Hôm nay tại quận Cam, Nam California, đã trang trọng làm lễ khánh thành tượng đài kỷ niệm và ghi ơn 75 chiến sĩ VNCH đã hy sinh trong trận hải chiến với đoàn quân xâm lược Trung Cộng tại Hoàng Sa ngày 19-1-1974.
46 năm đã trôi qua… Lịch sử dân tộc phải được tôn trọng, và gìn giữ cho thế hệ mai sau Buổi lễ hôm nay đặc biệt có sự tham dự của một số hậu duệ của những anh hùng đã vị quốc vong thân đó. Năm 1974, khi cố thiếu tá hạm phó Nguyễn Thành Trí chìm sâu dưới lòng biển đông cùng với chiến hạm lịch sử Nhật Tảo HQ10, cô bé Nguyễn Thị thanh Thảo 4 tuổi đầu phải chịu mồ côi cha. 46 năm sau, cô đã có mặt tại buổi lễ khánh thành tượng đài ghi ơn những anh hùng mà cha của cô là một trong 75 điểm son sáng ngời đó của dân tộc.
Thiệp mời tiệc kỷ niệm ngày thành lập VTLV
Ngày 1 tháng 3 2020, lúc 4g chiều tại nhà hàng Phú Lâm, San Jose
Tình Xuân
Tình Xuân
Ở hai đầu nỗi nhớLặng lẽ buồn bơ vơ Anh gặp em ngày đó Đền bây giờ dại khờ.
Tình xưa thời con gái Tuổi trăng tròn ngây thơ Môi chạm môi bỡ ngỡ Đầy ướt át trong mơ.
Nụ mai vàng trước ngõ Gió xuân đang đợi chờ Nắng ươm đầy nỗi nhớ Mây trắng bồng bềnh trôi.
Cành đào thêm sắc đỏ Dập dìu khách vui xuân Lang thang chiều dạo phố Bỗng dưng lòng bâng khuâng.
Buổi chiều vàng chợt tốiHạt mưa xuân nhẹ rơi Anh cùng em nhẹ bước Đêm xuân vẫn gọi mời.
Lê Tuấn Người nghệ sĩ lang thang
Tình yêu nhiệm mầu
Linh hồn ta yếu đuối Làm sao vượt lên trên Bên kia bờ vực thẳm Cho nỗi nhớ bồng bềnh.
Nhìn thấy bóng dáng em Ta đã lỡ ôm ghì Đem vào thơ nỗi nhớ Mối tình đầu mê si.
Đọc hết trang thánh thư Hồn ta vẫn nát nhừ Thiếu tình em là thế Dù biết đời hư vô.
Cô đơn như Thượng Đế Yếu đuối như gã khờ Vì tình nên anh viết Chữ yêu đầy trang thơ.
Cõi lòng còn day dứt Huyết mạch chảy trong tim Dòng nào cho tình sử Dòng nào chảy lặng im.
Triết lý nào cũng thế Dạy ta biết yêu nhau Không chia đôi cắt đứt Tình yêu sự nhiệm mầu.
Lê Tuấn Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng
Một số dấu tích ngôn ngữ Nam Việt cổ trong từ thư Trung Quốc
Một số dấu tích ngôn ngữ Nam Việt cổ trong từ thư Trung Quốc
Phan Anh Dũng
06 Tháng 1 2020
1. Đặt vấn đề về sự tồn tại của nhà nước Nam Việt cổ
Sách Thông Điển của Đỗ Hựu 杜佑[1] thời Đường (801)通典卷第一百八十四– 州郡十四,có ghi chép như sau:
“Tự Lĩnh nhi nam đương Đường Ngu Tam Đại vi man di chi quốc, thị Bách Việt chi địa, diệc vị chi Nam Việt. Hoặc vân Nam Việt chi quân diệc Hạ Vũ chi hậu … ” Tạm dịch: “Từ núi Ngũ Lĩnh về phía Nam, ngang với đời Đường Ngu và Tam Đại là (một) nước man di, nằm trong đất Bách Việt, cũng gọi là Nam Việt.[2] Có kẻ nói quân trưởng của Nam Việt là dòng dõi vua Hạ Vũ…”
Để tránh nghi vấn “tam sao thất bản” nên người viết chụp nguyên bản trang sách đó ở dưới:
Như vậy truyền thuyết về thời đại Hồng Bàng – Hùng Vương của người Việt đâu phải là tự người Việt bịa đặt ra, như có người từng quy kết rằng: ban đầu do Trần Thế Pháp “sáng tác” trong Lĩnh Nam Trích Quái, rồi sử quan đô tổng tài thời Lê là tiến sĩ Vũ Quỳnh “ghi bừa” vào Đại Việt Sử Ký Toàn Thư? Để ý Thông Điển (801) có trước Việt Sử Lược và Lĩnh Nam Trích Quái đến khoảng nửa thiên niên kỷ, mà Đỗ Hựu từng làm Tiết độ sứ Lĩnh Nam nên có thể đã từng nắm trong tay những tư liệu sách vở về nước Nam Việt cổ chứ không phải viết dựa theo truyền thuyết của người Việt.
Dẫu sách của Đỗ Hựu đã viết theo kiểu miệt thị gọi nước của người Việt là “man di” đi nữa thì vẫn là một “quốc” chứ không viết là một “xứ” hay một bộ lạc, hơn nữa ngay câu sau lại nhắc tới “quân” tức là “vua” của “man di chi quốc” này nên hiển nhiên “quốc” phải hiểu theo nghĩa “quốc gia” … Thông tin này cũng phù hợp với thông tin của Tiến sĩ Nguyễn Việt cho biết đã tìm thấy nha chương bằng ngọc, biểu hiện của quyền lực, trên đất nước ta với niên đại khoảng 3500-3800 năm trước trong một ngôi mộ cổ ở Xóm Rền (Phù Ninh, Phú Thọ), khoảng 3500-3800 năm trước là khoảng nửa cuối nhà Hạ (thế kỷ 21 TCN – 16 TCN). Nha chương này có cùng chất liệu với các vòng ngọc tìm thấy trong ngôi mộ cổ đó nên có khả năng lớn là được chế tác tại chỗ, chứ không phải là từ Trung Quốc truyền sang qua con đường giao lưu buôn bán.
Niên đại hơn 4.000 năm của nước Nam Việt nói trong Thông Điển cũng khá phù hợp với niên đại của nước Việt Thường trong sách Thông Chí đời Tống:《通志》(宋•鄭樵[1104年-1162年]撰)又按陶唐之世,越裳國獻神龜,蓋千歲,方三尺餘,背有科斗文記開闢以來,堯命錄之,謂之龜歴。《Thông Chí 》(Tống. Trịnh Tiều [110-1162] soạn): Hựu án Đào Đường chi thế, Việt Thường quốc hiến thần quy, cái thiên tuế, phương tam xích dư, bối hữu khoa đẩu văn kí khai tịch dĩ lai, Nghiêu mạng lục chi, vị chi Quy Lịch.
“Lại xét đời Đào Đường, nước Việt Thường dâng con rùa thần, phải đến hơn nghìn năm tuổi, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là Quy Lịch tức Lịch rùa.”
Tóm lại: Nam Việt là một địa danh và là tên nước cổ, có thể đã có trước thời Triệu Đà đến hàng nghìn năm chứ không phải đến thời Triệu Đà mới đặt ra tên Nam Việt.
Theo quan điểm của người viết thì “nhà nước” Nam Việt hoặc Việt Thường hoặc Văn Lang… ở vùng Lĩnh Nam trước thời Chu có lẽ cũng chỉ ở mứcmột hình thức liên minh bộ lạc như các liên minh bộ lạc Hạ-Thương ở Trung Quốc đương thời mà thôi, nhưng vẫn có tính ĐỘC LẬP, KHU BIỆT nhất định, và đặc biệt là có truyền thống kế thừa hàng ngàn năm về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử .v.v…
2. Các dấu tích ngôn ngữ Nam Việt trong từ thư Trung Quốc.
Từ cách đặt vấn đề ở trên, chúng ta thử tìm hiểu về các dấu tích ngôn ngữ Nam Việt có thể còn lưu lại rải rác trong từ thư Trung Quốc. Để đảm bảo khách quan cần phải tìm đúng các đoạn văn có nội dung nói về người Nam Việt hay tiếng Nam Việt trong các từ thư Trung Quốc, công việc thật không dễ dàng, nhưng người viết cũng tìm được một số từ (chữ) sau:
– Chữ Sưu 獀.Khang Hy Tự điển có đoạn chú như sau: 獿獀,南越人名犬- Nạo sưu, Nam Việt nhân danh khuyển. (Người Nam Việt gọi chó là nạo sưu) .
Phục nguyên âm thượng cổ của chữ sưu:
Karlgren: /ʂi ̯ʊg/
Lí Phương Quế: /srjəgw/
Vương Lực: /ʃiu/
Baxter: /srju/
Trịnh Trương Thượng Phương: /sru/
Phan Ngộ Vân: /sru/.
Đây có thể là một từ gốc Môn-Khmer, vì chó trong tiếng Việt cổ là /*cuəʔ/ (phục nguyên theo G.Diffoth, xem Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt, trang 48), một số ngôn ngữ phương Nam khác gọi chó là a-so hay a-sưu, ví dụ tiếng Katu thì chó là achoo, còn chó sói là axô hay axớu .v.v… Tiền âm tiết a– ứng với nạo, vì chữ nạo còn được viết là 獶, mà phục nguyên âm thượng cổ chữ này theo Vương Lực là /iu/ theo Baxter là /ʔju/, phản ánh một tiền âm tiết với phụ âm đầu zero hay tắc thanh hầu.
Học giả Axel Schuessler trong phần mở đầu cuốn sách “Từ điển từ nguyên Hán ngữ cổ” ( Etymological_Dictionaryof old Chinese) khi bàn về quan hệ giữa Hán ngữ và các ngôn ngữ láng giềng, ở mục quan hệ với tiếng Việt (mục 1.2.6 trang 4) cũng dẫn ví dụ về chữ sưu 獶 này cùng với chữ trát 札(tức là chết tiếng Việt, nói kỹ ở phần dưới).
Trong khi đó các ngôn ngữ nhóm Thái – Kadai như Choang, Tày, Thái đều gọi chó là ma, âm đọc hoàn toàn khác với nạo sưu mà sách Trung Quốc đã ghi chép … Từ so sánh trên có thể thấy, giống người được sách Trung Quốc gọi là “Nam Việt nhân” nhiều khả năng là người Việt (Kinh) chứ không phải nhóm Choang – Tày – Thái.
Vả lại xét dân số của vùng Lĩnh Nam (tức vùng đất Nam Việt theo Thông Điển viết ở trên) được ghi chép trong Hán Thư thì quận Uất Lâm, phía tây Quảng Tây, vốn là vùng đất sinh sống của người Choang, đất rộng đến 12 huyện nhưng dân số chỉ có 71.162 khẩu, chưa bằng một huyện của quận Giao Chỉ (tức miền Bắc VN), khi đó quận Giao Chỉ có 10 huyện nhưng dân số cộng đến 746.237 khẩu. Nếu cộng luôn cả Tày – Nùng và nhóm Lê ở đảo Hải Nam khi đó thì nhóm Thái – Kadai có lẽ cũng chưa bằng 1/5 dân số của người Việt (Kinh) ở riêng quận Giao Chỉ chứ chưa tính đến quận Cửu Chân, nên bảo rằng người Nam Việt vốn là người Choang – Lê (và chỉ có thể là Choang – Lê?) thì thật là vô lý.
Lại xét Lữ Gia là Thừa tướng nước Nam Việt của Triệu Đà, truyền thuyết của người Việt nói Lữ Gia là người Việt đất Lôi Dương quận Cửu Chân, hiện còn đền thờ ở tỉnh Hưng Yên. Vì vậy việc sách Trung Quốc ghi tiếng nói Nam Việt có điểm giống tiếng Việt (Kinh) thì có gì lạ?
Chu Lễ, Địa Quan, Tư Quan: “Quốc hung trát, tắc vô tống quan chi trưng. Trịnh Huyền[3] chú dẫn Trịnh Ti Nông vân: hung, vị hung niên cơ hoang dã; trát, vị tật dịch tử vong dã. Việt nhân vị tử vi trát.
Ở đây chúng ta chỉ cần chú ý đến câu cuối “Người Việt gọi chết là trát”còn phía Hán ngữ thì nghĩa là “tật dịch tử vong”, Axel Schuessler có dẫn từ này như đã nói ở phần trên nhưng dịch thành epidemic tức là “tật dịch” mà bỏ sót nghĩa “tử vong”ghi trong từ thư Trung Quốc, đó mới là nghĩa gốc của nó bắt nguốn từ “chết” của tiếng Việt.
Đối chiếu phục nguyên âm thượng cổ Hán của chữ “trát 扎” theo Vương Lực là /tʃet/ , hay theo Baxter là /tsrit/ thấy khá gần từ “chết” của người Việt (Kinh), đó là một từ gốc Mon-Khmer mà ngữ âm thời proto Mon-Khmer (khoảng hơn 4000 năm trước) theo G.Difflot là /*kacet/[4] nếu bỏ qua tiền âm tiết “ka” thì cũng không khác lắm so với tiếng Việt hiện đại. Trong khi đó từ “chết” trong tiếng Thái Đen là “tai”, tiếng Tày là “thai” đều khác với từ “trát” nhiều, như vậy việc một số học giả Trung Quốc cho rằng các nhóm dân Bách Việt cổ ở vùng Nam Trường Giang là thuộc nhóm Thái – Kađai là thiếu căn cứ.
– Chữ cụ 颶(gió bão): Sách Nam Việt Chí của Thẩm Hoài Viễn (沈怀远) thời Nam Triều Tống南朝宋(năm 420-479)[5] viết: 颶風者-cụ, phong dã (cụ là gió), cũng đã được ghi lại trong Khang Hy Tự điển.
Phục nguyên âmthượng cổ của chữ cụ颶 (Thanh mẫuquần群, vận mẫungu虞, khứthanh, hợp khẩu,tam đẳng, nhiếpngộ遇,thiết âm: 衢遇- cù ngộ thiết):
Karlgren: /gʹi ̯u/
Lí Phương Quế: /gjugh/
Vương Lực: /gio/
Baxter: /gjos/
Trịnh Trương Thượng Phương: /gos/
Phan Ngộ Vân: /gos/.
Tiến sĩ Trần Trọng Dương trong Nguyễn Trãi Quốc âm từ điển chú về chữ Nôm gió như sau: “Tự dạng Nôm cổ hơn với cấu trúc {cá+dũ 个+愈} để ghi thủy âm kép *kj … đối ứng: kzo trong Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng … Kiểu tái lập *kjɔ …”
Như vậy tái lập âm của Trần Trọng Dương cũng không khác mấy so với tái lập của Baxter cho chữ cụ 颶là: /*gjos/, vì hai phụ âm k- và g- chỉ phân biệt ở đặc tính vô thanh hay hữu thanh, dễ dàng chuyển hóa cho nhau, như thường thấy ở tiếng Nga, còn âm cuối -s dẫn đến khứ thanh (theo Haudricourt) cũng phù hợp với dấu sắc ở tiếng Việt “gió”. Có thể dẫn thêm hàng loạt trường hợp chữ Hán có thanh mẫu kiến 見(K-),tương ứng âm Hán Việt là GI- như: 加gia; 價giá; 覺giác; 皆giai; 解giải; 間gian, 江giang… Nhân tiện nói thêm: TS Trần Trọng Dương dựa vào các ngôn ngữ bà con với tiếng Việt nên phục nguyên âm đầu là k-, nhưng chúng tôi đề nghị vẫn phục nguyên là g- tức “gjɔ”. Âm đầu g- vốn có sẵn từ xưa trong proto Mon-Khmer, nhiều tác giả cho rằng sau này đã gộp vào k- ở giai đoạn Việt – Mường chung, rồi sau này ở tiếng Việt lại tách ra, nhưng chúng tôi cho rằng riêng nhóm Việt vùng Bắc Bộ thì vẫn giữ phân biệt k-/g- từ thượng cổ đến nay.
Rõ ràng Thẩm Hoài Viễn đã ghi chép được đúng nghĩa chữ gió 颶của người Việt (Kinh) nghĩa là gió (phong) nói chung, chứ không chỉ có nghĩa hẹp hơn là “gió bão” như ở Hán ngữ.
Hình minh họa chữ Nôm gió cổ viết dạng {cá+dũ 个+愈} chụp lại từ bản Nôm Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh, trang 12a (câu Nôm: đi đỗ lệ tai gió):
– Chữ hào 蠔(nghĩa là con hàu)南越志》曰:南土謂蠣爲蠔Nam Việt Chí viết: Nam thổ vị lệ vi hào. (Sách Nam Việt Chí viết rằng người phương Nam gọi “lệ” là con hào).
Âm hào thời Thẩm Hoài Viễn trùng hoàn toàn với tên con hào (hay hàu) mà người Việt hiện nay vẫn sử dụng rất phổ thông.
Thử tra cứu tự điển chữ Nôm Tày và từ điển Thái Đen – Việt thì không thấy chữ hào nghĩa là con hàu, nhưng không cần ngạc nhiên chuyện này vì người Tày và Thái vốn cư trú ở miền núi, còn con hàu là sinh vật biển. Hiện người viết chưa tra cứu được từ điển Choang có chữ hào nghĩa là “con hàu” này không, nhưng nhiều khả năng cũng như Tày-Thái thôi, vì người Choang cũng cư trú ở miền núi, nếu hiện tại có từ hào thì có lẽ là họ mượn của người Hán hay người Việt (Kinh).
– Chữ đồn 豚(con lợn): 《南越志:江豚似猪Nam Việt Chí: Giang đồn tựa trư. (con lợn sông hay lợn biển hình giống như lợn).
Phục nguyên âm thượng cổ của chữ đồn 豚:
Karlgren: /dʹwən/
Lí Phương Quế: /dən/
Vương Lực: /duən/
Baxter: /lun/
Trịnh Trương Thượng Phương: /duun/
Phan Ngộ Vân: /duun/
Phục nguyên của Baxter /lun/cho thấy từ lợn của người Việt với đồn Hán ngữ có thể là cùng mộc gốc Nam Á, trong khi đó họ ngôn ngữ Thái-Kadai gọi con lợn là mu thì rất khác.
Ví dụ về quan hệ giữa âm đầu đ- Hán Việt với l- Việt còn thấy ở các cặp từ khác như chữ Đà (Hán: 柁) /Lái (Việt) mà phục nguyên theo Baxter là: /lajʔ/, hay chữ đạo 稻là lúa phục nguyên theo Baxter là: /luʔ /(âm cuối tắcʔ khi mở sẽ chuyển thành -a ở tiếng Việt).
Trong tiếng Việt còn có các ví dụ về từ có âm đầu đ/l đồng nghĩa như đạc ngựa cũng là lạc ngựa, hay đòi tói=lòi tói (tức dây xích sắt, từ đòi tói có ghi trong từ điển Việt Bồ La A.D.Rhodes và chú là cũng như lòi tói) v.v…
– Chữ trá 䖳(tức 水母 thủy mô, tức con sứa): sách《淡水廳志》Đạm Thủy Sảnh Chí[ 6] có chép rằng 南越志謂之䖳 (Nam Việt Chí vị chi trá).
Khang Hy Tự Điển có ghi một âm khác của trá 䖳là 咤, mà chữ này người Việt quen đọc âm Hán-Việt là sá. Như vậy có thể “con sá” tức là “con sứa” của người Việt, quan hệ giữa vần -a và -ưa là khá rõ ràng vì nhiều vùng khu 4 cũ như Thanh Hóa vẫn gọi “lửa” là “lả”. Chắc chắn đây là từ gốc Nam Á của nhóm Bách Việt, vì có sách ghi là người Mân Việt cũng gọi con sứa là 䖳.
– Sách 臨海異物志》Lâm hải dị vật chí của Thẩm Oánh (沈莹) đời Tam Quốc viết: 比目魚,似左右分魚,南越謂之板魚(Tỉ mục ngư, tựa tả hữu phân ngư, Nam Việt vị chi bản ngư– Cá mắt sát nhau, giống như cá phân biệt hai nửa trái phải, người Nam Việt gọi là cá “bản”).
Cá bản chính là cá bơn hay thờn bơn trong tiếng Việt[7], đặc điểm của cá bơn là hai con mắt nằm cùng một phía thân, sát vào nhau, (chữ tỉ trong tên “Tỉ mục” nghĩa thông thường là so sánh, còn có nghĩa khác là cặp sát). Có 2 chữ Nôm ghi tên cá bơn mà đều dùng phần biểu âm là chữ ban (~), khá phù hợpvớiâm bản, sai khác về thanh không quan trọng vì theo Haudricourt [11] thì khoảng đầu công nguyên tiếng Việt còn chưa có thanh điệu, tiếng Hán có thể cũng chưa định hình rõ thanh điệu.
Cứ ngư 锯鱼(cá lưỡi cưa), theo Nam Việt Chí và Thái Bình Hoàn Vũ Ký thì Nam Việt gọi là 狼籍鱼– lang tịch ngư[8].
Chữ “lang”có lẽ ứng với “răng” trong tiếng Việt vì phục nguyên âm thượng cổ của chữ 狼theo Baxter là /c-raŋ/, theo Trịnh Trương Thượng Phương và Phan Ngộ Vân là /raaŋ/, còn chữ “tịch” có thể là “lược” trong tiếng Việt vì Baxterphục nguyên âm thượng cổ của tịch 籍là /zljᴀk/, Trịnh Trương Thượng Phương: /ljaag/, Phan Ngộ Vân: /sɢlag/.
Cá răng lược hay “cứ ngư”
* Ngoài các dẫn chứng trên, còn hàng loạt các từ Hán có nguồn gốc phương Nam nhưng đã Hán hóa cao và không chỉ có ở đất Nam Việt nên người viết không tính là dấu tích Nam Việt, chẳng hạn như phù lưu (plâu=trầu), cảm lãm (klãm=trám), da (dừa), tân lang (binh lang=cây cau), trứ/trợ (đũa), đại mội (đồi mồi) .v.v…
Sơ kết
Các chứng tích ngữ âm Nam Việt còn lưu trong sách Trung Quốc tìm được ở trên tuy chưa nhiều nhưng tạm có thể đặt vấn đề là tiếng nói của người Nam Việt cổ chính là tiếng nói của người Việt (Kinh).
Tuy địa bàn Lĩnh Nam còn có các nhóm Thái-Kadai, nhưng dân số chưa bằng 1/4 của người Kinh, nên ước chừng nếu tìm được nhiều chữ hơn trong từ thư Trung Quốc viết về đất Nam Việt để so sánh thì tỉ lệ số chữ có gốc Việt (Kinh) vẫn áp đảo.
A Handbook of Old Chinese PhonologyGS William Baxter (1992, New York, Berlin).
王力古漢語字典,Vương Lực “Cổ Hán ngữ tự điển”.
Etymological_Dictionaryof old Chinese. Axel Schuessler , 2007 University of Hawai’i Press.
Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt. Nguyễn Tài Cẩn, NXB Giáo Dục, Hà Nội. 1995
Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt. Nguyễn Tài Cẩn. NXB Đại học Quốc gia , Hà Nội. 2000.
Từ điển tiếng Cơ Tu- Việt, Việt -Cơ Tu, Nguyễn Hữu Hoành, Tạ Văn Thông, Nguyễn Văn Lợi, Sở KHCN Quảng Nam và Viện Ngôn ngữ học 2007.
Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật Thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh. Hoàng Thị Ngọ. NXB KHXH, Hà Nội, 1999.
Thử tìm hiểu từ nguyên một số cặp từ Việt Hán, PHAN ANH DŨNG, Bài viết tham gia hội thảo nhân một năm ngày mất GS Nguyễn Tài Cẩn, Hà Nội, 4-2012.
Tìm hiểu về lớp từ cổ Việt Hán qua các cứ liệu ngữ âm lịch sử, PHAN ANH DŨNG, Hội thảo quốc tế Ngôn ngữ học, Hà Nội 14-16/4/2013.
A.G. Haudricourt (1954). Về nguồn gốc các thanh của tiếng Việt. (Hoàng Tuệ dịch). In trong Những bài viết về lịch sử tiếng Việt – Trần Trí Dõi biên soạn, Hà Nội, 1997.
Nguyễn Trãi Quốc âm Từ điển. Trần Trọng Dương. NXB Từ điển Bách khoa. Hà Nội 2014.
[1] Đỗ Hữu 杜佑(735-812) từng làm Tiết độ sứ Lĩnh Nam, soạn sách Thông điển trong 36 năm từ 766 đến 801 sau đó làm Tể tướng nhà Đường gần 10 năm cho tới cuối đời. Đỗ Hữu là ông nội của nhà thơ Đỗ Mục. http://zh.wikipedia.org/wiki/%E6%9D%9C%E4%BD%91
[2] Đường Ngu tức là vua Nghiêu họ Đào Đường ( 2337 TCN–2258 TCN) và vua Thuấn họ Hữu Ngu. Tam Đại tức 3 đời Hạ (bắt đầu từ vua Vũ), Thương, Chu.
[3] Trịnh Huyền (郑玄127-200) là một học giả thời Đông Hán.
[4] Dẫn lại theo Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt của GS Nguyễn Tài Cẩn, trang 46.
[5] Hiện sách Nam Việt Chí đã thất truyền, nhưng nó được trích dẫn rất nhiều ở các sách khác, hiện đã có một công trình của các học giả Trung Quốc sao lục lại Nam Việt Chí từ các sách khácnhau, tập hợp lại được khoảng 49 trang A4 .
[6] Đạm Thủy Sảnh 淡水廳là một địa phương ở đảo Đài Loan.
[7] Cá bơn hiện nay là món ăn rất phổ thông ở Huế, thường dùng nấu canh với trái thơm (dứa).
[8] Xem thông tin ở trang http://baike.xzbu.com/995417.htm, 《寰宇记:“惠州出锯鱼,亦名狼籍鱼,身长二丈,口长三尺,广三寸,左右齿如铁锯,《南越志》作锯鱼。”Hoàn Vũ Ký: Huệ Châu xuất cứ ngư, diệc danh lang tịch ngư, thân trường nhị trượng, khẩu trường tam xích, quảng tam thốn, tả hữu xỉ như thiết cứ. Nam Việt Chí tác cứ ngư. Huệ Châu là ngoại ô phía đông bắc thành phố Quảng Châu, kinh đô xưa của nước Nam Việt của Triệu Đà.
Để bày tỏ Lòng Tri ân và Tưởng nhớ các chiến sĩ Hải quân Quân lực Việt Nam Công Hoà đã chiến đấu và hy sinh anh dũng trước quân xâm lược Trung quốc, để bảo vệ Hoàng Sa, hàng năm dù đã trên bốn mươi năm nơi quê hương thứ hai, các anh em đồng đội đã không quên tổ chức Lễ Tưởng Niệm, vinh danh những anh hùng đã khuất.
Trưa Chủ nhật 19/01/2020, vào hồi 11.30 ngày – đúng vào ngày nổ ra trận hải chiến Hoàng Sa trước đây bốn mươi sáu năm- tại Trung Tâm Cộng Đồng Việt Mỹ trên đường Lucretia Ave thành phố San Jose, Hội HQ Bạch Đằng bắc California đã phối hợp các hội đoàn cựu quân nhân địa phương, tổ chức Đại Lê Tưởng Niệm với sự tham dự của nhiều quan khách và đồng hương.
Sau đây là một vài hình ảnh chúng tôi ghi lại, xin được chia xẻ cùng Quí Vị cùng Các Bạn xa gần, góp lòng bày tỏ sự Tri ân các anh hùng đã hy sinh bảo vệ Tổ Quốc.
Đó là một câu khẳng định chắc như cây đinh đóng cái cột nhà. Gia phả là gì ? 家譜 gia phả hoặc gia phổ là phả hệ của một dòng họ, gia đình, là cuốn sách chép tên ông bà tổ tiên, con cháu của một dòng tộc nào đó.
Người Bắc Kỳ xưa rày ta nghe tới là thói “lũy tre làng”, có gia phả, có dòng tộc nghiêm ngặc, có trưởng tộc, có nhà thờ tổ, mả tổ, thủy tổ và những quy định ná thở với con cháu. Nhưng với dân Nam thì không có, hoặc có hời hợt, hình thức.
Dân Nam Kỳ có câu cười Bắc Kỳ là “Tổ tiên đại bác thụt chưa tới”. Chúng ta biết tổ tiên khai phá dựng lên Nam Kỳ Lục Tỉnh là dân khai hoang, kêu là lưu dân.
流民 lưu dân là dân phiêu lưu, dân đi xa, dân bỏ làng quê gốc mà ra đi. Đó là người Ngũ Quảng : Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (Huế), Quảng Nam, Quảng Ngãi hiệp cùng người Minh Hương, đồng hóa người Khmer, người bổn địa Stieng… mà trộn ra dân Nam Kỳ ngày nay.
Đó là dân nghèo rách nát, dân bị lưu đày, bị truy nã, bị làng ruồng bỏ, gái chửa hoang, học trò thất chí, quan bị biếm chức, người thích phiêu lưu, giang hồ lãng tử…
“Tới Cà Mau – Rạch Giá Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng Muỗi vắt nhiều hơn cỏ Chướng khí mù như sương Thân không là lính thú Sao chưa về cố hương?”(Sơn Nam)
Xa hơn dân Ngũ Quảng là những người ở mạn Bắc di cư theo chúa Nguyễn Hoàng vô Trung Kỳ mà Phạm Duy tả là ” Gió tiễn người về đến quê hương câu ca giọng Hời.”
“Mộng ngoài biên giới mơ hồ Chẳng ngăn được sóng vỡ bờ Với đêm mờ hồn về trên Tháp ma”
Rồi thời chúa Nguyễn, lưu dân Việt từ Ngũ Quảng theo bà Ngọc Vạn vô Mô Xoài, Đồng Nai : “Nhà Bè nước chảy chia hai Ai về Gia Định Đồng Nai thì về”
嘉定 Gia Định là nơi đô hội, trù phú nhứt Nam Kỳ, có nghĩa là định cư nơi an ổn, phước lớn.
Là những lưu dân tạo ra hợp chúng quốc Nam Kỳ, ông bà chúng ta tạo ra một nền văn hóa đặc trưng riêng của Nam Kỳ mà nhìn lại có phần khác ngoài Trung, đối lập với ngoài Bắc.
Thí dụ Bắc ăn bánh chưng cắt 8 miếng hình trụ nhọn,Nam Kỳ ăn bánh tét -tét ra khoanh tròn, Bắc Kỳ uống trà kêu uống chè, Nam Kỳ kêu trà.
Văn hóa Bắc là lũy tre làng bốn góc chôn chặc cái làng ở giữa, làng nào sống kiểu làng đó, cấm giao lưu trai gái, có hương ước ngặc nghèo, có thầy Lý hắc cám, có con Thị Màu lẳng lơ, có chị Dậu bế tắc, có những người con gái chửa hoang bị cạo đầu bôi vôi thả bè chuối trôi sông.
Nam Kỳ khác Bắc, phần nhiều Nam sống mở, làng của Nam dựa vô mé sông, giao lưu với làng khác bằng ghe xuồng, bằng những con lộ,người Nam luôn mời khách xa xôi vô ở chung, giúp đỡ nhau cùng an cư vui vẻ, gái làng thích lấy trai xa xứ và thương chồng đứt ruột đứt gan vì cái quá khứ “trôi sông lạc chợ” đó.
“Rồng chầu ngoài Huế ngựa tế Đồng Nai Nước sông trong chảy lộn sông ngoài Thương người quân tử lạc loài tới đây, Tới đây thì ở lại đây Bao giờ bén rễ xanh cây sẽ về”
Gái Nam Kỳ chịu chơi, dám theo người mình yêu, dám nhận hậu quả do tình yêu đó đem lại. “Đi đâu cho thiếp theo cùng Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam Ví dầu tình có dở dang Thì cho thiếp gọi đò ngang thiếp dzìa”
Ông bà tổ tiên Nam Kỳ mình quá hãi hùng ở đất Bắc hắc ám nên vô Nam bỏ tục gần hết. Họ không muốn con cháu họ phải sống cái cảnh mõ làng rùng rợn phiên xử “hương ước” ở đình làng như ngoài Bắc.
Làng xóm Nam Kỳ không có hương ước, lệ làng, làng Nam Kỳ là làng mở, nhưng có những luật bất thành văn, mọi người phải tôn trọng, làng Nam Kỳ tuân luật triều đình, tôn trọng quan chủ quận, tri huyện.
Thành ra gái Nam thất tiết thì bị gia đình xử bằng cách đuổi ra khỏi nhà, nhưng đuổi là thủ tục thôi vì lén nhét tiền của cho nó đi trốn khuất mắt một thời gian, hoặc đày nó xuống nhà sau cấm ló mặt lên nhà trước trong một hai năm, hoặc ra vườn sau cất nhà mà ở. Hết thời gian đó cô gái sống lại bình thường, con cháu máu mủ mình mà.
Nên ai làm phim làm cạo đầu bôi vôi, thả bè chuối trôi sông, thả rọ heo xuống sống, quăng người xuống giếng là không hiểu gì về văn hóa Nam Kỳ. Tổ tiên Nam Kỳ chúng tôi chưa bao giờ có ý nghĩ đó trong đầu với con cháu mình.
Người Nam Kỳ không lập gia phả, vì sao ? Đừng bao giờ nói người Nam Kỳ là lưu dân dốt không biết chữ mà không lập gia phả.
Các bạn nghiên cứu thấy rằng Nho giáo Bắc Kỳ là đầu môi chót lưỡi, tức thể hiện bằng cái miệng, Nho giáo Nam Kỳ thể hiện bằng cách sống.
Có ai đó nói “Người Bắc cao đạo một cách ngây ngô còn người Nam thì thực tế một cách trần trụi”. Cái chữ trần trụi hơi quá,nhưng những quy tắc bất thành văn ở Nam Kỳ nó vô hình dữ lắm nha, thí dụ dân Nam Kỳ mời bạn ăn cơm, mà bạn ăn hỗn trong mâm cơm quá, họ không nói, nhưng lần sau sẽ không mời. Người Nam Kỳ luôn để khách tự giác và không nhắc.
Trong làng Nam Kỳ vẫn có người biết chữ Nho, sau là chữ Quốc Ngữ, nên biết chữ Quốc Ngữ được dạy ở Nam Kỳ đầu tiên.
Nhìn đền chùa, miếu mạo Nam Kỳ xưa đi, hoành phi câu đối rất nhiều, đó là bằng chứng.
Không viết gia phả vì thấy không cần thiết. Một xã hội mở thì không cần gia phả. Xưa đất rộng người thưa, con cháu đi tứ tán, ở nhà toàn nhờ láng giếng gần đó, có câu “Bán họ hàng xa mua láng giềng gần”.
Là dân gốc lưu dân, dân Nam muốn xóa bỏ quá khứ hãi hùng từ Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Cách xưng hô “anh Cả” ở Bắc so với “anh Hai” ở Nam là điển hình. Rất nhiều người đặt câu hỏi tại sao người Nam gọi “anh Cả”, “chị Cả” (người con trưởng, theo cách gọi miền Bắc) là “anh Hai”, “chị Hai”.
Nhiều người giải thích rằng thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng dân ở Bắc vào khai phá vùng đất Phương Nam, rằng trong đoàn quân Nam tiến lúc đó, hầu như không có ai là “anh Cả”, vì đi mở cõi thì nguy hiểm, theo tục Bắc phải để người con trưởng ở lại để phụng dưỡng cha mẹ và chăm sóc mộ phần tổ tiên; những người ra đi đều là con thứ.
Nói vậy không trúng.
Có những gia đình họ ôm cả nhà cả dòng họ của họ vô Nam kìa. Chuyện anh hai ở Nam Kỳ là chuyện đặc trưng, không thể giải thích là ông cả cọp gì đó mà sợ nên Nam Kỳ tránh “Anh Cả”, vậy chứ ông Hương Cả thì sao ? Nam Kỳ có Hương Cả trong ban hội tề
Đơn giản người Nam cố tình làm cho khác Bắc Kỳ khi bỏ cả, chỉ gọi người lớn là anh hai, chị hai.
Bỏ chữ cả là một dạng dứt áo, cắt đứt với hương ước, lũy tre làng, với họ tộc kinh hoàng kiểu Bắc Kỳ.
Ông Hương Cả trong Nam đâu có quyền hành gì, chỉ tượng trưng, và là cả duy nhứt trong Nam, có lẽ là một chút hoài vọng.
Người Bắc thừa tự là con trưởng, nhưng thừa tự, cúng kiếng trong Nam là con trai út, Nam Kỳ rất thực tế, thằng út lúc nào cũng trẻ trung, nó sẽ gánh vác gia đình ở mức hăng hái, thằng hai thì già chát, nhỏ hơn cha mẹ không nhiều gánh gì nổi.
Câu “Giàu út ăn nghèo út chịu” cũng của Nam Kỳ đưa ra.
Thằng út giữ hương hỏa trong nhà, nhưng vẫn không hạ bệ thằng anh hai nha.
Bằng chứng là trong những ngày giỗ chạp, cúng kiếng tổ tiên, đám cưới thì ông anh hai vẫn đứng ra tế lễ, thằng út đứng sau lưng anh hai.
Trong họ tộc thì người thứ hai vẫn mang tiếng người đứng đầu, đám cưới thưa gửi là ông bác hai hết thảy, ông này chết thì ông bác ba lên thế.
Nhưng anh hai làm lễ thôi, anh hai không có quyền xen vô chuyện cúng kiếng của thằng út như cúng lớn, cúng nhỏ, cúng ra làm sao. Nam Kỳ chia quyền hết là ở đây.
Ngày nay Nam Kỳ thực tế luôn ở kiểu chia bàn thờ, anh hai giỗ cha, út giỗ mẹ, tới ngày tụ lại hai nhà vui vẻ.
Không gia phả, không họ tộc, không có khái niệm nhà thờ tổ, nhưng Nam Kỳ mặc định nhà thằng Út là nhà thờ tổ, tức là nhà nào mà cha mẹ, ông bà chết và thờ là nhà tổ.
Ông nào giữ hương hỏa có nghĩa vụ làm đám giỗ, không có quyền chỉ trỏ, ra lịnh này nọ nghĩa vụ với con cháu như tộc trưởng ngoài Bắc.
Con cháu trong Nam sướng là vậy, cứ về ăn đám giỗ, giàu mua đồ nhiều, nghèo mua đồ ít, không ai dám nói.
Với bản chất trọng người sống, kỉnh người chết ở mức tượng trưng, việc cúng kiếng Nam Kỳ cũng khác Bắc Kỳ. Thường giữa nhà người Nam đặt cái bàn thờ 九玄七祖 “Cửu Huyền Thất Tổ” tức “7 đời tổ tiên trên chín tầng trời”. Nhưng thực ra người miền Nam cúng giỗ chỉ 3 đời tới ông cố bà cố thôi, hết 3 hoặc 4 đời là không cúng kiếng gì nữa.
Có câu五代埋神主”Ngũ đại mai thần chủ” (Đến 5 đời thì chôn thần chủ), tức đem bài vị chôn hoặc đốt, nhập lại làm một gọi là “Cửu huyền thất tổ’ và giỗ chung tượng trưng. “Nước chảy ra thương cha nhớ mẹ Nước chảy vào thương mẹ nhớ cha”
Cái đình Nam Kỳ rất chan hòa, vui vẻ, là nơi dân làng tụ hợp lại cúng thành hoàng rồi ăn uống vui chơi, coi hát bội, nó như một cái sân khấu. Gánh hát về đình là niềm vui bất tận của người Nam Kỳ. Nam Kỳ không có thằng mõ tay chưn của lý trưởng ,không có cảnh phạt vạ kiểu Thị Màu.
Trong cái làng Nam Kỳ có nhà việc là chỗ làm việc của làng, tra án ở đó, không mang vô đình như Bắc Kỳ. Coi ‘Con nhà nghèo’, bà Cai Hiếu đòi đóng gông Ba Cam thì Hương Quản đáp lại “Tôi đang tra án nó, mà thủa nay làng tôi có gông đâu mà đóng”.
Là gốc lưu dân, không viết gia phả, không lập họ tộc, không lập lũy tre làng, không có ông lý trưởng hét ra lửa
Để ý coi đi trong đám giỗ Nam Kỳ luôn cúng một mâm ngoài sân nhà, đó là mâm cúng lề, cúng những người khai hoang bỏ mình hồi xưa, sau 1975 CS kêu “mâm chiến sĩ”.
Tất cả các miếu, am, và bàn thông thiên Nam Kỳ đều có cúng mấy hủ muối, gạo và nước, có nơi cúng bó củi. Đó là cúng tổ tiên gốc lưu dân của mình hồi xưa.
Người Nam Kỳ cúng lề, cúng đất, cúng cô hồn. Cúng tổ tiên Nam Kỳ chung là ngày 25 tháng Chạp, khi con cháu tụ về dẫy mả, tảo mộ, họ sẽ làm mâm cơm cúng ở nhà, thường là nấu cháo gà cháo vịt.
Tục thờ ông bà ở Nam Kỳ rất đơn giản, chỉ ba bốn đời, nhưng không được bỏ bàn thờ tổ tiên. Đồ Chiểu chửi rằng “Sống làm chi theo quân tả đạo-Quăng vùa hương đạp bàn độc thấy lại thêm buồn”.
Xưa Nam Kỳ có cái bàn thờ và giường thờ. Người Pháp qua, đem qua Nam Kỳ cái tủ chén đứng kiểu thời Louis XVI, không cao không thấp, trước tiên là ở xứ Thủ Dầu Một, sau thợ Gò Công sáng tạo đóng cái tủ thờ dựa trên nguyên lý ráp mộng đi khung của tủ kiểu Pháp, nhưng cải tiến theo phong tục Nam.
Từ đó cái tủ thờ này là đặc trưng Nam Kỳ Lục Tỉnh, hiệp cùng tranh kiếng nữa, ra cái hồn tổ tiên Nam kỳ mình.
Trong “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức có đoạn : “Vùng Gia Định… đất đai rộng, lương thực nhiều, không lo đói rét, nên dân ưa sống xa hoa, ít chịu súc tích, quen thói bốc rời. Người tứ xứ. Nhà nào tục nấy… Gia Định có vị trí nam phương dương minh, nên người khí tiết trung dũng, trong nghĩa khinh tài…”
Đó là tánh hiếu khách, hào phóng, không câu nệ hình thức, sống thực dụng.
Dân Nam Kỳ hay đờn ca xướng hát, làm ra đờn ca tài tử và cải lương vang danh, hệ thống bài lý nhiều nhứt Việt Nam.
Người Nam Kỳ trọng tôn giáo, nhưng kiểu của họ. Đạo Phật vô Nam biến thể, phải trộn với tín ngưỡng dân gian. Dân Nam Kỳ không phải là những tín đồ Phật giáo thuần thành. Các phái Phật trong Nam đều là biến thể, chùa trong Nam không lớn. Công giáo trong Nam Kỳ xưa khác ngoài Bắc, Nam không có các giáo xứ, người Công giáo Nam Kỳ hòa nhập, thế tục. Người Công giáo Nam Kỳ luôn ít hơn Công giáo Bắc Kỳ
Sông rạch và đồng bằng tạo cho dân Nam Kỳ tánh khẳng khái, bộc trực, ít chịu cúi lòn, kém thủ đoạn trong chánh trị, nhưng tràn trề tình thương,biết nhìn người khác, biết cúi mình xuống tha thiết với Quốc Gia. Dân Nam Kỳ không những nói ngay mà hay nói lớn tiếng, thiếu trau chuốt, đôi lúc bổ bả.
Không lập gia phả, nhưng con cháu sống làm sao phải ra dáng con người, sống không làm tủi nhục tổ tiên, sống thẳng, sống có ích, sống không để tiếng nhơ cho tổ tiên, dòng họ.
Người Nam Kỳ dạy con cháu cũng theo kiểu mở. Biên cái tục này là để răn mình. Biết cái hay cái tệ của mình để nhìn lại bản thân mình. Và tính cho ra cách thức tồn tại của xứ sở mình trước thời cuộc.
—nguồn Nguyễn Gia Việt
HUẾ XƯA KHÓC MỘT MÙA XUÂN
HUẾ XƯA KHÓC MỘT MÙA XUÂN
Đáng lẽ con đường cái chạy từ đầu đến cuối xóm tên là Hồ Xuân Hương, nhưng ngưòi ta vẫn quen gọi là đường Chùa Bà, chắc tại đầu xóm có cái chùa. Lúc thằng Cọp bắt đầu lớn lên, tung tăng khắp xóm và đọc được dòng chữ “Khuôn An Lạc”, nó đã thắc mắc tại sao không gọi là đường Khuôn An Lạc? Với lại Khuôn An Lạc có cả đức phật Thích Ca chứ nào phải chỉ thờ Phật Bà Quan Âm mà gọi là Chùa Bà? Tuy nhiên nó cũng không buồn tìm hiểu thêm làm gì. Chỉ biết đây là đường Chùa Bà, và xóm nó ở cũng được gọi là xóm Chùa Bà.
Đáng lẽ con đường cái chạy từ đầu đến cuối xóm tên là Hồ Xuân Hương, nhưng ngưòi ta vẫn quen gọi là đường Chùa Bà, chắc tại đầu xóm có cái chùa. Lúc thằng Cọp bắt đầu lớn lên, tung tăng khắp xóm và đọc được dòng chữ “Khuôn An Lạc”, nó đã thắc mắc tại sao không gọi là đường Khuôn An Lạc? Với lại Khuôn An Lạc có cả đức phật Thích Ca chứ nào phải chỉ thờ Phật Bà Quan Âm mà gọi là Chùa Bà? Tuy nhiên nó cũng không buồn tìm hiểu thêm làm gì. Chỉ biết đây là đường Chùa Bà, và xóm nó ở cũng được gọi là xóm Chùa Bà. Xóm Chùa Bà có khoảng chừng trên năm mươi nóc gia rải rác theo con đường chính. Nhà Cọp ở gần giữa. Đúng ra thì đây là nhà ông nội Cọp. Nhà thiệt của ba mạ Cọp ở thành phố, gần chợ Đông Ba. Mạ Cọp bán vải ở chợ. Cọp ở với ông nội vì trường học gần nhà đi bộ cho tiện. Mỗi chiều thứ Bảy sau khi tan chợ, mạ Cọp đi xích lô về xóm Chùa Bà đón Cọp về nhà. Cọp cũng thương mạ và hai chị của nó lắm, nhưng mỗi cuối tuần phải về ở với gia đình, cực chẳng đã nó phải đi. Ai nói ở thành phố vui chứ với Cọp thật buồn lắm. Ở đó Cọp chỉ lủi thủi một mình. Ba Cọp đi lính ở xa lâu lâu mới về. Mạ Cọp buôn bán ở chợ từ sáng đến tối mịt. Hai chị thì hơn Cọp đến bảy tám tuổi, dù thương cũng không biết nói hay chơi gì với Cọp, cùng lắm là dắt Cọp ra phố ăn kem. Cho nên đến mỗi chiều Chủ Nhật, mặt trời chưa lặn là Cọp đã bồn chồn mong được “về nhà”.
Về nhà, tức là về xóm Chùa Bà, giang sơn của Cọp. Có những lần mạ Cọp muốn giữ nó ở lại qua đêm Chủ Nhật, sáng thứ Hai sẽ đưa nó tới trường luôn. Cọp ngồi khóc tỉ tê. Mạ hỏi – Con không thương mạ à? – Dạ có – Rứa răng con cứ đòi về nhà? – Con không biết. Hình như Cọp biết mang máng, nhưng không làm sao diễn tả hết nỗi niềm. Ở xóm Chùa Bà, Cọp được tất cả mọi người thương mến. Dĩ nhiên Cọp phải ngoan, nhưng còn một lý do nữa: nó là cháu nội của vị Đông y sĩ nhân đức và rất mát tay chữa bệnh mà cả xóm cũng như những vùng lân cận đều trọng nể. Trước kia khi ông nội Cọp còn hành nghề, ông thường cứu giúp kẻ nghèo khó. Bây giờ đã già, ông về dưỡng lão tại đây.Tiếng là hồi hưu, nhưng ông vẫn thình thoảng trở lại nghề cũ để cứu giúp những bệnh nhân chung quanh hay một số thân chủ cũ tìm đến.
Một trong những thân chủ quen thuộc vẫn nhờ ông nội Cọp bổ thuốc Tể hàng tháng là bà Tham. Bà Tham ở căn nhà lớn nhất cuối xóm. Không ai biết tên thật của bà là gì, chỉ quen gọi là bà Tham theo chức quan của ông cụ thời sinh tiền. Cụ Tham làm quan trong những năm cuối cùng của triều Nguyễn, nổi tiếng là ông quan nghiêm khắc và chính trực. Đó là lý do mà cả xóm cho đến nay vẫn còn kính trọng và nể vì. Nhà bà to và đẹp lắm. Vào cổng sau khi qua hai cột trụ cao và cổ kính, bên dưới có hai con sư tử bằng đá nhe răng múa vuốt, là con đường nhỏ trải đầy sỏi trắng, hai bên là hàng rào đầy các loại hoa. Cuối con đường đến khoảng sân trước nhà có những cái chậu bằng đá thật nặng đầy rêu phủ trồng sen. Hai bên hông và phía sau là khoảng vườn rộng mênh mông đầy các loại kiểng cũng như cây ăn trái. Đặc biệt có hai cây cau cao vút lên trời.
Tuy nhà bà Tham lớn như vậy nhưng không có mấy người. Bà ở với đưá cháu ngoại trạc tuổi Cọp, một ông quản gia trung thành từng theo hầu cụ ông ngày trước, và một chị người làm lo việc bếp núc, các việc lặt vặt khác. Bà vốn hiếm muộn, chỉ có một người con gái thì lại theo chồng vào nam. Dù con bà đã nhiều lần muốn bà dọn vào Nam ở, nhưng bà đã cương quyết ở lại xóm Chùa Bà để giũ gìn hương hỏa bên chồng. Được cái tuy chỉ một con gái, nhưng bà lại có rất nhiều cháu ngoại. Trà là đưá con út mà con gái bà để lại Huế cho bà cháu hôm sớm có nhau, tuổi già bớt quạnh quẻ.
Bà Tham không làm gì cả. Của cải do cụ ông để lại cùng lợi nhuận từ vườn cây sau nhà đủ cho bà sống thoải mái. Đó là chưa kể con gái bà vốn rất khá giả và vẫn thường chu cấp thêm thường xuyên cho mẹ. Công việc duy nhất để bà đi ra khỏi nhà hằng ngày là cùng ngồi xích lô đưa cháu đi học mỗi trưa, chiều lại đón về.Còn ngoài ra bà chỉ ở nhà tụng kinh niệm phật. Mọi việc giao dịch khác đã có người quản gia chu tất.
Tuy bà sống thanh đạm và giản dị như vậy, nhưng danh tiếng của một mệnh phụ phu nhân vẫn không hề suy suyển. Cả xóm Chùa Bà đều kính nể và coi bà như thuộc về một tầng lớp khác. Đến cả ông nội Cọp cũng không ngoài lệ đó, dù bà là bệnh nhân vẫn nhờ ông hốt thuốc hàng tháng. Cọp gặp bà Tham mấy lần trong nhà khi bà đến cho ông nó bắt mạch. Những lần đó Cọp chỉ dám đứng xa xa quan sát và thắc mắc không hiều bà đáng sợ ở chỗ nào. Bọn con nít trong xóm như Cọp leo trèo phá phách ở đâu cũng phải chừa lại vườn nhà bà Tham. Đến như lũ chim kia hình như cũng biết đó là nơi an toàn nên đã từng đàn tụ về. Cọp và các bạn chỉ biết đứng ngoài thèm thuồng nhìn những trái chín mọng trong vườn và lũ chim líu lo rộn rả bên trong.
Cơ hội đã đến với Cọp vào một buổi trưa oi ả khi Cọp đang đội nắng đến trường. Chiếc xích lô chở bà Tham đưa cháu ngoại đi học rà đến bên cạnh. Từ trên xe bà hỏi vọng xuống: – Này con. Con là cháu ông Khánh phải không? – Dạ. Cọp rụt rè trả lời. -Tội nghiệp! Trời nắng như ri mà đi bộ bịnh chết. Con lên đây đi với bà luôn thể. Câu nói của bà Tham làm Cọp ngẩn người không biết trả lời ra sao. Ngồi xe xích lô tới trường giữa trời nắng gắt như vầy còn gì sướng bằng. Khỏi mỏi chân và đỡ khát nước. Nhưng Cọp vẫn ngần ngừ. Bà Tham đối với nó vẫn là một người đáng nể sợ. Hơn nữa lại có con Trà trên xe. Cọp biết con Trà từ lâu. Nó học bằng lớp Cọp, nhưng ở dãy con gái. Cả trường Cọp có khoảng bốn hay năm đứa thuộc loại “quý tộc” như con Trà. Chúng nó thuờng chơi chung với nhau. Thực ra thì tụi con Trà cũng đâu có kiêu kỳ làm cao làm dáng gì đâu. Tụi nó khi nào cũng muốn gia nhập cuộc chơi với chúng bạn khác. Nhưng mà chỉ nội cái tiếng tăm của gia đình và lối đi học bằng xe đưa rước mỗi ngày cũng đủ làm cho lũ học trò bình dân như Cọp cảm thấy thua kém và cách biệt.
Thấy Cọp cứ đứng ngẩn tò te, bà Tham bước xuống nắm tay nó kéo lên xe. Bà bảo con Trà sang ngồi trong lòng bà và nhường chỗ cho Cọp. Xe đã chuyển bánh mà Cọp cứ suy nghĩ. Con Trà lơ đãng nhìn Cọp. Nó không biểu lộ vể phản đối hay đồng ý nào cả. Hôm nay Trà đi học mặc áo đầm hồng mới tinh, tóc thắt nơ đỏ, đi giày Tây đàng hoàng. Con nhỏ đúng là một tiểu thơ tý hon. Bỗng nhiên Cọp thấy mắc cở quá. Chưa bao giờ Cọp thấy mình dơ dáy hơn lúc này. Bên cạnh con Trà sạch sẽ trắng trẻo, nó bỗng trở nên đen như cột nhà cháy.Tệ nhất là trên đầu nó mấy bữa nay mọc cục Sài. Ông nội Cọp phải cạo khoảng tóc chung quanh để dán miếng thuốc dán hiệu con Rắn vàoCọp ngồi yên lặng suốt quảng đường. Bà Tham có hỏi nó chỉ thưa dạ cho qua, tuyệt nhiên không nói gì với con Trà. Khi xe đến trường, bà Tham mua hai cây cà rem cho hai đứa. Cọp cầm cà rem chạy ù vào đám bạn đang bắn bi trước cổng trường, quên cả cám ơn.
Hôm sau bà Tham cho xe đến đón Cọp tận nhà. Bà ngồi ngoài, để con Trà vào kêu Cọp đi học làm ông nội ngạc nhiên. Cọp thì dị quá trốn trong bếp khiến ông nội phải kéo nó ra tận nơi. Cực chẳng đã Cọp đành leo lên. Kể từ hôm đó, Cọp chính thức đi học bằng xe xích lô với con Trà. Mấy hôm đầu nó còn ngượng ngùng, dần dần Cọp quen đi. Bà Tham đâu có gì…ghê gớm như nó vẫn tưởng.
Mỗi lần hỏi chuyện Cọp, bà kêu con thật ngọt ngào và hiền hậu. Giọng bà lơ lớ âm hưởng tiếng nam, vì bà vốn sinh ra trong đó. Cọp có nghe nói đến Sài Gòn, hòn ngọc viễn đông mà nó từng học trong một bài tập đọc. Đối với Cọp, miền nam là Sàigòn, Sàigòn là miền nam. Bà Tham phong độ quý phái có lẽ vì bà từ Hòn Ngọc Viễn Đông ra đây( ?). Mỗi chiều tan học, xe bà Tham đậu chờ sẵn ở cổng trường. Thông thường con Trà thuộc dãy con gái ra trước, Cọp ra sau. Mỗi khi Cọp leo lên xe, bà Tham thường hỏi – Bữa ni Cọp được mấy điểm? – Con được 10 điểm. Nó hí hửng khoe. Bà Tham xoa đầu khen – Cọp giỏi quá. Ráng học bà thương nghen con. Do đó, khi sự nể sợ bà Tham đã dần thay thế bằng lòng kính mến, thân mật thì mối cách biệt tiểu thư- dân dã giữa Cọp và Trà cũng không còn nữa. Ngồi trên xe, hai đứa thường khoe điểm và cãi nhau tíu tít trước sự thích thú của bà Tham. Thỉnh thoảng bà phải làm trọng tài để phân giải nữa. Trà và Cọp trở nên thân nhau tự lúc nào. Cọp hoàn toàn thay đổi quan niệm về bọn “quý tộc” trong trường. Bấy lâu, tụi Cọp chỉ mặc cảm và tạo sự cách biệt, chứ bọn con Trà có bao giờ làm cao như bọn Cọp vẫn nghĩ. Ngược lại, Cọp còn thấy tội nghiệp dùm con Trà. Hai đứa bằng tuổi nhau, ở chung xóm, mà trong khi Cọp tung tăng làng trên xóm dưới tham dự đủ mọi trò vui, thì con Trà vẫn ở trong nhà, kín cổng một mình với bà ngoại.
*** Xóm Chùa Bà ở ngoại thành. Từ trung tâm thương mại chính là chợ Đông Ba, qua khỏi cầu Gia Hội, theo con đường Chi Lăng khoảng 2,3 cây số theo hướng về phía chợ Dinh là đến. Cho nên đây chỉ là vùng ngoại ô chứ chưa quá xa xuống các vùng quê. Dân trong xóm không ai gọi là quá nghèo. Mỗi nhà đều có vườn cây ăn trái phụ vào việc buôn bán, nên cuộc sống tương đối ấm no, và hầu như cả xóm đều quen biết nhau. Từ lúc có óc nhận xét, Cọp cảm thấy xóm Chùa Bà là quê hương bất khả chia lià của nó. Những ngày Chủ Nhật cuối tuần phải về với mạ và chị, nó coi như một bổn phận. Một ngày ở thành phố là một ngày buồn bã. Cọp chỉ lủi thủi giữa bốn bức tường chật hẹp. Cho nên khi mạ hỏi có thương mạ không, Cọp bảo rằng thuơng mà không thể giải thích tại sao cứ đòi về xóm Chùa Bà.
Cọp còn quá nhỏ để diễn tả nỗi lòng của mình. Nó muốn nói rằng ở xóm Chùa Bà, dọc theo con đường Hồ Xuân Hương là hai dãy cỏ xanh mướt. Mỗi chiều có những con trâu hững hờ gặm cỏ. Có những đứa mục đồng là bạn chung trường với Cọp ngồi trên lưng trâu thơ thẩn nghêu ngao. Cọp thường lên lưng trâu với bạn đi sâu vào làng, vào tận các rẩy mương, được gặm mía, ăn khoai nướng, cơm vắt…
Có những buổi sáng mùa Đông, Cọp dậy thật sớm uống trà cùng ông nội. Giữa cái lạnh sớm mai và tiếng mưa rơi tí tách bên ngoài, hai ông cháu bên chiếc bàn nho đối ẩm. Cọp bắt chước ông bưng tách trà lên miệng, thổi nhè nhẹ và nhấp một ngụm nhỏ rồi thở “phaaà” một cái. Vừa uống trà , ông vừa ư ử ngâm thơ. Cọp chưa thương ai hơn thương ông nội. Nó mong sau này lớn lên sẽ nối nghiệp ông để cứu nhân độ thế.
Từ ngày đi học chung với con Trà, Cọp là đưá đầu tiên trong xóm được xâm nhập vùng “ cấm địa”, tức vườn nhà bà Tham..
Đối với Cọp, vườn nhà bà Tham là vườn Địa Đàng. Khu vườn thật rộng, ít nhất cũng gấp ba, bốn lần vuờn nhà nó, đầy những ổi, đào chín nặng trĩu cành. Lũ chim trong vườn cũng rất dạn dĩ. Chúng đã quen với sự an toàn ở đây nên không có vẻ gì e sợ sự hiện diện của Cọp. Cọp thích nhất là được leo lên một cành ổi lớn, ngồi cheo leo trên cành thưởng thức vị thơm ngọt của trái Xá Lị mới hái, vừa nhìn lũ Chào Mào, Se Sẽ ca hát, rỉa lông cho nhau, thỉnh thoảng hái một trái chín quăng xuống cho con Trà phía dưới. Có hôm thằng Cọp rủ con Trà lén trốn ra đuờng đón mấy đứa mục đồng bạn của nó cho con Trà cởi trâu ra rẫy chơi. Lần đầu tiên cô tiểu thư đài các được …đi chăn trâu khoái quá, bất kể bộ quần áo thơm tho bị vấn mùi trâu khi về phải vội vàng đi tắm. Thằng Cọp còn bắt Chuồn Chuồn cho cắn vào rốn con Trà rồi dắt nó ra ao sau vườn tập bơi. Quả nhiên mấy ngày sau con Trà cũng bơi ra phết.
Nhưng không phải chỉ mình Cọp biết bày trò đâu nha. Trà cũng có những mục riêng mà Cọp chưa hề biết đến. Trà có một bộ đồ chơi thật đẹp dạy trẻ em xếp nhà mà anh nó đang du học ở Pháp gởi về. Bộ đồ chơi gồm những miếng nhựa hình khối chữ nhật màu vàng ngà tương tự như quân cờ Mạc Chược của ông nội Cọp. Trên mỗi miếng đều có vẻ hình một cái cửa lớn hoặc cửa sổ. Chúng nó cứ lấy ra sắp thành những toà lâu đài theo ý thích và sự tưởng tượng riêng của mình. Con Trà cũng có một bộ đồ chơi nấu ăn đẹp nhứt xóm. Cọp chẳng thích gì ba trò nấu ăn của con gái. Nhưng đưọc cái là con Trà … nấu thiệt. Nghĩa là muốn nấu chè, con Trà vô bếp lấy đậu và đường đốt lửa nấu đàng hoàng chứ không phải lấy lá cây giả bộ như mấy đứa con gái khác. Cọp chiều ý con Trà, đợi nó nấu xong, dù sống hay chín, Cọp đều thanh toán hết. Con Trà chỉ nhấm nháp chút đỉnh và hả hê nhìn Cọp thưởng thức sản phẩm của mình.
Một lần hai đứa được bà Tham dắt đi coi tuồng Phạm Công Cúc Hoa do một gánh cải lương từ Sài Gòn ra trình diễn. Khi về, con Trà khóc suớt mướt. Hôm sau không biết đưá nào rủ trước, cùng nhau diễn lại đoạn hai đứa trẻ mồ côi được mẹ Cúc Hoa hiện hồn về bắt chí. Cọp đóng vai Tấn Lực, con Trà làm Nghi Xuân. Sẵn có tượng Phật Bà Quan Âm khá lớn trong nhà cũng mặc đồ trắng giống Cúc Hoa, nên cả Nghi Xuân và Tấn Lực tân thời thi nhau tới trước tượng gào thét “Mẹ ơi, mẹ ơi…” một cách say sưa và thê thảm, nhập vai đến độ nước mắt nước mũi ngồm ngoàm đầy mặt, và bà Tham đứng sau lưng hồi nào không biết.
Bà không la còn vỗ tay khen: – Ui chao ơi. Hai đứa mi hát cũng hay quá. Nghi Xuân đỏ mặt ôm bà phụng phịu, còn Tấn Lực thì dị quá vừa chùi mũi vừa cắm đầu chạy một mạch về nhà. *** Cọp về thành phố đón tết đã được mấy ngày. Mạ Cọp nghỉ chợ từ hôm 27. Ba Cọp cũng về nhà. Không khí vui vẻ và đầy đủ của gia đình làm Cọp tạm quên xóm Chùa Bà, tạm quên con Trà. Nó đã đếm từng ngày mong chóng đến mùng một để được mặc đồ mới theo ba mạ về chúc tết ông bà nội, và đi mừng tuổi bà Tham. Tết. Cọp nằm thấp thỏm mong trời mau sáng. Càng về khuya, pháo còn nổ lớn ròn rã. Trước còn không phân biệt, nhưng dần dần đã nhận ra tiếng súng. Mạ Cọp hỏi ba – Chắc cháy kho đạn? Ba Cọp lắng nghe và lắc đầu – Không phải kho đạn. Lạ thiệt, hưu chiến ăn tết mà! – Mô Phật. Tết nhứt mà đánh nhau chi kỳ rứa không biết.
Súng nổ dữ dội càng lúc càng gần vào thành phố. Ba Cọp mở radio nghe tin tức, nhưng những bản nhạc Xuân mới mấy tiếng đồng hồ trước còn inh ỏi, nay thay thế bằng tiến u u vô nghĩa. Súng nổ lúc càng gần hơn đầy đe dọa. Xen lẫn những tiếng tạch – tạch – đùng là một tiếng ẦM thật lớn làm rung chuyển cả nhà cửa, bụi bay tứ phía văng cả vào mắt Cọp. Đến gần sáng, radio bỗng nhiên hoạt động. Ba Cọp thất thần khi nghe “Đây, tiếng nói của mặt trận giải phóng miền nam…” Hai chị của Cọp cũng biết và thì thầm với nhau: – Chết cha! Việt Cộng mi ơi. Trời sáng. Cả thành phố im lìm. Tiếng súng đã lặn dần chỉ còn lại lẻ tẻ đâu đó như đang răn đe hơn là hiến đấu. Nhà nhà đều đóng cửa kín mít. Bóng tối bao trùm…
Một buổi sáng, Cọp thức dậy vì tiếng ồn ào ngoài đường. Hình như có một nhóm người đi từng nhà đập cửa kêu gọi gì đó. Cứ khoảng mười phút thì tiếng đập cửa lại vang lên, từng nhà, từng nhà mỗi lúc mỗi gần hơn. Ba mạ Cọp nhìn nhau lo ngại. Hai chị của nó thì sợ quá trùm mền kín mít không dám nghe. Cuối cùng rồi chuyện gì đến cũng sẽ đến. Tiếng đập cửa vang lên ngay nhà Cọp. Họ kêu lớn “ 73 Chi Lăng, mở cửa!”. Đúng là số nhà nó. Ba Cọp đành đứng dậy đi ra.
Sau hơn một tuần đóng kín, cửa nhà Cọp phải mở để đón người lạ vào. Cọp lén nhìn ra thấy sáu bảy người đàn ông sầm sập đi vào. Việt Cộng đó sao? Cọp suýt kêu thành tiếng khi thấy người đàn ông đứng ở cửa. Thầy Tường ! Thầy dạy lớp nhất ở trường nó. Cọp tưởng mình trông lầm, nhưng rõ ràng là thầy Tường nổi tiếng hiền nhứt trường. Khác một điều là lúc này thầy lạnh lùng, ôm khẩu súng, tay áo có mang miếng băng đỏ. Cọp líu cả lưỡi, tay chân run rẩy. Thầy Tường là Việt Cộng? Nếu không tận mắt nhìn thấy, không đời nào Cọp tin nổi.
Ba nói chuyện một hồi, đi vô bảo mạ: – Anh đi với họ. – Đi mô? Mạ Cọp thất thanh. Một người có vẻ là trưởng nhóm tiến lại: – Chúng tôi mời ông đi nghe chủ trương chính sách của chính phủ cách mạng. Tối ông về thôi. Ba Cọp nhìn mạ ra dấu có muốn từ chối cũng không được. Ông yên lặng xoa đầu Cọp và bước ra khỏi nhà cùng mấy người đàn ông nọ Đến tối quả nhiên ông về thiệt. Mạ Cọp mừng đến mếu máo: – Anh đi mô? Ba lắc đầu không nói. Mạ hỏi tiếp – Họ nói chi rứa? Ba chỉ xua tay và nặng nề ngồi xuống. Hình như ông vừa trải qua một sự kiện gì ghê gớm lắm nhưng không muốn cho mạ nó biết.
Liên tiếp mấy tuần nữa, Huế vẫn đắm chìm trong bóng đêm. Chợ Đông Ba bốc cháy cũng không ai cứu chữa, cho tới khi một cơn mưa đổ xuống dập tắt, để lại những cột khói u ám cả bầu trời. Mạ Cọp ngẩn ngơ nhìn sản nghiệp tiêu tan theo làn khói. Lần đầu tiên Cọp thấy mạ khóc và cảm thấy thương mạ hơn bao giờ hết. Cọp biết hàng vải của mạ là do bà ngoại để lại. Từ bấy lâu nay mạ Cọp một tay nuôi nấng đàn con cũng nhờ nó. Nay coi như đã hết. Chưa bao giờ Cọp thấy buồn bả và chán nản hơn lúc này. Tết chi mà kỳ cục. Suốt ngày chỉ ru rú trong nhà tăm tối.
Thình thoảng Cọp ngồi tư lự. Nó nhớ xóm Chùa Bà quá. Nó ngồi tưởng tượng hai dãy cỏ xanh mướt dọc theo con đường Chùa Bà và những thằng bạn chăn trâu nghèo khổ của nó. Súng bắn dữ như hôm rồi, không biết tụi nó có được bình yên? Còn những con trâu lừ đừ và châm chạp. Tụi nó có biết tìm chỗ tránh đạn? Cọp cũng nhớ con Trà và bà Tham. Bỗng nhiên Cọp khám phá ra một điều: ngoại trừ ông nội, con Trà là người nó thương và nhớ nhiều nhứt. Cọp không hiểu tại sao, nhưng hể nhắm mắt lại là nó thấy ông nội, con Trà, và bà Tham. Nhớ thì nhớ, thương thì thương, Cọp cũng phải bó gối trong nhà và thả hồn lơ lững về xóm Chùa Bà.
***
Súng lại nổ vang. Lần này súng nổ ròn rả hơn, quyết liệt hơn. Cọp ôm
đầu than: “Trời ơi,,Việt Cộng mô mà cứ tới hoài rứa !” Nó lại thấy mạ
lâm râm niệm Phật, nhưng không để ý nét vui mừng ẩn hiện trên đôi mắt
thâm quầng của ba. Súng nổ thật dữ dội đầu hôm và im dần khi trời
vừa sáng. Cọp giật mình thức dậy và thấy ánh nắng chói chan rọi vào nhà.
Lạ quá, tại sao nhà nó lại mở cửa? Ba mạ và chị nó đâu? Nó lại nghe
tìếng cười nói huyên thuyên bên ngoài nên vùng chạy ra. Lính. Lính mình. Nhiều lính lắm, đang rầm rập đi đầy đường. Cọp chạy lại nắm tay ba. Ông nói – Mình tái chiếm rồi con. Tái chiếm? Nghĩa là không còn Việt Cộng nữa. Nghĩa là nó sắp được về lại xóm Chùa Bà tiếp tục những ngày vui ! Cọp bỗng cười toe toét, ngẩng đầu hỏi lại; -Mình tái chiếm rồi hả ba?
***
Chỉ vài tháng sau ngày tái chiếm, Cọp khăn gói theo gia đình vào
SàiGòn. Ba Cọp quyết định đưa vợ con về nơi an toàn. Cọp cũng không lưu
luyến xóm Chùa Bà nữa. Ông nội nó đã mất vì bệnh tim tái phát sau nhiều
ngày đêm chịu đựng tiếng dội của bom đạn. Một lý do nữa là ba Cọp đã trở
về từ địa ngục. Sau này kể lại, ông cho hay hôm mấy tên Việt Cộng trong
đó có thầy Tường dẫn đi, ông bị còng tay ra nơi tập trung có những cái
hố đào sẵn. Phước đức từ ông nội nên có một tên việt cộng là bạn học cũ
của ba. Nhà hắn từng chịu ơn ông nội Cọp cứu giúp năm xưa nhận ra, lén
cởi trói cho ba Cọp trốn về. Ba là người duy nhứt thoát được. Số người
bị bắt chung hôm đó tất cả đã bị vùi sâu chôn sống hết dưới những hố hầm
định mệnh. … Đưa đám ông nội Cọp, con Trà đi cùng bà Tham …trên chiếc nạng gỗ. Một mảnh đại bác oan khiên cắt ngang chân trái của Trà.
Tự do đã trở lại, nhưng hậu quả khốc liệt của một tháng trời bị tạm
chiếm vĩnh viễn không thể phai mờ. Ban đêm Cọp phải qua ngủ với mạ để
tìm cảm giác an toàn mỗi khi thức giấc nghe tiếng chó tru xa xa vọng
lại. Mùa Xuân năm ấy, Huế nhuộm một màu tang ! Khi Cọp trở lại
xóm Chùa Bà lần cuối để chào từ giã bà Tham và con Trà trước ngày lên
đường, bà Tham mếu máo ôm Cọp trong lòng như không nỡ rời. Con Trà cũng
đứng đó, không khóc, không nói, chỉ ngẩn ngơ nhìn Cọp nửa bùi ngùi, nửa
xa vắng.
*** Thư một người chị của Cọp từ quê nhà gởi sang có đoạn “Em còn nhớ Trà, cô bạn nhỏ năm xưa của em ở Huế không? Chị mới gặp lại. Không ngờ cô ta vẫn còn nhớ đến em và gởi lời hỏi thăm…” Chữ “Trà” trong thư của chị gợi lại Cọp bao kỷ niệm thời thơ ấu tưởng đã chìm sâu trong tâm tưởng, bỗng sống dậy cuồn cuộn như sóng trào. Rời Huế từ năm ấy, Cọp chưa lần nào trở lại dù chỉ một lần để thăm viếng. Sài Gòn -Huế nào có bao xa mà như vĩnh quyết. Huống chi bây giờ thêm cả một đại dương!
Hương Trà, cô tiểu thư, người bạn nhỏ thuở xưa. Cô đã sống ra sao trong suốt thời gian qua với chiếc nạng gỗ cay nghiệt đó! Cọp cúi đầu. “Lạy trời cho nàng một cuộc sống bình yên” ./. ThaiNC
Xóm Chùa Bà có khoảng chừng trên năm mươi nóc gia rải rác theo con đường chính. Nhà Cọp ở gần giữa. Đúng ra thì đây là nhà ông nội Cọp. Nhà thiệt của ba mạ Cọp ở thành phố, gần chợ Đông Ba. Mạ Cọp bán vải ở chợ. Cọp ở với ông nội vì trường học gần nhà đi bộ cho tiện. Mỗi chiều thứ Bảy sau khi tan chợ, mạ Cọp đi xích lô về xóm Chùa Bà đón Cọp về nhà. Cọp cũng thương mạ và hai chị của nó lắm, nhưng mỗi cuối tuần phải về ở với gia đình, cực chẳng đã nó phải đi. Ai nói ở thành phố vui chứ với Cọp thật buồn lắm. Ở đó Cọp chỉ lủi thủi một mình. Ba Cọp đi lính ở xa lâu lâu mới về. Mạ Cọp buôn bán ở chợ từ sáng đến tối mịt. Hai chị thì hơn Cọp đến bảy tám tuổi, dù thương cũng không biết nói hay chơi gì với Cọp, cùng lắm là dắt Cọp ra phố ăn kem. Cho nên đến mỗi chiều Chủ Nhật, mặt trời chưa lặn là Cọp đã bồn chồn mong được “về nhà”. Về nhà, tức là về xóm Chùa Bà, giang sơn của Cọp. Có những lần mạ Cọp muốn giữ nó ở lại qua đêm Chủ Nhật, sáng thứ Hai sẽ đưa nó tới trường luôn. Cọp ngồi khóc tỉ tê. Mạ hỏi – Con không thương mạ à? – Dạ có – Rứa răng con cứ đòi về nhà? – Con không biết. Hình như Cọp biết mang máng, nhưng không làm sao diễn tả hết nỗi niềm. Ở xóm Chùa Bà, Cọp được tất cả mọi người thương mến. Dĩ nhiên Cọp phải ngoan, nhưng còn một lý do nữa: nó là cháu nội của vị Đông y sĩ nhân đức và rất mát tay chữa bệnh mà cả xóm cũng như những vùng lân cận đều trọng nể. Trước kia khi ông nội Cọp còn hành nghề, ông thường cứu giúp kẻ nghèo khó. Bây giờ đã già, ông về dưỡng lão tại đây.Tiếng là hồi hưu, nhưng ông vẫn thình thoảng trở lại nghề cũ để cứu giúp những bệnh nhân chung quanh hay một số thân chủ cũ tìm đến. Một trong những thân chủ quen thuộc vẫn nhờ ông nội Cọp bổ thuốc Tể hàng tháng là bà Tham. Bà Tham ở căn nhà lớn nhất cuối xóm. Không ai biết tên thật của bà là gì, chỉ quen gọi là bà Tham theo chức quan của ông cụ thời sinh tiền. Cụ Tham làm quan trong những năm cuối cùng của triều Nguyễn, nổi tiếng là ông quan nghiêm khắc và chính trực. Đó là lý do mà cả xóm cho đến nay vẫn còn kính trọng và nể vì. Nhà bà to và đẹp lắm. Vào cổng sau khi qua hai cột trụ cao và cổ kính, bên dưới có hai con sư tử bằng đá nhe răng múa vuốt, là con đường nhỏ trải đầy sỏi trắng, hai bên là hàng rào đầy các loại hoa. Cuối con đường đến khoảng sân trước nhà có những cái chậu bằng đá thật nặng đầy rêu phủ trồng sen. Hai bên hông và phía sau là khoảng vườn rộng mênh mông đầy các loại kiểng cũng như cây ăn trái. Đặc biệt có hai cây cau cao vút lên trời.
Tuy nhà bà Tham lớn như vậy nhưng không có mấy người. Bà ở với đưá cháu ngoại trạc tuổi Cọp, một ông quản gia trung thành từng theo hầu cụ ông ngày trước, và một chị người làm lo việc bếp núc, các việc lặt vặt khác. Bà vốn hiếm muộn, chỉ có một người con gái thì lại theo chồng vào nam. Dù con bà đã nhiều lần muốn bà dọn vào Nam ở, nhưng bà đã cương quyết ở lại xóm Chùa Bà để giũ gìn hương hỏa bên chồng. Được cái tuy chỉ một con gái, nhưng bà lại có rất nhiều cháu ngoại. Trà là đưá con út mà con gái bà để lại Huế cho bà cháu hôm sớm có nhau, tuổi già bớt quạnh quẻ. Bà Tham không làm gì cả. Của cải do cụ ông để lại cùng lợi nhuận từ vườn cây sau nhà đủ cho bà sống thoải mái. Đó là chưa kể con gái bà vốn rất khá giả và vẫn thường chu cấp thêm thường xuyên cho mẹ. Công việc duy nhất để bà đi ra khỏi nhà hằng ngày là cùng ngồi xích lô đưa cháu đi học mỗi trưa, chiều lại đón về.Còn ngoài ra bà chỉ ở nhà tụng kinh niệm phật. Mọi việc giao dịch khác đã có người quản gia chu tất.
Tuy bà sống thanh đạm và giản dị như vậy, nhưng danh tiếng của một mệnh phụ phu nhân vẫn không hề suy suyển. Cả xóm Chùa Bà đều kính nể và coi bà như thuộc về một tầng lớp khác. Đến cả ông nội Cọp cũng không ngoài lệ đó, dù bà là bệnh nhân vẫn nhờ ông hốt thuốc hàng tháng. Cọp gặp bà Tham mấy lần trong nhà khi bà đến cho ông nó bắt mạch. Những lần đó Cọp chỉ dám đứng xa xa quan sát và thắc mắc không hiều bà đáng sợ ở chỗ nào. Bọn con nít trong xóm như Cọp leo trèo phá phách ở đâu cũng phải chừa lại vườn nhà bà Tham. Đến như lũ chim kia hình như cũng biết đó là nơi an toàn nên đã từng đàn tụ về. Cọp và các bạn chỉ biết đứng ngoài thèm thuồng nhìn những trái chín mọng trong vườn và lũ chim líu lo rộn rả bên trong.
Cơ hội đã đến với Cọp vào một buổi trưa oi ả khi Cọp đang đội nắng đến trường. Chiếc xích lô chở bà Tham đưa cháu ngoại đi học rà đến bên cạnh. Từ trên xe bà hỏi vọng xuống: – Này con. Con là cháu ông Khánh phải không? – Dạ. Cọp rụt rè trả lời. -Tội nghiệp! Trời nắng như ri mà đi bộ bịnh chết. Con lên đây đi với bà luôn thể. Câu nói của bà Tham làm Cọp ngẩn người không biết trả lời ra sao. Ngồi xe xích lô tới trường giữa trời nắng gắt như vầy còn gì sướng bằng. Khỏi mỏi chân và đỡ khát nước. Nhưng Cọp vẫn ngần ngừ. Bà Tham đối với nó vẫn là một người đáng nể sợ. Hơn nữa lại có con Trà trên xe. Cọp biết con Trà từ lâu. Nó học bằng lớp Cọp, nhưng ở dãy con gái. Cả trường Cọp có khoảng bốn hay năm đứa thuộc loại “quý tộc” như con Trà. Chúng nó thuờng chơi chung với nhau. Thực ra thì tụi con Trà cũng đâu có kiêu kỳ làm cao làm dáng gì đâu. Tụi nó khi nào cũng muốn gia nhập cuộc chơi với chúng bạn khác. Nhưng mà chỉ nội cái tiếng tăm của gia đình và lối đi học bằng xe đưa rước mỗi ngày cũng đủ làm cho lũ học trò bình dân như Cọp cảm thấy thua kém và cách biệt.
Thấy Cọp cứ đứng ngẩn tò te, bà Tham bước xuống nắm tay nó kéo lên xe. Bà bảo con Trà sang ngồi trong lòng bà và nhường chỗ cho Cọp. Xe đã chuyển bánh mà Cọp cứ suy nghĩ. Con Trà lơ đãng nhìn Cọp. Nó không biểu lộ vể phản đối hay đồng ý nào cả. Hôm nay Trà đi học mặc áo đầm hồng mới tinh, tóc thắt nơ đỏ, đi giày Tây đàng hoàng. Con nhỏ đúng là một tiểu thơ tý hon. Bỗng nhiên Cọp thấy mắc cở quá. Chưa bao giờ Cọp thấy mình dơ dáy hơn lúc này. Bên cạnh con Trà sạch sẽ trắng trẻo, nó bỗng trở nên đen như cột nhà cháy.Tệ nhất là trên đầu nó mấy bữa nay mọc cục Sài. Ông nội Cọp phải cạo khoảng tóc chung quanh để dán miếng thuốc dán hiệu con Rắn vàoCọp ngồi yên lặng suốt quảng đường. Bà Tham có hỏi nó chỉ thưa dạ cho qua, tuyệt nhiên không nói gì với con Trà. Khi xe đến trường, bà Tham mua hai cây cà rem cho hai đứa. Cọp cầm cà rem chạy ù vào đám bạn đang bắn bi trước cổng trường, quên cả cám ơn. Hôm sau bà Tham cho xe đến đón Cọp tận nhà. Bà ngồi ngoài, để con Trà vào kêu Cọp đi học làm ông nội ngạc nhiên. Cọp thì dị quá trốn trong bếp khiến ông nội phải kéo nó ra tận nơi. Cực chẳng đã Cọp đành leo lên. Kể từ hôm đó, Cọp chính thức đi học bằng xe xích lô với con Trà. Mấy hôm đầu nó còn ngượng ngùng, dần dần Cọp quen đi. Bà Tham đâu có gì…ghê gớm như nó vẫn tưởng.
Mỗi lần hỏi chuyện Cọp, bà kêu con thật ngọt ngào và hiền hậu. Giọng bà lơ lớ âm hưởng tiếng nam, vì bà vốn sinh ra trong đó. Cọp có nghe nói đến Sài Gòn, hòn ngọc viễn đông mà nó từng học trong một bài tập đọc. Đối với Cọp, miền nam là Sàigòn, Sàigòn là miền nam. Bà Tham phong độ quý phái có lẽ vì bà từ Hòn Ngọc Viễn Đông ra đây( ?). Mỗi chiều tan học, xe bà Tham đậu chờ sẵn ở cổng trường. Thông thường con Trà thuộc dãy con gái ra trước, Cọp ra sau. Mỗi khi Cọp leo lên xe, bà Tham thường hỏi – Bữa ni Cọp được mấy điểm? – Con được 10 điểm. Nó hí hửng khoe. Bà Tham xoa đầu khen – Cọp giỏi quá. Ráng học bà thương nghen con. Do đó, khi sự nể sợ bà Tham đã dần thay thế bằng lòng kính mến, thân mật thì mối cách biệt tiểu thư- dân dã giữa Cọp và Trà cũng không còn nữa. Ngồi trên xe, hai đứa thường khoe điểm và cãi nhau tíu tít trước sự thích thú của bà Tham. Thỉnh thoảng bà phải làm trọng tài để phân giải nữa. Trà và Cọp trở nên thân nhau tự lúc nào. Cọp hoàn toàn thay đổi quan niệm về bọn “quý tộc” trong trường. Bấy lâu, tụi Cọp chỉ mặc cảm và tạo sự cách biệt, chứ bọn con Trà có bao giờ làm cao như bọn Cọp vẫn nghĩ. Ngược lại, Cọp còn thấy tội nghiệp dùm con Trà. Hai đứa bằng tuổi nhau, ở chung xóm, mà trong khi Cọp tung tăng làng trên xóm dưới tham dự đủ mọi trò vui, thì con Trà vẫn ở trong nhà, kín cổng một mình với bà ngoại.
*** Xóm Chùa Bà ở ngoại thành. Từ trung tâm thương mại chính là chợ Đông Ba, qua khỏi cầu Gia Hội, theo con đường Chi Lăng khoảng 2,3 cây số theo hướng về phía chợ Dinh là đến. Cho nên đây chỉ là vùng ngoại ô chứ chưa quá xa xuống các vùng quê. Dân trong xóm không ai gọi là quá nghèo. Mỗi nhà đều có vườn cây ăn trái phụ vào việc buôn bán, nên cuộc sống tương đối ấm no, và hầu như cả xóm đều quen biết nhau. Từ lúc có óc nhận xét, Cọp cảm thấy xóm Chùa Bà là quê hương bất khả chia lià của nó. Những ngày Chủ Nhật cuối tuần phải về với mạ và chị, nó coi như một bổn phận. Một ngày ở thành phố là một ngày buồn bã. Cọp chỉ lủi thủi giữa bốn bức tường chật hẹp. Cho nên khi mạ hỏi có thương mạ không, Cọp bảo rằng thuơng mà không thể giải thích tại sao cứ đòi về xóm Chùa Bà. Cọp còn quá nhỏ để diễn tả nỗi lòng của mình. Nó muốn nói rằng ở xóm Chùa Bà, dọc theo con đường Hồ Xuân Hương là hai dãy cỏ xanh mướt. Mỗi chiều có những con trâu hững hờ gặm cỏ. Có những đứa mục đồng là bạn chung trường với Cọp ngồi trên lưng trâu thơ thẩn nghêu ngao. Cọp thường lên lưng trâu với bạn đi sâu vào làng, vào tận các rẩy mương, được gặm mía, ăn khoai nướng, cơm vắt…
Có những buổi sáng mùa Đông, Cọp dậy thật sớm uống trà cùng ông nội. Giữa cái lạnh sớm mai và tiếng mưa rơi tí tách bên ngoài, hai ông cháu bên chiếc bàn nho đối ẩm. Cọp bắt chước ông bưng tách trà lên miệng, thổi nhè nhẹ và nhấp một ngụm nhỏ rồi thở “phaaà” một cái. Vừa uống trà , ông vừa ư ử ngâm thơ. Cọp chưa thương ai hơn thương ông nội. Nó mong sau này lớn lên sẽ nối nghiệp ông để cứu nhân độ thế. Từ ngày đi học chung với con Trà, Cọp là đưá đầu tiên trong xóm được xâm nhập vùng “ cấm địa”, tức vườn nhà bà Tham..
Đối với Cọp, vườn nhà bà Tham là vườn Địa Đàng. Khu vườn thật rộng, ít nhất cũng gấp ba, bốn lần vuờn nhà nó, đầy những ổi, đào chín nặng trĩu cành. Lũ chim trong vườn cũng rất dạn dĩ. Chúng đã quen với sự an toàn ở đây nên không có vẻ gì e sợ sự hiện diện của Cọp. Cọp thích nhất là được leo lên một cành ổi lớn, ngồi cheo leo trên cành thưởng thức vị thơm ngọt của trái Xá Lị mới hái, vừa nhìn lũ Chào Mào, Se Sẽ ca hát, rỉa lông cho nhau, thỉnh thoảng hái một trái chín quăng xuống cho con Trà phía dưới. Có hôm thằng Cọp rủ con Trà lén trốn ra đuờng đón mấy đứa mục đồng bạn của nó cho con Trà cởi trâu ra rẫy chơi. Lần đầu tiên cô tiểu thư đài các được …đi chăn trâu khoái quá, bất kể bộ quần áo thơm tho bị vấn mùi trâu khi về phải vội vàng đi tắm. Thằng Cọp còn bắt Chuồn Chuồn cho cắn vào rốn con Trà rồi dắt nó ra ao sau vườn tập bơi. Quả nhiên mấy ngày sau con Trà cũng bơi ra phết.
Nhưng không phải chỉ mình Cọp biết bày trò đâu nha. Trà cũng có những mục riêng mà Cọp chưa hề biết đến. Trà có một bộ đồ chơi thật đẹp dạy trẻ em xếp nhà mà anh nó đang du học ở Pháp gởi về. Bộ đồ chơi gồm những miếng nhựa hình khối chữ nhật màu vàng ngà tương tự như quân cờ Mạc Chược của ông nội Cọp. Trên mỗi miếng đều có vẻ hình một cái cửa lớn hoặc cửa sổ. Chúng nó cứ lấy ra sắp thành những toà lâu đài theo ý thích và sự tưởng tượng riêng của mình. Con Trà cũng có một bộ đồ chơi nấu ăn đẹp nhứt xóm. Cọp chẳng thích gì ba trò nấu ăn của con gái. Nhưng đưọc cái là con Trà … nấu thiệt. Nghĩa là muốn nấu chè, con Trà vô bếp lấy đậu và đường đốt lửa nấu đàng hoàng chứ không phải lấy lá cây giả bộ như mấy đứa con gái khác. Cọp chiều ý con Trà, đợi nó nấu xong, dù sống hay chín, Cọp đều thanh toán hết. Con Trà chỉ nhấm nháp chút đỉnh và hả hê nhìn Cọp thưởng thức sản phẩm của mình.
Một lần hai đứa được bà Tham dắt đi coi tuồng Phạm Công Cúc Hoa do một gánh cải lương từ Sài Gòn ra trình diễn. Khi về, con Trà khóc suớt mướt. Hôm sau không biết đưá nào rủ trước, cùng nhau diễn lại đoạn hai đứa trẻ mồ côi được mẹ Cúc Hoa hiện hồn về bắt chí. Cọp đóng vai Tấn Lực, con Trà làm Nghi Xuân. Sẵn có tượng Phật Bà Quan Âm khá lớn trong nhà cũng mặc đồ trắng giống Cúc Hoa, nên cả Nghi Xuân và Tấn Lực tân thời thi nhau tới trước tượng gào thét “Mẹ ơi, mẹ ơi…” một cách say sưa và thê thảm, nhập vai đến độ nước mắt nước mũi ngồm ngoàm đầy mặt, và bà Tham đứng sau lưng hồi nào không biết. Bà không la còn vỗ tay khen: – Ui chao ơi. Hai đứa mi hát cũng hay quá. Nghi Xuân đỏ mặt ôm bà phụng phịu, còn Tấn Lực thì dị quá vừa chùi mũi vừa cắm đầu chạy một mạch về nhà. *** Cọp về thành phố đón tết đã được mấy ngày. Mạ Cọp nghỉ chợ từ hôm 27. Ba Cọp cũng về nhà. Không khí vui vẻ và đầy đủ của gia đình làm Cọp tạm quên xóm Chùa Bà, tạm quên con Trà. Nó đã đếm từng ngày mong chóng đến mùng một để được mặc đồ mới theo ba mạ về chúc tết ông bà nội, và đi mừng tuổi bà Tham.
Tết. Cọp nằm thấp thỏm mong trời mau sáng. Càng về khuya, pháo còn nổ lớn ròn rã. Trước còn không phân biệt, nhưng dần dần đã nhận ra tiếng súng. Mạ Cọp hỏi ba – Chắc cháy kho đạn? Ba Cọp lắng nghe và lắc đầu – Không phải kho đạn. Lạ thiệt, hưu chiến ăn tết mà! – Mô Phật. Tết nhứt mà đánh nhau chi kỳ rứa không biết. Súng nổ dữ dội càng lúc càng gần vào thành phố. Ba Cọp mở radio nghe tin tức, nhưng những bản nhạc Xuân mới mấy tiếng đồng hồ trước còn inh ỏi, nay thay thế bằng tiến u u vô nghĩa. Súng nổ lúc càng gần hơn đầy đe dọa. Xen lẫn những tiếng tạch – tạch – đùng là một tiếng ẦM thật lớn làm rung chuyển cả nhà cửa, bụi bay tứ phía văng cả vào mắt Cọp. Đến gần sáng, radio bỗng nhiên hoạt động. Ba Cọp thất thần khi nghe “Đây, tiếng nói của mặt trận giải phóng miền nam…” Hai chị của Cọp cũng biết và thì thầm với nhau: – Chết cha! Việt Cộng mi ơi. Trời sáng. Cả thành phố im lìm. Tiếng súng đã lặn dần chỉ còn lại lẻ tẻ đâu đó như đang răn đe hơn là hiến đấu. Nhà nhà đều đóng cửa kín mít. Bóng tối bao trùm…
Một buổi sáng, Cọp thức dậy vì tiếng ồn ào ngoài đường. Hình như có một nhóm người đi từng nhà đập cửa kêu gọi gì đó. Cứ khoảng mười phút thì tiếng đập cửa lại vang lên, từng nhà, từng nhà mỗi lúc mỗi gần hơn. Ba mạ Cọp nhìn nhau lo ngại. Hai chị của nó thì sợ quá trùm mền kín mít không dám nghe. Cuối cùng rồi chuyện gì đến cũng sẽ đến. Tiếng đập cửa vang lên ngay nhà Cọp. Họ kêu lớn “ 73 Chi Lăng, mở cửa!”. Đúng là số nhà nó. Ba Cọp đành đứng dậy đi ra.
Sau hơn một tuần đóng kín, cửa nhà Cọp phải mở để đón người lạ vào. Cọp lén nhìn ra thấy sáu bảy người đàn ông sầm sập đi vào. Việt Cộng đó sao? Cọp suýt kêu thành tiếng khi thấy người đàn ông đứng ở cửa. Thầy Tường ! Thầy dạy lớp nhất ở trường nó. Cọp tưởng mình trông lầm, nhưng rõ ràng là thầy Tường nổi tiếng hiền nhứt trường. Khác một điều là lúc này thầy lạnh lùng, ôm khẩu súng, tay áo có mang miếng băng đỏ. Cọp líu cả lưỡi, tay chân run rẩy. Thầy Tường là Việt Cộng? Nếu không tận mắt nhìn thấy, không đời nào Cọp tin nổi. Ba nói chuyện một hồi, đi vô bảo mạ: – Anh đi với họ. – Đi mô? Mạ Cọp thất thanh. Một người có vẻ là trưởng nhóm tiến lại: – Chúng tôi mời ông đi nghe chủ trương chính sách của chính phủ cách mạng. Tối ông về thôi. Ba Cọp nhìn mạ ra dấu có muốn từ chối cũng không được. Ông yên lặng xoa đầu Cọp và bước ra khỏi nhà cùng mấy người đàn ông nọ Đến tối quả nhiên ông về thiệt. Mạ Cọp mừng đến mếu máo: – Anh đi mô? Ba lắc đầu không nói. Mạ hỏi tiếp – Họ nói chi rứa? Ba chỉ xua tay và nặng nề ngồi xuống. Hình như ông vừa trải qua một sự kiện gì ghê gớm lắm nhưng không muốn cho mạ nó biết. Liên tiếp mấy tuần nữa, Huế vẫn đắm chìm trong bóng đêm. Chợ Đông Ba bốc cháy cũng không ai cứu chữa, cho tới khi một cơn mưa đổ xuống dập tắt, để lại những cột khói u ám cả bầu trời. Mạ Cọp ngẩn ngơ nhìn sản nghiệp tiêu tan theo làn khói. Lần đầu tiên Cọp thấy mạ khóc và cảm thấy thương mạ hơn bao giờ hết. Cọp biết hàng vải của mạ là do bà ngoại để lại. Từ bấy lâu nay mạ Cọp một tay nuôi nấng đàn con cũng nhờ nó. Nay coi như đã hết.
Chưa bao giờ Cọp thấy buồn bả và chán nản hơn lúc này. Tết chi mà kỳ cục. Suốt ngày chỉ ru rú trong nhà tăm tối. Thình thoảng Cọp ngồi tư lự. Nó nhớ xóm Chùa Bà quá. Nó ngồi tưởng tượng hai dãy cỏ xanh mướt dọc theo con đường Chùa Bà và những thằng bạn chăn trâu nghèo khổ của nó. Súng bắn dữ như hôm rồi, không biết tụi nó có được bình yên? Còn những con trâu lừ đừ và châm chạp. Tụi nó có biết tìm chỗ tránh đạn? Cọp cũng nhớ con Trà và bà Tham. Bỗng nhiên Cọp khám phá ra một điều: ngoại trừ ông nội, con Trà là người nó thương và nhớ nhiều nhứt. Cọp không hiểu tại sao, nhưng hể nhắm mắt lại là nó thấy ông nội, con Trà, và bà Tham. Nhớ thì nhớ, thương thì thương, Cọp cũng phải bó gối trong nhà và thả hồn lơ lững về xóm Chùa Bà.
***
Súng lại nổ vang. Lần này súng nổ ròn rả hơn, quyết liệt hơn. Cọp ôm
đầu than: “Trời ơi,,Việt Cộng mô mà cứ tới hoài rứa !” Nó lại thấy mạ
lâm râm niệm Phật, nhưng không để ý nét vui mừng ẩn hiện trên đôi mắt
thâm quầng của ba. Súng nổ thật dữ dội đầu hôm và im dần khi trời
vừa sáng. Cọp giật mình thức dậy và thấy ánh nắng chói chan rọi vào nhà.
Lạ quá, tại sao nhà nó lại mở cửa? Ba mạ và chị nó đâu? Nó lại nghe
tìếng cười nói huyên thuyên bên ngoài nên vùng chạy ra. Lính. Lính mình. Nhiều lính lắm, đang rầm rập đi đầy đường. Cọp chạy lại nắm tay ba. Ông nói – Mình tái chiếm rồi con. Tái chiếm? Nghĩa là không còn Việt Cộng nữa. Nghĩa là nó sắp được về lại xóm Chùa Bà tiếp tục những ngày vui ! Cọp bỗng cười toe toét, ngẩng đầu hỏi lại; -Mình tái chiếm rồi hả ba?
***
Chỉ vài tháng sau ngày tái chiếm, Cọp khăn gói theo gia đình vào
SàiGòn. Ba Cọp quyết định đưa vợ con về nơi an toàn. Cọp cũng không lưu
luyến xóm Chùa Bà nữa. Ông nội nó đã mất vì bệnh tim tái phát sau nhiều
ngày đêm chịu đựng tiếng dội của bom đạn. Một lý do nữa là ba Cọp đã trở
về từ địa ngục. Sau này kể lại, ông cho hay hôm mấy tên Việt Cộng trong
đó có thầy Tường dẫn đi, ông bị còng tay ra nơi tập trung có những cái
hố đào sẵn. Phước đức từ ông nội nên có một tên việt cộng là bạn học cũ
của ba. Nhà hắn từng chịu ơn ông nội Cọp cứu giúp năm xưa nhận ra, lén
cởi trói cho ba Cọp trốn về. Ba là người duy nhứt thoát được. Số người
bị bắt chung hôm đó tất cả đã bị vùi sâu chôn sống hết dưới những hố hầm
định mệnh. … Đưa đám ông nội Cọp, con Trà đi cùng bà Tham …trên chiếc nạng gỗ. Một mảnh đại bác oan khiên cắt ngang chân trái của Trà.
Tự do đã trở lại, nhưng hậu quả khốc liệt của một tháng trời bị tạm
chiếm vĩnh viễn không thể phai mờ. Ban đêm Cọp phải qua ngủ với mạ để
tìm cảm giác an toàn mỗi khi thức giấc nghe tiếng chó tru xa xa vọng
lại. Mùa Xuân năm ấy, Huế nhuộm một màu tang ! Khi Cọp trở lại
xóm Chùa Bà lần cuối để chào từ giã bà Tham và con Trà trước ngày lên
đường, bà Tham mếu máo ôm Cọp trong lòng như không nỡ rời. Con Trà cũng
đứng đó, không khóc, không nói, chỉ ngẩn ngơ nhìn Cọp nửa bùi ngùi, nửa
xa vắng.
*** Thư một người chị của Cọp từ quê nhà gởi sang có đoạn “Em còn nhớ Trà, cô bạn nhỏ năm xưa của em ở Huế không? Chị mới gặp lại. Không ngờ cô ta vẫn còn nhớ đến em và gởi lời hỏi thăm…” Chữ “Trà” trong thư của chị gợi lại Cọp bao kỷ niệm thời thơ ấu tưởng đã chìm sâu trong tâm tưởng, bỗng sống dậy cuồn cuộn như sóng trào. Rời Huế từ năm ấy, Cọp chưa lần nào trở lại dù chỉ một lần để thăm viếng. Sài Gòn -Huế nào có bao xa mà như vĩnh quyết. Huống chi bây giờ thêm cả một đại dương! Hương Trà, cô tiểu thư, người bạn nhỏ thuở xưa. Cô đã sống ra sao trong suốt thời gian qua với chiếc nạng gỗ cay nghiệt đó! Cọp cúi đầu. “Lạy trời cho nàng một cuộc sống bình yên”
(trích) … Anh cả tôi tên Thụy, hồi có thai anh, mẹ tôi nằm mơ thấy có người đem đến cho một viên ngọc, nếu đặt tên Ngọc có vẻ con gái quá nên đặt là Thụy vì chữ Thụy có ẩn chữ Ngọc. Anh thứ hai tên Cẩm, thứ ba là Tam, anh thứ tư là Long, tôi thứ năm tên Thế, em thứ sáu tên Vinh, em thứ bẩy tên Bách. Thật sự tên anh em tôi không phải ngay từ lúc đầu đã đặt theo bộ chữ THỤY CẨM TAM LONG VINH BÁCH THẾ (Ba con rồng bằng gấm đẹp vinh hiển muôn đời) như một vài cuốn sách đã viết và coi như sự nổi tiếng của Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam là tiền định.
Ba anh tôi tên đã được đặt từ trước là Thụy, Cẩm, Tam, anh Tư tôi (Hoàng Đạo) đáng lẽ là Tứ nhưng có người bạn của thầy tôi là Tứ nên mới đặt là Tư và tôi là Năm. Rồi tới em Sáu (Thạch Lam) và em út là Bẩy. Sau này vì anh tư tôi không đủ tuổi đi thi anh mới đổi là Long. Còn tên tôi, em Sáu và em Bẩy là do anh TAM đổi nhân dịp em Sáu cũng vì lý do đổi tuổi để đi thi. Như vậy tuổi khai sinh của anh em nhà tôi không hoàn toàn đúng với tuổi thật. Năm đó tôi nhớ anh Tam đã viết “NHO PHONG” và tôi khoảng 14, 15 tuổi, bấy giờ anh Tam mới nghĩ tới việc đặt tên anh em chúng tôi theo bộ chữ trên. Tôi là con gái nên lấy chữ cuối. Thứ tự gia đình tôi theo đúng tuổi là anh Cả NGUYỄN TƯỜNG THỤY sau này làm Tổng giám đốc bưu điện sinh năm Quý Mão (1903), anh Hai NGUYỄN TƯỜNG CẨM, kỹ sư canh nông, Giám đốc báo NGÀY NAY sinh năm Giáp Thìn (1904), anh Tam NGUYỄN TƯỜNG TAM, Nhất Linh, Nhị Linh chủ trương TỰ LỰC VĂN ĐOÀN sinh năm Bính Ngọ (1905), anh Tư NGUYỄN TƯỜNG LONG, Tứ Ly, Hoàng Đạo trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn sinh năm Đinh Mùi (1907), tôi NGUYỄN THỊ THẾ sinh năm Kỷ Dậu (1909), em Sáu NGUYỄN TƯỜNG VINH (LÂN), Thạch Lam trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn sinh năm Canh Tuất (1910), em Bẩy NGUYỄN TƯỜNG BÁCH, Bác Sĩ, sinh năm Bính Thìn (1916).
Riêng em Sáu tôi đổi tên tới hai lần. Lần thứ nhất đổi là Vinh, cũng vì lý do để đủ tuổi đi thi bằng thành chung. Tôi còn nhớ khi em Sáu thi đậu, Tú mỡ Hồ Trọng Hiếu có mừng em bài thơ tôi chỉ còn thuộc có 6 câu:
Gửi lời mừng bác NGUYỄN TƯỜNG VINH
Đáng bậc thần đồng bọn học sinh Năm trước vừa ăn kỳ tốt nghiệp Năm sau liền đỗ bậc chung thành Văn hay phúc ấm nhờ tiên tổ Cũng bởi công phu gắng học hành
Lần đổi tên thứ hai là Lân. Tên này em tôi giữ cho tới khi chết. Sự đổi tên của anh em tôi là do ý kiến của anh Tam vì khi đổi tên tôi và các em Sáu, em Bảy thầy tôi mất đã lâu. …
Tôi không ngờ em Sáu có trí nhớ dai thế, như truyện em tôi tả hai chị em thức đợi chuyến tầu đêm qua rồi mới đi ngủ. Năm đó tôi mới có chín tuổi, em tôi lên tám mà mẹ tôi đã giao cho hai chị em tôi coi hàng. Cửa hàng chỉ bán có rượu, ít bánh khảo, thuốc lào, cốt để đưa khách quen vào trong nhà bà ngoại. Tối đến hai chị em phải ngủ lại để trông hàng. Hai chị em vì ở nhà quê đã lâu nên bạo dạn. Chủ nhà là hai bà cụ đã già tóc bạc phơ hình như hai người là bạn với nhau, đều không có con, tôi cũng không rõ là ở đâu tới. Một bà trẻ, khỏe mạnh hơn dọn hàng cơm cho khách ăn, thỉnh thoảng cũng có người lỡ tầu ngủ trọ lại. Hàng bà cụ rất sạch sẽ, món ăn cũng ngon. Những con cá chép rán vàng, rồi canh cá nấu măng chua, mấy cái chân giò luộc, trông thật thèm.
Khách hàng là mấy ông lý ông chánh ở các làng xa xôi lên huyện có việc. Đông nhất là những ngày vào vụ thuế. Hồi đó thuế người thuế ruộng phải đem lên nộp cho quan, quan đem xuống tỉnh nộp cho công sứ. Hàng mẹ tôi dọn được ít lâu khách đã quen vào nhà trong rồi nên khỏi bán hàng ở ngoài nữa (xem truyện “Hai chị em” Thạch Lam đã viết lại đúng như sự thực). …
CÁI CHẾT CỦA THẠCH LAM
Chú Sáu trông nom nhà báo được ít lâu bị yếu phổi phải nằm nhà dưỡng bệnh. Biết tính chú ưa tĩnh nên dù ở gần tôi cũng ít sang thăm.
Một tết Trung Thu, chú mời tất cả các bạn thân đến ăn bánh thưởng trăng Tây Hồ. Anh em ai tới phải mang theo bánh, các bà không được tham dự. Thím Sáu và chị Song Kim vợ Thế Lữ rút vào nhà trong pha trà, cà phê. Tôi vì có cháu bé nên không sang được, Trung thu năm đó lại mưa bão không có trăng, các ông ngồi chật cả ba gian nhà. Sợ chủ nhân buồn, ông thì hát chèo cổ, ông thì hát trống quân, người thì ngâm thơ, kể cũng vui, không có cảnh trăng trong gió mát thì cảnh mưa bão hồ Tây cũng đẹp.
Tết năm đó tôi cùng chú về quê ăn Tết. Hai mươi tháng chạp tôi thu xếp việc nhà cho các cháu về trước. Chú Sáu ba mươi Tết mới về, nhà ở giữa cánh đồng, tuy có lũy tre bao bọc nhưng vẫn lạnh thấu xương. Chú về tới nhà là phải quạt một hỏa lò than hồng để sưởi, trên chăn dưới nệm vậy mà chú vẫn kêu lạnh. Mẹ tôi kêu con trai gì mà yếu thế, chú nói tại mẹ khỏe nên không thấy lạnh, giá mẹ xây một cái lò sưởi có phải ấm nhà và vui vẻ bao nhiêu không.
Sau mẹ tôi phải cho đốt một đống củi lớn ở giữa nhà, trải ổ rơm xung quanh ngồi đánh bất đợi giao thừa. Tôi phụ với mẹ tôi bầy cỗ cúng bàn thờ và cúng trời đất. Đúng mười hai giờ người nhà lên đánh trống lễ, đỉnh trầm khói hương nghi ngút, không khí đầy diễm ảo.
Làm lễ xong cả nhà ngồi vào bàn để uống rượu mừng năm mới. Ai nấy im lặng, chú Sáu có vẻ buồn, lặng lẽ nhìn khói trầm, không ai nói câu nào như sợ tan vỡ một cái gì. Người nào cũng tưởng nhớ đến người ở xa vì Tết năm đó anh Tư còn bị giam ở Vụ Bản, anh Tam ở bên Tầu. Tết buồn, vắng, và cũng là cái Tết sau cùng của em Sáu tôi.
Tết ra, em đau yếu luôn, vẫn về ở bên căn nhà bên hồ Tây. Mẹ tôi phải dời trại Cẩm Giàng đem theo một anh người nhà nữa để trông nom vì thím Sáu lúc đó đang có mang đứa con thứ ba. Mẹ tôi xem số tử vi cho chú ấy, nếu thím sanh con trai thì khó qua khỏi được. Vì vậy hôm báo tin sanh con trai, chú thở dài nói con trai mà làm gì. Đứa bé ra đời được ba ngày chú trở bệnh nặng. Mẹ tôi biết khó sống được nên lén lên nhà bảo sanh đón hai mẹ con về. Tôi bế thằng bé ra cho chú coi mặt. Chú liếc nhìn và khen trông nó khỏe đấy. Nó sau này là cháu Nguyễn Tường Giang.
Sáng hôm sau sang thăm, thấy hai mắt chú sáng trong. Tôi ngồi xuống cái ghế cạnh giường, nắm tay chú, bàn tay ấm và mềm. Chú bảo chị đẩy em lên cao một tí để em nhìn thấy cây liễu, chú phàn nàn anh người nhà đem chặt đi mất một cành liễu rủ xuống làm mất đẹp. Tôi biết chú vốn quý cây liễu ấy lắm, nhưng không ngờ lúc đau ốm gần kề với cái chết mà vẫn còn để ý đến vẻ đẹp thiên nhiên, như vậy chú còn ham sống yêu đời lắm. Năm đó chú mới ba mươi ba tuổi. Có một hôm chú bảo tôi hôm nào em khỏi chị cho em ăn một bữa cơm nguội với dưa chua và cá kho, sao mà ngon thế. Chị có nhớ hôm đi chơi khuya về chị lấy cho em ăn đó. Em vẫn ao ước hôm nào khỏi lại được ăn như thế. Tôi cười bảo bây giờ chú ăn chưa chắc đã thấy ngon. Ăn ngon phải đúng lúc mình thật đói và trong người khỏe mạnh mới ngon được.
Từ hôm bệnh trở nặng, chú Bách (tên chú Bẩy) thường ở luôn bên cạnh anh. Chú Sáu đang nằm tự nhiên bảo đỡ ngồi dậy. Mọi người đưa mắt nhìn nhau. Thím Sáu ở trong buồng chạy ra ngồi đỡ một bên. Mẹ tôi ngồi một bên. Thấy thím khóc, chú bảo tôi đã chết đâu mà khóc. Hai anh em nói tiếng Pháp với nhau, tôi thấy chú Bách bỏ ra cửa, chú Sáu gọi “Bách, Bách”, chú Bách chỉ quay đầu lại thôi chứ không trở lại, tôi chực gọi thì thấy hai hàng nước mắt chú tuôn rơi, lúc đó tôi mới hiểu. Nhìn lại thấy chú Sáu duỗi hai chân thẳng ra. Thế là đi luôn.
Tiếng khóc của mẹ tôi, của thím Sáu cùng nổi lên một lượt, riêng tôi vẫn còn hoang mang, không thể ngờ chú còn tỉnh táo như vậy mà cái chết đã đến quá mau chóng. Người khóc nhiều nhất là chú Bách, từ nhỏ tới giờ không bao giờ thấy chú khóc nhiều như vậy. Có lẽ vì đã học năm thứ năm trường thuốc nên biết lúc đó là lúc anh mình phải chết mà mình bất lực không làm gì được. …
Tết năm đó (1942) chỉ còn có hai anh em về ăn Tết. Chú cũng đã yếu rồi nên thím Sáu đã phải đốt một lò than hồng để đón chú, mà chú cũng còn kêu: “Rét quá, giá mẹ xây lò sưởi có phải ấm không”. Đêm giao thừa phải đốt một đống củi ở buồng hai gian nhà ngang vải chung quanh trại ổ rơm mà chú vẫn kêu lạnh. Tất cả ngồi quây quần đánh bất để đợi Giao Thừa, năm đó tiết trời cũng giá buốt nên thay vì cúng và ăn ngoài sân, cả gia đình đều vào phòng khách. Đúng Giao Thừa, chú bảo đốt trầm lên và đem rượu ra uống mừng Xuân. Rượu rót ra rồi ai nấy đều thấy chú ngồi im lặng lẽ, khói trầm mờ ảo, tất cả tự nhiên đều im lặng, mỗi người hoài niệm một nỗi niềm riêng tư. Vắng mấy anh như là vắng tất cả. Xuân này mỗi anh mỗi phương, người góc bể, kẻ chốn rừng sâu, chắc giờ này cũng đương hướng cả tâm hồn về với nhau. Anh em sum họp đã bao cái Tết vui vẻ, nay như chim lìa đàn, con bay về phương Bắc, con về phương Nam, cách biệt từ nay mấy dặm ngàn.
Sau cái Tết đó là chú Sáu bắt đầu yếu. Hôm chú sang chơi nhà anh Thế Lữ rồi qua tới thấy tôi đốt lò sưởi, chú thích quá. Chú nói bên hồ năm nay lạnh quá, chú chịu không nổi. Tôi mời chú qua đây ở, tôi sẽ nhường chú căn phòng khách có lò sưởi cho ấm chứ nhà tôi có tiếp khách nào đâu. Nói rồi, tôi thấy nét mặt chú buồn buồn. Lúc tiễn chú ra cổng, thấy thân hình chú mặc cái áo cẳng dài, người mảnh và cao, chân bước đi như gió thoảng trên mặt đê, lòng tôi tự nhiên thấy buồn nhưng cũng không rõ vì sao. Không thấy chú sang, có lẽ chú sợ phiền vì đã hai lần chị đã nhường cho nhà rồi, vả lại đời sống chú cũng khó khăn, sang đây sợ thiếu phương tiện.
Chú đã yếu nhiều nên tính nết cũng khó khăn, thích yên tĩnh nên tôi có sang thăm chú phải bảo mấy cháu chơi ở ngoài hoặc ra cây đa, hoặc sang sân đình vì chú không ưa trẻ con. Tôi còn nhớ lần đó sang chơi, thấy chú đương ăn cơm, chú mời tôi ăn với chú một thể nhưng tôi đã ăn rồi, chú mới hỏi mấy cháu có qua với tôi không. Tôi bảo: “Chúng nó sợ chú nên ở chơi ngoài sân đình rồi”. Chú bèn nói gọi hết mấy cháu vào đây. Tôi và thím Sáu đều nhìn nhau lấy làm lạ vì đã có lần chú cấm tôi có sang thì để lũ trẻ con ở lại nhà. Thế mà hôm nay chú lại vui vẻ gọi các cháu vào, nào là bắt ăn rồi lại mở tủ sách của chú mà xưa nay các cháu thích lắm nhưng chẳng bao giờ dám mó vào, bây giờ muốn đọc thì tha hồ đọc. Lúc về chú lại cho mượn đem về, hẹn phải giữ cẩn thận rồi đem qua chú đổi cho quyển khác.
Tôi thấy chú cười nói tôi cũng mừng, hay là chú đã hết bệnh rồi nên chú thay đổi tính nết. Ai ngờ là gở chết, vì theo như các cụ nói thì người đương dễ tính sẽ đổi ra khó, còn người đương khó tính sẽ đổi ra dễ, đó là điềm gở. Được vài tháng sau là chú đau liệt giường luôn, không tới tòa báo được nữa. Chú Bách cũng hằng ngày xuống chích thuốc cho chú, nhưng cũng vô hiệu và chú đã lao phổi nặng rồi. Mẹ tôi cũng từ dưới trại lên để trông nom chú và người bếp già vì thím ấy đã gần ngày sanh. Chú gầy quá lại kêu đau mình, nên mẹ tôi cho mang cả giường lò xo lên cho chú nằm cho êm. Thuốc men ăn uống cũng chả thấy đỡ, bệnh chú càng ngày càng nặng, chú Bách chích đủ các loại thuốc tốt nhưng cũng đành bó tay thôi.
Mẹ tôi đi coi số cho chú ấy nói nếu có hai con trai thì là tận số. Hôm thím ấy sanh, nói con trai, chú chỉ thở dài nói lại con trai. Mẹ tôi thấy chú phù hai chân biết là khó qua khỏi, nên thím ấy sanh mới được có ba ngày là cho đón về lúc buổi sáng mười giờ. Bế thằng bé con ra cho chú coi mặt, chú bảo trông nó khỏe mạnh đấy. Tôi bắc ghế ngồi bên chú, chú bảo chị cho cái gối cao lên để em ngắm liễu, hôm nọ nó chặt mất cành thấp rũ xuống, em tiếc quá. Xong chú nói em nhớ bữa cơm nguội mà hôm em đi chơi về, chị cho em ăn với cá kho và dưa chua, sao mà ngon thế, hôm nào em khỏi chị lại cho em ăn như thế. Tôi cười nói đúng đó chú ạ, mình chỉ ăn ngon vào đúng lúc mình đói thì bữa cơm đó không có gì ăn cũng ngon, chú nhỉ. Chú lại hỏi sắp đến mùa na chưa, em thèm ăn na quá. Tôi bảo tháng sáu hoặc tháng bảy chú ạ. Chú chỉ ao ước một bộ đồ lụa mỏng vải cúc áo dài lụa thì Mẹ tôi đã may cho chú để mặc cho mát và nhẹ. Còn các thứ trái cây thì chú thích nhất là na, xoài, dưa tây ướp đá.
Có lần chú Bách đưa cho tôi mấy miếng dưa tây hoặc mấy miếng xoài, thế là quý chị lắm đó. Hai chị em cứ nói chuyện vẩn vơ như vậy, đâu có ngờ đến 12 giờ tôi về bên nhà ăn cơm, vừa ăn xong thì hai vợ chồng tôi sang cùng đứng cả bên giường. Chú bảo đỡ chú ngồi lên, anh người nhà một bên, mẹ tôi một bên, sau là thím Sáu. Thấy chú nói tiếng Pháp với chú Bách, thím Sáu khóc thì chú bảo tôi không chết đâu mà khóc. Chú Bách bỏ bước ra cửa, chú ấy gọi Bách, Bách rất rõ mà chú ấy không quay lại. Tôi và mẹ tôi đều kêu chú Bách, anh gọi này. Chú không quay vào chỉ ngoảnh mặt lại thôi, tôi thấy chú khóc. Tôi chưa từng thấy chú khóc bao giờ. Tôi thấy chú Sáu duỗi hai chân ra, thế là đi luôn, anh người nhà vội đặt chú nằm xuống.
Tôi sửng sốt không ngờ, chỉ có chú Bách và Mẹ tôi là biết rõ thôi. Chú đã học thuốc và đã từng chứng kiến nhiều nên chú không dám quay lại khi thấy mình bó tay không sao ngăn được thần chết. Chú lại là người khóc nhiều hơn ai hết, tôi còn phải đi lo báo cho mọi người biết. Mẹ tôi đứng lên lo hết ma chay cho chú xong, mẹ tôi lại trở về trại Cẩm Giàng. Còn nhà báo thì ai trông nom sau khi chú Sáu mất, tôi cũng chả rõ. Gần một năm sau thì anh Long và ông Khái Hưng về trông nom tờ báo. Năm đó cũng là năm Nhật hay sang bỏ bom, mọi người sợ hãi hay chạy về nhà quê và nhà nào cũng đào hầm để trú ẩn. Bên mấy mẹ con thím Sáu thì mẹ tôi đón về trại ở rồi, chứ ở trên này thì lấy gì sống.
(Văn hóa Ngày Nay tái bản 1996)
Họa sĩ Hoài Nam qua đời
Họa sĩ Hoài Nam qua đời: Con ngựa già đã tìm về đồng cỏ
Họa sĩ thiết kế sân khấu Hoài Nam – Ảnh: Tư liệu
Nghệ sĩ Hoài Nam – người họa sĩ tiên phong của ngành thiết kế mỹ thuật sân khấu cải lương miền Nam và đã cống hiến trọn vẹn – suốt đời cho đam mê nghệ thuật này đã qua đời ở tuổi 90 ở Viện dưỡng lão nghệ sĩ TP.HCM.
Sáng nay (7.1.2020) lướt Facebook, mới hay tin họa sĩ Hoài Nam đã từ trần lúc 4 giờ sáng nay tại Khu dưỡng lão nghệ sĩ (đường Âu Dương Lân, Q.8, TP.HCM), thấy hồn xốn xang, và chắc chắn rằng nhiều “cựu cư dân” của “Tám Mốt-Trần Quốc Thảo”: Thiên Hà, Trương Đạm Thủy, Lê Hồng Thái, Bùi Công Doanh, Tăng Bình, Trần Lượng… cũng sẽ bồi hồi với cái tin ông mất…
Nhớ khoảng 20 năm về trước, khi tôi là “đại sứ thường trực” ở Quán Nghệ sĩ (81, Trần Quốc Thảo, Q.3), thỉnh thoảng vẫn thấy ông xuất hiện ở đây: Dáng người mảnh khảnh, tóc dài, cặp mắt sâu sau đôi kính lão, đôi má hóp sâu… Ông ngồi uống bia với bạn bè nhưng rất kiệm lời, chỉ thỉnh thoảng nở nụ cười thật hiền. Anh em giới thiệu với tôi: “Họa sĩ Hoài Nam – chuyên thiết kế cho các sân khấu cải lương”.
Từ đó, tôi thường được ngồi “hầu bia” với ông cùng với nhà văn Dương Hà (tác giả tiểu thuyết Bên Dòng Sông Trẹm), nhà thơ-soạn giả Kiên Giang-Hà Huy Hà và nhóm anh em đã kể ở trên. Tôi đã chụp ông khá nhiều bức ảnh vẫn còn lưu file ở đâu đó mà nhất thời chưa tìm lại được. Lúc đó, ông đã “giã từ vũ khí” và đã về nương thân ở Khu dưỡng lão nghệ sĩ bởi ông thuộc dạng “tứ cố vô thân”, chưa từng có vợ nên cũng chẳng có con cái để làm chỗ dựa lúc tuổi xế chiều…
Họa sĩ Hoài Nam và tác phẩm – Ảnh: Tư liệu
Họa sĩ Hoài Nam tên thật là Bùi Hoài Nam, ông sinh năm 1930 trong một gia đình điền chủ tại Thủ Thừa (Long An), 15 tuổi “công tử Thủ Thừa” bỏ nhà đi theo kháng chiến, một năm sau trở về thì… nhà cửa ruộng đất mất sạch. 17 tuổi, Hoài Nam lên Sài Gòn học Trường vẽ Gia Định, đồng thời ghi danh học Trường Âm nhạc Sài Gòn. Tuy nhiên, vốn tính lãng tử, cả 2 môn học này ông đều bỏ ngang khi sắp tốt nghiệp. Lúc đó, Hoài Nam chơi thân với con trai của nghệ sĩ cải lương kiêm bầu gánh Năm Châu. Vậy là lân la với nghề trang trí sân khấu.
Thoạt đầu là phụ việc cho các họa sĩ đàn anh, dần dần trở thành họa sĩ chính, nổi tiếng đến nỗi gánh hát nào cũng muốn nhờ ông trang trí. Nghe kể rằng chính ông là người đã làm một cuộc cách mạng: Đưa việc thiết kế phông màn sân khấu từ đình chợ đơn giản ra rạp hát hoành tráng. Sau này (từ năm 1958) ông còn là họa sĩ thiết kế hình ảnh cho các bộ phim: Xa lộ không đèn, Bàn thờ tổ của cô đào, Nghêu Sò Ốc Hến, Hồi chuông Thiên Mụ…
Trước 1975, ông thuê một căn nhà ở cuối đường số 2 Làng báo chí Thủ Đức. “Trong nhà không một cái ghế ,cái bếp hay những vật dụng sinh hoạt tối thiểu của một gia đình, nói chung như một cái nhà hoang vậy… Nhưng trong nhà có rất nhiều những hũ rượu thuốc mà ông đi đây đi đó mang về và sách thì chất đầy nhà với những sách tiếng Hán, hay những bộ truyện Kim Dung mới xuất bản ở Sài Gòn thời đó, cùng với báo chí hay những giá vẽ, tranh vẽ dở dang v.v… (chi tiết này của Bùi Công Doanh, người ở cùng Làng Báo chí Thủ Đức với ông). Mỗi lần có đoàn hát đặt hàng là ông đóng cửa đi vẽ suốt tháng.
Dạo ấy, thu nhập của ông phải nói là “xu hào rủng rỉnh” nên ông rất hào phóng với bạn bè thân hữu. Cũng dễ hiểu vì ông không vướng bận vợ con. Thực ra hồi ấy ông là một họa sĩ tài hoa, làm ra tiền, lại đẹp trai với dáng người dong dỏng cao nên thiếu gì cô đào hát xinh đẹp hoặc những cô gái hâm mộ sẵn sàng tình nguyện “nâng khăn sửa túi”, Trước năm 1954, ông cũng đã từng yêu một cô gái, tính chuyện cưới xin nhưng rồi cô ấy trở mặt, bỏ ông để lấy một anh lính Tây, từ đó ông “tắt lửa lòng”. Một điều nữa khiến ông không tha thiết gì chuyện vợ con là bởi ông từng chứng kiến cha mẹ chết sớm, rồi lần lượt 7 người anh em ruột của ông qua đời mà không ai qua khỏi tuổi 40. Ông tự nhủ: “chắc mình cũng không qua khỏi cái ngưỡng ấy. Thôi, vợ con làm gì, thêm khổ cho người ta !” (vậy mà ông sống ngót…90 tuổi mới lạ!).
Sau hơn 60 năm làm việc cho các đoàn sân khấu, ông về nương thân ở Khu dưỡng lão nghệ sĩ (quận 8), viết bộ sách Giải mã Hán – Việt – Nôm theo phương pháp họa tự và sáng tác thơ. Việc nghiên cứu chữ Hán cũng là một đam mê song song với hội họa. Ông kể rằng, dạo còn phiêu bạt ở tuổi thanh niên, ông được học chữ Hán với một ông chủ tiệm thuốc bắc người Hoa ở Vũng Tàu. Bộ sách Giải mã Hán – Việt – Nôm theo phương pháp họa tự đã được NXB Trẻ in tập 1 (tập 2 đang dang dở thì ông mất).
Còn về thơ, thú thực chơi với ông cũng khá lâu, cũng từng nhiều lần ngồi nghe ông nói chuyện nhưng tuyệt nhiên tôi cũng như bạn bè quanh ông chưa bao giờ nghe ông “đụng chạm” gì tới thơ văn cả. Vậy mà mới đây nhà thơ Trương Đạm Thủy tiết lộ (trích: “Mới đây gặp lại anh với nụ cười móm xọm của tuổi U.80, anh trao tôi món quà là kết quả của những đêm già khó ngủ. Đó là tác phẩm tập photo bản thảo thơ 7 cuốn gồm: 1/Ngũ Âm, 2/Thơ Đường Phố, 3/Túy thi,, 4/Tình thi, 5/Lãng Thi, 6/ Thủy mặc thi, 7/Điền dã thi..; Chưa bao giờ tôi nghĩ Hoài Nam lại có một tâm hồn thơ nồng nàn đến vậy. Anh lại còn tỏ ra có tay nghề với một dòng thơ vừa hiện đại lại vừa u hoài cổ phong như trong Đêm:
Sao đêm trùm chăn lạnh
Lã đời nhẹ ý xanh
Tơ thơ mơ bỡ ngỡ
Vương vương lệ đầu cành…
Trong tập ”Thơ Đường phố” Hoài Nam tự nhận mình như con ngựa hoang dù đã đi gần hết cả đời người mà vẫn hoài lang thang đơn độc. Anh viết :
Anh là con ngựa hoang
Nên không có đồng cỏ
Em là con yến nhỏ
Chỉ hát trong lồng son
Ngựa hoang không biết hát
Chỉ thống hí lê thê
Một dòng đời ê chề
Nên ngôn ngữ xa anh… (hết trích).
Vậy đó, con ngựa già giờ đã khuỵu vó. Xin cuộc đời là đồng cỏ thanh bình để ông tìm về an nghỉ. Cuộc sống riêng của ông dẫu có cô đơn nhưng ông vẫn hiện diện một cách thật nồng ấm trong trái tim bạn bè và người mộ điệu…
Xin vĩnh biệt ông: Người họa sĩ tiên phong của ngành thiết kế mỹ thuật sân khấu cải lương miền Nam và đã cống hiến trọn vẹn – suốt đời cho đam mê nghệ thuật này.
Hà Đình Nguyên
Một số tranh của họa sĩ Tô Hoài Nam:
Cúc trắng
Cúc và nho
Cúc và táo
Đường hoa
Cuối xuân
Mùa hè
Cuối hè
Cuối thu
Lập đông
Giữa mùa đông
Nắng chiều trên đồng vàng
Bóng núi
Núi
Sườn núi
Xa lộ qua núi
Vô biên
Xưa và nay
Tâm sự của một người yêu Sài Gòn đến bất chấp
Tâm sự của một người yêu Sài Gòn đến bất chấp
“Vọng Sài Gòn” là một tâm sự ngút lòng của một người yêu Sài Gòn đến bất chấp. Nhưng Trác Thúy Miêu đâu chỉ yêu, mà muốn kêu gọi tình yêu ấy từ những người trẻ.
Trác Thúy Miêu (tên thật Vũ Hoài Phương) vốn được biết đến như một người có tính cách độc đáo. Cô không chỉ là nhà báo với ngòi bút sắc sảo, một MC có phong cách đặc trưng không lẫn vào đâu, mà còn là một thị dân yêu nồng nhiệt, yêu dữ dội đến bất chấp thành phố mình đang sinh sống. Tình yêu cuồng nhiệt ấy đã được cô gửi gắm vào trong tập tản văn vừa mới xuất bản Vọng Sài Gòn, như là một cách giữ gìn ký ức cho bản thân và những người đồng điệu.
Nhà báo, MC Trác Thúy Miêu. Nguồn: Facebook nhân vật.
Vọng Sài Gòn (sách do NXB Hội Nhà văn và Công ty Văn hóa & Truyền thông Nhã Nam liên kết xuất bản và phát hành) là đứa con đầu lòng của Trác Thúy Miêu. Cuốn sách tập hợp nhiều bài viết trong nhiều năm về miền đất mà cô đã gắn bó suốt hơn 40 năm.
Với Vọng Sài Gòn, Trác Thúy Miêu muốn cho thấy đằng sau sự hào nhoáng của giải trí truyền hình là một Trác Thúy Miêu với sứ mệnh của người cầm bút. Và ở trong địa hạt này, cô tiếp tục sự bền bỉ của mình trong việc gìn giữ Sài Gòn (cô đã làm việc này trong nhiều hoạt động khác nhau) theo cách rất riêng, như cách cô định tính cho Sài Gòn từ chính nhân xưng của nó. Mỗi miền đất hay mỗi con người, nếu mà thuộc tính đặc thù quá đặc biệt thì danh từ gọi miền đất hay con người ấy một ngày nào đó sẽ trở thành tính từ. Sài Gòn có những thuộc tính đủ để gọi một ai đó, một hành xử nào đó, một văn hóa sống “rất Sài Gòn”.
Cái riêng của Trác Thúy Miêu trong Vọng Sài Gòn còn là sự đột phá trong phong cách thể hiện, sự táo bạo trong các ý tưởng, sự ngồn ngộn của chữ nghĩa… Chẳng phải ngẫu nhiên mà trong chia sẻ về tập tản văn này (in cuối cuốn sách), MC, diễn viên Liêu Hà Trinh đưa ra nhận xét: “Nếu bạn đang tìm một nàng thơ áo trắng, đạp xe tới Dinh Độc lập trên con đường Trưng Vương đầy lá me, hay những hợp xướng ngợi ca cho sức sống trai trẻ tráng kiến của 300 năm thành phố, rất tiếc phải nói bạn tìm nhầm chỗ.
Bìa cuốn sách Vọng Sài Gòn
Miêu ví Sài Gòn như một ả đàn bà vừa hồn nhiên vừa giảo hoạt. Phép so sánh đó có phần phiến diện đó hy vọng không làm người đọc khó chịu. Bản thân tác giả cũng đóng vai xuất sắc vào thân phận đào hoa của một ả mỹ nhân “dễ bỏ khó quên” với những dẫn chứng hùng hồn chắc nịch khiến người ta khó nghĩ khác”.
Là một người có óc quan sát, trí nhớ đặc biệt tốt, Trác Thúy Miêu đã dùng ký ức của mình để chụp lại những hình ảnh đắt giá về Sài Gòn. Ở đó, cô đưa người đọc về những kỷ niệm và tâm thức Sài Gòn kiểu cũ, Sài Gòn tập làm quen với một giai kỳ mới trong thập niên 1980 với cái sức sống vừa trẻ trung, vừa hoài cổ, Sài Gòn trong vô số những cuộc đại phẫu, tiểu phẫu dọc ngang trong một vài thập niên trở lại đây, hay Sài Gòn hiện tại, một thành phố năng động đang chuyển mình, phát triển từng ngày…
Có rất nhiều thứ được Trác Thúy Miêu mô tả trong Vọng Sài Gòn, bằng một thứ ngôn ngữ trau chuốt, đôi khi cường điệu nhưng rất hợp lý. Đó là những đường nét bút vẽ tranh truyện của 02 họa sĩ Văn Minh và Đức Lâm trên báo Khăn Quàng Đỏ trong những năm 1980; sự kết thúc thói quen đọc truyện diễm tình của chị em phụ nữ bình dân có từ thập niên 1960 khi video phim bộ và truyền hình nội hóa xuất hiện; mùi hương mang đặc tính của Sài Gòn và loại nước hoa Oriental mang phong vị phương Đông từ thập niên 1920, ảnh hưởng đối với Sài Gòn đến mãi về sau này.
Chợ Hoa Nguyễn Huệ nhìn từ trên cao, 1990. Ảnh: Doi Kuro
Đó là một thành phố khi không còn mang tên Sài Gòn; những cư dân xuất hiện ở thành phố qua quan sát của Trác Thúy Miêu ở tuổi mới lớn, đầu thập niên 1990 mà cô gọi nôm na “Kỷ phục sinh – đánh dấu thời kỳ Việt Nam bắt đầu hé vào cuộc mở cửa khá tưng bừng, sau hơn một thập niên khóa kín”; cuộc hồi hương của những cựu thị dân đã nghiễm nhiên trở thành những kiều bào yêu nước, là màn khai sinh ổ ạt của những huyền thoại thời vụ như taxi vàng, điện thoại công cộng; sự tàn lụi của sân khấu cải lương; món nghêu phô mai đốt lò; tính hay chuyện của dân Sài Gòn…
Đó là câu chuyện nền văn minh mì Tàu Chợ Lớn, nghiệp vận của Thiên Hương, huyền thoại Miliket, Vị Hương giấy kraft; những gánh nhạc rong góp phần lưu truyền dòng nhạc đặc thù của Sài Gòn – dòng nhạc vàng, hay bolero; giọng đàn tình tứ vô ngôn của ghi ta vô thường; chiếc áo dài Sài Gòn đúng kiểu, mang nét bản địa đặc thù của Sài Gòn, đôi tà áo đặc biệt một thời đã làm nên cốt cách xứ ngọc Viễn Đông…
Đó là từ kịch nói đến phim trường, phòng trà đến vũ trường, kỷ niệm 30/4 cho đến lễ Giáng sinh; thương xá Tax bị phá bỏ đến hàng cây đường Tôn Đức Thắng bị đốn gục… Cứ thế, theo dòng cảm xúc với những ký ức vọng về, Trác Thúy Miêu kể tỉ mỉ về những điều mình quan sát thấy, những cảm nhận hết sức tinh tế về Sài Gòn như một kẻ si tình.
Có thể nói, Vọng Sài Gòn là một tâm sự ngút lòng của một người yêu Sài Gòn đến bất chấp. Nhưng Trác Thúy Miêu đâu chỉ yêu, mà muốn kêu gọi tình yêu ấy từ những người trẻ, như người đi truyền giáo, đạo của người yêu Sài Gòn. Cô nhắn họ hãy “Yêu thương mê đắm và hồn nhiên. Yêu không cầu hơn thua cao thấp, yêu bất luận xuất xứ nhân thân. Yêu khỏi ai hô hào thi đua phấn đấu”.
Chuyện về nhà văn Sơn Nam và nhà thơ Nguyễn Bính
Chuyện về nhà văn Sơn Nam và nhà thơ Nguyễn Bính
VHSG– Những năm sáu mươi của thế kỷ 20, do làm cùng một ban của cơ quan báo chí nọ nên tôi có quen anh, sau đó chúng tôi thành thân nhau, và khi biết anh hơn tôi mấy tuổi, tôi nói với anh xin kết nghĩa anh em. Anh bằng lòng ngay. Rồi một hôm, nhân tôi tìm được một cuốn truyện ngắn in đã lâu, tác giả là nhà văn Sơn Nam, tôi đọc một mạch, sau một ngày hết veo hơn ba trăm trang.
Nhà văn Sơn Nam
Cũng bởi biết tôi đọc cuốn sách của tác giả Sơn Nam, anh nói nhỏ: “Để lúc nào mình kể về nhà văn Sơn Nam cho mà nghe. Tác giả ấy mình cũng rất yêu; và nữa, mình với anh ấy cũng là chỗ bạn thân như mình với cậu vậy”. Giờ, tôi xin nói vài nhời nữa về người anh mà tôi kết nghĩa: Tên anh là Huỳnh Minh Nhựt, cháu ruột của cụ Huỳnh Tấn Phát (Thủ tướng Chính phủ lâm thời của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam).
Anh Nhựt là dân miền Nam, tập kết ra Bắc. Những năm kháng Pháp, anh Nhựt công tác ở R. trong cơ quan thuộc Bộ tư lệnh miền của đồng chí Lê Duẩn. Anh Nhựt được phân công làm về báo chí. Dưới đây tôi xin được chép lại lời anh Huỳnh Minh Nhựt kể về nhà văn Sơn Nam:
“Có thể nói thế này về một đặc điểm của anh Ba Duẩn, anh rất mê đọc sách, nhất là các sách về triết học và văn học. Và nhà văn miền Nam mà anh Ba Duẩn rất quí trọng và thân tình là nhà văn Sơn Nam. Tất cả các truyện ngắn, các thể loại văn xuôi do nhà văn Sơn Nam viết thì đều chép ra một bản để dành đưa cho anh Ba Duẩn đọc.
Đấy là chưa kể đến chuyện cứ mỗi lần Sơn Nam vào thăm anh Ba Duẩn, theo nguyện vọng của anh Ba, nhà văn Sơn Nam đều đọc để anh Ba nghe. Nhà văn Sơn Nam có bản tính là bất cứ truyện ngắn hay thể loại văn xuôi nào, do mình viết ra, anh ấy đều thuộc lòng, nên cứ vậy nhà văn đọc ra để anh Ba thưởng thức.
Thế rồi, những ngày kháng chiến chống Pháp, nhà văn Sơn Nam từ R. là rừng miền Tây Nam Bộ, viết ra bao nhiêu thể loại văn xuôi và truyện ngắn, thì ông ấy đều tìm cách gửi về Sài Gòn cho một nhà xuất bản in. In xong, họ gửi ra chiến khu cho tác giả độ vài chục cuốn sách, còn đâu thì họ bán ở Sài Gòn, và bán cứ hết vèo vèo. Sách của anh ấy rất được độc giả Sài Gòn ưa chuộng.
Nhận được sách biếu, việc đầu tiên là anh ấy đến tôi, rồi vào gặp anh Ba Duẩn để tặng sách. Vậy là đêm ấy, mình chuẩn bị một chiếc măng xông ngon lành, để thắp cho anh Ba Duẩn đọc tập sách mới in của nhà văn Sơn Nam. Mỗi khi anh Ba thức đêm đọc, thì mình làm một việc là đúng 23 giờ đêm vào nhắc anh Ba giờ giấc, và báo cáo anh Ba lịch họp và làm việc ngày mai. Nhưng rất lạ nhé.
Nhà thơ Nguyễn Bính – ký họa của họa sĩ Tạ Tỵ
Lần nào cũng vậy, anh Ba đồng ý với sự nhắc nhở của mình, nhưng vẫn đọc, có đêm tới sáng luôn. Vậy mà, sáng hôm sau anh vẫn rất tỉnh táo vào điều khiển một cuộc họp, hay làm việc với các ban, ngành. Khi anh Ba đọc xong tập văn xuôi của Sơn Nam thì thể nào hai người sau đó cũng có một cuộc trò chuyện, mà tiếng cười hoan hỉ của họ vui râm ran.
Đến ngày cơ quan Bộ tư lệnh chuẩn bị tập kết ra Bắc, anh Ba Duẩn bảo mình đi gọi nhà văn Sơn Nam đến, và chuẩn bị mọi thủ tục để mời Sơn Nam cùng tập kết ra miền Bắc. Anh Ba nói: “Ra ngoài đó Trung ương nuôi cho nhà văn Sơn Nam sáng tác về Nam Bộ, về miền Tây Nam Bộ, để đồng bào miền Bắc có sách đọc, giàu có thêm vốn hiểu biết về miền Nam”.
Mình đi mời nhà văn Sơn Nam vào gặp anh Ba. Ấy vậy mà rồi anh Ba Duẩn nói thế nào, nhà văn Sơn Nam cũng nhất quyết không đi. Nhà văn nói tha thiết: “Anh Ba ơi, em là con cá mà miền Tây này là nước, là nước anh Ba ơi. Không lẽ anh vớt cá lên khỏi nước sao. Em ở lại mà, dẫu ở lại thì em vẫn là người của cách mạng, của anh Ba chứ”. Anh Ba Duẩn nghe thế, đành phải đồng ý và ngậm ngùi nói: “Em mà ở lại thì ta nhớ em đến chết mất”. Nhà văn Sơn Nam cũng nói: “Thế anh tưởng, em không nhớ anh sao. Anh Ba và các anh đi rồi, em chỉ ở lại đây, và em viết tiếp, rồi khi có người ra ngoài đó, em gửi truyện rồi văn xuôi của em ra biếu anh”.
Còn dưới đây là câu chuyện nữa của một anh từ chỗ nhà văn Sơn Nam toạ lạc, khi thời Diệm Thiệu, anh ấy ra miền Bắc có việc báo cáo với Trung ương, anh ấy đã kể lại như sau: Nhà văn Sơn Nam mở một ngôi trường nhỏ, rất nhỏ, chỉ có một gian rộng chừng hai chục mét vuông thôi, và dạy đâu chừng hơn một chục trẻ nhỏ. Ngoài cửa ra vào, gần sát mái lá có biển treo đề mấy chữ: “Học đường Sót Nót”. Bọn dân vệ và lính nguỵ đi càn qua chỉ nhòm thấy có trẻ con ngồi học, và lắng nghe thầy Sơn Nam giảng bài, hoặc nắn nót viết chữ trên bảng đen, để các em ở dưới cắm cúi viết vào vở học. Cán bộ ta nằm vùng ở đó, có người ngước nhìn hàng chữ: “Học đường Sót Nót” thì hỏi: “Nó là cái gì bay ơi. Là tên một loài cây ở Bời Lời rừng Cà Mâu à?” thì nhà văn Sơn Nam cười cười nói nhỏ: “Đúng, tên của loài cây như anh nói đó, và cũng là Học đường Sơn Nam…”.
Người kia gật gù có vẻ khoái trí, nhưng vẫn thắc mắc nói: “Sao không viết thẳng ra, mà còn vòng vo Sót Nót# (#Sót Nót: gốc chữ của tiếng Anh South và North nghĩa Nam Bắc. Đây là nhà văn Sơn Nam viết theo đúng với giọng nói nông thôn của người miền Tây Nam Bộ)”. Nhà văn Sơn Nam mới ghé sát tai người kia tiếp, nhỏ giọng: “Nó nghĩa là Nam Bắc là một. Hiểu rồi chứ?”. Người kia khoái trí quá vỗ tay ran và tiếp: “Biết ngay mà, ông vốn là người thâm thúy và luôn thích đùa. Nhớ anh Ba Duẩn nhiều hở?”. “Nhớ lắm!”, Sơn Nam nói.
Anh Huỳnh Minh Nhựt kể tiếp: “Có một nhà thơ nữa mà anh Ba Duẩn vô cùng yêu thích thơ của anh ấy, đó là nhà thơ Nguyễn Bính. Chính anh Ba Duẩn bảo mình nhiều lần là phải thuyết phục bằng được nhà thơ Nguyễn Bính nhận lời đi tập kết. Hồi ở R. anh Ba Duẩn cứ hôm nào thưa việc, lại bảo mình đưa Nguyễn Bính vào chơi với anh Ba, đọc thơ cho anh ấy nghe.
Anh Ba Duẩn có nói: “Đọc thơ của Nguyễn Bính càng thêm yêu cái làng quê của đồng bằng sông Hồng”. Khi anh Ba Duẩn biết nhà thơ Nguyễn Bính phổ thơ toàn bộ Bộ kinh của đạo Hoà Hảo của ông giáo trưởng Huỳnh Phú Sổ thì tấm tắc khen mãi. Anh Ba Duẩn bảo với mình rằng cách nay, năm ngoái anh đã đọc toàn bộ kinh của đạo Hoà Hảo, và thấy kỳ lạ là sao lại có thể giống giọng thơ của miền Bắc đến thế, thì hoá ra là như vậy.
Cái hôm nhà thơ Nguyễn Bính vào trò chuyện với anh Ba Duẩn, anh Ba hỏi nhà thơ Nguyễn Bính về chuyện đã phổ thơ vào Bộ kinh của đạo Hoà Hảo, nghe xong nhà thơ nhận ngay, và hỏi anh Ba: “Anh Ba có muốn nghe lại toàn bộ kinh của đạo Hoà Hảo mà em phổ thành thơ không?” Anh Ba Duẩn đáp ngay: “Có có! Bính đọc đi”. Nhà thơ Nguyễn Bính tiếp: “Bộ kinh đạo Hoà Hảo em phổ thành thơ, ông giáo trưởng Huỳnh Phú Sổ rất mê. Bộ kinh có 3.202 câu thôi mà, em đọc nhé”.
Vậy là nhà thơ Nguyễn Bính cứ thế tuôn ra như suối chảy. Đến lúc nhà thơ Nguyễn Bính tạm ngừng nghỉ, để nhấp chén trà cho trong giọng, thì anh Ba Duẩn thong thả: “Em phổ thơ rất hay và có ý nghĩa lắm. Chúng ta, những người làm cách mạng vì dân tộc, vì đất nước, thì càng phải am hiểu một cách sâu sắc những câu kinh của đạo như thế này. Đây cũng chính là tâm ý, là nguyện vọng tha thiết của một bộ phận nhân dân mình đấy chứ. Nào, em đọc tiếp đi”.
Anh Ba Duẩn sửa lại tư thế ngồi, và trang trọng nghe nhà thơ Nguyễn Bính đọc ngân nga cho đến câu kinh thứ 3.202, là toàn bộ Bộ kinh của đạo Hoà Hảo.
BÙI BÌNH THI
Theo ANTGCT
Nhà văn Nguyễn Thị Vinh (Tự Lực Văn Đoàn) vừa qua đời
Nhà văn Nguyễn Thị Vinh… nhân vật cuối cùng của Tự Lực Văn Đoàn vừa qua đời
Nhà văn Nguyễn Thị Vinh… nhân vật cuối cùng của Tự Lực Văn Đoàn vừa qua đời ngày 8/1/2020 tại Na Uy, hưởng thọ 97 tuổi…
Hồi nhỏ, Hà Đình Nguyên đã từng được đọc (học) văn của bà từ những bài trích đăng tác phẩm “Hai chị em”, “Thương yêu” trong sách giáo khoa… Càng ngưỡng mộ bà hơn khi biết bà (và cô con gái 15 tuổi) đã thức trắng đêm bên thi thể nhà văn Nhất Linh tại nhà xác Nhà thương Grall trong đêm 7/7/1963…
Nguyễn Thị Vinh và con gái Trương Kim Anh chụp ở Hà Nội 1950.
Tìm những tư liệu về bà, thấy ngày xưa bà là một phụ nữ hết sức xinh đẹp và tài năng, văn của bà ấm áp, thương yêu…
Xin trích đăng đôi dòng về thân thế của bà gắn liền với Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn.
Bà Nguyễn Thị Vinh, 1 trong ba thành viên cuối cùng của Tự Lực Văn Đoàn.
Năm 1933 Tự Lực Văn Đoàn chính thức thành lập gồm có: Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Khái Hưng (Trần Khánh Giư), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ) về sau thêm Xuân Diệu, Trần Tiêu, và còn một số nhà văn cộng tác chặt chẽ với văn đoàn này là: Trọng Lang, Huy Cận, Thanh Tịnh, Đoàn Phú Tứ… Bà Nguyễn Thị Vinh là 1 trong ba thành viên cuối cùng của Tự Lực Văn Đoàn.
Bà Nguyễn Thị Vinh sinh năm 1924 tại Hà Nội. Quê nội: làng Thịnh Đức thượng Hà Đông. Quê ngoại: làng Vân Hoàng, Hà Đông. Đã xuất bản nhiều tác phẩm tiêu biểu, gồm truyện ngắn, truyện dài, thơ và tùy bút…
Trước năm 1975 bà giữ chức Chủ bút và Chủ nhiệm 2 tạp chí văn nghệ: Tân Phong và Đông Phương. Bà cũng là thành viên của Hội đồng Giám khảo Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc VNCH. Sau 1975, bà sống tại Na Uy và tiếp tục hoạt động văn học trong vai trò Chủ nhiệm tạp chí văn nghệ Hương Xa. Và là thành viên trong nhóm chủ biên nhà xuất bản Anh Em.
Sau đây là phần nói chuyện của Mặc Lâm (Đài RFA) với bà:
Mặc Lâm:Thưa bà, xin bà cho biết cơ duyên nào đưa tới việc bà gia nhập Tự Lực Văn Đoàn?
Bà Nguyễn Thị Vinh: Ba thành viên lớp sau (hay đúng hơn, phải gọi là ba thành viên dự bị) của Tự lực Văn đoàn, gồm nhà văn Duy Lam (cháu gọi Nhất Linh bằng cậu ruột), nhà văn Tường Hùng và tôi đều do nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam lựa chọn, tại Sài Gòn vào khoảng đầu thập niên 1950.
Văn bản với bút tích của nhà văn Nhất Linh hiện do tác giả Nguyễn Tường Thiết, con trai út của nhà văn Nhất Linh lưu giữ. Trước đó, trong một bài thơ mang tên Tự Lực, Nhất Linh viết vào lúc 2 giờ sáng Mùng Một Tết năm Quý Tỵ (nhằm ngày 14 tháng 2 năm 1953), ông đã ghi:
Tự Lực vườn văn mới trội tên Bỗng dưng thời thế đảo huyên thiên Thương dăm lá cũ vừa rơi xuống Mừng mấy mầm tươi vụt nhú lên Mạch cũ, nhựa non rồn rập chảy Vườn xưa, hoa mới điểm tô thêm Người qua, sách mọt, đời thay đổi Tự Lực, danh chung, tiếng vẫn truyền.
Mặc Lâm: Xin cho biết về tác phẩm đầu tay của bà cũng như tác phẩm mới đây nhất.
Bà Nguyễn Thị Vinh: Hai Chị Em, Truyện ngắn, NXB Phượng Giang, Việt Nam Sài Gòn 1953. Cỏ Bồng Lìa Gốc, Tùy bút /Tâm cảm, NXB Anh Em, Hoa Kỳ San José 2005.
Mặc Lâm:Tự Lực Văn Đoàn đã được lịch sử xác nhận là một tổ chức có ảnh hưởng rất lớn đối với thanh niên và trí thức trong một khoảng thời gian dài. Xin bà cho biết chi tiết hơn về vấn đề này.
Bà Nguyễn Thị Vinh: Tự lực Văn đoàn gây ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài đối với đa số thanh niên nam, nữ thị dân theo Tây học và Chữ Quốc Ngữ, từ Bắc tới Nam, về các mặt tư tưởng, văn hóa, xã hội…
a/ Trước hết phải kể tới Tinh thần Tự lực từ cá nhân, gia đình cho tới xã hội. Không có Tinh thần Tự lực thì quốc gia không thể giành được nền độc lập toàn vẹn, đúng nghĩa.
Tự lực Văn đoàn gây ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài đối với đa số thanh niên nam, nữ thị dân theo Tây học và Chữ Quốc Ngữ, từ Bắc tới Nam, về các mặt tư tưởng, văn hóa, xã hội…
b/ Giữ gìn truyền thống mỹ tục. Đả phá mọi hủ tục. c/ Nêu cao tinh thần Khoa học Thực nghiệm. Bài trừ thói mê tín dị đoan. d/ Chống nạn mù chữ. Phổ biến và nghệ thuật hóa việc dùng Chữ Quốc Ngữ. e/ Hướng đến một cuộc cách mạng, tạm gọi là “Cách mạng Tư sản”, trên nền tảng Chủ nghĩa Tam Dân: “Dân tộc Độc lập, Dân quyền Tự do, Dân sinh Hạnh Phúc.”
Cho nên từ “ngôi nhà ánh sáng”, tới chiếc “áo dài LeMur”, “thơ Mới”, “tiểu thuyết luận đề”, “đảng Hưng Việt”, đến báo chí “Phong Hóa”, “Ngày Nay” và “Văn Hóa Ngày Nay”… Tranh khôi hài “Lý Toét, Xã Xệ”… đã làm nên tính cách Tự lực Văn đoàn, một văn đoàn vì Quốc gia Dân tộc.
Mặc Lâm:Những thành viên cuối cùng hiện còn sống ngày nay gồm những ai, có ai trong số họ vẫn còn theo đuổi văn chương nghệ thuật không?
Bà Nguyễn Thị Vinh: Hai nhà văn Duy Lam và Tường Hùng vẫn sáng tác, sinh hoạt văn nghệ. Phần tôi, hoạt động văn nghệ không nhân danh Tự lực Văn đoàn. Vì tự nghĩ: Tự lực Văn đoàn đã làm xong nhiệm vụ lịch sử kể từ sau sự tuẫn tiết của nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. (hết trích)
Đoạn dưới đây trích trong “Văn học miền Nam 53-75” của Nguyễn Văn Lục, phần “Nguyễn Thị Vinh”:
Trường hợp Nguyễn Thị Vinh. Bà Vinh đã từng sống bên cạnh Nhất Linh, khi ở bên Tàu — với tư cách là đồng chí, bạn văn ,người tình– hay là tất cả những thứ cộng lại?(*)
Khoảng thập niên 60, nhà văn Thế Phong – đã mượn một số chi tiết trong đời sống riêng tư của nữ văn sĩ Nguyễn Thị Vinh, viết thành “Truyện người của tình phụ“. Ban đầu in rô-nê-ô (Đại Nam Văn Hiến xuất bản cục, 1963) — sau cho đăng [dở dang] trên tập san Biệt chính/ Trung tâm huấn luyện Xây dựng nông thôn Vũng Tàu. (PAT). Năm 1964, nhà xuất bản Đại Nam Văn Hiến in thành sách (bìa/ảnh của Nguyễn Cao Đàm. Sau 1975, nxb Đồng Nai (miền Nam) cấp phép tái bản, in chung trong ‘Cô gái Nghĩa Lộ’. (Bt)
Riêng Nguyễn Thị Vinh, trong trường hợp nào bà quen biết, [rồi] trở thành người của nhóm TLVĐ? Tôi [Nguyễn Văn Lục] chưa liên lạc trực tiếp được với bà Nguyễn Thị Vinh để hiểu rõ vấn đề này.
Nhưng chỉ biết 2 chị em Nguyễn Thị Vinh có mở một tiệm sách ở Hà Nội. Sau này bà Nguyễn Thị Vinh lấy Trương Bảo Sơn (một đảng viên VNQDĐ, còn là một dịch giả có tiếng).
Phải chăng, vì mối liên hệ đảng phái, Nguyễn Thị Vinh có nhiều dịp gần gũi với Nhất Linh? Nhất là, khi trôi giạt sang Tàu, Trương Bảo Sơn và vợ, [họa sĩ] Nguyễn Gia Trí và Nguyễn Tường Tam-Nhất Linh sống chung một nhà.
Nhưng mãi đến 1948, bà Nguyễn Thị Vinh, (cùng con gái 3 tuổi, [Trương Thị Kim Anh [1946 – ] từ Hà Nội sang sống với chồng, Trương Bảo Sơn. Có thể từ 1948, bà Nguyễn Thị Vinh mới được quen biết Nhất Linh? Cùng trong thời gian này, Nhất Linh đã khuyến khích Nguyễn Thị Vinh viết cuốn ‘Thương yêu’ và bà Linh Bảo [Võ Thị Diệu Viên 1926 – ] viết cuốn ‘Gió bấc’.
[Và cũng] có thể, có một mối tình tay 3, tay 4 không? Tôi [Nguyễn Văn Lục] tin là có — khi nhìn lại hình ảnh Nhất Linh ôm, ẵm, cưng chiều con gái Nguyễn Thị Vinh là Trương Kim Anh. …
Sau này, đọc hồi ký Nguyễn Thị Thế (em gái Nhất Linh, mẹ Duy Lam +Thế Uyên) có đoạn kể về Trương Kim Anh,
“Khi tôi giở chăn ra để được ngó mặt anh tôi, [thì] có cái sáo rơi xuống. Tôi lấy làm lạ, hỏi cháu Thoa, [thì] nó cho biết, có cô con gái nuôi của cậu cháu (Trương Kim Anh) tối qua đem sáo vào nhà xác, thổi suốt đêm cho [cậu cháu] nghe. Thổi xong, nó tặng luôn chiếc sáo; và, nói từ nay nó sẽ không còn thổi sáo cho ai nghe nữa đâu …” (trích’ Sđd – tr. 159).
Trương Kim Anh 15 tuổi, ảnh Mạnh Đan
Trong bài ‘Tưởng nhớ về Nhất Linh”, Trương Kim Anh viết,
“Sau một lúc, mẹ tôi bảo tôi lấy sáo trúc ra thổi một bản tiễn bác. Tôi gạt nước mắt, đưa ống sáo ngang miệng, chọn bản ‘Thiên Thai’ — bản mà bác thường bảo tôi thổi, mỗi lần bác đến nhà chúng tôi. Tiếng sáo u uẩn vang trong khu nhà xác, lạnh lẽo. Nhưng chỉ được nửa bản, tiếng sáo ngưng trong tiếng nấc nghẹn ngào, âm thanh như đọng lại trong không gian, tiễn đưa hương linh bác về nơi vĩnh cửu…” (trích Sđd).
Từ bức ảnh của Mạnh Đan chụp Kim Anh thổi sáo, nhà văn Nhất Linh đã vẽ bức tranh “Ngồi thổi sáo dưới gốc thông” ký tặng Kim Anh.
Trong mục ‘Lan hàm tiếu’, dành cho các thiếu nhi trên nguyệt san Văn hóa ngày nay, Nhất Linh đã không quên, cả người đọc cũng khó bỏ qua bóng dáng Nguyễn Thị Vinh, qua Trương Kim Anh. [Khi ấy] Trương Kim Anh 12 tuổi đã tập tành viết tác phẩm đầu tay ‘Ở vậy’, dưới sự hướng dẫn của ‘bác’ Nhất Linh. Người ở lại sau cùng trong đêm cuối cùng, trước khi Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam đi vào lòng đất, là bà Nguyễn Thị Vinh và cô con gái Trương Kim Anh.
Và, trước khi tuẫn tiết… người được Nhất Linh đến gặp lần cuối cùng [vẫn] là bà Nguyễn Thị Vinh. — Trương Kim Anh kể,
“… Mãi sau này tôi mới biết chuyện quan trọng đó là, ‘bác [Nguyễn Tường] Tam nhận được trát đòi ra hầu tòa, cùng với một bạn chiến đấu của bác, trong đó có ba tôi, “ông Trương bảo Sơn…”. Tôi hơi ngạc nhiên về chú thích để trong ‘ngoặc kép’; [thì] khoảng một tiếng sau, từ trên cửa sổ nhà Thủy nhìn xuống nhà mình; tôi thấy bác Tam đang từ giã mẹ tôi …”
Đây là một ‘cử chỉ chỉ có [ở] người trong cuộc’ (chữ nghiêng: Bt), trong giờ phút giữa sống chết, bên bờ tử sinh, mới thấm thía hết được ý nghĩa cuộc gặp gỡ định mệnh này.
Cô Trương Kim Anh (con nuôi Nhất Linh) sau này lấy [thẩm phán quân sự] – nhà văn Dương Kiền. Theo các con, cháu của Nhất Linh; Duy Lam cho rằng nhiều phần Nhất Linh và Nguyễn Thị Vinh phải có cái gì với nhau. (chữ nghiêng: Bt). Nhưng nó cụ thể như thế nào thì không ai dám chắc? Nhưng, trong cách thức của bà Nguyễn Thị Vinh, khi nói về Nhất Linh; thì bà thường làm ra cái vẻ là người tình của Nhất Linh (chữ nghiêng: Bt) — hay là [bà Vinh] đóng kịch như thể,
[để] gây cho mọi người có cảm tưởng là giữa bà và Nhất Linh hẳn phải có một mối dây liên lạc mật thiết.
Nhưng hay nhất, vẫn là để Nguyễn Thị Vinh tỏ bày,
“Đời tôi từ bấy lâu nay, thời gian đi già nửa thế kỷ, đã từng ở những nơi nhà cao cửa rộng, đầy đủ tiện nghi; mà, sao tôi vẫn không thể quên được túp lều (trên núi) của chúng tôi. Chao ôi, mỗi khi tắm, tôi chưa thấy có một vòi hoa sen nước nào có thể so sánh được với dòng suối ngày ấy. Tôi biết kể sao cho hết nỗi vui thích của tôi mỗi khi ra suối tắm.” (trích Sđd- tr. 85- 86).
Khó quên là phải, làm sao quên được! Cá tính bà Nguyễn Thị Vinh, theo nhiều nhận xét của vài người quen biết bà trước đây; hoặc là, người trong gia đình Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam cho biết, [thì bà Nguyễn thị Vinh] là một người đàn bà đa tình và vô cùng lãng mạn (chữ nghiêng: Bt) — gần như không có một biên giới nào.
Chuyện Trương Bảo Sơn và Nguyễn Thị Vinh chia tay, thì cũng là chuyện đành phải như vậy. Sau khi Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam tự tử vào ngày 7-7- 1963 — bà Nguyễn thị Vinh vẫn thường [một mình] đi xe lam lên thăm mộ Nhất Linh ở Nghĩa trang Bắc việt ở Hạnh Thông Tây (quận Gò Vấp). — gần mộ nhà văn nổi tiếng miền Nam Hồ Biểu Chánh. Bà Nguyễn Thị Vinh thăm viếng mộ Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam, là đốt 4 điếu thuốc lá Bastos xanh, cắm vào 4 góc mộ, rồi mở 2 chai la-de 33, tưới lên phần mộ để tưởng nhớ Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam. …
[Rồi, họa sĩ trẻ tuổi Động Đình Hồ, tên thật là] Nguyễn hữu Nhật [1942- 201x) đã gặp bà Nguyễn Thị Vinh tại nhà nữ sĩ Tuệ Mai [Trần Thị Gia Minh, con cụ Á Nam-Trần Tuấn Khải].
[Có] một hôm, Nguyễn Hữu Nhật hẹn với bà Nguyễn Thị Vinh đi thăm mộ Nhất Linh (dù Nhật đã hứa hôn với một nữ sinh viên trường Luật, tên Bình [cháu họ thi sĩ Vũ hoàng Chương]). Vài tuần sau, 2 người đã kết thành đôi lứa, ông Nguyễn Hữu Nhật chính thức làm chồng bà Nguyễn Thị Vinh [1924- ].
Mối nhân duyên này đúng là duyên kỳ ngộ — và như có sự chứng giám của một người đã chết [Nguyễn Tường Tam-Nhất Linh].
Sự hiện diện của [nữ văn sĩ] Nguyễn Thị Vinh trong TLVĐ, hay là trong đời sống Nhất Linh-[Nguyễn tường Tam] chỉ là một. (chữ nghiêng). (hết trích)
Đọc đoạn (trích) cuối, tôi (Hà Đình Nguyên) không hiểu có chuyện bà Nguyễn Thị Vinh (sinh năm 1924) lại lấy anh họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật (sinh 1942) làm chồng như ông Nguyễn Văn Lục đã viết không?
Ngày đầu năm dương lịch (New Year 2014) vừa bước qua, chúng tôi bắt đầu chuẩn bị cho chuyến đi về thăm quê hương vào dịp Tết Giáp Ngọ 2014. Gia đình chúng tôi đã mua vé trước cả tháng, giá vé máy bay về VN vào dịp Tết hơi đắt, mỗi người phải trả 1,400 dollars (round trip) giá vé này bao gồm 5 năm Visa vào VN. Chuyến đi lần này gồm có vợ chồng tôi và cô con gái lớn Kim Khánh, ngoài ra còn có thêm hai cô em gái của tôi cùng về VN ăn Tết. Hai vợ chồng đã bàn thảo về hành lý mang theo, cũng như qùa cáp sẽ mua những gì để làm quà vào dịp tết, lúc đầu chúng tôi định mang theo hành lý cho gọn nhẹ, bởi vì chuyến đi này, chúng tôi sẽ đi theo Tour từ miền Nam ra miền Bắc, tour du lịch này chúng tôi đã (book) trước, sẽ đi gần như hết chiều dài của bờ biển VN, do đó hành lý cần phải gọn nhẹ, nhưng cuối cùng vẫn cồng kềnh, bao gồm hai vali lớn, và hai thùng giấy carton cở lớn, do tôi đóng gói, có làm thêm hai quai sách để dễ khiêng. Tôi đã cân đo hành lý trước khi đóng gói, cho đúng tiêu chuẩn quy định là 50 lb (khoảng 25 ký) cho một thùng hàng ký gửi. Mọi việc diễn tiến theo đúng trình tự của nó, rồi cũng đến ngày khởi hành ra phi trường San Fracisco, con trai tôi cháu Khoa và Jose, người bạn của cháu Kim, đã chuẩn bị hai xe van, đủ chỗ chở hành lý và mọi ngườn đến San Francisco air port. Trong lòng tôi tràn đầy một cảm giác, vừa (Exciting) phấn kích, vừa (nervous) bồn chồn, bởi vì đối với tôi đây là lần đầu tiên, sau 21 năm xa quê hương, trở về thăm lại VN, một thời gian quá dài, chắc chắn đã làm thay đổi rất nhiều, về cảnh vật và cả con người, dĩ nhiên tôi sẽ ngỡ ngàng và mất phương hướng khi đến Sài Gòn, rất khó để nhận ra nơi chốn cũ, riêng tâm trạng của con gái tôi thì không cần bàn đến, bởi vì cháu sẽ như một người Mỹ lần đầu tiên đến thăm vùng đất xa lạ VN. Mải suy nghĩ miên man, thì xe đã chạy vào cổng phi trường, cháu Khoa cho xe dừng lại ngay tấm bảng Eva airline, mọi người đem hành lý xuống và chất lên chiếc xe đẩy của phi trường. Chúng tôi xếp hàng theo đoàn người đến trước để chờ (check in) và gửi hành lý, nhờ chuẩn bị trước nên hành lý của chúng tôi đều đúng theo tiêu chuẩn quy định, sau khi nhận vé máy bay, chúng tôi mỗi người còn lại một vali nhỏ (carry on) lên máy bay, riêng tôi đeo một pack fact (kiểu như tây ba lô) vả đeo thêm một túi đựng máy hình Canon và máy quay phim (Sony full HD 1080P) loại nhỏ cầm theo trên tay rất gọn, trong suốt hành trình từ nam ra bắc, tôi đã xử dụng máy quay phim này để ghi lại những hình ảnh rất đẹp. Chúng tôi đi qua cổng an ninh phi trường, tất cả hành lý và con người đều phải đi qua máy scan, một chút phiền toái bắt buộc cho sự an toàn. Tôi quay người nhìn lại, và vẫy tay chào cháu Khoa, trong lúc cháu cũng đang vẫy tay chào chúng tôi. Đoàn người chúng tôi đi về phía phòng đợi, bây giời là 10:30 tối, sẽ còn hơn một giời nửa để ngồi chờ, tại nơi này có nhiều gian hàng bán đủ thứ, nếu mua sắm trong khu vực này sẽ được miển thuế, và mang lên máy bay thoải mái, cũng có một vài hành khách mua sắm thêm vào giờ chót.
Mọi người lần lượt lên máy bay, tiếp viên phi hành đa số là những cô gái rất trẻ đẹp người Đài Loan, họ rất nhã nhặn và lịch thiệp, có vài cô nói tiếng Việt rất thông thạo, có lẽ hãng Eva đã tuyển thêm nhân viên biết nói tiếng Việt để dễ giao dịch, vì họ thấy hành khách Việt nam rất đông. Sau khi đã ổn định chỗ ngồi, nhân viên phi hành hướng dẫn quy định trên phi cơ, bằng 3 ngôn ngữ, English, China và Việt Nam. Máy bay từ từ tiến ra phi đạo, và tăng tốc độ cất cánh rất êm, bỏ lại phía sau thành phố San Francisco lộng lẫy với ánh đèn ban đêm, một thành phố nổi tiếng nằm trên bờ Tây của vùng biển Thái Bình Dương. Máy bay đã bình phi trên một cao độ nhất định, tôi nhìn trên màn hình TV nhỏ, gắn trên lưng ghế phía trước mặt của mỗi người, đường bay đang hiển thị, cho chúng ta biết đầy đủ chi tiết của chuyến bay, như một Pilot đang điều kiển máy bay, hành khách có thể theo dõi, độ cao, tốc độ bay, hướng bay, vị trí, và thời tiết bên ngoài, cùng với giờ hiện tại và giờ dự trù đên nơi. Trong thời gian này các cô tiếp viên đang phục vụ bữa ăn đầu tiên trên máy bay, thường là thực đơn có hai loại cho quý khách lựa trọn, ví dụ như thịt gà hay thịt heo, nước trà hay cà phê, nước ngọt hay nước lọc. mỗi phần ăn đựng trong một cái khay nhựa, trên đó bao gồm đủ thứ rất tiện dụng.
Mọi hoạt động vẫn diễn tiến theo tuần tự trên máy bay, riêng tôi vẩn tó mò theo dõi về hành trình chuyến bay, con tầu đang lao về phía trước với một tốc độ chóng mặt 875 km/h, nhiệt độ bên ngoài là -56 độ C, với nhiệt độ này nếu ta đổ một ly nước ra ngoài, cả ly nước sẽ đóng đá ngay lật tức. Trên màn hình tôi thấy hiển thị một đường bay vòng theo hướng bắc cực, từ SF bay dọc theo bờ biển về hướng Seattle, Canada, vùng biển Alaska, bay dọc theo bờ biển nước Nga, đến Trung Hoa, đến nước Nhật rồi mới đến Taiwan, mặc dù là đường bay vòng nhưng con tầu vẫn nằm trên vùng bay quốc tế và trên bờ của Thái bình dương. Tôi cũng hơi thắc mắc, tại sao không bay thẳng từ SF ngang qua biển đông đến Taipei có phải là gần hơn không. Tôi tự trả lời có lẽ đây là quy định theo đường bay quôc tế, có thể đây là một giải pháp an toàn cho máy bay, bay theo đường viền của thềm lục địa, vì khi máy bay bị trục trặc, có thể đáp khẩn cấp tại một phi trường nào đó gần bờ nhất, đây cũng là suy nghĩ vớ vẩn của tôi mà thôi.
Hành trình của chuyến bay dài 14 tiếng, từ vùng tối của nửa vòng trái đất này, bay đến vùng sáng của nửa vòng trái đất bên kia nước Mỹ, tôi xem lại hành trình của chuyến bay trở về Mỹ, mới thấy được sự khác biệt lý thú này, Từ VN máy bay khởi hành lúc 12:30 pm (trưa ngày 18 tháng 2, 2014) xuống phi trường Taipei chuyển tiếp máy bay từ Taipie về đến phi trường San Farncisco lúc 2:50 pm (trưa ngày 18 tháng 2, 2014) Như vậy tính ra cùng trong một ngày 18 tháng 2, 2014, thời gian bay chỉ có 2 tiếng 10 phút là đến nơi, nhanh gấp trăm lần một phản lực cơ tối tân nhất thế giới. khi đi là ngày 18, về đến nơi cũng là ngày 18, tuy cùng một ngày, nhưng thật ra là hai ngày khác nhau của hai múi giờ, khác nhau trên trái đất, bởi vì chúng tôi đã có một hành trình đi ngược lại thời gian trong vòng 14 tiếng.
Tôi bắt đầu cảm thấy buồn ngủ, tôi nhắm mắt lại và cố gắng chập chờn trong giấc ngủ, nghẹo đầu nghẹo cổ, hết gật bên này lại gật bên kia, đôi lúc muốn duỗi thẳng đôi chân cho thoải mái một tí, thì bị kẹt cứng bởi hàng ghế phía trước, tôi cố tìm giấc ngủ một lúc nhưng không tài nào được, vậy mà tôi đã nghe, có người đã cất tiếng ngáy khò khò, có tiếng ngáy như đang kéo một hơi thuốc lào, một vài tiếng ho của các vị bô lão, thỉnh thoảng lại có người hơi khó chịu, vì phải đứng lên cho người ngồi bên trong đi tiểu, rồi lại phải đứng lên lần nữa cho họ trở về chỗ ng Tôi vẫn không ngủ được, hết xem phim lại nhìn vào màn hình theo dõi đường bay, cuối cùng trời cũng hừng sáng, ánh sáng ban mai chiếu xuyên qua khung cửa kính của thân máy bay, đem lại một ngày mới, cho những hoạt động rất quen thuộc của nhân viên phi hành đoàn, các cô tiếp viên lại bắt đầu phục vụ cho hành khách một bữa điểm tâm, với hương vị quen thuộc của một ly café sang, đã làm cho đầu óc thêm sảng khoái, với những ý nghĩ sắp về đến Sài gòn. Tiếp tục theo dõi hành trình chuyến bay trên màn hình, tôi thấy máy bay đang bay ngang qua Đại Hàn, một phần đất, có một đầu dính kết với thềm lục địa Trung Hoa, và một nửa chạy ra biển Thái bình dương, cái nửa dính liền với Trung Cộng, đang bị cai trỉ bởi bàn tay sắt máu của Cộng sản Bắc Hàn, dưới triều đại của Kim Jon Un một ông vua cộng sản, không ngồi trên ngai vàng như những vị vua của thời xa xưa, mà ngồi trên đầu trên cổ của nhân dân Bắc Hàn. Một nửa nằm trên biển thài bình dương, lại là một đất nước tự do, một Nam Hàn với nền kinh tế thịnh vượng và vững mạnh, ngang hàng với Nhât Bản.
Máy bay tiếp tục bay dọc theo chiều dài của những hòn đảo Nhật Bản, hường về Đài Loan, một đảo quốc nhỏ bé nhưng đủ sức ngăn chận sự xâm lấn của chủ nghĩa Cộng Sản. Từ cửa sổ của thân máy bay, tôi đã nhìn thấy Taiwan, trông như một củ khoai lang nhỏ bé, nằm bên ngoài cái đĩa bàn ăn thật lớn đó là Trung Cộng, đã nhiều lần Trung Quốc muốn gắp nốt củ khoai này nhưng không được, vậy mà đảng cộng sản VN sẵn sàng dân hiến quần dảo Hoàng Sa cho quan thầy Trung Cộng, để đổi lấy sự bảo vệ những chiếc ghế ngồi, của những ông trùm, trong bộ chính trị đảng cộng sản VN.
Máy bay từ từ hạ thấp độ cao, con tầu đảo một vòng trên bầu trời Taipei, tiếp viên hàng không liên tiếp nhắc nhở hành khách (seat bell), tắt những dụng cụ điện tử, máy bay chuẩn bị hạ cánh (landing), bánh xe máy bay vừa chạm mạnh trên bề mặt của phi đạo, con tầu hơi lắc mạnh một chút rồi giảm dần tốc độ, con tầu giờ đây như là một chuyến xe khổng lồ đang chạy về phía sân ga, trả hành khách và những hành lý cồng kềnh xuống sân ga, để rồi lại tiếp tục cho một hành trình mới vào ngày hôm sau.
Cuộc sống của những cánh chim sắt là như vậy, nó vẫn kiên nhẫn làm nhiệm vụ kết nối của hai nửa trái đất đến gần nhau hơn. Phi cơ trưởng đọc lời cám ơn và chúc khách hàng thượng lộ bình an. Tại phi trường Taipie, lúc này là 6:30 sáng ngày 19 tháng 2, đoàn người chúng tôi tiếp tục đi đến cổng số 5 (gate 5) nơi ngồi chờ đợi trong 3 tiếng để chuyển tiếp máy bay vế Sài gòn, tại đây có nhiều gian hàng để mua sắm và ăn uống, nhất là hệ thống WiFi để hành khách có thể kết nối vào mạng Internet, qua cell phone (I-4) chúng tôi đã liên lạc, nói chuyện trực tiếp và nhìn thấy nhau với con trai tại Mỹ, đúng là thời đại của tiện nghi (High technology). Đi bộ lên xuống theo hành lang mua sắm cho thư giãn, thời gian qua nhanh, chúng tôi lại tiếp tục xếp hàng lên máy bay chuyển tiếp về Sài Gòn, cũng vẫn là hãng hàng không Eva airline, lần này đường bay ngắn hơn, máy bay khởi hành lúc 9:10 am và đến Sài gòn lúc 11:30 am cùng ngày, ngồi hơn 2 tiếng trên máy bay, với một tâm trạng nôn nao, với bao nhiêu điều muốn biết về nơi chốn cũ, mặc dù tôi vẫn thường xuyên theo dõi, và đọc tin tức trên internet.
Máy bay hạ thấp dần cao độ, tiếp viên hàng không đã thông báo máy chuẫn bị hạ cánh, tôi nhìn qua khung cửa sồ, thành phố Sài gòn đang hiện ra, dòng sông sài gon như một con rắn uốn mình trên những thảo nguyên mầu xanh, những khu dân cư nằm rải rác bên bờ của dòng sông, độ cao xuống thấp hơn nữa, mặt đất như dâng cao lên, những con đường và những khu đô thị hiện rõ, làm sao tôi có thể biết nơi đấy là nơi nào, cho đến khi bánh xe máy bay chạm mạnh xuống phi đạo, tôi mới biết chắc chắn đây chính là phi trường Tân Sơn Nhất, vậy là chúng tôi đã về đến VN. Ra khỏi phi cơ, tất cả hành khách cùng đi đến khu vực nhận hành lý, lại một cảnh nhốn nháo chen lấn, đứng chung quanh vòng quay băng chuyền nơi hành lý chạy ra, ai cũng muốn nhận hành lý của mình càng sớm càng tốt, đại đa số vali đều mầu đen nằn sát nhau rất khó nhận biết cái nào của mình, đôi khi phải lật vali để nhận dạng, cuối cùng tôi cũng nhận lại đầy đủ hành lý, sau khi nhận hành lý xong, mọi người phải đi qua khu vực kiểm tra của hải quan VN. Đây mới là giai đoạn quan trọng nhất, trước khi ra khỏi phi trường, tôi đã nghe rất nhiều về những mẩu chuyện, liên quan đến hải quan phi trường, nếu hành khác muốn nhận được sự dễ dãi thì nên lì xì trước, cứ làm như vô tình kẹp vào passport 20 đô là êm chuyện, tôi cũng làm như vậy, vì không muốn phiền toái khai báo lung tung, lý do trong hành lý của tôi có vài chai rượu Martel, và máy móc như laptop, máy chụp hình máy quay phim, nếu họ muốn gây khó cho mình, họ có quyền yêu cầu mình mở ra kiểm tra và khai báo, cũng như xác nhận có mang vào thì phải mang ra, bởi vì những máy móc có giá trị cao. Chính vì nguồn lợi tiền lì xì, nên khi vừa đến khu vực máy scan, nhân viên hải quan đã ngoắc tay, mời chào mình đến máy scan của họ, vì tại đây có 3 line, họ không muốn nguồn thu nhập của mình kém hơn line bên kia, gần giống như cách mời gọi khách tại những gian hàng trong khu shopping. Nhò tiền lì xì mà hành lý của tôi đã chui qua máy scan quá nhanh, để rồi tôi bị thất lạc một vali hiệu Samsonice, đựng quần áo và những vật dụng linh tinh cần thiết cho chuyến đi.
Câu chuyện là như thế này, khi gia đình chúng tôi vừa đến khu vực máy scan, tôi như bị khựng lại vì tại đây có 3 line, chưa biết đến line nào thì có hai cô hải quan lên tiếng:
– Anh đẩy hành lý đến đây này.
Hàng bên cạnh một anh hải quan vửa nói vửa ngoắc tay:
– Đến đây này.
Tôi bị khựng lại vài giây rôi quyết địng trọn hướng gần nhất, là máy scan của 2 cô hải quan lên tiếng đầu tiên. Tôi đưa passport mà bên trong đã vô tình để quên 20 đô, rất nhanh cô hải quan lật ra và hơi gật đầu về phía cô bạn đứng đối diện, cô lên tiếng:
– Chào ông Lê, để hết hành lý lên trên này.
Tôi và bà xã, hai người khiêng hành lý đặt lên băng chuyền của máy scan, cứ thế hành lý chạy qua rất nhanh, chúng tôi đặt hết hành lý lên và vội vàng chạy qua bên kia nhận lại hành lý tirếp theo, tôi nghe bà xả tôi nói to lên:
– Có người lấy mất vali của mình rồi.
Bà xã tôi vừa nói vừa chạy theo ra cửa, tôi vội chạy theo và hỏi:
– Em thấy ai lấy.
– Em thấy chiếc xe vừa đẩy ra tức thì,
Bà xã tôi vừa trả lời vừa chỉ tay ra cổng. Tôi vội chạy theo, vửa ra khỏi cổng tôi đả khựng lại bởi một rừng người, đang nhốn nháo bao quanh khu vực, lối ra khỏi phi trường, chiếc xe đẩy hành lý chen khuất vào đám đông, tôi hoàn toàn chịu thua vì không cách gì chen qua đám đông, hơn nữa tôi còn hành lý bên trong chưa nhận hết, tôi vội quay lại khu vực máy scan, khiêng hết hành lý còn lại lên xe đẩy, chúng tôi là người cuối cùng trên chuyến bay lấy hành lý, tôi nhìn thấy một Vali mầu đen, cùng kích thước với vali đã bị mất của tôi, tôi và bà xã cùng có chung một ý nghĩ: Hay là họ đã lấy lộn vali của mình. Tôi quyết định thật nhanh, họ lấy vali của mình thì mình lấy vali của họ. Tôi khiêng cái vali rất nặng này, chất lên xe và đẩy ra khỏi cổng phi trường.
Bây giờ là 1:00 pm trưa ngày chủ nhật 19 tháng 2, chúng tôi đi qua một hành lang rất đông người, đang chen lấn sát hàng rào cản của an ninh phi trường, tiếng la hét gọi nhau, chen lẫn tiếng cười vui reo hò gặp thân nhân, một cảnh tượng thật hỗn độn nhốn nháo mà đã lâu lắm rồi tôi chưa gặp lại, sự ồn ào hỗn độn này, hòa cùng không khi nóng bức của một buổi trưa nắng nóng Sài gòn. Chúng tôi đứng cùng với đám đông nhốn nháo này để đợi xe đến đón về khách sạn, tôi vẫn hậm hực vì có người lấy lộn hành lý, với một tâm trạng rất buồn và chán nản. Tôi có một cảm nghĩ, hình như mình không có một cái duyên nào đó gần gũi với thành phố Sài Gòn, vừa đặt chân xuống vùng đất này, đã gặp ngay điều phiền toái, giờ đây tôi chỉ còn duy nhất một bộ quần áo mặc trên người, bởi vì tất cà đồ dùng cá nhân của tôi đã để hết vào vali bị mất. Tôi chợt hồi tưởng lại cách đây 21 năm về trước, cũng vào những ngày giáp Tết năm 1993, cả gia đình tôi đã đến nơi này để ra đi định cư tại Hoa Kỳ theo chương trình HO 20. Chúng tôi ra đi với hành lý rất gọn nhẹ là 2 vali quần áo, một của vợ chồng tôi và một của hai cháu nhỏ, hành lý của vật chất là như thế, nhưng hành lý của tâm hồn tôi lúc bấy giờ, là nỗi đau vừa mất quê hương, và chen lẫn một niềm vui, vì từ nay chúng ta đã thoát khỏi sự kềm tỏa của CS. Tôi còn nhớ hôm ấy khi vửa bước qua cổng hài quan VN, để lên máy bay, tôi đã hết hồn khi nghe một tiếng quát của một cô gái với giọng miền bắc rất nặng nề.
– Bỏ chứng minh nhân dân lại.
Tôi vội vàng đưa chứng minh nhân dân.
Cô ta quát
– Đưa đây
Ngay bên cạnh bàn làm việc của cô có một thùng rác nhỏ đề bên cạnh, có một số giấy tờ vứt bên trong, cô ta vứt chứng minh của tôi vào thùng rác và nói
– Bỏ nước ra đi còn giữ làm gì.
Tôi lặng lẽ cùng với gia đình đi lên máy bay, trên máy bay toàn là gia đình sĩ quan chế độ cũ, đi theo diện HO 20, chúng tôi nhìn nhau mỉm cười và nói nhỏ.
– Vẫn chưa thoát đâu vì đây là máy bay của hàng không Việt Nam air line, họ có thể lôi mình xuống máy bay bất cứ lúc nào.
Tất cả anh em chúng tôi ngồi im lặng, cho đến khi máy bay cất cánh và đáp xuống phi trường Hong kong. Chúng tôi ra khỏi máy bay air VN, lúc đó mọi người mới thở phào nhẹ nhõm, vì từ nay chúng ta đã thoát khỏi bàn tay sắt máu của cộng sản.
Vậy mà ngày hôm nay tôi lại trở về nơi này, để rồi ngay bây giờ tôi cũng chỉ còn một bộ quần áo mặc trên người, tôi tự hỏi điều gì đã lôi kéo những người Việt định cư ở nước ngoài trở về thăm lại VN, phải chăng đó là tình yêu quê hương, tình cảm thiêng liêng còn gắn bó nơi chôn nhau cắt rún, hay những tình cảm quyến luyến, của những người thân còn ở lại Việt Nam, rất nhiều người trở về quê hương vì, cha mẹ, anh chị em đang còn ở lại, do đó những ngày Têt, tất cả những Việt kiều ở khắp nơi trở về (ăn Tết) rất đông. Tôi nghe văng vẳng từ xa, âm thành của bài hát quê hương mà nhạc sĩ Giáp văn Thập đã viết:
“ Quê hương là chùm khế ngọt cho con trèo hái mỗi ngày… quê hương là bờ tre nhỏ Mẹ về nón lá nghiêng che…..”
Tôi về đến khách sạn Osca nằm ngay trên đường Nguyễn Huệ, nơi đang được thành phố ngăn lại để chuẩn bị tạo dáng cho đường hoa Nguyễn Huệ. Tôi trình bày với nhờ nhân viên khách sạn, về việc tôi bị mất hành lý, nhờ họ liên lạc với “văn phòng mất hành lý của phi trường”, tôi cho họ biết những chi tết, về chuyến bay và tên họ, cũng như số hành lý ký gửi. Nhờ họ liên lạc với phi trường, nhân viên khách sạn cho tôi biết, chú nhờ thì tụi con làm thôi, tuy nhiên để tìm lại hành lý thì rất khó. Tôi trả lời: chú cũng nghĩ vậy, nhưng dù sao có báo còn hơn không.
Nhân viên phục vụ đã mang hành lý của chúng tôi lên phòng. Ngay buổi chiều hôm ấy, tôi nhờ một người quen lái xe Honda, chở tôi lên phi trường, để trình bày việc mất hành lý, lúc ấy vào khoảng 3 giờ chiếu cùng ngày, có nghĩa là tôi mới ra khỏi phi trường hơn 2 tiếng, phi trường lúc này vẫn đông ngẹt người vì mới có thêm chuyến bay, đem Việt kiều về quê ăn tết. Tôi đi thẳng vào bên trong nơi có nhân viên an ninh đang đứng, tôi trình bày với họ là bị thất lạc hành lý, người ta lấy hành lý của tôi và tôi lấy hành lý của họ. Nhân viên an ninh này nói.
– Hành lý đâu đưa đây cho tôi.
– Sao tôi phải đưa hành lý cho anh, khi tôi chưa lấy lại hành lý của tôi, tôi trả lời.
– Anh cứ đưa cho tôi, khi nào thấy hành lý của anh, tôi sẽ đưa lại, anh ta nói thế.
Tôi trả lời.
– Không được, nếu tôi đưa cho anh, hành lý bị mất thì tôi đòi ai. Tôi vẫn giữ hành lý của người này và tôi sẽ để lại số phone và địa chỉ để liên lạc. Anh ta thấy tôi nói cứng quá nên quay sang hỏi tôi.
– Hộ chiếu đâu.
Tôi đưa cho anh xem USA Passport. Nhìn thất hộ chiếu Mỹ, anh ta hơi khựng lại, và anh ta nói với tôi.
– Anh đi vào trong kia mà trình báo.
Tôi đi thẳng váo bên trong khu vực hải quan, hỏi thăm về nơi báo mất hành lý, cuối cùng tôi cũng tìm đúng nơi. Tại phi trường luôn có một văn phòng để giải quyết, nhũng trường hợp hành lý bị thất lạc, tôi đã tiếp súc với một nhân viên rất lịch sự, người thanh niên này đã giúp tôi, ghi lại tất cả nhưng thông tin cần thiết đề liên lạc, anh ta còn nói với tôi.
– Chú hãy thử tìm trong đống hành lý này có cái nào của chú không.
Tôi nhìn thấy có khoảng trên 20 hành lý nằm ngổ ngang tại đây, tôi cố tìm xem cái nào hơi giống, tôi đều lật lên xem bảng tên, nhưng không có. Nhân viên ờ đây đưa cho tôi một tờ giấy báo mất và số phone để liên lạc, anh ta xin số phone của tôi. Tôi nói hiện nay tôi đang ở khách sạn Osca trên đường Nguyễn Huệ, tôi không có số phone riêng, tôi vừa đến VN hơn 3 tiếng. Tôi nói với anh ta là, cho tôi chạy ra ngoài xin số phone của anh bạn, có gì anh cứ liên lạc với người này thì tôi sẻ nhận được, thế là tôi phải chạy ra ngoài đám đông tìm anh bạn, sau khi ghi lại số phone. Tôi quay lại đi vào bên trong, khi ngang qua ngưới an ninh tôi gặp lần đầu, anh ta nhìn tôi và không cần hỏi passport. Sau này tôi mới biết những người đứng gác an ninh cổng ngoài, chỉ là những anh bảo vệ, nếu tôi đưa hành lý cho nhóm người này, thì chỉ còn nước (vác thang lên hỏi ông trời …) họ sẻ lấy mất ngay. Cũng nhờ tôi lanh trí và để lại số phone của anh bạn, mà qua ngày hôm sau tôi đã tìm lại được hành lý, qua hình thức trao đổi (như trao đổi tù binh).
Ngày hôm sau 20 tháng 2, như đã dự tính theo tour đã sắp xếp từ trước, sáng sớm xe và người hướng dẫn du lịch (tour guy) đã đến khách sạn, đưa gia đình chúng tôi đi du ngoạn miền Tây sông nước, bước lên xe tôi đã nhờ Hùng (tên của hướng dẫn viên) tôi nói
– Hùng cho chú đến một khu shopping nào thuận tiện nhất, đề mua bộ quần áo, vì hành lý của chú đã bị thất lạc.
– Con sẽ đưa bác đến một shopping tại Phú Lâm, vì xe mình cũng phải đi ngang qua nơi này, giờ này trong thành phố bị kẹt xe giữ lắm.
Hùng gọi tôi bằng bác xưng con, kể ra thì cũng đúng vì ba của Hùng còn ít tuổi hơn tôi.
Chiếc xe Van hiệu Hundai, tôi thấy người Việt tại Sài Gòn, đi xe Hundai rất nhiều, kề cả loại xe chở hành khách, xe chạy vòng trong thành phố, qua nhiếu con đường tôi không nhớ tên, xe chạy ngang qua một dòng sông khá đẹp, hai bên là hai bờ kè lót đá, chạy dọc theo là một thảm cỏ màu xanh, như một công viên nằm ven sông, tôi hỏi Hùng đây là đâu.
– Hùng trả lời. Đây là con sông Nhiêu Lộc.
Tôi chợt nhớ đến con sông (kinh nước đen) hôi thối ngày xưa, những khu nhà ổ chuột nằm chen lấn trên con kinh này, tất cả rác rưởi và mọi thứ chất thải đều đổ xuống dòng sông này, dòng sông đã trở thành một vũng bùn lầy nước đọng, nước sông trở nên đen thui, hôi thối vô cùng, không có một loài cá nào có thể sống được, nó đã thành nơi hội tụ của dòi bọ và ruồi muỗi, mùi hôi thối nồng nặc, dưới cái nắng như thiêu đốt. Tất cả cư dân sống nơi đây, trong những căn nhà lợp tôn siêu vẹo trên bờ sông này đã được giải tỏa. Thành phố đã cho nạo vét dòng sông để trả lại sự trong sạch cho môi trường, bây giờ dòng sông đã dần hồi sinh, bắt đầu có cá sinh sống. Đây là một việc làm rất đáng khen của chính quyền hiện tại, họ đã làm được rất nhiều việc mang lại tiện ích cho người dân, cái gí đúng thì phải thừa nhận là đúng.
Xe dừng lại trước một siêu thị nằm ngay ngã tư Phú Lâm, chúng tôi vào bên trong, tôi mua một bộ quần áo, và thêm quần đùi áo lót mặc tạm, mua thêm ít bánh kẹo và café đá mang đi. Chiếc xe bắt đầu chạy về vùng Đồng Tháp miền tây sông nước. Trên đường đi gần đến Vĩnh Long, thi tôi nhận được phone cho biết hành lý của tôi đã tìm lại được rồi, hiện đang nằm tại khách sạn.
Tôi hỏi đầu đuôi câu chuyện như thế nào, thì được biết như sau. Người lấy nhầm hành lý của tôi là một cô gái, sinh sống tại San Jose về VN ăn Tết, cô đi cùng một chuyến bay với gia đình tôi, khi xuống phi trường, cô đã nhờ xe của phi trường đưa về Long An, vì là xe của nhân viên phi trường, nên họ đã vào tận bên trong để lấy hành lý cho khách hàng, chính những người này đã lấy nhầm hành lý của tôi, vì hai vali đều mầu đen và cùng cỡ (same size). Qua hôm sau cô gái này mới mở hành lý ra xem, thì phát giác bị lấy lộn, cô này gọi phone lên phi trường thông báo. Tại đây nhân viên phòng hành lý, đã cho cố ấy số phone mà tôi đã để lại, cô ta đã gọi và liên lạc với bạn tôi, sau khi xác nhận lại, cô gái này đã đem hành lý của tôi, từ Long An lên Sai gon, và họ đã trao đổi tù binh cho nhau tại nhà người bạn của tôi. Tôi đã nhận ra một vài điểm thiếu xót trong chuyến đi này, để rồi hiểu biết thêm một vài kinh nghiệm cho lần sau, nếu có. Xin được chia sẻ với quý vị như sau
1- Trước khi đóng gói hành lý, nên cân trước ở nhà, mỗi thùng hàng chỉ được 50 lbs (khoảng 25 kg) nên cân yếu đi 2kg, vì bàn cân nơi phi trường, thường không đúng. Nhất là ờ VN, tất cả những sân bay, bàn cân đều bị khấu trừ 2kg. Một người quen làm cho một hãng hàng không tại VN, đã cho tôi biết điều này. Nếu mình cân đúng 25kg tại nhà, thì tại phi trường VN sẽ là 27kg. Mỗi ký lô dư ra sẽ bị tính tiền 15 đô cho một ký. Tôi ví dụ trong thùng này có vài cuộn giấy vệ sinh, trọng lương là 2kg, vậy thì bạn phải trả thêm 30 dollars cho những cuộn giấy vệ sinh này, bạn nghĩ có nên hay không, tốt nhất là bớt đi 2kg cho chắc ăn.
2- Tất cả hành lý nên có bảng tên ghi rõ tên họ, địa chỉ, Email và số phone. Địa chỉ email cũng rất quan trọng, vì khi bị thất lạc, người giữ hành lý của bạn, sẽ dễ liên lạc hơn. (dĩ nhiên đối với người ngay. Cũng như câu nói “Ổ khóa là để khóa người ngay”) Như trường hợp vali bị thất lạc của tôi, tôi chỉ ghi tên họ và địa chỉ, không ghi số phone và email, làm sao người ta có thể liên lạc với mình. Một điểm rất quan trọng nữa là, tất cả hành lý phải làm một dấu hiệu nhận dạng riêng, nên cột theo hành lý những mảnh vải, hay nilon với mầu sắc dễ nhìn nhất (xanh, đỏ, tím, vàng…). Để khi hành lý chạy ra theo băng chuyền, mình sẽ dễ nhận diện, bởi vì đa số vali đều mầu đen và hơi giống nhau rất khó nhận biết, tôi đã làm như vậy cho chuyến đi về lại Mỹ, nhờ thế từ xa tôi có thể nhận ra vali của mình.
3- Thêm một kinh nghiệm nữa cho quý vị nào về VN, mà ở khách sạn cũng như hay đi lại bằng xe Taxi. Phải đổi tiền Đô ra tiền VN đồng, khi đổi tiền, thường là họ đưa cho quý vị tờ 500 ngàn, như vậy 100 đô quý vị sẽ có 4 tờ 500 ngàn và 1 tờ 100 ngàn (100 đô tương đương 2 triệu 100 ngàn đồng việt nam). Quý vị nên đổi ra tiền lẻ, cần nhất là tờ 20 ngàn, 50 ngàn, 100 ngàn, quý vị nên nhớ là 1 dollars tương đương 21 ngàn tiền Việt. Số tiền lẻ này để làm tiền (tip), cho người phục vụ tại khách sạn, và tiền đi Taxi, (đa số taxi đều nói là không có tiền thối lại). Tại Sài Gòn hiện này có rất nhiều Taxi, hãng Taxi an toàn nhất là hãng Son. Những ngày đầu ở tại Việt Nam, tôi bị lẫn lộn vể tiền VN rất nhiều, nhất là 10 ngàn và tờ 100 ngàn, cũng như tờ 20 ngàn và tờ 200 ngàn, (sự lầm lẫn của tờ 20 ngàn và 200 ngàn, có nghĩa là sự lầm lẫn của 1 đô la và 10 đô la) tôi đã bị rồi.
4- Nên cẩn thận khi ăn uống, đừng coi thường cục nước đá lạnh, vì nguồn nước để làm ra nước đá rất bẩn, nếu không biết rõ nguồn gốc cục nước đá, thì nên uống nước ướp lạnh, cầm luôn chai nước mà uống. vấn đề rau sống cũng thế, rất khó phân biệt. Mấy ngày đầu về VN, tôi đã bị đi nhanh về chậm, mất mấy ngày bận rộn với toilet. Chính vì điều này đã làm tôi phải hủy bỏ, chuyến đi Vũng Tầu về thăm lại nơi chốn cũ.
Sau 21 năm định cư tại Hoa Kỳ. Đây là lần đầu tiên tôi trở về VN ăn Tết năm Giáp Ngọ 2014, cũng là vui thăm gia đình và cho cháu về thăm bà ngoại, đã ngòai 90 tuổi.
Những nẻo đường du xuân Giáp Ngọ 2014.
Louis Tuấn Lê
Sài Gòn xưa dù có giàu nhưng vẫn giản dị và không phách lối
Người Sài Gòn xưa dù có giàu nhưng vẫn giản dị và không phách lối
Cũng như tôi, nhiều người bạn có một thắc mắc: Rất nhiều bài viết về cảnh cũ nhưng người xưa ở Sài Gòn, nhưng hiếm thấy có bài báo nào đề cập tới tính cách, lối sống ngày xưa.
Bởi vì cảnh trí có thể thay đổi nhưng những nhà khảo cổ, nghiên cứu có thể tìm lại, phục dựng lại được qua hình ảnh, hiện vật, tư liệu. Nhưng lối sống, tính cách con người thì có cách chi mà diễn tả lại được. Cũng phải tìm trong sách báo mà thôi.
Vả lại trong những bài viết của tác giả người Sài Gòn nói về tính cách của người Sài Gòn xưa cũng khó làm người đọc tin được. Sự hoài nghi này cũng hết sức dễ hiểu. Hình như cái gì quen quá cũng chẳng ai muốn viết. Báo chí muốn ăn khách thì phải lạ, có thông tin. Thời nay trong lúc tẩn mẩn, tò mò “tầm chương trích cú”, tôi lại tìm được bài của nhà văn Nguyễn Ngu Í phỏng vấn cụ Á Nam Trần Tuấn Khải – một nhà văn, nhà giáo vốn dòng Nho học.
Cụ Á Nam sinh năm 1895 tại Nam Định và vào Sài Gòn sinh sống từ năm 1955. Bài phỏng vấn này được trích trong quyển Sống và Viết của Nguyễn Ngu Í (trang 77, in năm 1966 tại Sài Gòn). Xin được trích nguyên đoạn cụ Á Nam có nhận xét về tính cách người Sài Gòn để bạn đọc tham khảo.
Nhà văn, nhà giáo Á Nam Trần Tuấn Khải.
. Nguyễn Ngu Í hỏi: Dường như lúc thiếu thời, cụ đã từng vào Nam?
+ Cụ (Á Nam Trần Tuấn Khải) gật đầu: Tôi không nhớ rõ năm. Khoảng tôi trên 30 tuổi thì phải, tức là lối 28-29 gì đó.
. Hẳn cụ còn giữ ít kỷ niệm sau lần đầu tiên tiếp xúc với người và cảnh miền Nam?
+ Cảnh thì tôi quên mất. Còn người thì còn nhớ một kỷ niệm mà riêng tôi, tôi cho là rất thú. Một hôm nọ, tôi ghé thăm một người đồng hương, bán đồ cẩn xà cừ bên hông chợ Sài Gòn, đường Sabourain, bây giờ là đường Tạ Thu Thâu. Đang hàn huyên thì có một ông khách vào, hỏi giá một món đồ. Người Nam, mặc bà ba trắng, đi guốc vông. Dân thợ không ra dân thợ; dân thầy không ra dân thầy. Tôi tưởng ông ta là một khách qua đường, rỗi rãi, hỏi chơi để giết thời giờ, chớ cái bộ vó ông ta thế, tiền đâu mà mua nổi món đồ bạc ngàn.
Ông ta xin bớt hai trăm. Chủ hiệu bằng lòng bớt một trăm. Tôi tưởng ông ta sẽ bỏ đi, qua cửa hàng khác, nào ngờ ông ta ưng thuận, móc bóp ra, lấy chín trăm đồng trả. Hai ông biết chín trăm đồng hồi 40 năm về trước là cái gia tài nhỏ. Khi ông ta mở bóp, tôi nhìn thấy bạc giấy lớn còn nhiều. Người nhà hàng bao, cột món đồ xong, ông ta ra cửa, ngoắc một người tài xế Tây vội vã đến, ôm món đồ vừa mua để lên một chiếc xe nhà sang trọng. Ông ta vui vẻ bắt tay người chủ hiệu, lên xe. Thấy tôi ngạc nhiên ra mặt, ông bạn tôi cười: “Người trong này, họ như vậy đó, bác. Một nhà giàu có hạng ở đây mà đi phố, họ ăn mặc giản dị như thế đó. Lúc mới vào, tôi cũng thường đánh giá họ lầm như bác”. Tôi như được mở mắt ra và cảm thấy thương thương cái đất “Nam… Kỳ” này: Nơi đây, người ta sống hồn nhiên, ít bị lễ nghi, tập quán ràng buộc như ở Bắc, ở Trung”.
“Và cụ tiếp sau một ngụm rượu:
+ À còn điều này nữa. Một chiều thứ Bảy, tôi được thấy cảnh thầy thông, thầy phán, anh em thợ máy, anh em phu xe ngồi quây quần trong các quán ăn ở trong chợ Bến Thành cùng nhau bàn chuyện phiếm, chuyện đời hay chuyện thời sự một cách tự nhiên, thẳng thắn. Bầu không khí cởi mở giữa những hạng người khác nhau ấy làm tôi càng thích lối sống trong Nam.
“Vì thế mà nay về già (lúc này cụ Á Nam được 70 tuổi – tác giả chú thích) cụ được toại nguyện” – người bạn khoa học, cũng là người Bắc, vừa cười vừa nói. Rồi anh tiếp, sau mấy giây nghĩ ngợi: “Tôi cũng thích lối sống hồn nhiên của đồng bào trong này. Nhưng ta phải nhận rằng nay có khác xưa. Cũng đã có ít phần kiểu cách, trọng cái bề ngoài”. Anh đưa ly lên môi, giọng nửa đùa, nửa thật: “Kết quả của sự di cư gần triệu đồng bào miền Bắc chúng ta đấy”.
Theo Lê Văn Nghĩa (PLO.vn)
Chúc mừng Giáng Sinh
VTLV kính chúc quí thân hữu Giáng Sinh vui tươi và bình an hạnh phúc
CHUYỆN TÌNH THỜI CHIẾN
CHUYỆN TÌNH THỜI CHIẾN…… Vĩnh Chánh
Một chuyện tình đẫm lệ thời chinh chiến. Thật đáng thương cho những người đã sinh ra và lớn lên trong cuộc chiến quốc cộng tương tàn thảm khốc.
Chị biết anh vì hai gia đình ở chung xóm gần chợ Gia Định. Chị cũng là bạn cùng lứa với em anh từ trường tiểu học cho đến lúc vào trường Trưng Vương. Anh học Khoa Học Sài Gòn. Thỉnh thoảng anh dừng chân ở quán nhà chị ở đầu ngõ, chào hỏi vu vơ, nói đôi ba câu chuyện. Kêu chị là bé dù anh chỉ hơn chị chừng 5 tuổi. Vậy mà chị lại thích, chị có cảm giác mình thật bé bỏng khi đứng bên cạnh anh thật cao lớn, cần sự che chở của anh.
Năm lên lớp 11, chị thấy anh vắng mặt một thời gian ngắn, qua nhỏ bạn biết anh động viên vào Thủ Đức. Rồi anh lại hiên ngang xuất hiện sau đó với bộ đồ hoa dù và nón Beret đỏ. Cuộc tình bắt đầu, với người yêu là một Thiên Thần Mũ Đỏ.
Ở tuổi 17, chị lớn dần trong tình yêu trầm lặng của anh, trở thành một thiếu nữ chín chắn, trong khi đó đời sống nội tâm cùng sự lo sợ triền miên đôi khi khiến chị cảm thấy lạc lõng giữa chúng bạn ở lứa tuổi ô mai.
Niên học 1974-1975, chị bước vào năm thứ nhất Văn Khoa. Anh vẫn miệt mài với đơn vị ở những chiến trường xa. Những lá thư yêu thương anh gửi chị chỉ ghi cái địa chỉ KBC 4794 lạ hoắc. Cuối tháng Hai 1975, anh bất ngờ có mấy ngày về phép. Đêm trước ngày trở lại đơn vị, anh đưa chị đi ăn chè góc Bạch Đằng/ Nguyễn Huệ. Ngồi quán chè, cùng nhìn ra sông Saigon, chị bỗng nghe anh nói bằng một giọng nhẹ nhàng, “Ngày mai anh trở ra lại mặt trận. Em ở nhà bình an. Chuyến đi này không biết bao giờ anh về thăm em được. Tình hình rất căng. Đôi khi anh nghĩ may ra anh bị thương thì chúng mình mới có cơ hội để thành vợ chồng!”
Lẫn trong tiếng nói, chị tưởng như bên tai mình có hơi thở của anh. Vị ngọt của muỗng chè bỗng trở thành vô vị nơi cuối lưỡi. Chị quay lại nhìn anh. Hai bàn tay tìm nhau. Không, không thể chờ đến khi anh bị thương… Nhận ra bàn tay mình run rẩy trong tay anh, chị nói “Thôi mình về đi anh”.
Khi lặng lẽ rời quán chè bờ sông, anh không cầm tay chị. Chắc anh không hiểu sao buổi hẹn hò bỗng bị chị cắt ngắn, đòi về. Nhìn vẻ thất vọng một cách tội nghiệp trên khuôn mặt sạm đen của anh, chị thấy thương anh chi lạ. Phải cố gắng lắm chị mới có thể nói với anh bằng giọng bình tĩnh: “Mình về nhà trọ của anh đi, em có chuyện muốn nói.”
Ngay khi cánh cửa phòng riêng của anh trong nhà trọ vừa khép lại, chị đứng trước anh, nhìn anh, rồi nói như sợ không còn cơ hội nào khác “Đêm nay em sẽ ở lại đây. Em muốn chúng mình thuộc về nhau đêm nay. Em không muốn chờ đợi thêm nữa.” Không chờ cho anh kịp phản ứng, chị rơi mình vào vòng tay anh, mặt đầm đìa nước mắt. Cả hai xớ rớ ngồi cạnh giường, luống cuống đến tội nghiệp. Bên cho với tê tái khắc ghi. Bên nhận trong nghiệt ngã đắn đo. Sau đó, cả hai dựa sát vào nhau; anh trầm tư ôm vai chị, che chở trìu mến, chị ngã đầu trên tay anh, nhìn lên trần nhà, mủi lòng, mặc cho nước mắt tự nhiên tuôn trào. Thương anh, thương mình, lo sợ cho số kiếp con người mong manh. Chị biết chị vừa đi ngược sự giáo dục gia đình, nhưng chị không cảm thấy nuối tiếc, vì chị nhận rõ một khi tình yêu và hy sinh để trở thành một thì không có gì tuyệt đẹp hơn là giờ phút bên nhau trong hiện tại. Y như câu truyện “Một Thời Để Yêu Một Thời Để Chết.” * “Này em khăn áo vẫn còn nếp nhầu Lược gương đâu có nỡ nào quên bóng hình Này em, chăn gối vẫn còn ấm nồng Chỉ người năm cũ như bóng trăng gầy liệm cuối sông…” Đêm đầu tiên và cuối cùng có nhau, chị biết đơn vị dù của anh đang hành quân vùng cao nguyên.
Ngày 10 tháng Ba năm 1975, Ban Mê Thuột thất thủ. Sau đó có tin Pleiku, Kontum bị rút bỏ. Từ vùng hành quân, anh nhờ lính hậu cứ nhắn tin cho chị biết. Và đó là lần cuối cùng chị được tin anh.
Cuối tháng 3, chị được biết TĐ của anh cùng chung số phận với Lữ Đoàn 3 ND, đánh cho đến người cuối cùng ở Khánh Dương, rồi phân tán mỏng. Trên đường rút quân, đơn vị đã không tìm thấy anh. Mất tích? Tử thương? Bị bắt làm tù binh? Quả là tội nghiệp cho một thiếu nữ như chị, với chỉ danh nghĩa người yêu của lính, xuôi ngược chạy tìm tin tức của anh, từ hậu cứ TĐ đến Bộ Tư Lệnh SĐ, hoặc ủ rũ chờ đợi, nghe ngóng tin tức ở nhà anh.
Ngày 29 tháng 4, người anh cả của chị, một sĩ quan HQ, chạy nhanh về nhà, hối thúc cha mẹ, thằng em trai và chị ra bến Bạch Đằng, lên thuyền rời nước. Như một người máy trôi theo dòng đời, chị ra đi mà lòng quặn đau, bất định, biết rằng từ đây mọi người vĩnh viễn mất nước. Và chị, vĩnh viễn xa rời và mất luôn cả anh.
Ngày đến trại Fort Chaffee, tiểu bang Arkansas, chị mới biết mình có thai được trên 2 tháng. Trong khi cả gia đình chị bấn loạn, cá nhân chị vừa lo lắng vừa hân hoan với mầm sống của anh trong người. Qua bao nhiêu gian nan, cam go chịu khổ chịu cực, chịu cảnh gái chưa chồng nhưng có con, chị can đảm vượt thoát mọi thử thách, mọi e dè để cuối cùng định cư ở Fort Polk, tiểu bang Louisiana với một người chồng Mỹ vào năm 1984. Chị cố tạo cho mình một vườn hoa trái nơi chị nhận làm quê hương thứ hai, nhưng đa số là trái ngang trái trắc trở, trái sầu trái đắng, trái chua trái cay, là tiềm ẩn từ bao thôi thúc vương vấn, bao bùi ngùi luyến thương của mất nhau, hoài nhau không thể chối từ mà cũng chẳng thể vứt bỏ vì đó là những bám víu giúp chị can đảm sinh tồn.
* Gần cuối thập niên 80, tôi tình cờ gặp chị trong một phiên trực tại phòng cấp cứu của Bệnh Viện Baynes Jones Army Community tại Fort Polk, tiểu bang Louisiana, nơi vốn là bản doanh của sư đoàn 5 cơ giới Hoa Kỳ đã có mặt tại chiến trường VN. Con gái chị, với khuôn mặt Việt Nam, khoảng 13-14 tuổi, té xe đạp, không bị thương tích nặng ngoại trừ vài vết thương trầy trụa ngoài da. Nhìn thấy tôi là một bác sĩ người Việt, chị mừng rỡ bắt chuyện. Kể từ đó, thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau đôi lần, cũng tại bệnh viện quân đội Mỹ, có luôn cả người chồng Mỹ của chị là một thiếu tá hồi hưu từng tham chiến 2 lần tại Việt Nam.
Vài năm sau chồng chị qua đời vì bệnh tim, chị trở thành bệnh nhân của tôi tại phòng mạch tư. Đó cũng là thời gian tôi khám phá chị bị ung thư vú và chuyển chị qua bác sĩ chuyên khoa. Trong một lần nói chuyện dài hơn, chị mở lời tâm sự về chuyện tình của chị trong chiến tranh VN, về người cha của con gái chị. Chị cho biết chị cầu nguyện hàng ngày hầu mong biết tin tức về anh, sống chết như thế nào sau trận đánh ở Khánh Dương, nhưng không mấy hy vọng cũng như đã từng cố gắng tìm kiếm qua các cộng đồng người Việt tỵ nạn trong bao năm qua. Không lâu sau đó, chị rời vùng Fort Polk trở về sinh sống với cha mẹ chị ở Springdale, tiểu bang Arkansas.
* Chào bác sĩ. BS. còn nhớ tôi không?? Tôi là Kim Tiên đây… Vâng, đúng rồi đó. Vâng. Cám ơn BS. Bố mẹ tôi bình yên… Con gái tôi vừa vào năm thứ nhất Đại học cộng đồng tại đây. Dạ cám ơn BS. Chắc cháu sẽ vui khi biết BS vẫn còn nhớ đến cháu và gởi lời thăm… Thưa BS. hiện tại ung thư của tôi ở giai đoạn cuối, các bác sĩ bên này cho biết tôi còn sống được khoảng 6 tháng nữa… Dạ. Cám ơn BS… Dạ không sao! Tôi muốn báo một tin rất vui cho BS. biết là tôi vừa tìm được tin tức của cha con gái của tôi rồi… Cám ơn BS chung vui với chúng tôi. Vâng, anh ấy vẫn còn sống tại Việt Nam… Dạ, tôi may mắn tìm ra được em gái của anh, cũng qua Mỹ với chồng theo chương trình H.O cuối năm 1991. Nhờ trời thôi BS ạ… Dạ, qua chương trình Nhịp Cầu Thân Yêu của đài Little Sài Gòn loan báo… Thưa BS., chính tôi cũng không biết được tình trạng của anh ra sao! Em gái của anh nhất định không chịu nói nhiều. Chỉ cho địa chỉ một người trung gian… Nên tôi quyết định về VN một chuyến, trước là để thăm mộ bên nội ngoại của tôi, sau sẽ tìm đến thăm anh… Dạ, tôi cùng đi với một người bạn thân quen trong nhà thờ, tôi không thể chờ con gái tôi cùng đi chung vì cháu rất bận học, mà tôi thì không còn bao nhiêu thì giờ nữa… Dạ có gì tôi sẽ cho BS biết sau… Cám ơn BS. Tôi sẽ cố gắng giữ gìn sức khỏe trong chuyến đi.
Gần một tháng sau, chị gọi điện thoại cho tôi, nói nhanh giữa những cơn thở nặng và xúc động. Câu chuyện nhiều lúc bị ngắt khoảng bởi những im lặng và tiếng sụt sùi. *
“Sài Gòn là đây sao em? Đường không còn lối người chen chân. Sài Gòn là đây sao em? Lạ sao giọng nói người không quen! Biết mấy tâm sự đành lãng quên. Xôn xao kỷ niệm lạc lối tìm…” Sau nhiều ngày bận rộn đi thăm bà con gần xa và viếng mộ đại gia đình ở Thủ Đức, chị mệt mỏi trở về Sài Gòn, ngỡ ngàng bước cô đơn giữa lòng phố đầy người.
Ngày rời Sài Gòn với mảnh giấy ghi địa chỉ của anh do một người bà con với em của anh cho, chị đi xe khách đến Ninh Hòa. Từ bến xe, chiếc honda thồ chở chị đi tiếp trên con đường đất đến một làng khá xa thị xã. Đường về lối mới sao chật hẹp thu nhỏ, hoàn toàn xa lạ trong tâm trí, không một hương thơm vương vấn. Không một tiếng gọi quen thuộc. Không một câu hò ạ ơ. Và trời cũng chẳng mưa để làm ướt lòng người trở về. Ngược lại trời đổ nắng đến hoa cả mắt, nóng cháy cả người kèm theo bụi đường đỏ làm chị ngột ngạt giữa bao nhung nhớ chất chứa màu kỷ niệm của thuở tình tự.
Sau vài lần ngưng dọc đường hỏi thêm chi tiết, xe ngừng trước một căn nhà nhỏ xơ xác, tội nghiệp với mái tôn đổi màu theo thời gian, có vài bụi chuối xung quanh cùng hàng cây dâm bụt phía trước. Không chần chờ, chị bước vội vào nhà. Đập ngay vào mắt là một thân hình cao, gầy gò ngồi trên một sạp tre, lưng xoay ngược hướng chị đi vào, bên cạnh là một cặp nạng. Chị ngập ngừng lên tiếng, kêu nhẹ tên anh.
Thân hình ấy quay nhanh về hướng chị, cùng lúc quờ quạng chụp tìm đôi nạng gỗ. Trước mắt chị là một hình hài với chân phải cụt lên tận đầu gối, áo quần xốc xếch, tóc tai bung xung. Chị bật khóc chạy đến gần, trong một thoáng kịp nhìn thấy 2 vũng mắt lõm sâu không có tròng mắt. Chị đột nhiên khuỵ người xuống trên sàn đất, như thể toàn sức lực dành cho chuyến đi bỗng cạn kiệt. Cùng lúc ấy, bóng một người đàn bà đi nhanh từ bếp nâng chị dậy.
Anh bị thương nặng ở chân trên đường rút quân, cố gắng lết xa khỏi trận chiến và ẩn núp trong bụi rậm. Ngày hôm sau, địch tìm thấy anh và bắt anh làm tù binh. Anh nghĩ vết thương ở chân phải có thể lành nếu được chữa trị với trụ sinh và đăng bột, nhưng tên y sĩ trại tù chọn cách dễ là tháo khớp gối. Sau đó anh còn bị đạn nổ trong khi nhóm lửa rừng sưởi ấm ở trại tận bên Cao Miên, khiến cả 2 con mắt của anh bị hư nặng tuy vẫn nhìn thấy rất mờ. Vì vậy anh được thả cho rời trại sớm. Trên đường khổ sở, một mình thất thểu về lại làng phố, anh bỗng gặp một người đàn bà chưa một lần quen biết, hiện tại là vợ của anh, đem anh về nhà săn sóc. Chồng trước của bà là một người lính Địa Phương Quân tử trận 2 năm trước ngày mất nước.
Trong vài năm sau đó, đôi mắt anh làm độc kinh niên nên bác sĩ đành phải múc bỏ cả hai bên. Biết tính của anh chỉ muốn nhắc đến những giai đoạn quan trọng của trận cuối và trong thời gian khi còn là tù binh, chị không thắc mắc hỏi thêm, cũng chẳng cắt ngang cuộc độc thoại của anh bằng một giọng nói trầm tĩnh của chấp nhận số phận đã an bài, của một cam chịu không lối thoát. Chị có cảm tưởng anh chỉ thổ lộ lần duy nhất này rồi sẽ không bao giờ nhắc lại, như chôn sâu vĩnh viễn nỗi oan khiên vào bóng tối đời anh. Đời anh là một nỗi buồn khôn nguôi kết trái sầu tủi từ thuở anh trở thành kẻ chiến bại và phế nhân. Anh cố tình làm ra vẻ thản nhiên như không hề muốn chị phải đau đớn, dày vò tự trách số phận quá nghiệt ngã, cùng khốn, lỡ làng!
“Trách chi người ai lỗi ai Trách chi người mi ướt cay Trách chi người thôi đã xa nhau kiếp này… Mùi thơm khăn áo ngây ngất đi vào cổ tích tôi”
Chị yên lặng ngồi nghe, tiếng được tiếng không, tê tái cõi lòng, nhớ lại năm xưa có lần anh thì thầm bên chị, “may ra anh bị thương thì chúng mình mới có thể trở thành vợ chồng.”
Thế nhưng tuyệt đối chưa một lần chị nghĩ đến anh có thể bị thương trong cuối cuộc chiến, và cũng chưa hề nghĩ anh đã phải trải qua những giai đoạn khổ sở cùng cực như vậy. Từ một nam nhân oai hùng ngày xưa, nay anh là một phế nhân với những vết thương tàn phá nặng nề trên cơ thể. Đôi mắt ngày xưa, nơi chị thường hay nhìn vào để tìm hình ảnh của tình yêu và sức sống của tuổi trẻ mình, nay chỉ là 2 mí mắt nhíp gần nhau nằm sâu trong một khoảng màu trắng ở giữa. Giờ đây chị mới hiểu vì sao em gái của anh tránh không cho chị biết nhiều về anh. Chị bỗng cảm thấy gần gũi với vợ của anh, thầm cám ơn rằng ơn Trên sắp đặt cho anh tìm được ánh sáng dịu hiền giữa đường qua sự săn sóc, cứu vớt, nuôi nấng, bao bọc, che chở, yêu thương của người vợ này. Như một bà tiên hiện ra nguyên vẹn để dẫn dắt, cưu mang, nâng đỡ chàng Thiên Thần Mũ Đỏ của chị trong sa cơ thất thế, khi cánh dù bị chà đạp, tan tác trong cuộc đổi đời.
Chiều hôm ấy, chị không từ chối khi vợ anh mời chị ở qua đêm tại đây, cả hai cùng nhau tâm sự dưới một ngọn đèn vàng úa duy nhất của nhà, nhất là sau khi nghe chị cho biết anh từng là người yêu đầu đời của chị. Càng về khuya, chuyện trò càng cởi mở hơn, bấy giờ chị mới từ tốn cho vợ chồng anh biết là chị có thai với anh ngay trong đêm trước khi anh rời Sài Gòn về lại đơn vị cuối tháng 2, 1975. Con gái của anh sinh vào cuối tháng 11, 1975; chị đặt tên cho con là Kim Ngân, ghép từ nửa tên của chị và nửa tên của anh, nay con gái được 19 tuổi và đang học đại học gần nhà. Vợ anh liên tục nắm chặt tay chị và kéo chị ngồi sát vào mình, một cử chỉ che chở, chia xẻ, thông cảm và đầy thân thiện trong suốt câu chuyện. Anh hoàn toàn im lặng, hai tay ôm đầu mình. Thỉnh thoảng 2 vai có rung nhẹ. Mãi sau khi chị dứt, anh mới nhẹ nhàng hỏi là con gái có biết câu chuyện giữa anh và chị, và biết anh là cha không. Con gái anh, chị trả lời, chỉ biết cha nó là một sĩ quan Nhảy Dù, tử trận và mất xác khi cuộc chiến VN gần đến hồi kết thúc. Ngay cả mục đích đi tìm anh trong chuyến về VN của chị, chị cũng hoàn toàn dấu con gái. Chỉ một điều duy nhất chị không tiết lộ cho anh và vợ anh biết là chị đang bị ung thư vào giai đoạn cuối.
Tối hôm đó, sau khi đọc kinh cầu nguyện cám ơn, chị có một giấc ngủ thật an lành dù lạ nhà, một phần có lẽ vì đi đường quá mệt, phần kia vì chị đã đạt được mục tiêu chính của chuyến đi.
Sau bao nhiêu cầu xin, bao nhiêu thấp thỏm đợi chờ mong mỏi tin tức, nguyện vọng ấp ủ từ bao năm qua nay được đáp ứng và trở thành sự thật. Trước đây, bao thương nhớ, bao hình ảnh về anh và sự mất anh trong đời, những suy sụp tinh thần của một người đàn bà di tản mang thai, những oan trái mòn mỏi trong xót xa; những gian khó thử thách trong đời sống mới, những gượng cười trong lệ sầu; những năm nuôi dạy con một mình; những cô đơn tinh thần khi sống bên cạnh người chồng Mỹ với bao dị biệt văn hóa, ngôn từ; những mệt mỏi thể xác qua bao lần xạ trị, hóa trị, thuốc cũ thuốc mới, những sợi tóc xanh phai màu rơi rụng; những đau đớn chán nản khi căn bệnh trở nặng; những lo âu suy tính về tương lai con gái rồi đây sẽ mồ côi mẹ… tất cả đã tạo cho chị một tình trạng trầm cảm nặng nề. Nhưng giờ đây, chị vô cùng mãn nguyện tìm thấy anh, nhìn thấy anh bằng xương bằng thịt, biết anh đã sống sót qua chiến tranh, dù bị tàn phế trầm trọng nhưng bù lại anh có một người bạn đường luôn bên cạnh, săn sóc yêu thương anh. Hơn nữa anh còn có đứa con gái và đứa con trai.
Sáng hôm sau, đứa con trai của anh, nhỏ hơn con của chị gần 3 tuổi, ở nhà ông bà ngoại cạnh trường trung học huyện, về kịp chào chị trước khi chị lên đường. Chị cũng đã kín đáo trao tặng tất cả số tiền lớn còn lại cho vợ anh đêm qua. Chị có hứa với vợ chồng anh là chị sẽ kể cho con gái của anh tất cả câu chuyện giữa anh và chị, không một dấu diếm, luôn cả thương tật của anh và hoàn cảnh hiện tại của vợ chồng anh. Để trả lời câu hỏi của vợ anh, bằng một giọng mong manh sâu tận đáy lòng, chị run run xúc động cho biết sẽ trở về lại thăm vợ chồng anh nếu sức khỏe cho phép. Sau khi chào tạm biệt vợ chồng anh và chúc nhau an lành, hai người đàn bà ôm xiết chặt nhau, mắt chớm lệ, gần gũi trong cảm thông trân quý. Anh vẫn đứng yên bên khung cửa trước nhà, chan hòa trong ánh sáng ấm ban mai. Chị vội bước nhanh đến chiếc xe thồ đang đợi. Xe rồ máy chở chị đi. Không nhìn lui, bình an trong lòng, chị ngước nhìn trời. Một màu xanh tuyệt đẹp. Không mây.
* “Sài Gòn ngày xưa đâu em? Mộng mơ ngày tháng tuổi hoa niên. Sài Gòn ngày xưa đâu em? Từng con đường phố mình thân quen Dĩ vãng đâu về, buồn ngẩn ngơ. Bao nhiêu mong đợi lạc bến chờ” Chị Kim Tiên đã không về lại VN lần thứ hai. Chị chết trong bình an vào giữa tháng 5, 1994. Cháu Kim Ngân điện thoại cho tôi biết, theo lời yêu cầu của Mẹ, cháu đang sửa soạn về thăm cha trong mùa hè này, mang theo chiếc xe lăn cũ của Mẹ cùng một số tiền lớn từ bảo hiểm nhân thọ của mẹ để lại cho cha.
Ước mong cháu Kim Ngân sẽ nuôi nấng và gìn giữ chuyện cổ tích của cha và mẹ mình.
Mission Viejo, CA Vĩnh Chánh
Việt Nam 33 năm sau “Đổi mới” (12.1986 – 12.2019)
Việt Nam 33 năm sau “Đổi mới” (12.1986 – 12.2019):
Thủ đoạn lừa đảo nhân dân và trí trá với đảng viên!
Âu Dương Thệ
15-12-2019
Ngày 6.12.2019 Thủ tướng Đức bà Merkel đã tới viếng các nạn nhân tại Trại tập trung Auschwitz (Ba Lan). Nơi đây, trong Thế chiến thứ 2 dưới chế độ Quốc xã, Hitler tôn thờ chủ nghĩa quốc gia cực đoan, đã giết hại trên 1,1 triệu người. Tại đây bà Merkel đã đọc một diễn văn quan trọng. Trong đó, cũng như hai Thủ tướng Đức trước, bà đã đề cao lương tri và tinh thần trách nhiệm của người lãnh đạo một Nước Đức Mới. Đó là tôn trọng những giá trị dân chủ và pháp quyền, dám can đảm nhìn nhận thẳng thắn những tội ác của chế độ độc tài Hitler. Một số đoạn rất đáng chú ý (lược dịch):
“Hôm nay tại đây, đứng trước quí vị, nói với tư cách là Thủ tướng Đức, tôi thấy thật không dễ dàng. Tôi cảm thấy cực kỳ xẩu hổ trước những tội ác dã man, những gì đã diễn ra do người Đức đã hành động. Những tội ác này đã vượt qua tất cả những gì có thể hình dung được. Thật là khủng khiếp về những gì mà phụ nữ, đàn ông và trẻ em đã phải trải qua ở đây…Vì từ ngữ nào có thể diễn tả nổi sự đau buồn đến như thế, khiến bao nhiêu người đã bị hành hạ, đày ải và thủ tiêu?…Nhưng im lặng không được phép là câu trả lời duy nhất của chúng tôi. Nơi đây ràng buộc trách nhiệm chúng tôi, phải cảnh thức hồi tưởng. Chúng tôi phải nhớ lại những tội ác đã diễn ra ở đây và phải nói đúng tội danh của nó!…
Nhớ lại những tội ác, vạch rõ thủ phạm và trân trọng tưởng nhớ tới các nạn nhân. Đó là trách nhiệm không bao giờ chấm dứt. Trách nhiệm này không thể nào san sẻ được, nó liên hệ trực tiếp tới đất nước tôi. Ý thức trách nhiệm này là bổn phận của chúng tôi, nó là phần liên đới chặt chẽ tới hình ảnh của đất nước chúng tôi, đó là một thái độ tự nhiên của một xã hội có ý thức và tự do, cùng với dân chủ và tôn trọng pháp quyền”. (Bundeskanzleramt, 6.12.19)
Sau khi chế độ Hitler tan rã, nước Đức đã can đảm và kiên tâm đấu tranh trở thành một Nước Đức Mới – Trước hết là ở Tây Đức. Từ một đống tro tàn, hận thù với các lân bang, Tây Đức đã mau chóng chỉ sau khoảng hai thập niên, đối nội đã trở thành quốc gia tân tiến, tôn trọng các giá trị dân chủ, tự do, pháp trị của một xã hội Dân chủ đa nguyên (DCĐN). Đối ngoại Tây Đức đã xóa hận thù với các lân bang, là thành viên tích cực trong Liên minh Âu châu (EU). Biết chọn Hoa Kỳ làm đồng minh khiến Liên Xô (cũ) không dám đụng tới. Nhờ thế, cuối cùng Đông Đức đã thống nhất với Tây Đức không tốn một viên đạn từ trên 30 năm nay. Nay Nước Đức Mới là cường quốc kinh tế thứ ba, thứ tư trên thế giới, các công dân được quyền hành xử các quyền tự do căn bản và xã hội phồn vinh.
***
Còn VN từ sau Thế chiến Thứ hai thì như thế nào? Nhờ lòng yêu nước và sự đấu tranh của nhân dân nên chế độ thực dân đã chấm dứt. Nhưng thay vì để lương tri hướng dẫn thực hiện dân chủ và tôn trọng tự do thực sự cho mọi người, thì Hồ Chí Minh đã vội nuốt lời hứa. Sau khi nắm quyền ở miền Bắc ông đã dùng những thủ đoạn cực kỳ gian xảo để buộc chặt đất nước trong chủ nghĩa Marx-Lenin, coi là “đũa thần”; lấy bạo lực, đấu tranh giai cấp, đàn áp các người khác chính kiến là những tiêu chuẩn giá trị trong xã hội.
Vì thế đã diễn ra cuộc nội chiến dài tàn khốc và dã man chưa từng có trong lịch sử dân tộc, với sự tiếp tay từ bên ngoài. Bao nhiêu triệu người cùng là đồng bào máu mủ đã bị giết hại trên các chiến trường Nam-Bắc. Hàng trăm ngàn người bị bị đấu tố, nhục hình, bắt con cháu tố cáo cha mẹ, ông bà. Hàng triệu người bị giam cầm trong các trại tập trung, trại cải tạo, trở thành thuyền nhân phải bỏ thân quyến và quê hương ra đi! Cao điểm của chính sách tàn bạo chưa từng có trong lịch sử dân tộc là từ 1975, khi chế độ toàn trị toàn thắng ở miền Nam!
Những tội ác khủng khiếp như vậy đối với chính đồng bào ruột thịt của mình chẳng khác những tội ác tày trời của Hitler với người Do thái.Nhưng cho tới hôm nay chưa có một nhân vật nào đương quyền của CSVN dám can đảm công khai nhìn nhận và xin lỗi trước nhân dân. Trái lại, trước sau họ vẫn phản ứng theo quán tính, tiếp tục ngụp lặn trong độc tài, đàn áp và tham nhũng; vì thế đã bỏ lỡ nhiều cơ hội canh tân đất nước!
***
Đúng vào dịp này 33 năm trước, số phận chế độ toàn trị và cả những người cầm đầu nó đang rơi vào thế cực kỳ hiểm nguy, như sợi chỉ treo ngàn cân. Bên ngoài Bắc kinh tiếp tục dùng chiến tranh gây áp lực ở biên giới phía Bắc và tiếp tay Pol Pot để CSVN bị sa lầy. Không những thế, VN còn bị Hoa Kỳ (HK) và các nước Tây phương phong tỏa thương mại và tẩy chay ngoại giao. Nguy hiểm nữa là Liên Xô khi đó, mụ đỡ tinh thần và vật chất cho CSVN, cũng đang rơi vào tình trạng tổng khủng hoảng. Giữa khi ấy ở trong nước nạn đói khủng khiếp không kém thời 1945, tiền Đồng bị mất giá với nạn lạm phát phi mã 700-800%. Nhân dân bất mãn. Cán bộ, đảng viên mất niềm tin.
Vì thế đúng vào những ngày này 33 năm trước, tại Đại hội 6 (15-18.12.1986) Trường Chinh thề thốt “Lấy dân làm gốc”, Nguyễn Văn Linh long trọng tuyên bố “Đổi mới hay là chết”! Sau đó họ còn hồ hởi tuyên bố “Cởi trói” cho người cầm bút và tôn trọng quyền phản biện của các chuyên viên và trí thức. Từ Hội nghị Đại biểu toàn quốc 1.1994 Đỗ Mười đã hứa đưa VN tới năm 2020 trở thành một nước công nghiệp! Nay Nguyễn Phú Trọng cũng hô hoán như thế. Nhưng hơn ba thập niên sau, mặc dầu Liên Xô đã tan rã, chủ nghĩa Marx-Lenin đã bị vất vào sọt rác, nhưng dịp kỉ niệm 100 năm chế độ Xô-viết người cầm đầu chế độ Nguyễn Phú Trọng vẫn còn ngủ mơ, lảm nhảm nói sảng rằng: “Tinh thần Cách mạng Tháng 10 và những thành quả lịch sử cũng như những cống hiến to lớn của nhân dân các dân tộc trong Liên bang Xô-viết đối với loài người mãi mãi không bao giờ phai mờ, mãi mãi sẽ còn ghi đậm trong tâm trí của mọi người có lương tâm trên toàn thế giới”. (Diễn văn của Nguyễn Phú Trọng tại lễ Kỉ niệm 100 năm Cách mạng Tháng 10 Nga (1917-2017), Nhân dân 5.11.17)
Nay đất nước đang chuyển sang năm 2020. Nhưng sau 33 năm gọi là “Đổi mới” đó, VN đang đứng ở vị thế nào? Trí thức được mở miệng? Các quyền căn bản của nhân dân được tôn trọng? Việt Nam đã trở thành một nước công nghiệp tiên tiến, hay đang trở thành bãi rác chứa chất thải độc hại do các công ty nước ngoài và các doanh nghiệp nhà nước tự do thải ra? Các quan đỏ nắm quyền lực đang phục vụ nhân dân, hay chỉ lo tham nhũng đất đai và tiền bạc? Biển đảo và toàn vẹn lãnh thổ được bảo vệ, hay đang để người “Bạn” Tập Cận Bình của Nguyễn Phú Trọng cày nát biển Đông?
Giữa lúc triều đại Tập Cận Bình cổ súy chủ nghĩa tân đế quốc theo đuổi tham vọng “Thực hiện giấc mộng vĩ đại cùa Trung quốc”, khiến nước này đang như con hổ đói. Tại Hội nghị cấp cao kỷ niệm 70 năm thành lập NATO (3-4.12.2019) ở London, mặc dù còn có nhiều khác biệt, nhưng NATO đã chính thức coi chính sách tăng cường hải quân-không quân và uy hiếp biển Đông của Cộng sản Trung quốc (TQ) là một “thách đố” nghiêm trọng tới an ninh thế giới!
Nhưng mới đây Nguyễn Phú Trọng lại vẫn nhu nhược và ngờ nghệch cho công bố “Sách trắng Quốc phòng 2019” với chính sách 4 không: “Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nuớc này để chống nuớc kia; không cho nuớc ngoài đặt căn cứ quân sự, hoăc sử dụng länh thổ Việt Nam để chống lại nuớc khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”. (tr. 25, QPVN 2019).
Tại Diễn đàn Hương sơn ở Bắc kinh (BK) lần thứ 9 ngày 21.10.19 trước sự hiện diện của bộ trưởng quốc phòng nhiều nước và các chuyên viên quốc tế, trong diễn văn khai mạc Bộ trưởng Quốc phòng Trung quốc Ngụy Phượng Hòa đã lập lại quan điểm của Tập Cận Bình: Biển Đông là “phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung quốc”. Trong khi đó cũng tại Hội nghị này, Bộ trưởng Quốc phòng CSVN Ngô Xuân Lịch không dám phản bác thẳng thắn chính sách đế quốc của Ngụy Phương Hòa, nhưng lại ấp úng, chỉ lập lại chủ trương 4 không và kêu gào những điều hoàn toàn không có thực trong quan hệ giữa hai nước: “Trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và phát huy truyền thống đoàn kết, hữu nghị, những vấn đề còn tồn tại trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc cần được kiên trì xử lý theo tinh thần thỏa thuận cấp cao giữa lãnh đạo hai nước” (BBC,VOA, Reuters 22.10.19).
Chẳng những thế ngày 10.12.19 Đại sứ TQ Hùng Ba còn được mời tới Học viện Chính trị Quốc gia HCM “giảng bài cho lớp đào tạo cán bộ quy hoạch cấp chiến lược Việt Nam”. Trong đó ông đã lên tiếng như chỉ bảo cho 100 học viên là Ủy viên Trung ương tương lai sẽ nắm giữ các chức vụ then chốt tại Đại hội 13 vào đầu năm 2021: “Là nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, hai nước Trung-Việt có con đường phát triển tương tự, tiền đồ và vận mệnh tương quan, việc tăng cường giao lưu kinh nghiệm quản lý Đảng và quản lý đất nước giữa hai Đảng trong tình hình mới có ý nghĩa chiến lược quan trọng!” (đài Bắc kinh 14.12.19)
Từ tháng 7.2019 bá quyền BK lại ngang ngược cho mấy chục tàu hải quân TQ cày nát biển Đông, thuộc khu vực lãnh hải của VN. Trong khi nhiều tổ chức xã hội dân sự, nhân sĩ, trí thức, thanh niên và cả đảng viên tiến bộ đòi phải đưa những đòi hỏi sai trái và ngang ngược của BK ra kiện tại Tòa án Quốc tế, thì Nguyễn Phú Trọng lại ra lệnh báo chí xuyên tạc và bôi nhọ, và để công an đe dọa khủng bố và bắt giam nhiều người dân chủ! Đồng thời không cho phép Quốc hội (QH) được công khai thảo luận về sự xâm lấn của BK! Vì thế trong khi đất nước đang phải đối diện đương đầu với chủ trương bành trướng xâm lược hiện nay của Tập Cận Bình thì việc thực hiện chính sách quốc phòng-ngoại giao 4 không này, rõ ràng không phải là “ngăn địch từ xa” mà chính là mời kẻ thù vào nhanh hơn, thả cửa cho con hổ đói Trung quốc lộng hành. Do đó chính sách quốc phòng-ngoại giao 4 không này sẽ dẫn tất yếu tới cái không thứ 5, đó là không bảo vệ được chủ quyền biển-đảo, tài nguyên và quốc phòng của VN!
Những người cầm đầu chế độ toàn trị cũng không dám nhìn thẳng vào thực trạng tang thương của đất nước và cơ cực của nhân dân, do chính những sai lầm và tàn bạo do họ gây ra. Nguyễn Phú Trọng đã từng mở miệng: “Dân chủ như thế là cùng”, “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”. Nhưng giữa khi ấy hình ảnh 39 thanh thiếu niên VN bị chết đông lạnh trong các container trên đường đi tìm cuộc sống mới đã làm thế giới bàng hoàng và đau buồn về một nước đang phải sống dưới chế độ đứng đầu về chà đạp nhân quyền, kìm kẹp báo chí!
Sau 33 năm đổi mới giả hiệu, chế độ toàn trị độc tài gian ác tưởng như vẫn vững chắc. Nhưng thực sự nó đang biến dạng từ chế độ độc tài của một đảng trở thành chế độ độc tài cá nhân với sự tiếp tay và thỏa hiệp giữa một số nhóm lợi ích với các đại gia đỏ đang thao túng chính trị, chiếm đất vàng, xây biệt điện và tham nhũng tiền bạc. Họ đang dùng quyền-tiền để buôn bán và tham nhũng, từ thượng tầng trong Bộ chính trị, Trung ương đảng, các Ban trong đảng, các Bộ trong chính phủ tới các thành ủy, tỉnh ủy trên toàn quốc. Sự tha hóa đạo đức cùng cực của tầng lớp cán bộ có quyền đã khiến số đảng viên bất mãn ngày càng gia tăng, khinh bỉ thành phần lãnh đạo. Vì thế Nguyễn Phú Trọng đã phải ra Quyết định số 102/QĐTW 15.11.17 cực kỳ phản động: “Đảng viên sẽ bị kỉ luật bằng hình thức khai trừ, nếu đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”, “đa nguyên, đa đảng”; bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước”.
Hiện nay chính người cầm đầu chế độ Nguyễn Phú Trọng lại tiêu biểu nhất về tha hóa đạo đức trong thao túng quyền lực. Ông Trọng thề thốt “nhốt quyền lực”, “nêu gương”, “minh bạch” … nhưng các lần lấy phiếu tín nhiệm lại không dám công bố kết quả. Các lớp “đào tạo cán bộ cấp chiến lược” đã cài cắm gần 200 cán bộ sẽ được đưa vào Trung ương đảng Khóa 13 (đầu 2021) để nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong Đảng và Chính phủ (CP), nhưng lại giấu nhẹm danh sách những người này, chỉ có Nguyễn Phú Trọng và những người trong phe nhóm biết! Từ nhiều năm nay do đầu óc cực kỳ bảo thủ và suy thoái đạo đức, nên ông Trọng đã tự xếp mình là “người đặc biệt” cực kỳ tham nhũng quyền lực. Vì thế mặc dầu từ gần một năm nay tuy bị bệnh nặng, không còn đủ sức khỏe để đảm đương việc nước, đang phải nhờ người dìu, sắp trở thành ngọa long hoàng đế đỏ, nhưng vẫn cố bám cả hai ghế Tổng bí thư (TBT) và Chủ tịch nước (CTN)!
***
Nói cho cùng, trong chính trị có nhiều loại người lãnh đạo, nhưng trong đó có hai loại người cầm quyền nổi bật nhất. Những người lãnh đạo biết dùng lương tri để hướng dẫn tri thức và hành động để xây dựng hạnh phúc cho nhân dân và đưa đất nước đi lên. Và những người cầm đầu chỉ lấy gian xảo và tàn ác làm kim chỉ nam cho các hành động của mình để xây dựng và bảo vệ quyền lực và tiền bạc bất chính!
Nước Đức đã đổi mới, đã thay đổi toàn diện và triệt để là do dứt khoát biết thay đổi chế độ chính trị. Từ chế độ Quốc xã độc tài, tôn thờ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, nhưng từ sau Thế chiến Thứ hai đã dứt khoát chọn và thực hiện chế độ Dân chủ đa nguyên. Còn tại VN chế độ độc tài vẫn ngự trị và áp dụng chủ nghĩa sai lầm Marx-Lenin, nên trước sau không thể đổi mới được. Đây là một sự thực không ai có thể phủ nhận được. Từ Đại hội (ĐH) 6 (12.1986) tới nay 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng đã lừa đảo nhân dân và đảng viên, trương cờ “Đổi mới”, nhưng thực tình họ vẫn là những người độc tài, tôn thờ chủ nghĩa Marx-Lenin đã bị lịch sử vất vào sọt rác!
Đây là kết luận qua những dẫn chứng rất cụ thể và rõ ràng trong sách nghiên cứu “Việt Nam “Đổi mới”?! Hay: Treo đầu dê, bán thịt chó” !” trên 700 trang vừa phát hành ở Hoa Kỳ. Trong đó xuyên qua 11 chương, tác giả đã phân tích và dẫn chứng theo phương pháp khoa học, trình bày rõ ràng về các nguyên nhân và những công thức sai lầm đã khiến chủ trương gọi là “Đổi mới” đã đi đến thất bại; đồng thời nêu rõ những hậu quả vô cùng tai hại cho đất nước. Nhưng hiện nay sự tranh giành quyền lực và tiền bạc giữa các phe nhóm ngày càng tàn bạo và quỉ quyệt; vì thế theo qui luật “cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu” đang mở ra cơ hội tốt để thoát khỏi nạn độc tài, đưa đất nước thực sự thành một Nước Việt Nam Mới!
Để độc giả tiện theo dõi, toàn bộ ba chương cuối sẽ được phổ biến trong ba lần liên tiếp. Mở đầu loạt bài này, dưới đây là toàn bộ Chương 9:
Chương chín: Kết quả thực tiễn trên 30 năm “Đổi mới”
I. Mô hình “đổi mới” trên 30 năm qua
Sau trên 30 năm “Đổi mới” từ 1986 trải qua 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng và xuyên qua 7 ĐH (từ ĐH 6 tới ĐH 12). Không biết bao nhiêu Nghị quyết đã được ban hành đề ra mục tiêu là, đưa VN tới năm 2020 trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng trong cuộc họp nội các vào cuối năm 2014 sau gần 30 năm tiến hành “đổi mới”, Nguyễn Tấn Dũng lại than, “sao lại cứ phải đứng sau 6 nước ASEAN? Chúng ta có đuổi kịp được ASEAN-6 không? Không có lý do gì chúng ta không cải thiện được để bằng ASEAN-6”? [1] Trong thực tế nhiều mặt VN còn đi sau cả Campuchia và Lào.
Sau gần 30 năm đổi mới, lợi tức đầu người /năm của VN vào năm 2014 mới chỉ 2.052 USD, tức là VN mới chỉ bước vào những nước đang phát triển ở mức trung bình thấp. Trong khi đó Singapore lên tới56.287 USD, Mã lai á là 10.830 USD, Thái lan là 5.561 USD và Nam dương là 3.515 USD.PGS, TS Phạm Quý Thọ thuộc Học viện Chính sách và phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận xét, “chỉ tiêu này của nước ta tụt hậu so với Hàn quốc chừng 30 đến 35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái lan chừng 20 năm, Indonesia và Philippines chừng từ 5 đến 7 năm. Đến năm 2038 VN mới có thể bắt kịp năng suất lao động của Philippines và đến năm 2069 mới có thể bắt kịp Thái Lan”. [2]
Nếu xét về mặt diện tích và dân số thì VN không phải là nước nhỏ. Với dân số gần 94 triệu (2017) VN đứng thứ 13 trên thế giới[3]; với diện tích trên 331.114 km² VN đứng thứ 65. Nhưng về mặt kinh tế, xã hội (phát triển con người -HDI) hiện nay VN lại đứng thứ 116 trong tổng số gần 200 nước và ốc đảo trên giới.[4] Nhiều người cầm đầu chế độ toàn trị thường đổ lỗi cho rằng, VN là một nước nhược tiểu, đất hẹp, dân không đông và tài nguyên không nhiều. Đây là những khẳng định cực kỳ sai lầm để trốn tránh trách nhiệm. Một số các nước trong khu vực như Nam Hàn diện tích chỉ trên 99.000km², 50,6 triệu người, nhưng lợi tức đầu người 2015 trên 27.000 USD đang là nước giầu mạnh, công nghiệp cao. Nhật có dân số gần gấp rưỡi VN, diện tích xấp xỉ với VN, tài nguyên thiên nhiên không nhiều, nhưng từ lâu đã trở thành cường quốc kinh tế, lợi tức đầu người năm 2015 là gần 37.000 USD. Về dân số và diện tích giữa VN và Đức không chênh lệch bao nhiêu; nhưng Đức, cũng như Nhật, từ đống tro tàn sau Thế chiến thứ 2 đã nhanh chóng vượt lên thành cường quốc kinh tế đứng thứ ba, thứ bốn trên thế giới.
Những câu hỏi trung tâm rất nghiêm túc cần được đặt ra là, tại sao nhiều nước ngay trong khu vực khi bước vào thời kì phát triển kinh tế thì cũng ở trình độ ngang ngửa như VN, nhưng nay đã bỏ xa VN để trở thành các nước công nghiệp hàng đầu, lợi tức cao gấp mấy chục lần VN? Người dân không chỉ sống sung túc mà còn được tôn trọng nhân phẩm. Phải chăng các mô hình chính trị, kinh tế, giáo dục và văn hóa là những nền tảng căn bản cho sự tiến lên hưng thịnh, hạnh phúc và văn minh, hay sự tụt hậu, nghèo đói và tha hóa đạo đức của một xã hội? VN đang áp dụng mô hình chính trị-kinh tế nào, có những đặc điểm gì?
Trong suốt trên 30 năm cải cách kinh tế chưa bao giờ VN theo mô hình kinh tế thị trường hiện đại như ở các nước Tây phương. Mô hình phát triển của VN là “Kinh tế thị trường Định hướng XHCN”. Mô hình này có một số đặc tính căn bản khác biệt hoàn toàn với các nền Kinh tế thị trường hiện đại ở các nước Tây phương trong các lãnh vực then chốt:
Chế độ độc đảng: ĐCS, cụ thể là Bộ chính trị (BCT) và Ban bí thư (BBT), trước sau vẫn chỉ huy toàn bộ và trực tiếp các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa- giáo dục, tôn giáo và xã hội.
Công hữu toàn dân về đất đai (ĐCS là chủ nhân trong đất đai)
Doanh nghiệp nhà nước làm chủ đạo
Kinh tế tư nhân nội địa tuy được công nhận, nhưng chỉ ngồi rìa, đứng bên lề trước thế lực mạnh của Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và sức ép của FDI (công ti nước ngoài).
Như thế cho thấy mô hình phát triển kinh tế của VN từ 1986 tới nay vẫn còn giữ căn bản mô hình kinh tế của chế độ toàn trị như ở Liên Xô cũ, với một số biến thể, mặc dầu chế độ toàn trị ở Liên Xô đã tan rã từ 1991. Trong đó ĐCSVN vẫn là người cầm trịch không chỉ trong chính trị, tư tưởng và văn hóa, mà cả trong kinh tế-xã hội.Mỗi ĐH vẫn đưa ra kế hoạch ngũ niên do ĐCS độc quyền từ các khâu hoạch định, đường lối tới các biện pháp…Nhưng dĩ nhiên trong giai đoạn và điều kiện Chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên toàn thế giới đang tan rã ngay từ cái nôi, nên những người cầm đầu CSVN bắt buộc phải dùng những từ ngữ và ngôn ngữ mới, để tạo những hi vọng mới, để tỏ ra họ là những người thức thời và nhờ thế mới có thể biện minh cho sự tiếp tục cầm quyền độc tôn!
Mô hình phát triển kinh tế này chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội tại và đối lập với nhau. Nó được thực hiện trong thời kì CNXH theo ý thức hệ Marx-Lenin đã bị thực tế phủ nhận, thế giới CS tan rã. ĐCSVN cũng rơi vào thế sợi chỉ treo ngàn cân. Suốt trên 30 năm đổi mới từ 1986, đặc biệt từ giữa thập niên 90 khi thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ và thực hiện chính sách mở cửa với bên ngoài, mô hình phát triển kinh tế của chế độ toàn trị dựa trên một số cơ sở làm tiền đề đặt trọng tâm cho phát triển kinh tế. Đó là:
Nhân công rẻ
Khai thác nông sản
Khai thác khoáng sản
Ưu đãi cho tư bản nước ngoài vào đầu tư
Tranh thủ nguồn vốn ODA trong xây dựng hạ tầng
Đặt trọng tâm trong xuất cảng
Nhưng các cơ sở trên phải được đặt trong một khung kiên cố, nói thẳng ra là bị nhốt trong một cái lồng, đó là CNXH với tư tưởng Marx-Lenin làm chỉ đạo và trong cái lồng này, ĐCSVN chỉ huy độc quyền trực tiếp và toàn diện từ tổ chức, thực hiện, giám sát các hoạt động kinh tế-xã hội. ĐH 12 đã làm công việc tổng kết 30 năm thực hiện chính sách đổi mới (1986-2016) qua 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng.
Mặc dù những người đứng đầu luôn mở miệng khẳng định là, kết quả thực tiễn chứng minh cho lí thuyết và đường lối. Nhưng khi họ phải đối diện với những kết quả rất xấu thì lại không dám nhận đã chọn lí thuyết sai, ở đây là chủ nghĩa Marx-Lenin. Họ lờ đi hoặc nhận lỗi qua loa, nhưng đổ lỗi chính vì những lí do bên ngoài. Thái độ rất chủ quan, giáo điều, lừa dối và tô vẽ cho rằng, 30 năm đổi mới không chỉ tạo ra những thành tích tuyệt vời trong kinh tế-xã hội, mà cả trong lãnh vực chính trị cũng đã có nhiều cải cách theo hướng “lấy dân làm gốc” và dân chủ hơn ngàn lần các nước Dân chủ đa nguyên… Tiêu biểu nhất cho lập trường này là Báo cáo Chính trị và Kinh tế-Xã hội tại ĐH 12 của TBT Nguyễn Phú Trọng ngay vào ngày đầu của ĐH 12.[1] (Xem Chương tám, IV).
***
Trong dịp này một số chuyên viên trong nước từ gần với đảng hay đứng vị thế độc lập của những người người làm công tác khoa học, trong đó có cả một số chuyên viên VN ở nước ngoài, đã công bố các bài nghiên cứu hoặc trả lời phỏng vấn liên quan tới chủ đề kết quả 30 năm đổi mới.
Trước hết phải nói tới nhận định rất thắng thắn của cựu bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh ngay trước ĐH 12 khi ông còn là Bộ trưởng và Ủy viên Trung ương (UVTU), như đã trình bày ở Chương tám, IV:
“ 70 năm qua, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể các cấp trong hệ thống chính trị gần như không thay đổi”. Và “Một hệ thống chính trị phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, đặc biệt là trong hoàn cảnh chiến tranh, nay đã không còn phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường, thậm chí là rào cản, trở ngại cho sự phát triển”. [2]
Chia sẻ quan điểm nàyGS Vũ Dương Ninh, Đại học Quốc gia Hà nội (HN), cho biết, trước đó 5 năm Nghị quyết của ĐH 11 (1.11) -khi đó Nguyễn Phú Trọng được bầu làm TBT- đã lập lại mục tiêu là,đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng ĐH 12 đã phải nhìn nhận rằng, mục tiêu này không thể đạt được.[3]Ngay cảnguyên Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN, GS TS Đỗ Hoài Nam, một nhà khoa bảng hàng đầu của chế độ toàn trị , từng là UVTU suốt ba nhiệm kì từ ĐH 8-10 và có chân trong Hội đồng Lí luận Trung ương (TU) -một cơ quan cố vấn về tư tưởng và chính trị cho TUĐ, BCT và BBT-, trong một bài phân tích rất dài 14 trang trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 1, 1.15 với tựa đề “Những đổi mới tư duy của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong 30 năm đổi mới”. Ông đã liệt kê các quyết định của đảng xuyên qua 6 Đại hội từ 1986 tới ĐH 11 (2011) với việc sử dụng “kinh tế tri thức” và đầu tư của nước ngoài nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế từ nông nghiệp, công nghiệp tới xuất nhập cảng. Ông ca tụng các quyết định này và coi đó là những biện pháp sáng suốt của ĐCS, nhằm đưa VN, từ một nước đi sau và công nghiệp hóa muộn, có thể đạt mục tiêu “rút ngắn quá trình công nghiệp hóa đất nước bằng sức mạnh của thời đại và sức mạnh nội sinh của đất nước”. Nhưng cuối cùng trong phần kết luận Đỗ Hoài Nam phải nhìn nhận kết quả thực tiễn sau 30 năm đổi mới là, “nhìn trên tổng thể, phần lớn nông dân và người dân đô thị đang trong tình trạng nghèo tương đối, trong đó không ít người đang thực sự nghèo theo nghĩa tuyệt đối”.
Ông nêu ra câu hỏi về nguyên nhân, tại sao không đạt mục tiêu, mặc dầu các quyết định đều được coi là sáng suốt? Trong đó Đỗ Hoài Nam đã cố tình dùng các thuật ngữ trừu tượng và trình bày ngoắt nghéo, như “nguyên nhân cơ bản là, nền tảng cho sự rút ngắn này chưa được tạo lập một cách đầy đủ và vững chắc. Đó là nền kinh tế thị trường đầy đủ và hiện đại (xét cả mặt kết cấu lẫn mặt thể chế của nền kinh tế này), cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại; là khoa học và công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao; là hệ thống công ti tư nhân dựa trên sở hữu cổ phần được quản trị hiện đại, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước [và] quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị và chuỗi phân phối toàn cầu và cuối cùng là vai trò vừa là bà đỡ, vừa là nhạc trưởng của Nhà nước bảo đảm co sự rút ngắn”. (tr.15)
Tuy cố tình trình bày vòng vo và tránh né không dám nêu đích danh thủ phạm đã gây ra thất bại, nhưng nhà khoa bảng XHCN hàng đầu Đỗ Hoài Nam đã gián tiếp nhìn nhận, đó là kế hoạch xây nhà trên cát; hay dùng hình tượng chuyện con nhái muốn to bằng con bò để diễn tả ý muốn công nghiệp hóa và hiện đại hóa VN thật nhanh như Nhật bản, Đại Hàn và các nước Tây phương, nhưng lại thiếu đủ mọi thứ và không có những điều kiện cần thiết; trong đó thiếu cả “ nhạc trưởng”, tức Nhà nước hiện đại trong thể chế DCĐN. Trong khi nhiều nước theo DCĐN cũng chỉ trong khoảng thời gian 30 năm đã chuyển thành công đất nước họ, từ lạc hậu chậm tiến sang công nghiệp hiện đại. Nhưng VN dưới chế độ toàn trị vẫn dẫm chân tại chỗ. Nghĩa là, chính thể chế độc tài toàn trị đã là nguyên nhân chính đưa đến thất bại trong việc canh tân đất nước và xây dựng hạnh phúc cho nhân dân trong suốt 30 năm!
Trong toàn bài, Đỗ Hoài Nam có dẫn chứng là, ngay từ ĐH 7 đã quyết định “cần đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để” (tr. 5); nghĩa là phải đối mới cả hệ thống chính trị. Nhưng khi kết luận tuy phải nhìn nhận các thất bại, nhà khoa bảng Đỗ Hoài Nam đã không giữ được tinh thần khoa học và thẳng thắn như cựu Bộ trưởng Bùi quang Vinh, nên không một lần nào dám nói thẳng là, trong suốt quá trình 30 năm, trước sau vẫn là chế độ độc tài toàn trị. Đó mới chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới thất bại!
Chế độ toàn trị đã chọn ý thức hệ sai lầm dẫn tới độc tài hà khắc, làm triệt tiêu sự phản biện rất cần thiết của một hệ thống xã hội dân sự độc lập. Vì thế toàn bộ hệ thống công quyền trở thành trì trệ và bất cập, chống lại sự canh tân và phát triển của đất nước.Đây là nhận định của PGS, TS Trần Đình Thiên nguyên là Viện trưởng Viện Kinh tế VN, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Kinh tế VN, khi nói về nguyên nhân thất bại trong kinh tế:
“ĐCS lãnh vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện”, mức độ chưa trưởng thành của Nhà nước pháp quyền, sự thiếu vắng các tổ chức dân sự đúng nghĩa, của các tổ chức phản biện xã hội độc lập, có ảnh hưởng mạnh mẽ, thậm chí là quyết định, đến kết quả hoạt động quản trị công”. [4] “Trong nhiều trường hợp, tình trạng không cụ thể hóa mục tiêu định hướng, né tránh thảo luận cấu trúc logic của khái niệm “Định hướng XHCN” (ĐHXHCN), lặng lẽ giả định nó, coi như một tiền đề định sẵn, đã có những ảnh hưởng to lớn”. [5]
Thực tế này cũng được GS Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Nhật bản) trình bày cặn kẽ hơn, khi ông so sánh sự phát triển kinh tế-xã hội của VN với một số nước trong khu vực thì rõ ràng khác biệt nhau cả một trời một vực.Theo tài liệu của Ủy ban LHQ về kinh tế và xã hội châu Á – Thái bình dương (ECAFE), năm 1954 thu nhập đầu người của miền Nam VN là 117 USD, xấp xỉ với Thái Lan (108) và cao hơn Indonesia (88) vào hai năm trước đó. Nhưng 60 năm sau, vào năm 2014 thu nhập đầu người của VN chỉ bằng một phần ba Thái Lan và một nửa Indonesia…Trong khi “Hàn quốc chỉ mất 16 năm (từ 1971-1987) để chuyển từ nước thu nhập trung bình thấp lên trung bình cao và chỉ mất thêm 10 năm nữa để tiến lên hàng các nước tiên tiến. Đài loan trở thành nền kinh tế tiên tiến vào năm 1995, chỉ tốn 12 năm kể từ giai đoạn thu nhập trung bình cao”. [6]
Sau hơn 40 năm hòa bình trong đó hơn 30 năm gọi là đổi mới, nhưng VN vẫn lẹt đẹt thuộc những nước có thu nhập trung bình thấp và đang có nguy cơ phải ngụp lặn lâu dài ở mức này. Ông Thọ còn nêu ra viễn tượng kinh tế VN vào năm 2020. Hiện nay theo phân loại của Ngân hàng thế giới, bình quân đầu người từ 1.000 đến 12.000 USD là nước có thu nhập trung bình, trên 12.000 USD là nước thu nhập cao. Do đó một nước được gọi là công nghiệp phải ở mức trên 12.000 USD. VN hiện nay mới gần 2.000 USD. Đến năm 2020 có lẽ cũng chỉ đạt được khoảng 3.000-3.500 USD, tức là thuộc các nước có mức trung bình thấp. [7]
Nông nghiệp: Bỏ rơi nông dân và nông thôn!
Chủ trương công nghiệp hóa nông nghiệp, nhưng sau 30 năm đổi mới vẫn là cảnh con trâu đi trước cái cày đi sau!
VN là một nước nông nghiệp, vào thập niên 80 của thế kỉ trước có tới 80% dân số sống và phụ thuộc vào nghề nông. Đồng bằng sông Hồng và nhất là Đồng bằng Cửu long là hai thúng gạo nuôi dân và xuất cảng để tạo cơ sở và ngân sách cho xây dựng công nghiệp, phát triển bền vững cho toàn quốc. Nếu hiểu thấu đáo thế mạnh này của VN và có được một tầm nhìn xa thì một nhà nước sáng suốt không chỉ tìm cách làm phục hồi nông nghiệp, mà còn phải canh tân, công nghiệp hóa mọi khâu trong nông nghiệp. Từ tạo kiến thức trồng trọt cho nông dân, đem điện nước, đường xá, trường học và y tế về thôn xã, trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân, và có những chính sách khuyến khích nông dân tự nguyện hợp tác để sử dụng kĩ thuật canh tác mới nhằm gia tăng năng suất và tăng lợi tức cho nông dân, tức là gia tăng sức mua và đầu tư của 80% dân số. Ngoài ra nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản để làm tăng giá trị các mặt hàng này; khuyến khích và hỗ trợ nông dân tự thành lập các trung tâm hiện đại lưu trữ gạo, rau trái và các tổ chức của nông dân theo dõi thị trường nông nghiệp trên thế giới để tạo thương hiệu có uy tín cho các sản phẩm nông nghiệp của VN và có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế.
Các chính sách trên đây không phải là những điều mới lạ, trái lại đã được thực hiện thành công ở nhiều nước phương Tây dưới nhiều tên gọi nổi tiếng, như “Chương trình xanh” trong ngành nông nghiệp, như Hòa lan, Đức, Pháp, Hoa Kỳ và Gia nã đại. Đúng ra là một nước đi sau, nên VN cỏ thể học hỏi nhanh chóng và hiệu quả kinh nghiệm và kĩ thuật của các nước này.
Sau chiến thắng 1975 những người cầm đầu say mê với thành tích con đường XHCN đã dẫn tới chiến thắng vẻ vang trong chiến tranh thì tất yếu cũng sẽ dẫn tới thắng lợi thần kì trong kinh tế! Đây là tư tưởng rất lạc quan từ Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng tới hầu hết các ủy viên BCT khi ấy. Vì thế mô hình kinh tế theo XHCN đã được thi hành cấp tốc và triệt để trong nông nghiệp với các Hợp tác xã (HTX), trong thương nghiệp với xóa bỏ tư sản mại bản kinh tế tư nhân và thành lập các thương nghiệp quốc doanh, trong công nghiệp với hàng loạt doanh nghiệp quốc doanh. Nhưng sau đó không lâu, mô hình phát triển theo XHCN đã dẫn tới bế tắc toàn diện. Nông dân không chịu làm ăn, thương nghiệp nhà nước không có hàng để bán, các DNNN ngồi chơi. Dẫn tới nạn đói khủng khiếp vào giữa thập niên 80, khiến cho hàng triệu người rơi vào cảnh đói và khủng hoảng lương thực trầm trọng như thời 1945. Trong khi các cán bộ cao cấp được hưởng các chính sách ưu đãi từ nhà cửa, xe đưa đón tới chế độ ăn uống ngon và đầy đủ; còn người dân thì không có cả thịt, cá, vải, thuốc men và các nhu yếu phẩm hàng ngày.[8] Nhóm cầm đầu giáo điều mới thấy là không thể tiếp tục mô hình tập thể hóa nông nghiệp HTX theo kiểu Liên Xô và TQ được nữa, nếu không thì nông dân và thị dân sẽ nổi loạn.
Nhưng sau ĐH 6 (12.86) phải đợi thêm hơn một năm, sau những tranh cãi gay gắt giữa các phe trong BCT và TU, mới ra được Nghị quyết (NQ) 10 ngày 5.4.1988, được gọi là Khoán 10. Tuy vậy đảng xuyên qua nhà nước của đảng vẫn tiếp tục giữ độc quyền công hữu ruộng đất, nông dân vẫn phải thuê ruộng (xem Chương một, III và Chương hai, V). Tuy đây chỉ là chính sách đổi mới nửa vời, nhưng đã làm cho nông dân gắn bó siêng năng với đồng ruộng, thửa vườn, cái ao và gia súc. Nhờ thế sản lượng nông nghiệp đã gia tăng mạnh và liên tiếp trong nhiều năm. Khiến cho từ khủng hoảng lương thực với nạn đói trầm trọng, từ 1989 đã trở thành một nước xuất cảng gạo.
Trước khi có Khoán 10, sản suất lúa cả nước chỉ khoảng 13 triệu tấn, hàng năm phải nhập khẩu hàng triệu tấn.[9] Năm 2017 sản lượng lúa đã đạt khoảng 42,84 triệu tấn.[10] Trong những năm gần đây số gạo xuất khẩu đã lên tới gần 8 triệu tấn, đứng thứ hai trên thế giới về xuất cảng gạo.[11]Nhưng nay sau hơn 30 năm nông dân và nông nghiệp tại VN vẫn phải đối diện gay gắt trong nhiều vấn đề. Nhiều chuyên viên trong nước ta thán là, tại sao VN đang là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới, nhưng đại đa số nông dân vẫn rất nghèo, ngay cả nông dân Đồng bằng Cửu long, vựa thóc của cả nước? Trong khi ấy ngay sau Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì tháng 1.94 (Khóa 7), tại Hội nghị trung ương (HNTU) 7 (7.94) đã đưa ra nghị quyết với tham vọng “phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn gắn với đô thị hóa nông thôn”.[12]
Tại sao giá gạo của VN vẫn thấp hơn nhiều gạo Thái lan và cho tới nay sau mấy chục năm xuất khẩu, nhưng gạo của VN vẫn chưa có thương hiệu uy tín trên thị trường quốc tế, chỉ bán được cho một số nước với giá thấp? Sau hơn 30 năm thực hiện chính sách tam nông (nông nghiệp, nông dân, nông thôn) coi “nông nhiệp là mặt trận hàng đầu”, nhưng tại sao máy móc và kĩ thuật canh tác vẫn rất lạc hậu, tiếp tục lối làm ăn thô sơ con trâu đi trước cái cày đi sau? Tại ĐH 10 (2006) những người cầm đầu toàn trị thổi lên tiêu chí từ “ăn no” sang “ăn ngon”! UVTU Đỗ Hoài Nam khi ấy đã cho biết, ĐH 10 đã ra NQ khẳng định đưa “nền nông nghiệp VN phải hình thành được một số sản phẩm chủ lực, mũi nhọn có lợi thế phát triển, có phẩm chất tốt, chất lượng cao và qua chế biến sâu, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới để có giá trị gia tăng cao”. Ông còn cho biết thêm, tại HNTU 7 Khóa 10 đã ra NQ về nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo hướng này và lãnh đạo vẫn tuyên bố, nông nghiệp là mũi nhọn.[13]
Nhưng tại sao tới nay vẫn thường diễn ra “được mùa mất giá” cho nông dân? Tại sao sau hơn 30 năm vẫn không lập được các trung tâm lưu trữ gạo hiện đại và không thiết lập được công nghiệp chế biến nông sản; trong khi đó lại bỏ hàng ngàn tỉ đồng xây các cảng để chỉ nằm đắp chiếu, hay bỏ ra cả hàng trăm tỉ hoang phí để xây các tượng đài cho các nhà độc tài của Đảng? Sau 30 năm đổi mới, nhưng tại “Diễn đàn nông nghiệp” do CP tổ chức vào giữa tháng 10. 2016 lại vẫn lập lại, phải tạo một thương hiệu quốc tế tốt cho gạo xuất khẩu của VN! Nhưng nhiều chuyên gia đã chua chát nói thẳng: “Thương hiệu gạo, có đâu mà mất!” [14]
Một sản phẩm (công nghiệp hay nông nghiệp) phải có chất lượng tốt, được tín nhiệm của khách hàng, người tiêu dùng tín nhiệm và sẵn sàng trả giá cao. Họ sẽ tiếp tục tìm thương hiệu này. Thí dụ như trong sản phẩm xe hơi và điện tử, người tiêu dùng thường thích xe hơi Toyota, Mercedes và Samsung…. vì có phẩm chất tốt. Nhưng sau gần 30 năm xuất cảng gạo, gạo của VN vẫn không có thương hiệu có uy tín trên thị trường nông sản thế giới. Đầu năm 2016 nhiều chuyên viên và ngay cả các cán bộ phụ trách nông nghiệp cũng đã ta thán và nhìn nhận tình hình rất bất lợi này trong việc xuất cảng các nông sản của VN… Phó Cục trưởng Cục xuất nhập khẩu, bộ Công thương Trần Thanh Hải cho biết, năm 2015 gạo VN chiếm trên 50% tổng số gạo nhập khẩu của TQ, nhưng tại các siêu thị và cửa hàng lại không tìm ra gạo mang thương hiệu VN. Trong khi ấy, gạo Campuchia lại chễm chệ trên các cửa hàng. Chè, cà phê, hạt tiêu… là các nông sản xuất khẩu lớn của VN, nhưng vị thế cũng tương tự. Cựu Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn II (thành phố HCM) Vũ Trọng Khải cho biết, nguyên nhân đang gây bất lợi cho quyền lợi của nông dân, là vì các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở VN đều là DNNN, nên vẫn giữ tâm lí thờ ơ cha chung không ai khóc! [15]
Tại Hội nghị toàn quốc triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới 30.9.16 với sự hiện diện của tân TT Nguyễn Xuân Phúc, được biết sau 30 năm thực hiện chủ trương lấy nông nghiệp làm mũi nhọn để xây dựng “nông thôn mới” nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nông dân, nhưng tới tháng 9.16 mới chỉ có 2.045 xã (23%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.[16] Liệu con số đưa ra có chính xác không, không ai biết. Nhưng sau 30 năm mới chỉ có gần ¼ xã ở nông thôn tên toàn quốc đạt tiêu chuẩn nông thông mới. Đây là nhìn nhận thất bại trong việc cải thiện đời sống mấy chục triệu nông dân!
Trong khi chính phủ Nguyễn Tấn Dũng bảo đảm để nông dân được hưởng lãi ít nhất là 30% so với giá thành, nhưng dịp này tại QH bộ trưởng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao đức Phát lại cho biết, “giá thành 1 kg lúa là 4.100đ/kg như vậy giá thu mua lúa phải đạt 5.400đ/kg thì người trồng lúa mới lãi 30%. Nhưng hiện nay giá lúa khô loại thường nông dân cũng chỉ bán được 4.500đ, lúa hạt dài khoảng 4.800đ”. Nghĩa là chỉ đạt được 10% lãi. Bà Phạm Chi Lan cho biết, từ 2007 khi VN gia nhập WTO thì đầu tư cho nông nghiệp đã giảm rất mạnh và liên tục, “trước khi VN gia nhập WTO thì tỷ trọng đầu tư toàn xã hội vào nông nghiệp nhất là đầu tư của Nhà nước cũng còn tương đối cao chiếm tới 13,8% trong tổng mức đầu tư, nhưng sau vài năm tham gia vào WTO thì mức đầu tư vào nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 6,4% trong tổng mức đầu tư phát triển”.Đây rõ ràng là thái độ trọng công, khinh nông và bỏ nội, trọng ngoại của những người làm chính sách. Theo bà, chính sách bỏ rơi nông dân và nông nghiệp của chính quyền CSVN hoàn toàn trái ngược với các nước khác, “hầu hết các nước khi hội nhập họ đều lo bảo hộ nông sản, nhưng VN thì ngược lại buông nông sản, buông nông nghiệp và ngành này phải tự bơi tự bươn chải”. Trong khi ấy “ nguồn lực đầu tư dồn quá nhiều cho DNNN, quá nhiều cho các Tập đoàn Kinh tế để rồi họ gây biết bao vấn đề cho nền kinh tế hiện nay”. [17]
Thái độ khinh nông dẫn tới các chính chính sách bỏ rơi nông dân đã khiến cho tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp đã giảm liên tục từ giữa thập niên 90. Trong dịp tổng kết 30 năm đổi mới vào dịp ĐH 12 nhiều chuyên gia về nông nghiệp thảo luận trên các cơ quan truyền thông. Họ sử dụng ngay lí luận của chế độ toàn trị là, kết quả thực tiễn chứng minh cho lí thuyết đúng hay sai. Khi “Tổng kết thực tiễn” trong 30 năm đổi mới trong nông nghiệp họ đã nhận thấy rất rõ, tốc độ trăng trưởng trong nông nghiệp không tăng, trái lại đã giảm liên tục từ kế hoạch ngũ niên này sang kế hoạch ngũ niên khác.
Theo Tổng Cục Thống kê, khu vực nông, lâm và thủy sản tăng 0,65%, là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ 6 năm.[19] Các con số trên giải thích tình trạng chung trong sản xuất nông nghiệp: Nông nghiệp đã bị bỏ rơi, nông dân không được giúp đỡ các mặt cần thiết, nên năng suất lao động trong nông nghiệp rất thấp và giảm liên tục. Trong bản Báo cáo 2016 của Ngân hàng Thế giới (WB) về phát triển nông nghiệp của VN đã xác nhận lối canh tác chậm tiến, lạc hậu thiếu cơ giới hóa nông nghiệp và lạm dụng thuốc trừ sâu, nông dân thất nghiệp gia tăng, chất lượng xấu.[20] WB còn cho biết, những năm gần đây mỗi năm nông nghiệp VN phải chịu thiệt hại khoảng 1 tỉ USD vì mất thị trường xuất khẩu do không tuân thủ các qui định vệ sinh an toàn thực phẩm.[21]
Cuối tháng 8.16 bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn (NN&PTTN) đã họp tổng kết 3 năm tái cơ cấu trong nông nghiệp (2013-15) có mặt Phó TT Trịnh Đình Dũng và bộ trưởng Nông nghiệp Nguyễn Xuân Cường. Các viên chức này xác nhận, không có chuyển biến thuận lợi, vì ruộng đất vẫn bị xé nhỏ cho nên không thể công nghiệp hóa nông nghiệp.[22] Ngân hàng Thế giới cho biết, đất nông nghiệp chia theo đầu người ở VN rất thấp, “chỉ đạt bình quân 0,07 hecta, thấp hơn nhiều so với tỉ lệ 0,27 hecta mỗi người tại Thái lan .[23] TS Lê Đăng Doanh nêu rõ một nguyên khác khiến các sản phẩm nông nghiệp có giá trị rất thấp và nông dân nghèo, vì nền nông nghiệp VN chưa phát triển được công nghiệp gia công chế biến là làm tăng thêm giá trị gia tăng. [24]
Chính vì thế đời sống của mấy chục triệu nông dân tiếp tục trong cảnh đói nghèo, ngay cả ở Đồng bằng Cửu long, vựa thóc cả nước. Họ dẫn chứng, một gia đình nông dân hai vợ chồng và hai con mức thu nhập từ 8 công ruộng ba vụ mỗi năm được tổng cộng 40 triệu đồng. Nếu chia theo đầu người thì mỗi người chỉ được 10 triệu đồng/năm, tức trung bình chỉ được 840.000đ/tháng, tương đương với 40 USD/tháng. Trong khi đó mức thu nhập đầu người bình quân năm 2013 ở VN là 1.960 USD, tức khoảng 150 USD/tháng.[25] Như thế mức chênh lệch giầu nghèo giữa thành thị và thôn quê rất lớn.
Nhìn tổng thể về kết quả 30 năm gọi là “đổi mới” xuyên qua 6 ĐH và bao nhiêu HNTU và các nghị quyết về công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Đỗ Hoài Nam, một nhà khoa bảng hàng đầu XHCN đã từng đóng góp ý kiến cho BCT và BBT trong nhiều nhiệm kì đã phải nhìn nhận tình trạng dẫm chân tại chỗ:
“Sự phát triển của nông nghiệp chủ yếu vẫn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết và phương thức canh tác truyền thống, dựa vào đất đai và lao động thủ công và vẫn nặng về sản xuất lúa gạo phẩm chất thấp, chưa chịu tác động mạnh mẽ của công nghiệp, công nghệ và dịch vụ, nhất là công nghệ cao. Lao động trong nông nghiệp vẫn còn gần 50% lao động toàn xã hội, trong đó trên 90% là chưa qua đào tạo và dân số sống ở nông thôn vẫn còn khoảng 70%”. [26]
Tại QH ngày 22.10.15 bộ trưởng Kế hoạch&đầu tư Bùi Quang Vinh cho biết: “Nhìn lại bao nhiêu năm, nông nghiệp bây giờ vẫn còn tình trạng con trâu đi trước cái cày theo sau. Ruộng của chúng ta chia manh mún, bé tí, từ máy bay nhìn xuống, ruộng, kể cả ở đồng bằng sông Cửu Long, chia nát bét, ô ruộng bé tí bằng căn nhà này thôi. Ngày xưa ruộng thẳng cánh cò bay thì bây giờ nó đã phân đất cho hộ gia đình tự cứu lấy mình trong giai đoạn trước, bây giờ nó đang cản trở lại nền sản xuất lớn…Một cân ngô và một cân đậu tương ở VN đắt gấp ba lần so với Mỹ sản xuất. Cánh đồng của họ thẳng cánh cò bay, một công lao động bằng máy móc bằng 1.000 người VN, nên giá thành ngô của họ chỉ bằng một phần ba giá thành ngô VN. Cho nên họ có sức cạnh tranh”.[27] Các điều kiện vô cùng bất lợi này đã dẫn tới năng suất lao động ở VN trong mọi lãnh vực, kể cả trong nông nghiệp rất thấp. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năm 2013 năng suất lao động của VN thuộc nhóm thấp nhất châu Á-Thái bình dương; thấp hơn Singapore 15 lần, Nhật 11 lần, Nam hàn 10 lần; chỉ bằng 1/5 Mã lai, 2/5 Thái lan.[28]
Tại “Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về chiến lược tam nông” ngày 27.11.18 chính Nguyễn Xuân Phúc đã xác nhận kết quả trên 30 năm trong chính sách tam nông là thất bại trong mọi lãnh vực, thua cả Thái lan và Campuchia: “Việc áp dụng tiến bộ khoa học trong nông nghiệp còn yếu, giá thành sản phẩm cao, chủ yếu là xuất thô, chưa qua chế biến, chưa đột phá trong nâng cao giá trị gia tăng; cơ cấu sản xuất còn manh mún, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn còn chậm, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn nhiều, việc xây dựng thương hiệu nông nghiệp còn yếu kém..”. [29]Mức đầu tư khoa học trong nông nghiệp ở VN chỉ bằng 1/10 Thái lan và 1/7 Phi luật tân. Nếu so với Nam Hàn thì con số này chỉ bằng 1/600.[30]
Mặc dầu vậy Nguyễn Xuân Phúc không dám nhìn thẳng sự thực về sự bỏ rơi nông dân và nông thôn trong suốt trên 30 năm “đổi mới” của những người cầm đầu chế độ toàn trị. Trong Hội nghị trên ông Phúc lại trút trách nhiệm là nông dân ỷ lại: “Chúng ta đang nói tập trung làm nông nghiệp, nông thôn mà nông dân chúng ta có tinh thần ỷ lại thì không bao giờ thành công!”[31]
Nguyên nhân và hiểm họa
Sau 30 năm đổi mới, nhưng tình hình nông nghiệp và đời sống mấy chục triệu nông dân vẫn ở tình trạng rất lạc hậu và đói nghèo. Nhiều chuyên viên, trong đó có cả những cán bộ cao cấp, đã dẫn chứng và cắt nghĩa, như trình bày ở trên, về các nguyên nhân dẫn tới tình hình rất bi đát hiện nay cho 70% dân số. Trong đó tổng hợp lại nổi bật hai nguyên nhân căn bản.
Nguyên nhân hàng đầu rất quan trọng khiến bao nhiều triệu nông dân triền miên rơi vào tình trạng “được mùa mất giá” và vẫn phải lao động theo cách con trâu đi trước cái cày đi sau, vì chính sách vô trách nhiệm của chế độ toàn trị, nhắm mắt rập khuôn theo kiểu DNNN trong nông nghiệp.Việc chế độ cho thành lập các Tổng công ti lương thực I và II vàHiệp hội Lương thực (VFA) chính là cách độc quyền trong nông, lâm và thủy sản. Các DNNN này gần như độc quyền trong việc định giá thóc gạo và thường cấu kết với các thương lái để ép giá nông dân phải bán nông sản theo giá bất lợi.[32] Chế độ toàn trị không tin vào nông dân và không sáng suốt nhận ra được tầm quan trọng của nông nghiệp VN trong việc phát triển đất nước, nên đã không tạo cho giới nông dân những điều kiện và cơ hội cần thiết để tự canh tân sản suất, tự tổ chức những cơ sở thiết yếu trong các khâu canh tác, chế biến và tìm thị trường để các nông sản VN có thương hiệu tốt, khả năng cạnh tranh cao, bán được giá trên thị trường quốc tế….
Các Tổng công ti lương thực nhà nước được độc quyền và được ưu đãi nên chỉ làm việc theo tinh thần công chức, sáng xách ô đi tối xách về, không tha thiết tới quyền lợi của mấy chục triệu nông dân…Không những thế còn thỏa hiệp với nhau và với các đại quan đỏ để tham nhũng và bóc lột nông dân! Đây là thái độ khinh thường nông dân và bỏ rơi nông thôn của nhóm cầm đầu toàn trị trong suốt mấy thập kỉ vừa qua! Chính vì thế cho tới nay mấy chục triệu nông dân vẫn bị nghèo đói và nông nghiệp không ngóc đầu lên được!
Một nguyên nhân quan trọng khác khiến nông nghiệp VN vẫn lạc hậu và nông dân vẫn phải chịu cảnh đói nghèo là do trước sau đảng vẫn ngang ngược coi đất đai thuộc công hữu, vẫn giáo điều nhắm mắt theo ý thức hệ Marx-Lenin. Chính từ khi Nguyễn Phú Trọng làm TBT đã cố tình ngăn cản và chống lại cả quyết định của ĐH 11 đòi sửa lại Luật Đất đai cho phù hợp với quyền lợi của nhân dân.Theo Tổng thanh tra CP thì có đến trên 70% các vụ khiếu kiện là về đất đai.[33]Ở nông thôn nông dân vẫn phải thuê ruộng đất của nhà nước, đại đa số ruộng đất bị chia cắt ra rất nhỏ và không có những biện pháp khuyến khích nông dân canh tác chung cùng có lợi. Nên không thể sử dụng các máy móc nông nghiệp hiện đại từ các khâu làm đất, cấy hạt giống, phân bón, trừ sâu tới gặt hái… Phần lớn các phương tiện canh tác cũ đã lạc hậu vẫn được sử dụng. Đây là lí do khiến năng suất nông nghiệp thấp và dẫn tới đời sống vẫn đói nghèo cùa bao nhiêu triệu nông dân chiếm tới trên 2/3 dân số VN. Mặc dù nông dân VN rất siêng năng và cần cù!
Tóm lại, cuộc sống đói nghèo của nông dân VN suốt gần 70 năm dưới chế độ toàn trị bắt nguồn từ một nguyên nhân căn bản là, thực hành chủ thuyết Marx-Lenin với chính sách coi ruộng đất là thuộc độc quyền của Đảng. Tức là trong thực tế ĐCSVN đã trở thành tên địa chủ độc nhất trên toàn quốc; nó tái lập biện pháp phát canh thu tô của địa chủ trước đây. Chỉ có điều khác là, trước đây địa chủ cho nông dân thuê ruộng đất, nhưng phải trả tiền thuê ruộng đất cho địa chủ. Nay thì ĐCS đóng vai trò này của địa chủ, nhưng với những chính sách tham lam và độc ác hơn, tuy rằng vẫn hô lớn chống địa chủ bóc lột!
***
Ngoài thái độ và chính sách khinh nông của nhà cầm quyền, cũng như sự thiếu năng lực của cán bộ, hiện nay nông nghiệp VN còn đứng trước nguy cơ của biến đổi khí hậu trên toàn cầu do những hậu quả của CO2, đặc biệt là Đồng bằng Cửu long, vựa lúa nuôi dân cả nước. “Bát cơm vàng” đang có nguy cơ biến mất. Khu vực này bao gồm 13 tỉnh, với 12,3 % diện tích và 20% dân số, đóng góp tới 27% GDP cả nước. Hai tỉnh Cà mâu và Kiên giang là khu đất thấp hơn cả mức nước biển. Trong mùa mưa nếu thủy triều cao khoảng một mét thì có nguy cơ đồng ruộng bị chìm trong nước mặn, không thể canh tác. Nạn sụt lún sẽ càng gia tăng. Trong khi ấy từ trước tới nay sông Cửu long là nguồn cung cấp không chỉ hải sản, mà còn đem phù sa làm phì nhiêu đồng ruộng. Nhưng hiện nay TQ đã xây nhiều đập thủy điện ở thượng nguồn sông Cửu long, khiến cho lưu lượng nước bị giảm.
Theo dự báo của Cơ quan Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) và nhiều chuyên viên quốc tế, với tình hình gia tăng nhiệt độ trên thế giới tiếp tục như hiện nay thì tới cuối thế kỉ này nhiệt độ ở Đồng bằng Cửu long có thể tăng thêm 1,3-2,8°C, mưa sẽ tăng 4-8%, nước biển dâng từ 66 cm tới 99cm. Nếu nước biển dâng cao thêm 1m có thể làm cho 39% diện tích Đồng bằng Cửu long bị ngập, 35% dân số bị ảnh hưởng. Đây là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu. Nếu tình hình này diễn ra sẽ làm 22 triệu người mất nhà cửa và thiệt hại lên tới 10% GDP.[34]
III. Đầu tư nước ngoài: Khinh trong trọng ngoài,
dẫn tới kinh tế lệ thuộc FDI và công nghiệp nội bị bỏ rơi
Sau khi HK và các nước Tây phương hủy bỏ chính sách cấm vận kinh tế và thương mại với VN từ đầu thập niên 90, chế độ toàn trị CSVN đứng trước hoàn cảnh rất ngặt nghèo. Khi ấy Liên Xô đã sụp đổ, tức là HN mất toàn bộ khu vực “thị trường truyền thống” suốt mấy chục năm từng là chủ lực giao thương và viện trợ cho VN. Trong khi ấy tái lập bang giao với TQ mới bắt đầu và chưa có gì vững chắc. Trong hoàn cảnh đó, muốn tái thiết đất nước chỉ còn cách mở cửa buôn bán với Tây phương, đặc biệt với cựu thù Mĩ. Đây là giai đoạn chủ trương làm bạn với tất cả! Hà nội đưa ra mục tiêu kinh tế đối ngoại là tìm cách thu hút mời các công ti nước ngoài đầu tư trực tiếp vào VN xây dựng các xí nghiệp để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu (Foreign Direct Investment -FDI). Họ cho rằng, đây là chính sách khôn ngoan “đi tắt đón đầu”, như một đòn bẩy để đưa nền kinh tế vốn rất tụt hậu của VN có thể chuyển nhanh sang phát triển canh tân đất nước, nhờ vốn và kĩ thuật hiện đại của các công ti này.
Về lí thuyết, chủ trương này bao gồm một số mục tiêu chính:
Tạo công ăn việc làm và nâng cao trình độ chuyên môn cho công nhân VN
FDI hợp tác với các doanh nghiệp VN, chuyển giao kĩ thuật công nghiệp hiện đại và giúp công nghiệp VN phát triển kiến thức quản trị
Thu được các nguồn ngoại tệ mạnh để làm vốn cho phát triển kinh tế
Các sản phẩm của FDI xuất cảng sẽ mang lại số thuế lớn cho ngân sách quốc gia
Các FDI sẽ sử dụng các kĩ thuật hiện đại, nên tránh làm bãi rác công nghệ
Tuy Luật đầu tư cho nước ngoài đầu tiên ra đời từ 1988 (QH thông qua 29.12.1987)[35], nhưng phải đợi tới giữa thập niên 90 sau khi VN và HK bình thường hóa quan hệ ngoại giao thì các các công ti FDI mới dồn dập vào làm ăn ở VN.[36]Điều 27 Luật đầu tư cho doanh nghiệp nước ngoài năm 2005 qui định các lãnh vực được ưu đãi, trong đó Khoản 3 ghi rõ “Sử dụng công nghệ cao, kĩ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái.”. [37] Tuy nhiên phải đợi tới sau khi VN gia nhập WTO vào cuối năm 2006 thời Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng (TT) thì các công ti lớn quốc tế mới đổ hàng tỉ USD đầu tư vào VN. Chỉ riêng 9 tháng đầu 2008 vốn đăng kí đầu tư nước ngoài vào VN đã lên tới 57 tỉ USD. Trong đó có 8 dự án có vốn đăng kí trên 1 tỉ USD/dự án.[38] Tới cuối 2012 có tất cả 14.364 dự án đang hoạt động với tổng số vốn đăng kí lên tới 212,846 tỉ USD. Trong đó chủ yếu là các công ti FDI với 100% vốn nước ngoài chiếm tới 79,61% tổng số dự án và 66,51% tổng vốn đăng kí; số công ti FDI liên doanh với tư nhân VN và DNNN chỉ chiếm 17,86% tổng số dự án và 25,92% tổng vốn đăng kí.
Trong dịp tổng kết 30 năm chính sách đối với FDI (1988-2018) một số cơ quan và chuyên viên đã phân tích các hoạt động và kết quả của FDI đối với kinh tế VN. Thứ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng cho biết, VN “đã thu hút được trên 25.000 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 320 tỉ đô la Mỹ”.[39] Theo TS Vũ Thành Tự Anh, Đại học Fulbright VN, đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ba thập niên qua “đang tạo ra khoảng 70% giá trị xuất khẩu, 50% giá trị sản xuất công nghiệp và 20% GDP của cả nước”.[40]Trong khi FDI chiếm trên 2/3 tổng xuất khẩu và ½ tổng giá trị sản xuất công nghiệp của VN thì “hệ số chuyển giao công nghệ” của các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp nội lại “thấp nhất trong khu vực ASEAN, thua cả Lào và Campuchia”. Chính sự kiện này đã được Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ông Vũ Tiến Lộc xác nhận trong cuộc Hội thảo ở HN ngày 30. 8.18. [41]
Nói một cách khác, vai trò của các doanh nghiệp FDI đang đóng vai trò then chốt có tính cách quyết định cho tương lai của kinh tế VN, nhưng hầu như không có chuyển giao công nghệ với các doanh nhiệp tư nhân VN. Nguy hiểm nữa là, rất nhiều xí nghiệp FDI đã sử dụng các máy móc cũ và có trình độ công nghiệp rất thấp, ngày càng đe dọa môi trường sinh thái của VN, điển hình như thảm họa cá chết hàng loạt phủ trắng ven biển các tỉnh miền Trung do đại công ti Formosa gây ra năm 2016. Điều này hoàn toàn trái ngược với các mục tiêu đãđưa ra của nhà cầm quyền toàn trị VN xuyên qua các Luật đầu tư cho các doanh nghiệp nước ngoài tại VN trong hơn 30 năm qua.
Cũng theo báo cáo vào đầu năm 2018 của VCCI, “mỗi năm có khoảng từ 40-50% doanh nghiệp FDI kê khai lỗ, trong đó, có rất nhiều doanh nghiệp lỗ liên tục trong nhiều năm, thậm chí có doanh nghiệp lỗ lũy kế đến mức âm vốn chủ sở hữu, nhưng vẫn tiếp tục hoạt động bình thường, kể cả việc mở rộng quy mô kinh doanh. Một số địa phương thu hút nhiều doanh nghiệp FDI như thành phố HCM, Bình Dương, tỉ lệ doanh nghiệp FDI kê khai lỗ lên đến 50-60%, trong đó có nhiều doanh nghiệp kê khai lỗ trong nhiều năm”.[42] Tình hình rất lạ lùng như thế phải hiểu theo nhiều mặt. Đó là: 1. Những đóng góp thuế thực sự của FDI vào ngân sách quốc gia ở mức rất thấp. 2. Mức chuyển giao kĩ thuật công nghệ cho các doanh nghiệp nội địa rất thấp. 3. Sử dụng các máy móc cũ nên đang tạo nguy hại về môi trường.
Mặc dầu tình hình phát triển của các công ti FDI đi ngược lại với các chủ chương và chính sách của chế độ toàn trị trong việc thu hút đầu tư của nước ngoài, vậy tại sao họ vẫn được mở rộng làm ăn ở VN? Những nghịch lí này của FDI đang diễn ra ở VN trong suốt mấy thập niên qua. Tại sao các nghịch lí ngày không được cải thiện, ngược lại còn đang mở rộng từ thời Nguyễn Tấn Dũng và đang gia tăng từ khi Nguyễn Xuân Phúc làm TT? Những người cầm đầu chế độ toàn trị có làm chủ động trong các chính sách đối với FDI, hay đã bị lệ thuộc và bị sai khiến bởi các nhóm lợi ích cấu kết với các công ti FDI từ ngay trong giai đoạn hoạch định chính sách?
Các công ti FDI tại VN phân loại theo hình thức đầu tư (2012)
TT
Hình thức đầu tư
Số dự án
Tổng vốn đăng kí (triệu USD)
Tỉ trọng (%)Số dự án Tổng vốnđăng kí
1
100% vốn nước ngoài
11.370
141.582,33
79,16 66,62
2
Liên doanh
2.566
55.162,65
17,86 25,92
3
Hợp đồng BOT, BT, BTO
14
5.857,32
0,10 2,75
4
Hợp đồng hợp tác kinh doanh
218
5.469,09
1,52 2,57
5
Công ti cổ phần
195
4.677,21
1,36 2,20
6
Công ti mẹ con
1
98,01
0,01 0,05
Tổng số
14.364
212.846,61
100 100
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, 2013. Xuất xứ: NCKT 4.2013,tr. 47
Nhà nước CS ưu đãi tối đa cho các công ti FDI về nhiều mặt, như đất đai lập công xưởng, được ưu đãi thuế rất thấp các năm đầu, lương công nhân thấp; nhập khẩu máy móc, mua sắm trang thiết bị và hàng từ công ti mẹ hưởng chế độ giảm thuế đặc biệt, giành ưu đãi cho họ chuyển lợi nhuận về công ti mẹ. Ngoài ra để thu hút FDI, mỗi địa phương còn được quyền đưa ra các biện pháp ưu đãi cao hơn; ngoài việc miễn giảm tiền thuế đất, tiền sử dụng đất lên tới 50% theo NQ 62 của CP, còn gia hạn thêm thời gian miễn giảm thuế từ 3-6 năm.[43] Chế độ toàn trị cho lập nhiều Khu chế suất và Khu công nghiệp giành riêng cho các công ti FDI. Các công ti FDI tập trung hoạt động trong lãnh vực sản xuất hàng hóa xuất khẩu, như giầy dép, quần áo, linh kiện điện tử. Khi chương trình mở rộng các đô thị được ban hành, nhiều công ti FDI đã tìm cách hợp tác với các DNNN để lợi dụng chính sách ưu đãi của NHNN trong việc vay với lãi suất rất thấp những số tiền rất lớn lên tới 135.000 tỉ đồng (>8,4 tỉ USD) vào khu vực bất động sản. Như các dự án Nam Thăng long-Ciputra, Hồ Tràm của một công ti Canada (4,2 tỉ USD), Starbay của British VirginIslands (1,65 tỉ USD) và Khu công nghiệp Thủ thiêm của Singapor (1,2 tỉ USD) khi ấy. Họ còn lợi dụng sự dễ dãi và khuyến khích của chính quyền trung ương và các địa phương, nên nhiều năm -nhất là thời Nguyễn Tấn Dũng- đã ồ ạt lập 78 sân golf với tổng số vốn đăng kí là 13,3 tỉ USD và chiếm một diện tích 26.170 ha ở 39 thành phố/tỉnh. Ngoài ra cũng trong thời gian này còn có 66 dự án khác xây sân golf.
Chính TCCS đã đăng bài của hai chuyên gia kinh tế của Cơ quan Phát triển của LHQ ở VN tường thuật cách biến đất nông nghiệp thành các sân golf làm nơi giải trí của các nhà tư bản nước ngoài và các quan đỏ. Theo qui định của Nhà nước thì tiền bồi thường cho đất nông nghiệp rất thấp. Không những thế đất xây sân golf còn được coi là dùng vào thể thao, “nên được hưởng mức thuế đất ưu đãi”. Vì thế nhiều công ti FDI đã lợi dụng dùng một phần đất sân golf để xây “khách sạn, nhà hàng và giải trí”. Họ đầu cơ xây các sân golf, khách sạn và các khu giải trí với các ưu đãi cao nhất để hi vọng có thể thu hồi vốn và có lời nhanh. Trong việc xây dựng các khu vực bất động sản, nhiều công ti FDI đã dùng uy tín và mánh lới là công ti ngoại quốc, có quan hệ tốt với các quan đỏ có quyền lực, nên nhiều khi họ chỉ cần xây móng xong là đã rao bán. Người mua (thường là cán bộ có máu mặt) sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn đặt cọc trước. Như vậy là các công ti FDI đã dùng tiền của người mua nhà để xây nhà, họ chỉ phải bỏ ra số vốn rất ít nhưng hưởng lợi nhuận rất cao. Có dư luận cho rằng, dự án Ciputra và Keangnam (Đại hàn) thuộc loại đầu cơ như vậy.[44] Đây chính là cách làm ăn móc ngoặc, làm giầu nhanh bất chính giữa các quan đỏ với nhiều công ti nước ngoài.
Một hiện tượng rất phổ biến là, nhiều doanh nghiệp FDI đã khai lỗ nhiều năm liên tiếp, trong khi đó họ vẫn gia tăng đầu tư tại VN. Như ở Khu chế suất tại Bình dương số doanh nghiệp FDI khai lỗ năm 2010 là 754/1490, chiếm tỉ trọng 50,6%; trong đó có tới 200 doanh nghiệp mức lỗ cao hơn cả vốn. Tại Sài gòn và Đồng nai số doanh nghiệp FDI khai lỗ cũng lên tới 60% và 52,2%. Tại Lâm đồng số doanh nghiệp FDI khai lỗ là 104/111. Mánh lới phổ thông thứ hai của các công ti FDI là khai giá các tài sản như máy móc, thiết bị, nguyên liệu, dịch vụ, phí bản quyền… cao hơn nhiều so với giá thực tế. Mặc dầu đa số máy móc chuyển sang VN đều thuộc loại trình độ kĩ thuật cũ và gây ô nhiễm cao. Đây là thuộc vào các vốn đầu tư, từ đó họ có lợi thế để tính thuế. Họ còn khai vay tiền các ngân hàng với lãi suất rất cao, hoặc các chi phí cho dịch vụ như quản lí, quảng cáo, tiếp thị, đào tạo, thuê chuyên gia. Đây là những chi phí đầu vào. Từ đó vào cuối mỗi năm họ có thể khai lỗ, hoặc lời rất ít để được miễn thuế hoặc chỉ đóng thuế rất ít. Năm 2009 có 760/1.358 (56%) công ti FDI khai lỗ. Các thủ đoạn này làm ngân sách nhà nước thất thu hàng năm rất lớn.[45]
Một hiện tượng phổ thông khác là, đại đa số các công ti nước ngoài hoạt động tại VN theo hình thức 100%, không thích liên kết với các doanh nghiệp VN vì nhiều lí do, từ bí mật nghề nghiệp, khác biệt ngôn ngữ tới sự phân hóa quá nhỏ của các doanh nghiệp tư VN. Đặc biệt nhất là, nhà cầm quyền CS rất cần ngoại tệ qua sự đầu tư của các công ti FDI nên không dám có những chính sách rõ ràng -như TQ và một số nước Á châu- để các công ti FDI phải tích cực hợp tác với doanh nghiệp tư nhân VN. Vì thế các doanh nhân, doanh nghiệp VN và công nhân mất các cơ hội tốt để học tập kĩ thuật, cách quản trị và điều hành các hãng xưởng theo trình độ mới.
Không chỉ chèn ép giới kinh doanh tư nhân VN, các công ti FDI còn tìm cách bóc lột hàng triệu công nhân bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, với sự làm ngơ hoặc tiếp tay nhà cầm quyền CS. Tính tới năm 2012 có 283 Khu công nghiệp trên 58 tỉnh/thành phố, chiếm diện tích 76.000 hecta. Trong đó miền Đông Nam Việt nhiều nhất với 88 khu công nghiệp ( 31,1%), Đồng bằng sông Hồng 24,7%, Đồng bằng Cửu long 17,7%, Miền Trung 15,5%. Chia theo tỉnh/thành phố thì Đồng nai có 30 Khu công nghiệp, Bình dương 25, Sài gòn 19, Hà nội 11…Riêng Đồng bằng Cửu long có 51 Khu công nghiệp và 200 cụm công nghiệp chiếm diện tích 25.000ha, nhưng mới sử dụng khoảng 20%. Nhiều Khu công nghiệp bị qui hoạch treo phí phạm đất canh tác.[46] Số lao động làm trong các Khu công nghiệp tăng rất nhanh. 1995 mới có 50.000 công nhân, năm 2000 đã tăng lên 201.000, năm 2007 lên tới 1,04 triệu và 1,765 triệu công nhân vào năm 2011. Bình quân số công nhân làm trong các khu công nghiệp gia tăng hàng năm từ 10-15%.
Trong khi số công nhân gia tăng rất nhanh thì Nhà nước CS không có chính sách để các doanh nghiệp FDI có chương trình xây dựng cư xá cho công nhân. 80% công nhân phải thuê phòng trọ ở bên ngoài. Nếu tính theo tỉ lệ và diện tích các phòng trọ thì thật khủng khiếp: Số công nhân phải sống trong phòng rộng dưới 3m² chiếm tới 19%, 3-5m² (21,4%), 5-7 m² (10,6%),8-10m² (22%), 11-20m² (22,4%); số công nhân có phòng trọ trên 20m² chỉ có 5,9%. Rất nhiều trường hợp 3 công nhân phải thuê 1 phòng 10-12m², giá thuê 250.000-300.000đ/tháng (2012). Không chỉ phải ở trong các phòng trọ chật chội, thiếu tiện nghi, thiếu vệ sinh như các chuồng gà; còn thiếu các nhà trẻ, trường học, trạm y tế, chợ, siêu thị, giải trí…Đấy là chưa kể chính sách “hộ khẩu” đã khiến cho con cái công nhân không được thu nhận vào các trường học. Điều này ảnh hưởng vô cùng bất lợi cho hàng trăm ngàn thiếu niên.[47]
Cuộc sống lam lũ của hàng triệu công nhân, đa số là phụ nữ và con thơ, trong các khu công nghiệp giành cho các công ti FDI là những hình ảnh sống động nhất và tồi tệ nhất như thời Cách mạng Công nghiêp hai thế kỉ trước, với cảnh bóc lột của thời kì tư bản rừng rú. Trong đó có sự cấu kết công khai giữa vua chúa cầm quyền và bọn tư bản bóc lột. Nhưng rất oái ăm và lạ lùng là, tình trạng vô nhân đạo này lại tái diễn vào đầu Thế kỉ 21 tại VN trong khuôn khổ chế độ XHCN; trong đó những người cầm đầu luôn luôn vỗ ngực, đó là chế độ bảo vệ người lao động, bảo vệ quyền làm người!
Không những thế nhiều công ti FDI vi phạm qui luật lao động, thậm chí vi phạm cả luật hình sự đối với công nhân VN. Như ngược đãi công nhân, làm tới 12 giờ/ngày, đánh đập công nhân. Nhiều công ti Nam hàn đã vi phạm. Các vụ đình công diễn ra khá phổ biến trong các công ti của Đài loan và Nam hàn. Năm 2010 xẩy ra 62 vụ đình công ở Sài gòn, trong đó 37 vụ trong các công ti FDI. Trong số này 21 vụ ở các công ti Nam hàn.[48] Số các công ti của Nam Hàn, Đài loan, Hồng kông và Nhật chiếm một tỉ lớn của FDI hoạt động ở VN. Điều này có thể hiểu, các nước này không chỉ là láng giềng mà còn có nền văn hoá tương đồng với VN, hiểu rõ tâm lí và tập quán của người Việt, đặc biệt một số các nước này không coi trọng nhân quyền và quyền lợi của công nhân ngay ở trong nước họ!
Một hình ảnh “thân dân” rất kịch cỡm đã được TT Nguyễn Xuân Phúc dàn cảnh trong chuyến thăm công nhân tại một công ti FDI ở Đồng nai vào cuối tháng 10.2017. Đây cũng là công ti mà hơn một năm trước, khi mới nhận chức TT ông Phúc đã thăm. Nay ông trở lại để xem có tiến bộ hay không. Tại đây TT đã hỏi công nhân về tình hình lao động và cuộc sống hàng ngày của họ. Khi tới bàn ăn của công nhân ông hỏi: “Bữa ăn từ 16.000-23.000 đồng có đảm bảo chất lượng không? Sau giờ làm việc, công nhân có thời gian để sinh hoạt văn hóa, thể thao hay không? Mức lương và cuộc sống có đảm bảo không?”[49] Tại sao Nguyễn Xuân Phúc không tổ chức một cuộc thăm bất ngờ ở một công ti FDI khác để biết các bữa ăn trưa thịt ôi canh ủng chỉ với giá hai ba ngàn đồng; hay đi thăm các phòng trọ như ổ chuồng gà giành cho công nhân?
Theo bộ Kế hoạch và đầu tư, tới cuối 2017 có 128 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam. Lần đầu tiên Nam Hàn đang dẫn đầu với tổng vốn đăng ký 57,1 tỷ USD (chiếm gần 18,2%), thứ hai là Nhật bản với 46,3 tỷ USD, tiếp đến là Singapore và Đài loan.[50]
Tờ Quân đội Nhân dân (QĐND) cũng cho biết, hiện các công ti FDI đang sử dụng khoảng 30% lực lượng lao động công nghiệp”.[51] Nhưng mặt khác, khu vực FDI đang bộc lộ những mặt trái gay gắt; như gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng, nạn chuyển giá bất hợp pháp, sử dụng công nghệ lạc hậu. BCT đưa ra mục tiêu là, dùng FDI để lan tỏa công nghiệp hiện đại cho kinh tế tư nhân nội địa, nhưng thực tế đã không diễn ra như vậy. Theo điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI), các công ti FDI “chỉ mua khoảng 26,6% thiết bị, đầu vào từ DN Việt Nam, còn lại là nhập khẩu và nhập từ công ty mẹ. Điều này chứng tỏ, DN Việt Nam đang được hưởng lợi rất ít từ hiệu ứng lan tỏa do dòng vốn FDI mang lại qua quá trình chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và nâng cao năng suất”. Trong báo cáo “Việt Nam tăng cường năng lực cạnh tranh và liên kết của DN vừa và nhỏ (DNVVN)-Bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế” Nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cũng xác nhận, “các DNVVN của Việt Nam chủ yếu là nhà cung cấp cấp ba (gián tiếp), được mô tả như là ngành sản xuất các nguyên liệu đầu vào, nguyên liệu đơn giản và ít giá trị gia tăng”.[52]
***
Nếu so sánh giữa chủ trương (lí thuyết) và kết quả thực tiễn trong việc thực hiện chính sách FDI gần ba thập kỉ qua của chế độ toàn trị CSVN thì càng thấy rõ sự khác biệt rất rõ rệt như trắng với đen giữa mục tiêu và kết quả:
– Chủ trương dùng FDI để thúc đẩy công nghiệp VN phát triển. Nhưng oái oăm đại đa số các FDI chỉ làm ăn riêng, cho nên đến nay nhiều doanh nghiệp tư VN đã không làm được cái đinh ốc!
– Chủ trương dùng FDI để VN có “công nghiệp xanh”. Nhưng nay nhiều FDI đang biến VN thành bãi rác thải công nghiệp độc hại, không những thế họ chỉ chuyển vào VN các máy móc có trình độ kĩ thuật rất thấp.
– Chủ trương bảo vệ quyền lợi lao động của công nhân trong các công ti FDI, nhưng thực tế hàng triệu công nhân VN đang bị bóc lột và bạc đãi!
Tự vỗ ngực là những người lãnh đạo CS giầu kinh nghiệm, biết rõ tâm đen của các giới tư bản, nhưng tại sao họ lại trải thảm đỏ mời gọi FDI, thế rồi bị sỏ mũi? Họ nghĩ rằng có thể tương kế tựu kế? Nhưng nếu xét qua nhiều giai đoạn tham gia của FDI ở VN thì cho thấy, họ bị chạy theo, rất bị động chứ không chủ động. Những sự cố về ô nhiễm môi trường đã xẩy ra và các hậu quả vô cùng tai hại của nó, cũng như lương bổng bị bóc lột và đời sống đói rách của hàng triệu công nhân cho thấy, khi lập kế hoạch mời FDI họ ở thế bị động, cứu đảng và cứu mình để nắm quyền nên phải nhắm mắt làm liều.
Lời xác nhận của Nguyễn Phú Trọng trong vụ Formosa: “Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu, nên bây giờ chúng ta phải trả giá”. (Xem Chương chín, V). Lời xác nhận trên của người cầm đầu chế độ toàn trị không chỉ giới hạn trong lãnh vực môi trường, mà có giá trị cả trong các lãnh vực khác, như chờ đợi FDI chuyển vào VN những công nghệ với kĩ thuật tiên tiến, hay bảo vệ quyền lợi lao động của công nhân.
Sự tăng trưởng về vốn đầu tư vào VN hay kim ngạch xuất khẩu gia tăng của FDI không đồng nghĩa với những lợi ích cho VN. Nhiều khi đi ngược lại các mục đích ban đầu của CSVN: Xuất khẩu gia tăng nhưng nhập khẩu cũng gia tăng; gia tăng số lượng công ti FDI nhưng lại giảm số công ti FDI hợp tác với doanh nghiệp tư VN và các thiết bị đưa vào VN có trình độ kĩ thuật thấp, đang biến VN thành nơi tiêu thụ các máy móc lỗi thời, nguy hiểm nữa là thành bãi rác đầy chất độc công nghiệp. Điều cực kỳ nguy hiểm nữa là, sự kiện ngày càng lớn mạnh của FDI dẫn tới hậu quả, ngày càng òi ọp của doanh nghiệp tư nhân VN và kinh tế VN càng lệ thuộc bên ngoài!
Cuối tháng 11.18 tại cuộc Hội thảo đánh giá hiệu quả chính sách thu hút và ưu đãi đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong các thập niên vừa qua do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức, nhiều chuyên viên đã lên tiếng cảnh báo về những hệ lụy vô cùng bất lợi trong nhiều lãnh vực cả trước mắt và lâu dài của chủ trương “quá sính ngoại” của chế độ toàn trị đối với các công ti FDI. Chuyên viên ngân hàng Phạm Xuân Hòe nhận xét, “khối FDI được rất lớn, còn VN chỉ được mấy đồng lương còi cho người lao động. Trong khi ô nhiễm môi trường không biết phải chi bao nhiêu cho đủ và người công nhân cũng luôn phải đối mặt với rủi ro”. [53]
***
Trước đây cũng như hiện nay một số nước Âu châu cũng như Á châu lấy xuất cảng làm trọng tâm. Trong giai đoạn đầu mãi lực nội địa không cao, vốn ít; nên để tạo điều kiện phát triển nhanh hơn, các quốc gia này cần vốn của cả bên ngoài. Nhưng mục tiêu lâu dài vẫn phải lấy nội lực làm chính. Đây là những suy nghĩ sáng suốt và thực tế. Bởi vì hoạt động kinh tế liên quan trực tiếp tới đồng tiền bát gạo. Ta không thương ta thì chẳng ai đoái hoài. Tâm lí chung là không ai giúp một cách vô công, có đi có lại. Nhưng phải hiểu tâm lí và động cơ của các nhà tư bản. Đối với họ, lợi nhuận là tiêu chí giá trị cao nhất, nơi nào thu hoạch có lời cao, thuế thấp cùng các ưu đãi khác thì họ sẽ đổ xô tới; nếu không còn thì họ lại bỏ đi tìm nơi khác. Chính tâm lí này của các giới tư bản đã được cựu Phó TT Đức và cựu Chủ tịch Đảng Dân chủ Xã hội Đức F. Müntefering mô tả; ông đã ví giới này như các đàn cào cào, châu chấu, nơi nào có ăn thì cả đàn tới, khi hết rồi thì cả đàn lại bay đi nơi khác kiếm ăn![54]
Như trước đây ở Nhật, Đài loan và Đại hàn và hiện nay ở TQ, một mặt họ khuyến khích tư bản nước ngoài bỏ vốn vào đầu tư ở nước họ. Xuyên qua nguyên tắc hợp tác, các FDI được giành một số ưu đãi nhất định trong hoạt động kinh doanh, nhưng đồng thời phải thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ và các thỏa thuận với các quốc gia này. Trong đó ngoài nhiệm vụ đóng thuế sòng phẳng, còn phải chuyển giao công nghệ tân tiến và đào tạo chuyên môn cho người lao động bản xứ.
Cách vận hành của một nền kinh tế lấy xuất cảng làm trọng tâm có đặc điểm là, các công ti FDI dùng công nhân bản xứ với lương bổng thấp, nhờ đó giá thành các hàng hóa thấp, nên các sản phẩm này có thể bán chạy ở nhiều nước công nghiệp. Nhờ thế các công ti FDI hưởng lợi nhuận rất cao. Trong khi đó nhà nước sẽ thu ngoại tệ để tăng mức ngoại hối và thu được thuế từ các hàng xuất khẩu; nhờ đó ngân sách quốc gia được gia tăng để có thể đầu tư và canh tân đất nước tiến tới tự lập tự cường. Nhưng các mục tiêu và cách thực hiện đường lối kinh tế này chỉ thành công trong một số điều kiện nhất định, ắt có và đủ. Đó là phải có một hệ thống chính trị tốt, trong đó những người nắm vận mệnh đất nước phải có tinh thần trách nhiệm cao, có tầm nhìn sâu rộng; quốc hội, hệ thống tòa án phải có thực quyền; các công chức phải chí công vô tư; có hệ thống báo chí độc lập và các đoàn thể xã hội dân sự được tự do hoạt động. Mặt khác phải có các chính sách khuyến khích và bảo vệ các giới doanh gia và tư thương nội địa trong việc bỏ vốn và sáng kiến vào các hoạt động sản suất và kinh doanh để làm giầu cho chính mình và đất nước.
Nếu chỉ thích hoàng nhoáng bề ngoài, thích giả dối; gộp nhập trên 2/3 kim ngạch xuất khẩu hàng nămtừ FDI vào GDP để trưng diện là lợi tức đầu người ở VN đang tăng nhanh. Nhưng đó chỉ là giả dối, vì phần lớn thu nhập của các công ti FDI lại được chuyển nhanh về công ti mẹ ở mẫu quốc. Cả phần thuế của FDI vào ngân sách quốc gia cũng rất thấp; vì họ được ưu đãi thuế, trốn thuế bằng cách khai lỗ, hay chỉ phải trả mức thuế rất thấp!
Cân nhắc giữa quyền lợi quốc gia và sự phân công quốc tế cùng có lợi cho các bên, thì nếu sự đầu tư của nước ngoài đem lại những lợi ích thiết thực cho việc phát triển nhanh và bền vững cho đất nước, sẽ là một việc rất đáng hoan nghênh. Không nên có thái độ bài ngoại quá khích, nhất là trong giai đoạn toàn cầu hóa. Bế quan tỏa cảng chỉ làm trì trệ đất nước thêm. Nhưng mục tiêu này chỉ có thể thành công, nếu có một chính quyền có tầm nhìn xa trông rộng, biết cân nhắc ưu và khuyết điểm của kế hoạch xây dựng đất nước; có chính sách mở cửa thích hợp, biết sử dụng vốn tư bản nước ngoài, công nghệ tân tiến nước ngoài và kiến thức quản trị và trình độ chuyên môn cao của họ. Đó là tạo những điều kiện ắt có và đủ cho việc canh tân VN. Nhưng suốt trên 30 năm qua các điều kiện trên đều không có!
Tư doanh VN bị bạc đãi và bị chèn ép
Từ trước tới nay, đặc biệt dưới thời Nguyễn Tấn Dũng làm TT, các NQ của nhiều ĐH đảng và chính sách kinh tế của chính phủ đều nhấn mạnh phát triển nội lực. Nghĩa là về mặt lí thuyết, các doanh nghiệp VN (DNNN và tư nhân) phải là nồng cốt cho phát triển kinh tế. Các Luật về Doanh nghiệp tư nhân 2000 và 2005 qui định về hoạt động của kinh tế tư nhân trong nước. Nhưng trong thực tế thì lại hoàn toàn khác. Trong khi các công ti nước ngoài FDI ngày càng bung ra chiếm lãnh thị trường và các DNNN được giành ưu đãi trong tín dụng và đất đai, lại nắm độc quyền nhiều lãnh vực được coi là huyết mạch của nền kinh tế. Còn các doanh nghiệp tư nhân nội địa lại không ngóc đầu lên được, phải chịu đựng một cổ hai ba tròng, vừa bị các DNNN chèn ép, lại bị các công ti FDI cạnh tranh, đồng thời còn bị các quan đỏ móc túi và trấn áp.
Có nhiều con số khác nhau về doanh nghiệp tư nhân VN từ nhỏ, trung bình đến lớn (tính theo số công nhân và vốn đầu tư). Theo Cục Quản lí đăng kí kinh doanh của bộ Kế hoạch và đầu tư, tính tới Quí 1/2014 có tất cả 789.813 doanh nghiệp tư nhân VN đã đăng kí, trong đó 296.206 doanh nghiệp đã phải đóng cửa hoặc phá sản. Riêng từ khi VN gia nhập WTO (2007) số doanh nghiệp tư nhân gia tăng cao, mỗi năm có trên 50.000 doanh nghiệp được thành lập.[55] Nhưng đồng thời số doanh nghiệp ngưng hoạt động hoặc phá sản cũng rất cao. Theo báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN ngày 13.4.16, có đến 428.000 doanh nghiệp tư nhân VN phải ngừng hoạt động hoặc giải thể trong giai đoạn 2007-2015, tương đương với 45,5% tổng số doanh nghiệp được thành lập kể từ khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000 đến nay. [56]
Xét về qui mô lao động thì các doanh nghiệp VN ngày càng có khuynh hướng nhỏ đi. Vào năm 2002 một doanh nghiệp có trung bình 74 lao động, đến 2007 chỉ còn 47 lao động, nhưng tới 2012 lại giảm chỉ còn khoảng 32 lao động. Vào năm 2012 số doanh nghiệp vừa là lớn chỉ chiếm khoảng 4,3%, doanh nghiệp nhỏ chiếm 29% và siêu nhỏ chiếm 66,8% (dưới 10 lao động). Năm 2002 số doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm 53,1% đã tăng lên 66.8% vào năm 2012. Tình hình chung rất đặc biệt là, trong suốt 10 năm (2002-2011) rất ít doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ phát triển thành doanh nghiệp vừa hoặc lớn. Nhưng ngược lại, tỉ lệ các doanh nghiệp vừa lại biến thành nhỏ và siêu nhỏ lại gia tăng. Thành thử nhiều chuyên viên đã rất chua chát phải nêu câu hỏi, tại sao các doanh nghiệp tư nhân VN “không lớn lên được”? [57]
Cũng vào giai đoạn này đã có bài thơ rất chua chát và mỉa mai, vì sao đất nước không lớn lên được với tựa đề “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” của Thạc sĩ Trần Thị Lam, một nữ giáo viên trung học ở Hà Tĩnh, được phổ biến rất rộng rãi và được phổ nhạc. Bài thơ được phổ biến vào dịp sau biến cố thảm họa môi trường do Formosa ở Hà tĩnh gây ra, 4.2016.[58] (Xem phần sau).
Viện trưởng Viện Kinh tế VN Trần Đình Thiên nêu câu hỏi, tại sao Nhà nước vẫn nói là kinh tế chuyển dịch tốt, nhưng công nghiệp VN vẫn yếu?Ông dẫn chứng, công nghiệp chế biến, chế tạo là lãnh vực then chốt trong phát triển kinh tế, nhưng sau 30 năm chỉ tăng 1,6%.Ông dẫn chứng nguyên nhân dẫn tới tụt hậu vì các chính sách sai lầm. Theo ông, “trong thời đại công nghệ cao mà lĩnh vực chế biến chế tạo chỉ tăng như vậy thử hình dung công nghiệp Việt Nam giậm chân tại chỗ hay thụt lùi ghê gớm so với thế giới? Ta thích công nghiệp khai khoáng, xây dựng, tập trung gia công còn lĩnh vực tạo năng lực cốt lõi là chế biến chế tạo lại rất yếu”. Ông trách là, Nhà nước CS đã quá chiều chuộng các công ti FDI, dẫn tới hậu quả là nay tùy thuộc quá nhiều vào họ.[59] Trong khi đó theo chuyên gia Phạm Chi Lan, chế độ toàn trị đã không tạo một sân chơi bình đẳng giữa các hoạt động kinh tế. Trong khi các Doanh nghiệp nhà nước, các công ti FDI và “doanh nghiệp tư nhân thân hữu” được biệt đãi (tiếp cận các nguồn lực, quyền kinh doanh, đầu tư công/mua sắm của chính phủ, bảo hộ để né cạnh tranh…) thì đại đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vị thế rất bất lợi, nên không lớn lên được và dễ bị đào thải. [60]
Tới 2014 cả nước có khoảng gần 3000 doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ và hoạt động rất yếu. Ngay bộ Công thương cũng cho biết, công nghiệp phụ trợ phải sử dụng tới 80% nguyên liệu nhập khẩu, lại chỉ tập trung vào các hoạt động đơn giản như đóng gói, bao bì. Các ngành công nghiệp phụ trợ như giầy dép, dệt may… phần lớn nằm trong tay các công ti FDI. Các công nhân VN chỉ làm công tác gia công; trong khi ấy phần chính nguyên liệu phải nhập cảng, nhất là từ TQ. [61] Trong khi nhóm cầm đầu toàn trị thề thốt là công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế thì nhiều chuyên viên đã chỉ trích và cảnh báo nghiêm khắc là, “hiện nay VN đang trở thành quốc gia có nền công nghiệp gia công toàn diện”, tức là chỉ đi làm thuê và làm những công việc phụ thuộc cho các công ti FDI.[62] Ngoài các nguyên nhân không có sân chơi bình đẳng và bị chén ép, các doanh nghiệp tư nhân VN còn bị cán bộ nhũng nhiễu, hàng năm phải tiếp nhiều phái đoàn thanh tra, muốn được yên thì phải trao “phong bì”! Tiến sĩ Cao Sĩ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, đã cho biết, theo số liệu từ một cơ quan nghiên cứu có tới 73% doanh nghiệp phải lót tay cho cán bộ. [63]
Ngay tại QH vào cuối năm 2015 (22.10.15) Bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư Bùi Quanh Vinh vừa than thở vừa trách móc là: “Một đất nước muốn tự chủ kinh tế thì doanh nghiệp của nước ấy phải phát triển. Doanh nghiệp nội địa phát triển thì mới hỗ trợ cho khu vực FDI, và tiếp thu công nghệ của nước ngoài… Nhiều doanh nghiệp FDI, như Nhật Bản, muốn chuyển giao công nghệ, nhưng doanh nghiệp chúng ta không có nền tảng để nhận. Chúng ta kêu ca doanh nghiệp FDI không chuyển giao công nghệ là do có hai mảng. Thứ nhất họ không chuyển giao, và thứ hai, họ có chuyển giao thì chúng ta cũng không có đủ năng lực tiếp nhận”.[64]
Trong buổi tọa đàm với Hội Doanh nhân trẻ VN vào cuối năm 2018 TS Trần Đình Thiên, nay là thành viên Tổ tư vấn kinh tế của TT, đã phải chua chát nhận xét, sau trên 30 năm “đổi mới” nhưng doanh nghiệp tư nhân VN chỉ đóng góp 8% GDP; trong khi đó đóng góp của FDI lên tới 20% và DNNN khoảng 27-28%. Theo ông, ở trong một nước phát triển kinh tế thực sự với nội lực làm chủ yếu dựa trên kinh tế thị trường thì khu vực doanh nhân nội địa đóng góp đến 60-70%, nếu mạnh thì đến 80-90%. Nhưng ở VN sau trên “30 năm phát triển kinh tế thị trường rực rỡ mà chỉ có 8%”. Một trong những lí do chính là doanh nghiệp tư nhân VN đang bị bạc đãi và chèn ép. Ông dẫn chứng, trong khi các doanh nghiệp FDI chỉ phải chịu mức thuế trung bình là 11% thì các doanh nghiệp VN phải đóng thuế trung bình lên tới 29%, cao hơn gần 3 lần so với FDI![65]
Nói chung lại, trong suốt ba thập niên theo mô hình Kinh thế Thị trường định hướng XHCN sở dĩ các xí nghiệp tư nhân VN không thể vươn lên được vì nhiều nguyên nhân: Bị chế độ toàn trị bỏ rơi và khinh rẻ, bị các DNNN và FDI chèn ép; không được đối xử bình đẳng trong việc tiếp nhận các nguồn lực kinh tế từ vay tiền, lãi suất, thuế vụ tới đất đai. Ngoài ra còn phải thường xuyên bị cán bộ các cơ quan đảng và nhà nước nhũng nhiễu!
Hai trường hợp điển hình về chính sáchcủa Nhà nước CSVN với các công ti FDI
Nguyễn Xuân Phúc ưu đãi Samsung
Từ tháng 2.17 Lee Jae-yong 49 tuổi, Phó chủ tịch công ti Samsung phải ngồi tù ở Nam Hàn, là người giầu thứ 3 của Nam Hàn với 6,6 tỉ Euro. Ông phải tù 5 năm vì các tội hối lộ, che dấu và khai man. Ông đã hối lộ một số tiền rất lớn cho cựu Tổng thống bà Park để mong sớm trở thành Chủ tịch Samsung. Nhiều cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người ở Nam Hàn phản đối quan hệ bất chính và tệ trạng tham nhũng- hối lộ giữa chính phủ và Samsung. Bà Park cũng bị cách chức Tổng thống. Cha ông là Lee Kun-hee (72t) năm 2009 cũng bị kết án 3 năm tù với các tội tương tự, nhưng không bị ngồi tù; từ 3 năm qua sau khi bị nhồi máu cơ tim trở thành hôn mê nhưng vẫn là Chủ tịch Samsung. Đầu tháng 2. 2018 Tòa án trả tự do cho ông với điều kiện. Tập đoàn Samsung chiếm tới 20% tổng sản lượng kinh tế của Nam Hàn, có 490.000 nhân viên. Trong quí 3/2017 đã đạt lợi nhuận 11,2 tỉ € (12,91 tỷ USD ), cao nhất từ trước tới nay. Dự đoán trong tương lai mức lợi nhuận còn cao hơn nữa.[66]
Trong cuộc gặp TT Nguyễn Xuân Phúc tại trụ sở chính phủ ngày 6.10.17 Tổng giám đốc Samsung Electronics Hàn quốc Shin Jong Kyun đã cho biết, sau 10 năm đầu tư vào VN đến nay tổng vốn đầu tư của Samsung đã lên tới 17 tỷ USD. Samsung dự kiến sẽ xuất khẩu hơn 50 tỷ USD trong năm 2017, chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu của VN. Ông còn nhấn mạnh, các nhà máy đặt tại VN có quy mô lớn nhất, hiện đại nhất của Samsung.[67] Đây là cuộc gặp lần thứ hai của đại diện Samsung với Nguyễn Xuân Phúc trong năm nay và có lẽ lần này CP xác nhận giành ưu đãi sử dụng đất và thuế nhiều hơn nữa cho Samsung.
Cho tới trước khi cuộc gặp này Samsung đã nhận được nhiều ưu đãi đầu tư từ Chính phủ CS: “Hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 30 năm, miễn 4 năm và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo”. Ngoài ra, “các địa phương cũng đã giành cho Samsung các ưu đãi về tiền thuê đất, tiếp tục cho Samsung được giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm tiếp theo sau giai đoạn 9 năm đó”.[68] Các đại diện của Samsung vẫn chưa thỏa mãn với các ưu đãi này, nên họ đòi được đãi ngộ cao hơn sau việc gia tăng đầu tư. Trong cuộc gặp TT Nguyễn Xuân Phúc ngày 26.7.17 một đại diện Samsung ở Thái nguyên đã đề cao sự đầu tư của Samsung và cam kết “xuất khẩu hơn 50 tỷ USD trong năm nay”, tương đương với gần ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.[69]
Với mức kim ngạch xuất cảng gia tăng cao và nhanh như vậy, nên Nguyễn Xuân Phúc có thể dùng nó để phô trương thành tích tăng trưởng kinh tế của VN dưới quyền của ông! Vì thế ông đã hứa với đại diện Samsung là sẽ ra lệnh cho “Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ sớm cấp chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao cho Samsung VN vì đã đạt được các tiêu chí cần thiết”.[70]Sớm nhận được giấy chứng nhận “Doanh nghiệp công nghệ cao” là nỗ lực hàng đầu của Samsung từ lâu. Vì khi đó Samsung sẽ nhận được những ưu đãi cao nhất về đất đai và thuế.[71]
Trong kì họp cuối năm của QH đã có dư luận cho là, việc tăng trưởng quí 3/2017 tăng đột biến lên tới trên 7% là nhờ sự đóng góp quan trọng của hai đại công ti FDI Samsung và Formosa.[72]Có lẽ để giải quyết gánh nặng của nợ công ngày một chồng chất trong khi mức tăng trưởng kinh tế càng đi xuống, nên từ khi làm TT, Nguyễn Xuân Phúc còn dành ưu đãi đặc biệt cho các công ti FDI hơn cả người tiền nhiệm, đặc biệt cho Samsung. Cho nên Samsung đã đầu tư dồn dập vào VN để mở rộng các hoạt động kinh doanh trong năm 2016-2017. Chỉ trong nửa đầu năm 2017, các công ty Samsung đạt doanh thu 27,4 tỷ USD (622.000 tỷ đồng); lợi nhuận sau thuế đạt 3,1 tỷ USD (70.600 tỷ đồng).[73] Nếu tính toàn năm 2017 Samsung đã đạt được lợi nhuận ròng là 5,8 tỉ USD, trong khi ấy chỉ mới phải đóng thuế 186 triệu USD cho nửa năm 2017.
Trong cuộc gặp PTT Vương Đình Huệ ngày 17.11.17 ông Shim Wonhwan, Tổng giám đốc Tổ hợp Samsung VN, cho biết, hiện công ti đã có ba trung tâm sản suất tại VN ở Bắc ninh, Thái nguyên và Sài gòn, tổng số lao động đang làm việc trong các nhà máy của Samsung tại VN là 180.000 người (bao gồm cả 20.000 người làm bảo vệ và nhà ăn). Con số này không kể các nhân viên làm việc trong các đơn vị cung ứng của Samsung.[74] Trong đó số phụ nữ còn trẻ chiếm tới 75% .[75] Như vậy Samsung ở VN đứng thứ hai chỉ sau Samsung mẹ ở Nam Hàn, đồng thời là công ti FDI lớn nhất ở VN. Samsung tại VN tập trung sản xuất máy điện thoại cầm tay tối tân và các máy truyền hình có kĩ thuật cao nhất trên thế giới, xuất khẩu sang khoảng 120 nước.
Samsung hiểu được vai trò cực kỳ quan trọng của họ trong nền kinh tế VN, nên họ đang tìm mọi cách ép chính quyền CSVN phải gia tăng ưu đãi, đồng thời chèn ép công nhân VN. Điều này có thể thấy rõ trong cách đối xử với các đại diện của Samsung của các giới chức cao cấp VN. Vài năm trước các đại diện của Samsung thường gặp trực tiếp Bộ trưởng 4 T và được phổ biến rộng rãi trong các cơ quan báo đảng. Nhưng hiện nay cả TT lẫn Phó TT gặp trực tiếp các đại diện của Samsung. Điều này chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh đã tiên đoán trước đây vài năm, “Chính quyền có những ưu đãi để thu hút Samsung và Samsung có thể đòi các ưu đãi đặc biệt cao hơn mức bình thường vì họ biết vị thế của mình”. [76]Do được miễn và giảm thuế tối đa nên trong những năm qua, Samsung đã “tiết kiệm” được hàng tỷ USD tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Với thuế suất rất thấp, VN thực sự đã trở thành “thiên đường thuế” của tập đoàn này. Đây cũng là lý do mà Samsung ngày càng rót nhiều tiền đầu tư cũng như chuyển nhiều hoạt động sản xuất vào VN.[77]
***
Trước những đòi hỏi của phía VN là Samsung nên để các doanh nghiệp VN tham gia, trong cuộc hội thảo “30 năm lan tỏa vốn FDI” 7.10.17 ông Bang Hyun Woo, Phó tổng giám đốc Samsung VN đã nói thẳng, “các sản phẩm của Samsung đang được xuất khẩu đi toàn cầu và những linh kiện mà chúng tôi sử dụng đòi hỏi phải rất tin tưởng, liên quan đến chất lượng vô cùng cao. Nói là doanh nghiệp VN ngay bây giờ có thể tham gia vào chuỗi cung ứng này vô cùng nan giải”. Có lần Samsung còn trách móc là, công nghiệp VN chậm tiến đến mức chưa làm được cả cái ốc! Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng đã nhận xét:
“Câu chuyện cái đinh ốc bùng lên trong nước từ tháng Chín. Báo chí đăng tin công ty Samsung điện tử thú nhận cơ xưởng ráp máy điện thoại của họ ở Bắc ninh không tìm ra xí nghiệp nào của người VN có thể cung cấp những cây đinh xoắn trôn ốc, còn gọi là ốc vít.”. Nhưng rốt cuộc, có 67 doanh nghiệp cung cấp các linh kiện cho SEV; đại đa số là các doanh nghiệp của người Ðại hàn, Nhật bản, Singapore, Mã lai. Chỉ có bốn doanh nghiệp VN cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho SEV, mà việc chính của họ là làm bao bì, in ấn. Ông Shim Won Hwan, tổng giám đốc Samsung ở VN mới, nói tại một hội thảo ở HN vào tháng Chín vừa qua rằng, “không doanh nghiệp VN nào ‘nắm bắt’ được cơ hội, họ chỉ cung ứng được những sản phẩm in ấn, bao bì!” Còn những thứ “cao cấp” như cái đinh ốc vít, người VN làm không được theo tiêu chuẩn của Samsung! Họ cũng không kiếm mua được những bộ phận “sạc” điện cho cell phone do người VN làm”.[78]
Tới giữa năm 2017 chính báo Infonet của bộ 4T cho biết, mới chỉ có 25 doanh nghiệp VN tham gia chuỗi cung ứng cấp 1 cho Samsung. [79] Nhưng khi giải trình trước Quốc hội tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội vào 1-11.17, bộ trưởng bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đề cập đến vấn đề phát triển công nghiệp hỗ trợ lại cho biết, hiện có khoảng 30 doanh nghiệp cung cấp linh kiện điện tử trực tiếp cho Samsung tại VN và đều là các doanh nghiệp FDI, chứ chưa có bất kỳ doanh nghiệp nội địa nào.[80]Trong khi đó khi làm việc với đại diện Samsung ở Thái nguyên ngày 26.7.17 để xét việc giành ưu đãi thuế đặc biệt cho Samsung Nguyễn Xuân Phúc đã hết lời khen ngợi là, hiện đã có “215 nhà cung cấp là doanh nghiệp VN” và “tỉ lệ nội địa hóa của Samsung VN đạt 57%”.[81] Ông Phúc đưa ra con số cao gấp nhiều lần về việc các doanh nghiệp tư VN tham gia hệ thống xí nghiệp phụ trợ cho Samsung là để có cớ xếp Samsung vào Luật Công nghệ cao? Một điều rõ ràng nhất là, Samsung VN nhập khẩu từ Samsung mẹ ở Hàn quốc hầu như toàn bộ các máy móc và linh kiện điện tử. Đây cũng là lí do chính khiến mức nhập khẩu hàng hóa vào VN của Nam Hàn đã gia tăng rất mạnh trong vài năm gần đây.
Gần 200.000 công nhân VN, đại đa số là phụ nữ trẻ chỉ làm gia công, phải lao động rất vất vả dưới những điều kiện nghiêm ngặt, nhưng lương bổng lại rất thấp. Lê Đăng Doanh đã nhận xét, “năng suất lao động của công nhân VN làm đạt 80% năng suất lao động, trong khi tiền lương chỉ bằng khoảng 10%”. Phần lớn các phụ nữ này đã bỏ quê ra tỉnh để làm công nhân cho Samsung. Cuối tháng 11.17 Tổ chức phi chính phủ Thụy Điển IPEN -một tổ chức phi vụ lợi có uy tín quốc tế, chuyên về bảo vệ sức khỏe và môi trường- phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển ở HN (CGFED), đã công bố Bản báo cáo về điều kiện làm việc của nữ công nhân ở các nhà máy điện tử của Samsung tại VN. Theo báo cáo này, IPEN và CGFED đã phỏng vấn 45 nhân viên Samsung và đưa ra nhận xét:
“Tiếng ồn ở khu sản xuất cao hơn nhiều so với cho phép của VN, tất cả nhân viên được phỏng vấn đều cảm thấy mỏi mệt trầm trọng và chóng mặt, sẩy thai ở người lao động diễn ra thường xuyên..”. Công nhân phải đứng làm việc suốt 8-12 giờ, công nhân mang thai cũng phải lao động như vậy. Nhiều công nhân bị sổ mũi, rối loạn tiêu hóa, đau chân…Báo cáo còn cho biết, hàng ngày công nhân bị Samsung kiểm soát quá nghiêm ngặt, “thời gian nghỉ ngắn và nếu muốn đi vệ sinh thì lại phải được cho phép ra vào đặc biệt”.Báo cáo đưa ra yêu cầu, “phải điều tra bổ sung về việc rò rỉ hóa chất. Bởi người lao động đang làm việc trong môi trường mở tiếp xúc với nhiều loại hóa chất đa dạng nhưng lại không nhận thức được về những rủi ro hóa chất trong công đoạn lắp ráp”.[82]
Ngay hôm sau đại diện Samsung đã lên tiếng phủ nhận các lời cáo buộc trên. Samsung “công nhận có sử dụng hóa chất trong một số công đoạn, nhưng đều áp dụng các biện pháp để công nhân không bị phơi nhiễm nhờ thiết bị thoát khí, cùng việc đeo thiết bị bảo hộ”. [83] Thanh tra của bộ Lao động & thương binh, xã hội cho biết, vào tháng 7.17 đã thanh tra ở hai trung tâm của Samsung ở Bắc ninh và Thái nguyên và cho biết, phụ nữ mang thai từ tháng thứ 7 được nghỉ. Theo Bộ, các cáo buộc khác trong Bản báo cáo của IPEN là “chưa thuyết phục”. Nhưng Bộ xác nhận Samsung đã vi phạm pháp luật về qui chế lao động. “Samsung chia thời gian làm việc thành hai ca. Ca ngày 8-20h, ca đêm từ 20h đến 8h sáng hôm sau và đưa vào nội quy lao động, luân phiên làm việc 4 ngày liên tục sẽ được nghỉ 2 ngày”. Qui định này trái với Luật lao động 2012. Theo đó giờ làm việc không quá 8h/ngày và không quá 48h/tuần; giờ làm việc ban đêm từ 22h-6h sáng hôm sau; giờ làm thêm không quá 30h/tháng, 200h/năm. [84]
Nếu giữ thái độ khách quan và thận trọng thì những lời xác nhận trên của Thanh tra của bộ Lao động & thương binh, xã hội có lẽ mới chỉ là một phần rất nhỏ của sự thực. Vì trong quá khứ đã chứng minh nhiều lần, các cơ quan thanh tra của đảng cũng như chính phủ không thể tin cậy.Như trong các vụ PMU 18, Vinashin và Formosa các cơ quan thanh tra của nhiều cơ quan đã thanh tra, nhưng rốt cuộc đều có báo cáo tốt! Tuy nhiên những điều nêu trong Báo cáo này trái ngược với khen ngợi của Nguyễn Xuân Phúc vài tháng trước. Khi ông thăm công ti Samsung ở Thái nguyên đã nói là, “đời sống công nhân, người lao động ngày càng được nâng cao, trong đó công ty quan tâm đến khu ăn ở, giải trí, lao động nữ…”[85]
***
Không ai phủ nhận công ti Samsung là một trong những công ti điện tử hàng đầu trên thế giới hiện nay. Nó cũng là một trong vài công ti lớn nhất của Nam Hàn và đóng góp phần quan trọng cho sự phát triển và hưng thịnh kinh tế của nước này. Nhưng đó không phải là công lao riêng của Samsung mà còn là cả nửa triệu công nhân của công ti ở Nam Hàn và của nhân dân Nam Hàn nói chung. Trong đó không thể quên được những cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người phản đối chính sách bạc đãi công nhân và hối lộ của các Ban giám đốc công ti này.
Mặc dầu chế độ toàn trị ở VN giành rất nhiều đặc ân để Samsung chỉ trong vài năm trở thành nhà đầu tư FDI lớn nhất hiện nay ở VN kể cả về vốn và kim ngạch xuất khẩu. Nhưng Samsung có thực sự phục vụ phát triển kinh tế VN theo những mục tiêu đề ra của chế độ toàn trị trong việc thu hút FDI vào VN hay không? Đó là để các xí nghiệp VN cùng tham gia trong các khâu sản xuất để nâng cao trình độ kĩ thuật và quản trị, bảo vệ quyền lao động của hàng trăm ngàn công nhân và đóng góp vào sự phát triển kinh tế của VN.
Mặc dầu trong những năm gần đây Samsung ở VN đạt được lợi nhuận hàng năm nhiều tỉ Mĩ kim, phần chính là vì nhà cầm quyền ở trung ương và địa phương đã ưu đãi thuế rất cao từ xuất cảng tới nhập cảng các sản phẩm. Nhưng ngược lại số xí nghiệp tư nhân VN tham gia với Samsung có thể đếm trên đầu ngón tay. Gần 200.000 công nhân, phần lớn là phụ nữ trẻ, phải chịu những điều kiện lao động rất bất lợi, từ lương bổng tới các bảo hiểm xã hội. Nói chung là công ti tư nhân VN chỉ đứng bên lề và công nhân VN chỉ đóng vai làm gia công cho Samsung. Đây là chính sách đem con bỏ chợ của chế độ toàn trị. Nó thể hiện rõ ràng đây là chủ chương đầu cơ đầy rủi ro và rất phiêu lưu.
Những người đứng đầu Samsung nắm bắt được những nhược điểm của những người cầm đầu chế độ toàn trị CSVN là trình độ quản trị kinh tế rất yếu, nền kinh tế đang đứng trước vực thẳm, nhưng chỉ thích đề cao thành tích bề ngoài, cơ chế và cán bộ tham nhũng và bất lực. Vì thế chỉ trong ít năm Samsung đã trở thành trụ cột của kinh tế VN, hiện nay chiếm tới hơn ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu của VN. Nhưng trong thực tế những thành công này chỉ đem lại lợi ích riêng rất lớn và rất nhanh cho Samsung. Do sự gia tăng xuất khẩu rất lớn của Samsung nên Nguyễn Xuân Phúc đã hô hoán là kinh tế VN đang phục hồi, đạt tăng trưởng cao nhất sau nhiều năm. Nhưng nếu tính toán nghiêm túc sẽ thấy Samsung không đóng góp quan trọng vào ngân sách quốc gia của VN. Vì Samsung được hưởng các ưu đãi thuế rất cao. Ngoài ra mức xuất khẩu gia tăng thì mức nhập khẩu của Samsung cũng gia tăng rất mạnh.
Tóm lại, mặc dầu những mục tiêu trong việc mời gọi Samsung đầu tư tại VN đã không đạt được, nhưng nhà cầm quyền CSVN vẫn liên tiếp giành từ ưu đãi này tới đặc quyền khác cho Samsung.Sự hoạt động càng bung ra của Samsung càng chứng tỏ có sự tiếp tay của những người có thế lực nhất trong chế độ. Chính các sự kiện này đã dẫn tới câu hỏi, tại sao trong giai đoạn Nguyễn Phú Trọng đang hô hoán đốt lò chống tham nhũng, nhưng một công ti nổi tiểng về hối lộ như Samsung -ngay cả ở chính quốc Nam Hàn- lại đang được nâng đỡ và chiều chuộng hết mức ở VN? Nguy hiểm cực kỳ khác nữa là, nền kinh tế VN đang ngày lệ thuộc nhiều mặt vào một công ti lớn nước ngoài. Điều này có thể dẫn tới những hậu quả rất nguy hại cho cả kinh tế lẫn chính trị VN! Chính sách đối với Samsung nói riêng và với các công ti FDI nói chung từ Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng tới Nguyễn Xuân Phúc không phải là mã tìm mã, nhưng đúng là ngưu tìm ngưu!
Nguyễn Phú Trọng ưu ái Formosa
Tại sao ông Trọng lại đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc Formosa,
giữa lúc hàng triệu nhân dân là nạn nhân do thảm họa cá chết hoàng loạt?
Ngay từ đầu tháng 4.16 đại diện sở Nông nghiệp-phát triển nông thôn (NN-PTNT) Hà tĩnh cho biết, “cá nuôi ven biển và cá tự nhiên chết bất thường xuất hiện từ ngày 6.4 tại vùng ven biển xã Kỳ lợi và tại xã Kỳ hà, Kỳ ninh (thị xã Kỳ anh) vào ngày 7.4. Ngày 11.4, sau khi công ty Grobest tại xã Kỳ phương (thị xã Kỳ anh) cấp nước biển vào ao nuôi khoảng 6 giờ đồng hồ thì xảy ra hiện tượng tôm nuôi chết hàng loạt. Đến ngày 14.4, ngao nuôi tại 2 xã Kỳ hà và Kỳ ninh tiếp tục bị chết, gây thiệt hại khoảng 4,71 tỉ đồng”.[86] Khi ấy Phó phòng Kinh tế và đô thị thị xã Kỳ anh Nguyễn Thị Thủy cũng cho biết, “địa bàn xã Kỳ lợi xuất hiện cá chết đầu tiên nằm cách cảng Sơn dương của khu kinh tế Vũng áng khoảng 4 – 5 km, còn các xã Kỳ ninh, Kỳ hà cách Vũng áng khoảng 20 km về phía bắc thì tôm, cá chết sau đó một ngày”. [87]
Các địa danh này là khu vực nằm cạnh Khu công nghiệp Vũng áng khổng lồ của công ti Đài loan Formosa Hà tĩnh (FHS). Đến giữa tháng 4 các tin dồn dập cùng những hình ảnh nhiều loại cá lớn nhỏ chết hàng loạt rất khủng khiếp và kinh hoàng suốt mấy trăm cây số dọc duyên hải từ các tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị, Thừa thiên-Huế do chính các báo lề đảng như Tuổi trẻ, Thanh niên, Lao động, Dân trí, VTV, VNNet… phổ biến đã tràn ngập dư luận các tỉnh ven biển miền Trung làm nhân dân rất hoang mang lo lắng. Hàng chục ngàn ngư dân không dám ra biển đánh cá, người dân cả nước không dám ăn cá, dịch vụ du lịch các bãi biển miền Trung thu hút hàng triệu du khách VN và ngoại quốc lo lắng bị mất khách!
Mãi tới ngày 19.4 Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn) mới đến Hà tĩnh kiểm tra về nguyên nhân cá chết và cho biết, “cá chết là do chất độc gây ra nhưng chưa xác định đó là chất gì”.[88] Điều này có nghĩa là phải khẩn trương nghiêm túc điều tra tiếp để tìm ra nguyên nhân gây ra nạn cá chết hàng loạt, tàn phá và hủy hoại môi trường thiên nhiên và de dọa cuộc sống của hàng triệu ngư dân và những người sinh sống bằng dịch vụ du lịch.
Giữa khi ấy báo chí đưa tin, “Tổng bí thư kiểm tra tiến độ dự án Formosa”.[89] Nhiều người nghĩ rằng, vì vừa được tái cử TBT nên Nguyễn Phú Trọng đã nhạy cảm trước nỗi lo sợ và sự bất bình của nhân dân về thăm Hà tĩnh và khu công nghiệp gang thép Formosa để thúc đẩy cuộc điều tra về vụ cá chết hàng loạt. Nhưng thật là thất vọng và sai lầm lớn, ngày 22. 4 Nguyễn Phú Trọng cầm đầu phái đoàn cao cấp của đảng và chính phủ gồm Nguyễn Văn Bình, UVBCT, Trưởng Ban Kinh tế TU; Nguyễn Văn Nên, Bí thư TUĐ, Chánh Văn phòng TU và lãnh đạo nhiều Ban, Bộ, ngành TU về thăm Hà tĩnh. Ông giành toàn thời gian tới thăm khu công nghiệp gang thép và cảng nước sâu Sơn dương Formosa Hà tĩnh. Dự án này rất khổng lồ với mức đầu tư giai đoạn 1 lên tới 10,5 tỉ USD.[90] Ban giám đốc của FHS đã hoan hỉ báo cáo cho Nguyễn Phú Trọng biết, nhà máy sản xuất thép, nhiệt điện, cầu cảng đã bắt đầu hoạt động!
Ban giám đốc FHS còn hãnh diện báo cáo với ông Trọng, từ tháng 12. 2015 FHS đã cho ra lò sản phẩm thép cuộn cán nóng đầu tiên và đến nay đã có hơn 7.000 tấn thép cuộn được xuất ra thị trường trong và ngoài nước. “Dự kiến, tháng 6. 2016 sẽ hoàn thành và đưa vào hoạt động lò cao số 1. Khi đi vào hoạt động, đây sẽ là nhà máy luyện gang thép lớn nhất Đông Nam Á tính đến thời điểm hiện nay”.[91]Nguyễn Phú Trọng và phái đoàn cao cấp rất chăm chú và ngưỡng mộ thành quả kinh doanh của FHS. Trong dịp này tuyệt đối từ Nguyễn Phú Trọng tới các nhân vật cao cấp trong phái đoàn không ai đả động một câu hỏi nào với Ban giám đốc Formosa đến thảm khốc cá chết hoàng loạt đang bùng nổ từ đầu tháng 4 khởi đầu từ cảng Sơn dương thuộc khu công nghiệp Vũng Áng của FHS khiến cho nhân dân cả nước đang lo lắng và bất bình “Cá chết trắng biển miền Trung” ![92] Ông Trọng và phái đoàn cũng không đến thăm các nạn nhân! Tại sao người cầm đầu chế độ CS vẫn vỗ ngực là bảo vệ quyền lợi người lao động, nhưng lại chẳng thèm ngó tới thảm trạng của ngư dân, trong khi ấy lại khen ngợi và vuốt ve tỉ phú Dollar nước ngoài? Chả lẽ người đứng đầu chế độ toàn trị lại không biết thảm trạng môi trường ngay chính nơi ông tới thăm đã diễn ra từ hơn ba tuần?
Chỉ một ngày sau Đinh Thế Huynh, Thường trực BBT và khi đó được coi là kế nghiệp ông Trọng, cũng có mặt tại Quảng trị, không xa Hà tĩnh. Ông đã chỉ họp với lãnh đạo Quảng trị về tình hình kinh tế, xã hội, quốc phòng-an ninh và xây dựng đảng; bàn cả việc tôn tạo, nâng cấp Khu tưởng niệm Lê Duẩn. Ông còn giành thời gian đi thăm Nghĩa trang Trường sơn. Nhưng người đứng thứ hai trong đảng cũng tuyệt nhiên không thèm đả động tới thảm trạng “Cá chết trắng biển miền Trung” và cũng chẳng thèm tới thăm hỏi dân chài, những nạn nhân ở Quảng trị sinh sống ra làm sao từ khi xẩy ra đại nạn cá chết hàng loạt![93]
Ngày 17.4 giữa lúc tiếng than và nỗi bất bình của nhân dân về “Cá chết trắng biển miền Trung”, tân TT Nguyễn Xuân Phúc đã giành chọn ngày thăm Quảng trị, nhưng cũng không có thì giờ đi thăm các nạn nhân ngư dân đau buồn, chỉ giành toàn thời gian thăm Nghĩa trang Trường sơn, Nhà lưu niệm Lê Duẩn và Thành cổ Quảng trị.[94] Việc cố tình chọn những địa chỉ trên tới thăm viếng đã cho thấy ông Phúc vẫn chỉ muốn khơi dậy hận thù giữa các tầng lớp nhân dân mặc dầu đã sau 41 năm “chiến thắng”, thay vì “hòa giải dân tộc” như những lời ngon ngọt trước đây. Ông Phúc cũng cố quên lời khuyên chân thành và thực tế của cố TT Võ Văn Kiệt là, kỉ niệm ngày “giải phóng”“có hàng triệu người vui, nhưng cũng có hàng triệu người buồn”!
Trước nỗi bất bình và lo âu của nhân dân cả nước, vì đâu mà nạn cá chết diễn ra từ cảng Sơn dương của khu kinh tế Vũng áng thuộc Formosa suốt gần ba tuần mà vẫn không tìm ra được nguyên nhân; ngày 25.4 tờ Tuổi trẻ đã có cuộc phỏng vấn ông Chu Xuân Phàm, Trưởng văn phòng Formosa tại HN, về vụ cá chết hàng loạt bắt đầu từ bờ biển Khu công nghiệp Formosa. Ông Phàm đã trả lời thẳng băng:
“Trước khi xây dựng dự án này thì công ty phải xin phép Nhà nước VN. Nhiều khi được cái nọ mất cái kia, đây là tôi nói thật lòng. Hôm nay nhà nước mình muốn cho ngư dân đánh bắt ở đây hay là chọn cái nhà máy thép ở đây, đương nhiên Nhà nước phải có sự cân nhắc. Nếu xả thải thì đương nhiên sẽ thay đổi sinh học ở đây, ở vùng biển quanh đây. Nhưng bây giờ mà nói tôi không thể xây dựng nhà máy thép ở đây mà không ảnh hưởng đến con cá, con tôm. Đương nhiên mình cố gắng làm một nhà máy đạt được tiêu chuẩn quy định của nhà nước. Có khi được cái này thì phải mất cái kia chứ”. Rồi ông đưa ra kết luận rất tỉnh bơ và đầy thách thức, coi việc hàng triệu nhân dân miền Trung đang bị điêu đứng không đáng quan tâm bằng sự tồn tại của Formosa: “Muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi. Nếu chọn cả hai thì làm Thủ tướng cũng không giải quyết được…”[95]
Tại sao Trưởng văn phòng Formosa tại HN đã có những phát biểu rất phách lối, khiêu khích gây sốc như vậy khi trả lời phóng viên Tuổi trẻ vào sáng 25-4? Có phải chính thái độ rất thờ ơcủa TT, vô cảm trước hàng trăm ngàn nạn nhân của tai nạn cá chết hàng loạt; đặc biệt là sự ưu ái tới thăm Ban giám đốc Fomosa ngày 22.4 của Nguyễn Phú Trọng, người cầm đầu chế độ toàn trị, làm họ tin rằng, họ có chỗ chống lưng rất vững chắc, không chỉ ở HN mà còn cả BK nên chẳng ai có thể làm gì Formosa được?
Từ sau trận đánh ngã “Đồng chí X” ông Trọng đang trở thành người hùng nên ai cũng sợ? Vì thế không thèm nhắc tới đại nạn “Cá chết trắng biển miền Trung”, lại đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc Formosa. Thử hỏi như thế thì bọn quan cấp dưới bố bảo không dám nêu đích danh Formosa ra tố. Chính vì thế, Vụ phó Vụ Nuôi trồng thủy sản, bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Phạm Khánh Ly cho biết, “đoàn công tác không vào kiểm tra tại khu công nghiệp Vũng áng được, vì đây là khu công nghiệp có yếu tố nước ngoài, đoàn không có thẩm quyền”.[96] Như vậy Ban giám đốc Formosa đã coi khu công nghiệp của mình giống như sứ quán của một nước bất khả xâm phạm.[97] Họ cho ai vào, làm gì, làm đến đâu trong các công xưởng của họ là quyền riêng của họ. Các cơ quan điều tra của VN nếu có vào cũng chỉ làm những gì họ cho phép mà thôi!Chính vì thế Formosa đã dám nói công khai, “không có bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ sự liên can” của công ty trong vụ việc này, và giới chức VN đã “liên tục vào bên trong công xưởng tiến hành kiểm tra hệ thống xử lý nước thải, lấy mẫu nước thải” kể từ 22.4 tới nay, tức là sau chuyến thăm của Nguyễn Phú Trọng!
Chính vì vậy chỉ một ngày sau khi Nguyễn Phú Trọng thăm Formosa, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám cũng nói giống như tin trên đây của Ban giám đốc Formosa. Ông cho biết về kết quả kiểm tra bước đầu, nguyên nhân do môi trường nước, qua phân tích mẫu những chỉ số thì không có gì bất thường trừ một số mẫu ở Huế mang tính cục bộ.[98] Tuyên bố này hoàn toàn ngược lại với nhận định của Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn Hà tĩnh vào đầu tháng 4 cho biết, “hiện tượng cá nuôi ven biển và cá tự nhiên chết bất thường xuất hiện từ ngày 6.4 tại vùng ven biển xã Kỳ lợi và tại xã Kỳ hà, Kỳ ninh (thị xá Kỳ anh) vào ngày 7.4”. Và cũng trái với sự xác nhận của Phó phòng Kinh tế và đô thị (Kỳ anh) Nguyễn Thị Thủy “địa bàn xã Kỳ Lợi xuất hiện cá chết đầu tiên nằm cách cảng Sơn Dương của khu kinh tế Vũng Áng khoảng 4 – 5 km, còn các xã Kỳ ninh, Kỳ hà cách Vũng áng khoảng 20 km về phía bắc thì tôm, cá chết sau đó một ngày” -như nói ở trên!
Lí do quan trọng khác khiến đại diện Formosa tại HN dám phát biểu khiêu khích “gây sốc” ngày 25.4 là có lẽ họ tin rằng, có cả BK đứng đằng sau. Formosa Hà tĩnh tuy là công ti Đài loan, nhưng trong những năm gần đây tuyển chọn công nhân nước ngoài phần rất lớn là từ TQ. Ngoài ra vốn đầu tư của Formosa mẹ từ Đài loan đang giảm mạnh và nhường cho một số công ti từ TQ. Khi giàn khoan HD 981 xâm nhập trái phép thềm lục địa VN vào giữa 2014 đã xẩy ra va chạm lớn khiến hàng ngàn công nhân TQ đã phải bỏ về nước, nhưng sau đó Nguyễn Phú Trọng đã phải xin lỗi Tập Cận Bình và số công nhân này lại trở lại Formosa làm việc (xem Chương bẩy, IV). Về mặt an ninh quốc phòng, khu vực Vũng áng Hà tĩnh nằm đối diện không xa đảo Hải nam của TQ. Trong kế hoạch bành trướng công khai ngang ngược của BK trên biển Đông thì khu công nghiệp Vũng áng Formosa có thể trở thành tay trong cực kỳ quan trọng khi tình thế cho phép BK ra tay!
Sau phát ngôn gây chấn động, Chu Xuân Phàm đã bị Formosa sa thải để làm dịu dư luận. Nhưng nội dung lời phát biểu của cựu đại diện Formosa đã tự để lộ những hoạt động của công ti này không thèm đếm xỉa gì tới luật pháp VN, vì tin rằng đã có chân trong ủng hộ đang giữ những chức cao nhất. Dùng sức mạnh tiền bạc nhiều tỉ USD trong vài năm vừa qua Formosa có thái độ phách lối và cách hoạt động như kiểu quốc gia trong một quốc gia: “Nếu xả thải thì đương nhiên sẽ thay đổi sinh học ở đây, ở vùng biển quanh đây”, “có khi được cái này thì phải mất cái kia chứ”, “muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi!” Rõ ràng với tuyên bố trên Formosa đã gián tiếp thừa nhận, thời gian qua Formosa đã xả nước thải với những hóa chất có chất độc cực mạnh làm tàn phá môi sinh trên biển.
Theo tờ Tuổi trẻ thì Tổng cục môi trường xác nhận là, “Formosa có vi phạm khi thực hiện việc súc xả đường ống nhưng không thông báo cho địa phương”. Ngày 25.4 báo này còn liệt kê 45 loại hóa chất Formosa nhập cảng để súc rửa đường ống. Vẫn theo Tuổi trẻ, “GS,TS Lê Huy Bá (chuyên gia độc học môi trường) cho biết nhận định ban đầu của ông về danh sách các loại hóa chất được sử dụng tại Formosa gồm nhiều chất độc và cực độc. Trong đó có các chất chống gỉ, chất làm sạch bề mặt kim loại, chất tẩy”. “Theo quy định, khi súc xả đường ống, Formosa có trách nhiệm phải thông báo cho địa phương việc súc xả đường ống diễn ra từ thời điểm nào tới thời điểm nào, nhưng Formosa không thông báo, cũng không báo cáo các cơ quan ở địa phương về việc súc rửa đường ống”.[99] Tờ VNNet còn cho biết, “1 thợ lặn Formosa tử vong, 5 người nhập viện” khi lặn xuống biển nơi đường ống của Formosa dẫn ra.[100] Tập đoàn Formosa xuất thân từ Đài loan với vốn đầu tư nhiều tỉ USD cũng đã từng vi phạm pháp luật ở nhiều nơi trên thế giới. Ngay ở Đài loan Tập đoàn này cũng đã bị phạt vì gây thiệt hại môi trường. “Chẳng hạn hồi tháng 7.2010, Formosa bị cho là “gây ô nhiễm không khí vùng miền Trung Đài loan” sau một vụ cháy công nghiệp tại nhà máy ở Mai Liao của họ”.[101]
***
Trong khi nhiều cơ quan chính quyền địa phương ngay trong những ngày đầu đã đưa ra những nhận định khá rõ ràng về nguyên nhân đưa đến đại nạn làm cá chết hàng loạt, nhưng suốt trên ba tuần nhiều bộ trưởng, thứ trưởng không chỉ trốn tránh không thực hiện trách nhiệm điều tra nghiêm túc và minh bạch, lại còn tìm cách bao che cho Formosa, hoặc đưa ra những tin và lập luận rất mâu thuẫn nhau, thậm chí cực kỳ ngớ ngẩn. Ba tuần sau đến lượt cá biển ở khu Bình trị thiên-Huế bị chết, tờ Công an nhân dân ngày 26.4 đưa tít “Nước biển vùng cá chết được xác định nhiễm kim loại nặng”: “Chiều 26-4, Sở Tài nguyên&Môi trường tỉnh Thừa thiên- Huế đã có kết quả phân tích mẫu nước lấy tại khu vực đầm Lập an, cửa biển Lăng cô (thị trấn Lăng cô, huyện Phú lộc) vào thời điểm xuất hiện cá chết tràn lan…Riêng các thông số gồm tổng hàm lượng nitơ tính theo amoni (NH4+-N), hàm lượng kim loại nặng crôm (Cr) vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển cũng như quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặn. Theo đánh giá ban đầu của cơ quan chức năng tỉnh Thừa thiên- Huế, khả năng chất độc trong môi trường nước gây sự cố cá chết hàng loạt xuất hiện từ vùng biển phía Bắc của tỉnh”.[102]
Nhưng trong cuộc họp báo tối 27.4 thứ trưởng bộ Thiên nhiên và môi trường Võ Tuấn Nhân đã làm trên 200 nhà báo lề phải vừa thất vọng, vừa rất bất bình về thái độ vô trách nhiệm và lấp liếm. Sau cuộc họp kín nhiều tiếng đồng hồ của đại diện nhiều bộ và cơ quan do bộ trưởng Bộ Tài nguyên-môi trường Trần Hồng Hà chủ trì, khiến các nhà báo phải chờ đợi đến cả nửa ngày. Nhưng cuối cùng Trần Hồng Hà đã đẩy thứ trưởng Tài nguyên&Môi trường Võ Tuấn Nhân mở “Buổi họp báo chỉ diễn ra trong 6 phút”. Trong đó ông khẳng định “Formosa vô can”. [103] Sau khi đưa ra 2 giả thuyết về nguyên nhân làm cá biển chết hàng loạt (hóa chất độc và “hiện tượng thủy triều đỏ”), ông Nhân khẳng định: “Đến nay, qua kiểm tra và thu thập chứng cứ, chưa có bằng chứng để kết luận về mối quan hệ liên quan của Formosa và các nhà máy đến vấn đề cá chết hàng loạt. Qua số liệu quan trắc và đánh giá của cả các cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, môi trường nước biển chưa phát hiện các thông số môi trường vượt quy chuẩn quy định”.[104] Sau đó ông Nhân chuồn mất!
Trong cuộc gặp riêng Võ Tuấn Nhân, tờ Thanh niên đã tường thuật câu hỏi và trả lời của Thứ trưởng này bảo vệ cho Formosa thật là kì lạ:
“ Thưa ông, trong 2 nhóm nguyên nhân thì nhóm thứ nhất nói có thể do độc tố thải ra từ hoạt động của con người, vậy cụ thể độc tố là gì? Có độc tố nào trùng với hơn 40 loại hóa chất mà Formosa được phép nhập khẩu vào VN để súc rửa đường ống không ?
– Chúng tôi chưa phát hiện ra…- Tôi xin khẳng định, về mặt pháp luật, họ vẫn hoạt động đúng theo pháp luật nước ta. Về mặt xả ra môi trường, liên quan đến hiện tượng cá chết hàng loạt ở các tỉnh ven biển miền Trung, đến nay chưa đủ căn cứ để kết luận.
Ông có thể cho biết kết quả phân tích mẫu nước và mẫu cá của Bộ?
– Cái này nói ra phải có căn cứ giấy tờ cụ thể, rất dài, rất nhiều thông số”.[105]
Trong khi giữ thái độ câm và điếc không thông tin chính xác và nguội lạnh trước những bức xúc của nhân dân cả nước, nhưng Võ Tuấn Nhân lại rất thính tai và năng động trước câu hỏi của một nữ phóng viên về tin không tốt cho chế độ, về nguy cơ ngành du lịch có thể bị tê liệt và yêu cầu bà tắt máy ghi âm. Bà hỏi:
“Thưa ông, trong cái kiểm nghiệm gần đây nhất của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa thiên – Huế, chỗ có một loạt các bè cá chết, thì họ có nói trong nước kiểm nghiệm ra có kim loại nặng. Vấn đề ở đây là trong thời gian tới, chúng tôi muốn là mình có thể trong một thời gian ngắn, vì mùa du lịch sắp tới rồi, mà cá thì…”
“Nghe tới đây, ông Võ Tuấn Nhân liền khoát tay ra hiệu dừng lại và nói: “Tắt máy. Tắt máy nghe. Xin lỗi. Không, không, để anh nói riêng với em. Đừng hỏi câu đó. Hỏi câu đó tổn hại cho đất nước của mình. Nhá. Em hỏi câu đó làm tổn hại cho đất nước của mình”.[106]
Không chỉ trên 200 nhà báo lề phải hoàn toàn thất vọng về “cuộc họp báo 6 phút” của thứ trưởng Tài nguyên&Môi trường Võ Tuấn Nhân mà nhiều nhà khoa học cũng đã kịch liệt chỉ trích những lời tuyên bố rất lếu láo của ông. GS-TS Vũ Trọng Hồng, nguyên thứ trưởng Bộ Thủy lợi, nói thẳng: “bộ Tài nguyên-Môi trường là cơ quan chức năng được nhà nước giao nhiệm vụ, nhưng kết luận như vậy là không hợp logic diễn biến của vụ việc”.
Nhưng ngày hôm sau trong cuộc họp nội các giả thuyết “thủy triều đỏ” bị bác bỏ. Có lẽ trước sự bất bình ngày càng mãnh liệt của nhân dân về cuộc “Họp báo 6 phút” tối trước, nên TT Nguyễn Xuân Phúc đã vội vàng để bộ trưởng Tài nguyên&Môi trường Trần Hồng Hà phải bay ra Hà tĩnh ngày 28.4 thị sát viêc xả thải của Formosa để nhằm xoa dịu dư luận. Tại đây Trần Hồng Hà đã tuyên bố, “pháp luật VN không chấp nhận việc đặt ống ngầm xả thải”. Như thế ông đã phủ nhận lời của người dưới quyền ông là Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân chỉ vài ngày trước. Ngoài ra ông Hà còn nhận khuyết điểm để cuộc điều tra chậm chạp…[107]
***
Tại sao mới chỉ vài năm trước Nguyễn Phú Trọng đã trách móc và rao giảng “đạo đức cách mạng” tại Hội nghị Cán bộ toàn quốc với sự tham dự của trên 1000 cán bộ cao cấp ngày 27.2.12: “ Bây giờ trong Đảng cũng có sự phân hóa giàu – nghèo, có những người giàu lên rất nhanh, cuộc sống cách xa người lao động; liệu rồi người giàu có nghĩ giống người nghèo không? “ và “ người sống trong lâu đài nghĩ khác người ở trong nhà tranh”., “mai kia Đảng này sẽ là đảng của ai?”[108]
Nhưng chỉ trong vài năm ngồi trong lâu đài quyền lực và hưởng thịt, cá loại ngon, sạch không phải trả tiền, nên lòng Nguyễn Phú Trọng đã nguội lạnh, vô cảm trước ngư dân thất nghiệp chịu cảnh đói rách vì thảm họa cá biển và nhân dân nhiều nơi có thể bị ăn cá và mắm độc. Chẳng những thế ông vẫn đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc tỉ phú Dollar Formosa Hà tĩnh và khen ngợi cách làm ăn của họ, chẳng thèm đoái hoài tới tiếng than ngất trời của dân lành, mặc dầu gần một tháng vẫn không có cơ quan nào của đảng lẫn nhà nước tìm ra nguyên nhân cá chết hàng loạt!
Trong một xã hội pháp trị theo Dân chủ đa nguyên thì khi một cá nhân, tổ chức hay xí nghiệp đang bị điều tra, người có trách nhiệm trong nhà nước không được phép có những hành động gây cản trở hoặc can thiệp công cuộc điều tra. Trong vụ cá chết hàng loạt ở duyên hải nhiều tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4 và tập đoàn Formosa đang trở thành đối tượng điều tra của các cơ quan có thẩm quyền. Nhưng người cầm đầu chế độ là TBT Nguyễn Phú Trọng đã cố tình lại thăm và gặp Ban giám đốc Formosa ngày 22.4 và còn khen ngợi thành quả kinh doanh của công ti Đài loan này. Như thế Nguyễn Phú Trọng đã lợi dụng uy quyền riêng để cản trở, làm đình hoãn cuộc điều tra và còn tạo cơ hội để Formosa xóa sạch các tang chứng !
Trong dịp này nhiều tổ chức, nhân sĩ và chuyên viên đã công khai lên tiếng:
“Đây là một tệ nạn chính trị hết sức kinh tởm. Vụ Formosa bộc lộ rõ ràng thói vô cảm và vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CS đối với lợi ích quốc gia, cuộc sống dân lành. Nó cũng cho thấy sự bất lực và chậm chạp của cả một hệ thống quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trước một quốc nạn có tầm mức to lớn chưa từng thấy. Sự chậm trễ ấy đã tạo điều kiện cho nghi can kịp xoá hết dấu tích tội lỗi. Nó cũng hé lộ nhiều thế lực bao bọc nghi can, che giấu sự thật, đánh lừa dư luận qua những phát ngôn đầy hàm ý hay cố mập mờ của một số quan chức cấp bộ lẫn tỉnh và nhất là qua hành vi ủy lạo tinh thần hà hơi tiếp sức của người đứng đầu đảng Cộng sản đối với tập đoàn Formosa đầy thành tích bất hảo”.[109]
Những ngày Chủ nhật trong tháng 5 nhân dân các giới -đi đầu là trí thức, thanh niên và đảng viên tiến bộ- đã xuống đường ở HN, Sài gòn và nhiều nơi khác đòi “Trả lại biển xanh cho chúng tôi, chúng tôi chọn tôm cá”. Mọi người đang đồng thanh đòi:
– Nhân dân muốn biết rõ nhanh và công khai thủ phạm đã gây ra thảm trạng cá chết hàng loạt. Phải chấm dứt ngay những nguyên nhân gây ra thảm họa môi trường!
– Bồi thường thiệt hại cho ngư dân và các cơ sở du lịch!
– Công khai các cơ quan và cá nhân nào đã cố tình làm chậm, làm sai, đánh lạc dư luận và phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhân dân!
***
Sau thảm trạng môi trường 4 tỉnh miền Trung ba tháng, nhưng tại HNTU 3 vào đầu tháng 7.2016 trong suốt 5 ngày họp đã không có nói tới chủ đề cực kỳ nóng bỏng này.Mặc dầu đây là thảm họa môi trường lớn nhất ở VN, gây thiệt hại sức khỏe, tài sản và môi trường sống trực tiếp cho hàng triệu người dân bốn tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị và Thừa thiên-Huế; đồng thời còn tạo những nguy hại lâu dài về nhiều mặt cho nhân dân cả nước. HNTU này diễn ra sau khi Ban giám đốc Formosa công khai xin lỗi trong cuộc họp báo ngày 30.6. và nhận bồi thường 11.500 tỉ đồng, tương đương 500 triệu USD.[110]Nhưng ở đây Formosa không chỉ là thủ phạm duy nhất, vì nhiều cơ quan Đảng và Nhà nước đã cấp giấy phép đầu tư, hoạt động và kiểm soát công ti Formosa cũng đều là thủ phạm. Vì chính các cơ quan này đã lơ là và vô trách nhiệm trong các lãnh vực phụ trách, nên đã để cho Formosa làm ăn như một vua con trong vùng. Trong cuộc họp báo ngày 30.6 các Bộ trưởng đã cố tình tránh né không làm rõ cơ quan và người phải chịu trách nhiệm.[111]
Trong khi ấy các cuộc biểu tình của nhiều giới vào ba cuối tuần từ đầu tháng 5.16 với các khẩu hiệu “Cá cần nước sạch”, “Nước cần minh bạch” đã bị công an mật vụ chế độ toàn trị ngăn cấm, đàn áp và chụp mũ.Trong cuộc họp báo ngày 30.6 lần đầu tiên các quan chức hiện diện xác nhận, Formosa là thủ phạm gây ra thảm trạng môi trường ở miền Trung; nhưng cùng lúc họ lại vẫn kết án gay gắt những cuộc biểu tình của nhân dân đòi Formosa phải sớm công khai minh bạch về nguyên nhân dẫn tởi thảm trạng môi trường. Dịp này Trương Minh Tuấn, Bộ tưởng 4 T vẫn chụp mũ: “Tôi cũng nói thẳng rằng, có thế lực thù địch đã lợi dụng tình trạng cá chết này để công kích sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thậm chí kích động để gây mất trật tự công cộng, gây bất an trong nhân dân”.[112]
Mãi hơn nửa năm sau thảm trạng môi trường 4 tỉnh miền Trung, ngày 17.10.16 trước các “đại biểu cử tri” tại Ba đình, Hoàn kiếm, tức những đảng viên ngoan ngoãn chỉ biết xu nịnh và bốc thơm, Nguyễn Phú Trọng đã không sợ bị chất vấn nên đã bộc lộ:
“Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu, nên bây giờ chúng ta phải trả giá”.[113]
Lời xác nhận trên của người cầm đầu chế độ toàn trị đã nhìn nhận cung cách suy nghĩ, quyết định và hành động công việc nước theo lối ăn xổi ở thì, bóc ngắn cắn dài, xuất phát từ bệnh kiêu ngạo quyền lực, không cần nghe ý kiến của các chuyên viên cũng như nhân dân. Lời xác nhận này có khác nào như người chủ nhà đã xây nhà mà không xây cầu tiêu, không lập hệ thống dẫn nước thải! Xây nhà máy sản xuất thép không tính tới chất thải độc hại! Xây hàng trăm đập thủy điện không tính tới việc đồng ruộng mất nước, nhân dân thiếu nước sinh hoạt, nhưng khi mưa lũ lại trở thành đại họa cho nhân dân! Bất kể tới lời can ngăn của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhiều tướng lãnh và chuyên viên những người cầm đầu chế độ toàn trị đã cho BK xây các nhà máy khai thác Bauxit ở Tây nguyên từ năm 2009 bất kể tới hậu quả môi trường và an ninh quốc phòng! Nay tới Formosa!
Đây là sự thông minh hay chính là sự ngu dốt và thái độ kiêu ngạo quyền lực của Nguyễn Phú Trọng và các đại quan đỏ trong BCT?Chính Phạm Văn Đồng, TT đầu tiên và lâu đời nhất của chế độ toàn trị đã phải nhìn nhận là, sự ngu dốt và thái độ kiêu ngạo quyền lực của những người cầm đầu đã gây ra những hậu quả thảm khốc cho nhân dân trong giai đoạn đó.
Tình trạng này hiện nay còn tệ hại hơn, ngay Nguyễn Phú Trọng đã phải nhìn nhận!Ông Trọng còn nói “bây giờ chúng ta phải trả giá”. Nhưng “chúng ta” ở đây là ai? Có phải Nguyễn Phú Trọng và các đại quan trong BCT và TUĐ đang sống vương giả và ngồi trong những biệt thự an toàn ? Chính thái độ ăn xổi ở thì và bệnh kiêu ngạo quyền lực của họ đã dẫn tới công ti Formosa gây thảm họa môi trường cho bao nhiêu triệu nhân dân bốn tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4. 2016 và đang phải hứng chịu cảnh thất nghiệp, bệnh tật và đói nghèo. Họ chia sẻ sự cơ hàn với nhân dân như thế nào?
Khi thảm họa môi trường do Formosa gây ra sau mấy tuần hàng triệu nhân dân điêu đứng lo âu, nhưng TT Nguyễn Xuân Phúc, Thường trực BBT Đinh Thế Huynh khi đi qua những vùng này vẫn ngoảnh mặt làm thinh; còn người cầm đầu chế độ toàn trị Nguyễn Phú Trọng lại đủng đỉnh tới thăm hỏi và khen ngợi Ban giám đốc Formosa và chẳng thèm màng tới nạn nhân của Formosa! Còn Chủ tịch nước Trần Đại Quang thì trước sau vẫn im thin thít. Trong buổi QH khai mạc Kì họp thứ 2 ngày 20.10.16 Ủy viên BCT, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) -cánh tay dài của ĐCS- Nguyễn Thiện Nhân cho biết, “đến nay vẫn chưa có cơ quan, tổ chức và cá nhân nào trong hệ thống quản lý Nhà nước có liên quan đứng ra nhận lỗi và chịu trách nhiệm”.[114] Mặc dầu Nguyễn Xuân Phúc vẫn lớn tiếng là “Chính phủ phục vụ”! Rõ ràng là thái độ cao ngạo quyền lực từ cấp lãnh đạo trở xuống!
Nếu tứ trụ Nguyễn Phú Trọng, Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Phúc và Nguyễn Thị Kim Ngân thực tình nghiêm túc với chính mình, khi đối chiếu với những tiêu chuẩn cao vòi vọi để chọn lựa cán bộ cao cấp mà chính họ đã đưa ra trong HNTU 11 (5.15) thì chính họ phải thấy hết sức rõ ràng là, họ đã hoàn toàn vô trách nhiệm trước thảm họa môi trường do Formosa gây ra!
“Kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu!” Lời nhìn nhận trên của TBT Nguyễn Phú Trọng có tầm quan trọng đặc biệt. Nó bạch hóa lối suy nghĩ cực kỳ thiển cận và phong thái hành động vô trách nhiệm của những người có quyền lực cao nhất trong chế độ toàn trị khi quyết định mời gọi các công ti nước ngoài đầu tư vào VN. Đây là những quyết định ở cấp cao nhất là BCT và BBT và được sự cố vấn của các Ban trong đảng và các Bộ trong CP. Các quyết định liên quan tới chương trình FDI nói chung, đặc biệt các công trình FDI có vốn đầu tư cao mang tầm vóc chiến lược, không chỉ có ý nghĩa thuần kinh tế, mà nó còn liên hệ trực tiếp tới nhiều lãnhvực chính trị, an ninh-quốc phòng, kĩ thuật, môi trường và sức khỏe của nhân dân.
Nhưng khi để Formosa đầu tư cả chục tỉ USD vào VN, Bộ chính trị đã quyết định theo tiêu chuẩn nào? Nguyễn Phú Trọng đã trả lời: “Kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu”.Như vậy là các tỉ Dollar đã làm họ chóa mắt, nên đã vội vàng nhắm mắt bỏ qua các yếu tố cực kỳ quan trọng khác là an ninh-quốc phòng, kĩ thuật, môi trường và sức khỏe của nhân dân. Như vậy khi quyết định mời Formosa vào đầu tư, những người có quyền lực trong BCT đã đặt sự tồn tại của chế độ và cái ghế của chính họ, ích kỉ cá nhân lên hàng đầu. Chỉ mong càng có nhiều Dollar vào càng nhanh càng tốt!Chương trình FDI là một chủ trương rất lớn được đề cao trong các ĐH đảng, nhưng trong thực hành thì BCT đã vô trách nhiệm cùng cực, hoàn toàn không có một kế hoạch đúng đắn và khoa học để tạo những lợi ích thực sự cho đất nước và tránh những hậu quả tai hại cho nhân dân. Chính điều này người cầm đầu chế độ toàn trị Nguyễn Phú Trọng đã công khai xác nhận như trên!
Nay trong khi hàng triệu người dân phải hứng chịu hậu quả do thảm họa môi trường, phải trả giá bằng thất nghiệp, bệnh tật mà nguyên do từ những quyết định sai lầm và thái độ cực kỳ vô trách nhiệm của BCT, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng. Nhưng khi nhân dân đòi những người có quyền lực đã tiếp tay gây ra thảm họa môi trường phải có những chính sách đền bù thích đáng và biện pháp nghiêm khắc với Formosa, thì bọn quan độc ác này đã không biết ăn năn, không chịu xin lỗi, lại còn cho báo chí và chính quyền địa phương chụp mũ xuyên tạc, cho công an ngăn cản và đe dọa “không bảo đảm an ninh cho người đi khiếu kiện”[115]Chẳng những thế Nguyễn Phú Trọng còn để công an giam giữ và tòa án nhân dân bỏ tù nhiều người đi biểu tình! Họ phục vụ đất nước, bảo vệ quyền lợi nhân dân, hay đã tự chuyển biến xấu chỉ lo phục vụ quyền lợi riêng cho chính mình, nên đã sẵn sàng bảo vệ các nhà đại tư bản nước ngoài? Nếu còn lương tâm có lẽ ông Trọng nên đọc bài thơ của cô giáo Trần Thi Lam ở Hà Tĩnh đã sáng tác vào dịp này:“Đất nước mình ngộ quá phải không anh?”
Chỉ trong 20 câu thơ không chỉ trách móc những người có trách nhiệm với đất nước đã làm cho nhân dân phải đói khổ, nhục nhằn, môi trường bị tàn phá, còn bị khinh rẻ và đàn áp. Bài thơ còn nhắc nhở mỗi cá nhân, trước những nguy vong của đất nước phải can đảm cùng nhau gánh vác trách nhiệm làm thay đổi tình hình. Bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” là lời gọi rất chân thành và thúc giục mọi người, mọi giới hãy can đảm cùng nhau lên đường làm nhiệm vụ của người công dân VN là làm lại lịch sử, đưa dân tộc ta tới quang vinh trong Thế kỉ 21!
Mô hình phát triển theo “Kinh tế Thị trường
định hướng Xã hội chủ nghĩa”
Kết quả thực tiễn: Doanh nghiệp Nhà nước thua lỗ, lãng phí nguồn ODA, bùng nổ nợ công, tham nhũng và lợi ích nhóm
Trong suốt thời kì từ 1986 tuy đề cao là “đổi mới” trong kinh tế, nhưng sợi chỉ đỏ trong các lãnh vực công nghiệp trước sau vẫn là DNNN. Trước đây thường được gọi là Quốc doanh. Nay vì tình thế bất đắc dĩ nên phải nhìn nhận sự hiện diện của các loại kinh tế tư nhân VN và FDI; tuy nhiên trước sau hệ thống DNNN được xếp vào thành phần tối ưu và giữ trọng trách “chủ đạo”, tức là làm nền tảng cho các hoạt động kinh tế. Chính sách này có thể ví như một con bạch tuộc. Trong thời hùng mạnh nó vươn các chân tới mọi hang cùng ngõ hẻm, nay yếu sức nên phải rút chân ra một số nơi, nhưng vẫn quyết bám chặt ở những địa bàn hiểm yếu. Cách thay đổi nhỏ giọt và trong điều kiện ngặt nghèo như thế thể hiện tư duy và tâm lí vẫn như cũ của một số người có quyền lực liên quan tới các hoạt động kinh tế. Ở đây là chủ nghĩa Marx đầy thành kiến đối với các sinh hoạt kinh tế của tư nhân, đặc biệt thành phần tư bản. Ở đây cũng là tuân thủ tư tưởng giành và giữ quyền lực độc quyền cho ĐCS của Lenin đã thực hiện ở Nga và Liên Xô cũ trước đây và được HCM vận dụng vô điều kiện trong việc cướp và giữ chính quyền độc quyền cho ĐCS từ 1945. Điều này phản ảnh tâm lí không tin dân và không dám nhìn nhận những thành công không thể chối cãi của nhiều quốc gia đã từ bỏ các DNNN và trao lại các hoạt động kinh tế cho nhân dân.
Căn cứ vào các Nghị quyết của các ĐH và các Luật về DNNN, hệ thống DNNN có nhiệm vụ vừa hướng dẫn vừa kiểm soát toàn bộ sinh hoạt kinh tế và trực tiếp dưới quyền lãnh đạo của ĐCS, trong thực tế là BCT và BBT. Các bộ và cơ quan của CP có nhiệm vụ thi hành các quyết định của BCT trong các DNNN. Nhờ vậy, hệ thống DNNN giữ vai trò như một bộ máy tuần hoàn trong cơ thể truyền dinh dưỡng, dưỡng khí và máu cho các bộ phận. Nó còn giữ nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là định hướng và kiểm soát nền kinh tế trong cái khung của một chế độ toàn trị. Muốn như vậy thì hệ thống DNNN phải nắm các động mạch chính của nền kinh tế-tài chánh. Như hệ thống ngân hàng, các lãnh vực công nghiệp liên quan tới quốc phòng, an ninh như truyền thông (báo chí, điện thoại…), chế tạo vũ khí, khai thác quặng mỏ, dầu khí, xây dựng các hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống, phi trường, hải cảng và các trung tâm điều phối nông, lâm, thủy sản…
Mục tiêu và quan điểm này đã được trình bày trong nhiều ĐH từ 1986. Nó thể hiện rõ hơn trong ĐH 8 (1996) khi họ đưa ra chủ trương đầy tham vọng là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa với kinh tế tri thức để “đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. [116]Đặc biệt nó được định nghĩa và xác định lãnh vực hoạt động rất rõ ràng trong Báo cáo Chính trị tại ĐH 9 (2001):
“Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật”.[117]
Những người cầm đầu Đảng khi ấy đã đưa ra tham vọng rất cao là, KTNN không chỉ giữ “chủ đạo” trong việc tạo mặt vật chất làm phương tiện thiết yếu để bảo vệ chế độ; cả về mặt chất lượng và đạo đức nghề nghiệp, các DNNN còn là những đơn vị kinh tế có trình độ công nghệ kĩ thuật hàng đầu, năng suất lao động cao và tạo ra được những sản phẩm có chất lượng tốt. Không những thế, vẫn theo tham vọng của họ, sự hoạt động của các DNNN không chỉ đem lại sự phồn vinh cho xã hội mà còn làm gương mẫu trong việc “chấp hành pháp luật”!Họ đã vẽ ra một bức tranh tuyệt vời về Kinh tế Nhà nước (KTNN) xuyên qua các DNNN! Khi nuôi tham vọng cực kỳ cao này họ đã ngủ mơ, nhưng cũng có thể họ đã quá tự tin theo tâm lí kiêu ngạo CS, bất kể các qui luật khoa học và bất chấp cả những kinh nghiệm thất bại từ các mô hình Nhà nước làm kinh tế trong thời kì trước đây ở VN cũng như ở nhiều nước CS trước đây.
Để thực hiện giấc mộng kê vàng này, trong ĐH 9 họ quyết định thành lập các Tập đoàn kinh tế từ sự sát nhập các Tổng công ti và công ti DNNN:
“Trong 5 năm tới, cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp nhà nước hiện có, đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp mà Nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế”.[118]
Mô hình Tập đoàn kinh tế bắt chước các Cheabol của Nam Hàn. Có lẽ ý tưởng này được thành hình sau các cuộc đi thăm Nam Hàn của nhiều chính trị gia cấp cao của đảng, đặc biệt là Đỗ Mười vào năm 1995. Sự phát triển nhanh chóng và cức mạnh của nhiều Cheabol Nam Hàn đã gây cho họ những ấn tượng mạnh. Vì thế họ cũng muốn thành lập một số Tập đoàn kinh tế như những “quả đấm thép” trong kinh tế. Chủ trương này dựa trên Luật DNNN năm 2003. [119]Theo Điều 9 của Luật này, việc thành lập các Tập đoàn và Tổng công ti cũng như bổ nhiệm các Ban quản trị các DNNN thuộc quyền TT và các Bộ. Như thế các cơ quan CP như một cơ quan tổng chỉ huy KTNN, đặt trực tiếp dưới quyền TT. Đấy là mặt tổ chức nhân sự.
Chế độ toàn trị còn giành những ưu đãi đặc biệt cho DNNN cả về vốn tư bản, đất đai và các tài nguyên. Các DNNN được sửdụng ngân sách quốc gia, được vay tiền của các ngân hàng với lãi suất rất thấp, có quyền phát hành (bán) trái phiếu ở trong và ngoài nước với sự bảo lãnh của Nhà nước, không phải trả tiền đất để xây các xí nghiệp, được hưởng ưu đãi quan thuế trong việc xuất nhập khẩu sản phẩm, chỉ phải đóng thuế mức rất thấp so với các doanh nghiệp tư. Quan trọng khác nữa, các DNNN được độc quyền sử dụng các nguồn vốn ODA, tổng số lên tới 78 tỉ USD trong gần ba thập niên qua.
Với việc hưởng các ưu đãi và độc quyền đó, có thể ví các DNNN như những đứa con cưng của một tỉ phú, vừa có tiền bạc lại đầy quyền lực, được nuông chiều đủ thứ, lại còn được bảo vệ không ai dám đụng chạm tới, kể cả pháp luật! Các cậu công tử này đâu cần phải học hành, đâu cần phải lao động, chỉ việc ngồi mát ăn bát vàng! Đây không phải là chuyện giả tưởng hay bức tranh siêu thực, nhưng lại là một sự thực 100% suốt mấy thập kỉ ở VN dưới chế độ toàn trị!
Độc quyền trong chính trị đã tác hại nguy hiểm như thế nào ở nhiều nước. Độc quyền cả chính trị lẫn kinh tế còn gây thiệt hại khủng kiếp hơn nữa cho người dân. Hình ảnh kinh tế kiệt quệ, nhân dân sống trong nghèo khổ, trong khi cán bộ trung và cao cấp hưởng giầu sang và tham nhũng ở cựu Liên Xô và Đông Âu cho tới cuối thập niên 80 không ai có thể quên được.
Tại VN sự độc quyền của các DNNN đã tiêu giệt yếu tố cạnh tranh, khiến toàn bộ kinh tế không thể vươn lên được. Vì cạnh tranh lành mạnh là yếu tố tối cần thiết để thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế tiến lên, đồng thời bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Nhưng ở VN trong khi các doanh nghiệp tư bị chèn ép thì các DNNN ngồi chơi xơi nước, lãng phí tiền bạc, tài nguyên và thời gian! Vào cuối 2013 các tập đoàn và tổng công ti nhà nước chiếm thị phần áp đảo trong toàn bộ kinh tế. Như Tập đoàn Điện (bao gồm EVN và PVN) chiếm 80% thị phần, Tập đoàn Than và khoáng sản 98%, Tập đoàn Dầu khí 100%, Tập đoàn vận tải đường sắt (100%), Tổng công ti hàng không VN (61,4%), Tập đoàn viễn thông (gồm VNPT và Viettel) (81,5%).[120]
Số liệu tài chính tổng hợp của các Tập đoàn và Tổng công ti Nhà nước
Nguồn: Bộ Tài chính (dẫn tại Matheson, 2013, tr. 7; Thời báo VN, 2014)
Dưới những điều kiện của chế độ toàn trị, mọi quyết định từ chính trị, kinh tế, pháp luật tới văn hóa xã hội chỉ là quyết định của một số người có quyền lực trong BCT. Trên họ không còn ai hết, không có những cơ chế kiểm soát công khai và nghiêm túc, không có báo chí độc lập và hệ thống một xã hội dân sự độc lập. Nên những người này có thể ban bố các chính sách, đạo luật theo ý muốn của họ và khi cần thiết có thể giải thích tùy tiện, vo tròn, bóp méo và thậm chí làm vô hiệu hóa các luật pháp hay quyết định trước đây của chính họ, nếu thấy rằng nó bất lợi hay nguy hiểm cho địa vị và quyền lực của họ. Điều này càng dễ xẩy ra khi đụng chạm tới quyền-tiền, hai động lực có sức lôi cuốn rất mạnh thúc đẩy lòng tham của con người, nhất là những người có điều kiện biến quyền lực thành tiền bạc, hoặc dùng tiền bạc để mua quyền lực!
Cách tổ chức và điều hành của hệ thống DNNN, nhất là từ gần hai thập niên vừa qua với việc ra đời các tập đoàn và tổng công ti nhà nước, là những dẫn chứng cụ thể rõ rệt nhất về sự liên hết như hình với bóng của quyền lực và tiền bạc dưới chế độ toàn trị ở VN.Các giám đốc và hội đồng quản trị (hội đồng thành viên) của các tập đoàn và tổng công ti nhà nước do TT chỉ định. Các cơ quan này có quyền hành rất lớn trong mọi quyết định liên quan tới hoạt động của tập đoàn và tổng công ti. Từ việc chọn lựa nhân sự then chốt, đầu tư, vay tiền, gọi thầu tới việc liên kết kinh doanh với bên ngoài. Họ đều là những cán bộ có thế lực, nhưng hầu như không có kiến thức và kinh nghiệm quản trị các công ti lớn. Một khi quyền nhiều, nhưng trách nhiệm rất ít thì dễ sinh ra lạm dụng những gì có lợi cho bản thân, gia đình và vây cánh. Từ đó dẫn tới những lãng phí hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng, tự do xà xẻo các công trình. Muốn làm giầu bất chính nhanh và gọn gàng thì phải lập phe cánh che chở và bảo vệ lẫn nhau. Qua đó sẽ hình thành các nhóm lợi ích.Vì quyền lợi ích kỉ, các nhóm này sẽ lợi dụng quyền lực kết hợp với nhau ngay từ giai đoạn soạn thảo các kế hoạch có lợi cho phe cánh của mình.
Trong vụ PMU 18 thứ trưởng Giao thông vận tải Nguyễn Việt Tiến cùng cánh vế với bộ trưởng Giao thông vận tải Đào Đình Bình đã lôi kéo cả con rể TBT Nông Đức Mạnh vào làm. Nhờ vào uy quyền lớn nên họ đã được giao nhiều dự án xây dựng hạ tầng với số vốn cả hàng ngàn tỉ đồng từ nguồn ODA và lập ra các công ti con làm sân sau để thân nhân và vây cánh thao túng. Sự thỏa hiệp đen tối quyền lực và chia chác tiền bạc trong vụ Vinashin lại càng khủng khiếp hơn nữa. Nguyễn Tấn Dũng dùng uy quyền TT để giao cho người đồng hương Phạm Thanh Bình làm Giám đốc Vinashin, được Ngân hàng Nhà nước cung cấp vốn cả hàng trăm ngàn tỉ đồng, đẻ ra hàng trăm công ti con, đầu tư vào những công trình ngoài cả lãnh vực đóng tàu thủy, như mở cả ngân hàng và công ti du lịch…Sau nhiều năm làm ăn thua lỗ khổng lồ lên tới cả gần 100.000 tỉ đồng, nhưng Nguyễn Tấn Dũng vẫn bình chân như vại. Hai người có quyền lực nhất khi ấy là Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đã ngấm ngầm thỏa hiệp với nhau hai ghế TBT và TT, như đã trình bày trong Chương sáu, XI.
PVN và vụ án Đinh La Thăng
Tập đoàn đầu khí VN (Petro VN, PVN) là một công ti Nhà nước lớn nhất. Năm 2015 đạt tổng doanh thu là 293.439 tỉ đồng, đóng góp vào NSNN là 93.000 tỉ đ. trong tổng số thu NSNN là 911.100 tỉ đ.; nghĩa là chiếm tới gần 12% tổng thu của NSNN.[122] Như vậy PVN đóng một vai trò rất quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế VN. Năm 2017 PVN khai thác 15,52 triệu tấn dầu thô, 9,89 tỉ m³ khí; sản xuất 20,58 tỉ kWh điện, 1,65 triệu tấn phân đạm, 6, 24 triệu tấn xăng dầu. [123]
Theo Quyết định 924-QĐ-TTg ngày 18.6.2010 đây là Tập đoàn độc quyền trong khai thác, vận chuyển, chế biến, lưu trữ dầu hỏa và khí đốt; ngoài ra còn độc quyền các dịch vụ về dầu khí ở trong và ngoài nước. Quyết định trên còn giành cho PVN độc quyền kinh doanh, phân phối các sản phầm dầu khí và các nguyên liệu hóa chất dầu khí; xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị và sản phầm dầu khí; khảo sát, thiết kế, xây dựng, khai thác, sửa chữa các công trình, phương tiện phục vụ dầu khí dân dụng. Không những thế PVN còn có quyền đầu tư, sản xuất, chế biến, kinh doanh nhiên liệu sinh học, điện và phân bón; đầu tư khai thác than và khoáng sản tại nước ngoài. Đặc biệt nữa, PVN còn được hoạt động kinh doanh cả những lãnh vực ngoài dầu khí, như: đầu tư, kinh doanh bất động sản; kinh doanh khách sạn, du lịch; đầu tư, khai thác, kinh doanh các cảng, vận tải biển, sông và hàng không và đường bộ…[124]
Như thế cho thấy PVN không chỉ là một “vua” trong lãnh vực dầu khí mà còn bao thầu cả trong nhiều lãnh vực khác! Từ khi trở thành tập đoàn lớn nhất, PVN trong nhiều năm liên tiếp đã “sai phạm rất nghiêm trọng” trong việc sử dụng vốn, đầu tư hàng chục ngàn tỉ đồng vào nhiều lãnh vực nhưng không có hiệu quả, phải nằm đắp chiếu và thua lỗ. Nhất là dưới thời Đinh La Thăng làm Giám đốc và Bí thư đảng ủy Tập đoàn PVN (2005-2011) và các người kế vị những năm sau này. Như trong Thông báo của Ủy ban Kiểm tra TU ngày 27.4.17 do Trưởng ban và UVBCT Trần Quốc Vượng công bố.[125]
Khi đó là thời có nhiều quyền lực của các UVBCT, như TT Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng (CTQH và TBT), Nguyễn Sinh Hùng (Phó TT thứ nhất và CTQH, Trương Tấn Sang (Trưởng ban Kinh tế TU, Thường trực BBT và CTN), Tô Huy Rứa (Trưởng ban Tuyên giáo và Trưởng ban Tổ chức), Nguyễn Xuân Phúc (Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng CP, Phó TT)…Điều vô cùng ngạc nhiên là, mặc dầu đã xẩy ra nhiều sai phạm rất nghiêm trọng trong suốt nhiều năm, nhưng Đinh La Thăng vẫn trở thành ngôi sao sáng chính trị liên tiếp trên 10 năm: Là UVTU từ khóa 10 (2006), sau khi thôi Giám đốc PVN lại lên nắm chức bộ trưởng Giao thông vận tải (2011-16), UVBCT Khóa 12 và Bí thư Thành ủy thành phố HCM (tới tháng 5.17), đại biểu QH các khóa 11-14 (tới 5.17).
Vì vậy một số câu hỏi rất quan trọng được nêu ra trong các hoạt động sai phạm rất nghiêm trọng của PVN, từ thời Đinh La Thăng làm giám đốc và cả những người kế vị, nhưng tại sao vị thế chính trị của ông vẫn lên như diều trong thời gian rất dài đến cả chục năm liên tiếp? Vì nó hoàn toàn đi ngược lại những tiêu chí chọn lựa và giao phó công việc cho “những cán bộ cấp chiến lược” theo HNTU 11 Khóa 11 (5.15) dưới quyền Nguyễn Phú Trọng đã đề ra:
“Kiên quyết không để lọt vào BCHTU những người có một trong các khuyết điểm, như: Bản lĩnh chính trị không vững vàng, không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng, có biểu hiện cơ hội chính trị, nói và làm trái Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc của Đảng; tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm… tham nhũng, tiêu cực lớn …không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giầu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc” [126]
Ông Trọng đã từng nhấn mạnh, công tác cán bộ là then chốt của các then chốt. Chả lẽ suốt thời gian rất dài như vậy Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, Tô Huy Rứa và Nguyễn Xuân Phúc….ở những địa vị cao như vậy cả trong đảng lẫn chính phủ lại không biết rõ những sai phạm nghiêm trọng trong PVN và Đinh La Thăng?
Phải phân biệt ở đây một số trường hợp: Nếu họ không biết những gì đã xẩy ra tại PVN thì chứng tỏ họ không đủ khả năng đảm nhiệm các trọng trách. Nhưng nếu biết mà không dám nói, chứng tỏ họ làm bù nhìn. Không những thế, nếu biết những cán bộ cao cấp đã làm những “sai phạm rất nghiệm trọng” như Đinh La Thăng mà không dám cách chức lại còn cất nhắc, chứng tỏ họ càng vô trách nhiệm và chỉ lo củng cố quyền lực, chểnh mảng nhiệm vụ, không cương quyết bảo vệ tài sản của đất nước và quyền lợi của nhân dân!
Nắm các địa vị quan trọng trong đảng và chính phủ, họ phải chịu trách nhiệm chính trị, trách nhiệm về pháp luật và lương tâm đạo đức, vì đã để cho Đinh La Thăng và nhiều cán bộ cao cấp trong PVN hoạt động sai phạm nghiêm trọng liên tiếp trong nhiều năm. Do đó đúng ra Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng và các UVBCT đầy quyền lực nêu trên phải công khai nhận trách nhiệm chính trị trước nhân dân và phải xin từ chức. Không những thế, họ còn phải chịu trách nhiệm về mặt luật pháp đối với những thiệt hại cực lớn cho ngân sách quốc gia và các tài sản của nhà nước.
Họ chủ trương DNNN làm chủ đạo và giành nhiều ưa đãi, lại không có cơ chế luật pháp nghiêm minh, không có báo chí độc lập theo dõi, có khác nào như mời cán bộ tham nhũng thả cửa hôi của. Vì thế tập đoàn PVN là doanh nghiệp nhà nước lớn nhất đã có thể dễ dàng làm thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng trong nhiều năm. Sự hoạt động của các tập đoàn, trong đó có PVN, thuộc quyền của BCT và CP, trong đó hai người đứng đầu là TBT Nguyễn Phú Trọng và TT Nguyễn Tấn Dũng phải là hai người chịu trách nhiệm cao nhất cả về mặt chính trị lẫn mặt pháp luật. Vì các nghị quyết của các HNTU và quyết định của CP đều qui định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể cũng như cá nhân phụ trách. Chính Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đã nhiều lần tuyên bố, cơ quan nào để xẩy ra lãng phí và tham nhũng nghiêm trọng thì người đứng đầu cơ quan phải chịu trách nhiệm trước đảng và nhân dân!
Riêng trường hợp của Nguyễn Phú Trọng, một mặt ông trương cờ với những tiêu chí thật cao trong việc lựa chọn cán bộ cấp chiến lược vào cấp cao nhất. Như “Ủy viên BCT, BBT phải là những đồng chí thật tiêu biểu của Ban chấp hành trung ương (BCHTU) về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý” và không “tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm”.[127]Nhưng mặt khác, chính ông lại dùng các thủ đoạn để giành cho riêng mình được xếp vào “trường hợp đặc biệt”, đồng thời cô lập Nguyễn Tấn Dũng bằng cách mua chuộc những thân tín của ông Dũng, trong đó cho Đinh La Thăng vào BCT và Bí thư Thành ủy thành phố HCM.
Nhưng sau khi đã nắm vững ghế TBT thêm một nhiệm kì thì ông liền ra tay thanh toán những đối thủ để trừ hậu hoạ, thậm chí đưa cả đối thủ ra xét xử theo những bản án đã định sẵn. Thủ đoạn nham hiểm này không làm sạch bộ mặt của ông Trọng, mà chỉ bôi đen thêm. Một người nổi tiếng lợi dụng địa vị để tham nhũng quyền lực trong suốt hơn thập kỉ vừa qua thì không thể chống tham nhũng quyền lực và tiền bạc được. Tay đã nhúng chàm! Vì tham nhũng quyền lực và tham nhũng tiền bạc như bóng với hình, chúng nương tựa nhau, bảo vệ nhau. Đây mới là nguy cơ của mọi nguy cơ đưa chế độ toàn trị từng bước nhưng chắc chắn rơi sâu xuống vực thẳm! Quyền và tiền như đổ dầu vào lửa. Tới một thời điểm thích hợp không còn xa, những quan tham nhũng quyền lực và tham nhũng tiền bạc không thể chung sống và cũng không thể nhượng bộ nhau!
Tại HNTU 5 Khóa 12 (5-10.5.17) Đinh La Thăng đã bị cách chức UVBCT và Bí thư Thành ủy thành phố HCM. Trong diễn văn khai mạc Hội nghị Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra câu hỏi về tình trạng ngày càng thua lỗ và tham nhũng trong các DNNN: “Vì sao những hạn chế, yếu kém nêu trên đã được chỉ ra từ lâu nhưng qua nhiều nhiệm kỳ đến nay tình hình vẫn chậm chuyển biến, thậm chí có mặt còn trầm trọng hơn?”
Là người cầm đầu BCT thì đúng ra, Nguyễn Phú Trọng phải là người tiêu biểu nhất “của BCHTU về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý”. Đây là những điều kiện chính ông đã đặt ra làm nguyên tắc chọn người vào BCT! Nhưng các DNNN đã được BCT dưới quyền của ông cho tung hoành hoạt động suốt bao nhiều năm qua, nay Nguyễn Phú Trọng lại làm bộ ngây thơ đặt câu hỏi, “vì sao” các DNNN đi đến nông nỗi như ngày hôm nay! Điều này chứng tỏ Nguyễn Phú Trọng đã đóng kịch giả bộ, làm như người mù lòa không nhìn thấy nguyên nhân; hoặc thừa nhận vai trò bất lực, chỉ ngồi làm bù nhìn như ông bình vôi, càng già, càng ngồi lâu, càng tồi!
Giả vờ quên thực tế, bỏ qua những chuyện tầy đình trước sau vẫn là thái độ và mánh lới cực kỳ lươn lẹo của người cầm đầu chế độ toàn trị. Chính khi BK gia tăng chính sách bành trướng và thôn tính ở biển Đông, Nguyễn Phú Trọng đã gạt phăng và nói tỉnh bơ tại QH, “tình hình biển Đông không có gì mới!”. Hay khi xẩy ra thảm trạng môi trường cá chết trắng trên bãi biển miền Trung do công ti Formosa gây ra thì Nguyễn Phú Trọng vẫn thản nhiên lại thăm Ban giám đốc công ti này và sau đó lại còn nói tỉnh bơ như một người bàng quang: “Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu!”
Đối với những người hiểu biết và có lương tri không ai có thể hiểu được những lời tuyên bố trên thật vô cùng lạ lùng như thế. “Bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý” của người cầm đầu chế độ toàn trị là như thế!!! Chính điều này Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra làm tiêu chuẩn để chọn lựa và đánh giá các UVBCT !!!
***
Tổng kết lại, phân tích cặn kẽ và nghiêm túc về thái độ, hành động và tư duy diễn tiến từ ĐH 6 (1986) tới ĐH 12 (2016) của những người cầm đầu toàn trị từ Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông đức Mạnh đến Nguyễn Phú Trọng có thể tóm lược là: Tuy miệng luôn luôn phải nói “đổi mới”, nhưng trong thâm tâm vẫn tin tuyệt đối vào chủ nghĩa Marx-Leninn và đi theo con đường của Bác đã chọn.Theo họ, đó là “sáng suốt” và “uống nước nhớ nguồn”, không phản bội người khai sáng và những thế hệ đã hi sinh, như thế là vừa khôn ngoan, vừa giữ được đạo lí của người đi sau! Bất đắc dĩ phải thay đổi một vài điều ở lãnh vực này hay lãnh vực khác chỉ là vì tình thế theo tiêu chí “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”!
Trong đó trước sau họ vẫn không thèm đoái hoài tới nguyện vọng và khát vọng rất chính đáng và bức thiết của nhân dân là hòa giải dân tộc thực sự để Bắc-Nam cùng nhau phát triển nội lực, để xây dựng lại quê hương từ đống tro tàn do bạo lực, hận thù từ những cuộc chiến tranh tàn khốc và giai giẳng để lại, tiến lên thành một quốc gia giầu mạnh, nhân dân được hưởng hạnh phúc, sống có nhân phẩm và tự do dân chủ! Họ cũng không thèm đếm xỉa tới những thay đổi sâu sắc của thế giới sau khi Liên Xô sụp đổ, các nước CS Đông Âu tan dã và TQ trỗi dậy trở thành tân đế quốc đang đe dọa trực tiếp VN, các nước trong khu vực và thế giới!
Trên đây là nền tảng căn bản về thái độ, cách hành động và tư duy của những người cầm đầu chế độ toàn trị suốt trên 30 năm qua. Trong đó hai nhân vật có trách nhiệm cao nhất là Đỗ Mười và Nguyễn Phú Trọng, vì họ đã và đang nắm độc quyền lâu và tàn bạo nhất!
Họ không đủ trình độ kiến thức, sự sáng suốt cần thiết và thái độ chân thành đáng lẽ ra phải có, để nhận ra và hiểu rằng, mỗi thời đại phải có những cái nhìn mới, những bước đi thích hợp; nếu người đi trước làm sai thì thế hệ sau phải có trách nhiệm và can đảm thay đổi. Châm ngôn VN có câu “con hơn cha là nhà có phúc”! Cũng với tinh thần này, đáng lẽ ra họ phải dứt khóat chấm dứt sự dối trá, lừa đảo và từ bỏ những ý thức hệ đã bị thực tiễn chứng minh là sai lầm; đồng thời thực tâm chọn con đường mới để kiến thiết đất nước và gây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Đấy mới chính là sáng suốt, biết đền bù tương xứng những sự hi sinh của bao nhiêu triệu người đã từng tin vào họ.
Nhưng vì quá giáo điều nên họ đã không nhận ra được sự tiến hóa rất chính đáng và tự nhiên của nhân loại. Khi xã hội bộ lạc-du mục không còn thích hợp thì chuyển sang chế độ định cư, lập làng xã, chọn cách tổ chức thích hợp để xây dựng xã hội mới. Khi chế độ phong kiến trở thành lạc hậu và tàn bạo, cản đường tiến hóa của nhân dân thì quyết giã từ nó; khi chế độ toàn trị theo Marx-Lenin đã bị thực tế phủ nhận thì nếu sáng suốt, họ phải quyết chuyển sang DCĐN, tôn trọng các giá trị con người, khuyến khích những sáng tạo và tham gia tích cực của mọi thành phần.
Vì bảo thủ mù quáng nên họ vẫn cố giữ thái độ và tư duy cũ đã lỗi thời và hoàn toàn sai lầm. Vì thế họ đã cấm đoán, đàn áp đảng viên và nhân dân nói khác, nghĩ khác và hành động khác. Họ sẵn sàng tiếp tục sử dụng cả dối trá, tàn bạo, thậm chí cả nhân danh người đã khuất để biện minh cho các hành động cực kỳ sai lầm và độc ác. Đến khi bị kẹt cứng (khi Liên Xô sụp đổ) họ lôi cả HCM làm lá chắn để bảo vệ quyền lực và tiền bạc cho cá nhân, gia đình và vây cánh!
Công thức để thực hiện “đổi mới” suốt trên 30 năm qua chỉ loay hoay trên thái độ và tư duy cũ. Đó là: Chủ nghĩa Marx-Lenin + Đi theo con đường của Bác đã chọn. Họ bắt mọi người phải tin theo và làm như họ. Thậm chí còn ra lệnh cho các nhà khoa bảng XHCN không được suy nghĩ khác và phải khẳng định rằng, chỉ có CNXH theo Marx-Lenin như Bác đã chọn là đúng muôn đời! Đỗ Mười đã ra lệnh như vậy. Cựu CTN Nguyễn Minh Triết từng hô “bỏ Điều 4 Hiến pháp là tự sát”. Nguyễn Phú Trọng đã ngạo mạn phán rằng, “đi lên CNXH là nguyện vọng của nhân dân” và mạt sát các trí thức và chuyên viên đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp là “suy thoái đạo đức”!
Chính vì vậy từ Đỗ Mười tới Nguyễn Phú Trọng, là hai người chính nắm quyền trên 30 năm qua, phải dựng lên bộ máy công an trị hà khắc và sử dụng trí trá, độc ác, giả nhân giả nghĩa để tham nhũng quyền lực và tiền bạc cho chính họ và phe nhóm!
Sử dụng những thủ đoạn và phương pháp gian trá, độc đoán để thực hành các ý thức hệ sai lầm và những hành động cực kỳ mù quáng và tàn bạo suốt trên 30 năm qua đã chứng minh rất rõ ràng: Họ đã tự đánh mất tư cách, cực kỳ vô trách nhiệm đối với đảng viên và nhân dân, kể cả với hàng triệu người đã hi sinh. Vì thế sự cầm quyền và tồn tại của họ và phe nhóm là hoàn toàn bất chính, phản lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân và đi ngược với trào lưu của thời đại!
______________________________
Thân mời đọc tiếp Chương kết: Các nguyên nhân, người chịu trách nhiệm và hậu quả của “Đổi mới” lừa bịp.
Chương cuối: Phải dứt khoát đoạn tuyệt với chủ nghĩa Marx-Lenin, mọi người quyết phá rào cản độc tài, cùng nhau đứng lên nắm lấy cơ hội kiến tạo một Nước Việt Nam Mới: Những điều nên nhớ, nên tránh và nên làm!
Và Mục lục toàn bộ sách và lời Dẫn nhập.
Ngày 6.12.2019 Thủ tướng Đức bà Merkel đã tới viếng các nạn nhân tại Trại tập trung Auschwitz (Ba Lan). Nơi đây, trong Thế chiến thứ 2 dưới chế độ Quốc xã, Hitler tôn thờ chủ nghĩa quốc gia cực đoan, đã giết hại trên 1,1 triệu người. Tại đây bà Merkel đã đọc một diễn văn quan trọng. Trong đó, cũng như hai Thủ tướng Đức trước, bà đã đề cao lương tri và tinh thần trách nhiệm của người lãnh đạo một Nước Đức Mới. Đó là tôn trọng những giá trị dân chủ và pháp quyền, dám can đảm nhìn nhận thẳng thắn những tội ác của chế độ độc tài Hitler. Một số đoạn rất đáng chú ý (lược dịch):
“Hôm nay tại đây, đứng trước quí vị, nói với tư cách là Thủ tướng Đức, tôi thấy thật không dễ dàng. Tôi cảm thấy cực kỳ xẩu hổ trước những tội ác dã man, những gì đã diễn ra do người Đức đã hành động. Những tội ác này đã vượt qua tất cả những gì có thể hình dung được. Thật là khủng khiếp về những gì mà phụ nữ, đàn ông và trẻ em đã phải trải qua ở đây…Vì từ ngữ nào có thể diễn tả nổi sự đau buồn đến như thế, khiến bao nhiêu người đã bị hành hạ, đày ải và thủ tiêu?…Nhưng im lặng không được phép là câu trả lời duy nhất của chúng tôi. Nơi đây ràng buộc trách nhiệm chúng tôi, phải cảnh thức hồi tưởng. Chúng tôi phải nhớ lại những tội ác đã diễn ra ở đây và phải nói đúng tội danh của nó!…
Nhớ lại những tội ác, vạch rõ thủ phạm và trân trọng tưởng nhớ tới các nạn nhân. Đó là trách nhiệm không bao giờ chấm dứt. Trách nhiệm này không thể nào san sẻ được, nó liên hệ trực tiếp tới đất nước tôi. Ý thức trách nhiệm này là bổn phận của chúng tôi, nó là phần liên đới chặt chẽ tới hình ảnh của đất nước chúng tôi, đó là một thái độ tự nhiên của một xã hội có ý thức và tự do, cùng với dân chủ và tôn trọng pháp quyền”. (Bundeskanzleramt, 6.12.19)
Sau khi chế độ Hitler tan rã, nước Đức đã can đảm và kiên tâm đấu tranh trở thành một Nước Đức Mới – Trước hết là ở Tây Đức. Từ một đống tro tàn, hận thù với các lân bang, Tây Đức đã mau chóng chỉ sau khoảng hai thập niên, đối nội đã trở thành quốc gia tân tiến, tôn trọng các giá trị dân chủ, tự do, pháp trị của một xã hội Dân chủ đa nguyên (DCĐN). Đối ngoại Tây Đức đã xóa hận thù với các lân bang, là thành viên tích cực trong Liên minh Âu châu (EU). Biết chọn Hoa Kỳ làm đồng minh khiến Liên Xô (cũ) không dám đụng tới. Nhờ thế, cuối cùng Đông Đức đã thống nhất với Tây Đức không tốn một viên đạn từ trên 30 năm nay. Nay Nước Đức Mới là cường quốc kinh tế thứ ba, thứ tư trên thế giới, các công dân được quyền hành xử các quyền tự do căn bản và xã hội phồn vinh.
***
Còn VN từ sau Thế chiến Thứ hai thì như thế nào? Nhờ lòng yêu nước và sự đấu tranh của nhân dân nên chế độ thực dân đã chấm dứt. Nhưng thay vì để lương tri hướng dẫn thực hiện dân chủ và tôn trọng tự do thực sự cho mọi người, thì Hồ Chí Minh đã vội nuốt lời hứa. Sau khi nắm quyền ở miền Bắc ông đã dùng những thủ đoạn cực kỳ gian xảo để buộc chặt đất nước trong chủ nghĩa Marx-Lenin, coi là “đũa thần”; lấy bạo lực, đấu tranh giai cấp, đàn áp các người khác chính kiến là những tiêu chuẩn giá trị trong xã hội.
Vì thế đã diễn ra cuộc nội chiến dài tàn khốc và dã man chưa từng có trong lịch sử dân tộc, với sự tiếp tay từ bên ngoài. Bao nhiêu triệu người cùng là đồng bào máu mủ đã bị giết hại trên các chiến trường Nam-Bắc. Hàng trăm ngàn người bị bị đấu tố, nhục hình, bắt con cháu tố cáo cha mẹ, ông bà. Hàng triệu người bị giam cầm trong các trại tập trung, trại cải tạo, trở thành thuyền nhân phải bỏ thân quyến và quê hương ra đi! Cao điểm của chính sách tàn bạo chưa từng có trong lịch sử dân tộc là từ 1975, khi chế độ toàn trị toàn thắng ở miền Nam!
Những tội ác khủng khiếp như vậy đối với chính đồng bào ruột thịt của mình chẳng khác những tội ác tày trời của Hitler với người Do thái.Nhưng cho tới hôm nay chưa có một nhân vật nào đương quyền của CSVN dám can đảm công khai nhìn nhận và xin lỗi trước nhân dân. Trái lại, trước sau họ vẫn phản ứng theo quán tính, tiếp tục ngụp lặn trong độc tài, đàn áp và tham nhũng; vì thế đã bỏ lỡ nhiều cơ hội canh tân đất nước!
***
Đúng vào dịp này 33 năm trước, số phận chế độ toàn trị và cả những người cầm đầu nó đang rơi vào thế cực kỳ hiểm nguy, như sợi chỉ treo ngàn cân. Bên ngoài Bắc kinh tiếp tục dùng chiến tranh gây áp lực ở biên giới phía Bắc và tiếp tay Pol Pot để CSVN bị sa lầy. Không những thế, VN còn bị Hoa Kỳ (HK) và các nước Tây phương phong tỏa thương mại và tẩy chay ngoại giao. Nguy hiểm nữa là Liên Xô khi đó, mụ đỡ tinh thần và vật chất cho CSVN, cũng đang rơi vào tình trạng tổng khủng hoảng. Giữa khi ấy ở trong nước nạn đói khủng khiếp không kém thời 1945, tiền Đồng bị mất giá với nạn lạm phát phi mã 700-800%. Nhân dân bất mãn. Cán bộ, đảng viên mất niềm tin.
Vì thế đúng vào những ngày này 33 năm trước, tại Đại hội 6 (15-18.12.1986) Trường Chinh thề thốt “Lấy dân làm gốc”, Nguyễn Văn Linh long trọng tuyên bố “Đổi mới hay là chết”! Sau đó họ còn hồ hởi tuyên bố “Cởi trói” cho người cầm bút và tôn trọng quyền phản biện của các chuyên viên và trí thức. Từ Hội nghị Đại biểu toàn quốc 1.1994 Đỗ Mười đã hứa đưa VN tới năm 2020 trở thành một nước công nghiệp! Nay Nguyễn Phú Trọng cũng hô hoán như thế. Nhưng hơn ba thập niên sau, mặc dầu Liên Xô đã tan rã, chủ nghĩa Marx-Lenin đã bị vất vào sọt rác, nhưng dịp kỉ niệm 100 năm chế độ Xô-viết người cầm đầu chế độ Nguyễn Phú Trọng vẫn còn ngủ mơ, lảm nhảm nói sảng rằng: “Tinh thần Cách mạng Tháng 10 và những thành quả lịch sử cũng như những cống hiến to lớn của nhân dân các dân tộc trong Liên bang Xô-viết đối với loài người mãi mãi không bao giờ phai mờ, mãi mãi sẽ còn ghi đậm trong tâm trí của mọi người có lương tâm trên toàn thế giới”. (Diễn văn của Nguyễn Phú Trọng tại lễ Kỉ niệm 100 năm Cách mạng Tháng 10 Nga (1917-2017), Nhân dân 5.11.17)
Nay đất nước đang chuyển sang năm 2020. Nhưng sau 33 năm gọi là “Đổi mới” đó, VN đang đứng ở vị thế nào? Trí thức được mở miệng? Các quyền căn bản của nhân dân được tôn trọng? Việt Nam đã trở thành một nước công nghiệp tiên tiến, hay đang trở thành bãi rác chứa chất thải độc hại do các công ty nước ngoài và các doanh nghiệp nhà nước tự do thải ra? Các quan đỏ nắm quyền lực đang phục vụ nhân dân, hay chỉ lo tham nhũng đất đai và tiền bạc? Biển đảo và toàn vẹn lãnh thổ được bảo vệ, hay đang để người “Bạn” Tập Cận Bình của Nguyễn Phú Trọng cày nát biển Đông?
Giữa lúc triều đại Tập Cận Bình cổ súy chủ nghĩa tân đế quốc theo đuổi tham vọng “Thực hiện giấc mộng vĩ đại cùa Trung quốc”, khiến nước này đang như con hổ đói. Tại Hội nghị cấp cao kỷ niệm 70 năm thành lập NATO (3-4.12.2019) ở London, mặc dù còn có nhiều khác biệt, nhưng NATO đã chính thức coi chính sách tăng cường hải quân-không quân và uy hiếp biển Đông của Cộng sản Trung quốc (TQ) là một “thách đố” nghiêm trọng tới an ninh thế giới!
Nhưng mới đây Nguyễn Phú Trọng lại vẫn nhu nhược và ngờ nghệch cho công bố “Sách trắng Quốc phòng 2019” với chính sách 4 không: “Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nuớc này để chống nuớc kia; không cho nuớc ngoài đặt căn cứ quân sự, hoăc sử dụng länh thổ Việt Nam để chống lại nuớc khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”. (tr. 25, QPVN 2019).
Tại Diễn đàn Hương sơn ở Bắc kinh (BK) lần thứ 9 ngày 21.10.19 trước sự hiện diện của bộ trưởng quốc phòng nhiều nước và các chuyên viên quốc tế, trong diễn văn khai mạc Bộ trưởng Quốc phòng Trung quốc Ngụy Phượng Hòa đã lập lại quan điểm của Tập Cận Bình: Biển Đông là “phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung quốc”. Trong khi đó cũng tại Hội nghị này, Bộ trưởng Quốc phòng CSVN Ngô Xuân Lịch không dám phản bác thẳng thắn chính sách đế quốc của Ngụy Phương Hòa, nhưng lại ấp úng, chỉ lập lại chủ trương 4 không và kêu gào những điều hoàn toàn không có thực trong quan hệ giữa hai nước: “Trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và phát huy truyền thống đoàn kết, hữu nghị, những vấn đề còn tồn tại trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc cần được kiên trì xử lý theo tinh thần thỏa thuận cấp cao giữa lãnh đạo hai nước” (BBC,VOA, Reuters 22.10.19).
Chẳng những thế ngày 10.12.19 Đại sứ TQ Hùng Ba còn được mời tới Học viện Chính trị Quốc gia HCM “giảng bài cho lớp đào tạo cán bộ quy hoạch cấp chiến lược Việt Nam”. Trong đó ông đã lên tiếng như chỉ bảo cho 100 học viên là Ủy viên Trung ương tương lai sẽ nắm giữ các chức vụ then chốt tại Đại hội 13 vào đầu năm 2021: “Là nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, hai nước Trung-Việt có con đường phát triển tương tự, tiền đồ và vận mệnh tương quan, việc tăng cường giao lưu kinh nghiệm quản lý Đảng và quản lý đất nước giữa hai Đảng trong tình hình mới có ý nghĩa chiến lược quan trọng!” (đài Bắc kinh 14.12.19)
Từ tháng 7.2019 bá quyền BK lại ngang ngược cho mấy chục tàu hải quân TQ cày nát biển Đông, thuộc khu vực lãnh hải của VN. Trong khi nhiều tổ chức xã hội dân sự, nhân sĩ, trí thức, thanh niên và cả đảng viên tiến bộ đòi phải đưa những đòi hỏi sai trái và ngang ngược của BK ra kiện tại Tòa án Quốc tế, thì Nguyễn Phú Trọng lại ra lệnh báo chí xuyên tạc và bôi nhọ, và để công an đe dọa khủng bố và bắt giam nhiều người dân chủ! Đồng thời không cho phép Quốc hội (QH) được công khai thảo luận về sự xâm lấn của BK! Vì thế trong khi đất nước đang phải đối diện đương đầu với chủ trương bành trướng xâm lược hiện nay của Tập Cận Bình thì việc thực hiện chính sách quốc phòng-ngoại giao 4 không này, rõ ràng không phải là “ngăn địch từ xa” mà chính là mời kẻ thù vào nhanh hơn, thả cửa cho con hổ đói Trung quốc lộng hành. Do đó chính sách quốc phòng-ngoại giao 4 không này sẽ dẫn tất yếu tới cái không thứ 5, đó là không bảo vệ được chủ quyền biển-đảo, tài nguyên và quốc phòng của VN!
Những người cầm đầu chế độ toàn trị cũng không dám nhìn thẳng vào thực trạng tang thương của đất nước và cơ cực của nhân dân, do chính những sai lầm và tàn bạo do họ gây ra. Nguyễn Phú Trọng đã từng mở miệng: “Dân chủ như thế là cùng”, “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”. Nhưng giữa khi ấy hình ảnh 39 thanh thiếu niên VN bị chết đông lạnh trong các container trên đường đi tìm cuộc sống mới đã làm thế giới bàng hoàng và đau buồn về một nước đang phải sống dưới chế độ đứng đầu về chà đạp nhân quyền, kìm kẹp báo chí!
Sau 33 năm đổi mới giả hiệu, chế độ toàn trị độc tài gian ác tưởng như vẫn vững chắc. Nhưng thực sự nó đang biến dạng từ chế độ độc tài của một đảng trở thành chế độ độc tài cá nhân với sự tiếp tay và thỏa hiệp giữa một số nhóm lợi ích với các đại gia đỏ đang thao túng chính trị, chiếm đất vàng, xây biệt điện và tham nhũng tiền bạc. Họ đang dùng quyền-tiền để buôn bán và tham nhũng, từ thượng tầng trong Bộ chính trị, Trung ương đảng, các Ban trong đảng, các Bộ trong chính phủ tới các thành ủy, tỉnh ủy trên toàn quốc. Sự tha hóa đạo đức cùng cực của tầng lớp cán bộ có quyền đã khiến số đảng viên bất mãn ngày càng gia tăng, khinh bỉ thành phần lãnh đạo. Vì thế Nguyễn Phú Trọng đã phải ra Quyết định số 102/QĐTW 15.11.17 cực kỳ phản động: “Đảng viên sẽ bị kỉ luật bằng hình thức khai trừ, nếu đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”, “đa nguyên, đa đảng”; bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước”.
Hiện nay chính người cầm đầu chế độ Nguyễn Phú Trọng lại tiêu biểu nhất về tha hóa đạo đức trong thao túng quyền lực. Ông Trọng thề thốt “nhốt quyền lực”, “nêu gương”, “minh bạch” … nhưng các lần lấy phiếu tín nhiệm lại không dám công bố kết quả. Các lớp “đào tạo cán bộ cấp chiến lược” đã cài cắm gần 200 cán bộ sẽ được đưa vào Trung ương đảng Khóa 13 (đầu 2021) để nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong Đảng và Chính phủ (CP), nhưng lại giấu nhẹm danh sách những người này, chỉ có Nguyễn Phú Trọng và những người trong phe nhóm biết! Từ nhiều năm nay do đầu óc cực kỳ bảo thủ và suy thoái đạo đức, nên ông Trọng đã tự xếp mình là “người đặc biệt” cực kỳ tham nhũng quyền lực. Vì thế mặc dầu từ gần một năm nay tuy bị bệnh nặng, không còn đủ sức khỏe để đảm đương việc nước, đang phải nhờ người dìu, sắp trở thành ngọa long hoàng đế đỏ, nhưng vẫn cố bám cả hai ghế Tổng bí thư (TBT) và Chủ tịch nước (CTN)!
***
Nói cho cùng, trong chính trị có nhiều loại người lãnh đạo, nhưng trong đó có hai loại người cầm quyền nổi bật nhất. Những người lãnh đạo biết dùng lương tri để hướng dẫn tri thức và hành động để xây dựng hạnh phúc cho nhân dân và đưa đất nước đi lên. Và những người cầm đầu chỉ lấy gian xảo và tàn ác làm kim chỉ nam cho các hành động của mình để xây dựng và bảo vệ quyền lực và tiền bạc bất chính!
Nước Đức đã đổi mới, đã thay đổi toàn diện và triệt để là do dứt khoát biết thay đổi chế độ chính trị. Từ chế độ Quốc xã độc tài, tôn thờ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, nhưng từ sau Thế chiến Thứ hai đã dứt khoát chọn và thực hiện chế độ Dân chủ đa nguyên. Còn tại VN chế độ độc tài vẫn ngự trị và áp dụng chủ nghĩa sai lầm Marx-Lenin, nên trước sau không thể đổi mới được. Đây là một sự thực không ai có thể phủ nhận được. Từ Đại hội (ĐH) 6 (12.1986) tới nay 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng đã lừa đảo nhân dân và đảng viên, trương cờ “Đổi mới”, nhưng thực tình họ vẫn là những người độc tài, tôn thờ chủ nghĩa Marx-Lenin đã bị lịch sử vất vào sọt rác!
Đây là kết luận qua những dẫn chứng rất cụ thể và rõ ràng trong sách nghiên cứu “Việt Nam “Đổi mới”?! Hay: Treo đầu dê, bán thịt chó” !” trên 700 trang vừa phát hành ở Hoa Kỳ. Trong đó xuyên qua 11 chương, tác giả đã phân tích và dẫn chứng theo phương pháp khoa học, trình bày rõ ràng về các nguyên nhân và những công thức sai lầm đã khiến chủ trương gọi là “Đổi mới” đã đi đến thất bại; đồng thời nêu rõ những hậu quả vô cùng tai hại cho đất nước. Nhưng hiện nay sự tranh giành quyền lực và tiền bạc giữa các phe nhóm ngày càng tàn bạo và quỉ quyệt; vì thế theo qui luật “cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu” đang mở ra cơ hội tốt để thoát khỏi nạn độc tài, đưa đất nước thực sự thành một Nước Việt Nam Mới!
Để độc giả tiện theo dõi, toàn bộ ba chương cuối sẽ được phổ biến trong ba lần liên tiếp. Mở đầu loạt bài này, dưới đây là toàn bộ Chương 9:
Chương chín: Kết quả thực tiễn trên 30 năm “Đổi mới”
I. Mô hình “đổi mới” trên 30 năm qua
Sau trên 30 năm “Đổi mới” từ 1986 trải qua 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng và xuyên qua 7 ĐH (từ ĐH 6 tới ĐH 12). Không biết bao nhiêu Nghị quyết đã được ban hành đề ra mục tiêu là, đưa VN tới năm 2020 trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng trong cuộc họp nội các vào cuối năm 2014 sau gần 30 năm tiến hành “đổi mới”, Nguyễn Tấn Dũng lại than, “sao lại cứ phải đứng sau 6 nước ASEAN? Chúng ta có đuổi kịp được ASEAN-6 không? Không có lý do gì chúng ta không cải thiện được để bằng ASEAN-6”? [1] Trong thực tế nhiều mặt VN còn đi sau cả Campuchia và Lào.
Sau gần 30 năm đổi mới, lợi tức đầu người /năm của VN vào năm 2014 mới chỉ 2.052 USD, tức là VN mới chỉ bước vào những nước đang phát triển ở mức trung bình thấp. Trong khi đó Singapore lên tới56.287 USD, Mã lai á là 10.830 USD, Thái lan là 5.561 USD và Nam dương là 3.515 USD.PGS, TS Phạm Quý Thọ thuộc Học viện Chính sách và phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận xét, “chỉ tiêu này của nước ta tụt hậu so với Hàn quốc chừng 30 đến 35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái lan chừng 20 năm, Indonesia và Philippines chừng từ 5 đến 7 năm. Đến năm 2038 VN mới có thể bắt kịp năng suất lao động của Philippines và đến năm 2069 mới có thể bắt kịp Thái Lan”. [2]
Nếu xét về mặt diện tích và dân số thì VN không phải là nước nhỏ. Với dân số gần 94 triệu (2017) VN đứng thứ 13 trên thế giới[3]; với diện tích trên 331.114 km² VN đứng thứ 65. Nhưng về mặt kinh tế, xã hội (phát triển con người -HDI) hiện nay VN lại đứng thứ 116 trong tổng số gần 200 nước và ốc đảo trên giới.[4] Nhiều người cầm đầu chế độ toàn trị thường đổ lỗi cho rằng, VN là một nước nhược tiểu, đất hẹp, dân không đông và tài nguyên không nhiều. Đây là những khẳng định cực kỳ sai lầm để trốn tránh trách nhiệm. Một số các nước trong khu vực như Nam Hàn diện tích chỉ trên 99.000km², 50,6 triệu người, nhưng lợi tức đầu người 2015 trên 27.000 USD đang là nước giầu mạnh, công nghiệp cao. Nhật có dân số gần gấp rưỡi VN, diện tích xấp xỉ với VN, tài nguyên thiên nhiên không nhiều, nhưng từ lâu đã trở thành cường quốc kinh tế, lợi tức đầu người năm 2015 là gần 37.000 USD. Về dân số và diện tích giữa VN và Đức không chênh lệch bao nhiêu; nhưng Đức, cũng như Nhật, từ đống tro tàn sau Thế chiến thứ 2 đã nhanh chóng vượt lên thành cường quốc kinh tế đứng thứ ba, thứ bốn trên thế giới.
Những câu hỏi trung tâm rất nghiêm túc cần được đặt ra là, tại sao nhiều nước ngay trong khu vực khi bước vào thời kì phát triển kinh tế thì cũng ở trình độ ngang ngửa như VN, nhưng nay đã bỏ xa VN để trở thành các nước công nghiệp hàng đầu, lợi tức cao gấp mấy chục lần VN? Người dân không chỉ sống sung túc mà còn được tôn trọng nhân phẩm. Phải chăng các mô hình chính trị, kinh tế, giáo dục và văn hóa là những nền tảng căn bản cho sự tiến lên hưng thịnh, hạnh phúc và văn minh, hay sự tụt hậu, nghèo đói và tha hóa đạo đức của một xã hội? VN đang áp dụng mô hình chính trị-kinh tế nào, có những đặc điểm gì?
Trong suốt trên 30 năm cải cách kinh tế chưa bao giờ VN theo mô hình kinh tế thị trường hiện đại như ở các nước Tây phương. Mô hình phát triển của VN là “Kinh tế thị trường Định hướng XHCN”. Mô hình này có một số đặc tính căn bản khác biệt hoàn toàn với các nền Kinh tế thị trường hiện đại ở các nước Tây phương trong các lãnh vực then chốt:
Chế độ độc đảng: ĐCS, cụ thể là Bộ chính trị (BCT) và Ban bí thư (BBT), trước sau vẫn chỉ huy toàn bộ và trực tiếp các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa- giáo dục, tôn giáo và xã hội.
Công hữu toàn dân về đất đai (ĐCS là chủ nhân trong đất đai)
Doanh nghiệp nhà nước làm chủ đạo
Kinh tế tư nhân nội địa tuy được công nhận, nhưng chỉ ngồi rìa, đứng bên lề trước thế lực mạnh của Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và sức ép của FDI (công ti nước ngoài).
Như thế cho thấy mô hình phát triển kinh tế của VN từ 1986 tới nay vẫn còn giữ căn bản mô hình kinh tế của chế độ toàn trị như ở Liên Xô cũ, với một số biến thể, mặc dầu chế độ toàn trị ở Liên Xô đã tan rã từ 1991. Trong đó ĐCSVN vẫn là người cầm trịch không chỉ trong chính trị, tư tưởng và văn hóa, mà cả trong kinh tế-xã hội.Mỗi ĐH vẫn đưa ra kế hoạch ngũ niên do ĐCS độc quyền từ các khâu hoạch định, đường lối tới các biện pháp…Nhưng dĩ nhiên trong giai đoạn và điều kiện Chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên toàn thế giới đang tan rã ngay từ cái nôi, nên những người cầm đầu CSVN bắt buộc phải dùng những từ ngữ và ngôn ngữ mới, để tạo những hi vọng mới, để tỏ ra họ là những người thức thời và nhờ thế mới có thể biện minh cho sự tiếp tục cầm quyền độc tôn!
Mô hình phát triển kinh tế này chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội tại và đối lập với nhau. Nó được thực hiện trong thời kì CNXH theo ý thức hệ Marx-Lenin đã bị thực tế phủ nhận, thế giới CS tan rã. ĐCSVN cũng rơi vào thế sợi chỉ treo ngàn cân. Suốt trên 30 năm đổi mới từ 1986, đặc biệt từ giữa thập niên 90 khi thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ và thực hiện chính sách mở cửa với bên ngoài, mô hình phát triển kinh tế của chế độ toàn trị dựa trên một số cơ sở làm tiền đề đặt trọng tâm cho phát triển kinh tế. Đó là:
Nhân công rẻ
Khai thác nông sản
Khai thác khoáng sản
Ưu đãi cho tư bản nước ngoài vào đầu tư
Tranh thủ nguồn vốn ODA trong xây dựng hạ tầng
Đặt trọng tâm trong xuất cảng
Nhưng các cơ sở trên phải được đặt trong một khung kiên cố, nói thẳng ra là bị nhốt trong một cái lồng, đó là CNXH với tư tưởng Marx-Lenin làm chỉ đạo và trong cái lồng này, ĐCSVN chỉ huy độc quyền trực tiếp và toàn diện từ tổ chức, thực hiện, giám sát các hoạt động kinh tế-xã hội. ĐH 12 đã làm công việc tổng kết 30 năm thực hiện chính sách đổi mới (1986-2016) qua 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng.
Mặc dù những người đứng đầu luôn mở miệng khẳng định là, kết quả thực tiễn chứng minh cho lí thuyết và đường lối. Nhưng khi họ phải đối diện với những kết quả rất xấu thì lại không dám nhận đã chọn lí thuyết sai, ở đây là chủ nghĩa Marx-Lenin. Họ lờ đi hoặc nhận lỗi qua loa, nhưng đổ lỗi chính vì những lí do bên ngoài. Thái độ rất chủ quan, giáo điều, lừa dối và tô vẽ cho rằng, 30 năm đổi mới không chỉ tạo ra những thành tích tuyệt vời trong kinh tế-xã hội, mà cả trong lãnh vực chính trị cũng đã có nhiều cải cách theo hướng “lấy dân làm gốc” và dân chủ hơn ngàn lần các nước Dân chủ đa nguyên… Tiêu biểu nhất cho lập trường này là Báo cáo Chính trị và Kinh tế-Xã hội tại ĐH 12 của TBT Nguyễn Phú Trọng ngay vào ngày đầu của ĐH 12.[1] (Xem Chương tám, IV).
***
Trong dịp này một số chuyên viên trong nước từ gần với đảng hay đứng vị thế độc lập của những người người làm công tác khoa học, trong đó có cả một số chuyên viên VN ở nước ngoài, đã công bố các bài nghiên cứu hoặc trả lời phỏng vấn liên quan tới chủ đề kết quả 30 năm đổi mới.
Trước hết phải nói tới nhận định rất thắng thắn của cựu bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh ngay trước ĐH 12 khi ông còn là Bộ trưởng và Ủy viên Trung ương (UVTU), như đã trình bày ở Chương tám, IV:
“ 70 năm qua, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể các cấp trong hệ thống chính trị gần như không thay đổi”. Và “Một hệ thống chính trị phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, đặc biệt là trong hoàn cảnh chiến tranh, nay đã không còn phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường, thậm chí là rào cản, trở ngại cho sự phát triển”. [2]
Chia sẻ quan điểm nàyGS Vũ Dương Ninh, Đại học Quốc gia Hà nội (HN), cho biết, trước đó 5 năm Nghị quyết của ĐH 11 (1.11) -khi đó Nguyễn Phú Trọng được bầu làm TBT- đã lập lại mục tiêu là,đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng ĐH 12 đã phải nhìn nhận rằng, mục tiêu này không thể đạt được.[3]Ngay cảnguyên Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN, GS TS Đỗ Hoài Nam, một nhà khoa bảng hàng đầu của chế độ toàn trị , từng là UVTU suốt ba nhiệm kì từ ĐH 8-10 và có chân trong Hội đồng Lí luận Trung ương (TU) -một cơ quan cố vấn về tư tưởng và chính trị cho TUĐ, BCT và BBT-, trong một bài phân tích rất dài 14 trang trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 1, 1.15 với tựa đề “Những đổi mới tư duy của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong 30 năm đổi mới”. Ông đã liệt kê các quyết định của đảng xuyên qua 6 Đại hội từ 1986 tới ĐH 11 (2011) với việc sử dụng “kinh tế tri thức” và đầu tư của nước ngoài nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế từ nông nghiệp, công nghiệp tới xuất nhập cảng. Ông ca tụng các quyết định này và coi đó là những biện pháp sáng suốt của ĐCS, nhằm đưa VN, từ một nước đi sau và công nghiệp hóa muộn, có thể đạt mục tiêu “rút ngắn quá trình công nghiệp hóa đất nước bằng sức mạnh của thời đại và sức mạnh nội sinh của đất nước”. Nhưng cuối cùng trong phần kết luận Đỗ Hoài Nam phải nhìn nhận kết quả thực tiễn sau 30 năm đổi mới là, “nhìn trên tổng thể, phần lớn nông dân và người dân đô thị đang trong tình trạng nghèo tương đối, trong đó không ít người đang thực sự nghèo theo nghĩa tuyệt đối”.
Ông nêu ra câu hỏi về nguyên nhân, tại sao không đạt mục tiêu, mặc dầu các quyết định đều được coi là sáng suốt? Trong đó Đỗ Hoài Nam đã cố tình dùng các thuật ngữ trừu tượng và trình bày ngoắt nghéo, như “nguyên nhân cơ bản là, nền tảng cho sự rút ngắn này chưa được tạo lập một cách đầy đủ và vững chắc. Đó là nền kinh tế thị trường đầy đủ và hiện đại (xét cả mặt kết cấu lẫn mặt thể chế của nền kinh tế này), cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại; là khoa học và công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao; là hệ thống công ti tư nhân dựa trên sở hữu cổ phần được quản trị hiện đại, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước [và] quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị và chuỗi phân phối toàn cầu và cuối cùng là vai trò vừa là bà đỡ, vừa là nhạc trưởng của Nhà nước bảo đảm co sự rút ngắn”. (tr.15)
Tuy cố tình trình bày vòng vo và tránh né không dám nêu đích danh thủ phạm đã gây ra thất bại, nhưng nhà khoa bảng XHCN hàng đầu Đỗ Hoài Nam đã gián tiếp nhìn nhận, đó là kế hoạch xây nhà trên cát; hay dùng hình tượng chuyện con nhái muốn to bằng con bò để diễn tả ý muốn công nghiệp hóa và hiện đại hóa VN thật nhanh như Nhật bản, Đại Hàn và các nước Tây phương, nhưng lại thiếu đủ mọi thứ và không có những điều kiện cần thiết; trong đó thiếu cả “ nhạc trưởng”, tức Nhà nước hiện đại trong thể chế DCĐN. Trong khi nhiều nước theo DCĐN cũng chỉ trong khoảng thời gian 30 năm đã chuyển thành công đất nước họ, từ lạc hậu chậm tiến sang công nghiệp hiện đại. Nhưng VN dưới chế độ toàn trị vẫn dẫm chân tại chỗ. Nghĩa là, chính thể chế độc tài toàn trị đã là nguyên nhân chính đưa đến thất bại trong việc canh tân đất nước và xây dựng hạnh phúc cho nhân dân trong suốt 30 năm!
Trong toàn bài, Đỗ Hoài Nam có dẫn chứng là, ngay từ ĐH 7 đã quyết định “cần đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để” (tr. 5); nghĩa là phải đối mới cả hệ thống chính trị. Nhưng khi kết luận tuy phải nhìn nhận các thất bại, nhà khoa bảng Đỗ Hoài Nam đã không giữ được tinh thần khoa học và thẳng thắn như cựu Bộ trưởng Bùi quang Vinh, nên không một lần nào dám nói thẳng là, trong suốt quá trình 30 năm, trước sau vẫn là chế độ độc tài toàn trị. Đó mới chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới thất bại!
Chế độ toàn trị đã chọn ý thức hệ sai lầm dẫn tới độc tài hà khắc, làm triệt tiêu sự phản biện rất cần thiết của một hệ thống xã hội dân sự độc lập. Vì thế toàn bộ hệ thống công quyền trở thành trì trệ và bất cập, chống lại sự canh tân và phát triển của đất nước.Đây là nhận định của PGS, TS Trần Đình Thiên nguyên là Viện trưởng Viện Kinh tế VN, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Kinh tế VN, khi nói về nguyên nhân thất bại trong kinh tế:
“ĐCS lãnh vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện”, mức độ chưa trưởng thành của Nhà nước pháp quyền, sự thiếu vắng các tổ chức dân sự đúng nghĩa, của các tổ chức phản biện xã hội độc lập, có ảnh hưởng mạnh mẽ, thậm chí là quyết định, đến kết quả hoạt động quản trị công”. [4] “Trong nhiều trường hợp, tình trạng không cụ thể hóa mục tiêu định hướng, né tránh thảo luận cấu trúc logic của khái niệm “Định hướng XHCN” (ĐHXHCN), lặng lẽ giả định nó, coi như một tiền đề định sẵn, đã có những ảnh hưởng to lớn”. [5]
Thực tế này cũng được GS Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Nhật bản) trình bày cặn kẽ hơn, khi ông so sánh sự phát triển kinh tế-xã hội của VN với một số nước trong khu vực thì rõ ràng khác biệt nhau cả một trời một vực.Theo tài liệu của Ủy ban LHQ về kinh tế và xã hội châu Á – Thái bình dương (ECAFE), năm 1954 thu nhập đầu người của miền Nam VN là 117 USD, xấp xỉ với Thái Lan (108) và cao hơn Indonesia (88) vào hai năm trước đó. Nhưng 60 năm sau, vào năm 2014 thu nhập đầu người của VN chỉ bằng một phần ba Thái Lan và một nửa Indonesia…Trong khi “Hàn quốc chỉ mất 16 năm (từ 1971-1987) để chuyển từ nước thu nhập trung bình thấp lên trung bình cao và chỉ mất thêm 10 năm nữa để tiến lên hàng các nước tiên tiến. Đài loan trở thành nền kinh tế tiên tiến vào năm 1995, chỉ tốn 12 năm kể từ giai đoạn thu nhập trung bình cao”. [6]
Sau hơn 40 năm hòa bình trong đó hơn 30 năm gọi là đổi mới, nhưng VN vẫn lẹt đẹt thuộc những nước có thu nhập trung bình thấp và đang có nguy cơ phải ngụp lặn lâu dài ở mức này. Ông Thọ còn nêu ra viễn tượng kinh tế VN vào năm 2020. Hiện nay theo phân loại của Ngân hàng thế giới, bình quân đầu người từ 1.000 đến 12.000 USD là nước có thu nhập trung bình, trên 12.000 USD là nước thu nhập cao. Do đó một nước được gọi là công nghiệp phải ở mức trên 12.000 USD. VN hiện nay mới gần 2.000 USD. Đến năm 2020 có lẽ cũng chỉ đạt được khoảng 3.000-3.500 USD, tức là thuộc các nước có mức trung bình thấp. [7]
Nông nghiệp: Bỏ rơi nông dân và nông thôn!
Chủ trương công nghiệp hóa nông nghiệp, nhưng sau 30 năm đổi mới vẫn là cảnh con trâu đi trước cái cày đi sau!
VN là một nước nông nghiệp, vào thập niên 80 của thế kỉ trước có tới 80% dân số sống và phụ thuộc vào nghề nông. Đồng bằng sông Hồng và nhất là Đồng bằng Cửu long là hai thúng gạo nuôi dân và xuất cảng để tạo cơ sở và ngân sách cho xây dựng công nghiệp, phát triển bền vững cho toàn quốc. Nếu hiểu thấu đáo thế mạnh này của VN và có được một tầm nhìn xa thì một nhà nước sáng suốt không chỉ tìm cách làm phục hồi nông nghiệp, mà còn phải canh tân, công nghiệp hóa mọi khâu trong nông nghiệp. Từ tạo kiến thức trồng trọt cho nông dân, đem điện nước, đường xá, trường học và y tế về thôn xã, trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân, và có những chính sách khuyến khích nông dân tự nguyện hợp tác để sử dụng kĩ thuật canh tác mới nhằm gia tăng năng suất và tăng lợi tức cho nông dân, tức là gia tăng sức mua và đầu tư của 80% dân số. Ngoài ra nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản để làm tăng giá trị các mặt hàng này; khuyến khích và hỗ trợ nông dân tự thành lập các trung tâm hiện đại lưu trữ gạo, rau trái và các tổ chức của nông dân theo dõi thị trường nông nghiệp trên thế giới để tạo thương hiệu có uy tín cho các sản phẩm nông nghiệp của VN và có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế.
Các chính sách trên đây không phải là những điều mới lạ, trái lại đã được thực hiện thành công ở nhiều nước phương Tây dưới nhiều tên gọi nổi tiếng, như “Chương trình xanh” trong ngành nông nghiệp, như Hòa lan, Đức, Pháp, Hoa Kỳ và Gia nã đại. Đúng ra là một nước đi sau, nên VN cỏ thể học hỏi nhanh chóng và hiệu quả kinh nghiệm và kĩ thuật của các nước này.
Sau chiến thắng 1975 những người cầm đầu say mê với thành tích con đường XHCN đã dẫn tới chiến thắng vẻ vang trong chiến tranh thì tất yếu cũng sẽ dẫn tới thắng lợi thần kì trong kinh tế! Đây là tư tưởng rất lạc quan từ Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng tới hầu hết các ủy viên BCT khi ấy. Vì thế mô hình kinh tế theo XHCN đã được thi hành cấp tốc và triệt để trong nông nghiệp với các Hợp tác xã (HTX), trong thương nghiệp với xóa bỏ tư sản mại bản kinh tế tư nhân và thành lập các thương nghiệp quốc doanh, trong công nghiệp với hàng loạt doanh nghiệp quốc doanh. Nhưng sau đó không lâu, mô hình phát triển theo XHCN đã dẫn tới bế tắc toàn diện. Nông dân không chịu làm ăn, thương nghiệp nhà nước không có hàng để bán, các DNNN ngồi chơi. Dẫn tới nạn đói khủng khiếp vào giữa thập niên 80, khiến cho hàng triệu người rơi vào cảnh đói và khủng hoảng lương thực trầm trọng như thời 1945. Trong khi các cán bộ cao cấp được hưởng các chính sách ưu đãi từ nhà cửa, xe đưa đón tới chế độ ăn uống ngon và đầy đủ; còn người dân thì không có cả thịt, cá, vải, thuốc men và các nhu yếu phẩm hàng ngày.[8] Nhóm cầm đầu giáo điều mới thấy là không thể tiếp tục mô hình tập thể hóa nông nghiệp HTX theo kiểu Liên Xô và TQ được nữa, nếu không thì nông dân và thị dân sẽ nổi loạn.
Nhưng sau ĐH 6 (12.86) phải đợi thêm hơn một năm, sau những tranh cãi gay gắt giữa các phe trong BCT và TU, mới ra được Nghị quyết (NQ) 10 ngày 5.4.1988, được gọi là Khoán 10. Tuy vậy đảng xuyên qua nhà nước của đảng vẫn tiếp tục giữ độc quyền công hữu ruộng đất, nông dân vẫn phải thuê ruộng (xem Chương một, III và Chương hai, V). Tuy đây chỉ là chính sách đổi mới nửa vời, nhưng đã làm cho nông dân gắn bó siêng năng với đồng ruộng, thửa vườn, cái ao và gia súc. Nhờ thế sản lượng nông nghiệp đã gia tăng mạnh và liên tiếp trong nhiều năm. Khiến cho từ khủng hoảng lương thực với nạn đói trầm trọng, từ 1989 đã trở thành một nước xuất cảng gạo.
Trước khi có Khoán 10, sản suất lúa cả nước chỉ khoảng 13 triệu tấn, hàng năm phải nhập khẩu hàng triệu tấn.[9] Năm 2017 sản lượng lúa đã đạt khoảng 42,84 triệu tấn.[10] Trong những năm gần đây số gạo xuất khẩu đã lên tới gần 8 triệu tấn, đứng thứ hai trên thế giới về xuất cảng gạo.[11]Nhưng nay sau hơn 30 năm nông dân và nông nghiệp tại VN vẫn phải đối diện gay gắt trong nhiều vấn đề. Nhiều chuyên viên trong nước ta thán là, tại sao VN đang là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới, nhưng đại đa số nông dân vẫn rất nghèo, ngay cả nông dân Đồng bằng Cửu long, vựa thóc của cả nước? Trong khi ấy ngay sau Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì tháng 1.94 (Khóa 7), tại Hội nghị trung ương (HNTU) 7 (7.94) đã đưa ra nghị quyết với tham vọng “phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn gắn với đô thị hóa nông thôn”.[12]
Tại sao giá gạo của VN vẫn thấp hơn nhiều gạo Thái lan và cho tới nay sau mấy chục năm xuất khẩu, nhưng gạo của VN vẫn chưa có thương hiệu uy tín trên thị trường quốc tế, chỉ bán được cho một số nước với giá thấp? Sau hơn 30 năm thực hiện chính sách tam nông (nông nghiệp, nông dân, nông thôn) coi “nông nhiệp là mặt trận hàng đầu”, nhưng tại sao máy móc và kĩ thuật canh tác vẫn rất lạc hậu, tiếp tục lối làm ăn thô sơ con trâu đi trước cái cày đi sau? Tại ĐH 10 (2006) những người cầm đầu toàn trị thổi lên tiêu chí từ “ăn no” sang “ăn ngon”! UVTU Đỗ Hoài Nam khi ấy đã cho biết, ĐH 10 đã ra NQ khẳng định đưa “nền nông nghiệp VN phải hình thành được một số sản phẩm chủ lực, mũi nhọn có lợi thế phát triển, có phẩm chất tốt, chất lượng cao và qua chế biến sâu, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới để có giá trị gia tăng cao”. Ông còn cho biết thêm, tại HNTU 7 Khóa 10 đã ra NQ về nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo hướng này và lãnh đạo vẫn tuyên bố, nông nghiệp là mũi nhọn.[13]
Nhưng tại sao tới nay vẫn thường diễn ra “được mùa mất giá” cho nông dân? Tại sao sau hơn 30 năm vẫn không lập được các trung tâm lưu trữ gạo hiện đại và không thiết lập được công nghiệp chế biến nông sản; trong khi đó lại bỏ hàng ngàn tỉ đồng xây các cảng để chỉ nằm đắp chiếu, hay bỏ ra cả hàng trăm tỉ hoang phí để xây các tượng đài cho các nhà độc tài của Đảng? Sau 30 năm đổi mới, nhưng tại “Diễn đàn nông nghiệp” do CP tổ chức vào giữa tháng 10. 2016 lại vẫn lập lại, phải tạo một thương hiệu quốc tế tốt cho gạo xuất khẩu của VN! Nhưng nhiều chuyên gia đã chua chát nói thẳng: “Thương hiệu gạo, có đâu mà mất!” [14]
Một sản phẩm (công nghiệp hay nông nghiệp) phải có chất lượng tốt, được tín nhiệm của khách hàng, người tiêu dùng tín nhiệm và sẵn sàng trả giá cao. Họ sẽ tiếp tục tìm thương hiệu này. Thí dụ như trong sản phẩm xe hơi và điện tử, người tiêu dùng thường thích xe hơi Toyota, Mercedes và Samsung…. vì có phẩm chất tốt. Nhưng sau gần 30 năm xuất cảng gạo, gạo của VN vẫn không có thương hiệu có uy tín trên thị trường nông sản thế giới. Đầu năm 2016 nhiều chuyên viên và ngay cả các cán bộ phụ trách nông nghiệp cũng đã ta thán và nhìn nhận tình hình rất bất lợi này trong việc xuất cảng các nông sản của VN… Phó Cục trưởng Cục xuất nhập khẩu, bộ Công thương Trần Thanh Hải cho biết, năm 2015 gạo VN chiếm trên 50% tổng số gạo nhập khẩu của TQ, nhưng tại các siêu thị và cửa hàng lại không tìm ra gạo mang thương hiệu VN. Trong khi ấy, gạo Campuchia lại chễm chệ trên các cửa hàng. Chè, cà phê, hạt tiêu… là các nông sản xuất khẩu lớn của VN, nhưng vị thế cũng tương tự. Cựu Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn II (thành phố HCM) Vũ Trọng Khải cho biết, nguyên nhân đang gây bất lợi cho quyền lợi của nông dân, là vì các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở VN đều là DNNN, nên vẫn giữ tâm lí thờ ơ cha chung không ai khóc! [15]
Tại Hội nghị toàn quốc triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới 30.9.16 với sự hiện diện của tân TT Nguyễn Xuân Phúc, được biết sau 30 năm thực hiện chủ trương lấy nông nghiệp làm mũi nhọn để xây dựng “nông thôn mới” nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nông dân, nhưng tới tháng 9.16 mới chỉ có 2.045 xã (23%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.[16] Liệu con số đưa ra có chính xác không, không ai biết. Nhưng sau 30 năm mới chỉ có gần ¼ xã ở nông thôn tên toàn quốc đạt tiêu chuẩn nông thông mới. Đây là nhìn nhận thất bại trong việc cải thiện đời sống mấy chục triệu nông dân!
Trong khi chính phủ Nguyễn Tấn Dũng bảo đảm để nông dân được hưởng lãi ít nhất là 30% so với giá thành, nhưng dịp này tại QH bộ trưởng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao đức Phát lại cho biết, “giá thành 1 kg lúa là 4.100đ/kg như vậy giá thu mua lúa phải đạt 5.400đ/kg thì người trồng lúa mới lãi 30%. Nhưng hiện nay giá lúa khô loại thường nông dân cũng chỉ bán được 4.500đ, lúa hạt dài khoảng 4.800đ”. Nghĩa là chỉ đạt được 10% lãi. Bà Phạm Chi Lan cho biết, từ 2007 khi VN gia nhập WTO thì đầu tư cho nông nghiệp đã giảm rất mạnh và liên tục, “trước khi VN gia nhập WTO thì tỷ trọng đầu tư toàn xã hội vào nông nghiệp nhất là đầu tư của Nhà nước cũng còn tương đối cao chiếm tới 13,8% trong tổng mức đầu tư, nhưng sau vài năm tham gia vào WTO thì mức đầu tư vào nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 6,4% trong tổng mức đầu tư phát triển”.Đây rõ ràng là thái độ trọng công, khinh nông và bỏ nội, trọng ngoại của những người làm chính sách. Theo bà, chính sách bỏ rơi nông dân và nông nghiệp của chính quyền CSVN hoàn toàn trái ngược với các nước khác, “hầu hết các nước khi hội nhập họ đều lo bảo hộ nông sản, nhưng VN thì ngược lại buông nông sản, buông nông nghiệp và ngành này phải tự bơi tự bươn chải”. Trong khi ấy “ nguồn lực đầu tư dồn quá nhiều cho DNNN, quá nhiều cho các Tập đoàn Kinh tế để rồi họ gây biết bao vấn đề cho nền kinh tế hiện nay”. [17]
Thái độ khinh nông dẫn tới các chính chính sách bỏ rơi nông dân đã khiến cho tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp đã giảm liên tục từ giữa thập niên 90. Trong dịp tổng kết 30 năm đổi mới vào dịp ĐH 12 nhiều chuyên gia về nông nghiệp thảo luận trên các cơ quan truyền thông. Họ sử dụng ngay lí luận của chế độ toàn trị là, kết quả thực tiễn chứng minh cho lí thuyết đúng hay sai. Khi “Tổng kết thực tiễn” trong 30 năm đổi mới trong nông nghiệp họ đã nhận thấy rất rõ, tốc độ trăng trưởng trong nông nghiệp không tăng, trái lại đã giảm liên tục từ kế hoạch ngũ niên này sang kế hoạch ngũ niên khác.
Theo Tổng Cục Thống kê, khu vực nông, lâm và thủy sản tăng 0,65%, là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ 6 năm.[19] Các con số trên giải thích tình trạng chung trong sản xuất nông nghiệp: Nông nghiệp đã bị bỏ rơi, nông dân không được giúp đỡ các mặt cần thiết, nên năng suất lao động trong nông nghiệp rất thấp và giảm liên tục. Trong bản Báo cáo 2016 của Ngân hàng Thế giới (WB) về phát triển nông nghiệp của VN đã xác nhận lối canh tác chậm tiến, lạc hậu thiếu cơ giới hóa nông nghiệp và lạm dụng thuốc trừ sâu, nông dân thất nghiệp gia tăng, chất lượng xấu.[20] WB còn cho biết, những năm gần đây mỗi năm nông nghiệp VN phải chịu thiệt hại khoảng 1 tỉ USD vì mất thị trường xuất khẩu do không tuân thủ các qui định vệ sinh an toàn thực phẩm.[21]
Cuối tháng 8.16 bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn (NN&PTTN) đã họp tổng kết 3 năm tái cơ cấu trong nông nghiệp (2013-15) có mặt Phó TT Trịnh Đình Dũng và bộ trưởng Nông nghiệp Nguyễn Xuân Cường. Các viên chức này xác nhận, không có chuyển biến thuận lợi, vì ruộng đất vẫn bị xé nhỏ cho nên không thể công nghiệp hóa nông nghiệp.[22] Ngân hàng Thế giới cho biết, đất nông nghiệp chia theo đầu người ở VN rất thấp, “chỉ đạt bình quân 0,07 hecta, thấp hơn nhiều so với tỉ lệ 0,27 hecta mỗi người tại Thái lan .[23] TS Lê Đăng Doanh nêu rõ một nguyên khác khiến các sản phẩm nông nghiệp có giá trị rất thấp và nông dân nghèo, vì nền nông nghiệp VN chưa phát triển được công nghiệp gia công chế biến là làm tăng thêm giá trị gia tăng. [24]
Chính vì thế đời sống của mấy chục triệu nông dân tiếp tục trong cảnh đói nghèo, ngay cả ở Đồng bằng Cửu long, vựa thóc cả nước. Họ dẫn chứng, một gia đình nông dân hai vợ chồng và hai con mức thu nhập từ 8 công ruộng ba vụ mỗi năm được tổng cộng 40 triệu đồng. Nếu chia theo đầu người thì mỗi người chỉ được 10 triệu đồng/năm, tức trung bình chỉ được 840.000đ/tháng, tương đương với 40 USD/tháng. Trong khi đó mức thu nhập đầu người bình quân năm 2013 ở VN là 1.960 USD, tức khoảng 150 USD/tháng.[25] Như thế mức chênh lệch giầu nghèo giữa thành thị và thôn quê rất lớn.
Nhìn tổng thể về kết quả 30 năm gọi là “đổi mới” xuyên qua 6 ĐH và bao nhiêu HNTU và các nghị quyết về công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Đỗ Hoài Nam, một nhà khoa bảng hàng đầu XHCN đã từng đóng góp ý kiến cho BCT và BBT trong nhiều nhiệm kì đã phải nhìn nhận tình trạng dẫm chân tại chỗ:
“Sự phát triển của nông nghiệp chủ yếu vẫn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết và phương thức canh tác truyền thống, dựa vào đất đai và lao động thủ công và vẫn nặng về sản xuất lúa gạo phẩm chất thấp, chưa chịu tác động mạnh mẽ của công nghiệp, công nghệ và dịch vụ, nhất là công nghệ cao. Lao động trong nông nghiệp vẫn còn gần 50% lao động toàn xã hội, trong đó trên 90% là chưa qua đào tạo và dân số sống ở nông thôn vẫn còn khoảng 70%”. [26]
Tại QH ngày 22.10.15 bộ trưởng Kế hoạch&đầu tư Bùi Quang Vinh cho biết: “Nhìn lại bao nhiêu năm, nông nghiệp bây giờ vẫn còn tình trạng con trâu đi trước cái cày theo sau. Ruộng của chúng ta chia manh mún, bé tí, từ máy bay nhìn xuống, ruộng, kể cả ở đồng bằng sông Cửu Long, chia nát bét, ô ruộng bé tí bằng căn nhà này thôi. Ngày xưa ruộng thẳng cánh cò bay thì bây giờ nó đã phân đất cho hộ gia đình tự cứu lấy mình trong giai đoạn trước, bây giờ nó đang cản trở lại nền sản xuất lớn…Một cân ngô và một cân đậu tương ở VN đắt gấp ba lần so với Mỹ sản xuất. Cánh đồng của họ thẳng cánh cò bay, một công lao động bằng máy móc bằng 1.000 người VN, nên giá thành ngô của họ chỉ bằng một phần ba giá thành ngô VN. Cho nên họ có sức cạnh tranh”.[27] Các điều kiện vô cùng bất lợi này đã dẫn tới năng suất lao động ở VN trong mọi lãnh vực, kể cả trong nông nghiệp rất thấp. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năm 2013 năng suất lao động của VN thuộc nhóm thấp nhất châu Á-Thái bình dương; thấp hơn Singapore 15 lần, Nhật 11 lần, Nam hàn 10 lần; chỉ bằng 1/5 Mã lai, 2/5 Thái lan.[28]
Tại “Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về chiến lược tam nông” ngày 27.11.18 chính Nguyễn Xuân Phúc đã xác nhận kết quả trên 30 năm trong chính sách tam nông là thất bại trong mọi lãnh vực, thua cả Thái lan và Campuchia: “Việc áp dụng tiến bộ khoa học trong nông nghiệp còn yếu, giá thành sản phẩm cao, chủ yếu là xuất thô, chưa qua chế biến, chưa đột phá trong nâng cao giá trị gia tăng; cơ cấu sản xuất còn manh mún, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn còn chậm, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn nhiều, việc xây dựng thương hiệu nông nghiệp còn yếu kém..”. [29]Mức đầu tư khoa học trong nông nghiệp ở VN chỉ bằng 1/10 Thái lan và 1/7 Phi luật tân. Nếu so với Nam Hàn thì con số này chỉ bằng 1/600.[30]
Mặc dầu vậy Nguyễn Xuân Phúc không dám nhìn thẳng sự thực về sự bỏ rơi nông dân và nông thôn trong suốt trên 30 năm “đổi mới” của những người cầm đầu chế độ toàn trị. Trong Hội nghị trên ông Phúc lại trút trách nhiệm là nông dân ỷ lại: “Chúng ta đang nói tập trung làm nông nghiệp, nông thôn mà nông dân chúng ta có tinh thần ỷ lại thì không bao giờ thành công!”[31]
Nguyên nhân và hiểm họa
Sau 30 năm đổi mới, nhưng tình hình nông nghiệp và đời sống mấy chục triệu nông dân vẫn ở tình trạng rất lạc hậu và đói nghèo. Nhiều chuyên viên, trong đó có cả những cán bộ cao cấp, đã dẫn chứng và cắt nghĩa, như trình bày ở trên, về các nguyên nhân dẫn tới tình hình rất bi đát hiện nay cho 70% dân số. Trong đó tổng hợp lại nổi bật hai nguyên nhân căn bản.
Nguyên nhân hàng đầu rất quan trọng khiến bao nhiều triệu nông dân triền miên rơi vào tình trạng “được mùa mất giá” và vẫn phải lao động theo cách con trâu đi trước cái cày đi sau, vì chính sách vô trách nhiệm của chế độ toàn trị, nhắm mắt rập khuôn theo kiểu DNNN trong nông nghiệp.Việc chế độ cho thành lập các Tổng công ti lương thực I và II vàHiệp hội Lương thực (VFA) chính là cách độc quyền trong nông, lâm và thủy sản. Các DNNN này gần như độc quyền trong việc định giá thóc gạo và thường cấu kết với các thương lái để ép giá nông dân phải bán nông sản theo giá bất lợi.[32] Chế độ toàn trị không tin vào nông dân và không sáng suốt nhận ra được tầm quan trọng của nông nghiệp VN trong việc phát triển đất nước, nên đã không tạo cho giới nông dân những điều kiện và cơ hội cần thiết để tự canh tân sản suất, tự tổ chức những cơ sở thiết yếu trong các khâu canh tác, chế biến và tìm thị trường để các nông sản VN có thương hiệu tốt, khả năng cạnh tranh cao, bán được giá trên thị trường quốc tế….
Các Tổng công ti lương thực nhà nước được độc quyền và được ưu đãi nên chỉ làm việc theo tinh thần công chức, sáng xách ô đi tối xách về, không tha thiết tới quyền lợi của mấy chục triệu nông dân…Không những thế còn thỏa hiệp với nhau và với các đại quan đỏ để tham nhũng và bóc lột nông dân! Đây là thái độ khinh thường nông dân và bỏ rơi nông thôn của nhóm cầm đầu toàn trị trong suốt mấy thập kỉ vừa qua! Chính vì thế cho tới nay mấy chục triệu nông dân vẫn bị nghèo đói và nông nghiệp không ngóc đầu lên được!
Một nguyên nhân quan trọng khác khiến nông nghiệp VN vẫn lạc hậu và nông dân vẫn phải chịu cảnh đói nghèo là do trước sau đảng vẫn ngang ngược coi đất đai thuộc công hữu, vẫn giáo điều nhắm mắt theo ý thức hệ Marx-Lenin. Chính từ khi Nguyễn Phú Trọng làm TBT đã cố tình ngăn cản và chống lại cả quyết định của ĐH 11 đòi sửa lại Luật Đất đai cho phù hợp với quyền lợi của nhân dân.Theo Tổng thanh tra CP thì có đến trên 70% các vụ khiếu kiện là về đất đai.[33]Ở nông thôn nông dân vẫn phải thuê ruộng đất của nhà nước, đại đa số ruộng đất bị chia cắt ra rất nhỏ và không có những biện pháp khuyến khích nông dân canh tác chung cùng có lợi. Nên không thể sử dụng các máy móc nông nghiệp hiện đại từ các khâu làm đất, cấy hạt giống, phân bón, trừ sâu tới gặt hái… Phần lớn các phương tiện canh tác cũ đã lạc hậu vẫn được sử dụng. Đây là lí do khiến năng suất nông nghiệp thấp và dẫn tới đời sống vẫn đói nghèo cùa bao nhiêu triệu nông dân chiếm tới trên 2/3 dân số VN. Mặc dù nông dân VN rất siêng năng và cần cù!
Tóm lại, cuộc sống đói nghèo của nông dân VN suốt gần 70 năm dưới chế độ toàn trị bắt nguồn từ một nguyên nhân căn bản là, thực hành chủ thuyết Marx-Lenin với chính sách coi ruộng đất là thuộc độc quyền của Đảng. Tức là trong thực tế ĐCSVN đã trở thành tên địa chủ độc nhất trên toàn quốc; nó tái lập biện pháp phát canh thu tô của địa chủ trước đây. Chỉ có điều khác là, trước đây địa chủ cho nông dân thuê ruộng đất, nhưng phải trả tiền thuê ruộng đất cho địa chủ. Nay thì ĐCS đóng vai trò này của địa chủ, nhưng với những chính sách tham lam và độc ác hơn, tuy rằng vẫn hô lớn chống địa chủ bóc lột!
***
Ngoài thái độ và chính sách khinh nông của nhà cầm quyền, cũng như sự thiếu năng lực của cán bộ, hiện nay nông nghiệp VN còn đứng trước nguy cơ của biến đổi khí hậu trên toàn cầu do những hậu quả của CO2, đặc biệt là Đồng bằng Cửu long, vựa lúa nuôi dân cả nước. “Bát cơm vàng” đang có nguy cơ biến mất. Khu vực này bao gồm 13 tỉnh, với 12,3 % diện tích và 20% dân số, đóng góp tới 27% GDP cả nước. Hai tỉnh Cà mâu và Kiên giang là khu đất thấp hơn cả mức nước biển. Trong mùa mưa nếu thủy triều cao khoảng một mét thì có nguy cơ đồng ruộng bị chìm trong nước mặn, không thể canh tác. Nạn sụt lún sẽ càng gia tăng. Trong khi ấy từ trước tới nay sông Cửu long là nguồn cung cấp không chỉ hải sản, mà còn đem phù sa làm phì nhiêu đồng ruộng. Nhưng hiện nay TQ đã xây nhiều đập thủy điện ở thượng nguồn sông Cửu long, khiến cho lưu lượng nước bị giảm.
Theo dự báo của Cơ quan Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) và nhiều chuyên viên quốc tế, với tình hình gia tăng nhiệt độ trên thế giới tiếp tục như hiện nay thì tới cuối thế kỉ này nhiệt độ ở Đồng bằng Cửu long có thể tăng thêm 1,3-2,8°C, mưa sẽ tăng 4-8%, nước biển dâng từ 66 cm tới 99cm. Nếu nước biển dâng cao thêm 1m có thể làm cho 39% diện tích Đồng bằng Cửu long bị ngập, 35% dân số bị ảnh hưởng. Đây là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu. Nếu tình hình này diễn ra sẽ làm 22 triệu người mất nhà cửa và thiệt hại lên tới 10% GDP.[34]
III. Đầu tư nước ngoài: Khinh trong trọng ngoài,
dẫn tới kinh tế lệ thuộc FDI và công nghiệp nội bị bỏ rơi
Sau khi HK và các nước Tây phương hủy bỏ chính sách cấm vận kinh tế và thương mại với VN từ đầu thập niên 90, chế độ toàn trị CSVN đứng trước hoàn cảnh rất ngặt nghèo. Khi ấy Liên Xô đã sụp đổ, tức là HN mất toàn bộ khu vực “thị trường truyền thống” suốt mấy chục năm từng là chủ lực giao thương và viện trợ cho VN. Trong khi ấy tái lập bang giao với TQ mới bắt đầu và chưa có gì vững chắc. Trong hoàn cảnh đó, muốn tái thiết đất nước chỉ còn cách mở cửa buôn bán với Tây phương, đặc biệt với cựu thù Mĩ. Đây là giai đoạn chủ trương làm bạn với tất cả! Hà nội đưa ra mục tiêu kinh tế đối ngoại là tìm cách thu hút mời các công ti nước ngoài đầu tư trực tiếp vào VN xây dựng các xí nghiệp để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu (Foreign Direct Investment -FDI). Họ cho rằng, đây là chính sách khôn ngoan “đi tắt đón đầu”, như một đòn bẩy để đưa nền kinh tế vốn rất tụt hậu của VN có thể chuyển nhanh sang phát triển canh tân đất nước, nhờ vốn và kĩ thuật hiện đại của các công ti này.
Về lí thuyết, chủ trương này bao gồm một số mục tiêu chính:
Tạo công ăn việc làm và nâng cao trình độ chuyên môn cho công nhân VN
FDI hợp tác với các doanh nghiệp VN, chuyển giao kĩ thuật công nghiệp hiện đại và giúp công nghiệp VN phát triển kiến thức quản trị
Thu được các nguồn ngoại tệ mạnh để làm vốn cho phát triển kinh tế
Các sản phẩm của FDI xuất cảng sẽ mang lại số thuế lớn cho ngân sách quốc gia
Các FDI sẽ sử dụng các kĩ thuật hiện đại, nên tránh làm bãi rác công nghệ
Tuy Luật đầu tư cho nước ngoài đầu tiên ra đời từ 1988 (QH thông qua 29.12.1987)[35], nhưng phải đợi tới giữa thập niên 90 sau khi VN và HK bình thường hóa quan hệ ngoại giao thì các các công ti FDI mới dồn dập vào làm ăn ở VN.[36]Điều 27 Luật đầu tư cho doanh nghiệp nước ngoài năm 2005 qui định các lãnh vực được ưu đãi, trong đó Khoản 3 ghi rõ “Sử dụng công nghệ cao, kĩ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái.”. [37] Tuy nhiên phải đợi tới sau khi VN gia nhập WTO vào cuối năm 2006 thời Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng (TT) thì các công ti lớn quốc tế mới đổ hàng tỉ USD đầu tư vào VN. Chỉ riêng 9 tháng đầu 2008 vốn đăng kí đầu tư nước ngoài vào VN đã lên tới 57 tỉ USD. Trong đó có 8 dự án có vốn đăng kí trên 1 tỉ USD/dự án.[38] Tới cuối 2012 có tất cả 14.364 dự án đang hoạt động với tổng số vốn đăng kí lên tới 212,846 tỉ USD. Trong đó chủ yếu là các công ti FDI với 100% vốn nước ngoài chiếm tới 79,61% tổng số dự án và 66,51% tổng vốn đăng kí; số công ti FDI liên doanh với tư nhân VN và DNNN chỉ chiếm 17,86% tổng số dự án và 25,92% tổng vốn đăng kí.
Trong dịp tổng kết 30 năm chính sách đối với FDI (1988-2018) một số cơ quan và chuyên viên đã phân tích các hoạt động và kết quả của FDI đối với kinh tế VN. Thứ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng cho biết, VN “đã thu hút được trên 25.000 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 320 tỉ đô la Mỹ”.[39] Theo TS Vũ Thành Tự Anh, Đại học Fulbright VN, đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ba thập niên qua “đang tạo ra khoảng 70% giá trị xuất khẩu, 50% giá trị sản xuất công nghiệp và 20% GDP của cả nước”.[40]Trong khi FDI chiếm trên 2/3 tổng xuất khẩu và ½ tổng giá trị sản xuất công nghiệp của VN thì “hệ số chuyển giao công nghệ” của các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp nội lại “thấp nhất trong khu vực ASEAN, thua cả Lào và Campuchia”. Chính sự kiện này đã được Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ông Vũ Tiến Lộc xác nhận trong cuộc Hội thảo ở HN ngày 30. 8.18. [41]
Nói một cách khác, vai trò của các doanh nghiệp FDI đang đóng vai trò then chốt có tính cách quyết định cho tương lai của kinh tế VN, nhưng hầu như không có chuyển giao công nghệ với các doanh nhiệp tư nhân VN. Nguy hiểm nữa là, rất nhiều xí nghiệp FDI đã sử dụng các máy móc cũ và có trình độ công nghiệp rất thấp, ngày càng đe dọa môi trường sinh thái của VN, điển hình như thảm họa cá chết hàng loạt phủ trắng ven biển các tỉnh miền Trung do đại công ti Formosa gây ra năm 2016. Điều này hoàn toàn trái ngược với các mục tiêu đãđưa ra của nhà cầm quyền toàn trị VN xuyên qua các Luật đầu tư cho các doanh nghiệp nước ngoài tại VN trong hơn 30 năm qua.
Cũng theo báo cáo vào đầu năm 2018 của VCCI, “mỗi năm có khoảng từ 40-50% doanh nghiệp FDI kê khai lỗ, trong đó, có rất nhiều doanh nghiệp lỗ liên tục trong nhiều năm, thậm chí có doanh nghiệp lỗ lũy kế đến mức âm vốn chủ sở hữu, nhưng vẫn tiếp tục hoạt động bình thường, kể cả việc mở rộng quy mô kinh doanh. Một số địa phương thu hút nhiều doanh nghiệp FDI như thành phố HCM, Bình Dương, tỉ lệ doanh nghiệp FDI kê khai lỗ lên đến 50-60%, trong đó có nhiều doanh nghiệp kê khai lỗ trong nhiều năm”.[42] Tình hình rất lạ lùng như thế phải hiểu theo nhiều mặt. Đó là: 1. Những đóng góp thuế thực sự của FDI vào ngân sách quốc gia ở mức rất thấp. 2. Mức chuyển giao kĩ thuật công nghệ cho các doanh nghiệp nội địa rất thấp. 3. Sử dụng các máy móc cũ nên đang tạo nguy hại về môi trường.
Mặc dầu tình hình phát triển của các công ti FDI đi ngược lại với các chủ chương và chính sách của chế độ toàn trị trong việc thu hút đầu tư của nước ngoài, vậy tại sao họ vẫn được mở rộng làm ăn ở VN? Những nghịch lí này của FDI đang diễn ra ở VN trong suốt mấy thập niên qua. Tại sao các nghịch lí ngày không được cải thiện, ngược lại còn đang mở rộng từ thời Nguyễn Tấn Dũng và đang gia tăng từ khi Nguyễn Xuân Phúc làm TT? Những người cầm đầu chế độ toàn trị có làm chủ động trong các chính sách đối với FDI, hay đã bị lệ thuộc và bị sai khiến bởi các nhóm lợi ích cấu kết với các công ti FDI từ ngay trong giai đoạn hoạch định chính sách?
Các công ti FDI tại VN phân loại theo hình thức đầu tư (2012)
TT
Hình thức đầu tư
Số dự án
Tổng vốn đăng kí (triệu USD)
Tỉ trọng (%)Số dự án Tổng vốnđăng kí
1
100% vốn nước ngoài
11.370
141.582,33
79,16 66,62
2
Liên doanh
2.566
55.162,65
17,86 25,92
3
Hợp đồng BOT, BT, BTO
14
5.857,32
0,10 2,75
4
Hợp đồng hợp tác kinh doanh
218
5.469,09
1,52 2,57
5
Công ti cổ phần
195
4.677,21
1,36 2,20
6
Công ti mẹ con
1
98,01
0,01 0,05
Tổng số
14.364
212.846,61
100 100
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, 2013. Xuất xứ: NCKT 4.2013,tr. 47
Nhà nước CS ưu đãi tối đa cho các công ti FDI về nhiều mặt, như đất đai lập công xưởng, được ưu đãi thuế rất thấp các năm đầu, lương công nhân thấp; nhập khẩu máy móc, mua sắm trang thiết bị và hàng từ công ti mẹ hưởng chế độ giảm thuế đặc biệt, giành ưu đãi cho họ chuyển lợi nhuận về công ti mẹ. Ngoài ra để thu hút FDI, mỗi địa phương còn được quyền đưa ra các biện pháp ưu đãi cao hơn; ngoài việc miễn giảm tiền thuế đất, tiền sử dụng đất lên tới 50% theo NQ 62 của CP, còn gia hạn thêm thời gian miễn giảm thuế từ 3-6 năm.[43] Chế độ toàn trị cho lập nhiều Khu chế suất và Khu công nghiệp giành riêng cho các công ti FDI. Các công ti FDI tập trung hoạt động trong lãnh vực sản xuất hàng hóa xuất khẩu, như giầy dép, quần áo, linh kiện điện tử. Khi chương trình mở rộng các đô thị được ban hành, nhiều công ti FDI đã tìm cách hợp tác với các DNNN để lợi dụng chính sách ưu đãi của NHNN trong việc vay với lãi suất rất thấp những số tiền rất lớn lên tới 135.000 tỉ đồng (>8,4 tỉ USD) vào khu vực bất động sản. Như các dự án Nam Thăng long-Ciputra, Hồ Tràm của một công ti Canada (4,2 tỉ USD), Starbay của British VirginIslands (1,65 tỉ USD) và Khu công nghiệp Thủ thiêm của Singapor (1,2 tỉ USD) khi ấy. Họ còn lợi dụng sự dễ dãi và khuyến khích của chính quyền trung ương và các địa phương, nên nhiều năm -nhất là thời Nguyễn Tấn Dũng- đã ồ ạt lập 78 sân golf với tổng số vốn đăng kí là 13,3 tỉ USD và chiếm một diện tích 26.170 ha ở 39 thành phố/tỉnh. Ngoài ra cũng trong thời gian này còn có 66 dự án khác xây sân golf.
Chính TCCS đã đăng bài của hai chuyên gia kinh tế của Cơ quan Phát triển của LHQ ở VN tường thuật cách biến đất nông nghiệp thành các sân golf làm nơi giải trí của các nhà tư bản nước ngoài và các quan đỏ. Theo qui định của Nhà nước thì tiền bồi thường cho đất nông nghiệp rất thấp. Không những thế đất xây sân golf còn được coi là dùng vào thể thao, “nên được hưởng mức thuế đất ưu đãi”. Vì thế nhiều công ti FDI đã lợi dụng dùng một phần đất sân golf để xây “khách sạn, nhà hàng và giải trí”. Họ đầu cơ xây các sân golf, khách sạn và các khu giải trí với các ưu đãi cao nhất để hi vọng có thể thu hồi vốn và có lời nhanh. Trong việc xây dựng các khu vực bất động sản, nhiều công ti FDI đã dùng uy tín và mánh lới là công ti ngoại quốc, có quan hệ tốt với các quan đỏ có quyền lực, nên nhiều khi họ chỉ cần xây móng xong là đã rao bán. Người mua (thường là cán bộ có máu mặt) sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn đặt cọc trước. Như vậy là các công ti FDI đã dùng tiền của người mua nhà để xây nhà, họ chỉ phải bỏ ra số vốn rất ít nhưng hưởng lợi nhuận rất cao. Có dư luận cho rằng, dự án Ciputra và Keangnam (Đại hàn) thuộc loại đầu cơ như vậy.[44] Đây chính là cách làm ăn móc ngoặc, làm giầu nhanh bất chính giữa các quan đỏ với nhiều công ti nước ngoài.
Một hiện tượng rất phổ biến là, nhiều doanh nghiệp FDI đã khai lỗ nhiều năm liên tiếp, trong khi đó họ vẫn gia tăng đầu tư tại VN. Như ở Khu chế suất tại Bình dương số doanh nghiệp FDI khai lỗ năm 2010 là 754/1490, chiếm tỉ trọng 50,6%; trong đó có tới 200 doanh nghiệp mức lỗ cao hơn cả vốn. Tại Sài gòn và Đồng nai số doanh nghiệp FDI khai lỗ cũng lên tới 60% và 52,2%. Tại Lâm đồng số doanh nghiệp FDI khai lỗ là 104/111. Mánh lới phổ thông thứ hai của các công ti FDI là khai giá các tài sản như máy móc, thiết bị, nguyên liệu, dịch vụ, phí bản quyền… cao hơn nhiều so với giá thực tế. Mặc dầu đa số máy móc chuyển sang VN đều thuộc loại trình độ kĩ thuật cũ và gây ô nhiễm cao. Đây là thuộc vào các vốn đầu tư, từ đó họ có lợi thế để tính thuế. Họ còn khai vay tiền các ngân hàng với lãi suất rất cao, hoặc các chi phí cho dịch vụ như quản lí, quảng cáo, tiếp thị, đào tạo, thuê chuyên gia. Đây là những chi phí đầu vào. Từ đó vào cuối mỗi năm họ có thể khai lỗ, hoặc lời rất ít để được miễn thuế hoặc chỉ đóng thuế rất ít. Năm 2009 có 760/1.358 (56%) công ti FDI khai lỗ. Các thủ đoạn này làm ngân sách nhà nước thất thu hàng năm rất lớn.[45]
Một hiện tượng phổ thông khác là, đại đa số các công ti nước ngoài hoạt động tại VN theo hình thức 100%, không thích liên kết với các doanh nghiệp VN vì nhiều lí do, từ bí mật nghề nghiệp, khác biệt ngôn ngữ tới sự phân hóa quá nhỏ của các doanh nghiệp tư VN. Đặc biệt nhất là, nhà cầm quyền CS rất cần ngoại tệ qua sự đầu tư của các công ti FDI nên không dám có những chính sách rõ ràng -như TQ và một số nước Á châu- để các công ti FDI phải tích cực hợp tác với doanh nghiệp tư nhân VN. Vì thế các doanh nhân, doanh nghiệp VN và công nhân mất các cơ hội tốt để học tập kĩ thuật, cách quản trị và điều hành các hãng xưởng theo trình độ mới.
Không chỉ chèn ép giới kinh doanh tư nhân VN, các công ti FDI còn tìm cách bóc lột hàng triệu công nhân bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, với sự làm ngơ hoặc tiếp tay nhà cầm quyền CS. Tính tới năm 2012 có 283 Khu công nghiệp trên 58 tỉnh/thành phố, chiếm diện tích 76.000 hecta. Trong đó miền Đông Nam Việt nhiều nhất với 88 khu công nghiệp ( 31,1%), Đồng bằng sông Hồng 24,7%, Đồng bằng Cửu long 17,7%, Miền Trung 15,5%. Chia theo tỉnh/thành phố thì Đồng nai có 30 Khu công nghiệp, Bình dương 25, Sài gòn 19, Hà nội 11…Riêng Đồng bằng Cửu long có 51 Khu công nghiệp và 200 cụm công nghiệp chiếm diện tích 25.000ha, nhưng mới sử dụng khoảng 20%. Nhiều Khu công nghiệp bị qui hoạch treo phí phạm đất canh tác.[46] Số lao động làm trong các Khu công nghiệp tăng rất nhanh. 1995 mới có 50.000 công nhân, năm 2000 đã tăng lên 201.000, năm 2007 lên tới 1,04 triệu và 1,765 triệu công nhân vào năm 2011. Bình quân số công nhân làm trong các khu công nghiệp gia tăng hàng năm từ 10-15%.
Trong khi số công nhân gia tăng rất nhanh thì Nhà nước CS không có chính sách để các doanh nghiệp FDI có chương trình xây dựng cư xá cho công nhân. 80% công nhân phải thuê phòng trọ ở bên ngoài. Nếu tính theo tỉ lệ và diện tích các phòng trọ thì thật khủng khiếp: Số công nhân phải sống trong phòng rộng dưới 3m² chiếm tới 19%, 3-5m² (21,4%), 5-7 m² (10,6%),8-10m² (22%), 11-20m² (22,4%); số công nhân có phòng trọ trên 20m² chỉ có 5,9%. Rất nhiều trường hợp 3 công nhân phải thuê 1 phòng 10-12m², giá thuê 250.000-300.000đ/tháng (2012). Không chỉ phải ở trong các phòng trọ chật chội, thiếu tiện nghi, thiếu vệ sinh như các chuồng gà; còn thiếu các nhà trẻ, trường học, trạm y tế, chợ, siêu thị, giải trí…Đấy là chưa kể chính sách “hộ khẩu” đã khiến cho con cái công nhân không được thu nhận vào các trường học. Điều này ảnh hưởng vô cùng bất lợi cho hàng trăm ngàn thiếu niên.[47]
Cuộc sống lam lũ của hàng triệu công nhân, đa số là phụ nữ và con thơ, trong các khu công nghiệp giành cho các công ti FDI là những hình ảnh sống động nhất và tồi tệ nhất như thời Cách mạng Công nghiêp hai thế kỉ trước, với cảnh bóc lột của thời kì tư bản rừng rú. Trong đó có sự cấu kết công khai giữa vua chúa cầm quyền và bọn tư bản bóc lột. Nhưng rất oái ăm và lạ lùng là, tình trạng vô nhân đạo này lại tái diễn vào đầu Thế kỉ 21 tại VN trong khuôn khổ chế độ XHCN; trong đó những người cầm đầu luôn luôn vỗ ngực, đó là chế độ bảo vệ người lao động, bảo vệ quyền làm người!
Không những thế nhiều công ti FDI vi phạm qui luật lao động, thậm chí vi phạm cả luật hình sự đối với công nhân VN. Như ngược đãi công nhân, làm tới 12 giờ/ngày, đánh đập công nhân. Nhiều công ti Nam hàn đã vi phạm. Các vụ đình công diễn ra khá phổ biến trong các công ti của Đài loan và Nam hàn. Năm 2010 xẩy ra 62 vụ đình công ở Sài gòn, trong đó 37 vụ trong các công ti FDI. Trong số này 21 vụ ở các công ti Nam hàn.[48] Số các công ti của Nam Hàn, Đài loan, Hồng kông và Nhật chiếm một tỉ lớn của FDI hoạt động ở VN. Điều này có thể hiểu, các nước này không chỉ là láng giềng mà còn có nền văn hoá tương đồng với VN, hiểu rõ tâm lí và tập quán của người Việt, đặc biệt một số các nước này không coi trọng nhân quyền và quyền lợi của công nhân ngay ở trong nước họ!
Một hình ảnh “thân dân” rất kịch cỡm đã được TT Nguyễn Xuân Phúc dàn cảnh trong chuyến thăm công nhân tại một công ti FDI ở Đồng nai vào cuối tháng 10.2017. Đây cũng là công ti mà hơn một năm trước, khi mới nhận chức TT ông Phúc đã thăm. Nay ông trở lại để xem có tiến bộ hay không. Tại đây TT đã hỏi công nhân về tình hình lao động và cuộc sống hàng ngày của họ. Khi tới bàn ăn của công nhân ông hỏi: “Bữa ăn từ 16.000-23.000 đồng có đảm bảo chất lượng không? Sau giờ làm việc, công nhân có thời gian để sinh hoạt văn hóa, thể thao hay không? Mức lương và cuộc sống có đảm bảo không?”[49] Tại sao Nguyễn Xuân Phúc không tổ chức một cuộc thăm bất ngờ ở một công ti FDI khác để biết các bữa ăn trưa thịt ôi canh ủng chỉ với giá hai ba ngàn đồng; hay đi thăm các phòng trọ như ổ chuồng gà giành cho công nhân?
Theo bộ Kế hoạch và đầu tư, tới cuối 2017 có 128 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam. Lần đầu tiên Nam Hàn đang dẫn đầu với tổng vốn đăng ký 57,1 tỷ USD (chiếm gần 18,2%), thứ hai là Nhật bản với 46,3 tỷ USD, tiếp đến là Singapore và Đài loan.[50]
Tờ Quân đội Nhân dân (QĐND) cũng cho biết, hiện các công ti FDI đang sử dụng khoảng 30% lực lượng lao động công nghiệp”.[51] Nhưng mặt khác, khu vực FDI đang bộc lộ những mặt trái gay gắt; như gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng, nạn chuyển giá bất hợp pháp, sử dụng công nghệ lạc hậu. BCT đưa ra mục tiêu là, dùng FDI để lan tỏa công nghiệp hiện đại cho kinh tế tư nhân nội địa, nhưng thực tế đã không diễn ra như vậy. Theo điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI), các công ti FDI “chỉ mua khoảng 26,6% thiết bị, đầu vào từ DN Việt Nam, còn lại là nhập khẩu và nhập từ công ty mẹ. Điều này chứng tỏ, DN Việt Nam đang được hưởng lợi rất ít từ hiệu ứng lan tỏa do dòng vốn FDI mang lại qua quá trình chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và nâng cao năng suất”. Trong báo cáo “Việt Nam tăng cường năng lực cạnh tranh và liên kết của DN vừa và nhỏ (DNVVN)-Bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế” Nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cũng xác nhận, “các DNVVN của Việt Nam chủ yếu là nhà cung cấp cấp ba (gián tiếp), được mô tả như là ngành sản xuất các nguyên liệu đầu vào, nguyên liệu đơn giản và ít giá trị gia tăng”.[52]
***
Nếu so sánh giữa chủ trương (lí thuyết) và kết quả thực tiễn trong việc thực hiện chính sách FDI gần ba thập kỉ qua của chế độ toàn trị CSVN thì càng thấy rõ sự khác biệt rất rõ rệt như trắng với đen giữa mục tiêu và kết quả:
– Chủ trương dùng FDI để thúc đẩy công nghiệp VN phát triển. Nhưng oái oăm đại đa số các FDI chỉ làm ăn riêng, cho nên đến nay nhiều doanh nghiệp tư VN đã không làm được cái đinh ốc!
– Chủ trương dùng FDI để VN có “công nghiệp xanh”. Nhưng nay nhiều FDI đang biến VN thành bãi rác thải công nghiệp độc hại, không những thế họ chỉ chuyển vào VN các máy móc có trình độ kĩ thuật rất thấp.
– Chủ trương bảo vệ quyền lợi lao động của công nhân trong các công ti FDI, nhưng thực tế hàng triệu công nhân VN đang bị bóc lột và bạc đãi!
Tự vỗ ngực là những người lãnh đạo CS giầu kinh nghiệm, biết rõ tâm đen của các giới tư bản, nhưng tại sao họ lại trải thảm đỏ mời gọi FDI, thế rồi bị sỏ mũi? Họ nghĩ rằng có thể tương kế tựu kế? Nhưng nếu xét qua nhiều giai đoạn tham gia của FDI ở VN thì cho thấy, họ bị chạy theo, rất bị động chứ không chủ động. Những sự cố về ô nhiễm môi trường đã xẩy ra và các hậu quả vô cùng tai hại của nó, cũng như lương bổng bị bóc lột và đời sống đói rách của hàng triệu công nhân cho thấy, khi lập kế hoạch mời FDI họ ở thế bị động, cứu đảng và cứu mình để nắm quyền nên phải nhắm mắt làm liều.
Lời xác nhận của Nguyễn Phú Trọng trong vụ Formosa: “Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu, nên bây giờ chúng ta phải trả giá”. (Xem Chương chín, V). Lời xác nhận trên của người cầm đầu chế độ toàn trị không chỉ giới hạn trong lãnh vực môi trường, mà có giá trị cả trong các lãnh vực khác, như chờ đợi FDI chuyển vào VN những công nghệ với kĩ thuật tiên tiến, hay bảo vệ quyền lợi lao động của công nhân.
Sự tăng trưởng về vốn đầu tư vào VN hay kim ngạch xuất khẩu gia tăng của FDI không đồng nghĩa với những lợi ích cho VN. Nhiều khi đi ngược lại các mục đích ban đầu của CSVN: Xuất khẩu gia tăng nhưng nhập khẩu cũng gia tăng; gia tăng số lượng công ti FDI nhưng lại giảm số công ti FDI hợp tác với doanh nghiệp tư VN và các thiết bị đưa vào VN có trình độ kĩ thuật thấp, đang biến VN thành nơi tiêu thụ các máy móc lỗi thời, nguy hiểm nữa là thành bãi rác đầy chất độc công nghiệp. Điều cực kỳ nguy hiểm nữa là, sự kiện ngày càng lớn mạnh của FDI dẫn tới hậu quả, ngày càng òi ọp của doanh nghiệp tư nhân VN và kinh tế VN càng lệ thuộc bên ngoài!
Cuối tháng 11.18 tại cuộc Hội thảo đánh giá hiệu quả chính sách thu hút và ưu đãi đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong các thập niên vừa qua do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức, nhiều chuyên viên đã lên tiếng cảnh báo về những hệ lụy vô cùng bất lợi trong nhiều lãnh vực cả trước mắt và lâu dài của chủ trương “quá sính ngoại” của chế độ toàn trị đối với các công ti FDI. Chuyên viên ngân hàng Phạm Xuân Hòe nhận xét, “khối FDI được rất lớn, còn VN chỉ được mấy đồng lương còi cho người lao động. Trong khi ô nhiễm môi trường không biết phải chi bao nhiêu cho đủ và người công nhân cũng luôn phải đối mặt với rủi ro”. [53]
***
Trước đây cũng như hiện nay một số nước Âu châu cũng như Á châu lấy xuất cảng làm trọng tâm. Trong giai đoạn đầu mãi lực nội địa không cao, vốn ít; nên để tạo điều kiện phát triển nhanh hơn, các quốc gia này cần vốn của cả bên ngoài. Nhưng mục tiêu lâu dài vẫn phải lấy nội lực làm chính. Đây là những suy nghĩ sáng suốt và thực tế. Bởi vì hoạt động kinh tế liên quan trực tiếp tới đồng tiền bát gạo. Ta không thương ta thì chẳng ai đoái hoài. Tâm lí chung là không ai giúp một cách vô công, có đi có lại. Nhưng phải hiểu tâm lí và động cơ của các nhà tư bản. Đối với họ, lợi nhuận là tiêu chí giá trị cao nhất, nơi nào thu hoạch có lời cao, thuế thấp cùng các ưu đãi khác thì họ sẽ đổ xô tới; nếu không còn thì họ lại bỏ đi tìm nơi khác. Chính tâm lí này của các giới tư bản đã được cựu Phó TT Đức và cựu Chủ tịch Đảng Dân chủ Xã hội Đức F. Müntefering mô tả; ông đã ví giới này như các đàn cào cào, châu chấu, nơi nào có ăn thì cả đàn tới, khi hết rồi thì cả đàn lại bay đi nơi khác kiếm ăn![54]
Như trước đây ở Nhật, Đài loan và Đại hàn và hiện nay ở TQ, một mặt họ khuyến khích tư bản nước ngoài bỏ vốn vào đầu tư ở nước họ. Xuyên qua nguyên tắc hợp tác, các FDI được giành một số ưu đãi nhất định trong hoạt động kinh doanh, nhưng đồng thời phải thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ và các thỏa thuận với các quốc gia này. Trong đó ngoài nhiệm vụ đóng thuế sòng phẳng, còn phải chuyển giao công nghệ tân tiến và đào tạo chuyên môn cho người lao động bản xứ.
Cách vận hành của một nền kinh tế lấy xuất cảng làm trọng tâm có đặc điểm là, các công ti FDI dùng công nhân bản xứ với lương bổng thấp, nhờ đó giá thành các hàng hóa thấp, nên các sản phẩm này có thể bán chạy ở nhiều nước công nghiệp. Nhờ thế các công ti FDI hưởng lợi nhuận rất cao. Trong khi đó nhà nước sẽ thu ngoại tệ để tăng mức ngoại hối và thu được thuế từ các hàng xuất khẩu; nhờ đó ngân sách quốc gia được gia tăng để có thể đầu tư và canh tân đất nước tiến tới tự lập tự cường. Nhưng các mục tiêu và cách thực hiện đường lối kinh tế này chỉ thành công trong một số điều kiện nhất định, ắt có và đủ. Đó là phải có một hệ thống chính trị tốt, trong đó những người nắm vận mệnh đất nước phải có tinh thần trách nhiệm cao, có tầm nhìn sâu rộng; quốc hội, hệ thống tòa án phải có thực quyền; các công chức phải chí công vô tư; có hệ thống báo chí độc lập và các đoàn thể xã hội dân sự được tự do hoạt động. Mặt khác phải có các chính sách khuyến khích và bảo vệ các giới doanh gia và tư thương nội địa trong việc bỏ vốn và sáng kiến vào các hoạt động sản suất và kinh doanh để làm giầu cho chính mình và đất nước.
Nếu chỉ thích hoàng nhoáng bề ngoài, thích giả dối; gộp nhập trên 2/3 kim ngạch xuất khẩu hàng nămtừ FDI vào GDP để trưng diện là lợi tức đầu người ở VN đang tăng nhanh. Nhưng đó chỉ là giả dối, vì phần lớn thu nhập của các công ti FDI lại được chuyển nhanh về công ti mẹ ở mẫu quốc. Cả phần thuế của FDI vào ngân sách quốc gia cũng rất thấp; vì họ được ưu đãi thuế, trốn thuế bằng cách khai lỗ, hay chỉ phải trả mức thuế rất thấp!
Cân nhắc giữa quyền lợi quốc gia và sự phân công quốc tế cùng có lợi cho các bên, thì nếu sự đầu tư của nước ngoài đem lại những lợi ích thiết thực cho việc phát triển nhanh và bền vững cho đất nước, sẽ là một việc rất đáng hoan nghênh. Không nên có thái độ bài ngoại quá khích, nhất là trong giai đoạn toàn cầu hóa. Bế quan tỏa cảng chỉ làm trì trệ đất nước thêm. Nhưng mục tiêu này chỉ có thể thành công, nếu có một chính quyền có tầm nhìn xa trông rộng, biết cân nhắc ưu và khuyết điểm của kế hoạch xây dựng đất nước; có chính sách mở cửa thích hợp, biết sử dụng vốn tư bản nước ngoài, công nghệ tân tiến nước ngoài và kiến thức quản trị và trình độ chuyên môn cao của họ. Đó là tạo những điều kiện ắt có và đủ cho việc canh tân VN. Nhưng suốt trên 30 năm qua các điều kiện trên đều không có!
Tư doanh VN bị bạc đãi và bị chèn ép
Từ trước tới nay, đặc biệt dưới thời Nguyễn Tấn Dũng làm TT, các NQ của nhiều ĐH đảng và chính sách kinh tế của chính phủ đều nhấn mạnh phát triển nội lực. Nghĩa là về mặt lí thuyết, các doanh nghiệp VN (DNNN và tư nhân) phải là nồng cốt cho phát triển kinh tế. Các Luật về Doanh nghiệp tư nhân 2000 và 2005 qui định về hoạt động của kinh tế tư nhân trong nước. Nhưng trong thực tế thì lại hoàn toàn khác. Trong khi các công ti nước ngoài FDI ngày càng bung ra chiếm lãnh thị trường và các DNNN được giành ưu đãi trong tín dụng và đất đai, lại nắm độc quyền nhiều lãnh vực được coi là huyết mạch của nền kinh tế. Còn các doanh nghiệp tư nhân nội địa lại không ngóc đầu lên được, phải chịu đựng một cổ hai ba tròng, vừa bị các DNNN chèn ép, lại bị các công ti FDI cạnh tranh, đồng thời còn bị các quan đỏ móc túi và trấn áp.
Có nhiều con số khác nhau về doanh nghiệp tư nhân VN từ nhỏ, trung bình đến lớn (tính theo số công nhân và vốn đầu tư). Theo Cục Quản lí đăng kí kinh doanh của bộ Kế hoạch và đầu tư, tính tới Quí 1/2014 có tất cả 789.813 doanh nghiệp tư nhân VN đã đăng kí, trong đó 296.206 doanh nghiệp đã phải đóng cửa hoặc phá sản. Riêng từ khi VN gia nhập WTO (2007) số doanh nghiệp tư nhân gia tăng cao, mỗi năm có trên 50.000 doanh nghiệp được thành lập.[55] Nhưng đồng thời số doanh nghiệp ngưng hoạt động hoặc phá sản cũng rất cao. Theo báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN ngày 13.4.16, có đến 428.000 doanh nghiệp tư nhân VN phải ngừng hoạt động hoặc giải thể trong giai đoạn 2007-2015, tương đương với 45,5% tổng số doanh nghiệp được thành lập kể từ khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000 đến nay. [56]
Xét về qui mô lao động thì các doanh nghiệp VN ngày càng có khuynh hướng nhỏ đi. Vào năm 2002 một doanh nghiệp có trung bình 74 lao động, đến 2007 chỉ còn 47 lao động, nhưng tới 2012 lại giảm chỉ còn khoảng 32 lao động. Vào năm 2012 số doanh nghiệp vừa là lớn chỉ chiếm khoảng 4,3%, doanh nghiệp nhỏ chiếm 29% và siêu nhỏ chiếm 66,8% (dưới 10 lao động). Năm 2002 số doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm 53,1% đã tăng lên 66.8% vào năm 2012. Tình hình chung rất đặc biệt là, trong suốt 10 năm (2002-2011) rất ít doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ phát triển thành doanh nghiệp vừa hoặc lớn. Nhưng ngược lại, tỉ lệ các doanh nghiệp vừa lại biến thành nhỏ và siêu nhỏ lại gia tăng. Thành thử nhiều chuyên viên đã rất chua chát phải nêu câu hỏi, tại sao các doanh nghiệp tư nhân VN “không lớn lên được”? [57]
Cũng vào giai đoạn này đã có bài thơ rất chua chát và mỉa mai, vì sao đất nước không lớn lên được với tựa đề “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” của Thạc sĩ Trần Thị Lam, một nữ giáo viên trung học ở Hà Tĩnh, được phổ biến rất rộng rãi và được phổ nhạc. Bài thơ được phổ biến vào dịp sau biến cố thảm họa môi trường do Formosa ở Hà tĩnh gây ra, 4.2016.[58] (Xem phần sau).
Viện trưởng Viện Kinh tế VN Trần Đình Thiên nêu câu hỏi, tại sao Nhà nước vẫn nói là kinh tế chuyển dịch tốt, nhưng công nghiệp VN vẫn yếu?Ông dẫn chứng, công nghiệp chế biến, chế tạo là lãnh vực then chốt trong phát triển kinh tế, nhưng sau 30 năm chỉ tăng 1,6%.Ông dẫn chứng nguyên nhân dẫn tới tụt hậu vì các chính sách sai lầm. Theo ông, “trong thời đại công nghệ cao mà lĩnh vực chế biến chế tạo chỉ tăng như vậy thử hình dung công nghiệp Việt Nam giậm chân tại chỗ hay thụt lùi ghê gớm so với thế giới? Ta thích công nghiệp khai khoáng, xây dựng, tập trung gia công còn lĩnh vực tạo năng lực cốt lõi là chế biến chế tạo lại rất yếu”. Ông trách là, Nhà nước CS đã quá chiều chuộng các công ti FDI, dẫn tới hậu quả là nay tùy thuộc quá nhiều vào họ.[59] Trong khi đó theo chuyên gia Phạm Chi Lan, chế độ toàn trị đã không tạo một sân chơi bình đẳng giữa các hoạt động kinh tế. Trong khi các Doanh nghiệp nhà nước, các công ti FDI và “doanh nghiệp tư nhân thân hữu” được biệt đãi (tiếp cận các nguồn lực, quyền kinh doanh, đầu tư công/mua sắm của chính phủ, bảo hộ để né cạnh tranh…) thì đại đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vị thế rất bất lợi, nên không lớn lên được và dễ bị đào thải. [60]
Tới 2014 cả nước có khoảng gần 3000 doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ và hoạt động rất yếu. Ngay bộ Công thương cũng cho biết, công nghiệp phụ trợ phải sử dụng tới 80% nguyên liệu nhập khẩu, lại chỉ tập trung vào các hoạt động đơn giản như đóng gói, bao bì. Các ngành công nghiệp phụ trợ như giầy dép, dệt may… phần lớn nằm trong tay các công ti FDI. Các công nhân VN chỉ làm công tác gia công; trong khi ấy phần chính nguyên liệu phải nhập cảng, nhất là từ TQ. [61] Trong khi nhóm cầm đầu toàn trị thề thốt là công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế thì nhiều chuyên viên đã chỉ trích và cảnh báo nghiêm khắc là, “hiện nay VN đang trở thành quốc gia có nền công nghiệp gia công toàn diện”, tức là chỉ đi làm thuê và làm những công việc phụ thuộc cho các công ti FDI.[62] Ngoài các nguyên nhân không có sân chơi bình đẳng và bị chén ép, các doanh nghiệp tư nhân VN còn bị cán bộ nhũng nhiễu, hàng năm phải tiếp nhiều phái đoàn thanh tra, muốn được yên thì phải trao “phong bì”! Tiến sĩ Cao Sĩ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, đã cho biết, theo số liệu từ một cơ quan nghiên cứu có tới 73% doanh nghiệp phải lót tay cho cán bộ. [63]
Ngay tại QH vào cuối năm 2015 (22.10.15) Bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư Bùi Quanh Vinh vừa than thở vừa trách móc là: “Một đất nước muốn tự chủ kinh tế thì doanh nghiệp của nước ấy phải phát triển. Doanh nghiệp nội địa phát triển thì mới hỗ trợ cho khu vực FDI, và tiếp thu công nghệ của nước ngoài… Nhiều doanh nghiệp FDI, như Nhật Bản, muốn chuyển giao công nghệ, nhưng doanh nghiệp chúng ta không có nền tảng để nhận. Chúng ta kêu ca doanh nghiệp FDI không chuyển giao công nghệ là do có hai mảng. Thứ nhất họ không chuyển giao, và thứ hai, họ có chuyển giao thì chúng ta cũng không có đủ năng lực tiếp nhận”.[64]
Trong buổi tọa đàm với Hội Doanh nhân trẻ VN vào cuối năm 2018 TS Trần Đình Thiên, nay là thành viên Tổ tư vấn kinh tế của TT, đã phải chua chát nhận xét, sau trên 30 năm “đổi mới” nhưng doanh nghiệp tư nhân VN chỉ đóng góp 8% GDP; trong khi đó đóng góp của FDI lên tới 20% và DNNN khoảng 27-28%. Theo ông, ở trong một nước phát triển kinh tế thực sự với nội lực làm chủ yếu dựa trên kinh tế thị trường thì khu vực doanh nhân nội địa đóng góp đến 60-70%, nếu mạnh thì đến 80-90%. Nhưng ở VN sau trên “30 năm phát triển kinh tế thị trường rực rỡ mà chỉ có 8%”. Một trong những lí do chính là doanh nghiệp tư nhân VN đang bị bạc đãi và chèn ép. Ông dẫn chứng, trong khi các doanh nghiệp FDI chỉ phải chịu mức thuế trung bình là 11% thì các doanh nghiệp VN phải đóng thuế trung bình lên tới 29%, cao hơn gần 3 lần so với FDI![65]
Nói chung lại, trong suốt ba thập niên theo mô hình Kinh thế Thị trường định hướng XHCN sở dĩ các xí nghiệp tư nhân VN không thể vươn lên được vì nhiều nguyên nhân: Bị chế độ toàn trị bỏ rơi và khinh rẻ, bị các DNNN và FDI chèn ép; không được đối xử bình đẳng trong việc tiếp nhận các nguồn lực kinh tế từ vay tiền, lãi suất, thuế vụ tới đất đai. Ngoài ra còn phải thường xuyên bị cán bộ các cơ quan đảng và nhà nước nhũng nhiễu!
Hai trường hợp điển hình về chính sách
của Nhà nước CSVN với các công ti FDI
Nguyễn Xuân Phúc ưu đãi Samsung
Từ tháng 2.17 Lee Jae-yong 49 tuổi, Phó chủ tịch công ti Samsung phải ngồi tù ở Nam Hàn, là người giầu thứ 3 của Nam Hàn với 6,6 tỉ Euro. Ông phải tù 5 năm vì các tội hối lộ, che dấu và khai man. Ông đã hối lộ một số tiền rất lớn cho cựu Tổng thống bà Park để mong sớm trở thành Chủ tịch Samsung. Nhiều cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người ở Nam Hàn phản đối quan hệ bất chính và tệ trạng tham nhũng- hối lộ giữa chính phủ và Samsung. Bà Park cũng bị cách chức Tổng thống. Cha ông là Lee Kun-hee (72t) năm 2009 cũng bị kết án 3 năm tù với các tội tương tự, nhưng không bị ngồi tù; từ 3 năm qua sau khi bị nhồi máu cơ tim trở thành hôn mê nhưng vẫn là Chủ tịch Samsung. Đầu tháng 2. 2018 Tòa án trả tự do cho ông với điều kiện. Tập đoàn Samsung chiếm tới 20% tổng sản lượng kinh tế của Nam Hàn, có 490.000 nhân viên. Trong quí 3/2017 đã đạt lợi nhuận 11,2 tỉ € (12,91 tỷ USD ), cao nhất từ trước tới nay. Dự đoán trong tương lai mức lợi nhuận còn cao hơn nữa.[66]
Trong cuộc gặp TT Nguyễn Xuân Phúc tại trụ sở chính phủ ngày 6.10.17 Tổng giám đốc Samsung Electronics Hàn quốc Shin Jong Kyun đã cho biết, sau 10 năm đầu tư vào VN đến nay tổng vốn đầu tư của Samsung đã lên tới 17 tỷ USD. Samsung dự kiến sẽ xuất khẩu hơn 50 tỷ USD trong năm 2017, chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu của VN. Ông còn nhấn mạnh, các nhà máy đặt tại VN có quy mô lớn nhất, hiện đại nhất của Samsung.[67] Đây là cuộc gặp lần thứ hai của đại diện Samsung với Nguyễn Xuân Phúc trong năm nay và có lẽ lần này CP xác nhận giành ưu đãi sử dụng đất và thuế nhiều hơn nữa cho Samsung.
Cho tới trước khi cuộc gặp này Samsung đã nhận được nhiều ưu đãi đầu tư từ Chính phủ CS: “Hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 30 năm, miễn 4 năm và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo”. Ngoài ra, “các địa phương cũng đã giành cho Samsung các ưu đãi về tiền thuê đất, tiếp tục cho Samsung được giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm tiếp theo sau giai đoạn 9 năm đó”.[68] Các đại diện của Samsung vẫn chưa thỏa mãn với các ưu đãi này, nên họ đòi được đãi ngộ cao hơn sau việc gia tăng đầu tư. Trong cuộc gặp TT Nguyễn Xuân Phúc ngày 26.7.17 một đại diện Samsung ở Thái nguyên đã đề cao sự đầu tư của Samsung và cam kết “xuất khẩu hơn 50 tỷ USD trong năm nay”, tương đương với gần ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.[69]
Với mức kim ngạch xuất cảng gia tăng cao và nhanh như vậy, nên Nguyễn Xuân Phúc có thể dùng nó để phô trương thành tích tăng trưởng kinh tế của VN dưới quyền của ông! Vì thế ông đã hứa với đại diện Samsung là sẽ ra lệnh cho “Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ sớm cấp chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao cho Samsung VN vì đã đạt được các tiêu chí cần thiết”.[70]Sớm nhận được giấy chứng nhận “Doanh nghiệp công nghệ cao” là nỗ lực hàng đầu của Samsung từ lâu. Vì khi đó Samsung sẽ nhận được những ưu đãi cao nhất về đất đai và thuế.[71]
Trong kì họp cuối năm của QH đã có dư luận cho là, việc tăng trưởng quí 3/2017 tăng đột biến lên tới trên 7% là nhờ sự đóng góp quan trọng của hai đại công ti FDI Samsung và Formosa.[72]Có lẽ để giải quyết gánh nặng của nợ công ngày một chồng chất trong khi mức tăng trưởng kinh tế càng đi xuống, nên từ khi làm TT, Nguyễn Xuân Phúc còn dành ưu đãi đặc biệt cho các công ti FDI hơn cả người tiền nhiệm, đặc biệt cho Samsung. Cho nên Samsung đã đầu tư dồn dập vào VN để mở rộng các hoạt động kinh doanh trong năm 2016-2017. Chỉ trong nửa đầu năm 2017, các công ty Samsung đạt doanh thu 27,4 tỷ USD (622.000 tỷ đồng); lợi nhuận sau thuế đạt 3,1 tỷ USD (70.600 tỷ đồng).[73] Nếu tính toàn năm 2017 Samsung đã đạt được lợi nhuận ròng là 5,8 tỉ USD, trong khi ấy chỉ mới phải đóng thuế 186 triệu USD cho nửa năm 2017.
Trong cuộc gặp PTT Vương Đình Huệ ngày 17.11.17 ông Shim Wonhwan, Tổng giám đốc Tổ hợp Samsung VN, cho biết, hiện công ti đã có ba trung tâm sản suất tại VN ở Bắc ninh, Thái nguyên và Sài gòn, tổng số lao động đang làm việc trong các nhà máy của Samsung tại VN là 180.000 người (bao gồm cả 20.000 người làm bảo vệ và nhà ăn). Con số này không kể các nhân viên làm việc trong các đơn vị cung ứng của Samsung.[74] Trong đó số phụ nữ còn trẻ chiếm tới 75% .[75] Như vậy Samsung ở VN đứng thứ hai chỉ sau Samsung mẹ ở Nam Hàn, đồng thời là công ti FDI lớn nhất ở VN. Samsung tại VN tập trung sản xuất máy điện thoại cầm tay tối tân và các máy truyền hình có kĩ thuật cao nhất trên thế giới, xuất khẩu sang khoảng 120 nước.
Samsung hiểu được vai trò cực kỳ quan trọng của họ trong nền kinh tế VN, nên họ đang tìm mọi cách ép chính quyền CSVN phải gia tăng ưu đãi, đồng thời chèn ép công nhân VN. Điều này có thể thấy rõ trong cách đối xử với các đại diện của Samsung của các giới chức cao cấp VN. Vài năm trước các đại diện của Samsung thường gặp trực tiếp Bộ trưởng 4 T và được phổ biến rộng rãi trong các cơ quan báo đảng. Nhưng hiện nay cả TT lẫn Phó TT gặp trực tiếp các đại diện của Samsung. Điều này chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh đã tiên đoán trước đây vài năm, “Chính quyền có những ưu đãi để thu hút Samsung và Samsung có thể đòi các ưu đãi đặc biệt cao hơn mức bình thường vì họ biết vị thế của mình”. [76]Do được miễn và giảm thuế tối đa nên trong những năm qua, Samsung đã “tiết kiệm” được hàng tỷ USD tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Với thuế suất rất thấp, VN thực sự đã trở thành “thiên đường thuế” của tập đoàn này. Đây cũng là lý do mà Samsung ngày càng rót nhiều tiền đầu tư cũng như chuyển nhiều hoạt động sản xuất vào VN.[77]
***
Trước những đòi hỏi của phía VN là Samsung nên để các doanh nghiệp VN tham gia, trong cuộc hội thảo “30 năm lan tỏa vốn FDI” 7.10.17 ông Bang Hyun Woo, Phó tổng giám đốc Samsung VN đã nói thẳng, “các sản phẩm của Samsung đang được xuất khẩu đi toàn cầu và những linh kiện mà chúng tôi sử dụng đòi hỏi phải rất tin tưởng, liên quan đến chất lượng vô cùng cao. Nói là doanh nghiệp VN ngay bây giờ có thể tham gia vào chuỗi cung ứng này vô cùng nan giải”. Có lần Samsung còn trách móc là, công nghiệp VN chậm tiến đến mức chưa làm được cả cái ốc! Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng đã nhận xét:
“Câu chuyện cái đinh ốc bùng lên trong nước từ tháng Chín. Báo chí đăng tin công ty Samsung điện tử thú nhận cơ xưởng ráp máy điện thoại của họ ở Bắc ninh không tìm ra xí nghiệp nào của người VN có thể cung cấp những cây đinh xoắn trôn ốc, còn gọi là ốc vít.”. Nhưng rốt cuộc, có 67 doanh nghiệp cung cấp các linh kiện cho SEV; đại đa số là các doanh nghiệp của người Ðại hàn, Nhật bản, Singapore, Mã lai. Chỉ có bốn doanh nghiệp VN cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho SEV, mà việc chính của họ là làm bao bì, in ấn. Ông Shim Won Hwan, tổng giám đốc Samsung ở VN mới, nói tại một hội thảo ở HN vào tháng Chín vừa qua rằng, “không doanh nghiệp VN nào ‘nắm bắt’ được cơ hội, họ chỉ cung ứng được những sản phẩm in ấn, bao bì!” Còn những thứ “cao cấp” như cái đinh ốc vít, người VN làm không được theo tiêu chuẩn của Samsung! Họ cũng không kiếm mua được những bộ phận “sạc” điện cho cell phone do người VN làm”.[78]
Tới giữa năm 2017 chính báo Infonet của bộ 4T cho biết, mới chỉ có 25 doanh nghiệp VN tham gia chuỗi cung ứng cấp 1 cho Samsung. [79] Nhưng khi giải trình trước Quốc hội tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội vào 1-11.17, bộ trưởng bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đề cập đến vấn đề phát triển công nghiệp hỗ trợ lại cho biết, hiện có khoảng 30 doanh nghiệp cung cấp linh kiện điện tử trực tiếp cho Samsung tại VN và đều là các doanh nghiệp FDI, chứ chưa có bất kỳ doanh nghiệp nội địa nào.[80]Trong khi đó khi làm việc với đại diện Samsung ở Thái nguyên ngày 26.7.17 để xét việc giành ưu đãi thuế đặc biệt cho Samsung Nguyễn Xuân Phúc đã hết lời khen ngợi là, hiện đã có “215 nhà cung cấp là doanh nghiệp VN” và “tỉ lệ nội địa hóa của Samsung VN đạt 57%”.[81] Ông Phúc đưa ra con số cao gấp nhiều lần về việc các doanh nghiệp tư VN tham gia hệ thống xí nghiệp phụ trợ cho Samsung là để có cớ xếp Samsung vào Luật Công nghệ cao? Một điều rõ ràng nhất là, Samsung VN nhập khẩu từ Samsung mẹ ở Hàn quốc hầu như toàn bộ các máy móc và linh kiện điện tử. Đây cũng là lí do chính khiến mức nhập khẩu hàng hóa vào VN của Nam Hàn đã gia tăng rất mạnh trong vài năm gần đây.
Gần 200.000 công nhân VN, đại đa số là phụ nữ trẻ chỉ làm gia công, phải lao động rất vất vả dưới những điều kiện nghiêm ngặt, nhưng lương bổng lại rất thấp. Lê Đăng Doanh đã nhận xét, “năng suất lao động của công nhân VN làm đạt 80% năng suất lao động, trong khi tiền lương chỉ bằng khoảng 10%”. Phần lớn các phụ nữ này đã bỏ quê ra tỉnh để làm công nhân cho Samsung. Cuối tháng 11.17 Tổ chức phi chính phủ Thụy Điển IPEN -một tổ chức phi vụ lợi có uy tín quốc tế, chuyên về bảo vệ sức khỏe và môi trường- phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển ở HN (CGFED), đã công bố Bản báo cáo về điều kiện làm việc của nữ công nhân ở các nhà máy điện tử của Samsung tại VN. Theo báo cáo này, IPEN và CGFED đã phỏng vấn 45 nhân viên Samsung và đưa ra nhận xét:
“Tiếng ồn ở khu sản xuất cao hơn nhiều so với cho phép của VN, tất cả nhân viên được phỏng vấn đều cảm thấy mỏi mệt trầm trọng và chóng mặt, sẩy thai ở người lao động diễn ra thường xuyên..”. Công nhân phải đứng làm việc suốt 8-12 giờ, công nhân mang thai cũng phải lao động như vậy. Nhiều công nhân bị sổ mũi, rối loạn tiêu hóa, đau chân…Báo cáo còn cho biết, hàng ngày công nhân bị Samsung kiểm soát quá nghiêm ngặt, “thời gian nghỉ ngắn và nếu muốn đi vệ sinh thì lại phải được cho phép ra vào đặc biệt”.Báo cáo đưa ra yêu cầu, “phải điều tra bổ sung về việc rò rỉ hóa chất. Bởi người lao động đang làm việc trong môi trường mở tiếp xúc với nhiều loại hóa chất đa dạng nhưng lại không nhận thức được về những rủi ro hóa chất trong công đoạn lắp ráp”.[82]
Ngay hôm sau đại diện Samsung đã lên tiếng phủ nhận các lời cáo buộc trên. Samsung “công nhận có sử dụng hóa chất trong một số công đoạn, nhưng đều áp dụng các biện pháp để công nhân không bị phơi nhiễm nhờ thiết bị thoát khí, cùng việc đeo thiết bị bảo hộ”. [83] Thanh tra của bộ Lao động & thương binh, xã hội cho biết, vào tháng 7.17 đã thanh tra ở hai trung tâm của Samsung ở Bắc ninh và Thái nguyên và cho biết, phụ nữ mang thai từ tháng thứ 7 được nghỉ. Theo Bộ, các cáo buộc khác trong Bản báo cáo của IPEN là “chưa thuyết phục”. Nhưng Bộ xác nhận Samsung đã vi phạm pháp luật về qui chế lao động. “Samsung chia thời gian làm việc thành hai ca. Ca ngày 8-20h, ca đêm từ 20h đến 8h sáng hôm sau và đưa vào nội quy lao động, luân phiên làm việc 4 ngày liên tục sẽ được nghỉ 2 ngày”. Qui định này trái với Luật lao động 2012. Theo đó giờ làm việc không quá 8h/ngày và không quá 48h/tuần; giờ làm việc ban đêm từ 22h-6h sáng hôm sau; giờ làm thêm không quá 30h/tháng, 200h/năm. [84]
Nếu giữ thái độ khách quan và thận trọng thì những lời xác nhận trên của Thanh tra của bộ Lao động & thương binh, xã hội có lẽ mới chỉ là một phần rất nhỏ của sự thực. Vì trong quá khứ đã chứng minh nhiều lần, các cơ quan thanh tra của đảng cũng như chính phủ không thể tin cậy.Như trong các vụ PMU 18, Vinashin và Formosa các cơ quan thanh tra của nhiều cơ quan đã thanh tra, nhưng rốt cuộc đều có báo cáo tốt! Tuy nhiên những điều nêu trong Báo cáo này trái ngược với khen ngợi của Nguyễn Xuân Phúc vài tháng trước. Khi ông thăm công ti Samsung ở Thái nguyên đã nói là, “đời sống công nhân, người lao động ngày càng được nâng cao, trong đó công ty quan tâm đến khu ăn ở, giải trí, lao động nữ…”[85]
***
Không ai phủ nhận công ti Samsung là một trong những công ti điện tử hàng đầu trên thế giới hiện nay. Nó cũng là một trong vài công ti lớn nhất của Nam Hàn và đóng góp phần quan trọng cho sự phát triển và hưng thịnh kinh tế của nước này. Nhưng đó không phải là công lao riêng của Samsung mà còn là cả nửa triệu công nhân của công ti ở Nam Hàn và của nhân dân Nam Hàn nói chung. Trong đó không thể quên được những cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người phản đối chính sách bạc đãi công nhân và hối lộ của các Ban giám đốc công ti này.
Mặc dầu chế độ toàn trị ở VN giành rất nhiều đặc ân để Samsung chỉ trong vài năm trở thành nhà đầu tư FDI lớn nhất hiện nay ở VN kể cả về vốn và kim ngạch xuất khẩu. Nhưng Samsung có thực sự phục vụ phát triển kinh tế VN theo những mục tiêu đề ra của chế độ toàn trị trong việc thu hút FDI vào VN hay không? Đó là để các xí nghiệp VN cùng tham gia trong các khâu sản xuất để nâng cao trình độ kĩ thuật và quản trị, bảo vệ quyền lao động của hàng trăm ngàn công nhân và đóng góp vào sự phát triển kinh tế của VN.
Mặc dầu trong những năm gần đây Samsung ở VN đạt được lợi nhuận hàng năm nhiều tỉ Mĩ kim, phần chính là vì nhà cầm quyền ở trung ương và địa phương đã ưu đãi thuế rất cao từ xuất cảng tới nhập cảng các sản phẩm. Nhưng ngược lại số xí nghiệp tư nhân VN tham gia với Samsung có thể đếm trên đầu ngón tay. Gần 200.000 công nhân, phần lớn là phụ nữ trẻ, phải chịu những điều kiện lao động rất bất lợi, từ lương bổng tới các bảo hiểm xã hội. Nói chung là công ti tư nhân VN chỉ đứng bên lề và công nhân VN chỉ đóng vai làm gia công cho Samsung. Đây là chính sách đem con bỏ chợ của chế độ toàn trị. Nó thể hiện rõ ràng đây là chủ chương đầu cơ đầy rủi ro và rất phiêu lưu.
Những người đứng đầu Samsung nắm bắt được những nhược điểm của những người cầm đầu chế độ toàn trị CSVN là trình độ quản trị kinh tế rất yếu, nền kinh tế đang đứng trước vực thẳm, nhưng chỉ thích đề cao thành tích bề ngoài, cơ chế và cán bộ tham nhũng và bất lực. Vì thế chỉ trong ít năm Samsung đã trở thành trụ cột của kinh tế VN, hiện nay chiếm tới hơn ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu của VN. Nhưng trong thực tế những thành công này chỉ đem lại lợi ích riêng rất lớn và rất nhanh cho Samsung. Do sự gia tăng xuất khẩu rất lớn của Samsung nên Nguyễn Xuân Phúc đã hô hoán là kinh tế VN đang phục hồi, đạt tăng trưởng cao nhất sau nhiều năm. Nhưng nếu tính toán nghiêm túc sẽ thấy Samsung không đóng góp quan trọng vào ngân sách quốc gia của VN. Vì Samsung được hưởng các ưu đãi thuế rất cao. Ngoài ra mức xuất khẩu gia tăng thì mức nhập khẩu của Samsung cũng gia tăng rất mạnh.
Tóm lại, mặc dầu những mục tiêu trong việc mời gọi Samsung đầu tư tại VN đã không đạt được, nhưng nhà cầm quyền CSVN vẫn liên tiếp giành từ ưu đãi này tới đặc quyền khác cho Samsung.Sự hoạt động càng bung ra của Samsung càng chứng tỏ có sự tiếp tay của những người có thế lực nhất trong chế độ. Chính các sự kiện này đã dẫn tới câu hỏi, tại sao trong giai đoạn Nguyễn Phú Trọng đang hô hoán đốt lò chống tham nhũng, nhưng một công ti nổi tiểng về hối lộ như Samsung -ngay cả ở chính quốc Nam Hàn- lại đang được nâng đỡ và chiều chuộng hết mức ở VN? Nguy hiểm cực kỳ khác nữa là, nền kinh tế VN đang ngày lệ thuộc nhiều mặt vào một công ti lớn nước ngoài. Điều này có thể dẫn tới những hậu quả rất nguy hại cho cả kinh tế lẫn chính trị VN! Chính sách đối với Samsung nói riêng và với các công ti FDI nói chung từ Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng tới Nguyễn Xuân Phúc không phải là mã tìm mã, nhưng đúng là ngưu tìm ngưu!
Nguyễn Phú Trọng ưu ái Formosa
Tại sao ông Trọng lại đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc Formosa,
giữa lúc hàng triệu nhân dân là nạn nhân do thảm họa cá chết hoàng loạt?
Ngay từ đầu tháng 4.16 đại diện sở Nông nghiệp-phát triển nông thôn (NN-PTNT) Hà tĩnh cho biết, “cá nuôi ven biển và cá tự nhiên chết bất thường xuất hiện từ ngày 6.4 tại vùng ven biển xã Kỳ lợi và tại xã Kỳ hà, Kỳ ninh (thị xã Kỳ anh) vào ngày 7.4. Ngày 11.4, sau khi công ty Grobest tại xã Kỳ phương (thị xã Kỳ anh) cấp nước biển vào ao nuôi khoảng 6 giờ đồng hồ thì xảy ra hiện tượng tôm nuôi chết hàng loạt. Đến ngày 14.4, ngao nuôi tại 2 xã Kỳ hà và Kỳ ninh tiếp tục bị chết, gây thiệt hại khoảng 4,71 tỉ đồng”.[86] Khi ấy Phó phòng Kinh tế và đô thị thị xã Kỳ anh Nguyễn Thị Thủy cũng cho biết, “địa bàn xã Kỳ lợi xuất hiện cá chết đầu tiên nằm cách cảng Sơn dương của khu kinh tế Vũng áng khoảng 4 – 5 km, còn các xã Kỳ ninh, Kỳ hà cách Vũng áng khoảng 20 km về phía bắc thì tôm, cá chết sau đó một ngày”. [87]
Các địa danh này là khu vực nằm cạnh Khu công nghiệp Vũng áng khổng lồ của công ti Đài loan Formosa Hà tĩnh (FHS). Đến giữa tháng 4 các tin dồn dập cùng những hình ảnh nhiều loại cá lớn nhỏ chết hàng loạt rất khủng khiếp và kinh hoàng suốt mấy trăm cây số dọc duyên hải từ các tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị, Thừa thiên-Huế do chính các báo lề đảng như Tuổi trẻ, Thanh niên, Lao động, Dân trí, VTV, VNNet… phổ biến đã tràn ngập dư luận các tỉnh ven biển miền Trung làm nhân dân rất hoang mang lo lắng. Hàng chục ngàn ngư dân không dám ra biển đánh cá, người dân cả nước không dám ăn cá, dịch vụ du lịch các bãi biển miền Trung thu hút hàng triệu du khách VN và ngoại quốc lo lắng bị mất khách!
Mãi tới ngày 19.4 Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn) mới đến Hà tĩnh kiểm tra về nguyên nhân cá chết và cho biết, “cá chết là do chất độc gây ra nhưng chưa xác định đó là chất gì”.[88] Điều này có nghĩa là phải khẩn trương nghiêm túc điều tra tiếp để tìm ra nguyên nhân gây ra nạn cá chết hàng loạt, tàn phá và hủy hoại môi trường thiên nhiên và de dọa cuộc sống của hàng triệu ngư dân và những người sinh sống bằng dịch vụ du lịch.
Giữa khi ấy báo chí đưa tin, “Tổng bí thư kiểm tra tiến độ dự án Formosa”.[89] Nhiều người nghĩ rằng, vì vừa được tái cử TBT nên Nguyễn Phú Trọng đã nhạy cảm trước nỗi lo sợ và sự bất bình của nhân dân về thăm Hà tĩnh và khu công nghiệp gang thép Formosa để thúc đẩy cuộc điều tra về vụ cá chết hàng loạt. Nhưng thật là thất vọng và sai lầm lớn, ngày 22. 4 Nguyễn Phú Trọng cầm đầu phái đoàn cao cấp của đảng và chính phủ gồm Nguyễn Văn Bình, UVBCT, Trưởng Ban Kinh tế TU; Nguyễn Văn Nên, Bí thư TUĐ, Chánh Văn phòng TU và lãnh đạo nhiều Ban, Bộ, ngành TU về thăm Hà tĩnh. Ông giành toàn thời gian tới thăm khu công nghiệp gang thép và cảng nước sâu Sơn dương Formosa Hà tĩnh. Dự án này rất khổng lồ với mức đầu tư giai đoạn 1 lên tới 10,5 tỉ USD.[90] Ban giám đốc của FHS đã hoan hỉ báo cáo cho Nguyễn Phú Trọng biết, nhà máy sản xuất thép, nhiệt điện, cầu cảng đã bắt đầu hoạt động!
Ban giám đốc FHS còn hãnh diện báo cáo với ông Trọng, từ tháng 12. 2015 FHS đã cho ra lò sản phẩm thép cuộn cán nóng đầu tiên và đến nay đã có hơn 7.000 tấn thép cuộn được xuất ra thị trường trong và ngoài nước. “Dự kiến, tháng 6. 2016 sẽ hoàn thành và đưa vào hoạt động lò cao số 1. Khi đi vào hoạt động, đây sẽ là nhà máy luyện gang thép lớn nhất Đông Nam Á tính đến thời điểm hiện nay”.[91]Nguyễn Phú Trọng và phái đoàn cao cấp rất chăm chú và ngưỡng mộ thành quả kinh doanh của FHS. Trong dịp này tuyệt đối từ Nguyễn Phú Trọng tới các nhân vật cao cấp trong phái đoàn không ai đả động một câu hỏi nào với Ban giám đốc Formosa đến thảm khốc cá chết hoàng loạt đang bùng nổ từ đầu tháng 4 khởi đầu từ cảng Sơn dương thuộc khu công nghiệp Vũng Áng của FHS khiến cho nhân dân cả nước đang lo lắng và bất bình “Cá chết trắng biển miền Trung” ![92] Ông Trọng và phái đoàn cũng không đến thăm các nạn nhân! Tại sao người cầm đầu chế độ CS vẫn vỗ ngực là bảo vệ quyền lợi người lao động, nhưng lại chẳng thèm ngó tới thảm trạng của ngư dân, trong khi ấy lại khen ngợi và vuốt ve tỉ phú Dollar nước ngoài? Chả lẽ người đứng đầu chế độ toàn trị lại không biết thảm trạng môi trường ngay chính nơi ông tới thăm đã diễn ra từ hơn ba tuần?
Chỉ một ngày sau Đinh Thế Huynh, Thường trực BBT và khi đó được coi là kế nghiệp ông Trọng, cũng có mặt tại Quảng trị, không xa Hà tĩnh. Ông đã chỉ họp với lãnh đạo Quảng trị về tình hình kinh tế, xã hội, quốc phòng-an ninh và xây dựng đảng; bàn cả việc tôn tạo, nâng cấp Khu tưởng niệm Lê Duẩn. Ông còn giành thời gian đi thăm Nghĩa trang Trường sơn. Nhưng người đứng thứ hai trong đảng cũng tuyệt nhiên không thèm đả động tới thảm trạng “Cá chết trắng biển miền Trung” và cũng chẳng thèm tới thăm hỏi dân chài, những nạn nhân ở Quảng trị sinh sống ra làm sao từ khi xẩy ra đại nạn cá chết hàng loạt![93]
Ngày 17.4 giữa lúc tiếng than và nỗi bất bình của nhân dân về “Cá chết trắng biển miền Trung”, tân TT Nguyễn Xuân Phúc đã giành chọn ngày thăm Quảng trị, nhưng cũng không có thì giờ đi thăm các nạn nhân ngư dân đau buồn, chỉ giành toàn thời gian thăm Nghĩa trang Trường sơn, Nhà lưu niệm Lê Duẩn và Thành cổ Quảng trị.[94] Việc cố tình chọn những địa chỉ trên tới thăm viếng đã cho thấy ông Phúc vẫn chỉ muốn khơi dậy hận thù giữa các tầng lớp nhân dân mặc dầu đã sau 41 năm “chiến thắng”, thay vì “hòa giải dân tộc” như những lời ngon ngọt trước đây. Ông Phúc cũng cố quên lời khuyên chân thành và thực tế của cố TT Võ Văn Kiệt là, kỉ niệm ngày “giải phóng”“có hàng triệu người vui, nhưng cũng có hàng triệu người buồn”!
Trước nỗi bất bình và lo âu của nhân dân cả nước, vì đâu mà nạn cá chết diễn ra từ cảng Sơn dương của khu kinh tế Vũng áng thuộc Formosa suốt gần ba tuần mà vẫn không tìm ra được nguyên nhân; ngày 25.4 tờ Tuổi trẻ đã có cuộc phỏng vấn ông Chu Xuân Phàm, Trưởng văn phòng Formosa tại HN, về vụ cá chết hàng loạt bắt đầu từ bờ biển Khu công nghiệp Formosa. Ông Phàm đã trả lời thẳng băng:
“Trước khi xây dựng dự án này thì công ty phải xin phép Nhà nước VN. Nhiều khi được cái nọ mất cái kia, đây là tôi nói thật lòng. Hôm nay nhà nước mình muốn cho ngư dân đánh bắt ở đây hay là chọn cái nhà máy thép ở đây, đương nhiên Nhà nước phải có sự cân nhắc. Nếu xả thải thì đương nhiên sẽ thay đổi sinh học ở đây, ở vùng biển quanh đây. Nhưng bây giờ mà nói tôi không thể xây dựng nhà máy thép ở đây mà không ảnh hưởng đến con cá, con tôm. Đương nhiên mình cố gắng làm một nhà máy đạt được tiêu chuẩn quy định của nhà nước. Có khi được cái này thì phải mất cái kia chứ”. Rồi ông đưa ra kết luận rất tỉnh bơ và đầy thách thức, coi việc hàng triệu nhân dân miền Trung đang bị điêu đứng không đáng quan tâm bằng sự tồn tại của Formosa: “Muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi. Nếu chọn cả hai thì làm Thủ tướng cũng không giải quyết được…”[95]
Tại sao Trưởng văn phòng Formosa tại HN đã có những phát biểu rất phách lối, khiêu khích gây sốc như vậy khi trả lời phóng viên Tuổi trẻ vào sáng 25-4? Có phải chính thái độ rất thờ ơcủa TT, vô cảm trước hàng trăm ngàn nạn nhân của tai nạn cá chết hàng loạt; đặc biệt là sự ưu ái tới thăm Ban giám đốc Fomosa ngày 22.4 của Nguyễn Phú Trọng, người cầm đầu chế độ toàn trị, làm họ tin rằng, họ có chỗ chống lưng rất vững chắc, không chỉ ở HN mà còn cả BK nên chẳng ai có thể làm gì Formosa được?
Từ sau trận đánh ngã “Đồng chí X” ông Trọng đang trở thành người hùng nên ai cũng sợ? Vì thế không thèm nhắc tới đại nạn “Cá chết trắng biển miền Trung”, lại đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc Formosa. Thử hỏi như thế thì bọn quan cấp dưới bố bảo không dám nêu đích danh Formosa ra tố. Chính vì thế, Vụ phó Vụ Nuôi trồng thủy sản, bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Phạm Khánh Ly cho biết, “đoàn công tác không vào kiểm tra tại khu công nghiệp Vũng áng được, vì đây là khu công nghiệp có yếu tố nước ngoài, đoàn không có thẩm quyền”.[96] Như vậy Ban giám đốc Formosa đã coi khu công nghiệp của mình giống như sứ quán của một nước bất khả xâm phạm.[97] Họ cho ai vào, làm gì, làm đến đâu trong các công xưởng của họ là quyền riêng của họ. Các cơ quan điều tra của VN nếu có vào cũng chỉ làm những gì họ cho phép mà thôi!Chính vì thế Formosa đã dám nói công khai, “không có bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ sự liên can” của công ty trong vụ việc này, và giới chức VN đã “liên tục vào bên trong công xưởng tiến hành kiểm tra hệ thống xử lý nước thải, lấy mẫu nước thải” kể từ 22.4 tới nay, tức là sau chuyến thăm của Nguyễn Phú Trọng!
Chính vì vậy chỉ một ngày sau khi Nguyễn Phú Trọng thăm Formosa, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám cũng nói giống như tin trên đây của Ban giám đốc Formosa. Ông cho biết về kết quả kiểm tra bước đầu, nguyên nhân do môi trường nước, qua phân tích mẫu những chỉ số thì không có gì bất thường trừ một số mẫu ở Huế mang tính cục bộ.[98] Tuyên bố này hoàn toàn ngược lại với nhận định của Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn Hà tĩnh vào đầu tháng 4 cho biết, “hiện tượng cá nuôi ven biển và cá tự nhiên chết bất thường xuất hiện từ ngày 6.4 tại vùng ven biển xã Kỳ lợi và tại xã Kỳ hà, Kỳ ninh (thị xá Kỳ anh) vào ngày 7.4”. Và cũng trái với sự xác nhận của Phó phòng Kinh tế và đô thị (Kỳ anh) Nguyễn Thị Thủy “địa bàn xã Kỳ Lợi xuất hiện cá chết đầu tiên nằm cách cảng Sơn Dương của khu kinh tế Vũng Áng khoảng 4 – 5 km, còn các xã Kỳ ninh, Kỳ hà cách Vũng áng khoảng 20 km về phía bắc thì tôm, cá chết sau đó một ngày” -như nói ở trên!
Lí do quan trọng khác khiến đại diện Formosa tại HN dám phát biểu khiêu khích “gây sốc” ngày 25.4 là có lẽ họ tin rằng, có cả BK đứng đằng sau. Formosa Hà tĩnh tuy là công ti Đài loan, nhưng trong những năm gần đây tuyển chọn công nhân nước ngoài phần rất lớn là từ TQ. Ngoài ra vốn đầu tư của Formosa mẹ từ Đài loan đang giảm mạnh và nhường cho một số công ti từ TQ. Khi giàn khoan HD 981 xâm nhập trái phép thềm lục địa VN vào giữa 2014 đã xẩy ra va chạm lớn khiến hàng ngàn công nhân TQ đã phải bỏ về nước, nhưng sau đó Nguyễn Phú Trọng đã phải xin lỗi Tập Cận Bình và số công nhân này lại trở lại Formosa làm việc (xem Chương bẩy, IV). Về mặt an ninh quốc phòng, khu vực Vũng áng Hà tĩnh nằm đối diện không xa đảo Hải nam của TQ. Trong kế hoạch bành trướng công khai ngang ngược của BK trên biển Đông thì khu công nghiệp Vũng áng Formosa có thể trở thành tay trong cực kỳ quan trọng khi tình thế cho phép BK ra tay!
Sau phát ngôn gây chấn động, Chu Xuân Phàm đã bị Formosa sa thải để làm dịu dư luận. Nhưng nội dung lời phát biểu của cựu đại diện Formosa đã tự để lộ những hoạt động của công ti này không thèm đếm xỉa gì tới luật pháp VN, vì tin rằng đã có chân trong ủng hộ đang giữ những chức cao nhất. Dùng sức mạnh tiền bạc nhiều tỉ USD trong vài năm vừa qua Formosa có thái độ phách lối và cách hoạt động như kiểu quốc gia trong một quốc gia: “Nếu xả thải thì đương nhiên sẽ thay đổi sinh học ở đây, ở vùng biển quanh đây”, “có khi được cái này thì phải mất cái kia chứ”, “muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi!” Rõ ràng với tuyên bố trên Formosa đã gián tiếp thừa nhận, thời gian qua Formosa đã xả nước thải với những hóa chất có chất độc cực mạnh làm tàn phá môi sinh trên biển.
Theo tờ Tuổi trẻ thì Tổng cục môi trường xác nhận là, “Formosa có vi phạm khi thực hiện việc súc xả đường ống nhưng không thông báo cho địa phương”. Ngày 25.4 báo này còn liệt kê 45 loại hóa chất Formosa nhập cảng để súc rửa đường ống. Vẫn theo Tuổi trẻ, “GS,TS Lê Huy Bá (chuyên gia độc học môi trường) cho biết nhận định ban đầu của ông về danh sách các loại hóa chất được sử dụng tại Formosa gồm nhiều chất độc và cực độc. Trong đó có các chất chống gỉ, chất làm sạch bề mặt kim loại, chất tẩy”. “Theo quy định, khi súc xả đường ống, Formosa có trách nhiệm phải thông báo cho địa phương việc súc xả đường ống diễn ra từ thời điểm nào tới thời điểm nào, nhưng Formosa không thông báo, cũng không báo cáo các cơ quan ở địa phương về việc súc rửa đường ống”.[99] Tờ VNNet còn cho biết, “1 thợ lặn Formosa tử vong, 5 người nhập viện” khi lặn xuống biển nơi đường ống của Formosa dẫn ra.[100] Tập đoàn Formosa xuất thân từ Đài loan với vốn đầu tư nhiều tỉ USD cũng đã từng vi phạm pháp luật ở nhiều nơi trên thế giới. Ngay ở Đài loan Tập đoàn này cũng đã bị phạt vì gây thiệt hại môi trường. “Chẳng hạn hồi tháng 7.2010, Formosa bị cho là “gây ô nhiễm không khí vùng miền Trung Đài loan” sau một vụ cháy công nghiệp tại nhà máy ở Mai Liao của họ”.[101]
***
Trong khi nhiều cơ quan chính quyền địa phương ngay trong những ngày đầu đã đưa ra những nhận định khá rõ ràng về nguyên nhân đưa đến đại nạn làm cá chết hàng loạt, nhưng suốt trên ba tuần nhiều bộ trưởng, thứ trưởng không chỉ trốn tránh không thực hiện trách nhiệm điều tra nghiêm túc và minh bạch, lại còn tìm cách bao che cho Formosa, hoặc đưa ra những tin và lập luận rất mâu thuẫn nhau, thậm chí cực kỳ ngớ ngẩn. Ba tuần sau đến lượt cá biển ở khu Bình trị thiên-Huế bị chết, tờ Công an nhân dân ngày 26.4 đưa tít “Nước biển vùng cá chết được xác định nhiễm kim loại nặng”: “Chiều 26-4, Sở Tài nguyên&Môi trường tỉnh Thừa thiên- Huế đã có kết quả phân tích mẫu nước lấy tại khu vực đầm Lập an, cửa biển Lăng cô (thị trấn Lăng cô, huyện Phú lộc) vào thời điểm xuất hiện cá chết tràn lan…Riêng các thông số gồm tổng hàm lượng nitơ tính theo amoni (NH4+-N), hàm lượng kim loại nặng crôm (Cr) vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển cũng như quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặn. Theo đánh giá ban đầu của cơ quan chức năng tỉnh Thừa thiên- Huế, khả năng chất độc trong môi trường nước gây sự cố cá chết hàng loạt xuất hiện từ vùng biển phía Bắc của tỉnh”.[102]
Nhưng trong cuộc họp báo tối 27.4 thứ trưởng bộ Thiên nhiên và môi trường Võ Tuấn Nhân đã làm trên 200 nhà báo lề phải vừa thất vọng, vừa rất bất bình về thái độ vô trách nhiệm và lấp liếm. Sau cuộc họp kín nhiều tiếng đồng hồ của đại diện nhiều bộ và cơ quan do bộ trưởng Bộ Tài nguyên-môi trường Trần Hồng Hà chủ trì, khiến các nhà báo phải chờ đợi đến cả nửa ngày. Nhưng cuối cùng Trần Hồng Hà đã đẩy thứ trưởng Tài nguyên&Môi trường Võ Tuấn Nhân mở “Buổi họp báo chỉ diễn ra trong 6 phút”. Trong đó ông khẳng định “Formosa vô can”. [103] Sau khi đưa ra 2 giả thuyết về nguyên nhân làm cá biển chết hàng loạt (hóa chất độc và “hiện tượng thủy triều đỏ”), ông Nhân khẳng định: “Đến nay, qua kiểm tra và thu thập chứng cứ, chưa có bằng chứng để kết luận về mối quan hệ liên quan của Formosa và các nhà máy đến vấn đề cá chết hàng loạt. Qua số liệu quan trắc và đánh giá của cả các cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, môi trường nước biển chưa phát hiện các thông số môi trường vượt quy chuẩn quy định”.[104] Sau đó ông Nhân chuồn mất!
Trong cuộc gặp riêng Võ Tuấn Nhân, tờ Thanh niên đã tường thuật câu hỏi và trả lời của Thứ trưởng này bảo vệ cho Formosa thật là kì lạ:
“ Thưa ông, trong 2 nhóm nguyên nhân thì nhóm thứ nhất nói có thể do độc tố thải ra từ hoạt động của con người, vậy cụ thể độc tố là gì? Có độc tố nào trùng với hơn 40 loại hóa chất mà Formosa được phép nhập khẩu vào VN để súc rửa đường ống không ?
– Chúng tôi chưa phát hiện ra…- Tôi xin khẳng định, về mặt pháp luật, họ vẫn hoạt động đúng theo pháp luật nước ta. Về mặt xả ra môi trường, liên quan đến hiện tượng cá chết hàng loạt ở các tỉnh ven biển miền Trung, đến nay chưa đủ căn cứ để kết luận.
Ông có thể cho biết kết quả phân tích mẫu nước và mẫu cá của Bộ?
– Cái này nói ra phải có căn cứ giấy tờ cụ thể, rất dài, rất nhiều thông số”.[105]
Trong khi giữ thái độ câm và điếc không thông tin chính xác và nguội lạnh trước những bức xúc của nhân dân cả nước, nhưng Võ Tuấn Nhân lại rất thính tai và năng động trước câu hỏi của một nữ phóng viên về tin không tốt cho chế độ, về nguy cơ ngành du lịch có thể bị tê liệt và yêu cầu bà tắt máy ghi âm. Bà hỏi:
“Thưa ông, trong cái kiểm nghiệm gần đây nhất của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa thiên – Huế, chỗ có một loạt các bè cá chết, thì họ có nói trong nước kiểm nghiệm ra có kim loại nặng. Vấn đề ở đây là trong thời gian tới, chúng tôi muốn là mình có thể trong một thời gian ngắn, vì mùa du lịch sắp tới rồi, mà cá thì…”
“Nghe tới đây, ông Võ Tuấn Nhân liền khoát tay ra hiệu dừng lại và nói: “Tắt máy. Tắt máy nghe. Xin lỗi. Không, không, để anh nói riêng với em. Đừng hỏi câu đó. Hỏi câu đó tổn hại cho đất nước của mình. Nhá. Em hỏi câu đó làm tổn hại cho đất nước của mình”.[106]
Không chỉ trên 200 nhà báo lề phải hoàn toàn thất vọng về “cuộc họp báo 6 phút” của thứ trưởng Tài nguyên&Môi trường Võ Tuấn Nhân mà nhiều nhà khoa học cũng đã kịch liệt chỉ trích những lời tuyên bố rất lếu láo của ông. GS-TS Vũ Trọng Hồng, nguyên thứ trưởng Bộ Thủy lợi, nói thẳng: “bộ Tài nguyên-Môi trường là cơ quan chức năng được nhà nước giao nhiệm vụ, nhưng kết luận như vậy là không hợp logic diễn biến của vụ việc”.
Nhưng ngày hôm sau trong cuộc họp nội các giả thuyết “thủy triều đỏ” bị bác bỏ. Có lẽ trước sự bất bình ngày càng mãnh liệt của nhân dân về cuộc “Họp báo 6 phút” tối trước, nên TT Nguyễn Xuân Phúc đã vội vàng để bộ trưởng Tài nguyên&Môi trường Trần Hồng Hà phải bay ra Hà tĩnh ngày 28.4 thị sát viêc xả thải của Formosa để nhằm xoa dịu dư luận. Tại đây Trần Hồng Hà đã tuyên bố, “pháp luật VN không chấp nhận việc đặt ống ngầm xả thải”. Như thế ông đã phủ nhận lời của người dưới quyền ông là Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân chỉ vài ngày trước. Ngoài ra ông Hà còn nhận khuyết điểm để cuộc điều tra chậm chạp…[107]
***
Tại sao mới chỉ vài năm trước Nguyễn Phú Trọng đã trách móc và rao giảng “đạo đức cách mạng” tại Hội nghị Cán bộ toàn quốc với sự tham dự của trên 1000 cán bộ cao cấp ngày 27.2.12: “ Bây giờ trong Đảng cũng có sự phân hóa giàu – nghèo, có những người giàu lên rất nhanh, cuộc sống cách xa người lao động; liệu rồi người giàu có nghĩ giống người nghèo không? “ và “ người sống trong lâu đài nghĩ khác người ở trong nhà tranh”., “mai kia Đảng này sẽ là đảng của ai?”[108]
Nhưng chỉ trong vài năm ngồi trong lâu đài quyền lực và hưởng thịt, cá loại ngon, sạch không phải trả tiền, nên lòng Nguyễn Phú Trọng đã nguội lạnh, vô cảm trước ngư dân thất nghiệp chịu cảnh đói rách vì thảm họa cá biển và nhân dân nhiều nơi có thể bị ăn cá và mắm độc. Chẳng những thế ông vẫn đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc tỉ phú Dollar Formosa Hà tĩnh và khen ngợi cách làm ăn của họ, chẳng thèm đoái hoài tới tiếng than ngất trời của dân lành, mặc dầu gần một tháng vẫn không có cơ quan nào của đảng lẫn nhà nước tìm ra nguyên nhân cá chết hàng loạt!
Trong một xã hội pháp trị theo Dân chủ đa nguyên thì khi một cá nhân, tổ chức hay xí nghiệp đang bị điều tra, người có trách nhiệm trong nhà nước không được phép có những hành động gây cản trở hoặc can thiệp công cuộc điều tra. Trong vụ cá chết hàng loạt ở duyên hải nhiều tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4 và tập đoàn Formosa đang trở thành đối tượng điều tra của các cơ quan có thẩm quyền. Nhưng người cầm đầu chế độ là TBT Nguyễn Phú Trọng đã cố tình lại thăm và gặp Ban giám đốc Formosa ngày 22.4 và còn khen ngợi thành quả kinh doanh của công ti Đài loan này. Như thế Nguyễn Phú Trọng đã lợi dụng uy quyền riêng để cản trở, làm đình hoãn cuộc điều tra và còn tạo cơ hội để Formosa xóa sạch các tang chứng !
Trong dịp này nhiều tổ chức, nhân sĩ và chuyên viên đã công khai lên tiếng:
“Đây là một tệ nạn chính trị hết sức kinh tởm. Vụ Formosa bộc lộ rõ ràng thói vô cảm và vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CS đối với lợi ích quốc gia, cuộc sống dân lành. Nó cũng cho thấy sự bất lực và chậm chạp của cả một hệ thống quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trước một quốc nạn có tầm mức to lớn chưa từng thấy. Sự chậm trễ ấy đã tạo điều kiện cho nghi can kịp xoá hết dấu tích tội lỗi. Nó cũng hé lộ nhiều thế lực bao bọc nghi can, che giấu sự thật, đánh lừa dư luận qua những phát ngôn đầy hàm ý hay cố mập mờ của một số quan chức cấp bộ lẫn tỉnh và nhất là qua hành vi ủy lạo tinh thần hà hơi tiếp sức của người đứng đầu đảng Cộng sản đối với tập đoàn Formosa đầy thành tích bất hảo”.[109]
Những ngày Chủ nhật trong tháng 5 nhân dân các giới -đi đầu là trí thức, thanh niên và đảng viên tiến bộ- đã xuống đường ở HN, Sài gòn và nhiều nơi khác đòi “Trả lại biển xanh cho chúng tôi, chúng tôi chọn tôm cá”. Mọi người đang đồng thanh đòi:
– Nhân dân muốn biết rõ nhanh và công khai thủ phạm đã gây ra thảm trạng cá chết hàng loạt. Phải chấm dứt ngay những nguyên nhân gây ra thảm họa môi trường!
– Bồi thường thiệt hại cho ngư dân và các cơ sở du lịch!
– Công khai các cơ quan và cá nhân nào đã cố tình làm chậm, làm sai, đánh lạc dư luận và phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhân dân!
***
Sau thảm trạng môi trường 4 tỉnh miền Trung ba tháng, nhưng tại HNTU 3 vào đầu tháng 7.2016 trong suốt 5 ngày họp đã không có nói tới chủ đề cực kỳ nóng bỏng này.Mặc dầu đây là thảm họa môi trường lớn nhất ở VN, gây thiệt hại sức khỏe, tài sản và môi trường sống trực tiếp cho hàng triệu người dân bốn tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị và Thừa thiên-Huế; đồng thời còn tạo những nguy hại lâu dài về nhiều mặt cho nhân dân cả nước. HNTU này diễn ra sau khi Ban giám đốc Formosa công khai xin lỗi trong cuộc họp báo ngày 30.6. và nhận bồi thường 11.500 tỉ đồng, tương đương 500 triệu USD.[110]Nhưng ở đây Formosa không chỉ là thủ phạm duy nhất, vì nhiều cơ quan Đảng và Nhà nước đã cấp giấy phép đầu tư, hoạt động và kiểm soát công ti Formosa cũng đều là thủ phạm. Vì chính các cơ quan này đã lơ là và vô trách nhiệm trong các lãnh vực phụ trách, nên đã để cho Formosa làm ăn như một vua con trong vùng. Trong cuộc họp báo ngày 30.6 các Bộ trưởng đã cố tình tránh né không làm rõ cơ quan và người phải chịu trách nhiệm.[111]
Trong khi ấy các cuộc biểu tình của nhiều giới vào ba cuối tuần từ đầu tháng 5.16 với các khẩu hiệu “Cá cần nước sạch”, “Nước cần minh bạch” đã bị công an mật vụ chế độ toàn trị ngăn cấm, đàn áp và chụp mũ.Trong cuộc họp báo ngày 30.6 lần đầu tiên các quan chức hiện diện xác nhận, Formosa là thủ phạm gây ra thảm trạng môi trường ở miền Trung; nhưng cùng lúc họ lại vẫn kết án gay gắt những cuộc biểu tình của nhân dân đòi Formosa phải sớm công khai minh bạch về nguyên nhân dẫn tởi thảm trạng môi trường. Dịp này Trương Minh Tuấn, Bộ tưởng 4 T vẫn chụp mũ: “Tôi cũng nói thẳng rằng, có thế lực thù địch đã lợi dụng tình trạng cá chết này để công kích sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thậm chí kích động để gây mất trật tự công cộng, gây bất an trong nhân dân”.[112]
Mãi hơn nửa năm sau thảm trạng môi trường 4 tỉnh miền Trung, ngày 17.10.16 trước các “đại biểu cử tri” tại Ba đình, Hoàn kiếm, tức những đảng viên ngoan ngoãn chỉ biết xu nịnh và bốc thơm, Nguyễn Phú Trọng đã không sợ bị chất vấn nên đã bộc lộ:
“Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu, nên bây giờ chúng ta phải trả giá”.[113]
Lời xác nhận trên của người cầm đầu chế độ toàn trị đã nhìn nhận cung cách suy nghĩ, quyết định và hành động công việc nước theo lối ăn xổi ở thì, bóc ngắn cắn dài, xuất phát từ bệnh kiêu ngạo quyền lực, không cần nghe ý kiến của các chuyên viên cũng như nhân dân. Lời xác nhận này có khác nào như người chủ nhà đã xây nhà mà không xây cầu tiêu, không lập hệ thống dẫn nước thải! Xây nhà máy sản xuất thép không tính tới chất thải độc hại! Xây hàng trăm đập thủy điện không tính tới việc đồng ruộng mất nước, nhân dân thiếu nước sinh hoạt, nhưng khi mưa lũ lại trở thành đại họa cho nhân dân! Bất kể tới lời can ngăn của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhiều tướng lãnh và chuyên viên những người cầm đầu chế độ toàn trị đã cho BK xây các nhà máy khai thác Bauxit ở Tây nguyên từ năm 2009 bất kể tới hậu quả môi trường và an ninh quốc phòng! Nay tới Formosa!
Đây là sự thông minh hay chính là sự ngu dốt và thái độ kiêu ngạo quyền lực của Nguyễn Phú Trọng và các đại quan đỏ trong BCT?Chính Phạm Văn Đồng, TT đầu tiên và lâu đời nhất của chế độ toàn trị đã phải nhìn nhận là, sự ngu dốt và thái độ kiêu ngạo quyền lực của những người cầm đầu đã gây ra những hậu quả thảm khốc cho nhân dân trong giai đoạn đó.
Tình trạng này hiện nay còn tệ hại hơn, ngay Nguyễn Phú Trọng đã phải nhìn nhận!Ông Trọng còn nói “bây giờ chúng ta phải trả giá”. Nhưng “chúng ta” ở đây là ai? Có phải Nguyễn Phú Trọng và các đại quan trong BCT và TUĐ đang sống vương giả và ngồi trong những biệt thự an toàn ? Chính thái độ ăn xổi ở thì và bệnh kiêu ngạo quyền lực của họ đã dẫn tới công ti Formosa gây thảm họa môi trường cho bao nhiêu triệu nhân dân bốn tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4. 2016 và đang phải hứng chịu cảnh thất nghiệp, bệnh tật và đói nghèo. Họ chia sẻ sự cơ hàn với nhân dân như thế nào?
Khi thảm họa môi trường do Formosa gây ra sau mấy tuần hàng triệu nhân dân điêu đứng lo âu, nhưng TT Nguyễn Xuân Phúc, Thường trực BBT Đinh Thế Huynh khi đi qua những vùng này vẫn ngoảnh mặt làm thinh; còn người cầm đầu chế độ toàn trị Nguyễn Phú Trọng lại đủng đỉnh tới thăm hỏi và khen ngợi Ban giám đốc Formosa và chẳng thèm màng tới nạn nhân của Formosa! Còn Chủ tịch nước Trần Đại Quang thì trước sau vẫn im thin thít. Trong buổi QH khai mạc Kì họp thứ 2 ngày 20.10.16 Ủy viên BCT, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) -cánh tay dài của ĐCS- Nguyễn Thiện Nhân cho biết, “đến nay vẫn chưa có cơ quan, tổ chức và cá nhân nào trong hệ thống quản lý Nhà nước có liên quan đứng ra nhận lỗi và chịu trách nhiệm”.[114] Mặc dầu Nguyễn Xuân Phúc vẫn lớn tiếng là “Chính phủ phục vụ”! Rõ ràng là thái độ cao ngạo quyền lực từ cấp lãnh đạo trở xuống!
Nếu tứ trụ Nguyễn Phú Trọng, Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Phúc và Nguyễn Thị Kim Ngân thực tình nghiêm túc với chính mình, khi đối chiếu với những tiêu chuẩn cao vòi vọi để chọn lựa cán bộ cao cấp mà chính họ đã đưa ra trong HNTU 11 (5.15) thì chính họ phải thấy hết sức rõ ràng là, họ đã hoàn toàn vô trách nhiệm trước thảm họa môi trường do Formosa gây ra!
“Kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu!” Lời nhìn nhận trên của TBT Nguyễn Phú Trọng có tầm quan trọng đặc biệt. Nó bạch hóa lối suy nghĩ cực kỳ thiển cận và phong thái hành động vô trách nhiệm của những người có quyền lực cao nhất trong chế độ toàn trị khi quyết định mời gọi các công ti nước ngoài đầu tư vào VN. Đây là những quyết định ở cấp cao nhất là BCT và BBT và được sự cố vấn của các Ban trong đảng và các Bộ trong CP. Các quyết định liên quan tới chương trình FDI nói chung, đặc biệt các công trình FDI có vốn đầu tư cao mang tầm vóc chiến lược, không chỉ có ý nghĩa thuần kinh tế, mà nó còn liên hệ trực tiếp tới nhiều lãnhvực chính trị, an ninh-quốc phòng, kĩ thuật, môi trường và sức khỏe của nhân dân.
Nhưng khi để Formosa đầu tư cả chục tỉ USD vào VN, Bộ chính trị đã quyết định theo tiêu chuẩn nào? Nguyễn Phú Trọng đã trả lời: “Kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu”.Như vậy là các tỉ Dollar đã làm họ chóa mắt, nên đã vội vàng nhắm mắt bỏ qua các yếu tố cực kỳ quan trọng khác là an ninh-quốc phòng, kĩ thuật, môi trường và sức khỏe của nhân dân. Như vậy khi quyết định mời Formosa vào đầu tư, những người có quyền lực trong BCT đã đặt sự tồn tại của chế độ và cái ghế của chính họ, ích kỉ cá nhân lên hàng đầu. Chỉ mong càng có nhiều Dollar vào càng nhanh càng tốt!Chương trình FDI là một chủ trương rất lớn được đề cao trong các ĐH đảng, nhưng trong thực hành thì BCT đã vô trách nhiệm cùng cực, hoàn toàn không có một kế hoạch đúng đắn và khoa học để tạo những lợi ích thực sự cho đất nước và tránh những hậu quả tai hại cho nhân dân. Chính điều này người cầm đầu chế độ toàn trị Nguyễn Phú Trọng đã công khai xác nhận như trên!
Nay trong khi hàng triệu người dân phải hứng chịu hậu quả do thảm họa môi trường, phải trả giá bằng thất nghiệp, bệnh tật mà nguyên do từ những quyết định sai lầm và thái độ cực kỳ vô trách nhiệm của BCT, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng. Nhưng khi nhân dân đòi những người có quyền lực đã tiếp tay gây ra thảm họa môi trường phải có những chính sách đền bù thích đáng và biện pháp nghiêm khắc với Formosa, thì bọn quan độc ác này đã không biết ăn năn, không chịu xin lỗi, lại còn cho báo chí và chính quyền địa phương chụp mũ xuyên tạc, cho công an ngăn cản và đe dọa “không bảo đảm an ninh cho người đi khiếu kiện”[115]Chẳng những thế Nguyễn Phú Trọng còn để công an giam giữ và tòa án nhân dân bỏ tù nhiều người đi biểu tình! Họ phục vụ đất nước, bảo vệ quyền lợi nhân dân, hay đã tự chuyển biến xấu chỉ lo phục vụ quyền lợi riêng cho chính mình, nên đã sẵn sàng bảo vệ các nhà đại tư bản nước ngoài? Nếu còn lương tâm có lẽ ông Trọng nên đọc bài thơ của cô giáo Trần Thi Lam ở Hà Tĩnh đã sáng tác vào dịp này:“Đất nước mình ngộ quá phải không anh?”
Chỉ trong 20 câu thơ không chỉ trách móc những người có trách nhiệm với đất nước đã làm cho nhân dân phải đói khổ, nhục nhằn, môi trường bị tàn phá, còn bị khinh rẻ và đàn áp. Bài thơ còn nhắc nhở mỗi cá nhân, trước những nguy vong của đất nước phải can đảm cùng nhau gánh vác trách nhiệm làm thay đổi tình hình. Bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” là lời gọi rất chân thành và thúc giục mọi người, mọi giới hãy can đảm cùng nhau lên đường làm nhiệm vụ của người công dân VN là làm lại lịch sử, đưa dân tộc ta tới quang vinh trong Thế kỉ 21!
Mô hình phát triển theo “Kinh tế Thị trường
định hướng Xã hội chủ nghĩa”
Kết quả thực tiễn: Doanh nghiệp Nhà nước thua lỗ, lãng phí nguồn ODA, bùng nổ nợ công, tham nhũng và lợi ích nhóm
Trong suốt thời kì từ 1986 tuy đề cao là “đổi mới” trong kinh tế, nhưng sợi chỉ đỏ trong các lãnh vực công nghiệp trước sau vẫn là DNNN. Trước đây thường được gọi là Quốc doanh. Nay vì tình thế bất đắc dĩ nên phải nhìn nhận sự hiện diện của các loại kinh tế tư nhân VN và FDI; tuy nhiên trước sau hệ thống DNNN được xếp vào thành phần tối ưu và giữ trọng trách “chủ đạo”, tức là làm nền tảng cho các hoạt động kinh tế. Chính sách này có thể ví như một con bạch tuộc. Trong thời hùng mạnh nó vươn các chân tới mọi hang cùng ngõ hẻm, nay yếu sức nên phải rút chân ra một số nơi, nhưng vẫn quyết bám chặt ở những địa bàn hiểm yếu. Cách thay đổi nhỏ giọt và trong điều kiện ngặt nghèo như thế thể hiện tư duy và tâm lí vẫn như cũ của một số người có quyền lực liên quan tới các hoạt động kinh tế. Ở đây là chủ nghĩa Marx đầy thành kiến đối với các sinh hoạt kinh tế của tư nhân, đặc biệt thành phần tư bản. Ở đây cũng là tuân thủ tư tưởng giành và giữ quyền lực độc quyền cho ĐCS của Lenin đã thực hiện ở Nga và Liên Xô cũ trước đây và được HCM vận dụng vô điều kiện trong việc cướp và giữ chính quyền độc quyền cho ĐCS từ 1945. Điều này phản ảnh tâm lí không tin dân và không dám nhìn nhận những thành công không thể chối cãi của nhiều quốc gia đã từ bỏ các DNNN và trao lại các hoạt động kinh tế cho nhân dân.
Căn cứ vào các Nghị quyết của các ĐH và các Luật về DNNN, hệ thống DNNN có nhiệm vụ vừa hướng dẫn vừa kiểm soát toàn bộ sinh hoạt kinh tế và trực tiếp dưới quyền lãnh đạo của ĐCS, trong thực tế là BCT và BBT. Các bộ và cơ quan của CP có nhiệm vụ thi hành các quyết định của BCT trong các DNNN. Nhờ vậy, hệ thống DNNN giữ vai trò như một bộ máy tuần hoàn trong cơ thể truyền dinh dưỡng, dưỡng khí và máu cho các bộ phận. Nó còn giữ nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là định hướng và kiểm soát nền kinh tế trong cái khung của một chế độ toàn trị. Muốn như vậy thì hệ thống DNNN phải nắm các động mạch chính của nền kinh tế-tài chánh. Như hệ thống ngân hàng, các lãnh vực công nghiệp liên quan tới quốc phòng, an ninh như truyền thông (báo chí, điện thoại…), chế tạo vũ khí, khai thác quặng mỏ, dầu khí, xây dựng các hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống, phi trường, hải cảng và các trung tâm điều phối nông, lâm, thủy sản…
Mục tiêu và quan điểm này đã được trình bày trong nhiều ĐH từ 1986. Nó thể hiện rõ hơn trong ĐH 8 (1996) khi họ đưa ra chủ trương đầy tham vọng là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa với kinh tế tri thức để “đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. [116]Đặc biệt nó được định nghĩa và xác định lãnh vực hoạt động rất rõ ràng trong Báo cáo Chính trị tại ĐH 9 (2001):
“Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật”.[117]
Những người cầm đầu Đảng khi ấy đã đưa ra tham vọng rất cao là, KTNN không chỉ giữ “chủ đạo” trong việc tạo mặt vật chất làm phương tiện thiết yếu để bảo vệ chế độ; cả về mặt chất lượng và đạo đức nghề nghiệp, các DNNN còn là những đơn vị kinh tế có trình độ công nghệ kĩ thuật hàng đầu, năng suất lao động cao và tạo ra được những sản phẩm có chất lượng tốt. Không những thế, vẫn theo tham vọng của họ, sự hoạt động của các DNNN không chỉ đem lại sự phồn vinh cho xã hội mà còn làm gương mẫu trong việc “chấp hành pháp luật”!Họ đã vẽ ra một bức tranh tuyệt vời về Kinh tế Nhà nước (KTNN) xuyên qua các DNNN! Khi nuôi tham vọng cực kỳ cao này họ đã ngủ mơ, nhưng cũng có thể họ đã quá tự tin theo tâm lí kiêu ngạo CS, bất kể các qui luật khoa học và bất chấp cả những kinh nghiệm thất bại từ các mô hình Nhà nước làm kinh tế trong thời kì trước đây ở VN cũng như ở nhiều nước CS trước đây.
Để thực hiện giấc mộng kê vàng này, trong ĐH 9 họ quyết định thành lập các Tập đoàn kinh tế từ sự sát nhập các Tổng công ti và công ti DNNN:
“Trong 5 năm tới, cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp nhà nước hiện có, đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp mà Nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế”.[118]
Mô hình Tập đoàn kinh tế bắt chước các Cheabol của Nam Hàn. Có lẽ ý tưởng này được thành hình sau các cuộc đi thăm Nam Hàn của nhiều chính trị gia cấp cao của đảng, đặc biệt là Đỗ Mười vào năm 1995. Sự phát triển nhanh chóng và cức mạnh của nhiều Cheabol Nam Hàn đã gây cho họ những ấn tượng mạnh. Vì thế họ cũng muốn thành lập một số Tập đoàn kinh tế như những “quả đấm thép” trong kinh tế. Chủ trương này dựa trên Luật DNNN năm 2003. [119]Theo Điều 9 của Luật này, việc thành lập các Tập đoàn và Tổng công ti cũng như bổ nhiệm các Ban quản trị các DNNN thuộc quyền TT và các Bộ. Như thế các cơ quan CP như một cơ quan tổng chỉ huy KTNN, đặt trực tiếp dưới quyền TT. Đấy là mặt tổ chức nhân sự.
Chế độ toàn trị còn giành những ưu đãi đặc biệt cho DNNN cả về vốn tư bản, đất đai và các tài nguyên. Các DNNN được sửdụng ngân sách quốc gia, được vay tiền của các ngân hàng với lãi suất rất thấp, có quyền phát hành (bán) trái phiếu ở trong và ngoài nước với sự bảo lãnh của Nhà nước, không phải trả tiền đất để xây các xí nghiệp, được hưởng ưu đãi quan thuế trong việc xuất nhập khẩu sản phẩm, chỉ phải đóng thuế mức rất thấp so với các doanh nghiệp tư. Quan trọng khác nữa, các DNNN được độc quyền sử dụng các nguồn vốn ODA, tổng số lên tới 78 tỉ USD trong gần ba thập niên qua.
Với việc hưởng các ưu đãi và độc quyền đó, có thể ví các DNNN như những đứa con cưng của một tỉ phú, vừa có tiền bạc lại đầy quyền lực, được nuông chiều đủ thứ, lại còn được bảo vệ không ai dám đụng chạm tới, kể cả pháp luật! Các cậu công tử này đâu cần phải học hành, đâu cần phải lao động, chỉ việc ngồi mát ăn bát vàng! Đây không phải là chuyện giả tưởng hay bức tranh siêu thực, nhưng lại là một sự thực 100% suốt mấy thập kỉ ở VN dưới chế độ toàn trị!
Độc quyền trong chính trị đã tác hại nguy hiểm như thế nào ở nhiều nước. Độc quyền cả chính trị lẫn kinh tế còn gây thiệt hại khủng kiếp hơn nữa cho người dân. Hình ảnh kinh tế kiệt quệ, nhân dân sống trong nghèo khổ, trong khi cán bộ trung và cao cấp hưởng giầu sang và tham nhũng ở cựu Liên Xô và Đông Âu cho tới cuối thập niên 80 không ai có thể quên được.
Tại VN sự độc quyền của các DNNN đã tiêu giệt yếu tố cạnh tranh, khiến toàn bộ kinh tế không thể vươn lên được. Vì cạnh tranh lành mạnh là yếu tố tối cần thiết để thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế tiến lên, đồng thời bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Nhưng ở VN trong khi các doanh nghiệp tư bị chèn ép thì các DNNN ngồi chơi xơi nước, lãng phí tiền bạc, tài nguyên và thời gian! Vào cuối 2013 các tập đoàn và tổng công ti nhà nước chiếm thị phần áp đảo trong toàn bộ kinh tế. Như Tập đoàn Điện (bao gồm EVN và PVN) chiếm 80% thị phần, Tập đoàn Than và khoáng sản 98%, Tập đoàn Dầu khí 100%, Tập đoàn vận tải đường sắt (100%), Tổng công ti hàng không VN (61,4%), Tập đoàn viễn thông (gồm VNPT và Viettel) (81,5%).[120]
Số liệu tài chính tổng hợp của các Tập đoàn và Tổng công ti Nhà nước
Nguồn: Bộ Tài chính (dẫn tại Matheson, 2013, tr. 7; Thời báo VN, 2014)
Dưới những điều kiện của chế độ toàn trị, mọi quyết định từ chính trị, kinh tế, pháp luật tới văn hóa xã hội chỉ là quyết định của một số người có quyền lực trong BCT. Trên họ không còn ai hết, không có những cơ chế kiểm soát công khai và nghiêm túc, không có báo chí độc lập và hệ thống một xã hội dân sự độc lập. Nên những người này có thể ban bố các chính sách, đạo luật theo ý muốn của họ và khi cần thiết có thể giải thích tùy tiện, vo tròn, bóp méo và thậm chí làm vô hiệu hóa các luật pháp hay quyết định trước đây của chính họ, nếu thấy rằng nó bất lợi hay nguy hiểm cho địa vị và quyền lực của họ. Điều này càng dễ xẩy ra khi đụng chạm tới quyền-tiền, hai động lực có sức lôi cuốn rất mạnh thúc đẩy lòng tham của con người, nhất là những người có điều kiện biến quyền lực thành tiền bạc, hoặc dùng tiền bạc để mua quyền lực!
Cách tổ chức và điều hành của hệ thống DNNN, nhất là từ gần hai thập niên vừa qua với việc ra đời các tập đoàn và tổng công ti nhà nước, là những dẫn chứng cụ thể rõ rệt nhất về sự liên hết như hình với bóng của quyền lực và tiền bạc dưới chế độ toàn trị ở VN.Các giám đốc và hội đồng quản trị (hội đồng thành viên) của các tập đoàn và tổng công ti nhà nước do TT chỉ định. Các cơ quan này có quyền hành rất lớn trong mọi quyết định liên quan tới hoạt động của tập đoàn và tổng công ti. Từ việc chọn lựa nhân sự then chốt, đầu tư, vay tiền, gọi thầu tới việc liên kết kinh doanh với bên ngoài. Họ đều là những cán bộ có thế lực, nhưng hầu như không có kiến thức và kinh nghiệm quản trị các công ti lớn. Một khi quyền nhiều, nhưng trách nhiệm rất ít thì dễ sinh ra lạm dụng những gì có lợi cho bản thân, gia đình và vây cánh. Từ đó dẫn tới những lãng phí hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng, tự do xà xẻo các công trình. Muốn làm giầu bất chính nhanh và gọn gàng thì phải lập phe cánh che chở và bảo vệ lẫn nhau. Qua đó sẽ hình thành các nhóm lợi ích.Vì quyền lợi ích kỉ, các nhóm này sẽ lợi dụng quyền lực kết hợp với nhau ngay từ giai đoạn soạn thảo các kế hoạch có lợi cho phe cánh của mình.
Trong vụ PMU 18 thứ trưởng Giao thông vận tải Nguyễn Việt Tiến cùng cánh vế với bộ trưởng Giao thông vận tải Đào Đình Bình đã lôi kéo cả con rể TBT Nông Đức Mạnh vào làm. Nhờ vào uy quyền lớn nên họ đã được giao nhiều dự án xây dựng hạ tầng với số vốn cả hàng ngàn tỉ đồng từ nguồn ODA và lập ra các công ti con làm sân sau để thân nhân và vây cánh thao túng. Sự thỏa hiệp đen tối quyền lực và chia chác tiền bạc trong vụ Vinashin lại càng khủng khiếp hơn nữa. Nguyễn Tấn Dũng dùng uy quyền TT để giao cho người đồng hương Phạm Thanh Bình làm Giám đốc Vinashin, được Ngân hàng Nhà nước cung cấp vốn cả hàng trăm ngàn tỉ đồng, đẻ ra hàng trăm công ti con, đầu tư vào những công trình ngoài cả lãnh vực đóng tàu thủy, như mở cả ngân hàng và công ti du lịch…Sau nhiều năm làm ăn thua lỗ khổng lồ lên tới cả gần 100.000 tỉ đồng, nhưng Nguyễn Tấn Dũng vẫn bình chân như vại. Hai người có quyền lực nhất khi ấy là Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đã ngấm ngầm thỏa hiệp với nhau hai ghế TBT và TT, như đã trình bày trong Chương sáu, XI.
PVN và vụ án Đinh La Thăng
Tập đoàn đầu khí VN (Petro VN, PVN) là một công ti Nhà nước lớn nhất. Năm 2015 đạt tổng doanh thu là 293.439 tỉ đồng, đóng góp vào NSNN là 93.000 tỉ đ. trong tổng số thu NSNN là 911.100 tỉ đ.; nghĩa là chiếm tới gần 12% tổng thu của NSNN.[122] Như vậy PVN đóng một vai trò rất quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế VN. Năm 2017 PVN khai thác 15,52 triệu tấn dầu thô, 9,89 tỉ m³ khí; sản xuất 20,58 tỉ kWh điện, 1,65 triệu tấn phân đạm, 6, 24 triệu tấn xăng dầu. [123]
Theo Quyết định 924-QĐ-TTg ngày 18.6.2010 đây là Tập đoàn độc quyền trong khai thác, vận chuyển, chế biến, lưu trữ dầu hỏa và khí đốt; ngoài ra còn độc quyền các dịch vụ về dầu khí ở trong và ngoài nước. Quyết định trên còn giành cho PVN độc quyền kinh doanh, phân phối các sản phầm dầu khí và các nguyên liệu hóa chất dầu khí; xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị và sản phầm dầu khí; khảo sát, thiết kế, xây dựng, khai thác, sửa chữa các công trình, phương tiện phục vụ dầu khí dân dụng. Không những thế PVN còn có quyền đầu tư, sản xuất, chế biến, kinh doanh nhiên liệu sinh học, điện và phân bón; đầu tư khai thác than và khoáng sản tại nước ngoài. Đặc biệt nữa, PVN còn được hoạt động kinh doanh cả những lãnh vực ngoài dầu khí, như: đầu tư, kinh doanh bất động sản; kinh doanh khách sạn, du lịch; đầu tư, khai thác, kinh doanh các cảng, vận tải biển, sông và hàng không và đường bộ…[124]
Như thế cho thấy PVN không chỉ là một “vua” trong lãnh vực dầu khí mà còn bao thầu cả trong nhiều lãnh vực khác! Từ khi trở thành tập đoàn lớn nhất, PVN trong nhiều năm liên tiếp đã “sai phạm rất nghiêm trọng” trong việc sử dụng vốn, đầu tư hàng chục ngàn tỉ đồng vào nhiều lãnh vực nhưng không có hiệu quả, phải nằm đắp chiếu và thua lỗ. Nhất là dưới thời Đinh La Thăng làm Giám đốc và Bí thư đảng ủy Tập đoàn PVN (2005-2011) và các người kế vị những năm sau này. Như trong Thông báo của Ủy ban Kiểm tra TU ngày 27.4.17 do Trưởng ban và UVBCT Trần Quốc Vượng công bố.[125]
Khi đó là thời có nhiều quyền lực của các UVBCT, như TT Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng (CTQH và TBT), Nguyễn Sinh Hùng (Phó TT thứ nhất và CTQH, Trương Tấn Sang (Trưởng ban Kinh tế TU, Thường trực BBT và CTN), Tô Huy Rứa (Trưởng ban Tuyên giáo và Trưởng ban Tổ chức), Nguyễn Xuân Phúc (Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng CP, Phó TT)…Điều vô cùng ngạc nhiên là, mặc dầu đã xẩy ra nhiều sai phạm rất nghiêm trọng trong suốt nhiều năm, nhưng Đinh La Thăng vẫn trở thành ngôi sao sáng chính trị liên tiếp trên 10 năm: Là UVTU từ khóa 10 (2006), sau khi thôi Giám đốc PVN lại lên nắm chức bộ trưởng Giao thông vận tải (2011-16), UVBCT Khóa 12 và Bí thư Thành ủy thành phố HCM (tới tháng 5.17), đại biểu QH các khóa 11-14 (tới 5.17).
Vì vậy một số câu hỏi rất quan trọng được nêu ra trong các hoạt động sai phạm rất nghiêm trọng của PVN, từ thời Đinh La Thăng làm giám đốc và cả những người kế vị, nhưng tại sao vị thế chính trị của ông vẫn lên như diều trong thời gian rất dài đến cả chục năm liên tiếp? Vì nó hoàn toàn đi ngược lại những tiêu chí chọn lựa và giao phó công việc cho “những cán bộ cấp chiến lược” theo HNTU 11 Khóa 11 (5.15) dưới quyền Nguyễn Phú Trọng đã đề ra:
“Kiên quyết không để lọt vào BCHTU những người có một trong các khuyết điểm, như: Bản lĩnh chính trị không vững vàng, không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng, có biểu hiện cơ hội chính trị, nói và làm trái Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc của Đảng; tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm… tham nhũng, tiêu cực lớn …không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giầu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc” [126]
Ông Trọng đã từng nhấn mạnh, công tác cán bộ là then chốt của các then chốt. Chả lẽ suốt thời gian rất dài như vậy Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, Tô Huy Rứa và Nguyễn Xuân Phúc….ở những địa vị cao như vậy cả trong đảng lẫn chính phủ lại không biết rõ những sai phạm nghiêm trọng trong PVN và Đinh La Thăng?
Phải phân biệt ở đây một số trường hợp: Nếu họ không biết những gì đã xẩy ra tại PVN thì chứng tỏ họ không đủ khả năng đảm nhiệm các trọng trách. Nhưng nếu biết mà không dám nói, chứng tỏ họ làm bù nhìn. Không những thế, nếu biết những cán bộ cao cấp đã làm những “sai phạm rất nghiệm trọng” như Đinh La Thăng mà không dám cách chức lại còn cất nhắc, chứng tỏ họ càng vô trách nhiệm và chỉ lo củng cố quyền lực, chểnh mảng nhiệm vụ, không cương quyết bảo vệ tài sản của đất nước và quyền lợi của nhân dân!
Nắm các địa vị quan trọng trong đảng và chính phủ, họ phải chịu trách nhiệm chính trị, trách nhiệm về pháp luật và lương tâm đạo đức, vì đã để cho Đinh La Thăng và nhiều cán bộ cao cấp trong PVN hoạt động sai phạm nghiêm trọng liên tiếp trong nhiều năm. Do đó đúng ra Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng và các UVBCT đầy quyền lực nêu trên phải công khai nhận trách nhiệm chính trị trước nhân dân và phải xin từ chức. Không những thế, họ còn phải chịu trách nhiệm về mặt luật pháp đối với những thiệt hại cực lớn cho ngân sách quốc gia và các tài sản của nhà nước.
Họ chủ trương DNNN làm chủ đạo và giành nhiều ưa đãi, lại không có cơ chế luật pháp nghiêm minh, không có báo chí độc lập theo dõi, có khác nào như mời cán bộ tham nhũng thả cửa hôi của. Vì thế tập đoàn PVN là doanh nghiệp nhà nước lớn nhất đã có thể dễ dàng làm thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng trong nhiều năm. Sự hoạt động của các tập đoàn, trong đó có PVN, thuộc quyền của BCT và CP, trong đó hai người đứng đầu là TBT Nguyễn Phú Trọng và TT Nguyễn Tấn Dũng phải là hai người chịu trách nhiệm cao nhất cả về mặt chính trị lẫn mặt pháp luật. Vì các nghị quyết của các HNTU và quyết định của CP đều qui định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể cũng như cá nhân phụ trách. Chính Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đã nhiều lần tuyên bố, cơ quan nào để xẩy ra lãng phí và tham nhũng nghiêm trọng thì người đứng đầu cơ quan phải chịu trách nhiệm trước đảng và nhân dân!
Riêng trường hợp của Nguyễn Phú Trọng, một mặt ông trương cờ với những tiêu chí thật cao trong việc lựa chọn cán bộ cấp chiến lược vào cấp cao nhất. Như “Ủy viên BCT, BBT phải là những đồng chí thật tiêu biểu của Ban chấp hành trung ương (BCHTU) về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý” và không “tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm”.[127]Nhưng mặt khác, chính ông lại dùng các thủ đoạn để giành cho riêng mình được xếp vào “trường hợp đặc biệt”, đồng thời cô lập Nguyễn Tấn Dũng bằng cách mua chuộc những thân tín của ông Dũng, trong đó cho Đinh La Thăng vào BCT và Bí thư Thành ủy thành phố HCM.
Nhưng sau khi đã nắm vững ghế TBT thêm một nhiệm kì thì ông liền ra tay thanh toán những đối thủ để trừ hậu hoạ, thậm chí đưa cả đối thủ ra xét xử theo những bản án đã định sẵn. Thủ đoạn nham hiểm này không làm sạch bộ mặt của ông Trọng, mà chỉ bôi đen thêm. Một người nổi tiếng lợi dụng địa vị để tham nhũng quyền lực trong suốt hơn thập kỉ vừa qua thì không thể chống tham nhũng quyền lực và tiền bạc được. Tay đã nhúng chàm! Vì tham nhũng quyền lực và tham nhũng tiền bạc như bóng với hình, chúng nương tựa nhau, bảo vệ nhau. Đây mới là nguy cơ của mọi nguy cơ đưa chế độ toàn trị từng bước nhưng chắc chắn rơi sâu xuống vực thẳm! Quyền và tiền như đổ dầu vào lửa. Tới một thời điểm thích hợp không còn xa, những quan tham nhũng quyền lực và tham nhũng tiền bạc không thể chung sống và cũng không thể nhượng bộ nhau!
Tại HNTU 5 Khóa 12 (5-10.5.17) Đinh La Thăng đã bị cách chức UVBCT và Bí thư Thành ủy thành phố HCM. Trong diễn văn khai mạc Hội nghị Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra câu hỏi về tình trạng ngày càng thua lỗ và tham nhũng trong các DNNN: “Vì sao những hạn chế, yếu kém nêu trên đã được chỉ ra từ lâu nhưng qua nhiều nhiệm kỳ đến nay tình hình vẫn chậm chuyển biến, thậm chí có mặt còn trầm trọng hơn?”
Là người cầm đầu BCT thì đúng ra, Nguyễn Phú Trọng phải là người tiêu biểu nhất “của BCHTU về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý”. Đây là những điều kiện chính ông đã đặt ra làm nguyên tắc chọn người vào BCT! Nhưng các DNNN đã được BCT dưới quyền của ông cho tung hoành hoạt động suốt bao nhiều năm qua, nay Nguyễn Phú Trọng lại làm bộ ngây thơ đặt câu hỏi, “vì sao” các DNNN đi đến nông nỗi như ngày hôm nay! Điều này chứng tỏ Nguyễn Phú Trọng đã đóng kịch giả bộ, làm như người mù lòa không nhìn thấy nguyên nhân; hoặc thừa nhận vai trò bất lực, chỉ ngồi làm bù nhìn như ông bình vôi, càng già, càng ngồi lâu, càng tồi!
Giả vờ quên thực tế, bỏ qua những chuyện tầy đình trước sau vẫn là thái độ và mánh lới cực kỳ lươn lẹo của người cầm đầu chế độ toàn trị. Chính khi BK gia tăng chính sách bành trướng và thôn tính ở biển Đông, Nguyễn Phú Trọng đã gạt phăng và nói tỉnh bơ tại QH, “tình hình biển Đông không có gì mới!”. Hay khi xẩy ra thảm trạng môi trường cá chết trắng trên bãi biển miền Trung do công ti Formosa gây ra thì Nguyễn Phú Trọng vẫn thản nhiên lại thăm Ban giám đốc công ti này và sau đó lại còn nói tỉnh bơ như một người bàng quang: “Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu!”
Đối với những người hiểu biết và có lương tri không ai có thể hiểu được những lời tuyên bố trên thật vô cùng lạ lùng như thế. “Bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý” của người cầm đầu chế độ toàn trị là như thế!!! Chính điều này Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra làm tiêu chuẩn để chọn lựa và đánh giá các UVBCT !!!
***
Tổng kết lại, phân tích cặn kẽ và nghiêm túc về thái độ, hành động và tư duy diễn tiến từ ĐH 6 (1986) tới ĐH 12 (2016) của những người cầm đầu toàn trị từ Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông đức Mạnh đến Nguyễn Phú Trọng có thể tóm lược là: Tuy miệng luôn luôn phải nói “đổi mới”, nhưng trong thâm tâm vẫn tin tuyệt đối vào chủ nghĩa Marx-Leninn và đi theo con đường của Bác đã chọn.Theo họ, đó là “sáng suốt” và “uống nước nhớ nguồn”, không phản bội người khai sáng và những thế hệ đã hi sinh, như thế là vừa khôn ngoan, vừa giữ được đạo lí của người đi sau! Bất đắc dĩ phải thay đổi một vài điều ở lãnh vực này hay lãnh vực khác chỉ là vì tình thế theo tiêu chí “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”!
Trong đó trước sau họ vẫn không thèm đoái hoài tới nguyện vọng và khát vọng rất chính đáng và bức thiết của nhân dân là hòa giải dân tộc thực sự để Bắc-Nam cùng nhau phát triển nội lực, để xây dựng lại quê hương từ đống tro tàn do bạo lực, hận thù từ những cuộc chiến tranh tàn khốc và giai giẳng để lại, tiến lên thành một quốc gia giầu mạnh, nhân dân được hưởng hạnh phúc, sống có nhân phẩm và tự do dân chủ! Họ cũng không thèm đếm xỉa tới những thay đổi sâu sắc của thế giới sau khi Liên Xô sụp đổ, các nước CS Đông Âu tan dã và TQ trỗi dậy trở thành tân đế quốc đang đe dọa trực tiếp VN, các nước trong khu vực và thế giới!
Trên đây là nền tảng căn bản về thái độ, cách hành động và tư duy của những người cầm đầu chế độ toàn trị suốt trên 30 năm qua. Trong đó hai nhân vật có trách nhiệm cao nhất là Đỗ Mười và Nguyễn Phú Trọng, vì họ đã và đang nắm độc quyền lâu và tàn bạo nhất!
Họ không đủ trình độ kiến thức, sự sáng suốt cần thiết và thái độ chân thành đáng lẽ ra phải có, để nhận ra và hiểu rằng, mỗi thời đại phải có những cái nhìn mới, những bước đi thích hợp; nếu người đi trước làm sai thì thế hệ sau phải có trách nhiệm và can đảm thay đổi. Châm ngôn VN có câu “con hơn cha là nhà có phúc”! Cũng với tinh thần này, đáng lẽ ra họ phải dứt khóat chấm dứt sự dối trá, lừa đảo và từ bỏ những ý thức hệ đã bị thực tiễn chứng minh là sai lầm; đồng thời thực tâm chọn con đường mới để kiến thiết đất nước và gây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Đấy mới chính là sáng suốt, biết đền bù tương xứng những sự hi sinh của bao nhiêu triệu người đã từng tin vào họ.
Nhưng vì quá giáo điều nên họ đã không nhận ra được sự tiến hóa rất chính đáng và tự nhiên của nhân loại. Khi xã hội bộ lạc-du mục không còn thích hợp thì chuyển sang chế độ định cư, lập làng xã, chọn cách tổ chức thích hợp để xây dựng xã hội mới. Khi chế độ phong kiến trở thành lạc hậu và tàn bạo, cản đường tiến hóa của nhân dân thì quyết giã từ nó; khi chế độ toàn trị theo Marx-Lenin đã bị thực tế phủ nhận thì nếu sáng suốt, họ phải quyết chuyển sang DCĐN, tôn trọng các giá trị con người, khuyến khích những sáng tạo và tham gia tích cực của mọi thành phần.
Vì bảo thủ mù quáng nên họ vẫn cố giữ thái độ và tư duy cũ đã lỗi thời và hoàn toàn sai lầm. Vì thế họ đã cấm đoán, đàn áp đảng viên và nhân dân nói khác, nghĩ khác và hành động khác. Họ sẵn sàng tiếp tục sử dụng cả dối trá, tàn bạo, thậm chí cả nhân danh người đã khuất để biện minh cho các hành động cực kỳ sai lầm và độc ác. Đến khi bị kẹt cứng (khi Liên Xô sụp đổ) họ lôi cả HCM làm lá chắn để bảo vệ quyền lực và tiền bạc cho cá nhân, gia đình và vây cánh!
Công thức để thực hiện “đổi mới” suốt trên 30 năm qua chỉ loay hoay trên thái độ và tư duy cũ. Đó là: Chủ nghĩa Marx-Lenin + Đi theo con đường của Bác đã chọn. Họ bắt mọi người phải tin theo và làm như họ. Thậm chí còn ra lệnh cho các nhà khoa bảng XHCN không được suy nghĩ khác và phải khẳng định rằng, chỉ có CNXH theo Marx-Lenin như Bác đã chọn là đúng muôn đời! Đỗ Mười đã ra lệnh như vậy. Cựu CTN Nguyễn Minh Triết từng hô “bỏ Điều 4 Hiến pháp là tự sát”. Nguyễn Phú Trọng đã ngạo mạn phán rằng, “đi lên CNXH là nguyện vọng của nhân dân” và mạt sát các trí thức và chuyên viên đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp là “suy thoái đạo đức”!
Chính vì vậy từ Đỗ Mười tới Nguyễn Phú Trọng, là hai người chính nắm quyền trên 30 năm qua, phải dựng lên bộ máy công an trị hà khắc và sử dụng trí trá, độc ác, giả nhân giả nghĩa để tham nhũng quyền lực và tiền bạc cho chính họ và phe nhóm!
Sử dụng những thủ đoạn và phương pháp gian trá, độc đoán để thực hành các ý thức hệ sai lầm và những hành động cực kỳ mù quáng và tàn bạo suốt trên 30 năm qua đã chứng minh rất rõ ràng: Họ đã tự đánh mất tư cách, cực kỳ vô trách nhiệm đối với đảng viên và nhân dân, kể cả với hàng triệu người đã hi sinh. Vì thế sự cầm quyền và tồn tại của họ và phe nhóm là hoàn toàn bất chính, phản lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân và đi ngược với trào lưu của thời đại!
______________________________
Thân mời đọc tiếp Chương kết: Các nguyên nhân, người chịu trách nhiệm và hậu quả của “Đổi mới” lừa bịp.
Chương cuối: Phải dứt khoát đoạn tuyệt với chủ nghĩa Marx-Lenin, mọi người quyết phá rào cản độc tài, cùng nhau đứng lên nắm lấy cơ hội kiến tạo một Nước Việt Nam Mới: Những điều nên nhớ, nên tránh và nên làm!
Để độc giả tiện theo dõi, toàn bộ ba chương cuối sẽ được phổ biến trong ba lần liên tiếp. Mở đầu loạt bài này, dưới đây là toàn bộ Chương 9:
Chương chín: Kết quả thực tiễn trên 30 năm “Đổi mới”
I. Mô hình “đổi mới” trên 30 năm qua
Sau trên 30 năm “Đổi mới” từ 1986 trải qua 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng và xuyên qua 7 ĐH (từ ĐH 6 tới ĐH 12). Không biết bao nhiêu Nghị quyết đã được ban hành đề ra mục tiêu là, đưa VN tới năm 2020 trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng trong cuộc họp nội các vào cuối năm 2014 sau gần 30 năm tiến hành “đổi mới”, Nguyễn Tấn Dũng lại than, “sao lại cứ phải đứng sau 6 nước ASEAN? Chúng ta có đuổi kịp được ASEAN-6 không? Không có lý do gì chúng ta không cải thiện được để bằng ASEAN-6”? [1] Trong thực tế nhiều mặt VN còn đi sau cả Campuchia và Lào.
Sau gần 30 năm đổi mới, lợi tức đầu người /năm của VN vào năm 2014 mới chỉ 2.052 USD, tức là VN mới chỉ bước vào những nước đang phát triển ở mức trung bình thấp. Trong khi đó Singapore lên tới56.287 USD, Mã lai á là 10.830 USD, Thái lan là 5.561 USD và Nam dương là 3.515 USD.PGS, TS Phạm Quý Thọ thuộc Học viện Chính sách và phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận xét, “chỉ tiêu này của nước ta tụt hậu so với Hàn quốc chừng 30 đến 35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái lan chừng 20 năm, Indonesia và Philippines chừng từ 5 đến 7 năm. Đến năm 2038 VN mới có thể bắt kịp năng suất lao động của Philippines và đến năm 2069 mới có thể bắt kịp Thái Lan”. [2]
Nếu xét về mặt diện tích và dân số thì VN không phải là nước nhỏ. Với dân số gần 94 triệu (2017) VN đứng thứ 13 trên thế giới[3]; với diện tích trên 331.114 km² VN đứng thứ 65. Nhưng về mặt kinh tế, xã hội (phát triển con người -HDI) hiện nay VN lại đứng thứ 116 trong tổng số gần 200 nước và ốc đảo trên giới.[4] Nhiều người cầm đầu chế độ toàn trị thường đổ lỗi cho rằng, VN là một nước nhược tiểu, đất hẹp, dân không đông và tài nguyên không nhiều. Đây là những khẳng định cực kỳ sai lầm để trốn tránh trách nhiệm. Một số các nước trong khu vực như Nam Hàn diện tích chỉ trên 99.000km², 50,6 triệu người, nhưng lợi tức đầu người 2015 trên 27.000 USD đang là nước giầu mạnh, công nghiệp cao. Nhật có dân số gần gấp rưỡi VN, diện tích xấp xỉ với VN, tài nguyên thiên nhiên không nhiều, nhưng từ lâu đã trở thành cường quốc kinh tế, lợi tức đầu người năm 2015 là gần 37.000 USD. Về dân số và diện tích giữa VN và Đức không chênh lệch bao nhiêu; nhưng Đức, cũng như Nhật, từ đống tro tàn sau Thế chiến thứ 2 đã nhanh chóng vượt lên thành cường quốc kinh tế đứng thứ ba, thứ bốn trên thế giới.
Những câu hỏi trung tâm rất nghiêm túc cần được đặt ra là, tại sao nhiều nước ngay trong khu vực khi bước vào thời kì phát triển kinh tế thì cũng ở trình độ ngang ngửa như VN, nhưng nay đã bỏ xa VN để trở thành các nước công nghiệp hàng đầu, lợi tức cao gấp mấy chục lần VN? Người dân không chỉ sống sung túc mà còn được tôn trọng nhân phẩm. Phải chăng các mô hình chính trị, kinh tế, giáo dục và văn hóa là những nền tảng căn bản cho sự tiến lên hưng thịnh, hạnh phúc và văn minh, hay sự tụt hậu, nghèo đói và tha hóa đạo đức của một xã hội? VN đang áp dụng mô hình chính trị-kinh tế nào, có những đặc điểm gì?
Trong suốt trên 30 năm cải cách kinh tế chưa bao giờ VN theo mô hình kinh tế thị trường hiện đại như ở các nước Tây phương. Mô hình phát triển của VN là “Kinh tế thị trường Định hướng XHCN”. Mô hình này có một số đặc tính căn bản khác biệt hoàn toàn với các nền Kinh tế thị trường hiện đại ở các nước Tây phương trong các lãnh vực then chốt:
Chế độ độc đảng: ĐCS, cụ thể là Bộ chính trị (BCT) và Ban bí thư (BBT), trước sau vẫn chỉ huy toàn bộ và trực tiếp các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa- giáo dục, tôn giáo và xã hội.
Công hữu toàn dân về đất đai (ĐCS là chủ nhân trong đất đai)
Doanh nghiệp nhà nước làm chủ đạo
Kinh tế tư nhân nội địa tuy được công nhận, nhưng chỉ ngồi rìa, đứng bên lề trước thế lực mạnh của Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và sức ép của FDI (công ti nước ngoài).
Như thế cho thấy mô hình phát triển kinh tế của VN từ 1986 tới nay vẫn còn giữ căn bản mô hình kinh tế của chế độ toàn trị như ở Liên Xô cũ, với một số biến thể, mặc dầu chế độ toàn trị ở Liên Xô đã tan rã từ 1991. Trong đó ĐCSVN vẫn là người cầm trịch không chỉ trong chính trị, tư tưởng và văn hóa, mà cả trong kinh tế-xã hội.Mỗi ĐH vẫn đưa ra kế hoạch ngũ niên do ĐCS độc quyền từ các khâu hoạch định, đường lối tới các biện pháp…Nhưng dĩ nhiên trong giai đoạn và điều kiện Chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên toàn thế giới đang tan rã ngay từ cái nôi, nên những người cầm đầu CSVN bắt buộc phải dùng những từ ngữ và ngôn ngữ mới, để tạo những hi vọng mới, để tỏ ra họ là những người thức thời và nhờ thế mới có thể biện minh cho sự tiếp tục cầm quyền độc tôn!
Mô hình phát triển kinh tế này chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội tại và đối lập với nhau. Nó được thực hiện trong thời kì CNXH theo ý thức hệ Marx-Lenin đã bị thực tế phủ nhận, thế giới CS tan rã. ĐCSVN cũng rơi vào thế sợi chỉ treo ngàn cân. Suốt trên 30 năm đổi mới từ 1986, đặc biệt từ giữa thập niên 90 khi thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ và thực hiện chính sách mở cửa với bên ngoài, mô hình phát triển kinh tế của chế độ toàn trị dựa trên một số cơ sở làm tiền đề đặt trọng tâm cho phát triển kinh tế. Đó là:
Nhân công rẻ
Khai thác nông sản
Khai thác khoáng sản
Ưu đãi cho tư bản nước ngoài vào đầu tư
Tranh thủ nguồn vốn ODA trong xây dựng hạ tầng
Đặt trọng tâm trong xuất cảng
Nhưng các cơ sở trên phải được đặt trong một khung kiên cố, nói thẳng ra là bị nhốt trong một cái lồng, đó là CNXH với tư tưởng Marx-Lenin làm chỉ đạo và trong cái lồng này, ĐCSVN chỉ huy độc quyền trực tiếp và toàn diện từ tổ chức, thực hiện, giám sát các hoạt động kinh tế-xã hội. ĐH 12 đã làm công việc tổng kết 30 năm thực hiện chính sách đổi mới (1986-2016) qua 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng.
Mặc dù những người đứng đầu luôn mở miệng khẳng định là, kết quả thực tiễn chứng minh cho lí thuyết và đường lối. Nhưng khi họ phải đối diện với những kết quả rất xấu thì lại không dám nhận đã chọn lí thuyết sai, ở đây là chủ nghĩa Marx-Lenin. Họ lờ đi hoặc nhận lỗi qua loa, nhưng đổ lỗi chính vì những lí do bên ngoài. Thái độ rất chủ quan, giáo điều, lừa dối và tô vẽ cho rằng, 30 năm đổi mới không chỉ tạo ra những thành tích tuyệt vời trong kinh tế-xã hội, mà cả trong lãnh vực chính trị cũng đã có nhiều cải cách theo hướng “lấy dân làm gốc” và dân chủ hơn ngàn lần các nước Dân chủ đa nguyên… Tiêu biểu nhất cho lập trường này là Báo cáo Chính trị và Kinh tế-Xã hội tại ĐH 12 của TBT Nguyễn Phú Trọng ngay vào ngày đầu của ĐH 12.[1] (Xem Chương tám, IV).
***
Trong dịp này một số chuyên viên trong nước từ gần với đảng hay đứng vị thế độc lập của những người người làm công tác khoa học, trong đó có cả một số chuyên viên VN ở nước ngoài, đã công bố các bài nghiên cứu hoặc trả lời phỏng vấn liên quan tới chủ đề kết quả 30 năm đổi mới.
Trước hết phải nói tới nhận định rất thắng thắn của cựu bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh ngay trước ĐH 12 khi ông còn là Bộ trưởng và Ủy viên Trung ương (UVTU), như đã trình bày ở Chương tám, IV:
“ 70 năm qua, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể các cấp trong hệ thống chính trị gần như không thay đổi”. Và “Một hệ thống chính trị phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, đặc biệt là trong hoàn cảnh chiến tranh, nay đã không còn phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường, thậm chí là rào cản, trở ngại cho sự phát triển”. [2]
Chia sẻ quan điểm nàyGS Vũ Dương Ninh, Đại học Quốc gia Hà nội (HN), cho biết, trước đó 5 năm Nghị quyết của ĐH 11 (1.11) -khi đó Nguyễn Phú Trọng được bầu làm TBT- đã lập lại mục tiêu là,đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng ĐH 12 đã phải nhìn nhận rằng, mục tiêu này không thể đạt được.[3]Ngay cảnguyên Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN, GS TS Đỗ Hoài Nam, một nhà khoa bảng hàng đầu của chế độ toàn trị , từng là UVTU suốt ba nhiệm kì từ ĐH 8-10 và có chân trong Hội đồng Lí luận Trung ương (TU) -một cơ quan cố vấn về tư tưởng và chính trị cho TUĐ, BCT và BBT-, trong một bài phân tích rất dài 14 trang trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 1, 1.15 với tựa đề “Những đổi mới tư duy của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong 30 năm đổi mới”. Ông đã liệt kê các quyết định của đảng xuyên qua 6 Đại hội từ 1986 tới ĐH 11 (2011) với việc sử dụng “kinh tế tri thức” và đầu tư của nước ngoài nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế từ nông nghiệp, công nghiệp tới xuất nhập cảng. Ông ca tụng các quyết định này và coi đó là những biện pháp sáng suốt của ĐCS, nhằm đưa VN, từ một nước đi sau và công nghiệp hóa muộn, có thể đạt mục tiêu “rút ngắn quá trình công nghiệp hóa đất nước bằng sức mạnh của thời đại và sức mạnh nội sinh của đất nước”. Nhưng cuối cùng trong phần kết luận Đỗ Hoài Nam phải nhìn nhận kết quả thực tiễn sau 30 năm đổi mới là, “nhìn trên tổng thể, phần lớn nông dân và người dân đô thị đang trong tình trạng nghèo tương đối, trong đó không ít người đang thực sự nghèo theo nghĩa tuyệt đối”.
Ông nêu ra câu hỏi về nguyên nhân, tại sao không đạt mục tiêu, mặc dầu các quyết định đều được coi là sáng suốt? Trong đó Đỗ Hoài Nam đã cố tình dùng các thuật ngữ trừu tượng và trình bày ngoắt nghéo, như “nguyên nhân cơ bản là, nền tảng cho sự rút ngắn này chưa được tạo lập một cách đầy đủ và vững chắc. Đó là nền kinh tế thị trường đầy đủ và hiện đại (xét cả mặt kết cấu lẫn mặt thể chế của nền kinh tế này), cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại; là khoa học và công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao; là hệ thống công ti tư nhân dựa trên sở hữu cổ phần được quản trị hiện đại, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước [và] quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị và chuỗi phân phối toàn cầu và cuối cùng là vai trò vừa là bà đỡ, vừa là nhạc trưởng của Nhà nước bảo đảm co sự rút ngắn”. (tr.15)
Tuy cố tình trình bày vòng vo và tránh né không dám nêu đích danh thủ phạm đã gây ra thất bại, nhưng nhà khoa bảng XHCN hàng đầu Đỗ Hoài Nam đã gián tiếp nhìn nhận, đó là kế hoạch xây nhà trên cát; hay dùng hình tượng chuyện con nhái muốn to bằng con bò để diễn tả ý muốn công nghiệp hóa và hiện đại hóa VN thật nhanh như Nhật bản, Đại Hàn và các nước Tây phương, nhưng lại thiếu đủ mọi thứ và không có những điều kiện cần thiết; trong đó thiếu cả “ nhạc trưởng”, tức Nhà nước hiện đại trong thể chế DCĐN. Trong khi nhiều nước theo DCĐN cũng chỉ trong khoảng thời gian 30 năm đã chuyển thành công đất nước họ, từ lạc hậu chậm tiến sang công nghiệp hiện đại. Nhưng VN dưới chế độ toàn trị vẫn dẫm chân tại chỗ. Nghĩa là, chính thể chế độc tài toàn trị đã là nguyên nhân chính đưa đến thất bại trong việc canh tân đất nước và xây dựng hạnh phúc cho nhân dân trong suốt 30 năm!
Trong toàn bài, Đỗ Hoài Nam có dẫn chứng là, ngay từ ĐH 7 đã quyết định “cần đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để” (tr. 5); nghĩa là phải đối mới cả hệ thống chính trị. Nhưng khi kết luận tuy phải nhìn nhận các thất bại, nhà khoa bảng Đỗ Hoài Nam đã không giữ được tinh thần khoa học và thẳng thắn như cựu Bộ trưởng Bùi quang Vinh, nên không một lần nào dám nói thẳng là, trong suốt quá trình 30 năm, trước sau vẫn là chế độ độc tài toàn trị. Đó mới chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới thất bại!
Chế độ toàn trị đã chọn ý thức hệ sai lầm dẫn tới độc tài hà khắc, làm triệt tiêu sự phản biện rất cần thiết của một hệ thống xã hội dân sự độc lập. Vì thế toàn bộ hệ thống công quyền trở thành trì trệ và bất cập, chống lại sự canh tân và phát triển của đất nước.Đây là nhận định của PGS, TS Trần Đình Thiên nguyên là Viện trưởng Viện Kinh tế VN, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Kinh tế VN, khi nói về nguyên nhân thất bại trong kinh tế:
“ĐCS lãnh vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện”, mức độ chưa trưởng thành của Nhà nước pháp quyền, sự thiếu vắng các tổ chức dân sự đúng nghĩa, của các tổ chức phản biện xã hội độc lập, có ảnh hưởng mạnh mẽ, thậm chí là quyết định, đến kết quả hoạt động quản trị công”. [4] “Trong nhiều trường hợp, tình trạng không cụ thể hóa mục tiêu định hướng, né tránh thảo luận cấu trúc logic của khái niệm “Định hướng XHCN” (ĐHXHCN), lặng lẽ giả định nó, coi như một tiền đề định sẵn, đã có những ảnh hưởng to lớn”. [5]
Thực tế này cũng được GS Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Nhật bản) trình bày cặn kẽ hơn, khi ông so sánh sự phát triển kinh tế-xã hội của VN với một số nước trong khu vực thì rõ ràng khác biệt nhau cả một trời một vực.Theo tài liệu của Ủy ban LHQ về kinh tế và xã hội châu Á – Thái bình dương (ECAFE), năm 1954 thu nhập đầu người của miền Nam VN là 117 USD, xấp xỉ với Thái Lan (108) và cao hơn Indonesia (88) vào hai năm trước đó. Nhưng 60 năm sau, vào năm 2014 thu nhập đầu người của VN chỉ bằng một phần ba Thái Lan và một nửa Indonesia…Trong khi “Hàn quốc chỉ mất 16 năm (từ 1971-1987) để chuyển từ nước thu nhập trung bình thấp lên trung bình cao và chỉ mất thêm 10 năm nữa để tiến lên hàng các nước tiên tiến. Đài loan trở thành nền kinh tế tiên tiến vào năm 1995, chỉ tốn 12 năm kể từ giai đoạn thu nhập trung bình cao”. [6]
Sau hơn 40 năm hòa bình trong đó hơn 30 năm gọi là đổi mới, nhưng VN vẫn lẹt đẹt thuộc những nước có thu nhập trung bình thấp và đang có nguy cơ phải ngụp lặn lâu dài ở mức này. Ông Thọ còn nêu ra viễn tượng kinh tế VN vào năm 2020. Hiện nay theo phân loại của Ngân hàng thế giới, bình quân đầu người từ 1.000 đến 12.000 USD là nước có thu nhập trung bình, trên 12.000 USD là nước thu nhập cao. Do đó một nước được gọi là công nghiệp phải ở mức trên 12.000 USD. VN hiện nay mới gần 2.000 USD. Đến năm 2020 có lẽ cũng chỉ đạt được khoảng 3.000-3.500 USD, tức là thuộc các nước có mức trung bình thấp. [7]
Nông nghiệp: Bỏ rơi nông dân và nông thôn!
Chủ trương công nghiệp hóa nông nghiệp, nhưng sau 30 năm đổi mới vẫn là cảnh con trâu đi trước cái cày đi sau!
VN là một nước nông nghiệp, vào thập niên 80 của thế kỉ trước có tới 80% dân số sống và phụ thuộc vào nghề nông. Đồng bằng sông Hồng và nhất là Đồng bằng Cửu long là hai thúng gạo nuôi dân và xuất cảng để tạo cơ sở và ngân sách cho xây dựng công nghiệp, phát triển bền vững cho toàn quốc. Nếu hiểu thấu đáo thế mạnh này của VN và có được một tầm nhìn xa thì một nhà nước sáng suốt không chỉ tìm cách làm phục hồi nông nghiệp, mà còn phải canh tân, công nghiệp hóa mọi khâu trong nông nghiệp. Từ tạo kiến thức trồng trọt cho nông dân, đem điện nước, đường xá, trường học và y tế về thôn xã, trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân, và có những chính sách khuyến khích nông dân tự nguyện hợp tác để sử dụng kĩ thuật canh tác mới nhằm gia tăng năng suất và tăng lợi tức cho nông dân, tức là gia tăng sức mua và đầu tư của 80% dân số. Ngoài ra nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản để làm tăng giá trị các mặt hàng này; khuyến khích và hỗ trợ nông dân tự thành lập các trung tâm hiện đại lưu trữ gạo, rau trái và các tổ chức của nông dân theo dõi thị trường nông nghiệp trên thế giới để tạo thương hiệu có uy tín cho các sản phẩm nông nghiệp của VN và có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế.
Các chính sách trên đây không phải là những điều mới lạ, trái lại đã được thực hiện thành công ở nhiều nước phương Tây dưới nhiều tên gọi nổi tiếng, như “Chương trình xanh” trong ngành nông nghiệp, như Hòa lan, Đức, Pháp, Hoa Kỳ và Gia nã đại. Đúng ra là một nước đi sau, nên VN cỏ thể học hỏi nhanh chóng và hiệu quả kinh nghiệm và kĩ thuật của các nước này.
Sau chiến thắng 1975 những người cầm đầu say mê với thành tích con đường XHCN đã dẫn tới chiến thắng vẻ vang trong chiến tranh thì tất yếu cũng sẽ dẫn tới thắng lợi thần kì trong kinh tế! Đây là tư tưởng rất lạc quan từ Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng tới hầu hết các ủy viên BCT khi ấy. Vì thế mô hình kinh tế theo XHCN đã được thi hành cấp tốc và triệt để trong nông nghiệp với các Hợp tác xã (HTX), trong thương nghiệp với xóa bỏ tư sản mại bản kinh tế tư nhân và thành lập các thương nghiệp quốc doanh, trong công nghiệp với hàng loạt doanh nghiệp quốc doanh. Nhưng sau đó không lâu, mô hình phát triển theo XHCN đã dẫn tới bế tắc toàn diện. Nông dân không chịu làm ăn, thương nghiệp nhà nước không có hàng để bán, các DNNN ngồi chơi. Dẫn tới nạn đói khủng khiếp vào giữa thập niên 80, khiến cho hàng triệu người rơi vào cảnh đói và khủng hoảng lương thực trầm trọng như thời 1945. Trong khi các cán bộ cao cấp được hưởng các chính sách ưu đãi từ nhà cửa, xe đưa đón tới chế độ ăn uống ngon và đầy đủ; còn người dân thì không có cả thịt, cá, vải, thuốc men và các nhu yếu phẩm hàng ngày.[8] Nhóm cầm đầu giáo điều mới thấy là không thể tiếp tục mô hình tập thể hóa nông nghiệp HTX theo kiểu Liên Xô và TQ được nữa, nếu không thì nông dân và thị dân sẽ nổi loạn.
Nhưng sau ĐH 6 (12.86) phải đợi thêm hơn một năm, sau những tranh cãi gay gắt giữa các phe trong BCT và TU, mới ra được Nghị quyết (NQ) 10 ngày 5.4.1988, được gọi là Khoán 10. Tuy vậy đảng xuyên qua nhà nước của đảng vẫn tiếp tục giữ độc quyền công hữu ruộng đất, nông dân vẫn phải thuê ruộng (xem Chương một, III và Chương hai, V). Tuy đây chỉ là chính sách đổi mới nửa vời, nhưng đã làm cho nông dân gắn bó siêng năng với đồng ruộng, thửa vườn, cái ao và gia súc. Nhờ thế sản lượng nông nghiệp đã gia tăng mạnh và liên tiếp trong nhiều năm. Khiến cho từ khủng hoảng lương thực với nạn đói trầm trọng, từ 1989 đã trở thành một nước xuất cảng gạo.
Trước khi có Khoán 10, sản suất lúa cả nước chỉ khoảng 13 triệu tấn, hàng năm phải nhập khẩu hàng triệu tấn.[9] Năm 2017 sản lượng lúa đã đạt khoảng 42,84 triệu tấn.[10] Trong những năm gần đây số gạo xuất khẩu đã lên tới gần 8 triệu tấn, đứng thứ hai trên thế giới về xuất cảng gạo.[11]Nhưng nay sau hơn 30 năm nông dân và nông nghiệp tại VN vẫn phải đối diện gay gắt trong nhiều vấn đề. Nhiều chuyên viên trong nước ta thán là, tại sao VN đang là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới, nhưng đại đa số nông dân vẫn rất nghèo, ngay cả nông dân Đồng bằng Cửu long, vựa thóc của cả nước? Trong khi ấy ngay sau Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì tháng 1.94 (Khóa 7), tại Hội nghị trung ương (HNTU) 7 (7.94) đã đưa ra nghị quyết với tham vọng “phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn gắn với đô thị hóa nông thôn”.[12]
Tại sao giá gạo của VN vẫn thấp hơn nhiều gạo Thái lan và cho tới nay sau mấy chục năm xuất khẩu, nhưng gạo của VN vẫn chưa có thương hiệu uy tín trên thị trường quốc tế, chỉ bán được cho một số nước với giá thấp? Sau hơn 30 năm thực hiện chính sách tam nông (nông nghiệp, nông dân, nông thôn) coi “nông nhiệp là mặt trận hàng đầu”, nhưng tại sao máy móc và kĩ thuật canh tác vẫn rất lạc hậu, tiếp tục lối làm ăn thô sơ con trâu đi trước cái cày đi sau? Tại ĐH 10 (2006) những người cầm đầu toàn trị thổi lên tiêu chí từ “ăn no” sang “ăn ngon”! UVTU Đỗ Hoài Nam khi ấy đã cho biết, ĐH 10 đã ra NQ khẳng định đưa “nền nông nghiệp VN phải hình thành được một số sản phẩm chủ lực, mũi nhọn có lợi thế phát triển, có phẩm chất tốt, chất lượng cao và qua chế biến sâu, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới để có giá trị gia tăng cao”. Ông còn cho biết thêm, tại HNTU 7 Khóa 10 đã ra NQ về nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo hướng này và lãnh đạo vẫn tuyên bố, nông nghiệp là mũi nhọn.[13]
Nhưng tại sao tới nay vẫn thường diễn ra “được mùa mất giá” cho nông dân? Tại sao sau hơn 30 năm vẫn không lập được các trung tâm lưu trữ gạo hiện đại và không thiết lập được công nghiệp chế biến nông sản; trong khi đó lại bỏ hàng ngàn tỉ đồng xây các cảng để chỉ nằm đắp chiếu, hay bỏ ra cả hàng trăm tỉ hoang phí để xây các tượng đài cho các nhà độc tài của Đảng? Sau 30 năm đổi mới, nhưng tại “Diễn đàn nông nghiệp” do CP tổ chức vào giữa tháng 10. 2016 lại vẫn lập lại, phải tạo một thương hiệu quốc tế tốt cho gạo xuất khẩu của VN! Nhưng nhiều chuyên gia đã chua chát nói thẳng: “Thương hiệu gạo, có đâu mà mất!” [14]
Một sản phẩm (công nghiệp hay nông nghiệp) phải có chất lượng tốt, được tín nhiệm của khách hàng, người tiêu dùng tín nhiệm và sẵn sàng trả giá cao. Họ sẽ tiếp tục tìm thương hiệu này. Thí dụ như trong sản phẩm xe hơi và điện tử, người tiêu dùng thường thích xe hơi Toyota, Mercedes và Samsung…. vì có phẩm chất tốt. Nhưng sau gần 30 năm xuất cảng gạo, gạo của VN vẫn không có thương hiệu có uy tín trên thị trường nông sản thế giới. Đầu năm 2016 nhiều chuyên viên và ngay cả các cán bộ phụ trách nông nghiệp cũng đã ta thán và nhìn nhận tình hình rất bất lợi này trong việc xuất cảng các nông sản của VN… Phó Cục trưởng Cục xuất nhập khẩu, bộ Công thương Trần Thanh Hải cho biết, năm 2015 gạo VN chiếm trên 50% tổng số gạo nhập khẩu của TQ, nhưng tại các siêu thị và cửa hàng lại không tìm ra gạo mang thương hiệu VN. Trong khi ấy, gạo Campuchia lại chễm chệ trên các cửa hàng. Chè, cà phê, hạt tiêu… là các nông sản xuất khẩu lớn của VN, nhưng vị thế cũng tương tự. Cựu Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn II (thành phố HCM) Vũ Trọng Khải cho biết, nguyên nhân đang gây bất lợi cho quyền lợi của nông dân, là vì các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở VN đều là DNNN, nên vẫn giữ tâm lí thờ ơ cha chung không ai khóc! [15]
Tại Hội nghị toàn quốc triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới 30.9.16 với sự hiện diện của tân TT Nguyễn Xuân Phúc, được biết sau 30 năm thực hiện chủ trương lấy nông nghiệp làm mũi nhọn để xây dựng “nông thôn mới” nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nông dân, nhưng tới tháng 9.16 mới chỉ có 2.045 xã (23%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.[16] Liệu con số đưa ra có chính xác không, không ai biết. Nhưng sau 30 năm mới chỉ có gần ¼ xã ở nông thôn tên toàn quốc đạt tiêu chuẩn nông thông mới. Đây là nhìn nhận thất bại trong việc cải thiện đời sống mấy chục triệu nông dân!
Trong khi chính phủ Nguyễn Tấn Dũng bảo đảm để nông dân được hưởng lãi ít nhất là 30% so với giá thành, nhưng dịp này tại QH bộ trưởng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao đức Phát lại cho biết, “giá thành 1 kg lúa là 4.100đ/kg như vậy giá thu mua lúa phải đạt 5.400đ/kg thì người trồng lúa mới lãi 30%. Nhưng hiện nay giá lúa khô loại thường nông dân cũng chỉ bán được 4.500đ, lúa hạt dài khoảng 4.800đ”. Nghĩa là chỉ đạt được 10% lãi. Bà Phạm Chi Lan cho biết, từ 2007 khi VN gia nhập WTO thì đầu tư cho nông nghiệp đã giảm rất mạnh và liên tục, “trước khi VN gia nhập WTO thì tỷ trọng đầu tư toàn xã hội vào nông nghiệp nhất là đầu tư của Nhà nước cũng còn tương đối cao chiếm tới 13,8% trong tổng mức đầu tư, nhưng sau vài năm tham gia vào WTO thì mức đầu tư vào nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 6,4% trong tổng mức đầu tư phát triển”.Đây rõ ràng là thái độ trọng công, khinh nông và bỏ nội, trọng ngoại của những người làm chính sách. Theo bà, chính sách bỏ rơi nông dân và nông nghiệp của chính quyền CSVN hoàn toàn trái ngược với các nước khác, “hầu hết các nước khi hội nhập họ đều lo bảo hộ nông sản, nhưng VN thì ngược lại buông nông sản, buông nông nghiệp và ngành này phải tự bơi tự bươn chải”. Trong khi ấy “ nguồn lực đầu tư dồn quá nhiều cho DNNN, quá nhiều cho các Tập đoàn Kinh tế để rồi họ gây biết bao vấn đề cho nền kinh tế hiện nay”. [17]
Thái độ khinh nông dẫn tới các chính chính sách bỏ rơi nông dân đã khiến cho tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp đã giảm liên tục từ giữa thập niên 90. Trong dịp tổng kết 30 năm đổi mới vào dịp ĐH 12 nhiều chuyên gia về nông nghiệp thảo luận trên các cơ quan truyền thông. Họ sử dụng ngay lí luận của chế độ toàn trị là, kết quả thực tiễn chứng minh cho lí thuyết đúng hay sai. Khi “Tổng kết thực tiễn” trong 30 năm đổi mới trong nông nghiệp họ đã nhận thấy rất rõ, tốc độ trăng trưởng trong nông nghiệp không tăng, trái lại đã giảm liên tục từ kế hoạch ngũ niên này sang kế hoạch ngũ niên khác.
Theo Tổng Cục Thống kê, khu vực nông, lâm và thủy sản tăng 0,65%, là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ 6 năm.[19] Các con số trên giải thích tình trạng chung trong sản xuất nông nghiệp: Nông nghiệp đã bị bỏ rơi, nông dân không được giúp đỡ các mặt cần thiết, nên năng suất lao động trong nông nghiệp rất thấp và giảm liên tục. Trong bản Báo cáo 2016 của Ngân hàng Thế giới (WB) về phát triển nông nghiệp của VN đã xác nhận lối canh tác chậm tiến, lạc hậu thiếu cơ giới hóa nông nghiệp và lạm dụng thuốc trừ sâu, nông dân thất nghiệp gia tăng, chất lượng xấu.[20] WB còn cho biết, những năm gần đây mỗi năm nông nghiệp VN phải chịu thiệt hại khoảng 1 tỉ USD vì mất thị trường xuất khẩu do không tuân thủ các qui định vệ sinh an toàn thực phẩm.[21]
Cuối tháng 8.16 bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn (NN&PTTN) đã họp tổng kết 3 năm tái cơ cấu trong nông nghiệp (2013-15) có mặt Phó TT Trịnh Đình Dũng và bộ trưởng Nông nghiệp Nguyễn Xuân Cường. Các viên chức này xác nhận, không có chuyển biến thuận lợi, vì ruộng đất vẫn bị xé nhỏ cho nên không thể công nghiệp hóa nông nghiệp.[22] Ngân hàng Thế giới cho biết, đất nông nghiệp chia theo đầu người ở VN rất thấp, “chỉ đạt bình quân 0,07 hecta, thấp hơn nhiều so với tỉ lệ 0,27 hecta mỗi người tại Thái lan .[23] TS Lê Đăng Doanh nêu rõ một nguyên khác khiến các sản phẩm nông nghiệp có giá trị rất thấp và nông dân nghèo, vì nền nông nghiệp VN chưa phát triển được công nghiệp gia công chế biến là làm tăng thêm giá trị gia tăng. [24]
Chính vì thế đời sống của mấy chục triệu nông dân tiếp tục trong cảnh đói nghèo, ngay cả ở Đồng bằng Cửu long, vựa thóc cả nước. Họ dẫn chứng, một gia đình nông dân hai vợ chồng và hai con mức thu nhập từ 8 công ruộng ba vụ mỗi năm được tổng cộng 40 triệu đồng. Nếu chia theo đầu người thì mỗi người chỉ được 10 triệu đồng/năm, tức trung bình chỉ được 840.000đ/tháng, tương đương với 40 USD/tháng. Trong khi đó mức thu nhập đầu người bình quân năm 2013 ở VN là 1.960 USD, tức khoảng 150 USD/tháng.[25] Như thế mức chênh lệch giầu nghèo giữa thành thị và thôn quê rất lớn.
Nhìn tổng thể về kết quả 30 năm gọi là “đổi mới” xuyên qua 6 ĐH và bao nhiêu HNTU và các nghị quyết về công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Đỗ Hoài Nam, một nhà khoa bảng hàng đầu XHCN đã từng đóng góp ý kiến cho BCT và BBT trong nhiều nhiệm kì đã phải nhìn nhận tình trạng dẫm chân tại chỗ:
“Sự phát triển của nông nghiệp chủ yếu vẫn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết và phương thức canh tác truyền thống, dựa vào đất đai và lao động thủ công và vẫn nặng về sản xuất lúa gạo phẩm chất thấp, chưa chịu tác động mạnh mẽ của công nghiệp, công nghệ và dịch vụ, nhất là công nghệ cao. Lao động trong nông nghiệp vẫn còn gần 50% lao động toàn xã hội, trong đó trên 90% là chưa qua đào tạo và dân số sống ở nông thôn vẫn còn khoảng 70%”. [26]
Tại QH ngày 22.10.15 bộ trưởng Kế hoạch&đầu tư Bùi Quang Vinh cho biết: “Nhìn lại bao nhiêu năm, nông nghiệp bây giờ vẫn còn tình trạng con trâu đi trước cái cày theo sau. Ruộng của chúng ta chia manh mún, bé tí, từ máy bay nhìn xuống, ruộng, kể cả ở đồng bằng sông Cửu Long, chia nát bét, ô ruộng bé tí bằng căn nhà này thôi. Ngày xưa ruộng thẳng cánh cò bay thì bây giờ nó đã phân đất cho hộ gia đình tự cứu lấy mình trong giai đoạn trước, bây giờ nó đang cản trở lại nền sản xuất lớn…Một cân ngô và một cân đậu tương ở VN đắt gấp ba lần so với Mỹ sản xuất. Cánh đồng của họ thẳng cánh cò bay, một công lao động bằng máy móc bằng 1.000 người VN, nên giá thành ngô của họ chỉ bằng một phần ba giá thành ngô VN. Cho nên họ có sức cạnh tranh”.[27] Các điều kiện vô cùng bất lợi này đã dẫn tới năng suất lao động ở VN trong mọi lãnh vực, kể cả trong nông nghiệp rất thấp. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năm 2013 năng suất lao động của VN thuộc nhóm thấp nhất châu Á-Thái bình dương; thấp hơn Singapore 15 lần, Nhật 11 lần, Nam hàn 10 lần; chỉ bằng 1/5 Mã lai, 2/5 Thái lan.[28]
Tại “Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về chiến lược tam nông” ngày 27.11.18 chính Nguyễn Xuân Phúc đã xác nhận kết quả trên 30 năm trong chính sách tam nông là thất bại trong mọi lãnh vực, thua cả Thái lan và Campuchia: “Việc áp dụng tiến bộ khoa học trong nông nghiệp còn yếu, giá thành sản phẩm cao, chủ yếu là xuất thô, chưa qua chế biến, chưa đột phá trong nâng cao giá trị gia tăng; cơ cấu sản xuất còn manh mún, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn còn chậm, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn nhiều, việc xây dựng thương hiệu nông nghiệp còn yếu kém..”. [29]Mức đầu tư khoa học trong nông nghiệp ở VN chỉ bằng 1/10 Thái lan và 1/7 Phi luật tân. Nếu so với Nam Hàn thì con số này chỉ bằng 1/600.[30]
Mặc dầu vậy Nguyễn Xuân Phúc không dám nhìn thẳng sự thực về sự bỏ rơi nông dân và nông thôn trong suốt trên 30 năm “đổi mới” của những người cầm đầu chế độ toàn trị. Trong Hội nghị trên ông Phúc lại trút trách nhiệm là nông dân ỷ lại: “Chúng ta đang nói tập trung làm nông nghiệp, nông thôn mà nông dân chúng ta có tinh thần ỷ lại thì không bao giờ thành công!”[31]
Nguyên nhân và hiểm họa
Sau 30 năm đổi mới, nhưng tình hình nông nghiệp và đời sống mấy chục triệu nông dân vẫn ở tình trạng rất lạc hậu và đói nghèo. Nhiều chuyên viên, trong đó có cả những cán bộ cao cấp, đã dẫn chứng và cắt nghĩa, như trình bày ở trên, về các nguyên nhân dẫn tới tình hình rất bi đát hiện nay cho 70% dân số. Trong đó tổng hợp lại nổi bật hai nguyên nhân căn bản.
Nguyên nhân hàng đầu rất quan trọng khiến bao nhiều triệu nông dân triền miên rơi vào tình trạng “được mùa mất giá” và vẫn phải lao động theo cách con trâu đi trước cái cày đi sau, vì chính sách vô trách nhiệm của chế độ toàn trị, nhắm mắt rập khuôn theo kiểu DNNN trong nông nghiệp.Việc chế độ cho thành lập các Tổng công ti lương thực I và II vàHiệp hội Lương thực (VFA) chính là cách độc quyền trong nông, lâm và thủy sản. Các DNNN này gần như độc quyền trong việc định giá thóc gạo và thường cấu kết với các thương lái để ép giá nông dân phải bán nông sản theo giá bất lợi.[32] Chế độ toàn trị không tin vào nông dân và không sáng suốt nhận ra được tầm quan trọng của nông nghiệp VN trong việc phát triển đất nước, nên đã không tạo cho giới nông dân những điều kiện và cơ hội cần thiết để tự canh tân sản suất, tự tổ chức những cơ sở thiết yếu trong các khâu canh tác, chế biến và tìm thị trường để các nông sản VN có thương hiệu tốt, khả năng cạnh tranh cao, bán được giá trên thị trường quốc tế….
Các Tổng công ti lương thực nhà nước được độc quyền và được ưu đãi nên chỉ làm việc theo tinh thần công chức, sáng xách ô đi tối xách về, không tha thiết tới quyền lợi của mấy chục triệu nông dân…Không những thế còn thỏa hiệp với nhau và với các đại quan đỏ để tham nhũng và bóc lột nông dân! Đây là thái độ khinh thường nông dân và bỏ rơi nông thôn của nhóm cầm đầu toàn trị trong suốt mấy thập kỉ vừa qua! Chính vì thế cho tới nay mấy chục triệu nông dân vẫn bị nghèo đói và nông nghiệp không ngóc đầu lên được!
Một nguyên nhân quan trọng khác khiến nông nghiệp VN vẫn lạc hậu và nông dân vẫn phải chịu cảnh đói nghèo là do trước sau đảng vẫn ngang ngược coi đất đai thuộc công hữu, vẫn giáo điều nhắm mắt theo ý thức hệ Marx-Lenin. Chính từ khi Nguyễn Phú Trọng làm TBT đã cố tình ngăn cản và chống lại cả quyết định của ĐH 11 đòi sửa lại Luật Đất đai cho phù hợp với quyền lợi của nhân dân.Theo Tổng thanh tra CP thì có đến trên 70% các vụ khiếu kiện là về đất đai.[33]Ở nông thôn nông dân vẫn phải thuê ruộng đất của nhà nước, đại đa số ruộng đất bị chia cắt ra rất nhỏ và không có những biện pháp khuyến khích nông dân canh tác chung cùng có lợi. Nên không thể sử dụng các máy móc nông nghiệp hiện đại từ các khâu làm đất, cấy hạt giống, phân bón, trừ sâu tới gặt hái… Phần lớn các phương tiện canh tác cũ đã lạc hậu vẫn được sử dụng. Đây là lí do khiến năng suất nông nghiệp thấp và dẫn tới đời sống vẫn đói nghèo cùa bao nhiêu triệu nông dân chiếm tới trên 2/3 dân số VN. Mặc dù nông dân VN rất siêng năng và cần cù!
Tóm lại, cuộc sống đói nghèo của nông dân VN suốt gần 70 năm dưới chế độ toàn trị bắt nguồn từ một nguyên nhân căn bản là, thực hành chủ thuyết Marx-Lenin với chính sách coi ruộng đất là thuộc độc quyền của Đảng. Tức là trong thực tế ĐCSVN đã trở thành tên địa chủ độc nhất trên toàn quốc; nó tái lập biện pháp phát canh thu tô của địa chủ trước đây. Chỉ có điều khác là, trước đây địa chủ cho nông dân thuê ruộng đất, nhưng phải trả tiền thuê ruộng đất cho địa chủ. Nay thì ĐCS đóng vai trò này của địa chủ, nhưng với những chính sách tham lam và độc ác hơn, tuy rằng vẫn hô lớn chống địa chủ bóc lột!
***
Ngoài thái độ và chính sách khinh nông của nhà cầm quyền, cũng như sự thiếu năng lực của cán bộ, hiện nay nông nghiệp VN còn đứng trước nguy cơ của biến đổi khí hậu trên toàn cầu do những hậu quả của CO2, đặc biệt là Đồng bằng Cửu long, vựa lúa nuôi dân cả nước. “Bát cơm vàng” đang có nguy cơ biến mất. Khu vực này bao gồm 13 tỉnh, với 12,3 % diện tích và 20% dân số, đóng góp tới 27% GDP cả nước. Hai tỉnh Cà mâu và Kiên giang là khu đất thấp hơn cả mức nước biển. Trong mùa mưa nếu thủy triều cao khoảng một mét thì có nguy cơ đồng ruộng bị chìm trong nước mặn, không thể canh tác. Nạn sụt lún sẽ càng gia tăng. Trong khi ấy từ trước tới nay sông Cửu long là nguồn cung cấp không chỉ hải sản, mà còn đem phù sa làm phì nhiêu đồng ruộng. Nhưng hiện nay TQ đã xây nhiều đập thủy điện ở thượng nguồn sông Cửu long, khiến cho lưu lượng nước bị giảm.
Theo dự báo của Cơ quan Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) và nhiều chuyên viên quốc tế, với tình hình gia tăng nhiệt độ trên thế giới tiếp tục như hiện nay thì tới cuối thế kỉ này nhiệt độ ở Đồng bằng Cửu long có thể tăng thêm 1,3-2,8°C, mưa sẽ tăng 4-8%, nước biển dâng từ 66 cm tới 99cm. Nếu nước biển dâng cao thêm 1m có thể làm cho 39% diện tích Đồng bằng Cửu long bị ngập, 35% dân số bị ảnh hưởng. Đây là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu. Nếu tình hình này diễn ra sẽ làm 22 triệu người mất nhà cửa và thiệt hại lên tới 10% GDP.[34]
III. Đầu tư nước ngoài: Khinh trong trọng ngoài,
dẫn tới kinh tế lệ thuộc FDI và công nghiệp nội bị bỏ rơi
Sau khi HK và các nước Tây phương hủy bỏ chính sách cấm vận kinh tế và thương mại với VN từ đầu thập niên 90, chế độ toàn trị CSVN đứng trước hoàn cảnh rất ngặt nghèo. Khi ấy Liên Xô đã sụp đổ, tức là HN mất toàn bộ khu vực “thị trường truyền thống” suốt mấy chục năm từng là chủ lực giao thương và viện trợ cho VN. Trong khi ấy tái lập bang giao với TQ mới bắt đầu và chưa có gì vững chắc. Trong hoàn cảnh đó, muốn tái thiết đất nước chỉ còn cách mở cửa buôn bán với Tây phương, đặc biệt với cựu thù Mĩ. Đây là giai đoạn chủ trương làm bạn với tất cả! Hà nội đưa ra mục tiêu kinh tế đối ngoại là tìm cách thu hút mời các công ti nước ngoài đầu tư trực tiếp vào VN xây dựng các xí nghiệp để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu (Foreign Direct Investment -FDI). Họ cho rằng, đây là chính sách khôn ngoan “đi tắt đón đầu”, như một đòn bẩy để đưa nền kinh tế vốn rất tụt hậu của VN có thể chuyển nhanh sang phát triển canh tân đất nước, nhờ vốn và kĩ thuật hiện đại của các công ti này.
Về lí thuyết, chủ trương này bao gồm một số mục tiêu chính:
Tạo công ăn việc làm và nâng cao trình độ chuyên môn cho công nhân VN
FDI hợp tác với các doanh nghiệp VN, chuyển giao kĩ thuật công nghiệp hiện đại và giúp công nghiệp VN phát triển kiến thức quản trị
Thu được các nguồn ngoại tệ mạnh để làm vốn cho phát triển kinh tế
Các sản phẩm của FDI xuất cảng sẽ mang lại số thuế lớn cho ngân sách quốc gia
Các FDI sẽ sử dụng các kĩ thuật hiện đại, nên tránh làm bãi rác công nghệ
Tuy Luật đầu tư cho nước ngoài đầu tiên ra đời từ 1988 (QH thông qua 29.12.1987)[35], nhưng phải đợi tới giữa thập niên 90 sau khi VN và HK bình thường hóa quan hệ ngoại giao thì các các công ti FDI mới dồn dập vào làm ăn ở VN.[36]Điều 27 Luật đầu tư cho doanh nghiệp nước ngoài năm 2005 qui định các lãnh vực được ưu đãi, trong đó Khoản 3 ghi rõ “Sử dụng công nghệ cao, kĩ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái.”. [37] Tuy nhiên phải đợi tới sau khi VN gia nhập WTO vào cuối năm 2006 thời Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng (TT) thì các công ti lớn quốc tế mới đổ hàng tỉ USD đầu tư vào VN. Chỉ riêng 9 tháng đầu 2008 vốn đăng kí đầu tư nước ngoài vào VN đã lên tới 57 tỉ USD. Trong đó có 8 dự án có vốn đăng kí trên 1 tỉ USD/dự án.[38] Tới cuối 2012 có tất cả 14.364 dự án đang hoạt động với tổng số vốn đăng kí lên tới 212,846 tỉ USD. Trong đó chủ yếu là các công ti FDI với 100% vốn nước ngoài chiếm tới 79,61% tổng số dự án và 66,51% tổng vốn đăng kí; số công ti FDI liên doanh với tư nhân VN và DNNN chỉ chiếm 17,86% tổng số dự án và 25,92% tổng vốn đăng kí.
Trong dịp tổng kết 30 năm chính sách đối với FDI (1988-2018) một số cơ quan và chuyên viên đã phân tích các hoạt động và kết quả của FDI đối với kinh tế VN. Thứ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng cho biết, VN “đã thu hút được trên 25.000 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 320 tỉ đô la Mỹ”.[39] Theo TS Vũ Thành Tự Anh, Đại học Fulbright VN, đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ba thập niên qua “đang tạo ra khoảng 70% giá trị xuất khẩu, 50% giá trị sản xuất công nghiệp và 20% GDP của cả nước”.[40]Trong khi FDI chiếm trên 2/3 tổng xuất khẩu và ½ tổng giá trị sản xuất công nghiệp của VN thì “hệ số chuyển giao công nghệ” của các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp nội lại “thấp nhất trong khu vực ASEAN, thua cả Lào và Campuchia”. Chính sự kiện này đã được Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ông Vũ Tiến Lộc xác nhận trong cuộc Hội thảo ở HN ngày 30. 8.18. [41]
Nói một cách khác, vai trò của các doanh nghiệp FDI đang đóng vai trò then chốt có tính cách quyết định cho tương lai của kinh tế VN, nhưng hầu như không có chuyển giao công nghệ với các doanh nhiệp tư nhân VN. Nguy hiểm nữa là, rất nhiều xí nghiệp FDI đã sử dụng các máy móc cũ và có trình độ công nghiệp rất thấp, ngày càng đe dọa môi trường sinh thái của VN, điển hình như thảm họa cá chết hàng loạt phủ trắng ven biển các tỉnh miền Trung do đại công ti Formosa gây ra năm 2016. Điều này hoàn toàn trái ngược với các mục tiêu đãđưa ra của nhà cầm quyền toàn trị VN xuyên qua các Luật đầu tư cho các doanh nghiệp nước ngoài tại VN trong hơn 30 năm qua.
Cũng theo báo cáo vào đầu năm 2018 của VCCI, “mỗi năm có khoảng từ 40-50% doanh nghiệp FDI kê khai lỗ, trong đó, có rất nhiều doanh nghiệp lỗ liên tục trong nhiều năm, thậm chí có doanh nghiệp lỗ lũy kế đến mức âm vốn chủ sở hữu, nhưng vẫn tiếp tục hoạt động bình thường, kể cả việc mở rộng quy mô kinh doanh. Một số địa phương thu hút nhiều doanh nghiệp FDI như thành phố HCM, Bình Dương, tỉ lệ doanh nghiệp FDI kê khai lỗ lên đến 50-60%, trong đó có nhiều doanh nghiệp kê khai lỗ trong nhiều năm”.[42] Tình hình rất lạ lùng như thế phải hiểu theo nhiều mặt. Đó là: 1. Những đóng góp thuế thực sự của FDI vào ngân sách quốc gia ở mức rất thấp. 2. Mức chuyển giao kĩ thuật công nghệ cho các doanh nghiệp nội địa rất thấp. 3. Sử dụng các máy móc cũ nên đang tạo nguy hại về môi trường.
Mặc dầu tình hình phát triển của các công ti FDI đi ngược lại với các chủ chương và chính sách của chế độ toàn trị trong việc thu hút đầu tư của nước ngoài, vậy tại sao họ vẫn được mở rộng làm ăn ở VN? Những nghịch lí này của FDI đang diễn ra ở VN trong suốt mấy thập niên qua. Tại sao các nghịch lí ngày không được cải thiện, ngược lại còn đang mở rộng từ thời Nguyễn Tấn Dũng và đang gia tăng từ khi Nguyễn Xuân Phúc làm TT? Những người cầm đầu chế độ toàn trị có làm chủ động trong các chính sách đối với FDI, hay đã bị lệ thuộc và bị sai khiến bởi các nhóm lợi ích cấu kết với các công ti FDI từ ngay trong giai đoạn hoạch định chính sách?
Các công ti FDI tại VN phân loại theo hình thức đầu tư (2012)
TT
Hình thức đầu tư
Số dự án
Tổng vốn đăng kí (triệu USD)
Tỉ trọng (%)Số dự án Tổng vốnđăng kí
1
100% vốn nước ngoài
11.370
141.582,33
79,16 66,62
2
Liên doanh
2.566
55.162,65
17,86 25,92
3
Hợp đồng BOT, BT, BTO
14
5.857,32
0,10 2,75
4
Hợp đồng hợp tác kinh doanh
218
5.469,09
1,52 2,57
5
Công ti cổ phần
195
4.677,21
1,36 2,20
6
Công ti mẹ con
1
98,01
0,01 0,05
Tổng số
14.364
212.846,61
100 100
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, 2013. Xuất xứ: NCKT 4.2013,tr. 47
Nhà nước CS ưu đãi tối đa cho các công ti FDI về nhiều mặt, như đất đai lập công xưởng, được ưu đãi thuế rất thấp các năm đầu, lương công nhân thấp; nhập khẩu máy móc, mua sắm trang thiết bị và hàng từ công ti mẹ hưởng chế độ giảm thuế đặc biệt, giành ưu đãi cho họ chuyển lợi nhuận về công ti mẹ. Ngoài ra để thu hút FDI, mỗi địa phương còn được quyền đưa ra các biện pháp ưu đãi cao hơn; ngoài việc miễn giảm tiền thuế đất, tiền sử dụng đất lên tới 50% theo NQ 62 của CP, còn gia hạn thêm thời gian miễn giảm thuế từ 3-6 năm.[43] Chế độ toàn trị cho lập nhiều Khu chế suất và Khu công nghiệp giành riêng cho các công ti FDI. Các công ti FDI tập trung hoạt động trong lãnh vực sản xuất hàng hóa xuất khẩu, như giầy dép, quần áo, linh kiện điện tử. Khi chương trình mở rộng các đô thị được ban hành, nhiều công ti FDI đã tìm cách hợp tác với các DNNN để lợi dụng chính sách ưu đãi của NHNN trong việc vay với lãi suất rất thấp những số tiền rất lớn lên tới 135.000 tỉ đồng (>8,4 tỉ USD) vào khu vực bất động sản. Như các dự án Nam Thăng long-Ciputra, Hồ Tràm của một công ti Canada (4,2 tỉ USD), Starbay của British VirginIslands (1,65 tỉ USD) và Khu công nghiệp Thủ thiêm của Singapor (1,2 tỉ USD) khi ấy. Họ còn lợi dụng sự dễ dãi và khuyến khích của chính quyền trung ương và các địa phương, nên nhiều năm -nhất là thời Nguyễn Tấn Dũng- đã ồ ạt lập 78 sân golf với tổng số vốn đăng kí là 13,3 tỉ USD và chiếm một diện tích 26.170 ha ở 39 thành phố/tỉnh. Ngoài ra cũng trong thời gian này còn có 66 dự án khác xây sân golf.
Chính TCCS đã đăng bài của hai chuyên gia kinh tế của Cơ quan Phát triển của LHQ ở VN tường thuật cách biến đất nông nghiệp thành các sân golf làm nơi giải trí của các nhà tư bản nước ngoài và các quan đỏ. Theo qui định của Nhà nước thì tiền bồi thường cho đất nông nghiệp rất thấp. Không những thế đất xây sân golf còn được coi là dùng vào thể thao, “nên được hưởng mức thuế đất ưu đãi”. Vì thế nhiều công ti FDI đã lợi dụng dùng một phần đất sân golf để xây “khách sạn, nhà hàng và giải trí”. Họ đầu cơ xây các sân golf, khách sạn và các khu giải trí với các ưu đãi cao nhất để hi vọng có thể thu hồi vốn và có lời nhanh. Trong việc xây dựng các khu vực bất động sản, nhiều công ti FDI đã dùng uy tín và mánh lới là công ti ngoại quốc, có quan hệ tốt với các quan đỏ có quyền lực, nên nhiều khi họ chỉ cần xây móng xong là đã rao bán. Người mua (thường là cán bộ có máu mặt) sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn đặt cọc trước. Như vậy là các công ti FDI đã dùng tiền của người mua nhà để xây nhà, họ chỉ phải bỏ ra số vốn rất ít nhưng hưởng lợi nhuận rất cao. Có dư luận cho rằng, dự án Ciputra và Keangnam (Đại hàn) thuộc loại đầu cơ như vậy.[44] Đây chính là cách làm ăn móc ngoặc, làm giầu nhanh bất chính giữa các quan đỏ với nhiều công ti nước ngoài.
Một hiện tượng rất phổ biến là, nhiều doanh nghiệp FDI đã khai lỗ nhiều năm liên tiếp, trong khi đó họ vẫn gia tăng đầu tư tại VN. Như ở Khu chế suất tại Bình dương số doanh nghiệp FDI khai lỗ năm 2010 là 754/1490, chiếm tỉ trọng 50,6%; trong đó có tới 200 doanh nghiệp mức lỗ cao hơn cả vốn. Tại Sài gòn và Đồng nai số doanh nghiệp FDI khai lỗ cũng lên tới 60% và 52,2%. Tại Lâm đồng số doanh nghiệp FDI khai lỗ là 104/111. Mánh lới phổ thông thứ hai của các công ti FDI là khai giá các tài sản như máy móc, thiết bị, nguyên liệu, dịch vụ, phí bản quyền… cao hơn nhiều so với giá thực tế. Mặc dầu đa số máy móc chuyển sang VN đều thuộc loại trình độ kĩ thuật cũ và gây ô nhiễm cao. Đây là thuộc vào các vốn đầu tư, từ đó họ có lợi thế để tính thuế. Họ còn khai vay tiền các ngân hàng với lãi suất rất cao, hoặc các chi phí cho dịch vụ như quản lí, quảng cáo, tiếp thị, đào tạo, thuê chuyên gia. Đây là những chi phí đầu vào. Từ đó vào cuối mỗi năm họ có thể khai lỗ, hoặc lời rất ít để được miễn thuế hoặc chỉ đóng thuế rất ít. Năm 2009 có 760/1.358 (56%) công ti FDI khai lỗ. Các thủ đoạn này làm ngân sách nhà nước thất thu hàng năm rất lớn.[45]
Một hiện tượng phổ thông khác là, đại đa số các công ti nước ngoài hoạt động tại VN theo hình thức 100%, không thích liên kết với các doanh nghiệp VN vì nhiều lí do, từ bí mật nghề nghiệp, khác biệt ngôn ngữ tới sự phân hóa quá nhỏ của các doanh nghiệp tư VN. Đặc biệt nhất là, nhà cầm quyền CS rất cần ngoại tệ qua sự đầu tư của các công ti FDI nên không dám có những chính sách rõ ràng -như TQ và một số nước Á châu- để các công ti FDI phải tích cực hợp tác với doanh nghiệp tư nhân VN. Vì thế các doanh nhân, doanh nghiệp VN và công nhân mất các cơ hội tốt để học tập kĩ thuật, cách quản trị và điều hành các hãng xưởng theo trình độ mới.
Không chỉ chèn ép giới kinh doanh tư nhân VN, các công ti FDI còn tìm cách bóc lột hàng triệu công nhân bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, với sự làm ngơ hoặc tiếp tay nhà cầm quyền CS. Tính tới năm 2012 có 283 Khu công nghiệp trên 58 tỉnh/thành phố, chiếm diện tích 76.000 hecta. Trong đó miền Đông Nam Việt nhiều nhất với 88 khu công nghiệp ( 31,1%), Đồng bằng sông Hồng 24,7%, Đồng bằng Cửu long 17,7%, Miền Trung 15,5%. Chia theo tỉnh/thành phố thì Đồng nai có 30 Khu công nghiệp, Bình dương 25, Sài gòn 19, Hà nội 11…Riêng Đồng bằng Cửu long có 51 Khu công nghiệp và 200 cụm công nghiệp chiếm diện tích 25.000ha, nhưng mới sử dụng khoảng 20%. Nhiều Khu công nghiệp bị qui hoạch treo phí phạm đất canh tác.[46] Số lao động làm trong các Khu công nghiệp tăng rất nhanh. 1995 mới có 50.000 công nhân, năm 2000 đã tăng lên 201.000, năm 2007 lên tới 1,04 triệu và 1,765 triệu công nhân vào năm 2011. Bình quân số công nhân làm trong các khu công nghiệp gia tăng hàng năm từ 10-15%.
Trong khi số công nhân gia tăng rất nhanh thì Nhà nước CS không có chính sách để các doanh nghiệp FDI có chương trình xây dựng cư xá cho công nhân. 80% công nhân phải thuê phòng trọ ở bên ngoài. Nếu tính theo tỉ lệ và diện tích các phòng trọ thì thật khủng khiếp: Số công nhân phải sống trong phòng rộng dưới 3m² chiếm tới 19%, 3-5m² (21,4%), 5-7 m² (10,6%),8-10m² (22%), 11-20m² (22,4%); số công nhân có phòng trọ trên 20m² chỉ có 5,9%. Rất nhiều trường hợp 3 công nhân phải thuê 1 phòng 10-12m², giá thuê 250.000-300.000đ/tháng (2012). Không chỉ phải ở trong các phòng trọ chật chội, thiếu tiện nghi, thiếu vệ sinh như các chuồng gà; còn thiếu các nhà trẻ, trường học, trạm y tế, chợ, siêu thị, giải trí…Đấy là chưa kể chính sách “hộ khẩu” đã khiến cho con cái công nhân không được thu nhận vào các trường học. Điều này ảnh hưởng vô cùng bất lợi cho hàng trăm ngàn thiếu niên.[47]
Cuộc sống lam lũ của hàng triệu công nhân, đa số là phụ nữ và con thơ, trong các khu công nghiệp giành cho các công ti FDI là những hình ảnh sống động nhất và tồi tệ nhất như thời Cách mạng Công nghiêp hai thế kỉ trước, với cảnh bóc lột của thời kì tư bản rừng rú. Trong đó có sự cấu kết công khai giữa vua chúa cầm quyền và bọn tư bản bóc lột. Nhưng rất oái ăm và lạ lùng là, tình trạng vô nhân đạo này lại tái diễn vào đầu Thế kỉ 21 tại VN trong khuôn khổ chế độ XHCN; trong đó những người cầm đầu luôn luôn vỗ ngực, đó là chế độ bảo vệ người lao động, bảo vệ quyền làm người!
Không những thế nhiều công ti FDI vi phạm qui luật lao động, thậm chí vi phạm cả luật hình sự đối với công nhân VN. Như ngược đãi công nhân, làm tới 12 giờ/ngày, đánh đập công nhân. Nhiều công ti Nam hàn đã vi phạm. Các vụ đình công diễn ra khá phổ biến trong các công ti của Đài loan và Nam hàn. Năm 2010 xẩy ra 62 vụ đình công ở Sài gòn, trong đó 37 vụ trong các công ti FDI. Trong số này 21 vụ ở các công ti Nam hàn.[48] Số các công ti của Nam Hàn, Đài loan, Hồng kông và Nhật chiếm một tỉ lớn của FDI hoạt động ở VN. Điều này có thể hiểu, các nước này không chỉ là láng giềng mà còn có nền văn hoá tương đồng với VN, hiểu rõ tâm lí và tập quán của người Việt, đặc biệt một số các nước này không coi trọng nhân quyền và quyền lợi của công nhân ngay ở trong nước họ!
Một hình ảnh “thân dân” rất kịch cỡm đã được TT Nguyễn Xuân Phúc dàn cảnh trong chuyến thăm công nhân tại một công ti FDI ở Đồng nai vào cuối tháng 10.2017. Đây cũng là công ti mà hơn một năm trước, khi mới nhận chức TT ông Phúc đã thăm. Nay ông trở lại để xem có tiến bộ hay không. Tại đây TT đã hỏi công nhân về tình hình lao động và cuộc sống hàng ngày của họ. Khi tới bàn ăn của công nhân ông hỏi: “Bữa ăn từ 16.000-23.000 đồng có đảm bảo chất lượng không? Sau giờ làm việc, công nhân có thời gian để sinh hoạt văn hóa, thể thao hay không? Mức lương và cuộc sống có đảm bảo không?”[49] Tại sao Nguyễn Xuân Phúc không tổ chức một cuộc thăm bất ngờ ở một công ti FDI khác để biết các bữa ăn trưa thịt ôi canh ủng chỉ với giá hai ba ngàn đồng; hay đi thăm các phòng trọ như ổ chuồng gà giành cho công nhân?
Theo bộ Kế hoạch và đầu tư, tới cuối 2017 có 128 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam. Lần đầu tiên Nam Hàn đang dẫn đầu với tổng vốn đăng ký 57,1 tỷ USD (chiếm gần 18,2%), thứ hai là Nhật bản với 46,3 tỷ USD, tiếp đến là Singapore và Đài loan.[50]
Tờ Quân đội Nhân dân (QĐND) cũng cho biết, hiện các công ti FDI đang sử dụng khoảng 30% lực lượng lao động công nghiệp”.[51] Nhưng mặt khác, khu vực FDI đang bộc lộ những mặt trái gay gắt; như gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng, nạn chuyển giá bất hợp pháp, sử dụng công nghệ lạc hậu. BCT đưa ra mục tiêu là, dùng FDI để lan tỏa công nghiệp hiện đại cho kinh tế tư nhân nội địa, nhưng thực tế đã không diễn ra như vậy. Theo điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI), các công ti FDI “chỉ mua khoảng 26,6% thiết bị, đầu vào từ DN Việt Nam, còn lại là nhập khẩu và nhập từ công ty mẹ. Điều này chứng tỏ, DN Việt Nam đang được hưởng lợi rất ít từ hiệu ứng lan tỏa do dòng vốn FDI mang lại qua quá trình chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và nâng cao năng suất”. Trong báo cáo “Việt Nam tăng cường năng lực cạnh tranh và liên kết của DN vừa và nhỏ (DNVVN)-Bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế” Nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cũng xác nhận, “các DNVVN của Việt Nam chủ yếu là nhà cung cấp cấp ba (gián tiếp), được mô tả như là ngành sản xuất các nguyên liệu đầu vào, nguyên liệu đơn giản và ít giá trị gia tăng”.[52]
***
Nếu so sánh giữa chủ trương (lí thuyết) và kết quả thực tiễn trong việc thực hiện chính sách FDI gần ba thập kỉ qua của chế độ toàn trị CSVN thì càng thấy rõ sự khác biệt rất rõ rệt như trắng với đen giữa mục tiêu và kết quả:
– Chủ trương dùng FDI để thúc đẩy công nghiệp VN phát triển. Nhưng oái oăm đại đa số các FDI chỉ làm ăn riêng, cho nên đến nay nhiều doanh nghiệp tư VN đã không làm được cái đinh ốc!
– Chủ trương dùng FDI để VN có “công nghiệp xanh”. Nhưng nay nhiều FDI đang biến VN thành bãi rác thải công nghiệp độc hại, không những thế họ chỉ chuyển vào VN các máy móc có trình độ kĩ thuật rất thấp.
– Chủ trương bảo vệ quyền lợi lao động của công nhân trong các công ti FDI, nhưng thực tế hàng triệu công nhân VN đang bị bóc lột và bạc đãi!
Tự vỗ ngực là những người lãnh đạo CS giầu kinh nghiệm, biết rõ tâm đen của các giới tư bản, nhưng tại sao họ lại trải thảm đỏ mời gọi FDI, thế rồi bị sỏ mũi? Họ nghĩ rằng có thể tương kế tựu kế? Nhưng nếu xét qua nhiều giai đoạn tham gia của FDI ở VN thì cho thấy, họ bị chạy theo, rất bị động chứ không chủ động. Những sự cố về ô nhiễm môi trường đã xẩy ra và các hậu quả vô cùng tai hại của nó, cũng như lương bổng bị bóc lột và đời sống đói rách của hàng triệu công nhân cho thấy, khi lập kế hoạch mời FDI họ ở thế bị động, cứu đảng và cứu mình để nắm quyền nên phải nhắm mắt làm liều.
Lời xác nhận của Nguyễn Phú Trọng trong vụ Formosa: “Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu, nên bây giờ chúng ta phải trả giá”. (Xem Chương chín, V). Lời xác nhận trên của người cầm đầu chế độ toàn trị không chỉ giới hạn trong lãnh vực môi trường, mà có giá trị cả trong các lãnh vực khác, như chờ đợi FDI chuyển vào VN những công nghệ với kĩ thuật tiên tiến, hay bảo vệ quyền lợi lao động của công nhân.
Sự tăng trưởng về vốn đầu tư vào VN hay kim ngạch xuất khẩu gia tăng của FDI không đồng nghĩa với những lợi ích cho VN. Nhiều khi đi ngược lại các mục đích ban đầu của CSVN: Xuất khẩu gia tăng nhưng nhập khẩu cũng gia tăng; gia tăng số lượng công ti FDI nhưng lại giảm số công ti FDI hợp tác với doanh nghiệp tư VN và các thiết bị đưa vào VN có trình độ kĩ thuật thấp, đang biến VN thành nơi tiêu thụ các máy móc lỗi thời, nguy hiểm nữa là thành bãi rác đầy chất độc công nghiệp. Điều cực kỳ nguy hiểm nữa là, sự kiện ngày càng lớn mạnh của FDI dẫn tới hậu quả, ngày càng òi ọp của doanh nghiệp tư nhân VN và kinh tế VN càng lệ thuộc bên ngoài!
Cuối tháng 11.18 tại cuộc Hội thảo đánh giá hiệu quả chính sách thu hút và ưu đãi đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong các thập niên vừa qua do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức, nhiều chuyên viên đã lên tiếng cảnh báo về những hệ lụy vô cùng bất lợi trong nhiều lãnh vực cả trước mắt và lâu dài của chủ trương “quá sính ngoại” của chế độ toàn trị đối với các công ti FDI. Chuyên viên ngân hàng Phạm Xuân Hòe nhận xét, “khối FDI được rất lớn, còn VN chỉ được mấy đồng lương còi cho người lao động. Trong khi ô nhiễm môi trường không biết phải chi bao nhiêu cho đủ và người công nhân cũng luôn phải đối mặt với rủi ro”. [53]
***
Trước đây cũng như hiện nay một số nước Âu châu cũng như Á châu lấy xuất cảng làm trọng tâm. Trong giai đoạn đầu mãi lực nội địa không cao, vốn ít; nên để tạo điều kiện phát triển nhanh hơn, các quốc gia này cần vốn của cả bên ngoài. Nhưng mục tiêu lâu dài vẫn phải lấy nội lực làm chính. Đây là những suy nghĩ sáng suốt và thực tế. Bởi vì hoạt động kinh tế liên quan trực tiếp tới đồng tiền bát gạo. Ta không thương ta thì chẳng ai đoái hoài. Tâm lí chung là không ai giúp một cách vô công, có đi có lại. Nhưng phải hiểu tâm lí và động cơ của các nhà tư bản. Đối với họ, lợi nhuận là tiêu chí giá trị cao nhất, nơi nào thu hoạch có lời cao, thuế thấp cùng các ưu đãi khác thì họ sẽ đổ xô tới; nếu không còn thì họ lại bỏ đi tìm nơi khác. Chính tâm lí này của các giới tư bản đã được cựu Phó TT Đức và cựu Chủ tịch Đảng Dân chủ Xã hội Đức F. Müntefering mô tả; ông đã ví giới này như các đàn cào cào, châu chấu, nơi nào có ăn thì cả đàn tới, khi hết rồi thì cả đàn lại bay đi nơi khác kiếm ăn![54]
Như trước đây ở Nhật, Đài loan và Đại hàn và hiện nay ở TQ, một mặt họ khuyến khích tư bản nước ngoài bỏ vốn vào đầu tư ở nước họ. Xuyên qua nguyên tắc hợp tác, các FDI được giành một số ưu đãi nhất định trong hoạt động kinh doanh, nhưng đồng thời phải thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ và các thỏa thuận với các quốc gia này. Trong đó ngoài nhiệm vụ đóng thuế sòng phẳng, còn phải chuyển giao công nghệ tân tiến và đào tạo chuyên môn cho người lao động bản xứ.
Cách vận hành của một nền kinh tế lấy xuất cảng làm trọng tâm có đặc điểm là, các công ti FDI dùng công nhân bản xứ với lương bổng thấp, nhờ đó giá thành các hàng hóa thấp, nên các sản phẩm này có thể bán chạy ở nhiều nước công nghiệp. Nhờ thế các công ti FDI hưởng lợi nhuận rất cao. Trong khi đó nhà nước sẽ thu ngoại tệ để tăng mức ngoại hối và thu được thuế từ các hàng xuất khẩu; nhờ đó ngân sách quốc gia được gia tăng để có thể đầu tư và canh tân đất nước tiến tới tự lập tự cường. Nhưng các mục tiêu và cách thực hiện đường lối kinh tế này chỉ thành công trong một số điều kiện nhất định, ắt có và đủ. Đó là phải có một hệ thống chính trị tốt, trong đó những người nắm vận mệnh đất nước phải có tinh thần trách nhiệm cao, có tầm nhìn sâu rộng; quốc hội, hệ thống tòa án phải có thực quyền; các công chức phải chí công vô tư; có hệ thống báo chí độc lập và các đoàn thể xã hội dân sự được tự do hoạt động. Mặt khác phải có các chính sách khuyến khích và bảo vệ các giới doanh gia và tư thương nội địa trong việc bỏ vốn và sáng kiến vào các hoạt động sản suất và kinh doanh để làm giầu cho chính mình và đất nước.
Nếu chỉ thích hoàng nhoáng bề ngoài, thích giả dối; gộp nhập trên 2/3 kim ngạch xuất khẩu hàng nămtừ FDI vào GDP để trưng diện là lợi tức đầu người ở VN đang tăng nhanh. Nhưng đó chỉ là giả dối, vì phần lớn thu nhập của các công ti FDI lại được chuyển nhanh về công ti mẹ ở mẫu quốc. Cả phần thuế của FDI vào ngân sách quốc gia cũng rất thấp; vì họ được ưu đãi thuế, trốn thuế bằng cách khai lỗ, hay chỉ phải trả mức thuế rất thấp!
Cân nhắc giữa quyền lợi quốc gia và sự phân công quốc tế cùng có lợi cho các bên, thì nếu sự đầu tư của nước ngoài đem lại những lợi ích thiết thực cho việc phát triển nhanh và bền vững cho đất nước, sẽ là một việc rất đáng hoan nghênh. Không nên có thái độ bài ngoại quá khích, nhất là trong giai đoạn toàn cầu hóa. Bế quan tỏa cảng chỉ làm trì trệ đất nước thêm. Nhưng mục tiêu này chỉ có thể thành công, nếu có một chính quyền có tầm nhìn xa trông rộng, biết cân nhắc ưu và khuyết điểm của kế hoạch xây dựng đất nước; có chính sách mở cửa thích hợp, biết sử dụng vốn tư bản nước ngoài, công nghệ tân tiến nước ngoài và kiến thức quản trị và trình độ chuyên môn cao của họ. Đó là tạo những điều kiện ắt có và đủ cho việc canh tân VN. Nhưng suốt trên 30 năm qua các điều kiện trên đều không có!
Tư doanh VN bị bạc đãi và bị chèn ép
Từ trước tới nay, đặc biệt dưới thời Nguyễn Tấn Dũng làm TT, các NQ của nhiều ĐH đảng và chính sách kinh tế của chính phủ đều nhấn mạnh phát triển nội lực. Nghĩa là về mặt lí thuyết, các doanh nghiệp VN (DNNN và tư nhân) phải là nồng cốt cho phát triển kinh tế. Các Luật về Doanh nghiệp tư nhân 2000 và 2005 qui định về hoạt động của kinh tế tư nhân trong nước. Nhưng trong thực tế thì lại hoàn toàn khác. Trong khi các công ti nước ngoài FDI ngày càng bung ra chiếm lãnh thị trường và các DNNN được giành ưu đãi trong tín dụng và đất đai, lại nắm độc quyền nhiều lãnh vực được coi là huyết mạch của nền kinh tế. Còn các doanh nghiệp tư nhân nội địa lại không ngóc đầu lên được, phải chịu đựng một cổ hai ba tròng, vừa bị các DNNN chèn ép, lại bị các công ti FDI cạnh tranh, đồng thời còn bị các quan đỏ móc túi và trấn áp.
Có nhiều con số khác nhau về doanh nghiệp tư nhân VN từ nhỏ, trung bình đến lớn (tính theo số công nhân và vốn đầu tư). Theo Cục Quản lí đăng kí kinh doanh của bộ Kế hoạch và đầu tư, tính tới Quí 1/2014 có tất cả 789.813 doanh nghiệp tư nhân VN đã đăng kí, trong đó 296.206 doanh nghiệp đã phải đóng cửa hoặc phá sản. Riêng từ khi VN gia nhập WTO (2007) số doanh nghiệp tư nhân gia tăng cao, mỗi năm có trên 50.000 doanh nghiệp được thành lập.[55] Nhưng đồng thời số doanh nghiệp ngưng hoạt động hoặc phá sản cũng rất cao. Theo báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN ngày 13.4.16, có đến 428.000 doanh nghiệp tư nhân VN phải ngừng hoạt động hoặc giải thể trong giai đoạn 2007-2015, tương đương với 45,5% tổng số doanh nghiệp được thành lập kể từ khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000 đến nay. [56]
Xét về qui mô lao động thì các doanh nghiệp VN ngày càng có khuynh hướng nhỏ đi. Vào năm 2002 một doanh nghiệp có trung bình 74 lao động, đến 2007 chỉ còn 47 lao động, nhưng tới 2012 lại giảm chỉ còn khoảng 32 lao động. Vào năm 2012 số doanh nghiệp vừa là lớn chỉ chiếm khoảng 4,3%, doanh nghiệp nhỏ chiếm 29% và siêu nhỏ chiếm 66,8% (dưới 10 lao động). Năm 2002 số doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm 53,1% đã tăng lên 66.8% vào năm 2012. Tình hình chung rất đặc biệt là, trong suốt 10 năm (2002-2011) rất ít doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ phát triển thành doanh nghiệp vừa hoặc lớn. Nhưng ngược lại, tỉ lệ các doanh nghiệp vừa lại biến thành nhỏ và siêu nhỏ lại gia tăng. Thành thử nhiều chuyên viên đã rất chua chát phải nêu câu hỏi, tại sao các doanh nghiệp tư nhân VN “không lớn lên được”? [57]
Cũng vào giai đoạn này đã có bài thơ rất chua chát và mỉa mai, vì sao đất nước không lớn lên được với tựa đề “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” của Thạc sĩ Trần Thị Lam, một nữ giáo viên trung học ở Hà Tĩnh, được phổ biến rất rộng rãi và được phổ nhạc. Bài thơ được phổ biến vào dịp sau biến cố thảm họa môi trường do Formosa ở Hà tĩnh gây ra, 4.2016.[58] (Xem phần sau).
Viện trưởng Viện Kinh tế VN Trần Đình Thiên nêu câu hỏi, tại sao Nhà nước vẫn nói là kinh tế chuyển dịch tốt, nhưng công nghiệp VN vẫn yếu?Ông dẫn chứng, công nghiệp chế biến, chế tạo là lãnh vực then chốt trong phát triển kinh tế, nhưng sau 30 năm chỉ tăng 1,6%.Ông dẫn chứng nguyên nhân dẫn tới tụt hậu vì các chính sách sai lầm. Theo ông, “trong thời đại công nghệ cao mà lĩnh vực chế biến chế tạo chỉ tăng như vậy thử hình dung công nghiệp Việt Nam giậm chân tại chỗ hay thụt lùi ghê gớm so với thế giới? Ta thích công nghiệp khai khoáng, xây dựng, tập trung gia công còn lĩnh vực tạo năng lực cốt lõi là chế biến chế tạo lại rất yếu”. Ông trách là, Nhà nước CS đã quá chiều chuộng các công ti FDI, dẫn tới hậu quả là nay tùy thuộc quá nhiều vào họ.[59] Trong khi đó theo chuyên gia Phạm Chi Lan, chế độ toàn trị đã không tạo một sân chơi bình đẳng giữa các hoạt động kinh tế. Trong khi các Doanh nghiệp nhà nước, các công ti FDI và “doanh nghiệp tư nhân thân hữu” được biệt đãi (tiếp cận các nguồn lực, quyền kinh doanh, đầu tư công/mua sắm của chính phủ, bảo hộ để né cạnh tranh…) thì đại đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vị thế rất bất lợi, nên không lớn lên được và dễ bị đào thải. [60]
Tới 2014 cả nước có khoảng gần 3000 doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ và hoạt động rất yếu. Ngay bộ Công thương cũng cho biết, công nghiệp phụ trợ phải sử dụng tới 80% nguyên liệu nhập khẩu, lại chỉ tập trung vào các hoạt động đơn giản như đóng gói, bao bì. Các ngành công nghiệp phụ trợ như giầy dép, dệt may… phần lớn nằm trong tay các công ti FDI. Các công nhân VN chỉ làm công tác gia công; trong khi ấy phần chính nguyên liệu phải nhập cảng, nhất là từ TQ. [61] Trong khi nhóm cầm đầu toàn trị thề thốt là công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế thì nhiều chuyên viên đã chỉ trích và cảnh báo nghiêm khắc là, “hiện nay VN đang trở thành quốc gia có nền công nghiệp gia công toàn diện”, tức là chỉ đi làm thuê và làm những công việc phụ thuộc cho các công ti FDI.[62] Ngoài các nguyên nhân không có sân chơi bình đẳng và bị chén ép, các doanh nghiệp tư nhân VN còn bị cán bộ nhũng nhiễu, hàng năm phải tiếp nhiều phái đoàn thanh tra, muốn được yên thì phải trao “phong bì”! Tiến sĩ Cao Sĩ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, đã cho biết, theo số liệu từ một cơ quan nghiên cứu có tới 73% doanh nghiệp phải lót tay cho cán bộ. [63]
Ngay tại QH vào cuối năm 2015 (22.10.15) Bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư Bùi Quanh Vinh vừa than thở vừa trách móc là: “Một đất nước muốn tự chủ kinh tế thì doanh nghiệp của nước ấy phải phát triển. Doanh nghiệp nội địa phát triển thì mới hỗ trợ cho khu vực FDI, và tiếp thu công nghệ của nước ngoài… Nhiều doanh nghiệp FDI, như Nhật Bản, muốn chuyển giao công nghệ, nhưng doanh nghiệp chúng ta không có nền tảng để nhận. Chúng ta kêu ca doanh nghiệp FDI không chuyển giao công nghệ là do có hai mảng. Thứ nhất họ không chuyển giao, và thứ hai, họ có chuyển giao thì chúng ta cũng không có đủ năng lực tiếp nhận”.[64]
Trong buổi tọa đàm với Hội Doanh nhân trẻ VN vào cuối năm 2018 TS Trần Đình Thiên, nay là thành viên Tổ tư vấn kinh tế của TT, đã phải chua chát nhận xét, sau trên 30 năm “đổi mới” nhưng doanh nghiệp tư nhân VN chỉ đóng góp 8% GDP; trong khi đó đóng góp của FDI lên tới 20% và DNNN khoảng 27-28%. Theo ông, ở trong một nước phát triển kinh tế thực sự với nội lực làm chủ yếu dựa trên kinh tế thị trường thì khu vực doanh nhân nội địa đóng góp đến 60-70%, nếu mạnh thì đến 80-90%. Nhưng ở VN sau trên “30 năm phát triển kinh tế thị trường rực rỡ mà chỉ có 8%”. Một trong những lí do chính là doanh nghiệp tư nhân VN đang bị bạc đãi và chèn ép. Ông dẫn chứng, trong khi các doanh nghiệp FDI chỉ phải chịu mức thuế trung bình là 11% thì các doanh nghiệp VN phải đóng thuế trung bình lên tới 29%, cao hơn gần 3 lần so với FDI![65]
Nói chung lại, trong suốt ba thập niên theo mô hình Kinh thế Thị trường định hướng XHCN sở dĩ các xí nghiệp tư nhân VN không thể vươn lên được vì nhiều nguyên nhân: Bị chế độ toàn trị bỏ rơi và khinh rẻ, bị các DNNN và FDI chèn ép; không được đối xử bình đẳng trong việc tiếp nhận các nguồn lực kinh tế từ vay tiền, lãi suất, thuế vụ tới đất đai. Ngoài ra còn phải thường xuyên bị cán bộ các cơ quan đảng và nhà nước nhũng nhiễu!
Hai trường hợp điển hình về chính sách
của Nhà nước CSVN với các công ti FDI
Nguyễn Xuân Phúc ưu đãi Samsung
Từ tháng 2.17 Lee Jae-yong 49 tuổi, Phó chủ tịch công ti Samsung phải ngồi tù ở Nam Hàn, là người giầu thứ 3 của Nam Hàn với 6,6 tỉ Euro. Ông phải tù 5 năm vì các tội hối lộ, che dấu và khai man. Ông đã hối lộ một số tiền rất lớn cho cựu Tổng thống bà Park để mong sớm trở thành Chủ tịch Samsung. Nhiều cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người ở Nam Hàn phản đối quan hệ bất chính và tệ trạng tham nhũng- hối lộ giữa chính phủ và Samsung. Bà Park cũng bị cách chức Tổng thống. Cha ông là Lee Kun-hee (72t) năm 2009 cũng bị kết án 3 năm tù với các tội tương tự, nhưng không bị ngồi tù; từ 3 năm qua sau khi bị nhồi máu cơ tim trở thành hôn mê nhưng vẫn là Chủ tịch Samsung. Đầu tháng 2. 2018 Tòa án trả tự do cho ông với điều kiện. Tập đoàn Samsung chiếm tới 20% tổng sản lượng kinh tế của Nam Hàn, có 490.000 nhân viên. Trong quí 3/2017 đã đạt lợi nhuận 11,2 tỉ € (12,91 tỷ USD ), cao nhất từ trước tới nay. Dự đoán trong tương lai mức lợi nhuận còn cao hơn nữa.[66]
Trong cuộc gặp TT Nguyễn Xuân Phúc tại trụ sở chính phủ ngày 6.10.17 Tổng giám đốc Samsung Electronics Hàn quốc Shin Jong Kyun đã cho biết, sau 10 năm đầu tư vào VN đến nay tổng vốn đầu tư của Samsung đã lên tới 17 tỷ USD. Samsung dự kiến sẽ xuất khẩu hơn 50 tỷ USD trong năm 2017, chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu của VN. Ông còn nhấn mạnh, các nhà máy đặt tại VN có quy mô lớn nhất, hiện đại nhất của Samsung.[67] Đây là cuộc gặp lần thứ hai của đại diện Samsung với Nguyễn Xuân Phúc trong năm nay và có lẽ lần này CP xác nhận giành ưu đãi sử dụng đất và thuế nhiều hơn nữa cho Samsung.
Cho tới trước khi cuộc gặp này Samsung đã nhận được nhiều ưu đãi đầu tư từ Chính phủ CS: “Hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 30 năm, miễn 4 năm và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo”. Ngoài ra, “các địa phương cũng đã giành cho Samsung các ưu đãi về tiền thuê đất, tiếp tục cho Samsung được giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm tiếp theo sau giai đoạn 9 năm đó”.[68] Các đại diện của Samsung vẫn chưa thỏa mãn với các ưu đãi này, nên họ đòi được đãi ngộ cao hơn sau việc gia tăng đầu tư. Trong cuộc gặp TT Nguyễn Xuân Phúc ngày 26.7.17 một đại diện Samsung ở Thái nguyên đã đề cao sự đầu tư của Samsung và cam kết “xuất khẩu hơn 50 tỷ USD trong năm nay”, tương đương với gần ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.[69]
Với mức kim ngạch xuất cảng gia tăng cao và nhanh như vậy, nên Nguyễn Xuân Phúc có thể dùng nó để phô trương thành tích tăng trưởng kinh tế của VN dưới quyền của ông! Vì thế ông đã hứa với đại diện Samsung là sẽ ra lệnh cho “Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ sớm cấp chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao cho Samsung VN vì đã đạt được các tiêu chí cần thiết”.[70]Sớm nhận được giấy chứng nhận “Doanh nghiệp công nghệ cao” là nỗ lực hàng đầu của Samsung từ lâu. Vì khi đó Samsung sẽ nhận được những ưu đãi cao nhất về đất đai và thuế.[71]
Trong kì họp cuối năm của QH đã có dư luận cho là, việc tăng trưởng quí 3/2017 tăng đột biến lên tới trên 7% là nhờ sự đóng góp quan trọng của hai đại công ti FDI Samsung và Formosa.[72]Có lẽ để giải quyết gánh nặng của nợ công ngày một chồng chất trong khi mức tăng trưởng kinh tế càng đi xuống, nên từ khi làm TT, Nguyễn Xuân Phúc còn dành ưu đãi đặc biệt cho các công ti FDI hơn cả người tiền nhiệm, đặc biệt cho Samsung. Cho nên Samsung đã đầu tư dồn dập vào VN để mở rộng các hoạt động kinh doanh trong năm 2016-2017. Chỉ trong nửa đầu năm 2017, các công ty Samsung đạt doanh thu 27,4 tỷ USD (622.000 tỷ đồng); lợi nhuận sau thuế đạt 3,1 tỷ USD (70.600 tỷ đồng).[73] Nếu tính toàn năm 2017 Samsung đã đạt được lợi nhuận ròng là 5,8 tỉ USD, trong khi ấy chỉ mới phải đóng thuế 186 triệu USD cho nửa năm 2017.
Trong cuộc gặp PTT Vương Đình Huệ ngày 17.11.17 ông Shim Wonhwan, Tổng giám đốc Tổ hợp Samsung VN, cho biết, hiện công ti đã có ba trung tâm sản suất tại VN ở Bắc ninh, Thái nguyên và Sài gòn, tổng số lao động đang làm việc trong các nhà máy của Samsung tại VN là 180.000 người (bao gồm cả 20.000 người làm bảo vệ và nhà ăn). Con số này không kể các nhân viên làm việc trong các đơn vị cung ứng của Samsung.[74] Trong đó số phụ nữ còn trẻ chiếm tới 75% .[75] Như vậy Samsung ở VN đứng thứ hai chỉ sau Samsung mẹ ở Nam Hàn, đồng thời là công ti FDI lớn nhất ở VN. Samsung tại VN tập trung sản xuất máy điện thoại cầm tay tối tân và các máy truyền hình có kĩ thuật cao nhất trên thế giới, xuất khẩu sang khoảng 120 nước.
Samsung hiểu được vai trò cực kỳ quan trọng của họ trong nền kinh tế VN, nên họ đang tìm mọi cách ép chính quyền CSVN phải gia tăng ưu đãi, đồng thời chèn ép công nhân VN. Điều này có thể thấy rõ trong cách đối xử với các đại diện của Samsung của các giới chức cao cấp VN. Vài năm trước các đại diện của Samsung thường gặp trực tiếp Bộ trưởng 4 T và được phổ biến rộng rãi trong các cơ quan báo đảng. Nhưng hiện nay cả TT lẫn Phó TT gặp trực tiếp các đại diện của Samsung. Điều này chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh đã tiên đoán trước đây vài năm, “Chính quyền có những ưu đãi để thu hút Samsung và Samsung có thể đòi các ưu đãi đặc biệt cao hơn mức bình thường vì họ biết vị thế của mình”. [76]Do được miễn và giảm thuế tối đa nên trong những năm qua, Samsung đã “tiết kiệm” được hàng tỷ USD tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Với thuế suất rất thấp, VN thực sự đã trở thành “thiên đường thuế” của tập đoàn này. Đây cũng là lý do mà Samsung ngày càng rót nhiều tiền đầu tư cũng như chuyển nhiều hoạt động sản xuất vào VN.[77]
***
Trước những đòi hỏi của phía VN là Samsung nên để các doanh nghiệp VN tham gia, trong cuộc hội thảo “30 năm lan tỏa vốn FDI” 7.10.17 ông Bang Hyun Woo, Phó tổng giám đốc Samsung VN đã nói thẳng, “các sản phẩm của Samsung đang được xuất khẩu đi toàn cầu và những linh kiện mà chúng tôi sử dụng đòi hỏi phải rất tin tưởng, liên quan đến chất lượng vô cùng cao. Nói là doanh nghiệp VN ngay bây giờ có thể tham gia vào chuỗi cung ứng này vô cùng nan giải”. Có lần Samsung còn trách móc là, công nghiệp VN chậm tiến đến mức chưa làm được cả cái ốc! Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng đã nhận xét:
“Câu chuyện cái đinh ốc bùng lên trong nước từ tháng Chín. Báo chí đăng tin công ty Samsung điện tử thú nhận cơ xưởng ráp máy điện thoại của họ ở Bắc ninh không tìm ra xí nghiệp nào của người VN có thể cung cấp những cây đinh xoắn trôn ốc, còn gọi là ốc vít.”. Nhưng rốt cuộc, có 67 doanh nghiệp cung cấp các linh kiện cho SEV; đại đa số là các doanh nghiệp của người Ðại hàn, Nhật bản, Singapore, Mã lai. Chỉ có bốn doanh nghiệp VN cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho SEV, mà việc chính của họ là làm bao bì, in ấn. Ông Shim Won Hwan, tổng giám đốc Samsung ở VN mới, nói tại một hội thảo ở HN vào tháng Chín vừa qua rằng, “không doanh nghiệp VN nào ‘nắm bắt’ được cơ hội, họ chỉ cung ứng được những sản phẩm in ấn, bao bì!” Còn những thứ “cao cấp” như cái đinh ốc vít, người VN làm không được theo tiêu chuẩn của Samsung! Họ cũng không kiếm mua được những bộ phận “sạc” điện cho cell phone do người VN làm”.[78]
Tới giữa năm 2017 chính báo Infonet của bộ 4T cho biết, mới chỉ có 25 doanh nghiệp VN tham gia chuỗi cung ứng cấp 1 cho Samsung. [79] Nhưng khi giải trình trước Quốc hội tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội vào 1-11.17, bộ trưởng bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đề cập đến vấn đề phát triển công nghiệp hỗ trợ lại cho biết, hiện có khoảng 30 doanh nghiệp cung cấp linh kiện điện tử trực tiếp cho Samsung tại VN và đều là các doanh nghiệp FDI, chứ chưa có bất kỳ doanh nghiệp nội địa nào.[80]Trong khi đó khi làm việc với đại diện Samsung ở Thái nguyên ngày 26.7.17 để xét việc giành ưu đãi thuế đặc biệt cho Samsung Nguyễn Xuân Phúc đã hết lời khen ngợi là, hiện đã có “215 nhà cung cấp là doanh nghiệp VN” và “tỉ lệ nội địa hóa của Samsung VN đạt 57%”.[81] Ông Phúc đưa ra con số cao gấp nhiều lần về việc các doanh nghiệp tư VN tham gia hệ thống xí nghiệp phụ trợ cho Samsung là để có cớ xếp Samsung vào Luật Công nghệ cao? Một điều rõ ràng nhất là, Samsung VN nhập khẩu từ Samsung mẹ ở Hàn quốc hầu như toàn bộ các máy móc và linh kiện điện tử. Đây cũng là lí do chính khiến mức nhập khẩu hàng hóa vào VN của Nam Hàn đã gia tăng rất mạnh trong vài năm gần đây.
Gần 200.000 công nhân VN, đại đa số là phụ nữ trẻ chỉ làm gia công, phải lao động rất vất vả dưới những điều kiện nghiêm ngặt, nhưng lương bổng lại rất thấp. Lê Đăng Doanh đã nhận xét, “năng suất lao động của công nhân VN làm đạt 80% năng suất lao động, trong khi tiền lương chỉ bằng khoảng 10%”. Phần lớn các phụ nữ này đã bỏ quê ra tỉnh để làm công nhân cho Samsung. Cuối tháng 11.17 Tổ chức phi chính phủ Thụy Điển IPEN -một tổ chức phi vụ lợi có uy tín quốc tế, chuyên về bảo vệ sức khỏe và môi trường- phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển ở HN (CGFED), đã công bố Bản báo cáo về điều kiện làm việc của nữ công nhân ở các nhà máy điện tử của Samsung tại VN. Theo báo cáo này, IPEN và CGFED đã phỏng vấn 45 nhân viên Samsung và đưa ra nhận xét:
“Tiếng ồn ở khu sản xuất cao hơn nhiều so với cho phép của VN, tất cả nhân viên được phỏng vấn đều cảm thấy mỏi mệt trầm trọng và chóng mặt, sẩy thai ở người lao động diễn ra thường xuyên..”. Công nhân phải đứng làm việc suốt 8-12 giờ, công nhân mang thai cũng phải lao động như vậy. Nhiều công nhân bị sổ mũi, rối loạn tiêu hóa, đau chân…Báo cáo còn cho biết, hàng ngày công nhân bị Samsung kiểm soát quá nghiêm ngặt, “thời gian nghỉ ngắn và nếu muốn đi vệ sinh thì lại phải được cho phép ra vào đặc biệt”.Báo cáo đưa ra yêu cầu, “phải điều tra bổ sung về việc rò rỉ hóa chất. Bởi người lao động đang làm việc trong môi trường mở tiếp xúc với nhiều loại hóa chất đa dạng nhưng lại không nhận thức được về những rủi ro hóa chất trong công đoạn lắp ráp”.[82]
Ngay hôm sau đại diện Samsung đã lên tiếng phủ nhận các lời cáo buộc trên. Samsung “công nhận có sử dụng hóa chất trong một số công đoạn, nhưng đều áp dụng các biện pháp để công nhân không bị phơi nhiễm nhờ thiết bị thoát khí, cùng việc đeo thiết bị bảo hộ”. [83] Thanh tra của bộ Lao động & thương binh, xã hội cho biết, vào tháng 7.17 đã thanh tra ở hai trung tâm của Samsung ở Bắc ninh và Thái nguyên và cho biết, phụ nữ mang thai từ tháng thứ 7 được nghỉ. Theo Bộ, các cáo buộc khác trong Bản báo cáo của IPEN là “chưa thuyết phục”. Nhưng Bộ xác nhận Samsung đã vi phạm pháp luật về qui chế lao động. “Samsung chia thời gian làm việc thành hai ca. Ca ngày 8-20h, ca đêm từ 20h đến 8h sáng hôm sau và đưa vào nội quy lao động, luân phiên làm việc 4 ngày liên tục sẽ được nghỉ 2 ngày”. Qui định này trái với Luật lao động 2012. Theo đó giờ làm việc không quá 8h/ngày và không quá 48h/tuần; giờ làm việc ban đêm từ 22h-6h sáng hôm sau; giờ làm thêm không quá 30h/tháng, 200h/năm. [84]
Nếu giữ thái độ khách quan và thận trọng thì những lời xác nhận trên của Thanh tra của bộ Lao động & thương binh, xã hội có lẽ mới chỉ là một phần rất nhỏ của sự thực. Vì trong quá khứ đã chứng minh nhiều lần, các cơ quan thanh tra của đảng cũng như chính phủ không thể tin cậy.Như trong các vụ PMU 18, Vinashin và Formosa các cơ quan thanh tra của nhiều cơ quan đã thanh tra, nhưng rốt cuộc đều có báo cáo tốt! Tuy nhiên những điều nêu trong Báo cáo này trái ngược với khen ngợi của Nguyễn Xuân Phúc vài tháng trước. Khi ông thăm công ti Samsung ở Thái nguyên đã nói là, “đời sống công nhân, người lao động ngày càng được nâng cao, trong đó công ty quan tâm đến khu ăn ở, giải trí, lao động nữ…”[85]
***
Không ai phủ nhận công ti Samsung là một trong những công ti điện tử hàng đầu trên thế giới hiện nay. Nó cũng là một trong vài công ti lớn nhất của Nam Hàn và đóng góp phần quan trọng cho sự phát triển và hưng thịnh kinh tế của nước này. Nhưng đó không phải là công lao riêng của Samsung mà còn là cả nửa triệu công nhân của công ti ở Nam Hàn và của nhân dân Nam Hàn nói chung. Trong đó không thể quên được những cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người phản đối chính sách bạc đãi công nhân và hối lộ của các Ban giám đốc công ti này.
Mặc dầu chế độ toàn trị ở VN giành rất nhiều đặc ân để Samsung chỉ trong vài năm trở thành nhà đầu tư FDI lớn nhất hiện nay ở VN kể cả về vốn và kim ngạch xuất khẩu. Nhưng Samsung có thực sự phục vụ phát triển kinh tế VN theo những mục tiêu đề ra của chế độ toàn trị trong việc thu hút FDI vào VN hay không? Đó là để các xí nghiệp VN cùng tham gia trong các khâu sản xuất để nâng cao trình độ kĩ thuật và quản trị, bảo vệ quyền lao động của hàng trăm ngàn công nhân và đóng góp vào sự phát triển kinh tế của VN.
Mặc dầu trong những năm gần đây Samsung ở VN đạt được lợi nhuận hàng năm nhiều tỉ Mĩ kim, phần chính là vì nhà cầm quyền ở trung ương và địa phương đã ưu đãi thuế rất cao từ xuất cảng tới nhập cảng các sản phẩm. Nhưng ngược lại số xí nghiệp tư nhân VN tham gia với Samsung có thể đếm trên đầu ngón tay. Gần 200.000 công nhân, phần lớn là phụ nữ trẻ, phải chịu những điều kiện lao động rất bất lợi, từ lương bổng tới các bảo hiểm xã hội. Nói chung là công ti tư nhân VN chỉ đứng bên lề và công nhân VN chỉ đóng vai làm gia công cho Samsung. Đây là chính sách đem con bỏ chợ của chế độ toàn trị. Nó thể hiện rõ ràng đây là chủ chương đầu cơ đầy rủi ro và rất phiêu lưu.
Những người đứng đầu Samsung nắm bắt được những nhược điểm của những người cầm đầu chế độ toàn trị CSVN là trình độ quản trị kinh tế rất yếu, nền kinh tế đang đứng trước vực thẳm, nhưng chỉ thích đề cao thành tích bề ngoài, cơ chế và cán bộ tham nhũng và bất lực. Vì thế chỉ trong ít năm Samsung đã trở thành trụ cột của kinh tế VN, hiện nay chiếm tới hơn ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu của VN. Nhưng trong thực tế những thành công này chỉ đem lại lợi ích riêng rất lớn và rất nhanh cho Samsung. Do sự gia tăng xuất khẩu rất lớn của Samsung nên Nguyễn Xuân Phúc đã hô hoán là kinh tế VN đang phục hồi, đạt tăng trưởng cao nhất sau nhiều năm. Nhưng nếu tính toán nghiêm túc sẽ thấy Samsung không đóng góp quan trọng vào ngân sách quốc gia của VN. Vì Samsung được hưởng các ưu đãi thuế rất cao. Ngoài ra mức xuất khẩu gia tăng thì mức nhập khẩu của Samsung cũng gia tăng rất mạnh.
Tóm lại, mặc dầu những mục tiêu trong việc mời gọi Samsung đầu tư tại VN đã không đạt được, nhưng nhà cầm quyền CSVN vẫn liên tiếp giành từ ưu đãi này tới đặc quyền khác cho Samsung.Sự hoạt động càng bung ra của Samsung càng chứng tỏ có sự tiếp tay của những người có thế lực nhất trong chế độ. Chính các sự kiện này đã dẫn tới câu hỏi, tại sao trong giai đoạn Nguyễn Phú Trọng đang hô hoán đốt lò chống tham nhũng, nhưng một công ti nổi tiểng về hối lộ như Samsung -ngay cả ở chính quốc Nam Hàn- lại đang được nâng đỡ và chiều chuộng hết mức ở VN? Nguy hiểm cực kỳ khác nữa là, nền kinh tế VN đang ngày lệ thuộc nhiều mặt vào một công ti lớn nước ngoài. Điều này có thể dẫn tới những hậu quả rất nguy hại cho cả kinh tế lẫn chính trị VN! Chính sách đối với Samsung nói riêng và với các công ti FDI nói chung từ Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng tới Nguyễn Xuân Phúc không phải là mã tìm mã, nhưng đúng là ngưu tìm ngưu!
Nguyễn Phú Trọng ưu ái Formosa
Tại sao ông Trọng lại đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc Formosa,
giữa lúc hàng triệu nhân dân là nạn nhân do thảm họa cá chết hoàng loạt?
Ngay từ đầu tháng 4.16 đại diện sở Nông nghiệp-phát triển nông thôn (NN-PTNT) Hà tĩnh cho biết, “cá nuôi ven biển và cá tự nhiên chết bất thường xuất hiện từ ngày 6.4 tại vùng ven biển xã Kỳ lợi và tại xã Kỳ hà, Kỳ ninh (thị xã Kỳ anh) vào ngày 7.4. Ngày 11.4, sau khi công ty Grobest tại xã Kỳ phương (thị xã Kỳ anh) cấp nước biển vào ao nuôi khoảng 6 giờ đồng hồ thì xảy ra hiện tượng tôm nuôi chết hàng loạt. Đến ngày 14.4, ngao nuôi tại 2 xã Kỳ hà và Kỳ ninh tiếp tục bị chết, gây thiệt hại khoảng 4,71 tỉ đồng”.[86] Khi ấy Phó phòng Kinh tế và đô thị thị xã Kỳ anh Nguyễn Thị Thủy cũng cho biết, “địa bàn xã Kỳ lợi xuất hiện cá chết đầu tiên nằm cách cảng Sơn dương của khu kinh tế Vũng áng khoảng 4 – 5 km, còn các xã Kỳ ninh, Kỳ hà cách Vũng áng khoảng 20 km về phía bắc thì tôm, cá chết sau đó một ngày”. [87]
Các địa danh này là khu vực nằm cạnh Khu công nghiệp Vũng áng khổng lồ của công ti Đài loan Formosa Hà tĩnh (FHS). Đến giữa tháng 4 các tin dồn dập cùng những hình ảnh nhiều loại cá lớn nhỏ chết hàng loạt rất khủng khiếp và kinh hoàng suốt mấy trăm cây số dọc duyên hải từ các tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị, Thừa thiên-Huế do chính các báo lề đảng như Tuổi trẻ, Thanh niên, Lao động, Dân trí, VTV, VNNet… phổ biến đã tràn ngập dư luận các tỉnh ven biển miền Trung làm nhân dân rất hoang mang lo lắng. Hàng chục ngàn ngư dân không dám ra biển đánh cá, người dân cả nước không dám ăn cá, dịch vụ du lịch các bãi biển miền Trung thu hút hàng triệu du khách VN và ngoại quốc lo lắng bị mất khách!
Mãi tới ngày 19.4 Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn) mới đến Hà tĩnh kiểm tra về nguyên nhân cá chết và cho biết, “cá chết là do chất độc gây ra nhưng chưa xác định đó là chất gì”.[88] Điều này có nghĩa là phải khẩn trương nghiêm túc điều tra tiếp để tìm ra nguyên nhân gây ra nạn cá chết hàng loạt, tàn phá và hủy hoại môi trường thiên nhiên và de dọa cuộc sống của hàng triệu ngư dân và những người sinh sống bằng dịch vụ du lịch.
Giữa khi ấy báo chí đưa tin, “Tổng bí thư kiểm tra tiến độ dự án Formosa”.[89] Nhiều người nghĩ rằng, vì vừa được tái cử TBT nên Nguyễn Phú Trọng đã nhạy cảm trước nỗi lo sợ và sự bất bình của nhân dân về thăm Hà tĩnh và khu công nghiệp gang thép Formosa để thúc đẩy cuộc điều tra về vụ cá chết hàng loạt. Nhưng thật là thất vọng và sai lầm lớn, ngày 22. 4 Nguyễn Phú Trọng cầm đầu phái đoàn cao cấp của đảng và chính phủ gồm Nguyễn Văn Bình, UVBCT, Trưởng Ban Kinh tế TU; Nguyễn Văn Nên, Bí thư TUĐ, Chánh Văn phòng TU và lãnh đạo nhiều Ban, Bộ, ngành TU về thăm Hà tĩnh. Ông giành toàn thời gian tới thăm khu công nghiệp gang thép và cảng nước sâu Sơn dương Formosa Hà tĩnh. Dự án này rất khổng lồ với mức đầu tư giai đoạn 1 lên tới 10,5 tỉ USD.[90] Ban giám đốc của FHS đã hoan hỉ báo cáo cho Nguyễn Phú Trọng biết, nhà máy sản xuất thép, nhiệt điện, cầu cảng đã bắt đầu hoạt động!
Ban giám đốc FHS còn hãnh diện báo cáo với ông Trọng, từ tháng 12. 2015 FHS đã cho ra lò sản phẩm thép cuộn cán nóng đầu tiên và đến nay đã có hơn 7.000 tấn thép cuộn được xuất ra thị trường trong và ngoài nước. “Dự kiến, tháng 6. 2016 sẽ hoàn thành và đưa vào hoạt động lò cao số 1. Khi đi vào hoạt động, đây sẽ là nhà máy luyện gang thép lớn nhất Đông Nam Á tính đến thời điểm hiện nay”.[91]Nguyễn Phú Trọng và phái đoàn cao cấp rất chăm chú và ngưỡng mộ thành quả kinh doanh của FHS. Trong dịp này tuyệt đối từ Nguyễn Phú Trọng tới các nhân vật cao cấp trong phái đoàn không ai đả động một câu hỏi nào với Ban giám đốc Formosa đến thảm khốc cá chết hoàng loạt đang bùng nổ từ đầu tháng 4 khởi đầu từ cảng Sơn dương thuộc khu công nghiệp Vũng Áng của FHS khiến cho nhân dân cả nước đang lo lắng và bất bình “Cá chết trắng biển miền Trung” ![92] Ông Trọng và phái đoàn cũng không đến thăm các nạn nhân! Tại sao người cầm đầu chế độ CS vẫn vỗ ngực là bảo vệ quyền lợi người lao động, nhưng lại chẳng thèm ngó tới thảm trạng của ngư dân, trong khi ấy lại khen ngợi và vuốt ve tỉ phú Dollar nước ngoài? Chả lẽ người đứng đầu chế độ toàn trị lại không biết thảm trạng môi trường ngay chính nơi ông tới thăm đã diễn ra từ hơn ba tuần?
Chỉ một ngày sau Đinh Thế Huynh, Thường trực BBT và khi đó được coi là kế nghiệp ông Trọng, cũng có mặt tại Quảng trị, không xa Hà tĩnh. Ông đã chỉ họp với lãnh đạo Quảng trị về tình hình kinh tế, xã hội, quốc phòng-an ninh và xây dựng đảng; bàn cả việc tôn tạo, nâng cấp Khu tưởng niệm Lê Duẩn. Ông còn giành thời gian đi thăm Nghĩa trang Trường sơn. Nhưng người đứng thứ hai trong đảng cũng tuyệt nhiên không thèm đả động tới thảm trạng “Cá chết trắng biển miền Trung” và cũng chẳng thèm tới thăm hỏi dân chài, những nạn nhân ở Quảng trị sinh sống ra làm sao từ khi xẩy ra đại nạn cá chết hàng loạt![93]
Ngày 17.4 giữa lúc tiếng than và nỗi bất bình của nhân dân về “Cá chết trắng biển miền Trung”, tân TT Nguyễn Xuân Phúc đã giành chọn ngày thăm Quảng trị, nhưng cũng không có thì giờ đi thăm các nạn nhân ngư dân đau buồn, chỉ giành toàn thời gian thăm Nghĩa trang Trường sơn, Nhà lưu niệm Lê Duẩn và Thành cổ Quảng trị.[94] Việc cố tình chọn những địa chỉ trên tới thăm viếng đã cho thấy ông Phúc vẫn chỉ muốn khơi dậy hận thù giữa các tầng lớp nhân dân mặc dầu đã sau 41 năm “chiến thắng”, thay vì “hòa giải dân tộc” như những lời ngon ngọt trước đây. Ông Phúc cũng cố quên lời khuyên chân thành và thực tế của cố TT Võ Văn Kiệt là, kỉ niệm ngày “giải phóng”“có hàng triệu người vui, nhưng cũng có hàng triệu người buồn”!
Trước nỗi bất bình và lo âu của nhân dân cả nước, vì đâu mà nạn cá chết diễn ra từ cảng Sơn dương của khu kinh tế Vũng áng thuộc Formosa suốt gần ba tuần mà vẫn không tìm ra được nguyên nhân; ngày 25.4 tờ Tuổi trẻ đã có cuộc phỏng vấn ông Chu Xuân Phàm, Trưởng văn phòng Formosa tại HN, về vụ cá chết hàng loạt bắt đầu từ bờ biển Khu công nghiệp Formosa. Ông Phàm đã trả lời thẳng băng:
“Trước khi xây dựng dự án này thì công ty phải xin phép Nhà nước VN. Nhiều khi được cái nọ mất cái kia, đây là tôi nói thật lòng. Hôm nay nhà nước mình muốn cho ngư dân đánh bắt ở đây hay là chọn cái nhà máy thép ở đây, đương nhiên Nhà nước phải có sự cân nhắc. Nếu xả thải thì đương nhiên sẽ thay đổi sinh học ở đây, ở vùng biển quanh đây. Nhưng bây giờ mà nói tôi không thể xây dựng nhà máy thép ở đây mà không ảnh hưởng đến con cá, con tôm. Đương nhiên mình cố gắng làm một nhà máy đạt được tiêu chuẩn quy định của nhà nước. Có khi được cái này thì phải mất cái kia chứ”. Rồi ông đưa ra kết luận rất tỉnh bơ và đầy thách thức, coi việc hàng triệu nhân dân miền Trung đang bị điêu đứng không đáng quan tâm bằng sự tồn tại của Formosa: “Muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi. Nếu chọn cả hai thì làm Thủ tướng cũng không giải quyết được…”[95]
Tại sao Trưởng văn phòng Formosa tại HN đã có những phát biểu rất phách lối, khiêu khích gây sốc như vậy khi trả lời phóng viên Tuổi trẻ vào sáng 25-4? Có phải chính thái độ rất thờ ơcủa TT, vô cảm trước hàng trăm ngàn nạn nhân của tai nạn cá chết hàng loạt; đặc biệt là sự ưu ái tới thăm Ban giám đốc Fomosa ngày 22.4 của Nguyễn Phú Trọng, người cầm đầu chế độ toàn trị, làm họ tin rằng, họ có chỗ chống lưng rất vững chắc, không chỉ ở HN mà còn cả BK nên chẳng ai có thể làm gì Formosa được?
Từ sau trận đánh ngã “Đồng chí X” ông Trọng đang trở thành người hùng nên ai cũng sợ? Vì thế không thèm nhắc tới đại nạn “Cá chết trắng biển miền Trung”, lại đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc Formosa. Thử hỏi như thế thì bọn quan cấp dưới bố bảo không dám nêu đích danh Formosa ra tố. Chính vì thế, Vụ phó Vụ Nuôi trồng thủy sản, bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Phạm Khánh Ly cho biết, “đoàn công tác không vào kiểm tra tại khu công nghiệp Vũng áng được, vì đây là khu công nghiệp có yếu tố nước ngoài, đoàn không có thẩm quyền”.[96] Như vậy Ban giám đốc Formosa đã coi khu công nghiệp của mình giống như sứ quán của một nước bất khả xâm phạm.[97] Họ cho ai vào, làm gì, làm đến đâu trong các công xưởng của họ là quyền riêng của họ. Các cơ quan điều tra của VN nếu có vào cũng chỉ làm những gì họ cho phép mà thôi!Chính vì thế Formosa đã dám nói công khai, “không có bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ sự liên can” của công ty trong vụ việc này, và giới chức VN đã “liên tục vào bên trong công xưởng tiến hành kiểm tra hệ thống xử lý nước thải, lấy mẫu nước thải” kể từ 22.4 tới nay, tức là sau chuyến thăm của Nguyễn Phú Trọng!
Chính vì vậy chỉ một ngày sau khi Nguyễn Phú Trọng thăm Formosa, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám cũng nói giống như tin trên đây của Ban giám đốc Formosa. Ông cho biết về kết quả kiểm tra bước đầu, nguyên nhân do môi trường nước, qua phân tích mẫu những chỉ số thì không có gì bất thường trừ một số mẫu ở Huế mang tính cục bộ.[98] Tuyên bố này hoàn toàn ngược lại với nhận định của Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn Hà tĩnh vào đầu tháng 4 cho biết, “hiện tượng cá nuôi ven biển và cá tự nhiên chết bất thường xuất hiện từ ngày 6.4 tại vùng ven biển xã Kỳ lợi và tại xã Kỳ hà, Kỳ ninh (thị xá Kỳ anh) vào ngày 7.4”. Và cũng trái với sự xác nhận của Phó phòng Kinh tế và đô thị (Kỳ anh) Nguyễn Thị Thủy “địa bàn xã Kỳ Lợi xuất hiện cá chết đầu tiên nằm cách cảng Sơn Dương của khu kinh tế Vũng Áng khoảng 4 – 5 km, còn các xã Kỳ ninh, Kỳ hà cách Vũng áng khoảng 20 km về phía bắc thì tôm, cá chết sau đó một ngày” -như nói ở trên!
Lí do quan trọng khác khiến đại diện Formosa tại HN dám phát biểu khiêu khích “gây sốc” ngày 25.4 là có lẽ họ tin rằng, có cả BK đứng đằng sau. Formosa Hà tĩnh tuy là công ti Đài loan, nhưng trong những năm gần đây tuyển chọn công nhân nước ngoài phần rất lớn là từ TQ. Ngoài ra vốn đầu tư của Formosa mẹ từ Đài loan đang giảm mạnh và nhường cho một số công ti từ TQ. Khi giàn khoan HD 981 xâm nhập trái phép thềm lục địa VN vào giữa 2014 đã xẩy ra va chạm lớn khiến hàng ngàn công nhân TQ đã phải bỏ về nước, nhưng sau đó Nguyễn Phú Trọng đã phải xin lỗi Tập Cận Bình và số công nhân này lại trở lại Formosa làm việc (xem Chương bẩy, IV). Về mặt an ninh quốc phòng, khu vực Vũng áng Hà tĩnh nằm đối diện không xa đảo Hải nam của TQ. Trong kế hoạch bành trướng công khai ngang ngược của BK trên biển Đông thì khu công nghiệp Vũng áng Formosa có thể trở thành tay trong cực kỳ quan trọng khi tình thế cho phép BK ra tay!
Sau phát ngôn gây chấn động, Chu Xuân Phàm đã bị Formosa sa thải để làm dịu dư luận. Nhưng nội dung lời phát biểu của cựu đại diện Formosa đã tự để lộ những hoạt động của công ti này không thèm đếm xỉa gì tới luật pháp VN, vì tin rằng đã có chân trong ủng hộ đang giữ những chức cao nhất. Dùng sức mạnh tiền bạc nhiều tỉ USD trong vài năm vừa qua Formosa có thái độ phách lối và cách hoạt động như kiểu quốc gia trong một quốc gia: “Nếu xả thải thì đương nhiên sẽ thay đổi sinh học ở đây, ở vùng biển quanh đây”, “có khi được cái này thì phải mất cái kia chứ”, “muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi!” Rõ ràng với tuyên bố trên Formosa đã gián tiếp thừa nhận, thời gian qua Formosa đã xả nước thải với những hóa chất có chất độc cực mạnh làm tàn phá môi sinh trên biển.
Theo tờ Tuổi trẻ thì Tổng cục môi trường xác nhận là, “Formosa có vi phạm khi thực hiện việc súc xả đường ống nhưng không thông báo cho địa phương”. Ngày 25.4 báo này còn liệt kê 45 loại hóa chất Formosa nhập cảng để súc rửa đường ống. Vẫn theo Tuổi trẻ, “GS,TS Lê Huy Bá (chuyên gia độc học môi trường) cho biết nhận định ban đầu của ông về danh sách các loại hóa chất được sử dụng tại Formosa gồm nhiều chất độc và cực độc. Trong đó có các chất chống gỉ, chất làm sạch bề mặt kim loại, chất tẩy”. “Theo quy định, khi súc xả đường ống, Formosa có trách nhiệm phải thông báo cho địa phương việc súc xả đường ống diễn ra từ thời điểm nào tới thời điểm nào, nhưng Formosa không thông báo, cũng không báo cáo các cơ quan ở địa phương về việc súc rửa đường ống”.[99] Tờ VNNet còn cho biết, “1 thợ lặn Formosa tử vong, 5 người nhập viện” khi lặn xuống biển nơi đường ống của Formosa dẫn ra.[100] Tập đoàn Formosa xuất thân từ Đài loan với vốn đầu tư nhiều tỉ USD cũng đã từng vi phạm pháp luật ở nhiều nơi trên thế giới. Ngay ở Đài loan Tập đoàn này cũng đã bị phạt vì gây thiệt hại môi trường. “Chẳng hạn hồi tháng 7.2010, Formosa bị cho là “gây ô nhiễm không khí vùng miền Trung Đài loan” sau một vụ cháy công nghiệp tại nhà máy ở Mai Liao của họ”.[101]
***
Trong khi nhiều cơ quan chính quyền địa phương ngay trong những ngày đầu đã đưa ra những nhận định khá rõ ràng về nguyên nhân đưa đến đại nạn làm cá chết hàng loạt, nhưng suốt trên ba tuần nhiều bộ trưởng, thứ trưởng không chỉ trốn tránh không thực hiện trách nhiệm điều tra nghiêm túc và minh bạch, lại còn tìm cách bao che cho Formosa, hoặc đưa ra những tin và lập luận rất mâu thuẫn nhau, thậm chí cực kỳ ngớ ngẩn. Ba tuần sau đến lượt cá biển ở khu Bình trị thiên-Huế bị chết, tờ Công an nhân dân ngày 26.4 đưa tít “Nước biển vùng cá chết được xác định nhiễm kim loại nặng”: “Chiều 26-4, Sở Tài nguyên&Môi trường tỉnh Thừa thiên- Huế đã có kết quả phân tích mẫu nước lấy tại khu vực đầm Lập an, cửa biển Lăng cô (thị trấn Lăng cô, huyện Phú lộc) vào thời điểm xuất hiện cá chết tràn lan…Riêng các thông số gồm tổng hàm lượng nitơ tính theo amoni (NH4+-N), hàm lượng kim loại nặng crôm (Cr) vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển cũng như quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặn. Theo đánh giá ban đầu của cơ quan chức năng tỉnh Thừa thiên- Huế, khả năng chất độc trong môi trường nước gây sự cố cá chết hàng loạt xuất hiện từ vùng biển phía Bắc của tỉnh”.[102]
Nhưng trong cuộc họp báo tối 27.4 thứ trưởng bộ Thiên nhiên và môi trường Võ Tuấn Nhân đã làm trên 200 nhà báo lề phải vừa thất vọng, vừa rất bất bình về thái độ vô trách nhiệm và lấp liếm. Sau cuộc họp kín nhiều tiếng đồng hồ của đại diện nhiều bộ và cơ quan do bộ trưởng Bộ Tài nguyên-môi trường Trần Hồng Hà chủ trì, khiến các nhà báo phải chờ đợi đến cả nửa ngày. Nhưng cuối cùng Trần Hồng Hà đã đẩy thứ trưởng Tài nguyên&Môi trường Võ Tuấn Nhân mở “Buổi họp báo chỉ diễn ra trong 6 phút”. Trong đó ông khẳng định “Formosa vô can”. [103] Sau khi đưa ra 2 giả thuyết về nguyên nhân làm cá biển chết hàng loạt (hóa chất độc và “hiện tượng thủy triều đỏ”), ông Nhân khẳng định: “Đến nay, qua kiểm tra và thu thập chứng cứ, chưa có bằng chứng để kết luận về mối quan hệ liên quan của Formosa và các nhà máy đến vấn đề cá chết hàng loạt. Qua số liệu quan trắc và đánh giá của cả các cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, môi trường nước biển chưa phát hiện các thông số môi trường vượt quy chuẩn quy định”.[104] Sau đó ông Nhân chuồn mất!
Trong cuộc gặp riêng Võ Tuấn Nhân, tờ Thanh niên đã tường thuật câu hỏi và trả lời của Thứ trưởng này bảo vệ cho Formosa thật là kì lạ:
“ Thưa ông, trong 2 nhóm nguyên nhân thì nhóm thứ nhất nói có thể do độc tố thải ra từ hoạt động của con người, vậy cụ thể độc tố là gì? Có độc tố nào trùng với hơn 40 loại hóa chất mà Formosa được phép nhập khẩu vào VN để súc rửa đường ống không ?
– Chúng tôi chưa phát hiện ra…- Tôi xin khẳng định, về mặt pháp luật, họ vẫn hoạt động đúng theo pháp luật nước ta. Về mặt xả ra môi trường, liên quan đến hiện tượng cá chết hàng loạt ở các tỉnh ven biển miền Trung, đến nay chưa đủ căn cứ để kết luận.
Ông có thể cho biết kết quả phân tích mẫu nước và mẫu cá của Bộ?
– Cái này nói ra phải có căn cứ giấy tờ cụ thể, rất dài, rất nhiều thông số”.[105]
Trong khi giữ thái độ câm và điếc không thông tin chính xác và nguội lạnh trước những bức xúc của nhân dân cả nước, nhưng Võ Tuấn Nhân lại rất thính tai và năng động trước câu hỏi của một nữ phóng viên về tin không tốt cho chế độ, về nguy cơ ngành du lịch có thể bị tê liệt và yêu cầu bà tắt máy ghi âm. Bà hỏi:
“Thưa ông, trong cái kiểm nghiệm gần đây nhất của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa thiên – Huế, chỗ có một loạt các bè cá chết, thì họ có nói trong nước kiểm nghiệm ra có kim loại nặng. Vấn đề ở đây là trong thời gian tới, chúng tôi muốn là mình có thể trong một thời gian ngắn, vì mùa du lịch sắp tới rồi, mà cá thì…”
“Nghe tới đây, ông Võ Tuấn Nhân liền khoát tay ra hiệu dừng lại và nói: “Tắt máy. Tắt máy nghe. Xin lỗi. Không, không, để anh nói riêng với em. Đừng hỏi câu đó. Hỏi câu đó tổn hại cho đất nước của mình. Nhá. Em hỏi câu đó làm tổn hại cho đất nước của mình”.[106]
Không chỉ trên 200 nhà báo lề phải hoàn toàn thất vọng về “cuộc họp báo 6 phút” của thứ trưởng Tài nguyên&Môi trường Võ Tuấn Nhân mà nhiều nhà khoa học cũng đã kịch liệt chỉ trích những lời tuyên bố rất lếu láo của ông. GS-TS Vũ Trọng Hồng, nguyên thứ trưởng Bộ Thủy lợi, nói thẳng: “bộ Tài nguyên-Môi trường là cơ quan chức năng được nhà nước giao nhiệm vụ, nhưng kết luận như vậy là không hợp logic diễn biến của vụ việc”.
Nhưng ngày hôm sau trong cuộc họp nội các giả thuyết “thủy triều đỏ” bị bác bỏ. Có lẽ trước sự bất bình ngày càng mãnh liệt của nhân dân về cuộc “Họp báo 6 phút” tối trước, nên TT Nguyễn Xuân Phúc đã vội vàng để bộ trưởng Tài nguyên&Môi trường Trần Hồng Hà phải bay ra Hà tĩnh ngày 28.4 thị sát viêc xả thải của Formosa để nhằm xoa dịu dư luận. Tại đây Trần Hồng Hà đã tuyên bố, “pháp luật VN không chấp nhận việc đặt ống ngầm xả thải”. Như thế ông đã phủ nhận lời của người dưới quyền ông là Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân chỉ vài ngày trước. Ngoài ra ông Hà còn nhận khuyết điểm để cuộc điều tra chậm chạp…[107]
***
Tại sao mới chỉ vài năm trước Nguyễn Phú Trọng đã trách móc và rao giảng “đạo đức cách mạng” tại Hội nghị Cán bộ toàn quốc với sự tham dự của trên 1000 cán bộ cao cấp ngày 27.2.12: “ Bây giờ trong Đảng cũng có sự phân hóa giàu – nghèo, có những người giàu lên rất nhanh, cuộc sống cách xa người lao động; liệu rồi người giàu có nghĩ giống người nghèo không? “ và “ người sống trong lâu đài nghĩ khác người ở trong nhà tranh”., “mai kia Đảng này sẽ là đảng của ai?”[108]
Nhưng chỉ trong vài năm ngồi trong lâu đài quyền lực và hưởng thịt, cá loại ngon, sạch không phải trả tiền, nên lòng Nguyễn Phú Trọng đã nguội lạnh, vô cảm trước ngư dân thất nghiệp chịu cảnh đói rách vì thảm họa cá biển và nhân dân nhiều nơi có thể bị ăn cá và mắm độc. Chẳng những thế ông vẫn đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc tỉ phú Dollar Formosa Hà tĩnh và khen ngợi cách làm ăn của họ, chẳng thèm đoái hoài tới tiếng than ngất trời của dân lành, mặc dầu gần một tháng vẫn không có cơ quan nào của đảng lẫn nhà nước tìm ra nguyên nhân cá chết hàng loạt!
Trong một xã hội pháp trị theo Dân chủ đa nguyên thì khi một cá nhân, tổ chức hay xí nghiệp đang bị điều tra, người có trách nhiệm trong nhà nước không được phép có những hành động gây cản trở hoặc can thiệp công cuộc điều tra. Trong vụ cá chết hàng loạt ở duyên hải nhiều tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4 và tập đoàn Formosa đang trở thành đối tượng điều tra của các cơ quan có thẩm quyền. Nhưng người cầm đầu chế độ là TBT Nguyễn Phú Trọng đã cố tình lại thăm và gặp Ban giám đốc Formosa ngày 22.4 và còn khen ngợi thành quả kinh doanh của công ti Đài loan này. Như thế Nguyễn Phú Trọng đã lợi dụng uy quyền riêng để cản trở, làm đình hoãn cuộc điều tra và còn tạo cơ hội để Formosa xóa sạch các tang chứng !
Trong dịp này nhiều tổ chức, nhân sĩ và chuyên viên đã công khai lên tiếng:
“Đây là một tệ nạn chính trị hết sức kinh tởm. Vụ Formosa bộc lộ rõ ràng thói vô cảm và vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CS đối với lợi ích quốc gia, cuộc sống dân lành. Nó cũng cho thấy sự bất lực và chậm chạp của cả một hệ thống quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trước một quốc nạn có tầm mức to lớn chưa từng thấy. Sự chậm trễ ấy đã tạo điều kiện cho nghi can kịp xoá hết dấu tích tội lỗi. Nó cũng hé lộ nhiều thế lực bao bọc nghi can, che giấu sự thật, đánh lừa dư luận qua những phát ngôn đầy hàm ý hay cố mập mờ của một số quan chức cấp bộ lẫn tỉnh và nhất là qua hành vi ủy lạo tinh thần hà hơi tiếp sức của người đứng đầu đảng Cộng sản đối với tập đoàn Formosa đầy thành tích bất hảo”.[109]
Những ngày Chủ nhật trong tháng 5 nhân dân các giới -đi đầu là trí thức, thanh niên và đảng viên tiến bộ- đã xuống đường ở HN, Sài gòn và nhiều nơi khác đòi “Trả lại biển xanh cho chúng tôi, chúng tôi chọn tôm cá”. Mọi người đang đồng thanh đòi:
– Nhân dân muốn biết rõ nhanh và công khai thủ phạm đã gây ra thảm trạng cá chết hàng loạt. Phải chấm dứt ngay những nguyên nhân gây ra thảm họa môi trường!
– Bồi thường thiệt hại cho ngư dân và các cơ sở du lịch!
– Công khai các cơ quan và cá nhân nào đã cố tình làm chậm, làm sai, đánh lạc dư luận và phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhân dân!
***
Sau thảm trạng môi trường 4 tỉnh miền Trung ba tháng, nhưng tại HNTU 3 vào đầu tháng 7.2016 trong suốt 5 ngày họp đã không có nói tới chủ đề cực kỳ nóng bỏng này.Mặc dầu đây là thảm họa môi trường lớn nhất ở VN, gây thiệt hại sức khỏe, tài sản và môi trường sống trực tiếp cho hàng triệu người dân bốn tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị và Thừa thiên-Huế; đồng thời còn tạo những nguy hại lâu dài về nhiều mặt cho nhân dân cả nước. HNTU này diễn ra sau khi Ban giám đốc Formosa công khai xin lỗi trong cuộc họp báo ngày 30.6. và nhận bồi thường 11.500 tỉ đồng, tương đương 500 triệu USD.[110]Nhưng ở đây Formosa không chỉ là thủ phạm duy nhất, vì nhiều cơ quan Đảng và Nhà nước đã cấp giấy phép đầu tư, hoạt động và kiểm soát công ti Formosa cũng đều là thủ phạm. Vì chính các cơ quan này đã lơ là và vô trách nhiệm trong các lãnh vực phụ trách, nên đã để cho Formosa làm ăn như một vua con trong vùng. Trong cuộc họp báo ngày 30.6 các Bộ trưởng đã cố tình tránh né không làm rõ cơ quan và người phải chịu trách nhiệm.[111]
Trong khi ấy các cuộc biểu tình của nhiều giới vào ba cuối tuần từ đầu tháng 5.16 với các khẩu hiệu “Cá cần nước sạch”, “Nước cần minh bạch” đã bị công an mật vụ chế độ toàn trị ngăn cấm, đàn áp và chụp mũ.Trong cuộc họp báo ngày 30.6 lần đầu tiên các quan chức hiện diện xác nhận, Formosa là thủ phạm gây ra thảm trạng môi trường ở miền Trung; nhưng cùng lúc họ lại vẫn kết án gay gắt những cuộc biểu tình của nhân dân đòi Formosa phải sớm công khai minh bạch về nguyên nhân dẫn tởi thảm trạng môi trường. Dịp này Trương Minh Tuấn, Bộ tưởng 4 T vẫn chụp mũ: “Tôi cũng nói thẳng rằng, có thế lực thù địch đã lợi dụng tình trạng cá chết này để công kích sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thậm chí kích động để gây mất trật tự công cộng, gây bất an trong nhân dân”.[112]
Mãi hơn nửa năm sau thảm trạng môi trường 4 tỉnh miền Trung, ngày 17.10.16 trước các “đại biểu cử tri” tại Ba đình, Hoàn kiếm, tức những đảng viên ngoan ngoãn chỉ biết xu nịnh và bốc thơm, Nguyễn Phú Trọng đã không sợ bị chất vấn nên đã bộc lộ:
“Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu, nên bây giờ chúng ta phải trả giá”.[113]
Lời xác nhận trên của người cầm đầu chế độ toàn trị đã nhìn nhận cung cách suy nghĩ, quyết định và hành động công việc nước theo lối ăn xổi ở thì, bóc ngắn cắn dài, xuất phát từ bệnh kiêu ngạo quyền lực, không cần nghe ý kiến của các chuyên viên cũng như nhân dân. Lời xác nhận này có khác nào như người chủ nhà đã xây nhà mà không xây cầu tiêu, không lập hệ thống dẫn nước thải! Xây nhà máy sản xuất thép không tính tới chất thải độc hại! Xây hàng trăm đập thủy điện không tính tới việc đồng ruộng mất nước, nhân dân thiếu nước sinh hoạt, nhưng khi mưa lũ lại trở thành đại họa cho nhân dân! Bất kể tới lời can ngăn của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhiều tướng lãnh và chuyên viên những người cầm đầu chế độ toàn trị đã cho BK xây các nhà máy khai thác Bauxit ở Tây nguyên từ năm 2009 bất kể tới hậu quả môi trường và an ninh quốc phòng! Nay tới Formosa!
Đây là sự thông minh hay chính là sự ngu dốt và thái độ kiêu ngạo quyền lực của Nguyễn Phú Trọng và các đại quan đỏ trong BCT?Chính Phạm Văn Đồng, TT đầu tiên và lâu đời nhất của chế độ toàn trị đã phải nhìn nhận là, sự ngu dốt và thái độ kiêu ngạo quyền lực của những người cầm đầu đã gây ra những hậu quả thảm khốc cho nhân dân trong giai đoạn đó.
Tình trạng này hiện nay còn tệ hại hơn, ngay Nguyễn Phú Trọng đã phải nhìn nhận!Ông Trọng còn nói “bây giờ chúng ta phải trả giá”. Nhưng “chúng ta” ở đây là ai? Có phải Nguyễn Phú Trọng và các đại quan trong BCT và TUĐ đang sống vương giả và ngồi trong những biệt thự an toàn ? Chính thái độ ăn xổi ở thì và bệnh kiêu ngạo quyền lực của họ đã dẫn tới công ti Formosa gây thảm họa môi trường cho bao nhiêu triệu nhân dân bốn tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4. 2016 và đang phải hứng chịu cảnh thất nghiệp, bệnh tật và đói nghèo. Họ chia sẻ sự cơ hàn với nhân dân như thế nào?
Khi thảm họa môi trường do Formosa gây ra sau mấy tuần hàng triệu nhân dân điêu đứng lo âu, nhưng TT Nguyễn Xuân Phúc, Thường trực BBT Đinh Thế Huynh khi đi qua những vùng này vẫn ngoảnh mặt làm thinh; còn người cầm đầu chế độ toàn trị Nguyễn Phú Trọng lại đủng đỉnh tới thăm hỏi và khen ngợi Ban giám đốc Formosa và chẳng thèm màng tới nạn nhân của Formosa! Còn Chủ tịch nước Trần Đại Quang thì trước sau vẫn im thin thít. Trong buổi QH khai mạc Kì họp thứ 2 ngày 20.10.16 Ủy viên BCT, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) -cánh tay dài của ĐCS- Nguyễn Thiện Nhân cho biết, “đến nay vẫn chưa có cơ quan, tổ chức và cá nhân nào trong hệ thống quản lý Nhà nước có liên quan đứng ra nhận lỗi và chịu trách nhiệm”.[114] Mặc dầu Nguyễn Xuân Phúc vẫn lớn tiếng là “Chính phủ phục vụ”! Rõ ràng là thái độ cao ngạo quyền lực từ cấp lãnh đạo trở xuống!
Nếu tứ trụ Nguyễn Phú Trọng, Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Phúc và Nguyễn Thị Kim Ngân thực tình nghiêm túc với chính mình, khi đối chiếu với những tiêu chuẩn cao vòi vọi để chọn lựa cán bộ cao cấp mà chính họ đã đưa ra trong HNTU 11 (5.15) thì chính họ phải thấy hết sức rõ ràng là, họ đã hoàn toàn vô trách nhiệm trước thảm họa môi trường do Formosa gây ra!
“Kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu!” Lời nhìn nhận trên của TBT Nguyễn Phú Trọng có tầm quan trọng đặc biệt. Nó bạch hóa lối suy nghĩ cực kỳ thiển cận và phong thái hành động vô trách nhiệm của những người có quyền lực cao nhất trong chế độ toàn trị khi quyết định mời gọi các công ti nước ngoài đầu tư vào VN. Đây là những quyết định ở cấp cao nhất là BCT và BBT và được sự cố vấn của các Ban trong đảng và các Bộ trong CP. Các quyết định liên quan tới chương trình FDI nói chung, đặc biệt các công trình FDI có vốn đầu tư cao mang tầm vóc chiến lược, không chỉ có ý nghĩa thuần kinh tế, mà nó còn liên hệ trực tiếp tới nhiều lãnhvực chính trị, an ninh-quốc phòng, kĩ thuật, môi trường và sức khỏe của nhân dân.
Nhưng khi để Formosa đầu tư cả chục tỉ USD vào VN, Bộ chính trị đã quyết định theo tiêu chuẩn nào? Nguyễn Phú Trọng đã trả lời: “Kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu”.Như vậy là các tỉ Dollar đã làm họ chóa mắt, nên đã vội vàng nhắm mắt bỏ qua các yếu tố cực kỳ quan trọng khác là an ninh-quốc phòng, kĩ thuật, môi trường và sức khỏe của nhân dân. Như vậy khi quyết định mời Formosa vào đầu tư, những người có quyền lực trong BCT đã đặt sự tồn tại của chế độ và cái ghế của chính họ, ích kỉ cá nhân lên hàng đầu. Chỉ mong càng có nhiều Dollar vào càng nhanh càng tốt!Chương trình FDI là một chủ trương rất lớn được đề cao trong các ĐH đảng, nhưng trong thực hành thì BCT đã vô trách nhiệm cùng cực, hoàn toàn không có một kế hoạch đúng đắn và khoa học để tạo những lợi ích thực sự cho đất nước và tránh những hậu quả tai hại cho nhân dân. Chính điều này người cầm đầu chế độ toàn trị Nguyễn Phú Trọng đã công khai xác nhận như trên!
Nay trong khi hàng triệu người dân phải hứng chịu hậu quả do thảm họa môi trường, phải trả giá bằng thất nghiệp, bệnh tật mà nguyên do từ những quyết định sai lầm và thái độ cực kỳ vô trách nhiệm của BCT, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng. Nhưng khi nhân dân đòi những người có quyền lực đã tiếp tay gây ra thảm họa môi trường phải có những chính sách đền bù thích đáng và biện pháp nghiêm khắc với Formosa, thì bọn quan độc ác này đã không biết ăn năn, không chịu xin lỗi, lại còn cho báo chí và chính quyền địa phương chụp mũ xuyên tạc, cho công an ngăn cản và đe dọa “không bảo đảm an ninh cho người đi khiếu kiện”[115]Chẳng những thế Nguyễn Phú Trọng còn để công an giam giữ và tòa án nhân dân bỏ tù nhiều người đi biểu tình! Họ phục vụ đất nước, bảo vệ quyền lợi nhân dân, hay đã tự chuyển biến xấu chỉ lo phục vụ quyền lợi riêng cho chính mình, nên đã sẵn sàng bảo vệ các nhà đại tư bản nước ngoài? Nếu còn lương tâm có lẽ ông Trọng nên đọc bài thơ của cô giáo Trần Thi Lam ở Hà Tĩnh đã sáng tác vào dịp này:“Đất nước mình ngộ quá phải không anh?”
Chỉ trong 20 câu thơ không chỉ trách móc những người có trách nhiệm với đất nước đã làm cho nhân dân phải đói khổ, nhục nhằn, môi trường bị tàn phá, còn bị khinh rẻ và đàn áp. Bài thơ còn nhắc nhở mỗi cá nhân, trước những nguy vong của đất nước phải can đảm cùng nhau gánh vác trách nhiệm làm thay đổi tình hình. Bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” là lời gọi rất chân thành và thúc giục mọi người, mọi giới hãy can đảm cùng nhau lên đường làm nhiệm vụ của người công dân VN là làm lại lịch sử, đưa dân tộc ta tới quang vinh trong Thế kỉ 21!
Mô hình phát triển theo “Kinh tế Thị trường
định hướng Xã hội chủ nghĩa”
Kết quả thực tiễn: Doanh nghiệp Nhà nước thua lỗ, lãng phí nguồn ODA, bùng nổ nợ công, tham nhũng và lợi ích nhóm
Trong suốt thời kì từ 1986 tuy đề cao là “đổi mới” trong kinh tế, nhưng sợi chỉ đỏ trong các lãnh vực công nghiệp trước sau vẫn là DNNN. Trước đây thường được gọi là Quốc doanh. Nay vì tình thế bất đắc dĩ nên phải nhìn nhận sự hiện diện của các loại kinh tế tư nhân VN và FDI; tuy nhiên trước sau hệ thống DNNN được xếp vào thành phần tối ưu và giữ trọng trách “chủ đạo”, tức là làm nền tảng cho các hoạt động kinh tế. Chính sách này có thể ví như một con bạch tuộc. Trong thời hùng mạnh nó vươn các chân tới mọi hang cùng ngõ hẻm, nay yếu sức nên phải rút chân ra một số nơi, nhưng vẫn quyết bám chặt ở những địa bàn hiểm yếu. Cách thay đổi nhỏ giọt và trong điều kiện ngặt nghèo như thế thể hiện tư duy và tâm lí vẫn như cũ của một số người có quyền lực liên quan tới các hoạt động kinh tế. Ở đây là chủ nghĩa Marx đầy thành kiến đối với các sinh hoạt kinh tế của tư nhân, đặc biệt thành phần tư bản. Ở đây cũng là tuân thủ tư tưởng giành và giữ quyền lực độc quyền cho ĐCS của Lenin đã thực hiện ở Nga và Liên Xô cũ trước đây và được HCM vận dụng vô điều kiện trong việc cướp và giữ chính quyền độc quyền cho ĐCS từ 1945. Điều này phản ảnh tâm lí không tin dân và không dám nhìn nhận những thành công không thể chối cãi của nhiều quốc gia đã từ bỏ các DNNN và trao lại các hoạt động kinh tế cho nhân dân.
Căn cứ vào các Nghị quyết của các ĐH và các Luật về DNNN, hệ thống DNNN có nhiệm vụ vừa hướng dẫn vừa kiểm soát toàn bộ sinh hoạt kinh tế và trực tiếp dưới quyền lãnh đạo của ĐCS, trong thực tế là BCT và BBT. Các bộ và cơ quan của CP có nhiệm vụ thi hành các quyết định của BCT trong các DNNN. Nhờ vậy, hệ thống DNNN giữ vai trò như một bộ máy tuần hoàn trong cơ thể truyền dinh dưỡng, dưỡng khí và máu cho các bộ phận. Nó còn giữ nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là định hướng và kiểm soát nền kinh tế trong cái khung của một chế độ toàn trị. Muốn như vậy thì hệ thống DNNN phải nắm các động mạch chính của nền kinh tế-tài chánh. Như hệ thống ngân hàng, các lãnh vực công nghiệp liên quan tới quốc phòng, an ninh như truyền thông (báo chí, điện thoại…), chế tạo vũ khí, khai thác quặng mỏ, dầu khí, xây dựng các hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống, phi trường, hải cảng và các trung tâm điều phối nông, lâm, thủy sản…
Mục tiêu và quan điểm này đã được trình bày trong nhiều ĐH từ 1986. Nó thể hiện rõ hơn trong ĐH 8 (1996) khi họ đưa ra chủ trương đầy tham vọng là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa với kinh tế tri thức để “đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. [116]Đặc biệt nó được định nghĩa và xác định lãnh vực hoạt động rất rõ ràng trong Báo cáo Chính trị tại ĐH 9 (2001):
“Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật”.[117]
Những người cầm đầu Đảng khi ấy đã đưa ra tham vọng rất cao là, KTNN không chỉ giữ “chủ đạo” trong việc tạo mặt vật chất làm phương tiện thiết yếu để bảo vệ chế độ; cả về mặt chất lượng và đạo đức nghề nghiệp, các DNNN còn là những đơn vị kinh tế có trình độ công nghệ kĩ thuật hàng đầu, năng suất lao động cao và tạo ra được những sản phẩm có chất lượng tốt. Không những thế, vẫn theo tham vọng của họ, sự hoạt động của các DNNN không chỉ đem lại sự phồn vinh cho xã hội mà còn làm gương mẫu trong việc “chấp hành pháp luật”!Họ đã vẽ ra một bức tranh tuyệt vời về Kinh tế Nhà nước (KTNN) xuyên qua các DNNN! Khi nuôi tham vọng cực kỳ cao này họ đã ngủ mơ, nhưng cũng có thể họ đã quá tự tin theo tâm lí kiêu ngạo CS, bất kể các qui luật khoa học và bất chấp cả những kinh nghiệm thất bại từ các mô hình Nhà nước làm kinh tế trong thời kì trước đây ở VN cũng như ở nhiều nước CS trước đây.
Để thực hiện giấc mộng kê vàng này, trong ĐH 9 họ quyết định thành lập các Tập đoàn kinh tế từ sự sát nhập các Tổng công ti và công ti DNNN:
“Trong 5 năm tới, cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp nhà nước hiện có, đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp mà Nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế”.[118]
Mô hình Tập đoàn kinh tế bắt chước các Cheabol của Nam Hàn. Có lẽ ý tưởng này được thành hình sau các cuộc đi thăm Nam Hàn của nhiều chính trị gia cấp cao của đảng, đặc biệt là Đỗ Mười vào năm 1995. Sự phát triển nhanh chóng và cức mạnh của nhiều Cheabol Nam Hàn đã gây cho họ những ấn tượng mạnh. Vì thế họ cũng muốn thành lập một số Tập đoàn kinh tế như những “quả đấm thép” trong kinh tế. Chủ trương này dựa trên Luật DNNN năm 2003. [119]Theo Điều 9 của Luật này, việc thành lập các Tập đoàn và Tổng công ti cũng như bổ nhiệm các Ban quản trị các DNNN thuộc quyền TT và các Bộ. Như thế các cơ quan CP như một cơ quan tổng chỉ huy KTNN, đặt trực tiếp dưới quyền TT. Đấy là mặt tổ chức nhân sự.
Chế độ toàn trị còn giành những ưu đãi đặc biệt cho DNNN cả về vốn tư bản, đất đai và các tài nguyên. Các DNNN được sửdụng ngân sách quốc gia, được vay tiền của các ngân hàng với lãi suất rất thấp, có quyền phát hành (bán) trái phiếu ở trong và ngoài nước với sự bảo lãnh của Nhà nước, không phải trả tiền đất để xây các xí nghiệp, được hưởng ưu đãi quan thuế trong việc xuất nhập khẩu sản phẩm, chỉ phải đóng thuế mức rất thấp so với các doanh nghiệp tư. Quan trọng khác nữa, các DNNN được độc quyền sử dụng các nguồn vốn ODA, tổng số lên tới 78 tỉ USD trong gần ba thập niên qua.
Với việc hưởng các ưu đãi và độc quyền đó, có thể ví các DNNN như những đứa con cưng của một tỉ phú, vừa có tiền bạc lại đầy quyền lực, được nuông chiều đủ thứ, lại còn được bảo vệ không ai dám đụng chạm tới, kể cả pháp luật! Các cậu công tử này đâu cần phải học hành, đâu cần phải lao động, chỉ việc ngồi mát ăn bát vàng! Đây không phải là chuyện giả tưởng hay bức tranh siêu thực, nhưng lại là một sự thực 100% suốt mấy thập kỉ ở VN dưới chế độ toàn trị!
Độc quyền trong chính trị đã tác hại nguy hiểm như thế nào ở nhiều nước. Độc quyền cả chính trị lẫn kinh tế còn gây thiệt hại khủng kiếp hơn nữa cho người dân. Hình ảnh kinh tế kiệt quệ, nhân dân sống trong nghèo khổ, trong khi cán bộ trung và cao cấp hưởng giầu sang và tham nhũng ở cựu Liên Xô và Đông Âu cho tới cuối thập niên 80 không ai có thể quên được.
Tại VN sự độc quyền của các DNNN đã tiêu giệt yếu tố cạnh tranh, khiến toàn bộ kinh tế không thể vươn lên được. Vì cạnh tranh lành mạnh là yếu tố tối cần thiết để thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế tiến lên, đồng thời bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Nhưng ở VN trong khi các doanh nghiệp tư bị chèn ép thì các DNNN ngồi chơi xơi nước, lãng phí tiền bạc, tài nguyên và thời gian! Vào cuối 2013 các tập đoàn và tổng công ti nhà nước chiếm thị phần áp đảo trong toàn bộ kinh tế. Như Tập đoàn Điện (bao gồm EVN và PVN) chiếm 80% thị phần, Tập đoàn Than và khoáng sản 98%, Tập đoàn Dầu khí 100%, Tập đoàn vận tải đường sắt (100%), Tổng công ti hàng không VN (61,4%), Tập đoàn viễn thông (gồm VNPT và Viettel) (81,5%).[120]
Số liệu tài chính tổng hợp của các Tập đoàn và Tổng công ti Nhà nước
Nguồn: Bộ Tài chính (dẫn tại Matheson, 2013, tr. 7; Thời báo VN, 2014)
Dưới những điều kiện của chế độ toàn trị, mọi quyết định từ chính trị, kinh tế, pháp luật tới văn hóa xã hội chỉ là quyết định của một số người có quyền lực trong BCT. Trên họ không còn ai hết, không có những cơ chế kiểm soát công khai và nghiêm túc, không có báo chí độc lập và hệ thống một xã hội dân sự độc lập. Nên những người này có thể ban bố các chính sách, đạo luật theo ý muốn của họ và khi cần thiết có thể giải thích tùy tiện, vo tròn, bóp méo và thậm chí làm vô hiệu hóa các luật pháp hay quyết định trước đây của chính họ, nếu thấy rằng nó bất lợi hay nguy hiểm cho địa vị và quyền lực của họ. Điều này càng dễ xẩy ra khi đụng chạm tới quyền-tiền, hai động lực có sức lôi cuốn rất mạnh thúc đẩy lòng tham của con người, nhất là những người có điều kiện biến quyền lực thành tiền bạc, hoặc dùng tiền bạc để mua quyền lực!
Cách tổ chức và điều hành của hệ thống DNNN, nhất là từ gần hai thập niên vừa qua với việc ra đời các tập đoàn và tổng công ti nhà nước, là những dẫn chứng cụ thể rõ rệt nhất về sự liên hết như hình với bóng của quyền lực và tiền bạc dưới chế độ toàn trị ở VN.Các giám đốc và hội đồng quản trị (hội đồng thành viên) của các tập đoàn và tổng công ti nhà nước do TT chỉ định. Các cơ quan này có quyền hành rất lớn trong mọi quyết định liên quan tới hoạt động của tập đoàn và tổng công ti. Từ việc chọn lựa nhân sự then chốt, đầu tư, vay tiền, gọi thầu tới việc liên kết kinh doanh với bên ngoài. Họ đều là những cán bộ có thế lực, nhưng hầu như không có kiến thức và kinh nghiệm quản trị các công ti lớn. Một khi quyền nhiều, nhưng trách nhiệm rất ít thì dễ sinh ra lạm dụng những gì có lợi cho bản thân, gia đình và vây cánh. Từ đó dẫn tới những lãng phí hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng, tự do xà xẻo các công trình. Muốn làm giầu bất chính nhanh và gọn gàng thì phải lập phe cánh che chở và bảo vệ lẫn nhau. Qua đó sẽ hình thành các nhóm lợi ích.Vì quyền lợi ích kỉ, các nhóm này sẽ lợi dụng quyền lực kết hợp với nhau ngay từ giai đoạn soạn thảo các kế hoạch có lợi cho phe cánh của mình.
Trong vụ PMU 18 thứ trưởng Giao thông vận tải Nguyễn Việt Tiến cùng cánh vế với bộ trưởng Giao thông vận tải Đào Đình Bình đã lôi kéo cả con rể TBT Nông Đức Mạnh vào làm. Nhờ vào uy quyền lớn nên họ đã được giao nhiều dự án xây dựng hạ tầng với số vốn cả hàng ngàn tỉ đồng từ nguồn ODA và lập ra các công ti con làm sân sau để thân nhân và vây cánh thao túng. Sự thỏa hiệp đen tối quyền lực và chia chác tiền bạc trong vụ Vinashin lại càng khủng khiếp hơn nữa. Nguyễn Tấn Dũng dùng uy quyền TT để giao cho người đồng hương Phạm Thanh Bình làm Giám đốc Vinashin, được Ngân hàng Nhà nước cung cấp vốn cả hàng trăm ngàn tỉ đồng, đẻ ra hàng trăm công ti con, đầu tư vào những công trình ngoài cả lãnh vực đóng tàu thủy, như mở cả ngân hàng và công ti du lịch…Sau nhiều năm làm ăn thua lỗ khổng lồ lên tới cả gần 100.000 tỉ đồng, nhưng Nguyễn Tấn Dũng vẫn bình chân như vại. Hai người có quyền lực nhất khi ấy là Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đã ngấm ngầm thỏa hiệp với nhau hai ghế TBT và TT, như đã trình bày trong Chương sáu, XI.
PVN và vụ án Đinh La Thăng
Tập đoàn đầu khí VN (Petro VN, PVN) là một công ti Nhà nước lớn nhất. Năm 2015 đạt tổng doanh thu là 293.439 tỉ đồng, đóng góp vào NSNN là 93.000 tỉ đ. trong tổng số thu NSNN là 911.100 tỉ đ.; nghĩa là chiếm tới gần 12% tổng thu của NSNN.[122] Như vậy PVN đóng một vai trò rất quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế VN. Năm 2017 PVN khai thác 15,52 triệu tấn dầu thô, 9,89 tỉ m³ khí; sản xuất 20,58 tỉ kWh điện, 1,65 triệu tấn phân đạm, 6, 24 triệu tấn xăng dầu. [123]
Theo Quyết định 924-QĐ-TTg ngày 18.6.2010 đây là Tập đoàn độc quyền trong khai thác, vận chuyển, chế biến, lưu trữ dầu hỏa và khí đốt; ngoài ra còn độc quyền các dịch vụ về dầu khí ở trong và ngoài nước. Quyết định trên còn giành cho PVN độc quyền kinh doanh, phân phối các sản phầm dầu khí và các nguyên liệu hóa chất dầu khí; xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị và sản phầm dầu khí; khảo sát, thiết kế, xây dựng, khai thác, sửa chữa các công trình, phương tiện phục vụ dầu khí dân dụng. Không những thế PVN còn có quyền đầu tư, sản xuất, chế biến, kinh doanh nhiên liệu sinh học, điện và phân bón; đầu tư khai thác than và khoáng sản tại nước ngoài. Đặc biệt nữa, PVN còn được hoạt động kinh doanh cả những lãnh vực ngoài dầu khí, như: đầu tư, kinh doanh bất động sản; kinh doanh khách sạn, du lịch; đầu tư, khai thác, kinh doanh các cảng, vận tải biển, sông và hàng không và đường bộ…[124]
Như thế cho thấy PVN không chỉ là một “vua” trong lãnh vực dầu khí mà còn bao thầu cả trong nhiều lãnh vực khác! Từ khi trở thành tập đoàn lớn nhất, PVN trong nhiều năm liên tiếp đã “sai phạm rất nghiêm trọng” trong việc sử dụng vốn, đầu tư hàng chục ngàn tỉ đồng vào nhiều lãnh vực nhưng không có hiệu quả, phải nằm đắp chiếu và thua lỗ. Nhất là dưới thời Đinh La Thăng làm Giám đốc và Bí thư đảng ủy Tập đoàn PVN (2005-2011) và các người kế vị những năm sau này. Như trong Thông báo của Ủy ban Kiểm tra TU ngày 27.4.17 do Trưởng ban và UVBCT Trần Quốc Vượng công bố.[125]
Khi đó là thời có nhiều quyền lực của các UVBCT, như TT Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng (CTQH và TBT), Nguyễn Sinh Hùng (Phó TT thứ nhất và CTQH, Trương Tấn Sang (Trưởng ban Kinh tế TU, Thường trực BBT và CTN), Tô Huy Rứa (Trưởng ban Tuyên giáo và Trưởng ban Tổ chức), Nguyễn Xuân Phúc (Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng CP, Phó TT)…Điều vô cùng ngạc nhiên là, mặc dầu đã xẩy ra nhiều sai phạm rất nghiêm trọng trong suốt nhiều năm, nhưng Đinh La Thăng vẫn trở thành ngôi sao sáng chính trị liên tiếp trên 10 năm: Là UVTU từ khóa 10 (2006), sau khi thôi Giám đốc PVN lại lên nắm chức bộ trưởng Giao thông vận tải (2011-16), UVBCT Khóa 12 và Bí thư Thành ủy thành phố HCM (tới tháng 5.17), đại biểu QH các khóa 11-14 (tới 5.17).
Vì vậy một số câu hỏi rất quan trọng được nêu ra trong các hoạt động sai phạm rất nghiêm trọng của PVN, từ thời Đinh La Thăng làm giám đốc và cả những người kế vị, nhưng tại sao vị thế chính trị của ông vẫn lên như diều trong thời gian rất dài đến cả chục năm liên tiếp? Vì nó hoàn toàn đi ngược lại những tiêu chí chọn lựa và giao phó công việc cho “những cán bộ cấp chiến lược” theo HNTU 11 Khóa 11 (5.15) dưới quyền Nguyễn Phú Trọng đã đề ra:
“Kiên quyết không để lọt vào BCHTU những người có một trong các khuyết điểm, như: Bản lĩnh chính trị không vững vàng, không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng, có biểu hiện cơ hội chính trị, nói và làm trái Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc của Đảng; tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm… tham nhũng, tiêu cực lớn …không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giầu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc” [126]
Ông Trọng đã từng nhấn mạnh, công tác cán bộ là then chốt của các then chốt. Chả lẽ suốt thời gian rất dài như vậy Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, Tô Huy Rứa và Nguyễn Xuân Phúc….ở những địa vị cao như vậy cả trong đảng lẫn chính phủ lại không biết rõ những sai phạm nghiêm trọng trong PVN và Đinh La Thăng?
Phải phân biệt ở đây một số trường hợp: Nếu họ không biết những gì đã xẩy ra tại PVN thì chứng tỏ họ không đủ khả năng đảm nhiệm các trọng trách. Nhưng nếu biết mà không dám nói, chứng tỏ họ làm bù nhìn. Không những thế, nếu biết những cán bộ cao cấp đã làm những “sai phạm rất nghiệm trọng” như Đinh La Thăng mà không dám cách chức lại còn cất nhắc, chứng tỏ họ càng vô trách nhiệm và chỉ lo củng cố quyền lực, chểnh mảng nhiệm vụ, không cương quyết bảo vệ tài sản của đất nước và quyền lợi của nhân dân!
Nắm các địa vị quan trọng trong đảng và chính phủ, họ phải chịu trách nhiệm chính trị, trách nhiệm về pháp luật và lương tâm đạo đức, vì đã để cho Đinh La Thăng và nhiều cán bộ cao cấp trong PVN hoạt động sai phạm nghiêm trọng liên tiếp trong nhiều năm. Do đó đúng ra Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng và các UVBCT đầy quyền lực nêu trên phải công khai nhận trách nhiệm chính trị trước nhân dân và phải xin từ chức. Không những thế, họ còn phải chịu trách nhiệm về mặt luật pháp đối với những thiệt hại cực lớn cho ngân sách quốc gia và các tài sản của nhà nước.
Họ chủ trương DNNN làm chủ đạo và giành nhiều ưa đãi, lại không có cơ chế luật pháp nghiêm minh, không có báo chí độc lập theo dõi, có khác nào như mời cán bộ tham nhũng thả cửa hôi của. Vì thế tập đoàn PVN là doanh nghiệp nhà nước lớn nhất đã có thể dễ dàng làm thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng trong nhiều năm. Sự hoạt động của các tập đoàn, trong đó có PVN, thuộc quyền của BCT và CP, trong đó hai người đứng đầu là TBT Nguyễn Phú Trọng và TT Nguyễn Tấn Dũng phải là hai người chịu trách nhiệm cao nhất cả về mặt chính trị lẫn mặt pháp luật. Vì các nghị quyết của các HNTU và quyết định của CP đều qui định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể cũng như cá nhân phụ trách. Chính Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đã nhiều lần tuyên bố, cơ quan nào để xẩy ra lãng phí và tham nhũng nghiêm trọng thì người đứng đầu cơ quan phải chịu trách nhiệm trước đảng và nhân dân!
Riêng trường hợp của Nguyễn Phú Trọng, một mặt ông trương cờ với những tiêu chí thật cao trong việc lựa chọn cán bộ cấp chiến lược vào cấp cao nhất. Như “Ủy viên BCT, BBT phải là những đồng chí thật tiêu biểu của Ban chấp hành trung ương (BCHTU) về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý” và không “tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm”.[127]Nhưng mặt khác, chính ông lại dùng các thủ đoạn để giành cho riêng mình được xếp vào “trường hợp đặc biệt”, đồng thời cô lập Nguyễn Tấn Dũng bằng cách mua chuộc những thân tín của ông Dũng, trong đó cho Đinh La Thăng vào BCT và Bí thư Thành ủy thành phố HCM.
Nhưng sau khi đã nắm vững ghế TBT thêm một nhiệm kì thì ông liền ra tay thanh toán những đối thủ để trừ hậu hoạ, thậm chí đưa cả đối thủ ra xét xử theo những bản án đã định sẵn. Thủ đoạn nham hiểm này không làm sạch bộ mặt của ông Trọng, mà chỉ bôi đen thêm. Một người nổi tiếng lợi dụng địa vị để tham nhũng quyền lực trong suốt hơn thập kỉ vừa qua thì không thể chống tham nhũng quyền lực và tiền bạc được. Tay đã nhúng chàm! Vì tham nhũng quyền lực và tham nhũng tiền bạc như bóng với hình, chúng nương tựa nhau, bảo vệ nhau. Đây mới là nguy cơ của mọi nguy cơ đưa chế độ toàn trị từng bước nhưng chắc chắn rơi sâu xuống vực thẳm! Quyền và tiền như đổ dầu vào lửa. Tới một thời điểm thích hợp không còn xa, những quan tham nhũng quyền lực và tham nhũng tiền bạc không thể chung sống và cũng không thể nhượng bộ nhau!
Tại HNTU 5 Khóa 12 (5-10.5.17) Đinh La Thăng đã bị cách chức UVBCT và Bí thư Thành ủy thành phố HCM. Trong diễn văn khai mạc Hội nghị Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra câu hỏi về tình trạng ngày càng thua lỗ và tham nhũng trong các DNNN: “Vì sao những hạn chế, yếu kém nêu trên đã được chỉ ra từ lâu nhưng qua nhiều nhiệm kỳ đến nay tình hình vẫn chậm chuyển biến, thậm chí có mặt còn trầm trọng hơn?”
Là người cầm đầu BCT thì đúng ra, Nguyễn Phú Trọng phải là người tiêu biểu nhất “của BCHTU về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý”. Đây là những điều kiện chính ông đã đặt ra làm nguyên tắc chọn người vào BCT! Nhưng các DNNN đã được BCT dưới quyền của ông cho tung hoành hoạt động suốt bao nhiều năm qua, nay Nguyễn Phú Trọng lại làm bộ ngây thơ đặt câu hỏi, “vì sao” các DNNN đi đến nông nỗi như ngày hôm nay! Điều này chứng tỏ Nguyễn Phú Trọng đã đóng kịch giả bộ, làm như người mù lòa không nhìn thấy nguyên nhân; hoặc thừa nhận vai trò bất lực, chỉ ngồi làm bù nhìn như ông bình vôi, càng già, càng ngồi lâu, càng tồi!
Giả vờ quên thực tế, bỏ qua những chuyện tầy đình trước sau vẫn là thái độ và mánh lới cực kỳ lươn lẹo của người cầm đầu chế độ toàn trị. Chính khi BK gia tăng chính sách bành trướng và thôn tính ở biển Đông, Nguyễn Phú Trọng đã gạt phăng và nói tỉnh bơ tại QH, “tình hình biển Đông không có gì mới!”. Hay khi xẩy ra thảm trạng môi trường cá chết trắng trên bãi biển miền Trung do công ti Formosa gây ra thì Nguyễn Phú Trọng vẫn thản nhiên lại thăm Ban giám đốc công ti này và sau đó lại còn nói tỉnh bơ như một người bàng quang: “Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu!”
Đối với những người hiểu biết và có lương tri không ai có thể hiểu được những lời tuyên bố trên thật vô cùng lạ lùng như thế. “Bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý” của người cầm đầu chế độ toàn trị là như thế!!! Chính điều này Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra làm tiêu chuẩn để chọn lựa và đánh giá các UVBCT !!!
***
Tổng kết lại, phân tích cặn kẽ và nghiêm túc về thái độ, hành động và tư duy diễn tiến từ ĐH 6 (1986) tới ĐH 12 (2016) của những người cầm đầu toàn trị từ Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông đức Mạnh đến Nguyễn Phú Trọng có thể tóm lược là: Tuy miệng luôn luôn phải nói “đổi mới”, nhưng trong thâm tâm vẫn tin tuyệt đối vào chủ nghĩa Marx-Leninn và đi theo con đường của Bác đã chọn.Theo họ, đó là “sáng suốt” và “uống nước nhớ nguồn”, không phản bội người khai sáng và những thế hệ đã hi sinh, như thế là vừa khôn ngoan, vừa giữ được đạo lí của người đi sau! Bất đắc dĩ phải thay đổi một vài điều ở lãnh vực này hay lãnh vực khác chỉ là vì tình thế theo tiêu chí “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”!
Trong đó trước sau họ vẫn không thèm đoái hoài tới nguyện vọng và khát vọng rất chính đáng và bức thiết của nhân dân là hòa giải dân tộc thực sự để Bắc-Nam cùng nhau phát triển nội lực, để xây dựng lại quê hương từ đống tro tàn do bạo lực, hận thù từ những cuộc chiến tranh tàn khốc và giai giẳng để lại, tiến lên thành một quốc gia giầu mạnh, nhân dân được hưởng hạnh phúc, sống có nhân phẩm và tự do dân chủ! Họ cũng không thèm đếm xỉa tới những thay đổi sâu sắc của thế giới sau khi Liên Xô sụp đổ, các nước CS Đông Âu tan dã và TQ trỗi dậy trở thành tân đế quốc đang đe dọa trực tiếp VN, các nước trong khu vực và thế giới!
Trên đây là nền tảng căn bản về thái độ, cách hành động và tư duy của những người cầm đầu chế độ toàn trị suốt trên 30 năm qua. Trong đó hai nhân vật có trách nhiệm cao nhất là Đỗ Mười và Nguyễn Phú Trọng, vì họ đã và đang nắm độc quyền lâu và tàn bạo nhất!
Họ không đủ trình độ kiến thức, sự sáng suốt cần thiết và thái độ chân thành đáng lẽ ra phải có, để nhận ra và hiểu rằng, mỗi thời đại phải có những cái nhìn mới, những bước đi thích hợp; nếu người đi trước làm sai thì thế hệ sau phải có trách nhiệm và can đảm thay đổi. Châm ngôn VN có câu “con hơn cha là nhà có phúc”! Cũng với tinh thần này, đáng lẽ ra họ phải dứt khóat chấm dứt sự dối trá, lừa đảo và từ bỏ những ý thức hệ đã bị thực tiễn chứng minh là sai lầm; đồng thời thực tâm chọn con đường mới để kiến thiết đất nước và gây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Đấy mới chính là sáng suốt, biết đền bù tương xứng những sự hi sinh của bao nhiêu triệu người đã từng tin vào họ.
Nhưng vì quá giáo điều nên họ đã không nhận ra được sự tiến hóa rất chính đáng và tự nhiên của nhân loại. Khi xã hội bộ lạc-du mục không còn thích hợp thì chuyển sang chế độ định cư, lập làng xã, chọn cách tổ chức thích hợp để xây dựng xã hội mới. Khi chế độ phong kiến trở thành lạc hậu và tàn bạo, cản đường tiến hóa của nhân dân thì quyết giã từ nó; khi chế độ toàn trị theo Marx-Lenin đã bị thực tế phủ nhận thì nếu sáng suốt, họ phải quyết chuyển sang DCĐN, tôn trọng các giá trị con người, khuyến khích những sáng tạo và tham gia tích cực của mọi thành phần.
Vì bảo thủ mù quáng nên họ vẫn cố giữ thái độ và tư duy cũ đã lỗi thời và hoàn toàn sai lầm. Vì thế họ đã cấm đoán, đàn áp đảng viên và nhân dân nói khác, nghĩ khác và hành động khác. Họ sẵn sàng tiếp tục sử dụng cả dối trá, tàn bạo, thậm chí cả nhân danh người đã khuất để biện minh cho các hành động cực kỳ sai lầm và độc ác. Đến khi bị kẹt cứng (khi Liên Xô sụp đổ) họ lôi cả HCM làm lá chắn để bảo vệ quyền lực và tiền bạc cho cá nhân, gia đình và vây cánh!
Công thức để thực hiện “đổi mới” suốt trên 30 năm qua chỉ loay hoay trên thái độ và tư duy cũ. Đó là: Chủ nghĩa Marx-Lenin + Đi theo con đường của Bác đã chọn. Họ bắt mọi người phải tin theo và làm như họ. Thậm chí còn ra lệnh cho các nhà khoa bảng XHCN không được suy nghĩ khác và phải khẳng định rằng, chỉ có CNXH theo Marx-Lenin như Bác đã chọn là đúng muôn đời! Đỗ Mười đã ra lệnh như vậy. Cựu CTN Nguyễn Minh Triết từng hô “bỏ Điều 4 Hiến pháp là tự sát”. Nguyễn Phú Trọng đã ngạo mạn phán rằng, “đi lên CNXH là nguyện vọng của nhân dân” và mạt sát các trí thức và chuyên viên đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp là “suy thoái đạo đức”!
Chính vì vậy từ Đỗ Mười tới Nguyễn Phú Trọng, là hai người chính nắm quyền trên 30 năm qua, phải dựng lên bộ máy công an trị hà khắc và sử dụng trí trá, độc ác, giả nhân giả nghĩa để tham nhũng quyền lực và tiền bạc cho chính họ và phe nhóm!
Sử dụng những thủ đoạn và phương pháp gian trá, độc đoán để thực hành các ý thức hệ sai lầm và những hành động cực kỳ mù quáng và tàn bạo suốt trên 30 năm qua đã chứng minh rất rõ ràng: Họ đã tự đánh mất tư cách, cực kỳ vô trách nhiệm đối với đảng viên và nhân dân, kể cả với hàng triệu người đã hi sinh. Vì thế sự cầm quyền và tồn tại của họ và phe nhóm là hoàn toàn bất chính, phản lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân và đi ngược với trào lưu của thời đại!
______________________________
Thân mời đọc tiếp Chương kết: Các nguyên nhân, người chịu trách nhiệm và hậu quả của “Đổi mới” lừa bịp.
Chương cuối: Phải dứt khoát đoạn tuyệt với chủ nghĩa Marx-Lenin, mọi người quyết phá rào cản độc tài, cùng nhau đứng lên nắm lấy cơ hội kiến tạo một Nước Việt Nam Mới: Những điều nên nhớ, nên tránh và nên làm!
Bộ ảnh sinh hoạt của người Bình Dương xưa dưới thời Pháp thuộc
Bộ ảnh hiếm về cuộc sống sinh hoạt của người Bình Dương xưa dưới thời Pháp thuộc
Tỉnh Bình Dương ngày nay là một phần của tỉnh Thủ Dầu Một xưa. Tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập tháng 12/1899, tách từ tỉnh Biên Hòa. Tháng 10/1956, tỉnh này được giải thể để thành lập tỉnh Bình Dương và một phần tỉnh Bình Long.
Khu chợ của thị trấn Thủ Dầu Một, tỉnh lỵ của tỉnh Thủ Dầu Một thời thuộc địa, ngày nay là thành phố Thủ Dầu Một trực thuộc tỉnh Bình Dương.
Một dãy phố buôn bán ở chợ Thủ Dầu Một thập niên 1920
Thời điểm này chưa có điện, mỗi góc chợ có một trụ đèn đường chiếu sáng bằng đèn dầu, có dây treo vào ròng rọc để hạ xuống thắp đèn mỗi tỗi hay để châm dầu. Ở cuối đường có mái nhà hình bát giác là chợ cá, phía sát bờ sông
Gánh hủ tiếu bán rong ở chợ Thủ Dầu Một thập niên 1920
Người dân mua bán ở bến đò chợ Thủ Dầu Một thập niên 1920
Những chiếc quang gánh thân thuộc của người Việt xưa nay hiếm còn thấy trên phố
Những chiếc lu khạp đặc trưng của vùng đất Thủ xưa nay – Hình chụp thập niên 1920
Bến phà cạnh chợ cá Thủ Dầu Một, chữ BAC trên biển hiệu, trong tiếp Pháp “BAC” có nghĩa là phà, đò ngang.
Thuyền chở hàng trên sông thập niên 1900
Con đường dọc bến sông thập niên 1920, có lẽ là đường Bạch Đằng ngày nay?!
Một bức ảnh khác chụp bến sông này
Một ngôi trường ở Thủ Dầu Một thập niên 1920
Một con đường rải nhựa ở Thủ Dầu Một thập niên 1920
Đường từ Thủ Dầu Một về Sài Gòn thập niên 1920
Doanh trại Vassoigne của quân đội Pháp tại Thủ Dầu Một thập niên 1920, trước 1975 là trường Công Binh của QLVNCH, ngày nay là trường Công Binh Bình Dương
Những dãy nhà kiên cố được xây theo kiến trúc Pháp của khu doanh trại
Giờ thể dục của học sinh trường Thiếu Sinh Quân trong khu doanh trại
Chùa bà Thủ Dầu Một thập niên 1920
Một ngôi nhà có kiến trúc độc đáo ở Thủ Dầu Một
Toàn cảnh đình Bà Lụa xưa
Nhà của một ngư dân Thủ Dầu Một.
Một cây cầu bắc qua sông ở làng Hưng Định, Thủ Dầu Một thập niên 1920
Một người dân đội nón lá đi qua cầu
Chợ Lái Thiêu ở quận Lái Thiêu, tỉnh Thủ Dầu Một.
Chợ Lái Thiêu thập niên 1920 nằm sát bến sông
Lái Thiêu thập niên 1920 là một vùng đất giao thương sầm uất
Phát gạo cho người dân bản xứ trong nạn đói năm 1911 tại Đình Thủ Dầu ở Lái Thiêu
Xưởng vẽ tranh kính ở Lái Thiêu.
Xưởng nhuộm của dân địa phương tại Lái Thiêu.
Lò sản xuất đường mía ở Lái Thiêu.
Bỏ mía vào máy ép để lấy nước cốt mía làm đường
Chiếc máy ép mía thô sơ này hoạt động nhờ sức kéo của hai con trâu và một em bé ngồi trên trục quay để điều khiển. Mái nhà xưởng lợp ngói được dỡ ngói ra cho chiếu sáng vào chiếc máy, có lẽ để đủ ánh sáng chụp hình chi tiết, vì vào thời gian này chưa có điện ở đây và phim chụp còn là loại dùng hoá chất (gélatino-bromure) bôi lên kính.
Khu đồn điền trồng dứa ở Lái Thiêu.
Đồn điền mía và đường sắt ở tỉnh Thủ Dầu Một năm 1946.
Bến sông tại làng nghề gốm ở Lái Thiêu.
Một tòa nhà hành chính ở Lái Thiêu.
Cảnh họp chợ tại một ngôi làng ở Lái Thiêu.
Chùa Cô Hồn 1918, hiện nay là khu vực trường THCS Phú Cường, P.Phú Cường, TDM (?!)
30 tấm ảnh màu đẹp nhất của đường phố Saigon thập niên 1960
30 tấm ảnh màu đẹp nhất của đường phố Saigon thập niên 1960
Bộ ảnh màu chọn lọc với những hình ảnh đẹp nhất của Sài Gòn trong thập niên 1960, đã cách đây trên dưới nửa thế kỷ. Dưới mỗi hình đều có chú thích địa điểm và thời điểm chụp ảnh.
Sài Gòn thời điểm này đang trải qua nhiều khó khăn, chịu áp lực nặng nề của cuộc chiến. Các vùng ven vẫn rất phức tạp và nghèo nàn. Tuy nhiên các vùng trung tâm của thành đô vẫn rất náo nhiệt, phồn hoa, xứng danh tên gọi “Hòn ngọc viễn đông”.
Đây là tuyển chọn hình ảnh phần 12, độc giả có thể xem lại 11 phần khác trong link ở cuối bài viết này.
Bến Bạch Bằng năm 1965 với các tàu chiến trên bến sông.
Bệnh viện Grall trên đường Gia Long năm 1965, nay là Lý Tự Trọng. Bệnh viện này ngày nay là BV Nhi Đồng 2.
Vào mùa mưa năm 1964, sét đánh gãy mất 1 tháp chuông. Hình này là năm 1965, khi đang sửa lại tháp.
Ngã 6 Phù Đổng năm 1965-1966 khi chưa có tượng Phù Đổng Thiên Vương.
Nhà thờ Thánh Jeanne d’Arc trên đường Hùng Vương năm 1966
Tòa Đô Chánh 1966
Đường Võ Tánh năm 1966, nay là đường Nguyễn Trãi
Đôi tình nhân trên đường Hồng Thập Tự năm 1967 (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai). Bên tay phải là Cercle Sportif, sau 75 là Cung văn hóa Lao Động số 55 NTMK.
Dinh Gia Long trên đường Gia Long năm 1967, nay là Bảo Tàng Thành Phố trên đường Lý Tự Trọng.
Tượng đài “Tổ quốc – Không gian” phía trước Tòa Đô chánh, khách sạn REX. Năm 1967, trong đợt xây dựng các tượng đài biểu trưng của các binh chủng, Không quân đã cho dựng nên một tác phẩm điêu khắc kỷ hà để nói lên tinh thần bảo vệ vùng trời và Tổ quốc.
Biển quảng cáo trước ga xe lửa cũ, gần chợ Bến Thành năm 1967
Công trường Lam Sơn năm 1967 trước Hạ Nghị Viện.
Hình ảnh rất phong độ của thanh niên Sài Gòn. Hình chụp ở đoạn giao lộ Lê Lợi – Nguyễn Huệ năm 1967.
Tòa Đô Chánh 1967
Tòa Đô Chánh 1967
Đại lộ Nguyễn Huệ năm 1967
Bến Bạch Đằng 1967
Góc chụp từ đường Tự Do ra hướng sông Sài Gòn năm 1967. Chóp nhọn là của tòa nhà Saigon Palace ở góc Tự Do – Ngô Đức Kế.
Đại lộ Nguyễn Huệ năm 1967
Sài Gòn 1967
Saigon by night. Đại lộ Nguyễn Huệ về đêm
Thương xá TAX
Tòa Đô Chánh năm 1968. Nhà bên phải có một ống rất to. Đó là ống thông rác của các tầng. Cư dân sẽ bỏ rác từ trên để rác đi thẳng xuống thùng rác lớn hứng bên dưới.
Đại lộ Lê Lợi đông đúc xe cộ năm 1968
Góc Lê Lợi – Công Lý. Bên phải là cư xá Tam Đa năm 1968
Trên đường Hai Bà Trưng năm 1969, sau lưng Hạ Nghị Viện. Nhà mái ngói bên phải là xưởng sản xuất a’ phiện.
Đại lộ Thống Nhất năm 1969, đường đến Dinh Độc Lập.
Đường Tổng Đốc Phương năm 1969, nay là đường Châu Văn Liêm
Tòa Đô Chánh 1969, bồn phun nước vòng xoay Bồn Kèn
Đại lộ Nguyễn Huệ, nhìn ra bến Bạch Đằng.
Quảng Ngãi: Nước biển vàng nâu, nổi bọt
Quảng Ngãi: Nước biển vàng nâu, nổi bọt
Nước biển chuyển từ màu nâu đen sang màu vàng nâu, nổi bọt màu đã lan rộng trên cả vùng biển kéo dài từ khu vực bãi tắm Khe Hai (thôn Trung An, xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) xuống đến làng chài thôn Hải Ninh (xã Bình Thạnh) và vẫn tiếp tục lan rộng.
Đến ngày 6-12, nước biển đã nâu đen đã chuyển thành màu vàng nâu, bọt nổi đậm màu cả vùng biển quanh làng chài thôn Hải Ninh (xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), phạm vi ảnh hưởng đã kéo dài thêm từ bãi tắm Khe Hai xuống làng chài này.
Các khu vực gần cảng cá thôn Hải Ninh, người dân cũng phát hiện màu nước biển đậm hơn so với mọi năm.
Nước chuyển chuyển màu vàng nâu lan xuống khu vực làng chài thôn Hải Ninh, xã Bình Thạnh. Ảnh: NGUYỄN TRANG
Ông Nguyễn Xuân Thành (thôn Hải Ninh) cho biết: “Nước biển chuyển màu đã ảnh hưởng trên cả vùng biển, mọi năm nước thượng nguồn đổ về, bọt biển vẫn màu trắng xóa, đến giờ thì thấy bọt biển cũng màu vàng nâu theo màu nước”.
Khi sóng biển tấp vô bãi, ngoài màu nước vàng nâu và bọt biển chuyển màu thì kéo theo từng mảng bọt, thử chạm tay thì thấy nhớt.
Bọt biển cũng chuyển màu vàng nâu tấp vô bãi biển làng chài thôn Hải Ninh. Ảnh: NGUYỄN TRANG
Chị Đỗ Thị Nga (thôn Hải Ninh) gần khu vực cảng cá thôn Hải Ninh, nói rằng, khu vực này là khúc giao cuối của sông Trà Bồng đổ ra cửa biển, nếu như nước thượng nguồn thì màu nước biển sẽ trong hơn do hòa với nước ngọt của sông, thế nhưng màu nước biển tại khu vực cảng cá đậm màu hơn, khác hẳn với mọi năm.
Theo các cơ quan chức năng, xung quanh không có sự cố tràn dầu nào từ khu vực tàu mắc cạn.
Hiện tại khu vực nước biển chuyển màu vẫn đang tiếp tục lan rộng.– Nước biển chuyển màu nâu đen sang vàng nâu, lan rộng ở vùng biển Quảng Ngãi (Ảnh: NGUYỄN TRANG)
Đây là màu nước biển được ghi nhận tại bãi tắm Khe Hai (thôn Trung An, xã Bình Thạnh) vào ngày 4-12 có màu nâu đen, nổi bọt trắng.
Màu nước biển đã chuyển màu khi lan xuống làng biển thôn Hải Ninh (xã Bình Thạnh) ghi nhận ngày 6-12, đổi màu vàng nâu.
Từ khơi xa vẫn còn bọt trắng, vào gần bờ bọt biển cũng chuyển màu vàng nâu.
Bọt biển màu vàng nâu đậm nổi lềnh bềnh trên mặt nước.
Bọt biển nổi lềnh bềnh và khi thử chạm tay cảm thấy nhớt.
Nước biển đổi màu vẫn đang được các cơ quan chức năng tìm nguyên nhân.