CA KHÚC LỜI TỎ TÌNH MÙA HẠ – LÊ TUẤN




VTLV & THÂN HỮU: TRANG ĐẶC BIỆT MỪNG LỄ ĐỘC LẬP HOA KỲ – INDEPENDENCE DAY

***

MỪNG NGÀY ĐỘC LẬP HOA KỲ

Phương Hoa

Đón mừng ĐỘC LẬP July Fourth

Thung Lũng Hoa Vàng ăn lễ to

Đất nước Cờ Hoa – hoa pháo rực

VĂN THƠ LẠC VIỆT – Việt thi hòa

Cali hạnh phúc từ muôn nẻo

Miền Bắc niềm vui khắp mọi nhà

Kính chúc bình an toàn Mỹ Quốc

Diễn hành thật đẹp tỏa lan xa.

  Phương Hoa  – BBT VTLV

THƠ CAO MỴ NHÂN

 “JULY 4“  NGƠ NGẨN

*

Khi tới đây, tôi nhớ tháng ngày này

Fourth of July Lễ  Độc Lập

Independence Day … vui dồn dập

Mới đó, đã phần ba thế kỷ

*

Đứng bên cầu Golden Gate năm 1992

Tôi cứ tưởng một lần rồi không tới nữa

Hơn ba chục mùa hạ vàng rực rỡ

Chính nơi này đẹp nghĩa đất Tự Do

*

Ngó về phương tây, mặt trời đỏ xuống thấp

Phố núi miên man ôm hình hài sắc tộc

Tiếng kèn đồng người dạo khúc tha phương

Quê Việt tôi bên kia Thái Bình Dương

*

Đêm July 4 th man dại cửa thiên đường

Nhưng nếu bạn kéo tôi về cố lý

Tôi sẽ nhảy xuống Cầu Vàng hệ lụy

Vì không muốn thấy những xót thương

*

Bầy quạ kêu chia sẻ nỗi đau buồn

Tôi đứng giữa lằn ranh đời cũ, mới

Mai mốt chắc chôn thân già nẻo cuối

Chốn quạnh hiu, sấp mặt khóc … vô thường …

*CAO MY NHÂN

San Francisco 30 – 6 – 2025

**

Mỗi năm khi tháng Bảy về, nỗi đau năm xưa lại âm thầm trở giấc trong tim tôi. Ngày Lễ Độc Lập 1985 đã vĩnh viễn cướp đi người chồng yêu quý – một sĩ quan Hải Quân VNCH can đảm, một người chồng, người cha luôn hết lòng vì gia đình và người khác. Anh đã hy sinh mạng sống mình khi lao xuống sóng dữ cứu các em bé đang bị cuốn ra khơi, trong đó có con gái út mới 11 tuổi của chúng tôi.

Trong niềm đau không nguôi của một người vợ, tôi viết bài thơ Hạ Buồn vào ngày July 4th 2014 để ghi khắc một ký ức định mệnh của đời mình. Năm năm sau, bài thơ được nhạc sĩ Vĩnh Điện phổ nhạc thành một ca khúc tha thiết và đã được danh ca Bảo Yến truyền cảm một cách xúc động đến nao lòng.

Xin mời nghe và chia sẻ…

PLang

HẠ BUỒN

Tháng Bảy lại về lòng buồn hiu hắt

Nhớ ngày này bao năm trước anh đi

Môi bất động anh chẳng nói lời gì

Và cứ thế anh đi không từ giã…

*

Đau đớn quá tôi điên cuồng vật vã

Trời Phật ơi xin cứu lấy chồng con

Anh nằm đây nhưng thân xác không hồn

Biết làm sao, làm sao anh trở lại??

*

Đã mấy mươi năm tôi còn nhớ mãi

Buổi sáng nào sóng dữ cướp đời anh

Để bao đêm nhìn trăng chiếu qua mành

Lòng thổn thức ôi mùa hè định mệnh…

phamphanlangJuly 4th 2014

Every year, as July returns, a deep ache quietly stirs within me. Independence Day 1985 forever marked my life with grief, as it took away my beloved husband — a brave former Navy officer of the Republic of Vietnam, a devoted father, and a man who always put others before himself. He gave his life to save a group of children swept away by a sudden undertow, including our youngest daughter, who was only eleven at the time.

In the silence of anguish, I wrote this poem, Hạ Buồn (Summer of Sorrow), on July 4th, 2014, to honor that tragic yet heroic moment. Five years later, it was beautifully set to music by composer Vĩnh Điện and soulfully performed by the renowned singer Bảo Yến, whose haunting voice captured the heartache and depth of that day.

I invite you to listen, to feel, and to remember — through each verse and note — the weight of love and loss

SUMMER OF SORROW

July returns — my heart falls still,
Haunted by the day fate broke its will.
You left in silence, lips unspeaking,
No last goodbye… just slow soul-leaking.

Grief devoured me in raging cries,
I begged the heavens, tears in my eyes.
You lay there — body cold, soul flown,
How could I bring you back… alone?

So many years, and still I see
That morning wave that stole you from me.
Each night I watch the moonlight creep,
And ache for that summer I cannot keep…

phamphanlang
July 4th, 2014

Translated from Vietnamese poem “Hạ Buồn” by Phạm Phan Lang

MINH THÚY THÀNH NỘI

MỪNG LỄ ĐỘC LẬP HOA KỲ

*

Mùa hè đang rực rỡ

Ánh nắng đẹp tươi hồng

Cánh Én lượn thong dong

Bươm bướm bay tràn ngập

*

Cảnh ra đường tấp nập

Ngày lễ lớn Hoa Kỳ

Shopping chật người đi

Hớn hở vui đầu hạ

*

Bóng nắng xuyên cành lá

Đỏ, tím, vàng lối hoa

Con cháu trở về nhà

Tiệc tùng theo dòng họ

*

Cờ treo chào trước ngõ

Các nơi màn diễn hành

Trống nhạc dồn dập nhanh

Biểu dương sức hùng mạnh

*

Bầu trời đêm gió lạnh

Pháo bông bắn đì đùng

Những sắc màu nở tung

Chào mừng Lễ Độc Lập

*

Minh Thúy Thành Nội

Tháng 7/4/2025

**

MỪNG LỄ ĐỘC LẬP HOA KỲ – NGUYỆN CẦU ĐỘC LẬP CHO UKRAINE
Phương Hoa

Lần đầu tiên tôi chú ý đến ông già Mỹ trắng ngồi xe lăn trên lề đường,
khi xe tôi dừng đèn đỏ chuẩn bị quẹo vào trung tâm bán sỉ Costco. Tôi
nhớ đó là khoảng thời gian quân Nga bắt đầu tấn công Ukraine, cách đây
cũng đã bốn, năm tháng gì đó. Chiếc quần jean lưng lửng, loang lổ vết
bẩn và rách te tua, lộ ra hai đầu gối nám đỏ bầm và đôi chân lông lá; áo
thun ngắn tay màu xanh rừng của lính, màu áo quen thuộc của Tổng
Thống Ukraine Volodymyr Zelenskyy, vị tổng thống anh hùng của một
dân tộc anh hùng mà cả thế giới đều kính nể; trên cánh tay áo ông ta còn

gắn một lá cờ màu vàng xanh của đất nước Ukraine.

Tôi chợt cười thầm. Là “fan” hâm mộ của tổng thống Ukraine đây mà.
Tôi cũng là người rất hâm mộ ông tổng thống thông minh gan dạ này.
Lần đầu tiên thấy Zelenskyy phát biểu với giọng nói hùng hồn, lời lẽ
khôn khéo, mạnh mẽ, kêu gọi thế giới giúp đỡ Ukraine, làm tôi rất khâm
phục. Nhưng khi nhìn ánh mắt chứa đựng sự oán hận, lẫn đau khổ, và sự
chịu đựng tột cùng của Zelenskyy, tôi muốn rơi nước mắt.
Ông già ngồi trên xe lăn khổ người phốp pháp với cái bụng bự tròn quay
nhú ra dưới lớp áo. Khuôn mặt khắc khổ và buồn bã, nhưng hàm râu
quai nón rậm rì khiến ông toát ra một vẻ mạnh mẽ kiên cường, và không
thấy có chút gì là đáng tội nghiệp, dù trên tay ông cầm tấm bảng có mấy
chữ viết tay xiêu vẹo: “Please help!”

Điều khiến tôi xúc động và chăm chú quan sát kỹ ông già là vì ông đội
chiếc mũ dìm đen có hàng chữ màu vàng in thật lớn: VIETNAM WAR
VETETRAN. Một cựu chiến binh Việt Nam. Người này đã từng bay
qua nửa vòng trái đất giúp dân tộc tôi gìn giữ tự do và hòa bình. Tôi biết chính phủ Mỹ rất ưu đãi các cựu quân nhân, tại sao ông già này lại đi ăn
xin như thế nhỉ.

Đèn chuyển sang màu xanh. Tôi chợt giật mình bừng tỉnh vì tiếng còi
hối thúc của xe sau. Làn đường hẹp không có chỗ tắp vô, nên tôi vội
chụp lấy cái điện thoại, moi hết số tiền lẻ trong ngăn bên của cái vỏ bọc,
và rà xe tới gần chỗ ông già. Hạ cửa kính xuống, tôi chồm tới nhét nắm
bạc lẻ vào tay ông rồi nhấn ga chạy đi, bỏ lại đàng sau ánh mắt sáng lên
đầy thiện cảm với đôi bàn tay chắp xá và tiếng “Com on” thật to. Vào
trong Costco lựa đồ mà tâm trí tôi mãi nghĩ về người cựu chiến binh Việt
Nam với cái vẻ mặt oai hùng nhưng buồn bã ấy.

Tôi ở không xa Costco, nên tôi thường xuyên đi mua đồ và đổ xăng ở đây. Những lần sau đó, mỗi khi đi Costco tôi đều cố ý mang theo một ít tiền để cho ông già này, vì hầu như ông luôn luôn ngồi tại chỗ cũ. Và tôi trở thành khách hàng của ông lúc nào không hay.

Một lần, chẳng hiểu sao ông lại đổi hướng, thay vì ngồi bên phải thuận tiện xe cộ qua lại dừng đèn đỏ cho tiền, ông lại chuyển sang ngồi phía bên trái, trên lề cái “only” quẹo trái ngăn đôi giữa hai bên đường xuôi và ngược chiều. Thế nên trên đường đến tôi không thể đưa tiền cho ông.


Mua sắm xong ra xe tôi lục lấy cái phong bì rồi bỏ tiền vào đó, và lái chầm chậm vô làn thứ nhì từ bên trái. Khi dừng lại đợi đèn xanh tôi hạ cửa xuống cầm lấy cái bì thơ, chồm ra ngoài và thảy qua cho ông già. Tôi cố ném vào chiếc xe lăn ông đang ngồi, nhưng không ngờ cái bì thư va vào chiếc xe sau vừa trờ tới, và nó rơi xuống đất nằm trong lòng đường. Bì thư không dán nên số tiền văng tung tóe, làm tôi cảm thấy rất áy náy. Tôi định đậu xe để xuống nhặt lại cho ông, thì người phụ nữ da trắng trong xe đã bước xuống gom hết lại những tờ bạc dưới đất và bước tới đưa cho ông già. Đúng là “Người Mỹ tử tế,” tôi thầm nghĩ. Từ những việc cỏn con này, tuy chưa một lần trò chuyện, tôi có cái cảm giác ông già Mỹ đã là “người quen.”

Nhưng đó là lần cuối cùng tôi cho tiền ông. Những lần sau tôi cũng mang theo tiền, nhưng không còn thấy ông già xuất hiện chỗ đó nữa, và mỗi lần chạy ngang qua tôi có cảm giác hơi buồn, nghĩ là chắc ông ấy đã … vĩnh viễn ra đi. Tồn tại từ thời chiến tranh Việt Nam, tuổi ông nay cũng đã cao rồi còn gì.
*
Ngày 4 Tháng 7 năm 2022, ngày Lễ Độc Lập Hoa Kỳ. Vì được “xả trại Covid,” mấy đứa con đưa tụi nhóc cháu nội đi chơi xa hết, không đứa nào về chung vui như trước kia, nên tôi rảnh rang việc nấu nướng. Qua hơn hai năm trốn dịch trong nhà cũng bị “cuồng chân,” ông xã tôi muốn dành ngày lễ Độc Lập đi tháp tùng đoàn diễn hành của thành phố cho thư giãn gân cốt. Đặc biệt, năm nay thành phố có tổ chức cuộc thi chạy bộ 5 km quanh thành phố, trước giờ xe hoa bắt đầu cuộc diễn hành, để gây quỹ cho Nhà Tạm Trú Phụ nữ và Trẻ em. Đáng tiếc, chúng tôi dù cũng từng là dân chạy bộ nhưng vì bận rộn quên mất thời hạn, ghi danh trễ nên không thể tham dự. Cuộc thi này rất thú vị, vì dọc đường các cơ sở kinh doanh địa phương cung cấp miễn phí thức ăn nhẹ, các loại nước uống, trái cây. Sau cuộc thi có cả… bia cùng rượu cho người lớn giải lao nữa. Tất cả mọi thí sinh đều được phát áo đồng phục với số báo danh.
Dọc đường ai mỏi mệt có thể dừng lại bốc vài cái bánh, chai nước, rồi
vừa chạy vừa thưởng thức. Già trẻ gái trai đều tham dự được, ai đến
đích trước nhận phần thưởng và huy chương, những người mỏi mệt cứ
chạy sau hay đi bộ tà tà thì khi đến đích cũng được tặng những món quà
an ủi.

Buổi sáng, tôi thức dậy ăn uống xong là “diện đồ July 4th” áo đỏ có hình cờ Mỹ rồi cùng nhà tôi đi bộ ra phố. Thành phố nhỏ chúng tôi dọn về sau khi nghỉ hưu ở gần biển, thuộc vùng Đông Vịnh San Francisco, là một thành phố cổ. Chính quyền và người dân ở đây luôn luôn giữ gìn truyền thống tổ chức diễn hành xe hoa trong ngày Lễ Độc Lập hàng năm, trừ vài năm dịch Covid vừa qua. Năm nay mở cửa trở lại nên cả thành phố náo nức rộn ràng lo chuẩn bị cho cuộc diễn hành và cuộc thi chạy bộ.

Theo lịch trình, sau khi cuộc thi chạy 5 km bắt đầu, thì đoàn xe hoa cũng khởi hành từ tụ điểm gần bờ biển, chạy quanh downtown, dọc theo khu vực dân cư, giáp một vòng thì về lại chỗ cũ, chiều dài cũng trên bốn, năm dặm. Tôi háo hức ngắm nhìn, chạy tới chạy lui theo đoàn xe đủ màu sắc và kiểu dáng để chụp hình. Tôi mãi mê nhìn những kỵ mã cảnh sát thành phố oai phong trên lưng những chú ngựa nòi cao lớn bờm lông đen mượt, khoác những bộ yên cương rực rỡ sắc màu, và tôi bỏ lạc ôngxã trong dòng người coi đông nghịt hai bên lề đường.

Đến đoạn đường có những chiếc xe hoa thật dài và đẹp, tôi vội đưa điện thoại lên. Bấm được vài tấm hình, tôi xoay lưng lại định đi tiếp bỗng đụng phải một người đang bước tới thật nhanh. Tôi bị mất trớn ngã nhào vào đám đông đang ngồi coi diễn hành trên lề đường. Chiếc điện thoại vuột khỏi tay, và theo phản ứng tự nhiên tôi chụp vội cái tay nắm của một chiếc xe lăn gần đó để giữ thăng bằng trở lại. Bị xấu hổ, tôi vội cúi nhặt chiếc điện thoại lên rồi lắp bắp lời xin lỗi với người ngồi trên chiếc xe lăn có cắm đầy những lá cờ Mỹ nhỏ:

“I’m… sorry!”

“No problem!’Người đó trả lời, và rồi kêu lên với vẻ kinh ngạc,“Oh….thì
ra là cô à?”

Tôi chưa kịp hoàn hồn, nghe thế bèn nhìn kỹ ông ta, và chợt nhận ra người ngồi trên xe lăn chính là người ăn xin gần Costco tôi vẫn cho tiền mấy lúc trước. Vẫn chiếc mũ dìm có hàng chữ in “VIETNAM WAR VETETRAN,” vẫn “chiếc áo thun Tổng Thống Ukraine,” và lá cờ vàng xanh trên tay áo. Nhưng nhìn ông ta gọn gàng hơn, sạch sẽ hơn, và thần thái ông lúc này trông rất tốt, mặt mũi tươi tắn, nét mặt sinh động, không còn nét bơ phờ và buồn phiền như trước nữa. Tôi vừa ngạc nhiên vừa vui. Rủi mà may, tình cờ được dịp gặp lại ông già cựu chiến binh Việt Nam, người mà lâu nay tôi thường nghĩ đến mỗi lần chạy ngang qua chỗ ông từng ngồi xin ăn.

“Thì ra là ông!” Tôi cũng kêu lên mừng rỡ như gặp lại bạn cũ. “Ông có
khỏe không? Lâu nay ông làm gì mà tôi không thấy ông nơi… chỗ cũ?”


Tôi nói, không tiện nhắc lại chỗ cũ là chỗ nào. Ông ta chỉ cười, rồi quay
qua người phụ nữ Mỹ trắng lớn tuổi ngồi trên chiếc ghế xếp bên cạnh:


“Honey, cô đây là người anh thường kể với em trước kia, người bao giờ
cũng dừng lại giúp anh mỗi khi cô ấy đi mua sắm ở Cotsco.” Quay sang
tôi, ông tiếp, “Xin chào! Tôi tên là Scott, còn đây là Sue, bạn gái tôi.


Bà Sue gật đầu chào tôi với nụ cười hiền lành và đầy thân thiện. Thấy bà
có vẻ xuề xòa tôi cũng chào bà tự nhiên không chút dè dặt, tự giới thiệu
tên mình, rồi quay qua ông, chỉ vào chiếc mũ ông đang đội:


“Ông là cựu chiến binh Việt Nam? Lần đầu tiên tôi chú ý đến ông vì
chiếc mũ này. Có phải ông đã từng sang Việt Nam chiến đấu giúp quê
hương tôi?”


“Yes, I did! Vâng, tôi đã từng.” Rồi như còn có rất nhiều điều muốn nói,
ông già vừa quay đầu chiếc xe lăn, vừa ra dấu cho tôi và bà bạn ông tách
khỏi đám đông, “Chỗ này ồn ào quá, chúng ta hãy qua bên kia nói
chuyện đi.”

Bà Sue cởi chiếc áo khoác máng vào thành chiếc ghế xếp bà vừa ngồi,
để người ta biết là ghế có chủ, rồi bước vội theo ông. Tôi cũng hào hứng
bước theo hai người đến chỗ gần trạm xăng, nơi có một rừng cờ Mỹ thật
lớn đang phất phơ tung bay trong nắng.

“Trước nhất, tôi xin cám ơn ông,” tôi nói khi xe ông dừng lại bên cạnh
hàng cờ bay phất phới, “ngày ấy đã sang tận Việt Nam chiến đấu giúp
quê hương tôi.”


Ông Scott vội lắc đầu, và nói bằng cái giọng có vẻ nặng nề:
“No! Chúng tôi đã không giúp được gì cho các bạn. Cho đến tận bây
giờ, tôi luôn nghĩ rằng chúng tôi còn mắc nợ các bạn.”

Tôi thấy tội nghiệp ông. Đã mấy chục năm qua mà ông vẫn còn ấm ức,
nói ra những điều tôi thường nghe trước giờ mỗi khi nói chuyện cùng
những cựu quân nhân Hoa Kỳ trở về từ Việt Nam. Ông nới một hơi,
phàn nàn về chuyện thời chiến tranh Việt Nam, về cánh báo chí phản
chiến Mỹ, về người dân Mỹ xuống đường biểu tình, về chính phủ Mỹ…
càng nói càng hăng, mặt ông đỏ bừng.

Bà Sue đứng im lặng nghe, thỉnh thoảng lắc đầu, có vẻ như bà đã quen
với chuyện này
:


“Ông ấy vẫn thường như thế, mỗi khi có ai nhắc về chuyện chiến tranh
Việt Nam.” Bà nói.


Tôi muốn giúp ông quên đi cái quá khứ đau lòng ấy lúc tuổi già, nên
hướng qua chuyện khác:

“Cám ơn ông, Scott. Nhưng chuyện đã mấy chục năm rồi, làm ơn hãy
quên đi để cho tâm trí ông được nhẹ nhàng.” Tôi nói xong đổi đề tài:
“Bây giờ cho tôi hỏi, hình như ông rất hâm mộ Tổng Thống Zelenskyy
của Ukraine? Tôi thấy ông mặc áo màu giống Zelenskyy và còn đeo cờ
Ukraine, đã từ lâu lắm rồi?
”

Ánh mắt Scott sáng lên, và tôi biết là tôi đã… bắt đúng huyệt của ông.
“Oh yeah! Absolutely, yes!” Tất nhiên rồi! Ông kêu lên đầy vẻ thán
phục. “Cũng nhờ chứng kiến sự kiên cường của họ mà tôi mới ‘là một
con người’ như bây giờ!”

Có lẽ sự thân thiện và kính trọng của tôi đối với ông lâu nay đã khiến
ông tin tưởng. Cho nên dù mới gặp lần đầu, qua vài câu hỏi tế nhị và
cảm thông của tôi (bạn tôi thường nói tôi có năng khiếu trong việc khai
thác thông tin từ người khác mà!), Scott đã mở lòng kể cho tôi nghe về
chuyện của ông, về lý do tại sao ông trở thành kẻ ăn xin và bây giờ thì
trở lại phong độ cũ.

Và rồi, tôi quên mất đoàn xe hoa diễn hành, quên mất ông xã đang đi tới
đâu, quên luôn đám đông đang vỗ tay từng đợt mỗi khi có chiếc xe hoa
chạy qua. Tôi đứng lặng người, đắm chìm vào câu chuyện đầy cảm
động và đau thương của ông già Mỹ
.
*
Gần cuối năm 1974, ông Scott là thương binh trở về từ Việt Nam sau
một trận pháo kích của Việt Cộng vào nơi đóng quân của ông. Một mảnh
đạn pháo đi lạc đã ghim vào đốt sống nên ông bị liệt hai chân
.

Người vợ trung thành Cathy và đứa con trai độc nhất Richard của hai người đã
chăm lo cho ông suốt cả cuộc đời. Con trai ông ăn học thành tài, ra đi
làm nhưng không hề kết hôn, dù anh ta cũng có bạn gái đó đây. Mấy
năm về trước, gia đình ông gặp phải một cơn đại họa. Vợ ông và
Richard đã qua đời cùng lúc trong một tai nạn xe hơi, bỏ lại ông một
mình với tấm thân tàn phế.

Ông bị sốc vì quá đau khổ, quá thương nhớ, làm cho bấn loạn tâm thần. Do dùng thuốc gây nghiện quá nhiều để giảm stress, và còn mượn rượu giải sầu, ông đã trở thành con nghiện cả hai món. Cuối cùng, ông làm thân “homeless” không nhà vô ngụ trong “shelter” của thành phố. Vì nghiện ngập, số lương hưu hàng tháng đều
bay sạch, nên ông phải đi xin thì mới có thêm tiền mua thức ăn hoặc
thuốc để “phê” hay vài lon bia để uống. Ông kể xong thì nói:

“Cho đến thời gian tôi gặp cô, là tôi đã làm ăn mày cũng hơn một năm
rồi.
”

“Tôi thật là xin lỗi chuyện vợ con ông, Scott!” Tôi nói cùng với sự xúc
động tận đáy lòng vì câu chuyện thương tâm của ông. “Cầu Thượng Đế
phò hộ cho ông.”

“I’m okay now.” Bây giờ tôi ổn rồi, cám ơn cô.

“Cô biết không,” bà Sue nãy giờ đứng im, bây giờ thấy ông ngừng lại bà mới lên tiếng, “nếu không có chiến tranh Ukraine, không có Tổng Thống Zelenskyy, nhất là gần đây không có hai tù binh Mỹ bị Nga bắt giữ, thì hiện tại ông ấy vẫn còn đói khổ dài dài, còn ngồi ăn xin ở chỗ cổng vào Costco như cô từng thấy. Trước đó cho dù tôi đã hết lời khuyên can ông hãy đi cai nghiện nhưng ông không chịu nghe.”

“Là sao ạ?” Tôi hỏi với vẻ tò mò lẫn thích thú.

“Là do tôi quá ngưỡng mộ Zelenskyy và dân tộc Ukraine, tôi mới tự cai
nghiện!” Scott trả lời thay bà Sue. “Hằng ngày xem tin tức, tôi thương
đất nước họ lắm, những con người dũng cảm vô song.” Ông dừng lại
quay qua bà Sue, “Tôi quen Sue từ Trung tâm Tạm Trú cho kẻ không
nhà. Bà đã khuyên bảo và lo lắng cho tôi rất nhiều, và tôi nghe lời bà
mọi việc, ngoại trừ chuyện cai nghiện. Cám ơn em yêu!” Ông nói, đưa
tay vỗ vỗ vào lưng bà một cách rất âu yếm
.

“Wow! Ông làm tốt lắm! Good Job, Scott!” Tôi nói và đưa ngón cái lên.
“Nhưng tôi hơi… chậm tiêu một chút, ông có thể cho biết tại sao ông
ngưỡng mộ Tổng Thống và dân tộc Ukraine mà ông tự cai nghiện thành
công? Chả lẽ ông muốn… qua Ukraine đánh nhau với quân của Putin
giúp họ?” Tôi đùa.

“I wish!” Tôi rất muốn thế! Không ngờ Scott hăng hái trả lời. “Phải, tôi
rất khâm phục họ, ước gì tôi lành lặn và còn trẻ, khỏe, tôi sẽ qua Ukraine
giúp họ ngay không chần chừ! Nhất là gần đây mỗi lần xem tin tức,
thấy hình ảnh Alexander và Andy Tai ở Alabama bị quân Nga bắt giữ tôi
thương họ vô cùng, và tôi đã tự nguyền rủa tôi. Tôi nghĩ lại mình thật vô dụng, khi bao nhiêu đồng đội của tôi đang trong vòng nguy hiểm chiến đấu cho tự do, thì tôi ở nhà ăn no mặc ấm lại đi hủy hoại đời mình trong một thời gian dài như vừa qua, đến xém chút nữa bỏ mạng. God, cám ơn Thượng Đế! Tôi đã làm được!” Ông nói với một vẻ tràn đầy hãnh diện
.

“Đúng vậy, Scott đã tự mình cai nghiện, không cần tới trung tâm.” Bà Sue nói tiếp theo ông. “Và ông ấy đã làm rất tốt, kết quả chỉ trong vòng mấy tháng. Nhờ cả ngày ngồi theo dõi tin tức từ Ukraine, ông đã đánh gục và chiến thắng được các cơn ghiền vật vã. Tôi cũng phụ giúp ông nữa. Trong thời gian qua ông ấy và tôi đã tiết kiệm được một số tiền. Thay vì dùng mua ma túy và hoang phí rượu bia như trước, mới đây chúng tôi đã đem cho Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ một ít để giúp cho người tị nạn Ukraine. Amazing! Quả là chúng tôi đã làm được điều đáng
kinh ngạc!
”

Tôi cảm động đến rưng rưng, không thốt ra lời. Ông Scott đúng là một người rất giàu tình cảm. Mất hết một lúc im lặng, cuối cùng tôi nói:

“Scott, ông quả thật là người tốt! Xin Thượng Đế phù hộ cho ông!” Rồi
tôi hỏi: “Ông có biết một trong hai tù binh đó là người Việt Nam của
chúng tôi không, anh Andy Tai Huynh. Không biết bây giờ họ ra sao.”

“Tôi biết, Tai là người Việt Nam. Chính phủ Mỹ vẫn đang cố gắng bằng
mọi cách để đưa họ về với gia đình, cô yên tâm đi.
”

Biết Scott theo dõi kỹ tin tức về cuộc chiến Ukraine, tôi hỏi:
“Theo ông, thì cuộc chiến Ukraine rồi sẽ đi tới đâu? Tôi xem tin tức thấy
tổng thống và dân tộc Ukraine rất kiên cường, nhưng quân Nga cậy
người đông tiền lắm, cứ tiếp tục xâm chiếm chứ không chịu dừng lại.
Bây giờ thế giới phải làm sao mới tốt cho Ukraine?
”

“Chắc chắn có một ngày quân Nga sẽ phải rút thôi!” Scott nói như
khẳng định. “Quân dân vô tội của Ukraine đã thiệt mạng quá nhiều rồi.
Thượng Đế công bình sẽ phán xét, kẻ ác sẽ phải đền tội. Cũng có lúc, tôi
giận các nước phương Tây quá chết nhát “chicken” không chịu giúp vũ
khí sớm cho Ukraine, để Zelenskyy phải kêu gào khản cả cổ mới chịu
gửi vũ khí cho họ.” Ông ngừng lại, lấy chai nước từ phía sau lưng ra hớp
một miếng rồi nói tiếp, “Cho tới sáng nay, quân Ukraine vẫn đang cố
gắng chận đứng quân Nga ở biên giới Donetsk, nhưng chẳng biết họ có
giữ nổi hay không đây.” Ông nghẹn ngào, “Poor Ukraine! Ukraine tội
nghiệp, mỗi ngày đều có rất nhiều thường dân vô tội bị quân Nga giết.
Tính tới nay, đã có hàng chục nghìn thường dân Ukraine lớp bị giết lớp
bị thương.” Và ông bỗng cao giọng như nấc lên, “Cuộc chiến này không
thể kéo dài! Hãy cầu nguyện cho họ!”

Tôi gật đầu:

“Đúng vậy. Chúng ta nên cầu nguyện cho đất nước và người dân
Ukraine. Cầu nguyện cho cuộc chiến này chấm dứt càng sớm càng tốt!”

“Phải! Hãy cùng cầu nguyện. Xin Chúa thương xót và cứu lấy
Ukraine!” Bà Sue cũng nói và đưa tay lên làm dấu thánh giá. “Ukraine
không thể nào thua, Chúa ơi!
”


Tự nhiên tôi cảm thấy trong lòng buồn bã vô cùng. Nếu rủi như Ukraine
không chiến thắng nổi quân Nga… Tưởng tượng tới đó, tôi chợt lắc đầu
rùng mình, không dám nghĩ tiếp
.

Chào từ giã Scott và Sue, tôi thất thểu bước theo những chiếc xe hoa cuối cùng của đoàn diễn hành để về nhà.

Trời đã quá xế trưa. Ánh nắng hè rực rỡ lung linh, những chùm phượng tím hai bên đường đong đưa trong cơn gió nhẹ từ biển thôi vào man mác. Nhưng trong tôi mọi hào hứng của buổi mai khởi hành ra đi bây giờ đã biến mất.

Lạy Trời xin cứu lấy Ukraine. Tôi khấn thầm.

Phương Hoa

**

KHÁT VỌNG TỰ-DO

*

Đã quyết ra đi, chẳng trở về …

Ta thà chôn kín mối tình quê

Thay tên, đổi họ, đời du tử

Nuốt nhục vào trong chén rượu hề!

*

Đã quyết ra đi chẳng trở về …

Sá gì ngộ nhận hoặc khen chê.

Chí ta ta biết, lòng ta quyết,

Dứt áo ra đi chẳng trở về!

*

Lạy mẹ, lạy cha, một lạy này …

Xem như con chết kể từ nay

Họ tên xin chép vào bia mộ

Nhang khói hồn ma giữ lấy ngày.

*

Máu chảy đời nay ruột chẳng mềm,

Thù hằn chia cắt nghĩa anh em …

Ta đi … dẫu phải vào sinh tử,

Cũng lấy làm vui nấm mộ tàn

*

Đã quyết vung dao rạch đá thề

Bỏ mình biển cả hoặc sơn khê

Sướng khổ đói no đường đã chọn

Quyết chẳng lùi chân bước trở về …

*

Buồm đã căng rồi, lộng biển khơi

Hồn ta khát bỏng cánh chim trời

Đã quyết ra đi không ngoảnh lại

Tự do hay chết…một đường thôi!

-Chàng Đông Ry Nguyễn

**

GỬI EM NGƯỜI NỮ CHIẾN BINH UKRAINE

*

Thấy bom nổ trên đất người xinh đẹp

Ta tức mình căm ghét lão Putin

Nếu còn trẻ ta ngán gì trận mạc

Sẽ lên đường giáp mặt với đao binh

*

Bạn bè ta cũng đã từng chiến đấu

Rất ngoan cường chống lại lũ xâm lăng

Những thế lực vô thần tay vấy máu

Giỏi tuyên truyền chuyên lừa gạt nhân dân

*

Ráng lên em hãy vững vàng tay súng

Đừng yếu lòng mà tin tưởng ngây thơ

Với độc tài quy hàng là…chán sống

Nền tự do không miễn phí bao giờ

*

Ta rất tiếc không còn trai trẻ nữa

Bên chiến hào chia lửa đạn cùng em

Thơ ta viết là tấm lòng chan chứa

Mong ơn lành các em được bình an

*

Ngày mai đến khi tin mừng chiến thắng

Em trở về trong bao lớp hùng binh

Quăng tay súng cùng chung vai xây dựng

Trời Ukraine nắng đẹp gió thanh bình…

Donry Nguyen

TẾ SỐNG ĐỘC TÀI

*

Trong thời đại văn minh tiến bộ,

Lại bất ngờ xuất hiện thằng điên.

Nuôi tham vọng lên ngôi đại đế

Đạp lê dân dưới gót bạo quyền.

*

Xua quân lính xâm lăng bắn phá,

Gieo hãi hùng bom đạn đau thương.

Miệng nhe nanh những lời dối trá

Mặt lạnh tanh thủ đoạn khôn lường.

*

Cả nhân loại đồng lòng lên án

Thế giới cùng cấm vận bao vây.

Người Ukraine đêm ngày chiến đấu

Vì tự do quyết một trận này.

*

Trời vốn chẳng dung đồ man rợ,

Bọn độc tài phải bị tiêu vong.

Ta viết sẵn một bài văn tế,

Đợi đến giờ lịch sử sang trang.

Donry Nguyễn

NGÀY LỄ ĐỘC LẬP HOA KỲ – BIỂU TƯỢNG CỦA TỰ DO VÀ LÒNG YÊU NƯỚC

Thái Phạm

Ngày 4 tháng 7 hằng năm, người dân Hoa Kỳ cùng nhau kỷ niệm Ngày Độc Lập – một trong những ngày lễ quan trọng và có ý nghĩa sâu sắc nhất trong lịch sử đất nước. Đây là dịp để tưởng nhớ sự kiện ngày 4 tháng 7 năm 1776, khi bản Tuyên ngôn Độc lập chính thức được thông qua, đánh dấu sự khai sinh của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ – một quốc gia được xây dựng trên nền tảng tự do, công lý và quyền bình đẳng.

Trước năm 1776, 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ do Anh quốc cai trị đã chịu nhiều áp bức về thuế khóa và quyền tự quyết. Sau nhiều năm đấu tranh, vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, tại Philadelphia, các đại biểu của 13 thuộc địa đã đồng lòng ký vào bản Tuyên ngôn Độc lập, do Thomas Jefferson chấp bút. Bản tuyên ngôn này không những tuyên bố Hoa Kỳ tách khỏi Anh quốc, mà còn khẳng định những giá trị cốt lõi về nhân quyền và dân chủ.

Ngày Lễ Độc Lập là thời điểm để người dân Mỹ thể hiện lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Khắp nơi trên đất nước, các thành phố lớn nhỏ đều tổ chức diễu hành, bắn pháo hoa, hòa nhạc ngoài trời và các buổi picnic gia đình. Màu cờ đỏ – trắng – xanh xuất hiện khắp nơi, từ trang phục, trang trí nhà cửa đến các sản phẩm tiêu dùng, như một biểu tượng gắn kết tinh thần quốc gia.

Dù trải qua hơn hai thế kỷ, tinh thần của Ngày Độc Lập vẫn còn nguyên giá trị. Đó là lời nhắc nhở về khát vọng tự do, về quyền con người, và về trách nhiệm của mỗi công dân trong việc gìn giữ và phát huy những giá trị mà các bậc tiền nhân đã đổ máu để giành được.

Ngày 4 tháng 7 không chỉ là một kỳ nghỉ lễ, mà còn là một dịp để suy ngẫm: Tự do không phải là điều sẵn có – đó là thành quả của đấu tranh, của hy sinh, và cần được bảo vệ qua từng thế hệ.

Thơ mừng Ngày Độc Lập Hoa Kỳ

Thái Phạm




KIỀU MỸ DUYÊN – Bút Ký: TẠ ƠN TRỜI, TẠ ƠN NGƯỜI, NGƯỜI VẪN THƯƠNG NGƯỜI & TRIỂN LÃM CÂY KIỂNG BONSAI VÀ HÒN NON BỘ NĂM THỨ 26.

***




ĐÔI DÉP LÀO Của Thầy LÊ THÍ – TRƯƠNG CÔNG HẢI

Trương Công Hải và Lê Thí

(Thân gởi các em lớp A8 THPT Trần Phú)

TRƯƠNG CÔNG HẢI

Tàn cuộc chiến, Lê Thí cũng như bao bạn bè trang lứa ở miền Nam đều phải đánh cược số phận mình theo một dòng bị trôi giữa đôi bờ chân lý của cuộc đời.

Niềm hãnh diện về danh xưng là giáo sư trung học của một thời, nay được dùng lại dưới màu áo kỹ sư tâm hồn, nhà giáo không những vui vì được lưu dung mà còn phải lo vá víu lại cuộc đời mình theo những ô đã kẻ sẵn trong tờ tem phiếu.

Là Thầy dạy Sử, ngoài những biên khảo về lịch sử địa phương, Thí còn làm thơ và viết truyện ngắn.

Xin giới thiệu đến bạn đọc một truyện ngắn tiêu biểu để hoài niệm về một thời mà câu nói đùa: “Thầy giáo tháo giày, giáo chức dứt cháo”, thấm thía hơn bao giờ hết.

ĐÔI DÉP LÀO CỦA THẦY LÊ THÍ

Khoảng đầu thập niên 1980, đời sống của người Thầy giáo cực kỳ khó khăn, tôi phải đi xe đạp thồ kiếm thêm tiền mua sữa cho con.

Cứ mỗi 5 giờ sáng là ra đứng đầu đường Hoàng Diệu Đà Nẵng để chờ khách, khi trời vừa rạng sáng, lại bỏ đường Hoàng Diệu vì đây là nơi gần trường đang dạy sợ dễ bị gặp học trò nên đổi xuống đường Lý Tự Trọng hoặc Trần Cao Vân dễ có khách hơn.

Có khách hay không thì cứ đến 10g30 cũng phải quay về nấu cơm trưa để còn lên lớp xuất chiều.

Một sáng nọ, đang gò lưng trên đường Trần Cao Vân về nhà chuẩn bị đi dạy, chợt có một bà cụ dáng ở quê ra đứng đón xe. Vừa mừng vừa lo, mừng vì được một cuốc xe có thêm tiền, lo vì sợ lỡ khách đi xa, về trễ cơm không kịp giờ dạy. Tôi dừng xe rồi hỏi: “Cụ đi mô”. Bà bảo “Đây xuống bến xe Vĩnh Trung mi lấy mấy?”.

Thấy tuyến đi trùng với lộ trình về nhà nên tôi nói: “Đúng giá là một đồng rưỡi, còn chừ cụ cho mấy cũng được, con đang trên đường về nhà mà.” Bà cụ cười giơ hàm răng toàn… lợi và nói: “Thằng ni đi xe thồ mà nói nghe vui hỉ !”

Nói xong bà cụ cúi xuống cầm đôi dép Lào đã mòn gót, cụ bỏ đôi dép vào giỏ xe và nói: “Xuống bến xe mi nhớ nhắc tau lấy đôi dép ni, chớ không phải mi đợi tau quên rồi lấy luôn nghe chưa!”

Tôi cười: “Cụ yên tâm, con không mang dép bằng tay nên không lấy đôi ni mô!”

Lên xe,chuyện qua chuyện lại mới biết bà ở Điện Bàn ra mang cho con trai đang làm công nhân ở cảng một ang gạo, vì nghe nói gạo tiêu chuẩn ăn không đủ, còn bà thì biết tôi là thầy giáo cấp 3 đi xe ôm ngoài giờ để kiếm thêm tiền mua sữa cho con.

Một chặp, tôi nghe bà ngồi sau chép miệng: “Răng ai cũng khổ hết trơn ri hè!”

Đến bến xe Vĩnh Trung, tôi quay lại dặn bà : “Cụ ngồi im, đừng lo, để con tìm xe Vĩnh Điện cho cụ đi.”

Tìm được xe đi Vĩnh Điện, tôi dừng lại, cám cảnh cám người, tôi liền nói với cụ: “Cụ nhớ lấy đôi dép, con chở hộ cụ một đoạn thôi không lấy tiền.” Bà liền giãy nãy: “Thằng ni nói nghe được, tau không trả tiền xe nhưng chờ tau một xí.”

Vừa nói cụ vừa lật lớp áo ngoài rồi mở cây kim băng cài túi áo trong, lấy ra 3 đồng đưa cho tôi. Tôi liền nói “Con nói rồi, con chở giùm không lấy tiền xe mà”. Cụ bà liền la lên: “Tau không trả tiền xe, tau cũng không cho mi, mi có chân, có tay, mi làm mi ăn, tiền ni tau gởi mi đem về mua sữa cho cháu tau, mi không lấy, tau la làng là mi móc túi. Răng? Nhận đi con cho bà vui”.

Nói xong cụ nhét tiền vào túi áo của tôi rồi cắp nách đôi dép Lào đã mòn gót leo lên xe.

Lần đó tôi đứng khóc một mình giữa bến xe Vĩnh Trung cho đến khi chuyến xe rời bến…

Bà ơi, giờ đây bà đang nơi mô, đứa cháu nhỏ năm xưa bà cho tiền mua sữa nay đã là tiến sĩ, giảng viên của một trường đại học danh tiếng ở nước ngoài.

Bà ơi, cho đến hôm nay trong cuộc đời này, từ lúc chia tay con vẫn còn nợ bà… một hộp sữa!

(Lê Thí – Sài Gòn, 26/5/2017)

Đây là một câu chuyện kể không hề có hư cấu, bởi người viết biết rất rõ về tác giả, vì cùng là bạn đồng nghiệp, đồng cảnh ngộ , dạy chung trường vào những năm đầu thập niên 80.

Câu chuyện đơn giản giữa đời thường nhưng nó đã chạm được tới đáy tâm hồn người đọc bởi nét bi hài của một xã hội thời cơ chế.

Hơn nữa, nó được khắc họa như một bức tranh hiện thực xã hội giúp ta thấy được nhiều điều:

* Bà cụ sợ mất đôi dép, chứng tỏ giữa người với người còn thiếu tin nhau, vì một cơ chế đang đưa nền kinh tế hậu chiến tới sự bần cùng.

* Cùng cảnh đói nghèo, con người dễ đồng cảm và xích lại gần nhau hơn. Ông Thầy xe ôm đã chạnh lòng, không tính tiền xe nhưng cụ bà vẫn trả, mà lại trả bằng đồng tiền mang mệnh giá nghĩa tình.

Với khí thế đang lên của ba dòng thác, thì một cụ bà dân dã, một Thầy giáo lưu dung, họ là hai phân số của hai cuộc đời khác biệt gặp nhau trên cùng mặt phẳng đói nghèo, bằng sự đồng cảm, họ đã tự động hòa đồng cùng mẫu số tình người, đó âu cũng là một cách thể hiện tinh thần hữu ái giai cấp vậy, vì khi nước cạn mới biết bèo sát đất.

Là một chuyện kể, nhưng xét về tính cách đặc trưng của nhân vật, hiệu ứng cảm xúc của người đọc và giá trị nhân văn mà câu chuyện mang lại, thì có thể coi đây là một tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn, bởi ngôn ngữ đối thoại trong câu chuyện rất tự nhiên, chân thực và sinh động, nói ít hiểu nhiều. Chính điều này đã khiến tính cách dân dã trong câu chuyện tự nó lột xác, hóa thân thành nghệ thuật, vì chỉ có nghệ thuật mới có khả năng khơi dậy, truyền tải cảm xúc nhanh, giúp ta nhận biết được sự sâu sắc ẩn mình trong những điều tưởng như bình dị và đơn giản.

Phần cuối truyện, tác giả có băn khoăn là đang nợ bà cụ một hộp sữa, phải hiểu đây là một món nợ ân tình, chưa gặp lại để thăm bà với một hộp sữa làm quà. Với thời này, chắc là sữa Ensure.

Điều người viết thích nhất là câu trả lời vừa dí dỏm vừa đủ gây niềm tin khi cụ bà lo bị mất cắp đôi dép: “Cụ yên tâm, con không mang dép bằng tay nên không lấy đôi ni mô!”. Ý nói là con cũng có dép rồi, đôi dép Lào đang mang dưới chân đây.

Như vậy trong câu chuyện kể còn có ẩn thêm một đôi dép nữa, là Đôi Dép Lào Của Thầy Lê Thí, tôi xin chọn câu này để làm tiêu đề cho bài viết của mình.

Nhìn chung, kịch tính của truyện nhẹ nhàng, tạo được nút thắt và cách tháo gỡ đặt căn bản trên hai chữ đồng cảm. Tình huống xử lý của cả hai đều phù hợp với tính cách đặc trưng của từng nhân vật.

Một câu chuyện tưởng như bình thường giữa đời thường nhưng nó hàm ý một thông điệp thấm đẫm tính nhân văn.

Có điều là, khi còn đứng trên bục giảng, ông Thầy xe ôm đã từng gởi nỗi lòng mình qua bài thơ “Gởi Học Trò Ngày Về Hưu “:

“Ngày tôi về, em đứng ở nơi đâu

Có thấy dáng tôi liêu xiêu

Trên hành lang nắng đổ

Em đâu biết bao điều tôi chưa nói

Bao điều tôi giữ lại riêng tôi.

…

Tôi đã diễn tròn vai điều phải diễn

Tôi khóc cười

Trên bục giảng rưng rưng .”

Nhưng còn khi đứng giữa chợ đời thường, qua câu chuyện kể này thì Thí đã không diễn, mà thực sống với tư cách của một nhà mô phạm đi ra từ nền giáo dục nhân bản và khai phóng trước 75.

Bây giờ người viết mới thấu hiểu được một trong những điều Thầy chưa muốn nói, biểu lộ qua khổ thơ cuối cùng của bài thơ cùng tên :

“Em đừng trách

Những điều tôi chưa nói

Chuyện áo cơm

Hèn mọn một kiếp người.”

Phải chăng đây là một góc khuất, một ẩn số cuộc đời mà bạn tôi chỉ muốn giữ lại cho riêng mình.

TRƯƠNG CÔNG HẢI

6/2025.




KIỀU MỸ DUYÊN: CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA – ANA REAL ESTATE – JUNE 25 2025




VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT: VĂN THƠ & Sự Kiện TƯỞNG NIỆM NGÀY QLVNCH 19/06

**

*

VTLV MỪNG NGÀY QUÂN LỰC VNCH 19/06

*

VĂN THƠ Thung Lũng phố Hoa Vàng

LẠC VIỆT – đồng hương đã họp đoàn

MƯỜI CHÍN – Việt Nam thời dũng mãnh

THÁNG JUNE (06)- Quân Lực thuở huy hoàng

Nhớ ơn hào kiệt vào nguy hiểm

Tưởng niệm anh hùng vượt khổ gian

Chiến đấu không sờn quên tính mạng

Tận cùng phút cuối, giữ giang san.

Phương Hoa – BBT VTLV – 19/06/2025

LỊCH SỬ NGÀY 19/06

Ngày 19 tháng 6 năm 1965. Kể từ giờ phút lịch sử này, QLVNCH vinh dự gánh vác thêm trọng trách nặng nề nhất đối với quốc gia, dân tộc. Người Lính VNCH ngoài trách nhiệm “Bảo Quốc-An Dân”, họ còn phải lãnh đạo chèo chống con thuyền Quốc Gia trong cơn bão lửa chiến tranh, trên dòng sông nổi sóng lịch sử, cho đến tháng tư năm 75.

Từ đó, ngày 19 tháng 6, còn gọi là Ngày Quân Lực. Nói đến quân đội, là phải nói đến Người Lính VNCH, những người đã đem cả cuộc đời, hy sinh một phần thân thể và sinh mạng, để bảo vệ hai chữ Tự Do cho Miền Nam Việt Nam, trong cuộc chiến tang thương kéo dài trên 20 năm, bởi cuồng vọng nhuộm đỏ cả quê hương, do tội đồ Hồ Chí Minh và bọn CSBV gây nên.

*Người Lính VNCH “Vì Dân Mà Chiến Đấu, Vì Nước Mà Hy Sinh!”

Kỷ niệm Ngày Quân Lực, hàng triệu người dân miền nam, đã một thời hưởng không khí tự do no ấm, xin kính cẩn Vinh Danh-Tri Ân các anh linh tử sĩ, hơn 250 ngàn Người Lính VNCH đã nằm xuống, những người con yêu của Mẹ Việt Nam, đặt Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm lên trên hết, những người trân quý Tổ Quốc – Dân Tộc, hơn cả mạng sống của mình. Đã vì dân mà chiến đấu, đã vì nước mà hy sinh.

Người Lính VNCH: Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm!

Ngày Quân Lực, để nhớ về Người Lính VNCH, đã một thời chèo chống con thuyền quốc gia, trong cơn bão lửa chiến tranh, Họ đã cắm ngọn cờ Vàng chiến thắng khắp mọi nơi, khắp 4 vùng chiến thuật. Từ giòng sông Bến Hải miền địa đầu giới tuyến, dài xuống tận mũi Cà Mau, phần đất cuối cùng của quê hương. Tạo những địa danh lẫy lừng trong quân sử, bao nhiêu năm đã qua, cuộc chiến đã chấm dứt, vậy mà mỗi lần nhắc tới, địch vẫn còn run sợ. Sợ cả bộ quân phục!

Cao điểm nhất năm 1972, người lính với những trận chiến lẫy lừng: “Cờ bay, cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu, vừa chiếm lại đêm qua bằng máu!…”. Trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa kết thúc, người Lính VNCH đã dùng máu và sinh mạng tạo những chiến công lẫy lừng, làm cả thế giới nghiêng mình kính phục.

Lá Quốc Kỳ lại tung bay khắp mọi miền đất nước, dưới tia nắng ấm thanh bình vừa ló dạng nơi chân trời. Ôi! cũng là lúc Người Lính VNCH, bị đồng minh bỏ rơi, bắt đầu bị trói tay trên bàn cờ chính trị thế giới, để rồi đưa đến cái chết tức tưởi của chính thể VNCH. Quân đội VNCH trở thành một quân lực bất hạnh nhất, trong lịch sử!

 *Người Lính VNCH “Tôi Còn Nợ Anh!”

Ngày Quân Lực, với hơn hai mươi năm khói lửa chinh chiến, xương thành núi, máu thành sông! Người Lính VNCH không bao giờ đòi hỏi Tổ Quốc bất cứ một điều gì. Người Lính chỉ mong đem máu xương, cuộc đời của mình, đổi lấy hai chữ Tự Do cho quê hương dân tộc, cho dù phải trả cái giá đắt nhất là hy sinh mạng sống của chính mình.

Hơn hai mươi năm miệt mài gìm súng canh giữ quê hương. Người Lính VNCH không yêu cầu người dân bất cứ một điều gì cho lợi ích cá nhân. Người Lính chiến đấu chỉ mong muốn nhìn thấy người dân được sống những tháng ngày an vui, hạnh phúc, cơm no, áo ấm, dưới nắng ấm thanh bình, trên quê hương mến yêu, mang tên Việt Nam. 

Tinh Thần Người Lính VNCH Bất Diệt!

Hôm nay, Ngày quân lực, 50 năm sau, những người lính “bên thua cuộc” sau thời gian cải tạo, tù tội, đọa đày trên chính quê hương của mình, hay lưu lạc khắp nơi, nhưng vẫn đem phần đời còn lại, miệt mài tranh đấu. “Những Người Lính năm xưa” không có bất cứ một tham vọng chức vụ nào. Những Người Lính Già xa quê hương, vẫn còn miệt mài góp công sức của mình, chỉ mong sao đất nước thoát khỏi gông cùm, xiềng xích của lũ cộng sản bạo tàn, bán nước, “hèn với gặc, ác với dân,” để người dân Việt Nam sớm có được nụ cười “Dân Chủ-Tự Do-Hạnh Phúc” mãi mãi nở trên môi. Cả đời hy sinh, họ chỉ muốn thế.

“Họ là những anh hùng không tên tuổi.

Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh.

Nhưng can đảm và tận tình giúp nước!”

Với ý nghĩa này, hình ảnh cao đẹp của người lính VNCH, luôn luôn sống mãi trong lòng người dân Việt yêu chuộng dân chủ, độc lập, tự do, dù đã qua hơn nửa thế kỷ!

KQ Lê Văn Hải

CHÀO MỪNG 19 / 6 –     CAO MỴ NHÂN

Từ nơi đây, bên một khung cửa sổ

Thấy bình minh hướng đó đang trở về

Chờ nắng gắt xem chân mây phai đỏ

Tay trên môi chưa nhạt sắc đam mê

*

Nên rạng đông mới vàng mầu áo cũ

Dù hôm nay thực sự hết mùa xuân

Vạt áo còn chứa chan năm tháng nhớ

Tiếng chim quyên tha thiết gọi toàn quân

*

Bức tranh thơ vẽ NGÀY QUÂN LỰC đẹp

Khắp muôn nơi vui khúc nhạc diễn hành

Trên vai anh rỡ ràng ngàn hoa thép

Sắc Cộng Hoà sáng lạn dưới trời xanh

*

Lý tưởng Quốc Gia trong lòng dân tộc

Hơn nhiều lần tay nới rộng vòng tay

Nối tây đông ngọn cờ vàng Độc lập

Sinh nhật anh tháng sáu mười chín đây…

*

       CAO MỴ NHÂN – 18 – 6 – 2025

Chiều Nhạc “Tình Cha, Tình Lính!” NGÀY QLVNCH 19/06 – Do VTLV Tổ Chức, Chủ Nhật Vừa Qua, Thành Công Tuyệt Vời!

*Trên hàng trăm khách tham dự, Quán không còn một chỗ trống!

*Không khí vui nhộn, ý nghĩa, đáng nhớ! Đầy đủ mọi tiết mục vinh danh người Cha nhất: Vòng hoa, quà tặng, bánh kem, bài hát! Gần 50 người Cha, được tặng quà, vinh danh! Sân khấu không còn sức chứa!

*Sân khấu hình có nền đẹp, nước giải khát, bánh mỳ, xổ số, nhạc hay, đóng góp vào sự thành công, của buổi tổ chức!

*Thi phẩm VTLV giới thiệu, được khách tiêu thụ kỷ lục!

Tóm lại, ít có buổi ca nhạc nào, thành công đến như thế! trên cả sự mong đợi của BTC.

Sau đây là lời tường trình ngắn và hình ảnh của MPD:

–Mấy năm nay vào dịp Father’s Day, anh Lê Văn Hải Hội Trưởng Văn Thơ Lạc Việt, đều Mở Rộng Lòng Ra, tổ chức Chiều Ca Nhạc “Tình Cha – Tình Lính, hội tụ rất đông vui, nơi quán Cà phê Lovers, góc đường Quimby Rd thành phố San Jose ấm áp.

Chiều hôm Chủ nhật 15-6-25 cũng vậy, buổi ca nhạc khởi đi từ 2pm, với phần mở đầu là dịp ra mắt tập sách “Người Lính Làm Thơ Như Viết Sử” của Donry Nguyễn, đến từ Nam California, cựu pháo binh VNCH, sinh quán nơi Tuy Hoà, Phú Yên…

Sau đây là một vài hình ảnh buổi chiều Hè vui vẻ, tưng bừng, xin được chia xẻ cùng Quý Vị và Các Bạn xa gần…   

KQ Lê Văn Hải

**

https://www.youtube.com/watch?v=sfmQq8Kqc8I

**

**

**

**

CÚC NỞ VÀNG MEN RƯỢU.      CAO MỴ NHÂN

Sáng nay cúc nở vàng hoa lắm

Mầu cúc vàng tưởng sắc hoàng mai

Nắng chứa chan vàng như cúc rực

Đầy trời mây cúc rỡ ràng khai

*

Mùa về ư, đại hội toàn quân

Huynh đệ chi binh hơn một lần

Có nghĩa nhiều lần vàng cúc gọi

Mai về dựng lại những mùa xuân

*

Người trăm năm cũ dưới cờ vàng

Ẩn hiện uy hùng nếp võ trang

Em vẫn đợi anh trên đại lộ

Diễn hành Quân Lực thật vinh quang

*

Cộng hèn bôi bẩn cả non sông

Áp dụng “tam vô” sống ” đại đồng “

Một lũ vượn rừng về múa rối

Bày trò cướp cuộc, nhục cha ông

*

Sáng nay cúc nở vàng chung tửu

Anh uống cho xong nửa đoạn trường

Ta sẽ cùng nhau quang phục đẹp

Cờ vàng lộng lẫy khắp quê hương…

     CAO MỴ NHÂN 

**

HỎI THẦM NHAU THÔI.    CAO MỴ NHÂN

Chẳng thà đừng nói thương nhau

Thì cho biển cuối sông đầu cũng quen

Đằng này anh vẫn yêu em

Đầu sông cuối biển xa thêm tình buồn

*

Em ngồi chắp vá hoàng hôn

Bao nhiêu tiếc nuối không còn dửng dưng

Hỡi anh yêu dấu bên lưng

Một thời quá khứ ngập ngừng từ ly

*

Chia đôi núi biếc phân kỳ

Mùa Xuân ở lại, anh thì biệt xa

Có gì xa xót bao la

Khiến anh cùng với Sơn hà lặng câm

*

Anh không lỗi, em chẳng lầm

Tại sao phải chịu âm thầm thiệt thua

Đôi vầng nhật nguyệt nắng mưa

Trùng dương khổ lụy,  mình chưa thật lòng…

     Rancho Palos Verdes  5 – 5 – 2025

             CAO MỴ NHÂN

**

NỖI BUỒN.     CAO MỴ NHÂN

*

Đừng ngồi đốt đuốc phả hương thơ

Anh vẫn băn khoăn nén đợi chờ

Ánh lửa lưng trời ngày thắng trận

Bè mây đỉnh núi thủa đan mơ

Thương em chiu chắt tô mầu áo

Ngó bạn nâng niu giữ lá cờ

Cả đám lưu vong mà vẫn thiếu

Một người vận dụng chuyển thời cơ …

           CAO MỴ NHÂN  – 4 – 6 – 2025

**

MỘT GÓC PHỐ.      CAO MỴ NHÂN

Anh đứng lặng yên , góc phố này

Đoàn quân thao diễn đã qua đây

Quốc Quân kỳ lộng trên đường phố

Ngàn cánh  mai tươi  giữa nắng say

*

Nhạc khúc quân hành rộn mãi chân

Giày đinh , mũ trận   ” hội phong vân  “

Xưa anh xứng đáng trai thời loạn

Giờ cứ băn khoăn với ngại ngần

*

Anh biết làm chi , biết nói chi

Bạn bè kẻ ở ngóng người đi

Người đi , kẻ ở đều ngơ ngác

Sao chẳng cùng nhau khoác chiến y

*

Anh lịm người trong nỗi tủi hờn

Xuân qua , hạ tới  , vẫn cô đơn

Thụ sang, đông lại , mù tăm nhạn

Tín hiệu xa xăm nén giận buồn

*

Sinh Nhật Anh, sinh nhật bạn bè

Người tràn như sóng ngập đường xe

Kiêu hùng xưng tụng Ngày Quân Lực

Hoang vắng trưa nay những vỉa hè

*

Hãy gióng hồi chuông , khua trống vang

Hồn thiêng sông núi quyện mơ màng

Đốt trầm xua hết loài ma lửa

Ánh sáng hồi sinh đẹp rỡ ràng  …

     CAO MỴ NHÂN 

**

SỬ HÙNG CHIẾU SÁNG

Mừng ngày quân lực VNCH

Năm mươi năm tưởng Hồ Trường đã cạn

Nào hay chiến y còn rỉ máu oan khiên

Người trai hùng thuở ấy vẫn an nhiên

Niềm tự hào mãi nguyên trên đỉnh nắng

Gót giày anh bùn Xuân Lộc hoen lấm

Tiếng thét xung phong vang dậy trời Nam

Bờ lau khe suối xác thù ngổn ngang

Đại bác xe tăng dịch quân tơi tả

Tiếng súng anh đồi Charlie xối xả

Nhắm tim địch tới viên đạn cuối cùng

Nghe gió hú đáp tiếng gọi núi sông

Viết tên anh vào sử xanh vạn thuở

Bàn chân anh dấu Quảng Trị thành cổ

Chí trai ngất nghễu dựng lại cờ vàng

Khát vọng tự do chiếu sáng ngàn năm

Tuổi trẻ Việt nam vươn vai Phù Đổng

Máu anh nhuộm sàn tàu lửa bỏng

Hoàng Sa đất tổ ai nỡ chia lìa

Dành từng viên đá dựng lai mộ bia

Tổ quốc ghi ơn gia tài của mẹ

*

Thân xác anh vờn theo ngọn gió

Đại bàng gãy cánh giữa chốn thinh không

Hồn anh lửng lơ mây trắng bềnh bồng

Nợ nước tình nhà thân trai lỗi hẹn

Tên anh ghi khắc lá rừng suối vắng

Việt điểu ngang trời đậm nét sử xanh

Máu nở thành hoa chim Việt hiên ngang

Vòng tay Âu Cơ ngàn năm ngọt ấm..

(Ngô Đức Diễm)

BÀI THƠ KÝ SỰ MỪNG NGÀY QUÂN LỰC VNCH & CẢM ƠN VTLV CỦA TÁC GIẢ DONRY NGUYỄN ĐÌNH CHIẾN

KÝ SỰ SAN JOSE
(Mừng ngày QLVNCH 19-6)

Đến San Jose ra mắt tập thơ,
Được tiếp đón bởi Văn Thơ Lạc Việt.
Gặp cơ duyên sắp đến ngày Quân Lực
Lại đúng vào chủ nhật Father’s day.

*

Chị Phương Hoa cười nói: “cậu em may,
Ban tổ chức xếp chung vào một cuộc.
Mời tất cả cứ đúng giờ thưởng thức
Trọn chương trình, mừng người lính, tình cha.”

*

Xen màn đầu phần giới thiệu thơ ca,
Anh Văn Hải đi một đường rất điệu.
Nguyễn Hồng Dũng khi tiếp lời phát biểu
Giọng hùng hồn như truyền Hịch ba quân.

*

Ban hợp ca cất tiếng hát trầm hùng,
Làm không khí nóng bừng vui lễ hội.
Chị Thúy Nga, giọng ngâm thơ vừa trỗi,
Gợi nỗi buồn tưởng nhớ tháng tư đen.

*

Bài Kiêu hùng ca ngợi lính Pháo binh,
Được Minh Thúy ngọt ngào ru giọng Huế.
Chị Phương Hoa, ngược thời gian lần kể,
Nguyên do nào chị giới thiệu Đông ry.

*

Cả hai người đồng nhiệm vụ MC:
Cô Hạnh Thảo và trưởng ban Hoàng Thưởng,
Đã giúp gọi khách mời mua cuốn sách,
Khiến ba nàng thư ký bán liền tay.

*

Những người yêu đời lính tụ về đây,
Mừng gặp gỡ bạn bè và chiến hữu.
Những hồn thơ cùng đắm say vần điệu,
Lắng nghe lòng thổn thức chuyện xa xưa.

*

Tôi chỉ là người lính nhỏ làm thơ,
Ghi lại khúc bi ca mùa loạn sử.
Phút sa cơ quê hương mù khói lửa
Gánh oan khiên trả nợ mối thù hằn.

*

Cả miền Nam cùng chịu nỗi đau chung
Kẻ tù tội, người vượt biên đào thoát.
Và hôm nay, trên xứ người lưu lạc
Chúng ta về, cùng họp mặt tôn vinh.

*

Những anh hùng vì nước đã hy sinh,
Những người lính không may mang thương tích.
Những người cha đã sống đời cơ cực,
Vừa nuôi con, vừa chống trả quân thù.

*

Người trai hùng hào khí đọc câu thơ
Người ca sĩ vì đời dâng tiếng hát.
Buổi liên hoan cung đàn ngân réo rắt
Sưởi ấm lòng lính cũ nhớ quê hương.

*

Xin cảm ơn những bè bạn sơ, thân…
Những chiến hữu, những người yêu của lính.
Xin cảm ơn ban Văn Thơ Lạc Việt,
Đã hết mình ủng hộ tiếng thơ tôi.

*

Mẹ sinh tôi và nuôi lớn thành người,
Còn bạn hữu cho tôi tình thân ái.
Kỷ niệm này tôi sẽ ghi nhớ mãi …
Trong hành trình mai về lại phương nam.

–Chàng Đông Ry Nguyễn.

**

**

VIẾT TRÊN ÁO LÍNH

Khi hoạt động Chiến Tranh Tâm Lý được cải tổ lại, các ngành nghề sinh hoạt quanh phạm trù này, đã được chỉnh trang bổ sung đầy đủ cấp khoản tương đối để làm việc, đáp ứng nhu cầu chiến trường, thì lập tức Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị được hình thành.

Thời gian đầu Tổng Cục CTCT bao gồm mấy nha sở trước, như Nha Chiến Tranh Tâm Lý, Nha Xã Hội, Nha An Ninh, Sở Quân Tiếp Vụ vv…

Sau đổi thành Cục Tâm Lý Chiến, Cục Xã Hội, Cục An Ninh, Cục Quân Tiếp Vụ, thêm Cục Chính Huấn ( hoàn toàn mới). Một thời gian sau, Cục Quân Tiếp Vụ chuyển về Tổng Cục Tiếp Vận. Ít lâu sau, Cục An Ninh cũng xem như tách rời.

Ba phần hành chính của Tổng Cục CTCT còn lại là: Cục Tâm Lý Chiến, Cục Chính Huấn và Cục Xã Hội.

Bên cạnh đó, một quân trường đào tạo sĩ quan CTCT ở Đà Lạt, để cung ứng cho các đơn vị những sĩ quan chuyên nghiệp về ngành đặc biệt này. Ra trường, quý vị sẽ được bổ sung cho các phòng Tâm Lý Chiến và Chính Huấn.

Cũng là cơ hữu của các Cục liên hệ, mỗi cục có một trường lớp riêng trực thuộc, đào tạo nhân viên chuyên nghiệp như trường Xã Hội Quân Đội của Cục Xã Hội chẳng hạn.

Cục Tâm Lý Chiến, phối hợp lãnh thổ cấp vùng, có cácTiểu Đoàn CTCT. Thí dụ như ngoài QĐI/QKI của… tôi, có Tiểu Đoàn 10 CTCT. Tức là cứ mỗi Quân Khu có một Tiểu Đoàn CTCT.

Tôi chỉ kể sơ thôi, chứ đi vô chi tiết, thì dài dòng văn tự nhiều thứ lắm. Thí dụ: Tâm Lý Chiến còn có các Phòng, ban Báo Chí liên hệ, mà tôi sắp từ từ “lẻn” vào các phòng, ban báo chí ấy, để “ú tim oà” bắt gặp cả lô văn nghệ sĩ thứ thiệt.

Quý vị văn nghệ sĩ thứ thiệt “Toạ thiền” trong Cục Tâm Lý Chiến, vàcác phòng, ban TLC địa phương, từ từ xuống tới Đại Đội, thì vị Đại Đội Phó tác chiến còn kiêm nhiệm Đại Đội Phó CTCT luôn.

Tôi may mắn có mặt trong 24 Khoá CTCT cấp Đại Đội phó, để trình bầy về công tác của phần hành Xã hội địa phương, nên thú thiệt, tôi dám thưa với quý vị rằng: Đơn vị trưởng, đôi khi là sĩ quan tá lớn trong Quân Đội VNCH, ông rất giỏi điều binh khiển quan “oánh giặc”, nhưng phải xử dụng một quân nhân các cấp TLC hoặc CTCT, ông đã cho ngồi tạm đâu đó, hoặc xử dụng vào các việc ngoài ngành nghề họ.

Trong tất cả quý tướng và quý tá lớn đã vào ra Tổng Cục CTCT, phải đợi tới khi Trung Tướng Trần Văn Trung đảm nhiệmchức Tổng Cục Trưởng TC/CTCT, mới thấy hoạt động CTCT khởi sắc rực rỡ.

Vị quan sáu thân cận quan yếu của Tổng Cục, là đại tá Hoàng Ngọc Tiêu tức Thi sĩ Cao Tiêu, giữ phần hành Cục Trưởng Cục Tâm Lý Chiến, mới tổng hợp nhiều nhân dáng tao nhân mặc khách trong phạm vì Tổng Cục nói chung, và cục Tâm Lý Chiến nói riêng.

Thi sĩ đại tá Cao Tiêu thực sự là một văn nhân, thi sĩ… tài hoa, vừa có danh tiếng, vừa có tác phẩm, mới tâm phục khẩu phục được phe ta cầm bút.

Nhưng đánh võ mồm giỏi kiểu Trương Lương, thì OK quá chứ.

Ngán nhất là quý văn thi sĩ ta cứ đàm đạo ở cácquán cà phê nổi tiếng, các quán nhậu tà tà…làm thơ tình nhuyễn hơn viết công văn lính tráng thì thật..nản cho nhiệm vụ đấu tranh, ổn định hậu phương để nâng cao tiềm năng chiến đấu ngoài tiền tuyến của CTCT.

Hoá cho nên những vị Cục Trưởng nêu trên, phải chan hòa ưu đãi nhân tài (tài thực), chỉ thị uyển chuyển văn chương ngõ hầu công tác được hiệu quả nhanh chóng.

Một buổi kia, tôi có công tác về trung ương họp “Xã Hội”, đại tá Tham Mưu Phó CTCT nhờ tôi đưa 1 bức thư đến tận tay.

Đại tá Cục Trướng CụcTâm Lý Chiến.

Phần hành tiếp tân trình báo và nói tôi ngồi đợi.

Phòng khách không có ai, tôi hỏi thăm chừng, rồi nói:

Thư của đại tá Tham Mưu Phó ngoài QĐI/QKI, cần nhận hồi đáp ngay.

Phần hành vô văn phòng Cục Trưởng Cục TLC.

10 phút sau, tôi được diện kiến vị cục trưởng, thi sĩ đại tá Cao Tiêu hỏi vừa đủ nghe: “Cô có quen anh em văn nghệ sĩ nào trong này không?”

Tôi lắc đầu tức khắc mặc dầu tôi có quen vài vị bạn thơ từ trước khi tôi đi lính.

Đại tá Cục trưởng vừa coi thư của Đại tá Phan Phiên TMP/CTCT ngoài tôi, vừa nói:

“Uỷ viên thơ của hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội là thi sĩ Viên Lính đấy, Cao Mỵ Nhân quen mà, còn mấy ông dân sự nữa, chắc cũng quen hả?”

Tôi chỉ im lặng nhưng vui vẻ.

Sau đó ra về. Tôi nghĩ đến vị Cục Trưởng nho nhã này, tôi lại nhớ đến bữa tiệc đãi bên Tiểu Đoàn 50 CT CT, Hạnh Phước với tôi buổi đó nhất định không gắp miếng nào giữa cái bàn dài đầy thịt cá thơm lừng, 8 vị văn nghệ sĩ quân đội hiện diện trong bàn tiệc mà cả cái không gian đó, với “tao nhân mặc khách” cứ cười vỡ cả mái tôn lợp trên hội trường, chẳng ai chịu mời ai một câu.

Bấy giờ chúng tôi còn chưa ra trường Cán Sự Xã Hội, tối đó chúng tôi về nhà Phước ăn mì gõ Bình Hoà.

Khi tôi bước ra sân để xe của Cục Tâm lý Chiến, có tiếng người kêu tên mình, người mặc đồ dân sự cười toe nói:

Cao Mỵ Nhân về công tác hả? Nhớ tôi không? Tôi nhìn ra nhà văn Nguyễn Đình Toàn, liền gật đầu chào.

Cứ thế, tôi quên bẵng cái việc in thơ, khi trong tay đã có mấy trăm bài thơ. Thơ về lính lại rất nhiều nữa.

Tại Cục Tâm Lý Chiến có cả nhà in, kể như kiêm luôn phát hành nếu cần yểm trợ.

Phần thì đơn vị ở xa, phần công tác xã hội tại đơn vị và các trại gia binh nhiều quá, tôi không có cơ hội rảnh rang để in thơ qua hệ thống cơ sở xuất bản của Cục Tâm Lý Chiến.

Tuy nhiên các văn nghệ sĩ thứ thiệt lại thích in ấn và xuất bản

ởngoài… để thơ không mang màusắc linh, khó bán vv…

Thành ra có thể nói tôi mê thích danh nghĩa nhà binh hơn hào quang thi sĩ, mặc dầu làm thơ trước khi đi lính cả chục năm.

Lâu nay có dịp trở lại khúc dạo đầu của văn chương chữ nghĩa, giây phút trữ tình lãng mạn thủa thiếu niên xa vời, Cao Mỵ Nhân tôi tưởng như diều gặp gió, bây giờ viết lách thả ga, viết lấy được.

Anh bảo: “cho bù lại tháng năm quên lãng điệu vần, chỉkết chuyện: “một, hai, ba… chúng ta đi lính… bảo vệ tự do, bảo vệ chính nghĩa quốc gia”.

Đoạn anh gật đầu thú vị:” mà phải có căn cơ duyên nghiệp vậy, những huynh đệ chi binh mới tiếp bước quân hành trên mặt trận truyền thông được chớ”

Tôi nhìn anh thật lâu, có thể suýt khóc, là vì có làm thơ lãng mạn tới đâu, tôi vẫn luôn viết trên vạt áo lính…

Anh ngậm ngùi nói như an ủi tôi: Cao Mỵ Nhân là lính rồi, thì làm gì cũng mang âm hưởng lính, đó là điều chung thủy nhất, quý trọng nhất.    

CAO MỴ NHÂN

**

NHÂN NGÀY QUÂN LỰC, TƯỞNG NHỚ…ANH TÔI! CÁI CHẾT CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH VNCH!

-Ngày 13 Tháng 8 năm 1971, trưa hầm hập nóng. Cái nóng của Sài Gòn, hừng hực mái tôn, như chảo lửa đun… sôi. Chiến tranh… khói… khói… lãng đãng mặt người. Trong căn nhà trọ trong hẻm 482 đường Phan Thanh Giản Sài Gòn, mình nằm chịu trận như một con cá mắc cạn, ngóc lên mà thở trong cuộc chiến khốc liệt nầy… thì nhận được thơ anh. Bức thơ nhầu nhĩ, bì thơ là một tờ giấy, người viết chỉ việc viết vào mặt sau, xếp lại, rồi đề địa chỉ ở mặt trước, có in tem sẵn, dán lại, gởi đi cho nó gọn mà những người lính từ mặt trận thường dùng để gởi về thân nhân là ba, má, vợ hay người yêu hoặc mấy đứa em thơ ngây còn ở hậu phương. Thơ anh viết từ ngọn núi Ba Hô nào đó, khoảng 17 cây số đường chim bay về phía Tây Bắc Quảng Trị, án ngữ đường 9 Nam Lào. Ai kiểm soát độ cao nầy là kiểm soát đường chuyển quân phía dưới. Và muốn tấn công, xâm nhập vào Quảng Trị thì phải tìm cách nhổ sạch quân trú phòng ở đỉnh Ba Hô! Anh nói những ngày ở đây thật là gian khổ và ác nghiệt nhưng gian khổ nhứt là đi lấy nước vì địch quân rình bắn sẻ. Anh nói: Gió Lào mùa nầy ác nghiệt cũng không kém mấy thằng Bắc Quân bên kia núi rình bắn lén. Bầu trời trên đầu, ngày lại ngày, không một đám mây, không mưa… khô khốc! Nước!

Đại đội 1, Tiểu đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến của anh nằm trên đỉnh Ba Hô đó. Anh không biết ngày về vì hành quân liên miên như vậy và đóng chốt ở đây không biết đến bao lâu mới có đơn vị khác đến thay?

Thơ anh đến, chưa kịp trả lời, thì 21 tây, xác anh đã về tới. Người anh bà con bạn dì, trên chiếc xe Honda, mượn của thằng bạn học khác, chở mình lên Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Chạy trong cái nắng đổ lửa của Sài Gòn mà không nghĩ gì hết. Không tin gì hết. Đầu óc như cứng lại, khô khốc, đặc quánh lại… như cơn gió Lào vi vút, u u… thổi ngoài kia của dãy Trường Sơn.

Xe qua tượng Thương Tiếc, quẹo vào con đường vòng cung. Phía trên đồi là Nghĩa Dũng Đài sừng sững, rồi ngừng lại ở tiền sảnh của Nhà Quàn Liên Đội Chung Sự Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa! Không có ai chỉ dẫn. Như linh tính của tình anh em ruột thịt, mình đến ngay chiếc quan tài hình chữ nhựt màu xanh biển thẫm, đã phủ quốc kỳ. Đầu hòm có một chữ Hán không hiểu nghĩa là gì? Anh bà con đi chung đang học năm thứ hai Văn Khoa nói: “Chữ Thượng nghĩa là trên. Đầu nó nằm đây nè!”

Mặt trước quan tài có đính một tờ giấy. Trên đó viết vài hàng chữ: Cấp bậc: Thiếu Úy. Họ tên: Đoàn Xuân Hòa. Sanh ngày 14 tháng 9 năm 1949. Đại đội Phó, Đại đội 1, Tiểu Đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến. Tử trận ngày 15 tháng 8 năm 1971 tại Quảng Trị.

Nằm kế bên anh là Chuẩn Úy Lê Định, sanh năm 1952, sanh quán Huế, cùng chung đơn vị. Phía sau lưng anh là khoảng hai mươi chiếc quan tài nữa, chia làm hai hàng, có một vài cái thuộc Sư Đoàn 5, còn bao nhiêu đều là lính Đại Đội 1 với anh. Sau nầy, nghe kể lại, ngày 15 tháng 8 một trận đánh khốc liệt đã xảy ra trên đỉnh Ba Hô giữa bộ đội quân chánh quy Bắc Việt và Đại Đội của anh. Đại Đội bắn hết đạn, bị tràn ngập. Trận đánh xáp lá cà bằng lưỡi lê đã diễn ra và kết thúc bằng phi cơ phản lực đến ném bom. 24 chiến sĩ Đại Đội 1 Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng Cảm Tử tử trận! 24 chiến sĩ ngã xuống và bao nhiêu vành khăn tang đội lên đầu của thân nhân tử sĩ? Nào ai biết được con số chính xác. Nỗi đau người lính không còn đau nữa, đã đền xong nợ nước, mà nỗi đau của cha mẹ, vợ con, anh em của người chiến sĩ thì còn đau mãi đến tận bây giờ!

Quanh quẩn bên chân anh, nhang tàn rồi thắp nhang khác, nến tàn rồi đốt ngọn nến khác. Một cọng chân nhang, cắm vào đó một điếu thuốc thơm! Mời luôn những người đồng ngũ của anh mỗi người một điếu! Hà tiện chi nữa! Hết thuốc, lại dốc hết tiền trong túi ra, xuống câu lạc bộ nhà quàn mua cho anh hút trước khi xác thân các anh về với đất. Phía sau tiền sảnh là một căn phòng tối lù mù, chiếu sáng bằng những ngọn đèn tròn, vàng vọt. Rồi có tiếng trực thăng sơn chữ thập hồng, phầm phập xuống bãi đáp. Hai người lính cứu thương, quân y, bước ra, chuyển từ trong trực thăng xác một người lính thuộc Sư Đoàn 5, phù hiệu ngôi sao trắng và số 5 màu đỏ máu trên tay áo!

Xác tử sĩ nằm trên băng ca, một tay thòng xuống, còn đòng đưa theo nhịp đi của hai người lính đang khiêng… chứng tỏ anh vừa mới chết, xác hãy còn nóng hổi, chưa lạnh, nên chân tay hãy còn dịu nhỉu. Quần áo trận của anh vẫn còn ướt sũng và vấy đầy bùn đất! Xác anh được mang vào phòng và những người lính Quân Nhu thuộc Liên Đội Chung Sự xúm lại làm phần việc của mình trong im lặng. Trước hết dùng kéo cắt quần áo trận ra để tắm rửa cho tử sĩ lần cuối. Cái vòi nước xịt vào khuôn mặt giờ hơi tai tái nhưng vẫn còn lật qua lật lại được theo tia nước. Sau đó là lau khô xác, hớt tóc cho ngắn gọn, dùng phấn và son tô lại khuôn mặt, môi người tử sĩ để thân nhân nếu có lên nhìn mặt cho đỡ tủi. Mặc cho người lính vừa ngã xuống một bộ ka ki vàng còn hồ cứng. Công đoạn cuối cùng là đổi cáng. Hai chiếc thẻ bài đeo trên ngực tử sĩ được rứt ra. Một sẽ giao lại cho thân nhân và một gắn trên đầu hộc tủ, một trong khoảng ba trăm cái của phòng lạnh, để biết mà mở ra cho thân nhân lên nhận diện Năm giờ chiều thì Ba, Má dẫn mấy đứa em từ Mỹ Tho lên. Lúc đó thấy Má đi không nổi nữa. Chân như khuỵu xuống; phải tựa vào vai Ba mà bước! Mấy đứa em còn nhỏ quá nhìn quanh… ngơ ngác. Thấy Má như vậy, nước mắt mình bây giờ, trưa tới giờ có khóc được giọt nào đâu, mới trào ra như suối:

“Ảnh nằm đây nè! Má!”

Má chỉ kêu: “Con ơi!” Rồi khóc! Nghe thảm làm sao! Ba chỉ im lặng, không nói gì, mặt nhăn nhúm lại!

Đêm xuống, Ba, Má và mấy đứa em vô nhà khách nghỉ để bình minh, rạng sáng mai đưa xác anh về quê cũ. Mình không ngủ được, mặc chiếc áo ba-đờ-xuy cho đỡ lạnh. Trên đồi, gió nhiều quá, thổi u…u. Mình ngồi bó gối, dưới chân anh. Nhang tàn thắp khuya. Thuốc tàn lại đốt. Tiếng con vạc sành bám trên nóc sảnh lâu lâu lại rơi xuống, đập cánh xè xè, nghe như hơi người chết từ những chiếc quan tài chập chờn ánh nến, thoát ra.

Nhìn lên đồi cao nơi mộ ông Tướng Đỗ Cao Trí đèn thủy ngân sáng choang. Nhìn xuống dưới, những hàng bia mộ người chết trận… lặng im… chìm trong tối. Dọc đường từ nhà quàn vào khu gia binh của Liên Đội Chung Sự, những mảnh ván quan tài đang đốt dở, cháy leo lét trong gió. Những mảnh ván quan tài đang cháy dở là do việc thân nhân mướn những người thầu tư nhân rửa xác tử sĩ lại để còn nhìn mặt lần cuối. Hòm cũ bỏ đi, sau đó xác được đặt vô cái hòm kẽm mới, hàn chì lại để ngăn mùi tử khí không thoát được ra ngoài, có người nằm lại nghĩa trang cùng đồng đội, có người được mang về quê an táng.

Ba không muốn khui nắp quan tài anh ra nữa, không phải sợ tốn tiền. Mà ba sợ ảnh chết như vậy chắc không còn nguyên vẹn gì… mà nếu Má nhìn thấy thì làm sao chịu cho nổi!

Hai là hy vọng người tử sĩ nằm đó không phải là xác của con mình. Một hy vọng hão huyền là có thể ngày nào đó anh sẽ về, gặp lại Ba, gặp lại Má chăng? Rõ ràng hy vọng đó chỉ là ảo vọng; dù vậy Ba vẫn còn ráng nắm níu, ráng mà bám víu theo?!

Sáng hôm sau, một bán tiểu đội lính, 6 người, ông Trung Úy già, Trưởng Hậu Cứ Tiểu Đoàn chỉ huy và chiếc GMC mười bánh đến! Những người lính kê vai, vác, đưa chiếc quan tài lên xe! Và anh về quê cũ. Tiếng kèn đồng nghe u uất. Trước đầu xe có tràng hoa cườm và băng vải tím.

Người yêu anh, chị Loan, y tá Bệnh Viện Lê Hữu Sanh của Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, nức nở: “Anh Hòa ơi! Anh Hòa ơi!” lúc di quan! Tình nồng thắm của anh chị như bọt nước đã đành tan theo vận nước sau đó.

Lại theo xác anh. Xe qua những đường phố Sài Gòn nhộn nhịp. Người lính tử trận… lẳng lặng đi qua. Có người dừng lại, chào kính xác người chiến sĩ. Có người dừng lại, ngả nón cúi đầu! Đa số vẫn tiếp tục đi. Và xe chở xác vẫn đi!

Mang anh về lại quê nhà, Mỹ Tho… nơi, anh vì nước phải bỏ nó mà đi chỉ mới có 4 năm! Mình không nghĩ được gì hết! Cuộc chiến tranh nầy ai gây ra ư? Tại sao vậy? Làm sao cắt nghĩa được tham vọng của một lũ điên? Chỉ biết một điều là một thanh niên mới vừa xong trung học là lên đường nhập ngũ, từ Mỹ Tho ra tận Miền Trung gió Lào khô khốc thổi, rồi ngã xuống ở Đỉnh Ba Hô nào đó của Quảng Trị để ngăn chận Bắc Quân tràn vào thị xã.

Ngày 25 tháng 8, ôm tấm di ảnh của anh, thằng em kế, thứ năm, nối bước theo sau, trên hai tay là chiếc gối nhỏ, màu vàng viền đỏ, màu cờ, có cặp lon trung úy và chiếc bảo quốc huân chương đệ ngũ đẳng kèm anh dũng bội tinh với nhành dương liễu, đưa anh đến huyệt mộ! Thòng dây đưa quan tài anh xuống kim tĩnh mà mấy ông thợ hồ vừa mới xây xong, xi măng chỉ vừa kịp khô nước.

Ba loạt tiếng M-16 bắn chỉ thiên, chào vĩnh biệt người chiến sĩ.

Lại tiếng kêu khóc của người yêu anh ở giờ hạ huyệt: “Anh Hòa ơi! Anh Hòa ơi!”

Đất lấp lại! Và năm ấy mình vừa 20 tuổi. Ngày chôn anh, ngày 25 tháng 8, là ngày sinh nhựt của mình!

(Khuyết Danh)

**

MỘT CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG: CUỘC SỐNG CỦA MỘT THƯƠNG BINH VNCH.

Sáng nào cũng thấy thằng nhỏ cầm cái lon đứng chầu chực trước quán ăn. Tôi để mắt theo dõi thì hễ thấy thực khách vừa kêu tính tiền thì thằng bé chạy vào nhìn vào những cái tô, nếu còn thức ăn dư mứa thì nó vội vã trút vào cái lon rồi chạy ra ngoài đứng ngóng tiếp.

       Khi cái lon gần đầy thì nó biến mất, chập sau thấy nó lại có mặt thập thò trước quán tiếp tục. Bàn tôi ngồi thì đứa bé không bao giờ quan tâm tới, vì mỗi sáng tôi chỉ đủ tiền uống 1 ly xây chừng vì tôi cũng nghèo cải tạo mới về sáng nhịn đói ngồi uống cà phê đen như một cái thú hay một cái tật không bỏ được.

       Cứ thế, mà hơn một năm tôi mới quen được và tìm hiểu chút ít về hoàn cảnh gia đình của đứa bé. Tôi cố tình làm quen với thằng bé nhờ hôm ấy trời mưa, thằng bé đứng nép vào trong quán. Thằng bé đứng nép vào ngày càng sâu hơn trong quán vì mưa ngày càng lớn chỉ cách tôi chừng độ nửa thước. Tôi vói tay kéo nó ngồi xuống bàn và hỏi nó có thích uống cà phê không?

       Thằng bé lắc đầu lia lịa và nói không uống. Tôi hỏi nó làm gì ngày nào cũng ra đây? và hiện sống với ai? Thằng bé như đoán được rằng: tôi chỉ là người khách ghiền cà phê nặng nên hàng ngày đóng đô ở đây nên nó cũng trả lời nhanh nhẹn rằng:

image.png

– “Con sống với ba má con, Ba con đi làm xa còn Má con đi phụ buôn bán ở ngoài chợ…”

Tôi hỏi tiếp:

– “Còn con có đi học không ?”

Thằng bé nói:

– “Con không có đi học… con ở nhà phụ với má nuôi heo…”.

       Đó là lý do để nói lên sự hiện diện hằng ngày của nó nơi quán ăn nầy. Nghe thằng bé nói như thế, tôi nói với chị chủ quán ăn giúp cho nó lấy những cơm và thức ăn thừa, và cũng từ đó nó không còn đứng lúp ló ngoài cửa quán nửa. Và nhờ tánh tình hiền hậu thật thà chị chủ quán cho nó vô phụ dọn bàn đề lấy thức ăn dư mang về và cho nó ăn uống để phụ việc. Từ đó tôi và nó gần gũi nhau hơn và thân với nhau lắm.

Có lần thằng bé hỏi tôi:

– “Chú làm nghề gì vậy hả chú?”

Tôi chỉ trả lời ngắn gọn là “Chú đang làm thinh”.

       Đúng vậy mới cải tạo về mà, vợ con thì đã theo bên ngoại vượt biển hết rồi, nghe đâu đã định cư bên Úc, nay về ở với mẹ già ngày 1 buổi cà phê hai bửa cơm độn qua ngày. Thời gian ngột ngạt chậm chạp trôi qua, may mắn vợ chồng tôi đã bắt liên lạc được với nhau. Thế là những bữa cơm không còn ăn độn khoai củ hay bo bo nữa nhưng vẫn quen cử sáng cà phê quán gần nhà.

       Không biết chị chủ quán có bỏ bùa mê hay tôi ghiền chổ ngồi mà không bữa nào vắng tôi. Một hôm, tôi đề nghị theo thằng bé về nhà nó chơi cho biết vì nó nói ở cũng gần không xa lắm. Thấy nó do dự và tỏ vẻ sợ sệt, tôi biết ngay nó đang dấu diếm điều gì.

       Thương nó lắm, tôi dúi tiền cho nó hoài. Mấy hôm sau tôi lẳng lặng đi theo nó khi nó mang cơm và thức ăn dư về nhà buổi trưa. Khi thấy nó lủi vô một cái chòi nhỏ xíu thì tôi thật sự không ngờ. Đứng dưới gốc cây Gòn cách nhà nó không xa tôi thầm nghĩ, nhà chút xíu như vậy gia đình 3 người ở thì chổ đâu mà nuôi heo. Tôi đang đứng suy nghĩ đốt cũng hết mấy điếu thuốc thì thằng nhỏ lục tục xách lon xách nồi đi ra quán để thu dọn thức ăn buổi chiều.

       Đợi thằng bé đi khuất tôi lò mò đến nơi mà hồi nãy nó vào. Đến đó mới nhìn rõ thì thật ra đâu có phải là nhà, một lõm trống được che dựng lên bằng những phế liệu đủ loại muốn chui vào phải khom mọp xuống. Nghe thấy có tiếng chân dừng lại, có tiếng đàn bà vọng ra hỏi. Tôi trả lời là đi kiếm thằng Tuất, thì nghe giọng đàn ông cho biết nó vừa đi khỏi rồi, và hỏi tôi là ai, mời tôi vào…. Vừa khom người chui vào tôi mới thật sự không ngờ những gì hiển hiện trước mắt tôi.

       Người đàn ông hốc hác cụt hai giò tuổi cũng trạc tôi nhưng trông yếu đuối, lam lũ và khắc khổ lắm. Một người đàn bà bệnh hoạn xác xơ cả hai đang ăn những thức ăn thừa mà thằng bé vừa mới đem về. Vừa bàng hoàng, vừa cảm động vừa xót xa, nước mắt tôi bất chợt tuôn rơi mặc dù tôi cố nén…

       Từ đó, tôi hiểu rõ về người phế binh sức tàn lực kiệt sống bên người vợ thủy chung tần tảo nuôi chồng bao năm nay giờ mang bịnh ác tính nặng nề thật đau xót. Tôi móc hết tiền trong túi biếu tặng và cáo lui. Về đến nhà tôi vẫn mãi ám ảnh hoàn cảnh bi thương của gia đình thằng bé mà tôi bỏ cơm nguyên cả ngày luôn.

       Sáng hôm sau ra uống cà phê, thằng bé gặp tôi nó lấm lét không dám nhìn tôi vì nó đã biết trưa hôm qua tôi có tới nhà nó. Nó thì tỏ vẻ sợ tôi, nhưng tôi thực sự vừa thương vừa nể phục nó nhiều lắm. Tôi kêu nó lại và nói nhỏ với nó tại sao không cho tôi biết.

       Tội nghiệp nó cúi đầu im lặng làm lòng tôi thêm nỗi xót xa. Có khách kêu trả tiền, như có cơ hội né tránh tôi nó chạy đi dọn bàn và tiếp tục công việc thu dọn thức ăn. Hèn gì sau nầy nó để thức ăn dư phân loại đàng hoàng lắm. Tội nghiệp hoàn cảnh của thằng bé mới mấy tuổi đầu mà vất vả nuôi cha mẹ theo khả năng chỉ tới đó. Cha là một phế binh cũ trước 75 cụt hai chân, mẹ thì bị bệnh gan nặng bụng phình trướng to khủng khiếp và cặp chân sưng vù lên đi đứng thật khó khăn, nước da thì vàng mét như nghệ. Thằng bé là lao động chánh trong gia đình, nó có hiếu lắm. Từ đó tôi thường cho tiền đứa bé mua bánh mì cơm gạo về nuôi cha mẹ.

       Vợ tôi làm thủ tục bảo lãnh tôi sang Úc. Ngày tôi đi tôi đau xót phải để lại hai nỗi buồn đó là để mẹ và em gái lại quê nhà và không còn cơ hội giúp đỡ thằng bé nữa. Sang Úc định cư, tôi sống tại tiểu bang Victoria mấy năm đầu tôi hết sức cơ cực vì phải vật lộn với cuộc sống mới nơi đất mới và đối với tôi tất cả đều mới mẻ và xa lạ quá. Từ ngôn ngữ đến thời tiết đã làm tôi lao đao không ít. Thỉnh thoảng tôi gởi tiền về nuôi mẹ và em gái không quên dặn em gái tôi chuyển cho thằng bé chút ít gọi là chút tình phương xa.

       Mấy năm sau tôi về thăm gia đình, tôi có ghé tìm thằng bé thì nó không còn lấy thức ăn trong quán đó nữa. Tôi mới kể rõ hoàn cảnh thằng bé cho chị chủ quán biết. Chị chủ quán đôi mắt đỏ hoe trách tôi sao không cho chị biết sớm để chị tìm cách giúp gia đình nó. Tôi chỉ bào chữa rằng tại thằng bé muốn giấu không cho ai biết! Tôi ghé vội qua nhà thằng bé thì mới hay mẹ nó đã qua đời vì căn bệnh ung thư gan.

       Chỉ còn chèo queo một mình ba nó ở trần nằm một góc trông hết sức thương tâm. Hỏi thăm thì mới biết nó đã xin được việc làm đi phụ hồ kiếm tiền về nuôi cha. Chúa nhật tôi tới tìm thằng bé, chỉ mới có mấy năm mà nó đã cao lớn thành thanh niên rất đẹp trai duy chỉ đen đúa vì phơi nắng để kiếm đồng tiền. Tôi dẫn nó trở ra quán cà phê cũ, thấy nó hơi ái ngại, tôi trấn an là bà chủ quán tốt lắm tại không biết được hoàn cảnh gia đình nó. Ra đến quán ăn chị chủ quán năn nỉ nó về làm với chị, dọn dẹp và bưng thức ăn cho khách nhẹ nhàng hơn đi phụ hồ và chị sẽ trả lương như đang lãnh bên phụ hồ, tối về thức ăn thường bán không hết chị cho đem về nhà dùng khỏi phải mua hay đi chợ. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc, chị chủ quán cũng khóc theo làm tôi phải đứng dậy bỏ ra ngoài để khỏi phải rơi nước mắt vì chịu không nỗi.

image.png

      Thằng Tuất vừa khóc vừa nói: “Sao ai cũng tốt với gia đình con hết đó, nhưng vì con đang làm phụ hồ cho anh Năm, anh ấy cũng tốt lắm giúp đỡ gia dình con nhiều lắm, sáng nào cũng mua cho ba con gói xôi hay bánh mì trước khi tụi con đi làm. Con cũng mang ơn ảnh nhiều nên con không thể nghỉ được, con xin lổi”. Không biết thằng Tuất nó nói thật hay nó ái ngại khi quay về chỗ mà ngày nào cũng cầm cái lon chầu chực trút đồ ăn dư về nuôi cha mẹ. Phải thông cảm nó, phải hiểu cho nó, phải cho nó có cái hiện tại và tương lai tốt hơn, đẹp hơn ngày trước. Chị chủ quán vừa gạt nước mắt vừa nói “Bất cứ lúc nào con cần đến cô thì con đừng ngại, cho cô biết nhé”…

       Đời này cũng còn có những hoàn cảnh bi đát ít ai biết đến, và cũng có những đứa con xứng đáng như thằng Tuất. Ngày về lại Úc, tôi đến biếu hai cha con nó hai triệu đồng, thấy nó và ba nó mừng lắm tôi cũng vui lây. Không biết phải giúp gia đình nó như thế nào, tôi chụp hình ba nó, photo giấy tờ ba nó đem về Úc gởi cho Hội cứu trợ thương phế binh bị quên lãng trụ sở ở Sydney. Mấy tháng sau nhận được thư ba thằng Tuất viết qua, ông quá vui mừng khi được Hội bên Úc giúp đỡ gởi tiền về, ông cho biết suốt bao nhiêu năm qua lần đầu tiên ông thấy được niềm hạnh phúc khi cuộc đời phế binh của ông còn có người nhớ đến. Không biết ông ấy vui bao nhiêu mà chính tôi cũng hết sức vui mừng khi thực hiện một việc làm đem niềm vui đến cho những người phế binh sống hết sức đói nghèo bên quê mẹ.

       Tôi xin cảm ơn cả hai: người chiến sĩ vô danh sống trong hẩm hiu và Hội cứu trợ thương phế binh đã thể hiện tình người trong công việc hết sức cao cả này.

(Minh Tạo)

**

***

Canh bạc chưa chơi mà hết vốn

Cờ còn nước đánh phải đành thua (*)

Vào ngày cuối cùng của cuộc chiến, khi mà mọi giới đều hiểu rằng không còn gì có thể cứu vãn được nữa

thì người chiến sĩ VNCH vẫn chiến đấu dũng cảm. Một vài tài liệu sau đây cho chúng ta khẳng định như thế:

1/ Tài liệu của Không Lực Hoa Kỳ – chương trình di tản “Frequent Wind” có viết rằng: Trong khi phi trường bị tấn công thì 2 chiếc Al (Skyraider chiến đấu có cánh quạt của Không lực VNCH) đã bay lượn trên không phận Saigon để truy lùng các vị trí pháo kích của địch. Một trong hai chiếc bị hỏa tiễn SA-7 bắn hạ,

Trong khi đó, nhiều người đã không e sợ, đổ xô ra ngoài để nhìn một chiếc phi cơ “Rồng lửa” AC-119 đang nhào lộn và xả súng (đại liên 6 nồng Gatling) bắn một vị trí của bộ đội Bắc Việt ở ngay gần cuối hướng đông Tân Sơn Nhất. Vào khoảng 7 giờ sáng 29/4, chiếc phi cơ anh dũng của VNCH đã bị trúng hỏa tiễn SA-7 của địch và bốc cháy rồi đâm nhào xuống mặt đất.

Trong một bức thư của một phi công VNCH gửi cho Clyde Bay ở Trung Tâm Di Tản Nha Trang, kể lại chuyện những phi công của Không Lực VNCH vào sáng ngày 29 tháng 4, vẫn tiếp tục thực hiện các phi vụ tấn công vào các đoàn xe tăng địch, khi chúng tiến về phía thủ đô Saigon. Theo lời của Trung Úy Coleman “ít nhất những người này đã là những chiến sĩ đã chiến đấu một cách anh dũng và hi sinh đến giọt máu cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp, trong một trận chiến biết chắc là thua, nhưng vẫn sẵn sàng hi sinh”.

2/ Tài liệu trích trong cuốn Việt Nam và Chiến Lược Domino của Bạch Long (từ trang 312 đến 314) Nhưng sự bất ngờ cho Cộng Sản đã xảy ra ngay tại cửa ngõ vào Saigon. Khoảng gần một ngàn chiến sĩ của Chiến đoàn 3 Biệt Kích Dù và một số biệt kích, Nhảy Dù và quân nhân khác, có nhiệm vụ bảo vệ bộ Tổng Tham Mưu từ ngày 26 tháng 4, đã sẵn sàng chờ “đón” quân Cộng Sản. Trong ngày 29 tháng 4, tướng Lâm Văn Phát đã có can đảm đứng ra nhận chức tư lệnh Biệt Khu Thủ Đô với mục đích cầm quân chiến đấu bảo vệ Saigon. Tướng Phát đã ra lệnh cho các cánh quân Nhảy dù, Biệt Cách, Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến… phải ngăn chận quân Cộng Sản kéo vào Saigon từ hai ngả tư Bảy Hiền và Hàng Xanh… Tướng Phát kể lại rằng ông chỉ còn vỏn vẹn 60 xe tăng M-41 và M-48 với những đơn vị lẻ tẻ để đối đầu với 16 sư đoàn Bắc Việt và 3 sư đoàn Việt Cộng với hàng

ngàn xe tăng, đại pháo và tấn công từ hai ngả vào Saigon.

Nhưng dù ở trong tình thế tuyệt vọng như vậy, tướng Phát và những người đầu hàng. Họ vẫn phải chiến đấu đến cùng! (Cần phải nói rằng các đơn vị lớn Thủy Quân Lục Chiến cực kỳ anh dũng và đã bị tan rã gần hết trước ngày 30 tháng, ở vùng Một và vùng Hai, và trong những trận rút bỏ khác.) Những người lính chiến đấu này không có…radio! Họ không cần biết rằng quân Cộng Sản đang thắng thế. Họ không cần biết tổng thống tạm thời Dương Văn Minh đang sửa soạn đầu hàng, dâng miền Nam cho Cộng Sản. Họ không cần biết rằng tình hình đã hoàn toàn tuyệt vọng, không còn một chút hi vọng ngăn chân quân đội Bắc Việt. Họ chỉ biết chiến đấu chống Cộng và tiêu diệt quân Cộng sản, và hình như họ chưa bao giờ có tư tưởng bỏ chạy hay đầu hàng! Họ hờm súng đợi quân thù Cộng Sản và sẵn sàng nhả đạn. Các xe tăng Cộng Sản hứng những loạt đạn đầu tiên và bất ngờ. Trong thành phố đang hỗn loạn tinh thần, tiếng đạn nổ như mưa bão xen lẫn với tiếng súng lớn, đã làm cho sự hỗn loạn gia tăng.

Trong thời gian thật ngắn khoảng hơn 1 giờ đồng hồ, 17 xe tăng Cộng sản bị trúng đạn cháy đen nằm rải rác từ Ngả tư Bảy Hiền đến cổng trại Phi Long và đến đường Cách Mạng… Pháo tháp xe tăng T-55 bằng thép dầy 12inches (30 phân tây) bị bắn thủng như bằng…bột, chứ không phải bằng thép! Lỗ đạn không lớn lắm. Hình như vào giờ chót người Mỹ viện trợ cho một loại súng bắn xe tăng đặc biệt, loại 106 ly (?), để bắn xe tăng. Đạn xuyên phá qua thép dầy nhất và lực cản của thép đã làm cho nhiệt độ gia tăng tới gần 3000 độ C, nướng chín quân lính Cộng Sản ở trong xe tăng Cánh quân Cộng Sản từ Long Khánh kéo về Saigon qua Hàng Xanh, Thị Nghè bọc xuống trước Sở Thú để tiến vào dinh Độc Lập thì bị quân Nhẩy Dù án ngữ. Quân Nhẩy Dù bị dồn về bảo vệ vòng đai Saigon. Họ không còn việc gì khác hơn là chiến đấu đến cùng từ đường vòng đai xa lộ Đại Hàn đến ngã tư Hàng Sanh về đến đại lộ Thống Nhất, nhà thờ Đức Bà. Hầu như những cánh quân Cộng Sản đầu tiên tiến vào Saigon theo ngả này đều bị Nhảy Dù tiêu tiệt hết. Tổng cộng trong khoảng từ 7 giờ sáng đến 10 giờ 15 ngày 30 tháng 4, khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, hơn 20,000 quân Bắc Việt, 32 xe tăng và gần 30 quân xa (Molotova) chở đầy lính Cộng Sản bị bắn cháy, chết hết, trong phạm vi thành phố Saigon. Tất cả hai cánh quân Việt cộng đều khựng lại.

Bộ chỉ huy Cộng Sản cuống cuồng vội giục Dương Văn Minh phải đích thân ra lệnh cho tướng Lâm Văn Phát, thiếu tá Tài để ra lệnh cho Biệt Cách Dù và quân Nhảy Dù ngưng chiến đấu. Tất cả những người lính chiến đấu can trường nhất của VNCH lúc đó mới hiểu rằng miền Nam đã bị kẹt vào cái thế phải thua. Họ ném bỏ súng đạn trút bỏ quần áo trận và lẫn lộn vào dân chúng, tìm đường về nhà.

Một câu chuyện khác do tướng Lâm Văn Phát kể lại là sau khi Dương Văn Minh điện thoại cho ông phải ra lệnh ngưng bắn thì ông xuống dưới nhà. Dưới chân cầu thang, một người Quân Cảnh đã đứng nghiêm chào ông và nói: “Vĩnh biệt thiếu tướng”, rồi rút súng bắn vào đầu tự tử

Khi vị tư lệnh cuối cùng của Biệt Khu Thủ Đô đến Tổng Tham Mưu thì thấy chung quanh cột cờ lớn có khoảng hơn 300 binh sĩ Biệt Cách và sĩ quan chỉ huy họ đang đứng thành vòng tròn và hờm súng vào… lưng nhau, sẵn sàng nhả đạn tự tử tập thể. Tướng Phát phải nói với họ trong nước mắt rằng quân đội VNCH đứng vững cho đến giờ chót là nhờ tinh thần kỷ luật. Vậy lúc này đã có lệnh buông súng thì anh em ai về nhà nấy mà lo cho gia đình. Tự tử không có ích lợi gì cho mình cả. Các quân nhân nghe lời, chỉ có một vài sĩ quan trẻ tuổi đã tự tử. Đến 1 giờ trưa, tướng Phát bàn giao Biệt Khu Thủ Đô cho tướng Việt Cộng Ba Hồng. Sau đó tướng Ba Hồng mời tướng Phát đến Tổng Tham Mưu. Tại đây, khoảng 500 chiến xa T. 55 của Cộng quân nằm kín chung quanh cột cờ. Đáng lẽ những chiến xa này đã đi thẳng sang Tây Ninh theo đườngvòng đai Saigon. Nhưng sự đầu hàng của Dương Văn Minh đã thay đổi hết kế hoạch tiến đánh Thái Lan của Cộng Sản (tướng Lâm Văn Phát đã từ trần trong tuổi già tại Santa Ana, California ngày 30 tháng 10, 1998)

Nhưng hai trận đánh trên đây cũng chưa phải là trận đánh cuối cùng trong ngày 30 tháng 4. Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu đã chiến đấu mãnh liệt từ trong khuôn viên trường cho đến khoảng 2 giờ trưa. Lúc này, Cộng Sản đã cầm chắc cái thắng trong tay nên chúng không muốn chết thêm nữa. Chúng ngưng bắn và điều đình với các em. Các em đòi chúng phải ngưng bắn và rút ra xa để các em tự giải tán. Khoảng ba giờ chiều, các em hát bài quốc ca, làm lễ hạ cờ. Xong rồi bỏ đồng phục, mặc quần áo thường và từ từ ra khỏi trại, nước mắt ràn rụa trên má…

3/ Tài liệu: báo Wall Street Journal số ngày 2 tháng 5 năm 1975, bài bình luận của ký giả Peter Kahn, từng đoạt giải Pulitzer, có tựa đề “Truy Điệu Nam Việt Nam” “…Nam Việt Nam đã chống cự hữu hiệu trong 25 năm, và họ đã không phải luôn luôn được người Mỹ giúp. Tôi nghĩ ít có xã hội nào bền bỉ chịu đựng được một cuộc chiến đấu lâu dài như vậy… Quân lực VNCH đã chiến đấu can đảm và vững mạnh trong một số trận đánh mà chúng ta còn nhớ, thí dụ như trận An Lộc.

Quân đội ấy đã chiến đấu giỏi và can đảm ở nhiều trận đánh khác mà chúng ta không còn nhớ địa danh. Quân lực ấy đã can đảm và chiến đấu trong hàng ngàn trận đánh nhỏ, và giữ vững hàng ngàn tiền đồn hẻo lánh ở những nơi mà cái tên nghe rất xa lạ với người Mỹ. Hàng trăm ngàn người của quân lực ấy đã tử trận. Hơn nửa triệu người của quân lực ấy đã bị thương. Và trong những tuần lễ chót, khi mà người Mỹ nào cũng biết là cuộc chiến đấu đã thua rồi thì vẫn còn những đơn vị của quân lực ấy tiếp tục chiến đấu, thí dụ tại Xuân Lộc. Nhờ có những sự chiến đấu ấy mà người Mỹ và một số người Việt lựa chọn mới an toàn thoát đi được. Rốt cuộc, quân lực ấy đã tài giỏi hơn sự ước lượng của người ta. Phía mạnh hơn chưa chắc đã là phía tốt hơn”

4/ Tài liệu của ký giả người Pháp Jean Larteguy, đã chứng kiến những giờ phút cuối cùng ở Saigon ngày 29 và 30 tháng 4-75. Thứ Hai 28/4/75 Saigon sáng nay yên tĩnh. Các đơn vị của một lữ đoàn Dù chiếm đóng vị trí của họ trong thành phố, sau bức tường, trong những khu vườn. Họ không buồn rầu và không tuyệt vọng. Họ điều động như thể đang dự một một thao dượt. Đôi lúc họ còn cười với nhau và liệng cho nhau những chai Coca Cola. Họ không nuôi một ảo tưởng về số phận của họ, về kết quả của trận đánh tối hậu này. Nhưng tôi có cảm tưởng là họ nhất định chiến đấu tới cùng, và sẽ tự chôn mình trong những đổ nát của Saigon. “Và những binh sĩ tuyệt vời này vẫn còn có được các cấp chỉ huy ở bên họ. Một trong các cấp ấy là một đại tá. Tôi hỏi ông ta xem tình hình ra sao? Ông trả lời: “Chúng tôi sẽ chiến đấu, và chúng tôi sẽ là những người lính cuối cùng chiến đấu. Hãy nói cho mọi người biết rằng chúng tôi chết không phải vì Thiệu, vì Hương hay vì Minh.”

Sau khi Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng. Larteguy lại được chứng kiến tận mắt trận đánh cuối cùng của các đơn vị VNCH tại Saigon, và ghi lại như sau: “Gần Lăng Cha Cả, quân Dù đánh trận chót. Họ chiến đấu tới 11 giờ 30 trưa, cho tới khi các cấp chỉ huy của họ từ dinh Tổng Thống trở về sau cuộc gặp gỡ bi thảm với tướng Minh. Các sĩ quan này khuyên họ nên ngưng chiến đấu. Họ vừa hạ được 5 xe tăng T-54. Những xe ấy còn đang cháy ngùn ngụt. Một chiếc nổ tung vì đạn trong xe. Quân Dù không để lại trên trận địa một thứ gì, dầu là vũ khí, đồ trang bị, người bị thương hoặc người chết.” Larteguy cũng được thấy tận mắt các sinh viên trường Võ Bị Đà Lạt, lực lượng trừ bị chót của QLVNCH, tiến ra trận địa. “…Và trong những bộ đồng phục mới, giầy chùi xi bóng láng, các sinh viên anh dũng của Trường Võ Bị Đà Lạt đã đi vào chỗ chết. Họ ra đi thật hào hùng, đi như diễn binh, chỉ thiếu

có cái mũ diễn hành và đôi bao tay trắng.”

Một đồng nghiệp của Larteguy là Raoul Coutard đã thu được cảnh xuất quân bi tráng ngay vào máy quay phim và cố nén xúc động để hỏi các sinh viên sĩ quan: “Các anh có biết là sắp bị giết chết không?” Một thiếu úy trả lời: “Chúng tôi biết chứ!” Vì sao? – Tại vì chúng tôi không chấp nhận Chủ Nghĩa Cộng Sản! “…Các xe tăng đầu tiên của Cộng Sản vào Saigon từ phía đông, qua tỉnh lộ Thủ Đức và Biên Hòa…

Bộ binh thì tiến từ phía Bến Cát và Tây Ninh. Tuy vậy, bọn này chỉ tới được trung tâm Saigon vào lúc 5 giờ chiều.

Từ ngày hôm trước các đơn vị cộng quân này đã bị chận tại gần Hóc Môn, gần nơi có Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù do Lữ Đoàn 4 của Sư Đoàn Dù trấn giữ dưới sự chỉ huy của đại tá Vinh, sĩ quan to con, mặt phong trần, nhất định bất chấp lệnh ngưng bắn. Các đơn vị Cộng quân bị thiệt hại nhiều. Sau đó chúng còn phải giao tranh 2 lần trên đường phố Saigon. Một lần trước trụ sở Cảnh sát Công Lộ, nơi đây chừng 100 cảnh sát viên chiến đấu oanh liệt trong hơn một giờ, trước khi bị xe tăng Cộng Sản đề bẹp. Lần thứ hai ở ngã tư Hồng Thập Tự và Lê Văn Duyệt, là nơi chỉ có 4 người lính Dù võ trang đại liên và Bazzoka mà chiến đấu được trong 50 phút. Đến khi hết đạn, họ đi ra ngoài, nắm vai nhau, lập thành vòng tròn rồi cho nổ một tràng lựu đạn tự sát. “Đến chiều tối 400 chiến sĩ Mũ Đỏ (Dù) được gom từ trận Hốc Môn và từ phi trường, tụ lại quanh đại tá Vinh, và còn chiến đấu gần chợ chính và các nơi có ruộng lúa của tỉnh Chợ Lớn. Đến 10 giờ đêm, đại tá Vinh cho lệnh các binh sĩ chia thành toán nhỏ, lợi dụng bóng đem để rút về đồng bằng…” Darcourt cho biết đại tá Vinh đã ở lại vị trí và tự sát

(Người lính cũ tổng hợp tin từ báo chí nước ngoài)

https://hangoc2020.blogspot.com/2025/06/so-ac-biet-ky-niem-ngay-quan-luc-vnch.html

https://hangoc2020.blogspot.com/2025/06/so-ac-biet-ky-niem-ngay-quan-luc-vnch.html