cũng là một chế tác nổi bật mang đậm phong cách hoàng gia.

Các bộ trà, bộ gia vị, bộ thố, tô đựng salad, các loại đĩa nhiều kích cỡ khác nhau được thiết kế theo hai lối Âu và Á kết hợp, cùng làm nên vẻ đẹp hoàn chỉnh cho bộ sản phẩm, để người chiêu đãi linh hoạt lựa chọn áp dụng theo thực đơn.

Nghệ thuật biểu đạt văn hóa Việt Nam trên từng sản phẩm phục vụ APEC là điều Minh Long đặc biệt chú trọng. Quan niệm nghệ thuật là cầu nối, cũng là thứ ngôn ngữ truyền tải văn hóa hiệu quả nhất. Theo đó, mỗi sản phẩm được coi như một sứ giả quảng bá nét đẹp truyền thống, văn hóa, đất nước mình với bạn bè quốc tế.

Đa dạng sản phẩm nhưng thể hiện sự đồng nhất, bộ Hoàng Liên gồm đầy đủ các dụng cụ với các chức năng phục vụ bữa tiệc trang hoàng, quyền quý. 15 công đoạn tiêu biểu, từ thiết kế, chế tạo khuôn, tinh chọn nguyên liệu… đến thành phẩm đều đòi hỏi nhà chế tác phải cân nhắc kỹ lưỡng, miệt mài sáng tạo và trải qua nhiều cuộc thẩm định khác nhau để tạo nên đẳng cấp cùng chất lượng đặc biệt nhất.

Ông Lý Ngọc Minh cho rằng, với những sản phẩm tài trợ cho sự kiện quốc tế lớn nhất năm này, Minh Long kì vọng muốn giới thiệu với thế giới rằng Việt Nam chúng ta có những sản phẩm tuyệt đẹp, có những con người tài hoa đã làm nên chúng. Từ đó, người Việt hoàn toàn có thể hãnh diện vì văn hóa của đất nước mình, họa tiết cũng như mỹ thuật mà nước mình sáng tạo ra.

http://nguoidothi.net.vn/chiem-nguong-bo-chen-dia-dac-biet-tai-tiec-chieu-dai-cac-nha-lanh-dao-apec-11162.html

 




Triễn lãm đồ cổ VN, San Antonio, TX

Ancient Viet. Arts




Ngôi nhà 34 Hoàng Diệu – chứng nhân của Lịch sử

 

Lưu Trọng Văn

09-11-2017

Sáng qua trước khi ra sân bay về Sài Gòn, gã đi qua phố Hoàng Diệu, Hà Nội.

Ngôi nhà 34 tầng hai sáng đèn. Gã biết nơi ấy đang có lễ tang cụ Hoàng Thị Minh Hồ 103 tuổi vợ của cụ Trịnh Văn Bô nhà tư sản dân tộc đã hiến cho chính phủ Hồ Chí Minh 5147 lượng vàng khi mà ngân khố quốc gia trống rỗng.

Gã tính vào để thắp nén nhang cho người đàn bà yêu nước từng tuyên bố: tôi cho chính phủ 1000 lượng vàng để chính phủ đút lót cho mấy tư lệnh của Tưởng Giới Thạch chỉ huy quân Trung Quốc tại VN lúc đó chỉ vì muốn tránh đổ máu cho đồng bào và chiến sĩ của ta.

Nhưng rồi gã nghĩ, thôi mình chỉ là anh dân hãy như bao người dân khác qua đường nhìn vào và lặng lẽ có lời cầu khấn cho một con người giàu có nhưng tử tế và yêu dân, yêu nước ở thời kì quá thiếu vắng những người như thế là được rồi.

Gã từng học cùng lớp với Minh Châu con gái tướng Hoàng Văn Thái. Một cô gái xinh đẹp và trầm tính, học giỏi, nết na nhất lớp. Chả bao giờ nói chuyện với nhau, cũng như trong lớp gã chả bao giờ nói chuyện với Hoà Bình con gái tướng Giáp, Sơn Dương con trai thủ tướng Đồng bởi do gã tính khí kẻ bụi đời trong khi các bạn trên được gã liệt vào con vua quan.

Đi qua ngôi nhà 34 , lúc này, gã cảm thấy buồn. Một câu hỏi được đặt ra: vì sao tướng Thái, người cùng tướng Giáp chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ , người từng nhiều năm là tổng tham mưu trưởng chỉ huy quân đội đánh các loại giặc lại có thể không áy náy , hơn 30 năm cho đến khi mất, ở trong ngôi nhà của một người yêu nước đã cống hiến hầu hết gia sản cho đất nước, đang khó khăn về nơi ở như thế.

Tướng Thái quá biết cái cam kết của mình với ông bà Bô khi mượn nhà cho gần nhà tướng Giáp và tướng Văn Tiến Dũng đang ở cho tiện việc chỉ huy quân đội chỉ trong hai năm. Tại sao sau cái hạn hai năm ấy lại không chủ động trả nhà?

Và tại sao suốt 30 năm liền ông bà Bô đòi nhà được biết bao vị lãnh đạo cấp cao nhất như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng… đồng ý phải trả nhà cho ông bà Bô mà vẫn không trả nhà?

Tướng Thái thừa biết nếu trả nhà thì mình được cấp biệt thự ở những con phố như Phan Đình Phùng, Lý Nam Đế ngay lập tức,nhưng vẫn không tự thấy không phải về đạo lý mà chủ động ra đi.

Buồn là buồn chỗ đó.

Tướng Thái là anh hùng của các cuộc chiến.

Tướng Thái được ghi nhận là tướng gần gũi thân cận với tướng Giáp, người được quân đội tôn vinh.

Vậy thì vì sao…

Không khó trả lời.

Ngôi nhà này có khuôn viên 3000 m2 diện tích sàn 300 m2 là một trong biệt thự đẹp nhất, sang trọng nhất và lớn nhất, trên con phố đẹp nhất thủ đô.

Vâng, cám dỗ đó không dễ mà từ bỏ.

Cám dỗ. Biết bao người hùng không tiếc máu xương cho giành độc lập dân tộc nhưng đã không vượt qua được cám dỗ vật chất.

Nếu tướng Thái quyết định trả nhà như cam kết và cùng gia đình rời nhà, chắc chắn ngôi nhà ấy vẫn không được trả lại cho ông bà Bô vì một chính sách bất đạo lý hơn bất cứ bất đạo lý nào là chính sách cải tạo tư sản và quốc hữu hoá, thì giờ đây tướng Thái đã được nhắc đến như một tấm gương đẹp của một anh hùng,một tướng tài đức của quân đội không có lòng…tham.

Buồn.

Gã hiểu vì sao Mandela lãnh tụ Nam Phi được cả thế giới tôn vinh. Không chỉ vì ông yêu nước chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, đấu tranh cho công bằng mà còn vì tính nhân văn của ông sáng ngời.

Khi người da đen bị áp bức giành chính quyền từ tay người nhà giàu da trắng, ông không hề có bất cứ cuộc cải tạo tư sản,địa chủ nào hết. Ông đã mua lại các tài sản của người giàu để chia lại cho người nghèo với giá mà người giàu đồng tình. Ông phân biệt rõ có người giàu yêu nước, tử tế để tôn vinh và mời họ làm lãnh đạo đất nước.

Còn đất nước của gã theo dòng chảy khác. Cải tạo tuốt. Tịch thu tuốt nhân danh cái gọi là công bằng cho người nghèo.

Bi kịch của đất nước từ đây đâu chỉ của riêng những Nguyễn Thị Năm, những Trịnh Văn Bô…

Và như thế câu chuyện ngôi nhà 34 Hoàng Diệu là câu chuyện chứng nhân một thời của Lịch sử mà bài học của nó vẫn còn rất nóng hổi cho đến hôm nay. Bài học của Đạo lý.

Nguồn

 

 

 




Triển lãm nghệ thuật Salvador Dali tại Florida

SalvadorDali-Exhibit




Yên Bái – khi đàn cá tầm nuốt các cánh rừng

 

Trong năm qua và nhiều năm gần đây, nếu có một bảng phong thần buồn bã về một tỉnh rừng núi bị thảm họa thiên nhiên nhiều và thảm khốc nhất Việt Nam, chắc chắn TOP đầu không thể nào thiếu cái tên: Yên Bái.

Trong tích tắc, vài chục người chết ở Ba Khe, ngót hai chục người chết thảm bất toàn thây ở La Pán Tẩn, lũ khốc hại ở Văn Chấn – Nghĩa Lộ, mưa lũ gây chết chóc nhiều và cô lập hoàn toàn huyện Trạm Tấu… Liên tiếp và liên tiếp. Đồng nghiệp của chúng tôi, nhà báo Đinh Hữu Dư cũng tử nạn, mưa lũ bẻ gẫy cả cây cầu bêtông cốt thép tưởng như không thể kiên cố hơn ở ngòi Thia, khi Dư đang đứng tác nghiệp.

 

Chứng thực sự trả vố của Bà Mẹ Rừng

Rất nhiều người, trong nhiều năm đã đặt các câu hỏi vì sao và vì sao? Nhắm mắt cũng biết, thảm họa đến từ lối ứng xử tàn độc của con người với thiên nhiên, rừng bị phá, núi đồi bị xẻ thịt xuẩn ngốc, sông suối bị ngăn bít bởi các công trình vô lối và tham lam. Rừng là tấm áo giáp bảo bọc, là bộ khiên che chắn, là nơi giữ nước và ngăn mưa lũ gây họa. Người ta đã phá rừng ở đâu?

Câu trả lời là: Chắc chắn họ phá rừng, dù không biết phá ở những đâu và những chỗ từng tai tiếng bị phá giờ còn tái diễn điều xấu xa ngày cũ hay không? Chỉ biết rằng, trong bụng dòng nước ngầu bọt và hung hãn tràn về khi thảm sát nhiều lương dân vô tội kia, chứa rất nhiều gỗ.

Có khi, ở Mồ Dề, huyện Mù Căng Chải, cả một hồ thủy lợi mênh mông bít kín bạt ngàn toàn gỗ. Có khi, cánh đồng lớn ở Văn Chấn, sau khi mấy chục người thiệt mạng, mưa tan, lũ dừng thì núi củi rộng dài như bất tận hiện ra. Rừng trả những thây gỗ mà loài người đã giết chết của rừng về. Như một sự trả vố của thiên nhiên với lối hành xử ích kỷ và cuồng dại của những đứa con hư.

Nhóm phóng viên Báo Lao Động từng đi đến tận cùng nhiều vụ phá rừng rất lớn ở Yên Bái. Có thể nói là lớn nhất từng được biết đến. Người dân bức xúc đã kỳ vọng rất nhiều. Nhưng, sự “chấn động”, sự kỷ luật, cảnh cáo vài cán bộ hư, chỉ khuấy lên làm vì trong ít ngày, rồi đâu lại vào đó.

Những cây pơ mu đường kính gần hai mét ở đỉnh cao bậc nhất của dãy Hoàng Liên Sơn trên địa phận vùng rốn lũ quét, lũ bùn, lũ ống, sạt lở như Trạm Tấu, Văn Chấn bị xẻ thịt. Ở đó, gỗ có khi được bày bán công khai như cái chợ trời đỉnh núi. Mặc cả, xẻ gỗ, vác gỗ, dọa dẫm chửi bới nhau, truy sát nhà báo khi nghi ngờ có sự hóa trang xâm nhập.

Những cây gỗ cả nghìn năm tuổi, báu vật của dãy núi cao nhất Việt Nam, hùng vĩ nhất Đông Dương vẫn bị xẻ thịt vô tư. Người ta ăn ngủ đốt lửa, dựng lều lán, cưa xẻ như thổ phỉ trong rừng. Có cả làng phá rừng pơ mu với những kẻ phá sơn lâm nghiện ma túy, nhiễm HIV/AIDS, chết cả loạt.

 

Những cây gỗ thơm lựng hương pơ mu bị xẻ, nhà báo lọt thỏm vào trận địa gỗ đã xẻ, tấm nào cũng to cả mét bề ngang, chợt ai đó thốt lên: Thơm ma quái như mùi nhang khói tống tiễn các cánh rừng vậy. Nếu không có lực lượng kiểm lâm Sơn La vác súng AK và giắt K59 đi cùng, chắc chắn chúng tôi không có được những bức ảnh kèm theo bài viết này về thực trạng phá rừng ở Trạm Tấu.

Bây giờ, có người bảo, pơ mu sắp hết rồi, chỉ còn vài chỏm trên đỉnh thôi. Còn đám lâm tặc thời a còng thì khôn như chuột. Chúng lẩn lút như chuột trong rừng sâu và cán bộ cỡ nào xâm nhập vào thì cũng bị cú vọ theo dõi, tẩu tán tang vật, có giời mà “mục sở thị” cảnh tàn sát thiên nhiên như xưa nữa. Cho dù thảm cảnh vẫn diễn ra. Âm thầm mà dữ dội, theo cái lối chuột chũi ăn rừng, láu cá gặm từng miếng rồi lẩn mất, năm này qua năm khác.

Xem trọn bài

 




Diễn văn của TT Trump tại APEC Việt Nam

 

TS Mai Thanh Truyết dịch

https://www.youtube.com/watch?v=FJEmKCBo36s

Tôi rất vinh dự được có mặt tại Việt Nam, ở trung tâm của vùng Ấn Độ – Thái Bình Dương, để phát biểu trước người dân và các lãnh đạo doanh nghiệp của khu vực này.

Đây là một tuần đáng nhớ với nước Mỹ ở khu vực tuyệt vời này của thế giới. Từ Hawaii, Melania và tôi đã đến Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và bây giờ là Việt Nam, có mặt ở đây cùng tất cả các bạn hôm nay.

Trước khi chúng ta bắt đầu, tôi muốn gửi lời thăm hỏi tới những người bị ảnh hưởng bởi cơn bão Damrey. Người Mỹ đang cầu nguyện cho các bạn và mong các bạn khôi phục trong những tháng tới. Trái tim của chúng tôi đoàn kết cùng những người dân Việt Nam phải hứng chịu thiệt hại từ cơn bão khủng khiếp này.

 

Chuyến thăm này diễn ra vào một thời điểm thú vị đối với nước Mỹ. Một tinh thần lạc quan mới đang lan tỏa khắp đất nước chúng tôi. Tăng trưởng kinh tế đạt 3,2% và đang tiếp tục tăng lên. Tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp nhấp trong 17 năm qua. Thị trường chứng khoán đang ở mức cao chưa từng có. Và toàn thế giới đã được hưởng lợi nhờ sự đổi thay của Mỹ.

 

Bất cứ nơi nào tôi đến trong chuyến đi này, tôi đều vui mừng chia sẻ những tin vui từ Mỹ. Nhưng hơn cả, tôi có vinh dự được chia sẻ tầm nhìn của chúng tôi về một Ấn Độ – Thái Bình Dương tự do và cởi mở – nơi mà các quốc gia độc lập và chủ quyền, với những nền văn hóa đa dạng và nhiều giấc mơ khác nhau, tất cả có thể cùng nhau phát triển thịnh vượng trong tự do và hòa bình.

 

Tôi rất vui được có mặt ở APEC hôm nay, vì tổ chức này được thành lập nhằm đạt tới mục tiêu đó. Mỹ tự hào là một thành viên của cộng đồng các quốc gia tạo nên một mái nhà ở Thái Bình Dương. Chúng tôi là một thành viên tích cực của khu vực này kể từ khi giành độc lập.

Năm 1784, con tàu Mỹ đầu tiên đến Trung Quốc từ một nước Mỹ mới độc lập. Nó chất đầy hàng hóa để bán ở châu Á và trở về với đầy đồ gốm sứ và trà. Tổng thống đầu tiên của chúng tôi, George Washington, sở hữu một bộ bát đĩa từ con tàu đó.

 

Năm 1804, Thomas Jefferson cử các chuyên gia thám hiểm Lewis và Clark đi khám phá Bờ biển Thái Bình Dương của chúng tôi. Họ là những người đầu tiên trong số hàng triệu người Mỹ đã phiêu lưu về phía tây để hiện thực hóa vận mệnh hiển nhiên của nước Mỹ trên khắp lục địa rộng lớn của chúng tôi.

 

Năm 1817, quốc hội Mỹ lần đầu tiên phê duyệt việc triển khai một tàu chiến Mỹ đến Thái Bình Dương toàn thời gian. Sự hiện diện ban đầu của hải quân này đã sớm phát triển thành một hạm đội để đảm bảo tự do hàng hải cho ngày càng nhiều tàu hơn, vượt sóng lớn để vươn tới những thị trường ở Philippines, Singapore và Ấn Độ.

Năm 1818, chúng tôi bắt đầu mối quan hệ với vương quốc Thái Lan, và 15 năm sau đó, hai quốc gia chúng tôi đã ký kết một hiệp ước hữu nghị và thương mại, đầu tiên của chúng tôi với một quốc gia châu Á.

Trong thế kỷ tiếp theo, khi các đế quốc đe dọa khu vực này, Mỹ đã phải trả giá đắt cho chính cho mình. Chúng tôi hiểu rằng an ninh và thịnh vượng phụ thuộc vào điều đó.

 

Chúng ta đã là bạn, là đối tác và đồng minh ở Ấn Độ – Thái Bình Dương trong suốt một thời gian dài, và chúng ta sẽ là bạn, là đối tác và là đồng minh trong thời gian dài sắp tới.

Là những người bạn lâu năm trong khu vực, không ai vui mừng hơn nước Mỹ khi chứng kiến, giúp đỡ và chia sẻ những bước tiến vượt bậc mà các bạn đã đạt được trong nửa thế kỷ qua.

Những gì các quốc gia và các nền kinh tế hiện diện ở đây hôm nay đã gây dựng ở khu vực này là vô cùng kỳ diệu. Câu chuyện về khu vực này trong những thập kỷ gần đây là câu chuyện về những gì có thể xảy ra khi con người làm chủ tương lai của họ.

 

Cách đây chỉ một thế hệ, ít ai có thể tưởng tượng được các lãnh đạo của những quốc gia này sẽ cùng nhau đến Đà Nẵng để làm sâu sắc thêm tình hữu nghị, mở rộng quan hệ đối tác và chúc mừng cho những thành tựu đáng kinh ngạc của người dân chúng ta.

Thành phố này từng là nơi Mỹ đặt một căn cứ quân sự, tại một đất nước nơi rất nhiều người Mỹ và người Việt Nam đã thiệt mạng trong cuộc chiến tranh vô cùng đau thương năm xưa.

 

Ngày nay, chúng ta không còn là kẻ thù nữa, chúng ta là bạn. Và thành phố cảng này ngày càng tấp nập, nhộn nhịp với tàu thuyền từ khắp nơi trên thế giới đổ về. Những công trình kỳ công, như Cầu Rồng, chào đón hàng triệu người đến tham quan, tận hưởng những bãi biển tuyệt đẹp, ánh đèn rực rỡ cũng như những nét quyến rũ cổ xưa của Đà Nẵng.

 

Đầu những năm 1990, gần một nửa người dân Việt Nam sống với chỉ vài USD mỗi ngày và cứ 4 người lại có một người phải chịu cảnh thiếu điện. Ngày nay, Việt Nam, với nền kinh tế mở cửa, là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới, tăng hơn 30 lần. Sinh viên, học sinh Việt Nam được xếp vào hàng những người trẻ ưu tú nhất toàn cầu. Điều đó thật ấn tượng.

 

Chúng ta cũng đã được chứng kiến sự chuyển mình kỳ diệu tương tự trên khắp khu vực. Người Indonesia trong nhiều thập kỷ đã xây dựng đất nước và thiết lập các thể chế dân chủ để kiểm soát một chuỗi đảo khổng lồ gồm hơn 13.000 hòn đảo. Kể từ những năm 1990, người dân Indonesia đã tự mình vươn lên từ đói nghèo, trở thành một trong những quốc gia phát triển nhanh nhất G20. Hiện nay, đây là nền dân chủ lớn thứ ba thế giới.

Philippines cũng hiện lên với tư cách một quốc gia đáng tự hào với những gia đình bền vững và chân thành. 11 năm liền, Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã xếp Philippines ở vị trí đầu tiên trong số các quốc gia châu Á thực hiện tốt mục tiêu thu hẹp khoảng cách giới tính, cũng như thúc đẩy phụ nữ tham gia kinh doanh và hoạt động chính trị.

 

Vương quốc Thái Lan đã trở thành một quốc gia có mức thu nhập trên trung bình trong chưa đầy một thế hệ. Thủ đô Bangkok hoa lệ của họ hiện nay là thành phố thu hút nhiều người tìm đến nhất thế giới. Điều này rất ấn tượng. Không có nhiều người ở đây đến từ Thái Lan!

Malaysia đã phát triển nhanh chóng qua vài thập kỷ gần đây, và nay được liệt vào danh sách một trong những địa điểm hấp dẫn nhất thế giới để đầu tư, phát triển kinh doanh.

 

Tại Singapore, người dân mà trước đây bố mẹ họ sinh sống với mức thu nhập 500 USD một năm, nay nằm trong nhóm những công dân thu nhập cao nhất thế giới. Sự biến chuyển này đã thành hiện thực nhờ tầm nhìn của chính phủ Lý Quang Diệu, một chính phủ được quản lý trung thực và tuân theo pháp luật. Con trai cả của ông cũng đang điều hành đất nước tuyệt vời.

 

Gần đây, tôi đã tới Hàn Quốc quan sát. Người dân của đất nước cộng hòa này đã biến quốc gia từ một nơi nghèo đói bị chiến tranh tàn phá, trở thành một trong những nền dân chủ giàu có nhất thế giới chỉ trong vài thập kỷ. Ngày nay, người Hàn Quốc thu nhập cao hơn người dân ở nhiều quốc gia thuộc Liên minh châu Âu. Thật tuyệt vời khi được gặp gỡ và dành thời gian với Tổng thống Moon

 

Ai cũng biết về những thành tựu ấn tượng mà Trung Quốc đạt được trong vài thập kỷ qua. Trong giai đoạn ấy – giai đoạn cải cách thị trường lớn, nhiều khu vực ở Trung Quốc đã tăng trưởng kinh tế vượt bậc, thị trường việc làm bùng nổ, hơn 800 triệu người dân thoát nghèo. Tôi vừa rời Trung Quốc sáng nay. Trước đó, tôi đã có buổi làm việc hiệu quả và quãng thời gian tuyệt vời cùng chủ nhà hiếu khách, Chủ tịch Tập Cận Bình.

 

Còn nữa, trong điểm dừng chân đầu tiên của tôi ở chuyến đi này, tại Nhật Bản, chúng tôi thấy được một nền dân chủ năng động trên vùng đất của những kỳ quan công nghiệp, kỹ thuật và văn hóa. Trong chưa đầy 60 năm, đảo quốc này đã sản sinh hơn 24 người đoạt giải Nobel thế giới về các thành tựu vật lý, hóa học, y học, văn học và hòa bình. Thủ tướng Abe và tôi đã đạt được nhiều đồng thuận.

Trên khu vực rộng hơn, những nước ngoài APEC cũng đang có những bước tiến dài trên chương mới của khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương.

 

Ấn Độ đang kỷ niệm 70 năm ngày độc lập. Đó là một nền dân chủ chủ quyền, với hơn một tỷ dân. Từ khi Ấn Độ mở cửa kinh tế, đất nước này đã đạt tăng trưởng đáng kinh ngạc, mở ra thế giới cơ hội mới cho tầng lớp trung lưu đang tăng nhanh. Thủ tướng Modi đã và đang nỗ lực đưa đất nước rộng lớn này và mọi người dân đoàn kết làm một. Ông ấy đang rất, rất thành công.

 

Như chúng ta có thể thấy, ngày càng nhiều nơi trong khu vực này, người dân những quốc gia độc lập, có chủ quyền, đã nắm bắt được vận mệnh của chính mình tốt hơn, và giải phóng tiềm lực của nhân dân.

Họ theo đuổi một tương lai công bằng, trách nhiệm, khuyến khích tư hữu tài sản và tuân thủ pháp luật, đi theo chế độ coi trọng lao động chăm chỉ và doanh nghiệp cá nhân.

 

Họ xây dựng các doanh nghiệp, thành phố. Họ xây dựng toàn bộ đất nước từ điểm khởi đầu. Nhiều người trong số các bạn có mặt tại đây đã tham gia vào những dự án xây dựng vĩ đại, giúp nâng tầm quốc gia. Chúng đã là những dự án của các bạn, từ lúc bắt đầu đến khi hoàn thiện, từ giấc mơ đến hiện thực.

Với sự giúp đỡ từ các bạn, toàn bộ khu vực đã trỗi dậy, và nó vẫn đang trỗi dậy, như một chòm sao đẹp gồm các quốc gia, mỗi quốc gia là một ngôi sao sáng.

 

Có những người trong số các bạn đã trải qua những sự thay đổi đó và hiểu rõ những giá trị đã đạt được hơn bất cứ ai. Các bạn cũng hiểu rằng ngôi nhà của bạn chính là di sản của bạn. Bạn phải luôn bảo vệ nó.

Trong quá trình phát triển kinh tế, các bạn tìm kiếm quan hệ thương mại với các quốc gia khác, thiết lập quan hệ đối tác dựa trện sự tôn trọng lẫn nhau, hướng trực tiếp đến lợi ích song phương.

 

Hôm nay, tôi có mặt tại đây để đề nghị làm mới mối quan hệ đối tác với Mỹ, cùng nhau hành động nhằm tăng cường mối liên kết hữu nghị và thương mại giữa tất cả các quốc gia trong khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương, và cùng nhau, thúc đẩy an ninh và thịnh vượng của chúng ta.

 

Điều cốt lõi của quan hệ đối tác này là chúng tôi tìm kiếm những mối quan hệ thương mại mạnh mẽ dựa trên nguyên tắc bình đẳng và có qua có lại. Khi Mỹ tham gia một mối quan hệ thương mại với các quốc gia khác, chúng tôi, kể từ lúc này, hy vọng đối tác sẽ tuân thủ các nguyên tắc như chúng tôi. Chúng tôi kỳ vọng các thị trường sẽ mở cửa tương xứng ở cả hai bên, lĩnh vực công nghiệp tư nhân, không phải các nhà hoạch định của chính phủ, sẽ có sự đầu tư trực tiếp.

 

Thật không may, điều trái ngược lại xảy ra suốt thời gian dài và tại nhiều địa điểm. Trong những năm qua, Mỹ mở cửa nền kinh tế một cách có hệ thống chỉ với một số điều kiện. Chúng tôi hạ hoặc chấm dứt hàng rào thuế quan, thương mại, cho phép hàng hóa nước ngoài tự do vào Mỹ.

Nhưng trong khi chúng tôi hạ các rào cản thị trường, những nước khác lại không mở cửa thị trường của họ cho chúng tôi.

 

Các quốc gia trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), họ thậm chí không tuân thủ những nguyên tắc được đề ra. Đơn giản là, chúng ta không được WTO đối xử công bằng. Những tổ chức như WTO chỉ hoạt động đúng chức năng khi mọi thành viên tuân thủ luật chơi và tôn trọng quyền chủ quyền của mọi quốc gia thành viên. Chúng ta không thể có những thị trường mở nếu không đảm bảo được tiếp cận thị trường một cách bình đẳng. Cuối cùng, thương mại bất bình đẳng sẽ làm xói mòn tất cả chúng ta.

 

Mỹ thúc đẩy các doanh nghiệp, sự đổi mới và công nghiệp lĩnh vực tư nhân. Những quốc gia khác lại sử dụng ngành công nghiệp do chính phủ vận hành và hoạch định cùng các doanh nghiệp quốc doanh.

Chúng tôi tuân thủ các nguyên tắc WTO về bảo vệ tài sản trí tuệ, đảm bảo cách cận thị trường bình đẳng. Họ tham gia bằng cách trợ giá sản phẩm, bán phá giá, thao túng tiền tệ và các chính sách công nghiệp lợi dụng.

Họ phớt lờ các quy tắc để giành lợi thế trước những người tuân thủ luật chơi, tạo ra sự méo mó lớn trong thương mại, đe dọa các nền tảng của chính thương mại quốc tế.

 

Những hành động như vậy, cùng với sự thất bại tập thể của chúng ta trong việc ứng phó, gây tổn hại rất nhiều người dân ở quốc gia của chúng tôi cũng như các nước khác. Việc làm, nhà máy, các ngành công nghiệp bị tước đoạt khỏi Mỹ và nhiều quốc gia khác. Nhiều cơ hội đầu tư mang lại lợi ích song phương cũng mất đi bởi người dân mất niềm tin vào hệ thống.

 

Chúng tôi không thể bỏ qua những sự lợi dụng thương mại này. Chúng tôi sẽ không tha thứ họ. Sau nhiều năm những cam kết bị vi phạm, chúng tôi được bảo răng một ngày nào đó, sớm thôi, các bên sẽ hành xử công bằng và có trách nhiệm.

Người dân Mỹ và ở khu vực Ấn Độ -Thái Bình Dương đã chờ ngày đó tới. Nhưng nó chưa bao giờ xuất hiện. Đó là lý do tôi có mặt ở đây, ngày hôm nay, để nói một cách thẳng thắn về những thách thức của chúng ta và cùng hành động hướng đến tương lai tươi sáng hơn cho tất cả mọi người.

 

Tôi vừa có chuyến đi tuyệt vời tới Trung Quốc. Tại đây, tôi đã nói chuyện thẳng thắn và cởi mở với Chủ tịch Tập về các hành vi bất bình đẳng thương mại của Trung Quốc và thâm hụt thương mại lớn trong quan hệ thương mại của họ và Mỹ. Tôi bày tỏ mong muốn mạnh mẽ được phối hợp với Trung Quốc để đạt được quan hệ thương mại, thực hiện trên cơ sở công bằng, bình đẳng thực sự.

 

Sự mất cân bằng thương mại hiện nay là không thể chấp nhận được. Tôi không đổ lỗi cho Trung Quốc hay bất kỳ nước nào khác, dù có rất nhiều nước, vì đã lợi dụng nước Mỹ trong vấn đề thương mại. Nếu các đại diện của họ có thể bình an vô sự với điều này, họ chỉ đang làm việc của mình. Tôi ước gì chính quyền trước đây của Mỹ nhìn thấy những gì đang diễn ra và làm điều gì đó. Họ không làm, nhưng tôi sẽ làm.

 

Từ hôm nay trở đi, chúng ta sẽ cạnh tranh một cách công bằng và bình đẳng. Chúng tôi sẽ không để nước Mỹ bị lợi dụng thêm nữa. Tôi sẽ luôn đặt nước Mỹ lên hàng đầu, như cách mà tôi mong muốn tất cả các bạn trong hội trường này đưa tổ quốc mình lên trên hết.

Mỹ sẵn sàng phối hợp với từng lãnh đạo trong hội trường này hôm nay để đạt được thương mại cùng có lợi mang lại lợi ích cho cả nước bạn lẫn nước tôi. Đó là thông điệp mà tôi muốn truyền tải ở đây.

 

Tôi sẽ ký các thỏa thuận thương mại song phương với bất cứ quốc gia Ấn Độ – Thái Bình Dương nào muốn trở thành đối tác của Mỹ và sẽ tuân thủ nguyên tắc thương mại công bằng và có đi có lại. Điều chúng tôi không tiếp tục làm là tham gia vào những thỏa thuận lớn trói tay nước Mỹ, ảnh hưởng đến chủ quyền, cũng như khiến việc thực thi điều đó một cách có ý nghĩa trở nên bất khả thi trong thực tế.

 

Thay vào đó, chúng tôi sẽ thương thảo trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi. Chúng tôi sẽ tôn trọng độc lập và chủ quyền của các bạn. Chúng tôi muốn các bạn mạnh mẽ, thịnh vượng và tự tin, giữ vững bản sắc lịch sử và vươn tới tương lai. Đó là cách chúng ta cùng thịnh vượng và tăng trưởng, trong mối quan hệ đối tác với giá trị thực tế và lâu bền.

 

Nhưng để cái mà tôi gọi là giấc mơ Ấn Độ – Thái Bình Dương này trở thành hiện thực, chúng ta phải đảm bảo rằng tất cả cùng chơi theo luật, vốn là điều họ không làm vào thời điểm hiện nay. Những nước tuân thủ luật chơi sẽ trở thành đối tác kinh tế gần gũi nhất của Mỹ. Những ai không làm được như vậy có thể chắc chắn rằng Mỹ sẽ không còn nhắm mắt làm ngơ cho những hành động vi phạm, lừa gạt hay xâm lược kinh tế. Những ngày đó đã qua rồi.

 

Chúng tôi sẽ không tiếp tục dung thứ cho hành vi ăn cắp quyền sở hữu trí tuệ một cách trắng trợn. Chúng tôi sẽ đối đầu với những thủ đoạn ép buộc các doanh nghiệp trao công nghệ cho nhà nước và buộc họ phải tham gia vào các liên doanh để đổi lấy quyền tiếp cận thị trường.

 

Chúng tôi sẽ đối phó với tình trạng trợ cấp quy mô lớn cho các ngành công nghiệp thông qua những doanh nghiệp nhà nước lớn vốn đẩy các đối thủ tư nhân ra khỏi cuộc chơi, điều vẫn thường xuyên xảy ra.

Chúng tôi sẽ không tiếp tục im lặng khi các công ty Mỹ bị những đối thủ được nhà nước hậu thuẫn nhắm tới vì lợi ích kinh tế, dù là thông qua các cuộc tấn công mạng, gián điệp kinh tế, hay các thủ đoạn phản cạnh tranh khác. Chúng tôi sẽ khuyến khích tất cả các nước cất lên tiếng nói khi các nguyên tắc về bình đẳng và có đi có lại bị xâm phạm.

 

Chúng tôi biết nước Mỹ có lợi ích trong việc xây dựng quan hệ đối tác ở một khu vực đang trở nên phát đạt, thịnh vượng và không phụ thuộc vào bất cứ ai. Chúng tôi sẽ không đưa ra quyết định vì mục đích quyền lực hay bảo trợ. Chúng tôi sẽ không bao giờ yêu cầu các đối tác từ bỏ chủ quyền, quyền riêng tư và sở hữu trí tuệ, hay hạn chế hợp đồng đối với các công ty quốc doanh.

 

Chúng tôi sẽ tìm cơ hội cho các công ty tư nhân Mỹ hợp tác với công ty của các bạn để tạo ra việc làm, của cải cho tất cả chúng ta. Chúng tôi tìm kiếm đối tác mạnh, không phải đối tác yếu. Chúng tôi tìm kiếm làng giềng mạnh, không phải hàng xóm yếu. Trên tất cả, chúng tôi tìm kiếm tình hữu nghị và không mơ về sự thống trị.

Vì lý do này, chúng tôi đang tái tập trung vào những nỗ lực phát triển đang có. Chúng tôi kêu gọi Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á hướng nỗ lực của họ vào đầu tư cơ sở hạ tầng chất lượng cao để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

 

Mỹ cũng sẽ thực hiện phần công việc của mình. Chúng tôi cũng cam kết cải cách các thể chế tài chính phát triển để chúng có thể khích lệ tốt hơn các khoản đầu tư từ lĩnh vực tư nhân vào nền kinh tế của các bạn, và cung cấp những phương án mạnh thay thế các sáng kiến do nhà nước định hướng vốn gắn liền với nhiều ràng buộc.

Trong những năm gần đây, Mỹ đã nhiều lần nhắc nhở rằng an ninh kinh tế không chỉ đơn thuần liên quan đến an ninh quốc gia. An ninh kinh tế chính là an ninh quốc gia. Điều đó rất quan trọng với sức mạnh quốc gia của chúng ta.

 

Chúng tôi cũng biết rằng sẽ không có sự thịnh vượng lâu dài nếu chúng tôi không dám đối mặt với những mối đe dọa nghiêm trọng đối với an ninh, chủ quyền và sự ổn định mà thế giới hiện nay đang đối diện.

Đầu tuần này, tôi đã phát biểu trước quốc hội tại Seoul, Hàn Quốc và kêu gọi tất cả các quốc gia có trách nhiệm đoàn kết trong việc tuyên bố rằng: mọi bước đi của chính quyền Triều Tiên trong việc tăng cường kho vũ khí đều là một bước đi đến nguy hiểm ngày càng lớn hơn. Tương lai của khu vực này và những người dân tốt đẹp tại đây không thể bị kìm giữ như những con tin cho những tưởng tượng méo mó về các cuộc chinh phục bạo lực và hăm dọa hạt nhân của nhà độc tài.

 

Hơn nữa, chúng ta phải tôn trọng các nguyên tắc đã đem lại lợi ích cho tất cả chúng ta, như tôn trọng thượng tôn pháp luật, các quyền cá nhân, tự do hàng hải và trên không, bao gồm các tuyến vận chuyển mở. Ba nguyên tắc này tạo ra sự ổn định và xây dựng lòng tin, an ninh, và thịnh vượng giữa các quốc gia có cùng chí hướng.

Chúng ta cũng phải giải quyết dứt khoát những mối đe dọa khác đối với an ninh và tương lai của con cái chúng ta, như tội phạm, buôn người, ma túy, tham nhũng, tội phạm mạng và việc bành trướng lãnh thổ. Như tôi từng nói nhiều lần: Tất cả những người văn minh phải cùng nhau đẩy lùi những kẻ khủng bố và các phần tử cực đoan khỏi xã hội, chặn đứng nguồn hỗ trợ về tài chính, lãnh thổ và tư tưởng của chúng. Chúng ta phải ngăn chặn chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan.

 

Vì vậy, chúng ta hãy cùng nhau làm việc để có một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương hoà bình, thịnh vượng và tự do. Tôi tin tưởng rằng, cùng nhau, mọi vấn đề chúng ta nói đến ngày hôm nay đều có thể được giải quyết. Mọi thách thức mà chúng ta phải đối mặt đều có thể vượt qua.

Nếu chúng ta thành công trong nỗ lực này, nếu chúng ta nắm bắt được cơ hội ngay trước mắt và đặt sự hợp tác làm nền tảng vững chắc vì lợi ích của người dân, chúng ta sẽ đạt được mọi thứ chúng ta ước mơ cho các quốc gia và cho con cái.

 

Chúng ta sẽ có được một thế giới của các quốc gia mạnh mẽ, chủ quyền và độc lập, phát triển trong hòa bình và thương mại với nhau. Đó sẽ là nơi chúng ta có thể xây dựng nhà cửa và nơi các gia đình, doanh nghiệp và con người có thể phát triển.

 

Nếu chúng ta làm được điều này, khi nhìn thế giới vào nửa thế kỷ tới, chúng ta sẽ ngạc nhiên trước chòm sao xinh đẹp của các quốc gia – mỗi nước đều khác biệt, có nét độc đáo riêng và tất cả đều tỏa sáng đầy tự hào trong khu vực này. Cũng giống như khi chúng ta nhìn vào các ngôi sao trên bầu trời đêm, khoảng cách thời gian sẽ làm cho hầu hết những thách thức chúng ta phải đối mặt và nhắc đến ngày hôm nay trở nên rất nhỏ bé.

Nhưng điều không nhỏ sẽ là những lựa chọn lớn mà tất cả các quốc gia sẽ phải đưa ra để giữ cho các ngôi sao luôn sáng tỏa sáng rực rỡ.

 

Ở Mỹ – cũng giống như mọi quốc gia đã chiến thắng và bảo vệ chủ quyền của mình, chúng tôi hiểu rằng không có gì quý giá như quyền lợi đương nhiên của công dân, sự độc lập quý giá và sự tự do.

Lý tưởng đó đã dẫn dắt chúng tôi trong lịch sử nước Mỹ. Lý tưởng đó đã thôi thúc chúng tôi hy sinh và đổi mới. Và đó là lý do tại sao ngày nay, hàng trăm năm sau chiến thắng của chúng tôi trong Cách mạng Mỹ, chúng ta vẫn nhớ đến lời của lời nhà lập quốc và là Tổng thống thứ hai của nước Mỹ John Adams. Trước khi từ giã cõi đời, người yêu nước vĩ đại này được yêu cầu đưa ra suy nghĩ trong dịp kỷ niệm 50 năm tự do của Mỹ. Câu trả lời của ông là “độc lập vĩnh viễn”.

 

Đó là tinh thần cháy bỏng trong lòng người yêu nước và mọi quốc gia. Nước chủ nhà Việt Nam không chỉ có tinh thần đó trong 200 năm mà là trong gần 2000 năm. Vào khoảng năm 40 sau Công nguyên, Hai Bà Trưng đã đánh thức tinh thần của người dân vùng đất này. Đó là lần đầu tiên người dân Việt Nam đứng lên đấu tranh cho sự độc lập và niềm tự hào của các bạn.

 

Ngày nay, những người yêu nước, anh hùng trong lịch sử nắm giữ những câu trả lời cho những câu hỏi lớn về tương lai và thời đại của chúng ta. Họ nhắc nhở chúng ta là ai, sứ mệnh của chúng ta là gì.

Cùng với nhau, chúng ta có sức mạnh để nâng người dân và thế giới lên những tầm cao mới chưa từng có.

 

Hãy chọn tương lai của lòng yêu nước, thịnh vượng, niềm tự hào.

Hãy chọn thịnh vượng và tự do chứ không phải nghèo đói và sự tôi tớ.

Hãy chọn một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và mở cửa.

 

Cuối cùng, đừng bao giờ quên rằng thế giới có nhiều nơi, nhiều giấc mơ, và nhiều con đường, nhưng không có nơi nào như nhà mình.

Vì vậy, vì gia đình, vì đất nước, tự do, lịch sử và vì Chúa, hãy bảo vệ tổ quốc của các bạn, hiện giờ và mãi mãi về sau.

Cảm ơn các bạn. Chúa phù hộ các bạn. Chúa phù hộ khu vực Thái Bình Dương. Chúa phù hộ nước Mỹ. Cảm ơn nhiều. Cảm ơn các bạn.

 

________________________________________