Nam Phương Hoàng Hậu

NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT DUY NHẤT MẶC ÁO VÀNG TRONG TRIỀU ĐÌNH

Năm 1932 vua Bảo Đại về nước sau mười năm học tập ở Pháp. Bảo Đại (sinh 1913) là một ông vua đẹp trai, có Tây học, ham thích thể thao, săn bắn và âm nhạc, là hình ảnh lý tưởng của con gái Việt Nam, đặc biệt là con gái Huế thời bấy giờ và mãi nhiều năm về sau. Nhiều nhà quyền quý, có con gái đều nhắm đến vị Hoàng đế trẻ tuổi này.

 

Sau ngày Bảo Đại về nước, bà Từ Cung – mẹ đẻ của vua Bảo Đại, đã chọn cô Bạch Yến con ông Phó bảng Nguyễn Đình Tiến quê ở làng Chí Long (Phong Điền, Thừa Thiên) để chuẩn bị tiến cung. Cô Bạch Yến được dạy đàn ca, thơ phú, dạy ăn nói, đi lại cho đúng với lễ nghi trong cung cấm. Hằng ngày cô được tắm gội bằng sữa dê để giữ làn da đẹp. Nhưng rồi thật bẽ bàng, cuối cùng cô Bạch Yến đã không được Bảo Đại lưu ý.

Bởi vì Bảo Đại đã yêu cô Nguyễn Hữu Thị Lan (sinh 1914), con một nhà hào phú Nam bộ là ông Nguyễn Hữu Hào (gốc Gò Công). Bà còn là cháu ngoại ông Lê Phát Đạt, tức Huyện Sỹ – người giàu nhất Nam bộ đầu thế kỷ XX, Nguyễn Hữu Thị Lan là người nổi tiếng xinh đẹp, từng ba năm liền đạt giải hoa hậu Đông Dương.

Tuy nhiên, với quyết định này của nhà vua, đã khiến Thái Hậu Từ Cung vô cùng phiền lòng, còn triều đình như phải đối mặt với một cơn sóng dữ.

Xem trọn bài




Kỷ niệm 70 năm hội họa của họa sĩ Trương Thị Thịnh

Họa sỹ Trương Thị Thịnh sinh năm 1928 tại Huế, là một họa sỹ tài hoa, Tranh Trương Thị Thịnh có phong cách ấn tượng và trữ tình, kết hợp nhuần nhuyễn kỹ thuật Đông – Tây. Bà còn được biết đến như một họa sĩ có biệt tài về vẽ chân dung.

Cha mẹ của Họa sỹ Trương Thị Thịnh gốc miền Nam, tên cha Trương Văn Phước (Bình Dương) và mẹ Ca Thị Hương (Châu Đốc). Ba của Họa sỹ Trương Thị Thịnh làm công chức (1920-1930) vào thời Pháp thuộc, nhưng vì ba thích phiêu lưu nên đưa gia đình đi ra miền Trung hướng về điểm dừng chân là Huế. Họa sỹ Trương Thị Thịnh còn có 2 người chị gái là Trương Mỹ Chánh và Trương Mỹ Thiện và 2 em gái Trương Mỹ Ngọc, Trương Thị Hồng Liên, hai em trai là Trương Hồng Sơn và Trương Hồng Quang.

Xem Tiểu sử

http://hotruong.net/Nguoi-ho-Truong-duong-dai/hoa-sy-truong-thi-thinh-1097.html

 




Áo dài Việt Nam qua các thời kỳ

Khi nói đến khía cạnh thẩm mỹ, văn hóa và trang phục truyền thống của người Việt Nam, người ta thường nghĩ ngay đến tà áo dài và chiếc nón lá, thật vậy, trải qua từng thời kỳ, từng giai đoạn cùng với những diễn biến của quá trình phát triển lịch sử, tà áo dài Việt Nam tồn tại cùng với thời gian, được xem là trang phục truyền thống mang tính lịch sử lâu đời của người Việt.

Áo dài Việt Nam – những chặng đường lịch sử.

Ngược dòng thời gian tìm về cội nguồn, hình ảnh chiếc áo dài Việt với hai tà áo thướt tha trong gió đã được tìm thấy qua các hình khắc trên mặt trống đồng và hiện vật Đông Sơn cách ngày nay hằng nghìn năm (2879.BC-258.BC):

Trang phục Việt cổ thể hiện trên kiếm đồng Đông Sơn.

.

Truyền thuyết kể lại rằng khi cưỡi voi xông trận, Hai Bà Trưng (40-43.AD) đã mặc áo dài hai tà giáp vàng, che lọng vàng. Do tôn kính hai bà, phụ nữ Việt xưa tránh mặc áo hai tà mà thay bằng áo tứ thân.

Theo thời gian, trong khoảng từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, để có dáng dấp trang trọng và mang vẻ quyền quý hơn, phụ nữ nơi thành thị đã biến tấu kiểu áo ngũ thân từ chiếc áo dài tứ thân nhằm thể hiện sự giàu sang cũng như địa vị xã hội của người phụ nữ. Giống như một quy luật, trang phục cũng đi liền với diễn biến của lịch sử, chiếc áo dài ngũ thân vẫn không thể là điểm dừng của trang phục truyền thống Việt Nam.

 

Xem toàn bài




Phan Thanh Giản, nỗI đau trăm năm

Phan_Thanh_Gian

Từ thời lập quốc dân tộc Việt Nam trãi qua nhiều gian khổ chống ngoại xâm giữ nước, dù bị ngàn năm Bắc thuộc, gần 100 năm thuộc điạ cuả Pháp, Dân tộc Việt Nam giành lại độc lập, tự do. Từ thời Cổ Đại khi Ngô Quyền (899 – 944) xưng vương năm 939, biên giới giữa nước ta và Chiêm Thành là dãy Hoành Sơn, nằm phiá nam tỉnh Hà Tĩnh ngày nay. Di tích lịch sử phần lớn ở miền Bắc là cái nôi văn hóa, để mở rộng bờ cõi về phiá nam vua Lê Đại Hành (970-1005) đánh Chiêm Thành năm 982 (Nhâm ngọ).

Chiến tranh rồi cũng có lúc hiếu hòa qua cuộc hôn nhân Việt- Chiêm năm 1306 (Bính ngọ) vua Chế Mân (Simhavarman lll) cưới Huyền Trân Công Chúa, sính lễ là hai Châu Ô và Châu Rí (Lý) mở rộng tới Quảng Nam và các triều đại kế tiếp dần dần chiếm phần đất cuối cùng của Chiêm Thành…Chúa Nguyễn nghĩ đến vùng đồng bằng Chân Lạp (Chen-La Cambodia). Năm 1620 Sãi Vương gả công chúa thứ 2 Nguyễn Phúc Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp Chey-Chetta ll, cũng vì nhu cầu đất đai mở rộng biên giới. Qua nhiều lần tranh chấp nội bộ người Chân Lạp gây chiến tranh với Việt Nam, người Việt đã chiến thắng, từ năm 1757(Đinh sửu) cương thổ nước ta chính thức được hình thành cho tới ngày nay.

Trong cuộc Nam tiến những đợt di dân từ miền ngoài đến miền Nam khai phá rừng hoang, lập nên ruộng đồng, làng mạc, nhờ phù sa sông Cửu Long nên ruộng đất phì nhiêu sản xuất nhiều lúa gạo là vựa lúa nuôi sống miền Nam giữ một vài trò vô cùng quan trọng trong nông nghiệp. Nhờ phong thổ, khí hậu sông nước, làm chơi ăn thiệt nên đời sống người miền Nam phóng khoáng và giọng nói cũng nhẹ nhàng hơn, văn học từ đó cũng phát triển theo mang những nét đặc thù qua thi ca, hò nam bộ, cãi lương, ca vọng cổ … đóng góp cho văn học nước nhà thêm phong phú. Thời xa xưa các bậc khoa bảng đều xuất thân ở miền Trung và Bắc, vì thời đó phương tiện lưu thông chưa phát triển. Từ miền Nam muốn dự các kỳ thi phải về Kinh Đô Huế đường xá xa xôi. Phan Thanh Giản là người đầu tiên đậu tiến sĩ xuất thân từ miền Nam, cũng là người mang nỗi đau vì để mất các tỉnh miền Nam vào tay thực dân Pháp, chết cũng không yên bị đục bia tiến sĩ, cách chức rồi phục hồi danh dự, Từ năm 1975 hai trường trung học mang tên Phan Thanh Giản ở Cần Thơ và Đà Nẵng đều bị đổi tên? Để trả lại sự thật cho lịch sử, chúng ta có bổn phận phải chia xẻ nỗi đau của Phan Thanh Giản dù ngài đã mất cách đây 150 năm (1867-2017).

Xem trọn bài



Thi sỹ Phạm Tăng

Vũ Thư Hiên

Ai cũng biết Phạm Tăng hoạ sỹ và thi sỹ, nhưng ít người biết một Phạm Tăng đầy tính khôi hài. Xin đăng lên đây bài thơ “Paris muôn thuở” của họa sỹ Phạm Tăng, trong đó tác giả chơi chữ Tây và Việt một cách rất “tếu”.

PARIS MUÔN THUỞ

 

Có gì lạ ở Pa-ri?

Mà dân du khách hết đi lại về

Ép-Phen (1) giống mụ đầm xoè

Dạng chân vén váy đứng tè sông Sen (2) .

Mấy tầng sắt thép đan chen,

Trèo lên tận đỉnh mà xem Bú-Lồn(3)

Giữa Ê-Toan(4) , bãi Đờ-Gôn(5) ,

Cao sừng sững Khải Hoàn Môn tượng đài.

Săng-Li-Dê(6) lộ hàng hai

Bùng binh Con-coọc(7) , tháp Ai(8) thẳng đờ

Trắng phau Mông-Mạc(9) nhà thờ

Leo lên, lụt xuống mệt phờ cả râu.

Xúm nhau Bãi Tẹc(10) phía sau

Nghệ nhân dựng cọc, phết màu cu-lơ(11)

Bảo tàng danh tiếng Lu-Vơ (12)

Chành chảnh ba góc Tháp phô giữa vườn.

Người xem rúc rúc luồn luồn

Mò mò mẫm mẫm tới buồng Li-Da(13)

Trầm trồ khen gái Mô-Na

Nụ cười bí hiểm” quả là đáng mê!

Vén-xì(14) , nghệ thuật cao ghê

Trẻ lên cơn hứng, già dê cũng uỳ(15) !

Điện thờ Thánh mẫu Pa-ri(16)

Tháp chuông nhắc nhở tình si chàng gù(17)

Con chiên, cha cố, bà sờ.

Trai, ôm, gái ấp, kẻ rờ, người xem.

Cô-lông(18) trắng, cô-lông đen,

Từng dàn ríu rít bờ Sen(19) đón mời

Khách chơi đứng, khách chơi ngồi.

Chụp dăm tấm ảnh, mỉm cười thật…duyên!

Pi-Gan(20) là chốn động tiên

Tiên đen, tiên trắng có tiền là mua

Vạch đùi, tốc váy diễn sô,

Chổng mông, dạng háng, tiên cô hốt tiền!

Dạo sông Sen, có du thuyền,

Cưỡi Ba-tô Mút(21) , sướng rên đùng đùng.

Phố phường người chật, xe đông.

Mê-trô vác cặc(22) chạy rông dưới hầm.

Chen vai, sát..nách tây đầm.

Hít hà cho đã một lần Pa-ri…

Hoan hô E ép-phờ-i (23)

“Pa-ri muôn thuở cực kỳ giàu, sang

Ngày xưa ông Mít(24) họ hàng

Giờ nay Xí-rắc(25) lại càng dễ thương:

Vàng thoi, bạc cục rắc đường.

Biếu không du khách bốn phương ăn, sài!

Pa-ri chính hiệu bồng lai.

Ăn ngon, chơi đã, biếu ngoài buộc-boa (26)

Tha hồ lượm dưới trốt-toa(27)

Kinh Thành Ánh Sáng Gô-loa(28) dát vàng(29) !!

Nhắn riêng du khách Việt Nam:

Trăm năm kết nghĩa đá vàng với Tây

Chân đi đạp xuống mặt giầy

Tránh sao cho khỏi trát đầy chất thơm !!

Về nhà vợ gắt: “Mắm tôm???

Mùi chi nặng? Hẳn mùi chồn Pa-ri?

Giữ làm hương vị chuyến đi?”

 

T.T.

Tên gì ký tắt trên đây?

Thưa rằng: Chính mỏa(30) – thằng Tây trọc đầu!

 

Trong ảnh: (từ trái sang) Quản Phúc Cảnh, Phạm Tăng, Vũ Thư Hiên

Pham Tang- Vu Thu Hien

Chú thích là do chúng tôi thêm vào để cho những bạn không rành Paris.

1- Tháp Eiffel.

2- Sông Seine

3- Rừng nhỏ Boulogne

4- Quảng trường Étoile

5-Tổng thống De Gaulles

6- Đại lộ Champs Élysées

7- Quảng trường Concorde

8-Tháp Ai Cập, Obélisque deLuxor

9-Nhà thờ Thánh Tâm, khu Montmartre

10-Place des Ternes

11-Couleur, màu

12-Bảo tàng Le Louvre

13-Phòng có tranh Mona Lisa

14-Danh họa Leonardo di Venci

15-Oui, ừ

16-Nhà thờ Đức Bà ở Paris, Notre Dame de Paris

17-Nhân vật Quasimodo trong Những Người Khốn Khổ của Victor Hugo

18-Colombe, chim bồ câu

19-Sông Seine

20-Phố gái điếm Pigalle

21-Bateau mouche, thuyền ruồi

22-Carte, vé

23-RFI, đài phát thanh

24-Tổng thống Mitterrand

25-Tổng thống Chirac

26-Pourboire, tiền típ

27-Trottoir, vỉa hè

28-Gaulois, tổ tiên dân Pháp

29- Vàng, cứt chó

30- mỏa,tôi

 

 

 




Ai có quyền viết sử VN?

TRẦN TRUNG ĐẠO

9/23/2017

Từ hậu bán thế kỷ 19 đến nay, có bao nhiêu cuộc chiến, trong đó các bên đã đổ máu, diễn ra trên đất nước Việt Nam?

Câu trả lời tùy thuộc vào người bạn hỏi là ai.
Nếu bạn hỏi một sử gia người Mỹ có thể ông hay bà sẽ trả lời, Chiến tranh Việt Nam (Second Indochina War hay Vietnam War) là cuộc chiến tranh chống CS bành trướng xuống vùng Đông Nam Á bắt đầu từ ngày 1 tháng 11, 1955 khi Nhóm Cố Vấn Quân Sự Hoa Kỳ (U.S. Military Assistance Advisory Group) được thành lập tại Sài Gòn và chấm dứt khi Thượng sĩ Max Beilke, người lính tác chiến cuối cùng bước lên chiếc C-130 tại phi trường Tân Sơn Nhất để về quê anh ở Minnesota ngày 29 tháng 3, 1973.
Đối với các sử gia Mỹ, cuộc xung đột quân sự tại Việt Nam là xung đột giữa Mỹ một bên và CSVN một bên. Việt Nam Cộng Hòa chỉ là một phần phụ thuộc vào Mỹ.

Nếu bạn hỏi Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư đảng CSVN, ông ta sẽ trả lời cuộc chiến “chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa CS trên toàn lãnh thổ Việt Nam chính thức bắt đầu vào tháng Giêng, 1930 tại Cửu Long, Hương Cảng và chấm dứt vào sáng 30 tháng Tư, 1975.”

Đối với Nguyễn Phú Trọng, chính bí thư thứ nhất đảng Lao Động (CS) Lê Duẩn, trong tác phẩm Dưới Lá Cờ Vẻ Vang Của Đảng đã xác định cuộc chiến từ sau 1954 đến 1975 là chiến tranh của đảng Cộng Sản. Trong diễn văn đọc tại Sài Gòn đầu tháng 5, 1975 Lê Duẩn khẳng định “Vinh quang này thuộc về đảng Lao Động Việt Nam quang vinh, người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.” Lê Duẩn không che giấu mục đích của đảng CSVN từ khi thành lập vào năm 1930 cho đến nay, tuy khác nhau về chiến lược của mỗi thời kỳ và hoạt động dưới nhiều tên gọi nhưng hoàn toàn nhất quán về tư tưởng và mục đích chính trị: Chiếm Việt Nam bằng bạo lực và cai trị Việt Nam bằng sắt máu.

Tuy nhiên, nếu bạn tìm được cách vào tù để hỏi Trần Huỳnh Duy Thức có thể anh sẽ trả lời khác. Cuộc chiến giành độc lập và tự do cho dân tộc Việt Nam bắt đầu vào ngày 1 tháng 9, 1858, khi quân Pháp dưới quyền Đô Đốc Charles Rigault de Genouilly tấn công Đà Nẵng chính thức mở đầu cuộc chiến tranh vì độc lập tự do và cuộc chiến đó vẫn còn đang tiếp diễn cho đến hôm nay.
Người viết tin anh Trần Huỳnh Duy Thức trả lời như thế, bởi vì trong Con đường Việt Nam, anh khẳng định “sẽ không có sự độc lập nếu không có tự do. Và sẽ không có độc lập dân tộc nếu không có độc lập cá nhân. Điều này là chân lý.”

Đúng vậy, độc lập cá nhân có quan hệ hỗ tương và nhân quả với độc lập dân tộc và do đó, cuộc chiến chống Thực Dân Pháp và cuộc đấu tranh chống độc tài CS là một cuộc vận động vì độc lập, tự chủ, dân chủ, tự do liên tục của lịch sử dân tộc Việt Nam.

Đó là con đường đầy máu nhuộm, đầy hy sinh nhưng rạng ngời chính nghĩa.
Bộ máy tuyên truyền của đảng CS nhuộm đỏ nhận thức người dân Việt Nam bằng lý luận chỉ có đảng CSVN mới là đảng duy nhất thật sự mang lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam.
Không phải.

Đừng quên rằng, bảy mươi mốt năm trước khi đảng CSVN thành lập năm 1930, con đường chiến đấu vì độc lập, tự do của toàn dân tộc Việt đã bắt đầu. Bắt đầu với máu của Đô Đốc Lê Đình Lý bị trọng thương ở Đà Nẵng, bằng thanh gươm của Tổng Đốc Võ Duy Ninh tự sát sau khi thành Gia Định thất thủ, được tiếp tục lót bằng sự hy sinh của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Trương Công Định, Thiên Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Phan Đình Phùng, Tôn Thất Thiệp, Tôn Thất Đạm, Nguyễn Duy Hiệu, Tống Duy Tân, Đinh Công Tráng, Hoàng Hoa Thám và vô số anh hùng dân tộc khác.

Đừng quên rằng, bốn mươi năm trước khi Hồ Chí Minh đặt chân trở lại Việt Nam lần đầu năm 1941, các tư tưởng dân chủ khai phóng của Jean-Jacques Rousseau, Montesquieu, Voltaire, Duy Tân Nhật Bản đã được các nhà cách mạng Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và các nhà cách mạng của phong trào Duy Tân truyền bá khắp ba miền. Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do các nhà tân học miền Bắc như Lương Văn Can, Đào Nguyên Phổ đề xướng được đông đảo đồng bào ủng hộ. Phong trào Đông Du do cụ Phan Bội Châu kêu gọi đã thúc giục hàng trăm người Việt yêu nước như Lương Ngọc Quyến, Hoàng Trọng Mậu lên đường sang Nhật theo học tại các trường đại học quân sự Nhật.

Đừng quên rằng, hai mươi năm trước khi đảng CSVN ra đời đã có rất nhiều đảng phái chính trị chống thực dân Pháp được thành lập như Việt Nam Quang Phục Hội do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo, đảng Lập Hiến của nhà cách mạng Bùi Quang Chiêu, Thiên Địa Hội của Phan Xích Long, Việt Nam Quốc Dân Đảng do nhà cách mạng Nguyễn Thái Học lãnh đạo. Các tổ chức cách mạng đó có khác nhau về phương pháp thực hiện nhưng đều đặt cơ sở trên nền tảng dân tộc và hướng tới một chế độ Cộng Hòa. Hai nhà cách mạng Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh chỉ khác nhau về đường lối tiến hành cách mạng chứ không khác nhau về mục đích và thể chế chính trị sau khi cách mạng dân tộc thành công. Ngay từ thời điểm đó, hai cụ Phan cũng đã khẳng định chế độ Cộng Hòa là con đường thời đại và là chế độ mang lại tự do, dân chủ và thịnh vượng cho dân tộc Việt Nam. Cương lĩnh của Việt Nam Quang Phục Hội do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo vạch rõ mục tiêu của cách mạng là “đánh đuổi thực dân Pháp giành lại nước Việt Nam độc lập, thành lập Cộng Hòa Dân Quốc Việt Nam.”

Đừng quên rằng, chín mươi năm trước khi Tạp chí Cộng Sản ra đời 1955, mấy mươi tờ báo đã được phát hành khắp nước như Gia Định Báo (1865), Tiếng Dân (1876), Nông Cổ Mín Đàm (1901), Đông Dương Tạp Chí (1913), Nam Phong Tạp Chí (1917), An Nam Tạp Chí (1926), Phụ Nữ Tân Văn (1929), Tiểu Thuyết Thứ Bảy (1934) và nhiều báo Pháp Ngữ. Dù khác nhau lập trường chính trị, lề lối điều hành nhưng tất cả đều nhằm thúc đẩy tiến trình khai dân trí tại Việt Nam.

Đừng quên rằng, năm 1945, theo tài liệu chính thức của đảng CSVN, tổng số đảng viên CS chỉ vào khoảng năm ngàn người trong khi con số người Việt yêu nước bị tù đày trên Côn Đảo qua nhiều thời kỳ, đã lên đến hai trăm ngàn người. Điều đó cho thấy, dù số lượng đảng viên CS có tăng dần, đại đa số những thế hệ Việt Nam chống Pháp là những người không Cộng Sản. Bức ảnh bi thương của ba chiếc đầu Đặng Đình Nhân, Nguyễn Trị Bình và Nguyễn Văn Cốc đựng trong rọ sau khi bị chém ngày 8 tháng 7 năm 1908 trong vụ Hà Thành Đầu Độc là một trong vô số bằng chứng hùng hồn truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam.
Nhưng tại sao CS thắng?

CS thắng chỉ vì họ không từ chối bất cứ một thủ đoạn nào dù bất nhân đến bao nhiêu, không hề tính toán cân nhắc phải chết hay phải giết chết bao nhiêu người, miễn là đạt được mục đích CS hóa Việt Nam. Song song đó, đảng CS áp dụng một chính sách tuyên truyền tẩy não, lợi dụng lòng yêu nước, bưng bít thông tin một cách tinh vi và tàn nhẫn nhất trong lịch sử loài người.

Một trong những ông tổ tuyên truyền thời hiện đại là Joseph Goebbels cũng đã phải bái phục bộ máy giết người và hệ thống tuyên truyền CS. Trong diễn văn khá dài đọc trước đại hội đảng Quốc Xã vào tháng Chín, 1935, Joseph Goebbels phân tích chủ trương tuyên truyền CS “bắt đầu với nguyên tắc cứu cánh biện minh cho phương tiện”, và tố cáo đó là “sự giả dối và vu khống, khủng bố con người và quần chúng, trộm cắp và đốt phá, đình công, phá hoại, gián điệp…” Tuyên truyền CS, theo Goebbels nhằm “ám sát cá nhân, ám sát con tin, giết người tập thể là các phương pháp được CS ưa thích để loại bỏ đối kháng…” Joseph Goebbels nghiên cứu và tố cáo chính sách tuyên truyền tẩy não, trấn áp, khủng bố CS nhưng trong thực tế y đã áp dụng hầu hết các biện pháp CS với một mức độ dã man không kém.

Các đảng phái quốc gia Việt Nam không làm được điều đó. Họ nhân ái quá. Họ Việt Nam tính quá. Chính vì lòng nhân ái và Việt Nam tính đó mà phần đông những nhà cách mạng độc lập và dân chủ đã chết, không chỉ chết dưới máy chém thực dân mà còn do CS thủ tiêu như Đức Huỳnh Giáo Chủ, Trương Tử Anh, Phạm Quỳnh, Khái Hưng, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Thế Nghiệp v.v..
Và hôm nay, một trăm năm mươi chín năm từ buổi sáng ngày 1 tháng 9, 1858 ở Đà Nẵng những Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga v.v.. lại tiếp tục con đường Phạm Hồng Thái, Lương Ngọc Quyến, Tôn Thất Thiệp đã đi, để viết nên trang sử độc lập tự do cho mỗi người Việt Nam và cho dân tộc Việt Nam.

Không ai có quyền viết sử Việt Nam ngoài chính dân tộc Việt Nam đang chịu đựng dưới ách độc tài CS. Con đường có thể còn xa nhưng là con đường chính sử. Chuyến xe có thể phải chậm vì chạy bằng máu của chính mình nhưng là chuyến xe tự chủ, không nô lệ cho bất cứ một ngoại bang nào.

Trần Trung Đạo

(23 tháng 9, 2017)




Phương pháp giáo dục của Hướng Đạo

HƯƠU HIỀN LÀNH – TÔN THẤT LÔI

https://www.facebook.com/thaithuan259/posts/601288406926161

Huong dao - Ton That Loi

Uỷ viên Huấn Luyện của HĐ Thừa Thiên, một trong tứ trụ (4 Thiếu đoàn lớn): Lê Mộng Ngọ (DCC), Phan Mạnh Lương (DCC), Lê Cương và Tôn Thất Lôi (ALT).

 

Phong trào Hướng Đạo do Huân tước Baden Powell người Anh khởi xướng, bắt đầu từ một cuộc cắm trại thí nghiệm trên đảo Brownsea Island năm 1907 với 20 thiếu niên, sau đó lan rộng khắp nước Anh, rồi phát triển ra khắp các nước trên thế giới và đã tỏ ra có một khả năng phi thường trong việc giáo dục thanh thiếu niên.

Phong trào đã quy tụ dưới lý tưởng, nguyên tắc và phương pháp chung hàng triệu Hướng đạo sinh.

Đến nay trên thế giới Phong trào giáo dục Hướng đạo đã có mặt trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ với số Hướng đạo sinh trên 30 triệu người và trên thế giới cũng đã có khoảng 500 triệu (*) người thuộc nhiều thế hệ đã là Hướng đạo sinh.

 

Tại sao Hướng đạo thu được kết quả, trong khi nhiều tổ chức khác thất bại, hoặc không có ảnh hưởng sâu rộng như thế ?

Tại sao Hướng đạo đã trở thành một hiện tượng của thế kỷ 20 ?

Tại sao y phục Hướng đạo, vài hoạt động Hướng đạo, lối tổ chức Hướng đạo đã được nhiều đoàn thể bắt chước vay mượn ?

 

Kết quả ấy là nhờ giá trị vững chắc của phương pháp hợp với thực trạng tâm lý của thiếu thời, nhờ ở tính chất bất vị lợi của tổ chức. Hướng đạo không chỉ là một phương pháp giáo dục mà trở thành một phong trào thanh thiếu niên, một hệ thống tổ chức sống động, một tình huynh đệ quốc tế, một lý tưởng sống.

Hướng đạo không phải là một học thuyết, một triết lý, Hướng đạo nhất định không phải là một đảng phái chính trị, một đoàn thể tôn giáo, Hướng đạo có những đặc điểm phải theo đúng tất cả, giá trị không chỉ ở một vài hình thức dễ trông thấy, mà ở nơi tất cả chương trình hoạt động, nơi sự tiến triển nhiều mặt của cá nhân, nơi đời sống lý thú của đoàn thể.

Hãy tìm hiểu đặc điểm của Phong trào này:

 

I- ĐẶC ĐIỂM CỦA PHONG TRÀO GIÁO DỤC HƯỚNG ĐẠO

1- Hướng đạo là một phong trào giáo dục:

Đây là đặc điểm cơ bản nhất của Hướng đạo. Hướng đạo không phải là một hội đoàn thể thao hay giải trí như có thể có người lầm tưởng, dù rằng trong Hướng đạo có nhiều sinh hoạt vui chơi, thể thao, giải trí, nhưng những trò chơi, những sinh hoạt đó được dùng để đạt tới mục tiêu giáo dục, tự nó không phải là một cứu cánh, hay nói cách khác việc học hỏi kiến thức hay kỹ thuật đặc biệt trong sinh hoạt Hướng đạo chỉ là một phương tiện để đạt tới một cứu cánh và cứu cánh đó chính là giáo dục.

Giáo dục theo nghĩa rộng có thể xem như là một quá trình nhằm phát huy toàn vẹn các khả năng của con người.

 

Cụ thể là chúng ta khêu gợi một cách rộng rãi ở trẻ tinh thần danh dự và ý thức trách nhiệm bằng cách giúp trẻ phát triển:

– Tính khí và trí tuệ

– Tài thủ công và tài tháo vát

– Tráng kiện và sức khỏe

– Ý chí phục vụ tha nhân

 

Huynh trưởng phải quyết tâm giúp các em rèn luyện đặc biệt là rèn luyện tính khí.

Tính khí là sự kết hợp của nhiều đức tính thuộc trí tuệ và đạo đức như hiếu kỳ, dũng cảm, trung thực, liêm chính. Hướng đạo chúng ta còn thêm vào 5 cái “Tự” nữa là: Tự lực, Tự giác, Tự tin, Tự trọng và nhất là Tự chủ có nghĩa là làm chủ bản thân.

Như vậy, mục đích tối hậu của phong trào Hướng đạo là giáo dục. Hướng đạo kết nạp trẻ để giáo dục họ trở nên những công dân tốt chứ không dùng họ làm công cụ phục vụ cho mục đích khác như xã hội, chính trị hay tôn giáo…

 

Công tác giáo dục của Hướng đạo nhằm vào đối tượng thanh thiếu nhi được phân chia thành 4 ngành như sau:

– Ngành Ấu : Từ 8 đến 11 tuổi

– Ngành Thiếu : Từ 11 đến 16 tuổi

– Ngành Kha : Từ 16 đến 18 tuổi

– Ngành Tráng : Từ 18 trở lên

 

2- Hướng đạo đào tạo người công dân tốt cho đất nước:

Mục đích của giáo dục Hướng đạo là đào tạo những thanh thiếu niên có tính khí lành mạnh, tháo vát, tự chủ, có sức khỏe, có ý chí để phục vụ tha nhân để trở thành người công dân toàn vẹn, có tinh thần trách nhiệm cho xã hội, đặc biệt là cho đất nước dân tộc, chuẩn bị cho đoàn sinh giữ một vai trò xứng đáng trong cộng đồng xã hội.

 

Tóm lại phong trào Hướng đạo góp phần vào việc giáo dục thanh thiếu niên bằng cách giúp họ phát huy toàn vẹn các khả năng về thể chất, trí tuệ, xã hội và tinh thần để trở thành người công dân tốt.

Như vậy hội Hướng đạo của mỗi quốc gia có bổn phận đào tạo công dân tốt cho quốc gia mình.

 

3- Hướng đạo đặt căn bản trên sự tự nguyện:

Nguyên tắc căn bản trong việc kết nạp đoàn sinh của giáo dục Hướng đạo là tự ý gia nhập.

Trẻ tự nguyện trở thành Hướng đạo vì tự mình cảm thấy thích chớ cha mẹ hay các trưởng Hướng đạo đều không thể bắt buộc trẻ nếu tự nó không muốn.

 

Đây là đặc điểm làm cho Hướng đạo khác hẳn với nhiều đoàn thể và cũng làm thấy rõ quan niệm của Hướng đạo đối với nhân vị. Nói đến nhân vị là nói đến tự do quyết định của con người. Nhân vị tỏ rõ giá trị mình nơi sự nhận định tự do quyết định và sự đảm đương trách nhiệm mình cho xứng đáng với tự do ấy.

Hướng đạo đặt sự tín nhiệm nơi trẻ, không những trông cậy và hy vọng nơi phần trong sạch cao đẹp của trẻ, mà còn đề cao danh dự của trẻ. Thái độ ấy ngược hẳn với bao nhiêu lối giáo dục và huấn luyện khinh thường trẻ và bắt buộc trẻ vào những khuôn mẫu có khi không hợp với thực trạng tâm sinh lý của trẻ, quá khả năng hay không kêu gọi được sự hợp tác chân thành của trẻ. Trẻ Hướng đạo tự tình nguyện sống theo luật, không chịu sự miễn cưỡng ràng buộc nào, do một uy lực tinh thần hay vật chất nào.

 

Trẻ tìm được hứng thú, trẻ lấy làm kiêu hãnh khi gia nhập phong trào, khi lấy danh dự mình mà hứa… “Tôi lấy danh dự tôi hứa sẽ cố gắng hết sức…”.

Chìa khóa của giáo dục Hướng đạo là phát huy tinh thần danh dự và ý thức trách nhiệm của trẻ để trẻ tự nguyện gia nhập.

Tóm lại Phong trào Hướng đạo mang tính cách tự nguyện, việc gia nhập phong trào đối với trưởng cũng như đoàn sinh là một hành động tự nguyện.

 

4- Hướng đạo không phân biệt đối xử khi gia nhập:

Phong trào Hướng đạo mở ra cho mọi người không phân biệt giai cấp, chủng tộc, quốc tịch và tín ngưỡng. Đây cũng là một đặc điểm cơ bản, vì trong Hướng đạo không có kỳ thị đối xử về bất cứ phương diện nào, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn. Mọi người tự nguyện gia nhập đều được bình đẳng.

 

5- Hướng đạo không tham gia chính trị đảng phái:

Quy trình Hướng đạo nêu rõ: Hướng đạo không hoạt động và cổ động về mặt chính trị. Tính cách không chính trị của phong trào Hướng đạo theo chính sự giải thích của Hướng đạo thế giới có nghĩa là Hướng đạo không bao giờ tham dự vào việc tranh đấu giành quyền hành, giành chính quyền là mục tiêu cuối cùng của chính trị và là đường lối hành động của các đảng phái chính trị.

 

Nói cụ thể là Hướng đạo không tham gia chính trị đảng phái, không ủng hộ bất cứ một phe nhóm, một cá nhân nào trong mục đích giành lấy chính quyền. Nhưng Hướng đạo không đứng ngoài, tách ra khỏi các thực tế chính trị của Quốc gia.

 

Trong lễ Tuyên hứa, trong các cuộc cắm trại, Hướng đạo sinh phải nghiêm chỉnh chào Quốc kỳ, hát quốc ca, vì như đã nói trên Hướng đạo, nhằm mục đích giáo dục công dân của ngày mai, tập cho đoàn sinh nếp sống trong một xã hội dân chủ, giúp thanh thiếu niên trở thành những công dân xứng đáng có trách nhiệm trong xã hội mai sau. Việc giáo dục công dân này không thể tiến hành mà không có một nhận thức sắc sảo về thực tế chính trị của đất nước.

 

6- Hướng đạo là một đoàn thể giáo dục mang tính chất độc lập:

Phong trào Hướng đạo có Luật và Lời hứa, có những mục tiêu và phương pháp giáo dục riêng của mình mà không ai có thể thay đổi hay thêm bớt gì cả.

Đừng hiểu sai lầm rằng độc lập là không tuân theo pháp quyền của nhà nước. Trên thế giới mọi quốc gia đều có pháp quyền riêng của mình, và tất cả các hội đoàn hoạt động trong nước đều phải tuân theo pháp luật của quốc gia đó.

 

Phương pháp giáo dục Hướng đạo đào tạo công dân tốt cho đất nước tất yếu phải giáo dục cho trẻ ý thức biết tôn trọng pháp luật của quốc gia, quyết tâm rèn luyện chí khí để sau này phục vụ tốt cho xã hội, quốc gia mình.

 

II- ĐẶC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC HƯỚNG ĐẠO

Để tiến tới mục tiêu và đạt được mục đích giáo dục, phong trào Hướng đạo sử dụng một Phương pháp giáo dục đặc biệt.

 

Phương pháp giáo dục Hướng đạo là một hệ thống tự giáo dục tuần tự kết hợp bởi nhiều yếu tố bao hàm một tổng hợp gồm nhiều phần tử quan hệ chặt chẽ với nhau, liên kết thành một tổng thể mạch lac. Do đó trong giáo dục Hướng đạo chỉ có một Phương pháp Hướng đạo, không thể nói có nhiều phương pháp riêng rẽ, vì chỉ có thể nói đến Phương pháp Hướng đạo khi nào các yếu tố đó được kết hợp thành một hệ thống giáo dục mạch lạc.

Hãy lần lượt phân tích đặc điểm của từng yếu tố:

 

1- Hướng đạo dùng Luật và Lời hứa Hướng đạo để giáo dục trẻ:

Luật và Lời hứa Hướng đạo là khí cụ để diễn đạt các nguyên tắc chỉ đạo của phong trào, một trong những đặc điểm cơ bản của Hướng đạo là mỗi thành viên tự nguyện cam kết vào Lời hứa và Luật Hướng đạo.

Ở đây không bàn đến khía cạnh nguyên tắc đạo đức bao hàm trong Lời hứa và Luật Hướng đạo, mà chỉ nói tới công cụ sư phạm của Luật và Lời hứa. Nói một cách khác Luật và Lời hứa dưới góc độ này được dùng như một phương tiện tự giáo dục. Luật và Lời hứa Hướng đạo không có tính cách tiêu cực như các luật lệ khác, mà có tính cách tích cực: không cấm điều dở nên tránh mà trái lại khuyên bảo điều hay nên làm. Luật chỉ mô tả một Hướng đạo sinh lý tưởng. Mười điều luật là mười mẫu người Hướng đạo sinh tiêu biểu. Ai theo đúng mới là Hướng đạo sinh.

 

Phong trào Hướng đạo khác với những đoàn thể thanh thiếu niên khác ở chỗ là các thành viên của phong trào từ em Thiếu sinh nhỏ bé nhất đến Trưởng Ủy viên lão thành nhất đều chung Lời hứa và 10 điều Luật. Có điều rất sáng tạo là mỗi lứa tuổi hiểu và thi hành Luật theo trình độ của mình.

 

Cũng là trung thành với Tổ quốc, các em Thiếu sinh phải nghiêm chỉnh lúc chào Quốc kỳ, hát quốc ca, cố gắng học hành để mai sau xây dựng đất nước, các Tráng sinh có trách nhiệm cao hơn: phải chiến đấu dưới cờ để bảo vệ đất nước, giữ vững bờ cõi, không bao giờ làm tay sai cho ngoại bang, không là kẻ bán nước.

Cũng là điều luật thứ 10, Thiếu sinh hiểu rằng phải sạch sẽ, vệ sinh, không trộm cắp, không chửi thề… Tráng sinh thì phải hiểu thêm: không ham mê tửu sắc, không có tà tâm, không tham nhũng, phải ăn nói lịch sự…

Huynh trưởng Hướng đạo là người tự nguyện phục vụ việc giáo dục đoàn sinh theo phương pháp Hướng đạo lại càng phải thực hiện đúng Luật và Lời hứa Hướng đạo qua tác phong, thái độ, cử chỉ, nếp sống, cách thức làm việc, tinh thần trách nhiệm và tinh thần cộng tác để làm gương mẫu cho các em noi theo. Nói chung là tùy theo lứa tuổi mà hiểu và thực hành Luật theo đúng trình độ của mình.

Trong quá trình tự rèn luyện, Lời hứa và Luật là một quy tắc danh dự mà mỗi người cố gắng noi theo trong cách hành động và suy nghĩ của mình.

 

Huynh trưởng Hướng đạo phải luôn luôn nhắc nhủ đoàn sinh hiểu rằng: HĐS phải thuộc nằm lòng Luật, Lời hứa và Châm ngôn Hướng đạo, hiểu rõ ý nghĩa và đem thi hành những điều ấy trong đời sống hằng ngày vì Luật, Lời hứa và Châm ngôn Hướng đạo là Kim chỉ nam hướng dẫn các em vững tiến trên đường đời, là thước đo tinh thần Hướng đạo của đoàn sinh để theo dõi sự tiến bộ của từng người.

 

2- Hướng đạo dùng trẻ để dạy trẻ:

Một đặc điểm nữa của phương pháp giáo dục Hướng đạo là dùng trẻ để dạy trẻ. Đặc điểm này là do tài nhận xét và biết khai thác của BP. Chúng ta biết trẻ thường kết nhau lại thành bè lũ hay phe nhóm, làm thành những xã hội cỏn con riêng biệt, có luật lệ, có tập tục, có tiếng lóng ngôn ngữ riêng, những xã hội mà người lớn không xâm nhập được. Những trẻ sống trong đám như thế có bí danh như đoàn viên một hội kín, triệt để tuân theo mệnh lệnh của kẻ cầm đầu. Chúng có tinh thần đoàn kết và kỷ luật. Chỉ tiếc mục tiêu và những hoạt động của những đám ấy có thể đưa chúng đến chỗ hư hỏng.

 

BP đã lợi dụng lối kết hợp ấy, lập ra phép hàng đội tự trị để trẻ em huấn luyện trẻ em, thỏa mãn xu hướng tự nhiên của trẻ. Mục đích đã được thay đổi: trò chơi, các hoạt động đều hướng đến ích lợi cho trẻ. Đây là chìa khóa vàng đã đem đến thành công rực rỡ cho phương pháp giáo dục HĐ.

Tế bào quan trọng nhất trong tổ chức HĐ là:

– Đàn trong ngành Ấu

– Đội trong ngành Thiếu

– Tuần trong ngành Kha

– Toán trong ngành Tráng

 

Ở Thiếu đoàn, Thiếu trưởng chọn một em có đủ năng lực trong số đoàn sinh có kinh nghiệm sinh hoạt HĐ nhiều nhất để làm Đội trưởng. Đội trưởng tự chọn lấy Đội phó của mình.

Đội có tên riêng có đời sống riêng, có những đặc thù cá tánh riêng biệt. Đội là một cộng đồng nhỏ trong đó mỗi đoàn sinh giữ một vai trò rõ rệt trong sinh hoạt thường xuyên của Đội, như giữ chức vụ thủ quỹ, thư ký, phụ trách bảo trì lều trại, phụ trách cất giữ vật dụng khác…

 

Đội có đời sống tự trị như: Họp Đội, Xuất du, lập Dự án Đội … để các em tự quản trị sinh hoạt của mình, cùng nhau soạn thảo, phát họa những dự án để cùng thực hiện.

Đội dự phần trong sinh hoạt dân chủ của Đoàn. Các Đội góp ý kiến để quyết định sinh hoạt của Đoàn qua cơ chế như Hội đồng Đội, Hội đồng Đội trưởng, Hội đồng Đoàn.

 

Trong Đoàn, Đoàn trưởng không nên giữ vai trò chỉ huy và lãnh đạo mà chỉ nên làm cố vấn thúc đẩy.

Một Đoàn HĐ như vậy có một lề lối sinh hoạt dân chủ như một quốc gia nhỏ bé, trong đó Hội đồng Đoàn là Quốc hội hay cơ quan lập pháp, Hội đồng Đội trưởng là cơ quan hành pháp thi hành các quyết định của Hội đồng Đoàn. Qua cách sinh hoạt trong Đội và Đoàn mỗi đoàn sinh nhận thức trách nhiệm và bổn phận của mình trong cộng đồng. Đội và Đoàn là những cộng đồng nhỏ đầu tiên có một tổ chức, một sự phân công, một hình thức sinh hoạt dân chủ, giúp đoàn sinh làm quen với nếp sống trong một cộng đồng dân chủ, luyện tập khả năng hợp tác với kẻ khác, khả năng lãnh đạo, khả năng tổ chức, quyết định cũng như rèn luyện chí khí.

Phương pháp hàng đội như vậy là một yếu tố chủ yếu của phương pháp Hướng đạo và được áp dụng cho tất cả các ngành từ Ấu đến Tráng với những thích nghi cần thiết cho hợp với lứa tuổi của mỗi ngành.

 

3- Hướng đạo dùng chương trình hấp dẫn để huấn luyện:

Để lôi cuốn trẻ ham thích học hỏi BP lập nên hệ thống đẳng cấp và chuyên hiệu làm cho trẻ em ham thích mãi, tiến bộ mà không biết.

 

Tiến trình đẳng thứ HĐ là cái thang về kỹ năng thủ thuật mà trẻ phải tiến lên dần dần, từng nấc một. Cứ dần dần học tập kỹ năng HĐS sẽ leo lên các nấc đẳng thứ thể hiện bằng các huy hiệu HĐ Hạng nhì, HĐ Hạng nhất, HĐ Hiệp sĩ hoặc được quyền gắn lên đồng phục những huy hiệu chuyên môn, nhờ đó mà việc huấn luyện cứ tiếp diễn mãi, thúc giục trẻ có dịp thử thách tài năng và chí khí của mình.

 

Hệ thống huy hiệu của HĐ có ích lợi không phải nhỏ: dạy cho trẻ tháo vát, sửa soạn cho trẻ tìm nghề nghiệp thích hợp với năng khiếu của mình. Chương trình sinh hoạt phải thật sự hấp dẫn và được sắp xếp từ dễ đến khó.

Đây là cách thức huấn luyện trẻ về nhiều phương diện, đào tạo những con người quân bình và hòa diệu, biết nhận định giá trị của mọi điều.

 

4- Hướng đạo dùng Trò chơi làm đòn bẩy chính yếu trong giáo dục:

Đối với trẻ chơi là một nhu cầu thiết yếu để nẩy nở, là bản tính thiên nhiên của trẻ, chơi là sống, sống thật sự đời sống của trẻ thơ. Chơi là một cách tranh đấu, một cách dự bị tranh đấu do bản năng tạo ra để lần lần đưa chúng vào cuộc tranh đấu thật sự, lớn lao và khó khăn là cuộc đời.

Giáo dục Hướng đạo không cho trò chơi là một hoạt động giải trí, một trò vui chốc lát cho trẻ em. Hướng đạo coi trò chơi là một phương tiện quan yếu để giáo hóa, một phương pháp giáo dục tốt và hay nhất.

Trẻ em ham thích gì ? Chúng thích hoạt động, thích tiếp xúc với sự vật xung quanh, chạy nhảy sờ mó, nếm ngửi, cân nhắc mọi vật. Tuổi trẻ là tuổi thám hiểu tạo vật.

 

Nếu khéo chọn trò chơi, các em sẽ đạt được nhiều kết quả không ngờ cho tính tình và thể chất. Dùng trò chơi chúng ta đã khiến trẻ để ý đến sức khỏe mà chưa bao giờ các em nghĩ tới. Nhờ chơi mà những em lôi thôi, thiếu trật tự nhất, lại thành ra thích trật tự vì thiếu trật tự thì không trò chơi nào thắng được. Khi chơi các em không xem cái nóng cái lạnh, mệt nhọc và khát nước ra gì, coi thường tất cả những chỗ sướt da khi chơi lớn, không để ý đến lòng tự ái bị tổn thương khi chơi toàn đội. Chơi trò chơi luyện giác quan buộc các em phải cố gắng chú ý. Cho các em có dịp đóng vai vị anh hùng, thúc giục các em noi gương vị anh hùng ấy, cố gắng thực hành đức tính của vị anh hùng. Nếu khéo biết giữ lấy tinh thần cuộc chơi, khéo xen vào các lúc nghỉ ngơi các trò chơi nhẹ nhàng, xen các trò chơi im lặng vào các trò chơi ồn ào thì tác dụng giáo dục không phải là nhỏ.

 

Hướng đạo lại cần cho trẻ chơi để hiểu trẻ. Việc hiểu trẻ rất cần thiết cho công cuộc giáo huấn. Huynh trưởng cần biết rõ tánh tốt tật xấu của mỗi đoàn sinh để tìm phương bổ cứu, nhưng thường ngày khó hiểu rõ bộ mặt thật của các em. Đứng trước người lớn, thường trẻ con tự kiềm chế, hay làm bộ hiền lành, chỉ trong lúc chơi, vì say sưa với trò chơi, mãi lo thắng cuộc trẻ em không còn nghĩ đến việc “đóng tuồng” mới lộ chân tướng ra, nhờ thế Trưởng mới rõ ưu khuyết điểm của các em để giáo dục từng em một.

Tóm lại mọi hoạt động Hướng đạo đều mang hình thức trò chơi, kể cả khi học kỹ năng, làm việc thiện hằng ngày, kể cả phần tinh thần như Luật, Lời hứa, Châm ngôn.

 

5- Hướng đạo giáo dục bằng thực hành:

Hướng đạo giáo dục bằng thực hành. Đối với trẻ, Hướng đạo không nói lý thuyết, không có lý luận, trong buổi họp hay đi cắm trại Đoàn trưởng chỉ có một phút đồng hồ để đề cập bằng lối bóng gió đến vấn đề tinh thần. Hướng đạo dạy mà không giảng, nghĩa là dạy làm chớ không dạy nói. Hướng đạo đặt nặng việc thực hành về cả các mặt: đạo đức, trí tuệ và sức khỏe.

 

Thực tiễn kinh nghiệm với khoảng 500 triệu trẻ em kinh qua giáo dục Hướng đạo trong gần một thế kỷ đã chứng minh rằng giáo dục kiểu này mang lại hiệu quả cao nhất.

Trong sinh hoạt Hướng đạo đoàn sinh học hỏi những công việc mà mình ưa thích bằng những trò chơi, bằng cách quan sát thí nghiệm, tiếp xúc với thực tế. Đó là điểm khác biệt lớn so với phương pháp cổ điển của nhà trường. Thay vì một bài học lịch sử, đơn vị HĐ tổ chức một trò chơi lớn dùng bối cảnh lịch sử, sử dụng những diễn biến, những trận chiến liên quan đến chủ đề, hay dựng lên một vở kịch, một câu chuyện bằng tranh … Những sưu tập bằng cây cỏ, dấu vết thú rừng v.v… thay thế những bài học vạn vật. Có những trò chơi luyện giác quan, luyện tập óc quan sát, suy luận, khuyến khích tinh thần đồng đội…

Mỗi sinh hoạt trong Hướng đạo đều nhằm đạt tới một mục tiêu giáo dục rõ rệt.

 

6- Hướng đạo dùng đời sống ngoài trời để giáo dục trẻ:

Sinh hoạt ngoài trời cũng là một đặc điểm quan trọng trong giáo dục HĐ.

Không phải tất cả sinh hoạt Hướng đạo đều xảy ra ngoài trời, nhưng đời sống Hướng đạo cho đoàn sinh nhiều cơ hội tiếp xúc với thiên nhiên.

 

Ngoài việc giúp rèn luyện một cơ thể lành mạnh, dẻo dai, những sinh hoạt ngoài trời giúp rất nhiều trong việc rèn luyện chí khí và phát triển trí tuệ. Những thử thách mà thanh thiếu niên phải đương đầu khi sống ngoài thiên nhiên kích thích những khả năng sáng tạo và thích ứng để vượt qua trở ngại. Đó là cơ hội mà đời sống tiện nghi thị thành ít có khả năng đem lại. Về mặt phát triển tinh thần xã hội và cộng đồng, các buổi thám du, cắm trại giữa thiên nhiên đòi hỏi phải tổ chức đời sống sát cánh bên nhau trong những thử thách, những giây phút gian lao, đó là những cơ hội tốt để thắt chặt tình đoàn kết, tinh thần đồng đội giúp HĐS thấy rõ thế nào là ý nghĩa và tầm quan trọng của đời sống cộng đồng. Hơn nữa, những dịp tiếp xúc với thiên nhiên giúp đoàn sinh mở rộng tâm hồn và tầm nhìn của mình để hướng đến những giá trị tinh thần.

 

BP cho rằng: “Mặt trời, nước lạnh, không khí và sự vận động là thức ăn cần thiết cho thể chất. Cảnh trời cao đất rộng, núi non hùng vĩ, một cuộc sống mạo hiểm giữa thiên nhiên là chất bổ cho tinh thần.”

Như vậy chúng ta có thể thấy thiên nhiên là một môi trường hết sức thuận tiện cho công cuộc phát triển hài hòa và toàn diện của đoàn sinh.

 

7- Hướng đạo giáo dục bằng thói quen tốt, thói quen làm việc thiện:

BP cho rằng: “Con người dù xấu đến đâu cũng còn có 5% phần tốt. Nếu biết bồi dưỡng cho các phần tốt đó ngày càng nẩy nở thì các phần xấu dần dần sẽ biến đi, và con người đó sẽ trở nên tốt”. Do đó Hướng đạo coi trọng việc duy trì và phát triển thói quen tốt: thói quen tìm tòi, xem xét, suy nghiệm phát triển trí thức, giúp ích lớn lao cho khối óc và tri tuệ, thói quen lao động chân tay giúp giữ gìn sức khỏe và là trợ lực đáng kể cho đạo đức lẫn trí thức, thói quen tằn tiện của mình, của người, của xã hội và đặc biệt thói quen làm việc thiện hằng ngày. Thói quen làm việc thiện dần dà gây nên tâm lý nghĩ thiện. Thói quen này đi vào tâm thức trẻ nhỏ làm phát huy mạnh mẽ tâm địa vị tha, hướng trẻ luôn nghĩ đến người khác, nhờ vậy phát triển tinh thần xã hội nơi trẻ. Thói quen làm việc thiện hằng ngày hướng trẻ đến tinh thần giúp ích.

 

Nói đến giúp ích, Hướng đạo có quan niệm riêng. Theo BP sự giúp ích không chỉ là những bài học thuộc lòng, không chỉ là những lời nói suông, mà được tỏ rõ trong những hoạt động hằng ngày, quan trọng tùy theo tuổi, tùy theo trường hợp. Làm một điều vui cho kẻ khác, làm một việc thiện hằng ngày, tham gia công việc kiến thiết ở địa phương, bảo vệ xứ sở… Hướng đạo quan niệm sự giúp ích phải được sửa soạn chu đáo. HĐS phải biết giúp ích, đủ sức để giúp ích. Những hoạt động Hướng đạo mà đôi người xem thường hay lầm tưởng đó là mục tiêu như thắt gút, truyền tin, cứu thương, quan sát là những cách sửa soạn.

 

Thiện chí đâu có đủ ! Thiện chí mà thiếu tài năng còn đưa đến kết quả tai hại.

Thêm nữa sự giúp ích chỉ có giá trị khi thực hiện ngoài bổn phận, không phải vì lợi vì danh hay vì áp lực nào mà có, mà chỉ vì tình thương yêu.

Như vậy nhờ phát triển những thói quen tốt và làm việc thiện hằng ngày huynh trưởng Hướng đạo đã chuẩn bị cho đoàn sinh sẵn sàng để phục vụ tốt cho cộng đồng xã hội, cho đất nước quê hương.

 

8- Hướng đạo giáo dục từng trẻ một:

Giáo dục Hướng đạo có tính cách toàn diện nhưng lại là lối giáo dục từng trẻ một. Hướng đạo không un đúc trẻ theo một khuôn mẫu nhất định, mà giáo dục phải bắt đầu từ thực tế phức tạp của từng người một.

Mục đích quan trọng của Hướng đạo là giúp trẻ có chí khí, cho trẻ có đời sống riêng biệt, với tự do quyết định và can đảm lãnh trách nhiệm làm người của mình. Hướng đạo muốn mỗi trẻ thành một nhân vị đầy đủ. Đặc điểm này làm Hướng đạo khác hẳn với các đoàn thể thanh niên khác.

 

ướng đạo không chú trọng đến số đông. HĐ không có tham vọng quy tụ rất nhiều trẻ, vì lẽ không đủ huynh trưởng, và huynh trưởng cũng không có đủ thì giờ và tài sức để trông nom một lần nhiều trẻ được. Vì vậy một đơn vị HĐ phải có số đoàn sinh giới hạn không thể vượt qua. Ấu đoàn không thể quá 24 sói, Thiếu đoàn không thể quá 32 em, Kha đoàn không thể quá 30. Nhờ vậy đoàn trưởng mới theo dõi cá tính từng đoàn sinh cùng với tiến bộ của mỗi người.

Như vậy giáo dục HĐ là một quá trình giáo dục theo dõi sự tiến triển, sự tăng trưởng cá nhân để giáo dục từng đoàn sinh một.

 

9- Hướng đạo giáo dục bằng gương sáng của Trưởng:

Huynh trưởng Hướng đạo là những người tự nguyện phục vụ việc giáo dục trẻ em theo phương pháp Hướng đạo càng phải thực hiện đúng Luật, Lời hứa và Châm ngôn HĐ qua tác phong, thái độ, cử chỉ, nếp sống, cách thức làm việc, tinh thần trách nhiệm và tinh thần cộng tác để làm gương mẫu cho các đoàn sinh noi theo, vì “gương sáng” là phương tiện giáo dục hữu hiệu nhất.

 

10- Giáo dục Hướng đạo phát triển khả năng lãnh đạo của đoàn sinh:

BP chủ trương rằng càng tìm kiếm nhiều cách vun trồng những cơ hội lãnh đạo cho các em, thì hạt giống lãnh đạo ở các em càng dễ dàng tăng trưởng bấy nhiêu.

 

Những yếu tố đã nêu trên chứng tỏ rất có ảnh hưởng vào sự phát triển khả năng lãnh đạo của trẻ em.

Đối với huynh trưởng, việc cần nhất là làm sao cho các em có được nhiều kinh nghiệm lãnh đạo. Thật sự cơ hội lãnh đạo đã có ngay trong cả Đoàn lẫn Đội: cần giao phó công tác làm sao giúp các em phát triển tài năng lãnh đạo, và dần dần tập các em đảm nhiệm ở mức độ ngày càng cao hơn.

 

Đối với các em còn ít dịp lãnh đạo, cơ hội lãnh đạo có thể là ngắn ngủi như điều hành một buổi trình diễn cho phụ huynh, hoặc thưc thi một chương trình của đoàn giao phó.

Nên nhớ rằng, không chỉ những em có chức vụ mới được phát triển tài năng lãnh đạo, mà cả với những em HĐS mới, kỹ năng lãnh đạo cũng phải được phát triển.

 

11- Đồng phục HĐ, một công cụ đa dụng trong giáo dục HĐ:

Đồng phục HĐ là một công cụ đa dụng. Khi đã khoác đồng phục vào trẻ nhớ rằng mình là một HĐS, và nhớ rằng mọi người đều biết mình sẽ hành động xử sự theo cách HĐ. Đồng phục, biểu lộ cho thấy em HĐS ấy đang tin tưởng và quyết tâm theo đuổi lý tưởng HĐ. Do đó HĐS hãnh diện khi mặc đồng phục, nhất là khi trên áo còn mang những huy hiệu chứng tỏ em đã thành đạt đến mức nào về kỹ năng, thủ thuật và tài lãnh đạo.

Đồng phục HĐ còn có tác dụng xóa sự phân biệt giữa các trẻ em thuộc các từng lớp xã hội khác nhau.

Đồng phục luôn nhắc nhở rằng em thuộc vào một cộng đồng huynh đệ thế giới trong đó có hằng triệu trẻ như em có cùng chung một lý tưởng và cùng chung một chương trình sinh hoạt.

 

Mặc đồng phục nghiêm túc gây được tinh thần Đội, tinh thần Đoàn mà còn gây được cảm tình đối với huynh trưởng, phụ huynh và với bà con trong cộng đồng xã hội mà em tiếp xúc.

 

Đồng phục HĐ đẹp, rất hấp dẫn đối với trẻ mới vào đoàn.

Đồng phục HĐ gọn gàng đứng đắn, rất đa dạng, không những để sinh hoạt ngoài trời như vui đùa, trèo non vượt suối mà còn dùng được trong lễ nghi, tiếp tân.

Giá trị công hiệu của đồng phục càng tăng khi các trưởng, các Ủy viên HĐ cũng mặc đồng phục nghiêm túc như các em.

Do đó, thói quen cho đoàn sinh mặc đồng phục đứng đắn, nghiêm túc làm nẩy nở tinh thần tự trọng và ảnh hưởng lớn đến thanh danh của phong trào.

 

III- PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC HƯỚNG ĐẠO MANG TÍNH CHẤT KHOA HỌC

Những yếu tố cấu tạo nên Phương pháp giáo dục Hướng đạo đã trình bày trên hoàn toàn dựa vào tâm sinh lý của trẻ:

Tin vào danh dự của trẻ, tôn trọng trẻ, BP tin vào Lời hứa “Tự nguyện tuân theo Luật HĐ” của trẻ. BP dùng 10 điều luật với nội dung tich cực để giáo dục trẻ.

Trẻ thích tập họp thành phe nhóm để sinh hoạt với nhau, BP lập ra phép Hàng đội tự trị với mục đích hữu ích để trẻ em huấn luyện trẻ em.

 

Trẻ thích làm chỉ huy, thích mang huy chương, huy hiệu, BP bày ra chương trình đẳng thứ hấp dẫn để huấn luyện làm cho trẻ ham thích, tiến bộ mãi mà không biết.

Trẻ thích chơi, BP dùng trò chơi làm đòn bẩy chính yếu trong giáo dục HĐ, dùng trò chơi làm phương tiện để giáo hóa trẻ.

 

Trẻ thích sinh động HĐ giáo dục bằng thực hành làm trẻ thích học, mau biết và nhớ lâu.

Trẻ thích phiêu lưu mạo hiểm, BP dùng khung cảnh thiên nhiên để huấn luyện: cắm trại, thám du…

BP tin rằng: mầm tốt càng phát triển sẽ dần dần lấn át các mầm xấu, HĐ giáo dục bằng thói quen tốt, thói quen làm việc thiện.

 

Mỗi trẻ có những đặc điểm riêng biệt, BP chủ trương giáo dục từng trẻ một, giúp trẻ có chí khí để trở nên “Nó”.

Muốn các em tốt, trước hết mình phải tốt. BP khuyên Trưởng phải là gương sáng của đoàn sinh.

BP cho rằng: “Càng tìm kiếm nhiều cách vun trồng những cơ hội lãnh đạo cho các em thì hạt giống lãnh đạo ở các em càng dễ tăng trưởng”.

 

Đồng phục HĐ, một công cụ đa dụng trong giáo dục HĐ.

Như vậy, Phương pháp giáo dục Hướng đạo mang tính chất khoa học vì giáo dục Hướng đạo hoàn toàn phục tùng những quy luật tự nhiên của bản chất trẻ nhỏ, để đạt đến mục tiêu tối hậu là giáo dục trẻ thành những công dân tốt, những phần tử xứng đáng đang cần cho xã hội, cho quê hương đất nước.

 

HƯƠU HIỀN LÀNH – TÔN THẤT LÔI




Chuyện ít biết về thi sĩ Bùi Giáng

Vũ Đức Sao Biển

thi si Bui Giang

Bùi Giáng và nhà thơ Lê Minh Quốc năm 1995

 

Đọc thơ Bùi Giáng, dễ thấy ông gồm thâu được ba tố chất: thi tiên, thi thánh, thi Phật và trên hết ông sống một đời chẳng vướng bận hay bị ràng buộc vào những tập quán, lề thói của xã hội.

Nằm ngủ trên nền đất ướt

Thi sĩ Bùi Giáng sống thật thoát tục, nghĩa là ở đâu, ông cũng sống được. Ông Bùi Luân ở nước ngoài về, tìm thăm anh ruột Bùi Giáng vào một đêm mưa tháng 7.1991. Ông Luân nhớ lại: “Sài Gòn đang mùa mưa; mấy con hẻm lầy lội; tôi khó nhọc lắm mới tìm ra nơi anh cư ngụ. Đang băng qua vườn cây tối om để vào nhà, thì tôi vấp suýt té nhào: Ôi, chính là anh. Anh đang ngủ. Anh ngủ mê man trên đất ướt nhèm. Tôi gọi tên anh thật lớn, thật nhiều lần. Tôi cũng xưng tên tôi ra; thật lớn, thật nhiều lần.

– Luân về đó hả? Luân về đó hả? Luân về đó hả?

Anh lặp đi, lặp lại ba lần cũng thật lớn; rồi lại thiếp đi… Tôi có cảm tưởng như anh hỏi tên tôi rồi gọi lên trong mơ, trong mê. Tôi tìm cách dìu anh vào nhà… Tôi ngỡ anh say; song không có mùi rượu. Anh tiếp tục ngủ. Tôi trở về quán trọ”.

Con người Bùi Giáng thật sướng, chẳng vướng hệ lụy nào, chẳng bị ràng buộc nào, kể cả những tập quán, lề thói của xã hội. Ông muốn làm gì thì làm, muốn nói câu gì thì nói, muốn ghẹo ai thì ghẹo. Ông mua một cây thuốc rê, loại do bà con ở Quảng Nam làm giống như chiếc gối ôm của trẻ con, nhét vào một cái bao vải làm gối. Khi cần hút thuốc, ông xé một miếng giấy từ quyển tập để làm thơ vò cho mềm đi rồi cho tay xuống “gối” bứt thuốc rê quấn vào làm ra điếu thuốc. Ông ăn mặc tuềnh toàng như đại khất cái, đôi mắt kiếng gãy gọng cũng không thèm thay. Ưng vào bất cứ nơi nào, ông cũng vào được.

Ta đã hái nhành hoa kia của đá.

Và đã trao cho nham thạch phiêu bồng.

Dù vậy, thơ Bùi Giáng vẫn hiện ra những câu bay bổng tuyệt vời, như có như không giữa một đời trần tục.

Còn đất trắng mờ sương gieo giọt nhỏ/Trút cho đời vũ trụ mọc hoang liêu.

Hay: Em về mấy thế kỷ sau

Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không?

Ta đi, gởi lại đôi dòng

Lá rơi có dội vào trong sương mù?

Làm thơ khi có rượu

Cũng giống như Lý Bạch, ông chỉ làm thơ khi có chút rượu vào. Người ta bảo ông điên; ông cũng tự nhận mình là điên. Ông điên một cách vi vu; lúc nào cũng có thể uống rượu được. Cuộc rượu của ông cũng giản dị, chỉ là rượu đế; có mồi càng tốt, không mồi cũng chẳng sao. Chữ dùng của ông thường nói là “uống rượu qua loa”. Ấy là vì ông hiểu sẽ có một ngày ông phủi tay trước cuộc đời:

Gió lay lắt bốn phương về dồn tụ

Bụi thu mờ ai phủi với hai tay.

Ai đã gặp, đã sống và đã chơi với nhà thơ Bùi Giáng đều biết ông là con người nghịch ngợm một cách rất dễ thương. Đường ĐT 610 – con đường đi từ quốc lộ 1 lên khu đền tháp Mỹ Sơn (H.Duy Xuyên, Quảng Nam), nối vùng đông và vùng tây Duy Xuyên đi qua làng ông ở ngày xưa vốn là đường đất đỏ, đổ đá lởm chởm. Nhà Bùi Giáng cách đường ĐT 610 chừng một trăm mét. Buổi sáng, ông ra cái giếng nước trước nhà tắm rửa tử tế, mặc bộ quần áo đẹp rồi ra đường… đứng đón mấy chị gánh mít chín đi bán.

Bùi Giáng thường hỏi: “Mít ở mô gánh bán rứa hỉ?”. Chị bán mít nào trả lời: “Mít ở Phú Đa” hay “Mít ở Kiểm Lâm xuống đây anh” là Bùi Giáng có thể đón lại mua mở hàng cho. Còn ai trả lời: “Mít ni bên Đại Lộc qua đây, ngon lắm!” thì dù là mít ngon thiệt tình nhưng Bùi Giáng vẫn không thèm mua. Có người thắc mắc hỏi ông tại sao vậy. Bùi Giáng giải thích: Mít Phú Đa hay mít Kiểm Lâm gánh xuống là mít đi theo đường bộ. Còn mít bên Đại Lộc qua là “mít qua đò”. Ngày ấy, giữa hai huyện Duy Xuyên và Đại Lộc không có cây cầu, người ta phải đi đò buôn bán. Mít qua đò nói lái theo kiểu Quảng Nam là… mò qua đít. Và hễ đã mò qua đít thì Bùi Giáng dứt khoát không mua!

Thơ ông minh triết một cách kỳ lạ. Chê ai, ông chê tràn; khen ai, ông khen nức nở. Tính cách Quảng Nam mà, không khoan nhượng ngay với suy nghĩ của mình. Con người có đôi mắt ấy nhiều khi viết ra những câu thơ thần bút khiến người ta kinh ngạc.

Trong linh hồn một bông hoa

Hình như có cõi người ta đàng hoàng

Ở trong một phút lang thang

Có hồn dâu biển đa đoan cơ trời.

Ngay trong những bài thơ nói về sự đau đớn, Bùi Giáng cũng nói với một giọng điệu minh triết, chừng mực.

Đi về gót hẹn điêu linh

Suốt bờ cõi lạnh sương thình lình gieo

Đi về hồng lệ tuôn theo

Mắt màu thu nhạt gió leo chân trời.

Nhiều người cho rằng muốn thể hiện chất Phật thì thơ (hoặc ca từ nhạc) phải có các thuật ngữ niết bàn, luân hồi, vô ngã, vô thường, vô tướng, sám hối, giải thoát, cát bụi, hương sen… Bùi Giáng không vậy. Ông không sử dụng một thuật ngữ nào trong kinh điển đạo Phật nhưng thơ của ông vẫn hàm chứa Phật tính cao cường, Phật lực mênh mông.

Ngày sẽ hết, tôi sẽ không ở lại

Tôi sẽ đi và chẳng biết đi đâu

Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi

Vì nơi đây, tôi sống đủ vui sầu.

Trong thơ Bùi Giáng, có nụ cười khoan dung, cởi mở tràn đầy Phật tính của ngài Di Lặc. Bọn trẻ thấy ông ăn mặc lạ lùng, tóc tai lãng mạn, ban đầu thường sợ hãi. Hễ ông đến thì bọn trẻ lại thụt lùi, muốn chạy. Nhưng không, ông chỉ mong được chơi với chúng:

Các con đi bước thụt lùi

Xa xa nhìn thấy ông Bùi chịu chơi.

Đạo Phật coi tấm thân của con người là cái túi để đựng xương thịt, vốn chỉ là tạm bợ, hữu hạn. “Sinh ký, tử quy” –Sống gửi, thác về. Ngày con người chết đi mới là ngày đại hoan hỉ. Bùi Giáng cũng có quan điểm gần với tư duy ấy. Ông viết:

Thân là máu, thịt và xương chia biệt

Quả tim mềm sao quá dễ tổn thương

Tình cao quý vẫn là dây oan nghiệt

Ngắn vô cùng lần phùng ngộ với vô biên.

 




Tượng nhà Bác Ngữ Học Petrus Trương Vĩnh Ký

Phạm Thế Trung Sculptor

TƯỢNG nhà Bác Ngữ Học Petrus Trương Vĩnh Ký bản chánh bằng thạch cao trên giai đoạn hoàn tất cao 7f rưỡi và sẽ đưa vào hãng đúc đồng vào tuần lễ đầu tháng 11.2017

tuong Petrus Ky




Bây Giờ Là Mùa Thu – Tôi đi tìm dĩ vãng

Văn Quang

Viết từ Sài Gòn

 

MuaThu-VQ

 

Thật ra 99.9% ca khúc “bất hủ” của Trịnh Công Sơn được sáng tác vào thời trước 75 ở Sài Gòn và Huế. Cho nên ngày nay khi người ta “vinh danh” Trịnh Công Sơn chính là vinh danh nền văn hóa của Miền Nam VN vào thời trước 75.

Bây giờ là mùa thu ở Sài Gòn và cũng là mùa lá rụng ở Rừng Phong trên đất Mỹ. Buổi chiều ngồi trong căn chung cư nhỏ hẹp nghèo nàn nhìn mưa dăng nhẹ ngoài khung trời ngoài kia, tôi bỗng muốn thoát khỏi mình trở lại sống với những ngày xưa. Những ngày xưa có bạn bè, có mộng ước xa vời, có yêu thương giận hờn, có quá nhiều thứ như ở một thế giới khác.

Tôi ngồi vào computer đi tìm dĩ vãng. Gõ bàn phím vào những bài hát về Mùa Thu, bỗng hiện ra đầy đủ cả lời ca tiếng hát, những cuốn phim xưa, những danh ca tài tử đi mãi vào lòng người, đi mãi vào bất tận trong ký ức. Tôi bay bổng vào đó để gặp lại những người tôi đã từng quen, đã từng là bạn, đã từng kề vai nhau một thời xa vắng. Ở đây, tôi chỉ gặp những người đã từng có mặt trên các sân khấu ca nhạc và trong những cuốn phim đã từng chiếu ở VN trước năm 1975, gọi chung là những người trong “làng giải trí” mà tôi đã quen hay đã từng coi nhau như bạn bè.

Xem trọn bài

 




Nữ danh ca Dalida từng đến và hát tại Sài Gòn

Film Screening “Dalida”

14 giờ ngày 25.6.1962, danh ca Dalida đến phi trường Tân Sơn Nhất bằng máy bay phản lực của Hãng Air France. Không rõ từ nguồn tin nào, các fan đã có mặt đón tiếp nồng nhiệt “giữa tiếng vỗ tay đượm nhiều thân ái”.

Tuần báo Kịch ảnh số 18 phát hành ngày 30.6.1962 cho biết thêm: “Dalida cao chừng 1,65 m, mặc bộ đồ xanh giản dị, đôi bông tai lớn kiểu Y Pha Nho nổi bật trên nền tóc hung đỏ bới cao. Cặp mắt màu nước biển và đôi môi son lợt đều ngời sáng”. Đáng chú ý, chuyến đi này, ngoài 4 nhạc công, còn có cả chàng họa sĩ đẹp trai Jean Sobieski mới 25 tuổi, người gốc Ba Lan nhưng sinh tại Pháp, chưa nổi tiếng gì. Cả hai cặp kè như hình với bóng. Họ có mối quan hệ thế nào? Thiên hạ tha hồ đồn đoán bởi trước đó, ngày 25.4.1961, Dalida đã ly dị chồng là Lucien Morisse.

 

Ngay chiều tối hôm đón Dalida quay lại Sài Gòn, ông L’Épine – đại diện khách sạn Caravelle, đã mời Ban Biên tập báo Kịch ảnh, gồm nhà báo Quốc Phong, nhà văn Mai Thảo và đạo diễn Hoàng Anh Tuấn đến khách sạn nhằm mục đích “nghệ sĩ gặp nghệ sĩ” có tính cách “trong nhà với nhau”.

 

Từ sân bay, Dalida cùng Sobieski về đến khách sạn Caravelle lúc 20 giờ, niềm nở mời mọi người lên phòng riêng số 606 ở lầu 6. “Bây giờ các anh đang ở trong nhà của tôi, tôi là chủ nhà, nay, các anh có thể tự tiện vì chủ nhà Dalida rất quý khách”, cô nói. Trong lúc trò chuyện, cô cho biết dù đã chia tay Lucien Morisse, không còn là vợ chồng nhưng là “hai người bạn thân nhau nhất trên đời”. Chuyện ly dị của họ xem ra cũng “ngớ ngẩn” lắm: sau 5 năm yêu nhau, họ chính thức kết hôn tại Tòa hành chính Quận 13 Paris, nhưng chỉ sau 3 tháng, do chồng bận việc, một mình Dalida đi Côte d’Azur biểu diễn. Tại đây, cô đã gặp Sobieski trong một hộp đêm và “tiếng sét ái tình” đã nổ ra. Biết chuyện, Lucien Morisse chủ động đề nghị ly dị. Dalida “phải lòng” Sobieski cũng rất lạ đời. “Trong khi mọi người xem Dalida là nhân vật quan trọng, một minh tinh ghê gớm thì Sobieski chỉ đặt nàng vào địa vị người mà chàng yêu”, đạo diễn Hoàng Anh Tuấn nhận định.

Dalida in Saigon-1962(2)

Nhà báo Quốc Phong hỏi: “Dalida cho biết bí mật thành công của cô, để tôi nói lại cho các ca sĩ Vietnam nghe”. Dalida trả lời: “Bí quyết gồm 2 điểm: luyện giọng và gặp dịp may. Con số đem lại may mắn cho tôi là 421”. Tại sao? Cô giải thích: “Tháng 4.1956, tôi đến hát thử cho Bruno Coquatrix – Giám đốc Nhà hát tạp kỹ Olympia và ban giám khảo nghe. Lúc đó, Eddie Barclay – nhà sản xuất băng đĩa, Lucien Morisse – Giám đốc điều hành Đài Europe 1 đang nhậu nhẹt trong một quán cà phê trên đường Caumartin, gần Olympia. Bruno lôi họ đến nghe tôi hát cho vui nhưng họ không chịu. Cuối cùng, Bruno đánh cá nếu họ thua Bruno trong một ván gieo xúc xắc kiểu 421 thì phải tới nghe; bằng không, Bruno sẽ đãi thêm một chầu rượu nữa. Bruno thắng. Cả hai phải đến nghe, khi tôi ca bản L’Étranger au paradis, họ chịu liền. Thế là một “vị” chọn bài hát, còn một “vị” thâu đĩa. Nhờ những đĩa hát của Eddie Barclay mà tôi nổi tiếng”.

 

Dalida (1933 – 1987) tên thật là Yolanda Cristina Gigliotti sinh tại Ai Cập trong gia đình gốc Ý. Năm 1954, Dalida đoạt giải Hoa hậu Ai Cập và đến Paris thử “thời vận” bằng nghề ca hát trong các phòng trà Villa d’Este và Drap d’Or. Rồi sau đó, cô cực kỳ nổi tiếng cả thế giới với hàng loạt ca khúc: Besame Mucho, Bambino, Histoire d’un amour, Paroles… Paroles… đoạt vô số giải thưởng âm nhạc. Dalida có thể hát bằng rất nhiều thứ tiếng, không chỉ tiếng Pháp, Ý và còn cả tiếng Đức, Ả Rập, thậm chí là tiếng Nhật. Tổng cộng hơn 125 triệu đĩa hát của Dalida đã được bán ra trên toàn thế giới trong đó Bambino đã trở thành đĩa bạch kim vào năm 1964 và đĩa kim cương năm 1981. Cô cũng tham gia rất nhiều phim: Parlez-moi d’amour, Ménage à L’Italienne, Comme sur des roulettes…

 

Những ngày tại Sài Gòn, Dalida đã thực hiện 4 chương trình “dạ hội” chủ đề: “Tất cả cái đẹp trong cái mới”, diễn ra tại rạp Rex và khách sạn Caravelle. Trong buổi diễn đầu tiên tại rạp Rex, với giá vé là 250 đồng/chiếc, ký giả của báo Kịch ảnh đã đến thưởng thức, sau đó, có bài tường thuật trên báo Kịch ảnh số 19 ra ngày 7.7.1962: “Dalida mặc cái “robe” rất giản dị màu hoa cà, tóc để xõa và không có món trang sức nào cả. Với dàn nhạc 5 người, suốt 13 bài liền Dalida đã chiếm trọn lòng tôi, nắm lấy con tim tôi và dìu tôi đến những bến bờ rung cảm mới lạ… Khán giả vỗ tay tán thưởng, Dalida lại trở ra, cười rất tươi và gửi đến tất cả một nụ hôn gió thật duyên dáng. Không một phút trống, Dalida lại tiếp tục hát luôn 5 bài nữa, trong số có bài Parlez-moi d’amour quen biết. Dalida đã thấm mệt nhưng không vì thế mà kém phần linh động và không “hết mình” cho khán giả. Hát hết bài, Dalida chạy vào hậu đài rồi lại chạy ra cười, hôn gió gửi chúng tôi, rồi chắp tay xá, rồi cười, rồi lại hát nữa. Không nói mà thật ý nhị, thật thiện cảm. Dành bản nhạc Bambino quen biết để kết thúc, Dalida đã làm hài lòng tất cả mọi người. Ngay sau đó, đại diện Hội Hồng Thập tự lên nói lời cảm ơn, ca sĩ Thanh Lan cũng xuất hiện với bó hoa tươi thắm tặng Dalida. Tấm màn nhung buông xuống giữa lúc pháo tay nổ ran, nổ mãi không thôi. Bất ngờ, màn lại kéo lên, Dalida lại trở ra, hát thêm bài Les Gitans rất hay”.

Dù chỉ đến biểu diễn tại Sài Gòn một lần, nhưng Dalida đã chinh phục được tình cảm của công chúng, tất nhiên do tài năng, ngoài ra còn gì nữa? Đạo diễn Hoàng Anh Tuấn cùng nhà văn Mai Thảo dạy cô tập phát âm tiếng Việt để có thể thưa gửi với mọi người bằng tiếng Việt đã kể lại: “Nhìn Dalida chăm chú theo dõi, đoạn tròn miệng đọc lại những tiếng có, không, cám ơn, chào mạnh giỏi… người ta thấy toát ra một khía cạnh đẹp đẽ nữa của tâm hồn Dalida. Cái khía cạnh chân thực, tha thiết và nồng nàn, cộng với một niềm vui sống tràn đầy và một bản chất hồn nhiên, cởi mở của Dalida, tạo thành bí quyết thành công rực rỡ. Điều mà người ta nhận thấy – và điều này là châu báu quý giá nhất của Dalida, còn quý giá hơn cả tiếng hát của nàng – là danh vọng không hề đổi khác con người Dalida, danh vọng không đẩy nữ danh ca quốc tế này vào một cái thứ tháp ngà kiêu hãnh, là cái mặt trái đáng ghét thường thấy ở phần lớn những nghệ sĩ được đông đảo quần chúng ái mộ. Ở điểm này, Dalida xứng đáng là Dalida, xứng đáng với cái phong thái, cái tư cách, cái thái độ phải có của một danh ca quốc tế”.

 

Thêm một điều lý thú cũng ít ai ngờ là bấy giờ, người Sài Gòn đã rất nhanh nhạy nhằm đáp ứng nhu cầu ái mộ của công chúng bằng dịch vụ: “Ai muốn có lưu bút kỷ niệm của Dalida trên đĩa hát hay hình ảnh, có thể tới tiệm Alpha Radio, 157 đường Tự Do, Sài Gòn từ 16 – 18 giờ ngày 3.7.1962”.

 

Về sự kiện, nữ danh ca Dalida – người đã từng được thành phố Paris lấy tên đặt cho một quảng trường gần nhà, đã đến Sài Gòn trong thập niên 1960, khi lướt web, tôi còn tìm thấy một vài hình ảnh ghi lại khoảnh khắc đó. Với tôi, thú vị vẫn là bức cô điều khiển chiếc xe bò, ngồi cạnh một nông dân miền Nam, chụp tại Gò Vấp, Sài Gòn.

Dalida in Saigon-1962

Dalida điều khiển xe bò tại Gò Vấp, Sài Gòn

 




Doãn Quốc Sỹ, kẻ sĩ thời đại chúng ta

Nguyễn Mạnh Trinh

Với nhiều người bản xứ , hình như dư âm của cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn còn nên văn chương và văn hóa Việt nam được đặc biệt chú ý.

Tôi có một người bạn cùng lớp Creating & Writing học viết văn người Mỹ gốc Ý rất thích thú với văn chương Việt Nam. Một bữa anh khoe với tôi tuyển tập “Việt Nam: A traveler’ s literary companion” do John Balaban và Nguyễn Quý Đức chủ biên và rất đặc biệt chú ý tới nhà văn Doãn Quốc Sỹ với truyện ngắn “The Stranded Fish” ( Con cá mắc cạn). Anh còn khoe đã được dự một cuộc seminar với hai giáo sư Doãn Quốc Sỹ và Lê Hữu Mục tháng 6 năm 1999 tại University St Thomas ở Houston với đề tài “ Living Two Cultures: A conference for Vietnamese – Americans”. Và anh hỏi tôi một câu: Bạn nghĩ thế nào về nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Nhà văn? Nhà giáo? Một người hoạt động chính trị? Hay một người yêu nước bị chế độ đương thời đầy ải khi ở trong nước? Và một nhà văn luôn hướng về tương lai ở hải ngoại …

Doan Quoc Sy

Xem trọn bài




68 năm âm nhạc Lam Phương

Phạm Đức Tiến & Nguyễn Quốc Khải

16-10-2017

68 nam am nhac Lam Phuong

Khoảng 700 người đã tham dự Chương Trình Lam Phương, Tình Người và Tình Quê tại Schlesinger Concert Hall, Alexandria, Virginia vào chiều Chủ Nhật, 15-10-2017. Điều này cho thấy Nhạc Sĩ Lam Phương vẫn được nhiều người yêu âm nhạc ngưỡng mộ cho dù ông năm nay đã 80. Chương trình kéo dài 4 giờ bao gồm 40 bài do chính Nhạc Sĩ Lam Phương chọn lọc và trao cho 8 ca sĩ trình bầy: Anh Dũng, Diễm Liên, Hà Thanh Xuân, Hồ Hoàng Yến, Mạnh Quỳnh, Ngọc Hạ, Thanh Tuyền, và Thế Sơn. Ban nhạc Hoàng Thi Thi từ bên California qua. Âm thanh: Kỹ Sư Việt Anh. MC là Ô. Hoàng Vi Kha. Lời dẫn: Ô. Đào Trường Phúc và Nguyễn Thu Thủy. Ông bầu của chương trình là BS Nguyễn Tấn Phước, cháu của Nhạc Sĩ Lam Phương. Lâu lắm vùng thủ đô Hoa Kỳ mới có một chương trình ca nhạc Việt Nam khá vĩ đại và đặc biệt như thế này.

 

Xem trọn bài

 

Phóng-sự với hình ảnh từ SBTN

Chiều Nhạc Thính Phòng: “Tinh Người & Tinh Quê” Kỷ Niệm 68 Năm Sáng Tác Của Nhạc Sĩ Lam Phương

 




Lời tự thuật của Thi sĩ HỮU LOAN, tác giả “MÀU TÍM HOA SIM”

Hữu Loan

HuuLoan-DoiTimHoaSimTôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.

 

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.

 

Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..

 

Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ …

 

Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:-Ngọt quá.Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.

 

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …

 

Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”.

 

Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.

 

Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn …

 

Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.

 

Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim… Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”

 

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

 

Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông …

 

Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi …

 

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

 

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.

 

Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông.

 

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.

 

Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

 

Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.

 

Màu tím hoa sim

(Nguyên văn của tác giả)

 

Nàng có ba người anh đi bộ đội

Những em nàng

Có em chưa biết nói

Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ quốc quân

xa gia đình

Yêu nàng như tình yêu em gái

Ngày hợp hôn

nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân

đôi giày đinh

bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

bên anh chồng độc đáo

Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi

Từ chiến khu xa

Nhớ về ái ngại

Lấy chồng thời chiến binh

Mấy người đi trở lại

Nhỡ khi mình không về

thì thương

người vợ chờ

bé bỏng chiều quê…

 

Nhưng không chết

người trai khói lửa

Mà chết

người gái nhỏ hậu phương

Tôi về

không gặp nàng

Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối

Chiếc bình hoa ngày cưới

thành bình hương

tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh

ngắn chưa đầy búi

Em ơi giây phút cuối

không được nghe nhau nói

không được trông nhau một lần

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím

áo nàng màu tím hoa sim

Ngày xưa

một mình đèn khuya

bóng nhỏ

Nàng vá cho chồng tấm áo

ngày xưa…

 

Một chiều rừng mưa

Ba người anh trên chiến trường đông bắc

Được tin em gái mất

trước tin em lấy chồng

Gió sớm thu về rờn rợn nước sông

Đứa em nhỏ lớn lên

Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị

Khi gió sớm thu về

cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân

Qua những đồi hoa sim

Những đồi hoa sim

những đồi hoa sim dài trong chiều không hết

Màu tím hoa sim

tím chiều hoang biền biệt

Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa

Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu

Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau

Chiều hoang tím có chiều hoang biết

Chiều hoang tím tím thêm màu da diết

Nhìn áo rách vai

Tôi hát trong màu hoa

Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…

 

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệrớm

Tím tình ơi lệ ứa

Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành

Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn

Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím

Tôi ví vọng về đâu

Tôi với vọng về đâu

Áo anh nát chỉ dù lâu…

 

(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)

 

Hữu Loan

 

© Hữu Loan

 




Sự bế tắc của ngôn ngữ

Bùi Quang Vơm

Đọc bài viết của nhà báo Phạm Toàn được báo Vietnamnet trích đăng với tựa đề:

Không nên quá kiêu ngạo nghĩ mình mãi là thầy“, thú thật là tôi có cảm giác bế tắc như đụng đầu vào bức tường chặn lối lên phía trước, trông thấy ẩn hiện, nhưng không có cách nào qua để bắt lấy nó. Loáng thoáng hiểu điều ông muốn nói, chờ để được giải thích, hoặc sẽ có gì rõ hơn ở phía sau, nhưng đọc mãi, cho đến hết, cuối cùng không thấy có và cảm giác bế tắc tới uất ức, bất lực. Những triết lý trừu tượng, tối nghĩa, những khái niệm mông lung lơ lửng.

Có thể một nhà giáo uy tín và nổi tiếng mà  khó khăn trong cách diễn đạt ý tưởng của mình? Thế thì làm sao là làm nghề giáo được? Làm sao truyền dậy?

Câu trả lời nằm ở chỗ khác?!

Làm thế nào để có một nền giáo dục đa chiều trong một chế độ chính trị độc quyền chân lý? Làm sao khai phóng tư duy trong một thế giới thông tin bị sàng lọc một chiều? Làm sao thông với vũ trụ trong một không gian đóng kín?

Ông Phạm Toàn cố diễn đạt một cái gì đó. Người ta cố gắng hiểu rằng cái gì đó là cái vĩnh cửu vượt ra khỏi giới hạn của thời gian, nghĩa là nền giáo dục không lấy triết lý đương thời làm khung khổ. Cái đương thời rồi sẽ chết, hoặc ít nhất cũng biến hoá, trong khi nền tảng của nền giáo dục có căn bản bất biến. Cái bất biến đó là bản năng tự hoàn thiện mình bằng năng lực tự nhiên của con người. Năng lực tự nhiên và bản năng tự hoàn thiện là cái vẫn tồn tại sau tất cả những áp lực nhân tạo chỉ xuất hiện trong một không gian và thời gian nhất định có hạn.

Nói cho rõ ra thì là thế này: Hãy vượt ra ngoài sự trói buộc bởi tư duy giáo dục cộng sản để quay trở lại với bản chất con người. Có phải Nhà giáo định nói vậy không?

Đấy có thể là điều mà nhà giáo Phạm Toàn muốn «bắn» tới những đồng nghiệp có trách nhiệm của ông? Nhưng giáo dục là sự minh bạch, rành mạch, rõ ràng và chuẩn xác về phương pháp tư duy. Ông muốn mọi người phải hiểu và phải làm một điều đang bị cấm kỵ bởi những thế lực quyết định sinh mệnh của họ và của chính ông. Nhưng ngay nói thẳng những điều đó ra, ông cũng còn chưa dám. Nói những điều không giám nói, thì những điều nói ra trở thành tối nghĩa và khó hiểu. Muốn nói về màu đen, nhưng sử dụng ngôn ngữ dùng để diễn tả một mầu không đen, và lại muốn trách người xem sao không thấy nó đen. Đó là bi kịch cuả ước vọng khai phóng, cũng chính là bi kịch của nền giáo dục thờicộng sản hiện đại trong lốt nhà giáo dục.

Không biết có ai cùng cảm giác bế tắc khi đọc bài viết của nhà giáo Phạm Toàn không, xin đọc ở đây:

«Không nên quá kiêu ngạo nghĩ mình mãi là thầy.

Nhà giáo Phạm Toàn đã khẳng định như vậy trong bài viết gửi tới hội thảo giáo dục 2017 do Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng Quốc hội tổ chức sáng 23/9. VietNamNet xin trích đăng bài viết này.

Vấn đề

Chúng ta đang bàn bạc về sự nghiệp giáo dục của dân tộc.

Chúng ta đang bàn bạc về công việc lớn lao này trong nỗi lo lắng và tinh thần trách nhiệm.

Lo lắng và trách nhiệm đè nặng lên vai từng cá nhân có mặt ở hội thảo này và chúng ta còn gánh nặng cả những nỗi ưu tư của biết bao con người vắng mặt tại đây, trong đó có những nhà khoa học và có cả những phụ huynh có con em đi học.

Và không chỉ có thế, vắng mặt hôm nay nhưng luôn luôn có mặt, còn là tổ tiên chúng ta, những ân nhân đã giao lại đất nước này cho chúng ta và còn là cả những bé em sẽ ra đời trên mảnh đất thiêng liêng này, những thế hệ của trăm năm, của nghìn năm sau.

Không ai buộc chúng ta phải lo lắng và phải có trách nhiệm như vậy. Tự chúng ta từng người từng người mang nỗi lo và trách nhiệm đó, đơn giản vậy thôi.

Chúng ta nhất trí trong nỗi lo và tinh thần trách nhiệm.

Nhưng chúng ta lại rất khó nhất trí trong giải pháp cứu nguy, chấn hưng sự nghiệp giáo dục của dân tộc.

Và nỗi bất đồng to lớn nhất lại rơi vào một điều cốt lõi của mọi điều cốt lõi: tư duy về giáo dục.

Cái bất biến của giáo dục

Chọn lựa thứ nhất là đi tìm một cái nút bấm mà nếu tác động vào điều bất biến đó thì mọi việc sẽ hanh thông.

Chọn lựa thứ hai là sa đà vào những điều khả biến với vẻ ngoài đầy hấp dẫn, nhưng sẽ làm ta rơi vào một cái bẫy mê hồn trận.

Chọn lựa thứ nhất dẫn nhà giáo dục và các lực lượng xã hội khác đến với trẻ em – người học như một mục tiêu bất biến. Nó bất biến vì nó nằm trong tầm tay xử trí của nhà giáo dục.

Chọn lựa thứ 2 dẫn các nhà cải cách đến những vấn đề thuộc về thể chế, nằm ngoài tầm tay xử lý của nhà giáo dục.

Cả hai lựa chọn đều là hai cuộc đại phiêu lưu. Không có lựa chọn nào dẫn đến thành công “thần tốc” hết. Nhưng chọn lựa thứ nhất sẽ tạo ra một sự thâm canh – cũng hệt như thâm canh trong sản xuất nông nghiệp – trong khi chọn lựa thứ 2 cũng tương tự như đi tìm cách thay đổi chế độ tô thuế.

Có điều “thâm canh” trong sự nghiệp giáo dục sẽ tạo ra một cái nền màu mỡ, để một trăm năm nữa (có khi lâu hơn thế) sẽ có những sản phẩm mà những bậc thầy ngày hôm nay không sánh kịp. Con hơn cha, trò hơn thầy, đó là mơ ước của công cuộc thâm canh vào cái bất biến cần được tư duy đổi mới giáo dục nhận ra ngay ngày hôm nay: trẻ em.

Nghịch lý cõng người khổng lồ

Nhà cải cách giáo dục đúng sẽ thành công nếu trong tư duy giáo dục và dạy học họ luôn nghĩ rằng mình đang cõng trên vai những người khổng lồ. Không nên quá kiêu ngạo để luôn luôn nghĩ mình mãi là thầy, mãi mãi là người khổng lồ để các em đứng lên vai.

Ấy thế nhưng, ở nơi đây và vào lúc này, họ vẫn đang là thầy. Nghịch lý là ở chỗ đó. Khi tư duy để tìm cách cứu nguy nền giáo dục hiện thời, chúng ta luôn luôn đứng trước hai cách chọn lựa.

Diễn đạt theo cách khác sẽ nói như sau: nhà cải cách giáo dục như những chú lùn có sứ mệnh tạo ra những con người cao ráo hơn mình. Khi chúng ta đang nhắc lại những khái niệm như tự do hoặc khai phóng vô tình hay hữu ý, ta đang thực hiện một phương thức bất biến chi phối công việc đào tạo những người khổng lồ.

Vì thế, đừng có nghĩ nền giáo dục được ta lên kế hoạch chấn hưng sẽ đào tạo những học trò có vài ba năng lực nào đó cộng với dăm bẩy giá trị nào đó rập theo tiêu chuẩn biến động của những chốn vu vớ nào đó.

Một cách khiêm nhưng đủ tự tin như một nghịch lý, chúng ta hãy tổ chức sự trưởng thành của cái đối tượng bất biến mà chúng ta đang phục vụ bằng việc vun trồng bằng chính bàn tay tầm thường của chúng ta ở đây và ngay lúc này.

Mục tiêu tổ chức sự trưởng thành của trẻ em, đến lượt nó, cũng thành một điều bất biến trong tư duy giáo dục. Không phải là tổ chức cuộc chạy đua học giỏi mà tổ chức sự trưởng thành về tâm hồn, về trí tuệ, về lối sống của một nhân cách đúng nghĩa.

Những sản phẩm mang tầm vóc trưởng thành đó sẽ phải là những con người có một năng lực bất biến – năng lực tự học – và tự học để tự lập thành người Việt Nam chính hiệu.

Lộ diện giải pháp

Cuối cùng, “trăm dâu đổ đầu tằm”, dù chọn đi theo cách tư duy nào và theo lý thuyết trời biển gì đi nữa thì cũng phải trình ra xã hội bộ chương trình và bộ sách giáo khoa.

Đến lượt chúng, những công cụ này cũng sẽ phải thể hiện một tầm tư duy giáo dục dựa trên những điều bất biến.

Đặt câu hỏi đơn giản hơn: chương trình và sách giáo khoa có tuổi thọ dài, thậm chí rất dài hay là chúng cứ bị thay đổi luôn soành soạch theo tuổi đời từng dự án?

Xin nói luôn để đỡ mất công chờ đợi: Chương trình và sách giáo khoa cũng phải bất biến. Điều này hoàn toàn trái với những phát ngôn đương thời cho rằng sách giáo khoa trên thế giới cũng chỉ tuổi thọ dăm mười năm.

Ta hãy cùng lý giải về tính bền vững của chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa cho học sinh phổ thông. Chúng sẽ bền vững và có tuổi thọ dài vì những lý do sau:

– Chúng thể hiện cách học của người học, cách học thể hiện ở các thao tác tư duy, là điều bất biến.

– Những vật liệu dùng để tổ chức cách học của học sinh đều mang tính phổ thông và đó là điều bất biến.

– Sách giáo khoa phải giúp giáo viên dễ thực hiện nhiệm vụ tổ chức việc học của trẻ em – một định nghĩa khác về nghề “dạy học” xưa nay.

Tư duy sáng sủa

Càng dấn thân vào sự nghiệp giáo dục, càng thấy mọi chuyện không dễ dàng và càng không thể xong trong ngày một ngày hai.

Vì thế, việc tư duy về giáo dục cần phải rất sáng sủa.

Không được lẫn lộn giữa khái niệm Chương trình tổng thể với chỉ một việc biên soạn chương trình và sách giáo khoa phổ thông.

Và ngay cả khi rút gọn việc viết sách giáo khoa như là cốt lõi của cái tổng thể thì cũng cần xử lý nghiêm cẩn.

Thời Khổng Tử, sách giáo khoa nằm trong tay vài ba ông “Tử”, và thế là đủ.

Thời Pháp thuộc cũng còn đơn giản: những tên tuổi đọng lại không nhiều, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Phạm Huy Lục, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận, và Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Tố cùng với Brachet, Don Lafferanderie. Hết.

Sau năm 1945, cả ngành giáo dục vẫn mới chỉ có một ban thu thư lèo tèo. Dẫu sao, các ban tu thư thời đó đều có uy tín.

Ngày nay, chẳng ai có đủ uy tín để xử lý riêng một khái niệm tích hợp.

Và ai có đủ uy tín để bảo đảm sách đang viết chưa xong, có xong cũng chưa qua thực nghiệm… liệu có đủ độ tin cậy để được thực nghiệm và đem dùng theo lối cuốn chiếu.

Hãy nghĩ lại!

Hãy để các nhóm và các cá nhân tự do đóng góp để có thêm những người lùn cùng công kênh những người khổng lồ.

Hãy minh bạch các sản phẩm – mạng internet có sẵn để mọi người lùn cùng bớt lùn.

Hãy tập sống dân chủ vì dân chủ cũng là cái bất biến trong tư duy người, còn bao trùm lên cả tư duy giáo dục nữa.» (hết dẫn).

Nếu cảm giác bế tắc không phải là của riêng tôi, thì tôi nghĩ nút mở của nó là cái đã xảy ra với Gíao sư Tương Lai và cựu Đại sứ Nguyễn Trung.

7/10/2017

Bùi Quang Vơm




Ký ức, thời gian dưới ngòi bút của Kazuo Ishiguro, Nobel Văn Học năm nay

Thu Hằng 

RFI   – Phát thứ sáu, ngày 06 tháng 10 năm 2017

Ký ức, thời gian dưới ngòi bút của Kazuo Ishiguro

Nhà văn Anh gốc Nhật Kazuo Ishiguro, tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017, trả lời phỏng vấn bên ngoài nhà riêng tại Luân Đôn, ngày 05/10/2017.REUTERS/Toby Melville

“Bằng những cảm xúc dạt dào, văn chương của ông (Kazuo Ishiguro) đánh thức góc sâu thẳm, huyền bí trong chúng ta về mối liên hệ với thế giới” “Hãy lấy một chút từ Jane Austen, một chút từ Franz Kafka, thêm một phần của Marcel Proust và bạn có được điều gì đó giống phong cách viết của Kazuo Ishiguro”. Bằng những từ ngữ trên, Viện Hàn Lâm Thụy Điển nhận xét về tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017, nhà văn Anh gốc Nhật Kazuo Ishiguro.

Theo cha mẹ đến Anh Quốc từ năm 6 tuổi, Kazuo Ishiguro (sinh ngày 08/11/1954 tại Nagasaki) chưa từng nghĩ một ngày sẽ theo nghiệp văn chương. Ông từng mơ biểu diễn ghi-ta trên sân khấu nhạc rock hơn là cầm bút, vì 5 tuổi, cậu bé Kazuo đã biết chơi piano và 14 tuổi, đã chơi thành thạo ghi-ta.

Suốt thời thanh niên trong những năm 1970, Kazuo Ishiguro không đoái hoài đến văn chương vì “có rất ít nhà văn gây phấn khích, ngoài Kerouac và Beat Generation”, như ông từng thổ lộ với tạp chí L’Express năm 1997 khi giới thiệu với độc giả Pháp cuốn The Unconsoled(tạm dịch : Kẻ không khuây khỏa).

Cuối cùng, ông chọn con đường văn chương khi bắt đầu “đối chiếu giữa cuộc sống ở Anh với nhiều sự kiện diễn ra trong nước Nhật ngày trước. Năm 23 tuổi, tôi muốn trưởng thành và muốn làm sống lại ký ức của quê hương mình mà tôi có cảm giác đang biến mất”. (L’Express, 1997).

Tốt nghiệp trường đại học Kent năm 1978 và nhận bằng thạc sĩ khóa sáng tác văn chương của trường đại học East Anglia năm 1980, ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác từ năm 1982 với tác phẩm đầu tay A Pale View of Hills (tạm dịch : Những ngọn đồi xa mờ), đoạt giải thưởng Winifred Holtby của Viện Văn Học Hoàng gia Anh, tiếp theo là An Artist of the Floating World(1986). Cả hai tác phẩm gợi lại một nước Nhật thời hậu chiến, chật vật đứng lên từ đống đổ nát, về số phận của các nhân vật bị coi là “phản quốc”.

Từ đó đến nay, ông viết thêm nhiều cuốn tiểu thuyết khác, với chất lượng khá ổn định : The Remains of the Day (tạm dịch : Tàn dư ngày ấy, 1989, đoạt giải Booker), The Unconsoled (tạm dịch : Kẻ không khuây khỏa, 1995), When We Were Orphans (tạm dịch : Khi chúng ta mồ côi, 2000), Never Let Me Go (Mãi đừng xa tôi, 2005) và The Buried Giant (Người khổng lồ ngủ quên, 2015) và một tập truyện ngắn Nocturnes : Five Stories of Music and Nightfall (Dạ khúc : Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông, 2009).

Cuốn tiểu thuyết Never Let Me Go (Mãi đừng xa tôi) được Time Magazine xếp vào danh sách 100 cuốn sách tiếng Anh hay nhất từ năm 1923 đến năm 2005. The Remains of the Day được James Ivory chuyển thể thành phim cùng tên năm 1993 với hai diễn viên chính Anthony Hopkins vào vai quản gia Stevens tận tụy, lịch thiệp chấp nhận chối bỏ và chôn sâu cả tình yêu thầm lặng với cô Kenton (Emma Thompson) dành cho ông. Năm 2010, khát khao tình yêu, hạnh phúc trong thế giới “giả tưởng” của ba nhân vật Kathy, Ruth và Tommy có chung một số phận được định đoạt trong Mãi đừng xa tôi được Mark Romanek đưa lên màn ảnh nhỏ.

Hai tác phẩm được chuyển thể thành phim này cùng với cuốn The Unconsoled nằm trong danh sách ba tác phẩm cần đọc, theo nhật báo Le Figaro, nhân dịp công bố tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017.

Bìa ba tác phẩm của nhà văn Kazuo Ishiguro được Nhã Nam xuất bản tại Việt Nam.RFI / Tiếng Việt

Tác phẩm của Kazuo Ishiguro : 10 năm có mặt tại Việt Nam

Riêng tại Việt Nam, tiểu thuyết gia Kazuo Ishiguro không phải là một tên tuổi xa lạ. Ba trong số tám tác phẩm của ông đã được Nhà xuất bản Nhã Nam kết hợp với Hội Nhà Văn biên dịch và phát hành : Mãi đừng xa tôiDạ khúc : Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông,Người khổng lồ ngủ quên.

Trả lời RFI tiếng Việt, anh Nguyễn Xuân Minh, phụ trách bản quyền của Nhã Nam, giải thích thêm về tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017.

RFI : Nhà xuất bản Nhã Nam dịch và phát hành ba tác phẩm của nhà văn Kazuo Ishiguro từ cách đây vài năm, dĩ nhiên trước khi ông được trao giải Nobel Văn Học 2017. Những điểm nổi bật nào của nhà văn Anh gốc Nhật đã thu hút Nhã Nam ?

Nguyễn Xuân Minh : Tác phẩm đầu tiên của Kazuo Ishiguro mà Nhã Nam xuất bản là tác phẩm Mãi đừng xa tôi, không phải là vài năm trước mà là 10 năm trước, từ những năm đầu tiên Nhã Nam mới thành lập. Sau đó, đến năm 2015, chúng tôi ra tiếp một tập truyện ngắn của ông tên là Dạ khúc : Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông. Và gần đây nhất, chúng tôi mới ra tác phẩm, và cũng là tác phẩm mới nhất của ông, Người khổng lồ ngủ quên.

Tác giả này đã được Nhã Nam khai thác từ những năm đầu tiên. Vì khi đó chúng tôi có quan niệm muốn giới thiệu những tác giả văn chương đương đại, có phong cách đặc biệt, đến với độc giả Việt Nam, bởi vì khi đó, thị trường sách văn học Việt Nam, trong thời điểm 10 năm trước, không được phong phú như bây giờ. Chúng tôi cảm thấy cần có trách nhiệm giới thiệu những tác giả xuất sắc của văn chương thế giới, như Ishiguro, Ian McEwan, Salman Rushdie, Margaret Atwood và Mugakami đến với độc giả Việt Nam.

Khi đó, cùng với Ian McEwan, Ishiguro là một trong hai tác giả người Anh mà chúng tôi lựa chọn, vì chất văn chương rất đặc trưng của nước Anh. Dù ông là người gốc Nhật, nhưng ảnh hưởng của gốc gác đối với văn chương của ông không nhiều, mà ông viết rất đặc trưng chất Anh. Chính vì thế, chúng tôi đã muốn giới thiệu tác giả này với độc giả Việt Nam từ 10 năm trước.

RFI : Có nhiều ý kiến cho rằng văn phong của Kazuo Ishiguro mang phong cách cổ điển, đôi khi quá trau chuốt về câu chữ. Liệu điều này có phải là một trở ngại để thu hút nhiều độc giả Việt Nam hơn, khi mà hiện nay nhiều tác phẩm được viết với phong cách nhẹ nhàng đang rất “ăn khách” ?

Nguyễn Xuân Minh : Về mặt đón nhận, khi chúng tôi xuất bản Mãi đừng xa tôi lần đầu tiên, chúng tôi nhận được nhiều lời khen và nhận xét tích cực từ giới phê bình và độc giả yêu văn chương. Tuy nhiên, cũng như nhiều tác giả văn chương đương đại khác rất nổi tiếng trên thế giới, khi mà xuất bản tại Việt Nam, các tác phẩm này đều khá kén chọn độc giả và không phải có nhiều người biết đến tác phẩm Mãi đừng xa tôi. Một phần cũng do khi đó, công tác truyền thông của Nhã Nam chưa tốt lắm nên chúng tôi lấy làm tiếc là không có nhiều người biết đến tác phẩm này. Đấy cũng là một phần nguyên nhân khiến chúng tôi đã không nghĩ đến xuất bản tiếp các tác phẩm của Ishiguro.

Đến năm 2013-2014, chúng tôi nhận được một vài tác phẩm mới do người đại diện của tác giả gửi đến, vì Nhã Nam là đơn vị đầu tiên xuất bản Ishiguro tại Việt Nam, nên khi có tác phẩm mới, họ gửi đến. Chúng tôi đọc thử và cảm thấy là văn phong và câu chuyện của ông đều rất tuyệt vời và chúng tôi nghĩ là không thể không tiếp tục xuất bản, nên chúng tôi tiếp tục mua bản quyền thêm ba cuốn của Ishiguro : Dạ Khúc, Người khổng lồ ngủ quên và cuốn nổi tiếng nhất của ông là cuốn được giải Booker là The Remains of Day, tạm dịch là Tàn dư ngày ấy. Cuốn này là cuốn đạt giải cao nhất của ông và khá dầy và tương đối khó dịch nên chúng tôi hy vọng có thể xuất bản được vào năm 2018.

RFI :Độc giả Việt Nam đón nhận các tác phẩm của nhà văn Anh gốc Nhật này như thế nào ?

Nguyễn Xuân Minh : Trước khi ông được giải Nobel, cũng có một bộ phận độc giả yêu văn chương nước ngoài, yêu văn chương Anh rất thích tác phẩm này (Xin đừng xa tôi) và cũng có nhiều người đã gửi thư và gửi tin nhắn cho chúng tôi, yêu cầu chúng tôi xuất bản thêm các tác phẩm của ông. Tuy nhiên, như tôi đã nói ở trước là văn chương của ông khá kén độc giả. Con số bán hàng ở Việt Nam cho thấy chưa phải là có nhiều người thực sự đọc và yêu thích Ishiguro.

Thực ra, mỗi khi có một cuốn sách quan trọng được xuất bản, chúng tôi đều cố gắng tổ chức chương trình tọa đàm, những buổi ra mắt để giới thiệu sách đến với độc giả. Ví dụ khi cuốn Mãi đừng xa tôi được xuất bản lần đầu, chúng tôi cũng có một buổi tọa đàm, giới thiệu tác phẩm này ở Hội Đồng Anh (Hà Nội). Có khá đông đảo phóng viên và bạn đọc đến tham dự buổi ra mắt này. Buổi đó khá là lớn.

Sau khi ông được giải Nobel, tất nhiên chúng tôi hy vọng rằng cuốn sách này sẽ được nhiều độc giả biết đến hơn và được đọc rộng rãi ở Việt Nam.

***

Kazuo Ishiguro (dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng), Mãi đừng xa tôi, NXB Văn Học, Nhã Nam, 2013, 434 trang.

Kazuo Ishiguro (dịch giả An Lý), Dạ khúc : Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông, NXB Nhã Nam, 2013, 294 trang.

Kazuo Ishiguro (dịch giả Lan Young), Người khổng lồ ngủ quên, NXB Văn học, Nhã Nam, 2017, 460 trang.

*********

Nguồn:

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20171006-nobel-van-hoc-2017-ky-uc-thoi-gian-duoi-ngoi-but-cua-kazuo-ishiguro

Cuốn The Remains of the Day có thể mua trên Amazon, paperback,  với giá $9.60:

https://www.amazon.com/Remains-Day-Kazuo-Ishiguro/dp/0679731725/ref=sr_1_1?s=books&ie=UTF8&qid=1507403861&sr=1-1&keywords=Kazuo+Ishiguro%29




Không ai ngăn nổi lời ca

Sông Lô Lê Nam Sơn

Chúng tôi 4 người gồm: Thụy Uyển, Lữ Du, Đặng Lâm và tôi được “Hội văn hóa nghệ thuật” người Việt ở thành phố Chemnitz mời đến tham dự buổi sinh hoạt văn hóa giao lưu với chủ đề “Chiều Thơ Tình Thu” được tổ chức vào ngày 15.10.2017 tại thành phố này.

Chemnitz là một thành phố thuộc Đông Đức cũ đã từng bị đổi tên, như Sài Gòn của VN bị đổi tên thành Hồ Chí Minh, thành phố Chemnitz bị đổi tên thành Karl Marx kể từ 1953 khi chế độ CS đông Đức nắm chính quyền, mãi cho đến 1990 sau khi nước Đức thống nhất, nhà nước Cộng Hòa Liên Bang Đức mới lấy lại tên đích thực của nó. Đây là một thành phố có khoảng 250.000 cư dân và là thành phố lớn thứ ba của tiểu bang Sachsen thuộc Cộng hòa Liên bang Đức, sau thành phố Leipzig và thành phố Dresden. Có khoảng trên 1000 người Việt sinh sống tại đây.

Nhân đây tôi cũng xin nói thêm để những ai chưa sống ở nước Đức có thể biết về cuộc sống và sinh hoạt của người Việt tại Đức là như thế nào. Có 3 dạng người VN khác nhau sinh sống ở Đức: Dạng thứ nhất là những thuyền nhân, ra đi bằng con đường vượt biên sau năm 1975. Dạng người này cho đến nay có khoảng 40 ngàn người, hầu hết định cư ở Tây Đức cũ và Berlin , nhìn chung họ có đời sống ổn định và con cái của họ đa số học hành giỏi, tương đối thành đạt do được sinh ra và lớn lên ở Đức. Thế hệ thứ hai này được người Đức đánh giá là một điển hình tốt cho sự hội nhập với xã hội, văn hoá Đức hơn cả những cộng đồng ngoại quốc khác sống ở nước này.

Dạng thứ hai là những người từ phía Bắc và Trung Việt Nam đi lao động tại Đông Đức từ thời Đông Đức còn là một nước xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay những người thuộc dạng thứ hai này cũng đã có giấy tờ và có cuộc sống ổn định, nhìn chung, hầu hết họ là những người buôn bán nhỏ, sống loanh quanh trong cộng đồng với nhau, cần cù, chăm chỉ kiếm tiền và cũng như dạng người thứ nhất, họ dồn tất cả tiền bạc vào việc đầu tư cho tương lai của con cái.

Dạng thứ ba là những người qua Đức từ sau năm 1990, họ ra đi bằng đủ mọi con đường khác nhau nhưng đa số cho đến nay vẫn chưa có giấy tờ hợp pháp. Số người này cũng đã lên đến khoảng 40 ngàn người. Vì không có giấy tờ, không được phép đi làm chính thức nên cuộc sống nhiểu bất ổn, có một số bị trục xuất về nước.

Số người Việt sinh sống bên phía đông hầu hết còn bị lệ thuộc và chi phối bởi Sứ Quán CSVN tại Đức, họ đã thành lập những hội đoàn như hội Đồng Hương, hội Doanh nghiệp, hội Cựu chiến binh, hội phụ nữ v.v.. theo chỉ thị của Sứ Quán. Nói chung, họ là những người còn “tình nghĩa” với cái gọi là nhà nước CHXHCNVN, nên chi khi khách du lịch VN, nhất là khách du lịch VN đến từ Hoa Kỳ cũng đừng ngạc nhiên khi vào một nhà hàng VN của họ mà thấy có treo cờ đỏ sao vàng và hình ông Hồ một cách trân trọng cũng như cho thực khách nghe những nhạc đỏ.

Chúng tôi đến với “Hội văn hóa nghệ thuật” để tham dự buổi sinh hoạt văn hóa giao lưu chủ đề “Chiều Thơ Tình Thu” trong hoàn cảnh không mấy thuận cho lắm, nên chi trước khi đồng ý tham dự, chúng tôi có đề nghị ban tổ chức là không treo cờ, không có mặt sứ quán hay đại diện của sứ quán cũng như phô trương những hình ảnh tuyên truyền ca tụng chế độ tại hội trường và không ngờ những đề nghị của chúng tôi được BTC đồng ý.

Với chủ trương dùng văn hóa văn nghệ để giao lưu, không áp đặt, nhưng mang tính chính nghĩa và thuyết phục là một hình thức đấu tranh trong nhiều cách đấu tranh với những mong muốn sao cho đất nước VN thân yêu của chúng ta thoát khỏi chế độ độc tài CS, sớm có được tự do dân chủ và quyền con người được tôn trọng mà trước sau chúng tôi vẫn luôn tâm niệm như vậy. Thế là ngoài những sáng tác, những giọng ngâm cùng tiếng hát mà 4 anh em chúng tôi lần lượt trình bày cho mỗi tiết mục, đến một tiết mục kế tiếp của mình với giọng ca có sức lôi cuốn lạ thường, Thụy Uyển đã hát vang lên với niềm tin mãnh liệt vào sự thật vào chính nghĩa và cô đã chinh phục được hầu hết khán giả qua một nhạc phẩm đấu tranh mang tình tự quê hương dân tộc “Gánh Cả Quê Hương của nhạc sĩ Chiêu Khiêm, bài hát chấm dứt với tràn vỗ tay như không dứt và kể tứ lúc ấy Thụy Uyển đã trở nên nhân vật đầy thiện cảm và gần gũi với hầu hết mọi người. Cảm ơn Thụy Uyển rất nhiều, mong Thụy Uyển luôn chân cứng đá mềm trên bước đường đấu tranh phía trước.

 




Những video Mạn đàm Truyện Kiều

1- Mạn đàm Truyện Kiều Phần 1 (Giới thiệu Tiểu sử Thi hào Nguyễn Du)

2- Mạn Đàm truyện Kiều Phần 2 (Thanh Minh)

3- Mạn đàm Truyện Kiều Phần 3 (Kiều gặp Kim Trọng)

4- Mạn đàm Truyện Kiều Phần 4 (Kiều bán mình chuộc cha)
5- Mạn đàm Truyện Kiều Phân đoạn 5 (Kiều gặp Tú Bà)
6- Mạn đàm Truyện Kiều Phân đoạn 6 (Kiều gặp Sở Khanh)
7- Mạn đàm Truyện Kiều Phân đoạn 7 (Kiều gặp Thúc Sinh)
8- Mạn đàm Truyện Kiều Phân đoạn 8 (Kiều gặp Hoạn Thư)
9- Mạn đàm Truyện Kiều (Kiều gặp Từ Hải)
10- Mạn đàm Truyện Kiều (Kiều Báo Ân – Báo Oán)
http://cuocsongthica.blogspot.com/2017/10/nhung-video-clips-man-am-truyen-kieu.html



Ra mắt sách “Con Đường Phượng Vĩ”

     Ra mắt sách “Con Đường Phượng Vĩ”

Chiều Chù nhật 8 tháng 10, hồi 2PM tại Hội trường Câu Lạc Bộ Mây Bốn Phương đường số 2, thành phố San José, bắc California, buổi Ra mắt tác phẩm Con Đường Phượng Vỹ của Nhà Văn Tôn Nữ Áo Tím, đã được tổ chức và khai mạc với sư tham dự của hàng trăm đồng hương và thân hữu, có người đến từ Texas, Nam Cali và các thành phố phụ cận.

 
Thời tiết đẹp, không khí ấm áp, dễ chịu, nhưng vào cùng ngày giờ này có nhiều sinh hoạt khác tại địa phương, nên một số bạn bè của tác giả đã gọi phone xin lỗi, rất tiếc đã không đến tham dự được.
 
Tác giả Tôn Nữ Áo Tím là ái nữ của Nhà Văn Hoàng Diệp,- Thư ký Viện Đại học Huế ngày xưa – Cựu Nữ sinh Đồng Khánh và Đại học Huế, Tôn Nữ Áo Tím được sinh ra trong một gia đình mà các Anh Chị Em đều có máu Văn nghệ, ca hát, làm thơ, viết văn. Tác phẩm Con Đường Phương Vĩ của Cô là là tập truyện đầu tay với một số truyện ngắn, tuỳ bút với dòng văn chương bình dị nhưng mang đầy những suy tư về cuộc sống, nhất là hình ảnh cuộc đổi đời đầy cay nghiệt sau khi CS chiếm trọn miền Nam. Nhà Văn Song Nhị, Diên Nghị và Ngô Đức Diễm đã giới thiệu tác phẩm, Tác giả với những dòng cảm nghĩ thật đẹp.
 
Sau đây là một số hình ảnh chúng tôi ghi lại  xin được gửi đến Quí Bạn Xa gần, để gọi là chia chút niềm vui với tác giả Tôn Nữ Áo Tím, về một buổi Ra măt tác phẩm khá thành công, vào thời điểm mà chuyện ra mắt sách bây giờ càng ít thu hút người tham dự.
 
                      












 



Tưởng niệm cố nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm tại San Jose

Tưởng niệm cố nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm tại San Jose

Văn thơ Lạc Việt tổ chức buổi tưởng niệm cố nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm tại San Jose ngày 30 tháng 9 tại CLB Mây Bốn Phương.

Chương trình gồm có:

1 Lời Tưởng niệm bác Vũ Đức Nghiêm TS Hồng Dũng
2 Đọc Thay lời điếu NS Vũ Đức Nghiêm của Bác Diệu Tần TS Hồng Dũng
3 Khúc ca dịu dàng Kim Thư
4 Một mình ngồi yên Lê Nguyễn
5 Tâm tư chiều Thu Sa
6 Hương lan vườn xưa Hoàng Lan
7 Ngâm thơ trích đoạn (Trời Hương Phấn Cũ) Chị Minh Thúy
8 Thấp Thoáng Như Giấc Mơ Văn Quân
9 Trên đồi cao Bạch Tuyết
10 Bâng khuâng nhớ tình xưa Thanh Hà
11 Từ ngục tù xông lên Hợp ca
12 Ngâm thơ (NT Ngô Đình Chương) Ngẩu Hồ
13 Thời gian còn lại Bảo Ngọc
14 Vùng trời kỷ niệm Kiều Liên
15 Đà lạt thành phố sương mù Mai Hương
16 Gọi người yêu dấu Hoàng Lan
17 Muôn trùng xa em về Nguyên Hồng
18 Lời ru thương Vũ Thơ Trinh

 




Thư Mời Tham Dự Tiệc Phát Giải Văn Thơ Lạc Việt 2016

banner-2016  12360337_10206907852488879_3141174382717768368_n  ban-dieu-hanh-vtlv

Thưa Quý Văn Thi Thữu, Quý Đồng hương còn yêu mến tiếng Mẹ,
Trong mục đích bảo tồn và phát huy tiếng Việt, vì ngôn ngữ là hồn, nhất là trong giai đoạn lịch sử cần thiết hiện tại, vì cổ nhân lại có câu: Hồn mất trước, nước mất sau!
Nên những sinh hoạt văn học nghệ thuật �bảo vệ Hồn� rất đáng được khuyến khích, chính vì thế Văn Thơ Lạc Việt đã góp tay trong công tác này đã hơn 20 năm nay, với giải thưởng sáng tác văn thơ hàng năm.
Giải thưởng này đã trở thành một sinh hoạt văn nghệ truyền thống, được nhiều người ủng hộ và tham gia nhất. Đã trở thành một giải thưởng văn học uy tín nhất của người Việt hải ngoại. Nhiều người trông chờ nhất vào mỗi dịp cuối năm.
Năm nay buổi phát giải được tổ chức lúc 4 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 18 tháng 12 năm 2016, tại Nhà hàng Phú Lâm, số 3082 Story Dr. San Jose.
-Ngoài những nghi thức phát giải phải có, là phần văn nghệ phụ diễn phong phú, đặc sắc với trên 10 giọng ca vàng của Lạc Việt, đang được yêu mến nhất của miền Thung Lũng Hoa Vàng, tặng sách cho quý Mạnh Thường Quân và dạ vũ. MC: Hồng Dũng & Hạnh Thảo.
-Vì tiệc vào những ngày cuối năm, ngoài 7 món ngon, kèm theo rượu vang, với những trò chơi có thưởng xả xui, xổ số, nhiều phần thưởng giá trị và phần dạï vũ đặc sắc. Hy vọng sẽ là buổi tiệc vui vẻ và ý nghĩa nhất đưa tiễn những ngày cuối cùng của năm, để đón mừng năm mới.

Trân trọng kính mời.
Lê Văn Hải, Trưởng ban tố chức, Phó chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt.

Xin ủng hộ 40 đô la cho mỗi người tham dự.

12341087_1074761692560121_1609087504444643627_n  12310581_10206907852448878_3793152343204861255_n  thiep-moi-trao-giai-vtlv-2016
nv-pt-kim-dung  nv-phuong-hoa  nv-phuong-hoa
nt-duong-hong-anh  nt-tuyet-van  nt-tan-khoa
Xin liên lạc để giữ cho trước:
Chinh Nguyên (669) 251-5366,
Lê Tuấn (408) 888-1113,
Thanh Xuân (408) 679-1400,
Hồng Dzũng (408) 886-1199.




Phân Ưu Nhà Văn Vũ Ngọc Đĩnh

PHÂN ƯU NHÀ VĂN ĐỐI KHÁNG CỘNG SẢN TẠI QUỐC NỘI:

VŨ NGỌC ĐĨNH.

Chinh Nguyen's photo.

Kính dâng hương hồn Anh Vũ Ngọc Đĩnh
Thế là Anh đã nhắm mắt, xuôi tay, chưa tròn nguyện ước .

Tôi đang layout cuốn “Ca dao thời Cộng Sản” của anh và đang cầm trọn vẹn mấy cuốn bản thảo anh trao để in và phát hành tại quốc ngoại :

Bảo Tòan.
Cười chả được.
Chui.
Hồn Nước trong các tòa thành cồ VN.
Lý Thường Kiệt.
Những âm thanh nhức buốt ngàn đời.
Sao Mai đã mọc.
Tiếng hát bên trong cửa.

Biết nói với anh sao đây …!!!

Cầu mong Anh :
chốn vĩnh hằng nghìn thu an giấc,
nồng nàn hương thảo Nam Sơn,
tiêu dao thâm thú ta bà,
ươm mầm tinh hoa đất Việt.

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
Anh đã đi…! Ai cười, ai rưng lệ…!
Đời chia ly không muốn cũng đành thôi.

Hội Ðồng Cố Vấn
Ban Ðiều Hành
Toàn Thể Thi Văn Hữu và Nhạc Sĩ & Nghệ Sĩ
Hội Viên khắp nơi thuộc
CƠ SỞ VĂN THƠ LẠC VIỆT.

Chinh Nguyên
Quỳnh Chi Tiêu Cẩm Tú.
Nhà Văn Uyên Thao
Nhà văn Trịnh Bình An
Chu Lynh
Nhà Văn Chu Tấn.
Nhà Văn Trần Nhu
Nhà Báo Việt Hải LA
Nhà văn Kiều Mỹ Duyên
Nhà văn Bích Huyền
Nghệ Sĩ Như Hảo
Nhà văn Phạm Bá Hoa.
Nhà thơ Thư Khanh.
Nhà thơ Quốc Nam.
Nhạc sĩ Phạm Mạnh Đạt.
Nhà Văn Thanh Xuân.

Chinh Nguyen's photo.  Chinh Nguyen's photo.
Chinh Nguyen's photo.Chinh Nguyen's photo.