Sông Lô Lê Nam Sơn tên thật là Lê Nam Sơn, sinh năm 1949 tại Bồng Sơn, Hoài Nhơn, Bình Định, quê quán Quảng Nam, sang Đức năm 1980. Có thơ in trong tập Thơ Việt ở Đức, tập 2.
Không hiểu sao, cứ mỗi lần chạm vào thơ lục bát là mỗi lần tôi chạm vào nỗi nhớ quê. Có lẽ, bởi thơ lục bát từ cái hồn quê mà sinh ra, mà hồn tôi lại được nuôi lớn từ lời ru của mẹ : Con cò bay lả bay la Bay từ cửa sổ bay ra cánh đồng.. ( Ca dao )
Ca dao lục bát – sáng tác dân gian hay thơ lục bát của các nhà thơ đã có từ rất lâu đời, và được ví như Quốc hồn dân tộc Việt. Thơ lục bát của người ở miền Trung, miền Nam, miền Bắc hay bất kỳ ở đâu, ta đều nhận ra trong nó cái hồn quê Việt. Khi tôi đọc thơ lục bát của Lê Nam Sơn với những câu:
Thèm nghe tí tách bếp hồng Mái quê nhả khói mục đồng về thôn Thèm nghe tiếng ốc thổi dồn Ngư dân háo hức cánh bụồm xa khơi ( Trích – Chiều Hôm )
Thì lòng tôi bỗng trùng xuống một nỗi nhớ quê. Cái thèm của Lê Nam Sơn dội vào cái nhớ trong lòng tôi. Câu thơ chẳng có cánh cò, nhưng cánh cò lại vỗ cánh trong hồn tôi trên sóng lúa rập rờn, trong bóng hình mẹ tôi bên sông, con thuyền ai hun hút đi trong cơn mưa mùa hạ tối đất, tối trời… Lê Nam Sơn quê ở Điện Bàn, Quảng Nam. Anh sang Đức năm 1980. Thành thực mà nói, tôi biết rất ít về thơ văn miền Nam trước năm 1975. Vì thế khi biết tin có các anh Đặng Lâm, Lê Nam Sơn, Lữ Du từ bên Tây sang tham dự buổi Hội tụ thơ Việt ở Đức, tổ chức ở Thành phố Chemnitz, tôi đã rất háo hức muốn được nghe thơ của các anh. Cần nói rõ hơn điều này, người Việt sống ở phía Tây nước Đức phần lớn là người miền Nam đến từ sau năm 1975, dưới dạng thuyền nhân. Có thể nói, đấy là những cuộc rời bỏ quê hương, ra đi trong thầm lặng, nhưng vô cùng khốc liệt với cả máu và nước mắt. Nó khác cái không khí náo nức, vui tươi của người dân miền Bắc sang lao động, theo ký kết giữa hai chính phủ Việt Nam và Cộng Hòa Dân Chủ Đức từ năm 1980. Do yếu tố lịch sử, nguồn gốc sự ra đi khác nhau, nên sự hòa hợp của người Việt giữa hai miền trong nhiều trường hợp vẫn là rất khó. Tôi vẫn nhớ lời chia sẻ của các anh sau đêm thơ: Thơ không làm chiếc cầu hoà giải, vì thơ vốn dĩ chưa bao giờ có biên giới. Chỉ có tấm lòng thành thực kéo chúng ta lại gần nhau.
Vâng, tôi hoàn toàn đồng ý với các anh. Thơ là tiếng của cõi lòng, hay nói cách khác là sự rung động của tâm hồn, mà hồn ta lại có trong hồn của dân tộc, của giống nòi. Có thế, ta mới cùng yêu được một làn điệu dân ca, yêu khúc hát ca dao và những câu thơ lục bát đã có tự bao đời…Và ngay đêm thơ ấy, qua giọng thơ ấm áp của anh Đặng Lâm, tôi được biết, được yêu thêm một Nguyên Sa, thi sỹ đầy chất trữ tình lãng mạn của miền Nam với bài Áo lụa Hà Đông. Có phải hồn quê đã thấm vào từng đường tơ áo lụa để Nguyên Sa viết Áo lụa Hà Đông giữa Sài Gòn lộng nắng. Và tôi cũng đã lặng đi bởi cái buồn đẹp đến nao lòng, phảng phất hồn thơ Bích khê trong cái sắc mầu huyền diệu của mấy câu thơ Lữ Du:
Rồi những buổi chiều mây vương mầu tím Cho mắt anh buồn, trời đã vào thu Sương thu mênh mang, lá vàng rơi rụng Gió heo may, mưa sắc trắng, sa mù (Trích, Điệp khúc bốn mùa)
Trở lại thơ lục bát của Lê Nam Sơn. Thơ lục bát thuộc thể thơ không khó làm nhưng khó hay. Điểm đặc biệt trong thơ lục bát của Lê Nam Sơn là bài nào anh cũng gửi được vào đó một chút tình, làm ta cảm động. Đọc thơ anh, ta không có cảm giác nhạt, loãng ấy là bởi anh biết chọn từ ngữ, hình ảnh bám rất sát tứ thơ trong bài, làm cho cấu trúc bài thơ gọn và chặt, nổi lên được cái điều anh định giãi bày. Cũng vì thế, đọc thơ Lê Nam Sơn bao giờ ta cũng lĩnh hội được một điều gì đó: Từ sự cám cảnh trước thân phận những cô gái làng, vùng đồng bằng sông nước Cửu Long, một ngày bỏ mối tình quê, lặng lẽ theo tình khách thương hồ, sống một cuộc đời sông nước lênh đênh, vô định:
Thương ai như đám lục bình Sông hồ một kiếp lênh đênh theo dòng Nông sâu, bồi lở, đục trong Bến quê như thể mãi mong đợi người Về đâu bèo dạt mây trôi Về đâu sông nước ai người biết chăng ( Đò Dọc )
Đến chuyện cô gái trú mưa chợt đến, chợt đi như cơn mưa đầu hạ Sài Gòn, để lại trong lòng ta những bâng khuâng tiếc nuối. Đây là một bài thơ hay. Mỗi chúng ta trong cuộc đời, ít nhiều đều có những khoảng khắc rung động, bâng khuâng giống như tác giả. Thơ hay ở chỗ gợi chứ không tả. Câu thơ” Ờ sao em nép thế này”, hai chữ” Ờ sao” đã biến câu thơ thành lời tự vấn, chuyển lời thơ từ tả sang gợi, từ nhìn sang cảm. Từ đây, tác giả không nói sự việc bằng đôi mắt thường, mà từ những rung động của tâm hồn, khiến lòng ta cũng chuyển động cùng với chuyển động trong lòng của thi nhân:
Ờ sao em nép thế này Để tôi mong mãi chiều nay mưa hoài Hạt mưa ngắn…hạt mưa dài… Hạt trong văn vắt… hạt cài tóc em… Tiếng mưa rả rích reo thềm Nghe sao như tiếng ru êm bên mình (Hạt mưa đầu Hạ )
Chính là tác giả biết lắng nghe chuyển động của lòng mình, để cảm xúc tràn lên những ngôn từ, nên thơ Lê Nam Sơn cảm động và có điều tinh tế. Thi sỹ nghe trong gió mầu lá bớt xamh, nắng nhạt bên thềm, nghe tiếng vọng của hồn thu đang về gõ cửa:
Hình như mầu lá bớt xanh Thoảng trong hơi gió hương đồng dần phai Nắng như nhạt sắc hiên ngoài Đã nghe chớm chút u hoài xa xăm ( Hình Như )
Thơ lục bát của Lê Nam Sơn thường mang tâm trạng buồn. Tôi không nghĩ tâm trạng ấy là hoàn toàn bởi cuộc sống tha hương, mà có từ một tâm hồn đa cảm. Ngay ở bài Hạt mưa đầu Hạ, chuyện ở Sài Gòn, hơi thơ đã phảng phất buồn, hoặc trong Đò Dọc, có gì ảm đạm hơn cảnh một con thuyền âm thầm rời bến, lặng lẽ trôi dưới màn trời lất phất mưa bay:
Mưa bay lất phất ngoài sông Một con đò dọc âm thầm nhổ neo ( Đò Dọc ) Đến Hình Như và Chiều Hôm, không chỉ còn là nỗi buồn nhân thế, thi sỹ thấy mình bơ vơ, lạc lõng bất lực với cuộc đời: Tà dương vỗ cánh chim trời Hoàng hôn cúi xuống góc đời tha phương Nhớ gì bằng nhớ cố hương Cô giang một mái chèo buông theo dòng Buồn tay níu lấy thinh không… ( Trích -Chiều Hôm )
Con người ta khi phảỉ níu vào cái không thể níu: níu lấy thinh không, níu vào hư vô là chỉ khi lòng ta tuyệt vọng, tay đưa lên phía trời xanh cầu cứu thánh thần.
Tâm trạng buồn của thi sỹ đâu còn là của riêng anh nữa, nó là nỗi buồn của muôn vạn sinh linh trên trái đất này, khi phải rời bỏ quê hương, rời bỏ cái cái hồn quê, nơi chôn rau cắt rốn của mình… Đã ba mùa thơ đi qua, ba lần được gặp, được nghe thơ của các anh, tôi lại phải mượn lời của ông Pascal: Tưởng kẻ viết là một nhà văn, không ngờ lại được gặp một người!
Chemnitz 23-4-2019 ***** Giới thiệu những bài thơ của Sông Lô Lê Nam Sơn…
Miền Trung với những cơn mưa dầm kéo dài ngày nhiều khi đến cả tuần mà chưa chịu dứt, mưa thì buồn lắm nhất là với kẻ sống xa nhà, nhà thơ Nguyễn Bính tha hương đến Huế đã không từng than thở là gì!
Giời mưa ở Huế sao buồn thế! Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
Nhất là những khi mưa gió bão bùng, nhìn những người đội mưa vì sinh kế, kiếm cái ăn cho gia đình hay hình ảnh một người đơn độc, lặng lẽ đứng trú mưa dưới hiên nhà ai đó luôn là hình ảnh dễ làm tôi chạnh lòng với ít nhiều thương cảm. Trong nhạc phẩm “Mưa Rừng” của nhạc sĩ Huỳnh Anh tôi vẫn thích những câu:
Nhất là những khi mưa gió bão bùng, nhìn những người đội mưa vì sinh kế, kiếm cái ăn cho gia đình hay hình ảnh một người đơn độc, lặng lẽ đứng trú mưa dưới hiên nhà ai đó luôn là hình ảnh dễ làm tôi chạnh lòng với ít nhiều thương cảm. Trong nhạc phẩm “Mưa Rừng” của nhạc sĩ Huỳnh Anh tôi vẫn thích những câu:
Mưa từ đâu mưa về, làm muôn lá hoa rơi tả tơi… Hoặc…
Lớn lên vào Sài Gòn học, phải sống xa nhà, tháng 5, Sài Gòn sắp bước vào hè, thường thì không có mưa nhưng nếu có đi nữa thì mưa cũng không dài như mưa miền Trung, mưa ào một cái như trút nước chừng 15 hay 20 phút rồi dừng, khách qua đường gặp những cơn mưa bất chợt như thế thường thì chỉ vội tấp vào bất cứ hiên nhà nào bên đường để trú mưa. Những cảnh trú mưa này ít nhiều đã để lại những kỷ niệm đáng yêu đối với tôi.
Bài thơ “Hạt Mưa Đầu Hạ” được tôi sáng tác với những tình tiết lãng mạng dưới đây cũng nằm trong cảnh trú mưa đáng yêu đó.
HẠT MƯA ĐẦU HẠ Hạt mưa đầu hạ trên trời Theo em mưa xuống hiên ngoài nhà ai Chạy mưa bước ngắn bước dài Hiên nhà bỗng chốc mấy ai mà đầy
Ờ sao em nép thế này Để tôi mong mãi chiều nay mưa hoài Hạt mưa ngắn…hạt mưa dài… Hạt trong văn vắt…hạt cài tóc em…
Tiếng mưa rả rích gieo thềm Nghe sao như tiếng ru êm bên mình Nép gần thêm nữa đi em Mùi hương con gái dịu mềm là sao
Mưa đầu mùa mấy dài lâu Mà sao tôi muốn dài lâu riêng mình Trú mưa bao kẻ vô tình Như cơn mưa bất thình lình đó thôi
Thế là đang lúc mưa rơi Bỗng dưng chậm hạt chưa lơi đã dừng Thế là mưa chẳng buồn vương Hạt mưa đầu hạ dễ thường riêng ai
Bước em thấp thỏm vội rời Ngoài kia trăm ngả bước đời về đâu Tiếc chi những hạt mưa mau Tiếc mà chi bước cơ cầu thế nhân
Trước khi hòa bình lập lại năm 1954, gia đình ba má tôi còn ở quê, thời gian này tôi đã được sinh ra và lớn lên dưới lũy tre làng, đã từng nghe tiếng ầu ơ hát ru của mẹ bên dòng sông nhỏ. Với tôi, lũy tre xanh là hình ảnh của một cái gì quen thuộc và thân thương mà tuổi thơ tôi đã trải qua.
Cho đến bây giờ dẫu nơi chốn tha hương tôi cũng không thể nào quên được những lũy tre xanh ngắt của quê nhà, những vòm tre mọc ở bên đường, ngọn tre đan vào nhau và vươn lên từng khóm như muốn ôm ấp mái nhà tranh nhả khói lúc chiều tà.
Lũy tre xanh, vòm tre xanh là những từ nghe thật gần gủi, êm tai mang hơi hướm cỏ nội hương đồng trong âm vang lùa qua của gió.
Có sinh ra và lớn lên ở làng quê mới thẩm thấu được trọn vẹn những hình ảnh của lũy tre làng. Bài thơ “Lũy Tre” tôi sáng tác dưới đây là hình ảnh chẳng những của quê hương tuổi thơ tôi mà còn là hình ảnh của quê hương một thời chinh chiến mà tôi đã trải qua. Em lớn lên từ dưới lũy tre xanh Dưới tiếng hát mẹ ru bên dòng sông nhỏ…
LŨY TRE Lũy tre có tự khi nào? Mà xanh xanh ngắt một màu tre xanh Thân gầy cành lá xanh đan Cho thôn cho xóm nên làng tre ơi Từ xa thấy lũy tre rồi Càng thêm háo hức chân người về quê Chang chang nắng đổ trưa hè Mái tranh mát với bóng tre quanh làng Bão bùng tre vẫn hiên ngang Dẻo dai thân uốn chẳng màng lưng cong Thẳng người nào chịu đứng khom Dẫu cành lá vẫn ôm choàng lấy thân Đời tre cúi xuống đời măng Là truyền sức sống nuôi mầm tương lai Những trưa nắng đổ đường dài Thương người tre đứng miệt mài bóng che Quê nghèo tre chẳng hề chê Đất cằn tre vẫn chẳng nề sinh sôi Một đời bao bọc quen rồi Một đời thân thiết với người với quê Có gì phía sau lũy tre Tình chòm xóm đã chuyền qua bao đời Tre xanh thắm cả tình người Thấm hồn dân tộc thấm lời quê hương
Ngày xưa, thời còn chinh chiến, tôi đã từng qua những, vùng sông nước miền Tây. Nói đến miền Tây, chắc ai cũng biết, nó là miền của sông nước mênh mông, với ruộng đồng sông lạch, vùng của Cửu Long Giang. Ở đây các hoạt động vận chuyển đều phụ thuộc vào thuyền bè trên sông nước. Có lần ngồi uống rượu chung với khách thương hồ trên những chuyến đò dọc tại một bến của dòng sông lớn, được nghe họ kể về những mối tình của họ dọc theo những bến sông mà thấy thương cảm cho những đời gái quê lỡ trao thân theo người tứ chiếng. Tôi sáng tác bài thơ này cũng vì cảm nhận đó.
ĐÒ DỌC Em tôi bỏ chuyến đò ngang Em theo đò dọc vô vàn xa xăm Một lần em có về thăm Rồi đi đi mãi biệt tăm không về Nắng chiều thoi thóp bờ tre Sao em quên vội lời thề với anh Chắc làng ở cạnh dòng sông Nên bao cô gái lấy chồng đều xa Trai làng thì cứ thật thà Ngêu ngao hát mãi bài ca chung tình Thương ai như đám lục bình Sông hồ một kiếp lênh đênh theo dòng Nông sâu, bồi lở, đục trong Bến quê như thể mãi mong đợi người Về đâu bèo dạt mây trôi Về đâu sông nước ai người biết chăng Mưa bay lất phất ngoài sông Một con đò dọc âm thầm nhổ neo
HÌNH NHƯ Hình như trời chớm vào thu Tinh mơ đã có sương mù mong manh Hình như màu lá bớt xanh Thoảng trong hơi gió hương đồng dần phai
Nắng như nhạt sắc hương ngoài Đã nghe chớm chút u hoài xa xăm Lâu nay ngỡ đã yên nằm Ở trong cùng tận đáy lòng thu ơi Vào thu chỉ để bao người Buồn thu hiu hắt đầy vơi ít nhiều Giao mùa chỉ để cô liêu Giữa lòng nhân thế bao điều hư hao Hình như có gió lùa vào Cửa phòng tôi mở lúc nào chẳng hay
CHIỀU HÔM Tà dương vỗ cánh chim trời Hoàng hôn cúi xuống góc đời tha phương Nhớ gì bằng nhớ cố hương Cô giang một mái chèo buông theo dòng Buồn tay níu lấy thinh không Lao xao con nước thì thầm đuổi nhau Xa xanh xanh ngắt một màu Đục trong mấy bến nông sâu mấy dòng Thèm nghe tí tách bếp hồng Mái quê thở khói mục đồng về thôn Thèm nghe tiếng ốc thổi dồn Ngư dân háo hức cánh bụồm xa khơi Thèm trong nỗi nhớ chơi vơi Trong từng hơi hướm ngọt bùi quê hương Giật mình tóc đã điểm sương Tàn cơn rong ruổi còn vương bụi hồng Chiều hôm phủ xuống mênh mông Quyện vào nỗi nhớ ngập lòng bên song.
GẶP LẠI Bao nhiêu vật đổi sao dời Tan đàn xẻ nghé dập vùi bao phen Tình cờ ta gặp lại em Xứ người lưu lạc ngỡ quên nhau rồi Cũng may còn chút gì rơi Rớt trong ánh mắt nụ cười ngày xưa Tóc em sợi nắng sợi mưa Nét mai ra vẻ xế trưa cũng nhiều Giữa dòng lưu lạc gieo neo Thương em tay chống tay chèo lẻ loi Thơ Kiều lục bát nổi trôi Có vần nào vận vào đời em chăng Nợ dâu tội nghiệp thân tằm Em tôi dang díu nợ nần hồng nhan Cũng trèo leo với đa đoan Để rồi trật vuột dở dang nửa chừng Để rồi nhắm mắt đưa chân Để rồi lặn hụp giữa dòng mông mênh Nhìn em rồi ngắm lại mình Cũng trôi nổi cũng lênh đênh theo dòng Quê nhà một ngóng hai mong Hỏi thu thu đợi hỏi đông đông chờ Hỏi xuân xuân quá hững hờ Hỏi tình lưu lạc ngu ngơ đáp lời Nhìn nhau hai đứa cùng cười Mà nghe thấm thía chiều ơi..! Xứ người
MẸ QUÊ Thương hoài bà mẹ Việt Nam Mong con mắt lệ mỏi mòn bao năm Chiều nay ngoài chốn xa xăm Có đời lưu lạc nhớ thầm mẹ quê Thân cò dầu dãi nắng mưa Dâu tằm trút mãi sớm khuya tảo tần Đời con lưu xứ bao năm Đâu bằng đời mẹ nhọc nhằn mấy mươi Nuôi con từ thủa nằm nôi Từ lời ru mẹ à…ơi… ngọt bùi Mẹ vui khi thấy con cười Con buồn mẹ lại đứng ngồi không yên Dạt dào tình mẹ triền miên Mẹ là tất cả của niềm thương yêu Mẹ tôi nay đã về chiều Mà sao mắt mẹ vẫn nhiều lệ rơi Mưa nhiều ướt lá mồng tơi Ướt con đường dốc một đời mẹ qua Mưa nhiều ướt áo bà ba Ướt màu tóc mẹ phôi pha sắc trời Con đi mưu chuyện lỗ lời Héo hon mẹ đợi cuối đời chưa thôi
RA ĐI
“Ra đi là sự đánh liều Nắng sớm ai biết mưa chiều ai hay” (1) Ra đi cho đó xa đây Cho nghe biết mấy lòng đầy gió sương Ra đi là sự cùng đường Tìm trong tắc biến dễ thường mấy ai Ra đi nào biết ngày mai Thương quê cũng mặc, thương ai cũng đành Ra đi tóc vẫn còn xanh Giờ thì tóc đã đổi thành muối tiêu Dõi về quê cũ thân yêu Sông xa mấy khúc, chim kêu mấy ngàn Tháng năm thương nhớ vô vàn Ngẫm đời lưu lạc mà càng thương thân Sông xưa chắc đã thay dòng? Người xưa giờ biết đục trong bến nào? Tìm về trong giấc chiêm bao Chập chờn hình bóng thủa nào phôi phai Bạn bè còn mất những ai Hỏi ra mới biết còn vài đứa thôi Ai đi về phía quê tôi Làm ơn cho nhắn vài lời nhớ thương Ngóng về cố lý mờ sương Nghe bao sầu nhớ còn vương cuối chiều (1) ca dao
VỘI
Cho bà xã Thu Nga
Em ơi, đừng vội vã già (1) Trăm năm dẫu ngắn cũng là trăm năm Khuyết tròn trăng vẫn là trăng Đời cho được mấy nhiêu rằm làm riêng
Em ơi, đừng vội vã phiền Tình ta mấy lúc mà nên đá vàng Trách chi chút nghĩa cũ càng Mấy ai giữ mãi bóng vang một thời
Em ơi, đừng vội ngậm ngùi Cứ tìm hưng phế cuộc đời mà yêu Mai kia mốt nọ xế chiều Thôi em tưởng tiếc ít nhiều mà chi
Nghe em đừng vội làm gì Cứ thong thả bước mà đi với đời Dẫu qua bao cuộc đổi dời Mãi luôn đằm thắm nụ cười nghe em (1): trích câu thơ Nguyễn Duy
EM GÁI
Hôm qua hạnh phúc đến tìm
Ân cần gõ cửa sao em vắng nhà
Đường lầy em muốn đi xa
Lối trơn em thích vượt qua một mình
Đùa dai dẳng với ái tình
Rồi đem chuyện bất thình lình cợt chơi
Thế là sau mỗi trận cười
Em tôi lệ đẫm đầy vơi má đào
Nhưng rồi em quẹt lệ mau
Thay hương thay phấn đổi màu son môi
Bao nhiêu lần thách thức đời
Bấy nhiêu lần tóc dần phôi phai dần
Thản nhiên xem cứ như không
Em đong em đếm tình gần tình xa
Tình này chẳng mấy thiết tha
Tình kia ừ chỉ mặn mà thế thôi
Quỷ tha ma bắt em tôi
Cứ như giỡn hớt đùa chơi cuộc đời
Chiều nay mưa gió tơi bời
Em tôi bèo giạt hoa trôi nữa rồi
ƯỚC GÌ Ước gì ôm được quê hương Vào lòng cho thoả nhớ thương cõi lòng Ngỡ rằng cách núi ngăn sông Ngỡ rằng xa mặt cách lòng quê ơi Càng xa càng nhớ khuôn nguôi Thiết tha như nỗi nhớ người tình chung Đôi khi hạnh phúc vô cùng Trong dòng suy tưởng mông lung tìm về Chỉ là lắt lẻo cầu tre Hiu hiu ngọn gió trưa hè con sông Chỉ là những mái nhà tranh Chiều về nhả khói quây quần bên nhau Chỉ là nhịp võng đêm thâu Mẹ ru con giấc ngủ sâu êm đềm Bao nhiêu nỗi nhớ không tên Bấy lâu nay tưởng ngủ quên trong lòng Thời gian cùng những hoài mong Là niềm trắc ẩn mảnh lòng tha phương Ước gì hôn được quê hương Như là từng được hôn em thủa nào Để tôi hôn ngọt hôn ngào Sông dài biển rộng biết bao nhiêu tình Ước gì quê ở bên mình Để trang trải mối u tình với quê Để cười để nói mải mê Để lòng tôi thấy hả hê với đời Để tôi rủ nắng trên trời Xuống đây sưởi ấm tình người phương xa Để nhìn chiếc áo bà ba Bên dòng sông Cửu chan hoà nắng quê Để nghe rộn bước chân về Ba mươi sáu phố phường xưa xa nào Để tôi chẳng hiểu vì sao Câu thơ lục bát đi vào nón em Chiều về nắng đổ nghiêng nghiêng Vàng phai tà áo dài em trên đường Ước gì làm được khói sương Để tôi quyện với Trường Sơn, Thái Bình Im nghe con nước thề nguyền Núi mòn biển cạn vẫn tròn thuỷ chung Ước gì làm được dòng sông Chảy về hợp với Cửu Long, Hồng Hà Căng bầu sữa mẹ phù sa Nuôi hai bồ lúa quê nhà bội thu Xoá tan đi lớp sương mù Đói nghèo quanh quẩn cầm tù quê hương Ước gì thấy được quê hương Như là từng thấy tuyết sương xứ người Sài Gòn, Hà Nội, Huế ơi ! Ở đây chỉ có một trời nhớ thương Chân đi khắp lối cùng đường Vẫn chưa đi nổi một phương quê nhà Bôn ba khắp nẻo đường xa Hôm nay cảm thấy nhớ nhà làm sao
Corona siêu vi thật nhỏ
Corona siêu vi thật nhỏ
Có một loài siêu vi trùng thật nhỏ Nó đến đây làm đảo lộn lòng người Mắt trần tục chúng ta không nhìn thấy Quyền năng của nó thay đổi trong đời.
Nó áp đặt thêm nhiều quy tắc mới Đeo khẩu trang và ghi nhớ rửa tay Nó ra lệnh phải nằm nhà cô lập Nếu ra ngoài, khoảng cách nhớ chia ngay.
Nó giúp ta nhận biết thêm thời gian Nhiều đến mức không biết phải làm gì Những người con bắt đầu hiểu cha mẹ Biết yêu thương, đùm bọc lấy gia đình.
Nó ra lệnh mua thật nhiều thực phẩm Cùng nhau vơ vét dọn sạch cửa hàng Cả loài người là nạn nhân của nó Thật bình đẳng không phân biệt sang hèn.
Nó là con vi trùng nhỏ xíu đó Nhưng quyền năng thì rộng lớn vô cùng Trong im lặng con người cùng tâm trạng Nỗi sợ hãi phân định thật đồng đều.
Corona, loài siêu vi thật nhỏ Đến nơi này làm thay đổi bao điều Sự sống chết loài người bỗng thức tỉnh Thân phận người, nhỏ bé biết bao nhiêu.
Lê Tuấn “Vần thơ nằm nhà tránh dịch bệnh”
Người Việt phát minh máy thở
3/31/2020
Trần Ngọc Phúc, cha đẻ của máy thở Hummingbird đang góp một phần trí tuệ Việt với thế giới để đẩy lùi dịch Covid-19.
Theo ông Trần Ngọc Phúc, Chủ tịch Tập đoàn Metran Japan, 80% bệnh nhân dương tính với Covid-19 có thể tự phục hồi được. 15% bệnh nhân cần đến các loại máy trợ thở nhẹ và 5% cần sử dụng phổi nhân tạo.
Theo một nghiên cứu tại Anh, nước này có khả năng phải cần đến 40.000 máy thở trong trường hợp xấu. Tại Nhật, con số này là 80.000.
Nhiều quốc gia trên thế giới đang chạy đua sản xuất máy trợ thở để điều trị Covid-19. Ảnh: Getty.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng nhiều lần kêu gọi tất cả các quốc gia chuẩn bị các thiết bị y tế hỗ trợ hô hấp như máy thở, bình oxy để điều trị cho các bệnh nhân mắc Covid-19 đang trong tình trạng nguy kịch.
Máy thở chính là cơ hội giúp các bệnh nhân nguy kịch có thể chiến đấu và giành giật lại sự sống.
Chiều 30/3, trong phiên họp của Chính Phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng nói về việc cần chuẩn bị lượng máy thở đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân Covid-19.
Trong đó, Thủ tướng nhắc đến ông Trần Ngọc Phúc, người phát minh ra máy trợ thở cho trẻ sinh non ở Nhật Bản sẽ giúp Việt Nam giải quyết vấn đề thiếu hụt trang bị này trong ngành y tế.
Máy trợ thở mang trí tuệ Việt
Ông Trần Ngọc Phúc hiện là chủ tịch của Metran, công ty chuyên phát triển thiết bị thở sử dụng trong ngành y tế. Những thiết bị của Metran nhận được sự đánh giá cao từ nhiều tổ chức uy tín trên thế giới.
Theo ông Phúc, vấn đề máy thở dùng cho bệnh nhân Covid-19 đang được Metran giải quyết bằng hai dự án chính gồm máy trợ thở Composβ-EV dùng cho bệnh nhân nguy kịch và máy JFLo cho bệnh nhân hô hấp yếu.
Trần Ngọc Phúc, người phát minh ra máy trợ thở Hummingbird.
Đầu tiên, máy trợ thở Composβ-EV được nghiên cứu từ 30 năm trước để hỗ trợ cho bác sĩ thú y điều trị cho động vật. Ưu điểm của loại máy này là việc vận hành không đòi hỏi chuyên môn quá cao. Đồng thời, tính ổn định và an toàn của máy phù hợp cho việc hỗ trợ điều trị bệnh nhân Covid-19.
Ngày 28/3 kênh truyền hình Asahi của Nhật đã phát sóng phóng sự về việc sử dụng máy trợ thở Composβ-EV cho việc điều trị Covid-19. Những thông tin từ bài phóng sự nhằm khẳng định chất lượng của máy từng được dùng cho ngành thú y vẫn sẽ là giải pháp tối ưu dành cho con người trong bối cảnh dịch đang bùng phát.
Theo nhà phát minh Trần Ngọc Phúc, trong thời gian tới, loại máy Composβ-EV sẽ được thiết kế và cải tiến lại để phù hợp và bệnh nhân, tránh được tâm lý đây từng là máy dùng cho động vật. Máy này đang được thử nghiệm tại các trường Đại học ở Nhật Bản, đang được Bộ Y tế và Bộ Công thương hỗ trợ để có giấy phép lưu hành.
Loại máy thứ hai từ Metran là loại máy trợ thở có tên JFlo. Máy trợ thở này có ưu điểm gọn nhẹ gấp 10 lần các loại máy khác, vận hành không cần chuyên gia. Bên cạnh đó, bệnh nhân khi thở bằng máy vẫn có thể ăn uống, nói chuyện bình thường.
Đây là một công trình nghiên cứu mà Metran được chính phủ Nhật tài trợ để nghiên cứu sản xuất cho Việt Nam. Dự kiến đưa ra thị trường vào tháng 10 năm nay. Hiện nay, máy này các chức năng đã sẵn sàng và đang được thử nghiệm. nếu có thêm nguồn vốn từ các nhà tài trợ, thời gian ra mắt loại máy trợ thở gọn nhẹ này có thể giảm xuống khoảng 2 tháng.
“Loại máy này sẽ hỗ trợ Việt Nam rất nhiều trong việc phòng chống dịch covid-19. Chúng tôi có thể lược bớt một số tính năng không thật sự cần thiết để đấy nhanh tốc độ sản xuất loại máy này”, ông Phúc chia sẻ.
Bài toán thiếu hụt linh kiện
Bên cạnh khó khăn về tài chính, việc thiếu linh kiện sản xuất máy trợ thở cũng đang là vấn đề đau đầu đối với Metran. “Nhu cầu về máy thở đã tăng gấp 100 lần. Điều này gây áp lực lớn lên chuỗi cung ứng, sản xuất”, ông Phúc chia sẻ.
Máy trợ thở cá nhân JFlo với ưu điểm gọn nhẹ và dễ sử dụng được phát minh bởi ông Trần Ngọc Phúc. “Một bộ máy thở có các cảm biến, linh kiện đến từ rất nhiều quốc gia trên toàn thế giới. Nhật và cả Việt Nam dường như đã chậm chân so với các nước khác trong việc đặt hàng sớm các linh kiện. Việc cấp bách bây giờ là có tìm được nhà cung cấp có khả năng tạo ra ngần ấy linh kiện”, ông Phúc nói về khó khăn trong việc sản xuất máy trợ thở.
Về nhà máy sản xuất, ông Phúc cho biết có nhiều công ty gia công đồng hồ, xe hơi… ở Nhật liên hệ sản xuất máy thở. Ngoài ra nhiều đơn vị trong và ngoài nước cũng đủ đáp ứng việc sản xuất máy. Tuy vậy, vấn đề linh kiện vẫn cần được giải quyết đầu tiên.
Chỉ chuyển giao công nghệ cho người có cùng suy nghĩ
Theo nguồn tin riêng của Zing, đã có một số tập đoàn, công ty Việt Nam liên hệ Metran để chuyển giao công nghệ sản xuất máy thở hỗ trợ chống dịch Covid-19.
Tuy vậy, theo ông Phúc, do nguồn lực có hạn, Metran không thể chuyển giao cho tất cả doanh nghiệp mà chỉ chọn ra một đơn vị “có cùng suy nghĩ” với ông.
“Nhiều quốc gia đang cần công nghệ máy thở. Tôi chỉ chọn mỗi quốc gia một đơn vị có cùng suy nghĩ với mình để triển khai. Có nhiều đơn vị lợi dụng Metran và bệnh dịch để thương mại sản phẩm. Bên cạnh đó, tôi không đủ sức để chuyển giao cho tất cả”, ông Phúc cho biết.
Hiện có 16 quốc gia liên hệ chuyển giao công nghệ máy trợ thở của ông Trần Ngọc Phúc.
Hiện có 16 quốc gia liên hệ công ty ông Phúc để chuyển giao công nghệ sản xuất máy trợ thở trong đó có Mỹ, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Ấn Độ, Đài Loan… Công ty Metran đang làm việc với Mc Kinsey để chuyển giao công nghệ cho các quốc gia khác.
Về tài chính cho hai dự án sản xuất máy thở, ông Phúc cho biết đã có nhiều đơn vị đồng hành. “Tuy vậy, không công ty hay nhóm nào có thể đơn phương phân phối sản phẩm này. Các bên liên quan sẽ phải cùng ngồi lại, bàn bạc để đưa ra quyết định vì lợi ích chung của quốc gia và của người bệnh”, ông Phúc khẳng định.
Ông Phúc cho biết, thủ tướng Việt Nam nhiều lần chỉ đạo, đôn đốc việc chuẩn bị máy thở phục vụ công tác chống dịch Covid-19 trong nước. Tuy vậy, lời hứa trong một tháng đáp ứng đủ số máy ông không dám cam kết. “Tôi không hứa những gì mình không thể làm được”, ông Phúc cho biết.
Với máy thở JFlo, nếu có nguồn vốn R&D (nghiên cứu và phát triển), Metran sẽ ra mắt sản phẩm vào tháng 8. Còn không, phải đến tháng 10 sản phẩm này mới vượt qua các bài kiểm định để đi vào sản xuất
Metran được thành lập từ năm 1984. Cái tên Metran được ghép từ Medical (y khoa) và Trần (họ của ông Phúc).
Năm 1982, ông phát minh máy hô hấp nhân tạo dao động cao tần số Hummingbird cho trẻ em sinh non.
Nhật Hoàng từng ghé thăm
Năm 2012, công ty Metran vinh dự được Nhật Hoàng ghé thăm.
Trước khi có Hummingbird, 90% trẻ sinh non tại Nhật Bản tử vong. Sau khi có chiếc máy này, 99,7% trẻ sinh non được cứu sống.
Năm 2016, Bệnh viện Từ Dũ là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam sử dụng máy thở Hummingbird do công ty của ông tài trợ.
Từ một công ty được thành lập bởi người không phải gốc Nhật, năm 2012, Metran vinh dự đón tiếp Nhật Hoàng tham quan công ty. Được biết, Nhật Hoàng rất ít khi xuất hiện trước công chúng và mỗi năm chỉ thăm 1-2 công ty. Điều đó càng cho thấy sự đóng góp to lớn của Metran với y học Nhật Bản và thế giới.
Ngoài đóng góp cho y học, ông Trần Ngọc Phúc cũng hỗ trợ cho nhiều du học sinh người Việt tại Nhật.
Ngoài ra, phát minh máy trợ thở của ông Trần Ngọc Phúc còn giành giải nhất trong cuộc thi chế tạo máy thở nhân tạo tại Đại học Harvard do Viện Y tế Mỹ tổ chức.
Đồng thời, sản phẩm tâm huyết của ông còn được chọn là một trong 300 METI’s công nghiệp sản xuất của Nhật Bản – Monozukuri SMEs (2007), nhận giải The 5th Shibusawa Eiich Venture Dream Award.
Năm 2018, ông Trần Ngọc Phúc nhận Huân chương Mặt trời mọc tia sáng bạc của Nhật vì những cống hiến của mình.
Người em trai “nàng thơ” bảo rằng suốt mấy chục năm trời, cả gia đình không ai dám đọc, dám nghe bài thơ Mầu tím hoa sim vì nó quá thật, gợi sự “rờn rợn” và nỗi đau đớn tiếc thương.
Từ thành phố Thanh Hóa, chúng tôi tìm về ấp Thị Long, huyện Nông Cống – nơi được ghi “người vợ chờ bé bỏng chiều quê” nằm lại.
Bất ngờ qua điện thoại, ông Nguyễn Hữu Đán bảo: “Mẹ già tôi không nằm ở Nông Cống. Mẹ đang nằm ở nghĩa trang làng Định Hòa ở thành phố Thanh Hóa, cũng là quê của bà”.
Làng Định Hòa thuộc phường Đông Cương, nằm cách cầu Hàm Rồng vắt qua sông Mã non ba cây số đường chim bay.
Tìm đến nhà thờ họ Lê Đỗ, ông thủ từ Lê Đỗ Dạng say sưa giới thiệu về ngôi nhà thờ cổ ba gian chạm trổ công phu được làm từ thời Khải Định, là nhà thờ cổ hiếm hoi, gần như duy nhất còn lại trong vùng.
Bên bảng phả hệ treo trên bức tường, ông diễn giải ngài tổ Lê Thành đến đất Định Hòa lập ấp từ mấy trăm năm trước, vốn là công thần nhà Lê Trung hưng được ban quốc tính nên con cháu về sau lấy họ Lê Đỗ.
Bảng phả hệ thể hiện người cha Lê Đỗ Kỳ đời thứ 17, bà Ninh đời 18.
Nằm cách khu dân cư Định Hòa một cánh đồng rộng trồng nhiều hoa hồng và rau màu tươi tốt, nghĩa trang họ Lê Đỗ được xây dựng qui mô với hàng trăm ngôi mộ xếp theo thế thứ.
Phần mộ “nàng thơ” nằm ở dãy thứ sáu, tấm bia ghi rõ: “Mộ chí bà Lê Thị Ninh, đời thứ 18, sinh năm 1932, tạ thế 29-4-1949”.
Sau khi thắp hương, ông Dạng dẫn chúng tôi vào làng tìm gặp ông Lê Đỗ Tùng, trưởng ban điều hành dòng họ.
Ông Tùng là cán bộ về hưu, không biết có người trong họ vốn là “nàng thơ” dù ông rất thích bài thơ Mầu tím hoa sim. Ông “hi vọng” nhiều thông tin sẽ nằm trong gia phả mà mình lưu giữ.
Chúng tôi lần giở bản gia phả trong sự hồi hộp, bỗng “bắt phải vàng” khi ở đời thứ 18, mục 238, ghi rõ rành: “Lê Thị Ninh, tức Lê Đỗ Thị Ninh (1932-1948, giỗ ngày 29-5), cha: Lê Đỗ Kỳ, mẹ: Đái Thị Ngọc Chất, chồng: Nguyễn Hữu Loan (nhà thơ, 1916-2010), mộ ở làng Định Hòa”.
Thông tin trong gia phả dù vài độ lệch về ngày tháng nhưng khẳng định rõ phần mộ kia chính xác là “người vợ chờ bé bỏng chiều quê” của thi sĩ tài hoa Hữu Loan.
Nhờ ông Tùng, chúng tôi liên lạc với ông Lê Đỗ Bình – em trai “nàng thơ” – và chốt cuộc hẹn tại Hà Nội.
Ngồi trên phiến đá xanh trước đền Ngọc Sơn bên hồ Gươm, ông Bình kể nhiều về một thời loạn lạc tứ tán. Từ đầu năm 1947, tiêu thổ kháng chiến, ngôi nhà lớn ở Thanh Hóa bị giật sập, cả gia đình sơ tán lên ấp Thị Long sinh sống, nơi người bố có trang trại rộng chừng 5 – 7 mẫu.
Đến đoạn, giọng ông chùng nghẹn xuống, nhắc hình ảnh người chị xoáy trôi theo dòng nước suốt mấy chục năm vẫn mãi trong tâm trí.
“Sông Chuồng hôm ấy đang mùa nước dữ, nước chảy xiết, dâng cao. Mẹ tôi cùng chị Ninh đưa quần áo ra bến giặt, tôi và hai đứa em nữa theo sau. Chị Ninh không may bị trượt chân, tôi nhìn rõ cảnh chị bị dòng nước xoáy cuốn vào và đưa đi.
Mẹ tôi la hét gọi người đến cứu nhưng vì dân ở cách xa, không ai nghe thấy. Mãi lúc sau, một thanh niên xuống vớt chị lên, cách chỗ trượt chân khoảng chừng trăm mét. Mẹ tôi bất thần không biết gì nữa” – ông Bình kể.
Tang trùng tang, bà Đái Thị Ngọc Chất đau đớn tột cùng bởi người mẹ ruột sống cùng mình cũng qua đời trước đó không lâu. Bà cho an táng con gái cạnh người mẹ.
Mãi đến năm 1967, bà sai ông Bình về Thị Long tìm mộ mẹ và con gái đưa về cải táng đầu làng Định Hòa. Sau này khi Trường cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa xây dựng, phần mộ bà Ninh tiếp tục được dời đến nghĩa trang gia đình.
Trong câu chuyện dài, ông nhớ mãi hình ảnh người chị gái có “khuôn mặt khá bầu, người hơi đậm, thấp và nhỏ nhắn” và ngậm ngùi vì di ảnh duy nhất bị thất lạc trong chiến tranh.
Sau đợt cải cách ruộng đất 1954, ông Bình tìm về Vân Hoàn ở cùng anh rể hơn 1 tháng mới ra Hà Nội.
Ông nhớ mãi Hữu Loan hồi đó “suốt ngày đọc sách rồi đi ra đi vào, viết lách làm thơ. Thỉnh thoảng anh đưa tôi đi về mấy xóm chài xem họ xiếc tép, làm cá. Cái thời cơm gạo khó khăn, hai anh em ăn toàn khoai lang”.
Sau đó không lâu, khi Hữu Loan đang làm báo Văn Nghệ, ông Bình cũng tìm đến nhà anh rể gần Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở lại 2 tuần để chờ một người anh từ chiến khu trở về.
Năm 1985, ông Bình lại về thăm anh rể ở Vân Hoàn, giai đoạn bài thơ Mầu tím hoa sim “đã công khai, nổi tiếng như cồn”. Ông kể: “Anh Loan bảo tôi: “Người ta sẽ đến đây tìm mộ nàng thơ Mầu tím hoa sim. Tôi muốn đưa mộ bà Ninh về Vân Hoàn này”.
Tôi trả lời anh rằng chị gái đã bị di dời nhiều lần, nay đã mồ yên mả đẹp. Vả lại anh bây giờ đã yên bề gia thất, mười đứa con sum vầy, có người chăm sóc. Đưa chị về đây cũng cô quạnh lắm, chẳng nên chút nào”.
Ông Bình kể khi còn sống, mẹ không bao giờ cho nghe bài thơ Mầu tím hoa sim. Hễ ai đọc lên là bà khóc. Mãi sau khi mẹ qua đời (1987), anh em trong gia đình mới đọc và nghe các bài hát phổ thơ, vậy mà không lần nào không rơi nước mắt.
“Bây giờ chúng tôi già rồi, “trơ” ra rồi, vậy mà đọc còn thấy đau xót lắm, bởi anh Hữu Loan viết tình cảnh rất thật. Ba người anh đi bộ đội, người em chưa biết nói đều có.
Còn đồi sim, trong trí nhớ tôi hồi ấy nơi trang trại ở vùng bán sơn địa Thị Long, màu tim tím cứ trải dài đến tận núi. Rồi những hình ảnh mẹ tôi “ngồi bên mộ con đầy bóng tối”, “bình hoa ngày cưới thành bình hương”… tất cả đều thật hết” – dừng kể, ông khẽ đọc những câu thơ trong nỗi buồn miên man.
Câu chuyện gia đình Hữu Loan lẫn gia đình “nàng thơ” Mầu tím hoa sim cho biết Hữu Loan luôn thương, kính và biết ơn người mẹ vợ Đái Thị Ngọc Chất.
Tuy nhiên, theo ông Bình, có lẽ vì hai bên “có khác nhau” nên ít liên lạc. Đến khi người mẹ mất ở Hà Nội, gia đình ông cũng không báo.
Khi biết tin, Hữu Loan đã làm đôi câu đối vừa thể hiện dâng mẹ, vừa ẩn ý trách cứ:
TỪ ĐỨA BÉ ĐẺ RƠI ĐẾN BÀI THƠ TÌNH THẾ KỶ
Chùa Vân Lỗi nằm cách đường vào thôn Vân Hoàn chừng vài chục bước chân. Câu chuyện ra đời của Hữu Loan được người sãi giữ chùa kể đã lan truyền rất lâu ở làng.
Chiều cuối xuân nhạt nắng, từ thành phố Thanh Hóa, chúng tôi đi khoảng 30km về trung tâm huyện Nga Sơn. Từ xa đã dễ dàng nhận thấy ngọn núi Vân Hoàn sừng sững vươn lên giữa đồng bằng.
Nép bên sườn núi, nhìn ra sông Mã, chùa Vân Lỗi nằm cách đường vào thôn Vân Hoàn chừng vài chục bước chân.
Được xây dựng từ thế kỷ XIV thời nhà Trần, vách núi của ngôi chùa từng mang tên Sùng Nghiêm Tự này vẫn còn in dấu nhiều bài thơ do tiền nhân để lại.
Nhưng không chỉ thế, 104 năm trước, nơi đây còn gắn liền với sự ra đời của một nhà thơ tên tuổi khá đặc biệt trong văn học Việt Nam: Hữu Loan.
Đứng trên những bậc đá cheo leo lên chùa, ông Nguyễn Hữu Dũng, người sãi giữ chùa, nở nụ cười thân thiện mời chào.
Nghe chúng tôi hỏi thăm về thi nhân Hữu Loan, ông “khoe” ngay: “Tôi gọi nhà thơ là chú, bố tôi với nhà thơ là anh em chú bác ruột. Hồi xưa, ông ấy được đẻ loi (đẻ rơi) ngay cánh đồng trước chùa đây chứ đâu”.
Vừa nói, ông Dũng vừa hướng ra đồng cói xanh xanh trước chùa, phía xa là con sông Mã hiền hòa uốn lượn.
Câu chuyện ra đời của Hữu Loan được người sãi giữ chùa 76 tuổi kể đã lan truyền rất lâu ở làng.
Ban đêm, sư trụ trì Sùng Nghiêm Tự bỗng thấy một vầng sáng vàng lóe lên phía trên núi Vân Hoàn. Rạng sáng hôm sau, một người phụ nữ đang làm đồng phía trước chùa lên cơn đau đẻ bất ngờ. Lê vào tới thềm chùa thì bà sinh rớt con ngay ở đó.
Sư trụ trì ngày ấy nói với người phụ nữ rằng đứa bé con bà rất đặc biệt, hẳn sau này sẽ hơn người. Đứa bé đó chính là nhà thơ Hữu Loan.
Cậu bé Hữu Loan lớn lên với trí thông minh, học đâu nhớ đó càng khiến nhiều người làng tin vào “điềm trời”.
Dù nhà nghèo Hữu Loan vẫn được cha mẹ cho theo con đường ăn học. Để rồi năm 1938, 22 tuổi, con đường học vấn của Hữu Loan tỏa sáng khi đỗ “tú tài Tây” tại Hà Nội, bằng cấp thời ấy rất hiếm người đạt tới.
Chỉ cần có bằng tú tài là đủ để tìm việc trong một cơ quan hành chính đương thời, nhưng cơ hội ấy chưa bao giờ nằm trong ý định của Hữu Loan. Sau khi có bằng tú tài Tây, ông hành nghề dạy học ngay trên quê hương mình.
Trong suốt hành trình chúng tôi tìm hiểu về Hữu Loan, câu chuyện về xuất phát điểm của bài thơ được rất nhiều người kể lại gần như nhau.
Hồi đó ở số 48 Phố Lớn (Trần Phú, Thanh Hóa ngày nay), bà Tham Kỳ (tức Đái Thị Ngọc Chất, vợ ông Lê Đỗ Kỳ, chánh thanh tra Đông Dương về canh nông) mở cửa hiệu tạp hóa bán nhiều loại giấy bút, sách vở.
Là con ông Đái Xuân Quảng (một cử nhân Hán học, từng làm tri huyện), nên bà Tham Kỳ giỏi Hán ngữ lẫn Pháp ngữ, đam mê thơ phú, thuộc nhiều tác phẩm văn học cổ như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm khúc…
Thời gian ở Thanh Hóa học tú tài, Hữu Loan vẫn thường xuyên lui tới cửa hiệu của bà Chất để thỏa mãn niềm đam mê sách vở. Rất quý mến chàng trai con nhà nghèo hiếu học, bà Chất đã mời Hữu Loan về dạy kèm cho ba con trai của mình.
Lần đầu tiên Hữu Loan về nhà bà Chất, con gái thứ tư của bà vẫn còn là cô bé con.
Bẵng đi một thời gian, khi đã là thầy giáo đang dạy Trường Alexandre de Rhodes do nhà thờ Công giáo ở Thanh Hóa lập, Hữu Loan lại được bà Chất mời về nhà dạy cho chính cô con gái này, lúc đó đã là cô bé Lê Đỗ Thị Ninh 8 tuổi.
Một thời gian sau, Hữu Loan tham gia kháng chiến.
Ông Nguyễn Hữu Đán, con trai út Hữu Loan, tâm sự: “Bố tôi kể sau ngày độc lập 2-9-1945, khi đang làm tuyên huấn, cụ đã diễn thuyết vận động nhân dân ủng hộ cách mạng trong Tuần lễ vàng ở Thanh Hóa.
Vô tình thấy cụ đang diễn thuyết, lúc đó là con nhà giàu đeo nhiều nữ trang, mẹ Ninh đã tháo ra hết ủng hộ cách mạng.
Về nhà, mẹ giải thích chuyện không còn vàng bạc với người mẹ là bà Tham Kỳ, rằng: “Mẹ ơi, hôm nay con gặp anh Loan. Anh đọc diễn văn Tuần lễ vàng trước bao nhiêu người, anh thông minh, giỏi lắm mẹ ạ”.
Là phụ nữ, biết “bệnh” tương tư, người mẹ hiểu rõ tâm tình của cô con gái hay nhắc đến “anh Loan”.
Sẵn mối cảm mến đặc biệt với thầy giáo và biết được tình ý của con gái, bà Tham Kỳ đã viết bức thư rồi sai người cậu tên Ngân chuyển vào nơi Hữu Loan đóng quân.
Nội dung nôm na: Cái Ninh nhà tôi nó khen anh lắm, hôm nọ vì anh mà nó tháo hết vàng bạc để ủng hộ cách mạng. Nó nhắc anh suốt. Nếu anh có ưng thì gia đình sẽ gả Ninh cho anh, đồng ý thì anh về sớm…
Cũng chính bà Chất đã kết duyên cho mối tình đầu đời của Hữu Loan. Sau tiêu thổ kháng chiến, khi bà Chất các con về sơ tán ở ấp Thị Long, Nông Cống (cách thành phố Thanh Hóa chừng 30km), Hữu Loan đã xin về phép và có một đám cưới giản đơn nhưng đầy hạnh phúc.
Một đám cưới chân thật như lời thơ của ông:
“Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo cưới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi!”.
Để rồi ba tháng sau đó, người vợ qua đời trong đau đớn.
Một trong những người ở cùng Hữu Loan trong kháng chiến lúc bấy giờ là nhà thơ Vũ Cao từng viết lại thời khắc đau thương nhất của Hữu Loan: “Trong một quán nhỏ ở Thanh Hóa, anh báo tôi biết cái tin đột ngột: Lê Đỗ Thị Ninh vừa mất. Bàn tay anh cầm cốc nước run lên bần bật, nước bắn tung tóe xuống bàn, mặt anh tái xanh”.
Và những đau đớn ấy theo suốt đường hành quân xa, những vần thơ bất hủ cứ thế theo dòng cảm xúc của nhà thơ tài ba ra đời.
Sau thời gian “truyền tụng ngầm”, bài thơ Mầu tím hoa sim lần đầu tiên được Nguyễn Bính cho đăng trên báo Trăm Hoa. Không ít ý kiến “quy kết” bài thơ là “thứ văn chương ủy mị, mang tư tưởng tiểu tư sản”, được xem là nguyên cớ để Hữu Loan rời báo Văn Nghệ về quê lao động, thồ đá nuôi con.
Ở miền Nam, tác phẩm Mầu tím hoa sim được các nhạc sĩ tài hoa như Phạm Duy, Anh Bằng, Dzũng Chinh phổ nhạc, làm thổn thức biết bao trái tim.
Đến năm 2004, Mầu tím hoa sim được một công ty ở TP.HCM mua tác quyền với giá 100 triệu đồng…
Cô gái Dao đầu hai xoáy tung vó ngựa trời Âu
Cô gái Dao đầu hai xoáy tung vó ngựa trời Âu
Phạm Xuân Nguyên
Một cô gái dân tộc Dao Tuyển ở thôn Ngám Xá, xã Nậm Chạc, huyện Bát Xát (Lào Cai) sát biên giới Việt Trung đã trở thành người đầu tiên trong bản đậu đại học và cũng là người đầu tiên ở xã vùng cao này đi du học châu Âu. Năm 2016, sau khi tốt nghiệp xuất sắc trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam và đi làm hai năm, cô đã giành được học bổng toàn phần Erasmus Mundus trị giá 50.000 USD đào tạo thạc sĩ ngành quản lý tài nguyên rừng bền vững của Trường đại học Gottingen (Đức) và Trường đại học Padova (Italia). Cuốn sách mang tên “Đường ngược chiều từ bản người Dao đến học bổng Erasmus”. Và tên tác giả là Chảo Yến.
Đường ngược chiều của Chảo Yến là đi ngược lại những định kiến, quan
niệm, thái độ của dân bản, kể cả bố mẹ và những người thân nhất trong họ
hàng, gia đình, cho rằng con gái thì không nên học lắm làm gì, con gái
người dân tộc thiểu số thì càng không mong học cao vì học sao lại người
Kinh. Cô bé đi học sớm tuổi khi được mẹ cho đi theo cùng chị đến trường
ngày khai giảng và rồi từ ngày đó, việc học của cô là chuỗi ngày vật lộn
với cái sự ăn đói mặc rách và đủ mọi sự thiếu thốn của một gia đình
nông dân nghèo vùng cao.
Hãy nghe cô thạc sĩ hiện nay ở thủ đô kể lại cái ăn của cô bé là mình hồi nhỏ ở quê: “Tôi
khai vị bữa sáng bằng lá me rừng, món chính là lá xuyến chi, có hôm đổi
sang lá tàu bay cho phong phú. Tôi kết thúc bữa sáng bằng món tráng
miệng là lá chó đẻ, có nơi gọi là sam hôi. Tôi chào đón bữa trưa bằng
món nộm lá thập cẩm: lá chó đẻ, lá tàu bay, lá me rừng, lá xuyến chi và
nhiều loại “rau thơm” khác có nguồn gốc xuất xứ không từ trên cành cây
thì cũng dưới mặt đất. Bữa tối của tôi sẽ hoành tráng hơn vì tôi được ăn
ở những nơi yêu thích của loài lợn như chuồng lợn hoặc các bụi rậm và
tất nhiên, các món ăn cũng không kém phần đặc sắc. Tất cả các bữa ăn của
tôi đều được ăn kèm với một loại gia vị mà gia đình người Việt Nam nào
cũng có, đó là muối trắng” (tr. 41).
Cứ thế, bố mẹ suốt ngày lên nương rẫy, cô bé sống tự nhiên như cây
cỏ cùng chúng bạn và đi học hồn nhiên như đi chơi. Nhưng cô đã được Trời
phú cho trí thông minh nên học giỏi. Học giỏi nhưng hết năm lớp 9 thì
cô đành phải ở nhà cùng anh trai theo bố mẹ lên rẫy phát nương hoặc chăn
trâu, lấy củi dù cô rất muốn được xuống huyện dự thi vào lớp 10. Thầy
giáo thương trò đến nhà thuyết phục bố mẹ cho cô đi học tiếp cũng không
được và cô sau khi nghe lỏm xong câu chuyện của người lớn lòng đầy buồn
bã đã ra ngồi chuồng lợn khóc ròng bỏ cả bữa tối. Để nguôi ngoai nỗi
thèm học, cô tranh thủ những lúc chăn trâu lại đứng nấp ghé lớp học mà
mình đã học qua đến nỗi thầy giáo cũ lại cho vào lớp ngồi cùng để có dịp
ôn lại kiến thức cũ mong năm sau đi thi. Hy vọng lại nhen nhóm trong
cô. Nhưng rồi nó lại nhanh chóng bị dập tắt bởi những lời bàn ra tán vào
của bà con xóm bản để cuối cùng bố mẹ cô quyết định dứt khoát và lạnh
lùng là cô phải ở nhà đi rẫy thay vì đi học tiếp. Đó là sự ngược chiều.
Ba năm ở nhà cô đã những muốn ruồng bỏ, quên đi ước mơ đến trường học
tiếp, nhất là khi cô phải chứng kiến cảnh các chủ nợ đến nhà mình giằng
từng bao lúa mới tuốt xong để trừ vào món nợ bán lúa non mà bố cô đã
ứng trước để có tiền lo việc học cho các con. Cô đã tìm cách vào rừng
lấy măng phơi khô bán chợ, đã thử mua rau đưa sang Trung Quốc bán, đã
liều sang bên kia biên giới làm công kiếm tiền.
Và cô tưởng đã yên phận như bao cô gái vùng cao khác. Nhưng rồi ước mơ lại bùng cháy trong cô, “lần này không còn chỉ là đơn giản là thích đi học nữa mà là khát vọng thoát nghèo”
(tr. 212). Và người thầy giáo cũ đã khích lệ cô, đã lại đến nói chuyện
với bố mẹ cô. Rồi cô được xuống huyện thi vào lớp 10 và thi đậu vào
Trường Trung học Phổ thông số 2 Bát Xát. Cô được vào lớp 12A4 là lớp cá
biệt của trường. Cô được bầu làm lớp trưởng cả ba năm học. Cô được nhận
học bổng của tổ chức Global Care cho học sinh vượt khó học giỏi ngay năm
học đầu cấp.
Vượt qua những khó khăn nghịch cảnh cô đã bước đầu chứng tỏ được
mình. Nhưng cùng lúc, sự ngược chiều lại tăng lên với cô mỗi khi về nhà
thấy bố mẹ không vui, thấy những người bà con chòm xóm mỉa mai, dè bỉu
việc học của mình, thấy sự độc ác hồn nhiên của mọi người. “Tôi thật
sự sợ con đường về nhà! Sợ cái bản làng tôi yêu từng ngóc ngách, sợ
những con người mà tôi từng rất yêu quý. Bản làng lúc đấy đã có điện
lưới quốc gia, nhưng đường về nhà thì lại bị mất điện, nên chúng tôi
chẳng muốn tìm đường về” (tr. 230) – cô gái lúc đó đã nghĩ vậy.
Nhưng cô vẫn quyết ngược chiều. Tốt nghiệp phổ thông, cô thi đậu vào
Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, tiếp tục phát huy năng lực học tập
của mình, chinh phục được tiếng Anh, từ đó mở ra cho mình con đường đi
đến châu Âu, vươn ra thế giới. Cô đã chủ động nắm lấy vận mệnh mình và
biết “căng buồm đợi gió” khi vận may đến. Cô chọn ngành học về rừng vì
cô sống ở rừng, biết nỗi đau của rừng khi bị con người phá hủy và nỗi
đau của người khi vì phá rừng mà bị thiên nhiên trừng phạt. Hiện giờ
Chảo Yến đang làm việc tại Trung tâm Con người và Thiên nhiên (Hà Nội).
Cô gái tuổi Ngọ (1990) đã thực sự tung vó ngựa vượt qua những rào cản
ngược chiều để phi tới những miền xa khát vọng, những đỉnh cao mơ ước,
cống hiến sức lực và năng lực của mình cho lợi ích cộng đồng.
Cuốn tự truyện “Đường ngược chiều từ bản người Dao đến học bổng
Erasmus” đọc thích vì giọng điệu kể chuyện. Chảo Yến kể lại cuộc đời
tuổi trẻ của mình bằng lời văn hồn nhiên, tinh nghịch, mang chất tuổi
mới lớn (teenage) tạo được sự đồng cảm yêu mến nơi người đọc dù chuyện
bố mẹ, bản làng và của chính cô nhiều buồn bã, đau xót. Những trang kể
về buổi khai trường, về buổi học cấp hai đầu tiên, về cuộc đi chợ huyện,
về cảnh tranh mót mía với bầy lợn, về cậu bạn tên Hộp, về chuyện
“cave”, về hình ảnh người bố trong buổi lễ tri ân trưởng thành của con
gái, về chuyến đi của bố con lần đầu xuống Hà Nội… đọc lên có thể cười
khóc được.
Đặc biệt trong truyện kể của Chảo Yến hiện lên sinh động những con
người quanh cô, đã giúp cô dám làm hành trình ngược chiều đi tới ước mơ.
Đó là những người thầy ở cấp trung học và đại học. Đó là anh chị em
trong nhà. Và trên hết là người mẹ của cô. Mẹ hay quát mắng, phát mông,
đánh đòn con gái mỗi khi cô nghịch ngợm. Mẹ đã có lúc cùng bố muốn con
gái thôi học ở nhà. Nhưng chính mẹ sau hôm nói chuyện với thầy giáo đã
quyết định cho con gái xuống huyện thi vào lớp 10 bất chấp ý bố không
muốn. Mẹ tin ở đứa con gái “đầu hai xoáy” của mẹ. Mẹ đã truyền cho con
gái quyết tâm đi tới từ lời tâm sự: “Cuộc đời mẹ từ bé đã vất vả,
tám tuổi mẹ đã phải đi làm thuê cùng bà ngoại để mua thuốc phiện cho ông
ngoại. Sau ông ngoại mất, mẹ lại phụ bà ngoại nuôi các cậu, các dì. Mẹ
cũng rất muốn được đi học, đến lúc lấy bố con mới được ông nội dạy để
biết đọc báo. Mẹ mà được đi học mẹ chắc chắn cũng học giỏi như con,
nhưng đời mẹ coi như bây giờ chỉ có các con thôi. Nên con hãy nhớ những
gì mẹ kể, những gì người ta đối xử với bố, với mẹ, với nhà mình, để cố
gắng học. Con tuyệt đối không được thất bại, con phải cho mọi người thấy
con đường mình đi là đúng” (tr. 229). Nghe những lời này của mẹ,
cô gái biết không thể tự cho phép mình bỏ cuộc. Cô đã dấn bước tiếp trên
con đường đã chọn, đã quyết tâm leo hết con dốc Khó Khăn để được “rã
rời” trong hạnh phúc tột độ khi lên tới đỉnh dốc.
Khép lại cuốn tự truyện của mình, Chảo Yến viết: “Tôi không dám
nói tôi là người thành công, nhưng với tôi nụ cười tít mắt của bố mẹ
khoe khắp nơi rằng “Con gái tôi sắp đi Đức học thạc sĩ”, nụ cười của
thầy Lee, thầy Dũng khi nói “Congratulations! Well done, I’m proud of
you”, hay chỉ đơn giản là quyết tâm đi học của một vài em nhỏ ở trường
cấp hai trên bản, đó chính là sự thành công. Thành công còn là cả khi
tôi dám thoát khỏi lớp vỏ bọc, dám mơ ước được bay cao, bay xa như bao
người. Hay đúng hơn, tôi vốn đã thành công ngay từ giây phút tạo hóa cho
tôi được làm con của bố mẹ. Dù có nghèo, có vất vả, nhưng chính hoàn
cảnh đó đã tôi luyện tôi thành một người kiên cường” (tr. 276).
Có lẽ cả cuốn sách và những lời này của tác giả sẽ truyền được cảm
hứng cho nhiều người đọc. Chảo Yến đã có dự định trích 10% lợi nhuận từ
cuốn sách này để lập một quỹ học bổng dành cho các học sinh nghèo ở quê
mình và cho các sinh viên ở Trường Đại học Lâm Nghiệp nơi cô từng học.
Buồn nào chạm nhẹ
Tiếp theo những vần thơ (nằm nhà tránh dịch bệnh lây lan). Sáng hôm nay tôi nhận ra có một nỗi buồn vừa chạm nhẹ và vần thơ lục bát, tôi phải viết ra để nhna65n biết mình đang suy tư có nghỉa mình đang hiện hữu. Xin chia sẻ cùng quý vị. Chúc qúy vị bình an trong mọi ngày.
Lê Tuấn
Buồn nào chạm nhẹ
Nỗi
buồn sương trắng bay về
Hạt
sương đêm đọng trên lề trang thơ
Trăng
còn đẫm nguyệt trong mơ
Hoa
rơi thềm lạnh hững hờ sương bay.
Buồn
nào chạm nhẹ trên tay
Cho
rung động đến trải bày tình riêng
Em
về hoa lá chao nghiêng
Giải
oan bao nỗi oan khiên phận đời.
Nụ
cười hồng má đôi mươi
Bay
tà áo mỏng bước dời gót xuân
Nụ
tầm xuân vướng theo chân
Cho
bao thương nhớ tần ngần nhìn theo.
Lệ
rơi ướt mối tình nghèo
Bước
đi lòng vẫn nghẹn ngào thương ai
Tìm
xem có một dấu hài
Buôn
lời ướm hỏi trang đài còn vương.
Buồn
nào chạm bóng tà dương
Xa
xăm mấy nẻo một phương diệu vời.
Một
thời trôi nổi bên trời
Đóa
vô thường nở trong người suy tư.
Lê Tuấn
“nỗi buồn vừa chạm,
khi nằm nhà tránh dịch bệnh’
THÔNG BÁO: TUYỂN TẬP VĂN THƠ LẠC VIỆT 2020
THÔNG BÁO: TUYỂN TẬP VĂN THƠ LẠC VIỆT 2020
Kính Thưa quý văn thi hữu,
Trong mục đích bảo tồn văn hóa Việt tại hải ngoại, Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt sẽ phát hành một tuyển tập Văn – thơ vào cuối tháng 11, 2020. Trân trọng kính mời quý văn – thi hữu góp tay cùng chúng tôi thực hiện mục đích này bằng cách đóng góp bài vở cho tuyển tập VTLV 2020.
Chủ đề: “Tháng Tư và covid-19”
– Tuy nhiên ban biên tập sẽ hoan nghênh các tác phẩm với chủ đề khác. – Thể loại: Truyện ngắn, Kịch, tùy bút, xã luận, thơ và tranh ảnh.
– Nội dung tác phẩm: Tôn trọng các giá trị đạo đức, và văn hoá Việt, không đả kích cá nhân, tôn giáo, hay khuynh hướng chinh trị quốc gia khác biệt. Tuy nhiên Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt sẽ không phổ biến bất cứ tác phẩm nào có nội dung tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản. Ban biên tập có thể từ chối đăng bài của quý vị tác giả và không cho biếy lý do.
Điều kiện gởi bài: 1/ Tác giả, trong hay ngoài nước đều có thể gởi bài về tham dự, và không phân biệt tuổi. Có thể viết bằng song ngữ Anh-Việt. 2/ Bài gởi qua email attached files, kèm một tấm hình 4×6, và vài dòng tiểu sử để đăng trong tuyển tập. 3/ Bài đánh máy theo Times New Roman, cỡ chữ (Size) 12, và khổ 8.5 x 11 (Ban biên tập không nhận tác phẩm viết tay và gởi qua bưu điện). 4/ Mỗi tác giả có thể gởi văn, hoặc thơ về TT/VTLV 2020 theo hướng dẫn như sau: Tối đa 12 trang khổ sách 6 x 9, kiểu chữ Times New Roman.
Thời gian nhận bài: Kể từ ngày ra thông báo này April 01, 2020 đến hết ngày Sept. 30, 2020. Chi phí in ấn: Văn Thơ Lạc Việt là một cơ sở văn hóa vô vị lợi, do đó chúng tôi kêu gọi mỗi tác giả có bài được chọn đăng, bảo trợ tài chánh để trang trải chi phí theo số trang như sau: 1/ Văn hoặc thơ : Mỗi trang sách (khổ 6 x9) là 12.00 Mỹ Kim. 2/ Mỗi bài văn tối đa 10 trang cho khổ sách 6 x 9. Mỗi trang 12.00 Mỹ Kim. 3/ Thơ tối thiểu 3 bài, tối đa 5 bài.
Ngoài ra chúng tôi hoan nghênh và cảm tạ quý vị văn thi hữu và ân nhân muốn góp phần bảo trợ tài chánh cho tác phẩm thêm hoàn hảo.
Ban Điều Hành có quyền loại các bài văn, thơ không hợp với chủ đề, và không cho biết lý do.
Phát hành: Tuyển tập sẽ được phát hành hạ tuần tháng 11, 2020. Tuyển tập sẽ có số thư viện ISBN, và được lưu giữ tại thư viện hệ thống sách báo LULU, và hệ thống thư viện quốc gia Mỹ.
Mỗi tác giả có bài trong tuyển tập sẽ được nhận sách như sau: – Hai trang sách nhận một tuyển tập VTLV 2020. – Tác giả muốn có thêm sách để biếu tặng thân nhân và bằng hữu, sẽ được mua với giá 12 Mỹ Kim. – Quý vị ở ngoài Hoa Kỳ xin gửi chi phí gởi qua bưu điện $30.00 cho một gói hàng gởi ra ngoài USA. – Số sách còn lại sẽ được Cơ sở Văn Thơ Lạc Việt phát hành, và phổ biến rộng rãi qua các phương tiện truyền thông của Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt và truyền thông bạn.
TM/BBT Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt. Chinh Nguyên
Tỳ Bà Hành Mạn Đàm – Phần 2
Thái Thanh – giọng ca muôn đời
Thái Thanh – giọng ca muôn đời
Thái Thanh- giọng ca tiêu biểu, đặt nền móng cho tân nhạc Việt Nam vừa ra đi tại Mỹ ở tuổi 86. Bà đã sống một cuộc đời trọn vẹn cho âm nhạc và để lại hàng trăm bản thu mẫu mực, thể hiện một kỹ thuật thanh nhạc độc đáo, đầy tìm tòi, sáng tạo. Lối nhả chữ, luyến láy như làm xiếc của bà diễn tả được đủ mọi cung bậc cảm xúc của con người cũng như tôn vinh vẻ đẹp của phát âm tiếng Việt.
Thái Thanh và anh ruột Phạm Đình Chương – người đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp của bà lúc khởi đầu Ảnh: Tư liệu
Ðộc nhất vô nhị
Thái Thanh tên thật là Phạm Thị Băng Thanh, sinh năm
1934 ở quê nội, làng Bạch Mai, Hà Nội. Bà bắt đầu học hát từ năm 10 tuổi
với anh trai Phạm Đình Chương và bước lên sân khấu cùng nhóm nhạc gia
đình năm 12 tuổi. Giọng hát Thái Thanh và âm nhạc Phạm Duy (người lấy
chị gái bà) gắn bó hòa quyện cùng nhau. Thái Thanh hát hầu hết các sáng
tác của Phạm Duy, trừ mảng Tục ca.
“Có những lần anh Phạm Duy mới sáng tác được hai ba câu của một bài ca đã gọi tôi: “Em, em Thanh, hát thử cho anh nghe câu này”.
Thế thì có nghĩa là bài của ông Phạm Duy chưa xong, Thái Thanh đã hát
rồi… Tôi không nghĩ là anh Phạm Duy sửa đổi nhạc của anh ấy vì tiếng hát
của tôi đâu. Tôi chỉ nghĩ là có nhạc Phạm Duy thì có tiếng hát Thái
Thanh như thế này, và có tiếng hát Thái Thanh thì nhạc Phạm Duy mới…”-
bà bỏ lửng câu nói trong cuộc trò chuyện với Nguyễn Tiến Đức vào năm
2002. Chính Phạm Duy đã nói thay bà: “Nếu không có Thái Thanh thì nhạc
Phạm Duy cũng không được hay và nổi lên được như vậy.” Và cũng chẳng
phải đợi đến tận bây giờ, ai cũng phải công nhận, hơn ai hết, Thái Thanh
chuyển tải đến được tận hồn cốt âm nhạc của Phạm Duy.
Cách hát cường điệu của bà rất được ưa thích lúc mới
xuất hiện và in dấu lên một số ca sĩ lớp sau. Nhưng thế hệ khán giả sau
này lớn lên trong một môi trường cảm thụ khác không phải ai cũng có đủ
trải nghiệm để ngấm được biểu cảm khác lạ này. Nhạc sĩ Tuấn Khanh mô tả:
“Ngay cả trong giới sinh viên Nhạc viện, thậm chí là sinh viên thanh
nhạc, cũng không phải ai cũng tiếp nhận được tiếng hát Thái Thanh. Để
thưởng thức nhanh, những người học nhạc chúng tôi thường chia nhau giọng
hát của những người thuộc hàng con cháu của bà như Thái Hiền, Duy
Quang, Khánh Hà hoặc Ý Lan… chứ không thể bước ngay vào thánh đường âm
nhạc của bà. Giọng hát của Thái Thanh kiêu hãnh như vậy đó. Hoặc để
người tìm tới và chiêm ngưỡng, hoặc là cứ bước qua vô tình chứ không thể
nhận mình là tiếng hát giải trí đơn giản”.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng phải thốt lên: “Nếu ta
nghiêng mình lệch đi một tí, bình diện với thời gian thay đổi, thì cô
Thái Thanh đã ở bên kia tự bao giờ rồi, ví dụ năm ngàn năm về trước hoặc
năm ngàn năm về sau.” Thực sự chỉ trong giai đoạn lịch sử giao thời đặc
biệt đó, trong một gia đình giàu truyền thống âm nhạc như thế, mới hun
đúc nên một giọng hát là sự kết hợp tinh hoa của cả Đông và Tây như Thái
Thanh. Giờ đây nhìn lại có thể thấy Thái Thanh giống như làm một cú
ngược dòng ngoạn mục, chắt chiu những gì thuộc về tinh túy của lối hát
Việt, hòa vào trong kỹ thuật thanh nhạc của riêng mình. Càng về sau này,
ca sĩ Việt càng rõ xu hướng Tây hóa.
Danh ca Thái Thanh (1934-2020)
Thái Thanh kể: “Cả bố tôi và mẹ tôi đều chơi đàn cổ như
tranh, bầu, nhị, sáo… Cụ ông chơi những thứ đàn đó còn cụ bà thì chơi tỳ
bà. Mẹ tôi giỏi về nhạc lắm. Tôi nhớ ngày xưa tôi có được nghe cụ hát ả
đào thật tuyệt. Các bạn của bố tôi mỗi khi làm được những bài thơ hay
là tới đưa cho cụ hát, rồi mọi người ngồi thưởng thức.” Người luyện cho
Thái Thanh hát lối Tây chính là anh trai Phạm Đình Chương, như bà kể:
“Anh ấy mua sách báo âm nhạc của Pháp bầy bán ở Sài Gòn hoặc đặt mua từ
Paris, nói với tôi: Em ạ, em muốn hát hay thì em phải đọc sách này, và
anh sẽ chỉ dạy cho em. Nếu em hát có phương pháp như trong sách thì em
còn hát hay hơn thế nữa…”
Một số người mới nghe có thể cho rằng Thái Thanh hát bị
điệu quá, kịch quá. Tuấn Khanh cũng từng có nghi ngại này: “Thỉnh
thoảng, tôi cũng cũng giả định rằng liệu một nghệ sĩ xuất sắc như bà để
có thể sống thật trong từng bài hát hay không… Nhưng khi nghe được
chuyện bà vất vả thu hàng chục lần bài hát Bà mẹ Gio Linh do cứ
ngừng vì khóc giữa bài, tôi hiểu được rằng tiếng hát Thái Thanh không
hát chỉ cho hôm nay, mà hát cho hôm qua và cả mai sau”. Theo anh, Bà mẹ Gio Linh là một trong những ca khúc mà Thái Thanh trình bày xuất sắc nhất, nhưng bà cũng ít khi trình diễn nhất, vì nó quá đau thương.
Thái Thanh từng tâm sự với tác giả Đỗ Tăng Bí: “Ca sĩ
phải biết yêu tiếng nói của nước mình, phải yêu tiếng Việt của mình. Ca
sĩ còn phải yêu đất nước mình nữa. Khi trong bài hát có nói đến xứ sở,
những vùng nào đó trên đất nước mình, thì mình cũng phải cảm thấy yêu cả
những địa danh đó nữa… Đặc biệt tôi sinh ra ở Hà Nội thì khi đọc đên
hai chữ “Hà Nội” tôi cảm thấy một tình cảm yêu mến vô bờ, đọc đến chữ “em bé quê”
là mình cảm thấy dào dạt tình thương yêu các em nhỏ sống ở những vùng
quê nghèo nàn…. Nếu mình không yêu chữ của nước mình thì giống như
mình hát một bài hát ngoại quốc vậy”. Bà khẳng định bí quyết thành công
của mình còn nằm ở tình yêu với khán giả và tình yêu với những gì trời
đã phú cho mình. Được biết trong những năm không thể đi hát, bà vẫn
thường xuyên luyện thanh để giữ giọng.
Thái Thanh có gần 10 năm hôn nhân với một tài tử màn bạc
nổi tiếng thời bấy giờ là Lê Quỳnh. Bà có công nuôi 5 người con, trong
đó người con trai út bị liệt nửa người dưới nhưng vẫn học hết đại học và
có công việc ổn định tại Mỹ. Sau ly hôn, hai bên vẫn giữ mối quan hệ
thân thiết. Vợ mới của Lê Quỳnh thậm chí còn là người rất hâm mộ giọng
hát Thái Thanh. Năm 2000, bà từng bị tai biến não, mất trí nhớ, nhiều
lúc không nhận ra người thân. Nhưng tới 2004 bà lên sân khấu trình diễn
hết sức duyên dáng cùng con gái. Đó cũng là lần cuối bà xuất hiện trước
công chúng một cách chính thức.
Khánh Ly nhớ Thái Thanh
Năm 1969, Khánh Ly mở phòng trà QueenBee, mời Thái Thanh
làm nòng cốt, cùng lúc đó Thái Thanh cũng là vedette tại phòng trà Đêm
Màu Hồng của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Những bài hit của Thái Thanh lúc
bấy giờ là Kỷ vật cho em, Mùa thu chết, Ngậm ngùi, Nửa hồn thương đau… “Đừng nói gì là khán giả, đến chúng tôi còn mê nữa”, Khánh Ly chia sẻ với Tiền Phong.
“Lũ chúng tôi lúc đó còn trẻ lắm, nghịch ngợm chẳng ai
bằng. Cô Thái Thanh lại rất thương chúng tôi nên chỉ mắng yêu mà thôi. Ở
phòng trà tôi, giờ của cô Thái Thanh là giờ đỉnh. Cô rất đúng giờ và
đến là hát, xong là đi. Ít khi cô ngồi lại trò chuyện. Tụi tôi chỉ đợi
có thế để được nghe những bài mình thích. Thế là không nhường khán giả,
tụi tôi mạnh đứa nào nấy hét: “Cô ơi Ngậm rồi Đau rồi Chết!” Tức là Ngậm ngùi, Nửa hồn thương đau, Mùa thu chết. Đêm
nào tụi tôi cũng trù tréo lên như thế, mà khán giả cũng rất là hoan hô.
Hát xong cô khẽ khàng đi xuống tủm tỉm điểm mặt chúng tôi: “Chúng mày
quá lắm nhé! Bộ hát cho chúng mày à…”.
Cô nói xong lại nhẹ nhàng cười hạnh phúc, cầm cái ví nhỏ
bước đi. Cho đến bây giờ, chúng tôi mỗi lần gặp nhau lại nhắc kỷ niệm
này và những ngày tháng tới sẽ còn nhắc mãi rồi cùng nhau cười và chảy
nước mắt. Ngọc Minh ơi, Hồng Vân ơi, Lan Ngọc ơi, cô Thái Thanh đâu
rồi?!”.
Không ít người cho rằng Thái Thanh là bà
hoàng độc tôn trong tân nhạc Việt. Khánh Ly nêu quan điểm: “Kể ra trên
thế giới, diva không nhiều lắm đâu. Còn nói tới Việt Nam, nếu có, tôi
nghĩ, chỉ một người xứng đáng được xưng tụng là diva, đó là cô Thái
Thanh. Chấm hết.” Lệ Thu từng phát biểu: “Chúng tôi không là những giọng
hát vượt thời gian được, nếu nói vượt thời gian chỉ duy nhất dành cho
danh ca Thái Thanh mà thôi!”
Trăng Đêm Và Em
Trăng Đêm Và Em
1 Đêm khuya trăng đã sáng soi Là khi em bước lên ngôi nữ hoàng Thơ ngây một đóa hoa vàng Che tà lụa mỏng điệu đàng bước đi. 2 Em làm khổ mối tình si Hồn nghiêng ngả gọi xuân thì nhớ duyên Vai nghiêng ôm mái tóc huyền Đôi bờ ngực nở trên miền vấn vương 3 Theo em bước mấy cung đường Đèn hoa trước ngõ phố phường sương bay Em về hoa nở trên tay Gót hài vướng bụi thêm dài bước đi. 4 Bụi mờ che vết chim di Vỗ đôi cánh nhỏ bay khi dáng chiều Ta về mỏi gót liêu xiêu Ghé thăm quán vắng tiêu điều úa thu 5 Để buồn vỗ giấc mây mù Âm vang lãng đãng tiếng tù và xưa Trao nhau khăn lụa sầu đưa Lau dòng lệ ướt cơn mưa cuối mùa. 6 Giọt rơi sương lạnh gió lùa Áo em sũng ướt còn chưa muốn về Đường chiều mỏi bước ê chề Lời thơ não nuột buồn tê tái buồn. 7 Chờ ai trăng mọc cuối thôn Vắng em từ dạo căng buồm gió xuôi Ngẩn ngơ nhìn áng mây trôi Lòng tha thiệt đợi, chia đôi nhánh buồn.
Tế Luân
TỪ ĐÂY – From Here
TỪ ĐÂY
Anh đứng đây trông về nơi em
qua một phía trời có mây và nắng
nắng trải rất mềm hàng cây đứng lặng
mây xõa lưng chừng anh ngẩn ngơ thêm
Anh đứng đây trông về nơi em
qua những lớp dày kẽm gai tường đá
có những cảnh đời rất quen mà lạ
lập lại từng ngày sáng tối chiều trưa
Anh đứng nơi đây trông về phố xưa
cách một quãng đường vài trăm cây số
kỷ niệm ngày nào rất nhiều để nhớ
như nhớ thương em nhớ mấy cho vừa
Anh đứng hôm nay trông về hôm qua
vượt mấy thời gian xô về dĩ vãng
có một rừng thơ một trời sao sáng
em đưa xuân về mấy độ hương hoa
Anh đứng hôm nay trông về hôm qua
non nước lênh đênh phận người dâu bể
thương quá từng đêm phòng khuê đơn lẻ
xin hẹn nhau ngày tàn cuộc phong ba
Anh đứng hôm nay trông về ngày mai
mộng ước mai sau mộng ước thật dài
hạnh phúc, quê hương, tình yêu, cuộc sống
còn đấy rất nhiều dự tính tương lai.
SONG NHỊ
FROM HERE
I stand here
and look at your residing place
Through a full-of-clouds-and-sunshine space.
Quiet are lines of trees and mild the sun spread;
Half-way clouds hang down and more moved I get.
I stand here and gaze
upon the zone you abide
Over barbed wires and stony walls that divide.
Quite a lot of life sights very familiar but unusual
Occur every morning and evening repeatedly dual.
I stand here and observe
our dear former abode
Some hundreds of kilometers hence apart a road.
Memories of those days are numerous to treasure
And countless to miss and love you to my pleasure.
I stand here today to
look back on the ancient times
Reaching to bygone dates, rushing to old climes.
A universe of muse, a sky of starlight you did bring
Perfumes and flowers manifold the spirit of spring.
I stand here today to
think of the past and hate
The vicissitudes as our country and people’s fate.
What a pity lonely you are spending every night!
I promise to reunite with you when ends this plight.
I stand here today to
look forward to tomorrow
Nurturing dreams about our future free from sorrow.
There are our Happiness, Motherland, Love, Life,
And for hereafter so many plans, so much to strive.
Translation by THANH-THANH
Hạnh Phúc Xót Xa
Hạnh Phúc Xót Xa
Tôi
vô cùng ngạc nhiên, khi nhận được một thiệp mời đám cưới gởi qua đường
bưu điện, danh tánh nhà trai, nhà gái và cả cô dâu chú rể đều xa lạ. Gần
nửa giờ ngồi “điểm danh” tất cả bà con, bè bạn xa gần, vợ chồng tôi và
mấy đứa con cũng chẳng tìm ra “tông tích” họ là ai. Nghe bạn bè kể lại,
một số không ít người Việt mình thích có nhiều thực khách tham dự tiệc
cưới của con cháu. Khách càng đông càng chứng tỏ được thế giá của gia
đình. Vì vậy có người chỉ gặp ai ở đâu đó một lần thoáng qua, cũng có
thể trở thành “quan viên hai họ”. Hơn nữa, ở cái vương quốc nhỏ bé và
hiền lành này, muốn tìm ai cứ việc mở cuốn điện thoại niên giám hoặc vào
guleside gõ cái tên là có ngay số phone và địa chỉ. Cũng có thể là do
một ông bà khách nào đó được mời nhưng hồi báo không thể tham dự được
nên vợ chồng tôi được chọn để “điền vào chỗ trống cho có đầy đủ ý
nghĩa”?
Địa
điểm tổ chức tiệc cưới là một nhà hàng Tàu sang trọng nằm ngoại ô thành
phố Oslo, không xa nơi tôi ở. Ngày đám cưới còn hơn một tháng, nhưng
lại đúng vào ngày mà vợ chồng tôi phải sang London thăm vợ chồng cô con
gái và mừng thôi nôi thằng cu cháu ngoại. Vé máy bay đã “búc” rồi. Vợ
chồng cô con gái cũng đã lấy hè để đón chúng tôi. Nên dù có biết cha mẹ
hay cô dâu chú rể có tên trong thiệp mời chăng nữa, chúng tôi cũng không
thể tham dự được, huống hồ lại là một người nào đó không quen. Thấy tôi
phân vân, bà xã cầm tấm thiệp màu hồng vất vào kệ sách, lắc đầu bảo
“forget it!”
Sáng
thứ Bảy, một tuần sau đó, khi đang sửa soạn hành lý, nghe điện thoại
reo, tôi bốc máy lên nghe, nhưng không thể nhận ra người bên kia đầu
dây. Một người đàn bà, tự giới thiệu tên Bích, rất lễ phép khi hỏi đúng
cả tên lẫn họ của tôi.
– Vâng, đúng là tôi, nhưng chị có thể nói rõ hơn về chị không ạ, vì xin lỗi tôi không nhớ ra.
–
Em là Bích Kiều đây, Lê Thị Bích Kiều, mà khi mới sang Na-uy, anh làm
thông dịch giúp em đó. Tên em trong thiệp mời đám cưới là Yvonne Bich,
chắc anh chị đã nhận được. Em đổi tên này sau khi có quốc tịch Na-uy.
Tôi
giật mình nhớ ra ngay. Mặc dù trong thời gian làm thông dịch, giúp khá
nhiều bà con người Việt mới đến định cư, có biết bao nhiêu cái tên làm
sao nhớ hết. Hơn nữa cũng đã hơn 25 năm rồi còn gì. Nhưng đặc biệt, Lê
Thị Bích Kiều thì tôi không thể nào quên.
Sau
khi thăm hỏi, Bích Kiều xin được đến thăm vợ chồng tôi vào lúc bốn giờ
chiều. Cô bảo, gặp nhau sẽ có biết bao nhiêu điều muốn nói.
Thời
gian còn ở trại tỵ nạn Bataan bên Phi Luật Tân, tôi may mắn được chọn
làm phụ giảng cho các lớp học tiếng Na-uy. Được thầy cô dạy kèm riêng,
và nhờ phụ giúp mỗi ngày trong các lớp học cũng như làm thông dịch bất
đắc dĩ cho những thuyền nhân mới đến đảo, nên tôi có một số vốn liếng
tiếng Na-uy, một thứ ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với hầu hết người Việt nam
lúc ấy. Và cũng nhờ cái vốn bì bõm này, khi sang định cư ở Na-uy, tôi
được chọn làm thông dịch tạm thời cho Phòng Xã Hội và Sở Cảnh Sát thị
xã, nơi gia đình tôi tạm cư. Thời gian này Na-uy nhận một số lượng khá
đông thuyền nhân được tàu Na-uy vớt trên biển và một số trường hợp nhân
đạo khác.
Nói
là thông dịch chứ thực ra chỉ giúp bà con làm hồ sơ, khai lý lịch ở Sở
Cảnh sát, xin trợ cấp ở Phòng Xã Hội, hoặc gặp bác sĩ, nha sĩ, hay vào
bệnh viện khám và chữa bệnh. Cũng qua công việc này, tôi mới thấy rõ
Na-uy là một quốc gia giàu lòng nhân đạo, mở rất rộng vòng tay, đối xử
quá tốt với những người tỵ nạn mà họ cứu vớt, cưu mang. Công việc nhàn
nhã mà lương bổng cũng khá, lại còn được cơ hội trau dồi ngôn ngữ mới,
nên sau này, khi đã được chính thức nhận vào học và đi làm trong ngành
ngân hàng bưu điện, tôi vẫn xin giữ cái “job” phụ này, nhưng chỉ làm
thêm ngoài giờ hành chánh.
Tuy
nhiên, bên cạnh những điều vui ấy, tôi cũng bị “tai nạn nghề nghiệp”
không ít. Đặc biệt khi phải thông dịch cho những bà con mà tàu của họ bị
bọn hải tặc tấn công. Nghe họ kể những cảnh nghiệt ngã, thương tâm trên
biển, tôi vừa không nén được xúc động vừa ngại ngùng khi phải thông
dịch lại bằng tiếng Na-uy. Hơn nữa lúc ấy tôi cũng chưa có đủ ngôn từ để
diễn đạt những điều “tế nhị”. Ngày ấy có một Viện Tâm Thần dành riêng
cho người tỵ nạn, nằm trong Viện Đại Học Oslo, do bác sĩ Hauff, cũng là
một giáo sư tâm lý học, điều hành. Ông là vị bác sĩ có lòng nhân hậu và
rất tận tâm với nghề nghiệp. Những người tỵ nạn gặp điều không may, bị
hải tặc đánh đập hãm hiếp, hay bị mất người thân trên đường vượt biển,
đều được ông tận tình thăm nom, chăm sóc cũng như can thiệp Cơ quan Di
Trú cho ưu tiên bảo lãnh gia đình và Sở Xã Hội cấp thêm nhiều phương
tiện sinh hoạt, giải trí. Tôi sợ nhất là những lúc phải làm thông dịch
để ông tâm tình, khuyên giải, an ủi nạn nhân, mà thời gian có khi kéo
dài cả một vài ngày. Bởi vốn liếng tiếng Na-uy còn quá nghèo nàn, làm
sao tôi có thể truyền đạt được những gì ông muốn nói. Có lần nghe ông
dặn dò:
–
Đây không phải một cuộc nói chuyện bình thường mà là một ca điều trị.
Có điều, những bệnh nhân này chúng ta không chữa bằng thuốc mà chữa bằng
ngôn ngữ.
Mà
ngôn ngữ của tôi thuộc loại ăn đong, thì làm sao giúp ông chữa loại
bệnh đặc biệt trầm kha này. Nhiều lần tôi xin từ chối, nhận mình không
đủ khả năng, nhưng Phòng Xã Hội không tìm được người thông dịch khác, và
bác sĩ Hauff cứ gật đầu bảo là ông tin tưởng ở tôi. Cuối cùng tôi phải
yêu cầu ông nói thật chậm và dùng những từ ngữ tương đối đơn giản để tôi
hiểu rõ, và nhất là không hiểu lầm những gì ông nói.
Một
hôm tôi được Văn Phòng Xã Hội cho biết, phải đi theo bà Kari Mette ra
phi trường Fornebu đón một người tỵ nạn đặc biệt, được Na-uy nhận nhân
đạo từ một trại tỵ nạn Thái Lan. Người này được đưa thẳng từ Thái Lan
đến Na-uy, mà không qua trại tỵ nạn chuyển tiếp Bataan, như những người
khác. Bà Kari Mette làm việc cho một nhà thờ công giáo, nhưng vì có
nhiều khả năng và uy tín, nên được yêu cầu kiêm nhiệm đại diện cho Sở Tỵ
Nạn trong khu vực thị xã.
Chúng
tôi được vào tận cửa gate máy bay. Người mà chúng tôi đón hôm nay là
một cô con gái trẻ, ngồi trên xe lăn, trên người choàng một tấm chăn
mỏng, được một cô tiếp viên hàng không đẩy ra giao cho chúng tôi cùng
túi hành lý nhỏ và một phong bì đựng hồ sơ có in huy hiệu (logo) Cao Ủy
Tỵ Nạn LHQ. Trông cô ta tiều tụy, xanh xao. Tôi giới thiệu và dịch vài
lời chào mừng của bà Kari Mette. Khi đưa tay nhận bó hoa hồng từ bà, cô
gật đầu, lí nhí hai tiếng cám ơn. Theo sau bà Kari Mette, tôi đẩy cô gái
theo một lối đi riêng, không phải qua kiểm soát. Một chiếc xe tản
thương và cô ý tá chờ sẵn bên ngoài. Khi phụ dìu cô gái lên nằm trên một
băng ca trong xe, tôi mới biết là cô ta đang mang bầu. Theo yêu cầu của
cô ý tá, tôi ngồi luôn trên xe tản thương, tháp tùng về bệnh viện. Bà
Kari Mette lái xe chạy theo sau.
Ở
phòng nhận bệnh, khi nghe bà Kari Mette nói chuyện với vị bác sĩ, tôi
mới biết cô gái này có tên Lê thị Bích Kiều, 21 tuổi, bị hải tặc giam
giữ ở một hoang đảo ngoài khơi Thái Lan gần một năm, trước khi được một
lực lượng tuần cảnh phối họp với hải quân Thái cứu thoát. Cô ta đang
mang thai hơn năm tháng, sức khỏe rất yếu. Việc ưu tiên phải làm là giúp
cô sớm hồi phục sức khỏe và bảo vệ thai nhi.
Khi
trả lời một số câu hỏi của bác sĩ, cô luôn nhìn tôi bằng đôi mắt thật
buồn và ái ngại, một vài câu hỏi cô ngại ngần không muốn trả lời. Tôi từ
tốn bảo cô cứ yên tâm, nếu điều nào chưa muốn nói ra, cô không cần
thiết phải trả lời, tôi sẽ liệu cách để nói lại với bác sĩ. Nhưng sau
đó, tôi mới hiểu ra, người cô ngại chính là tôi chứ không phải ông bác
sĩ. Mặc dù trước khi bắt đầu làm việc, tôi đã nói với cô là những người
làm thông dịch như tôi đều phải ký giấy cam kết taushetsplikt (bổn phận
bảo mật). Cô được y tá đưa vào phòng tắm rửa và thay áo quần bệnh viện.
Khi trở ra, cô tươi tỉnh hơn, bây giờ nhìn kỹ tôi thấy cô có khuôn mặt
khá xinh, đôi mắt thật buồn. Theo y tá đưa cô lên một phòng riêng ở tầng
ba, tôi bảo y tá bật cao đầu chiếc giường và đỡ cô ngồi dậy theo yêu
cầu của cô, dịch cho cô nghe những điều dặn dò của bác sĩ, hỏi cô thích
ăn uống những gì để tôi nói lại với cô y tá, rồi chào cô ra về, sau khi
chúc cô ăn ngon và tối nay có một giấc ngủ thật bình yên. Cô nhìn tôi,
nói cám ơn rồi vội vàng cúi xuống. Thoáng qua đôi mắt, tôi biết cô băn
khoăn lo lắng, khi phải ở lại một mình. Tôi ghi số điện thoại trên mảnh
giấy nhỏ đưa cô y tá. Bảo là trường hợp bệnh nhân hay y tá cần điều gì,
cứ gọi cho tôi.
Kể
từ hôm ấy, ngoài bổn phận thông dịch tôi còn là người thân quen duy
nhất của cô. Hôm nào cô ngỏ ý thèm các thức ăn Việt nam, tôi bảo bà xã
tôi làm rồi mang đến cho cô, cùng mấy tờ báo Văn Nghệ Tiền Phong, và tập
truyện của ông Duyên Anh mà cô thích đọc.
Sau
một tuần lễ, sức khỏe của cô khá hơn, nhưng y tá cho biết tâm trí chưa
ổn định, cô thường giật mình thức giấc rồi la hét, khóc lóc lúc nửa đêm.
Cứ vài ngày, bác sĩ Hauff từ Viện Tâm Thần đến thăm, cho cô quà, an ủi
và khuyên cô hãy đọc sách, xem TV, cần nghĩ tới đứa bé sắp chào đời, dù
gì nó cũng là giọt máu của mình. Có điều gì cần, hoặc cảm thấy nặng nề
trong lòng, cô cứ nói ra mỗi lần ông đến thăm.
Cô
không phải đến Sở Cảnh Sát để làm hồ sơ di trú như những người tị nạn
khác, mà do yêu cầu của Sở Tỵ Nạn, vị trưởng phòng Cảnh sát ngoại kiều
đã đích thân đến bệnh viện để gặp cô sáng hôm sau. Qua làm việc, tôi
được biết cô gái sinh ra và lớn lên ở Đà Lạt. Trước 75, mẹ cô là cô giáo
và cha là một sĩ quan cấp tá, bị mất tích tại Đà Nẵng khi Vùng 1 di
tản. Vượt biên từ Rạch Giá cùng vị hôn phu. Anh là con trai lớn của một
người bạn cùng khóa Võ Bị với cha cô. Chiếc thuyền nhỏ chở theo 47
người, ra khơi ba ngày thì gặp hai chiếc ghe đánh cá của Thái Lan chặn
lại. Cả bọn gần 20 tên mang dao búa và cả súng nữa, xông lên thuyền uy
hiếp. Anh tài công bị giết đầu tiên bằng búa đánh vào đầu, một vài thanh
niên khỏe mạnh có ý chống cự, liền bị chém chết. Chúng chia nhau lục
soát trên tàu và trên từng người để cướp vàng bạc, đồng hồ. Trước khi
rời khỏi thuyền, chúng phá hỏng máy, và bắt theo khoảng mười cô gái. Khi
hai tên trong bọn kéo Kiều đi, người vị hôn phu của Kiều xông đến định
giật lại Kiều, bị chúng bắn bị thương rồi đạp xuống biển, trước tiếng la
khóc thất thanh của Kiều cùng những cô gái khác
Vừa
mới lên tàu, bọn hải tặc luân phiên hãm hiếp những cô gái bị chúng bắt
theo. Tiếng van xin la khóc quyện vào âm thanh của những ngọn sóng dường
như cũng đang thét gào phẫn nộ. Chỉ duy nhất có Kiều được thoát, không
bị hiếp, nhưng bị cột cả hai tay vào phía sau phòng lái, và phải chứng
kiến hành động dã man, bỉ ổi của bọn dã thú, cùng những khuôn mặt sợ hãi
đau đớn uất hận tột cùng của những cô gái nạn nhân.
– Tại sao cô lại được tha, không bị chúng hiếp? Anh cảnh sát ngạc nhiên hỏi.
–
Làm sao được tha. Có lẽ thấy tôi có chút nhan sắc, nên tên thuyền
trưởng dành riêng tôi cho hắn. Khi ấy hắn đang lái tàu! Cô gái sụt sùi.
Tối
hôm ấy, cô đã bị cướp đi đời con gái. Qua một ngày kinh hãi, biết mình
không thể chống cự, cô đã nằm im phó thác cho số phận. Trong khi thân
xác bị dày vò, cô nghĩ đến cảnh người yêu vừa bị giết tức tưởi trưa nay,
cắn chặt lưỡi giữa hai hàm răng ứa máu.
Tay
thuyền trưởng hải tặc không đánh đập hành hạ cô như những cô gái khác.
Hắn săn sóc, mang cho cô một tô cháo cá nóng, nhỏ nhẹ dỗ dành cô ăn,
nhưng cô không thể nào nuốt nổi, dù bụng đang đói. Nằm thiếp đi cả một
ngày trong phòng lái, khi nghe tiếng ồn ào gọi nhau của bọn hải tặc,
giật mình thức dậy, cô thấy tàu cặp vào một hòn đảo.
Sau
khi ra lệnh cho đám thuộc hạ quăng neo, tay thuyền trưởng cõng cô trên
lưng, lội vào bờ. Cô ngạc nhiên rùng mình khi không thấy các cô gái
khác. Số phận họ ra sao? Cô bịt kín hai tai, nhưng tiếng van xin kêu
khóc hãi hùng của ngày hôm qua như muốn vỡ tung đầu óc. Cô tưởng tượng
họ bị hiếp cho đến chết, rồi quăng xác xuống biển. Thật thảm thương tội
nghiệp. Nhưng dù sao họ cũng không phải sống cả một đời thừa thải trong
nỗi dày vò, mặc cảm và vô vọng như cô. Biển xanh sẽ ôm ấp vỗ về cả thân
xác lẫn linh hồn họ. Là cánh hoa tả tơi duy nhất còn sót lại sau một
ngày đêm giông bão, cô ví mình chẳng khác nào rác rưởi tắp vào một nơi
hoang vắng. Cô tự hỏi, đó có phải là điều may mắn?
Anh
cảnh sát ngồi bất động nghe cô kể, thỉnh thoảng ngước mặt lên trần nhà
để giấu những giọt nước mắt. Tôi thầm tội nghiệp cho cô gái và cho cả
anh ta, một người sinh ra và lớn lên trên một vương quốc an bình, giàu
có, hà cớ gì phải khóc cho nỗi đau thương, bất hạnh của dân tộc tôi.
Chúng tôi dừng lại khi thấy cô gái sụt sùi. Tôi đứng dậy đi lấy mấy tờ
giấy soft cho cô lau nước mắt và mời cô một ly nước saft.
– Rồi đời sống của cô trên đảo ra sao trước khi cô được cứu thoát? Anh cảnh sát hỏi.
–
Tôi được đưa vào một cái hang đá khá lớn, có sẵn một số thức ăn, nước
uống và cả áo quần cùng nhiều vật dụng mà có lẽ bọn họ cướp được từ
những lần trước.
Đó
là một đảo hoang. Một trong những “hậu trạm”. Cứ bốn, năm hôm, có khi
cả tuần lễ, bọn hải tặc trở về đây nghỉ ngơi đôi ngày, chia chác “chiến
lợi phẩm”, rồi lại ra đi. Tiếp tục những chuyến làm ăn khác, hoặc vào bờ
lấy thêm nhiên liệu, lương thực. Tay thuyền trưởng cao lớn, tóc phủ tới
lưng, cả ngày chỉ mặc một cái quần short ố vàng, phơi tấm thân trần đen
đúa với đầy những hình xâm. Không biết vì nghĩ là cô không hiểu tiếng
Thái hay là bản tính ít nói, cả ngày hắn lầm lì, chỉ thỉnh thoảng mỉm
cười. Hắn luộc tôm cá tươi ép cô ăn và bắt cô uống rượu. Miệng hắn lúc
nào cũng nồng nặc mùi rượu. Đôi mắt đỏ ngầu. Rượu giúp hắn trở thành con
hổ đói cuồng bạo trên tấm thân liễu yếu của cô. Hắn lột hết áo quần cô,
làm nhiều cách hầu tạo kích thích, nhưng cả thân xác và tâm hồn cô đã
trở thành gỗ đá, lạnh lùng, không còn cảm giác. Chỉ biết nhắm mắt chịu
đựng đau đớn, để cho hắn ta mặc tình hành hạ.
Bọn
họ ra đi từ lúc trời chưa sáng. Khi cô thức dậy chung quanh vắng lặng,
ngoài tiếng sóng biển rì rào. Cảm giác da thịt rã rời. Phải ngồi khá lâu
mới đứng dậy được. Cô chui ra khỏi hang, trèo xuống hốc núi tìm đường
ra biển. Hôm nay trời nắng, biển êm. Nhìn biển mênh mông, trong gió nghe
như có tiếng gọi tên mình, cô giật mình nghĩ tới người yêu và những cô
gái đồng hành bất hạnh. Cô xăn quần lội xuống, vốc một vốc nước rửa mặt.
Nước biển làm rát khóe mắt, nhưng giúp cô tỉnh táo. Bỗng cô nghĩ đến
cái chết. Chỉ cần lội ra xa để cho sóng cuốn đi là cô sẽ gặp lại người
tình ở đâu đó dưới đáy đại dương và sóng biển có thể rửa bớt phần nào
nhơ nhớp trên tấm thân, mà bao nhiêu lần, mẹ đã ôm cô dặn dò phải cố giữ
gìn, trước lúc từ biệt ra đi. Chợt nhớ tới mẹ, nhớ các em, cô đứng bất
động nghe lòng dạ bồi hồi.
Gió
từ biển khơi thổi tới như muốn an ủi vỗ về, giúp cô tìm lại một chút
yên ả. Cô bước lên đi dọc theo bờ biển. Tiếp tục nghĩ đến mẹ và hai đứa
em nhỏ dại. Giờ này không biết họ ra sao. Có biết mình đang lưu lạc trên
một hoang đảo xa lạ giữa trời biển mênh mông với tấm thân hoen ố ê chề,
hay là vẫn đang hy vọng đứa con gái, người chị của mình đã đến được một
xứ thiên đường nào, để có thể cứu sống cả gia đình đang ở bước đường
cùng. Bao nhiêu vốn liếng chắt chiu dành dụm được, kể cả chiếc nhẫn cưới
và sợi dây chuyền vàng mà bà ngoại đã đeo lên cổ mẹ ngày vu quy, cũng
chỉ đủ gom góp mua một cây vàng, và phải năn nỉ lắm mới được đóng trước
một nửa cho chủ tàu, nửa còn lại khi nào đến nơi sẽ trả. Sau ngày cha cô
vĩnh viễn không về, cùng nhiều đồng đội gởi xác thân ở một nơi vô danh
nào đó, rồi cả miền Nam đang trù phú, hạnh phúc một thời, bỗng dưng trở
nên đói nghèo, chia ly tan tác, cũng như những gia đình sĩ quan công
chức khác, mẹ con cô đã trải qua bao tháng năm cùng cực. Cô đã phải bỏ
học, phụ mẹ buôn tảo bán tần, mà cả nhà vẫn bữa đói bữa no. Nghĩ đến
tương lai mịt mờ của mấy đứa con, mẹ bàn với cô, chỉ còn cách duy nhất,
là cô phải ra đi. Bao lần tìm được mối, nhưng lo cho thân gái dặm
trường, có biết bao điều bất trắc, cuối cùng bà rất vui mừng khi có
người yêu của cô, cũng là con của một người bạn cùng khóa với chồng,
cùng đi với con gái. Trước ngày đi, hai gia đình gặp nhau, tổ chức một
lễ đính hôn rất vội vàng, đơn giản.
Cô
bước đi những bước vô hồn trên những bọt sóng xô bờ, hình dung tới tuổi
ấu thơ và cả một thời cùng gia đình sống trong hạnh phúc. Nhớ mấy năm
cha cô được đổi về làm huấn luyện viên trường Võ Bị Đà Lạt, nơi ông đã
gặp mẹ cô, khi còn là một sinh viên sĩ quan trai trẻ, từng đứng trên
đỉnh Lâm Viên với hào khí ngút trời. Nơi ông cùng bè bạn đồng môn, đã
quỳ xuống vũ đình trường trong ngày mãn khóa, giữa không khí uy linh,
đưa tay thề quyết bảo vệ núi sông. Cô cũng nhớ tới đám bạn bè một thời
nhỏ dại. Không biết những cánh chim non hồn nhiên ngày ấy, giờ tản mác
trôi dạt về đâu sau cơn bão lửa. Cũng như cô, tất cả đã mất rồi, cả một
bầu trời xanh bao la với bao nhiêu ước vọng thuở nào. Không bao giờ còn
tìm lại được!
Đầu
óc mơ hồ, tưởng mình đang đi tìm dấu vết tuổi thơ bên bờ hồ Xuân Hương
thơ mộng. Khi nghiêng mình để tìm ngôi nhà Thủy Tạ, nơi lần đầu hò hẹn
người yêu, cô bỗng giật mình nhận ra tảng đá trên hoang đảo, nơi cô bị
giam lỏng từ mấy hôm nay. Giấc mơ xưa ngắn ngủi vỡ tan như bọt biển.
Ngồi bệt xuống cát, thẫn thờ gọi mẹ, gọi em, và gọi tên người tình. Cô
gọi đến khan cả cổ, để chỉ nghe tiếng mình dội lại từ đại dương mênh
mông xa thẳm, không tìm thấy chân trời. Cô đã bật khóc.
Tôi
định đưa tay bảo cô ngừng kể, để tôi kịp dịch lại cho anh cảnh sát,
đang hồi hộp ngồi chờ, nhưng chợt thấy cô cũng đang khóc. Anh cảnh sát
đứng lên nháy mắt, làm dấu cho tôi cùng bước ra ngoài để cho cô được tự
nhiên. Khi trở vào, anh cảnh sát nhờ tôi hỏi, nếu cô muốn bảo lãnh cho
mẹ và các em còn ở Việt Nam, anh sẽ trình lên Sở Ngoại Kiều, lập hồ sơ
cho cô được ưu tiên. Có thể trong vòng từ sáu đến tám tháng, cô sẽ được
đoàn tụ với gia đình. Suy nghĩ một chập, cô lắc đầu:
–
Em chưa chuẩn bị được tâm lý, không muốn mẹ và các em sẽ đau buồn vì
những gì em đã trải qua, và nhất là cái thai trong bụng, em vẫn còn đang
giấu mẹ. Chờ sinh đẻ xong, em mới bình tĩnh mà quyết định được. Mặc dù
em rất nhớ mẹ và các em.
Ngần
ngừ một lúc cô ngõ ý muốn được Phòng Xã Hội cho mượn một số tiền để gởi
về giúp gia đình, sau này đi làm cô sẽ trả. Anh cảnh sát gật đầu, hứa
sẽ nói việc này với Phòng Xã Hội. Anh bắt tay cô, chúc sớm bình phục,
gặp nhiều may mắn, và hẹn sẽ trở lại thăm cô để xin hỏi thêm cô ít điều
bổ túc hồ sơ.
Hai
hôm sau, qua điện thoại từ Phòng Xã Hội, tôi đến nhận số tiền 10.000
kroner (khoảng 1.200 USD), để giao lại cho cô và yêu cầu cô ký tên vào
biên nhận.Tôi cũng mang đến biếu cô mấy trái xoài chua, lần trước cô bảo
là cô rất thèm. Gặp lại tôi, cô tỏ ra mừng rỡ. Lần đầu tiên tôi thấy cô
nhoẻn miệng cười. Cô bảo cô rất buồn và thấy cô đơn, vì không có tôi cô
chẳng biết trò chuyện cùng ai. Cô ngạc nhiên và thoáng một chút xúc
động khi tôi đưa cho cô số tiền của Phòng Xã Hội, và bảo đó là tiền cô
được cấp, chứ không phải mượn. Tôi giải thích thêm về những trợ cấp khác
dành cho người tỵ nạn lúc ban đầu và hằng tháng sau này, cũng như trợ
cấp việc sinh đẻ và nuôi con. Tôi bảo cô yên tâm, đừng lo lắng gì về
chuyện tiền bạc. Cô càng vui và tỏ ra thân thiện hơn khi nghe tôi bảo
trước đây tôi cũng là lính, sau gần 8 năm tù trở về, vợ con cũng khốn
cùng như gia đình cô. Tôi kể chuyện gia đình tôi vượt biên nhưng may mắn
được tàu Na-uy vớt, mới đến Na-uy tám tháng, nhưng mọi việc tạm thời ổn
định. Cô nhớ tới cha cô, đôi mắt sáng lên và say sưa kể cho tôi nghe
những ngày cô theo cha ra đơn vị, hoặc cùng mẹ vào trường Võ Bị tham dự
các buổi lễ ra trường. Khi tôi đứng dậy cáo từ, cô viết tên và địa chỉ
của mẹ cô, nhờ tôi gởi hết số tiền còn nguyên trong bì thơ về cho mẹ.
Trong mắt cô sáng lên niềm vui.
Một
lần cô ngỏ ý muốn học tiếng Na-uy để giết thì giờ. Tôi bảo là ở Na-uy
vừa mới có cuốn tự điển Nauy-Việt, tôi sẽ liên lạc Phòng Xã Hội để xin
cho cô. Hai hôm sau, tôi mang cuốn tự điển đến, chỉ cho cô cách sử dụng,
nói và viết vài câu đơn giản. Cô khá thông minh nên hiểu rất nhanh. Cô
còn nhờ tôi viết cho cô vài câu tiếng Na-uy. Trong đó có một câu cô bảo
là lời một bản nhạc nào đó mà cô rất thích: “Ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa”.
Khi
được biết là sẽ sinh con trai, cô vui lắm, nhưng ngay sau đó tôi thấy
cô ngồi thẫn thờ, suy nghĩ mông lung. Gần tới ngày cô sinh, tôi xin phép
cô cho bà xã tôi đến thăm, để hướng dẫn chỉ vẽ cho cô ít nhiều kinh
nghiệm sinh đẻ mà vợ tôi đã trải qua. Hơn nữa, khi sinh đẻ, có một người
đàn bà thân quen bên cạnh cũng an tâm. Biết cô ái ngại, nên tôi nói
trước là vợ tôi hoàn toàn không biết gì về hoàn cảnh của cô, và tất
nhiên tôi không hề tiết lộ điều gì. Tôi sẽ nói với vợ tôi là chồng cô
còn ở trại tị nạn Thái Lan, sẽ được định cư sau. Ngần ngừ một lúc, cuối
cùng cô gật đầu.
Cuối
tuần, vợ chồng tôi đến thăm. Vợ tôi mang đến cho cô một ít thức ăn Việt
nam và mấy bộ áo quần con nít. Đàn bà dễ thông cảm với nhau, nhất là vợ
tôi sinh mấy đứa con cũng không có mặt chồng, vì tôi bận tham dự hành
quân, không về kịp. Tôi ra ngoài, để cho hai người đàn bà dễ nói chuyện
sinh đẻ.
Cô
sinh vào ban đêm, lúc trời đã vào đông. Tuyết rơi kín cả khung trời. Vợ
chồng tôi đến phòng sinh lúc cô đau bụng. Vợ tôi ở bên cạnh cô, còn tôi
ngồi ngoài phòng đợi. May mắn là cô sinh rất nhanh. Khoảng hơn 30 phút,
tôi đã nghe tiếng con nít khóc. Khi mọi việc đã xong, nghe tiếng vợ
gọi, tôi bước vào chúc mừng cô. Thằng bé đang nằm trên ngực mẹ. Tôi thấy
cô khóc. Không biết đó là những giọt nước mắt xót xa hay hạnh phúc.
Sau
một tuần ở bệnh viện, mẹ con cô chuyển đến một khách sạn, được phòng xã
hội mướn cho cô tạm trú một thời gian, vì chưa tìm được căn nhà thích
hợp cho cô. Khách sạn khá sang trọng, nằm không xa bệnh viện, để tiện
cho các y tá đến thăm và chăm sóc mẹ con cô.
Mấy
ngày sau, tôi đến khách sạn cô ở. Không phải để thăm cô mà để làm thông
dịch cho bác sĩ Hauff và nhân viên phòng xã hội. Họ mang đến cho con cô
nhiều quà tặng. Ai cũng ngạc nhiên và thích thú khi thấy cô biết nói
vài câu ngắn bằng tiếng Na-uy. Bác sĩ Hauff hỏi là cô có cần ông giúp
điều gì nữa không, cô bập bẹ trả lời: “Tôi sẽ nói với ông sau”. Tuy không đúng hẳn, nhưng mọi người đều hiểu được.
Ngày
đầy tháng, vợ tôi nhớ và nhắc tôi đến thăm mẹ con cô. Chúng tôi ghé
siêu thị chọn mua một món quà mừng thằng bé. Bấm chuông phòng, cửa không
mở. Gõ nhẹ cũng không thấy lên tiếng. Tôi đến văn phòng khách sạn hỏi.
Họ cho biết là cô vừa mới chuyển đi. Tôi gọi hỏi Phòng Xã Hội, họ cho
biết là cô đã chuyển đi một thành phố rất xa, và theo yêu cầu của cô, họ
không tiết lộ địa chỉ mới cho bất cứ một ai. Sau một thoáng ngạc nhiên,
tôi chợt nhớ đến lời một bài ca nào đó mà cô đã nhờ tôi viết ra bằng
tiếng Na-uy và chỉ cho cô đọc đi đọc lại nhiều lần: “Ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa”.
Trên đường về, bà xã tôi thắc mắc tại sao cô lại chuyển đi sớm và không
cho chúng tôi hay. Tôi lắc đầu, mặc dù tôi đã vừa mới hiểu ra.
Từ
hôm ấy, tôi không bao giờ gặp lại cô. Vài lần nhớ tới cô, tôi định hỏi
thăm qua một số người quen ở các thành phố khác, hoặc gọi cho Sở Tỵ Nạn.
Nhưng rồi tôi quyết định không tìm, vì có lẽ cô không muốn gặp lại tôi,
một người biết quá nhiều về cô.
* * *
Bích
Kiều đến đúng giờ hẹn. Khi thấy chiếc taxi đỗ ngay trước cổng nhà, vợ
chồng tôi chạy ra đón. Tôi cũng nóng lòng muốn xem lại dung nhan của
người con gái xinh đẹp nhưng găp phải điều bất hạnh của 25 năm trước.
Bây giờ chắc tuổi cũng đã 45, 46. Vợ chồng tôi ngạc nhiên khi thấy Bích
Kiều vẫn còn trẻ đẹp. Cặp kiếng cận làm tăng nét tao nhã quí phái. Cô ôm
chầm chúng tôi, rồi lấy kiếng xuống để chùi nước mắt.
–
Không ngờ Kiều bây giờ còn đẹp hơn hồi xưa nhiều lắm. Sao đi có một
mình ên còn ảnh thì giấu kỹ ở đâu rồi không cho trình diện?
Câu nói đùa của bã xã tôi làm cô bớt xúc động, nở nụ cười sau một thoáng thẹn thùng:
– Em vẫn còn độc thân mà! Hôm nay xuống đây nhờ anh chị làm mai đây.
Chúng
tôi đi quanh khu vườn sau nhà. Bà xã muốn khoe mấy cụm hồng vàng vừa
mới nở hoa, trước khi dắt tay cô bước vào phòng khách. Tôi mang nước ra
mời và ngồi nghe hai người đàn bà nói chuyện trang điểm phấn son xong
mới lên tiếng:
–
Vậy là Kiều đang ở Trondheim. Tôi thấy địa chỉ trong tấm thiệp cưới.
Ngày ấy, tự dưng Kiều biến mất, làm bọn tôi cứ nghĩ là nàng trích tiên
đã ngao ngán cảnh trần gian mà bay lại về trời rồi chứ.
Cô cười bẽn lẽn:
–
Hôm nay đến cũng để xin lỗi anh chị đây. Ngày ấy lòng em còn đau xót
lắm, nên muốn đi đến một nơi thật xa, không muốn gặp bất cứ người Việt
nào và nhất là những ai đã biết về mình. Mặc dù em rất thương quí và
mang ơn anh chị.
Tôi cười:
–
Tôi biết, nên chỉ thương chứ có nỡ lòng nào mà trách. Chắc Kiều còn nhớ
cái câu tiếng Na-uy “Ngày mai tôi muốn bỏ đi thật xa” mà Kiều nhờ tôi
viết ra và chỉ cho Kiều đọc đi, đọc lại bao nhiêu lần. Khi ấy Kiều bảo
rất thích câu ấy trong một bài hát mà Kiều hay hát? Nhờ đó mà tôi hiểu
được, nên không có ý tìm Kiều.
Đúng
là cô đã đi thật xa, một hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi thành phố Ålesund. Ở
đó không có một người Việt nào sinh sống. Chính quyền và dân chúng rất
tốt. Mẹ con cô được chăm sóc chu đáo. Một năm sau cô bảo lãnh mẹ và hai
cậu em sang đoàn tụ. Gia đình sống trong hạnh phúc. Đứa bé lớn lên trong
vòng tay yêu thương của mọi người. Cháu được đặt tên Trần huy Bách, và
trong giấy khai sanh có cha là Trần Huy Trác. Tên người vị hôn phu của
Kiều. Anh đã bị chính cha ruột của thằng bé giết chết thảm thương rồi
vất xác xuống biển. Kiều giấu kín mẹ và các em điều đau thương này, nên
đến lúc qua đời, mẹ cô vẫn tin đứa cháu ngoại duy nhất của mình là con
của Trác. Bà mất đột ngột sau cơn bệnh tim, khi sang Na-uy được mười sáu
năm.
Được
chính phủ trợ cấp, cho học bổng, và nhờ mẹ giúp trông con cùng mọi việc
trong nhà, nên Kiều và hai em được đi học. Cả ba chị em đều xong đại
học. Hai cậu em đang là kỹ sư, còn cô làm y tá trong bệnh viện. Khi hai
cậu em được nhận vào trường NTH, một đại học kỹ thuật bách khoa nổi
tiếng tại thành phố Trondheim, miền trung Na-uy, cả nhà đã di chuyển về
đây sau sáu năm ở Ålesund. Cháu Huy Bách, con của Kiều cũng vừa tốt
nghiệp ở trường này mùa hè năm ngoái.
–
Vợ chồng tôi mừng cho Kiều, cho sự thành công của mẹ con Kiều cùng hai
cậu em, và cũng xin chia buồn về việc bà cụ đã ra đi. Tiếc là chúng tôi
không có dịp được gặp bà.
Đang vui, bỗng Kiều xúc động:
–
Tất cả đều nhờ mẹ em. Cả một đời thiệt thòi, chịu đựng vất vả với con
cháu. Em vẫn ân hận là em đã phải nói dối với bà về chuyện của cháu
Bách.
–
Tôi nghĩ Kiều làm như thế là đúng. Ít nhất là không làm đau lòng thêm
những người ruột thịt vốn đã chịu quá nhiều nhục nhằn, khốn khổ. Tôi tin
là bác ra đi thanh thản, không có trách gì Kiều về sự việc ấy đâu. Tôi
nói để an ủi.
Bà xã tôi nãy giờ không hiểu hết những gì chúng tôi trao đổi, hỏi Kiều:
–
Sao cô lại không giữ tên Kiều mà lấy tên Bích. Tôi thấy tên Bích Kiều
đẹp lắm. Ngày xưa gần nhà tôi ở Nha Trang cũng có tiệm uốn tóc Bích
Kiều. Mấy cô con gái đều đẹp. Tôi quen cả hai chị em.
–
Dạ, em thấy cuộc đời nàng Kiều của ông Nguyễn Du sao mà ba chìm bảy nổi
quá, mà dường như cũng đã vận vào em, em sợ nên đổi tên Bích, cũng là
chữ lót của em.
Tôi cười phụ họa:
–
Nàng Kiều nào cũng đã chết rồi. Bây giờ, đang ngồi trước mặt tôi là
Bích. Một cô Bích hoàn toàn khác. Chúng tôi rất mừng được như vậy. Xin
lỗi, đáng lẽ ra không nên gọi cô là Kiều nữa. từ bây giờ chúng tôi gọi
tên Bích nghe.
–
Có sao đâu anh. Hai đứa em của em cũng gọi em là chị Kiều mà. Ngoài gia
đình, chỉ có anh chị là biết cái tên này của em. Chuyện xưa cũng đã qua
rồi. Em muốn anh chị cứ gọi em là Kiều như ngày trước. Hơn nữa, em
biết, ngày ấy anh chị cũng thương yêu cô Kiều đó lắm, phải không?
Cả ba chúng tôi đều cười.
Kiều
nhìn đồng hồ trên tường, khi nghe tiếng chuông báo giờ. Không biết vì
không muốn nhắc lại chuyện cũ, hay là sợ không còn nhiều thời gian, cô
bắt đầu một câu chuyện khác. Cô mở xách tay lấy ra mấy tấm ảnh đưa cho
chúng tôi xem. Ảnh của Bách, con trai cô vừa chụp với cô vợ tương lai
trong ngày lễ đính hôn hơn ba tháng trước. Một cô gái Việt nam. Cả hai
cô cậu đều đẹp, mũi cao, đôi mắt to, vầng trán thoáng lên nét thông
minh.
– Hai cháu rất xứng đôi vừa lứa! Vợ chồng tôi khen.
Cô
cho biết cô dâu tương lai là một dược sĩ vừa mới tốt nghiệp, con gái út
của vợ chồng một vị giáo sư trước 75, được con bảo lãnh sang Na-uy, và
bây giờ lớn tuổi đã về hưu. Ông bà đang sống ở Oslo. Gia đình nề nếp,
đạo đức, có năm người con, tất cả đều thành đạt. Cô nhờ vợ chồng tôi,
tuổi tác ngang với cha mẹ cô dâu, đứng ra thay mặt nhà trai trong ngày
đám cưới. Nhưng điều quan trọng hơn, theo cô, là để cho cháu Bách, và
chính cô nữa, được tự tin, ấm áp hơn về phía gia đình mình. Bởi vợ tôi
là người chứng kiến khi Bách ra đời, còn tôi là người đồng hương duy
nhất biết rõ về Bách, về những tình huống để có Bách hiện diện trên thế
gian này.
–
Sự có mặt của anh chị trong ngày đám cưới cháu Bách, là một kỷ niệm
thiêng liêng quý giá đối với mẹ con em. Bởi vì khi nhìn thấy anh chị, em
sẽ có cảm giác như là đang có anh Trác bên cạnh. Xin lỗi anh chị, em
cũng đã nói dối với cháu Bách, anh là người duy nhất ở Na-uy này biết
chuyện Trác, và tội nghiệp, cháu Bách vẫn tin anh Trác là ba của nó. Em
thường bắt gặp cháu đứng thật lâu trước tấm ảnh của anh Trác trên bàn
thờ.
– Vậy nhỡ cháu Bách hỏi tôi về Trác, tôi biết nói gì với cháu?
Nghĩ ngợi một lúc, Kiều lên tiếng:
–
Em chỉ nói với cháu Bách, là ngày xưa anh ở trong quân đội, nên biết ba
của anh Trác là ông nội cháu, thế thôi. Chứ lúc ấy anh Trác còn nhỏ
lắm. Em thiết tha mong anh chị giúp em. Vì trong lúc này, em cảm thấy
thật lo sợ và cô đơn. Những hình ảnh hãi hùng ấy cứ tưởng đã quên được
từ lâu rồi, vậy mà bây giờ nó lại hiện lên liên tục, ngay cả trong giấc
ngủ của em. Thú thực, ban đầu em không có ý định gặp anh chị, nhưng càng
gần ngày đám cưới cháu, em càng thấy lòng bất an. Cuối cùng bất ngờ em
đã nghĩ đến anh chị, người đã biết tường tận hoàn cảnh của mẹ con em,
bỗng dưng em thấy nhẹ nhàng, như vừa giải tỏa được những gì cứ phải chôn
giấu, đè nặng mãi trong lòng.
Nhớ tới hai người em trai của cô, vợ tôi hỏi:
– Còn hai cậu em của cô bây giờ ra sao. Đã có gia đình riêng hay vẫn ở chung với cô?
–
Cậu lớn sống chung với cô bạn gái người Na-uy hơn hai năm thì chia tay,
còn cậu út vẫn chưa lập gia đình. Tuy nhiên, hai cậu đều ở riêng.
Cuối
cùng, vợ chồng tôi quyết định hủy bỏ chuyến đi London. Phải gọi sang
xin lỗi và giải thích cho vợ chồng cô con gái, bảo đây là một việc ba má
cần làm để giúp cho những người bất hạnh có thể tìm lại ít nhiều hạnh
phúc.
Lễ
thành hôn được tổ chức buổi sáng thứ Bảy. Chúng tôi đến khách sạn Royal
Christiania khi trời vừa mới trải qua một cơn mưa hạ. Ánh nắng bắt đầu
chói chang rọi qua những tàn cây tạo thành những vệt lung linh trên các
bãi cỏ xanh điểm những chấm vàng rực rỡ của hoa løvetann đang mùa nở rộ.
Họ nhà trai dùng khách sạn này, nơi mẹ con Kiều và hai cậu em đang ở
mấy hôm nay, làm “điểm xuất phát”. Từ Trondheim xuống, nên họ chỉ có bốn
người. Thêm một cậu người Na-uy ở Oslo, bạn học của Bách làm phụ rể. Vợ
chồng tôi đến với hai cô con gái và ba đứa cháu, để bưng các mâm lễ
vật, theo yêu cầu của Kiều. Lần đầu tiên chúng tôi gặp Bách. Cậu bé ra
đời vào một đêm đông tuyết giá, trong nỗi cô đơn và xót xa của mẹ, chỉ
có vợ chồng tôi, hai người đồng hương xa lạ, có mặt và nghe tiếng khóc
đầu đời, bây giờ là một thanh niên tuấn tú, có học, chân thật hiền lành.
Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là Bách nói tiếng Việt rất giỏi. Bất
giác, tôi nhớ tới những điều Kiều kể với vị cảnh sát ngoại kiều trước
kia trong bệnh viện. Đầu óc như mơ hồ có tiếng sóng biển thét gào phẫn
nộ, và hình dung tới gã hải tặc Thái Lan có mái tóc phủ xuống lưng, trên
người đầy những hình xâm với đôi mắt lúc nào cũng đỏ ngầu trong men
rượu. Bỗng tôi giật mình, có cảm giác như vừa làm điều phạm tội. Cố gắng
hướng tâm trí tới những điều thánh thiện, tốt đẹp khác để xua đuổi hết
những hình ảnh đen tối ấy vào giờ phút mọi người đang cần có niềm vui và
hạnh phúc.
Lễ
thành hôn đã diễn ra tốt đẹp. Ông bà sui của Kiều đều là nhà giáo, hiểu
biết và tôn trọng nề nếp cũ. Mọi nghi thức hôn lễ theo tập tục do ông
bà hướng dẫn khá tỉ mỉ. Con cháu đều thành đạt, lễ phép. Tôi mừng cho
Kiều, và nhất là cho cháu Bách đã may mắn là con rể của gia đình này. Có
lẽ thấu hiểu hoàn cảnh của Kiều với lòng mến mộ, sau khi lạy ông bà
trên bàn thờ gia tộc, ông giáo hướng dẫn cô dâu chú rể đến dâng rượu và
xin lạy mẹ của Bách hai lạy. Ông giải thích, một lạy cảm tạ công ơn sinh
thành dưỡng dục của mẹ, mất chồng từ khi còn rất trẻ, nhưng không bước
thêm một bước nào nữa mà dành hết cuộc đời cho đứa con duy nhất của
mình. Một lạy xin mẹ nhận thay cha, để hai con tưởng nhớ đến người cha
bất hạnh, sớm lìa đời khi chưa thấy mặt con.
Khi
vợ chồng cháu Bách mời rượu, nói những lời cám ơn thật cảm động, Kiều
âu yếm nhìn hai con, định nói điều gì, nhưng rồi nghẹn ngào. Sau một lúc
mới nở được nụ cười trong ràn rụa nước mắt. Tôi thấy lòng bâng khuâng.
Thầm mong đó không phải là những giọt nước mắt xót xa mà là niềm vui của
hạnh phúc.
Không
khí bỗng lắng xuống. Mọi người đều xúc động. Kiều ngước lên, đúng vào
lúc tôi quay mặt đi để giấu những giọt nước mắt của chính mình.
phạm tín an ninh
Video kỷ niệm 28 năm thành lập cơ sở VTLV
CON THÚ BỊ RUỒNG BỎ
CON THÚ BỊ RUỒNG BỎ
Một truyện ngắn của Nguyễn Dậu
Mỗi năm vào dịp sang thu, tôi lại được mời lên Ba Vì một lần. Đây là một vùng gò đồi rất đẹp. Hàng ngàn quả đồi nõn nuột cỏ xanh, tròn trịa như một mâm xôi. Rồi kế đến là vùng đồi dứa, đồi sim, đồi sơn, đồi trẩu. Càng vào sát chân núi, rừng càng rậm rạp dần, thâm u dần, để trở thành rừng già trùm lấp những tảng đá nguyên sinh nổi tiếng trên non Tản.
Bạn tôi, thiếu tướng Nguyễn Hồng Quyền đã nghỉ hưu và định cư tại nơi đây. Trang trại của ông – có thể gọi như vậy – gồm gần hai chục nóc nhà làm bằng gạch và gỗ, nằm trên một trái đồi hình yên ngựa, xung quanh có hai ba dòng suối nhỏ uốn lượn vây bọc. Xa hơn nữa, một dòng sông mênh mang đỏ rực phù sa, đang cuồn cuộn chảy xuôi, mất hút vào giữa những eo núi hẻo lánh.
Thật ra mảnh đất này không phải là đất tổ của Quyền. Năm 1948 chúng tôi có dịp chiến đấu chống Pháp ở đây. Rồi tới năm 1953 lại một phen nữa, đơn vị chúng tôi nhận nhiệm vụ phá bung hành lang trung du của địch mở lối thông thoát ở miền đồng bằng lên Việt Bắc, qua nẻo Hòa Bình, Sơn Tây, Phúc Thọ. Trong một tối lửa trại liên hoan quân dân, trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Quyền được một cô gái xinh đẹp nhất vùng Bất Bạt say đắm. Ở anh có nét điển xảo của trai Hà Nội, có tư thế hiên ngang, có ngựa hồng, côn-bát là hình ảnh “trai thời loạn” rất dễ làm xao xuyến những trái tim thiếu nữ thời bấy giờ. Họ thành vợ thành chồng. Con cái của họ giờ đã khôn lớn, hầu hết đi công tác ở nơi xa. Cố nhiên họ đã nên ông nên bà, và có một đàn cháu nội cháu ngoại khá đông đúc.
Thiếu tướng là một con người sởi lởi, hào phóng, chí tình chí cốt với họ hàng và bầu bạn. Nhưng ông mắc bệnh gia trưởng quân phiệt một cách nặng nề. Ông yêu thương mọi chiến sĩ, nhưng cậu nào bướng bỉnh, ông cho đi an dưỡng hoặc cho thuyên chuyển tới đơn vị khác không thương tiếc. Ông đùm bọc họ hàng đến hết mình, nhưng chớ nên để ông phật ý. Chỉ một giận dữ nhỏ, ông thù ghét rất lâu, thậm chí đáng buồn là ông ghét họ suốt đời.
Như nhiều người khác, ông cũng mắc bệnh nghề nghiệp. Nghĩa là ông ưa mọi ý muốn của ông phải được chấp hành, mọi rắp tâm phải được thực hiện. Bởi vậy, con dâu về ở cạnh ông đã đành. Con rể cũng phải về ở cạnh ông nữa. Rồi dần dần, một số con cháu trong họ cũng thiên cư đến đây quây quần cùng ông, cho “tre ấm bụi”. Không cần phải khéo léo cho lắm, ở cương vị ấy, người ta dễ dàng “ngói hóa” cho cả xóm. Thế là cái xóm nhỏ gồm toàn con cháu của ông, trở thành trang trại. Sau khi về hưu thì vị thiếu tướng nghiễm nhiên trở thành chòm chóp của trang trại này.
Mới sáu mươi hai, thiếu tướng còn trẻ khỏe hơn tuổi tác. Ông cao lớn đẫy đà hồng hào, dáng đi mạnh mẽ, giọng nói oang oang, tiếng cười rồ rộ, tràn trề sức sống. Tuy đầu óc ông không còn thích nghi với một đơn vị chính quy hiện đại nữa, song ông quá thừa năng lực điều khiển việc sản xuất kinh doanh của trang trại, để cho nó ngày một phồn vinh sung túc. Ngoài công việc điều hành trang trại, thiếu tướng đặc biệt ham thích săn bắn, câu cá, cờ tướng. Đôi khi, cao hứng lên, ông cũng làm thơ. Những bài thơ Đường luật, lổn nhổn những từ ngữ xửa xưa: sơn hà, tráng sĩ, vung gươm, thôn nữ cửi canh, chinh phụ, bồi hồi v.v…
Bởi tôi cũng thành thạo vài ngón như bắn súng, câu cá và ham cờ, nên vừa là niềm vui vừa là tai họa, mỗi năm ông bạn già ấy lại “buộc” tôi phải lên chơi với ông một lần, thậm chí, ông có lúc còn chèo kéo tôi lên định cư hẳn cùng ông, làm quân sư quạt mo cho ông trên một số lĩnh vực.
Lần này, Nguyễn Hồng Quyền xuống tận Bất Bạt để đón tôi. Thiếu tướng không dùng xe máy “Ban căng” như mọi lần. Thay vào đó, ông cưỡi một con ngựa trắng đực tơ, bốn vó khá dài. Trên tay ông dong theo dây cương một con ngựa hồng cái, có bộ lông rất mượt, có cặp mắt màu vàng chanh, và bộ lông bờm màu hồng thật không gọt xén. Trao cương ngựa cho tôi, ông vừa vỗ về con Hồng, vừa nhìn tôi cười ha hả: – Sao? Ngạc nhiên lắm à? Có gì đâu, tớ muốn chúng mình lại cùng nhau phóng ngựa, như ngày xưa trẻ trung đã phi ngựa trên thảo nguyên Hoa Bắc ấy mà. Xương sống lưng của tớ thì tuyệt rồi. Mà xương sống của ông thì chắc cũng chẳng kém gì đâu. Đồng ý chứ? Tôi tỏ vẻ hân hoan. Bởi vì cái gì dính tới thời son trẻ cũng gây cho tôi một niềm ham thích.
– Đồng ý thôi. Chỉ phiền cái xắc du lịch của mình hơi nặng. – Cứ ghì vào sau yên ấy. Con Hồng không chịu nhường bước con Bạch đâu. Rồi ông sẽ thấy nó phi nước đại hay đến mức nào. Phải tháo kính trắng ra bỏ vào túi áo, kẻo văng mất đấy. – Cặp ngựa này ông sắm từ bao giờ vậy? Năm ngoái tôi không thấy chúng. – À, mới lên Lạng Sơn tậu đấy. Lúc thường thì dùng chúng kéo máy ép mía, máy ép dầu. Lúc cần thì đi săn. Săn thú mà không có ngựa tốt để cưỡi thì nguy hiểm lắm. Ông quá rõ điều đó còn gì? Thôi, lên ngựa đi! Chúng tôi cùng lên ngựa. Quyền huýt gió một tiếng chói tai. Từ bụi cỏ gần đấy, một con chó to lớn mầu trắng đen loang lổ, băng lại cạnh chân ngựa. Nó ve vẩy đuôi, giương cặp mắt xanh thau, chờ lệnh chủ.
Thiếu tướng hể hả, hất hàm hỏi tôi: – Ông vẫn nhớ nó chứ? – Làm sao tôi quên được con Tuýt của ông. Không phải chó nữa, mà thực sự là con cọp rừng. Năm nay nó đến bốn chục kilô đấy nhỉ? Vị chòm chóp của trang trại cười rung cả yên ngựa: – Bẩy mươi bẩy kilô đấy! Thế còn con Múc? – À, Con Múc, cái con trời đánh ấy ông nhắc đến nó làm gì? Rồi thì tôi sẽ cho ông rõ mọi chuyện. Ê, này Tuýt! Mày không kính chào bạn của chủ mày à?
Con Tuýt ngoáy tít cái đuôi dài, “oẵng” một tiếng hùng dũng. Đoạn nó đứng thẳng lên bằng hai chân sau, hai chân trước chụm lại, hướng về tôi mà vái ba vái.
– Thôi, đủ rồi – Chủ nó ra lệnh – Hãy dẫn đường cho chúng tao. Con Tuýt vọt lên trước. Con ngựa Bạch lao theo. Không chờ giật cương, con Hồng cũng băng lên, phi song song cùng bạn nó. Chúng tôi vùn vụt phi lên đèo, lượn quanh suối rồi lại vượt dốc, băng đèo. Sau lưng chúng tôi, bụi đỏ của vùng đồi đá ong bốc lên cuồn cuộn.
Con Tuýt xứng đáng được chủ nó cưng chiều. Nó bỏ xa đầu ngựa hàng trăm mét. Có lúc nó tạt sang sườn trái, có lúc nó lại vòng bên sườn phải chúng tôi. Bốn chân nó thoăn thoắt, mờ mờ không còn rõ hình hài. Bộ lông khoang của nó như kẻ một đường thẳng trên ngọn cỏ. Đôi lúc, nó đánh hơi thấy một mùi hoang thú nào đó. Nó lập tức rống lên, rẽ ngang vào rừng sơn. Song dù máu săn của nó nóng tới đâu, nó vẫn nghe lệnh chủ mà quay ngoắt trở lại, rồi vun vút băng vọt lên dẫn đầu. Đôi ngựa chúng tôi đang cưỡi đây, cũng rất hăng máu non tơ, dường như muốn đuổi vượt con chó Tuýt. Chúng thở ra hơi trắng, bốn vó dồn dập sải dài nước đại. Sỏi đá, cây cỏ dưới mặt đường, như kéo thành vệt, loang loáng trôi về sau lưng. Nhưng không ổn. Chẳng nói gì ngựa thồ, ngựa ép mía, ngay đến ngựa chiến cũng không thể theo kịp tốc độ của chó săn. Con Tuýt láu lỉnh hiểu ý đôi ngựa. Ngựa phi nhanh, nó tăng tốc nhanh hơn. Ngựa chậm dần, nó hãm đà phóng, cứ lững thững ở mé trước như trêu như chọc.
Quả thật đây là những giây phút sung sướng lành mạnh trong đời tôi. Thuở trai trẻ, chúng tôi được dịp ngồi trên yên những con ngựa cao lớn mà bay vút trên thảo nguyên bao la. Những con ngựa ấy, tôi chỉ đứng ngang bả vai chúng, rất xứng đáng với những cái tên rất kêu: “Thiên-lý-Hoa-lưu”, “Tích-tuyết-ô-truy”, “Xiển-điện-hoàng-phiêu”… so với chúng, thì hai con ngựa nhiệt đới mà chúng tôi đang cưỡi đây, chỉ đáng gọi là những con nghẽo xoàng xĩnh. Song tôi vẫn thấy chứa chan hào hứng. Tôi thầm cảm ơn bạn già, cảm ơn đội ngựa, cảm ơn con Tuýt tinh thông, cảm ơn đất trời mênh mông và cảnh sắc của thiên nhiên hào hùng xung quanh… Tất cả đã khuấy lại trong tim tôi những kỷ niệm đẹp đẽ đã trôi qua, những sôi nổi chỉ còn âm ỉ của một thời xuân sắc đã lướt vào dĩ vãng. Vị chòm trại đột ngột chụm môi rúc còi lanh lảnh ra lệnh cho chó và ngựa dừng lại bên bìa rừng trẩu. – Được nửa đường rồi, chúng ta tạm nghỉ một lát. Thế nào, ông bạn, cảm giác về sống lưng ra sao? Cả hai chúng tôi cùng nhảy xuống. Cương ngựa được cột chặt vào gốc trẩu. Chúng lúc lắc đầu, quạt mạnh đuôi, gõ móng ngựa thậm thịch xuống nệm cỏ, tỏ ý còn muốn được rong ruổi nữa, tuy rằng hơi thở của chúng đã khá nặng nề.
Chúng tôi ngồi xuống nệm cỏ mật, giữa hai hàng trẩu non. Thiếu tướng rót rượu mật ong ra. Chúng tôi cùng nhau tợp vài ngụm rồi hút thuốc lá, loại thuốc sợi vàng óng, đặc sản của Ba Vì. Riêng Quyền, ông nhồi vào tẩu. Ông đã quen dùng tẩu từ mấy chục năm rồi.
Tôi lim dim mắt, hỏi bạn già. – Tình hình các cháu nội ngoại của ông ra sao? Nhất là cái con Quỳnh ấy? – Chúng nó đều ăn khỏe, ngủ khỏe. Riêng cháu Quỳnh thì ngoài phần học văn hóa ra, cháu vẫn thích đi chơi trên đồi rừng, vẫn thích làm thơ về rừng. Từ ngày không còn con Múc, nó ít đi rừng hơn. Và tôi cũng cấm cháu nữa. – Nghĩa là, anh không hề thấy con Múc quay trở về? – Con Múc trở về ấy à? – Thiếu tướng mỉm cười, lắc đầu nhè nhẹ – Về con Múc, anh sẽ được thấy mọi điều. Hiện giờ tôi không muốn nói cùng anh vội. Nhớ rằng tôi mời anh lên đây lần này khác hẳn những lần trước. Dù rằng anh không ưa săn bắn, tôi vẫn ép anh phải dự cùng tôi một cuộc săn bắn bằng được. – Một con thú đặc biệt mới xuất hiện chăng? – Ồ, bí mật quân sự!
Tôi không hỏi gì nữa. Tính nết đến khỉ của cái ông già này là vậy! Khi không, tự dưng ông nói tộc toạc đủ mọi điều. Lúc thích hỏi, thì ông ta lì lì ngậm tăm.
Con Tuýt nằm duỗi chân cách chủ nó chừng nửa mét. Lười thè dài, mầu đỏ hồng có điểm những chấm đen lấm tấm. Thân nhiệt của nó, được xả ra từ đầu lưỡi, bốc thành hơi trắng nóng hầm hập. Hàm răng của nó trắng bóng. Bốn chiếc răng nanh cửa dài và cong, sáng nhoáng đến dễ sợ. Chẳng rõ từ ngày nó ra đời rồi trưởng thành đến nay, bộ nanh ghê gớm kia đã cắn xé biết bao gà lôi, với chim đa-đa, thỏ và chồn, hươu và hoẵng, gấu và cáo. Kinh dị hơn, chủ nó đã đôi lần tường thuật cho tôi nghe những trận ác đấu của nó với gấu ngựa và báo đen. Trong những cuộc cắn xé sinh tử đó, phần lớn nó đã chiến thắng, dù đẫm máu nhưng huy hoàng. Có nhiều phen nó đã sắp bị kẻ thù xé xác, nhờ nòng súng thiện xạ của ông chủ, nó được cứu thoát. Chủ và chó đều có ân huệ sâu xa với nhau.
Nếu như chủ đã cứu chó thoát khỏi cửa tử nhiều phen, thì chó cũng đã dăm bảy bận đưa chủ trở về cõi sống. Trong các cuộc săn đuổi gay cấn và hấp dẫn lạ lùng kia, thiếu tướng đã hai phen bị báo gấm vồ lén, đã một lần bị gấu ngựa quật ngã. Mỗi lần ngặt nghèo vậy, con Tuýt mới được dịp bộc lộ hết tài năng của nó. Nó nhanh chóng chọn chỗ yếu của hoang thú, để tìm hướng lao vào. Không do dự trù trừ, không hấp tấp sai lệch, nó chồm tới, ngoạm rất chính xác vào cổ họng ác thú mà xé rách bằng hai ba cái quẫy đầu mạnh mẽ. Ác thú bị đòn chí tử, không còn kịp gây thương tích cho chủ nó nữa.
Nguyễn Hồng Quyền thường đắc ý nói với tôi: – Anh rõ chăng, lúc nó mới chào đời, tôi đã thấy “tướng lạ” của nó. Dưới hàm của nó có ba sợi lông dài màu xanh biếc. Chỉ người sành chọn chó mới hiểu thế nào là “tam tu vi long, nhị tu vi hổ”. Đấy, thế đấy. Chó của tôi thì kém đếch gì một con beo? Này, anh có nhớ thượng tướng Th. không? Cái ông già gàn dở nổi tiếng toàn quân về phong thái “hiên ngang” ấy mà, đã gạ tôi đổi con Tuýt lấy một cặp béc-giê Sibêri đấy. Ồ, xin lỗi! Ngài hãy đổi cho tôi một cặp rồng thực sự, tôi cũng xin kiếu ngài thôi.
Trong các cuộc săn đuổi gay cấn và hấp dẫn lạ lùng kia, thiếu tướng đã hai phen bị báo gấm vồ lén, đã một lần bị gấu ngựa quật ngã. Mỗi lần ngặt nghèo vậy, con Tuýt mới được dịp bộc lộ hết tài năng của nó. Nó nhanh chóng chọn chỗ yếu của hoang thú, để tìm hướng lao vào. Không do dự trù trừ, không hấp tấp sai lệch, nó chồm tới, ngoạm rất chính xác vào cổ họng ác thú mà xé rách bằng hai ba cái quẫy đầu mạnh mẽ. Ác thú bị đòn chí tử, không còn kịp gây thương tích cho chủ nó nữa.
Nguyễn Hồng Quyền thường đắc ý nói với tôi: – Anh rõ chăng, lúc nó mới chào đời, tôi đã thấy “tướng lạ” của nó. Dưới hàm của nó có ba sợi lông dài màu xanh biếc. Chỉ người sành chọn chó mới hiểu thế nào là “tam tu vi long, nhị tu vi hổ”. Đấy, thế đấy. Chó của tôi thì kém đếch gì một con beo? Này, anh có nhớ thượng tướng Th. không? Cái ông già gàn dở nổi tiếng toàn quân về phong thái “hiên ngang” ấy mà, đã gạ tôi đổi con Tuýt lấy một cặp béc-giê Sibêri đấy. Ồ, xin lỗi! Ngài hãy đổi cho tôi một cặp rồng thực sự, tôi cũng xin kiếu ngài thôi.
Vốn thâm giao, thường niên gặp gỡ, lẽ cố nhiên tôi hiểu rõ lai lịch con Tuýt vô giá kia. Tổ của nó vốn nòi chó săn Na-uy băng giá. Trong trận tiêu diệt đồn Đại Bục năm xưa, giữa hàng trăm chiến lợi phẩm quan trọng, trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Quyền chỉ mừng rỡ khi đoạt được con chó săn này, vốn là kẻ “cận vệ” của tên Pháp đồn trưởng. Ông gởi về nhà, giao cho vợ ông trông nuôi. Trong đàn con cháu của nó, ông Quyền chọn lựa được một con chó cái mầu trắng như tuyết, không pha tạp một sợi lông màu nào. Và ông đặt cho nó một cái tên rất âu yếm: Bạch Ngọc!
Bạch Ngọc có đôi tai nhỏ, dựng đứng. Ức nó nở, bụng nó thon, toàn thân nó chắc nịch như thỏi giò bó. Đôi mắt của nó mang màu da cam, le lói tia sáng. Nó không sủa inh ỏi như chó nhiệt đới, mà lặng lẽ tiếp cận đối thủ, và chỉ tấn công khi nó biết chắc sẽ có một cú đợp chí mạng.
Năm trước một lần về phép thăm nhà, thiếu tướng lấy làm lạ lùng thấy con Bạch Ngọc thường hay lặng lẽ băng mình vào rừng sâu những lúc xế chiều. Ông xỏ ủng da vào chân, xách khẩu AR15, loại tiểu liên cực nhanh, rồi cũng lặng lẽ đi vào rừng, theo hướng đi của con Bạch Ngọc.
Từ xa, dưới một góc trám già nua, ông đã thấy Bạch Ngọc đang đùa giỡn với một con chó rừng vạm vỡ, có bộ lông đen bóng như lụa lĩnh. Ông rón rén vòng theo hướng ngược chiều gió, dần dần tới gần đôi chó bằng động tác đi cực kỳ êm nhẹ của thợ săn lành nghề. Và ông nằm phục xuống quan sát.
Đôi chó quá vui vẻ, nên không hề phát hiện con người đã gần chúng. Nòng súng AR15 đã được nâng lên. Song, chỉ một tích tắc ngắn ngủi, vị thiếu tướng tinh ranh đã quyết định không bóp cò. Ông chỉ rê đầu súng theo hoạt động của con chó rừng đen tuyền kia, mà chờ đợi.
Con chó rừng và con Bạch Ngọc ngửi hít nhau, đùa rỡn vật lộn nhau. Sắp đến lúc phấn khích, con chó rừng rụt cả đầu, cả thân mà chạy thành vòng tròn rộng xung quanh con Bạch Ngọc. Đôi lúc nó ngẩn cao đầu, tru lên từng hồi dài, rồi tung vọt người lên không, nhảy vút từ tảng đá này sang tảng đá khác với niềm cuồng say ghê gớm. Con Bạch Ngọc cũng nhảy nhót, nhưng dường như nó chỉ xoay mình trên tâm điểm. Cuối cùng nó hứng khởi cắn nhẹ vào má con chó rừng, rồi đứng im với tư thế mời mọc.
Quả như ông thiếu tướng dự kiến. Một hiện tượng thiêng liêng của tự nhiên đã diễn ra. Con chó rừng hăm hở làm cái việc gắn đuôi con Bạch Ngọc. Biết chắc rằng đôi chó rừng không thể mau chóng tách rời nhau, thiếu tướng đứng lên, nhẹ nhàng lùi dần ra cửa rừng. Ông ngồi trên một khúc gỗ ẩm ướt, mồi lửa vào tẩu thuốc và ngâm nga một câu thơ gì đó. Ông vui! Một cuộc phối giống vô cùng hiếm hoi mà có dụng ý đến đâu người ta cũng không dám mong ước. Thiên nhiên yêu chiều ông đến thế là cùng.
Chừng nửa tiếng sau, con Bạch Ngọc êm như ru chạy ra. Nhác thấy chủ, nó ngạc nhiên nhưng mừng quýnh. Đôi mắt sung sướng của nó lấp lánh như bốc lửa. Ông Quyền đập nhẹ bàn tay lên đầu nó, nói với nó vài lời trìu mến, khi nhìn thấy từ cục thịt dưới đuôi nó rỉ ra vài giọt máu tươi. Đoạn, cả chủ cùng chó, với niềm hoan hỉ, chậm bước quay về trại. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, con người say sưa sát phạt kia đã không nổ súng vào một con thú rừng.
Trước khi lên xe, trở lại đơn vị, ông dặn dò cặn kẽ vợ con cách chăm sóc và bồi dưỡng Bạch Ngọc, đồng thời phải biên thư báo cho ông biết diễn biến của nó từng tuần một. Bà Quyền ngoan ngoãn vâng lệnh chồng! Bà chỉ âm thầm buồn bực vì xưa nay chưa bao giờ chồng bà quan tâm như thế tới bà, tới con gái và con dâu mỗi kỳ thai nghén sinh nở.
Con Bạch Ngọc đã không phụ lòng ông chủ. Nó đẻ lứa đó được bốn con chó con. Con đầu khoang đen trắng, tức con Tuýt. Con thứ hai hoàn toàn đen kịt, có cặp mắt tóe lửa giống mẹ, được đặt tên là Múc, còn hai con kia mang mầu lông xám đậm. Tuy tiếc đứt ruột, vị thiếu tướng vẫn phải tặng một con cho một ông Bộ trưởng có ân sâu dìu dắt ông tự thuở thiếu thời.
Khi Tuýt và Múc được tám tháng tuổi, cũng là lúc ông tướng già được về hưu. Ông dốc hết sức mình vào việc dẫn dắt trang trại ngày một phồn vinh trên đường kinh doanh. Cũng với sự tận tình như vậy, ông chăm sóc, huấn luyện con Tuýt, con Múc cùng một bầy năm sáu con chó săn khác. Tuýt và Múc càng lớn càng khác biệt nhau. Cùng vạm vỡ, cao lớn, cùng ngông cuồng với thiên chức săn đuổi tìm diệt, song con Tuýt được chủ nó yêu quý hơn con Múc nhiều. Tuýt biết phán đoán, ửng xử hầu hết ý chủ. Nó gần như hiểu tiếng người. Ngoài chức trách dữ dằn, quyết liệt và man rợ trong săn bắt, nó rất dịu dàng, quấn quít con người. Chỉ cần dạy bảo đôi lần, nó biết mừng đón và biết vái chào, biết canh phòng và làm vui lòng chủ. Nếu cần sai nó lấy đôi dép, lấy con dao, lấy chiếc điếu cày, nó làm rất khéo. Nếu cần thúc nó trừng phạt gia cầm và gia súc, nó tuyệt đối làm vừa ý chủ. Con con Múc thì hoàn toàn ngược lại.
Nó không hề thua kém Tuýt về khoản săn đuổi, vật lộn và cắn xé. Nhưng chỉ thế thôi. Nó dửng dưng với những việc mà con Tuýt say mê. Nó không quẩn quanh bên chân chủ, không biết chào đón, lại càng đần độn với những việc chủ muốn sai khiến. Trong cái trại đông đảo người này, nó chỉ thân thiết và gắn bó với riêng cháu Quỳnh. Mỗi lần cháu Quỳnh lên đồi sim, hoặc vào rừng, nó thường đi theo, nửa bước không rời. Những lúc tiễn cháu Quỳnh đi học rồi, nó thường quay về nằm duỗi dài chân ở đầu thềm dỏng tai nghe, chăm chú nhìn. Nó nghe gió ngà, nghe suối reo, nghe mọi động tĩnh trong rừng sâu. Đầu mũi ướt bóng của nó luôn luôn nhún động, để như nắm bắt, như phân biệt, như tận hưởng mọi thức hơi lạ theo gió lùa tới.
Nó thờ ơ như vậy, dần dà, nó bị ông chủ ghẻ lạnh. Ông quên đi những công lao của nó, chỉ còn biết cáu gắt quát tháo mỗi khi nó lỳ lợm không chịu xua đuổi đàn gà quấy phá vườn rau, hoặc không chịu xua đuổi lũ gia súc đang tứ tán trên đồi. Tình hình xấu đến nỗi, ông đã quất cho nó vài ngọn roi da, khi nghi ngờ nó xơi tái mất hai con gà trống Đông Cảo, mà ông lận đận về mãi miền Từ Hồ mới mua được.
Trong nghề săn bắn và nuôi dưỡng chó săn, ai cũng biết rằng người ta tuyệt đối tránh ngược đãi chó của mình. Sự trung thành sẽ mất đi, nếu con chó bị trừng phạt oan uổng. Một con người tinh ranh và sáng suốt như thiếu tướng Hồng Quyền mà cũng phạm phải sai sót đó, thật đáng buồn biết chừng nào. Sở dĩ ông thù ghét nhưng chưa nỡ ruồng bỏ con Múc vì hai lý do. Thứ nhất, ông sợ cháu Quỳnh buồn. Ông yêu thương và quý báu cháu Quỳnh, còn cháu Quỳnh thì lại trìu mến con Múc như một bạn nhỏ thân thiết. Thứ hai, hồi đầu năm, con Múc lập được một chiến tích có thể xem là phi thường được.
Những ngày đầu xuân, mưa phùn và nắng ấm, làm cho rừng già trở nên tươi rói vì những búp nõn và chồi non. Tại các nẻo đồi mươn mướt từng đợt cỏ xanh mềm như nhung lụa. Muông và thú trong rừng sau đợt nghỉ đông hoặc ngủ đông dài dặc, bây giờ bừng tỉnh, nhộn nhịp đi kiếm ăn, tìm đôi, phối giống, và sinh sản.
Một đàn lợn rừng từ bên kia sông Đà, đã ùa sang bên này. Các đồi lạc, đồi dứa của trang trại bị lợn rừng tàn phá nặng nề. Ông Quyền cùng Quý, con trai thứ ba, quyết định rủ nhau đi săn bắt đàn lợn rừng tệ hại kia. Lợn rừng chậm chạp, chỉ cực kỳ hung dữ khi bị dồn vào tử địa. Có khoảng sáu con họp thành đàn, đang trũi húc vào các luống lạc. Khi phát hiện ra có người và chó vây bủa, chúng mở đường máu lao về phía sông Đà. Chúng đi, tựa sườn vào nhau, hai nanh dưới to bằng ngón tay trỏ, nhe ra, lông bờm dựng đứng. Đàn chó phân vân, không biết nên tấn công đàn lợn bằng cách nào. Những mảnh đạn ghém tuy trúng đích cũng không khiến chúng ngã được, bởi lớp mỡ quá dày.
Bản thân vị thiếu tướng cũng có phần lúng túng, chưa có cách nào để đạt kết quả tối ưu. Trong khi đó, đàn lợn vẫn rất trật tự, tựa sườn vào nhau mà lần lượt xuống sông bơi đi hết. Riêng có con đầu đàn, khổng lồ, không hiểu sao nó lại không lao xuống nước. Nó dừng chân bên bụi lau, và quay đầu trở lại. Đôi mắt nhiều lòng trắng của nó long sòng sọc. Nó tru hộc lên, những chiếc lông cứng và dài như lông nhím dựng đứng suốt từ gáy tới lưng. Hai chiếc nanh trước trắng bóng, cong cong của nó chĩa ngược lên trời với vẻ đe dọa không thể không làm ta rùng mình.
Con Tuýt bị chủ thúc xông lên. Chính nó cũng chần chừ. Bởi vì giống chó săn thường chỉ đánh vào điểm yếu nhất của đối thủ là hầu họng. Các loại hoang thú thường để lộ cổ họng, dù có lớp mao bao bọc. Với lợn rừng lại là chuyện khác. Nó hầu như không có cổ. Lớp mỡ dầy đặc ứ bự xung quanh vùng mặt, nối liền bả vai và xương ức.
Bị hối thúc vì lệnh chủ, con Tuýt nhảy vào. Nó ngoạm đúng phần má của con mồi. Nhưng nó đã bị trừng trị trở lại. Con lợn rừng chỉ hất mạnh cái mũi lên, hai chiếc nanh nhọn đã đóng ngập vào xương sườn con Tuýt. Con Tuýt rống lên đau đớn, nhưng nhanh nhẹn, nó vùng thoát rồi chạy về bên chủ, máu chảy đầm đìa. Ông thiếu tướng kinh hoàng vì đấu sĩ số một của ông chiến bại. Ông lập tức nâng khẩu AR15 lên. Cùng lúc ấy con Múc đã xông tới. Ông liền ngừng lại để xem bản lĩnh của con Múc. Con Múc hiểu rằng, qua cú đòn đau của con Tuýt, nó không thể ngoạm cổ con lợn rừng được. Nó liền chạy vòng quanh con mồi. Con lợn rừng hung tợn và lỳ lợm cũng xoay tròn thân mình, đôi mắt trắng sáng không rời con Múc. Bất thình lình, đang đà chạy bình thường, còn Múc nhảy vào con lợn. Nhưng khi gần tới cổ lợn, nó ngoặt người đổi hướng và đợp rất chính xác vào cẳng chân sau của con mồi. Tiếng xương gãy nghe ròn lắc rắc. Con mồi rống lên, nhưng con Múc đã vọt được ra xa. Lợn rừng hung tợn lên gấp trăm lần. Nó khập khiễng nhưng nhanh nhẹn xông vào tấn công bất kỳ ai. Cũng may hôm ấy tất cả đều ở trên mình ngựa, nên bầy ngựa nhảy dạt ra khá nhanh nhẹn. Cơ hội tốt đẹp đó tạo thuận lợi cho Múc. Trong khi con lợn xông theo con ngựa của ông Quyền, thì từ mé sau, con Múc băng tới, và ngoạm vỡ xương chiếc chân bên kia của con lợn. Lúc này con lợn mới rống lên thảm thiết. Gãy hai cẳng giò mé sau, nó không còn sức bật sức dướn nữa. Nó nằm bẹp xuống, điên cuồng dũi răng nanh vào đất đá, làm cho đất đá bị lõm thành một hố sâu. Phần còn lại, Múc dành cho người và bầy chó kia kết thúc. Nó đứng im, vừa thở vừa ngắm nghía con mồi bị nó đánh gục.
Sau cái chuyện đó, ông Quyền, với con mắt người đi săn thấy rằng ở con Múc còn nhiều tiềm năng ghê gớm, mà chỉ khi lâm sự nó mới bộc lộ ra. Còn với cặp mắt của người chủ, ông vẫn không xóa bỏ được mối ác cảm đối với “tên đày tớ” ương bướng này.
Trở về trại, ông chăm sóc chu đáo vết thương con Tuýt, nhưng việc cần phải làm là ban thưởng cho con Múc thì ông không làm. Năm trước lên thăm và ở chơi cùng ông Chòm Trại, tôi đã thân ái nhắc nhẹ ông về tính công bằng, và sự cần thiết phải gạt bỏ thành kiến. Song, ông bạn già của tôi vốn không thể cao cả hơn thượng đế được, mà chính thượng đế rất bảo thủ. Ông cười, chế nhạo lại tôi: – Trừng phạt và ưu ái là hai mặt của sự chăm sóc và gây dựng. Nếu con Múc muốn tôi ưu ái nó thì nó hãy ngoan ngoãn như con Tuýt. Tôi có hẹp hòi gì đâu? Mà, có nực cười không nhỉ, khi anh thấy cần giảng dạy cho tôi về mặt nuôi dạy chó săn?
– Về việc đào tạo chó săn thì anh hơn tôi không chỉ một, mà là hàng vạn lần. Tôi chỉ lưu ý anh về tính di truyền sinh vật. Theo anh kể, bố nó là giống chó rừng thuần chủng. Còn mẹ nó là nòi giống của loại chó tinh quái có nguồn gốc hàn đới xa xôi, đã được thuần hóa. Con Tuýt được thừa hưởng cái gien máu của mẹ nó quá nhiều. Còn con Múc thì ngược lại, nó giống bố nó từ thể hình, màu lông và tính cách. Ở nó tính “rừng” đậm hơn tính “nhà”. Thiếu tướng cười
vang vọng, đắc thắng: – Theo ý anh thì con hổ và con voi rừng có mang tí tính “nhà” không? Vậy mà người ta dạy nó làm xiếc được đấy. Vấn đề là nó có ngoan ngoãn không? Có phục tùng không? – Nhưng anh đã có tình thương yêu và tính kiên nhẫn của những nhà dạy thú chưa?
Ông tướng già quen với việc ra mệnh lệnh lúc này mới im bặt. Ông trầm ngâm giây lâu, đoạn vỗ vai tôi: – Này, mình tặng con Múc cho ông đấy! – Tặng tôi? – Mình rất thực tâm. Có lẽ ở cùng ông thích hợp cho nó hơn. – Ôi, cảm ơn tình bạn của anh. Nhưng, tôi biết dùng nó vào việc gì? Chả lẽ để nó canh chừng những con sâu mọt đục phá cái bàn viết của tôi à? Vả chăng, tôi biết kiếm đâu ra thịt sống để nuôi nó, trong khi chính tôi cũng chả có thịt mà ăn?
Chúng tôi lại cười, và cùng cười rồ rộ. Nguyễn Hồng Quyền không phải con người lúc nào cũng cố chấp, ông ta chỉ bướng bỉnh lúc nào bị sự ngu dốt xúc phạm. Trộn lẫn trong tim ông có tính hồn nhiên, phóng khoáng, tự phụ và hiếu thắng, nên nói chung, ông ta không giận bực lâu. Sự hào phóng và khoáng đạt vẫn là phong thái chủ chốt của ông.
Tuy chưa hoàn toàn gạt bỏ sự căm ghét con Múc, song ông xem chừng cũng muốn mối quan hệ xấu ấy được đổi khác đi. Một hôm, để con Tuýt ở nhà, ông gọi riêng con Múc ra sông tắm cùng ông. Chủ và chó cùng bơi lội đùa nghịch. Ông ôm con Múc vào vòng tay, ngắm nghía những sợi lông dưới cằm nó. Ông sờ nắn những cái móng đã thoái hóa ở cổ chân nó, (phương đông gọi là huyền đề).
Lúc đầu con Múc le lói ánh mắt đề phòng người chủ. Chưa khi nào nó được ông gần gũi, xoa vuốt như lần này. Nên, với bản chất rừng, nó hoang mang nghi ngờ ông. Cử chỉ của nó rất e dè, thận trọng. Có lúc tưởng chừng như nó sắp sửa muốn liếm tay, liếm mặt ông nữa, nhưng khi gần sát ông, nó liền đứng khựng và trở lùi. Lưỡi nó lè dài, mắt nó rừng rực ngắm thẳng vào mắt ông. Người và thú cùng dò xét nhau và cùng chưa xóa bỏ được định kiến. Con Múc không biết nói gì, cái đó đã hẳn. Những cử chỉ để giải tỏ lòng trung, nó cũng không thạo nữa. Nó biết làm sao đây để ông chủ hiểu rằng mặc dù bị ông ghẻ lạnh, ruồng rẫy, nó vẫn yêu mến ông, vẫn muốn gắn bó với cái trang trại này, cái cơ ngơi này.
Một đêm mưa rét, khi con Tuýt và bầy chó săn kia đi tìm nơi ấm áp ngủ ngon, con Múc đã phát hiện thấy một con báo gấm đang quẩn quanh ngoài hàng rào mắt cáo, tìm lối vào trại. Nếu là con Tuýt hoặc chó khác, đã sủa ngậu lên, báo hiệu cho chủ. Với Múc, nó không ồn ào thế. Nó xù lông, nhảy vút tới bên bờ rào, đôi mắt tóe lửa. Con báo gấm, một ác thú nham hiểm bậc nhất ở rừng sâu, vừa gầm gừ nhè nhẹ, vừa chạy đi chạy lại tìm một lỗ hổng to rộng. Con Múc cũng gầm gừ nhè nhẹ, bám sát con báo gấm từng bước chân để ngăn chặn. Nếu không có hàng rào tre khỏe khoắn, chắc chắn đã diễn ra một cuộc cấu xé đẫm máu, mà phần bi thảm hẳn thuộc về con Múc. Bởi vì chó rừng, dù hung hãn, đồ sộ tới mức nào cũng không phải là đối thủ của báo gấm. Khi đói khát, bị cơn đói cồn cào kích thích, báo gấm dám liều lĩnh tấn công và cắn xé cả cọp rừng.
Cứ như vậy, hai con thú trong cái thế đối chọi qua lớp rào tre, suốt đêm mưa gió. Đã mấy lần báo gấm định leo trèo hàng rào cao. Nhưng nó biết rằng khi leo rào, nó sẽ bị phơi bụng ra. Một ác thú nham hiểm đâu có dại dột vậy.
Lúc trời tang tảng sáng, con báo gấm đành rống lên một tiếng căm hờn, vút thẳng vào rừng. Con Múc ướt sũng, mệt mỏi bơ phờ, trở về nằm dài ở cửa buồng cháu Quỳnh.
Chính cái lần ấy, khi thấy con Múc rũ rượi, thảm hại vì suốt đêm căng thẳng, ông chòm trại đã chỉ vào mặt nó mà mắng: – Mày giấu đôi gà Đông Cảo của tao ở góc nào, hang hốc nào. Đêm qua mưa gió lẻn đi làm một bữa hả hê phải không? Chiến công quật ngã lợn rừng đầu đàn làm cho mối quan hệ chủ và chó có phần đẹp hơn. Nếu cứ cái đà ấy, cái đà mà chiến tích của Múc ngày càng vượt trội Tuýt, thì số phận của nó sẽ đẹp đẽ nhường nào. Nhưng hỡi ơi, định mệnh của nó nghiệt ngã, số kiếp của nó có chứa sẵn một kết cục ảm đạm, nên đã xảy ra một việc cực kỳ phi lý như sau:
Vào độ rằm tháng bảy, khắp nơi người ta náo nức sửa soạn cúng lễ vong hồn tiên tổ. Về phần mình, ông thiếu tướng với cương vị chòm chóp của trại, ông làm hẳn cỗ thái lao, để trước là tỏ lòng tri ân tổ tiên, sau là ban ân cho con cháu. Thái lao, theo tục cổ là lễ tam sanh, gồm có một trâu trắng, một ngựa trắng và một dê trắng. Ông Quyền không thể quá ư nệ cổ, nên biến báo đi chút ít: một lợn trắng, một dê trắng và một gà trắng. Thế, e là cũng quá linh đình rồi. Dê và lợn đã được quay hồng. Gà thì được rán chín cả con. Tất cả bầy đặt trên bàn thờ tổ.
Con Tuýt quanh quẩn dưới gầm bàn thờ. Mùi vị thịt rán kích thích tì vị nó dữ dội, xưa nay nó chỉ biết mùi thịt sống và cũng chỉ ăn toàn thịt sống. Người nuôi chó săn thường dùng máu nồng và thịt gây để kích thích tính hăng say xâu xé. Chưa bao giờ Tuýt được ngửi hít hương vị thơm tho lạ lùng đến thế.
Trên gian thờ tổ vắng ngắt. Cánh mũi của Tuýt phập phồng nở rộng, nước rớt nước dãi của nó lều rều theo đầu lưỡi xuống đất. Bằng một động tác còn nhanh hơn ma quỷ, con Tuýt nhảy lên ban thờ, ngoạm chắc lấy con gà quay, rồi vọt ra cửa. Nó toan tính phóng thẳng ra nơi vắng vẻ bên bờ suối. Tại hiên hè, nó gặp con Múc đang nằm ở buồng cháu Quỳnh. Cũng lúc đó, tiếng đế ủng của ông chủ thậm thịch nơi xa. Nó vội nhả con gà quay ra, nhảy tót vào cửa ngách, rồi êm như động tác của mèo cái, nó vọt qua cửa sổ, mất hút.
Ông thiếu tướng tròn xoe mắt nhìn con gà thái lao có vết răng chó bập vào, rồi ông trừng mắt nhìn con Múc nằm gần đó. Giận sôi sùng sục, ông vào nhà ngang lên tiếng gọi vợ con. Đoạn, ông rút chiếc roi gân bò, chạy đến bên con Múc.
Múc không hiểu người ta định làm gì, song nó linh cảm thấy sự chẳng lành. Nó đứng phắt dậy toan mừng chủ chút ít thì một loạt roi da xiết bỏng trên lưng nó. Con vật rú lên thê thảm, nhảy vọt ra sân, nhưng vẫn còn bàng hoàng ngơ ngác, chưa dám chạy xa hẳn. Chỉ đến lúc nhác thấy ông chủ giằng lấy khẩu súng hai nòng trên tay cậu Quý, thì nó hiểu rằng không thể chậm trễ chút nào. Từ cái “gậy” sắt ấy nó đã thấy tóe lửa nhiều lần. Sau lúc lửa tóe, có bao muông thú giãy giụa tan xác.
Bởi vậy, nó dồn hết sức lực vào bốn cẳng, luồn lỏi qua dãy chuồng gà, chuồng lợn, rồi vượt qua cửa rào, nó lao thẳng về phía rừng. Sau lưng nó, vang lên những tiếng nổ đoàng đoàng, tiếng chiu chíu xé gió bên tai nó. Bản năng sinh tồn giục nó chạy miết. Cũng chưa khi nào nó chạy tinh khôn như lần này. Không kẻ chỉ, không thẳng băng, mà ngoằn ngoèo đổi hướng. Có lúc tiếng đạn sát sạt trên lưng, nó nằm lăn ra, giả tảng chết. Rồi thình lình lại vọt lên, băng đi như một vệt đen mờ ảo.
Vào tới rừng, nó đứng lại quay nhìn xóm trại. Nó thoáng thấy ông Quyền và cậu Quý trên yên ngựa. Dẫn đầu đàn chó săn tầm thường là con Tuýt – anh ruột nó, kẻ xảo quyệt đáng ghê đối với nó. Thế là nó chạy thẳng, chạy mãi vào rừng sâu, sang tận bên kia núi Ba Vì.
Từ đó nó trở về cuộc sống hoang dại mà tổ tiên nó xưa kia hằng sống. Ngồi một lúc, chúng tôi cùng nghiêng người, nằm chống tay trên nệm cỏ. Xa xa, ba đỉnh núi màu lam sẫm như lách qua những dải mây trắng mà chĩa chọc nền trời xanh. Núi non Ba Vì thuần một màu đen sẫm của rừng già. Đó đây từng vệt lá cây màu vàng màu, đỏ xỉn, và màu xanh nõn nuột của rừng cọ, rừng son.
Thiếu tướng Quyền gõ gõ tẩu thuốc, gảy hết lượt tàn tro, đoạn nạp thêm mồi sợi mới. Ông nheo mắt nói với tôi: – Lúc nãy anh cứ gặng hỏi xem tôi mời anh lên để săn bắn con thú gì. Tôi nói thật ra, e rằng anh ngạc nhiên. – Con Múc? – Chính thế. Anh nhanh ý đấy. – Quả thật không còn gì khiến tôi kinh ngạc hơn. Con Múc vẫn còn sống, anh cứ để cho nó sống. Nó đã giúp ích anh không ít. Anh hãy rộng lượng cho nó được tự do. – Tôi cũng có ý quên nó đi. Nhưng nó làm hại tôi quá chừng. Tôi không thể không diệt nó. – Làm hại? – Chừng một năm nay, nó thường xuất hiện ở bìa rừng. Có lúc nó còn mò vào trại. Thậm chí nó còn dám xông vào buồng cháu Quỳnh. – Thế thì có gì là tai hại? Nếu như là nó muốn quay về với chủ cũ thì sao? Chuyện ấy xưa nay thường xảy ra. – Ông bạn ơi, ông quá đồng cảm với nó đấy. Một năm nay tôi đã mất hai chục con gà, bốn đầu lợn và hai con dê sữa đấy. Để khi nào tôi găm vào mình nó trọn băng đạn AR15, rồi tha hồ ông thương xót nó. – Nếu là do cầy cáo và báo beo vồ bắt thì sao? Chẳng có chó rừng nào khênh nổi dê lợn đâu, nhất là lại khênh qua hàng rào tre nhà anh. Thấy mình đuối lý, ông chòm trại đỏ mặt, châm thuốc hút: – Cứ cho là beo báo tha dê và lợn đi, còn những con gà? Anh không thấy là con Múc nó rất háu thịt gà à? Đôi gà Đông Cảo và con gà Thái Lao… anh đã rõ rồi đấy! Đến lượt tôi đuối lý. Tôi im lặng hồi lâu. Lòng tôi bồn chồn và buồn bã. Tôi chợt thấy tiếc công tiếc việc ở dưới Hà Nội. Té ra tôi lên đây là để chứng kiến cái kết cục mạng sống của con Múc. Thiếu tướng hỏi tôi: – Sao, ông nghĩ ngợi gì vậy? – Không, à, con Múc giờ đây nó thế nào? Ông đã đích mắt nhìn thấy nó chưa? – Rồi. Tôi lại bắn trượt nó hai lần nữa. Thật là một con chó quái quỷ lạ lùng. Nó to lớn gấp rưỡi, hung dữ gấp mười, còn nhanh nhẹn thì gấp trăm. – Để sinh sống và tồn tại giữa bầy ác thú trong rừng sâu, nó cần phải trưởng thành như vậy. Nó không thể không độc dữ hơn. – Anh vẫn cứ bênh nó chằm chặp. – Tôi tiếc rằng anh đã bất công với nó. Trong trường hợp bị hắt hủi, bị hằn thù như vậy, đến con người cũng không thể không biến đổi tính cách, huống chi một con thú.
Chúng tôi lại lên ngựa. Con Tuýt lại dẫn đường. Có thể do cách nói năng bộc trực của tôi, khiến bạn già không vui. Dọc đường ông chẳng nói một câu nào. Bởi vậy, tôi biết mình sai lầm. Định kiến của con người quen bệnh quyền uy kia là không thể thay đổi. Tôi tỏ lòng thương tiếc con Múc nhiều quá, điều đó chỉ khiến ông Quyền càng tăng thêm quyết tâm hạ sát nó mà thôi.
Thấy chúng tôi phi ngựa về đến cổng trại, bà Quyền và đàn con cháu ra tận sân chào đón. Bà năm nay đã ngót sáu mươi. Vóc người mảnh mai, nhỏ nhắn, nên trông bà không đến nỗi già nua như tuổi tác. Trên vẻ mặt thanh tao của bà vẫn còn những đường nét vốn xưa xinh đẹp. Song, ở bà, điều hấp dẫn người ta chính là phong thái đôn hậu, hiền từ. Cạnh bà là cháu Quỳnh, cũng mảnh mai hiền từ, cũng gương mặt trái xoan, trông cháu giống bà ngoại như đúc.
Cháu nhảy bổ vào lòng tôi: – Cháu chào ông trẻ. Ông có khỏe không ạ? Tôi nâng bổng cháu lên, rồi hạ cháu xuống: – Cảm ơn cháu! Ông trẻ vẫn khỏe. Còn cháu cứ mỗi năm lên đây, ông lại thấy cháu như ăn nhầm phải bột nở ấy. Cao bằng bà rồi đây này. Cả nhà cùng cười giòn giã. Bà Quyền hào hứng nói: – Ấy, ông cứ quở cháu thế. Cháu lại bé đi mất! – Nghe nói cháu bị con Múc làm cho sợ hãi, phải không? Cháu Quỳnh cười như nắc nẻ: – Cháu chả việc gì phải hãi con Múc cả – Cháu ghé sát tai tôi, thì thào – Rồi cháu sẽ kể mọi điều về con Múc cho ông trẻ nghe. Chứ mỗi lần nhắc đến con Múc, ông ngoại cháu ghét lắm! Thiếu tướng Quyền quát to: – Quỳnh, mày nói gì ông phỏng? Cháu Quỳnh vội vàng “không ạ” rồi lẻn ra nấp sau lưng bà. Bà Quyền xót cháu, cằn nhằn chồng: – Khiếp cho ông! Làm cháu mật xanh mật vàng chạy cả lên mắt thế này này – Bà quay sang phía tôi, cười – Lên đây, ông giúp tôi một tay, cạo cho ông ấy bớt cái nóng nảy đi.
Ông Quyền hỏi vợ: – Cạo tôi? Cạo đầu tóc, hay cạo râu ria? – Cạo cái cặp mắt gườm gườm của ông ấy! Ông già cười khà khà. Một chút xung đột ý kiến không làm sứt mẻ tình bầu bạn giữa chúng tôi. Chỉ vài câu chuyện vui vui, hoặc vài ván cờ là tất cả sẽ qua đi như mưa rào ngày hạ. Nói chung thì, theo ý tôi, Nguyễn Hồng Quyền là một người biết chơi đẹp, biết ăn ở, biết cư xử. Trên đời còn nhiều những mẫu người đáng chán hơn; hãnh hợm một cách ngu si, thông thái trong tưởng tượng, hào phóng có điều kiện, và ngủ say li bì trên hào quang giả trá.
Chúng tôi đi bơi, đi câu cùng nhau. Ông dắt tôi đi xem tận mắt những máy ép mía do ngựa kéo, rồi máy ép dầu lạc, dầu sả. Ông còn dự định chế tạo một loại xà phòng dùng nguyên vật liệu địa phương. Tôi vui mừng và chúc mừng ông về tất cả mọi điều ấy. Ở ông hiện rõ những ham muốn vật dục chủ nghĩa. Nhưng, dẫu sao cũng là còn muốn làm việc, còn muốn sáng tạo, muốn sinh lợi. Thế chẳng có ích cho đời hơn là chỉ ngồi ôn lại quá khứ hào nhoáng đã xa xôi sao?
Duy có điều tôi mong được biết là kế hoạch vây bủa con Múc. Ông già chỉ tinh quái, lim dim mắt, cười ruồi, rồi lảng sang chuyện khác. Tôi làm sao yên tâm được. Tôi biết rằng chỉ khi nào găm đủ cả băng đạn vào mình con Múc, ông Quyền mới có thể ăn ngon ngủ yên. Lay chuyển ý định phi lý trong đầu ông thiếu tướng, có lẽ còn khó hơn vần đá tảng ngược tới Ba Vì. Người được gặp gỡ con Múc nhiều nhất lại chính là cháu Quỳnh. Chuyện đáng buồn xảy ra với con Múc khiến cháu giận dỗi ông ngoại. Cháu khóc liền mấy ngày, bỏ ăn mất ba bữa, và ngẩn ngơ thương tiếc không lúc nào nguôi.
Hơn nửa năm sau. Một hôm cháu lên đồi kiếm sim chín và hoa rừng thì bất ngờ cháu gặp con Múc đứng ngay trước mặt cháu và ve vẩy đuôi chào mừng. Quỳnh không tin vào mắt mình nữa. Cháu nhìn chó, sợ hãi. Con Múc lông lá sồm soàm, bẩn thỉu và dữ tợn quá. Thấy con thú cứ ngoáy tít đuôi mãi, cháu bạo dạn hỏi nó: – Mày có phải là Múc không? Nếu là Múc thì lại đây với mình! Nào! Nói xong cháu ngồi xuống, giang hai tay ra. Con Múc xô vào người Quỳnh hơi mạnh, làm cháu suýt ngã ngửa ra. Đôi bạn thân thiết ấy, làm mọi cử chỉ có thể làm để tỏ tình thương nhau. Con Múc hôi tanh nồng nặc, nhưng Quỳnh cứ để mặt nó liếm lên má, lên tóc cháu. Cháu ứa nước mắt, hỏi nó: – Bạn ở rừng sâu à? -! – Bạn có khổ với lũ hổ báo không? -! – Bạn có bị đói luôn không? Con chó chỉ biết rít ứt trong họng, cà sát bộ lông vào người cô chủ của nó. Phải nửa tiếng sau, Quỳnh mới buồn rầu rời chó. – Bạn không về được đâu. Ông mình sẽ giết chết! Con chó hiểu ý ấy. Nó oẳng nhẹ một tiếng. Đôi mắt của nó nhoáng ánh lửa, ve vẩy đuôi một lần nữa, liếm bàn tay Quỳnh một lần nữa, rồi băng vút về rừng.
Từ đó, cứ cách vài buổi, cháu Quỳnh lại lên đồi sim một lần. Lần nào con Múc cũng đợi sẵn. Mỗi lần vậy, đôi bạn lại trìu mến ve vuốt nhau, rồi lại bịn rịn chia tay. Nếu tôi là một cây bút giàu sức tưởng tượng và không biết kiềm chế, tôi sẽ lợi dụng đặc thù của văn chương mà viết vài đoạn thật hay. Tôi sẽ thêu dệt rằng: Một lần cháu Quỳnh gặp gấu ngựa ở trong rừng, con Múc đã tung hết sức lực ra để vật lộn với gấu cứu cô chủ. Hoặc giả là: Có lần cháu Quỳnh bị trăn quấn. Con Múc đã bật vọt lên cao. Khi buông mình rơi xuống nó ngoạm đúng “thất thốn” là tử huyệt của giống trăn. Nó cắn xé đến nỗi con trăn phải từ từ nới bỏ vòng quấn, cô chủ nó thoát nạn. Cũng có thể lãng mạn hơn, tôi viết rằng: Có lúc người và chó ngồi dưới ánh trắng bên bờ suối, rồi con Múc rúc lên lanh lảnh từng hồi, gọi bạn tri âm của nó cùng một đàn chó xinh xắn ra chào mừng cô chủ.
Nhưng bởi vốn có tính thận trọng một cách hủ lậu, tôi không thể bịa đặt như vậy. Về mối quan hệ lạ lùng kia, tôi chỉ có thể nói thêm điều này. Một lần, cháu Quỳnh bị cảm cúm nặng. Hơn chục ngày liền, cháu không thể ra đồi sim gặp con Múc. Nửa đêm cháu nghe thấy có tiếng cào cửa quen thuộc. Cháu vui mừng chạy ra tháo chốt cài. Con Múc tọt vào, âm thầm quấn quýt cháu Quỳnh. Không may cho nó, con Tuýt và lũ chó săn kia phát giác đã sủa nhặng lên, rồi chặn kín cửa ra vào. Con Múc nhe nanh xông thẳng vào con Tuýt như một ánh chớp. Con Tuýt không ngờ rằng con Múc đã biến đổi mạnh mẽ dữ dội nhường ấy. Bị cắn xoạc bả vai, nó lăn ra sủa rống lên. Bày chó kia kinh hãi không dám nhúc nhích. Con Múc nhảy vọt qua đầu lũ chó săn, biến vào đêm tối.
Ông Quyền đã gạn hỏi cháu gái đủ điều. Cháu Quỳnh chỉ khóc thút thít, không hé lấy nửa lời. Ông liền tuyên bố với cả nhà: – Con Múc lọt vào trại để trả thù. May có con Tuýt không thì cái Quỳnh bị xé xác ra rồi. Từ nay cả nhà phải cẩn thận lưu ý. Cái giống chó đã thù là thù dai lắm đấy! Ông băng bó vết thương cho con Tuýt, ban thưởng cho nó khá hậu hĩnh: một ký thịt nai rất tươi.
Dù sao trẻ thơ vẫn là trẻ thơ, ông cháu vẫn là ông cháu. Cháu Quỳnh sợ tính ông nghiêm nghị, giận ông xử nặng con Múc, nhưng nó vẫn rất yêu ông ngoại. Ông cháu làm lành với nhau, thân thiết với nhau vì sợi dây huyết thống bí ẩn ràng buộc. Vào dịp rằm tháng tám, ông Quyền dùng xe máy đưa cháu Quỳnh đi Hà Nội sắm đồ chơi trung thu cho các em nhỏ. Ông còn đưa cháu đi vào lăng viếng di hài Bác Hồ. Cháu sung sướng. Cháu hớn hở. Trong một phút bồng bột hồn nhiên. Cháu nũng nịu vòi vĩnh ông ngoại: – Ông ơi, ông cho cháu đón con Múc về nhé? – Ừ, ông đồng ý, nếu cháu tìm thấy nó? – Cháu tìm được thì sao nào? Ông thiếu tướng cười phì: – Đến mười cái thằng bố mày, đến mười cái thằng ông mày cũng chả tìm nổi, nữa là…
Qua vẻ mặt và ánh mắt của cháu gái, ông chòm trại dường như phát hiện ra điều gì. Ông bèn gặng hỏi cháu gái: – Cháu thấy nó rồi phải không? – Vâng ạ. – Ở đâu? – Nhưng ông phải hứa với cháu là không giết nó cơ. – Ừ, ông hứa! Cháu gái hào hứng kể cho ông ngoại nghe hết mọi điều đoạn kết luận: – Cháu thấy là nó, con Múc ấy, nó chẳng có lỗi gì đâu ông ạ. – Nó ăn gà, ăn dê, ăn lợn… – Cháu chả thấy tận mắt khi nào. Nhà mình có nhiều chó hư. Sao ông chỉ nghi ngờ mình nó thôi? – Nó không vâng lệnh. Nó không chịu sai khiến như con Tuýt, thế cũng là tội to rồi. Những quân bướng, cần phải nghiêm trị.
Ngày hôm sau cháu Quỳnh lên đồi sim với con Múc. Ông già chòm trại lặng lẽ xách súng đi theo cháu gái, cách chừng ba trăm mét. Cháu Quỳnh không thấy con Múc đâu. Còn ông già thì thoáng thấy. Tuy không nhìn rõ hình thù nó, song ông thấy các bụi sim lay động ràn rạt, ông biết rằng con Múc đã nhìn rõ ông. Nó chuồn biến như tăm cá mất hút dưới đáy sông. Cháu Quỳnh hoàn toàn không rõ gì về việc ông nó đi theo mé sau cả.
Những lần sau, mỗi khi cháu Quỳnh lên đồi sim, ông già thường gói cho cháu một ít thịt rán tẩm bột, bảo đem cho con Múc. Cháu gái cảm động ứa nước mắt, tưởng rằng ông ngoại đã thực sự hồi tâm chuyển ý, sẽ cho đón con Múc về. Còn ông già cũng rất vui sướng khi cháu gái khoe với ông rằng con Múc đã ngốn sạch sành sanh gói thịt rán, đến nỗi không còn tí mỡ dính lá chuối.
Một buổi chiều, tôi sang làng Ngọc Nhi, thăm mấy người bạn cũ trở về. Vào đến sân, tôi ngạc nhiên khi trước mắt tôi là quang cảnh sửa soạn đi săn: người ngựa, súng ống, dây chão và đòn khiêng. Bày chó săn ngồi thành vòng tròn chờ đợi chủ. Con Tuýt lăng săng chạy đi chạy lại. Nó ve vẩy đuôi, đứng nghếch nghếch mắt nhìn chủ, chờ đợi sai khiến, hoặc đi giám sát từng con ngựa, cứ y như là một viên phó quan của cuộc săn vậy.
Thiếu tướng với vẻ mặt đỏ gay, cặp mắt lóng lánh có nhiều sợi lông mày bạc trắng cong rủ xuống quanh mi. Mỗi lần mở cuộc săn bắn, ông thường có vẻ say sưa, kích động như vậy. Tôi hỏi lại ông: – Săn gì vào cái giờ chiều này? – Chó rừng! – Con Múc phải không? Anh miễn cho tôi can dự vào cuộc sát phạt này nhé. – Không được! Anh phải tận mắt thấy tôi sẽ chiến thắng sau hai ba lần thất bại. – Bạn ơi, anh cầm chắc thắng lợi đến thế nào? – Như cầm tỏi gà trong tay vậy.
Lòng tôi buồn rầu, nhưng tính tò mò thúc giục. Vả chẳng, tôi muốn xem sẽ kết thúc ra sao, cái trò quái gở giữa một bên quyết ý tìm diệt và một bên tinh quái né tránh. Chúng ta, con người, loại động vật cao cấp nhất, nhờ có hai bàn tay lao động đã phát triển được trí thông minh. Nhưng sau khi rời bỏ rừng sâu, tiến về đồng bằng, xây dựng nên những trung tâm văn hóa, chúng ta đã quay lưng lại, đã phũ phàng và độc ác với rừng sâu. Chúng ta đã tàn hủy cái nôi sinh ra mình. Chúng ta đã săn bắn, tiêu diệt các sinh vật còn nương tựa vào rừng, mà ngu ngốc không hiểu rằng chúng ta đã tàn hủy tự nhiên và phá hoại thế cân bằng sinh thái. Các sinh vật, dữ và lành, tồn tại được nhờ rừng rậm. Rừng rậm tồn tại và phát triển được cũng đã nhờ sự sinh sôi của muông thú. Và cuối cùng, nếu muông thú và rừng rậm không tồn tại nữa, thì làm sao chúng ta có thể tồn tại được?
Thuở xa xưa, con người sống đơn giản hơn. Người ta chỉ biết rằng điều quý nhất ở trên đời là mưa nắng trăng sao, điều quý ở dưới đất là ngũ cốc dồi dào, điều quý ở trong nhà là cháu thảo con hiền. Nhưng ngày nay, điều quý lại là châu báu vàng bạc, là uy thế lộng quyền, là sát phạt muông thú và sát phạt lẫn nhau. Hôm qua tôi đau đớn anh đấm tôi. Ngày hôm nay, tôi sung sướng được hành hạ nó. Ngày mai nó hả hê vì trừng trị kẻ khác… Một cơn lốc luẩn quẩn xoáy sâu vào ngõ cụt. Biết bao giờ mới tỉnh ngộ, mới tháo gỡ, mới đồng cảm và yêu thương?
Đoàn săn bắn rầm rập phóng lên đồi sim. Tôi và ông thiếu tướng sóng vai nhau. Cậu Quý và người anh rể vòng ra mé sau đồi. Con Tuýt ngông cuồng hăng say dẫn đầu đàn chó – những con chó có hình thể tuyệt đẹp, băng băng nhảy nhót giữa các làn cây bụi cỏ. Chỉ chớp nhoáng sau, gọng kìm vây bủa đã xiết chặt quả đồi. Tôi kinh hoàng khi thấy cháu Quỳnh đang ngồi khóc. Con Múc nằm duỗi thẳng cẳng dưới chân cháu.
Cháu Quỳnh chạy lại bên ông ngoại khóc nức nở: – Ông ơi, ông. Con Múc ăn xong gói thịt là nó lăn ra. Nó sắp chết mất rồi. Làm sao lại thế, hả ông? Ông già cúi xuống an ủi cháu gái: – Không sao đâu, nó không thể chết được. Thuốc ngủ chỉ vừa liều lượng thôi mà. – Ông trộn thuốc ngủ vào thịt…? Trời ơi…
Con chó rừng mềm rũ rượi. Song đôi mắt rực lửa của nó vẫn trừng trừng ngắm nhìn tất cả. Nó hiểu rằng nó đã bị bịt hết mọi ngách sống. Thuốc ngủ liều cao làm tê liệt thần kinh và gân cốt nó. Nhưng từ nơi xa xăm nào không rõ, có thể là từ rừng sâu, có thể là trong từng tế bào máu, nảy sinh ra một ý chí mãnh liệt giục nó phải vượt lên, phải sống còn. Nó rống to lên một tiếng, vọt mình lên, phóng cẳng lao đi.
Lập tức con Tuýt đuổi sát mé sau. Con Múc vừa chạy vừa ngã. Nó lồm cồm bò dậy, được vài bước lại ngã rúi rụi. Cuối cùng không chạy nữa, nó quay phắt lại, nhe bộ răng nanh ghê gớm, chờ đợi. Con Tuýt và cả bầy chó đã hiểu sức mạnh khủng khiếp của con Múc, chỉ chờn vờn nhảy nhót ở khoảng xa, không dám tiếp cận.
Để khỏi mất thì giờ, ông chòm trại nâng nòng súng AR15. Một loạt đạn ngắn gọn rít lên, hòa cùng một tiếng thét xé trời đất của cháu Quỳnh. Con Múc lăn ra đất, không chút giãy giụa. Nó nhận đủ cả băng đạn từ cổ trở xuống. Máu nó xối tuôn, đỏ sẫm cả bộ lông đen. Đôi mắt nó mở to, vẫn màu lửa nhưng dịu hơn, trong đó có nhoáng lồng ánh mây trắng, trời xanh, rừng sẫm và ngọn Ba Vì uy nghi mầu tím đậm.
Có lẽ đã được huấn luyện đầy đủ, nên, khi con mồi gục xuống rồi, bày chó săn đua nhau lăn sả vào, mỗi con đợp cho con Múc một miếng để làm vui lòng chủ, với dáng dấp bẩn thỉu hèn mạt quá chừng.
Cháu Quỳnh chạy đến cạnh tôi. Thấy quanh cảnh thương tâm ấy, lòng dạ trẻ thơ không chịu đựng nổi. Cháu lả đi trong vòng tay tôi. Không rõ phải tôi hoa mắt hay bị hoang tưởng, tôi thấy vầng trán mịn màng của cháu bỗng như gợn nhiều nếp hằn sâu, còn mái tóc xanh đen của cháu bỗng như bạc trắng đi. Thiếu tướng tiến lại, kéo vai áo tôi: – Về thôi, anh. Cháu Quỳnh làm sao thế? Tôi nói như mình trong mộng: – Anh bắn giỏi thật đấy. Một cú “đúp” tuyệt vời! Anh hạ sát cả con Múc lẫn cháu Quỳnh.
Ông chòm trại bàng hoàng, kêu lên: – Bậy nào! Không thể thế được. Cháu Quỳnh có làm sao không? Tôi nâng cháu Quỳnh lên, đi về phía con ngựa, đoạn nhảy lên yên: – Tôi đưa cháu Quỳnh về trước đây. Ông cứ yên tâm. Thân thể cháu Quỳnh vẫn nguyên vẹn. Nhưng băng đạn mà ông bắn vào lòng nhân ái, vào tình yêu thiên nhiên của cháu Quỳnh thì không thể nào cứu chữa nổi. Tháng 8 – 1988
Nguyễn Dậu (1930-2002): tham gia cách mạng từ 1946, từng là chiến sĩ pháo binh, sau năm 1954 làm việc trong Phòng Văn nghệ thuộc Tổng cục chính trị, biên tập viên báo Văn Nghệ, cán bộ Sở Văn hoá Hà Nội, rồi làm thợ cắt tóc, rồi giải chiếu bán giày dép rong ở bên đền Ngọc Sơn, thấy công an hay quản lý thị trường từ xa thì… chạy. Một văn tài ít được nhắc đến.
Buổi sáng cuối tuần nhâm nhi ly cafe, nhìn trời đất bỗng nhiên ngẫu hứng viết bài thơ lục bát với tựa đề “Chợt nhớ năm xưa”. Xin chia sẻ cùng qúy vị đọc cho vui.
Lê Tuấn
Chợt Nhớ Năm Xưa
Gió thu lay động áo nàng
Xôn xao tiếng bước chiều vàng năm xưa
Hàng cây phố cũ lưa thưa
Bốn mươi năm trước, cũng vừa cơn đau.
Tháng tư trời đất đổ nhào
Cho người điên loạn tiếng gào khóc thương
Thời gian qua mấy đoạn trường
Bay theo hạt bụi nhiễu nhương cuộc đời.
Bốn mươi năm sợi tơ trời
Lòng như tan nát thế thời đổi thay
Thuở nào chinh chiến trả vay
Bây giờ già héo đắng cay phận người.
Lửa thiêng còn thắp sáng ngời
Thơ tôi chấm phá thêm lời vấn vương
Dẫu rằng trời đất vô thường
Lòng buồn nhớ lại con đường năm xưa.
Tế Luân (Lê Tuấn)
“người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng
Chợt thấy lòng buồn nên nhớ về năm xưa, một thời chinh chiến trước năm 1975”
KHI DI SẢN BIẾN MẤT
KHI DI SẢN BIẾN MẤT
Khu vực trung tâm thành phố Hồ Chí Minh tập trung nhiều công trình và cảnh quan được xây dựng từ khi đô thị Sài Gòn hình thành. Đó là những công trình đẹp về kiến trúc và ẩn chứa trong nó biết bao câu chuyện về lịch sử và con người thành phố. Từ khoảng hai mươi năm nay “quá trình hiện đại hóa” đã làm mất đi và biến dạng quá nhiều di sản ở khu vực này. Đấy là sự “lấy đi” nguồn vốn xã hội dưới dạng di sản văn hóa. Sự biến đổi kiến trúc và cảnh quan tại khu vực trung tâm TP. Hồ Chí Minh làm thay đổi các mối quan hệ giữa các nhóm xã hội, chính nhờ các mối quan hệ này mà trước đây, khu vực này có những không gian giao tiếp độc đáo và đặc trưng của đô thị Sài Gòn.
Về xã hội.
Mất đi các di sản vật thể gắn với các sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử.
Dọc theo trục Đồng Khởi và Lê Lợi có nhiều công trình di sản vật thể gắn với các sự kiện và nhân vật lịch sử, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của thành phố. Khi nhắc đến Sài Gòn của thế kỷ 20, người ta nghĩ ngay đến trục Đồng Khởi với Café Givral, Café La Pagode, Nhà sách Xuân Thu, Rạp hát Eden… hay trục Lê Lợi với Thương xá Tax, Rex…Café Givral hình thành trong thập niên 1950-1960, nằm tại tầng trệt Chung cư Eden. Trước 1975 nơi đây được coi là một “trung tâm tin tức” do các nhà báo thường tụ tập ở đây vì nó nằm ngay trước trụ sở Hạ nghị viện (Nhà hát Thành phố ngày nay). Quán cà phê Givral còn gắn liền với tên tuổi của Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn – nhà tình báo số 1 của Việt Nam.Café La Pagode có thiết kế nội thất giản dị, không rườm rà; từ bàn ghế, cột kèo đến cửa sổ mở to và mang đường nét kỷ hà. La Pagode không dành cho khách Tây và giới sành điệu cũng như người giàu có mà dành cho những họa sĩ, nhạc sĩ, nhà văn và nhà thơ… những người có tâm hồn sáng tạo và cách tân lúc bấy giờ của Sài Gòn.
Quá trình biến đổi cảnh quan và kiến trúc đã làm mất đi các công trình này, Sài Gòn mất đi một phần lịch sử và nhiều nét đặc trưng độc đáo về kiến trúc và cảnh quan đô thị. Giờ đây những địa chỉ quen thuộc này đã thay bằng những cửa hiệu sang trọng, hiện đại mà không chắc hơn vài chục năm sau có giá trị lịch sử hay văn hóa để trở thành một dấu ấn trong ký ức của người Sài Gòn hay không? Mất mát lớn nhất không chỉ là sự tiếc nuối của những thị dân Sài Gòn lớn tuổi, mà còn là mất đi cơ hội trải nghiệm “hồn đô thị Sài Gòn” đặc sắc trong không gian xưa cũ ấy của thế hệ trẻ ngày nay.
Mất đi các giá trị phi vật thể đặc trưng văn hóa Sài Gòn
Giao tiếp và dịch vụ vỉa hè là một hoạt động đặc trưng ở các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là những hoạt động kiến tạo các không gian giao tiếp cộng đồng sinh động và linh hoạt; khách bộ hành hay người đi đường cảm nhận được sự hấp dẫn từ việc mua bán nhộn nhịp, các sản phẩm đa dạng và nhiều hoạt động khác. Trên các trục Đồng Khởi và Lê Lợi trước đây có rất nhiều hoạt động giao tiếp vỉa hè phong phú và đa dạng, từ lâu đã trở nên quen thuộc không chỉ đối với người Việt Nam và khách du lịch quốc tế; góp phần đa dạng hóa các không gian công cộng, tăng cường gắn kết quan hệ giữa con người với con người.
Ngày nay những hoạt động này đã mất dần. Trước đây, một phần dân cư sinh sống tại các chung cư cũ trên hai trục đường trên tổ chức buôn bán ở tầng trệt chung cư và khu vực vỉa hè xung quanh. Việc giải tỏa các chung cư cũ đồng thời xóa bỏ những hoạt động kinh doanh này. Các cao ốc với các chức năng mới (văn phòng, trung tâm thương mại, khách sạn, căn hộ…) với hình thức kiến trúc hiện đại, sang trọng được xây dựng trên khu đất thay cho các công trình cũ. Khu vực vỉa hè xung quanh các công trình mới không cho phép các hoạt động giao tiếp vỉa hè truyền thống; không gian tầng trệt và vỉa hè chỉ dành cho các dịch vụ của công trình hiện đại và cho đi bộ.Giờ đây, qua lại tại các trục Đồng Khởi và Lê Lợi sẽ thấy, hầu như không còn các hoạt động giao tiếp vỉa hè; “văn minh đô thị hiện đại” không có chỗ cho các hoạt động phi chính thức truyền thống.Hạn chế các hoạt động ngoài trời của người dânTrường hợp công viên Chi Lăng trước đây là một khu vực sinh hoạt ngoài trời của người dân.
Ngày nay, công viên trước Trung tâm thương mại Vincom Đồng không còn để phục vụ các hoạt động ngoài trời của người dân mà có chức năng tạo cảnh quan phục vụ cho Vincom Đồng Khởi qua cách thiết kế không gian: tập trung vào mục tiêu tạo giá trị thẩm mỹ chứ không hướng đến sự tiện ích (mái che, đường dạo, ghế đá…) phục vụ người dân như một “chiếu nghỉ” trên phố đi bộ Đồng Khởi. Cây xanh lâu năm trước đây nay đã được thay bằng cây nhỏ, ít bóng mát mặc dù tạo được thảm cỏ xanh hiếm hoi tại khu vực trung tâm hiện hữu của Thành phố Hồ Chí Minh.Sự biến đổi kiến trúc và cảnh quan dọc trục Đồng Khởi và Lê Lợi làm hạn chế các hoạt động ngoài trời dọc các trục này. Các hoạt động giao tiếp ngoài trời đang có xu hướng chuyển dần vào các không gian tiện ích trong nhà của các tòa nhà mới được xây dựng, làm giàm đi và dần triệt tiêu sự sống động và nhộn nhịp của không gian cảnh quan đô thị.
Tác động sâu xa hơn là sự phân tách giàu nghèo trong khu vực này bởi người có thu nhập thấp không thể hoặc không lựa chọn việc sử dụng các dịch vụ cao cấp bên trong các tòa nhà; trái lại phần lớn người có thu nhập cao hơn sẽ có xu hướng tìm đến các dịch vụ cao cấp bên trong các tòa nhà, hơn là sử dụng các dịch vụ (phi chính thức) bên ngoài.
Thay đổi các mối quan hệ giữa các nhóm xã hội gắn bó với không gian của khu vực
Như đã phân tích trên về việc thay đổi tính chất hoạt động dọc trục, chuyển đổi từ thương mại, dịch vụ nhỏ sang thương mại lớn, hành chính, văn phòng đi kèm với tác động về việc thay đổi các mối quan hệ giữa các nhóm xã hội, cụ thể là từ mối quan hệ giữa các tiểu thương nhỏ với nhau sang mối quan hệ giữa các doanh nghiệp; từ mối quan hệ giữa người dân, khách du lịch với các tiểu thương sang mối quan hệ giữa nhân viên làm việc trong khu vực cung cấp dịch vụ với các khách hàng có nhu cầu cao.
Bên cạnh việc chuyển đổi các mối quan hệ, tác động của sự biến đổi kiến trúc và cảnh quan tại khu vực trung tâm còn phá vỡ các mối quan hệ của người dân địa phương đã từng sinh sống cùng nhau trong một tòa chung cư, một khu phố (quan hệ xóm giềng) hay phá vỡ các mối quan hệ giữa các tiểu thương nhỏ đã từng cùng nhau chia sẻ lợi ích từ hoạt động kinh doanh cùng tính chất, mất đi sự gắn kết giữa các tiểu thương vốn đã cùng nhau hình thành nên những dãy phố thương mại đặc trưng tại khu vực trung tâm thành phố.
Quá trình biến đổi kiến trúc và cảnh quan trong khu vực còn tạo những căng thẳng xã hội trong quá trình giải tỏa mặt bằng, đầu tư xây dựng và vận hành các dự án đầu tư bất động sản. Ngoài ra còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh truyền thống và những thương hiệu của thành phố như việc thay đổi cảnh quan đường Nguyễn Huệ, việc rào đường xây dựng các ga metro trong một thời gian dài…
Về kinh tế
Tạo thêm việc làm cho khu vực chính thức nhưng làm mất đi việc làm của khu vực phi chính thức. Không thể phủ nhận rằng việc đầu tư xây dựng và phát triển các công trình cao tầng mang lại rất nhiều lợi ích kinh tế cho khu vực, đáng kể nhất là việc tạo ra nhiều việc làm ở khu vực chính thức. Các công việc được tạo ra chủ yếu ở lĩnh vực thương mại và dịch vụ.
Khu trung tâm hiện hữu Thành phố Hồ Chí Minh (930 ha) là khu vực tập trung các công trình có chức năng hành chính và dịch vụ công, thương mại – dịch vụ, khách sạn.Tuy nhiên, sự biến đổi này lại tác động tiêu cực đến việc làm của khu vực phi chính thức, vốn gắn liền với “kinh tế vỉa hè”; khi các hoạt động giao tiếp vỉa hè bị hạn chế thì hoạt động kinh tế phi chính thức cũng giảm đi. Hệ quả là mất đi không gian văn hóa cộng đồng có giá trị đặc trưng, ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của một bộ phận dân cư, đặc biệt là thành phần lao động nhập cư.Phân bố nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước vào các khu đô thị.
Sự biến đổi kiến trúc và cảnh quan khu vực trung tâm đã góp phần tạo thêm lực hấp dẫn cho khu vực này nói riêng và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung. Chính điều này góp phần tiếp tục hướng các nguồn lực đầu tư phát triển bất động sản vào khu vực trung tâm hiện hữu, làm hạn chế nguồn lực đầu tư phát triển đô thị cho các khu vực đô thị mới, nhất là Nam Sài Gòn, Thủ Thiêm. Hậu quả là, trong khi kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội của khu vực trung tâm hiện hữu không đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội thì các khu đô thị mới đang “đói” nguồn vốn đầu tư, kể cả đầu tư vào kết cấu hạ tầng lẫn các dự án công trình xây dựng.
Về không gian, môi trường đô thị
Cảnh quan và kiến trúc ít thân thiện với môi trường. Sự biến đổi cảnh quan và kiến trúc trong khu vực nghiên cứu diễn ra theo xu hướng ít thân thiện với môi trường. Cây xanh tại các công viên (công viên trước Nhà thờ Đức Bà, công viên Chi Lăng, công viên trước Nhà hát Thành phố, công viên dọc bờ sông Sài Gòn) và tại các dải phân cách của trục Lê Lợi trong giai đoạn vừa qua giảm nhiều về số lượng và kém hơn về chất lượng tạo bóng mát.Các tòa nhà mới xây dựng, dưới áp lực hiệu quả kinh tế trong đầu tư, thường ít đạt được các tiêu chí thân thiện với môi trường, đặc biệt thường sử dụng sử dụng kính làm vật liệu bao che và ít thiết kế các kết cấu che nắng đặc thù của vùng nhiệt đới nên rất tốn năng lượng.
Tạo không gian ít thân thiện với con người.
Sự biến đổi cảnh quan và kiến trúc trong khu vực nghiên cứu diễn ra theo xu hướng ít thân thiện với con người, nhất là với cộng đồng cư dân lâu đời cũng như du khách từ những quốc gia hiện đại, bởi tính chất đặc trưng không còn, thay vào đó là các công trình “hoành tráng” tỷ lệ áp đảo kích thước vỉa hè, đường phố cũ, gây cảm giác chật chội, đè nén hơn khi đi trên đường phố. Đồng thời, sự hiện đại mang tính phô trương của các công trình mới ít quan tâm đến việc thiết kế các cấu trúc phục vụ người đi bộ (hành lang/mái che bên ngoài công trình).
Những tổn hại xã hội xảy ra khi di sản biến mất càng cho thấy tầm quan trọng của việc giữ gìn di sản: trước hết vì “người sống” chứ không phải chỉ vì bản thân di sản, nếu di sản còn mà cộng đồng không hiểu biết giá trị và được hưởng giá trị đó thì không thể bảo vệ di sản. Bảo tồn những di tích lịch sử văn hóa của một đô thị chính là nhằm xây dựng đô thị hiện đại có một không gian sống với chiều sâu ký ức của nó. Sống trong không gian đó con người sẽ giàu có hơn về mặt tinh thần khi họ được thế hệ trước di truyền lại những ký ức về vùng đất mà họ đang sống. Bảo vệ di sản văn hóa là để con người sống tốt hơn cho hôm nay chứ không chỉ là bảo vệ một ý niệm nào đó của quá khứ dù đẹp đến đâu.
Khi đặt bút viết những dòng đầu tiên của cuốn sách mà bạn đang cầm trong tay, tôi không dám tin rằng sẽ có ngày nó được thấy ánh sáng mặt trời.
Nó ra đời như một may mắn không ngờ, như nhờ một phép màu. Đối với tôi, nó có ý nghĩa đặc biệt. Một thời, nó đã là người bạn tâm tình, là cái nạng cho tôi vịn vào mà đi trên con đường vô định.
Mùa đông năm 1967 là một một mùa đông giá buốt, ít nhất là cho tôi, trong cái xà lim không có sưởi và không có quần áo ấm. Trong mùa đông ấy, không hiểu vì sao, tôi cảm thấy nhớ quê hương nhiều hơn bất cứ lúc nào. Cái đầu tiên gợi nhớ đến quê hương là mùi khói cay nồng từ những đống lá mà phu quét đường đốt lên để sưởi, ở bên kia bức tường đá của nhà tù. Ở quê tôi người ta thường đốt những đống rấm như thế để khói ngăn sương muối sà xuống những vườn rau. Mùi khói thoang thoảng lọt vào xà lim gây nên một nỗi nhớ cồn cào, da diết.
Gối đầu trên đôi tay, tôi nằm dài trên phản xi măng lạnh ngắt mà thả hồn về quá khứ, tự hứa thể nào rồi mình cũng phải viết một cuốn sách về cái làng bùn lầy nước đọng quê hương. Cái làng nhỏ nhoi và nghèo khổ ấy gắn liền với thời thơ ấu của tôi, cái thời không mấy hạnh phúc nếu đứng ngoài nhìn vào, nhưng tuyệt đẹp đối với tôi, mà cũng có thể đối với bất cứ ai từng có một cái quê để mà nhớ.
Lúc ấy tôi không nghĩ rằng cuốn sách tôi định viết sẽ được thực hiện không phải ở nơi nào khác, mà trong nhà tù. Ở Hỏa Lò tù nhân bị cấm đủ thứ, nhất là viết, hoặc đọc. Một mẩu giấy báo bị quản giáo phát hiện trong xà lim cũng là một cái tội, người tù giấu nó sẽ bị kỷ luật cùm chân, bị cắt “tiếp tế”. Trong năm tù đầu tiên tôi chưa có đủ kinh nghiệm để biết rằng khi cần thiết người tù có thể làm được những việc anh ta không bao giờ ngờ tới.
Ở trại quân pháp Bất Bạt (Sơn Tây) sự sống trong xà lim còn tệ hơn ở Hỏa Lò. Tôi hoàn toàn bị cắt đứt với thế giới bên ngoài. Nếu ở Hỏa Lò người tù xà lim còn có thể đoán biết được một sự kiện nào đó xảy ra bên kia những bức tường và hàng rào dây kẽm gai nhờ nghe ngóng được động thái của bạn đồng cảnh ở các xà lim cùng khu, thì ở Bất Bạt cái đó hoàn toàn không có. Những người bị giam ở đây, bên cạnh xà lim tôi, thường đã qua thời kỳ hỏi cung (thẩm vấn). Họ yên tâm nằm chờ, tháng này qua tháng khác, mà cũng có thể năm này qua năm khác, nhưng họ có cái để mà chờ: đó là ngày chắc chắn sẽ được ra tòa lĩnh án. Án có thể ngắn, có thể dài, nhưng họ sẽ được trở về khi mãn hạn. Những người tù chính trị, lại là thứ có tên gọi mỹ miều là “xử lý nội bộ”, thì không thể có xử, cứ việc nằm đấy, không chờ.
May cho tôi, ở trại này trong một lần “tiếp tế” vợ tôi lén lút giúi cho tôi một cây bút bi Trung Quốc hai màu. Tôi có một đam mê khó hiểu đối với những cây bút. Vợ tôi biết người ta chẳng đời nào cho tù nhận thứ đồ quốc cấm ấy nhưng đã mang nó cho tôi, tôi sẽ có cách giấu. Tôi vờ xin đi vệ sinh, ở đó tôi kín đáo phá nát cây bút quý giá ấy, chôn những mảnh vỡ của nó xuống đất, rồi luồn hai cái ruột bút bi vào nẹp áo bông để mang vào xà lim.
Cuốn sách bắt đầu từ ấy, mùa thu năm 1969. Tôi mải mê viết những trang đầu tiên trên vỏ bao thuốc lá, trên giấy kẹo, trên những riềm báo cũ mà gia đình bọc đồ “tiếp tế” (đến lúc đó nhà cầm quyền đã rộng lượng cho phép chúng tôi được giữ lại một số tờ giấy có in chữ, nhưng phải là thứ cũ, hết sạch thời gian tính). Viết phải rất cẩn thận, không được lãng phí những mẩu giấy hiếm hoi, lại phải canh chừng lính gác năm phút mươi phút một lần lượn lờ qua phòng giam để kiểm tra.
Những mẩu “bản thảo” lắt nhắt không thể xếp thành trang, phải đánh số rõ ràng để không lẫn lộn, được gom lại, được cất giấu bằng mọi cách trong cái xà lim nhỏ hẹp. Sau đó là những ngày chờ đợi đến lần được gặp gia đình kế tiếp thì tuồn cho mẹ tôi, vợ tôi mang ra. Khi viết được nhiều, bản thảo tích lại khá dày cũng gây ra mối lo. Mà những cuộc gặp lại khôngcó kỳ có hạn, gia đình muốn gặp thì làm đơn, khi nào người ta rộng lượng cho gặp thì được gặp. Được cái từ năm tù thứ ba trở đi đám quản giáo coi nhà tiếp tế không còn khám xét kỹ mỗi lần tôi được gặp gia đình nữa. Vả lại, chẳng cần khám làm gì – chúng tôi đâu có biết ngày nào tháng nào được gặp vợ con đâu mà chuẩn bị. Tôi bao giờ cũng sẵn sàng, cho nên lần nào gặp gia đình cũng chuyển ra ngoài được một ít bản thảo.
Về sau này, trong xà lim trại Tân Lập (Phú Thọ), việc viết không còn khó như trước, mặc dầu vẫn phải canh chừng để không bị phát giác. Sau nhiều lần yêu cầu kiên trì, chúng tôi thậm chí còn được người ta chiếu cố cho phép gia đình mang cho giấy bút và vài cuốn tiểu thuyết ngoại quốc để đọc. Cuốn sách hình thành dần dần, từng ít một.
Một lần các nhân viên công an nghi ngờ tôi chuyển gì ra, họ chặn mẹ tôi và vợ tôi lại để khám, nhưng hai người đã mang được những mẩu giấy của tôi ra ngoài trót lọt.
Khi những bản thảo đã gom được kha khá, các em tôi – Vũ Chí Dũng, Vũ Thu Hương và Vũ Thu Hòa – hì hục chép lại. Năm 1976, sau chín năm tù, tôi trở về thì đã có một bản thảo hoàn chỉnh. Các em tôi còn đánh máy ra làm mấy bản sạch sẽ để những người thân đọc.
Mẹ tôi đọc xong, bảo: – Mẹ thích. Nhưng sách không in được đâu. Một là, tên của con bị cấm. Hai là, chuyện một nhà, một làng, liệu mấy ai quan tâm? Bố tôi nhận xét: – Dù sao thì nó cũng ghi lại dấu vết một thời kỳ của nông thôn Việt Nam vùng Thiên Chúa giáo. Cứ để đấy, nó sẽ có ích sau này. Cho những nhà nghiên cứu chẳng hạn.
Tôi không có ý định viết cho những nhà nghiên cứu. Họ chẳng cần đến tôi. Tôi cũng chẳng có ý định viết để in. Tôi viết vì đó là công việc duy nhất mà tôi có thể làm trong sự ăn không ngồi rồi bất đắc dĩ. Tôi viết vì tôi thèm được làm công việc mà tôi yêu thích. Tôi viết, ít nhất thì cũng để cho các con tôi, chúng không biết thời thơ ấu của tôi đã trôi qua thế nào. Mà chắc gì sẽ có ngày tôi kể được cho các con tôi nghe?
Hồi ở trại Bất Bạt tôi không nghĩ tới ngày về. Không ít người đã nằm lại trong các nghĩa trang nhà tù. Những nghĩa trang ấy, thường ở sườn đồi, nếu có đồi, hoặc ở một bãi hoang giữa rừng. Trong cái sự tù của chúng tôi nghĩ tới ngày về là ý nghĩ ngu ngốc.
Ý nghĩ viết cuốn sách để lại cho các con đã làm cho cuốn Miền Thơ Ấu có một sắc thái riêng. Nó là hồi ký, nhưng trong lần in đầu tiên nhà xuất bản đặt nó vào loại tiểu thuyết. Trên bìa sách cũng đề rõ Miền Thơ Ấu – tiểu thuyết. Hồi ấy ở Việt Nam chỉ có loại hồi ký là hồi ký cách mạng, do các lãnh tụ kể cho các nhà văn ghi. Người thường không ai viết hồi ký, không được viết hồi ký. Để nó vào dạng tiểu thuyết thì dễ in hơn.
Còn có một lẽ nữa, là cuốn sách có hình thức giống tiểu thuyết trong cách viết, trong cách miêu tả nhân vật, dựng lại đối thoại. Tuy nhiên, tên người, tên đất trong cuốn này được giữ nguyên, không thay đổi. Người trong họ ngoài làng sẽ nhận ngay ra người quen khi đọc. Mà người làng tôi thì không quan tâm đến chuyện cuốn sách mà họ đọc thuộc thể loại gì. Tôi cho rằng có thể chép cuộc đời vào sách và tạo ra cho nó một dáng vẻ nghệ thuật, nếu ta nhìn đời theo cách nghệ thuật.
Cuốn sách nằm lâu trong đống giấy má vàng úa của một thời chữ nghĩa. Tôi cũng chẳng có thời giờ để ý tới nó vì còn bận đánh vật với những thí nghiệm, chạy đi chạy lại các cơ quan nhà nước kiếm hợp đồng làm hàng gia công, là việc có ích cho sự kiếm sống. Từ khi ra tù tôi làm đủ mọi thứ nghề tạp nham, trong đó việc sản xuất hàng hoá liên quan tới hóa chất cho các tổ hợp thủ công nghiệp đem lại nhiều tiền hơn cả.
Mãi tới năm 1987, anh bạn Lê Phát, biên tập viên đài Tiếng nói Việt Nam, một người tò mò thích văn chương, đã khui nó ra trong đống giấy má bừa bộn của tôi. Lê Phát đọc một lèo, anh thích nó, bèn đưa cho nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, nơi nhà văn Hà Mậu Nhai làm giám đốc. Hà Mậu Nhai cũng đọc một lèo, rồi nhắn tôi đến chơi. Anh tỏ ý muốn in cuốn sách. Tôi ngăn anh: – Anh không biết có một chỉ thị cấm in tôi sao ? – Tôi biết. – Vậy mà anh vẫn quyết định in ?
Hà Mậu Nhai nói: – Chừng nào chưa có trước mặt tôi một văn bản pháp luật trong đó ghi rõ quyết định của tòa án cấm không được in Vũ Thư Hiên thì tôi vẫn in. Tôi không ngán những lệnh miệng và những chỉ thị nội bộ. Tôi in, và còn in tên Vũ Thư Hiên to hơn bình thường nữa kia.
Tôi ngần ngừ. Tôi không muốn vì cuốn sách của mình mà bạn mình mang vạ. Hà Mậu Nhai nói chỉ cần tôi đồng ý cho in. Tôi miễn cưỡng đồng ý. Cuốn sách được in ra. Tên tác giả được in to hơn bình thường, đúng như Hà Mậu Nhai nói. Hà Mậu Nhai là một nhà văn nhưng không có chân trong Hội Nhà Văn. Anh chỉ có chân trong Xã Hội Những Người Tử Tế.
Năm sau Miền Thơ Ấu được giải thưởng loại A của Hội nhà văn Việt Nam, tức là giải nhất, cho sách dành cho thiếu nhi, mặc dầu nhà xuất bản không đưa nó vào danh sách tác phẩm dự thi. Trong chuyện này Hà Mậu Nhai nghĩ như tôi, sách được in ra là tốt rồi, mong gì được giải. Việc trao giải thưởng năm ấy là sự kiện lớn. Đã nhiều năm chuyện xét và trao giải thưởng văn học bị xếp lại, vì chiến tranh, và vì văn chương là cái sự không ra gì, một thứ xướng ca vô loài, dưới mắt các nhà lãnh đạo. Chủ tịch Hội đồng xét giải là nhà văn Tô Hoài. Phùng Quán cũng được giải thưởng, loại B, với tiểu thuyết ba tập Tuổi Thơ Dữ Dội. Hai tên tội đồ, một Xét Lại Hiện Đại, một Nhân văn-Giai phẩm, chiếm hai giải thưởng nhất nhì trong một cuộc thi văn chương, là quá lố. Nhưng đã là năm 1988, hai năm sau khi Đảng cộng sản tuyên bố “đổi mới” và “cởi trói”. Nếu là những năm trước, việc làm ngang bướng của Hà Mậu Nhai ắt bị trừng trị. Anh vẫn ngồi yên trên ghế giám đốc cho tới khi qua đời, ba năm sau.
Giải thưởng này đối với tôi là bất ngờ, không kém gì việc cuốn sách được in ra. Khi mọi người cho tôi biết các báo đều đã đăng tin, tôi mới biết. Việc cuốn sách kể chuyện tầm phào về một làng quê khỉ ho cò gáy mà được giải, lại giải cao, là điều khó tin.
Tô Hoài hiển nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc trao giải lần này. Uy tín của nhà văn già đã thắng tính bảo thủ của các cơ quan lãnh đạo tư tưởng của đảng cộng sản. Sau đó, đài phát thanh Sài Gòn đọc Miền Thơ Ấu trong chương trình “Đọc truyện đêm khuya”, nhà xuất bản Kim Đồng ỏ Hà Nội tái bản một lần, rồi hai lần…
So với bản thảo, cuốn Miền Thơ Ấu trong lần in đầu tiên được rút gọn còn một nửa theo yêu cầu của nhà xuất bản. Vì không có giấy. Giấy vào những năm ấy đắt khiếp đảm.
Lần xuất bản sau ở hải ngoại không thiếu giấy nhưng lại thiếu những trang bản thảo bị bỏ ra nọ. Chúng nằm lại ở Việt Nam, cách tôi quá xa, không phải xa theo khoảng cách địa lý, mà bởi những khó khăn. Tôi cũng không tìm cách bổ khuyết. Cuốn sách đã có cuộc sống riêng của nó, diện mạo của nó. Chưa chắc gì một sự thay đổi sẽ làm cho nó đẹp hơn. Những gì bị bỏ ra ngoài trong lần xuất bản đầu tiên rồi sẽ được đặt vào một lần xuất bản khác, hoặc một chỗ khác.
Câu chuyện về một chú bé trong cuộc gặp gỡ với quê hương của chú đã tìm được độc giả của nó. Thì ra quê hương của một người, nếu nói về nó bằng tình yêu chân thật, từ trái tim mình, thì cũng mang dáng dấp quê hương của bất kỳ ai khác, trong sự đồng điệu của tâm hồn. Tôi bao giờ cũng nhớ về tuổi thơ của mình với tất cả niềm thương yêu dịu dàng, bởi vì tuổi thơ của ai cũng vậy, nó chứa đựng những tình cảm đẹp nhất mà cuộc đời có thể cho ta, khi nắng bao giờ cũng lấp lánh và gió bao giờ cũng ngát hương. Nơi miền đất tuổi thơ, mỗi đám mây bay ngang cũng gợi ta hình dung ra những xứ sở xa xôi từ đó nó bay đến, mặt trăng rằm nào cũng bắt ta phải ngắm nhìn để tìm ra bóng dáng cây đa với chú Cuội cổ tích, thậm chí một con chuồn chuồn ngô cũng có phép màu làm cho ta biết bơi.
Bạn đã bao giờ cho chuồn chuồn ngô cắn rốn chưa? Nếu bạn đã được một con chuồn chuồn ngô cắn rốn một lần để được sặc sụa một lần trong dòng sông quê hương thì bạn là người hạnh phúc đấy. Tôi đã đọc những dòng viết ấm áp và chân thành, và lạ thay, bao giờ cũng đầy nuối tiếc, về tuổi thơ trong sáng của mình nơi Lev Tolstoi, Maxim Gorky hay Paul Vaillant Couturier.
Chúa Giê-su Ki-ri-xi-tô dạy: “Hãy như con trẻ!” Tôi chưa được nghe lời nào thông thái hơn.
Nếu tất cả những con người sống trên mặt đất này biết nâng niu gìn giữ trái tim con trẻ trong mình thì chúng ta đã không phải chứng kiến những gì xấu xa mà chúng ta phải chứng kiến: chiến tranh, nhà tù, và mọi sự hành hạ mà con người hàng ngày gây ra cho đồng loại.
Bằng cuốn sách bé nhỏ này, tôi muốn chia sẻ với bạn đọc tình cảm trìu mến đối với những gì quý báu nhất trong cuộc đời, những gì bạn và tôi đều có nhưng chóng quên, ở một miền thơ ấu của mỗi chúng ta.
(Kính tiễn Giác Linh Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ) Trần Trung Đạo
Một ngày tháng 8 năm 1992, tôi nhận được một bài thơ của một người bạn tin cẩn gởi từ trong nước. Anh chép tám câu thơ của Hòa Thượng Thích Quảng Độ nhưng không có tựa.
Tôi đọc và rất cảm động. Qua từng câu thơ tôi hình dung cảnh cô đơn, trống vắng, quạnh hiu mà Thầy đang sống trong thời gian lưu đày ở Thái Bình trong một buổi chiều đông.
Sau 1975, giữa lúc gần hết mọi người đều đi theo chiều gió, Thầy cố bước ngược chiều để mong cứu vớt những gì còn sót lại sau những điêu tàn, đổ nát. Tinh thần vô úy của đạo Phật đã giúp Thầy vượt qua bao thử thách, cực hình, đày đọa.
Trong đêm tối giữa nhà lao Phan Đăng Lưu hay trong buổi chiều mưa tầm tã tay dắt bà mẹ già 90 tuổi trên đường lưu đày từ Sài Gòn ra huyện Vũ Đoài, Thái Bình, Thầy vẫn một tấm lòng son sắt với quê hương và đạo pháp. Chúng ta sống trên đất tự do, dễ dàng nói với nhau về yêu nước, yêu đạo, dễ dàng nói với nhau về hy sinh, đại nguyện. Nhưng nếu chúng ta sống một đêm, một đêm thôi, trong đau thương trăn trở giữa ngục tối Hàm Tân như HT Thiện Minh, một đêm mang nặng ưu tư đau nhức tại nhà tù Phan Đăng Lưu như HT Quảng Độ, một đêm trầm mặc suy tư trên mỗi bước thiền hành ở Quảng Ngãi như HT Huyền Quang, chắc chắn chúng ta sẽ hiểu ra rằng Bồ Tát giống tất cả chúng ta nhưng chúng ta không phải dễ dàng là Bồ Tát.
Ngày đó không có mạng xã hội Facebook như bây giờ. Chúng tôi là một nhóm vài trăm người sinh hoạt với nhau trong giai đoạn Internet còn rất phôi thai.
Tôi gởi bài thơ cho cả nhóm đọc. Nhưng bài thơ thì phải có tựa. Tôi không nói với ai, chỉ im lặng và mạo muội đặt tựa là Chiều Đông, phía dưới viết tên tác giả HT Thích Quảng Độ. Luôn dịp tôi họa lại bài thơ của Thầy đặt tựa Tấc Lòng Son, và sau đó in trong tập Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười xuất bản lần đầu tại San Jose cuối năm 1992.
Trước ngày Thầy bị bắt và tôi chưa rời Việt Nam, mỗi tuần tôi thường gặp Hòa Thượng đi bộ từ chùa Giác Minh trên đường Lý Thái Tổ xuống ngã sáu Trần Quốc Toản, để từ đó đón xe Lam qua Thanh Minh Thiền Viện giảng thiền học. Dáng Thầy thanh cao, vầng tráng rộng, miệng Thầy luôn mỉm cười như chúng tôi thường bắt gặp trong những ngày trước 30-4-1975 ở Đại Học Vạn Hạnh. Phải chăng ngay cả trong lúc mang nặng ưu tư về tiền đồ dân tộc và đạo pháp, tâm Hòa Thượng Quảng Độ vẫn an nhiên, tự tại.
Thầy dạy Triết Đông và tư tưởng Phật Giáo cho sinh viên các khoa Khoa Học Nhân Văn và Phật Khoa. Tôi không trực tiếp được học Thầy. Nhưng những buổi giảng chuyên đề của các thầy thường mở rộng cho sinh viên các ban khác. Ngày đó tôi còn nhỏ nhưng may mắn được nhiều lần ngồi nghe các thầy dạy bảo. Hòa thượng Quảng Độ, Hòa thượng Minh Châu, Hòa thượng Mãn Giác, Hòa thượng Thuyền Ấn v.v.. Mỗi thầy một nét. Cao siêu nhưng gần gũi. Giản dị nhưng thâm trầm. Những hạt giống nhân duyên các thầy gieo xuống tâm hồn tôi nay đã lớn lên. Kỷ niệm không bao giờ chết. Kỷ niệm lớn như cây. Nếu biết chăm sóc, kỷ niệm cũng nở hoa như những loài hoa tươi đẹp khác.
Ba mươi tháng Tư, 1975, chúng tôi như bầy chim bay tán loạn bốn phương trời. Dù phải sải cánh bao xa, chúng tôi đều mang theo trong tâm hồn mình những bóng mát của một thời tuổi trẻ. Thời của tuổi mười tám với buồng phổi căng đầy sức sống. Bóng mát đó là các thầy. Bóng mát đó là thiền viện, thư viện, giảng đường, và bóng mát đó là lý tưởng Duy Tuệ Thị Nghiệp.
Hành trình đầy bi tráng của Thầy trong suốt 10 năm bị bắt giam, tra tấn và lưu đày cùng với bà mẹ già 90 tuổi ở Thái Bình đã để lại một niềm thương yêu và kính phục sâu xa, không những trong lòng nhiều triệu Phật Giáo đồ Việt Nam, dân tộc Việt Nam mà cả trong cộng đồng nhân loại.
(Trần Trung Đạo, Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười, trang 126)
Cách đây vài năm, khi nhận được thi tuyển Thơ Tù của HT Thích Quảng Độ lần đầu, tôi hồi hộp đọc phần mục lục trước để xem Thầy đặt tựa bài thơ là gì.
Tôi rất vui và cảm động khi biết Thầy cũng đặt tựa bài thơ là Chiều Đông. Tôi thầm cám ơn Thầy đã cho phép tôi được sống trong cùng một tâm cảm với Thầy.
Thầy là rừng, tôi chỉ là chiếc lá nhưng nhờ có nhân duyên lá và rừng được sống với nhau trong một chiều đông.
Sáng hôm qua, trong lúc đang đi bộ trên đường nhỏ trong xóm tôi nhận một tin nhắn của một Phật tử tin cẩn từ trong nước “Hòa thượng Quảng Độ vừa viên tịch”. Tôi lặng người. Không phải vì Thầy ra đi sớm nhưng vì Thầy ra đi.
Đại Lão Hòa thượng Thích Quảng Độ viên tịch chấm dứt một chương dày 45 năm trong lịch sử đầy thăng trầm của Phật Giáo Việt Nam. Những chương mới sẽ mở ra nhưng sẽ khác hơn nhiều.
Trong tất cả tôn đức chịu đựng tù đày, Thầy là vị đã sống trong tù lâu nhất. Từ tháng 6, 1977 cho đến khi viên tịch, Thầy vẫn là một tù nhân của chế độ CS tại Việt Nam.
Chín mươi năm từ khi tiếng gậy trúc của chư tổ vang lên ở các tổ đình khởi đầu cho công cuộc phục hưng Phật Giáo. Trong thời gian đó, bao nhiêu đổi thay đã xảy ra cho đất nước Việt Nam và cho Đạo Phật tại Việt Nam. Hôm nay, một trong những vị còn lại của thế hệ phục hưng Phật Giáo vừa viên tịch. Con thuyền đạo pháp như Thầy nhấn mạnh sau 1975 vẫn còn chênh vênh và niềm trăn trở cho quê hương của Thầy vẫn còn trăn trở.
Nhưng áng mây bay đi sẽ mang về những giọt nước cho cánh đồng khô. Không có gì còn hay mất. Chỉ là những dạng khác nhau trong một cuộc vận hành. Cành mai Quảng Độ vừa rơi xuống nhưng như Thiền Sư Mãn Giác đời Lý viết, sáng mai đây, những cành mai khác lại sẽ nở ra.
Bước chân của Thầy không còn nghe nhưng tình yêu của Thầy dành cho quê hương vẫn sáng như ánh trăng rằm, đậm đà như mùi hương của đất và dạt dào như lời thơ Thầy viêt trong một Chiều Đông năm đó. Từ nước Mỹ xa xôi, con cúi đầu đảnh lễ giác linh Thầy.
Trần Trung Đạo
Nhóm trẻ Văn Thơ Lạc Việt nói về ngày kỷ niệm 28 năm thành lập VTLV
Nhóm trẻ Văn Thơ Lạc Việt nói về ngày kỷ niệm 28 năm thành lập VTLV ——-
Tiệc Kỷ Niệm 28 Năm Thành Lập Văn Thơ Lạc Việt. Lúc 4 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 1 tháng 3 năm 2020 Tại Nhà hàng Phú Lâm, 3082 Story road, San Jose, Ca 95127
Lời Ngỏ
28 Năm Văn Thơ Lạc Việt: Một Tấm Lòng, Một Hướng Đi!
Một trong những hướng đi chính của Nhóm Văn Thơ Lạc Việt là phát huy và bảo tồn nền Văn Hóa Việt Nam. Một nền Văn Hóa có truyền thống trên bốn nghìn năm văn hiến, xuyên qua dòng lịch sử bất khuất của một Dân Tộc hùng anh.
Một nền Văn Hóa luôn khẳng định sắc thái nhân bản, đậm tình tự dân tộc, để không bị lệ thuộc hay đồng hóa bởi ngoại bang. Có ngàn năm đô hộ cũng trở về Nguồn! Bản sắc nhân bản gốc, thể hiện qua những từ Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín trong hành xử đời thường, đến Chân Thiện Mỹ trong văn chương nghệ thuật, gìn giữ nếp sống chí tình chí lý bao đời của Cha Ông. Nền Văn Hóa tốt đẹp này, được lưu truyền qua bao thời đại, bao thế hệ, đều nhờ vào tấm lòng và trách nhiệm của những công dân đối với tiền đồ Quốc Gia Dân Tộc, dù an hay nguy.
Trong bối cảnh đen tối Việt Nam hiện nay, do Cộng Sản nắm giữ, thể chế chính trị chủ trương cái ác, gây ảnh hưởng không tốt về sắc thái Chân Thiện Mỹ của Chữ Nghĩa nói riêng, và tác phong đạo đức của nền Văn Hóa nói chung. Chữ viết và tiếng nói có âm mưu biến dạng theo Tầu, do chủ trương độc tôn “còn Đảng còn mình!” muốn phủ nhận những giá trị vốn có, mà hành xử thô bạo trên giá trị Chữ Nghĩa Nhân Bản. Điển hình là việc tiêu hủy gần như hầu hết những chứng liệu, sách vở, ngôn từ thiện mỹ vốn có trước năm 1975. Để khai sinh và phô bày những chữ nghĩa duy vật biện chứng phức tạp và dị ứng, đi ngược với sắc thái trong sáng nhân bản Văn Hóa Dân Tộc. Chưa kể âm mưu sáng tạo một ngôn ngữ mới, để muốn xóa bỏ nguồn gốc.
Sự kiện này được thấy rõ không chỉ trong sinh hoạt đời thường, mà trong cả chương trình giáo dục. Không chỉ ảnh hưởng xấu ở trong nước, mà còn lây nhiễm ra hải ngoại, khi những phát ngôn viên, nhà báo, hàng ngày xử dụng tự nhiên chữ nghĩa què quặt, tối nghĩa do XHCN chế ra. Người nghe không chỉ dị ứng với ngôn ngữ, mà còn dị ứng với cả nguồn phát ra những chữ nghĩa khó nghe này. Giá trị của chữ nghĩa xấu, kéo theo giá trị tồi của phong cách truyền thông, giết sự trong sáng của ngôn ngữ, để có âm mưu xóa đi tiếng Việt truyền thống, nhằm dễ dàng bán nước cho ngoại bang, giữ vững ghế cai trị.
Dù đường dài vẫn “chân cứng đá mềm” chỉ một hướng đi! Đây là niềm mong ước, mục tiêu thiết tha của Văn Thơ Lạc Việt. Tiếng Việt còn, nước Việt còn! Gìn giữ phát triển và bảo tồn Văn Hóa Việt Nam. Nhìn lại đoạn đường 28 năm đã đi qua, cho dù đây là mục đích của Nhóm, nhưng có đạt mục tiêu hay không là nhờ sự tiếp tay của tất cả mọi người, những trái tim còn nghĩ đến nền Văn Hóa, giữ vững cội nguồn Dân Tộc Lạc Việt. Vẫn còn tự hào: “Tôi là Người Việt Nam!”
Cái nôi Văn Hiến Việt Nam, luôn lay động nhịp nhàng, thấm sâu trong tâm thức người dân Việt, từ lời ru ngọt ngào ên đềm của Mẹ Âu Cơ, đến lời ca vang hào hùng bao đời của những người đi giữ nước. Chữ Nghĩa sáng lên vừa như ánh đuốc khai tâm nhắc những kẻ vong ân, phản bội, tìm lại cội nguồn mau trở về, lại vừa sáng rọi lời truyền của tiền nhân, qua bao thời oanh liệt chống ngoại xâm, giữ vững sơn hà. Tất cả vì Việt Nam, vì Tổ Quốc thiêng liêng mong mãi mãi trường tồn.
Những dòng thi văn sử, tiếp truyền đến mọi nơi và mọi lúc, vượt qua biên giới, sau 75, ra đến hải ngoại, thẩm thấu qua gần nửa thế kỷ lưu vong. Giữ được nền Văn Hóa là giữ được hồn của Đất và Nước. Giữ được Chữ Nghĩa là giữ được tinh thần và sắc thái của Dân Tộc Việt Nam. Ngôn ngữ là Hồn, nếu không gìn giữ, thì Hồn mất trước, nước mất sau! Mất Văn Hóa là mất Nước! Cho nên cuộc chiến đấu bảo tồn nền Văn Hóa, cũng cam go và đầy thử thách như trên chiến trường, tuy không có tiếng súng, nhưng cũng ác liệt không kém, trong mục đích dành lại Tự Do Dân Chủ của một Dân Tộc dưới bàn tay nguy hiểm của những Lê Chiêu Thống thời đại, “cõng rắn cắn gà nhà!”
28 năm, với tâm huyết của những người quan tâm đến nền Văn Hóa Việt Nam tị nạn CS tại hải ngoại, dùng chữ nghĩa mà chiến đấu với trách nhiệm bảo tồn và phát huy Văn Hóa, như vũ khí để lấy lại Tự Do Dân Chủ cho Quê Hương không Cộng Sản.