A
virus called Wuhan-400 makes people terribly ill … in a Dean Koontz
thriller from 1981. How is it that some books appear to prophesy events?
“The Eyes of Darkness” features a Chinese military lab in Wuhan that creates a virus as a bioweapon; civilians soon become sick after accidentally contracting it
In fact, the one lab in China able to handle the deadliest viruses is in Wuhan and helped sequence the novel coronavirus the world is currently battling
Kate Whitehead
In bestselling suspense author Dean Koontz’s 1981 thriller The Eyes of Darkness, a virus to be used as a biological weapon is developed in Wuhan, China, but humans end up contracting it.
The Eyes of Darkness,
a 1981 thriller by bestselling suspense author Dean Koontz, tells of a
Chinese military lab that creates a virus as part of its biological
weapons programme. The lab is located in Wuhan, which lends the virus
its name, Wuhan-400. A chilling literary coincidence or a case of writer
as unwitting prophet?
In The Eyes of Darkness,
a grieving mother, Christina Evans, sets out to discover whether her
son Danny died on a camping trip or if – as suspicious messages suggest –
he is still alive. She eventually tracks him down to a military
facility where he is being held after being accidentally contaminated
with man-made microorganisms created at the research centre in Wuhan.
If
that made the hair on the back of your neck stand up, read this passage
from the book: “It was around that time that a Chinese scientist named
Li Chen moved to the United States while carrying a floppy disk of data
from China’s most important and dangerous new biological weapon of the
past decade. They call it Wuhan-400 because it was developed in their
RDNA laboratory just outside the city of Wuhan.”In
another strange coincidence, the Wuhan Institute of Virology, which
houses China’s only level four biosafety laboratory, the highest-level
classification of labs that study the deadliest viruses, is just 32km
from the epicentre of the current coronavirus outbreak. The opening of the maximum-security lab was covered in a 2017 story in the journal Nature, which warned of safety risks in a culture where hierarchy trumps an open culture.
Koontz has written more than 80 novels and 74 works of short fiction. Photo: Douglas Sonders
Fringe
conspiracy theories that the coronavirus involved in the current
outbreak appears to be man-made and likely escaped from the Wuhan
virology lab have been circulated, but have been widely debunked. In
fact the lab was one of the first to sequence the coronavirus.
In
Koontz’s thriller, the virus is considered the “perfect weapon” because
it only affects humans and, since it cannot survive outside the human
body for longer than a minute, it does not demand expensive
decontamination once a population is wiped out, allowing the victors to
roll in and claim a conquered territory.
It’s no exaggeration to call Koontz a prolific writer. His first book, Star Quest,
was published in 1968 and he has been churning out suspense fiction at a
phenomenal rate since with more than 80 novels and 74 works of short
fiction under his belt. The 74-year-old, a devout Catholic, lives in
California with his wife. But what are the odds of him so closely
predicting the future?Post Magazine NewsletterGet updates direct to your inboxBy registering, you agree to our T&C and Privacy Policy
Albert
Wan, who runs the Bleak House Books store in San Po Kong, says Wuhan
has historically been the site of numerous scientific research
facilities, including ones dealing with microbiology and virology.
“Smart, savvy writers like Koontz would have known all this and used
this bit of factual information to craft a story that is both convincing
and unsettling. Hence the Wuhan-400,” says Wan.
British
writer Paul French, who specialises in books about China, says many of
the elements around viruses in China relate back to the second world
war, which may have been a factor in Koontz’s thinking.
The Eyes of Darkness, by Koontz.
“The
Japanese definitely did do chemical weapons research in China, which we
mostly associate with Unit 731 in Harbin and northern China. But they
also stored chemical weapons in Wuhan – which Japan admitted,” says
French.
Publisher
Pete Spurrier, who runs Hong Kong publishing house Blacksmith Books,
muses that for a fiction writer mapping out a thriller about a virus
outbreak set in China, Wuhan is a good choice.
“It’s
on the Yangtze River that goes east-west; it’s on the high-speed rail
that goes north-south; it’s right at the crossroads of transport
networks in the centre of the country. Where better to start a fictional
epidemic, or indeed a real one?” says Spurrier. (Spurrier works
part-time as a subeditor for the Post.)
Albert Wan runs the Bleak House Books store in San Po Kong, Hong Kong.
Hong Kong crime author Chan Ho-kei believes that this kind of “fiction-prophecy” is not uncommon.
“If
you look really hard, I bet you can spot prophecies for almost all
events. It makes me think about the ‘infinite monkey’ theorem,” he says,
referring to the theory that a monkey hitting keys at random on a
typewriter keyboard for an infinite amount of time will almost surely
type any given text.
“The probability is low, but not impossible.”
British writer Paul French.
Chan points to the 1898 novella Futility,
which told the story of a huge ocean liner that sank in the North
Atlantic after striking an iceberg. Many uncanny similarities were noted
between the fictional ship – called Titan – and the real-life passenger
ship RMS Titanic, which sank 14 years later. Following the sinking of
the Titanic, the book was reissued with some changes, particularly in
the ship’s gross tonnage.
“Fiction
writers always try to imagine what the reality would be, so it’s very
likely to write something like a prediction. Of course, it’s bizarre
when the details collide, but I think it’s just a matter of
mathematics,” says Chan.
Many of Koontz’s books have been adapted for television or the big screen, but The Eyes of Darkness
never achieved such glory. This bizarre coincidence will thrust it into
the spotlight and may see sales of this otherwise forgotten thriller
jump.
Hong Kong crime author Chan Ho-kei.
Amazon is currently offering it on Kindle for just US$1. Perhaps, like Futility, it will also be reissued with some updates to make it really echo the current outbreak.
Người Việt mua sắm đón Tết Canh Tý ở San Jose (Ảnh: Bùi Văn Phú)
Châu Á năm nay đón tết chẳng vui gì vì
Trung Quốc đang trải qua một mùa xuân kinh hoàng, nhất là cho dân thành
phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc. Nỗi kinh hoàng lan toả ra cả nước trong ngày
tết linh thiêng của một dân tộc thì mới chỉ có người dân Việt Nam Cộng
hoà kinh qua cách đây 52 năm, Tết Mậu Thân.
Tết Canh Tý có “Cô Vi” xông đất, chẳng
mang lại hương hoa tốt lành mà gây bao sợ hãi. Cô tới từ đâu thì chưa rõ
lắm, từ chợ hải sản thú vật nhếch nhác bẩn thỉu hay từ phòng thí
nghiệm, hay dửng dưng từ trời cô xuống cõi trần hù thiên hạ một phen?
Thành phố Vũ Hán với hơn chục triệu dân
được cô xông đất đầu tiên khiến nơi đây phải bế quan toả cảng. Ngày đầu
năm âm lịch đường phố như bãi tha ma, im lìm vắng lặng.
Từ cái rốn của thế giới, Cô Vi lan toả,
gieo rắc lo lắng khắp nơi: Việt, Hàn, Úc, Phi, Đài, Anh, Nhật, Mỹ, Thái
và hai chục quốc gia khác. Ghé nơi nào cô làm giao động dân tình nơi đó.
Nhưng làm sao không cho cô ghé bây giờ? Đóng biên giới hay đeo khẩu
trang, đóng cửa trường hay đi di tản?
Bên châu Á, chỗ nào có bóng dáng cô là
thiên hạ lo bịt miệng, bịt mũi. Ở Hong Kong, Trung Quốc ra đường như lạc
vào hành tinh khác vì chỉ thấy những khuôn mặt bịt kín chừa đôi mắt. Mà
không biết khẩu trang, dù có hiện đại đến mấy, có ngăn chặn được cô hay
không. Dù chẳng ngăn cô được nhưng người châu Á cũng ùn ùn tìm mua khẩu
trang đến độ không còn mảnh nào. Ngay cả nhiều nơi ở California cũng
không còn hàng để bán. Con buôn đã thu mua hết để gửi về Trung Quốc hay
sao? Hơn một tỉ người mà dùng hàng nào thì hàng đó có giá ngay.
Buôn bán làm ăn với Trung Quốc là có lời
ngay trước mắt nên đã từng nghe nói: “Chỉ cần mỗi ngày một người Trung
Quốc uống một lon Coca Cola thôi là đủ giúp cho nền kinh tế Mỹ rồi”.
Ngược lại từ hơn hai chục năm qua người
Hoa đã bị tư bản bóc lột, làm gia công cho thiên hạ tiêu dùng hàng giá
rẻ. Toàn cầu hoá là thế. Xã hội chủ nghĩa cũng phải đầu hàng, không còn
giương cao ngọn cờ kêu gọi công nhân vùng lên chống tư bản bóc lột.
Nhưng bây giờ hơn một tỉ người đang lo sợ
Cô Vi và nếu không thể tiếp tục làm gia công thì kinh tế Trung Quốc sụp
trước, kéo theo Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Úc sụp theo.
Sinh hoạt đón Tết Canh Tý của người Việt ở miền bắc California (Ảnh: Bùi Văn Phú)
Một gia đình người Việt xem Super Bowl và đón Tết Canh Tý hôm Chủ Nhật 2/2/2020 (Ảnh: Bùi Văn Phú)
Cô Vi mà hôn mắt, hôn môi ai là người đó
ho, sốt rồi khó thở và có thể tắt thở luôn. Ở Trung Quốc đã có ba vạn
người được hôn nhẹ và hơn 600 người đã chết vì cô. Đó là con số nhà nước
đưa ra, còn theo giới chức y tế quốc tế thì có thể cao hơn nhiều.
Cô Vi lang thang khắp Trung Quốc, rồi bay
ra nước ngoài nên Tết Ta hải ngoại năm nay không đông vui như những năm
trước. China town ở San Francisco, ở Oakland vắng vẻ. Diễn hành đón tết
của người Hoa ở San Francisco vào tối thứ Bảy 8/2 này chắc sẽ rất thưa.
Nhìn chung vì thói quen ăn uống các thứ động vật và khạc nhổ bừa bãi
trong nếp sống của người Hoa lục địa làm nhiều người e ngại, nhất là vào
những lúc có các bệnh truyền nhiễm.
Cô Vi đã thăm xứ Cờ Hoa, đi theo những
người mới ghé qua quê hương của Bác Tập. Nước Mỹ có thành phố Seattle,
tiểu bang Washington là trạm dừng đầu tiên của cô sau khi vượt Thái Bình
Dương. Rồi cô qua Arizona, California, Illinois, Massachusetts và
Wisconsin. Mỗi nơi cô thăm một bạn, Arizona cô thăm hai.
Cô có nhiều bạn ở California và đã thăm
sáu người. Cô thăm ai người đó bị cách ly khỏi gia đình và bạn bè, chỉ
còn được làm quen, tâm sự với bác sĩ, y tá trông như những phi hành gia
đến từ hành tinh khác. Sáu bạn ở California có bốn người từ thung lũng
hoa vàng miền Bắc California, hai bạn khác từ vùng Los Angeles và Little
Saigon Quận Cam.
Tổng thống Donald Trump, “bạn” của Chủ
tịch Tập Cận Bình, nhưng cũng sợ Cô Vi nên cấm người nước ngoài vào Mỹ
nếu đã du lịch Trung Quốc trong những ngày qua. Công dân Mỹ hay thường
trú nhân mà thăm Trung Quốc gần đây, trở lại Mỹ sẽ bị kiểm dịch và được
yêu cầu tự cách li hai tuần lễ. Nhiều cơ quan, công ti, trường học cũng
đã thi hành chính sách này.
Hình như Cô Vi không có bạn Việt tại Mỹ
nên dân tình Mít trong ngày đầu năm không xôn xao, lo lắng. Diễn hành,
hội chợ ở Little Saigon Quận Cam vẫn đông vui. Trên Thung lũng Hoa vàng
cũng thế, vẫn thi hoa hậu, vẫn rong chơi hội chợ. Đêm giao thừa và ba
ngày tết pháo vẫn nổ rền vang trừ tà. Chùa chiền, nhà thờ đông thiện nam
tín nữ đền cầu nguyện, xin xâm, hái lộc.
Mồng Chín Tết San Jose vẫn còn hội xuân
ngoài bãi đậu xe trong khu thương mại Eastridge, tuy ít khách du xuân,
không phải vì không muốn gặp Cô Vi mà là vì trùng ngày với Super Bowl
của Mỹ, có đội 49ERS của San Francisco vào chung kết với đội Chiefs của
Kansas City từ tiểu bang miền quê Missouri.
Xa lộ cũng vắng xe không phải muốn tránh
Cô Vi. Giờ đó nhiều người ở nhà, hay vào quán rượu xem trận vô địch bóng
cà-na lần thứ 54 của nước Mỹ. Nhiều người Việt đã hoà mình vào nếp sống
Mỹ nên dăm ba gia đình, bạn bè tụ họp nhau vừa ăn tết vừa xem đấu bóng
và hồi hộp theo dõi từng đường banh.
Mới ra sân được vài phút, Chiefs đã gác
49ERS ba điểm đầu tiên, 3-0, làm nhiều ủng hộ viên thất vọng, trong đó
có tôi, từng yêu đội nhà suốt 40 năm qua. Rồi 49ERS lấy lại phong độ,
đến cuối hiệp hai gác Chiefs 20-10.
Giờ giải lao, mọi người hào hứng chờ đợi
màn biểu diễn của J. Lo, cô ca sĩ gốc Mỹ Latinh Jennifer Lopez. Âm nhạc,
giọng hát và cách biểu diễn của cô cùng với kỹ thuật âm thanh, ánh sáng
đã cho khán giả mười lăm phút giải trí thật tuyệt vời.
Một thăm dò trên toàn nước Mỹ hỏi ý kiến
khán giả sẽ theo dõi Super Bowl 54th họ mong đợi gì. Dân California mong
49ERS thắng. Missouri mong Chiefs thắng. Còn lại 50 tiểu bang khác chỉ
lo J. Lo… rớt áo ngực.
Hai hiệp sau đội nhà chơi quá tệ. Kết quả
thảm bại với Chiefs thắng 31-20, làm tiêu tan hy vọng có diễn hành chiến
thắng trên đường phố San Francisco vào ngày thứ Tư 5/2.
Thế là hết một tuần vui với tết Việt, với thể thao Mỹ. Ngày mai trở lại đi cày tiếp.
Sinh hoạt gây quỹ cho trường học ở vùng Vịnh San Francisco tối 1/2/2020 (Ảnh: Bùi Văn Phú)
Sau mỗi trận đấu vô địch lại có ý kiến đề
nghị công bố ngày thứ Hai sau Super Bowl là ngày nghỉ toàn quốc, vì mỗi
năm có vài triệu người không vào làm việc trong ngày thứ Hai vì cần nghỉ
ngơi cho lại sức. Trận chung kết cả nước có hàng trăm triệu người xem,
ăn nhậu vui chơi mà ngày mai phải đi làm thì oải quá. Cũng có đề nghị
chuyển trận đấu sang ngày thứ Bảy, nhưng đến nay vẫn không có thay đổi
sau hơn nửa thế kỷ với truyền thống này.
Giống Việt Nam mấy năm gần đây có bàn việc
chuyển ngày đón tết ta sang cùng ngày tết tây. Nguyên do vì không còn
phù hợp với nền kinh tế hiện tại, vì muốn tách khỏi ảnh hưởng của văn
hoá Trung Hoa, vì ăn tết ta nghỉ quá nhiều làm lãng phí thời gian làm
việc cũng như tiền bạc.
Là một người Mỹ gốc Việt tôi thấy không
nên đổi ngày mừng đón tết ta vì mỗi năm gia đình, bạn bè xum họp đón tết
cùng xem thể thao Mỹ là nét giao thoa đẹp giữa hai nền văn hoá.
Tết đã hết. Super Bowl cũng đã sang mùa.
Đời sống bình thường trở lại. Nhưng nhiều gia đình Việt đang lo vì thân
nhân về quê ăn tết sắp qua lại, không biết có mang theo Cô Vi hay gặp
trở ngại gì khi đến sân bay Mỹ.
Đã gần một tháng từ khi bệnh dịch được
công bố, thành phố Vũ Hán vẫn bị bỏ hoang. Một bác sĩ trẻ tuổi lên tiếng
cảnh báo từ sớm về nguy cơ của loại siêu vi mới, bị công an khiển trách
vì cho là đưa tin thất thiệt, vừa qua đời ở Vũ Hán. Hàng trăm công dân
Mỹ đã được di tản về hai căn cứ không quân ở California, bị cách ly gia
đình hai tuần.
Cô Vi mới phất phơ vài nơi trên đất Mỹ.
Mọi sinh hoạt vẫn bình thường như mỗi năm có dịch cúm. Giới chức y tế
nói không có gì phải lo, chẳng phải đeo khẩu trang, chỉ nhớ nguyên tắc
giữ vệ sinh cá nhân là đừng đưa tay dụi mắt, mũi và cần rửa tay thường
xuyên là tránh được lây nhiễm Cô Vi hay cúm đang có vào mùa đông lạnh
giá.
Tết Canh Tý với Cô Vi (nCoV – corona
virus) thật là một cái tết khó quên cho nhiều người, nhiều gia đình ở
nhiều nơi trên thế giới.
Cô Vi và Tết Canh Tý * Cô
Vi mới phất phơ vài nơi trên đất Mỹ. Mọi sinh hoạt vẫn bình thường như
mỗi năm có dịch cúm. Giới chức y tế nói không có gì phải lo, chẳng phải
đeo khẩu trang, chỉ nhớ nguyên tắc giữ vệ sinh cá nhân là đừng đưa tay
dụi mắt, mũi và cần rửa tay thường xuyên là tránh được lây nhiễm Cô Vi
hay cúm đang có vào mùa đông lạnh giá.
Bài Thơ CHI LẠ RỨA
Bài Thơ CHI LẠ RỨA
Nguyễn Thị Hoàng
Chi lạ rứa, chiều ni tui muốn khóc, Ngó chi tui đồ cỏ mọn, hoa hèn. Nhìn chi tui hình đom đóm đêm đen, Cho tui tủi bên ni bờ cô tịch.
Tui ao ước có bao giờ tuyệt đích,
Tui van xin răng mà cứ làm ngơ.
Rồi ngó tui, chi lạ rứa hững hờ,
Ghét, yêu, mến, vô duyên và trơ trẽn!
Tui đã tắt nỗi ngại ngùng bẽn lẽn,
Bởi vì răng, ai biết được người hè.
Nhưng màu chiều đã rũ bóng lê thê,
Ni với nớ, có chi mô gần gũi!
Chi lạ rứa, răng cứ làm tui tủi?
Tàn nhẫn chi với một đứa thương đau!
Khối tình câm nên không sắc, không màu,
Và vạn thuở chẳng nên câu luyến ái!
Chi lạ rứa, người cứ làm tui ngại,
Biết sông sâu hay cạn giữa tình đời?
Bên ni bờ vẫn trong trắng chơi vơi,
Mà bên nớ trầm ngâm mô có kể.
Không muốn khóc, nhưng cứ từng ngấn lệ,
Đọng làn mi ấp ủ mối tâm tình.
Bên ni bờ hoa thắm bớt tươi xanh,
Mà bên nớ huy hoàng và lộng lẫy.
Muốn lên thuyền mặc sóng cuồng xô đẩy,
Nhưng thân đau nên chẳng dám đánh liều.
Đau chi mô có lẽ hận cô liêu,
Mà chi lạ rứa hè, ai hiểu nỗi!
Tui không điên cũng không hề bối rối,
Ngó làm chi thêm tủi nhục đau thương
Tui biết tui là hoa dại bên đường,
Không hương sắc, lạ rứa hè, người hỉ?
Tui cũng muốn có một người tri kỉ,
Nhưng đường đời như rứa biết mần răng!
Tui muốn kêu, muốn gọi, muốn thưa rằng:
Chờ tui với! A, cười chi lạ rứa
Tui không buồn sao mắt mờ lệ ứa, Bởi vì răng tui có hiểu chi mô! Vì lòng tui là mặt nước sông hồ, Chi lạ rứa, bên ni bờ tui khóc.
LÁ THẮM ĐỀ THƠ
“LÁ THẮM ĐỀ THƠ”
(hay là: Lá thắm đưa duyên)
Triều vua nào cũng vậy, nhiều giai nhân tuyệt sắc trong nước được tuyển vào cung để làm cung nữ. Họ là những giai nhân bạc mệnh, đi chẳng có về, suốt đời chịu cảnh lạnh lùng, buồn tủi, sầu đau trong chốn thâm cung.
Nhà vua có cả tam cung, lục viện, hàng ngàn cung nữ phi tần toàn bực diễm kiều, tài sắc cả. Mỗi đêm ngủ ở cung nào, nhà vua phải nhờ xe dê đưa đến. Xe dừng trước cung nào thì nhà vua vào cung ấy. Có những nàng hằng năm không được đoái hoài, đành chịu cảnh cô phòng giá lạnh.
Đời Đường (618-907), đời vua Hy Tông có nàng cung nữ tuyệt sắc tên Hàn Thúy Tần sống cảnh lẻ loi buồn bực trong thâm cung, nên thường nhặt những chiếc lá đỏ (hồng diệp) rồi đề thơ lên trên lá, thả xuống ngòi nước:
Nước chảy sao mà vội?
Cung sâu suốt buổi nhàn.
Ân cần nhờ lá thắm
Trôi tuốt đến nhân gian.
Nguyên văn:
Lưu thủy hà thái cấp
Cung trung tận nhật nhàn.
Ân cần tạ hồng diệp.
Hảo khứ đáo nhân gian.
Chiếc lá chở bài thơ theo dòng nước chảy xuôi ra ngoài vòng cấm lũy.
Lúc bấy giờ có người môn khách của quan Tể Tướng Hàn Vinh tên Vưu Hựu vốn kẻ phong lưu tài tử, thơ hay, chữ tốt, chỉ hiềm một nỗi vận chưa đạt nên đành chịu sống nhờ nơi quan Tể Tướng họ Hàn. Đương thơ thẩn ngắm dòng nước chảy, Hàn bỗng nhìn thấy chiếc lá có bài thơ, lấy làm lạ mới vớt lên xem. Cảm tình chan chứa với người gởi thơ lạ mặt, chàng cũng bẻ một chiếc lá, viết một bài thơ vào đấy, lên đầu nguồn dòng nước thả lá xuống cho trôi trở xuống.
Nghe oanh thấy liễu chạnh lòng thương,
Thương kẻ trong cung lúc đoạn trường.
Chiếc lá đề thơ trôi mặt nước,
Gởi cho ai đó nói không tường.
(Bản dịch của Phan Như Xuyên)
Người cung nữ họ Hàn thường ngồi nhìn dòng nước chảy, bỗng bắt được chiếc lá trở vào của người không quen biết, mới đem cất vào rương son phấn.
Ba năm sau, nhà vua sa thải một số cung nữ ( khoảng 3,000), trong đó có Thúy Tần. Nàng đến ở tạm dinh quan Tể Tướng họ Hàn để chờ thuyền trở về quê cũ, bỗng gặp Vưu Hựu. Hai người trò chuyện, ý hợp tâm đầu. Tể Tướng họ Hàn thấy cả hai đều xứng đôi vừa lứa nên làm mối thành duyên giai ngẫu.
Đêm tân hôn, Hựu chợt mở rương của vợ thấy chiếc lá của mình ngày xưa. Lấy làm lạ lùng, chàng cũng đem chiếc lá của mình vớt được cho vợ xem. Thì ra cả hai lại giữ hai chiếc lá của nhau. Cho là thật duyên trời định.
Cổ thi có bài: (*)
Một đôi thi cú theo dòng nước
Mười mấy năm qua nhớ dẫy đầy.
Mừng bấy ngày nay loan sánh phụng
Cũng nhờ lá thắm khéo làm mai.
Nguyên văn:
Nhất liên giai cú tùy lưu thủy,
Thập tải ưu tư mãn tố hoài.
Kim nhật khước thành loan phượng lữ,
Phương tri hồng diệp thị lương môi.
Trong “Đoạn trường tân thanh” của cụ Nguyễn Du, có câu:
Thâm nghiêm kín cổng cao tường,
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.
hay:
Dù khi lá thắm chỉ hồng,
và:
Nàng rằng hồng diệp xích thằng,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
“Lá thắm”, “Hồng diệp” đều do điển tích trên.
./.
(Bài sưu tầm từ trang FB Những Câu Chuyện Thú Vị )
Cung Chúc Tân Xuân – Thơ
Cung chúc tân xuân – Thơ Lê Tuấn
v
Diễn hành Tết Canh Tý trên đại lộ Bolsa, Little Saigon
Diễn hành Tết Canh Tý trên đại lộ Bolsa, Little Saigon January 25, 2020
Đoàn rước quốc kỳ Hoa Kỳ và VNCH. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
WESTMINSTER, California (NV) –
Đúng 8 giờ sáng 25 Tháng Giêng, tức Mồng Một Tết Canh Tý 2020, cuộc
diễn hành mang chủ đề “Tri Ân” do Little Saigon Westminster Tet Parade
tổ chức chính thức bắt đầu.
Thời
tiết tại Little Saigon hôm nay khá đẹp, trời khô ráo và nhiệt độ ngoài
trời khoảng 54 độ F, rất thuận lợi cho cuộc diễn hành.
Từ
6 giờ sáng, thành phố đóng đường để 7 giờ các đoàn thể và xe hoa có thể
vào vị trí. Hai lá đại kỳ do nhóm Hậu Duệ VNCH Khóa 5 vào vị trí để cử
hành lễ khai mạc.
Lộ trình cuộc diễn hành sẽ đi trên đại lộ Bolsa, bắt đầu từ ngã tư với đường Magnolia và kết thúc ở Bushard.
Trong
cuộc diễn hành này có nhiều xe hoa, đặc biệt là dàn quân xa các quân
binh chủng, đơn vị, quân trường và trung tâm huấn luyện, cùng một số
chiến cụ, như hai chiếc trực thăng HUEY UH1, đại pháo 106 ly không
giựt,… của Quân Lực VNCH.
Cuộc diễn hành diễn ra trong khoảng 4 tiếng đồng hồ và kết thúc lúc 12 giờ trưa cùng ngày.
Dưới đây là một số hình ảnh của cuộc diễn hành trên đường Bolsa sáng nay.
Một chiếc xe hoa được làm công phu tham gia diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn diễn hành của Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Các em thiếu nhi trong Ban Nhạc của trường Sarah McGarvin Intermediate. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn diễn hành của Tết Parade. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đời sống thanh bình của người dân miền Nam dưới thời VNCH.. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Tái hiện trận Ngọc Hồi của Hoàng Đế Quang Trung. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Hành trình 45 năm của người Việt tại Hoa Kỳ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Trực thăng HUEY UH1. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đại pháo 106 ly không giựt. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn quân xa của Quân Lực VNCH. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn quân xa của Quân Lực VNCH. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn của tổ chức VPDCA. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Xe của đoàn cảnh sát Orange County.. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Xe của Hội Ái Hữu Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn diễn hành của Chương Trình Việt Ngữ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn diễn hành của Chương Trình Giáo Dục Song Ngữ Anh Việt, Học Khu Westminster. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Xe diễn hành của Disney Land. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Các Thiếu Sinh Quân. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Các Thiếu Sinh Quân. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Lá quốc kỳ VNCH sẽ dẫn đầu trong đoàn diễn hành năm nay. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn rước quốc kỳ của VNCH và Hoa Kỳ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Lân mừng pháo trong lễ khai mạc. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đốt pháo khai mạc diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Thị
Trưởng thành phố Westminster Trí Tạ và Giám Sát Viên Orange County
Andrew Đỗ phát biểu tại lễ khai mạc. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Chuẩn bị cho lễ khai mạc diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Ban nhạc của trường trung học Bolsa Grande chuẩn bị tham gia diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Màn múa lân trong lễ khai mạc diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Lần
đầu tiên được ban tổ chức thiết lập khu ghế khách danh dự, riêng biệt
bên cạnh sân khấu, có nhiều tầng, có phục vụ phần ăn sáng nhẹ và giải
khát. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Your Eyes
Past The Old School by Chance-Tình Cờ Trước Cổng Trường Xưa
CHỊ+EM
Thu-Vân & Xuân-Hạnh
Đêm nay là bao nhiêu đêm
Bỗng dưng chị thấy nhớ em vô cùng…
Hôm chị ra đi theo chồng:
Bánh ngon, áo đẹp, người đông, quà nhiều,
Hẳn em chưa buồn bao nhiêu
Trước khi tiệc mãn, trời chiều, đêm khuya .
Nhưng sau khi chị đã đi
Thì em mới thấy buồn chi là buồn…
Đồ-đạc của chị không còn,
Nỗi trống vắng ngập cả hồn thơ-ngây .
Hơi-hám của chị còn đây,
Thói quen ngày cũ… ngày nay đổi dời …!
Em thường bắt chị “à ơi!”
Cho em ngon giấc trong lời hát ru …
Bắt chị kể chuyện ngày xưa
Cho em dệt đẹp giấc mơ nhi-đồng;
Khỏe chị dắt, mệt chị bồng;
Chị kèm em học, chị cùng em chơi …
Bây giờ chị xa em rồi,
Khác người kể chuyện, khác lời hát ru .
Biết em đã quen hay chưa,
Hay còn nhớ chị ngẩn-ngơ sớm chiều …
“Bao-lơn gác thượng chớ trèo!
“Chớ sờ dây điện! Chớ leo thành hồ!
“Tới trường chớ quá nghịch đùa!
“Ra đường chớ có đuổi xô bạn-bè!…”
Những lời chị thường răn đe,
Biết em còn nhớ, còn nghe kỹ-càng?
Chị thương em, út muộn-màng,
Thiên-thần lạc mất thiên-đàng rồi, em!
Ngày xưa: gia-đình ấm êm,
Mẹ cha đầy-đủ, chị em sum-vầy …
Nhưng, từ cha bị tù đày,
Nỗi thiếu vắng phủ rứt-ray cả nhà …
Chị càng thương em thiết-tha
Để bù nỗi vắng xa cha giữa đời …
Bây giờ, chính chị tách rời:
Đã một người, lại một người xa em!
Thư chị: em giành em xem,
Em giữ thật kỹ con tem, cái bì …
Quà chị: me bảo ăn đi,
Em sợ hết, gậm tí ti mỗi lần…
Thương em vô đỗi, vô ngần,
Chị lại đọc lại từng vần thư em;
Ảnh em, chị lại lấy xem,
Tưởng như có chị bên em mãi hoài …
“Ngày xưa…” mới gần đây thôi,
Một người làm việc mà nuôi cả nhà :
Trẻ thì tha-hồ bánh quà,
Lớn lên đại-học, thi ra thành-tài !…
Bây giờ thì chị Tú Hai,
Thi vào đại-học: không ai cho vào!
Thị-trường hàng hiếm, giá cao,
Lương anh ít, chị khổ-lao góp phần.
Cưới xong phải trả nợ-nần,
Quà em… sợ sẽ… giảm dần, em ơi !
Bây giờ, chị xa em rồi,
Nhớ em, chị khẽ ôn lời hát ru:
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Thương em, nhớ mẹ, ruột đau chín chiều!”
THANH-THANH
1975-80
The Former Way-Lối Về
Thư Chúc Tết của Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải
Thư Chúc Tết của Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải
Kính thưa đồng bào,
Nhân dịp Tết Nguyên Đán Canh Tý 2020, Tôi, Ngô Thanh Hải, Thượng Nghị Sĩ Canada, xin kính chúc toàn thể đồng bào trong và ngoài nước một năm mới an khang, hạnh phúc và may mắn.
Nhìn lại năm qua, mọi con dân Việt yêu quê hương đều bùi ngùi nhìn những sự kiện Đồng Tâm, Vườn Rau Lộc Hưng với hàng ngàn người mất nơi cư ngụ, đến nỗi đau còn vằn vặt từ cả thập niên nơi Thủ Thiêm. Cho đến nay người dân mất đất vẫn mang kiếp dân oan không biết cho đến bao giờ; bên cạnh đó là sự lên ngôi của nhóm lợi ích thân hữu. Chính người cộng sản vi phạm luật đất đai của đảng Cộng Sản chiếu theo Hiến Pháp 1992 điều 17 và điều 18.
Có hai dòng chảy ngược chiều của đất nước, một bên là giới chức lãnh đạo Đảng và Nhà Nước hưởng ưu đãi cùng/ từ nhóm lợi ích thân hữu và bên kia là đại đa số người dân, thế cô bị mất ruộng vườn, đất đai, nhà cửa và một số trở thành dân oan nơi chính mảnh đất của ông bà để lại. Một bức tranh xã hội vẽ đầy áp bức, bất công trong thiên niên kỷ 21,tệ hại hơn nhiều so với thời kỳ thực dân Pháp đô hộ Việt Nam hơn 80 năm.
Nhìn sang các nước láng giềng Hồng Kông, Đài Loan, là một bức tranh hoàn toàn khác, nơi đó cũng trải qua nhiều nghiệt ngã, nhưng họ còn có hy vọng nhìn thấy đoá hoa dân chủ nở rộ trong ánh bình minh tương lai. Dù là con dân Việt sống xa quê hương, nhưng chúng tôi có cùng nỗi đau với những người cùng huyết thống, cùng Mẹ Âu Cơ. Chúng tôi, những người con dân Việt có bổn phận cất tiếng nói lương tâm vì đồng bào ruột thịt khốn khổ nơi quê nhà.
Viêt Nam, một đất nước giàu tài nguyên, nhưng tài nguyên được khai thác và đem bán với dạng thô, cũng chính tài nguyên thô đó lại được nhóm lợi ích nhập cảng về với giá gấp SÁU lần giá đem bán. Nhà nước im lìm! Việt Nam tôi, trong sách lịch sử nói rằng đó là Biển Bạc, nơi được khám phá có nhiều dầu hoả và ngàn trùng tôm cá. Giờ đây biển của tôi, nhưng ngư dân ra đánh bắt bị đánh chìm tàu, ngư dân bị bắt với món tiền chuộc không nhỏ. Những mỏ dầu với trữ lượng lớn không dám khai thác. Nhà cầm quyền Việt Nam hãy trả lời cho dân tộc những việc nầy, để chứng minh sự chính danh trong lãnh đạo.
Lạ lùng nhất là công dân đang ngủ giữa khuya trong nhà bị lực lượng hùng hậu Cảnh Sát tấn công, giết chết mà không hề có lệnh của toà án. Một hành vi vi phạm nghiêm trong luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế. Thế mà những người chà đạp luật pháp được ân thưởng huy chương quốc gia. Người chết, khi đã chết mà trên tay còn cầm quả lựu đạn. Một huyền thoại mà nhân loại từ thuở sơ khai cũng không ai tin là có.
Quê hương tôi còn hàng ngàn, hàng triệu nghịch lý diễn ra hằng ngày, trên đầu đồng bào bất hạnh của chúng tôi. Người lãnh đạo Cộng Sản biết hơn ai hết :”Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh.” Karl Marx đã nói. Và sự tranh đấu của đồng bào trong nước là một tất yếu, không thể làm khác.
Vì là qui luật tất yếu nên mọi công dân đều phải theo lòng dân nếu muốn tồn tại trong lòng dân tộc. Những ai đi ngược, chà đạp nguyện vọng người dân, hãy nhìn lại bài học mà vợ chồng nhà độc tài Ceausescu, Tổng Bí Thư đảng cộng sản Romania trả giá để rút ra bài học cho chính bản thân mình. Người dân không đòi làm lãnh đạo đất nước, họ chỉ đòi dân chủ, nhân quyền, những quyền con người cơ bản nhất, những thứ mà nhân loại đang được hưởng. Tại sao đồng bào tôi không có?
Để đất nước phát triển, người dân cần được có cuộc sống tự do, dân chủ, no ấm, được người nước ngoài nể trọng khi có dịp xuất ngoại. Khi có Tự Do, Dân Chủ người dân sẽ đoàn kết lại để cùng chung sức chống lại kẻ thù truyền kiếp, sẽ bang giao với những quốc gia phát triển, tránh đi vào bẩy nợ mà kẻ thù đang giăng bủa trong mọi dự án với số tiền lại qủa cao cho những kẻ hám lợi bán rẻ quê hương.
Chỉ những người yêu quê hương nầy, những người tha thiết với hai chữ Việt Nam, những người dám chấp nhận tù tội, tra tấn, đánh đập, dám cất tiếng nói vì lương tâm, vì dân tộc mới dám hy sinh cho mục tiêu cao cả nầy. Tôi ủng hộ họ, những công dân nầy đích thực hy sinh cho dân tộc. Họ không lừa dối dân tộc, họ không bán rẻ đất nước vì quyền lợi riêng của họ. Tôi xin kêu gọi đồng bào hãy can đảm đứng lên vì tổ quốc, nếu không nguy cơ mất nước vào tay Trung Cộng ngày càng hiện rõ.
Xin kính chúc đồng bào trong nước, ở nước ngoài được an khang, thịnh vượng để đồng hành cùng những người con yêu của đất nước. Kính chúc đồng bào trong nước vững bước, vững lòng tin vào cuộc tranh đấu cho chính nghĩa của dân tộc. Chúng ta sẽ sớm thấy ngày quê hương không còn Cộng Sản.
Xin kính chào đồng bào. Thượng Nghị Sĩ Canada Ngô Thanh Hải
(Kính họa bài Tiếng Gọi Xuân Về của thi sĩ Lê Tuấn)
Xuân về lộc trỗ vun cành
Nắng vương lên mảnh khăn lanh óng vàng
Được em yêu chẳng dễ dàng
Hồn rung mấy bậc nhịp nhàng cung thơ
Đắm say ra ngẩn vào ngơ
Hồn Xuân đã ngủ trên bờ vai em
Dịu dàng cơn gió ru êm
Mơn man vệt mộng ngang thềm nhẹ rơi
Tim bâng khuâng tiếng gọi mời
Miên man một cõi mây trời tỏa riêng
Cỏ hoa rực rỡ vào Giêng
Sao em nỡ để tâm phiền anh mang
Xuân nồng hôn khóm cúc vàng
Lắt lay cơn gió nhịp nhàng chân đi
Từ yêu em ước mãi khi
Bướm hoa chung lối mộng thì hoà chan
Phương Hoa – JAN 16th 2020
Xuân Về
Minh Thuý
1/17/2020
Ngày xuân đi chợ Tết
Nhớ
lại những ngày Tết Sài Gòn xưa. Xin chia sẻ cùng quý vị bài thơ 5 chữ,
tôi viết đã lâu rồi, bài thơ này mang theo âm hưởng của ca khúc “Em đi
chùa Hương”. Rất mong quý nhạc sĩ (Ngẫu hứng) viết một ca khúc mang giai
điểu (gần gũi với ca khúc Em đi Chùa Hương) hay bài thơ (Ông Đồ Già).
Nếu được như vậy thì hay biết mấy. Rất mong quý vị nữ sĩ VTLV cùng họa
bút để chia sẽ những vần thơ hay cho ngày xuân.
Chúc quý vị một mùa xuân thật vui.
Trân trọng
Lê Tuấn
Ngày xuân đi chợ Tết
Nắng đùa trên mái tóc Gió đùa vạt áo bay Em cười vui trong nắng Cánh hoa hồng trên tay. Năm nay em mười tám Tuổi trăng rằm ngây thơ Mẹ hỏi em có muốn Lấy chồng sớm hay chờ. Em còn đang dệt mộng Trong lứa tuổi xuân thì Mẹ hỏi em kỳ quá Lấy chồng sớm làm gì. Mỗi lần em ra phố Nhiều chàng trai đứng chờ Trên đường đi rất ngượng Em đang tuổi mộng mơ.
Ngày xuân đi chợ Tết Em gặp chuyện bất ngờ Một chàng trai tuấn tú Tặng em một bài thơ. Bài thơ vần lục bát Ôm ấp một tình yêu Lời thơ như gợi nhớ Kim Trọng gặp Thúy Kiều.
Từ dạo đó em nhớ Ngồi ngắm mình trong gương Tô thêm bờ môi đỏ Em vẫn đợi người thương. Một hôm Mẹ lại hỏi Bao giờ cô lấy chồng Em thẹn thùng ấp úng Trời đã vào cuối đông. Gia đình chàng đến hỏi Em đứng nép bên thềm Mẹ gật đầu ưng thuận Em thao thức thâu đêm. Cuối năm làm đám cưới Em một lòng thủy chung Chồng em người lính chiến Lính Việt Nam Cộng Hòa.
AET. Lê Tuấn
Hương Mùa Xuân
Ngày xuân hương cỏ lạ Hoa đào chen sắc mai Bướm ong bay tìm mật Ngày vui nối tình dài.
Giọt sương khuya lấp lánh Nắng điểm nhẹ trên môi Em cười vui ngày Tết Bên hương say, gọi mời.
Tháng giêng xuân vừa đến Cho tình yêu lên ngôi Gợi thêm từng nỗi nhớ Thơ tràn vào vào hồn tôi.
Lê Tuấn Mùa Xuân 2019
VTLV chúc Tết quí vị vạn sự như ý
Đàn bầu bài “Cám ơn”- Bùi H Nhựt
TƯỢNG ĐÀI KỶ NIỆM 75 TỬ SĨ HOÀNG SA
TƯỢNG ĐÀI KỶ NIỆM 75 TỬ SĨ HOÀNG SA
Hôm nay tại quận Cam, Nam California, đã trang trọng làm lễ khánh thành tượng đài kỷ niệm và ghi ơn 75 chiến sĩ VNCH đã hy sinh trong trận hải chiến với đoàn quân xâm lược Trung Cộng tại Hoàng Sa ngày 19-1-1974.
46 năm đã trôi qua… Lịch sử dân tộc phải được tôn trọng, và gìn giữ cho thế hệ mai sau Buổi lễ hôm nay đặc biệt có sự tham dự của một số hậu duệ của những anh hùng đã vị quốc vong thân đó. Năm 1974, khi cố thiếu tá hạm phó Nguyễn Thành Trí chìm sâu dưới lòng biển đông cùng với chiến hạm lịch sử Nhật Tảo HQ10, cô bé Nguyễn Thị thanh Thảo 4 tuổi đầu phải chịu mồ côi cha. 46 năm sau, cô đã có mặt tại buổi lễ khánh thành tượng đài ghi ơn những anh hùng mà cha của cô là một trong 75 điểm son sáng ngời đó của dân tộc.
Thiệp mời tiệc kỷ niệm ngày thành lập VTLV
Ngày 1 tháng 3 2020, lúc 4g chiều tại nhà hàng Phú Lâm, San Jose
Tình Xuân
Tình Xuân
Ở hai đầu nỗi nhớLặng lẽ buồn bơ vơ Anh gặp em ngày đó Đền bây giờ dại khờ.
Tình xưa thời con gái Tuổi trăng tròn ngây thơ Môi chạm môi bỡ ngỡ Đầy ướt át trong mơ.
Nụ mai vàng trước ngõ Gió xuân đang đợi chờ Nắng ươm đầy nỗi nhớ Mây trắng bồng bềnh trôi.
Cành đào thêm sắc đỏ Dập dìu khách vui xuân Lang thang chiều dạo phố Bỗng dưng lòng bâng khuâng.
Buổi chiều vàng chợt tốiHạt mưa xuân nhẹ rơi Anh cùng em nhẹ bước Đêm xuân vẫn gọi mời.
Lê Tuấn Người nghệ sĩ lang thang
Tình yêu nhiệm mầu
Linh hồn ta yếu đuối Làm sao vượt lên trên Bên kia bờ vực thẳm Cho nỗi nhớ bồng bềnh.
Nhìn thấy bóng dáng em Ta đã lỡ ôm ghì Đem vào thơ nỗi nhớ Mối tình đầu mê si.
Đọc hết trang thánh thư Hồn ta vẫn nát nhừ Thiếu tình em là thế Dù biết đời hư vô.
Cô đơn như Thượng Đế Yếu đuối như gã khờ Vì tình nên anh viết Chữ yêu đầy trang thơ.
Cõi lòng còn day dứt Huyết mạch chảy trong tim Dòng nào cho tình sử Dòng nào chảy lặng im.
Triết lý nào cũng thế Dạy ta biết yêu nhau Không chia đôi cắt đứt Tình yêu sự nhiệm mầu.
Lê Tuấn Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng
Một số dấu tích ngôn ngữ Nam Việt cổ trong từ thư Trung Quốc
Một số dấu tích ngôn ngữ Nam Việt cổ trong từ thư Trung Quốc
Phan Anh Dũng
06 Tháng 1 2020
1. Đặt vấn đề về sự tồn tại của nhà nước Nam Việt cổ
Sách Thông Điển của Đỗ Hựu 杜佑[1] thời Đường (801)通典卷第一百八十四– 州郡十四,có ghi chép như sau:
“Tự Lĩnh nhi nam đương Đường Ngu Tam Đại vi man di chi quốc, thị Bách Việt chi địa, diệc vị chi Nam Việt. Hoặc vân Nam Việt chi quân diệc Hạ Vũ chi hậu … ” Tạm dịch: “Từ núi Ngũ Lĩnh về phía Nam, ngang với đời Đường Ngu và Tam Đại là (một) nước man di, nằm trong đất Bách Việt, cũng gọi là Nam Việt.[2] Có kẻ nói quân trưởng của Nam Việt là dòng dõi vua Hạ Vũ…”
Để tránh nghi vấn “tam sao thất bản” nên người viết chụp nguyên bản trang sách đó ở dưới:
Như vậy truyền thuyết về thời đại Hồng Bàng – Hùng Vương của người Việt đâu phải là tự người Việt bịa đặt ra, như có người từng quy kết rằng: ban đầu do Trần Thế Pháp “sáng tác” trong Lĩnh Nam Trích Quái, rồi sử quan đô tổng tài thời Lê là tiến sĩ Vũ Quỳnh “ghi bừa” vào Đại Việt Sử Ký Toàn Thư? Để ý Thông Điển (801) có trước Việt Sử Lược và Lĩnh Nam Trích Quái đến khoảng nửa thiên niên kỷ, mà Đỗ Hựu từng làm Tiết độ sứ Lĩnh Nam nên có thể đã từng nắm trong tay những tư liệu sách vở về nước Nam Việt cổ chứ không phải viết dựa theo truyền thuyết của người Việt.
Dẫu sách của Đỗ Hựu đã viết theo kiểu miệt thị gọi nước của người Việt là “man di” đi nữa thì vẫn là một “quốc” chứ không viết là một “xứ” hay một bộ lạc, hơn nữa ngay câu sau lại nhắc tới “quân” tức là “vua” của “man di chi quốc” này nên hiển nhiên “quốc” phải hiểu theo nghĩa “quốc gia” … Thông tin này cũng phù hợp với thông tin của Tiến sĩ Nguyễn Việt cho biết đã tìm thấy nha chương bằng ngọc, biểu hiện của quyền lực, trên đất nước ta với niên đại khoảng 3500-3800 năm trước trong một ngôi mộ cổ ở Xóm Rền (Phù Ninh, Phú Thọ), khoảng 3500-3800 năm trước là khoảng nửa cuối nhà Hạ (thế kỷ 21 TCN – 16 TCN). Nha chương này có cùng chất liệu với các vòng ngọc tìm thấy trong ngôi mộ cổ đó nên có khả năng lớn là được chế tác tại chỗ, chứ không phải là từ Trung Quốc truyền sang qua con đường giao lưu buôn bán.
Niên đại hơn 4.000 năm của nước Nam Việt nói trong Thông Điển cũng khá phù hợp với niên đại của nước Việt Thường trong sách Thông Chí đời Tống:《通志》(宋•鄭樵[1104年-1162年]撰)又按陶唐之世,越裳國獻神龜,蓋千歲,方三尺餘,背有科斗文記開闢以來,堯命錄之,謂之龜歴。《Thông Chí 》(Tống. Trịnh Tiều [110-1162] soạn): Hựu án Đào Đường chi thế, Việt Thường quốc hiến thần quy, cái thiên tuế, phương tam xích dư, bối hữu khoa đẩu văn kí khai tịch dĩ lai, Nghiêu mạng lục chi, vị chi Quy Lịch.
“Lại xét đời Đào Đường, nước Việt Thường dâng con rùa thần, phải đến hơn nghìn năm tuổi, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là Quy Lịch tức Lịch rùa.”
Tóm lại: Nam Việt là một địa danh và là tên nước cổ, có thể đã có trước thời Triệu Đà đến hàng nghìn năm chứ không phải đến thời Triệu Đà mới đặt ra tên Nam Việt.
Theo quan điểm của người viết thì “nhà nước” Nam Việt hoặc Việt Thường hoặc Văn Lang… ở vùng Lĩnh Nam trước thời Chu có lẽ cũng chỉ ở mứcmột hình thức liên minh bộ lạc như các liên minh bộ lạc Hạ-Thương ở Trung Quốc đương thời mà thôi, nhưng vẫn có tính ĐỘC LẬP, KHU BIỆT nhất định, và đặc biệt là có truyền thống kế thừa hàng ngàn năm về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử .v.v…
2. Các dấu tích ngôn ngữ Nam Việt trong từ thư Trung Quốc.
Từ cách đặt vấn đề ở trên, chúng ta thử tìm hiểu về các dấu tích ngôn ngữ Nam Việt có thể còn lưu lại rải rác trong từ thư Trung Quốc. Để đảm bảo khách quan cần phải tìm đúng các đoạn văn có nội dung nói về người Nam Việt hay tiếng Nam Việt trong các từ thư Trung Quốc, công việc thật không dễ dàng, nhưng người viết cũng tìm được một số từ (chữ) sau:
– Chữ Sưu 獀.Khang Hy Tự điển có đoạn chú như sau: 獿獀,南越人名犬- Nạo sưu, Nam Việt nhân danh khuyển. (Người Nam Việt gọi chó là nạo sưu) .
Phục nguyên âm thượng cổ của chữ sưu:
Karlgren: /ʂi ̯ʊg/
Lí Phương Quế: /srjəgw/
Vương Lực: /ʃiu/
Baxter: /srju/
Trịnh Trương Thượng Phương: /sru/
Phan Ngộ Vân: /sru/.
Đây có thể là một từ gốc Môn-Khmer, vì chó trong tiếng Việt cổ là /*cuəʔ/ (phục nguyên theo G.Diffoth, xem Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt, trang 48), một số ngôn ngữ phương Nam khác gọi chó là a-so hay a-sưu, ví dụ tiếng Katu thì chó là achoo, còn chó sói là axô hay axớu .v.v… Tiền âm tiết a– ứng với nạo, vì chữ nạo còn được viết là 獶, mà phục nguyên âm thượng cổ chữ này theo Vương Lực là /iu/ theo Baxter là /ʔju/, phản ánh một tiền âm tiết với phụ âm đầu zero hay tắc thanh hầu.
Học giả Axel Schuessler trong phần mở đầu cuốn sách “Từ điển từ nguyên Hán ngữ cổ” ( Etymological_Dictionaryof old Chinese) khi bàn về quan hệ giữa Hán ngữ và các ngôn ngữ láng giềng, ở mục quan hệ với tiếng Việt (mục 1.2.6 trang 4) cũng dẫn ví dụ về chữ sưu 獶 này cùng với chữ trát 札(tức là chết tiếng Việt, nói kỹ ở phần dưới).
Trong khi đó các ngôn ngữ nhóm Thái – Kadai như Choang, Tày, Thái đều gọi chó là ma, âm đọc hoàn toàn khác với nạo sưu mà sách Trung Quốc đã ghi chép … Từ so sánh trên có thể thấy, giống người được sách Trung Quốc gọi là “Nam Việt nhân” nhiều khả năng là người Việt (Kinh) chứ không phải nhóm Choang – Tày – Thái.
Vả lại xét dân số của vùng Lĩnh Nam (tức vùng đất Nam Việt theo Thông Điển viết ở trên) được ghi chép trong Hán Thư thì quận Uất Lâm, phía tây Quảng Tây, vốn là vùng đất sinh sống của người Choang, đất rộng đến 12 huyện nhưng dân số chỉ có 71.162 khẩu, chưa bằng một huyện của quận Giao Chỉ (tức miền Bắc VN), khi đó quận Giao Chỉ có 10 huyện nhưng dân số cộng đến 746.237 khẩu. Nếu cộng luôn cả Tày – Nùng và nhóm Lê ở đảo Hải Nam khi đó thì nhóm Thái – Kadai có lẽ cũng chưa bằng 1/5 dân số của người Việt (Kinh) ở riêng quận Giao Chỉ chứ chưa tính đến quận Cửu Chân, nên bảo rằng người Nam Việt vốn là người Choang – Lê (và chỉ có thể là Choang – Lê?) thì thật là vô lý.
Lại xét Lữ Gia là Thừa tướng nước Nam Việt của Triệu Đà, truyền thuyết của người Việt nói Lữ Gia là người Việt đất Lôi Dương quận Cửu Chân, hiện còn đền thờ ở tỉnh Hưng Yên. Vì vậy việc sách Trung Quốc ghi tiếng nói Nam Việt có điểm giống tiếng Việt (Kinh) thì có gì lạ?
Chu Lễ, Địa Quan, Tư Quan: “Quốc hung trát, tắc vô tống quan chi trưng. Trịnh Huyền[3] chú dẫn Trịnh Ti Nông vân: hung, vị hung niên cơ hoang dã; trát, vị tật dịch tử vong dã. Việt nhân vị tử vi trát.
Ở đây chúng ta chỉ cần chú ý đến câu cuối “Người Việt gọi chết là trát”còn phía Hán ngữ thì nghĩa là “tật dịch tử vong”, Axel Schuessler có dẫn từ này như đã nói ở phần trên nhưng dịch thành epidemic tức là “tật dịch” mà bỏ sót nghĩa “tử vong”ghi trong từ thư Trung Quốc, đó mới là nghĩa gốc của nó bắt nguốn từ “chết” của tiếng Việt.
Đối chiếu phục nguyên âm thượng cổ Hán của chữ “trát 扎” theo Vương Lực là /tʃet/ , hay theo Baxter là /tsrit/ thấy khá gần từ “chết” của người Việt (Kinh), đó là một từ gốc Mon-Khmer mà ngữ âm thời proto Mon-Khmer (khoảng hơn 4000 năm trước) theo G.Difflot là /*kacet/[4] nếu bỏ qua tiền âm tiết “ka” thì cũng không khác lắm so với tiếng Việt hiện đại. Trong khi đó từ “chết” trong tiếng Thái Đen là “tai”, tiếng Tày là “thai” đều khác với từ “trát” nhiều, như vậy việc một số học giả Trung Quốc cho rằng các nhóm dân Bách Việt cổ ở vùng Nam Trường Giang là thuộc nhóm Thái – Kađai là thiếu căn cứ.
– Chữ cụ 颶(gió bão): Sách Nam Việt Chí của Thẩm Hoài Viễn (沈怀远) thời Nam Triều Tống南朝宋(năm 420-479)[5] viết: 颶風者-cụ, phong dã (cụ là gió), cũng đã được ghi lại trong Khang Hy Tự điển.
Phục nguyên âmthượng cổ của chữ cụ颶 (Thanh mẫuquần群, vận mẫungu虞, khứthanh, hợp khẩu,tam đẳng, nhiếpngộ遇,thiết âm: 衢遇- cù ngộ thiết):
Karlgren: /gʹi ̯u/
Lí Phương Quế: /gjugh/
Vương Lực: /gio/
Baxter: /gjos/
Trịnh Trương Thượng Phương: /gos/
Phan Ngộ Vân: /gos/.
Tiến sĩ Trần Trọng Dương trong Nguyễn Trãi Quốc âm từ điển chú về chữ Nôm gió như sau: “Tự dạng Nôm cổ hơn với cấu trúc {cá+dũ 个+愈} để ghi thủy âm kép *kj … đối ứng: kzo trong Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng … Kiểu tái lập *kjɔ …”
Như vậy tái lập âm của Trần Trọng Dương cũng không khác mấy so với tái lập của Baxter cho chữ cụ 颶là: /*gjos/, vì hai phụ âm k- và g- chỉ phân biệt ở đặc tính vô thanh hay hữu thanh, dễ dàng chuyển hóa cho nhau, như thường thấy ở tiếng Nga, còn âm cuối -s dẫn đến khứ thanh (theo Haudricourt) cũng phù hợp với dấu sắc ở tiếng Việt “gió”. Có thể dẫn thêm hàng loạt trường hợp chữ Hán có thanh mẫu kiến 見(K-),tương ứng âm Hán Việt là GI- như: 加gia; 價giá; 覺giác; 皆giai; 解giải; 間gian, 江giang… Nhân tiện nói thêm: TS Trần Trọng Dương dựa vào các ngôn ngữ bà con với tiếng Việt nên phục nguyên âm đầu là k-, nhưng chúng tôi đề nghị vẫn phục nguyên là g- tức “gjɔ”. Âm đầu g- vốn có sẵn từ xưa trong proto Mon-Khmer, nhiều tác giả cho rằng sau này đã gộp vào k- ở giai đoạn Việt – Mường chung, rồi sau này ở tiếng Việt lại tách ra, nhưng chúng tôi cho rằng riêng nhóm Việt vùng Bắc Bộ thì vẫn giữ phân biệt k-/g- từ thượng cổ đến nay.
Rõ ràng Thẩm Hoài Viễn đã ghi chép được đúng nghĩa chữ gió 颶của người Việt (Kinh) nghĩa là gió (phong) nói chung, chứ không chỉ có nghĩa hẹp hơn là “gió bão” như ở Hán ngữ.
Hình minh họa chữ Nôm gió cổ viết dạng {cá+dũ 个+愈} chụp lại từ bản Nôm Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh, trang 12a (câu Nôm: đi đỗ lệ tai gió):
– Chữ hào 蠔(nghĩa là con hàu)南越志》曰:南土謂蠣爲蠔Nam Việt Chí viết: Nam thổ vị lệ vi hào. (Sách Nam Việt Chí viết rằng người phương Nam gọi “lệ” là con hào).
Âm hào thời Thẩm Hoài Viễn trùng hoàn toàn với tên con hào (hay hàu) mà người Việt hiện nay vẫn sử dụng rất phổ thông.
Thử tra cứu tự điển chữ Nôm Tày và từ điển Thái Đen – Việt thì không thấy chữ hào nghĩa là con hàu, nhưng không cần ngạc nhiên chuyện này vì người Tày và Thái vốn cư trú ở miền núi, còn con hàu là sinh vật biển. Hiện người viết chưa tra cứu được từ điển Choang có chữ hào nghĩa là “con hàu” này không, nhưng nhiều khả năng cũng như Tày-Thái thôi, vì người Choang cũng cư trú ở miền núi, nếu hiện tại có từ hào thì có lẽ là họ mượn của người Hán hay người Việt (Kinh).
– Chữ đồn 豚(con lợn): 《南越志:江豚似猪Nam Việt Chí: Giang đồn tựa trư. (con lợn sông hay lợn biển hình giống như lợn).
Phục nguyên âm thượng cổ của chữ đồn 豚:
Karlgren: /dʹwən/
Lí Phương Quế: /dən/
Vương Lực: /duən/
Baxter: /lun/
Trịnh Trương Thượng Phương: /duun/
Phan Ngộ Vân: /duun/
Phục nguyên của Baxter /lun/cho thấy từ lợn của người Việt với đồn Hán ngữ có thể là cùng mộc gốc Nam Á, trong khi đó họ ngôn ngữ Thái-Kadai gọi con lợn là mu thì rất khác.
Ví dụ về quan hệ giữa âm đầu đ- Hán Việt với l- Việt còn thấy ở các cặp từ khác như chữ Đà (Hán: 柁) /Lái (Việt) mà phục nguyên theo Baxter là: /lajʔ/, hay chữ đạo 稻là lúa phục nguyên theo Baxter là: /luʔ /(âm cuối tắcʔ khi mở sẽ chuyển thành -a ở tiếng Việt).
Trong tiếng Việt còn có các ví dụ về từ có âm đầu đ/l đồng nghĩa như đạc ngựa cũng là lạc ngựa, hay đòi tói=lòi tói (tức dây xích sắt, từ đòi tói có ghi trong từ điển Việt Bồ La A.D.Rhodes và chú là cũng như lòi tói) v.v…
– Chữ trá 䖳(tức 水母 thủy mô, tức con sứa): sách《淡水廳志》Đạm Thủy Sảnh Chí[ 6] có chép rằng 南越志謂之䖳 (Nam Việt Chí vị chi trá).
Khang Hy Tự Điển có ghi một âm khác của trá 䖳là 咤, mà chữ này người Việt quen đọc âm Hán-Việt là sá. Như vậy có thể “con sá” tức là “con sứa” của người Việt, quan hệ giữa vần -a và -ưa là khá rõ ràng vì nhiều vùng khu 4 cũ như Thanh Hóa vẫn gọi “lửa” là “lả”. Chắc chắn đây là từ gốc Nam Á của nhóm Bách Việt, vì có sách ghi là người Mân Việt cũng gọi con sứa là 䖳.
– Sách 臨海異物志》Lâm hải dị vật chí của Thẩm Oánh (沈莹) đời Tam Quốc viết: 比目魚,似左右分魚,南越謂之板魚(Tỉ mục ngư, tựa tả hữu phân ngư, Nam Việt vị chi bản ngư– Cá mắt sát nhau, giống như cá phân biệt hai nửa trái phải, người Nam Việt gọi là cá “bản”).
Cá bản chính là cá bơn hay thờn bơn trong tiếng Việt[7], đặc điểm của cá bơn là hai con mắt nằm cùng một phía thân, sát vào nhau, (chữ tỉ trong tên “Tỉ mục” nghĩa thông thường là so sánh, còn có nghĩa khác là cặp sát). Có 2 chữ Nôm ghi tên cá bơn mà đều dùng phần biểu âm là chữ ban (~), khá phù hợpvớiâm bản, sai khác về thanh không quan trọng vì theo Haudricourt [11] thì khoảng đầu công nguyên tiếng Việt còn chưa có thanh điệu, tiếng Hán có thể cũng chưa định hình rõ thanh điệu.
Cứ ngư 锯鱼(cá lưỡi cưa), theo Nam Việt Chí và Thái Bình Hoàn Vũ Ký thì Nam Việt gọi là 狼籍鱼– lang tịch ngư[8].
Chữ “lang”có lẽ ứng với “răng” trong tiếng Việt vì phục nguyên âm thượng cổ của chữ 狼theo Baxter là /c-raŋ/, theo Trịnh Trương Thượng Phương và Phan Ngộ Vân là /raaŋ/, còn chữ “tịch” có thể là “lược” trong tiếng Việt vì Baxterphục nguyên âm thượng cổ của tịch 籍là /zljᴀk/, Trịnh Trương Thượng Phương: /ljaag/, Phan Ngộ Vân: /sɢlag/.
Cá răng lược hay “cứ ngư”
* Ngoài các dẫn chứng trên, còn hàng loạt các từ Hán có nguồn gốc phương Nam nhưng đã Hán hóa cao và không chỉ có ở đất Nam Việt nên người viết không tính là dấu tích Nam Việt, chẳng hạn như phù lưu (plâu=trầu), cảm lãm (klãm=trám), da (dừa), tân lang (binh lang=cây cau), trứ/trợ (đũa), đại mội (đồi mồi) .v.v…
Sơ kết
Các chứng tích ngữ âm Nam Việt còn lưu trong sách Trung Quốc tìm được ở trên tuy chưa nhiều nhưng tạm có thể đặt vấn đề là tiếng nói của người Nam Việt cổ chính là tiếng nói của người Việt (Kinh).
Tuy địa bàn Lĩnh Nam còn có các nhóm Thái-Kadai, nhưng dân số chưa bằng 1/4 của người Kinh, nên ước chừng nếu tìm được nhiều chữ hơn trong từ thư Trung Quốc viết về đất Nam Việt để so sánh thì tỉ lệ số chữ có gốc Việt (Kinh) vẫn áp đảo.
A Handbook of Old Chinese PhonologyGS William Baxter (1992, New York, Berlin).
王力古漢語字典,Vương Lực “Cổ Hán ngữ tự điển”.
Etymological_Dictionaryof old Chinese. Axel Schuessler , 2007 University of Hawai’i Press.
Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt. Nguyễn Tài Cẩn, NXB Giáo Dục, Hà Nội. 1995
Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt. Nguyễn Tài Cẩn. NXB Đại học Quốc gia , Hà Nội. 2000.
Từ điển tiếng Cơ Tu- Việt, Việt -Cơ Tu, Nguyễn Hữu Hoành, Tạ Văn Thông, Nguyễn Văn Lợi, Sở KHCN Quảng Nam và Viện Ngôn ngữ học 2007.
Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật Thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh. Hoàng Thị Ngọ. NXB KHXH, Hà Nội, 1999.
Thử tìm hiểu từ nguyên một số cặp từ Việt Hán, PHAN ANH DŨNG, Bài viết tham gia hội thảo nhân một năm ngày mất GS Nguyễn Tài Cẩn, Hà Nội, 4-2012.
Tìm hiểu về lớp từ cổ Việt Hán qua các cứ liệu ngữ âm lịch sử, PHAN ANH DŨNG, Hội thảo quốc tế Ngôn ngữ học, Hà Nội 14-16/4/2013.
A.G. Haudricourt (1954). Về nguồn gốc các thanh của tiếng Việt. (Hoàng Tuệ dịch). In trong Những bài viết về lịch sử tiếng Việt – Trần Trí Dõi biên soạn, Hà Nội, 1997.
Nguyễn Trãi Quốc âm Từ điển. Trần Trọng Dương. NXB Từ điển Bách khoa. Hà Nội 2014.
[1] Đỗ Hữu 杜佑(735-812) từng làm Tiết độ sứ Lĩnh Nam, soạn sách Thông điển trong 36 năm từ 766 đến 801 sau đó làm Tể tướng nhà Đường gần 10 năm cho tới cuối đời. Đỗ Hữu là ông nội của nhà thơ Đỗ Mục. http://zh.wikipedia.org/wiki/%E6%9D%9C%E4%BD%91
[2] Đường Ngu tức là vua Nghiêu họ Đào Đường ( 2337 TCN–2258 TCN) và vua Thuấn họ Hữu Ngu. Tam Đại tức 3 đời Hạ (bắt đầu từ vua Vũ), Thương, Chu.
[3] Trịnh Huyền (郑玄127-200) là một học giả thời Đông Hán.
[4] Dẫn lại theo Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt của GS Nguyễn Tài Cẩn, trang 46.
[5] Hiện sách Nam Việt Chí đã thất truyền, nhưng nó được trích dẫn rất nhiều ở các sách khác, hiện đã có một công trình của các học giả Trung Quốc sao lục lại Nam Việt Chí từ các sách khácnhau, tập hợp lại được khoảng 49 trang A4 .
[6] Đạm Thủy Sảnh 淡水廳là một địa phương ở đảo Đài Loan.
[7] Cá bơn hiện nay là món ăn rất phổ thông ở Huế, thường dùng nấu canh với trái thơm (dứa).
[8] Xem thông tin ở trang http://baike.xzbu.com/995417.htm, 《寰宇记:“惠州出锯鱼,亦名狼籍鱼,身长二丈,口长三尺,广三寸,左右齿如铁锯,《南越志》作锯鱼。”Hoàn Vũ Ký: Huệ Châu xuất cứ ngư, diệc danh lang tịch ngư, thân trường nhị trượng, khẩu trường tam xích, quảng tam thốn, tả hữu xỉ như thiết cứ. Nam Việt Chí tác cứ ngư. Huệ Châu là ngoại ô phía đông bắc thành phố Quảng Châu, kinh đô xưa của nước Nam Việt của Triệu Đà.