ĐÒ XƯA

ĐÒ XƯA

Truyện Ngắn Thai NC

-Thằng đang bơi, qua bên ni chị nhờ chút.
Đang bơi thỏa thê trên sông, Cọp nghe tiếng gọi từ con đò đang đậu gần đó và thấy chị Lành đang đứng đầu mủi đưa tay ngoắc.
Cọp biết đây là đò bán chè của chị Hiền và chị Lành. Hai người tuy ở chung đò nhưng không phải là chị em vì rất khác nhau. Chị Hiền lớn hơn chị Lành vài tuổi, cao và có nước da ngăm ngăm, giọng chị mang âm hưởng Quảng Nam, trong khi chị Lành thấp và trắng hơn, nói đặc giọng Huế.

Lý do nào hai cô gái không phải chị em thân thuộc, không cùng quê quán lại cùng chung sống trên một chiếc đò thì Cọp không biết, và không cần biết. Cọp chỉ biết rằng mấy tháng trước hai chị cùng chèo đò tới cập bến tại đây để bảng bán chè. Ban ngày hai chị chèo đò bán dạo ở đâu không biết, chiều thường trở về bến ở xóm Chùa Bà nhà Cọp nấu cơm ăn, giặt giủ. Tối đến hai chị lại chèo đi bán chè dạo trên sông.
Cọp biết tên chị Hiền chị Lành vì thỉnh thoảng nghe người ta gọi chè hai chị từ trên bờ, nhưng họ không biết Cọp là ai. Buổi chiều Cọp thường ra bơi sông gần chỗ hai chị neo đò. Cọp chưa bao giờ mua chè chị Hiền chị Lành nên chưa quen nhau.

Cọp bơi lại gần và thấy chị Lành đang đứng kiển chân ở mủi đò cầm cái sào khá dài cố vớt cái quần đen đang dần trôi xa ra khỏi tầm với của chị. Quàn áo mấy chị giặt phơi bị gió thổi xuống sông đây. Không chần chờ, Cọp bơi qua lấy cái quần đưa lại. Chị Lành mừng quá rối rít:
-Cám ơn cu hí. Cu tên chi?
-Tên Cọp.
Chị Lành cười
-Ui cha tên chi mà dữ rứa ? Nhưng thấy cu hiền khô dễ thương ghê.
-Ai rứa ? Có tiếng chị Hiền từ bên trong
– Cái quần Mỹ Á mới may bị gió xuống sông may nhờ thằng cu ni bơi vớt lên chơ không là trôi mất rồi.
– May chưa tề ! Kêu hắn lên cho hắn chén chè.
-Ừ hí, em quên. Cu lên đò chị cho chè ăn nì. Cu chi? Cọp phải không? Cọp lên đây chị múc chè ăn. Không tính tiền mô.
Nghe nói được cho chè, Cọp thích lắm, nhưng đành chịu, nguợng nghịu lắc đầu.

Chị Lành hiểu ngay khi nhìn Cọp qua dòng nước, cười nói vào bên trong
-Hắn lên không được mô Hiền ơi. Hắn đang bơi ở lổ. Hắn dị, hí hí!
-Bày đặt. Con nít con neo ai thèm dòm mà dị !
Chè thì thích thiệt, nhưng làm sao dám tồng ngồng lên gặp hai chị. Nó quảy mình bơi lẹ ra sông, và nghe tiếng chị Lành vói theo
-Ngày mai Cu mặc quần rồi lên đò chị ăn chè nghe.
***

Hôm sau Cọp đã chuẩn bị nên bơi… có mặc quần đàng hoàng và lên đò chị Hiền chị Lành làm một bụng chè thỏa thê.
Kể từ hôm đó Cọp đã quen thân với cả hai chị. Không cần vớt quần vớt áo chi cả, Cọp khi nào cũng được ăn chè không tốn tiền. Không phải chỉ chè mà thôi. Chị Hiền chị Lành thỉnh thoảng kêu bún bò hay cơm Hến vô ăn cũng đều để dành cho Cọp một tô…

Một bữa Cọp bơi đến con đò và thấy chị Lành ngồi một mình thọc hai chân xuống nước. Cọp mon men bơi lại nhưng không leo lên đò như mọi khi mà chỉ đứng dưới.
Đang nói chuyện Cọp để ý chị Lành xắn chiếc quần đen đang mặc lên tới tận đầu gối, thòng cả hai cái chân xuống đong đưa vọc nước. Cọp cứ nhìn sửng đôi chân đến nổi chị Lành ngạc nhiên hỏi
-Mi nhìn chi dưới nước?

Cọp bẽn lẽn nói nó nhìn hai cái chưn chị đong đưa như vậy giống như hai con cá đang lượn đùa nhau.
-Hi hi, chị Lành cười. Thằng ni tưởng tượng ghê hí. Ừ, chừ cho hai con cá bơi đua nghe.

Nói xong, chị phát ra miệng mấy tiếng kêu “ ron-ron- ron…” như tiếng xe máy đang rú ga. Bên dưới chị dùng chưn trái lượn qua qua lượn lại rất lã lướt. Chưn phải cũng lượn rượt theo liền phiá sau. Hết bên trái tới bên phải, cứ như vậy chị cho hai con cá đuổi nhau thật sôi động. Thỉnh thoảng một con hứng chí bay lên khỏi mặt nước, con kia cũng bay theo lên liền không chịu kém.

Thằng Cọp thích quá hò reo hưởng ứng. Chị Lành nghĩ ra trò đua cá thiệt hấp dẫn.
Bỗng nhiên chị Lành cho con cá chưn trái chậm lại để cá chưn phải bắt kịp. Chị xoè ngón chân cái và ngón trỏ ngoạm một cái ngay gót chân, rồi la lên
-Bắt được mi rồi. Bắt được mi rồi…
Xong chị lấy ngón chưn cái của con cá sau ịn một cái vô con cá trước và nói tiếp:
-Bắt được rồi cho hun một cái.
Thằng Cọp cười ngặt nghẻo nhìn chị Lành đạo diễn màn đua cá, nhất là màn cuối bắt được rồi cho hun một cái.
Chị Lành nhìn Cọp nói
-Chừ tau với mi chơi. Tau bơi, còn mi đuổi theo nghe chưa. Cho mi dùng tay làm cá đó.

Cọp chịu. Chị Lành co một chưa lên bờ, chưa kia vẫn để dưới nước và bắt đầu rà tới rà lui.Miệng chị vẫn “ron – ron- ron” rú ga giống như hồi nãy đầy vẻ thách thức. Cọp đâu chịu kém. Nó cũng “ ron- ron-ron” rú ga giống như chị Lành, và nhanh như chớp bất thần cả hai tay chụp xuống dưới nước. Chưa kịp chuẩn bị và không ngờ Cọp mới chịu là …làm liền, nên con cá Lành bị chụp cứng ngắt không kịp phản ứng.

Chị la bai bải
– Ăn gian.! Thằng ni ăn gian. Tau chưa chuẩn bị. Mà mi không được dùng hai tay. Tau một con mi cũng một con thôi. Chừ bắt đầu lại .
Trò chơi lại bắt đầu. Lần này chị Lành đã chuẩn bị, và Cọp chỉ được dùng một tay nên cuộc đua sôi nổi hào hứng hơn. Mỗi lần Cọp chụp hụt là chị Lành lại cười ré lên khoái chí. Nhưng sau nhiều lần chỉ vồ nước sông, Cọp đã nghĩ ra cách chụp cá. Nó không nhắm bàn chưn chị Lành nữa mà nhè ngay… đầu gối chị để chụp. Chỗ này thì dính chắc vì chị đâu có di động được. Từ đầu gối, mặc cho chị Lành vung vẩy dữ dội Cọp vẫn cứ bám lấy và lần mò theo bắp chưn của chị xuống phía dưới cho đến khi nắm được bàn chưn con cá Lành là chị hết đường cục cựa. Chị Lành cười nắc nẻ.
-Mi chơi ăn gian, nhưng mà thôi, cho mi thắng đó. Chừ bắt được rồi cũng hun một cái.

Cọp đang ngơ ngác, chị Lành co chân lên khỏi mặt nước lúc lắc ngón chân cái. Hiểu ý, Cọp bắt chước như hồi nãy dùng ngón tay ịn vô chưn của chị để …hun một cái. Cả hai cười như nắc nẻ khoái chí.
Đang cười, chị Lành bỗng ngưng lại,nhìn Cọp hỏi
-Mi thấy chưn tau đẹp không?
Nói xong chị đưa cái chưn tới sát ngay mặt. Như phản xạ tự nhiên, Cọp dùng cả hai tay bưng chưn chị Lành rồi ngơ ngẩn nhìn. Một tay Cọp đỡ ngay gót, tay kia vân vê những ngón chưn. Cọp nhận ra chưn của chị Lành trắng phau phau. Bàn chưn của chị nhỏ nhắn nhưng đầy đặn không một sợi gân. Đẹp nhứt là năm ngón e ấp tụm lại với nhau chứ không xòe ra như cánh quạt của hầu hết những người khác mà Cọp thấy. Điều đặc biệt là gót chưn của chị tròn lẵn, không một vết nứt nẻ nào. Cọp chưa từng thấy ai có bàn chưn đẹp như ri.

Bỗng nhiên Cọp thấy thèm một cây cà-rem , cây cà rem đậu xanh Cọp thích nhứt, giữa buổi trưa hè… Nó đau đáu nhìn những giọt nước từ bàn chưn chị Lành tụ lại ở đầu ngón và rơi xuống sông, tưởng tượng cây cà-rem …
Cọp thèm một cây cà rem chi lạ !
-Chưn tau đẹp không?
Tiếng chị Lành lặp lại. Cọp thẩn thờ gật đầu.
-Mi thích không?
Cọp lại gật đầu
-Thích thì…cho hun một cái đó.

Hồn vía Cọp lúc nầy như đã bị con Ma Hớp Hồn hớp mất, nó lấy ngón tay tính để ngón chưn của chị để hun như lúc nảy, nhưng chị Lành gạt ra và nói
-Không phải hun rứa. Hun thiệt. Hun bằng miệng.
Chị Lành nói xong đưa chưn tới sát ngay trước mặt Cọp.
Cây cà rem đậu xanh sữa nhúc nhích, nhúc nhích. Cọp nhìn chị Lành thấy chị vừa cười vừa gật gật đầu. Nó mân mê cái chưn trắng ngồn ngộn của chị Lành trong tay, rồi bỗng nhiên như có một sức mạnh nào thúc đẩy, nó đưa mũi tới sát và hít một hơi thiệt mạnh. Chưa bao giờ Cọp hít mạnh như vậy. Nó có cảm tưởng không phải chỉ bàn chưn, mà cả cái chưn của chị, cả người chị Lành, đang chui tọt vô mủi nó.

Không phải chỉ chị Lành.
Con đò,
Dòng sông,
Cả thế giới chung quanh như đều bị Cọp hít hết cả vào người. Chị Lành bật cười sằng sặc làm Cọp bừng tỉnh. Nó dị quá, thả vội cái chưn ra và quay mình chạy vô bờ.
– Chuyện chi rứa? Tiếng Hiền hỏi từ bên trong.
-Thằng Cọp chơ ai. Tui mới chọc chút mà hắn dị hắn chạy rồi.
-Con khỉ ! Hắn còn nhỏ, mi chọc chi rứa?
Tiếng chị Lành cười khanh khách phía sau….

***
Từ giả dòng Hương giang hiền hòa, Cọp rời Huế một sáng trời mưa bay bay, hành trang mang theo là những kỷ niệm.
Kỷ niệm một cái chưn trắng nỏn nà của cô gái bán chè trên sông Hương đã cho Cọp cái cảm giác rạo rực đầu tiên trong đời.
./.

Image may contain: night and outdoor



Cần vinh danh những ai trong việc phát triển chữ quốc ngữ?

Cần vinh danh những ai trong việc phát triển chữ quốc ngữ?

Dương Quốc Chính

24-11-2019

LM Alexandre de rhodes. Ảnh: internet

Mấy hôm nay dân tình tranh cãi về phát biểu mang đầy tính GATO của thầy Thích Nhật Từ về việc không đặt tên phố bằng tên 2 ông giáo sỹ có công khai sinh ra chữ quốc ngữ. Nhưng đấy mới là phần nổi nhỏ của cả tảng băng.

Việc đặt tên phố cho mấy ông cha nghĩ ra chữ quốc ngữ chính ra rất nhạy cảm chính trị. Giờ đặt tên phố cho mấy ổng tức là vinh danh người đẻ ra chữ quốc ngữ, vậy sao không vinh danh những người khuếch trương để sử dụng nó? Thế mới công bằng. Nhưng mà công bằng thế thì thành phản động rồi.

Cứ thử suy xét mà xem, đẻ ra một loại chữ viết thì công to rồi, nhưng đấy mới là công sinh thành, thế còn công dưỡng dục, nuôi nấng nữa thì sao? Công đó to nhất lại là của… thực dân Pháp mới bỏ mẹ.

Bắt đầu từ khi ký hiệp ước Giáp Tuất 1874, Pháp lấy được 6 tỉnh Nam Kỳ, thì thống đốc Dupre đã bắt đầu cho học chữ quốc ngữ ở Nam Kỳ. Trước đó, năm 1869, chữ quốc ngữ đã được dùng làm ngôn ngữ hành chính, song song với chữ Pháp, thay cho chữ Hán, ở Nam Kỳ.

Ban đầu, người Việt, đặc biệt là các nho sỹ, tẩy chay chữ quốc ngữ, vì coi nó là sản phẩm của giặc, học là để làm tay sai. Vì thế, người Pháp phải cưỡng bức phổ cập giáo dục chữ quốc ngữ ở Nam Kỳ.

Sau khi thành lập LB Đông Dương, toàn quyền Albert Sarraut là người cho phổ cập chữ quốc ngữ trên toàn cõi Đông Dương. Vào năm 1915, bãi bỏ khoa cử bằng chữ Hán ở Bắc Kỳ, năm 1919 bãi bỏ nốt ở Trung Kỳ. Chữ Hán coi như mất đi vai trò là ngôn ngữ hành chính, thay bằng chữ quốc ngữ.

Người có công đầu tiên để phổ cập chữ quốc ngữ ra xã hội là Trương Vĩnh Ký, vì ông này là chủ bút tờ Gia Định báo, tờ báo đầu tiên sử dụng chữ quốc ngữ.

Hội nhóm có công lớn nhất để phổ biến chữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ là phong trào Đông kinh nghĩa thục và Hội Khai trí tiến đức mà thành viên đều là thành phần tinh hoa đương thời như Phạm Quỳnh, Hoàng Trọng Phu, Thân Trọng Huề, Nguyễn Văn Vĩnh… toàn là phản động không!

Phạm Quỳnh có câu kinh điển liên quan đến chữ quốc ngữ nhân ngày giỗ của Nguyễn Du năm 1924:

Thề rằng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu-sinh xin rầu lòng giốc chí cố gia-công trau-chuốt lấy tiếng quốc-âm nhà, cho quốc-hoa ngày một rực-rỡ, quốc-hồn ngày một tỉnh-tao, quốc-bộ ngày một tấn-tới, quốc-vận ngày một vẻ-vang, ngõ-hầu khỏi phụ cái chi hoài-bão của tiên-sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây!”

Sau khi Việt Minh đoạt chính quyền Hội bị giải tán theo sắc lệnh ngày 24 tháng 9 năm 1945 vì bị cho là “công cụ thống trị tinh thần và nô dịch văn hoá của thực dân”.

Sau này bần nông chỉ biết đến mỗi công lao phổ cập chữ quốc ngữ của đảng ta là phong trào Bình dân học vụ! Sao đảng không lật đổ nốt cả chữ quốc ngữ, quay lại sử dụng chữ Hán?

Tóm lại, nếu không có sự áp đặt của thực dân Pháp thì chữ quốc ngữ cũng chỉ là thứ ngôn ngữ chết, cũng gần như chữ Latin, không thể phổ cập, thậm chí có thể chết yểu.

Những người, tổ chức có công lao trong việc hình thành và phát triển chữ quốc ngữ có thể kể đến là 2 ông giáo sỹ nói trên, Trương Vĩnh Ký ở Nam Kỳ, Phạm Quỳnh ở Bắc Kỳ, trường Đông Kinh nghĩa thục, Hội Khai trí tiến đức, Toàn quyền Albert Sarraut (tên ông được đặt cho trường trung học danh giá nhất Đông Dương, tọa lạc ở vị trí nay là Văn phòng Trung ương đảng).

Tất cả những cá nhân, tổ chức trên đều xứng đáng được đặt tên phố cả. Thế mà trên thực tế chỉ có cha Alexandre de Rhodes được đặt tên một phố nhỏ ở SG, HN có quảng trường Đông Kinh nghĩa thục, có phố Lê Văn Can (đồng sáng lập ĐKNT).

Còn Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh, Hội Khai trí tiến đức đều trở thành phản động. Albert Sarraut thì là thực dân đầu sỏ cần căm thù sâu sắc!

Được biết, tên phố cũ ở Singapore đa số vẫn là từ thời thực dân Anh. Di sản thời thực dân vẫn được tôn trọng ở nước này.




Mang nhạc vào thơ

Mang nhạc vào thơ

Những bài thơ được phổ nhạc.

Xem thơ chỉ biết đến thơ! Đấy là những bài thơ có giá trị, trường tồn mãi với thời gian. Mình xin làm một chủ đề về những bài thơ tình hay, được yêu thích, đã đi vào âm nhạc.
Bao giờ đủ 100 bài thơ trữ tình hay, thì làm một ebook!
Bài mở đầu, xin chọn nhà thơ Yên Thao với bài thơ ” Nhà tôi”:

NHÀ TÔI

Tôi đứng bên này sông
Bên kia vùng địch đóng
Làng tôi đấy, xạm đen màu tiết đọng
Tre, cau buồn tóc rũ ướt mưa sương
Màu trăng vôi lồm lộp mấy khung tường
Nếp đình xưa người hỡi,đau gì không?
*
Tôi là anh lính chiến
Rời quê hương từ dạo máu khơi dòng
Buông tay gàu vui lại thuở Bình Mông
Ghì nấc súng nhớ ơi, ngày đắc thắng
Chân chưa vẹt trên nẻo đường vạn dậm
Áo nào phai không sót chút màu xưa
Đêm hôm nay tôi trở về, lành lạnh
Sông sâu mừng lấp lánh sao lưa thưa
*
Tôi có người vợ trẻ
Đẹp như thơ
Tuổi chớm đôi mươi cưới buổi dâng cờ
Má trắng mịn thơm thơm mùa lúa chín
Ai ra đi mà không từng bịn rịn
Rời yêu thương nào đã mấy ai vui
Em lặng buồn nhìn với lúc chia phôi
Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ.
*
Tôi còn người mẹ
Tóc đã ngả màu bông
Tuổi già non thế kỷ
Lưng gày uốn nặng kiếp long đong
Nắng mưa từ buổi tang chồng
Tơ tằm rút mãi cho lòng héo hon
ÔI, xa rồi, mẹ tôi
Lệ nhòa mi mắt
Mong con phương trời
Có từng chợt tỉnh đêm vơi
Nghe giòn tiếng súng nhớ lời chia ly :
– Mẹ ơi, con mẹ tìm đi
Bao giờ hết giặc con về mẹ vui.
*
Đêm hôm nay tôi trở về, lành lạnh
Sông sâu mừng , lấp lánh sao lưa thưa
Ống quần nâu đã vá mụn giang hồ
Chắc tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ
Làng tôi kia, bên trại thù quạnh quẽ
Trông im lìm như một nấm mồ ma
Có còn không, em hỡi ! mẹ tôi già !
Những người thân yêu khóc buổi tôi xa ?
Tôi là anh lính chiến
Theo quân về giải phóng quê hương
Mái đầu xanh bụi viễn phương
Bước chân đất đạp xiêu đồn lũy địch.
*
– Này, anh đồng chí
Người bạn pháo binh
Đã đến giờ chưa nhỉ
Mà tôi nghe như trại giặc tan tành ?
Anh rót cho khéo nhé
Kẻo lại nhầm nhà tôi !
Nhà tôi ở cuối thôn Đồi
Có giàn Thiên lý, có người tôi thương.

Yên Thao- 1949

Bài thơ đã đc nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc với tựa đề ” Chuyện giàn thiên lý”:

Chuyện giàn thiên lý

Tôi đứng bên này sông, bên kia vùng lửa khói.
Làng tôi đây bao năm dài chinh chiến,
Từng lũy tre muộn phiền,
Tôi có người vợ ngoan.
Đẹp như trăng mười sáu, cưới rồi đành xa nhau.

Nhớ đôi môi nàng hiền, xinh xinh màu nắng.
Má nàng hồng, thơm mùi thơm lúa non.
Ai ra đi mà không từng bịn rịn.
Xa người yêu mà dễ mấy ai vui.

Em nhìn theo mà bằng nước mắt chia phôi.
Tôi mạnh bước mà nge hồn nhỏ lệ.
Nay anh lính chiến, người bạn pháo binh.
Mẹ tôi tóc sương từng đêm nge đoạn pháo thật buồn.

Anh rót cho khéo nhé, kẻo nhầm vào nhà tôi.
Nhà tôi ở cuối thôn Đoài
Có giàn thiên lý, có người tôi thương

Lá Diêu Bông cuả Hoàng Cầm

“Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thờ đi tìm
Đồng chiều,
Cuống rạ.
Chị bảo:
Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày em tìm thấy lá
Chị chau mày: Đâu phải Lá Diêu Bông.
Muà đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu,
Trông nắng vãng bên sông.
Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xoe chỉ cắm trôn kim.
Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn.
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể.
Gió quê vi vút gọị
Diêu bông hời … ới Diêu Bông!”.

Sau này nhạc sỹ Nguyễn Tiến đã phổ nhạc bài thơ này thành bài hát Chuyện tình lá diêu bông

Nhà thơ Xuân Quỳnh, nhà thơ tài năng, có nhiều bài thơ được yêu mến. Đồng điệu, tri âm, nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc hai bài thơ hay của Xuân Quỳnh.

Bài thơ “Thuyền và biển”

Em sẽ kể anh nghe
Chuyện con thuyền và biển:

“Từ ngày nào chẳng biết
Thuyền nghe lời biển khơi
Cánh hải âu, sóng biếc
Đưa thuyền đi muôn nơi

Lòng thuyền nhiều khát vọng
Và tình biển bao la
Thuyền đi hoài không mỏi
Biển vẫn xa… còn xa

Những đêm trăng hiền từ
Biển như cô gái nhỏ
Thầm thì gửi tâm tư
Quanh mạn thuyền sóng vỗ

Cũng có khi vô cớ
Biển ào ạt xô thuyền
(Vì tình yêu muôn thuở
Có bao giờ đứng yên?)

Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu, về đâu

Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau – rạn vỡ

Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió”

Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố

Bài hát ” Thuyền và biển” nhạc Phan Huỳnh Điểu

Chỉ có thuyền mới hiểu biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết thuyền đi đâu về đâu
Những ngày không gặp nhau biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau lòng thuyền đau rạng vỡ
Nếu từ giã thuyền rồi biển chỉ còn sóng vỗ
Nếu phải cách xa em anh chỉ còn bão tố
Nếu phải cách xa em anh chỉ còn bão tố
Những ngày không gặp nhau biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau lòng thuyền đau rạng vỡ
Nếu từ giã thuyền rồi biển chỉ còn sóng vỗ
Nếu phải cách xa em anh chỉ còn bão tố
Nếu phải cách xa em anh chỉ còn bão tố.

Bài thơ “Thư tình cuối mùa thu”

Cuối trời mây trắng bay
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng
Mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Mùa thu vào hoa cúc
Chỉ còn anh và em

Chỉ còn anh và em
Là của mùa thu cũ
Chợt làn gió heo may
Thổi về xao động cả:
Lối đi quen bỗng lạ
Cỏ lật theo chiều mây
Đêm về sương ướt má
Hơi lạnh qua bàn tay

Tình ta như hàng cây
Đã qua mùa gió bão
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ

Thời gian như là gió
Mùa đi cùng tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi
Chỉ còn anh và em

Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại…
– Kìa bao người yêu mới
Đi qua cùng heo may.

Bài hát “Thư tình cuối mùa thu”: nhạc Phan Huỳnh Điểu

Cuối trời mây trắng bay, lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng, mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả, theo dòng nước mênh mông
Mùa thu vàng hoa cúc, chỉ còn anh và em,
chỉ còn anh và em, là cuả mùa thu cũ
Chỉ còn anh và em…

Tình ta như hàng cây đã yên mùa bão gió
Tình ta như dòng sông đã yên ngày thác lũ
Thời gian như ngọn gió mùa đi cùng tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi, chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em cùng tình yêu ở lại…

Kìa bao người yêu mới đi qua cùng heo may
Chỉ còn anh và em cùng tình yêu ở lại
Chỉ còn anh và em cùng tình yêu ở lại…

Hữu Loan, nhà thơ chưa bao giờ có tập thơ riêng đc in. Nhưng ông vẫn là nhà thơ có nhiều tác phẩm đc yêu mến. bài thơ “Mầu tím hoa sim” của ông đã đc đông đảo bạn đọc biết đến và yêu quý. bài thơ đã đc rất nhiều nhạc sĩ phổ nhạc, có thể kể như các tác phẩm lấy lời trực tiếp như: Những đồi hoa sim, mầu tím hoa sim, chuyện hoa sim, áo anh sứt chỉ đường tà… hoặc cảm hứng cho những bài hát lấy ý như: Chuyện người em gái hái sim…
Có thể nói đây là một trong những bài thơ được phổ nhạc nhiều nhất.

Mầu tím hoa sim

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh.

Tôi là người chiến binh xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái,
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới,
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân,
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi!

Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh,
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê …

Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương tàn lạnh vây quanh …

Tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi
Em ơi!Giây phút cuối
Không được nghe nhau nói,
Không được trông thấy nhau một lần.

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa đèn khuya bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh từ chiến trường Đông Bắc,
Biết tin em gái mất,
Trước tin em lấy chồng.

Gió thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về,
Cỏ vàng chân mộ chí.

Chiều hành quân qua những đồi sim …
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chết sớm mẹ già chưa khâu
1949

Bài hát đc phổ nhạc xúc động nhất là của Phạm Duy, tựa ” Áo anh sứt chỉ đường tà” Thái Thanh ca, nghe tuyệt hay!

Bài thơ “Thời hoa đỏ” đi vào lòng người qua những câu thơ hay, sâu lắng. Nhà thơ Thanh Tùng đã để lại dấu ấn của mình vào vũ trụ một cách như thế! Nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc bài thơ này với cùng tên gọi và khiến phần cho bài thơ thêm vang xa. Ca sĩ Thái Bảo rất thành công khi ca bài này,là bài thơ nhạc được yêu thích của nhiều người.

Thời hoa đỏ

Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao
Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng
Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh
Chẳng chịu cho lòng ta yên
Anh mải mê về một màu mây xa
Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ
Về cái vẻ thần kỳ của ngày xưa
Em hát một câu thơ cũ
Cái say mê một thời thiếu nữ
Mỗi mùa hoa đỏ về
Hoa như mưa rơi rơi
Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi
Như máu ứa một thời trai trẻ
Hoa như mưa rơi rơi
Như tháng ngày xưa ta dại khờ
Ta nhìn sâu vào mắt nhau
Mà thấy lòng đau xót
Trong câu thơ của em
Anh không có mặt
Câu thơ hát về một thời yêu đương tha thiết
Anh đâu buồn mà chỉ tiếc
Em không đi hết những ngày đắm say
Hoa cứ rơi ồn ào như tuổi trẻ
Không cho ai có thể lạnh tanh
Hoa đặt vào lòng chúng ta một vệt đỏ
Như vết xước của trái tim
Sau bài hát rồi em lặng im
Cái lặng im rực màu hoa đỏ
Anh biết mình vô nghĩa đi bên em
Sau bài hát rồi em như thể
Em của thời hoa đỏ ngày xưa
Sau bài hát rồi anh cũng thế
Anh của thời trai trẻ ngày xưa.

Thơ của một họa sĩ thì hiển nhiên nó phải có một hình tượng, hình tượng đó phải độc đáo. Đáp ứng đc điều kiện đó, nó trở thành bài thơ có giá trị trường tồn cùng thời gian. Đó chính là bài thơ ” Cuối cùng cho một tình yêu” của họa sĩ Trịnh Cung. Bài thơ đã đc nhạc sĩ Trịnh Công Sơn phổ nhạc cùng tựa đề.

Cuối cùng cho một tình yêu

Ừ thôi em về
Chiều mưa giông tới
Bây giờ anh vui
Hai bàn tay đói
Bây giờ anh vui
Hai bàn chân mỏi
Thời gian nơi đây
Bây giờ anh vui
Một linh hồn rỗi
Tình yêu xứ này
Một lần yêu thương
Một đời bão nổi
Giã từ, giã từ
Chiều mưa giông tới
Em ơi em ơi
Sầu thôi xuống đầy
Làm sao em nhớ
Mưa ngoài sông bay
Lời ca anh nhỏ
Nỗi lòng anh đây.

Nàng bao giờ cũng ở tuổi hai mươi, yêu anh hào hiệp…

Thật cảm động và cao thượng. Bài thơ “Không đề” của nhà thơ Quang Dũng chính là như vậy! Bài thơ đã được ba nhạc sĩ như Phạm Trọng Cầu, Khúc Dương,Việt Dzũng phổ thành nhạc có tựa đề”Em mãi là hai mươi tuổi”.
Mình rất yêu thích bài thơ này, coi nó như là một trong những đỉnh cao của thơ tình, cũng như đạo làm người.

Bài thơ: Không đề

Em mãi là hai mươi tuổi
Ta mãi là mùa xanh xưa
Những cây ổi thơm ngày ấy
Và vầng hoa ngâu mưa thu
Tóc anh đã thành mây trắng
Mắt em dáng thời gian qua

Ngày nay ngày nay
Chuyện đẹp qua đi
Thời gian gấp ruổi
Còn lại chúng ta
Em mãi là hai mươi tuổi
Ta mãi là mùa xanh xưa
Giữ trọn tình người cho đẹp

Ơi! Con đường xưa
Những mùa trút lá
Cành bàng mồ côi
Cổng cũ rêu phong
Ý đợi người

Ơi! Con đường xưa
Men vườn ổi thơm
Em tuổi hai mươi
Yêu anh hào hiệp

Bỏ em anh đi
Đường hai mươi năm
Dài bao chia ly
Có những vợ chồng

Không là trăm năm
Mà tình thương yêu

Sông ơi! Dài sao
Rộng ơi! Biển cả
Thôi em nước mắt
Đừng rơi lã chã!

Em mãi là hai mươi tuổi
Ta mãi là mùa xanh xưa
Giữ trọn tình người cho đẹp.

“Thương nhớ ơ hờ… thương nhớ ai. Sông xa từng lớp lớp mưa dài, mắt em… ơi mắt em xưa có sầu cô quạnh. Khi chớm thu về, khi chớm thu về một sớm mai…”
Đó là những lời ca tuyệt hay trong bài hát “Đôi mắt người Sơn Tây” của nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc. Bài hát này đã được viết dựa trên hai bài thơ” Đôi bờ” và “Đôi mắt người Sơn Tây” của nhà thơ Quang Dũng. Hãy thưởng thức hai bài thơ tuyệt phẩm này, cùng câu chuyện tình tuyệt đẹp của nó.

Bài thơ: Đôi bờ

Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai ?
Sông xa từng lớp lớp mưa dài
Mắt kia em có sầu cô quạnh
Khi chớm heo về một sớm mai ?

Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự
Kinh thành em có nhớ bên tê ?
Giăng giăng mưa bụi quanh phòng tuyến
Hiu hắt chiều sông lạnh bến tề.

Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa
Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ
Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm mơ

Xa quá rồi em người mỗi ngả
Đôi bờ đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào ?

Bài thơ: Đôi mắt người Sơn Tây

Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì.

Vầng trán em vương trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương ?

Mẹ tôi, em có gặp đâu không
Bao xác già nua ngập cánh đồng,
Tôi cũng có một thằng con bé dại
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông!

Từ độ thu về hoang bóng giặc
Điêu tàn ôi lại nối điêu tàn!
Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ
Em đã bao ngày lệ chứa chan ?

Đôi mắt người Sơn Tây
U ẩn chiều lưẩn lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây

Cho nhẹ lòng nhớ thương
Em mơ cùng ta nhé
Bóng ngày mai quê hương
Đường hoa khô ráo lệ.

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Lên núi Sài Sơn ngắm lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoát thổi đêm trăng.

Bao giờ tôi gặp em lần nữa
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
Đã hết sắc mầu chinh chiến cũ
Còn có bao giờ em nhớ ta?

Bài thơ này có rất nhiều dị bản do chính tác giả sửa trong các bản in khác nhau.lúc nào rảnh mình bổ sung các dị bản ấy! bản Hoàng Oanh ngâm có vẻ ổn nhất.

Về cuối đời,nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ nhạc lại bài thơ ” Tây Tiến” của thi nhân Quang Dũng. Nói phổ nhạc lại, vì theo nhạc sĩ cho biết, bản thảo đầu tiên đã bị thất lạc nửa thế kỷ trước.

Cùng với bài thơ “Đôi mắt người Sơn Tây”, bài thơ Tây Tiến được rất nhiều người biết đến.

Bài thơ: Tây Tiến

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi

Đi vào thơ, rồi từ thơ đi vào nhạc. Nghệ danh “Phố núi” kể từ đó đã xây dụng cho mình một tên tuổi lãng mạn trong thi ca và ngoài đời thực, nơi ấy là Pleiku! Vũ Hữu Định nổi danh với bài thơ ” Còn chút gì để nhớ”, Phạm Duy chắp cánh cho bài thơ bằng cách thêm vào những dòng nhạc,thành bài hát cùng tên.

Bài thơ: Còn chút gì để nhớ

Phố núi cao phố núi đầy sương
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
Anh khách lạ đi lên đi xuống
May mà có em đời còn dễ thương

Phố núi cao phố núi trời gần
Phố xá không xa nên phố tình thân
Đi dăm phút đã về chốn cũ
Một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng

Em Pleiku má đỏ môi hồng
Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
Nên mắt em ướt và tóc em ướt
Da em mềm như mây chiều trong

Xin cảm ơn thành phố có em
Xin cảm ơn một mái tóc mềm
Mai xa lắc bên đồi biên giới
Còn một chút gì để nhớ để quên.

Có điều gì đó nhẹ nhàng, êm dịu, đi vào lòng người mãi mãi không bao giờ quên. Đó chính là bài thơ “Hương thầm” của nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn.Mối tình đầu đã thành tượng đài bất tử của tình yêu, không nói nhưng mãi mãi đi theo. Nhạc sĩ Vũ Hoàng đã phổ nhạc bài thơ này với bài hát cùng tên gọi.

Bài thơ: Hương thầm

Cửa sổ hai nhà cuối phố
Không hiểu vì sao không khép bao giờ.
Đôi bạn ngày xưa học cùng một lớp
Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa.

Giấu một chùm hoa sau chiếc khăn tay,
Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm,
Bên ấy có người ngày mai ra trận

Họ ngồi im không biết nói năng chi
Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi,
Nào ai đã một lần dám nói ?

Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối
Anh không dám xin,
Cô gái chẳng dám trao
Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao
Không dấu được cứ bay dịu nhẹ.

Cô gái như chùm hoa lặng lẽ
Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu.

(Anh vô tình anh chẳng biết điều
Tôi đã đến với anh rồi đấy…)

Rồi theo từng hơi thở của anh
Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực
Anh lên đường
Hương thơm sẽ theo đi khắp

Họ chia tay
Vẫn chẳng nói điều gì
Mà hương thầm thơm mãi bước người đi.

Trong tim ai cũng có một quê hương, là nơi êm đềm ẩn náu của tâm hồn. Là nơi ý thác của tâm linh, gửi tấm lòng ở đó dù có đi muôn nơi. Bài thơ “Quê hương- Bài học đầu cho em” của Đỗ Trung Quân đã nói lên tâm hồn của nhiều người, nhiều thế hệ về quê hương. Bài thơ được nhạc sĩ Giáp Văn Thạch phổ nhạc có tựa đề là Quê hương.

Bài thơ Quê Hương – Bài Học Đầu Cho em

Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông

Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Là hương hoa đồng cỏ nội
Bay trong giấc ngủ đêm hè.

Quê hương là vòng tay ấm
Con nằm ngủ giữa đêm mưa
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài thềm

Quê hương là vàng hoa bí
Là hồng tím giậu mồng tơi
Là đỏ đôi bờ dâm bụt
Màu hoa sen trắng tinh khôi

Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương có ai không nhớ….

Ai chả có một thuở học trò, ai cũng có những cánh hoa phượng bay, ai cũng…
Nhà thơ Đỗ Trung Quân với bài thơ ” Chút tình đầu” cùng đi vào lòng người như thế ấy. Bài thơ được nhạc sĩ Vũ Hoàng phổ nhạc có tựa đề ‘Phượng hồng”.

Bài thơ: Chút tình đầu

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
Em chở mùa hè của tôi đi đâu?
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám
Thuở chẳng ai hay thầm lặng – mối tình đầu

Mối tình đầu của tôi có gì?
Chỉ một cơn mưa bay bay ngoài cửa lớp
Là áo người trắng cả giấc ngủ mê
Là bài thơ cứ còn hoài trong cặp
Giữa giờ chơi mang đến lại mang về

Mối tình đầu của tôi là anh chàng tội nghiệp
Mùa hạ leo cô trường khắc nỗi nhớ lên cây
Người con gái mùa sao biết có còn gặp lại
Ngày khai trường áo lụa gió thu bay…

Mối tình đầu của tôi có gì?
Chỉ một cây đàn nhỏ
Rất vu vơ nhờ bài hát nói giùm
Ai cũng hiểu – chỉ một người không hiểu
Nên có một gã khờ ngọng nghịu mãi….thành câm
Những chiếc giỏ xe trưa nay chở đầy hoa phượng
Em hái mùa hè trên cây
Chở kỷ niệm về nhà
Em chở mùa hè đi qua, còn tôi đứng lại
Nhớ ngẩn người tà áo lụa nào xa.

Nhà thơ Kiên Giang có bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”, là câu chuyện tình giang dở. Tại ai? tại vì …
Những hồi ức đẹp đẽ của ngày xưa.

Hoa trắng thôi cài trên áo tím

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa xoá không gian
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương, nóc giáo đường

Mười năm trước em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh

***

Trường anh ngó mặt giáo đường
Gác chuông thương nhớ lầu chuông
U buồn thay! chuông nhạc đạo
Rộn rã thay! chuông nhà trường

Lần lữa anh ghiền nghe tiếng chuông
Làm thơ sầu mộng dệt tình thương
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường

Mỗi lần tan lễ chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thuồng, anh đứng lại không đi

***

Sau mười năm lẻ, anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu qui

Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm khối tuyệt tình
– Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Thôi còn đâu nữa tuổi băng trinh

Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang cách mấy sông
Anh vẫn yêu em người áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng

***

Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ màu áo tím, người yêu cũ
Giữ cả lầu chuông, nóc giáo đường

Mặc dù em chẳng còn xem lễ
Ở giáo đường u tịch chốn xưa
Anh vẫn giữ lầu chuông gác thánh
Nghe chuông truy niệm mối tình thơ

Màu gạch nhà thờ còn đỏ thắm
Như tình nồng thắm thuở ban đầu
Nhưng rồi sau chuyến vu qui ấy
Áo tím nàng thơ đã nhạt màu

***

Ba năm sau chiếc xe hoa cũ
Chở áo tím về trong áo quan
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết vòng hoa tang

Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đoá hoa màu trắng
Anh kết tình tang gởi xuống mồ

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Không còn đứng nép ở lầu chuông
Những khi chuông đổ anh liên tưởng
Người cũ cầu kinh giữa giáo đường

“Lạy Chúa! con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự trên trời
Trong lòng con, giữa màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi!”
14-11-1957

Sau một năm, tác giả đã sửa lại bài thơ này, ngỡ như là bài thơ hoàn toàn mới. theo mình không hay bằng bài thơ nguyên gốc.
bài thơ sửa lại năm 1958:

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy quê hương
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương nóc giáo đường

Mười năm trước em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em còn nguyên vẹn tuổi băng trinh

Quen biết nhau qua tình lối xóm
Cổng trường đối diện ngó lầu chuông
Mỗi lần chúa nhật em xem lễ
Anh học bài ôn trước cổng trường

Thuở ấy anh hiền và nhát quá
Nép mình bên gác thánh lầu chuông
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường

Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng, anh đứng lại không đi

Sau mười năm lẽ anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi, chuông xớm đạo
Khi nàng áo tím bước vu quy

Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm kín khối sầu!
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Giữ làm chi kỹ vật ban đầu!

Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang cách mấy sông
Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng

Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ màu áo tím, cành hoa trắng
Giữ cả trường xưa, nóc giáo đường

Giặc chiếm lầu chuông xây ổ súng
Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ
Anh đem gạch nát, xây tường lủng
Chiếm lại lầu chuông, giết kẽ thù

Nhưng rồi người bạn đồng song ấy
Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ
Chuông đổ ban chiều, hồi vĩnh biệt
Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ

Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Mà cài trên nắp áo quan tài
Điểm tô công trận bằng hoa trắng
Hoa tuổi học trò, mờ thắm tươi

Xe tang đã khuất nẽo đời
Chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu
Từ đây tóc rũ khăn sô
Em cài hoa trắng lên mồ người xưa.
28/ 5/ 58.

Bài thơ được rất nhiều nhạc sĩ phổ nhạc, nó mang các tựa như: Hoa trắng thôi cài trên áo tím, Hồi chuông xóm đạo, Chuyện tình hoa trắng… hoặc phổ nhạc lấy ý từ bài thơ như: Người em xóm đạo…

nhà thơ Hữu Thỉnh với tác phẩm “Thơ viết ở biển” mang đến một sự đợi chờ lãng mạn. Nhạc sĩ Phú Quang đã phổ nhạc bài thơ này với tên gọi ” Biển, nỗi nhớ và em”.

Thơ Viết Ở Biển

Anh xa em
Trăng cũng lẻ
Mặt trời cũng lẻ
Biển vẫn cậy mình dài rộng thế
Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn
Gió không phải là roi mà đá núi phải mòn
Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím
Sóng chẳng đi đến đâu nếu không đưa em đến
Vì sóng đã làm anh
Nghiêng ngả
Vì em…

Cô lái đò, hình ảnh quen thuộc của làng quê ngày xưa. Nhà thơ của Quê, Nguyễn Bính có bài thơ” Cô lái đò” rất hay, khắc họa một cuộc tình duyên cái thời xa xưa ấy… Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc đã phổ nhạc bài thơ này với cùng tên gọi.

Cô lái đò

Xuân đã đem mong nhớ trở về
Lòng cô gái ở bên sông kia
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước
Trên bến cùng ai đã nặng thề

Nhưng rồi người khách tình quân ấy
Đi biệt không về với bến sông
Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi
Mấy lần cô gái mỏi mòn trông

Xuân này đến nữa đã ba xuân
Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần
Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi
Cô đành lỗi ước với tình quân

Bỏ thuyền, bỏ bến, bỏ dòng sông
Cô lái đò kia đi lấy chồng
Vắng bóng cô em từ dạo ấy
Để buồn cho những khách sang sông.

Xuân sắp đến rồi, hãy đọc lại bài thơ “Gái xuân” của Nguyễn Bính và cùng cảm nhận xuân từ cái thuở xa xưa ấy. Bài thơ đã được người tài hoa tay ngang- Từ Vũ phổ nhạc với cùng tên gọi Gái xuân.

Bài thơ Gái xuân

Em như cô gái hãy còn xuân,
Trong trắng thân chưa lấm bụi trần,
Xuân đến, hoa mơ, hoa mận nở.
Gái xuân giũ lụa trên sông Vân.

Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng.
Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng,
Đôi tám xuân đi trên mái tóc.
Đêm xuân cô ngủ có buồn không?

Khi phổ nhạc, bởi vì bài thơ ngắn quá, Từ Vũ đã mạn phép tác giả thêm vào một khổ 3 câu thơ, nghe rất Nguyễn Bính!
Xuân đi. Xuân đến hãy còn xuân
Cô gái trông xuân đến bao lần
Xuân đến hoa mai hoa mận nở
“Gái xuân giũ lụa trên sông Vân”

Mùa xuân, một trong những bài hát mang không khí xuân đến suốt 12 tháng trong năm, bắt nguồn từ bài thơ này. Đó chính là bài thơ “Mùa chim én bay” của nhà thơ,nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền. Người phổ nhạc cho bài thơ, trở thành bài hát có cùng tựa đề là nhạc sĩ Hoàng Hiệp. bài thơ hay, nên bài hát này bất kỳ ai hát, hay chính bạn hát, đều rất hay!

Bài thơ Mùa chim én bay

Khi gió đồng thơm ngát
Hương lúa chín ngọt ngào
Rợp trời chim én liệng
Cho lòng anh nôn nao

Tiếng chim vườn xôn xao
Sắc hoa vàng ngây ngất
Nắng trời đường tươm mật
Nên bỗng vàng long lanh

Cây nẩy đầy chồi xanh
Nhiều như niềm khát vọng
Mây trắng bay yên lành
Đẹp như điều mơ mộng

Em chợt đến bên anh
Dịu dàng như cơn gió
Và lòng anh để ngỏ
Cho tình em mơn man

Em là cánh én mỏng
Chao xuống giữa đời anh
Cho lòng anh xao động
Thành mùa xuân ngọt ngào

Én về én lại xa
Mùa xuân không ở lại
Bên anh em gần mãi
Nên đời vẫn xuân trào

Ngày xuân, đi chùa lễ phật cầu an. Của thiền rộng mở, này duyên hữu duyên…
Ngày xưa có một đoạn tình duyên đi vào truyền thuyết, ấy là chuyện chàng Từ Thức lên tiên, cỡi chiếc áo quan, đền giùm cho nàng Giáng Tiên cành hoa bị gẫy…
Ngày xưa có chàng thi sĩ ở cõi thiền, tên chàng là Phạm Thiên Thư, viết nên bài thơ thiền để đời,”Động hoa vàng”. Bài thơ đã được nhạc sĩ Phạm Duy chọn lọc và đưa về lại cõi trần gian với tựa đề”Đưa em tìm động hoa vàng”.

Bài thơ Động hoa vàng

1
Mười con nhạn trắng về tha
Như Lai thường trụ trên tà áo xuân
Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền
Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm

2
Xe lên bụi quán hoa đường
Qua sương trắng dậm phố phường úa thu
Tiếng chim ướt sũng hai mùa
Hạt rơi thêm lạnh hững hờ mây qua

3
Dế buồn dỗ giấc mù sa
Âm nao lãng đãng tơ ngà sương bay
Người về sao nở trên tay
Với hài đẫm nguyệt thêm dài gót mơ

4
Con khuyên nó hót trên bờ
Em thay áo tím thờ ơ giang đầu
Tưởng xưa có kẻ trên lầu
Ngày xuân gieo nhẹ trái cầu gấm hoa

5
Tóc dài cuối nội mây xa
Vàng con bướm nhụy lẫn tà huy bay
Dùng dằng tay lại cầm tay
Trao nhau khăn lụa nhớ ngày sầu đưa

6
Từ chim thuở núi xa xưa
Về đây rớt lại hạt mơ cuối rừng
Từ em khép nép hài xanh
Về qua dục nở hồn anh đóa sầu

7
Ừ thì mình ngại mưa mau
Cũng đưa anh đến bên cầu nước xuôi
Sông này chảy một dòng thôi
Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông

8
Ngày xưa em chửa theo chồng
Mùa xuân em mặc áo hồng đào rơi
Mùa thu áo biếc da trời
Sang đông em lại đổi dời áo hoa

9
Đường về hái nụ mù sa
Đưa theo dài một nương cà tím thôi
Thôi thì em chẳng yêu tôi
Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng

10
Sao em bước nhỏ ngập ngừng
Bên cầu sương rụng mấy từng mai mơ
Đêm về thắp nến làm thơ
Tiếng chân còn vọng nửa tờ thơ tôi

11
Đôi uyên ương trắng bay rồi
Tiếng nghe tha thiết bên trời chớm đông
Nửa đêm đắp mảnh chăn hồng
Lại nghe hoa lạnh ngoài đồng thiết tha

12
Con chim chết dưới cội hoa
Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao
Mai anh chết dưới cội đào
Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu

13
Tường thành cũ phiến bia xưa
Hồn dâu biển gọi trong cờ lau bay
Chiều xanh vòng ngọc trao tay
Tặng nhau khăn lụa cuối ngày ráng pha

14
Đêm dài ươm ngát nhụy hoa
Chim kêu cửa mộ trăng tà gõ bia
Em ơi rủ tóc mây về
Nhìn trăng nỡ để lời thề gió bay

15
Đợi nhau tàn cuộc hoa này
Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ
Tìm trang lệ ố hàng thơ
Chữ xưa quyên dục bây giờ chim di

16
Mây xưa cũng bỏ non về
Em xưa cũng giã câu thề đó đây
Nhớ đành biết mấy tầm tay
Lông chim biển bắc hoa gầy bãi đông

17
Đợi ai trăng rõi hoa buồn
Vắng em từ thuở theo buồm gió xuôi
Chiều chiều mở cổng mây trôi
Chênh vênh núi biếc mắt ngời sao hôm

18
Thế thôi phố bụi xe hồng
Hồ ngăn ngắt đục đôi dòng nhạn bay
Đưa nhau đấu rượu hoa này
Mai đi dã hạc thành ngoài cuồng ngâm

19
Xuống non nhớ suối hoa rừng
Vào non nhớ kẻ lưng chừng phố mây
Về thành nhớ cánh chim bay
Xa thành thương vóc em gầy rạc hoa

20
Hạc xưa về khép cánh tà
Tiếng rơi thành hạt mưa sa tần ngần
Em về hong tóc mùa xuân
Trăng trầm hương tỏa dưới chân một vành

21
Em nằm ngó cội thu xanh
Môi ươm đào lý một nhành đôi mươi
Về em vàng phố mây trời
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân

22
Thì thôi tóc ấy phù vân
Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương
Thì thôi mù phố xe đường
Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi

23
Gầy em vóc cỏ mây dời
Tay em mai nở chân trời tuyết pha
Ngày dài ngựa soải cầm ca
Trán cao ngần nửa trăng tà ngậm sương

24
Xe lăn bánh nhỏ bụi hường
Lao xao vó rụng trên đường phố mây
Mưa giăng ráng đỏ hao gầy
Đôi con ngựa bạch ném dài tuyết sa

25
Chim nào hát giữa thôn hoa
Tay nào hong giữa chiều tà tóc bay
Lụa nào phơi nắng sông tây
Áo xuân hạ nọ xanh hoài thu đông

26
Con chim mùa nọ chưa chồng
Cũng bay rời rã trong dòng xuân thu
Từ em giặt áo đông tơ
Nay nghe lòng suối hững hờ còn ngâm

27
Thuyền ai buông lái đêm rằm
Sông thu ngân thoảng chuông trăng rì rào
Cửa sương nhẹ mở âm vào
Lay nghiêng bầu nậm rượu đào trầm ca

28
Lên non cuốc sỏi trồng hoa
Xuôi thuyền lá trúc la đà câu sương
Vớt con cá nhỏ lòng đòng
Mải vui lại thả xuống dòng suối tơ

29
Vào non soi nguyệt tầm rùa
Đọc trên mai nhỏ xanh tờ lạc thư
Thả rùa lại đứng ưu tư
Muốn qua hang động sống như nguyệt rùa

30
Em nghiêng nón hạ cầu mưa
Sông ngâm mây trắng nước chưa buồn về
Hoa sầu cỏ cũng sầu chia
Lơ thơ xanh tụ đầm đìa vàng pha

31
Đất nam có lão trồng hoa
Mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông
Lại đem bầu ngọc ra trồng
Bầu khô cất nậm rượu hồng uống xuân

32
Người vui ngựa chợ xe thành
Ta leo cầu trúc bên ghềnh thác rơi
Theo chân chim gặp mây trời
Lại qua khói động hỏi người tu non

33
Bông hoa trắng rụng bên đường
Cánh thơm thông điệp vô thường tuyết băng
Con ong nhỏ mới ra giàng
Cũng nghiêng đôi cánh nhụy vàng rụng rơi

34
Mùa xuân bỏ vào suối chơi
Nghe chim hát núi gọi trời xuống hoa
Múc bình nước mát về qua
Ghé thôn mai nọ hỏi trà mạn xưa

35
Chim từ bỏ động hoa thưa
Người từ tóc biếc đôi bờ hạ đông
Lên non kiếm hạt tơ hồng
Đập ra chợt thấy đôi dòng hạc bay

36
Người về đỉnh núi sương tây
Ta riêng nằm lại đợi ngày mướp hoa
Bến nam có phố giang hà
Nghiêng nghiêng nậm ngọc dốc tà huy say

37
Tình cờ anh gặp nàng đây
Chênh chênh gót nguyệt vóc gầy liễu dương
Qua sông có kẻ chợt buồn
Ngó hoa vàng rụng bên đường chớm thu

38
Mốt mai em nhớ bao giờ
Bãi dâu vãn mộ cho dù sắc không
Chân chim nào đậu bên cồn
Ngựa xuôi có kẻ lại buồn dấu chim

39
Đợi người cuộc mộng thâu đêm
Sông Ngân trở lệ dài thêm dòng nhòa
Anh nằm gối cỏ chờ hoa
Áo em bạch hạc la đà thái hư

40
Em từ rửa mặt chân như
Nghiêng soi hạt nước mời hư không về
Thâu hương hiện kính bồ đề
Phấn son chìm lắng hạt mê luân hồi

41
Ta về rũ áo mây trôi
Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan
Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say

42
Ngựa xưa qua ải sương này
Còn nghe nhạn lạc kêu hoài bãi sông
Nước xuôi gờn gợn mây hồng
Tiếng ca lạnh thấu hoàng hôn giục đò

43
Hoa đào tưởng bóng đào xưa
Thuyền sang bến nọ dòng mờ khói vơi
Hoa dương vàng nhạt sầu người
Ta về uống nước sông khuây khỏa lòng

44
Đưa nhau đổ chén rượu hồng
Mai sau em có theo chồng đất xa
Qua đò gõ nhịp chèo ca
Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

45
Khăn trăng từ độ trao tay
Nửa tan cát suối nửa mài nghiên sương
Mốt mai lòng có nghe buồn
Mảnh trăng hiện hóa thiên đường cõi chơi

46
Nhện cheo leo mắc tơ trời
Dòng chim qua hỏi mộ người tà dương
Đánh rơi hạt mận bên đường
Xuân sau mọc giữa chân thường cội hoa

47
Nụ vàng hương rộ tháng ba
Nửa đêm dậy ngó trăng tà tiêu tương
Chẳng như cội liễu bờ dương
Tóc xanh mướt giữa vô thường sắc không

48
Mai nào thơm ngát thu đông
Lược em chải rụng đôi dòng tơ xanh
Đôi chim hồng yến trên cành
Ngẩn ngơ quên rỉa lông mình điểm trang

49
Mùa xuân mặc lá trên ngàn
Mùa thu mặc chú bướm vàng tương tư
Động nam hoa có thiền sư
Đổi kinh lấy rượu tâm hư uống tràn

50
Nến khuya lửa hắt hiu vàng
Trang kinh lác đác đôi hàng nhạn sa
Ý nào hóa hiện ngàn hoa
Chữ nào cẩn nguyệt trên tà áo ni

51
Dỗ non suối giọng thầm thì
Độ tam thế mộng xá gì vóc hoa
Ni cô hiện giữa ta bà
Búp tay hồng ngọc nâng tà áo trăng

52
Tiếng chim trong cõi vô cùng
Nở ra bát ngát trên rừng quế hương
Tiếng em hát giữa giáo đường
Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng

53
Đố ai nhớ hết hoa vàng
Đố ai uống cạn sương tàng trăng thâu
Đố ai tát cạn mạch sầu
Thì ta để tóc lên cầu đón ai

54
Em về sương đẫm hai vai
Dấu chân là cánh lan dài nở đêm
Từ em hé nụ cười huyền
Mùa thu đi mất trên miền cỏ hoa

55
Guốc mòn lẫn tiếng sơn ca
Sư về chống gậy trúc qua cầu này
Ngó bờ suối lạnh hoa bay
Thương sao giòng nước trôi hoài thiên thanh

56
Có con cá mại cờ xanh
Bơi lên nguồn cội tắm nhành suối xuân
Nửa dòng cá gặp phù vân
Hỏi sao mây bỏ non thần xuống chơi

57
Dù mai lều cỏ chân trời
Khơi hương lò cũ khóc người trong thơ
Em còn ửng má đào tơ
Tóc xưa dù có bây giờ sương bay

58
Lên non ngắt đóa hoa này
Soi nghiêng đáy suối bóng ai nhạt nhòa
Nom hoài chẳng rõ là ta
Tắm xong khoác áo hát ca về làng

59
Tay đeo vòng ngọc xênh xang
Áo em bay giải tơ vàng thiết tha
Bước chân tìm chán ta bà
Ngừng đây nó hỏi: đâu là vô minh

60
Hỏi con vạc đậu bờ kinh
Cớ sao lận đận cái hình không hư
Vạc rằng: thưa bác thiên thư
Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ

61
Nước đi từ thủa bao giờ
Dòng xuôi người đứng trên bờ ngó xuôi
Chừng đâu dưới bến hoa tươi
Buộc thuyền xưa đã có người ngó sông

62
Từ hôm em bỏ theo chồng
Áo trắng em cất áo hồng em mang
Chiều nay giở lại bàng hoàng
Mười năm áo cũ hoe vàng lệ xanh

63
Đôi chim nho nhỏ trên cành
Giục nhau đan tổ cỏ xanh bên đường
Nửa đời mây nước du phương
Thiền sư ngắt cỏ cúng dường phật thân

64
Gò chiều ùn bụi sương lên
Hỏi ra mới biết nơi yên cành vàng
Bên mồ chồn cáo đùn hang
Chim kêu như lảnh tiếng nàng ngân nga

65
Cuối xuân ta lại tìm qua
Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn
Sớm thu ta đánh đò sang
Bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa

66
Trúc thưa cổng gió ơ hờ
Em ra tựa cửa nghĩ chưa lấy chồng
Sông ơi xanh nhé một dòng
Mùa xuân cắp rổ ra đồng vớt hoa

67
Đường dài xao xác chim ca
Người còn khoác nón theo tà dương nao
Ván cờ bày trắng bông đào
Sao lên núi thẫm trăng vào chén không

68
Đồi thu vắt suối mây hồng
Chim xanh lác đác ngược dòng hoa tiên
Bấc sầu lửa lụn chờ em
Lệ xưa ai đã đổ nên dầu này

69
Đón em như ngóng chim trời
Bãi xuân sớm đậu chiều dời khói thu
Em còn áo trắng ngày xưa
Trong anh muôn thủa bao giờ lệ hoen

70
Khơi trầm thơm tụng kinh hiền
Máu xuân mạch lạnh trong miền xương da
Vườn chùa có nụ hàm ca
Sương khuya: pháp bảo trăng tà: vô môn

71
Mai tươi cánh nở bên cồn
Mưa bay lấm tấm cành hương trắng ngời
Thu đông tàng ẩn kho trời
Hạt rơi rụng ngọc cánh rời rã hoa

72
Cổng làng mở cánh sao sa
Nhã lan loáng thoáng tiếng gà xóm mai
Lên chùa dâng dĩa hoa nhài
Chợt viền trăng lạnh trên hài tổ sư

73
Chuông ngân chiều lặng trầm tư
Tiếng lơi đẫm hạt thiên thư bềnh bồng
Điệu về tay giấu chùm bông
Gót chân đất phật trổ hồng hằng sa

74
Bóng trăng tịch mặc hiên nhà
Thành đàn nẩy hạt tỳ bà quyện hương
Gió thu từ độ tha phương
Về trên hốc gỗ bên đường lặng im

75
Áo em vạt tím ngàn sim
Nửa nao nức gọi nửa im lặng chờ
Yêu nhau từ độ bao giờ
Gặp đây giả bộ hững hờ khói bay

76
Tình cờ như núi gặp mây
Như sương đậu cánh hoa gầy tiêu dao
Tỉnh ra thì giấc chim bao
Chuyện mười năm cũ lại nao nao lòng

77
Cành sen lá chĩu sương trong
Áo ni xám vạt trời hong buồn về
Tay nào nghiêng nón thơ che
Tay nào lần chuỗi bồ đề xanh xao

78
Đôi mày là phượng cất cao
Đôi môi chín ửng khoé đào rừng mơ
Tiếng nàng vỡ bạc thành thơ
Tụng dòng kinh tuệ trên tờ khói mây

79
Tóc em rừng ngát hương say
Tay em dài nụ hoa lay dáng ngà
Mắt xanh bản nguyện di đà
Bước trầm hương nhẹ lẫn tà dương chim

80
Mắt nàng ru chiếc nôi êm
Ru hồn tôi ngủ ngàn đêm tuyệt vời
Em là hoa hiện dáng người
Tôi là cánh bướm cung trời về say

81
Một đêm nằm ngủ trong mây
Nhớ đâu tiền kiếp có cây hương trời
Cây bưởi trắng ngát hương đời
Nụ là tay phật chỉ người qua sông

82
Non xanh khoác áo sương hồng
Con chim điểm tuyết ngoài đồng vụt bay
Tiếng kêu lạnh buốt lòng tay
Ngón buông lại chợt tuôn đầy lòng hoa

83
Em bên cửa chuốt tay ngà
Cội lan đông mặc nở qua mấy nhành
Ngày em ướp áo hồ xanh
Con uyên tha thiết trên cành gọi thu

84
Ni về khép cửa chùa tu
Sớm mai mở cổng quét thu vườn hồng
Thu vương ngọn chổi đôi bông
Thoảng dâng hương lạ bướm vòng cánh duyên

85
Sư lên chót đỉnh rừng thiền
Trong tim chợt thắp một viền tà dương
Ngón tay nở nụ đào hương
Cầm nghiêng tịnh độ một phương diệu vời
86
Một dòng hoa nổi trên trời
Một dòng hoa nở trong người trầm tư
Cánh nào mở cõi không hư
Phiến băng tuyết khảm một tờ kim cang

87
Thư em ướp nụ lan vàng
Lời em gió núi chiên đàn thoảng xa
Áo em phất cõi di đà
Ngón chân em nở cánh hoa đại từ

88
Chênh vênh đầu trượng thiền sư
Cửa non khép ải sương mù bóng ai
Non xanh ướm hỏi trang đài
Trăm năm còn lại dấu hài động hoa

89
Ngày xưa bên dậu vàng hoa
Chiều chiều kê chõng nằm ra ngó trời
Năm sau em bỏ đi rồi
Ta về ngồi lắng mưa rơi giậu buồn

90
Trên nền gạch nẻ rêu phong
Xưa phơi nhã điệu giờ hong đóa quì
Trẻ đào bãi cỏ xanh rì
Được thanh kiếm quỉ bao kỳ thu han

91
Non đem nhạn nhốt trong thành
Cho sông chưa trở yếm xanh dưới cầu
Người còn dệt lụa tằm dâu
Đêm nghe mưa rụng thiên thâu ngoài giàn

92
Núi nghiêng suối vắt tơ đàn
Nhìn ngoài thạch động mưa vàng lưa thưa
Nghiêng bình trà nhớ hương xưa
Từ vàng hoa nọ bây giờ vàng hoa

93
Sáng nghe lan rụng mái nhà
Chừng như mưa nhẹ núi xa mùa này
Đường về mù mịt ngàn mây
Về nam đôi cánh chim bay xạc xào

94
Mây dù chẳng chất non cao
Đường về dù chẳng sông đào nông sâu
Đêm đêm lòng dục nẻo sầu
Thềm trăng ngỡ tưởng hoa cau rụng thầm

95
Nhớ cha giọt lệ khôn cầm
Dưới trăng lấp lánh như trâm vân quỳnh
Nghiêng ly mình cạn bóng mình
Tay ôm vò nguyệt một bình mây bay

96
Gối tay nệm cỏ nằm say
Gõ vào đá tụng một vài biển kinh
Mai sau trời đất thái bình
Về lưng núi phượng một mình cuồng ca

97
Gây giàn thiên lý vàng hoa
Lên non cắt cỏ lợp nhà tụ mây
Xuống đầm tát cá xâu cây
Bới khoai vùi lửa nằm dài nghe chim

98
Khách xa nhớ đến nhau tìm
Lên đồi trẩy một giỏ sim làm quà
Hứng nước suối thết bình trà
Hái bầu nấu bát canh hoa cười khàn

99
Vào hang núi nhập niết bàn
Tinh anh nở đóa hoa vàng cửa khe
Mai sau thí chủ nào nghe
Tìm lên xin hỏi một bè mây xanh

100
Hoa vàng ta để chờ anh
Hiện thân ta hát trên cành tâm mai
Trần gian chào cõi mộng này
Sông Ngân tìm một bến ngoài hóa duyên.
1971

Có những bóng hồng thấp thoáng trong dĩ vãng… người con gái không rõ mặt, chỉ thấy bờ vai, ẩn hiện trong nỗi nhớ, ai cũng có…
Có người con gái họ Hoàng, đi vào nỗi nhớ đơn phương của chàng thi sĩ thiền Phạm Thiên Thư, tình cảm sâu lắng ấy chỉ phát hiện khi rất nhiều năm sau đọc lại bài thơ này, giữ lại ký ức một thời…
Thi sĩ Phạm Thiên Thư đã giữ lại “Ngày xưa Hoàng thị” và nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc bài thơ với nhạc phẩm cùng tên.

Bài thơ Ngày xưa Hoàng thị

Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Chim non giấu mỏ
Dưới cội hoa vàng

Bước em thênh thang
Áo tà nguyệt bạch
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài

Anh đi theo hoài
Gót giầy thầm lặng
Đường chiều úa nắng
Mưa nhẹ bâng khuâng

Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dáng lau lách buồn

Tay nụ hoa thuôn
Vương bờ tóc suối
Tìm lời mở nói
Lòng sao ngập ngừng

Lòng sao rưng rưng
Như trời mây ngợp
Hôm sau vào lớp
Nhìn em ngại ngần

Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Trao vội chùm hoa
Ép vào cuối vở

Thương ơi vạn thuở
Biết nói chi nguôi
Em mỉm môi cười
Anh mang nỗi nhớ

Hè sang phượng nở
Rồi chẳng gặp nhau
Ôi mối tình đầu
Như đi trên cát

Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng nhoà mau
Tưởng đã phai màu
Đường chiều hoa cỏ

Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Cây xưa vẫn gầy
Phơi nghiêng ráng đỏ

Áo em ngày nọ
Phai nhạt mấy màu?
Chân tìm theo nhau
Còn là vang vọng

Đời như biển động
Xoá dấu ngày qua
Tay ngắt chùm hoa
Mà thương mà nhớ

Phố ơi muôn thuở
Giữ vết chân tình
Tìm xưa quẩn quanh
Ai mang bụi đỏ

Dáng em nho nhỏ
Trong cõi xa vời

Tình ơi tình ơi!




Nhà văn Vũ Nam đã ra đi vĩnh viễn

Nhà văn Vũ Nam đã ra đi vĩnh viễn

23/11/2019 

Dương Thạch (Diễn Đàn Việt Nam 21)

Nhà văn Vũ Nam đã vĩnh viễn chia tay gia đình, bạn bè vào ngày 18 tháng 11 năm 2019 tại Gomaringen, CHLB Đức, thọ 65 tuổi.

Nhà văn Vũ Nam, tên thật là Lý Văn Văn, sinh năm 1954 tại tỉnh Phước Tuy, Bà Rịa, Vũng Tàu. Nhập ngũ tháng 10 năm 1972, ngày 30 tháng 4 vẫn còn là Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân, QLVNCH. Năm 1980, ông vượt biên cùng gia đình, được tàu Cap Anamur của Tây Đức vớt, sau một thời gian chuyển tiếp tại trại tị nạn Palawan và Bataan ở Philippines, ông định cư tại Đức cho đến nay.

H1 - Vũ Nam với cuốn sách Quê Người Nhớ Quê Nhà
Vũ Nam với cuốn sách Quê Người Nhớ Quê Nhà (ảnh Cỏ Thơm)

Vũ Nam bắt đầu viết từ năm 1985, ông đã cộng tác với rất nhiều báo chí VN ở hải ngoại như Hoa Kỳ (Văn, Gió Văn, Cỏ Thơm, Hảo Ngoại Nhân Văn, Đẹp, Đặc san Biển Đông…), Canada (Lửa Việt, Làng Văn, Nắng Mới…), Pháp (Nhân Bản, Chiến Hữu, Tin Văn…), Đức (Viên Giác, Độc Lập, Tâm Giác).

H2 - Nhà văn Vũ Nam  trong buổi giới thiệu sách “Quê Nhà Nhớ Quê Người”
Vũ Nam (phải) trong buổi giới thiệu sách “Quê Nhà Nhớ Quê Người” tại Virginia tháng 8/2016 (ảnh Cỏ Thơm)

Tác phẩm đầu tay của Vũ Nam là tập truyện ngắn Sau Ngày Tang (1987). Sau đó, nhiều tác phẩm của Vũ Nam lần lượt xuất bản:

– Bên Dòng Sông Donau (Danube), tuyển tập truyện ngắn 1990
– Bên Này Bức Tường Bá Linh, tuyển tập truyện ngắn 1993
– Nơi Cuối Dòng Sông, truyện dài 1994
– Câu Chuyện Từ Con Tàu Cap Anamur, truyện dài 1997
– Một Đêm Ở Genève, tuyển tập truyện ngắn 2004
– Hoa Liên Kiều, tuyển tập truyện ngắn 2008
– Quê Người Nhớ Quê Nhà 2016

H3 - Nhà văn Vũ Nam cùng thi sĩ Đan Hà Stuttgart 4/2017
Nhà văn Vũ Nam (trái) cùng thi sĩ Đan Hà trong buổi sinh hoạt về ngôn ngữ và văn học
của Cộng Đồng Việt Nam Stuttgart tháng 4/2017 (ảnh Vietnam Community Stuttgart)

Ông cũng đóng góp trong các tuyển tập như

– Những Cây Viết Miền Nam (1990)
– Truyện Hay Hải Ngoại (1991)
– Văn Bút Âu Châu (1989, 1994, 1996)
– Nỗi Nhớ Khôn Nguôi (1994)
– Trông Vời Quê Cũ (1996)
– Trong Cơn Vật Vã (1999)
– Tập Diễm Ngưng Huy (2003)
– Nhân Văn Lục (Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại 2003)
– Thi Văn Viễn Xứ I (2005)
– Nam Phong Tuyển Tập (2006)
– Giai Thoại Văn Chương (2006)
– Thi Văn Viễn Xứ II (2007)
– Quê Nam Một Cõi (2007)
– Món Ăn Theo Bước Di Tản (2009)

Vũ Nam có vóc dáng thanh tú, hiền hậu. Với giọng văn miền Nam, chân chất, hiền hoà, văn phong tự nhiên, trôi chảy, nếu văn là người thì dòng văn của Vũ Nam cũng hiền hòa, đôn hậu như vậy. Khi đã rời xa quê hương, có một cuộc sống an bình trên xứ người, chứng kiến mọi người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, Vũ Nam vẫn chạnh lòng thương nhớ quê hương, buồn cho kiếp sống nghèo nàn thấp kém của người dân nơi quê nhà.

Nhà văn Vũ Nam ra đi không những là điều đau buồn mà còn là một mất mát cho giới văn học cũng như cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại.




Vần Thơ Lục Bát

Vần Thơ Lục Bát

Vào xem lục bát reo vần

Nào ngờ câu lục, vướng chân em về

Lời thơ ngôn ngữ chân quê

Để cho câu bát, vụng về bên nhau.

Câu sáu quyến rũ mở đầu

Nhường cho câu tám, bắc cầu sang thăm

Duyên tình ước hẹn trăm năm.

Đường xuân phơi phới, trăng rằm tháng giêng

Hoa xuân cánh mỏng chao nghiêng

Cho anh ôm mối muộn phiền nhớ thương

Bài thơ lục bát vấn vương

Đôi vần nối nhịp, cung đường mộng mơ.

Lê Tuấn

“Người
nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng.”




Tự do là gì con hỡi?

Tự do là gì con hỡi?

Là giấc ngủ say con đang men nồng
Trong đêm khuya, ngoài kia ga xe gầm rú
Tự Do là lòng tốt của bao người, 
Từ cô hàng xóm tốt bụng thương con
Đến những người bạn, người anh em thiện chí
Đến giúp mình bằng cả trái tim 
Dù vẫn còn vác gánh nặng thập giá.

Tự Do là gì sau đau quá
Mà phương xa máu đã đổ không ngừng
Trót sinh ra trong mọt thời oan nghiệt
Tự Do ư, con có còn hay mất?
Ngủ đi con Tự Do ngủ đi con.
Đi trên đường buýt tự do lấn tuyến,
Buýt bóp còi, tai con có đau không?
Tự Do ăn Tự Do uống Tự Do làm
Tự Do mắc, Tự Do đau, Tự Do chịu.

Tự Do là gì, biết vâng phục?
Biết nói láo, làm hại tha nhân?
Sống chết mặc bây, mặc kệ nó?
Lỡ ngày mai cha không còn, Tự Do mất,
Máu lại rơi khi con cố đi tìm.
Tự Do ơi!

Image may contain: 1 person, standing and shoes
Một bạn trẻ Hong Kong bị hắc cảnh bắt giữ
Image may contain: one or more people
Nhân viên y tế Hong kong bị trói
Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: 2 people, crowd and outdoor
Image may contain: one or more people, crowd and outdoor

Được Thành Nguyễn




Video-Ra mắt sách “Tự lực Văn đoàn và các cây bút hậu duệ”




Tôi bỏ thơ vào

Tôi bỏ thơ vào

Tôi bỏ thơ vào chén rượu cay

Cho men tình muộn đắm hương say

Nghe tiếng lòng đau còn thổn thức

Nghẹn ngào ngay cả khói thuốc bay.

Tôi bỏ thơ vào những đám mây

Cho tình cao vút, giấc mơ đầy

Gió thổi từng mây, bay đâu nữa

Đừng tiếc cho nhau cái nắm tay.

Đừng trách thơ tôi có thế nào

Ý tình dẫu có những xôn xao

Có buồn nghe tiếng đời nức nở

Thì cũng xin người một tiếng chào.

Lê Tuấn

Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng.




Hình ảnh buổi RMS “Tự Lực Văn Doàn và các cây bút hậu duệ”

Link video sinh hoạt RMS Tự Lực Văn Doàn và các cây Bút Hậu Duệ”.

https://youtu.be/8h9FRfIu4jU

LỜI CÁM ƠN

Chinh Nguyên chân thành cám ơn tất cả quý vị quan khách, quý thành viên văn Thơ Lạc Việt, quý ban tổ chức, quý bạn thân hữu đã tham gia buổi ra mắt tác phẩm “Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Bút Hậu Duệ” vào ngày thứ Bẩy Nov. 9, 2019 vừa qua.

Buổi Ra mắt sách rất thành công nhờ vào sự hổ trợ thân tình của quý vị.
Cám ơn những quý anh trong giời truyền thông, nhiếp ảnh gia ViệtV, Việt Today, anh Trương Xuân Mẫn, nhà thơ Mạc Phương Đình đã lưu lại những hình ảnh kỷ niệm sinh hoạt của VTLV.

Cám ơn cô MC/Ca sĩ Hạnh Thảo, anh MC Lê Lợi, hai anh diễn giả TS Hồng Dũng, GS Nguyễn Tường Thiết, ban văn nghệ văn Thơ Lạc Việt, cô Thuý Nga, ba cháu Victoria Thuý Vi, Jenny Đan Anh, Hải Âu.

Đặc biệt cám ơn ban nhạc và âm thanh : Anh Thế (âm Thanh), anh Đoàn Keyboard, và anh Sơn tay saxophone với tiếng kèn mê muội đã giúp buồi ra mắt sách được vui vẻ và đầm ấm.

Tuy nhiên trong buổi tổ chức chúng tôi có những thiếu sót chẳng đặng đừng trong vài chi tiết tiếp tân, xin quý vị thông cản và tha thứ.
Kính chúc quý vị, an mạnh trong mọi ngày.

Sự đoàn kết cộng đồng sẽ đem lại cho chúng ta một sự khác biệt trong mọi trường hợp.

Trân trọng.

Thay mặt ban tổ chức.
Chinh Nguyên.

Image may contain: 8 people, including KimTin Tina Pham, people standing
Image may contain: 12 people, people standing and indoor
Image may contain: 4 people, people standing, suit and indoor
Image may contain: KimTin Tina Pham and Thai NC, people smiling, text
Image may contain: 5 people, people smiling, people sitting, table, drink and indoor
Image may contain: 5 people, people smiling, people sitting, table and indoor
Image may contain: 10 people, people smiling, people sitting, table and indoor
Image may contain: 3 people, including KimTin Tina Pham, people smiling, people standing



Nhà thơ BÍCH KHÊ (1916-1946)

Ô hay buồn vương cây Ngô Đồng
Vàng rơi, vàng rơi Thu mênh mông…

Tên thật Lê Quang Lương là một nhà thơ thời tiền chiến. Ngoài bút hiệu Bích Khê, ông còn ký bút hiệu Lê Mộng Thu khi sáng tác thơ Đường luật.
Thơ Bích Khê rất giàu hình ảnh, âm thanh và màu sắc, đẹp như một bức tranh thơ mà cái nền là của một không gian bát ngát mộng mơ… .

Hai câu
Ô hay, buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông…
Trích từ tác phẩm Tỳ Bà, được Phạm Duy phổ nhạc và trình bày bởi ca sĩ Thái Thanh.

TỲ BÀ

Nàng ơi ! Tay đêm đang giăng mềm
Trăng đan qua cành muôn tay êm
Mây nhung pha màu thu trên trời
Sương lam phơi màu thu muôn nơi
.
Vàng sao nằm im trên hoa gầy
Tương tư người xưa thôi qua đây
Ôi ! Nàng năm xưa quên lời thề
Hoa vừa đưa hương gây đê mê
.
Cây đàn yêu đương làm bằng thơ
Cây đàn yêu đương run trong mơ
Hồn về trên môi kêu: em ơi
Thuyền hồn không đi lên chơi vơi
.
Tôi qua tìm nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
.
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
.
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
.
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô hay! buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi vàng rơi: Thu mênh mông
.
Tác giả: BÍCH-KHÊ




Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Hàn Mặc Tử

Số phận của một thi nhân tài hoa bạc mệnh

Nhà thơ Hàn Mặc Tử là một trong những tên tuổi nổi bật trong thi đàn Việt Nam thế kỷ 20, là người khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam.

Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, được sinh ra trong một gia đình có 8 người con được đặt tên rất ý nghĩa là: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Hiếu, Hiền, Thảo. Tổ tiên của ông là họ Phạm, nhưng do liên quan đến quốc sự bị truy nã nên đổi thành họ Nguyễn.

Hàn Mặc Tử mang vóc mình ốm yếu, tính tình hiền từ, giản dị, hiếu học và thích giao du bè bạn trong lĩnh vực văn thơ. Do cha ông là Nguyễn Văn Toản làm thông ngôn, ký lục nên thường di chuyển nhiều nơi, nhiều nhiệm sở, nên dù được sinh ra ở Quảng Bình nhưng Hàn Mặc Tử đã theo học ở nhiều trường khác nhau như Sa Kỳ (1920), Quy Nhơn, Bồng Sơn (1921–1923), Pellerin Huế (1926).

Hàn Mặc Tử có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 16 tuổi, từng có duyên gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của chí sĩ này. Sau này, ông nhận một suất học bổng đi Pháp nhưng vì quá thân với Phan Bội Châu nên đành đình lại. Hàn Mặc Tử quyết định vào Sài Gòn lập nghiệp, năm ông 21 tuổi; lúc đầu làm ở Sở Đạc Điền.

Đến Sài Gòn, ông làm phóng viên phụ trách trang thơ cho tờ báo Công luận. Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi lên báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người.

Theo gia đình Hàn Mặc Tử thì vào khoảng đầu năm 1935, họ đã phát hiện những dấu hiệu của bệnh phong trên cơ thể ông. Tuy nhiên, ông cũng không quan tâm vì cho rằng nó là một chứng phong ngứa gì đó không đáng kể. Cho đến năm 1936, khi ông được xuất bản tập “Gái Quê”, rồi đi Huế, Sài Gòn, Quảng Ngãi, vào Sài Gòn lần thứ hai, được bà Bút Trà cho biết đã lo xong giấy phép cho tờ Phụ nữ tân văn, quyết định mời Hàn Mặc Tử làm chủ bút, bấy giờ ông mới nghĩ đến bệnh tật của mình. Nhưng ý ông là muốn chữa cho dứt hẳn một loại bệnh thuộc loại “phong ngứa” gì đấy, để yên tâm vào Sài Gòn làm báo chứ không ngờ đến một căn bệnh nan y. Năm 1938 – 1939, Hàn Mặc Tử đau đớn dữ dội. Tuy nhiên, ở bên ngoài thì không ai nghe ông rên rỉ than khóc. Ông chỉ gào thét ở trong thơ mà thôi. Trước ngày Hàn Mặc Tử vào trại phong Quy Hòa, Nguyễn Bá Tín, em ruột của nhà thơ cho biết tình trạng bệnh tật của anh mình như sau: Da anh đã khô cứng, nhưng hơi nhăn ở bàn tay, vì phải vận dụng sức khỏe để kéo các ngón khi cầm muỗng ăn cơm. Bởi vậy, trông như mang chiếc “găng” tay bằng da thô. Toàn thân khô cứng.

Ông Nguyễn Bá Tín, trong một chuyến thăm Bệnh viện Quy Hòa, có đến thăm bác sĩ Gour Vile – Giám đốc Bệnh viện Quy Nhơn. Bác sĩ nói rằng: Bệnh cùi rất khó phân biệt. Giới y học (thời đó) chưa biết rõ lắm. Tuy triệu chứng giống nhau, nhưng lại có nhiều thứ. Ông bác sĩ quả quyết bệnh cùi không thể lây dễ dàng được. Nhiều thông tin cho rằng, một hôm Hàn Mặc Tử đi dạo với bà Mộng Cầm ở lầu Ông Hoàng (Phan Thiết), qua một cái nghĩa địa có một ngôi mộ mới an táng thì gặp mưa. Bỗng ông phát hiện ra từng đốm đỏ bay lên từ ngôi mộ. Sau đó ông về nhà nghỉ, để rồi sớm mai ông phát hiện ra mình như vậy. Đó là căn bệnh do trực khuẩn Hansen gây nên.

Thời đó, vì thành kiến sai lầm rằng đây là căn bệnh truyền nhiễm nên bệnh nhân thường bị hắt hủi, cách ly, xa lánh, thậm chí bị ngược đãi. Hàn Mặc Tử cũng không là ngoại lệ. Lúc này, gia đình ông phải đối phó với chính quyền địa phương vì họ đã hay tin ông mắc căn bệnh truyền nhiễm, đòi đưa ông cách ly với mọi người. Sau đó gia đình phải đưa ông trốn tránh nhiều nơi, xét về mặt hiệu quả chữa trị là phản khoa học vì lẽ ra phải sớm đưa ông vào nơi có đầy đủ điều kiện chữa trị nhất lúc bấy giờ là Bệnh viện phong Quy Hòa. Trong câu chuyện với người em của thi sĩ Hàn Mặc Tử, bác sĩ Gour Vile cũng nói rằng kinh nghiệm từ các trại cùi, không có bệnh nhân nào chỉ đau có từng ấy năm mà chết được. Ông trách gia đình Hàn Mặc Tử không đưa nhà thơ đi trại phong sớm. Bác sĩ cho rằng, Hàn Mặc Tử qua đời do nội tạng hư hỏng quá nhanh vì uống quá nhiều thuốc tạp nham của lang băm trước khi nhập viện phong Quy Hòa.

Ông bỏ tất cả quay về Quy Nhơn vào nhà thương Quy Hòa (20 tháng 9 năm 1940) mang số bệnh nhân 1.134 và từ trần vào lúc 5 giờ 45 phút rạng sáng 11 tháng 11 năm 1940 tại đây vì chứng bệnh kiết lỵ, khi mới bước sang tuổi 28.

Cuộc đời Hàn Mặc Tử có duyên với 4 chữ Bình: sinh tại Quảng Bình, làm báo Tân Bình, có người yêu ở Bình Thuận và mất tại Bình Định. Ông được biết đến với nhiều mối tình, với nhiều người phụ nữ khác nhau, đã để lại nhiều dấu ấn trong văn thơ của ông – có những người ông đã gặp, có những người ông chỉ giao tiếp qua thư từ, và có người ông chỉ biết tên như Hoàng Cúc, Mai Đình, Mộng Cầm, Thương Thương, Ngọc Sương, Thanh Huy, Mỹ Thiện.

https://youtu.be/21tXsK0qnpg

Trong âm nhạc, ca khúc nổi tiếng nhất viết về cuộc đời của thi sĩ Hàn Mặc Tử chính là ca khúc mang tên Hàn Mặc Tử của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, nổi tiếng qua tiếng hát Trúc Mai cả trước và sau năm 1975. Trước khi mất vài năm, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã về nước và xây lại một ngôi mộ tươm tất cho người thi sĩ tài hoa bạc mệnh đó.

Hàm Mặc Tử làm thơ từ năm 16 tuổi lấy hiệu là Phong Trần rồi Lệ Thanh. Đến năm 1936, khi chủ trương ra phụ trương báo Saigon mới đổi hiệu là Hàn Mạc Tử, sau ông lại đổi thành Hàn Mặc Tử. “Hàn Mạc Tử” nghĩa là chàng trai đứng sau bức rèm lạnh lẽo, trống trải. Sau đó bạn bè gợi ý ông nên vẽ thêm Mặt Trăng khuyết vào bức rèm lạnh lẽo để lột tả cái cô đơn của con người trước thiên nhiên, vạn vật. “Mặt Trăng khuyết” đã được “đặt vào” chữ “Mạc” thành ra chữ “Mặc”. Hàn Mặc Tử có nghĩa là “chàng trai bút nghiên”.




MỘT NGÀY PHẢI KHÁC MỌI NGÀY

Nhân chuyện phim Mulan (Hoa Mộc Lan) dự kiên công chiếu vào tháng 3-2020 tại Việt Nam với Lưu Diệc Phi, nữ diễn viên từng công khai ủng hộ “đường lưỡi bò” đóng vai chính. Như vậy không chỉ Thành Long, Triệu Vy, Chân Tử Đan… mà cả một đám nghệ sĩ Tàu cộng luân phiên xâm lược nền văn hóa nước ta với sự tiếp tay của bọn bán nước từ hệ thống cầm quyền. Tôi đã báo động về chuyện này cách đây 10 năm qua bài thơ MỘT NGÀY PHẢI KHÁC MỌI NGÀY, bài thơ được cố nhà báo Bùi Tín đánh giá :”có sức mạnh tương đương với hàng chục quân đoàn dã chiến không cần tới súng ống và thuốc nổ”. Nay đăng lại để mọi người cảnh báo trước tình hình Việt Nam đang dần biến thành “An Nam Đô Hộ Phủ” hiện nay…

BÙI CHÍ VINH

MỘT NGÀY PHẢI KHÁC MỌI NGÀY

Chào một ngày giống hệt mọi ngày
Sóng truyền hình phủ toàn phim Trung Quốc
Từ HTV, VTV, BTV, Đồng Nai, Long An, Bà Rịa Vũng Tàu, Cà Mau… cho đến “cáp”
Hết “Triều Đại Mãn Thanh” đến “Đại Tống Truyền Kỳ”

Chào một ngày giống hệt mọi ngày
Đọc báo thấy cha ông mất hút
Thấy thiên hạ quỳ mọp dưới tượng đài Binh Pháp Mặc Công, Ngọa Hổ Tàng Long, Họa Bì, Xích Bích…
Con nít thuộc lòng Hoắc Nguyên Giáp, Hoàng Phi Hồng, Diệp Vấn, Diệp tùm lum hơn thuộc sử Tiên Rồng

Chào một ngày đất nước tự lưu vong
Cội rễ văn hiến 4000 năm trốc gốc
Tuổi teen gối đầu giường Lý An, Ngô Vũ Sâm, Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca lạ hoắc
Pano giăng khắp nơi hình ảnh Củng Lợi, Chương Tử Di, Thành Long phơi phới toét miệng cười

Chào một ngày phát triển giống đười ươi
Đi trên xã tắc thấy người thua xa khỉ
Thấy lô cốt ngáng đường, thấy nước ngập tận mông, thấy thánh hiền sợ quỷ
Thấy truyền thống chống ngoại xâm co rúm lại vì… tiền

Chào một ngày vong bản vì… hèn
Sống chết mặc bây, túi thầy vô cảm
Ải Nam Quan nằm ngoài ranh giới Việt Nam, xưa rồi Diễm…
Nước mắt Nguyễn Trãi khóc Nguyễn Phi Khanh rơi ở tận… nước Tàu

Chào một ngày bãi biển hóa nương dâu
Thác Bản Giốc rời Cao Bằng như có cánh
Thắng cảnh để lại của tiền nhân bị cháu con ghẻ lạnh
Các di tích, kỳ quan cứ mất tích đều đều

Chào một ngày hình chữ S tong teo
Tài nguyên bôxit bị bới đào như… bọ xít
Nhôm và đô la chẳng thấy đâu, chỉ thấy đất Tây Nguyên rên xiết
Ô nhiễm mạch ngầm, nước sông làm nghẹt thở Chín Con Rồng

Chào một ngày long mạch bị xới tung
Máu bầm đất đỏ bazan, máu tràn ra hải đảo
Ai cho phép Hoàng Sa Trường Sa thành Tam Sa lếu láo
Tội nghiệp rừng cọc nhọn của Hưng Đạo Đại Vương trên sóng Bạch Đằng

Chào một ngày giống hệt cõi âm
Những xác chết anh hùng bật dậy
Máu trả máu, đầu trả đầu. Nhớ đấy
Mãi quốc cầu vinh tất quả báo nhãn tiền

Chào một ngày soi rõ mặt anh em !
Bùi Chí Vinh




CHUYỆN TÌNH CỦA THẦY GIÁO TÝ HON VỚI CÔ GÁI CAO 1m2

CHUYỆN TÌNH CỦA THẦY GIÁO TÝ HON VỚI CÔ GÁI CAO 1m2.

Đây là ĐÁM CƯỚI được nhiều người xem đông nhất ngày hôm nay tại Phan Rang, Ninh Thuận. Nguyễn Văn Hùng (31 tuổi) sinh ra ở Nam Đàn, Nghệ An. Thấy anh nhỏ bé so với các bạn, bố mẹ đưa anh đi khám mới biết con bị bệnh lùn tuyến yên vì thiếu hoóc môn tăng trưởng. Không còn cách nào, họ đành chấp nhận rằng anh mãi chỉ dừng lại ở chiều cao 1,17 m. Khi đó, anh mới 7 tuổi. Vì cơ thể thấp bé, thời còn đi học, Hùng luôn bị bạn bè trêu chọc. Không ít lần anh bị các bạn bồng bế như đứa trẻ trên tay. Những lúc như vậy, anh ngồi co mình lại một góc và khóc, rồi giấu cả nhà vì sợ mọi người lo lắng. Hết cấp 3, Hùng đi học Trung cấp Kỹ thuật tin học, rồi ra Trung tâm Nghị lực sống ở Hà Nội (trung tâm giáo dục cho người khuyết tật) học, và trở thành người quản lý đào tạo, giáo viên dạy công nghệ thông tin ở đây. Ở Ninh Thuận xa xôi, cô gái Lê Thị Diễm My (30 tuổi), cũng mắc chứng bệnh như anh Hùng, đã trúng tiếng sét ái tình ngay từ lần đầu tiên thấy anh xuất hiện trên tivi nói về câu chuyện của mình. Khi đó, trong mắt cô, chàng trai bé xíu ấy đầy nghị lực và tài giỏi. My chủ động liên hệ với anh, thổ lộ tình cảm nhưng anh từ chối.

Không nản lòng, My xin ra Hà Nội học nghề tại Trung tâm Nghị lực sống, nơi anh đang làm việc. Nhưng ở đây, Hùng vẫn luôn tránh mặt và hạn chế liên lạc với cô. Nhớ nhà, bỡ ngỡ trước cuộc sống mới và tình cảm không thuận lợi, 3 ngày liên tục My uống bia. Trong cơn say, cô gọi cho anh nấc nghẹn ngào. Những người bạn khác đã nhờ anh hỏi thăm và động viên cô. Cơ duyên này khiến đôi trẻ gần nhau hơn. Có lần, My phải đi khám bệnh. Nhiều ngày liên tiếp, anh đi xe đạp đưa My đi và chờ chở về rồi mới tất bật chạy đi làm. Lâu dần, Hùng nhận ra trái tim mình đã rung động. Từ đó họ gắn bó với nhau thực sự. Tuy vậy, hình hài nhỏ bé khiến không ít lần họ rơi vào tình cảnh khó xử khi đi chơi bên nhau. Có lần buổi tối họ ra ngoài công viên để tâm sự. Thấy “hai đứa trẻ” ngồi sát nhau ở bờ hồ, một số người đi tập thể dục chạy lại nhắc nhở. Biết tuổi thật của đôi bạn, những người này không tin. Có người nói: “Các cháu lừa bác. Trẻ con lừa người lớn là không tốt đâu!”.

Vài lần đi rạp xem phim 18+, họ bị nhân viên rạp đề nghị cung cấp giấy tờ tùy thân để chứng minh tuổi, ra khỏi rạp lại nhận thêm những ánh mắt thiếu thiện cảm. Mỗi khi lên phố đi bộ, thấy Hùng nắm tay bạn gái, những người xung quanh cười ầm ĩ vì tưởng họ là trẻ con.
“Chúng tôi đã quen với ánh nhìn của người khác như vậy”.

Giọng nói của cả hai đều nhỏ nhẹ như trẻ con nên không ít lần bị người ngoài nhầm lẫn. Có bận, My mua hàng trên mạng. Chủ cửa hàng nghe điện cứ nhắc đi nhắc lại: “Mẹ đâu con, cho cô gặp mẹ!”. Nghe cô bảo: “Em 30 tuổi rồi”, đầu dây bên kia ngập ngừng rồi xin lỗi.
Hiện tại, cả hai gia đình đều ủng hộ cho tình yêu này. Đôi bạn đã lên kế hoạch cho cuộc sống của mình và họ quyết định về chung một nhà , dù bệnh lùn tuyến yên khiến họ không thể có con. Hai người vẫn muốn gắn bó với công việc hiện tại, vì nó đem lại cho họ niềm vui trong cuộc sống. Hãy cùng nhau chúc phúc cho cặp đôi tý hon siêu đáng yêu này đi ạ…
(Nguồn: Fb John Glory Nguyen)




BIỂN ĐỘNG

Bùi Chí Vinh

Đã lâu lắm rồi tôi không quay lại biển. Nếu Đà Lạt bị “hói đầu” vì mất dần rừng thông thì Vũng Tàu, Cần Giờ cũng “trần truồng” bởi rừng dương bị đốn sạch. Không còn lá chắn xanh thì tất nhiên môi trường bị hủy diệt. May ra chỉ còn vài bài thơ BIỂN ĐỘNG, CON MẮT CỦA BÉ, CÂY DƯƠNG ỐM lãng mạn một thời đọc lại để ngậm ngùi….

BIỂN ĐỘNG

Lên đến biển là nhớ em
Kỷ niệm như sóng làm nghiêng con đò
Con đò nghiêng chỉ bốn giờ
Tôi nghiêng ít nhất cũng là bốn năm

Tôi nghiêng lên cát tôi nằm
Cái vai còn ấm hương thầm em ơi!
Tôi nghiêng xuống biển tôi bơi
Cái lưng sao lạnh tình tôi em à

Mình tôi trên bãi khuya… ca
Lỡ ai nghe được chắc là yếu tim
Tôi ca như thể tôi điên
Tôi điên như thể tôi tìm bóng ai

Sau tôi: dương mọc thành cây
Trước tôi: chim xếp thành bầy lẳng lơ
Và tôi cô độc như thơ
Quạnh hiu như nhạc, sững sờ như tranh

Dã tràng xe cát chung quanh
Tôi lặng yên để tan tành tôi đi
Vái trời em hóa cái ly
Tôi thành giọt rượu cấp kỳ cho xem

Vái trời em hóa cơn ghen
Cho đầu tôi mọc sừng thêm cũng đành
Vái trời em hóa cọng hành
Tôi thành tóp mỡ nêm canh ái tình

Vái trời đang đứng một mình
Có người bịt mắt thình lình… ai kia?
Ai kìa? Chỉ có sao khuya
Em ơi, sao rụng tim lìa ngực tôi

Là nơi em áp đôi môi
Là nơi tôi biết nói lời tương tư

CON MẮT CỦA BÉ

Con mắt của bé như con ghẹ
Mà anh mua hai ký mười đồng
Rang muối sao mà thơm thấy… mẹ
Như cái nhìn của bé phải không?
Có lẽ cần phải nêm gia vị
Lúc lai rai cũng đỡ lạnh lòng
Con mắt có bò như con ghẹ
Sao gắp vào đũa cóng tay run?

Con mắt bé còn như con ốc
Anh bỏ quên ở biển Vũng Tàu
Có lẽ cần một cây kim gút
Để khều thì con mắt mới đau
Có lẽ cần phải ra quán nhậu
Gọi dĩa mồi cho đỡ nhớ nhau
Anh sẽ luộc ốc lên mà nhắm
Không mời con mắt bé ăn đâu

Nói chung, con mắt là con gái
Tắm biển dòm chơi đủ nhức đầu

CÂY DƯƠNG ỐM

Sẽ tìm được một cây dương ốm nhất
Cởi áo ra ta đứng tựa trời trồng
Tiếp tục cởi hết quần dài quần cụt
Các em nhìn ta có giống cây không?

Sẽ đứng vậy bởi vì chiều lắm gió
Chiều im hơi ta sẽ duỗi chân nằm
Đàn ông nằm thô tục hơn thiếu nữ
Các em nhìn ta giống bóng cây không?

Sẽ xuống biển nếu cây dương bật gốc
Cây dương quyên sinh ta phải tự trầm
Kể từ đó sóng buồn như khóc
Các em nhìn ta giống rễ cây không?

Sẽ không chết nữa nếu cây dương mập
Nếu các em cũng từ khước áo quần
Nếu các em đừng nhìn ta lén lút
Ôi, biết biển còn nhớ đến cây không?

Thì ta cứ là cây dương ốm nhất
Cho các em nhìn suốt bốn ngàn năm

BCV

Ngày đó với Hương Lan ở Vũng Tàu…

Image may contain: 2 people, people smiling, ocean, sky, outdoor, water and nature



Này Em – thơ

Xin mời quý vị yêu thích thơ, đọc cho vui. Bài thơ này tôi mới viết,
khi lái xe, vừa nghe một ca khúc thật buồn viết về thân phận người con
gái. Tôi nghĩ không biết có ai, sẵn sàng cùng em nâng chén rượu cay, để
uống cho chạm đáy, đổi thay thói đời.

Này Em

Nếu em là chiếc lá bay
Anh là cơn gió thổi đầy ước mơ
Nếu em chỉ là sợi tơ
Con thoi anh sẽ, dệt tơ lụa mềm.

Nếu em, hoa nở về đêm
Đèn hoa thắp sáng bên thềm chờ ai
Anh là đom đóm nối dài
Dẫn đưa em đến lâu đài tình yêu.

Nếu em duyên nợ trớ trêu
Anh là chỗ dựa, cho nhiều đêm say
Cùng em nâng chén rượu cay
Uống cho chạm đáy, đổi thay thói đời.

Lê Tuấn

Image may contain: 2 people, people sitting and outdoor
Image may contain: 1 person, sitting, outdoor and water
Image may contain: 1 person, outdoor
Image may contain: 1 person, sitting, plant, flower, tree and outdoor



Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Viết Hậu Duệ

Văn Thơ Lạc Việt kết hợp với nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật tại Nam Cali 

với sự hổ trợ của nhà xuất bản Tủ Sách Khai Trí ra mắt tác phẩm: 

Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Viết Hậu Duệ.
Đây là một tác phẩm giá trị nghiên cứu về văn học.

Mong quý tham gia, và hỗ trợ.

Tổ chức tại: Grand Fortune Restaurant. 

Thời gian: November 9, 2019, lúc 11:30 AM.
Địa chỉ: 4100 Monterey Street  # 108, San Jose CA. 95111
Diễn giả: TS Hồng Dũng và Hậu Duệ TLVD Nguyễn Tường Thiết. 
MC: Ca sĩ Hạnh Thảo.
Có văn nghệ phụ diễn và khiêu vũ. 
Xin hổ trợ US$40.00 cho mỗi quý khách.
Để tiện việc sắp xếp chỗ ngồi, xin quý vị vui lòng phúc đáp. 

Sư hiện diện của quý vị là một vinh dự cho ban tổ chức và quý tác giả.
Để biết thêm chi tiết xin quý vị phone cho:
Chinh Nguyên: 1(669) 225-6043
Thái Phạm: 1(408) 335-3862




NHỚ AI BUỒN NGẤT TRÊN VAI ÁO

NHỚ AI BUỒN NGẤT TRÊN VAI ÁO
MƯA Ở ĐÂU VỀ NHƯ VẾT THƯƠNG

Phương Tấn

Nhà thơ NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN mất ở Canada ngày 27.9. 2019. Nhà thơ DU TỬ LÊ mất ở Mỹ ngày 7.10.2019. Nhà thơ TRẦN TUẤN KIỆT mất ở Việt Nam ngày 8.10.2019. Các anh nối nhau rời bỏ chúng ta. Sự ra đi đột ngột của các anh làm tôi sửng sốt, tiếc thương, buồn rũ rượi và đỗ bệnh suốt tháng nay.

1.
* Anh NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN từ Canada qua Cali thăm tôi vào đầu tháng 8 năm 2018. Buổi gặp gỡ thân mật hôm đó còn có các nhà thơ, nhà văn, nhà báo Hà Nguyên Du, Nguyễn Lương Vỵ, Trịnh Y Thư, Phan Tấn Hải, Lê Giang Trần. Không những tôi thích thơ Nguyễn Đức Bạt Ngàn vì thơ anh gần như là hơi thở, là sự sống khổ lụy của tôi mà tôi còn thích nhân cách của anh. Anh bộc bạch: “Thơ đến với tôi như ám chướng, viết vì không thể không viết”. Anh làm thơ trước 1975, đăng thơ khá nhiều, các tác phẩm của anh được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Canada. Anh định danh qua tài năng thi ca của anh chứ không định danh qua hội nhóm hay hình bóng người khác. “An Vi” là một trong vài bài thơ cuối cùng anh viết trước khi mất: “Em phơi phới trên bốn mùa thanh vắng / nhen lửa tình hong ấm cõi âm ti / anh là gió nên trọn đời thức trắng / giữa ta bà tâm hớn hở an vi.”

2.
* Anh DU TỬ LÊ và tôi thân nhau từ năm 1962 lúc anh còn ở ngã Bảy, Chợ Lớn. Tôi, anh Du Tử Lê, họa sĩ Phan Ngọc Diên, họa sĩ Động Đình Hồ thường gặp nhau và chúng tôi cũng thường kéo nhau ăn cơm trưa bình dân ở góc đường Lý Thái Tổ – Phan Thanh Giản. Anh Du Tử Lê có nụ cười hiền lành, dễ thương và sống rất thật với anh em. Anh cộng tác trong các tạp chí văn nghệ mà tôi phụ trách.

Tôi nhớ nhất một kỷ niệm vào khoảng năm 1971, một hôm anh Du Tử Lê bảo tôi cho nhà văn Thế Nguyên, chủ nhiệm bán nguyệt san Trình bầy một bài thơ để đăng trong tuyển tập do Trình bầy chủ trương. Tôi trao bài thơ 5 chữ cho anh Du Tử Lê. Vài hôm sau, anh Du Tử Lê gặp tôi nói anh Thế Nguyên đề nghị tôi sửa 2 câu. Tôi viết: “Bộ đội ôm mìn cốt / Trên thân xác buồn xo”, sửa thành: “Quân đôi ôm mìn cốt / Trên thân xác buồn xo”. Tôi không đồng ý sửa và xin không đăng bài thơ này. Không lâu sau, tôi biết Trình bầy là một tạp chí khuynh tả và nhà văn Thế Nguyên là ai? Gần đây, trong bữa cơm trưa cùng anh Du Tử Lê và họa sĩ Phan Ngọc Diên trên đất Mỹ, tôi kể kỷ niệm xưa cho anh nghe. Anh cười vẫn nụ cười thật hiền: “Mình nhớ. Bài thơ thật hay!” Thỉnh thoảng tôi có gửi thơ đăng trên trang dutule.com của anh và mới đây, ngày 2 tháng 10 anh có đăng bài viết của nhà thơ Nguyễn Nhã Tiên viết về “Lục bát Phương Tấn”, tôi chưa kịp cám ơn anh thì anh đã mất.

Sáng Chủ Nhật ngày 27 tháng 10 năm 2019, tôi đến chia tay anh Du Tử Lê trước giờ anh đi xa, thật xa. Tôi ngồi nghe những phát biểu thâm tình cùng những tiếng hát được phổ nhạc từ thơ Du Tử Lê của các anh chị văn nghệ sĩ quá quen tên: Doãn Quốc Sĩ, Nhã Ca, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Kiều Chinh, Trịnh Cung, Lệ Thu, Đỗ Quý Toàn, Trúc Hồ… 4 giờ chiều. Tôi tiễn anh Du Tử Lê đến tận mộ và gửi xuống lòng đất cùng anh một bông hoa hồng trắng. Trời trở lạnh và gió nhiều như sắp mưa. Tôi chợt nhớ hai câu thơ của anh: “Nhớ ai buồn ngất trên vai áo. Mưa ở đâu về như vết thương”.

3.
* Anh TRẦN TUẤN KIỆT với tôi rất thâm tình. Trên “Tạp chí Phổ Thông Xuân 1962” của nhà báo Nguyễn Vỹ kèm theo mỗi bài viết hay sáng tác là một ảnh chân dung của cộng tác viên của tạp chí. Năm ấy, tôi vừa 16 tuổi, nhỏ tuổi nhất và học thấp nhất bên cạnh các nhà văn, nhà thơ, nhà báo… tên tuổi lừng lẫy cả trong nước và ngoài nước. Cũng từ sự mến mộ, sau này khi du học 2 năm tại Hoa Kỳ, nhà báo Nguyễn Vỹ đã mời tôi phụ trách chuyên mục “Lá Thư Hải Ngoại”.

Thời gian này, anh Trần Tuần Kiệt gần như là “người nhà” của tạp chí Phổ Thông, tuần báo Thằng Bờm và nhật báo Dân Ta của nhà báo Nguyễn Vỹ nên tôi rất thân với anh. Tôi hay đến nhà anh ở khu vườn Chuối, quận 3 ăn cơm trưa. Anh là dân Nam Bộ, hết sức dễ thương, sống nghèo nhưng thật giàu tình nghĩa với mọi người. Sau năm 1975, anh dời nhà về Hàng Xanh, đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, tôi vẫn thường ghé trò chuyện văn thơ và lấy bài viết về võ thuật của anh cho tạp chí võ thuật mà tôi phụ trách.

Trong một lần từ Mỹ về, tôi không còn nhớ địa chỉ nhà anh nên mãi miết tìm kiếm trong các hẽm khu Hàng Xanh, đường Xô Viết Nghệ Tĩnh nhưng không được. Khi trở về Mỹ, tôi vui mừng nhận được địa chỉ của anh nhưng chưa kịp gặp lại anh thì anh đã mất. Vâng, bây giờ: “Thánh thần Tiên Phật xa rồi / Lấy ai bằng hữu giữa trời vân du” như thơ của anh đã viết. Anh Trần Tuấn Kiệt ơi, thương quá!

PHƯƠNG TẤN
(30-10-2019)

Image may contain: 6 people, people sitting and outdoor
@ PHƯƠNG TẤN – nhà thơ HÀ NGUYÊN DU – nhà thơ NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN – nhà văn TRỊNH Y THƯ – nhà thơ NGUYỄN LƯƠNG VỴ – nhà báo PHAN TẤN HẢI – nhà văn LÊ GIANG TRẦN.
Image may contain: one or more people and text
Nhà thơ DU TỬ LÊ ký tặng PHƯƠNG TẤN tuyển tập thơ DU TỬ LÊ (1957 – 2013).
Image may contain: 8 people, people smiling, people standing
PHƯƠNG TẤN cùng nhà thơ DU TỬ LÊ và các nhà văn, nhà thơ, nhà báo ĐẶNG PHÚ PHONG – HẠ QUỐC HUY – PHẠM QUỐC BẢO – NGUYỄN LƯƠNG VỴ… tại nhật báo NGƯỜI VIỆT.
Image may contain: 2 people, people smiling, indoor
PHƯƠNG TẤN TRONG TANG LỄ NHÀ THƠ DU TỬ LÊ SÁNG NGÀY 27-10-2019 TẠI WESTMINSTER, CALIFORNIA, USA.

Theo FB




Tiễn đưa Thi sĩ Du Tử Lê, tác giả Khúc Thụy Du

https://youtu.be/2vshZfCk_vs



2050: MIỀN NAM VN CHÌM DƯỚI NƯỚC BIỂN

2050: MIỀN NAM VN CHÌM DƯỚI NƯỚC BIỂN

Miền Nam Việt Nam có thể chìm dưới mặt biển trong 30 năm tới, hậu quả của thay đổi khí hậu. Gần một phần tư dân số VN hiện đang sống trong những vùng sẽ bị chìm ngập, theo một nghiên cứu vừa được công bố tại Hoa Kỳ

Theo New York Times, ngày 29/10, những cuộc nghiên cứu mới nhất của Climate Central, một tổ chức khoa học tại New Jersey, số nạn nhân của hiện tượng nước biển dâng cao sẽ gấp 3 con số dự đoán trước đây, đe doạ xoá bỏ nhiều thành phố lớn miền duyên hải trên thế giới, trong đó có các tỉnh miền Nam Việt Nam

Các tác giả bản bản nghiên cứu, công bố thứ Ba vừa qua, cho biết đã áp dụng một phương pháp mới, chính xác hơn, để tính độ cao của đất và nước biển, căn cứ theo các dữ kiện do vệ tịnh cung cấp, để kết luận là những dự đoán trước đây quá lạc quan.

Phương pháp nói trên cho thấy khoảng 150 triệu hiện đang sống trên các vùng sẽ chìm dưới nước trước 2050

SÀI GÒN CHÌM DƯỚI NƯỚC
Theo Climate Central, ‘’ miền Nam Việt Nam có thể hầu như biến mất ‘’. Bản đồ bên trái dưới đây cho thấy những vùng ven biển sẽ bị ngập nước trước 2050, theo dự đoán trước đây. Bản đồ bên phải : hầu hết miền Nam sẽ bị chìm ngập, theo Climate Central.

Vẫn theo tổ chức trên, một phần của Sài Gòn, trung tâm kinh tế VN, sẽ chìm dưới nước. Hiện nay, trên 20 triệu người Việt đang sống trong những vùng sẽ bị chìm ngập. Những dự đoán này chưa tính những dữ kiện khác, như sự tăng trưởng dân số hay nạn lở đất ven biển trong 30 năm tới
Tại Thái Lan, trên 10% dân số sống trên những vùng bị đe doạ, theo Loretta Hieber Girardet, cư dân Bangkok, phụ trách kế hoạch giảm thiểu hậu quả của thảm hoạ thiên nhiên tại Liên Hiệp Quốc.

VIỄN ẢNH KHỦNG KHIẾP
Hiện tượng thay đổi khí hậu sẽ đe doạ các thành phố trên nhiều phương diện, theo Loretta Hieber Girardet. Ngoài nạn bị trực tiếp đe doạ, các thành phố sẽ phải tiếp nhận các nông hay ngư dân nghèo, di cư tới kiếm việc làm. ‘’Đó là một viễn ảnh khủng khiếp ‘’, theo bà Hieber Girardet

Tại Thượng Hải, một trong những trung tâm kinh tế quan trọng nhất Á Châu, nước biển sẽ cuốn trôi trung tâm thành phố và những vùng phụ cận.
Trên khắp thế giới, nhiều thành phố lớn, kể cả các di tích văn hoá, lịch sử sẽ chìm dưới nước Climate Central kết luận : mặc dù viễn ảnh đáng sợ, những vùng trên không nhất thiết bị khai tử, nếu có những biện pháp thích ứng
Benjamin Strauss, tổng giám đốc Climate Central nói: hiện nay, 110 triệu người đã và đang sống dưới mực nước biển, nhờ các hệ thống đê điều, các đập nước. Để tránh tai hoạ, các thành phố sẽ phải đầu tư rất nhiều trong kế hoạch phòng ngừa, và phải khởi công sớm, trước khi quá trễ

Dina Ionesco, thuộc tổ chức điều hợp di dân quốc tế, nói các quốc gia phải nghĩ tới, ngay từ bây giờ, kế hoạch di dân nội địa, đưa dân tới những vùng an toàn hơn. Bà cho hay đã báo động nhiều lần sẽ có những cuộc di dân lớn chưa từng thấy trong lịch sử.

Theo tướng Castellaw, thuộc tổ chức Center for Climate, tai hoạ dân mất đất sống vì thay đổi khí hậu, sẽ đe doạ sự ổn định xã hội, chính trị trên thế giới. Ông nói : đó không phải chỉ là một vấn đề môi sinh, đó còn là một vấn đề nhân đạo, an ninh và quân sự

VN ĐÃ LÀM GÌ ĐỂ ĐƯƠNG ĐẦU VỚI TAI HOẠ ?
Đọc báo cáo Climate Central và bài báo trên New York Times, người ta không khỏi đặt câu hỏi : Việt Nam đã có kế hoạch gì để đương đầu với đại hoạ trong những năm tới, ngoài những sáng kiến kiểu mỗi nhà trang bị một cái chum hứng nước, hay cõng nước lên núi chữa lửa, hay vơ vét thật nhanh để mua nhà ở ngoại quốc ?

Những nước láng giềng đã ráo riết chuẩn bị.
Lấy thí dụ Indonésie. Chính phủ Indonésie coi viễn ảnh thủ đô Jakarta chìm dưới nước biển trước 2050 là một thực tế không thể nhắm mắt làm ngơ. Họ đã quyết định …rời thủ đô Jakarta về phía đông Bornéo, ngày nay là một khu rừng hoang.

Những ai đã có dịp ghé Jakarta khó tưởng tượng người ta có thể bỏ một thành phố sầm uất, với 10 triệu dân, để xây một thủ đô mới. Và đó không phải là một dự án trên giấy tờ. Dự án, với ngân khoản khởi đầu khổng lồ 40 tỉ dollars, sẽ bất đầu thực hiện trong vài tháng tới, từ đầu năm 2020 !
Viện Nam sẽ làm gì, hay đúng hơn, không làm gì, không phải là chuyện riêng của một tập đoàn cầm quyền, của một đảng.
Đó là chuyện chung của toàn dân, vì liên hệ tới mạng sống của 20 triệu người, một phần tư dân số. Mỗi người phải lên tiếng, phải có thái độ, đòi hỏi. Không thể thờ ơ với mạng sống của chính mình, của con cháu mình.

Theo Internet

Rising sea levels on track to destroy the homes of 300 million people by 2050

https://www.cbsnews.com/news/rising-sea-levels-on-track-to-destroy-homes-of-300-million-people-by-2050/

tuthuc-paris-blog.com )




Anna Bùi Thị Nhung

Tại Berlin, Nhung đã viết:
“ TÔI NGHĨ CHÂU ÂU LÀ MÀU HỒNG.
TUY NHIÊN, HOÁ RA LÀ MÀU ĐEN’”

Ở Berlin, cô tạo dáng bên ngoài một khu vườn bia, nở nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt. Tại Brussels, cô nhấm nháp cốc trà sữa có đường và tạo dáng trên các bước của sàn giao dịch chứng khoán cũ.

Một người họ hàng cho thấy một bức ảnh được chụp tại Berlin của Anna Bùi Thị Nhung, một người Việt Nam bị nghi là một trong những nạn nhân đã chết được tìm thấy trong một chiếc xe tải ở Anh, tại nhà cô ở tỉnh Nghệ An, cô là một khách du lịch khác.

Nhưng Bùi Thị Nhung, 19 tuổi, người Việt Nam, có gia đình tin rằng cô là một trong số 39 người được tìm thấy đã chết trong một chiếc xe tải đông lạnh gần London vào thứ Tư, đó là chuyến đi kiếm tiền trọn đời.

“Càng lớn lên có nghĩa là phải che giấu nỗi buồn trong bóng tối và giữ nụ cười trên khuôn mặt” Nhung đã viết trong một bài đăng trên Facebook ngày 21 tháng 10, vài ngày trước khi gia đình cô ấy mất liên lạc với cô ấy và tin tức về container vận chuyển bị hủy diệt xuất hiện .
Nhung là từ Nghệ An, một tỉnh nghèo cách 300km về phía nam Hà Nội, vốn đang phát triển nhanh chóng của Việt Nam.
Vào tối thứ bảy, linh mục Công giáo Anthony Đặng Hữu Nam đã dẫn đầu khoảng 500 tín đồ cầu nguyện cho người chết khi họ thắp nến trong nhà thờ có tường trắng khiêm tốn ở Yên Thành, quê hương của Nhung.

Nhiều người đã thực hiện hành trình định mệnh tương tự. Đại sứ Anh tại Việt Nam đã viết trong một ý kiến được công bố vào tháng trước bởi các tờ báo địa phương rằng các mối nguy hiểm đã rõ ràng.
Trong những năm gần đây, hàng trăm nạn nhân Việt Nam tiềm năng của nạn buôn người đã được xác định ở Anh, Đại sứ Gareth Ward đã viết trong cột ngày 29 tháng 9.
Có những trường hợp người nhập cư bất hợp pháp bị thương khi bị truy đuổi. Có những trường hợp tử vong do cực lạnh, thiếu oxy bên trong xe tải. Nhiều người thậm chí chưa bao giờ đặt chân đến ‘miền đất hứa’, phường Ward viết, đề cập đến những bảo đảm của những người buôn lậu người Việt Nam để tái định cư người di cư ở Anh.
Gia đình của Nhung cho biết cô lần đầu tiên rời Nghệ An trong hành trình ra nước ngoài vào tháng 8. Cô đã đến Trung Quốc trước, trước khi tìm đường đến Đức, rồi Bỉ, nơi họ tin rằng cô đã lên chiếc xe tải định mệnh.
Các quan chức ở Anh vẫn chưa xác định được người chết.
“Tôi chỉ muốn một cuộc sống bình yên” Nhung đã viết trong một chú thích bên dưới bức ảnh cô ấy đang cười trên cánh đồng xanh vài tuần sau khi rời Việt Nam.
“Điều hạnh phúc nhất trong cuộc đời là tìm được người không bỏ rơi bạn trong thời gian khó khăn nhất của bạn” Nhung nói vào ngày 27 tháng 8.

Tối muộn thứ bảy, gia đình của Nhung, không còn hy vọng, đã lập một bàn thờ trong ký ức của cô, với bức ảnh của cô bên cạnh cha cô.

Cha cô mất vì ung thư vài năm trước. Mẹ cô không thể làm việc vì các biến chứng về sức khỏe và vì vậy những người thân yêu của cô đã cùng nhau tài trợ cho cô một cuộc sống mới ở nước ngoài.

Theo một báo cáo của chính phủ Anh năm ngoái, khoảng 70% các trường hợp buôn người Việt Nam ở Anh trong giai đoạn 2009-2016 là để khai thác lao động, bao gồm sản xuất cần sa và làm việc trong các quán bar làm móng.

Phụ nữ và trẻ em gái ở vùng nông thôn cũng được coi là dễ bị buôn bán hơn, báo cáo cho biết.
Đến đầu tháng 9, cô không rõ mình đang ở đâu, nhưng Nhung đã sẵn sàng cho chuyến đi của mình và suy nghĩ về những bước tiếp theo của cô.

Bên cạnh một hình ảnh của hai đứa trẻ thả diều vào lúc hoàng hôn, cô đăng:
“Khi tôi lớn lên, tôi thấy rằng cuộc sống không yên bình như tôi từng nghĩ. Khi tôi lớn lên, tôi muốn trở về thời thơ ấu của mình, khi tôi sống tự do”

MÀU ĐEN
Trong một trong những bức ảnh đầu tiên của cô được chụp rõ ràng hơn từ khi bắt đầu cuộc phiêu lưu ở châu Âu, Nhung tạo dáng trước một khu vườn bia Đức. Vài ngày sau, vào cuối tháng 9, cô đăng ảnh những món mì Việt mà cô nói rằng cô đã nấu cho bạn bè ở Berlin.

Nếu có ai muốn mua, tôi sẽ gửi nó cho bạn, cô ấy đã nói đùa trong bài đăng trên Facebook.

Tôn Quang Tuấn, một trong những người bạn của Nhung sống ở Berlin, nói rằng, Chúng tôi đã đi ra ngoài một vài lần khi Nhung đang ở Berlin và nói thêm rằng cô ấy đang có tâm trạng tốt, rất vui, nhưng họ đã mất liên lạc sau khi cô ấy nói phải rời đi để tới Anh.

Không rõ Nhung đã đi từ vùng nông thôn Việt Nam đến Trung Quốc và sau đó là Berlin như thế nào, nhưng thủ đô của Đức đã nổi lên trong những năm gần đây như một sân khấu cho người Việt Nam và những người di cư khác muốn bắt đầu cuộc sống mới ở Anh.

“Tôi cảm thấy cô đơn ở nơi tôi từng mơ ước hàng ngày” Nhung viết vào ngày 25 tháng 9.

Không rõ cô ấy ở đâu – Những kẻ buôn lậu người Việt được cho là khuyên các đối tượng của họ sống kín đáo và không cho đi quá nhiều manh mối để trốn tránh sự phát hiện từ chính quyền.

“Tôi không biết khi nào tôi có thể quen với cuộc sống hiện tại, nhưng tôi biết một điều chắc chắn. Lúc này, con nhớ bố. Mình nhớ bạn phát điên.”

Vài ngày sau, Nhung được chụp hình bên ngoài Nhà thờ Berlin với một tách trà sữa trên tay. Trà sữa có vị ngọt, chứa đầy những viên thạch nhai rất được giới trẻ Việt Nam ưa chuộng.

Cuối tháng 10, Nhung đã ở Bỉ. Cô ấy đã đăng những bức ảnh của mình, một lần nữa với một tách trà sữa trong tay, hào hứng khám phá các điểm tham quan của Brussels, bao gồm cả sàn giao dịch chứng khoán cũ và con đường nhộn nhịp của đường phố August Auguste Orts.

Đó là từ cảng Zeebrugge của Bỉ mà container cuối cùng đã rời đi. Gia đình cô tin rằng cô đã ở trên tàu.




Thông Báo Về Ban Hợp Xướng Lạc Việt & Thư Mời Họp Chiều Ngày 24 Tháng 8 Năm 2018.

VTLV THÔNG BÁO VỀ BAN HỢP XƯỚNG LẠC VIỆT &
THƯ MỜI HỌP CHIỀU NGÀY 24 THÁNG 8 NĂM 2018.

 

Kính chào quý vị,

Mục đích VTLV thành lập ban Hợp xướng bởi muốn bảo tồn và phát huy văn hoá Việt tại hải ngoại qua âm nhạc.  Bắt đầu từ ngày thứ sáu 24 tháng 8 năm 2018, Văn Thơ Lạc Việt sẽ tiếp nhận tất cả các quý vị muốn ghi danh vào ban Hợp xướng Lạc Việt. Những quý vị ghi danh vào ban Hợp xướng Lạc Việt sẽ tự động là thành viên của Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt, và sẽ được Giáo sư Nhạc sĩ Phạm Đức Huyến hướng dẫn về Nhạc lý Diễn giải, Thanh nhạc, và Kỹ thuật Ca hát để sinh hoạt trong ban Hợp xướng Lạc Việt, và cơ sở Văn Thơ Lạc Việt.

Thành viên trong ban Hợp xướng Lạc Việt sẽ được Giáo sư Nhạc sĩ Phạm Đức Huyến hướng dẫn về Đơn ca, Song Ca, Tam ca và Hợp xướng, cùng với những tài liệu học tập miễn phí.

Những quý vị nào nhận thấy mình có năng khiếu âm nhạc nên tham dự vào ban Hợp xướng Lạc Việt sẽ được hướng dẫn căn bản trong nghệ thuật âm nhạc từ Giáo sư âm nhạc Phạm Đức Huyến.

Thay mặt VTLV.

Chủ tịch CS/VTLV :TVS Chinh Nguyên
Cố Vấn âm nhạc & và nghệ thuật : Gs Nhạc sĩ Phạm Đức Huyến. Trưởng ban Hợp Xướng: Ns Nguyên Hồng.
Chủ tịch VTLV.
Chinh Nguyên

———————————————————————————————————————————————————————

THƯ MỜI HỌP BAN HỢP XƯỚNG.

 

Xin thông báo quý vị thành viên Văn Thơ Lạc Việt và Ban Hợp xướng Lạc Việt.

Buổi họp đầu tiên để lựa giọng hầu chia bè tập hát trong ban Hợp xướng sẽ là ngày thứ sáu 24 tháng 8 năm 2018, lúc 6:30 PM. Buổi họp sẽ do Giáo sư Nhạc sĩ Phạm Đức Huyến chủ toạ, ông sẽ giúp Văn Thơ Lạc Việt nói về mục đích thành lập ban Hợp Xướng, chương trình Huấn Luyện và chia bè cho các hội viên hầu dễ dàng tập dượt. Trong buổi họp đầu tiên của Ban Hợp Xướng Lạc Việt sẽ có thêm phần trình diễn văn nghệ cây nhà lá vườn, chiếu clip Hợp xướng, tuyển giọng chia bè của ban Hợp Xướng, và có sự tham gia của ban Văn nghệ VTLV.

Vậy xin chị Thuý Nga trưởng ban Văn nghệ thông báo cho anh chị em ca sĩ tham dự đông đủ hầu thắt chặt sự đoàn kết giữa hai ban Văn nghệ của VTLV.

Điạ điểm họp:
CLB/Mây Bốn Phương
730 S 2nd Street San Jose CA 95112.

Xin ghi chú: Nơi đậu xe dưới gầm cầu I-280, giữa hai đường First và 2nd Street.

Có nước trà nóng và bánh ngọt.

Chủ tịch VTLV
Chinh Nguyên.




Cung Oán Ngâm Khúc . VTLV Mạn đàm phần cuối