2050: MIỀN NAM VN CHÌM DƯỚI NƯỚC BIỂN

2050: MIỀN NAM VN CHÌM DƯỚI NƯỚC BIỂN

Miền Nam Việt Nam có thể chìm dưới mặt biển trong 30 năm tới, hậu quả của thay đổi khí hậu. Gần một phần tư dân số VN hiện đang sống trong những vùng sẽ bị chìm ngập, theo một nghiên cứu vừa được công bố tại Hoa Kỳ

Theo New York Times, ngày 29/10, những cuộc nghiên cứu mới nhất của Climate Central, một tổ chức khoa học tại New Jersey, số nạn nhân của hiện tượng nước biển dâng cao sẽ gấp 3 con số dự đoán trước đây, đe doạ xoá bỏ nhiều thành phố lớn miền duyên hải trên thế giới, trong đó có các tỉnh miền Nam Việt Nam

Các tác giả bản bản nghiên cứu, công bố thứ Ba vừa qua, cho biết đã áp dụng một phương pháp mới, chính xác hơn, để tính độ cao của đất và nước biển, căn cứ theo các dữ kiện do vệ tịnh cung cấp, để kết luận là những dự đoán trước đây quá lạc quan.

Phương pháp nói trên cho thấy khoảng 150 triệu hiện đang sống trên các vùng sẽ chìm dưới nước trước 2050

SÀI GÒN CHÌM DƯỚI NƯỚC
Theo Climate Central, ‘’ miền Nam Việt Nam có thể hầu như biến mất ‘’. Bản đồ bên trái dưới đây cho thấy những vùng ven biển sẽ bị ngập nước trước 2050, theo dự đoán trước đây. Bản đồ bên phải : hầu hết miền Nam sẽ bị chìm ngập, theo Climate Central.

Vẫn theo tổ chức trên, một phần của Sài Gòn, trung tâm kinh tế VN, sẽ chìm dưới nước. Hiện nay, trên 20 triệu người Việt đang sống trong những vùng sẽ bị chìm ngập. Những dự đoán này chưa tính những dữ kiện khác, như sự tăng trưởng dân số hay nạn lở đất ven biển trong 30 năm tới
Tại Thái Lan, trên 10% dân số sống trên những vùng bị đe doạ, theo Loretta Hieber Girardet, cư dân Bangkok, phụ trách kế hoạch giảm thiểu hậu quả của thảm hoạ thiên nhiên tại Liên Hiệp Quốc.

VIỄN ẢNH KHỦNG KHIẾP
Hiện tượng thay đổi khí hậu sẽ đe doạ các thành phố trên nhiều phương diện, theo Loretta Hieber Girardet. Ngoài nạn bị trực tiếp đe doạ, các thành phố sẽ phải tiếp nhận các nông hay ngư dân nghèo, di cư tới kiếm việc làm. ‘’Đó là một viễn ảnh khủng khiếp ‘’, theo bà Hieber Girardet

Tại Thượng Hải, một trong những trung tâm kinh tế quan trọng nhất Á Châu, nước biển sẽ cuốn trôi trung tâm thành phố và những vùng phụ cận.
Trên khắp thế giới, nhiều thành phố lớn, kể cả các di tích văn hoá, lịch sử sẽ chìm dưới nước Climate Central kết luận : mặc dù viễn ảnh đáng sợ, những vùng trên không nhất thiết bị khai tử, nếu có những biện pháp thích ứng
Benjamin Strauss, tổng giám đốc Climate Central nói: hiện nay, 110 triệu người đã và đang sống dưới mực nước biển, nhờ các hệ thống đê điều, các đập nước. Để tránh tai hoạ, các thành phố sẽ phải đầu tư rất nhiều trong kế hoạch phòng ngừa, và phải khởi công sớm, trước khi quá trễ

Dina Ionesco, thuộc tổ chức điều hợp di dân quốc tế, nói các quốc gia phải nghĩ tới, ngay từ bây giờ, kế hoạch di dân nội địa, đưa dân tới những vùng an toàn hơn. Bà cho hay đã báo động nhiều lần sẽ có những cuộc di dân lớn chưa từng thấy trong lịch sử.

Theo tướng Castellaw, thuộc tổ chức Center for Climate, tai hoạ dân mất đất sống vì thay đổi khí hậu, sẽ đe doạ sự ổn định xã hội, chính trị trên thế giới. Ông nói : đó không phải chỉ là một vấn đề môi sinh, đó còn là một vấn đề nhân đạo, an ninh và quân sự

VN ĐÃ LÀM GÌ ĐỂ ĐƯƠNG ĐẦU VỚI TAI HOẠ ?
Đọc báo cáo Climate Central và bài báo trên New York Times, người ta không khỏi đặt câu hỏi : Việt Nam đã có kế hoạch gì để đương đầu với đại hoạ trong những năm tới, ngoài những sáng kiến kiểu mỗi nhà trang bị một cái chum hứng nước, hay cõng nước lên núi chữa lửa, hay vơ vét thật nhanh để mua nhà ở ngoại quốc ?

Những nước láng giềng đã ráo riết chuẩn bị.
Lấy thí dụ Indonésie. Chính phủ Indonésie coi viễn ảnh thủ đô Jakarta chìm dưới nước biển trước 2050 là một thực tế không thể nhắm mắt làm ngơ. Họ đã quyết định …rời thủ đô Jakarta về phía đông Bornéo, ngày nay là một khu rừng hoang.

Những ai đã có dịp ghé Jakarta khó tưởng tượng người ta có thể bỏ một thành phố sầm uất, với 10 triệu dân, để xây một thủ đô mới. Và đó không phải là một dự án trên giấy tờ. Dự án, với ngân khoản khởi đầu khổng lồ 40 tỉ dollars, sẽ bất đầu thực hiện trong vài tháng tới, từ đầu năm 2020 !
Viện Nam sẽ làm gì, hay đúng hơn, không làm gì, không phải là chuyện riêng của một tập đoàn cầm quyền, của một đảng.
Đó là chuyện chung của toàn dân, vì liên hệ tới mạng sống của 20 triệu người, một phần tư dân số. Mỗi người phải lên tiếng, phải có thái độ, đòi hỏi. Không thể thờ ơ với mạng sống của chính mình, của con cháu mình.

Theo Internet

Rising sea levels on track to destroy the homes of 300 million people by 2050

https://www.cbsnews.com/news/rising-sea-levels-on-track-to-destroy-homes-of-300-million-people-by-2050/

tuthuc-paris-blog.com )




Anna Bùi Thị Nhung

Tại Berlin, Nhung đã viết:
“ TÔI NGHĨ CHÂU ÂU LÀ MÀU HỒNG.
TUY NHIÊN, HOÁ RA LÀ MÀU ĐEN’”

Ở Berlin, cô tạo dáng bên ngoài một khu vườn bia, nở nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt. Tại Brussels, cô nhấm nháp cốc trà sữa có đường và tạo dáng trên các bước của sàn giao dịch chứng khoán cũ.

Một người họ hàng cho thấy một bức ảnh được chụp tại Berlin của Anna Bùi Thị Nhung, một người Việt Nam bị nghi là một trong những nạn nhân đã chết được tìm thấy trong một chiếc xe tải ở Anh, tại nhà cô ở tỉnh Nghệ An, cô là một khách du lịch khác.

Nhưng Bùi Thị Nhung, 19 tuổi, người Việt Nam, có gia đình tin rằng cô là một trong số 39 người được tìm thấy đã chết trong một chiếc xe tải đông lạnh gần London vào thứ Tư, đó là chuyến đi kiếm tiền trọn đời.

“Càng lớn lên có nghĩa là phải che giấu nỗi buồn trong bóng tối và giữ nụ cười trên khuôn mặt” Nhung đã viết trong một bài đăng trên Facebook ngày 21 tháng 10, vài ngày trước khi gia đình cô ấy mất liên lạc với cô ấy và tin tức về container vận chuyển bị hủy diệt xuất hiện .
Nhung là từ Nghệ An, một tỉnh nghèo cách 300km về phía nam Hà Nội, vốn đang phát triển nhanh chóng của Việt Nam.
Vào tối thứ bảy, linh mục Công giáo Anthony Đặng Hữu Nam đã dẫn đầu khoảng 500 tín đồ cầu nguyện cho người chết khi họ thắp nến trong nhà thờ có tường trắng khiêm tốn ở Yên Thành, quê hương của Nhung.

Nhiều người đã thực hiện hành trình định mệnh tương tự. Đại sứ Anh tại Việt Nam đã viết trong một ý kiến được công bố vào tháng trước bởi các tờ báo địa phương rằng các mối nguy hiểm đã rõ ràng.
Trong những năm gần đây, hàng trăm nạn nhân Việt Nam tiềm năng của nạn buôn người đã được xác định ở Anh, Đại sứ Gareth Ward đã viết trong cột ngày 29 tháng 9.
Có những trường hợp người nhập cư bất hợp pháp bị thương khi bị truy đuổi. Có những trường hợp tử vong do cực lạnh, thiếu oxy bên trong xe tải. Nhiều người thậm chí chưa bao giờ đặt chân đến ‘miền đất hứa’, phường Ward viết, đề cập đến những bảo đảm của những người buôn lậu người Việt Nam để tái định cư người di cư ở Anh.
Gia đình của Nhung cho biết cô lần đầu tiên rời Nghệ An trong hành trình ra nước ngoài vào tháng 8. Cô đã đến Trung Quốc trước, trước khi tìm đường đến Đức, rồi Bỉ, nơi họ tin rằng cô đã lên chiếc xe tải định mệnh.
Các quan chức ở Anh vẫn chưa xác định được người chết.
“Tôi chỉ muốn một cuộc sống bình yên” Nhung đã viết trong một chú thích bên dưới bức ảnh cô ấy đang cười trên cánh đồng xanh vài tuần sau khi rời Việt Nam.
“Điều hạnh phúc nhất trong cuộc đời là tìm được người không bỏ rơi bạn trong thời gian khó khăn nhất của bạn” Nhung nói vào ngày 27 tháng 8.

Tối muộn thứ bảy, gia đình của Nhung, không còn hy vọng, đã lập một bàn thờ trong ký ức của cô, với bức ảnh của cô bên cạnh cha cô.

Cha cô mất vì ung thư vài năm trước. Mẹ cô không thể làm việc vì các biến chứng về sức khỏe và vì vậy những người thân yêu của cô đã cùng nhau tài trợ cho cô một cuộc sống mới ở nước ngoài.

Theo một báo cáo của chính phủ Anh năm ngoái, khoảng 70% các trường hợp buôn người Việt Nam ở Anh trong giai đoạn 2009-2016 là để khai thác lao động, bao gồm sản xuất cần sa và làm việc trong các quán bar làm móng.

Phụ nữ và trẻ em gái ở vùng nông thôn cũng được coi là dễ bị buôn bán hơn, báo cáo cho biết.
Đến đầu tháng 9, cô không rõ mình đang ở đâu, nhưng Nhung đã sẵn sàng cho chuyến đi của mình và suy nghĩ về những bước tiếp theo của cô.

Bên cạnh một hình ảnh của hai đứa trẻ thả diều vào lúc hoàng hôn, cô đăng:
“Khi tôi lớn lên, tôi thấy rằng cuộc sống không yên bình như tôi từng nghĩ. Khi tôi lớn lên, tôi muốn trở về thời thơ ấu của mình, khi tôi sống tự do”

MÀU ĐEN
Trong một trong những bức ảnh đầu tiên của cô được chụp rõ ràng hơn từ khi bắt đầu cuộc phiêu lưu ở châu Âu, Nhung tạo dáng trước một khu vườn bia Đức. Vài ngày sau, vào cuối tháng 9, cô đăng ảnh những món mì Việt mà cô nói rằng cô đã nấu cho bạn bè ở Berlin.

Nếu có ai muốn mua, tôi sẽ gửi nó cho bạn, cô ấy đã nói đùa trong bài đăng trên Facebook.

Tôn Quang Tuấn, một trong những người bạn của Nhung sống ở Berlin, nói rằng, Chúng tôi đã đi ra ngoài một vài lần khi Nhung đang ở Berlin và nói thêm rằng cô ấy đang có tâm trạng tốt, rất vui, nhưng họ đã mất liên lạc sau khi cô ấy nói phải rời đi để tới Anh.

Không rõ Nhung đã đi từ vùng nông thôn Việt Nam đến Trung Quốc và sau đó là Berlin như thế nào, nhưng thủ đô của Đức đã nổi lên trong những năm gần đây như một sân khấu cho người Việt Nam và những người di cư khác muốn bắt đầu cuộc sống mới ở Anh.

“Tôi cảm thấy cô đơn ở nơi tôi từng mơ ước hàng ngày” Nhung viết vào ngày 25 tháng 9.

Không rõ cô ấy ở đâu – Những kẻ buôn lậu người Việt được cho là khuyên các đối tượng của họ sống kín đáo và không cho đi quá nhiều manh mối để trốn tránh sự phát hiện từ chính quyền.

“Tôi không biết khi nào tôi có thể quen với cuộc sống hiện tại, nhưng tôi biết một điều chắc chắn. Lúc này, con nhớ bố. Mình nhớ bạn phát điên.”

Vài ngày sau, Nhung được chụp hình bên ngoài Nhà thờ Berlin với một tách trà sữa trên tay. Trà sữa có vị ngọt, chứa đầy những viên thạch nhai rất được giới trẻ Việt Nam ưa chuộng.

Cuối tháng 10, Nhung đã ở Bỉ. Cô ấy đã đăng những bức ảnh của mình, một lần nữa với một tách trà sữa trong tay, hào hứng khám phá các điểm tham quan của Brussels, bao gồm cả sàn giao dịch chứng khoán cũ và con đường nhộn nhịp của đường phố August Auguste Orts.

Đó là từ cảng Zeebrugge của Bỉ mà container cuối cùng đã rời đi. Gia đình cô tin rằng cô đã ở trên tàu.




Thông Báo Về Ban Hợp Xướng Lạc Việt & Thư Mời Họp Chiều Ngày 24 Tháng 8 Năm 2018.

VTLV THÔNG BÁO VỀ BAN HỢP XƯỚNG LẠC VIỆT &
THƯ MỜI HỌP CHIỀU NGÀY 24 THÁNG 8 NĂM 2018.

 

Kính chào quý vị,

Mục đích VTLV thành lập ban Hợp xướng bởi muốn bảo tồn và phát huy văn hoá Việt tại hải ngoại qua âm nhạc.  Bắt đầu từ ngày thứ sáu 24 tháng 8 năm 2018, Văn Thơ Lạc Việt sẽ tiếp nhận tất cả các quý vị muốn ghi danh vào ban Hợp xướng Lạc Việt. Những quý vị ghi danh vào ban Hợp xướng Lạc Việt sẽ tự động là thành viên của Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt, và sẽ được Giáo sư Nhạc sĩ Phạm Đức Huyến hướng dẫn về Nhạc lý Diễn giải, Thanh nhạc, và Kỹ thuật Ca hát để sinh hoạt trong ban Hợp xướng Lạc Việt, và cơ sở Văn Thơ Lạc Việt.

Thành viên trong ban Hợp xướng Lạc Việt sẽ được Giáo sư Nhạc sĩ Phạm Đức Huyến hướng dẫn về Đơn ca, Song Ca, Tam ca và Hợp xướng, cùng với những tài liệu học tập miễn phí.

Những quý vị nào nhận thấy mình có năng khiếu âm nhạc nên tham dự vào ban Hợp xướng Lạc Việt sẽ được hướng dẫn căn bản trong nghệ thuật âm nhạc từ Giáo sư âm nhạc Phạm Đức Huyến.

Thay mặt VTLV.

Chủ tịch CS/VTLV :TVS Chinh Nguyên
Cố Vấn âm nhạc & và nghệ thuật : Gs Nhạc sĩ Phạm Đức Huyến. Trưởng ban Hợp Xướng: Ns Nguyên Hồng.
Chủ tịch VTLV.
Chinh Nguyên

———————————————————————————————————————————————————————

THƯ MỜI HỌP BAN HỢP XƯỚNG.

 

Xin thông báo quý vị thành viên Văn Thơ Lạc Việt và Ban Hợp xướng Lạc Việt.

Buổi họp đầu tiên để lựa giọng hầu chia bè tập hát trong ban Hợp xướng sẽ là ngày thứ sáu 24 tháng 8 năm 2018, lúc 6:30 PM. Buổi họp sẽ do Giáo sư Nhạc sĩ Phạm Đức Huyến chủ toạ, ông sẽ giúp Văn Thơ Lạc Việt nói về mục đích thành lập ban Hợp Xướng, chương trình Huấn Luyện và chia bè cho các hội viên hầu dễ dàng tập dượt. Trong buổi họp đầu tiên của Ban Hợp Xướng Lạc Việt sẽ có thêm phần trình diễn văn nghệ cây nhà lá vườn, chiếu clip Hợp xướng, tuyển giọng chia bè của ban Hợp Xướng, và có sự tham gia của ban Văn nghệ VTLV.

Vậy xin chị Thuý Nga trưởng ban Văn nghệ thông báo cho anh chị em ca sĩ tham dự đông đủ hầu thắt chặt sự đoàn kết giữa hai ban Văn nghệ của VTLV.

Điạ điểm họp:
CLB/Mây Bốn Phương
730 S 2nd Street San Jose CA 95112.

Xin ghi chú: Nơi đậu xe dưới gầm cầu I-280, giữa hai đường First và 2nd Street.

Có nước trà nóng và bánh ngọt.

Chủ tịch VTLV
Chinh Nguyên.




Cung Oán Ngâm Khúc . VTLV Mạn đàm phần cuối




Cung Oán Ngâm Khúc – VTLV Mạn Đàm Phần 3




The Sympathizer by Viet Thanh Nguyen is a war novel, a spy novel

The Sympathizer by Viet Thanh Nguyen is a war novel, a spy novel—but don’t call it an immigrant novel.

By SCU

The Sympathizer by Viet Thanh Nguyen review – a bold, artful debut

The book won the Pulitzer, and in 2017 Nguyen was awarded a MacArthur “genius” grant and published a collection of stories, The Refugees. The distinction between immigrant and refugee was a central part of Nguyen’s talk and reading on campus last fall.

“We hated immigrants before, some of us hate immigrants now, but the point is that immigrants are part of the American mythology,” Nguyen said. “They’re part of the American dream. Immigrants validate the United States, whether or not we want them to come here at all. Refugees are completely different. Refugees are the unwashed, they are the unwanted, they come bringing with them the stigma of all kinds of fears of contamination, the idea that they come from broken states and broken countries.”

Nguyen himself is a refugee. He was born in the central highlands of Vietnam, and after the fall of Saigon in 1975, his family fled to the United States. He grew up in San Jose and witnessed his vibrant Vietnamese community “still suffering traumatically from what had happened to them,” as he put it. “I grew up hearing all these stories about what the Vietnamese people had gone through. And, at the same time, I was growing up as an American. And I was getting a very different version of this war from American culture.”

Case in point: the jarring difference between the treatment that a film like Apocalypse Now dealt Vietnamese people, versus how Vietnamese people saw themselves. With The Sympathizer, Nguyen set out to try to undo a sense of victimization.

His novel is a tale of America as well as Vietnam. “We were lucky as refugees to come to this country,” he said. “We were not special. And people who were refugees need to stand up for people who are refugees today. Which is why I always claim I’m still a refugee.”

His willingness to tackle difficult subjects has led to him being called a “voice for the voiceless”—a moniker with which he takes umbrage. “The problem, of course, is not that the Vietnamese people are voiceless,” he said. “It’s that no one wants to hear them … Any type of minority—we’re up against systems and structures who don’t want to hear from us, who don’t actually want to give voices to the voiceless. They just want representatives to make it easier for us to be heard. That’s the role I resist.”

Nguyen spoke to a packed house at the de Saisset Museum on October 19. His visit was part of the Reading Forward series, co-sponsored by the Santa Clara Review, the Creative Writing Program, and the Department of English. The series brings writers to campus to participate in classes as well as meet with students and faculty in small groups to discuss writing and publishing. On that front: Nguyen is currently working on a sequel to The Sympathizer called The Committed.




Thông báo Giải Văn Thơ Lạc Việt 2018




Phim Finding the Virgo

 

Ngày 28 tháng 4 năm 2018 Lúc 5 chiều tại Chinese Historical Society of America trên đường Clay Street thuộc thành phố San Francisco tại số 965, một buổi chiếu sơ khởi bộ phim tài liệu mang tên Finding the Virgo, một bộ phim có nhiều tình tiết rất cảm động, nói lên lòng biết ơn sâu xa đối với thủy thủ tàu Virgo và đất nước Hoa Kỳ. Nội dung nói về hành trình vượt biển tìm tự do của một gia đình người Việt, sau khi Cộng sản chiếm được miền Nam Việt Nam. Năm 1980 cùng với 57 người khác trên một chiếc ghe đánh cá nhỏ bé đi qua một cửa sông của con sông Cửu Long để ra biển. Cuộc hải trình dự tính 5 ngày là đến Philippine nên thực phẩm, nuớc uống cùng với nhiên liệu chỉ có 7 ngày. Nhung khi ra hải phận quốc tế hướng về phía Đông đi dược 3 ngày đêm thì bị bão, tàu trôi dạt mất phương hướng. Sau 10 ngày lênh đênh trên biển gặp nhiều thương thuyền nhưng không tàu nào dừng lại cứu giúp. May mắn thay một tàu chở nhiên liệu lõng mang quốc tịch Mỹ có tên LNG Virgo đã dừng lại cứu vớt. Sau đó tất cả 62 thuyền nhân được chuyển qua tàu dầu quân sự có tên USNS Sealift Antartic để ghé cảng Singapore chờ ngày đi định cư Hoa Kỳ. Câu chuyện thuyền nhân chừng như dừng ở đây? Nhưng không…

Chiếc tàu màu trắng có 5 quả cầu to lớn xuất hiện trên đại dương đã ghi vào tâm trí 62 thuyền nhân, đặc biệt in sâu vào tâm thức một cháu bé gái lúc đó cô chỉ mới 7 tuổi. Tại Hoa Kỳ gia đình cô thường nói đến chuyện làm sao tìm được những người thủy thủ để nói một lời cám ơn. Khi lớn lên cô đi học trường Luật ra làm việc, cô cố tìm tung tích chiếc tàu và thủy thủ đoàn đã cứu với gia đình cô. Cô đã bỏ công trong nhiều năm có lúc gần như bỏ cuộc, nhưng cô vẫn kiên nhẫn, mãi đến những năm nhờ có internet công việc truy tìm mới có kết quả. Tháng 2 năm 2016 gần 36 năm sau cô đuợc tin vui cho biết vị thuyền trưởng chiếc tàu Virgo hiện đang cư ngụ tại Florida có tên George Overstreet năm nay 86 tuổi. Lập tức cô điện thoại và email cho ông. Cô và gia đình cô luôn nhớ chiếc tàu cứu mạng và cô nghĩ ông là người đã cứu vớt 62 thuyên nhân trên chiếc ghe đanh cá có tên Thắng Lợi, ông George đã mời cô và ba mẹ cô đến Florida.

Cuộc hạnh ngộ, ngày 26 tháng 3 năm 2016 tại nhà George Overstreet thuộc thành phố Lakeland bang Florida. Ông George và gia đình, cùng ông Don Mc Lendon trưởng cơ khi tàu Virgo trong đó có cả ông Douglas Torborg thuyền trưởng tàu USNS Sealift Antarctic nhận thuyền nhân từ tàu LNG Virgo để chở đi Singapore. Trước sân nhà chủ nhân và khách mời gặp nhau tay bắt mặt mừng nhưng chưa hề biết nhau. Thuyền nhân năm xưa không cầm được mắt khi gặp lại những ân nhân đã cứu vớt họ. Việc cứu người trên biển Đông vào đầu thập niên 1980 không phải là một công việc dễ dàng cho các vị thuyền trưởng, họ phải làm nhiều thủ tục phiền toái nếu họ không can đảm và không có lòng nhân đạo. Sau khi rà soát lại giữa thuyền trưởng Douglas Torborg và ông George Overstreet biết ra trong tháng 6/1980 ông George đang nghỉ phép. Chính ông Hartmann Schonn đang là thuyền trưởng tàu Virgo lúc đó đã ra lệnh vớt thuyền nhân. Nhưng ông đã qua đời vào năm 2000, sau khi ông mất, vợ ông là bà Karin di chuyển đi nhiều nơi không còn ở New York. Thuyền trưởng Hartmann là một người rất nhân hậu ông có trái tim Bồ tát, ông nổi tiếng về hành động cứu người trên biển Đông. Từ những tin tức đặc biệt về ông Hartmann Schonn, cô tiếp tục dọ hỏi thêm cuối cùng tìm được bà Karin đang sống ở Âu Châu nước Đức.

Ngày thứ Bảy 4 tháng 11 năm 2017 các thủy thủ của tập đoàn LNG và ETC đa số đã về hưu tuổi từ 55 cho đến 92 gặp nhau tại Bảo Tàng Viện Mirchare Navy Academy thuộc trường Đại học Hàng Hải Maritime College ở Fort Schuyler thành phố Bronx tiểu bang New York. Cuộc tương phùng giữa một gia đình thuyền nhân đang cư ngụ tại thành phố San Jose với các thủy thủ đoàn 8 chiếc tàu trong đó tàu Virgo là 1/8 chuyển vận khí đốt hóa lỏng của tổ họp ETC. Những thủy thủ trên chiếc tàu Virgo tham dự cứu vớt 62 thuyền nhân năm 1980 đang có mặt trong buổi họp là: Bà quả phụ Karin Schonn, ông Don Mc Lendon, ông Larry O’Toole, ông Kennth.D. Nelson, ông Daniel G. Hanson… Gia đình thuyền nhân đã trao tặng Bảo Tàng Viện một tác phẩm nghệ thuật bằng đồng của Điêu Khắc Gia Phạm Thế Trung biểu tượng cho Vietnamese Boat People làm kỷ niệm với lời cám ơn. “A gift in gratitude from Vuong family on behalf of the Vietnamese Boat People”

Buổi tiếp tân gần 200 quan khách Mỹ và Việt đến tham dự vì khán phòng hơi hẹp nên có 3 đợt chiếu phim cho quan khách xem để xin các ý kiến cũng như những đề nghị. Phim Finding the Virgo sẽ hoàn tất trong nay mai và sẽ trình chiếu cho công chúng.

 




CHA RỒNG MẸ TIÊN dạy con cái LẠC VIỆT hát ca kiểu 6 – 8 lục bát từ thời nào?

http://vantholacviet.com/wp-content/uploads/2018-CHA-RONG-ME-TIEN-DAY-CON-hat-THO-luc-bat-rev2.pdf

CHA RỒNG MẸ TIÊN
dạy con cái LẠC VIỆT
hát ca kiểu 6 – 8 lục bát
từ thời nào?

Kính Nhớ Ngày Giỗ Tổ Lạc Việt
LsNguyenCongBinh@gmail.com




Thiếu niên gốc Việt 13 tuổi tại Mỹ nói về ngày Quốc Hận và quốc cộng!




Tưởng Niệm 43 Năm Quốc Hận 30-4-2018. Việt Museum In San Jose




Hồn Tử Sĩ


Quý Anh Chị thân mến : Hồn Tử Sĩ

Thay mặt Vietnam Film Club, xin gởi tới quý Anh Chị bài viết của tác giả Sơn Tùng – một nhà báo kỳ cựu hiện đang sống tại Washington DC – về phim tài liệu Hồn Tử Sĩ – Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa sẽ được ra mắt tháng 10 này .

Cũng xin thưa cùng quý Anh Chị, Vietnam Film Club là một tổ chức độc lập, với tôn chỉ : “Thực hiện các phim tài liệu để đưa ra ánh sáng những Sự Thật về Chiến Tranh Việt Nam“.

Rất mong quý Anh Chị giúp phổ biến bài viết của nhà báo Sơn Tùng và “Hồn Tử Sĩ”

Chân thành cảm tạ quý Anh Chị.

Thân mến

Trịnh BÌnh An

download

NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HÒA: CHUÔNG GỌI HỒN AI?

* Sơn Tùng

 

Trước khi qua đời năm 2000 tại California, Học giả Phạm Kim Vinh đã viết 37 cuốn sách (Việt ngữ và Anh ngữ) để đề cao chính nghĩa của người Việt Quốc Gia trong cuộc chiến đấu kéo dài 30 năm (1945-1975) chống lại chủ nghĩa cộng sản do Hồ Chí Minh và đồng đảng đem từ Nga về núp dưới chiêu bài kháng chiến, giải phóng, gây ra hai cuộc chiến tranh khốc liệt gieo rắc bao đau thương, đổ vỡ cho dân tộc Việt Nam.

Trong 37 cuốn sách đã xuất bản tại hải ngoại (1976-1999), ông Phạm Kim Vinh đã dành hai cuốn để viết về người lính Việt Nam Cộng Hòa: cuốn “Thiên Anh Hùng Ca Viết Cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” (1984) và cuốn “Tôn Vinh Cuộc Chiến Đấu Thần Thánh Của Quân Lực VNCH” (1999).

Trong hai cuốn sách này, tác giả Phạm Kim Vinh, với bản thân mình cũng từng là một người lính, đã gửi gắm tâm huyết trên hơn 500 trang giấy mà ông muốn người đọc cùng ông đi lại con đường “người lính” VNCH đã đi như những dòng bi phẫn được ông viết trên bìa sau cuốn sách thứ nhất: “Mời độc giả làm một cuộc hành hương để đi lại con đường dài mà Quân Lực VNCH đã bình thản đi trong hơn hai chục năm, – con đường  mà kể về sự khắc khổ và chịu đựng còn vượt xa con đường Vạn Lý Trường Chinh của Mao Trạch Đông, và về tính cách thiêng liêng, vị tha và cao quý còn vượt xa các cuộc Thánh Chiến thời Trung Cổ. Cuộc hành hương ấy sẽ giúp chúng ta tìm lại được niềm kiêu hãnh về Quân Lực VNCH, và sẽ cung cấp cho chúng ta chứng liệu cần thiết để đòi thế giới bên ngoài phải trả lại cho quân lực ấy cái danh dự mà thế giới ấy đã đánh cắp mất, rồi lại còn dám trơ trẽn buộc tội cho quân lực ấy là không chịu chiến đấu‘”.

Từ lúc ông Phạm Kim Vinh viết những dòng trên đây đến nay (2016), 32 năm đã trôi qua. Biết bao đổi thay đã diễn ra, bao nhiêu sự thật đã được đưa ra ánh sáng, trong đó có những tài liệu mật về chiến tranh Việt Nam đã hết còn “mật”. Những sự thật ấy đã được “thế giới bên ngoài” nói lên qua những bài báo, những cuốn sách, những cuộc hội thảo, và những cuốn phim. Những sự thật ấy đã phần nào trả lại danh dự cho Quân Lực VNCH.

Dựa trên những sự thật ấy, gần đây nhất, một cuốn phim tài liệu về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa và Quân Lực VNCH đã được thực hiện, không phải do “thế giới bên ngoài”, mà do chính người Việt ở Mỹ làm.

Cuốn phim này tựa đề là “Hồn Tử Sĩ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, do Vietnam Film Club thực hiện, song ngữ (Việt-Anh), dài một giờ chiếu.

Cuốn phim 60 phút cho một cuộc chiến dài 30 năm và những gì xảy ra trong hơn 40 năm sau đó cho một nghĩa trang với 16 ngàn ngôi mộ của quân đội bên bại trận sẽ nói được gì?

Dĩ nhiên là không nhiều lắm. Nhưng, nó như một tiếng chuông gọi hồn, không phải chỉ cho 16 ngàn chiến sĩ nằm trong một nghĩa trang điêu tàn thảm đạm mà còn cho hàng triệu người đã ngã xuống trong hơn 30 năm trên mọi miền đất nước vì không muốn sống cuộc đời của những con “thú người” mất tự do, nhân quyền, nhân phẩm.

Cuộc chiến đấu bằng súng đạn đã chấm dứt vào ngày 30.4.1975, nhưng chưa chấm dứt trong lòng người, trong tư tưởng và vẫn còn đang diễn ra hàng ngày, không tiếng súng, trên một đất nước được cho là đã “hòa bình” nhưng là “hòa bình của nấm mồ”, là cái chết của Tự Do cho cả một dân tộc.

Thực trạng của “nền hòa bình” ấy người ta có thể nhìn thấy qua hình ảnh trên cuốn phim những ngôi mộ hoang phế, bị đập phá, hương tàn khói lạnh trong một khu đất trước đây được gọi là “Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa”. Cảnh hoang tàn nơi đây tương phản hẳn với những nghĩa trang dành cho tử sĩ phe thắng trận – huy hoàng, tráng lệ.

Sự kiện trái ngược này cho thấy không thể so sánh cuộc Chiến Tranh Việt Nam (1945-1975) với cuộc Thế Chiến I (1914-1918) và cuộc Thế Chiến II (1939-1945), càng không thể so sánh với cuộc Nội Chiến tại Hoa Kỳ (1861-1865) vì có một khác biệt căn bản không thể bỏ qua: Những cuộc chiến tranh này đã thực sự chấm dứt khi im tiếng súng với sự toàn thắng của chính nghĩa.

Trái lại, cuộc Chiến Tranh Việt Nam kéo dài 30 năm giữa Thế Kỷ 20 đã kết thúc với sự thua bại của chính nghĩa. Vì vậy cuộc chiến ấy chưa chấm dứt và đã chuyển sang một hình thái khác, không có tiếng súng.

Đó là lý‎ do vì sao những kẻ chiến thắng bằng xe tăng đại pháo Nga Tàu chưa hết sợ sau khi chiến tranh đã chấm dứt. Họ sợ những người lính phe địch đã buông súng, và sợ cả những kẻ thù đã chết. Họ cần phải xóa bỏ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, dấu tích của một quân đội hùng mạnh đã chiến đấu anh dũng dưới ngọn cờ chính nghĩa Tự Do mà hàng chục triệu dân miền Nam VN vẫn không thôi tưởng nhớ. Chính điều này đã khiến CSVN chưa dám thẳng tay phá hủy Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa nhưng đã từng bước thực hiện kế hoạch thâm độc mà bước đầu tiên là đổi tên thành “Nghĩa Trang Nhân Dân Bình An” và giao cho địa phương quyền quản trị và sử dụng khu đất ấy.

Bước thứ hai là để cho dân địa phương lấn đất nghĩa trang, hủy hoại dần những ngôi mộ, đồng thời cho trồng những loại cây lớn xen kẽ ngay bên cạnh những ngôi mộ. Những hàng cây này nay đã cao hơn đầu người, năm bảy năm nữa Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa sẽ biến thành một khu rừng và những nấm mồ sẽ không còn nữa, xương thịt bên dưới sau nửa thế kỷ sẽ tan biến vào lòng đất.

Phải là người vô tâm lắm, nếu không dám nói “ngây thơ”, mới không nhìn thấy dã tâm của người cộng sản. Nhưng từ mấy năm gần đây, người ta đã nghe nói nhiều, và tranh cãi nhiều về việc “trùng tu” Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa dù chưa ai thấy có văn kiện nào cho biết UBND Xã Bình An đã đồng ý‎ cho ai “trùng tu” Nghĩa Trang Nhân Dân Bình An.

Trong khi đó đã diễn ra những cuộc thăm viếng của các phái đoàn người Việt từ hải ngoại về, kể cả vài viên chức ngoại giao Mỹ và VC, kể cả những cuộc gây quỹ nhân danh “trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa”, dù trên giấy tờ nghĩa trang ấy không còn nữa.

Những hiện tượng ấy đã tạo ra ảo tưởng rằng CSVN đã “thay đổi”, đã “cởi trói” và đồng ‎ý, cho phép “trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa”. Cần phải cảnh giác về ảo tưởng này, vì nó chỉ là… ảo tưởng trong lúc CSVN  muốn mọi người nghĩ như thế, và vì đó là một xảo thuật lừa gạt dư luận mà CSVN quen dùng.

Cuốn phim “Hồn Tử Sĩ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa” là một tài liệu “giải ảo”, một tài liệu lịch sử rút ngắn về Quân đội VNCH và về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa (xưa và nay) để nhắc nhở mọi người không thể lãng quên, nhất là những thế hệ trẻ sinh ra sau chiến tranh, để – như lời Học giả Phạm Kim Vinh – “giúp chúng ta tìm lại được niềm kiêu hãnh về Quân lực VNCH” và ghi ơn những chiến sĩ của quân lực ấy, nhất là những người đã ngã xuống trong khi chiến đấu chống lại kẻ thù chung của dân tộc và nhân loại, kẻ thù của Tự Do và Tình Người.

Ngay ở đầu cuốn phim, Thiếu Tá Richard Botkin, tác giả cuốn Ride the Thunder, đã nói “người cộng sản không bao giờ quên và không bao giờ tha thứ” (the communists never forget and never forgive). CSVN đã phải trả giá rất đắt trong cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam VN vì sự chiến đấu dũng cảm trong suốt 20 năm của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cộng sản không bao giờ quên điều ấy và không bao giờ tha thứ.

Nhưng người CSVN cũng không nên quên rằng cái gọi là “Đại thắng mùa xuân” năm 1975 không phải là chiến thắng cuối cùng. Cái thắng bằng xe tăng đại pháo Nga Tàu trước một quân đội đã bị trói tay chưa trả lời dứt khoát câu hỏi “ai thắng ai”. Khối Cộng sản Đông Âu và Liên Sô, cái nôi của CSVN, đã mồ yên mả đẹp từ một phần tư thế kỷ trước. CSVN không thể tồn tại mãi để trả thù những người đã chết.

Muốn được nhẹ tội khi ngày phán xét cuối cùng đến để trả lời câu thách thức “ai thắng ai”, CSVN nên bắt đầu sám hối là vừa, trước tiên là tạ tội với những người đã chết, ngưng ngay kế hoạch xóa bỏ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Bằng không, ngày luận tội sẽ không tránh khỏi những bản án nặng nề, mà cuốn phim “Hồn Tử Sĩ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa” có thể được dùng như một bằng chứng buộc tội. (*)

Sơn Tùng (Virginia, ngày 8.9.2016)

 

(*) Phim “Hồn Tử Sĩ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa” sẽ được chiếu ra mắt (giới thiệu và phát hành) tại Nhà hàng Harvest Moon, Falls Church, Virginia, vào lúc 3 giờ chiều ngày Chúa Nhật 16.10.2016.

Vietnam Film Club email: vietnamfilmclub@aol.com

Vietnam Film Club website: vnfilmclub.org

———————————————————————————————–
the-fallen-dvd-cover-front

NGHĨA TRANG QUÂN ĐI BIÊN HÒA

 

 Sau năm 1965, Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa được xây dựng bên cạnh xa lộ Sài Gòn-Biên Hòa. Từ đó các tử sĩ khắp nơi được đưa về an táng tại nghĩa trang này.

Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa là một dự án quy mô với sự hợp tác của nhiều cơ quan trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Dự trù cho khoảng 30.000 ngôi mộ. Nghĩa Trang được xây dựng theo mô hình “Con Ong” với ý nghĩa “Con ong không thờ hai chúa – Người lính chỉ chết cho ngọn cờ dân tộc”.

Nghĩa Trang dự tính sẽ khánh thành đợt Một vào Ngày Quân Lực 19/6/1975.  Thế nhưng, ngày ấy đã không bao giờ đến khi miền Nam bị cưỡng chiếm Tháng Tư 1975. Từ đó, Nghĩa Trang trở thành một vùng đất hoang phế và ngăn cấm, ngay cả thân nhân các tử sĩ cũng không được phép viếng thăm.

Khi ông Chu Lynh  – Editor và đồng sáng lập Vietnam Film Club – trở về Việt Nam năm 2003 thăm gia đình,  ông đã đến viếng thăm Nghĩa Trang và nhận thấy tình trạng hoang phế với sự tàn phá có chủ đích. Dù bị cấm đoán, ông may mắn thu được một số hình ảnh của Nghĩa  Trang cùng một đoạn phim ngắn. Chuyến thăm được ông thuật lại trong bài viết “Hồn Ai Trong Gió”. Nhưng hơn 10 năm sau Vietnam Film Club mới có dịp thực hiện phim tài liệu về Nghĩa Trang này.

“Hồn Tử Sĩ – Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa” trình bày: Lịch sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Lịch sử Nghĩa Trang trước 75 ● Hiện trạng hoang phế sau 75  ● Bài học từ những nghĩa trang trên thế giới nơi tử sĩ của các bên được tôn trọng như nhau .

Phim có sự đóng góp của :

Alan Lowenthal, Dân Biểu Quốc Hội Hoa Kỳ
Dan Southerland, Executive Editor, Đài Á Châu Tự Do
George J. Veith, Tác Giả sách Black April
Richard Botkin, Tác Giả sách Ride The Thunder
Fred Koster, Đạo Diễn phim Ride The Thunder

Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa không chỉ là một di tích lịch sử mà còn là biểu tượng cho truyền thống nhân bản của người Việt từ ngàn đời: “Chăm lo người sống & Tôn trọng người chết” thể hiện qua câu tục ngữ “Sống một mái nhà – Chết một nấm mồ.”     

  Phim song ngữ Anh-Việt – Thời lượng 45 phút    

  https://www.youtube.com/watch?v=7t2P-vBPsnY

  VFC – Trailer – Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa          




Video Lễ Trao giải thưởng Văn Thơ Lạc Việt năm 2017




Lễ trao giải Văn thơ Lạc Việt

Xem Hình Lễ trao giải VTLV 2017

Live Video 1     Live Video 2




Bộ ảnh Sài Gòn xưa được tái hiện một cách chân thật

Trường Sơn – Hiển Đặng

Xem qua bộ ảnh dưới đây, bạn sẽ ngỡ ngàng không tin được rằng nó được chụp vào năm 2017. Hình ảnh Sài Gòn xưa được những tay máy tái hiện lại qua bộ ảnh “Sài Gòn, cõi nhớ”.

Bộ ảnh “Sài Gòn, cõi nhớ” được những người yêu Sài Gòn tái hiện lại một cách rất chân thật. Tuy những bức ảnh không được chụp bởi nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp, nhưng với sự chuẩn bị kỹ lưỡng và kiến thức về Sài Gòn xưa, người xem dễ dàng nhớ lại một thời hoa lệ của thành phố này.

Bộ ảnh được đầu tư rất công phu, từ trang phục đến phương tiện đều được chọn lựa kỹ càng cho phù hợp với bối cảnh. 


Thành công của bộ ảnh nằm ở những chiếc áo dài đậm nét những năm 70

Kết hợp áo dài xưa và xe cổ khiến bộ ảnh trở nên chân thực

Bạn sẽ ngỡ ngàng khi nhận ra đây là những bức ảnh chụp vào năm 2017

Những mảng màu xưa cũ đã được tái hiện lại rất thành công nhờ sự tham gia của những cô gái hiện đại nhưng đam mê tà áo dài xưa.“Sài Gòn, cõi nhớ” là ý tưởng của những người trong hội chơi xe cổ Sài Gòn. Trong một buổi gặp gỡ thường niên của hội, ý tưởng tái hiện lại một Sài Gòn xưa qua ảnh đã được thống nhất. 10 ngày lên ý tưởng, với trang phục và xe cổ những người tham gia tự chuẩn bị, để trong một buổi sáng cuối tuần, bộ ảnh đã được hoàn thành với sự háo hức và tận tâm của những người tham gia.

Nét đẹp của những cô gái Sài Gòn xưa

Góc đường Nguyễn Trung Trực khi lên ảnh vẫn giữ được nét đẹp của Sài Gòn

Không chỉ mẫu nữ, mà các anh cũng rất thời trang

Những chiếc xe cổ được mang đến từ các thành viên trong hội Xe Cổ Sài Gòn

Phong thái mang nép đẹt Sài Gòn cũ.Góp phần thành công cho bộ ảnh, chính là sự am tường kiến thức về Sài Gòn thời xưa, cũng như tâm huyết khi dành nhiều thời gian để tìm kiếm trang phục của những người tham gia. Toàn bộ hình ảnh được thực hiện bởi những nhiếp ảnh không chuyên, người mẫu không chuyên là thành viên của nhóm. 


Hai cha con anh Trần Khắc Dũng cùng tham gia dự án

Con gái của anh Trần Khắc Dũng

Chị Nguyễn Hồng Nga trong tà áo dài của mẹAnh Nguyễn Thanh Bình (1957) là một thành viên trong dự án “Sài Gòn, cõi nhớ”. Tuy là một người Hà Nội, nhưng tình yêu và kiến thức về Sài Gòn của anh khiến nhiều người khâm phục. Vốn là người thích phiêu lưu khám phá, đặc biệt là thú chơi xe cổ và nhiếp ảnh ăn sâu vào máu, nên anh đã rất hào hứng tham gia vào dự án “Sài Gòn, cõi nhớ”.


Anh Nguyễn Thanh Bình chủ nhân của những bức ảnh.Anh Thanh Bình chia sẻ: “Tuy anh em tham gia dự án đều là những tay máy không chuyên, mẫu cũng không phải chuyên nghiệp, nhưng với sự am hiểu Sài Gòn, nên ai cũng cố gắng hoàn thiện bộ ảnh. Dẫu cho sau khi hoàn thành, bộ ảnh còn nhiều thứ chưa hoàn thiện, nhưng anh em đã rất hào hứng với thành công này.”

Bộ ảnh giúp những người trẻ chúng ta phần nào hiểu thêm về nét đẹp của Sài Gòn xưa, và nếu bạn là một người từng sống ở Sài Gòn qua thời gian hoàng kim nhất, chắc chắn ít nhiều bạn sẽ tìm thấy lại một khoảng ký ức về một thời đã qua.



Khuôn mặt phụ nữ đẹp nhất trong năm

Từ Thức

 

Người đàn bà tươi nhất trong năm không phải là một minh tinh màn ảnh vừa lãnh Oscar . Người đàn bà đẹp nhất trong năm không phải là người mẫu với thời trang đắt tiền. Khuôn mặt đàn bà tươi đẹp nhất trong năm là một phụ nữ với trang phục bình dị, tươi cười, bình thản đi vào hang cọp, lãnh án 10 năm tù. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh.

Nhìn hai tấm hình, một , với Như Quỳnh tươi như một bông hoa giữa một lực lượng an ninh hùng hậu, và hai, bà phát ngôn viên Bộ Ngoại giao nhăn nhó tuyên bố phiên toà diễn ra đúng tiêu chuẩn dân chủ, khó tưởng tượng ai là người sắp đi tù 10 năm, ai đang loan một tin đáng hãnh diện.

Phải chăng bởi vì một người biết mình sắp nói láo, và biết thiên hạ biết mình nói láo ? ‘’ Người ta nói láo bằng miệng, nhưng cùng lúc, với bộ mặt, người ta cũng để lộ sự thực ‘’. Nietzsche (1)
Phải chăng NNNQ có cái an tâm tự tại của một người biết mình có chính nghĩa, biết mình có lý, biết mình đã làm chuyện phải làm, đã gỡ danh dự cho hàng triệu người cúi đầu cam chịu ?

Như Quỳnh bị y án 10 năm tù. Như người ta dự đoán. Ở VN ngày nay, có thể cướp của giết người, có thể hiếp dâm, miễn là đừng đụng tới Trung Quốc.
Trước Như Quỳnh vài ngày, Nguyễn Văn Hóa đã lãnh 7 năm tù vì đã khui vụ Formosa. Đã phạm tội ‘’ chống phá nhà nước ‘’. Hai mươi hai tuổi, vẫn chưa hiểu Formosa là nhà nước, nhà nước là Formosa.

Ở một xứ bình thường, đó là cái án dành cho những kẻ cướp của giết người.
Một lực lượng an ninh hùng hậu áp tải Mẹ Nấm, bao vây toà án, đàn áp những người tới chứng kiến phiên toà.
Bị can là một tên khủng bố nguy hiểm, đã ném bom, đặt mìn, đã cầm đầu một lực lựợng võ trang lật đổ chính quyền ? Không. Chỉ là một phụ nữ tay trắng, với hai đứa con dại. Mười năm tù, vì đã phạm cái tội nghiêm trọng nhất trong bối cảnh VN ngày nay. Đã gào thét Hoàng Sa, Trường Sa là của VN, Formosa đang giết dân Việt hãy cút khỏ VN .

Tàu nó chiếm từng tỉnh, từng vùng, thải chất độc giết dân, nhà cầm quyền không dám mở miệng. Một phụ nữ chân yếu tay mềm lên tiếng thay, đáng lẽ phải đội ơn, người ta tống vào nhà tù. Tuyên án 10 năm tù cho một người mẹ với hai đứa con còn nhỏ dại, chỉ vì cái tội có lòng với đất nước. Thản nhiên như búng tay kêu một ly cà phê, một tô phở.

Xin các nhà ngôn ngữ học, nhan nhản ở VN, đang thi thố tài năng trên TV, tìm một chữ gì thay cho chữ ‘’ tòa án, công lý ‘’ của người Cộng Sản.
Ở một xứ văn minh, quan tòa là người bảo vệ công lý. Ở VN , đó là một nhóm vệ binh ngồi xổm trên pháp luật, phóng uế trên lương tâm. Có những buổi sáng, soi gương, thấy xấu hổ là người Việt Nam. Ra đường không dám ngửng nhìn thiên hạ.

Cái tươi cười, bình thản, cương quyết nhưng không một chút oán thù của một người đàn bà tay trắng, với lương tâm bình an, khiến lực lượng an ninh hùng hậu chung quanh trở thành lố bịch. Bạo quyền tự nhiên trở thành lố bịch. Trơ trẽn. Khả ố.
Một hình ảnh nói nhiều hơn một trăm trang giấy.

Paris 01.12.2017

( 1 ) ‘’On ment bien de la bouche, mais avec la gueule qu’on fait en même temps, on dit la vérité quand même ‘’. Nietzsche




Xin Chào Việt Nam – Nghệ sỹ Violin JMI KO




Thiệp mời lễ Trao giải Văn Thơ Lạc Việt năm 2017

 




Rồi mẹ Nấm sẽ về

 

Đỗ Cao Cường

Chú lênh đênh trên biển

Cô thuyền cứ lắc lư

Chú lại bị say sóng

Phải làm sao bây giờ?

Chú dạt tới Nha Trang

Thăm hai người bạn nhỏ

Nhưng trong lòng thấy sợ

Vừa mừng lại vừa lo

Vì trong đôi mắt cháu

Có ngọn lửa căm hờn

Thôi đừng buồn nữa nhé

Tuổi thơ không có tội

Lịch sử còn ghi sai

Người đời sao biết được

Mẹ cháu là anh hùng

Tội lắm tuổi thơ ơi!

Cố gắng lo học bài

Bơm đầy mực vào nhé

Đừng để nhòe trang sách

Còn địu em tới trường

Thế giới này buồn lắm

Sống một mình cho vui

Gặp bạn tốt ta chơi

Bạn xấu thì ta tránh

Nửa đêm đừng tỉnh giấc

Đòi mẹ: mẹ, mẹ ơi!

Lệ đầm đìa trên gối

Mẹ ở đâu bây giờ?

Các cháu có làm sao

Mẹ Nấm sao sống nổi

Sẽ chẳng ai mua thuốc

Chỉ có mẹ có bà

Mẹ Nấm ở bên kia

Bốn bức tường lạnh ngắt

Cơm chan cùng nước mắt

Thèm một tiếng gọi Con

Thôi đừng buồn nữa nhé

Tuổi thơ chỉ có một

Màn đêm rồi sẽ tắt

Để nhường ánh bình minh

Mai dân mình tỉnh giấc

Rồi mẹ Nấm sẽ về

 

Ngày 17/11/2016

 

(Quán Cafe Trịnh – 50 Xuân Thủy – Sài Gòn)




Vấn đề biên giới VN dưới thời quân chủ

Từ Chính Sách Hòa Thân của Các Vua Nhà Lý đến Hoàng Triều Cương Thổ Thời Quốc Trưởng Bảo Đại:

 

image020

Phạm Cao Dương

 

Nam quốc sơn hà Nam Đế cư

 

Thơ cổ đời Lý, thời Lý Thường Kiệt chống quân Nhà Tống (1076)

 

            Sau khi tác phẩm Bảo Đại – Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam được xuất bản vào đầu năm 2017, nhiều độc giả đã liên lạc với tác giả bầy tỏ sự thắc mắc về danh xưng “Đế Quốc Việt Nam”, danh xưng đã được Vua Bảo Đại và Chính Phủ Trần Trọng Kim lựa chọn làm quốc hiệu chính thức của nước Việt Nam đầu tiên độc lập sau 80 năm dài thuộc Pháp.  Đây là một thắc mắc không phải là không có lý do vì hai chữ “đế quốc” trong ngôn ngữ Việt Nam hiện tại thường được hiểu theo nghĩa xấu của nó và được dùng cho các đại cường quốc thuộc địa thời Thế Kỷ 19 và 20, còn Việt Nam thì chỉ là một nước nhỏ còn đang phải tự mình tranh đấu giành độc lập và tiến bộ cho chính mình mà chưa xong, nói chi đến chuyện làm đế quốc.  Tự nhận như vậy là không biết phận mình, là lộng ngôn.  Đế quốc theo các vị này hiểu là đồng nghĩa với bạo lực, với nước lớn bắt ép nước nhỏ, là xâm lăng, đô hộ, là chiếm đóng nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên, nhân lực và thị trường để làm giàu cho mình.  Nói tới đế quốc là người ta nghĩ tới Trung Hoa dưới các Triều Đại Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh…và luôn cả hiện tại ở Đông Á, Đế Quốc La Mã thời xưa ở Âu Châu, rồi Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha thời Cận Đại, sau đó là Đế Quốc Anh, Đế Quốc Pháp, rồi Đế Quốc Nhật, sau chót, đúng hay không đúng, Đế Quốc Mỹ…mà người ta phải chống lại như chống tội ác. Thực sự danh xưng đế quốc trong quốc hiệu Đế Quốc Việt Nam hoàn toàn không mang ý nghĩa này mà chỉ là “nước có hoàng đế” theo nghĩa đầu tiên Đào Duy Anh ghi trong Hán Việt Từ Điển của ông, là nơi Hoàng Đế nước Nam cư ngụ, nơi Nam Đế cư, theo bài thơ cổ tương truyền là của Lý Thường Kiệt dẫn trên. Vua Bảo Đại vì mang danh vị là hoàng đế nên nước của ông gọi là đế quốc.  Jules Silvestre qua tác phẩm về lịch sử Việt Nam xuất bản ở Paris năm 1889 đã lấy nhan đề là L’Empire d’Annam et le Peuple Annamite, kế đến Charles Gosselin với tác phẩm L’Empire d’Annam, xuấn bản năm 1904, rồi Yoshiharu Tsuboi với tác phẩm L’Empire Vietnamien Face à la Chine et la France, 1847-1885 [i], xuất bản năm 1987.   Đơn giản chỉ có thế.  Đế Quốc Việt Nam chỉ có nghĩa là núi sông, là đất nước Vua Việt Nam (và các thần dân của ông) ở, là “sơn hà Nam Đế cư” theo như sách Trời đã định rõ ràng, thời xưa, là “Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư” và là “có sách Trời định phận”[ii] thời Bảo Đại-Trần Trọng Kim, để phân biệt với nước Tầu ở phương Bắc. Thế thôi.

 

Hiểu như trên tuy nhiên chỉ là đơn giản theo nghĩa của từ điển.  Muốn có một nhận định đầy đủ hơn người ta phải trở về với lịch sử Việt Nam ngay từ những buổi đầu với Lý Bôn, người được biết nhiều hơn qua đế hiệu Tiền Lý Nam Đế, Thế Kỷ Thứ 6, liên tục đến thời Hoàng Đế rồi sau này là Quốc Trưởng Bảo Đại với chính sách Hoàng Triều Cương Thổ của ông với tất cả những vấn đề phức tạp cho một bài viết. Ở đây tác giả chỉ ghi lại hai điểm cơ bản, rõ hơn hai vấn đề chính yếu, liên hệ đến quốc hiệu này mà thôi.  Đó là vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc dưới thời các triều đại quân chủ Việt Nam và vấn đề an ninh lãnh thổ và khai thác các miền đất mới trên Cao Nguyên Miền Nam hay Cao Nguyên Miền Trung hay Tây Nguyên ở thời hiện đại.

 

I. Biên Giới Việt-Trung qua Các Triều Đại Quân Chủ Việt Nam và Chính Sách của Các Hoàng Đế Việt Nam Đối Với Các Sắc Dân Miền Núi

 

 “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ?

 

Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần.                                                                  

 

Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương bắc                                                                  

 

trình bày cho rõ điều ngay, lẽ gian. Nếu ngươi dám đem                                                                

 

một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc thì tội                                                          

 

phải tru di”.

 

Vua Lê Thánh Tông

 

dụ Thái Bảo Kiến Dương Bá Lê Cảnh Huy (1473) [iii]

 

            Do thực tại địa lý, do hoàn cảnh nhân văn và lịch sử và do những quan niệm về chính trị, vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc là một vấn đề vô cùng  phức tạp và tế nhị.  Vấn đề này đã được đặt ra ngay từ những ngày đầu của lịch sử dân tộc Việt Nam và tồn tại cho đến tận ngày nay.  Trong phần này người viết trình bày một cách tổng quát vấn đề biên giới Việt – Trung qua các triều đại quân chủ trong lịch sử Việt Nam, với nội dung gồm có ba phần: phần thứ nhất nói về tính cách phức tạp của biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc phần thứ hai nói về chủ trương và sách lược bảo vệ lãnh thổ của các triều đại Việt Nam ở miền biên giới này và phần thứ ba dành cho một số những cuộc tranh chấp điển hình.

 

1. Tính cách phức tạp của vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc

 

            Khi tìm hiểu vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, đặc tính đầu tiên người ta phải ghi nhận là đây là miền cư trú của các sắc dân được coi là thiểu số, khác vời các miền đồng bằng là nơi cư trú của người Việt hay người Kinh.  Ở đây các sắc dân này đã không sống lẫn lộn với nhau mà riêng biệt, mỗi sắc dân một khu riêng thành từng khu vực dưới sự lãnh đạo của các thổ tù trưởng riêng của họ.  Đặc tính thứ hai là cho đến thời kỳ Pháp thuộc, giữa Việt Nam và Trung Quốc không có đường biên giới rõ ràng như người ta quan niệm ngày nay mà chỉ có những vùng biên giới mà thôi.   Đặc tính này bắt nguồn không những từ thực tại địa lý ở nơi tiếp giáp giữa hai quốc gia mà còn do những yếu tố nhân văn, lịch sử và quan niệm về chính trị của các triều đại trị vì nữa.  Có nhiều lý do ta có thể kể sau đây:

 

Trước hết là về địa lý:  Giữa hai nước Việt Nam và Trung Hoa không có núi cao hay sông lớn có thể dùng làm ranh giới thiên nhiên.  Những sông hay những núi được viện dẫn như những đường phân thủy chỉ là những đồi hay sông nhỏ, có khi chỉ được biết tới một cách mơ hồ và đã trở thành đầu mối của những tranh chấp.  Điển hình là sự lẫn lộn hay cố tình lẫn lộn giữa sông Đổ Chú và một sông nhỏ khác ở thượng nguồn của sông Chảy trong vụ tranh chấp về biên giới giữa hai châu Vị Xuyên và Thủy Vĩ thuộc trấn Tuyên Quang của Việt Nam và phủ Khai Hóa thuộc tỉnh Vân Nam của Trung Hoa vào năm 1728.  Cũng vậy, với các núi Xưởng Chì hay Diên Xưởng, núi Tụ Long mà người viết dám chắc là các giáo sư sử địa hiếm người biết đến ngay cả nghe đến các địa danh này.  Các rặng núi lớn có hình cánh cung ở phía đông của sông Hồng thay vì nằm ngang theo hướng tây – đông để làm ranh giới giữa hai nước lại xòe ra theo hình nan quạt và mở rộng về phía bắc khiến cho sự xâm nhập từ phương bắc xuống trở thành dễ dàng.  Nhiều sông của Trung Quốc lại có nguồn từ trên đất Việt Nam hay ngược lại.  Tính cách núi liền núi, sông liền sông của địa lý chính trị ở biên giới Hoa Việt này không những đã làm cho việc ngăn chặn các cuộc xâm lăng qui mô của người Tàu từ phương bắc xuống trở thành vô cùng khó khăn cho người Việt, mà còn làm cho ranh giới giữa hai nước không bao giờ ổn định.

 

Về phương diện nhân văn, miền biên giới Việt – Trung không phải là nơi cư trú của người Việt hay người Tàu mà là của nhiều sắc dân thiểu số của các miền núi như Tày, Nùng, Thổ, Mán… – Những dân này đã ở cả hai phía, ranh giới cư trú thường không rõ ràng.  Nhiều nhóm đã từ Trung Quốc di cư xuống Việt Nam qua nhiều giai đoan lịch sử khác nhau.  Những con số được ghi trong tác phẩm Địa Dư Các Tỉnh Bắc Kỳ của các soạn giả Đỗ Đình Nghiêm, Ngô Vi Liễn và Phạm Văn Thư, xuất bản năm 1930 ở Hà Nội, dưới thời Pháp thuộc, có thể cho ta một khái niệm về tính cách thiểu số của người Việt cư ngụ ở miền này so với các dân quen gọi là thiều số. Trước hết là ở tỉnh Lạng Sơn. Trong số 85.300 cư dân của tỉnh này, người Kinh hay người Việt chỉ có 3.120 người tức 3.7%, trong khi con số người Thổ là 38.900 người hay 46%, người Nùng là 37.500 người hay 44%, và người Hoa là 3.800 hay 4%.[iv]  Ở Cao Bằng, trên tổng số dân là 87.000 người, số người Kinh chỉ có 1.200 người hay 1,4%, còn người Thổ là 39.930 người hay 46%, người Nùng 38.750 người hay 44.5%, còn lại là người Tàu.  Còn ở Hà Giang thì trong tổng số dân là 69.600 người, người Kinh chỉ có 1.000 người, tức 1,4%, so với 20.600 người Thổ hay 29.6%, còn lại là người Lô Lô, 30%, người Mán, 14%…  Các miền giáp ranh giữa các tỉnh này và các tỉnh miền Nam Trung Quốc do đó đã trở thành những vùng biên giới giữa hai nước.  Sự tùy thuộc vào nước này hay nước kia một phần nằm trong tay các thổ tù trưởng tức các lãnh tụ của các dân địa phương và sự trung thành của họ từ đó tùy theo chính sách của chính quyền trung ương đối với họ.

 

Về quan niệm chính trị của các triều đình liên hệ, vì là những miền đất ở xa kinh đô của cả hai nước Hoa, Việt, các vùng biên giới này được coi như những miền đất “cơ mi” hay “ky mi” là những miền đất làm phên giậu cho triều đình trung ương.-   Đây là  một hình thức cai trị lỏng lẻo nhằm liên kết những miền đất xa xôi thay vì cai trị trực tiếp trong chế độ hành chánh thời cổ, ít nhất từ thời nhà Đường của Trung Quốc mà Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca đã tả rõ trong câu “Cơ mi các bộ man hoang ở ngoài.” Các thổ tù trưởng do đó được cha truyền con nối cai trị lãnh thổ riêng của mình với điều kiện tuân phục triều đình trung ương, một điều kiện tượng trưng cho quyền lực tối cao của quốc gia của người Việt hay các Hoàng Đế Nước Nam.  Vượt lên trên các địa phương, quan hệ giữa các triều đình Trung Quốc và các triều đình Việt Nam cũng mang phần nào tính cách phong kiến của Á Đông theo đó Việt Nam chỉ là một chư hầu của Trung Quốc, lãnh thổ Việt Nam cũng là lãnh thổ Trung Quốc.  Điều này thường được thể hiện qua lời nói hay các thơ văn của các sứ giả Trung Quốc khi được các vua Việt Nam hỏi thăm về sức khỏe sau những cuộc hành trình tới kinh đô Việt Nam.  Việt Nam thường được người Tàu gọi là Giao Chỉ, hiểu ngầm là Giao Chỉ Quận, là một quận của nước Tàu qua tước phong các vua Tàu phong cho các vua Việt Nam là Giao Chỉ Quận Vương kể từ thời Vương Liễn nhà Đinh, kèm theo với danh vị Tiết Độ Sứ là một chức quan của người Tàu, kể cả sau khi tước vị An Nam quốc vương đã được phong cho vua Lý vào năm 1174 và Việt Nam chính thức trở thành An Nam Quốc và kéo dài rất lâu về sau này.  Thái độ phong kiến luôn luôn coi Việt Nam là Giao Chỉ quận này đã giúp cho các hoàng đế Trung Quốc giữ được thể diện mỗi khi phải nhượng bộ và trao trả lại những đất mà họ đã chiếm của Việt Nam, vì theo họ, trong thiên hạ đất nào chẳng là đất của thiên tử, dân nào chẳng là dân của thiên tử.  Rõ rệt nhất và gần với ta nhất là trong sắc văn của vua nhà Thanh viết vào năm Ung Chính thứ sáu, năm Bảo Thái thời Vua Dụ Tông nhà Lê (1728), gửi cho vua Việt Nam về việc trả lại vùng mỏ đồng Tụ Long cho Việt Nam, đoạn chính có viết: “Mới đây Ngạc Nhĩ Thái (Tổng Đốc Vân Nam và Quý Châu thời đó) đem bản tâu của quốc vương (vua Việt Nam thời đó) tiến trình, lời lẽ ý tứ trong bản tâu tỏ lòng cung kính, trẫm (vua Thanh) rất vui lòng khen ngợi.  Vả lại, 40 dặm ấy nếu thuộc vào Vân Nam thì là nội địa của trẫm, nếu thuộc vào An Nam thì vẫn là ngoại vi của trẫm, không có chút gì phân biệt cả. Vậy chuẩn cho đem đất ấy ban thưởng cho quốc vương (vua Việt Nam) được đời đời giữ lấy.” [v]  Nói cách khác sự phân chia biên giới giữa hai nước Hoa, Việt mang nặng tính cách lịch sử và quan niệm chính trị cổ thời. Đó là những giới hạn có tính cách hành chánh nhiều hơn là phân ranh quốc tế.

 

2. Chủ trương và sách lược bảo vệ lãnh thổ ở các miền biên giới của các triều đại quân chủ Việt Nam

 

Chủ trương này được xác định rất rõ ngay từ thời nhà Lý qua bài thơ Nam Quốc Sơn Hà được truyền tụng là của Lý Thường Kiệt và được khẳng định bởi các triều đại kế tiếp sau này.–  Trong bài Nam Quốc Sơn Hà tác giả đã khẳng định sự cương quyết của triều đình nhà Lý là sẽ không dung tha bất cứ kẻ nào dám xâm phạm vào lãnh thổ nước mình. Nhưng đó là một thứ tuyên ngôn nói với người ngoài, với kẻ địch, một kẻ địch lớn hơn và mạnh hơn gấp bội nước Việt Nam thời đó.  Lê Thánh Tông, bốn thế kỷ sau, năm Hồng Đức thứ tư (1473), khi dụ Thái Bảo Kiến Dương Bá Lê Cảnh Huy đã nghiêm khắc khẳng định: “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần.  Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương bắc trình bày cho rõ điều ngay, lẽ gian.   Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc thì tội phải tru di.” [vi]” Lời dụ này vừa là một nghiêm lệnh, vừa là một sách lược điều đình.  Đó là không được nhượng bộ dù là nhượng một thước núi, một tấc sông, vì đó là của cha ông để lại, phải cương quyết tranh biện bảo vệ đến cùng không cho kẻ địch lấn dần ngay tự bước đầu ở mức độ địa phương.  Nếu kẻ địch không nghe thì triều đình sẽ sai sứ sang biện bạch phải trái theo phương thức ngoại giao.  Còn kẻ nào dám đem dù là một tấc đất dâng cho giặc thì không phải chỉ là bị tử hình mà thôi, mà còn bị tru di nghĩa là giết ba họ nữa.  Đây là hình phạt nặng nhất của thời quân chủ, một tội dành cho những kẻ khi quân, phản quốc.

 

Thực thi chủ trương và đường lối kể trên, các nhà cầm quyền quân chủ Việt Nam đã phải đương đầu vừa với các thổ châu mục của mình, vừa với các quan lại địa phương Trung Quốc ở miền giáp ranh với những địa điểm tranh chấp và với triều đình Trung Quốc.

 

            Đối với các thổ mục địa phương, các chính sách được dùng là vừa uyển chuyển, vừa khoan dung, phủ dụ, vừa kết thân, vừa cứng dắn, nghiêm khắc trừng phạt với mục tiêu trước sau không đổi là giữ vững biên cương.  Đối với các quan lại và triều đình Trung Quốc thì nhún nhường, khéo léo, lựa những danh sĩ thông minh, lanh lẹ, có tài biện luận, đồng thời kiên trì tranh đấu, không bỏ cuộc, cố gắng duy trì sự tranh chấp, không nhượng bộ để thiệt thòi cho nước mình hầu có thể đặt vấn đề lại sau này.

 

Để bảo đảm sự trung thành của các thổ mục địa phương, ngoài chính sách cai trị lỏng lẻo, để cho các châu mục cha truyền, con nối như các họ Hoàng, họ Vi, họ Nùng, họ Chu, họ Giáp, họ Thân, họ Hà, họ Đèo… tự trị trong các lãnh thổ của họ, các vua nhà Lý còn dùng hôn nhân để ràng buộc họ chặt chẽ hơn với triều đình trung ương, không phân biệt kinh thượng.  Việc các vua nhà Lý gả các công chúa cho các châu mục miền núi đã được ghi nhận trong chính sử Việt Nam khá nhiều như  năm 1029 Lý Thái Tông gả Công Chúa Bình Dương cho châu mục Lạng châu là Thân Thiện Thái, năm 1082, dưới thời Lý Nhân Tông, Công Chúa Khâm Thánh được gả cho châu mục Vị Long là Hà Di Khánh, năm 1142, dưới thời Lý Anh Tông,  Công Chúa Thiều Dung  được gả cho Dương Tự Minh là thủ lãnh châu Phú Lương, năm 1167, cũng dưới triều Lý Anh Tông, Công Chúa Thiên Cực được gả cho châu mục  Lạng Châu là Hoài Trung Hầu… Trước đó Tống Sử hay một sách khác thời nhà Tống cũng chép là tổ tiên của họ Thân, trước mang họ Giáp, là Giáp Thừa Quí lấy con gái của Lý Công Uẩn, tức Lý Thái Tổ, con Thừa Quí là Thiệu Thái, lại lấy con gái của Đức Chính, tức Lý Thái Tông, rồi con Thiệu Thái là Cảnh Long, lại lấy con Nhật Tôn, tức Lý Thánh Tông…  Ngược lại, Lý Thái Tông lại chọn con gái Đào Đại Di ở châu Chân Đăng đưa về làm hoàng phi.

 

Đối với những lãnh tụ đã làm phản như trường hợp cha con Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao, các vua Nhà Lý cũng tỏ ra rất khoan dung.  Mở đầu, năm 1038, khi Nùng Tồn Phúc xưng đế chống lại triều đình, Lý Thái Tông thân chinh đi đánh bắt được Tồn Phúc đem về kinh xử trảm, con là Trí Cao và vợ là A Nùng chạy thoát được và trở về lập ra nước Đại Lịch, tiếp tục chống lại vào năm 1041.  Lý Thái Tông lại thân chinh đi đánh, bắt được Trí Cao nhưng thương tình cha và anh đã bị giết nên không những tha cho về lại còn sai sứ đến tận nơi phong hàm thái bảo.  Sau đó mẹ con Trí Cao lại xưng đế, làm phản, chống lại cả hai triều Tống và Việt nhưng cuối cùng bị đánh thua phải bỏ chạy sang nước Đại Lý rồi chết ở đó.  Hai lần làm đại nghịch nhưng các triều đình Việt Nam đương thời và sau này vẫn tỏ ra rất khoan nhượng với họ Nùng và những người liên hệ, bằng cớ là ở Cao Bằng các vua Việt Nam vẫn để cho người địa phương lập đền thờ cả hai mẹ con Nùng Trí Cao.  Hai đền này nằm trên hai ngọn núi trong số bốn ngọn bao bọc chung quanh tỉnh Cao Bằng là núi Kỳ Cầm ở phía bắc (đền thờ Nùng Trí Cao), và núi Kim Phả ở phía đông (đền thờ A Nùng, gọi là đền Bà Hoàng), cho đến năm 1930 hãy còn. Chính sách được gọi là hòa thân này cộng thêm với vị trí gần gũi với kinh đô Thăng Long của người Việt hơn là kinh đô của người Tàu và chắc chắn các đường tiếp tế các sản phẩm của miền đồng bằng và miền biển, nhất là muối từ châu thổ Sông Hồng chắc chắn đã là những tác tố vô cùng trọng yếu của sự trung thành của các châu mục với các triều đình Việt Nam hơn là với triều đình Trung Quốc.

 

Trong cách tranh biện để bảo vệ lãnh thổ quốc gia, người ta thấy công tác đã được thực hiện ở hai cấp địa phương và trung ương.  Ở địa phương các thổ mục đóng vai trò chính yếu. Vì là người địa phương, những người này nắm vững tình hình từ địa lý thiên nhiên qua từng con sông, từng ngọn suối, từng trái đồi, từng cột mốc… đến tình hình dân cư với những ruộng nương, nhà cửa, đền thờ của họ, biết rành rẽ hơn những quan lại được cử từ miền xuôi lên.  Không những thế, vì được tự trị, những lãnh thổ được trao cho họ đã được họ coi là phải cẩn trọng giữ gìn.  Chỉ đến khi cần phải tranh luận phải trái giữa hai triều đình trung ương, vai trò của các nhà trí thức, các sứ thần do triều đình trung ương chỉ định mới được đặt ra.

 

3. Một số những cuộc tranh chấp điển hình

 

Với chủ trương bảo vệ “từng thước núi, từng tấc sông”, các triều đại quân chủ Việt Nam một mặt đã cương quyết đấu tranh để bảo vệ những phần đất đã có, mặt khác đã kiên trì đòi lại những lãnh thổ đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm, ngoại trừ hai trường hợp nhượng đất quá nhiều dưới thời Hồ Quí Ly hay dâng đất dưới thời Mạc Đăng Dung.   Cả hai trường hợp này, đặc biệt là trường hợp Mạc Đăng Dung, những người chủ trương đã bị hậu thế lên án nặng nề. Cả hai triều đại này đều bị gọi là ngụy, không phải chỉ vì có nguồn gốc là do sự thoán nghịch mà ra mà còn là vì những hành động bị coi như là phản quốc nữa.   Sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược, đã viết về Mạc Đăng Dung như sau:

 

            “Mạc Đăng Dung đã làm tôi nhà Lê mà lại giết vua để cướp lấy ngôi, ấy là một người nghịch thần; đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ cõi, lại đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là một người phản quốc. Làm ông vua mà không giữ được cái danh giá cho trọn vẹn, đến nỗi phải cởi trần ra trói mình lại, đi đến quì lạy ở trước cửa một người tướng của quân nghịch để cầu lấy cái phú quí cho một thân mình và một nhà mình, ấy là một người không biết liêm sỉ…. Cho nên dẫu có lấy được giang sơn nhà Lê, dẫu có mượn được thế nhà Minh bênh vực mặc lòng, một cái cơ nghiệp dựng bởi sự gian ác hèn hạ như thế thì không bao giờ bền chặt được. Cũng vì cớ ấy cho nên con cháu họ Lê lại trung hưng lên được.”[vii]”

 

            Trên bình diện tích cực, trong phần cuối của phần này, ta nhìn lại ba trường hợp điển hình trong đó các vua quan Việt Nam nói riêng, và người Việt Nam nói chung, đã tỏ ra hết sức kiên nhẫn và cương quyết trong công cuộc bảo vệ biên cương của nước mình.  Đó là là các cuộc đấu tranh để đòi lại châu Quảng Nguyên, các châu Vật Dương, Vật Ác thời nhà Lý và vùng mỏ đồng Tụ Long trong những giai đoạn sau này.

 

Quảng Nguyên là tên cũ của một châu thuộc tỉnh Cao Bằng, từ thời nhà Lê được đổi thành Quảng Uyên.  Dưới nhà Lý, để trả đũa việc Lý Thường Kiệt và Tôn Đản sang đánh các châu Khâm, châu Liêm và châu Ung thuộc các tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Quốc vào năm 1075, năm 1076 nhà Tống sai Quách Quì sang đánh Đại Việt.  Bị quân Đại Việt chống trả kịch liệt lại không hợp thủy thổ, quân Tống bị thiệt hại nặng nề phải rút lui, nhưng vẫn giữ các châu Quảng Nguyên, Tư Lang, Tô, Mậu và huyện Quang Lang. Trong số các châu huyện này Quang Lang và Quảng Nguyên là quan trọng hơn cả vì Quang Lang, sau này được nhà Lê đổi là Ôn Châu là cổ họng của châu Ung, còn Quảng Nguyên là nơi có nhiều mỏ vàng và mỏ bạc. Để thu hồi lại hai châu này, nhà Lý đã dùng cả quân sự lẫn ngoại giao.  Huyện Quan Lang đã được Lý Thường Kiệt chiếm lại không lâu sau đó, có lẽ cùng lúc với các châu Tô Mậu và Môn.   Riêng châu Quảng Nguyên, việc đòi lại phức tạp hơn vì khả năng sản xuất vàng bạc của địa phương này.  Ở đây đường lối ngoại giao đã được sử dụng.  Hai lần nhà Lý đã sai sứ bộ sang thương nghị.  Lần thứ nhất không thành công vì các quan địa phương nhà Tống viện cớ lời biểu của vua Lý có dùng chữ húy của triều Tống nên không nhận.  Lần thứ hai, sứ bộ do Đào Tông Nguyên cầm đầu, đem theo năm con voi làm đồ cống với lời yêu cầu nhà Tống trả lại các đất quân Tống đã chiếm.  Nhà Tống ưng thuận với điều kiện nhà Lý trả lại tất cả những dân các châu Khiêm, Liêm và Ung đã bị quân của Lý Thường Kiệt và Tôn Đản bắt về Đại Việt trước đó.  Nhà Lý ưng thuận và Quảng Nguyên đã trở về với Đại Việt.  Sự hoàn trả Quảng Nguyên cho Đại Việt đã làm cho nhiều người bên nhà Tống bất mãn. Hai câu thơ châm biếm: “Nhân tham Giao Chỉ tượng, khước thất Quảng Nguyên kim” có nghĩa là vì tham voi Giao Chỉ nên mất vàng Quảng Nguyên mà các tác giả Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca dịch sang thơ là “Tham voi Giao Chỉ, mất vàng Quảng Nguyên” đã được họ làm để kể lại trường hợp này.  Thắng lợi này xảy ra vào năm 1079 dưới thời Lý Nhân Tông.

 

Thành công trong việc đòi lại châu Quảng Nguyên và một số đất khác ít năm sau, Việt nam đã không thành công trong việc đòi lại các động Vật Dương, Vật Ác từ trước đã bị các thổ mục họ Nùng dâng cho nhà Tống, mặc dầu sứ bộ nhà Lý do Lê Văn Thịnh, vị thủ khoa của khoa thi đầu tiên của người Việt cầm đầu đã tranh luận gay gắt.  Phản bác lại chủ trương của các quan nhà Tống cho rằng các đất này là của Tống vì do các thổ mục địa phương dâng cho nhà Tống vì họ qui phục nhà Tống, Lê văn Thịnh lý luận rằng “Đất thì có chủ; bọn thuộc lại giữ đất đem dâng nộp và trốn đi, thì đất ấy thành vật ăn trộm của chủ. Coi giữ đất cho chủ lại tự ý lấy trộm tất không tha thứ được, mà ăn hối lộ và tàng trữ của ăn trộm pháp luật cũng không dung. Huống chi, bọn chúng lại có thể làm nhơ bẩn cả sổ sách của quí vị hay sao?”

 

Không những quyết tâm bảo vệ lập trường, các vua quan Đại Việt còn tỏ ra rất kiên trì.       Các cuộc thương nghị đã diễn ra cả thảy sáu lần những đều bị nhà Tống khước từ, cuối cùng đã bị bỏ dở.

 

Thắng lợi trong việc đòi lại được mỏ đồng Tụ Long xảy ra vào năm 1728, năm Bảo Thái thứ 9, thời Vua Trần Dụ Tông.  Thắng lợi này có thể coi là điển hình nhất trong nỗ lực bảo vệ lãnh thổ của các triều đại quân chủ Việt Nam.

 

Để kết luận ta có thể nói là trong suốt mười thế kỷ tồn tại, các triều đại gọi là quân chủ Việt Nam đã luôn luôn quan tâm đến sứ mạng vô cùng thiêng liêng của họ là bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền lãnh thổ của dân tộc.  Đây là một việc làm vô cùng khó khăn, trường kỳ và tế nhị, đôi khi nguy hiểm, trong đó từ vua quan, nho sĩ trí thức, hoàng phi, công chúa… đến các dân thiểu số ở các vùng biên giới xa xăm đều đã cùng nhau đóng góp những phần không nhỏ cho nỗ lực chung.  Điều đáng chú ý ở đây là trong chính sách hoà thân của các triều đình thời đó, các vua đã hy sinh luôn cả hạnh phúc cá nhân và gia đình của chính mình, đem các công chúa gả cho các thổ tù trưởng ở những vùng biên cương hẻo lánh, xa xôi vào lúc giao thông liên lạc còn vô cùng khó khăn, hiểm trở.  Nỗi nhớ thương, đau đớn, xót xa khó có thể tưởng tượng là lớn lao và sâu xa đến chừng nào.  Nói như vậy nhưng ta cũng không nên quên tình cảm và sự can đảm của các thổ tù trưởng miền biên giới dành cho Triều Đình Việt Nam.  Giữa triều đình Trung Quốc, mạnh hơn, các thổ tù trưởng này đã lựa chọn triều đình Việt Nam và từ đó họ đã gặp phải không ít khó khăn.   Cuối cùng là các nhà trí thức. Vai trò của những nho sĩ được trao cho trách nhiệm đi sứ để biện minh cho chủ quyền của nước mình cũng không phải là một việc làm đơn giản, dễ dàng, không vất vả và không nguy hiểm.  Lời dặn dò gần như là cảnh cáo của Lê Thánh Tông dành cho Thái Bảo Kiến Dương Bá Lê Cảnh Huy năm Hồng Đức thứ tư (1473) được dẫn trên đây, đã nói lên điều đó.  Nhưng cuối cùng thì, ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi, họ đã thành công trong sứ mạng thiêng liêng, cao cả của mình khiến người sau khi đọc đến những đoạn này không chỉ kính phục mà thôi mà còn ngậm ngùi, thương xót nữa.

 

II. Từ Vị Trí Chiến Lược của Các Cao Nguyên Miền Nam đến Danh Xưng Hoàng Triều Cương Thổ Thời Cựu Hoàng Bảo Đại (1949-1955)

 

            Thời năm 1945, qua quốc hiệu Đế Quốc Việt Nam, lãnh thổ và chính sách chỉ được dùng chứ chưa được định rõ. Phải đợi đến thời Hậu Đế Quốc Việt Nam, đúng hơn thời Quốc Gia Việt Nam với Cựu Hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng và với sự thành lập Hoàng Triều Cương Thố, vấn đề mới thật sự trở nên rõ ràng.

 

Hoàng Triều Cương Thổ là một địa danh mới, tiếng Pháp là Domaine de la Couronne, đơn giản được hiểu là miền đất biên cương của triều đại đang trị vì hay xa hơn về lịch sử là miền đất bao gồm các châu gọi là cơ mi, là phên giậu của triều đình.  Hiểu theo nghĩa hẹp, địa danh này chỉ các Cao Nguyên Miền Nam trải rộng từ phía tây của tỉnh Quảng Bình cho đến thượng nguồn của Sông Đồng Nai, còn hiểu theo nghĩa rộng thì bao gồm luôn cả các khu vực cư trú của các dân thiểu số thượng du miền Bắc, Thái, Thổ, Nùng, Mán, Mèo, Lô Lô, Mường… Tất cả đều trực thuộc Quốc Trưởng chứ không thuộc hệ thống hành chánh miền suôi.  Đây là vùng đất còn hoàng vu, là nơi cư trú của các sắc dân thiểu số, chưa mấy tiến bộ mà người Việt cho đến tận sau này vẫn gọi là Mọi.  Đây cũng là một miền đất mới rất phong phú về đất đai, giàu về tài nguyên thiên nhiên và là vùng đất cao, có vị thế chiến lược, được ví như mái nhà của cả ba xứ Đông Dương với vùng ba biên giới của ba nước Việt, Mên, Lào, là nơi con Đường Mòn Hồ Chí Minh đã đi xuyên qua và các thế lực quốc tế luôn tìm cách xâm nhập trong suốt cuộc chiến 30 năm của Thế Kỷ 20. Đ1ung hay không đúng, ai làm chủ được vùng này là làm chủ được cả ba xứ Đông Pháp là nhận định của nhiều người.  Đây là vùng đất mới, chưa được người Việt chú ý tới và lên khai thác, nhưng lại được Vua Bảo Đại quan tâm đặc biệt và yêu thích, một phần có thể là do ông được Khâm Sứ Charles, người đã dỡ đầu ông trong suốt thời gian ông du học bên Pháp và vì là nơi ông thường đến để săn bắn và ẩn mình, tránh sự dòm ngó, nghi ngờ của người Pháp sau khi ông bị thất bại trong nỗ lực cải tổ thời đầu thập niên 1930.  Hai thành phố quen thuộc của thời này, sau trở thành những nơi nghỉ mát nổi tiếng của Miền Nam là Đà Lạt và Ban Mê Thuột.  Riêng Đà Lạt một thời đã trở nên nơi cư trú thường trực và làm việc của Cựu Hoàng thay cho Huế không còn là kinh đô nữa.  Nên biết là sự thành lập Hoàng Triều Cương Thố trên lý thuyết phần nào là dựa trên Hiệp Định Élysée, ngày 8 tháng 3 năm 1949 vì theo khoản I về “Vấn Đề Thống Nhứt Việt Nam” của hiệp định này, nguyên văn như sau:

 

“Đối với các dân-tộc không thuộc về giống người Việt-Nam, mà khu vực cư trú lịch-sử vẫn ở trên lãnh-thổ Việt-Nam và theo truyền-thống vẫn      quy thuận Hoàng-Triều, thì Hoàng-Đế Việt-Nam sẽ ban bố những quy-chế riêng biệt cho đại biểu các dân-tộc đó.  Các quy-chế nầy sẽ ấn định với sự    thỏa-thuận của Chánh-phủ Pháp, vì Chánh-phủ Pháp có bổn-phân riêng biệt đối với các dân-tộc thiểu-số.  Những quy-chế ấy đồng thời phải đảm bảo  quyền-lợi tối-cao của nước Việt-Nam, và sự tiến hoá của các dân-tộc trong sự tôn trọng tục lệ cổ-truyền của họ” [viii]

 

Nên để ý là trái với cái nhìn của nhiều người, vấn đề được đặt ra, theo đúng nguyên văn trong bản hiệp định, rõ ràng không phải là quyền lợi, là tài nguyên thiên nhiên và các quyền lợi về kinh tế vật chất, chính trị hay quân sự của người Pháp, mà là con người, là “các dân tộc không thuộc giống người Việt-Nam” và “sự tiến hóa của các dân-tộc trong sự tôn trọng tục lệ cổ-truyền của họ”, coi như “bổn phận riêng biệt đối với các dân-tộc thiểu số” của nước Pháp, một vấn đề mang bản chất nhân bản phù hợp với truyền thống giữ tinh thần hòa hiếu với các dân tộc thiểu số từ nhiều thế kỷ của các vua chúa Việt Nam và hợp với ý muốn của Cựu Hoàng Bảo Đại, người thường ưa thích lui tới và cư ngụ ở hai thành phố Đà lạt và Ban Mê Thuột trong những năm cuối của thời làm Hoàng Đế và sau này, và có nhiều cảm tình với các sắc dân Thượng như đã nói ở trên.

 

Cho tới khi Việt Nam bị chia đôi, Hoàng Triều Cương Thổ bao gồm hai phần.  Phần thứ nhất là các khu tự trị Mường (ở Hoà Bình), Thái (ở Phong Thổ, Lai Châu, Sơn La), Mèo (ở Lào Kay, Hà Giang), Thổ (ở Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn), Nùng ở Hải Ninh, Móng Cái.  Phần thứ hai gồm 5 tỉnh Đồng Nai Thượng, Lang Biang, Pleiku, Darlac, Kontum.  Tất cả được thành lập dựa theo Dụ Số 6, ngày 15 tháng 4 năm 1950 và Quy Chế 16 ngày 21 tháng 5 năm 1951 của Quốc trưởng Bảo Đại với 9 nguyên tắc căn bản dựa trên quyền lợi tối cao của nước Việt Nam và sự tiến hóa chung của các dân tộc thiểu số trong sự tôn trọng các tục lệ cổ truyền của các dân tộc này.  9 nguyên tắc này là:

 

1.  Quyền lợi tối cao của Quốc Gia Việt Nam được bảo đảm cùng với quyền lợi của các sắc tộc thiểu số.

 

2.  Cao nguyên thuộc Quốc trưởng.

 

3.  Người Thượng cần tham gia vào việc phát triển cao nguyên.

 

4.  Tôn trọng hệ thống bộ lạc và và chức sắc kế truyền của người Thượng.

 

5.  Thành lập Hội Đồng Kinh Tế.

 

6.  Thành lập Toàn Án Phong Tục Thượng.

 

7.  Bảo đảm quyền sở hữu đất đai của người Thươọng.

 

8.  Phát triển cơ cấu dịch vụ xã hội ở Cao Nguyên như y tế, giáo dục.

 

9.  Thành lập đơn vị quân sự riêng biệt cho người Thượng với ưu tiên phục vụ ở cao nguyên.

 

Những nguyên tắc phải nói là tiến bộ cho một chính sách đối với các sắc dân Thượng mà là chung cho tất cả các dân thiểu số trong một quốc gia đa chủng như ở Việt Nam.  Tiếc thay nó đã bị bãi bỏ bởi Thủ Tướng, sau này là Tổng Thống Ngô Đình Diệm, trong các năm 1955 và 1958 với chính sách Việt hóa nhằm thống nhất lãnh thổ và hành chánh, khai thác và phát triển miền cao nguyên, đã đưa tới những bất mãn và chống lại trong các sắc dân miền Thượng với sự hỗ trợ của người Chàm và nhiều thế lực quốc tế với những mục tiêu và âm mưu khác nhau mà các dân Thượng chỉ là nạn nhân.  Cụ thể là các Mặt Trận Giải Phóng Dân Tộc Thượng (Front de Liberation des Montagnards – FLM), Phong Trào BAJARAKA (tên viết tắt của tên của 4 sắc tộc lớn là Bahnar, Jarai, Rhadé và Kaho), cuộc nổi loạn của 5 trại Lực Lượng Đặc Biệt và Mặt Trận Thống Nhất Đấu Tranh của Các Dân Tộc Bị Áp Bức FULRO (Front Unifié de Lutte des Races Opprimées) thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa ở miền Nam.  Sau năm 1975, trái với mọi hứa hẹn trong thời chiến, tình trạng của các dân Thượng ở Các Cao Nguyên Miền Nam cũng không khá hơn, nếu không nói là càng ngày càng tệ đến độ nhiều người Thượng phải bỏ hẳn rừng núi thân yêu của họ, chạy sang Miên và được Hoa Kỳ thu nhận, trong Phong Trào Di Cư Vĩ Đại của người Việt cuối Thế Kỷ 20. [ix]

 

Để kết luận, ta có thể nói việc lựa chọn quốc hiệu cho quốc gia là một việc làm trọng đại, không thể chỉ do một cá nhân thực hiện một cách vội vã, nông nổi một cách vô ý thức nhằm thỏa mãn tự ái dân tộc mà là một sự lựa chọn chính trị ở tầm mức quốc gia, quốc tế, bao trùm mọi sinh hoạt từ lịch sử đến văn minh, văn hóa, xã hội, chủng tộc… có tính cách chiến lược lâu dài.  Sự lựa chọn phải được thực hiện có suy tư, có ý thức, có cân nhắc bởi nhiều người với kinh nghiệm của nhiều thế hệ.  Riêng ở Việt Nam, vấn đề các sắc dân thiểu số ở các vùng biên giới là một vấn đề vô cùng quan trọng ít ai để ý tới.  Hoàng Đế Bảo Đại và Thủ Tướng Trần Trọng Kim với những căn bản học vấn, hiểu biết và kinh nghiệm mà hai ông có được chắc chắn đã phải khổ công suy nghĩ nhiều trước khi khi lựa chọn danh xưng Đế Quốc Việt Nam làm quốc hiệu cho nước mình, vì ngoài danh xưng “đế quốc” người ta còn có danh xưng “vương quốc”, tiếng Pháp là royaume, tiếng Anh là kingdom mà nhiều nước đã dùng và dùng cho đến tận ngày nay.  Chưa hết, thay vì Việt Nam người ta còn có Đại Nam, Đại Việt, Đại Việt Nam, An Nam vân vân… Nên để ý tên Việt Nam đã có từ thời Gia Long là tên của nước Nam thống nhất trải dài từ Ải Nam Quan cho đến mỏm Cà Mau và cũng là quốc hiệu được nhiều người đương thời dùng trong đó có cả Trần Trọng Kim qua nhan đề của cuốn sử của ông. Việc dùng danh xưng Việt Nam làm quốc hiệu của hai ông chắc chắn phải nhằm biểu lộ chủ trương thống nhất đất nước, thâu hồi các miền đất đã mất trong đó có xứ Nam Kỳ và các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng.  Điều hai ông đã làm và đã thành công. Có điều vấn đề các Cao Nguyên Miền Nam lại được đặt ra sau đó với những mưu toan của các thế lực quốc tế phức tạp và hiểm độc hơn và một sự “xẻ dọc Trường Sơn” nhằm tách rời vùng này ra khỏi lãnh thổ Việt Nam bằng cách này hay bằng cách khác là một nguy cơ chiến lược lâu dài người ta cần phải để ý, giống như sự bành trướng của Trung Hoa ngoài Biển Đông mà việc khai thác các quặng bauxite là một thí dụ điển hình./

 

Phạm Cao Dương

 

Những ngày cuối năm 2015,

 

sửa lại và bổ khuyết đầu Thu 2017

 

Trích từ (Trước Khi Bão Lụt Tràn Tới Bảo Đại – Trần Trọng Kim và ĐẾ QUỐC VIỆT NAM)

 

Amazon tái bản và phát hành.

 

Chú Thích

 

[1]    L’Harmattan xuất bản và được Nguyễn Đình Đầu dịch sang tiếng Việt, Trần Văn Giàu giới thiệu, Ban Khoa Học Xã Hội Thành Phố Hồ Chí Minh xuất bản, 1990.  Qua bản dịch này danh xưng “l’Empire Vietnamien” được dịch là “Nước Việt Nam”.

 

[1]    Lời trong bài Đăng Đàn Cung, quốc ca chính thức cũng được lựa chọn trong thời này.

 

[1]   Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập II, Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích.  Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã hội, 1993, tr. 462.

 

[1]   Đỗ Đình Nghiêm, Ngô Vi Liễn và Phạm Văn Thư, Địa Dư Các Tỉnh Bắc Kỳ. Hà Nội, Lê Văn Tân, 1930, in lần thứ tư, tr 61.

 

[1]   Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, tập hai.  Hà Nội: Trung Tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Quốc Gia, Viện Sử Học, Nhà Xuất Bản Giáo Dục 1998, tr. 468-469.

 

[1]   Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập II, Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích.  Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã hội, 1993, tr. 462.

 

[1]  Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, quyển II.   Saigon: Bộ Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu, 1971, tr.17.

 

 

 

[1]  “Công-Điệp của Tổng-Thống Cộng-Hòa Pháp-Quốc gởi Cựu Hoàng-Đế Việt-Nam”, trong Kỷ Niệm Thống Nhứt Việt Nam. Saigon, Tháng 6, 1949, tr. 22.-  “Échange de Lettres du  Mars 1949, Le Président de la République, Président de l’Union Francaise, à S.M. Bao Dai, trong Georges Taboulet, La Geste Francaise en Indochine. Paris: Adrien-Maisonneuve, 1956, tr. 920.

 

[1]  Riêng về hoạt động của Đảng Cộng Sản, tác giả Phan An, trong bài viết nhan đề “Cộng Đồng Người Việt ở Tây Nguyên” đăng trong Tạp Chí Xưa & Nay, sồ 457, tháng 3 năm 2015, trang 6, cho biết:

 

“Từ sau năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, một số cán bộ của Đảng được phân công lên hoạt động tuyên truyền cách mạng cho các cộng đồng Việt và các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Những làng Việt ở Tây Nguyên đã sớm trở nên cơ sở cách mạng, nơi nuôi dưỡng, tá túc của các cán bộ Đảng trên vùng đất Tây Nguyên.  Làng Lạc Giao, và một số làng Việt của phu đồn điền cao su ở Bình Phước, là những làng có cơ sở cách mạng và các hoạt động cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam từ trước năm 1945.”

 

 

 

Ngoài các tài liệu dẫn trên, để hiểu rõ thêm về các sắc dân miền Thượng Cao Nguyên Miền Nam, nhất là về văn hóa và cuộc sống của họ, quý vị độc giả có thể tìm đọc thêm các tác phẩm sau đây:

 

Les Frontières du Vietnam, Histoire des Frontières de la Péninsule Indochinoise, Ouvrage publié avec le Concours du Centre National de la Recherche Scientifique. Travaux du Centre d’Histoire et Civilisations de la Péninsule Indochinois publié sous la direction de P.B. Lafont. Paris, L’Harmattan, 1989 với nhiều tác giả:  Pierre-Bernard  Lafont, Nguyễn Thế Anh, Philippe Langlet, Quách Thanh Tâm, Charles Fourniau, Po   Dharma…

 

Condominas, Georges, Nous Avons Mangé la Forêt de la Pierre-Gémie Gôo.  Paris, Mercure de France, 1957.

 

Hiskey, Gerald C. Window on the War, An Anthropologist in the Vietnam Conflict. Lombock, Texas Texas Tech University Press, 2002.

 

Po Dharma, Từ Mặt Trận FLM đến Phong Trào Fulro, Cuộc Đấu Tranh của Dân Tộc Thiểu Số Miền Nam Đông Dương (1955-1975).  Paris-San Jose, International Office of Champa (IOC), 2007

 

Viện Dân Tộc Học, Sổ Tay về Các Dân Tộc ở Việt Nam. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1983.

Cuối cùng là những bài viết của Tiến Sĩ Nguyễn Văn Huy từ Đại Học Paris VII được phổ biến trên nhiều trang mạng điện tử.  Riêng tác giả của bài viết này, Phạm cao Dương, cũng có hai bài viết ngắn, nhan đề “Les Proto Indochinois” in trong Introduction à la Connaissance de la Péninsule Indochinoise, Travaux du Centre d’Histoire et   Civilisations de la Péninsule Indochinoise.  Paris, 1983, tr. 141-145 và bài “Notes sur la   Pénétration des Vietnamiens en Pays Mois au Début de la Période Coloniale d’après Quelques Rapports des Inspecteurs des Affaires Indigènes” in trong Asie du Sud-Est           Continentale, Actes du XXXIX Congrès International des Orientalistes, Section Organisée par Pierre-Bernard Lafont. Vol.2.  Paris: L’Asiathèque, 1976.  Bài này nói về sự xâm nhập của người Việt vào cac xứ Thượng vào buổi đầu của Thời Thuộc Địa, vào lúc người Thượng còn xuất hiện ngay cả ở Thủ Dầu Một chứ chưa đến nỗi bị co cụm  trong xứ của họ như sau này.




Tại sao tôi phải nói sự thật?

LS Võ An Đôn

 

Image may contain: 6 people

 

Ai sinh ra trên đời này cũng muốn mình có một việc làm cao quý, được người khác nể trọng. Không ai dại dột đến mức đi nói xấu nghề nghiệp mình đang làm. Nói xấu nghề nghiệp của mình nghĩa là nói xấu bản thân mình.

 

Việc tôi nói “Luật sư chỉ làm cảnh cho đẹp phiên tòa, để người khác nhìn vào tưởng phiên tòa có dân chủ. Sự thật thì luật sư Việt Nam chỉ có vai trò duy nhất là Cò chạy án, để lừa dân lấy tiền”.

 

Đây là sự thật phũ phàng mà mọi người sống trong xã hội này đều biết và nhận thấy. Tôi nói ra sự thật này với tấm lòng mong muốn cho nghề luật sư ở Việt Nam được tốt đẹp hơn, để công lý và công bằng đến với mọi người.

 

Sau khi tôi viết nhiều bài về đề tài luật sư chạy án, đồng nghiệp ở khắp nơi ném đá dữ dội, họ chửi, họ nguyền rủa, họ nói tôi là kẻ phản bội, nói xấu luật sư và bị Đoàn luật sư đưa ra kỷ luật.

 

Tôi biết trước việc này sẽ xảy ra nhưng phải nói, vì nếu tôi không nói thì lương tâm tôi cắn rứt không chịu được. Nếu tôi bị kỷ luật rút thẻ luật sư thì tôi vẫn không hối hận việc mình đã nói.

Đoàn luật sư phải hiểu rõ nói thật thì khác nói xấu: nói thật là nói ra những điều có thật mọi người đều biết, còn nói xấu là chuyện không nói có !

 

https://www.facebook.com/profile.php?id=100008231020747&hc_ref=ARTUnXTi3EELL9dYyTKCSr-Vd-stKQRC7VLKeJguyCGw7OWj2dilVaYzvfmA3uk5F8M&fref=nf

 

TÔI BỊ TƯỚC THẺ LUẬT SƯ

Hôm qua 26/11/2017, Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư họp quyết định kỷ luật tôi với hình thức: xóa tên khỏi danh sách Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên.

Quyết định này có hiệu lực ngay, kể từ đây ước mơ làm luật sư bào chữa cho dân nghèo và người cô thân yếu thế của tôi coi như chấm dứt, để lại nhiều vụ án oan đang làm dở dang.

Đoàn luật sư cho rằng tôi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, trả lời phỏng vấn các báo đài nước ngoài và nói xấu luật sư, để xóa tên tôi khỏi danh sách Đoàn luật sư là mang tính áp đặt, vô căn cứ.

Đoàn luật sư không làm tròn nghĩa vụ cao cả của mình là bảo vệ luật sư, mà làm theo sự chỉ đạo từ phía an ninh, kỷ luật tôi gấp gáp ngay trong ngày chủ nhật, không có mặt tôi. Nhằm mục đích không cho tôi tham gia bào chữa cho blogger Mẹ Nấm, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 30/11/2017.

Những luật sư quyết định xóa tên tôi khỏi danh sách Đoàn luật sư gồm: luật sư Ngô Thiên Phương (Chủ tịch Hội đồng kỷ luật) và luật sư Ngô Minh Tùng (thành viên Hội đồng kỷ luật) đề nghị hình thức kỷ luật đối với tôi. Luật sư Nguyễn Hương Quê (Chủ nhiệm Đoàn luật sư) và luật sư Nguyễn Tâm Hoàng (Phó Chủ nhiệm Đoàn luật sư) bỏ phiếu quyết định xóa tên tôi khỏi Đoàn luật sư.

Mong cộng đồng hãy lên tiếng bảo vệ tôi, để tôi trở lại làm luật sư bào chữa cho dân nghèo, người cô thân yếu thế và tù nhân lương tâm.

 

Image may contain: text




Thành Gia Định còn lại dấu tích gì giữa Sài Gòn?

TTO
Hai tòa nhà hai bên đường Lê Duẩn – Đinh Tiên Hoàng của thành Ông Dèm do Pháp xây dựng cách đây hơn 140 năm trên khu vực cổng thành gia Định xưa – Ảnh: M.C

 

Tất cả các sử liệu đều ghi: 8-3-1859, 19 ngày sau ngày thành Gia Định thất thủ, theo lệnh tướng De Genouilly, 32 ổ thuốc nổ đã phá tung nhiều đoạn tường thành Gia Định. Dinh thự kho tàng lẫn thóc lúa trong thành đều bị đốt phá.

Địa chí Sài Gòn viết: “Kho thóc thành Gia Định cháy mãi hai năm mà khói còn nghi ngút”.

Từ ngày bi thương đó, thành Gia Định không còn gì?

Vẫn còn đến mấy chục năm sau

Tại sao quân Pháp phải phá thành? Rất đơn giản, dù chiếm được thành nhưng quân Pháp không thể ở yên trong ngôi thành nhỏ mà họ đánh chiếm nhanh chóng này khi liên tục bị những đội dân quân “ứng nghĩa” đe dọa đột kích bất kỳ lúc nào; cũng như hàng vạn quân nhà Nguyễn đang từ Huế vô, từ miền Tây lên tái chiếm thành.

Tuy nhiên, hàng chục năm sau đó, khu vực này vẫn là bãi chiến trường tan hoang và hình dáng ngôi thành Gia Định vẫn còn khá rõ các đoạn tường thành trong các bản đồ thành phố Sài Gòn của Pháp như bản đồ 1867, 1870.

Thậm chí trong bản đồ Sài Gòn – Chợ Lớn 1883, 24 năm sau ngày thành Gia Định thất thủ  (1859), hình dáng ngôi thành ấy vẫn còn nguyên vẹn.

Nhưng đã lác đác có những chấm vuông đen (ký hiệu những tòa nhà lớn của bản đồ) xuất hiện trong thành.

Bản đồ Sài Gòn 1867 cho thấy thành Gia Định vẫn còn xuất hiện với đầy đủ đường nét chính tường thành cũng như hình dáng các pháo đài bốn góc thành (nhưng có lẽ các pháo đài này bị phá hủy phần tháp canh phía trên). Và không hề có một công trình nào được xây dựng ở đây – Ảnh tư liệu
So sánh với hình dáng hình dáng thành Gia Định (góc phải ảnh phía trên) do Trần Văn Học vẽ năm 1815. Nguyễn Đình đầu chú giải – Ảnh tư liệu
Bản đồ do người Pháp vẽ 1883, hình dáng thành Gia Định vẫn còn (màu hồng trong hình) – Ảnh tư liệu

 

Những bản đồ sau nữa tuy hình dáng ngôi thành Gia Định vẫn còn nhưng khu vực này đã xuất hiện rõ hình ảnh một tòa thành khác của quân Pháp.

Những tòa nhà mới đã được xây dựng bên trong khuôn viên thành Gia Định, hình thành một ngôi thành khác (góc phải trên cao của hình vẽ) – Tranh vẽ 3D của của Đại úy hải quân Pháp Favre – Tranh tư liệu

 

Đây là bức vẽ công phu của Đại úy hải quân Pháp Fauvre dựa trên bản đồ 2D trước đó nhưng ông đã mất rất nhiều thời gian đi khắp thành phố Sài Gòn lúc ấy, đến từng ngôi nhà, dinh thự để vẽ bức vẽ Sài Gòn 3D đầu tiên (và có lẽ duy nhất về Sài Gòn cho đến nay) rất chính xác, với mô tả các tòa nhà, dinh thự lớn của Sài Gòn lúc ấy.

Tất cả các tài liệu đều nói tranh này vẽ năm 1881. Tuy nhiên căn cứ vào hình vẽ, có lẽ tác giả đã vẽ sau năm 1895 vì trong hình vẽ, hai tháp chuông nhà thờ Đức Bà (làm thêm năm 1895) đã có (liệu bức vẽ 1881 nhưng vẽ bổ sung sau không?).

Quan trọng hơn, ít nhất đến thời điểm đó, tường thành Gia Định vẫn hiện ra lồ lộ và bao phủ các ngôi nhà bên trong do Pháp mới xây dựng.

Thành Ông Dèm giờ vẫn còn đó giữa Sài Gòn

Thật ra, từ nền thành Gia Định xưa, năm 1870 bản thiết kế một ngôi thành mới của hai kiến trúc sư người Pháp là Varaigne và  A. Dupommier đã được vẽ và thi công, 11 năm sau khi các khối kiến trúc lớn của thành Gia Định bị nổ tung.

Vật liệu xây thành lấy từ gạch, sắt của thành Gia Định vẫn còn ngổn ngang nơi đây

Bản vẽ này cho thấy thành mới chiếm diện tích chỉ bằng gần một nửa thành cũ, chu vi chỉ khoảng 1.400m; hiện nằm khớp trong bốn con đường: Lê Duẩn, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Thị Minh Khai và Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Tuy nhiên, hàng loạt các các cuộc tập kích của người dân Gia Định liên tục diễn ra, thậm chí sát vách thành Gia Định từ dân đất Hộ (Đa Kao) cách đó hơn cây số khiến việc xây thành mới kéo dài đến ba năm, năm 1873 mới xong; đặt tên Martin des Pallières là tên một tướng Pháp, Charles Gabriel Félicité Martin des Pallières (1823 – 1876).

Thành mới này gồm ba khối kiến trúc chính: hai khối nhà dài một trệt một lầu hai bên cổng và một khối nhà một trệt hai lầu xây cao hẳn trên nền đất (kiểu thành và mẫu nhà với hệ thống lam quả trám phía trước chống nóng này được một số kiến trúc Sài Gòn sau đó, như Bệnh viện Quân đội Pháp gần đó – nay là Bệnh viện Nhi đồng 2 – làm theo).

Tuy nhiên, phía ngoài tòa thành mới này vẫn còn hệ thống lũy đất quanh thành nên trong các bản đồ, hình vẽ trước 1900 hầu như đa số còn vẽ nguyên hình dáng thành Gia Định xưa (từ 1900, hệ thống lũy đất này mới bị san bằng nên các bản đồ sau đó không còn thấy hình dáng  thành Gia Định xưa nữa.

Cổng thành Ông Dèm lúc mới xây dựng xong trên đường Lê Duẩn hiện nay. Trước cổng thành vẫn còn mênh mông cỏ (ảnh chụp từ góc ngã tư Lê Duẩn – Tôn Đức Thắng hiện nay) – Ảnh tư liệu

 

Hai tường thành Ông Dèm trên đường Lê Duẩn, hai bên đường Đinh Tiên Hoàng hiện nay – Ảnh: M.C

 

Cổng thành Ông Dèm nhìn thẳng từ ngã tư Lê Duẩn – Tôn Đức Thắng hiện nay. Từ cổng nhìn vô, chúng ta có thể thấy khu nhà lính Pháp phía sau – Ảnh tư liệu

 

Hai tường thành Ông Dèm trên đường Lê Duẩn, hai bên đường Đinh Tiên Hoàng hiện nay – Ảnh: M.C

 

Khu nhà lính Pháp ở ngay sau cổng. Khu nhà này nếu còn nằm gần và nằm gần ngã tư Nguyễn Thị Minh Khai – Đinh Tiên Hoàng hiện nay, chưa sang khu vực sân Hoa Lư hiện nay  – Ảnh tư liệu

 

Thành Martin des Pallières là nơi đóng quân đầu tiên của Trung đoàn dã chiến Nam Kỳ (Régiment de marche de Cochinchine) thành lập năm 1869 trước đó.

Năm 1890, trước hàng loạt cuộc khởi nghĩa diễn ra khắp nơi của dân Việt, trung đoàn này phát triển thành ba trung đoàn số 8, 10 và 11.

Riêng Trung đoàn 11  (11ème régiment d’infanterie de marine – 11ème RIM) đóng ở thành Martin des Pallières.

Năm 1900, trung đoàn này đổi tên là Trung đoàn bộ binh thuộc địa 11 (11ème régiment d’infanterie coloniale – 11ème RIC). Người dân Sài Gòn lúc đó và đến 1955 vẫn gọi đó là Thành Ông Dèm (phiên âm từ chữ số 11 – onzième).

Bao nhiêu thăng trầm lịch sử tiếp tục diễn ra ở thành Gia Định xưa

Thật trớ trêu khi khu thành người Pháp chiếm được của người Việt 1859, 86 năm sau lại thành nơi quân Nhật giam giữ lính Pháp, người Pháp ở Sài Gòn sau cuộc đảo chính 9-3-1945.

(Xin nói thêm, Trung đoàn bộ binh thuộc địa 11 là đơn vị chủ lực của quân đội Pháp ở Nam Kỳ, đã từng được đặt tên cho một con đường khu trung tâm Sài Gòn thời thuộc Pháp – nay là đường Trần Phú. Đây cũng là lực lượng được quân Anh vô Sài Gòn giải giới quân Nhật đã thả, trang bị vũ khí để cùng quân Anh nổ súng chiếm lại Sài Gòn trong ngày Nam bộ kháng chiến 23-9-1945).

Năm 1954, quân đội Pháp rút, bàn giao thành Ông Dèm cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Ngay sau đó vài tháng, đây lại là khu vực giao tranh giữa quân đội Sài Gòn lực lượng Bình Xuyên chống chính phủ khi quân Bình Xuyên nổ súng tấn công thành.

1955, khi nắm quyền Tổng thống VNCH, Ngô Đình Diệm đổi tên thành Ông Dèm ra thành Cộng Hòa và trở thành nơi đóng quân của Tiểu đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống, rồi nhanh chóng nâng lên thành Liên đoàn, Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống với trang bị vũ khí, khí tài (pháo, xe tăng, xe thiết giáp, súng phòng không) cực mạnh, tương đương một sư đoàn.

Chính lực lượng này ngày 11-11-1960 đã kháng cự quyết liệt quân đảo chính, bảo vệ được Phủ Tổng thống dù trước đó, quân đảo chính đã chiếm Bưu điện SG, Bộ Tổng tham mưu, Căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt, Tổng nha Cảnh sát và Nha Cảnh sát đô thành, Bộ Tư lệnh Thủ đô…

Trong cuộc đảo chính ngày 1-11-1963, dù Trung tá Nguyễn Ngọc Khôi, chỉ huy trưởng Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Tổng thống Phủ bị bắt nhưng quân đảo chính dù tấn công dữ dội vẫn không chiếm được thành. Mãi rạng sáng ngày 2-11-1963, lực lượng này mới buông súng theo lệnh tổng thống Ngô Đình Diệm khi ông bị bắt.

Thành Cộng Hòa trong tay lực lượng đảo chính sau trong cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963 – Ảnh tư liệu
Tòa nhà hai bên thành Cộng Hòa đầy vết đạn bắn trong cuộc đảo chính ngày 1-11-1963 – Ảnh tư liệu

 

Đây là thời điểm quyết định số phận thành Ông Dèm – thành Cộng Hòa.

Sau đảo chính, Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng thống bị quân đảo chính giải thể.

Một tháng rưỡi sau, 14-12-1963, Hội đồng Quân nhân Cách mạng (VNCH) giao khu thành Cộng Hòa cho Bộ Quốc gia Giáo dục VNCH để lập khu Đại học với ĐH Văn khoa, ĐH Nông lâm súc, ĐH Dược.

Tòa nhà lính ở phía sau bị phá, thành Cộng Hòa bị cắt làm hai, thông đường Đinh Tiên Hoàng với đường Cường Để (nay là Tôn Đức Thắng).

Năm 1966, khu vực nhà ăn cuối thành Cộng Hòa trở thành Đài truyền hình VNCH kênh 9 và Đài truyền hình ARFVN kênh 11 (nay là khu vực Đài truyền hình TP.HCM).

Và thành Ông Dèm – thành Cộng Hòa xưa nay còn lại hai tòa nhà hai bên đường Đinh Tiên Hoàng (Q.1, TP.HCM), ngay trên trục đường trung tâm TP.HCM Lê Duẩn. Đến nay đã 143 năm (1873-2016).

https://tuoitre.vn/thanh-gia-dinh-bi-san-bang-con-lai-dau-tich-gi-giua-sai-gon-1053328.htm