Hôm nay: ngày, tháng, năm nào ?
Từ ngày Chị mất: đã bao lâu rồi ?
Mà em tưởng mới đây thôi!
Niềm đau tử-biệt khôn nguôi trong lòng!
Nỗi buồn biết lấy gì đong?
Chỉ còn nước mắt hai dòng, Chị ơi!
Nhớ ngày em mới tới nơi:
Cấp cao, chức lớn, mà vơi túi tiền!
Chị cho em một phép tiên:
Nuôi em ăn, để em yên một bề.
Mỗi ngày hai bữa đi, về:
Chị săn-sóc, Chị không nề nhọc thân.
Mẹ em thì đã từ-trần;
Chị: em không có; em cần Chị thương.
Con trai Chị: cách trùng dương;
Rể và em Chị: mỗi phương một người .
Tới lui: chỉ mình em thôi:
Mối tình Mẹ+Chị: Chị bồi cho em…
“Chú cần tẩm-bổ nhiều thêm;
Việc nhiều, đi sớm, thức đêm tổn người!
“Chú cần có lúc nghỉ-ngơi,
Thong-dong thân-xác, thảnh-thơi tâm-hồn!
“Chú cần tâm-sự trào tuôn,
Một mình kín tiếng: mười muôn hiểu lầm!
“Chú: người thiện-tính, thuần-tâm
Mà đời sao cứ… dập bầm, nổi trôi!
“Người ta “lên” đến đâu rồi
Vợ+con cũng hưởng những hồi sướng-sung!
“Thà rằng dốt-nát, điên-khùng…
Mà thôi! Nói mấy cho cùng, chú ơi!…”
Từ ngày em sinh ra đời,
Thương em, chỉ Chị là người hiểu em!
Lần đầu em mới được xem
Nỗi lòng em, được Chị đem họa hình!
Được người hiểu thấu lòng mình,
Tưởng như ẩn-ức tâm-tình nhẹ vơi …
Nhưng, môi em chưa kịp cười
Thì… thân em… đã… vội rơi … vào tù!
Ân Chị, em chưa đáp bù,
Thì Chị cũng đã nghìn thu viễn-hành!
Em viết mấy chữ chân-thành,
Chưa kịp gửi Chị, đã… đành… đốt đi!
Đời em cứ chậm như rì:
Đến thì trễ-trớt, mà đi: muộn-màng!
Dịp may như chuyến đò ngang:
Em ôm mộng lớn, kềnh-càng khó qua!
Đón mình: có mấy người ta ?
Đến đó có là… giờ thứ hăm lăm?…
Bây giờ Chị đã xa-xăm,
Em ôm mộng lớn mà nằm trong lao!
Mộng hồn gửi tới trăng sao,
Vẳng nghe lời Chị hôm nao, nhủ thầm:
Em: người thiện-tính, thuần-tâm!
Ai: người ngậm ngải, tìm trầm? — Chị ơi!
Nhà văn Thanh Châu có một giang sơn riêng – một gác xép bằng gỗ ghép.
Thời ấy, tức là cái thời trong câu chuyện này, gác xép có ở hầu hết các nhà đông người mà chật hẹp. Gác xép tăng diện tích ở không được bao nhiêu, nó chỉ bằng một phần ba diện tích căn phòng dưới nó, nhưng là một mảng riêng tư của Thanh Châu, nơi ông dành để tiếp bạn, người nhà không hề lai vãng.
Để lên cái gác xép ấy tôi phải leo một cái thang dựng ngược, bám cứng vào hai thành lung lay của nó mà nhích từng bước để rồi chui qua một lỗ vuông hẹp.
Từ khi nhà nước về tiếp quản Hà Nội, Thanh Châu biến mất khỏi văn đàn. Đề tài, bút pháp thuộc dòng lãng mạn bị coi là nọc độc. Tác giả Tà Áo Lụa, Bóng Người Ngày Xưa… giờ đây ngồi lặng lẽ nơi mảnh đất tự tạo bên cái bàn trà nhỏ đã lên màu cánh gián và bộ trà màu đất nung tí tẹo.
Người thường xuyên có mặt trên gác xép của Thanh Châu là Kim Lân, cây bút số một về chuyện nhà quê. Người thứ hai là “ông Giê Su ở phố Hàng Thuốc Bắc” Bùi Xuân Phái. Người mảnh khảnh, nói cho đúng là gày xác ve, gương mặt xanh trắng khắc khổ rất giống mặt Đấng Cứu Thế trên các tượng Chịu Nạn đã làm nên biệt hiệu ấy.
Tôi thường gặp Bùi Xuân Phái ở gác xép của Thanh Châu, nhưng để trò chuyện tâm tình với anh thì chỉ có thể ở gác xép nhà anh. Người tự xưng “nhát gan bậc nhất Hà Thành”, hễ thấy gác xép của Thanh Châu có quá ba khách là anh lịch sự bắt tay mỗi người một cái rồi ù té.
Từ cái lỗ vuông ấy, vào một ngày không còn nhớ, nhô lên một mái đầu chải ngược, đường ngôi rõ ràng, khuôn mặt xạm đen với nụ cười phô những cái răng dài.
HỒ DZẾNH
– Hồ Dzếnh đấy! – Thanh Châu ghé vào tai tôi.
Tôi không quên được hình ảnh ấy – nó gắn chết vào trí nhớ.
Con người lộc ngộc, xương to, thịt ít, ngồi xuống bên tôi:
– Vũ Thư Hiên?
Thanh Châu gật.
Chắc hẳn Thanh Châu, hoặc Kim Lân đã nhắc đến tôi nhân câu chuyện đụng tới thế sự văn chương. Và còn một lẽ nữa – trong các khách của Thanh Châu tôi ít tuổi nhất.
Chả là hồi ấy dư luận đang ồn lên với bài “Giương cao ngọn cờ tính Đảng, chống chủ nghĩa xét lại hiện đại trong văn nghệ” của Tố Hữu. Nó hứa hẹn một trận đánh, rất có thể sẽ là một vụ “Nhân Văn – Giai Phẩm” thứ hai, Tôi được nêu tên vì truyện ngắn Đêm Mất Ngủ. Cùng với tôi còn có Nguyên Ngọc với Mạch Nước Ngầm và Ngô Ngọc Bội với Chị Cả Phây. Có thêm hai người chịu trận là may cho tôi, chứ một mình thì nguy to.
Lời phê phán của nhà thơ lãnh tụ lần này không gây ra đám cháy lớn. Tuy nhiên, sau bài báo đó các ông tổng biên tập, các thư ký toà soạn liền cầm kính lúp soi từng chữ trong mỗi vần thơ, mỗi câu văn. Mấy truyện ngắn hiền như đất của tôi gửi đến đều bị trả lại. Hỏi vì sao thì các vị cầm trịch nhe răng cười.
Trong hoạ có phúc. Tôi không được in thì lại được được tiếp chuyện các bậc đàn anh nhiều hơn.
Kim Lân phát mạnh vào vai tôi: “Mặc mẹ nó! Được Tố Hữu đập, coi như “lúy” công nhận ông có chiếu trong làng văn. Hay chứ không dở”.
Nói thế, Kim Lân phải tin tôi lắm. Câu ấy mà đến tai Tố Hữu thì lôi thôi to. Được Kim Lân tin, tôi sướng âm ỉ. Hiền lành một cục, thận trọng cũng một cục, thế mà rồi có lúc anh cũng bị nện cho một trận với truyện ngắn “Con chó xấu xí”. Người ta nói tác giả ví văn nghệ sĩ trung thành với đảng như con chó ghẻ xấu xí nọ, nó gắng sức giữ nhà cho chủ, thế mà vừa trơn lông đỏ da là chủ vật ra làm thịt. Một truyện ngắn hay, giọng văn mộc mạc, khó có thể tìm được một câu được hiểu là móc máy. Kim Lân cười buồn: “Cái bọn phê bình có cần chó gì nghệ thuật. Nghề của bọn ấy là bới. Cứ thằng nào viết văn không nổi là y như rằng nó quay ra làm phê bình”. Nguyễn Tuân trăn trối trước: “Này, đừng có chôn tôi bên cạnh một thằng phê bình đấy nhá!”.
Nói cho công bằng, những nhà phê bình đôi khi cũng có ích ra phết. Không có họ độc giả không hiểu hết ý của tác giả, họ vạch ra mới thấy. Không kể những trường hợp các phê bình gia bịa ra những cái tác giả không chủ tâm. Như Văn Ngan Tướng Công của Vũ Tú Nam chẳng hạn. Người đảng viên trung thành của đảng viết chuyện chơi chơi cho trẻ con, nhưng các nhà phê bình lại thấy trong đó sự xỏ xiên: đảng là con ngan hãnh tiến, bay không biết bay, bơi không biết bơi, chỉ nỏ mồm cạc cạc.
Không nổi tiếng như Nguyễn Tuân, nhưng Thanh Châu vẫn cứ là một bô lão trong nghề, được nhiều cây bút trẻ trọng vọng. Họ đến với anh, thành kính như vụng trộm hành hương về một quá khứ đã bị chôn.
Thanh Châu bỏ bút đã đành, nhưng Kim Lân, trẻ hơn Thanh Châu cả chục tuổi, hoạ hoằn mới cho ra một truyện ngắn. Vì “ngứa nghề” (chữ của Kim Lân), chứ không phải vì nhuận bút. Nhuận bút bấy giờ còm cõi lắm. Đã thế lại chỉ có vài tờ báo nhận đăng thơ, hoặc truyện ngắn. Người muốn trở thành nhà thơ, nhà văn lại quá nhiều. Thiên hạ muốn cái tiếng cái danh, chứ nhuận bút họ không màng. Ấy là chưa kể họ còn phải nghiến răng móc túi cho những bữa chiêu đãi các vị chức sắc ở các thứ toà soạn.
Trong lần đầu gặp gỡ, Hồ Dzếnh nắm chặt tay tôi, bóp bóp vài cái. Ấy là anh khen đấy, Thanh Châu giải thích. Anh ý nhị nhìn tôi, cười tủm tỉm.
Sau mới biết Hồ Dzếnh ít khi tỏ thái độ khen chê. Anh là người kín kẽ, kiệm lời.
Thanh Châu nhận xét vắn tắt về Hồ Dzếnh:
– Của hiếm trong văn học. Bút pháp của ông ấy có muốn học cũng không được – là văn đấy, mà cũng là thơ đấy.
Trong số khách của Thanh Châu, Hồ Dzếnh là một nhân vật đặc biệt. Đặc biệt ở chỗ anh lặng lẽ đến, lặng lẽ leo lên, rồi trầm ngâm nhấm nháp trà quạu, không nói không rằng.
Lối viết của anh, chẳng khác gì của Thanh Châu, đã không còn đắc dụng. Viết văn giờ là công tác phục vụ cách mạng, phục vụ công nông binh, là trách nhiệm và sự nghiệp của nhà văn. Viết cái gì, viết thế nào, đã có đảng cầm tay chỉ việc. Mặc dầu không dính dáng gì với đám phản động “Nhân Văn – Giai Phẩm”, nhưng anh vẫn bị người ta nhìn bằng cặp mắt nghi ngờ – bọn văn nghệ sĩ cũ không thể tin – lũ ấy kém mười lăm phút đầy phản động. Để yên thân, thỉnh thoảng anh cũng có một bài thơ nhạt nhẽo trên tờ Lao Động. Anh không bao giờ nhắc đến chúng.
HỒ DZẾNH và gia đình
Tôi đọc Hồ Dzếnh rất sớm, lúc mới lên mười. Cha tôi thường mang về cho tôi những cuốn Sách Hồng cho trẻ con, mỗi cuốn là một chuyện cổ tích. Chúng được kể với giọng dí dỏm, dễ hiểu, lôi cuốn. Lại có cả một cuốn sách thơ cho trẻ con, không nhớ là của ai, trong đó có hai câu còn đọng lại lâu trong trí nhớ:
Hôm qua trời đổ mưa rào,
Mặt trời sợ ướt lẩn vào đám mây.
Cuốn sách đầu tiên, đích thực sách, mà tôi được đọc, là Chân Trời Cũ.
Một ngày, mẹ tôi mua Chân Trời Cũ về. Bà đọc chăm chú, có lúc thừ người ra, lấy tay dụi mắt – bà khóc thầm.
Chờ cho mẹ đọc xong, quên nó rồi, đi vắng rồi, tôi mới dám lấy nó ra từ trong giỏ kim chỉ của bà. Lệ trong nhà là thế, trẻ con không được đọc sách người lớn.
Tôi không biết nói về cảm giác của tôi là thế nào khi đọc Chân Trời Cũ. Một nỗi xúc động bất ngờ trong tâm hồn trẻ thơ chăng? Có thể không phải thế, hoặc không rõ ràng là thế. Những câu chuyện bình dị về những kiếp người, được viết bằng thứ tiếng Việt chân chất, không uốn éo, không màu mè, gợi nhớ những gì tôi đã biết, đã thấy trong cuộc sống bé bỏng của mình. Chúng để lại trong tôi ấn tượng mạnh chưa từng có.
– Anh là người thày đầu tiên dạy tôi yêu văn – tôi nói với Hồ Dzếnh – Còn hơn thế, anh làm cho tôi hiểu tiếng Việt của ta đẹp đến là nhường nào.
Nghe tôi, Hồ Dzếnh cười bẽn lẽn. Tôi dùng đúng chữ phải dùng – anh bẽn lẽn thật sự. Mặt anh đỏ lên, mắt anh chớp chớp, anh lúng túng trước lời khen. Những con người lớn thật sự bao giờ cũng mang trong mình một đứa trẻ.
– Anh hiểu tôi rồi đấy – anh khẽ nói với tôi, như nói một mình – Tình yêu đối với văn chương không bắt đầu bằng cái gì khác ngoài tình yêu ngôn ngữ. Chuyện để kể thì ai mà chẳng có. Nhưng để viết nó ra, cho nó có hình hài, cho nó sống dậy, cho nó đi lại, trò chuyện được với mọi người thì ngôn ngữ là cái quan trọng hàng đầu. Và duy nhất. Nó quyến rũ mình, nó hút hồn mình, nó rủ rê mình, và sau hết, xúi giục mình cầm lấy cây bút.
Tôi được nghe lời tâm sự này vào một đêm khuya ở ngôi nhà nhỏ của anh, số 80 Hòa Mã, khi Hà Nội đã ngủ yên.
– Tiếng Việt là âm nhạc, anh ạ. Thoạt kỳ thuỷ, những câu văn xuất hiện như một dòng nhạc. Nó ngân nga mãi trong đầu trước khi mình đặt bút lên trang giấy trắng những chữ đầu tiên. Nó là một cái gì đó rất mơ hồ, ta chưa thể hình dung. Nó như mây như gió, không sao nắm bắt được, không làm chủ được, không sai khiến được nó. Cái ấy cứ cục cựa trong đầu, đòi được thoát ra. Ta như bị bức bách phải cho nó đi xuống trang giấy, thành một vần thơ,một câu văn. Sau đó thì vần thơ ấy, câu văn ấy, sẽ tự kéo theo nó những chữ khác, những câu khác. Rồi cứ thế, một bài thơ, một truyện ngắn ra đời.
Tôi trích ở đây một đoạn trong Chân Trời Cũ tả người khách tha hương ngồi bên bến đò vắng tanh vắng ngắt trong chiều tà. Người ấy giở nắm cơm ra nhai trệu trạo, đoạn đứng lên bắc loa miệng gọi đò: “Tồ ui!”
Trời đã ngả màu tím. Khách không tin còn đò. Nhưng rồi con đò ở bờ bên kia cũng rời bến sang với khách. Đêm ấy khách được ngủ đỗ trong nhà cô lái đò tốt bụng.
“Mấy tiếng tù và khuya rúc lên, bay vào gian nhà vắng. Lắng biết mọi người đã ngủ yên cả, vị thần tử của giang sơn Trung Hoa vắt chân chữ ngũ, khe khẽ ngâm một bài thơ cổ, qua nỗi xúc động đột nhiên tụ lại trong người:
Ngay lúc ấy, từ gian buồng bên, nổi lên mấy tiếng gì như chuột rúc. Lữ khách, thấy đứt mạch cảm hứng, càu nhàu trong bóng tối:
– Ấy dà! Cẩm tố xỉ a! (Chà! Lắm chuột thế!)
Nhưng đó không phải tiếng chuột rúc. Đó là tiếng người con gái chở đò ban tối cười qua hai làn môi khép kín.
Cuốn Chân Trời Cũ gồm nhiều truyện ngắn, theo ghi chú của tác giả thì nó được viết vào tháng Giêng năm 1940, xuất bản lần đầu năm 1942. Về sau, nó được tái bản nhiều lần. Tôi rất nhớ hai câu kết của truyện ngắn Ngày Gặp Gỡ:
“Người khách sang sông chiều muộn ấy về sau này là cha tôi. Và cô lái đò, là mẹ tôi“.
Không hiểu sao mà câu sau cùng này lại biến mất trong lần tái bản sau cùng. Mà tôi cho rằng đó là câu khép chuyện hay nhất. Nó mới giản dị làm sao! Mới đẹp làm sao!
Tôi có lần viết ở đâu đó: “Tôi có hai người thầy: Hồ Dzếnh chỉ cho tôi thấy cái đẹp trong ngôn ngữ giản dị; Nguyễn Tuân, ngược lại, dạy tôi cách sử dụng những từ cầu kỳ đúng chỗ để tăng sức mạnh của câu văn. Cả hai cho tôi hiểu tiếng Việt là âm nhạc, đích thực là âm nhạc, với những tiết tấu riêng, với sự xen kẽ của những toàn hài và cung chướng để đưa người đọc đi xa hơn, cùng với liên tưởng bất giác để bay xa, vượt lên trên những con chữ”.
Hồi ấy, còn nhỏ, tôi chưa gặp thơ Hồ Dzếnh. Lớn lên, đọc anh tôi mới hiểu ra tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ theo nghĩa đen, đã ảnh hưởng tới anh mạnh đến thế nào.
Trời đẹp như trời mới tráng gương Chim ca ánh sáng rộn ven tường Có ai bên cửa ngồi hong tóc Cho chảy lan thành một suối hương.
Một khúc khác:
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Ðể lòng buồn tôi dạo khắp trong sân, Ngó trên tay thuốc lá cháy lụi dần… Tôi nói khẽ, gớm, làm sao nhớ thế! … Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé! Tôi sẽ trách – cố nhiên! – nhưng rất nhẹ; Nếu trót đi, em hãy gắng quay về, Tình mất vui khi đã vẹn câu thề, Ðời chỉ đẹp những khi còn dang dỏ. Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ, Cho nghìn sau … lơ lửng … với nghìn xưa….
Trời không nắng cũng không mưa,
Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung.
Chiều buồn như mối sầu chung Lòng im nghe thoảng tơ trùng chốn xa
Ðâu hình tầu chậm quên ga Bâng khuâng gió nhớ về qua lá dày
Hay bài thơ Chiều đã được Dương Thiệu Tước phổ nhạc mà nhiều người thuộc nhưng không biết là những vần thơ của Hồ Dzếnh:
Trên đường về nhớ đầy Chiều chậm đưa chân ngày Tiếng buồn vang trong mây Chim rừng quên cất cánh Gió say tình ngây ngây Có phải sầu vạn cổ Chất trong hồn chiều nay? Tôi là người lữ khách Màu chiều khó làm khuây Ngỡ lòng mình là rừng Ngỡ hồn mình là mây Nhớ nhà châm điếu thuốc Khói huyền bay lên cây …
Tôi không rành lý luận văn học. Tôi cũng không có ý định nghiên cứu về văn Hồ Dzếnh. Cái đó không phải việc của tôi – tôi không có cả tài năng lẫn hứng thú. Tôi có đọc một số bài nghiên cứu về Hồ Dzếnh. Trong những bài này có khá đủ dữ kiện để người đọc biết về Hồ Dzếnh với tư cách một văn tài. Nhưng tôi còn muốn nhiều hơn – một chân dung Hồ Dzếnh, con người và cuộc đời. Sau khi quen Hồ Dzếnh, tôi tìm đọc lại các tác phẩm của anh. Ngôn ngữ trong những tác phẩm ấy tất nhiên khác với ngôn ngữ hiện đại. Nhưng nó không lỗi thời. Cái đẹp vẫn còn đó nhờ sức mạnh của ngôn từ giản dị.
Năm 1986 Hồ Dzếnh vào Sài Gòn. Lần gặp gỡ này tôi được gần anh nhiều hơn những buổi tối ngắn ngủi ở ngôi nhà phố Hòa Mã. Ngắn ngủi là vì muốn nghe chuyện anh lắm tôi cũng không thể ngồi quá khuya, khi chị bắt đầu đi ra đi vào, có ý nhắc đã đến giờ anh đi ngủ.
Ở Sài Gòn, hôm nào Hồ Dzếnh cũng đến rủ tôi đi ăn sáng. Bắt đầu bằng món phở ở một quán theo anh là rất tuyệt ở chân cầu chữ Y, đoạn đi tiếp, nhâm nhi ly cà phê ở một quán khác, gần nhà hàng Bát Đạt trên đường Trần Hưng Đạo, nó cũng tuyệt không kém. Một người bạn sành ăn sành uống đã cho anh lời khuyên, nó được anh nắn nót ghi vào mảnh giấy nhét trong túi ngực.
Tôi chở anh đi bằng xe Honda 67. Chúng tôi phóng vèo vèo trên chằng chịt phố xá. Ngồi sau, anh ôm cứng tôi, luôn cục cựa, hết quay phải lại quay trái.
Không biết trong những chuyến cưỡi ngựa xem hoa ngày ấy có làm anh nhớ đến Cô Gái Bình Xuyên năm 1945 hay không. Nó là tác phẩm lần đầu và cũng là lần duy nhất Hồ Dzếnh rời miền ký ức thân quen để bay lên những tầng trời tưởng tượng. Một thư sinh Bắc Kỳ lạc bước vào Hòn Ngọc Viễn Đông gặp một nữ tướng cướp. Chàng yêu nàng. Nàng yêu chàng. Một hôm nàng đi cướp, bị bắn. Xót nàng, băng bó cho nàng xong, chàng ôm nàng trong lòng, thủ thỉ bảo nàng hãy ở nhà, chàng sẽ đi làm công việc nguy hiểm ấy thay nàng. Nữ tướng cướp nghe chàng, cười rũ. Nàng ép đầu chàng vào ngực mà bảo: công việc ấy không phải của anh mà, anh hãy cầm số tiền này rồi về Bắc đi. Nơi này, việc này không phải dành cho anh.
– Tôi không giàu tưởng tượng – nhắc đến Cô Gái Bình Xuyên, anh cười anh – Cái gì dính với tôi, với những kỷ niệm trong đầu thì tôi viết được, hễ bịa là y như rằng hỏng, anh ạ.
– Ờ, Cô Gái Bình Xuyên không tồi, nhưng với anh, tôi nghĩ nó là một thất bại.
Tôi nói toạc, không sợ anh giận. Chúng tôi quen nói với nhau thật thà, không kiêng nể.
– Nghề của ta thế đấy. Cái mình viết đã thả ra là không cách nào đuổi theo để bắt nó về. Vì vậy mà viết xong tôi thường để đấy rất lâu rồi mới cho in.
– Nghĩa là anh còn nhiều bản thảo đắp chiếu?
Hồ Dzếnh tránh câu trả lời.
Hồ Dzếnh viết thận trọng. Nhưng chỉ chừng ấy tác phẩm đã được anh thả ra cũng đủ làm phong phú thêm nền văn học mà ta quen gọi là tiền chiến. Những gì anh viết còn cho ta thấy được một hiện tượng khác – ấy là một người nước ngoài hoàn toàn có thể sáng tác bằng tiếng Việt không khác gì người Việt.
Nghe nói người Hoa khuyến khích con trai Hoa lấy vợ Việt nhưng ngăn cấm con gái Hoa lấy chồng Việt. Chuyện này có thật – người ta làm thế là để bảo vệ nòi giống, và cả mở rộng nòi giống nữa. Chẳng thế mà những người Tàu tha hương giữ gìn tiếng Hoa lắm lắm, cho dù có lưu lạc đến tận đẩu tận đâu trên địa cầu. Hơn bất cứ cộng đồng di dân nào, người Hoa coi mất ngôn ngữ là mất gốc. Tiếng bản địa đối với họ vĩnh viễn là ngôn ngữ thứ hai, chỉ đủ dùng trong giao tiếp là được, không cần hơn. Thời tôi, nhiều người Hoa thuộc thế hệ thứ ba thứ tư vẫn không nói sõi tiếng nơi mình sinh sống.
Trường hợp Hồ Dzếnh là hãn hữu. Mặc dầu theo phong tục của người Hoa, anh ắt phải học và rành tiếng Hoa hơn tiếng Việt. Anh sáng tác được bằng tiếng Việt do anh có mẹ người Việt, và tiếng mẹ đẻ của anh đã chiếm lĩnh toàn bộ tâm hồn anh.
Cuộc gặp gỡ nhiều ngày với Hồ Dzếnh ở Sài Gòn cho tôi hiểu anh thêm. Chúng tôi có đủ thời gian cho những chuyện tâm tình.
Cũng trong cuộc gặp gỡ này tôi mới biết trong sâu thẳm tâm hồn, Hồ Dzếnh có một vết thương khó lành và không đáng có. Dù anh đã có một chỗ đứng trong văn đàn Việt Nam, anh vẫn luôn cảm thấy có sự phân biệt: anh là nhà văn, nhưng là nhà văn người Tàu, hoặc tử tế hơn, nhà văn gốc Hoa.
Mặc dầu người Hoa đến Việt Nam đã ăn đời ở kiếp trên đất này, đã chôn nhiều thế hệ cha ông ở đây, đã được người bản địa hiền hoà mở rộng vòng tay đón nhận, coi như người trong gia đình lớn các tộc người cùng sống chung với nhau trên một mảnh đất, nhưng đã xảy ra không ít cảnh đau lòng.
Sử sách còn ghi trận quân Tây Sơn tàn sát một vạn sinh linh người Hoa ở cù lao Phố vào thế kỷ 18. Trong cơn thịnh nộ: “Đánh cho để dài tóc/ Đánh cho để đen răng/ Đánh cho nó ngựa xe tan tác/ Đánh cho nó mảnh giáp không còn/ Đánh cho nó biết nước Nam anh hùng có chủ”, đến đàn bà trẻ con người Hoa cũng không thoát khỏi ngọn giáo lưỡi gươm thù hận.
Theo thống kê không được coi là chính xác, năm 1978 và đầu năm 1979 đã có hai vạn rưởi người Hoa vượt biên giới phía bắc để trở về Trung Quốc. Nhà nước Trung Hoa đỏ đặt tên cho nó là “nạn kiều”.
Tất cả bắt đầu bằng một tờ truyền đơn giả mạo tựa hồ của chính quyền Trung Quốc kêu gọi người Hoa mau mau trở về tổ quốc để tránh một cuộc “tắm máu” sắp xảy tới. Tờ truyền đơn do một tên vô danh tiểu tốt ở Quảng Ninh học tiếng Trung ở Nam Ninh (Trung Quốc) thảo ra, dưới sự khuyến khích của tên quan thầy nắm công tác tổ chức ở trung ương. Tác giả tờ truyền đơn về sau leo lên một trong những chức vị cao nhất trong hệ thống nhà nước. Công lao được ghi nhận của y là đã xua đuổi được hàng vạn người Hoa ra khỏi Việt Nam mà không tốn một viên đạn. Tôi không viết tên chúng ra đây – chúng không đáng được nhắc đến.
Thế là những con người, chứ không phải những con vật, đã ăn đời ở kiếp trên đất nước ta bồng bế nhau, dắt díu nhau, bỏ ruộng, bỏ vườn, bỏ nhà cửa, bỏ mồ mả cha ông, chạy về đất nước mà tổ tiên họ đã bỏ đi để tới đất này. Ở mảnh đất mà bỏ lại đàng sau, những địa danh chỉ được mơ hồ biết đến, được nhớ tới, trong những truyền thuyết và những chuyện kể về đêm của những ông già bà cả. Thế mà giờ đây bất thình lình họ phải bỏ hết để chạy về cố quốc: một chân trời xám xịt đầy một màu máu của đủ thứ cách mạng long trời lở đất, hết cái này đến cái khác, mà họ được nghe từ những đồng bào sống sót trốn qua biên giới.
Tổng số người Hoa rời khỏi Việt Nam từ Bắc chí Nam trong thời kỳ này lên tới gần một triệu trong số gần hai triệu người Hoa sinh sống ở Việt Nam, theo một con số thống kê.
Kim Lân, theo tôi quan sát, là bạn thân nhất của Hồ Dzếnh, Nhưng hình như có những tâm sự chua xót Hồ Dzếnh chưa hề nói với bạn. Không phải anh có điều gì phải giấu giếm. Chỉ là anh không muốn nói, không muốn kể, những chuyện đau lòng.
Tôi may mắn hơn. Tôi được nghe anh kể những gì đã xảy ra với anh trong năm 1978:
-Tờ truyền đơn khốn nạn ấy có tác động kinh khủng. Người ta tin nó là thật. Họ chép lại, trao tay nhau, rồi lời đồn loang xa. Thế rồi người Hoa theo nhau ùn ùn kéo đi. Của nả trong nhà còn gì mang ra bán cho bằng hết, bán rẻ như cho, lùng sục mua vàng. Nhẫn một chỉ, nửa chỉ, vài đồng cân, mua hết, không cân kẹo, không phân biệt thật giả, dắt tất tật vào lưng quần. Lưng đeo ba lô, vai khoác tay nải, họ dắt díu nhau lên đường. Nước mắt lưng tròng, họ hối hả đi, thất thểu đi. Thảm lắm, Tội nghiệp nhất là những gia đình Hoa Việt – chồng đi, vợ ở lại, vợ đi, chồng ở lại. Những đứa con mếu máo chia tay nhau, đứa đi đứa ở, xảy đàn tan nghé. Tôi có anh bạn bác sĩ đông y người Hoa, vợ Việt, hai đứa con, một trai một gái. Anh chồng mang theo con trai, vợ ở lại với con gái. Bao nhiêu là nước mắt. Chia tay họ, tôi khóc ròng”.
– Còn anh thì sao? – tôi hỏi.
– Tôi không đi.
– Tất nhiên, anh còn đang ngồi đây với tôi mà.
Hồ Dzếnh thở dài:
– Tôi không thể đi. Nơi này là quê hương tôi, là đất nước tôi, là tình yêu của tôi. Tôi không thể bỏ.
– Những người ra đi không lôi kéo anh?
– Có chứ. Người ta đến nhà rủ tôi đi cùng. Hằng ngày. Người ta thương tôi, lo sợ cho tôi.
– Còn chính quyền?
– Chính quyền?
– Người ta có làm khó anh nhiều không?
– Có đấy. Họ đến nhà, giục gia đình tôi đi. Không phải một lần. Tôi lánh mặt. Họ hỏi vợ tôi: “Bao giờ ông bà mới chịu đi?”
– Chị trả lời thế nào?
– Nhà tôi bảo: “Tôi không biết. Thuyền theo lái, gái theo chồng. Trong nhà tôi, ông ấy là người quyết định, không phải tôi. Các ông đi mà hỏi ông ấy!”
– Ông ấy không chịu giáp mặt chúng tôi. Chúng tôi biết – ông ấy đang ở trong nhà – họ nói.
– Ông ấy đi từ sớm, thức dậy tôi đã không thấy ông ấy đâu. Chắc ông ấy không ngủ được, dậy xong là đi. Các ông thử tìm ở mấy quán cà phê xem có ông ấy có đấy không?
– Rồi họ cũng tóm được tôi, bảo tôi đi theo – anh tiếp – Đi thì đi. họ là nhà nước, mình là dân, lại là người Hoa, thứ người hạ đẳng. Ngồi lên command-car, hai người ngồi hai bên. Như sợ tôi trốn mất. Họ định đưa mình đi đâu đây, tôi nghĩ? Xe rẽ vào Hỏa Lò, anh ạ. Cái Maison Centrale này người Hà Nội có ai không biết. Tôi tự hỏi: “Mình làm gì mà họ bắt cơ chứ”? Rồi cái xe đỗ lại trong một cái sân rộng.
Tôi hình dung cái sân Hỏa Lò sạch bong với mấy dàn nho queo quắt. Tôi đã đứng đây khi đi thăm cha tôi vào thời thuộc Pháp. Tôi cũng đã đứng đây chờ được đưa vào xà lim, thời cách mạng.
– Theo chân họ, tôi bước vào một căn phòng trống huếch trống hoác, ở tường hậu có một cái bàn giấy. Lấy thêm ghế, phân ngôi chủ khách. Chủ ngồi trong. Tôi ngồi ngoài. Mời uống trà. Thuốc lá sang, Thăng Long bao bạc hẳn hoi. Chuyện trên trời dưới đất.
Sau hết, mấy tay công an mới vào đề:
– Anh nhất định không chịu đi?
– Tại sao tôi lại phải đi?
– Người Hoa đi cả, anh ở lại làm gì?
– Nhà tôi ở đây, vợ con tôi ở đây, đi đâu? Việc gì tôi phải đi?
Họ nhìn nhau, cười. Cứ như họ nghe một câu trả lời của người điên. Tôi bặm môi, không nói thêm câu nào nữa. Nói làm gì? Có nói họ cũng chẳng hiểu. Với họ, tâm hồn con người là thứ vớ vẩn, họ không thể hiểu, không thèm hiểu. Rồi họ đứng lên, ra hiệu cho tôi đi theo.
Anh im lặng, nhớ lại.
– Họ đưa anh đi đâu?
– Qua một cửa lớn nhiều song sắt. Rồi một cửa nhỏ, cũng nhiều song sắt. Con đường dẫn tới một hành lang tối, hai bên là những cánh cửa sơn xám có then cài với những cái khóa bằng đồng”.
Tôi thảng thốt:
– Đó là khu xà lim 1, gọi là Xà lim Án chém. Tôi từng ở đấy. Họ giam anh?
Hồ Dzếnh trầm ngâm. Rồi cười buồn:
– Lúc ấy tôi cũng nghĩ thế – chắc mình sẽ bị giam ở đây.
Anh có vẻ là cấp trên trong hai người mở nắp cái ô nhỏ bên trên cánh cửa, kiễng chân nhòm vào, rồi ra hiệu cho tôi nhòm theo. Cái lỗ quan sát ấy tôi biết qua sách. Người Pháp gọi nó là le judas. Tôi không phải kiễng chân, tôi cao hơn anh ta, Nhòm vào, tôi giật bắn mình – bên trong là một cái xác trần truồng, gày đét. Nghe động, cái xác hé mắt. Hoá ra là một người sống. Tất nhiên, anh ta không nhìn thấy tôi, cái lỗ ấy chỉ cho anh ta thấy hai con mắt. May, không phải một người quen. Tiếp theo, họ mở thêm vài cái ô như thế nữa, vẫy tôi lại, nhưng tôi lắc.
– Rồi sao?
– Rồi họ đưa tôi về nhà, cũng trên chiếc command-car ấy. Trên xe, chúng tôi không ai nói với ai câu nào. Chỉ khi mở cửa xe cho tôi xuống, người công an cấp trên mới đặt tay lên vai tôi: “Anh thấy rồi đấy – anh muốn về Tàu hay muốn ở lại trong cái chỗ anh vừa thấy?”
Câu chuyện Hồ Dzếnh kể làm tôi bàng hoàng.
Lại thêm một cái không thể ngờ có thể xảy ra trong cuộc cách mạng mà tôi đi theo từ thuở thiếu thời. Những người mà tôi từng gọi là đồng chí đã hành xử tàn nhẫn đến thế đấy, với một nhà văn hiền lành không hề chống lại họ thậm chí trong ý nghĩ.
Đoạn hồi ức này tôi ghi lại để thêm vào những gì nhiều người đã viết về Hồ Dzếnh.
Lần gặp anh ở Sài Gòn là lần cuối. Sau đó chúng tôi cũng không có thư từ, điện thoại cho nhau. Tin nhắn cuối cùng anh gửi cho tôi là bài viết thay cáo phó trên tờ Văn Nghệ,
* * *
Tháng 8 năm 1991, tôi ở Warszawa.
Một buổi chiều, sau khi uống cà phê ở quán U Szwejka[2]trên quảng trường Konstytucji, tôi thả bộ tới đường Marszałkowska thì một chiếc taxi trờ tới. Ắt hẳn anh lái nghĩ tôi là một du khách đang lớ ngớ tìm đường.
Ngạc nhiên làm sao, vừa ngồi vào xe, lên tôi thấy bên mình một tờ báo tiếng Việt.
Một hàng tít lớn đập vào mắt :”Nhà văn Hồ Dzếnh không còn nữa”.
Xem ngày tháng thì thấy tờ báo mới ra hôm qua. Chắc hẳn nó là của một người Việt vừa đi từ phi trường Okiecie vào thành phố đã bỏ lại.
Tôi bàng hoàng.
Tôi ít khi nghĩ tới cái chết, cho chính mình, cũng như cho những người tôi biết. Sự sống vốn chẳng là vô hạn với bất cứ ai – biết là thế, nhưng bất ngờ vẫn cứ là bất ngờ. Thậm chí trong hành trang của tôi vẫn còn đấy cái đồng hồ quả quít cổ mặt sứ tôi mua ở chợ đen Donbass để gửi cho Hồ Dzếnh. Có lần nào đó anh nói với tôi anh thích đồng hồ quả quít hơn đồng hồ đeo tay. Nó gợi nhớ cái đồng hồ của cha anh – vật còn lại lâu hơn mọi thứ khác sau khi cha anh qua đời và mẹ anh phải bán đi tất cả.
Tôi nhoài lên ghế trên, hấp tấp nói lại địa chỉ. Thay vì về nhà, tôi bảo anh tài xế đưa tôi đến chỗ khác. Ở thương vụ Việt Nam tôi có thể nhờ gửi tin nhắn bằng telex nhanh nhất về cho con rể.
Các con tôi đã có mặt trong tang lễ, thay tôi tiễn đưa nhà văn mà tôi yêu mến đến nơi an nghỉ cuối cùng.
Thêm một lần, tôi tin ở tâm linh.
Nó có thật hay không có thật tôi không biết. Bằng sự tình cờ hi hữu, Hồ Dzếnh gửi cho tôi lời nhắn cuối cùng:
“Tôi đi đây. Chào nhé!”.
2016
Những tác phẩm đã xuất bản của Hồ Dzếnh: – Quê Ngoại (thơ, gồm những bài góp nhặt từ năm 1935 đến 1942, xuất bản năm 1943); – Hoa Xuân Đất Việt (thơ); – Chân Trời Cũ (tập truyện ngắn, xuất bản năm 1942 (nhà xuất bản Hoa Tiên); – Một Truyện Tình 15 Năm Về Trước (tiểu thuyết, ký bút hiệu Lưu thị Hạnh (nhà xuất bản Hoa Tiên) – Hai Mối Tình hay Tiếng Kêu Trong Máu (truyện dài, ký bút hiệu Lưu thị Hạnh (nhà xuất bản Hợp Lực, 1968); – Dĩ Vãng (tiểu thuyết) – Những Vành Khăn Trắng (tiểu thuyết, ký bút hiệu Lưu thị Hạnh); – Đường Kẽ Mãnh (truyện ngắn, Trung Bắc chủ nhật ,số 187, 12-12-1943); – Nhà Nhiều Con (truyện ngắn, Trung Bắc chủ nhật, số 206, 11-6-1944). – và nhiều truyện ngắn khác đăng rải rác trong các giai phẩm xuất bản thời tiền-chiến.
[2] Tên quán được đặt theo tên nhân vật cuốn tiểu thuyết lừng danh “Chuyện phiêu lưu của anh lính Sweik dũng cảm” của nhà văn Séc Jaroslav Hašek (1883 – 1923)
Phiên tòa xử vụ ly dị, tòa phán với ông chồng: – Ở với vợ lớn, không được ở với vợ nhỏ.
Ông chồng về nhà đưa bản án cho bà vợ lớn, chỉ sửa lại dấu phẩy: – Ở với vợ lớn không được, ở với vợ nhỏ.
Có người hỏi nhà văn Oscar Wilde (1856 – 1900) sao ông thường có vẻ đăm chiêu. Nhà văn Anh này đáp: “Sáng nay tôi đã bỏ quên một dấu phẩy trong một bài thơ. Chiều nay tôi phải lấy lại”. Sai một phẩy, nhảy ngàn dặm
Một giáo viên tiếng Anh đã đề nghị mỗi sinh viên đặt những dấu thích hợp vào câu sau: “Woman without her man is nothing”. Bọn con trai ngắt câu: “Woman, without her man, is nothing” (đàn bà, nếu thiếu nửa kia của mình, thì chẳng là gì cả). Bọn con gái lại ngắt câu như sau: “Woman: without her, man is nothing” (phụ nữ: thiếu cô ta, đàn ông chẳng là gì cả).
Một phụ nữ Mỹ đi du lịch ở châu Âu gửi điện về cho chồng: “Có một chiếc xuyến đẹp mê hồn, giá 75 đô. Em mua được không?” Anh chồng lập tức trả lời “No, price too high” (không, giá quá cao). Nhưng nhân viên điện tín mắc một sai lầm nhỏ đã bỏ qua dấu phẩy và thành: “No price too high” (không giá nào là quá cao). Được lời như cởi tấm lòng, cô vợ mua ngay chiếc xuyến. Khi về Mỹ, cô vợ khoe chiếc xuyến làm người chồng choáng váng. Người chồng đem vụ “bỏ sót dấu phẩy” này ra toà và thắng kiện. Từ đây, các hãng điện tín đòi hỏi nhân viên phải đánh vần dấu câu trong bức điện chứ không dùng ký hiệu. Nghĩa là phải viết “No comma price too high” (không phẩy giá cao quá).
Dấu phẩy đôi khi có giá đến nửa triệu đô. Năm 1870, trong danh sách các mặt hàng được miễn thuế vào Mỹ, lẽ ra là câu “Tropical fruit-plants for the purpose of propagation” (các cây nhiệt đới ăn trái nhằm mục đích nhân giống) thì người ta đánh nhầm dấu nối thành dấu phẩy, thành “Tropical fruit, plants for the purpose of propagation” (trái cây nhiệt đới, cây nhằm mục đích nhân giống). Thế là toàn bộ các loại trái cây nhiệt đới được nhập miễn thuế vào Mỹ. Tới khi người ta phát hiện ra sai sót chết người này, đã mất khoảng 500.000 USD tiền thuế không đòi lại được! Được yêu, được sống nhờ dấu phẩy
Ông bố nọ muốn lấy tên nhà thơ La Mã vĩ đại Virgile đặt cho con trai mình. Khốn nỗi, ông lúng túng viết nhầm thành Virgule, tiếng Pháp có nghĩa là dấu phẩy. Anh chàng lớn lên cũng khẳng khiu như dấu phẩy, không thành nhà thơ mà vào làm bưu điện. Anh thầm yêu trộm nhớ cô hàng xóm Sophie. Cô gái này lại yêu chàng trai không yêu cô. Bao nhiêu thư gửi đi mà không nhận được hồi đáp. Rồi một hôm cô quyết định ra bưu điện gửi bức điện (chứ không viết thư nữa) cho chàng trai nọ.
– Tôi muốn gửi một bức điện – cô buồn rầu nói, mắt không nhìn Virgule, nhân viên bưu điện. – Cô vui lòng đọc nội dung – Virgule cầm bút cảm động lắp bắp nói.
– “Je t’aime, virgule, Je t’adore, virgule, Je voudrais tant que tu me dises que tu m’aimes aussi, point” (Em yêu anh, phẩy, em thương anh, phẩy, em muốn anh cũng nói với em rằng anh cũng yêu em, chấm)
Anh chàng Virgule không cho virgule là dấu phẩy mà hiểu đó là tên mình: Em yêu anh, Virgule, em thương anh, Virgule… Anh chàng bưu điện yêu cầu cô gái nhắc lại. Sophie làm theo: “Em yêu anh, Virgule, em thương anh, Virgule…” Mắt anh ta sáng lên. Sophie nhận ra anh chàng này đáng yêu làm sao. Và họ đến với nhau.
Còn đây là giai thoại về hoàng đế Alexandre Đệ Tam (Nga) (qua tiếng Anh): từ chối ân xá cho một phạm nhân, ông đọc “Pardon impossible, to be sent to Siberia” (Không thể ân xá, đày đi Siberia). Vợ ông là Dagmar (cháu gái vua Đan Mạch Christian IX) là một người vô tâm, nên đã đánh nhầm dấu phẩy thành “Pardon, impossible to be sent to Siberia” (Ân xá, không thể đày đi Siberia). Thế là người tù này thoát tội.
Đặt sai dấu phẩy, biết bao chuyện dở cười dở khóc đã xảy ra!
Các bạn đọc kỹ hàng chữ trên tấm bảng cổ động cho gia dình hạnh phúc của Huyện Vũ Thư Việt Nam.
Plus ONE more: an advertising in Vietnam
Chấm phẩy thật quan trọng !
Gia đình hai con, vợ chồng hạnh phúc.
Gia đình hai con vợ, chồng hạnh phúc.
Lê Tuấn sưu tầm.
Tiệm cà phê cổ nhất thành La Mã
Nguyễn Tường Tâm
Hôm nay soạn lại những tài liệu đi du lịch từ 2001 chợt thấy cái bill của nhà hàng ở Rome thành lập từ năm 1760 (trước ngày thành lập tổ quốc Huê Kỳ của tui).
Tôi tới đó 2001, 15 năm sau, 2016, tôi đưa bà xã tới, mang theo tấm hình tôi chụp người quản lý và mấy nhân viên nhà hàng 15 năm trước. Họ rất ngạc nhiên, riêng người quản lý thì còn. Họ bảo tôi, 15 năm nữa ông lại tới đây cho tôi tấm hình ông chụp hôm nay. Bây giờ thì khách quán đó bình dân rồi. Hồi 2001 khách toàn là dân trí thức high class (kiểu Âu châu mà). Tôi bước vào đứng sau cùng trong hàng. Viên quản lý đang tiếp người khách đầu hàng, liếc nhìn tôi có vẻ coi thường “tại sao cái thằng trông ăn mặc cà chớn kia lại dám bước vào đây!” tại vì tôi mặc đồ tây balo và đội mũ đi rừng Thủy quân lục chiến.
Khi tới lượt tôi, tôi hỏi viên quản lý “Có phải quán này mở gần 250 năm rồi phải không?”
Viên quản lý: đúng!
Tôi nói tiêp” có phải các danh sĩ như Stendhal, Goethe, Arthur Schopenhauer, Byron, Franz Liszt, Keats, và ngay cả Casanova đã tới đây phải không?
Viên quản lý ngạc nhiên, nói đúng. Tôi bảo “Chính vì thế mà tôi đi nửa vòng trái đất tới đây. Viên quản lý đổi ngày thái độ, trịnh trọng đưa tay mời tôi tới chỗ ngồi. Tất cả mấy ông tây trí thức kia đêu ngó tôi ngạc nhiên. Sau đó mấy ông tây ngôi bàn kế cận sang nói chuyện với tôi. Thực ra mình cũng chỉ nổ thôi chứ đã bao giờ đọc mấy danh sĩ kia đâu. Mình chỉ nghe danh môi chàng women killer là Casanova thôi.
Năm đó tôi cuốc bộ lang thang khắp Rome trong 7 ngày nên Rome đối với tôi lúc đó thân thuộc lắm, tởi độ tôi có cảm tưởng tôi là người thành Rome hơn dân địa phương.
Khi trở lại Paris, người anh họ tôi là kiến trúc sư Nguyễn tường Hùng đã học kiến trúc tại Rome và ở Âu chấu từ 1960. Anh ấy nói rằng anh ấy biết rất rõ Ý và Rome.
Anh ấy nói “Hỏi Tâm cái này nếu Tâm biết thì đúng là Tâm rành về Rome. Anh ấy hỏi Tâm biêt quán cafe cổ nhất của Rome không? Tôi không trả lời, đưa cho anh ấy coi các bill. Vừa thấy thì anh ấy nói, đúng là Tâm đã biết rất rõ về Rome.
Đà Lạt là Xứ Ngàn Hoa, Đà Lạt thời thập niên 50, 60 đẹp thần tiên, núi đồi cao nguyên, hoa cỏ bạt ngàn, thông reo, sắc thắm, suối mát, không biết làm thơ, cũng có tâm hồn thi sĩ!
Đà Lạt Tình Xưa
Đà lạt thông reo mừng đón ai Phố phường đồi núi sương trắng bay Một dải đường xa mưa lất phất Em bước về thăm dấu tình đầy.
Quanh co con dốc Hồ Than Thở Đồi thông Hai Mộ, cỏ non xanh Nhặt cánh tigon cài mái tóc Em mỉm cười, ánh mắt long lanh.
Ngày ấy em cười trông rất xinh Tôi thường ngây ngất nét đoan trinh Loài hoa tim vỡ cài trên tóc Tôi sợ ngày sau lỡ cuộc tình.
Ngày ấy ngây thơ đã biết gì Ti gon tan tác mối tình si Cánh hoa rơi rụng như tim võ Cho đến bây giờ mới nghĩ suy.
Từ ngày em bước chân ra đi Thời gian nhuộm trắng nét xuân thì Đà Lạt phố núi buồn vương vấn Một chút tình riêng còn khắc ghi.
Lê Tuấn Viết cho một kỷ niệm về Đà Lạt.
Hèn gì, Văn Thơ Lạc Việt có Thi Sĩ Lê Tuấn, tâm hồn lúc nào cũng ướt át như đang trong tuổi 16…dậy thì! Gốc từ Thành Phố Mộng Mơ có khác!
Xin được đóng góp thêm chút về cây hoa Tigôn và Lời bài hát “Hai Sắc Hoa Tigôn,” hy vọng sự đóng góp này, để những vần thơ của Thi Sĩ LT càng thêm sắc thắm.
Hoa tigôn có tên khoa học là Antigonon leptopus Hook. Et Arn, có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Là cây cảnh hoa dạng dây leo, cây có thể trồng ngoài trời hoặc ở những nơi râm mát, nhất là khí hậu Đà Lạt.
Cây có dạng thân gỗ, hoặc dây leo, có củ mọc sâu trong đất. Cây phân cành nhánh, dài, mềm, dáng đẹp, lá đơn, xanh quanh năm, đỉnh cành non dài mọc vươn cao, có nhiều tua cuốn mảnh. Hoa mọc thành cụm ở đỉnh cành, hoa nhỏ bé xếp sát nhau thành một chùm dài, màu hồng nhạt, tươi, cánh hoa ít khi xòe rộng. Nụ hoa hình trái tim có ba cạnh, quả có 3 cạnh tròn bọc trong bao hoa còn lại. Tigôn có tốc độ sinh trưởng trung bình, ưa khí hậu ẩm ướt. Cây thích hợp trồng thành giàn che bóng mát, trồng hàng rào, trồng leo cổng trang trí sân nhà rất đẹp, rất nên thơ.
Lời bài hát “Hai Sắc Hoa Tigôn”
“Nếu biết rằng tôi đã có chồng
Trời ơi người ấy có buồn không
Có thầm nghĩ đến loài hoa vỡ
Tựa trái tim son tựa máu hồng.”
Một mùa thu trước, khi nắng tắt hoàng hôn
Nhặt hoa chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà, cài duyên qua mái tóc
Tôi chờ người với yêu đương.
Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Đường xa khuất bóng chiều phong
Và nơi chân mây phương trời thẳm
Mờ sương tôi buồn hái, cành hoa trắng chạnh lòng.
Người nhìn hoa trắng, hay bảo đó từ ly
Nào tôi còn hiểu gì
Thuở ấy thấy lòng mình, sao trong trắng quá
Đến cười mà chẳng biến suy.
Màu trắng là trinh trắng cuộc đời
Tình ta chỉ thế mà thôi
Người đi xa xăm tôi buồn lắm
Ngày vui pháo nhuộm đường
Và từ đó thu rồi thu lại thu
Lòng giá đến bao giờ
Dù biết tôi buồn nhớ cành hoa tim tan vỡ
Người ấy quá hững hờ!
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Và từng thu chết từng thu chết
Vẫn dấu trong tim bóng một người.
Rồi chiều thu nay, khi nắng tắt hoàng hôn
Nhặt hoa đã biết buồn
Lạnh lẽo gió về đìu hiu trên nẽo vắng
Thấy lòng mình quá bâng khuâng.
Người ấy còn sang bến đợi thuyền
Màu hoa rụng đó chiều thu
Lời xưa thơ ngây tôi nào biêt
Tình duyên nay đã chết, người ấy có buồn không?
Đà Lạt là Xứ Ngàn Hoa
Những bông hoa Tigon có 5 cánh, lãng mạn với nhiều màu sắc khác nhau như: trắng, hồng, đỏ.
Tigon trắng: biểu tượng cho tình cảm trong sáng, thuần khiết.
Tigon hồng: biểu tượng cho sự gắn bó thân tình, mang nỗi nhớ bồi hồi, xao xuyến. Tigon đỏ: biểu tượng cho khát vọng dâng hiến và đam mê rực cháy trong tình yêu.
Truyền thuyết kể rằng, loài hoa tigon mang hình dáng trái tim tan vỡ với giọt màu hồng rớt xuống bắt nguồn từ một câu chuyện tình yêu buồn của người con gái tên Tigon xinh đẹp. Tigon là con gái của một vị tù trưởng danh giá, uy quyền nên được rất nhiều chàng trai từ khắp nơi, cùng theo đuổi và muốn lấy làm vợ; nhưng tuyệt nhiên, nàng không đồng ý, bởi trái tim nàng đã trao trọn cho chàng trai Pho-nin. Nàng Tigon bị gia đình ngăn cấm, nàng chạy trốn theo người yêu, nàng cứ nhắm hướng rừng sâu mà chạy mãi, chạy mãi trong vô định; đến khi sức cùng lực kiệt, nàng gục ngã dưới một gốc cây cổ thụ già. Mọi người sau khi tìm thấy nàng thì kinh ngạc khi đúng ngay nơi trái tim đau đớn tan vỡ của nàng mọc lên một cây dây leo với cành lá xanh ngát, mềm mại và nở ra những bông hoa mang hình trái tim tan vỡ đỏ tươi như màu máu. Từ đó tên nàng được đặt cho loài hoa này. Thi sĩ TTKH đã để lại bài thơ (Hai sắc hoa Tigon) qua câu chuyện tình thật lãng mạng.
“Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn, Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn, Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc Tôi chờ người đến với yêu đương”
Hoa Tigon mọc nhiều tại Hà Nội và Đà Lạt. Hôm nay tình cờ nghe bản nhạc Hai sắc hoa Tigon, và bỗng dưng nhớ về Đa Lạt một thành phố thơ mộng có nhiều kỷ niệm trong tôi, vào những thời gian còn trong quân đội trước năm 1975. Tôi ngẫu hứng viết bài thơ với tựa đề (Đà Lạt tình xưa) có nhắc đến loài hoa Tigon, xin chia sẻ cùng ACE yêu thích thơ văn đọc cho vui. Và cũng gửi tặng bài thơ này cho người bạn thân của tôi là Đinh Lập và Minh Phương (Minh Phương là con gái café Tùng nổi tiếng một thời tại Đà lạt)
Tập thơ “Trịnh Cung trên nước Mỹ”
My Search-Tìm
Bùi Giáng trong cái nhìn của phê bình văn học ở miền Nam trước năm 1975
Bùi Giáng trong cái nhìn của phê bình văn học ở miền Nam trước năm 1975
TRẦN HOÀI ANH
24 Tháng 6 2020
Thi sĩ Bùi Giáng
1. Nói đến Bùi Giáng, người ta thường nghĩ đến một nhà thơ vừa quen lại vừa lạ. Quen vì thơ ông vốn mang âm hưởng lục bát của ca dao, của truyện Kiều, dễ thuộc, dễ nhớ, được nhiều người yêu mến, tìm đọc. Nhưng lạ, vì để hiểu đời và thơ Bùi Giáng là điều không đơn giản. Vì vậy, Bùi Giáng luôn là một hiện tượng thu hút rất nhiều sự quan tâm của độc giả cũng như các nhà nghiên cứu, phê bình văn học trong và ngoài nước từ khi ông còn hiện hữu trên cõi đời cho đến lúc ông đi ra ngoài cõi sống.
Trong văn học miền Nam 1954-1975, đời và thơ Bùi Giáng luôn được các nhà phê bình văn học chủ tâm nghiên cứu. Bùi Giáng đã hiện diện trong các công trình phê bình, nghiên cứu văn học ở miền Nam như: Những nhà thơ hôm nay (Nhà văn Việt Nam xb, Sài Gòn, 1957) của Nguyễn Đình Tuyến; Văn học hiện đại, thi ca và thi nhân (Quần Chúng xuất bản, Sài Gòn, 1969) của Cao Thế Dung; Những Khuynh hướng trong thi ca Việt Nam (Khai Trí xb, Sài Gòn, 1962) của Minh Huy; Thơ Việt Nam hiện đại 1900 – 1960 (Hồng Lĩnh xb, Sài Gòn, 1969) của Uyên Thao; Tác giả tác phẩm (Tác giả Xb. Sài Gòn, 1973) của Trần Tuấn Kiệt… Đặc biệt cùng với Trịnh Công Sơn, Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nhật Tiến, Thế Uyên, Thế Phong, Võ Hồng, Bùi Giáng là một trong mười khuôn mặt văn nghệ được Tạ Tỵ nói đến trong tác phẩm chân dung văn nghệ có tên Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay nổi tiếng của mình do Lá Bối xuất bản, Sài Gòn, 1972.
Và càng đặc biệt hơn khi Tạp chí Văn, một trong những tạp chí nghiên cứu, phê bình văn học có uy tín trong đời sống văn học miền Nam trước 1975 đã dành hẳn số 11 ra ngày 18/5/1973 để giới thiệu về Bùi Giáng với các bài: “Bùi Giáng, hồn thơ bị vây khổn” của Thanh Tâm Tuyền; “Thi ca và tư tưởng” của Tuệ Sỹ; “Bùi Giáng, về cố quận” của Nam Chữ; “Bùi Giáng, cải lương ca” của Cao Huy Khanh; “Bùi Giáng trên đường về cố hương” của Trần Hữu Cư; “Ẩn ngữ, cung bậc thi ca” của Thục Khưu; “Chung quanh vấn đề Bùi Giáng” của Trần Tuấn Kiệt; “Thư từ” trao đổi giữa Nguyễn Xuân Hoàng và Bùi Giáng và một số sáng tác thơ, văn của ông …
Ngoài ra Bùi Giáng còn xuất hiện trên nhiều báo, tạp chí, công trình nghiên cứu khác ở miền Nam trước 1975 mà do điều kiện khó khăn về việc tìm kiếm tư liệu, người viết bài này chưa có thể sưu tập được. Tuy nhiên qua những gì hiện có, chúng ta cũng có thể khẳng định rằng Bùi Giáng là một trong những hiện tượng văn học khá nổi bật thu hút ngòi bút của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học ở miền Nam trước 1975. Và nói như Tạ Tỵ: “Bùi Giáng là một hiện tượng, người yêu thơ phải nhìn Bùi Giáng qua phong cách độc đáo, ở đấy, mỗi dòng, mỗi chữ, mỗi ý, được viết ra là máu thịt của thi nhân dâng hiến cho đời. Thơ Bùi Giáng không thuộc trường phái nào hết. Nó không cũ, chẳng mới. Nó có thể là thơ, là tư tưởng, đôi khi thơ và tư tưởng lẫn lộn giao hòa tạo thành một vùng “mờ mịt thức mây”. Thơ Bùi Giáng như cơn đau chưa dứt, như nỗi bàng hoàng chiêm bao chợt tỉnh, để rồi lại chìm vào chiêm bao khác. Nó bâng khuâng ở mỗi vần, mỗi chữ. Có lúc, nó buồn bã như niềm tuyệt vọng! Người yêu thơ cứ phải men lần theo, như đi trên một hành lang trú ngụ. Nhiều điều bí mật. Mỗi khúc quanh lại mở ra những kỳ dị phi thường” (1)
Nhận định trên đây của Tạ Tỵ về Bùi Giáng có lẽ cũng là cảm thức chung của các nhà phê bình văn học ở miền Nam trước 1975 khi nghiên cứu về đời và thơ Bùi Giáng.
2. Buffon nói “Văn là người”. Điều đó rất đúng với Bùi Giáng. Đi vào cõi thơ Bùi Giáng tức là đi vào cõi người của Bùi Giáng. Mà cuộc đời Bùi Giáng thì phiêu bồng như thơ ông. Vì vậy, để hiểu đời và thơ Bùi Giáng có lẽ người đọc cũng phải để hồn mình bồng bềnh phiêu lãng trong cõi thơ của ông. Bởi Bùi Giáng đã từng quan niệm “Cõi thơ là cõi bồng phiêu ”. Đi vào cõi thơ Bùi Giáng tức là đi vào cõi bồng phiêu của đời Ông. Vì vậy khi tìm hiểu các bài nghiên cứu, phê bình văn học ở miền Nam trước 1975 viết về Bùi Giáng, chúng tôi đều thấy chất phiêu bồng này đan xen trong tâm thức và cảm quan của người viết. Thế nên, để hiểu Bùi Giáng, các nhà phê bình, nghiên cứu phải xuất phát từ nhiều điểm nhìn, nhiều hệ quy chiếu khác nhau thì may ra mới chạm đến cõi thơ và cõi đời Bùi Giáng. Bởi theo Tạ Tỵ, Bùi Giáng là người “đã đi vào chiêm bao giữa cuộc sống vì cuộc sống vừa khủng khiếp vừa nên thơ, con người không thể dùng lý luận để biện minh phải trái. Nhưng dù nói gì mặc lòng, đích thực thơ Bùi Giáng bị cái hàng rào triết học bủa vây thật chặt chẽ” (2). Và theo chúng tôi, đây chính là một yếu tính trong đời và thơ Bùi Giáng.
Nói đến thơ và đời Bùi Giáng là nói đến sự hợp hôn diệu kỳ giữa thi ca và triết học. Chính vì vậy đi vào cõi thơ Bùi Giáng, người đọc cần có một tầm đón đợi phù hợp, phải xuất phát từ nhiều điểm nhìn khác nhau cùng với một vốn sống, vốn văn hóa phong phú may ra mới thấu cảm được với hồn thơ của thi sĩ. Đây cũng là điều mà các nhà phê bình văn học ở miền Nam trước 1975 tập trung lý giải. Bởi theo Nguyễn Đình Tuyến “Thơ Bùi Giáng được rất nhiều ca tụng nhưng đồng thời cũng gặp nhiều ngộ nhận. Đó là hiện tượng không thể tránh được đối với các thi tài lớn. Từ lâu, nhà thơ đã linh cảm những bất trắc trên đường sự nghiệp, nhưng với một khát vọng thiết tha và mãnh liệt khởi sự từ mưa nguồn chớp bể, nhà thơ vẫn đi theo tiếng gọi của nàng thơ và không thể chiều ý tất cả chúng ta” (3)
Tuy nhiên với sự đồng cảm và tri âm sâu sắc của những tâm hồn đồng điệu, các nhà phê bình văn học ở miền Nam đã đến với đời và thơ Bùi Giáng bằng một sự trân quí, sẻ chia. Chính vì vậy, trước bao nhiêu câu hỏi của người đời về hiện tượng điên hay không điên của Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền trong bài viết “Bùi Giáng, hồn thơ bị vây khổn” với tất cả sự cảm nhận, tinh tế của một thi sĩ và trách nhiệm của một nhà phê bình đã xác tín “Không. Bùi Giáng không điên, ông là một nhà thơ sáng suốt cực kỳ. Ông là một nhà thơ “ngộ”. Đừng hiểu chữ “ngộ” trong cái nghĩa đơn giản của Đạo giáo…” (4). Và chúng tôi hoàn toàn chia sẻ với nhận định này của Thanh Tâm Tuyền.
Quả thật, Bùi Giáng không phải là một nhà thơ điên như có người nhầm lẫn. Trạng thái điên “nếu có” ở Bùi Giáng chính là sự phóng chiếu của những ẩn ức, đam mê trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Và nếu nhìn từ lý thuyết phân tâm học của Freud chúng ta sẽ thấy rõ vấn đề này. Chính vì vậy, trong cái nhìn của các nhà phê bình văn học miền Nam trước 1975, Bùi Giáng là một thi nhân luôn gắn với cuộc sống con người và hồn thơ của ông luôn neo đậu trong cõi người. Nếu có phiêu bồng thì đó chỉ là sự phiêu bồng của những phút thăng hoa trong sáng tạo. Nói như Cao Thế Dung: “Đọc thơ Bùi Giáng ai cũng nhận thấy có cái độc đáo từ chiều sâu thẳm trong cõi tiềm thức. Chiều sâu ấy như chiều sâu của vô cùng với khắc khoải của khát vọng từ xa vắng người mà rất người” (5). Và cũng theo Cao Thế Dung, tìm vào cõi thơ Bùi Giáng: “người ta chợt nhớ ra cái bóng dáng xa xăm của Verlaine khi bắt đầu dấn thân vào cuộc đời. Nỗi buồn của thơ Bùi Giáng tựa như âm thừa của trận mưa nguồn, của cỏ nội. Nỗi buồn dâng thiệt cao trong cơn say rồi thoát giữa hư vô để tìm lại bóng con người. Nỗi buồn ấy thấm sâu rồi lan nhẹ theo từng mảnh tâm tư trước cơn dao động của ý thức” (6)
Song cõi thơ Bùi Giáng không chỉ đậm đặc nỗi buồn mà còn chất đầy nỗi cô đơn của thân phận trước những dâu bể cuộc đời. Nỗi cô đơn ấy nhiều khi ám ảnh cả đời người mà nếu không “vịn” vào một cái gì đó để “đứng dậy” thì con người cũng dễ bị gục ngã trước cuộc sống. Trong cõi thơ Bùi Giáng nỗi cô đơn là một căn tính mà các nhà phê bình văn học ở miền Nam trước 1975 đều nhận thấy. Vì vậy, khi nhận định về vũ trụ thơ Bùi Giáng, Tạ Tỵ đã thốt lên một cách xa xót: “Bùi Giáng thường gặp mình giữa hồn mình. Cô đơn và cô đơn trước bạt ngàn vướng mắc” (7). Còn Trần Hữu Cư thì cho rằng: “Bùi Giáng vẫn còn đó, có lẽ Bùi Giáng chỉ nhận những lời ngợi khen hay thống trách, nhưng có lẽ quá hiếm người hiểu ông muốn làm gì trên cõi đời này… Cho nên Bùi Giáng vẫn sống cô độc” (8)
Quả thật những suy nghĩ của Tạ Tỵ và Trần Hữu Cư về nỗi cô đơn trong đời và thơ Bùi Giáng thật đúng với cõi đời và cõi thơ của ông. Cô đơn vốn là một căn tính trong bản thể. Tùy theo thân phận / nhân vị của mỗi người mà nỗi cô đơn đó hiện hữu như thế nào!? Ở Bùi Giáng, theo chúng tôi, nỗi cô đơn của ông là nổi cô đơn của định mệnh, của duyên nghiệp. Ông không chỉ cô đơn trong đời mà còn cô đơn trong thơ, cô đơn trong tư tưởng của mình. Sự cô đơn ở Bùi Giáng như một hệ lụy tất yếu của số phận, không thể lý giải. Vì thế, đã lâu rồi, người ta vẫn cứ đặt nhiều câu hỏi về đời và thơ của ông. Và từ những góc nhìn, những suy tưởng riêng của mình mà mỗi người có cách lý giải khác nhau. Nhưng nếu bảo rằng chúng ta đã hiểu và chia sẻ hết những gì hiện hữu trong đời và thơ Bùi Giáng, thì đó là điều không thể !? Nói như Trần Hữu Cư: “Bùi Giáng vẫn sống trong cô độc”. Bởi theo Tạ Tỵ: “Thơ với Bùi Giáng đích thị không phải là cứu cánh, chỉ được thực hiện nhằm giải tỏa ám ảnh về thân phận trong vòng đai cuộc sống nhiều băn khoăn với ý thức siêu hình”. (9)
Vì vậy, trong cái nhìn của các nhà phê bình văn học ở miền Nam, thơ Bùi Giáng là “cuộc hội thoại giữa thi ca và tưởng…”. Nó “luôn luôn là những tương ứng của chung và riêng” (10). Và cuộc hội thoại nầy chính là một đặc điểm trong thi pháp thơ Bùi Giáng mà theo Cao Huy Khanh trong bài tiểu luận “Bùi Giáng, cải lương ca” thì “Văn chương Bùi Giáng là một nỗ lực giải quyết và thực hiện tư tưởng triết lý tồn sinh một cách sống động và thơ mộng” (11). Tính chất triết lý này chi phối rất sâu sắc cõi sống và cõi thơ của Bùi Giáng. Vì vậy, Tạ Tỵ cho rằng: “Bùi Giáng đi vào cõi thơ luôn đeo bên mình niềm ám ảnh của triết học” (12). Và chính vì thế “Bùi Giáng làm thơ nhưng chẳng bao giờ thừa nhận thi ca là lẽ sống duy nhất của đời mình. Người thơ coi kiếp sống như một hiện hữu bất đắc dĩ, nên làm thơ cho khuây khỏa ám ảnh, cái ám ảnh thực sâu đậm bi thương giữa cõi đời hỗn mang và suy tưởng thuần khiết” (13). Và cũng theo Tạ Tỵ: “Bùi Giáng thoát hồn vào ảo giác để nhận ra sự thật” (14). Nhận xét nầy có thể xem là một gợi mở, là chìa khóa để giải mã hành trình sáng tạo thơ của Bùi Giáng cũng như sự hiện hữu khá dị thường của ông trong cuộc đời mà hiện nay vẫn còn nhiều câu hỏi chưa có lời đáp!?
Một điều lý thú mà hầu hết các nhà phê bình ở miền Nam trước 1975 đều tập trung nghiên cứu với những nhận định khá sâu sắc và xác đáng đó là lĩnh vực ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng. Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ. Ngôn từ trong thơ bao giờ cũng là một trong những giá trị đặc biệt làm nên phong cách nhà thơ. Ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng là một vũ trụ ngôn ngữ mà ở đó cuộc hôn phối diệu kỳ giữa thi ca và tư tưởng được thể hiện một cách sâu sắc. Vũ trụ ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng là vũ trụ của những tiếng nói vang vọng từ trong chiều sâu tâm thức và tâm cảm cho nên nó là một thứ ngôn ngữ phi / siêu logic, ngôn ngữ nghệ thuật phi / siêu nghệ thuật. Vì vậy trong cái nhìn của Cao Thế Dung “Thơ Bùi Giáng vốn là sự khó hiểu vì ông đã phá cái trật tự của ngôn ngữ, ông đã đảo lộn cái cơ cấu tạo hình ngôn ngữ. Ngôn ngữ qua thơ ông chỉ còn là một thứ trò chơi. Ông dỡn với từng chữ, đùa cợt với âm thanh thơ” (15) . Còn Tạ Tỵ lại cho rằng: “Thơ Bùi Giáng mang nhiều ẩn dụ ở chiều sâu ngôn ngữ” (16). Và theo Nam Chữ: “Mặc dầu có khi trái ngược nhau đến cực độ, ngôn ngữ thi ca của ông (Bùi Giáng – THA) ngụ ý một cách sâu xa. Người ta biết rõ ràng những dung từ khó khăn nhất, những âm vận ngắn củn nhất, đôi lúc đến quá liều lĩnh, khi đi vào trong cung cách lập ngôn của ông đều trở nên linh hoạt dị thường, đều trở nên nhẹ nhàng và âm điệu réo rắc như nhịp tấu của một tay gảy đàn tài tử, không còn câu nệ ở hình thức cây đàn nữa”. (17)
Mặt khác, từ góc nhìn truyền thống Cao Huy Khanh cho rằng: “Thơ Bùi Giáng cốt yếu là một hiện tượng ngôn ngữ độc đáo tựu thành từ mối đam mê nguồn thơ lục bát (đặc biệt truyện Kiều) phối hợp với âm điệu ca dao thuần túy dân tộc” (18). Song phải chăng, ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa thi ca và tư tưởng, giữa nghệ thuật và triết học. Và điều nầy đã tạo nên một phẩm chất riêng có trong thơ ông, nên khi nhận định về ngôn ngữ thơ Bùi Giáng, Nguyễn Đình Tuyến cho rằng: “lời thơ rộng rãi luôn luôn thay đổi bình diện, thâm trầm trang nhã mà không xa lời ca nơi đồng ruộng, thôn trang, bình dị mà tân kỳ, đó là tính chất của thơ Bùi Giáng” (19)
Tuy nhiên khi nói đến ngôn ngữ thơ Bùi Giáng, các nhà phê bình văn học không chỉ nói đến mặt sáng tạo, mặt thành tựu mà còn chỉ ra những mặt hạn chế. Đó là sự dễ dãi, đùa cợt, sáo rỗng trong ngôn ngữ ở một số bài thơ của Bùi Giáng mà theo Cao Thế Dung là kỹ thuật thơ của Bùi Giáng “chưa phải là điêu luyện vì cách sử dụng ngôn ngữ của ông còn nhiều điểm đáng chê vì nó không thể hiện được phần yếu tính của thơ”. (20) Không những thế, Cao Thế Dung còn cho rằng có lúc Bùi Giáng sử dụng những “ngôn từ quá cũ, sáo rỗng, chẳng hạn như “Nữ Chúa Nương” và nhiều khi còn dùng những ngôn ngữ mà với thi ca nó sẽ tầm thường như con chuồn chuồn, con kiến” (21)
Theo chúng tôi, ý kiến nầy tuy có phần xác đáng nhưng cực đoan. Vì không nhất thiết cứ là thơ thì ngôn ngữ phải là những “lời có cánh” bay bỗng, sang trọng, xa cách cuộc sống đời thường. Và nếu cho rằng dùng những ngôn từ trong cuộc sống làng quê như chuồn chuồn, con kiến sẽ làm tầm thường hóa thơ ca thì đây là ý nghĩ có phần hàm hồ . Bởi vì, ngôn ngữ thơ, suy cho cùng cũng là ngôn ngữ từ đời sống được nhà thơ chưng cất lên mà thôi. Vì vậy, vấn đề đặt ra ở đây, là nghệ thuật và kỹ thuật sử dụng ngôn ngữ của nhà thơ như thế nào trong quá trình sáng tạo thơ ca, chứ không phải là việc dùng từ “bình dân” hay “bác học”. Bởi lẽ, nói như Rimbaud: “Tiếng nói kia của nhà thơ sẽ là hồn của tâm hồn, thu gom hết sự vật, hương, thanh sắc, nó sẽ là ý tưởng móc vào ý tưởng mà lôi kéo đi”. (22)
Một bình diện khác trong thế giới nghệ thuật thơ Bùi Giáng mà các nhà phê bình văn học ở miền Nam cũng đề cập đến đó là giọng điệu mà theo Uyên Thao: “Bùi Giáng cũng tạo được một cái lạ” đó là “cái ngang” và chính “cái ngang” này đã làm cho “Bùi Giáng có cái giọng bạt đó và cái giọng bạt đã ảnh hưởng vào âm vận của thơ Giáng” (23). Và trong cái nhìn của Uyên Thao thì Bùi Giáng là một trong không nhiều gương mặt thơ tiêu biểu của thơ ca hiện đại Việt Nam.
Thục Khưu trong bài Ấn ngữ, cung bậc thi ca Bùi Giáng, đã cảm nhận vẻ đẹp trong giọng điệu thơ Bùi Giáng bằng những cảm xúc rất tinh tế và sâu sắc. Theo Thục Khưu cái ngân nga trong thơ điệu Bùi Giáng “là một bức thông điệp mỹ miều đồ sộ của tâm hồn” (24). Thơ là tiếng nói của tâm hồn. Giọng điệu trong thơ bao giờ cũng là giọng điệu của tâm hồn thi nhân. Đây là một trong những yếu tố thi pháp làm nên nét riêng trong phong cách của mỗi thi nhân. Giọng điệu ấy bao giờ cũng là phương thức hữu hiệu nhất chuyển tải tâm thức và tâm cảm của thi nhân đến người tiếp nhận. Vì thế, Tạ Tỵ cho rằng: “Thơ Bùi Giáng súc tích chứa đựng nhiều u uẩn. Cái khung trời sáng láng hồn hậu chan hòa mơ ước, phiêu bồng của buổi nào xa xôi, vẫn thấp thoáng hiện về trong thi nhân qua những vần điệu” (25).
Không chỉ lạ lẫm trong giọng điệu, thơ Bùi Giáng cũng khám phá nhiều lĩnh vực của hiện thực và đó là một hiện thực luôn vận động: từ truyền thống đến hiện đại, từ thế giới hữu hình đến vô hình, từ hiện thực cuộc đời đến hiện thực tâm linh… Sự vận động này vô cùng linh hoạt và biến sinh theo sự biến đổi của đời sống. Nó phiêu bồng và chuyển dịch như cuộc đời của thi nhân. Chính vì lẽ đó, Nam Chữ cho rằng: “Phần lớn, đề tài trong thi ca Bùi Giáng còn phức tạp hơn cả người ta tưởng tượng được. Nó còn đảo lộn hơn cả cái người ta hiểu. Nghĩa là đã có một sức cảm quan như vượt qua sự rung động thuận lợi của một cá nhân hơn là một con người” (26). Vì vậy, cũng theo Nam Chữ hành trình tiếp nhận thơ Bùi Giáng cũng là một hành trình đi từ chối bỏ đến tham dự, từ ngoại vi đến trung tâm… Và đây là một hành trình lâu dài.
Ta hãy nghe Nam Chữ giãi bày hết sức thành thực về hành trình tiếp nhận thơ Bùi Giáng trong đời sống văn học lúc bấy giờ: “Một trường hợp rất bi đát nhưng có thực trong đất nước Việt Nam này, chúng ta có ngờ nỗi đâu một người suốt đời tận tụy với nghệ thuật, đã có hơn mấy chục tác phẩm được in ra (tiểu luận, phê bình, dịch, thi ca…) giờ đây lại thêm một mớ tóc trắng phất phơ về chiều, trừ một số rất ít chịu thần phục, thơ ông, lại gần như không có độc giả… Một vài tác phẩm, nhất là về thi ca cái giá trị đúng mức của nó, lần đầu tiên xuất hiện đã không được đón nhận rộn rịp như một số thi sĩ trước ông và sau ông vài năm. Thực ra phải đợi đến nhiều năm, gần 10 năm sau tác phẩm thơ ca của ông ra đời người ta mới hốt hoảng và tìm đọc lại những tác phẩm trước kia của ông” (27). Phải chăng, đây cũng là qui luật hằng thường trong tiếp nhận các hiện tượng văn học của người đời. Đến nỗi, một thiên tài như Nguyễn Du mà còn phải thở than: Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như… nghe sao mà chua chát thế!
Và cũng theo Nam Chữ cách lập ngôn của Bùi Giáng “là cách ông muốn im lặng đến cùng. Ông muốn nói một thứ tiếng nói im lặng, chẳng ai hiểu ông cả. Trừ phi một người nào đó trong chúng ta cùng đứng trên vực thẳm lặng lờ như ông, cùng nhìn xuống đáy sâu không đáy kia.” (28). Theo chúng tôi cái im lặng của Bùi Giáng là im lặng của một người đã đốn ngộ. Và ông dùng thơ ca để chuyển tải sự im lặng của mình như một ứng phó trước những nhiễu nhương của cuộc đời mà ông chỉ dự phần như một kẻ bên lề.
Song, cuộc đời đã không để Bùi Giáng sống trong lặng im. Bởi càng ngày, người yêu thơ Bùi Giáng, người quí mến, kính trọng văn tài của Bùi Giáng càng nhiều và luôn có sự tiếp nối giữa các thế hệ mà Hội thảo khoa học kỷ niệm 15 năm ngày mất của ông hôm nay là một minh chứng. Đây có phải là niềm hạnh phúc với ông chăng?! Bởi như Trần Tuấn Kiệt trong bài viết chung quanh vấn đề Bùi Giáng đã xác quyết: “Ta có thể so sánh con người Bùi Giáng ngày nay với Đức Phật thời Ngài mới bắt đầu thuyết pháp ở vườn Lộc Uyển. Trong khi đó ma vương quỉ sứ và môn đệ Bà La Môn giáo đến châm chích đủ điều. Nhưng Đức Phật vẫn là Đức Phật và ma quỉ gì đó vẫn là ma quỉ” (29)
3.Có thể nói, Bùi Giáng hiện hữu giữa đời như một ngôi sao lạ, mà theo thời gian, hào quang của nó chắc chắn sẽ còn mãi tỏa sáng. Cuộc đời và văn nghiệp của ông có thể còn những uẩn khúc, những bí mật cần được giải mã. Song một điều, ai cũng phải thừa nhận đó là tài năng của ông. Những tháng năm còn “làm kiếp con người” (từ dùng của TCS), Bùi Giáng chẳng có gì cả: học vị, học hàm, địa vị xã hội, tài sản… nghĩa là ông không có một chút lợi danh gì cả ngoài những ngày tháng phiêu bồng. Ông là một người “vô sản” đúng nghĩa chứ không phải là những người “vô sản” chỉ được phủ một lớp vỏ danh từ. Nhưng tài sản mà ông để lại cho đời thật vô giá nhất là sự nghiệp thơ ca của ông mà nói như Tạ Tỵ: “Bùi Giáng không nói gì cả, nhưng toàn bộ thi phẩm của Bùi Giáng đã khơi động một trời thơ rộng rinh, bát ngát. Thi nhân không dấn thân vào đâu hết, coi cuộc đời như cõi dong chơi tạm bợ. Làm thơ cũng là đi vào thơ như đi vào cõi vô định. Không có chọn lựa hay thử thách chỉ có xúc cảm và ngôn ngữ giao thoa, diễn đạt những gì ám ảnh trong hồn” (30)
Văn nghiệp của ông dù trải qua những biến thiên của cuộc sống nhưng nó vẫn vượt qua mọi giới hạn, mọi rào cản của đời sống chính trị xã hội để tồn sinh với cuộc đời. Bởi lẽ, cái làm nên giá trị văn chương của Bùi Giáng không chỉ có ở tài năng của ông mà còn ở tấm lòng của ông đối với quê hương đất nước. Và theo Trần Hữu Cư cảm hứng “tư cố hương” là một niềm khắc khoải không nguôi trong thơ Bùi Giáng. Vì vậy “Tất cả những gì ông làm trong thơ, viết lách, dịch thuật…v…v… tất cả đều làm một cuộc lên đường tìm lại một “màu hoa trên ngàn”, một “tình yêu quê hương” cho thời hiện tại, thời mà chúng ta đang sống trong nỗi mất quê hương” (31) Phải chăng đây là cái gốc tạo nên hệ giá trị nhân bản của mọi sáng tạo nghệ thuật của Bùi Giáng trong đó có thơ ca mà theo Cao Thế Dung đó là “biết yêu sự thực, biết quí trọng những gì cao đẹp trong con người, tình yêu, nghệ thuật” (32)
Chính giá trị nhân bản này là bệ phóng chắp cánh cho hành trình sáng tạo của ông và nó cũng là nhân tố kết nối ông với cuộc đời, với con người, làm cho văn nghiệp của ông nói chung và thơ ca nói riêng sẽ vượt lên mọi giới hạn để mãi mãi tỏa hương trong cuộc đời. Và có thể nói, Bùi Giáng là người đã vượt qua giới hạn của vận mệnh con người và định mệnh nghệ thuật để vươn đến sự bất tử thường hằng như những câu thơ giản dị mà đầy tính triết luận của ông:
(1) (2) (7) (9) (12) (13) (14) (16) (25) (30) Tạ Tỵ, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, Lá Bối xuất bản, Sài Gòn 1973, tr.583 – 584, tr. 563, tr.557, tr.568, tr.571, tr.575, tr.575, tr.579, tr.563, tr. 587.
(3) (19) Nguyễn Đình Tuyến, Những nhà thơ hôm nay, Nhà văn Việt Nam xuất bản, Sài Gòn 1967, tr.18, tr.17.
(4) Thanh Tâm Tuyền, “Bùi Giáng, hồn thơ bị vây khổn”, Văn số 11, ra ngày 18 /5/ 1973, tr.8
(5) (6) (15) (20) (21) (32) Cao Thế Dung, Văn học hiện đại thi ca và thi nhân, Quần chúng xuất bản, Sài Gòn 1969, tr. 42; 42, tr.44, tr.48, tr.48, tr.48
(8) (31) Trần Hữu Cư, “Bùi Giáng trên đường về cố hương”, Văn 11, ra ngày 18 /5/ 1973, tr.69, tr.56
(10) Tuệ Sỹ, “Thi ca và tư tưởng”, Văn số 11 ra ngày 18/5/1973, tr.27
(11) (18) Cao Huy Khanh “Bùi Giáng, cải lương ca” Văn 11, ra ngày 18 /5/ 1973 tr.60, tr.65
(17) (26) (27) (28) Nam Chữ, “Bùi Giáng, về cố quận”, Văn 11, ra ngày 18 /5/ 1973 tr.45, tr.43, tr.43, tr.48
(22) Trần Hoài Anh , Thơ – Quan niệm và cảm nhận, Nxb. Thanh niên, H, 2010, tr. 280
(23) Uyên Thao, Thơ Việt Nam hiện đại 1900 – 1960, Hồng Lĩnh xb, Sài Gòn 1969, tr.455
(24) Thục Khưu, “Ẫn ngữ, cung bậc thi ca”, Văn 11, ra ngày 18 /5/ 1973, tr.74
(29) Trần Tuấn Kiệt, “Chung quanh vấn đề Bùi Giáng”,Văn 11, ra ngày 18/5/1973, tr. 79
Một trong những kẻ sĩ ngoài Bắc đầu tiên mà tôi tiếp xúc sau 1975 là Lưu Trọng Văn, con trai thi sĩ tiền chiến Lưu Trọng Lư. Ngay từ hồi mới quen, Lưu Trọng Văn đề nghị tôi nên viết hồi ức về những gì mà chính tôi nếm trải trong chiến tranh. Tôi trích từ tự truyện HAI HÀNG DỌC, TRƯỚC THẲNG vừa hoàn thành trong tháng 5 – 1975 ra một chương gần cuối đặt tựa là “LOÀI CHIM ĐI BIỂN” và gửi Lưu Trọng Văn đăng báo Văn Nghệ Trung Ương ngoài Bắc. Các bạn nên biết bốn chữ LOÀI CHIM ĐI BIỂN thoạt nghe có vẻ cực kỳ thơ mộng, nhưng thực chất đó là tên gọi triển khai một cách hài hước của bốn từ “LAO CÔNG ĐÀO BINH” gọi tắt là “LCĐB”, là tên gọi chung những sĩ quan binh lính Việt Nam Cộng Hòa đào ngũ, bỏ ngũ, phản chiến, bị giam ở quân lao, cuối cùng gom lại tập trung đưa đi làm lao công chiến trường như một thứ “bia đỡ đạn” . LCĐB còn được gọi nôm na là “Lũ Chó Đái Bậy” hoặc “Lính Chiến Đồng Bằng”… Ngay khi vừa xuất hiện trên mặt báo, truyện ngắn LOÀI CHIM ĐI BIỂN đã gây tiếng vang và được dư luận ngoài đó nhận xét như một thứ bút pháp lạ.
Lưu Quang Vũ
Qua Lưu Trọng Văn, tôi có dịp làm quen với cặp vợ chồng nhà thơ nổi tiếng ngoài đó là Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh. Tôi có một kỷ niệm riêng đặc biệt với Lưu Quang Vũ một đêm ở Hồ Con Rùa mà không tiện kể ra đây. Chỉ biết lúc đó anh đã kể với tôi về thời gian tuyệt vọng không lối thoát khi B52 dội bom miền Bắc, thậm chí anh đã có ý định tự sát dưới mưa bom (nhưng bất thành) khi tổ chức và đồng nghiệp tỏ ra nghi ngờ lòng yêu nước của mình. Cuối năm 1977 Lưu Quang Vũ là một trong vài người ngăn cản tôi đi bộ đội khi tôi cho anh xem những lá đơn tình nguyện ra biên giới chiến đấu. Bằng kinh nghiệm cá nhân của một người cầm súng phía Bắc, có lẽ anh hiểu rằng tôi không thích hợp với trò chơi phe nhóm của chiến tranh. Kỷ niệm văn nghệ của chúng tôi được ghi nhận bằng tuyển tập thơ NHÌN NHAU VÀ NÓI do tôi và anh Tôn Thất Mạnh Tường phụ trách tập hợp, đặt tên và biên tập. Trong tuyển tập thơ NHÌN NHAU VÀ NÓI ra đời cuối năm 1975 mang ý nghĩa thống nhất thơ ba miền do Thành Đoàn xuất bản này, tôi đã chọn một bài thơ của Lưu Quang Vũ dù lúc đó chưa quen biết anh. Bài thơ nói lên tâm trạng trống rỗng của người lính sau khi đất nước thống nhất, bài thơ độc đáo đối với độc giả phương Nam bởi không nằm trong dòng chảy của thơ minh họa và thơ đồng phục. Bài thơ ăm ắp tính người. Đáng tiếc đến giờ này kho sách của tôi đã bị mất tuyển tập đầu tiên ấy.
Kỷ niệm riêng với tôi và Lưu Quang Vũ một đêm ở Hồ Con Rùa thực ra khá lãng mạn nếu không có bài thơ RAU MUỐNG của tôi chen vào. Đêm đó khi Lưu Quang Vũ phác thảo về những vở kịch của anh và yêu cầu tôi đọc thơ thì tôi đã chọn bài mang tựa nêu trên để trắc nghiệm sự chịu đựng của anh. Còn phải hỏi, tôi là dân gốc Nam Định nhưng sinh ra ở Sài Gòn, ở xứ sở của những người trọng nghĩa khinh tài, ăn ngay nói thẳng, dám chơi dám chịu nên không thể giả dối với ai hoặc lắt léo theo kiểu miền Bắc. Tôi đã đọc bài thơ làm anh choáng váng:
RAU MUỐNG
Các bạn đã sống một thời hiếm hoi cá thịt Các bạn chiêm bao nhà ngói cây mít Và ước mơ một cái ao rau muống trong vườn Các bạn hết còn tin trái đất có thiên đường Thiên đường trước mặt là cái hàng rào có khóa
Các bạn rủ nhau vào Nam và trở thành khá giả Chiêm bao và ước mơ có dịp được nhân lên Các bạn được nhân lên ngay cả niềm tin Năng nhặt chặt bị bằng túi tiền nửa nước Các bạn viết kịch thành công mà không tự mình diễn được Bởi những nhân vật lớn vẫn còn nguyên trong những hàng rào Các bạn định dùng văn chương làm chìa khóa à ? Còn lâu !
Dù có cố gắng thủ vai cho đến lúc bạc đầu Các bạn cũng không thoát khỏi những cọng dây rau muống…
Coi, phải nói rằng tôi khâm phục sức chịu đựng của Vũ. Sau một phút lặng người, anh đã cười ha hả quàng vai tôi và nói như khóc: “Tôi muốn làm thơ như ông nhưng không làm được, và có làm được cũng không đạt được”. Năm 1994, ra Bắc tôi không còn cơ hội gặp Lưu Quang Vũ. Đơn giản là vì anh đã chết một cách bất đắc kỳ tử. Bất đắc kỳ tử đến độ cái chết của anh tới bây giờ vẫn còn là một dấu hỏi với quá nhiều lời giải đáp. Tôi chỉ biết tưởng niệm hai vở kịch NHÂN DANH CÔNG LÝ và TÔI VÀ CHÚNG TA của Võ Khắc Nghiêm – Doãn Hoàng Giang và của anh như sau: CÔNG LÝ là một KÝ LÔNG Lúc cân, chẳng biết phải NHÂN DANH gì ?
Mới đầu TÔI VÀ CHÚNG TA Đến khi màn khép TAO VÀ CHÚNG BAY !
BCV (Trích hồi ký GIAI THOẠI CỦA THI SĨ)
‘The Interpreter’ – nỗ lực tạo đối thoại của một nhóm trẻ gốc Việt
‘The Interpreter’ – nỗ lực tạo đối thoại của một nhóm trẻ gốc Việt
Cookie Dương (trái) và Jady Chan, đồng sáng lập viên của trang của nhóm The Interpreter
Tin về một giới trẻ thuộc thế hệ Z, trong đó có người yêu nhạc K-Pop, dùng mạng xã hội Tik-Tok ghi tên nhưng không tham dự cuộc vận động của tổng thống Donald Trump tại Tulsa là đề tài được bàn luận khá nhiều kể từ đầu tuần qua.
Ủng hộ hay chỉ trích hành động này, thì có một sự thật chúng ta cần nhìn nhận là có một giới trẻ đang bày tỏ tiếng nói của mình và dự phần vào cuộc tranh luận xã hội theo phương cách và những phương tiện đang bắt đầu được chú ý.
Giới trẻ thế hệ Z gốc Việt tại Hoa Kỳ cũng có một số người quan tâm đến chính trường. Những em này không chỉ bày tỏ thái độ mà còn có hành động cụ thể, như nhóm The Interpreter – Người Thông Dịch, của những em gốc Việt tuổi ngoài đôi mươi, hoặc sinh ra hay trưởng thành tại Mỹ.
Sinh hoạt của nhóm có thể được dùng như một điển cứu (case study) để chúng ta tìm hiểu một trong những khuynh hướng của giới trẻ gốc Việt trong bối cảnh chính trị hiện nay.
Trang tin tức của nhóm The Interpreter do Cookie Dương, tên tiếng Việt là Dương Ca Dao và Jady Chan, một sinh viên gốc Việt-Hoa đồng sáng lập, vừa được trình làng đầu tháng Sáu. Cookie Dương là một tân cử nhân 22 tuổi vừa tốt nghiệp chuyên ngành Đối Ngoại tại đại học University of Southern California (USC) trong niên học 2020 vừa qua và Jady Chan là sinh viên, đang theo học ngành Thuật Toán Thần Kinh Học cũng tại USC.
Với sự giúp đỡ và tiếp tay của một số bạn đồng ý hướng như Evelyn Leong, Ashley Dương, Nhân Nguyễn, Terry Nguyễn, Cookie Dương trong vai trò biên tập, dịch thuật và Jady Chan chịu trách nhiệm thiết kế trang mạng, đã lập ra trang The Interpreter, với mục đích mang các kiến thức, thông tin thời sự đến thế hệ gốc Việt lớn tuổi và bị trở ngại ngôn ngữ, trong việc tiếp cận thông tin dòng chính, cũng như nhằm chống lại các tin tức giả mạo, ngụy tạo đang lan tràn trong cộng đồng người Việt hiện nay.
Qua phương châm “Chuyển dịch kiến thức, tăng sức mạnh cộng đồng” (Translating Knowledge, Empowering Community), nhóm trẻ có khả năng sử dụng lưu loát song ngữ này, điều khá thú vị và hiếm ở lứa tuổi các em, để thực hiện những mẩu phim Tik-Tok ngắn, chuyển dịch tin tức, bài viết từ các hãng thông tấn uy tín thế giới sang tiếng Việt một cách khá chính xác về cách dùng chữ, để cung cấp cho cộng đồng những thông tin xác thực.
Evelyn Leong (trái) và Nhân Nguyễn, hai trong số các thành viên chủ chốt của The Interpreter
Quy tụ khoảng gần 20 em đã tốt nghiệp các đại học Mỹ hay là những chuyên gia trẻ, có cả thành viên đang làm cho tờ báo VOX, nhóm thiện nguyện trẻ gốc Việt này tìm đến nhau và khởi đầu từ những bức bối cá nhân trong gia đình. Cookie Dương bảo rằng cha mẹ, người thân lớn tuổi trong gia đình các em đã đọc những thông tin và có cái nhìn khá thiên lệch về một số vấn đề xã hội chính trị đang xảy ra hiện nay, dẫn đến tình trạng tranh cãi, xung đột trong gia đình giữa cha mẹ và con cái.
Từ những kinh nghiệm cá nhân mà nhiều em gốc Việt sinh ra hay lớn lên tại Mỹ đang gặp phải trong gia đình, The Interpreter ra đời không chỉ để nối lại khoảng cách với cha mẹ, tụ họp giới trẻ gốc Việt mà còn mang cả với ý hướng tích cực, nhằm giúp đỡ và phát triển cộng đồng bằng những tri thức và trải nghiệm mà các em đã được thụ hưởng từ một nền giáo dục khai phóng, luôn cổ súy những giá trị dân chủ và bác ái của xã hội.
Chỉ sau vài tuần hoạt động, Facebook của The Interpreter đã có hơn 800 người thích và theo dõi. Cookie Dương cho biết là hiện có khoảng 500-700 lượt người đọc tin tức mỗi ngày. Hầu hết những ủng hộ và chia sẻ khá tích cực, dù không thiếu những lời chỉ trích, bài bác.
Vào xem, bên cạnh các vấn đề thời cuộc như dịch bịnh, chủng tộc, chính trường…, trang The Interpreter còn có một số bài dịch khá thú vị về cách để đối thoại với cha mẹ và người thân gia đình trước các vấn đề gây tranh cãi. Cũng có không ít những người trẻ đồng lứa của các em đang có chung xung đột với gia đình, cũng đã vào để chia sẻ vấn đề, suy nghĩ và chuyển tin tức cho người thân.
Nhìn nhận về dự án, chủ trương và cách thức hoạt động của nhóm The Interpreter có thể khác nhau theo nhãn quan chính trị xã hội của một số người, nhưng phải ghi nhận rằng, đây là một tín hiệu tích cực và đầy hy vọng khi nhìn vào một giới trẻ gốc Việt biết dấn thân, đang nhắm đến ích lợi cộng đồng và tìm kiếm sự thông hiểu giữa hai thế hệ qua việc chia sẻ thông tin.
Khoảng cách thế hệ do những trải nghiệm, quá khứ cho đến sự giáo dục, nhận thức khác biệt luôn hiện diện trong mỗi gia đình và càng cách biệt hơn trong các gia đình di dân. Là một thế hệ trẻ đã được thụ hưởng nền giáo dục khai phóng để trở những con người trưởng thành độc lập trong suy nghĩ, ý thức trong hành động và có tri thức trong vấn đề, việc đối thoại trên tinh thần tôn trọng cùng thái độ lắng nghe, thông hiểu với các em không chỉ là một sự cần thiết mà còn là lợi ích lớn lao trong mỗi gia đình. Cho chính các em và cả những bậc cha mẹ.
Dù theo khuynh hướng nào, chắc hẳn sinh hoạt của nhóm The Interpreter cũng góp phần vào sự suy nghĩ và đánh giá của cộng đồng trước cuộc bầu cử tổng thống Mỹ đang đến gần, khi cảm xúc bênh chống các ứng viên ngày càng mạnh mẽ, đến độ trở nên kích động. Những chiến lược gia và ban tranh cử của các bên xem ra đang tìm cách tốt nhất để tìm sự ủng hộ từ mỗi nhóm cử tri khác nhau.
Nói về bầu cử thì không thể không nói đến tầm quan trọng của lá phiếu của cử tri trẻ tuổi, đặc biệt với những thiếu niên vừa đúng 18 tuổi để bỏ phiếu lần đầu trong năm nay, ước tính sẽ vào khoảng bốn triệu em theo như số liệu từ Đại Học Florida.
Vẫn theo nghiên cứu trên, nhóm này có xu hướng nghiêng về đảng Dân Chủ, với 61.6 % bỏ phiếu cho TT Barack Obama vào năm 2008, chỉ thua kỳ bầu cử năm 1960 cho TT Kennedy là 63.8 %.
Tuy nhiều số liệu và quan sát chung cho thấy xu hướng và thái độ chính trị của người gốc Việt tại Hoa Kỳ nghiêng về đảng Cộng Hòa, vẫn chưa có những thăm dò và con số chính thức riêng về giới trẻ gốc Việt. Ắt cũng không khác mấy nếu dựa theo thăm dò từ tổ chức Quỹ Pháp Lý và Giáo Dục người Mỹ gốc Á (AALDEF), cho thấy nhóm cử tri trẻ gốc Á 18-29 tuổi hầu như đã dồn phiếu cho các ứng viên đảng Dân Chủ với tỉ lệ 89%.
Sẽ không phải các em trao quyền cho cộng đồng qua việc tạo đối thoại như nhóm The Interpreter nói trên, mà chính cộng đồng cùng những bậc cha mẹ gốc Việt cần đặt niềm tin và trao quyền cho các em. Để các em sẽ thay mặt thế hệ đi trước, dự phần và đáp trả cho xã hội những gì mà chúng ta đã được thụ hưởng đầy đặc ân, trong tư cách là những công dân có trách nhiệm, đồng thời là những di dân xứng đáng của những quốc gia đang sinh sống.
Dấu đời qua nhanh
Dấu đời qua nhanh
Nghĩ đời sao vội qua nhanh Tàn phai còn lại mong manh phận người Trăm năm một cuộc rong chơi Tình yêu nơi chốn tuyệt vời thâm sâu.
Mê tình là một cơn đau Đôi lần để nhớ, mai sau để buồn Dòng xuôi chảy đến cội nguồn Nước dâng dưới bến điên cuồng gió mưa.
Mây trời nhớ núi khi xưa Mưa bay lất phất gió lùa sương bay Thu đông ẩn hiện chân mây Sương rơi rụng ngọc, chứa đầy nhớ thương.
Môi em nở nụ đào hương Lời em nhỏ nhẹ vấn vương một đời Ta về nghe nặng tình rơi Một đời trôi nổi bên trời đắm say.
Lê Tuấn
Tai nghe tiếng đời
Tiếng lạ xôn xao vạn tiếng gào Lòng ta tiếng nấc, chợt ngẹn ngào Để buồn vương vấn mùa trăn trở Cõi đời va đập tiếng xôn xao.
Cơn đồng thiếp vẫn còn điên đảo Vạn nỗi buồn dồn dập bên nhau Tưởng chừng như, đất trời lay động Xô đời, dịch chuyển những cơn đau.
Người bạn đơi ơi! Thức hay ngủ Xin cùng ta cất tiếng hát ca Nhịp đều tiếng vỗ, chuyền thêm lửa Bạn tình ơi, đừng hắt hủi ta.
Lê Tuấn
TÔI CÀI ĐIỆP-VIÊN VÀO NỘI-BỘ
BA-LAN & ĐÔNG ÂU
ỦY-HỘI QUỐC-TẾ
Hiệp-Định Paris
NGÀY 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp-Định Paris chấm dứt chiến-tranh và tái-lập hòa-bình tại Việt-Nam được ký-kết và có hiệu-lực kể từ hôm sau.
Phần đông đồng-bào Miền Nam đã nghe, đã đọc và đã phát-biểu quá nhiều những lời chỉ-trích Hiệp-Định Paris, và chính những người thân-Chính-Quyền nhất cũng phải đồng-ý phần lớn với những phát-biểu bất-mãn về các điều-khoản trong đó thua-thiệt cho Việt-Nam Cộng-Hòa.
Tám tháng sau đó, vào ngày 26 tháng 9, tôi rời Vùng II ra Vùng I đảm-trách Giám-Đốc Đặc-Cảnh (An-Ninh và Phản-Gián) Miền Trung.
VỚI tôi, về mặt nổi, những điều liên-quan thiết-thực đến cách xử-trí của nhân-viên công-lực, những khi đối-diện với các thành-viên Cộng-Sản (cộng-sản Ba Lan và Hung Gia Lợi trong Ủy Hội Quốc Tế, và cộng sản Bắc Việt Xâm-Lược trong Ban Liên Họp Quân Sự 4 và 2 Bên) ở nơi công-cộng, là điều cần đề-cập nhất, thì không nghe Cấp Trên chỉ thị gì, mả lại còn ra lệnh cấm tiếp-xúc với họ nữa, nên tôi đã tự ý hướng-dẫn cho thuộc-viên từ trong Vùng II rồi, nay ra Vùng I tôi cũng làm lại việc đó cho các cấp nhân viên ở ngoài này.
NHƯNG. quan-trọng hơn hết, về mặt chìm, tôi đã có cách cụ-thể vớt-vát thiệt-thòi cho phe Quốc-Gia đối với Hiệp-Định Paris:
Từ trong Vùng II, tôi đã quyết-định tấn-công tình-báo ngay vào chính các Phái-Đoàn Bắc-Việt Xâm-Lược và Cộng-Tặc Miền Nam (ít nhất thì cũng đã đạt được một thành công ban đầu tại Phan Thiết); và nay thì tại Vùng I, gặp được hoàn-cảnh cả đối-nội lẫn đối-ngoại thuận-lợi hơn, tôi phải đích-thân ra tay đối với cả Ba-Lan lẫn Hung-Gia-Lợi, bắt đầu từ các Phái-Đoàn liên-hệ tôi gặp hằng ngày trong thành-phố Đà Nẵng này.
Ủy-Hội Quốc-Tế tại Khu-Vực II
THEO Hiệp-Định Paris thì lĩnh-thổ Việt-Nam Cộng-Hòa được chia ra làm nhiều Khu-Vực; mỗi Khu-Vực được đặt dưới quyền kiểm+giám của một Phái-Đoàn đại-diện Ủy-Hội Quốc-Tế, tức Ủy-Hội Kiểm-Soát và Giám-Sát Quốc-Tế (ICCS=International Commisssion of Control and Supervision). Ủy-Hội Quốc-Tế gồm có 4 nước: Gia-Nã-Đại (Canada) ― về sau Ba-Tư (Iran) thay-thế ―, Nam Dương (Indonesia), Ba-Lan (Poland), và Hung-Gia-Lợi (Hungary).
Đại Diện các phe lâm-chiến được gọi là Ban Liên-Hợp Quân-Sự 4-Bên (Hoa-Kỳ, Việt-Nam Cộng-Hòa, Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa tức Cộng-Sản Bắc-Việt, và Cộng-Hòa Miền Nam Việt-Nam tục gọi “Việt-Cộng”) ― về sau chỉ còn 2-Bên (VNCH và CHMNVN).
Riêng (Quân-) Khu I của VNCH được chia thành 2 Khu-Vực của Ủy-Hội Quốc-Tế: Khu-Vực I đặt trụ-sở tại Huế, và Khu-Vực II đặt trụ-sở tại Đà-Nẵng.
Đà-Nẵng là thủ-phủ của Miền Trung, nơi có Bộ Tư-Lệnh Quân-Đoàn I & Quân-Khu I, Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực & Ngành Đặc-Cảnh Vùng I, các cơ-quan Chính-Quyền cấp Vùng, các Tòa Tổng-Lĩnh-Sự ngoại-quốc cấp Vùng, v.v…
Trong lúc Cảnh-Sát Quốc-Gia toàn-quốc đều phải tuân theo chỉ-thị của thiếu-tướng Tư-Lệnh Nguyễn Khắc Bình ― không được tiếp-xúc với Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi ― thì tôi đã xin, và đã được phép, cho riêng tôi được tiếp-xúc với các thành-viên Cộng-Sản nước ngoài ấy.
(Đối với Cộng-sản Việt-Nam thì Ngành Đặc-Cảnh, từ cấp lĩnh đạo xuống đến các Điệp-Trưởng, Trưởng Lưới, Trưởng Mũi và Trưởng Mối Biệt-Tác, đã tiếp-xúc từ lâu rồi, ngay từ trước khi bọn họ bị giết, bị bắt, hoặc hưởng-ứng chính-sách Chiêu-Hồi, mục-đích là để tuyển dụng họ làm nội-tuyến cho ta).
Hai Phái Đoàn Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi
ỦY-HỘI Quốc-Tế được một Hãng Thầu Hoa-Kỳ cung-cấp một tòa nhà riêng, để làm trụ-sở chính-thức; nơi đó hai Phái Đoàn Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi làm việc chung với các Phái Đoàn Ba-Tư và Nam Dương.
Đó cũng là nơi Ủy-Hội Quốc-Tế chính-thức hội-họp với các Phái Đoàn Hoa-Kỳ và Việt-Nam Cộng-Hòa.
Hai Phái Đoàn Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi được cấp một chỗ ở riêng, để phe Cộng-Sản ở chung với nhau: họ chiếm toàn-bộ khách-sạn “Hồng Kông”.
Một hãng-thầu Hoa-Kỳ cung-cấp cho họ mọi thứ cần dùng trong đời sống và sinh-hoạt hằng ngày.
TẠI khách-sạn “Hồng Kông” này, hai Phái Đoàn Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi có đặt những phòng-giấy bỏ túi cho Trưởng Phái Đoàn, Sĩ-Quan Điều-Hành, Sĩ-Quan Truyền-Tin/Mật-Mã, và Thông Dịch-Viên của mình.
Dưới quyền Phái Đoàn Khu-Vực II, tại Đà-Nẵng, có 3 Tổ Ủy-Hội Quốc-Tế: tại Hội-An, Chu-Lai, và Quảng-Ngãi.
Về phương-tiện di-chuyển của UHQT thì: về đường bộ là xe-hơi sơn màu trắng, có gắn cờ ICCS (mà tài-xế lúc đầu là người Mỹ, về sau là nguời Việt-Nam); và về đường hàng-không là các loại phi-cơ của Hãng “Air America” có sơn ba đường gạch ngang màu lục phía sau đuôi (và phi-công là người Hoa-Kỳ).
Về phía Hãng Thầu thì: tại khách-sạn “Hồng Kông” có một bộ-phận chấp-hành, gồm có một thư-ký khách-sạn là đại diện chính; quản-gia; và các công-nhân như bồi, bếp, tài-xế, thợ máy; v.v… đều là người Việt-Nam.
Kế-hoạch hoạt-động của tôi
VỀ phía Chính-Quyền Việt-Nam: Trung-Ương không hề ra lệnh; và hẳn sẽ không chấp-thuận cho tôi, cũng như cho bất-cứ ai, hướng mũi hoạt động ― gián điệp, tức là tình-báo chủ động; chứ không phải phản-tình-báo bị động ― của mình vào các mục-tiêu Cộng-Sản nước ngoài.
Việc đó nằm ngoài phần-vụ và trách-nhiệm của Ngành Đặc-Cảnh VNCH.
Nhưng tôi đã thuyết-phục và được phía Người Bạn Đồng-Minh (CIA) đồng-ý và trợ-giúp tôi.
Các thành-viên Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi, nhất là các cấp chỉ-huy và chuyên-viên, không phải chỉ là sĩ-quan bộ đội bình-thường, mà là cán-bộ gián điệp quan-trọng của 2 nước này; chính CIA cũng đã xác-nhận như thế với tôi . Bọn họ đến đây để tiếp sức cộng-sản Việt-Nam chống phá chúng ta, tại sao chúng ta không dùng gậy ông để đập lưng ông, mượn tay bọn họ để gây biến-loạn ngay trong nội-bộ guồng máy độc-đảng của chính bọn họ ngay bên trời Âu .
Trong ngành tình-báo, kẻ thù có thể thuộc nhiều dân-tộc khác nhau, hoạt-vực có thể gồm nhiều quốc-gia khác nhau; huống gì CIA cũng đang cần tung thêm lưới vào trong hàng-ngũ các nước thuộc Khối Liên-Xô …
Tôi mượn của Tòa Tổng-Lĩnh-Sự Hoa-Kỳ một số từ-điển bách-khoa cũng như tài-liệu thời-sự để tìm hiểu thêm về hai nước Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi.
NÓI chung, tuy ở trong khối Liên Bang Xô Viết, đại đa số dân-nhân cả Ba-Lan lẫn Hung-Gia-Lợi đều đang vùng-vẫy để thoát khỏi quyền thống-trị của Nga-Xô .
Tôi gợi ý Hoa-Kỳ lợi dụng tối-đa tình-hình ở hai nước ấy, đặc-biệt là Ba-Lan. Ở Ba-Lan thì công-nhân là lực-lượng tiền-phong hùng-hậu, và các tầng-lớp dân-nhân thì chịu ảnh-hưởng sâu-rộng của Vatican.
TRONG lúc chờ-đợi, tôi đứng ra móc nối các thành-viên cộng-sản trong Ủy-Hội Quốc-Tế hiện có ở đây .
Tôi lý-giải rằng: nếu tôi mà làm được việc, thì chính Người Bạn Đồng-Minh hưởng công; viên-chức liên-hệ sẽ được chuyển đến quốc-gia hữu-quan để phát-triển thêm mạng lưới của mình, thành tích gia tăng; làm việc bên đó, không có chiến-tranh, hẳn là an-toàn, an-nhàn hơn ở Việt-Nam!
Thế là tôi được Người Bạn Đồng-Minh tán-đồng và yểm-trợ mọi mặt tối đa .
Một cơ-hội tiếp-cận tự-nhiên
MỘT hôm, một viên-chức cao-cấp thuộc Tòa Tổng-Lĩnh-S Hoa-Kỳ tại Vùng I tổ-chức một buổi dạ-tiệc tại tư-gia ― thật ra là một bữa ăn đặc-biệt.
Chủ nhà không nấu dọn gì, mà dùng sân trước và vườn sau làm một cảnh chợ vỉa hè. Họ đặt mua trọn chuyến hàng: nơi này là xe phở bò; nơi kia là gánh bánh lá & chả tôm, v.v…; hầu hết các món hàng rong quen-thuộc của Đà-Nẵng đều được quy-tụ về đây.
Thực-khách đến ăn món nào thì đều theo đúng cách-thế thông-thường đối với món đó, chỉ khác là khỏi trả tiền.
Trong khung-cảnh đó, tôi đã tiếp-xúc lần đầu với các viên-chức lãnh đạo 4 Phái Đoàn Ủy-Hội Quốc-Tế, và đặc-biệt là 2 Trưởng Phái Đoàn Cộng-Sản Ba-Lan và Hung Gia Lợi . Cấp-tốc nghiên-cứu, lượng-giá đối-tượng, tôi đã dễ dàng tìm ra phương-thức đối đầu với các mục-tiêu.
Toán “Thạch-Mã”
BỘ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia có chỉ-thị cho các Địa-Phương nơi nào có Ủy-Hội Quốc-Tế cấp Khu-Vực thì tổ-chức một Toán Hộ-Tống bảo-vệ an-ninh cho các Phái Đoàn. Các Phái Đoàn Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi tại Khu-Vực II ở Đà-Nẵng không nhận việc hộ-tống ấy, vì họ cảm thấy là bị theo dõi; họ muốn tự-do đi lại, hành-động theo ý muốn riêng; nên các Phái Đoàn Ba-Tư và Nam Dương cũng đồng-ý theo .
Do đó, tôi nhận nhiệm-vụ theo dõi các Phái Đoàn Ủy-Hội Quốc-Tế từ phía Cảnh-Sát Sắc-Phục sở-tại chuyển qua cho Ngành Đặc-Cảnh cấp Vùng.
Tại đây có một bộ-phận đặc-trách mang bí danh “Toán Thạch-Mã”, trong đó có cả một số nhân-viên của Sở I An-Ninh Quân Đội biệt-phái đến; tất cả đều mặc dân-phục để hoạt-động chìm.
TÔI thuê cho Toán một trụ-sở riêng.
Vì không tiện bề sử-dụng xe Jeep sơn màu xanh+trắng của phía Sắc-Phục nên tôi đã xin Người Bạn Đồng-Minh một chiếc xe Jeep dân-sự để cho Toán dùng. Xe này là của Tòa Tổng-Lĩnh-Sự Hoa-Kỳ nên mang bảng số NT (nhập tạm) dành riêng cho các ngoại-kiều . Tôi không tiện xin cơ-quan Lộ-Vận cấp cho một số trước-bạ bình-thường, vì xe không thuộc sở-hữu chung của Cảnh-Lực hay riêng của cá-nhân nào .
Có nhiều chỉ dấu, mà chiếc xe ấy là rõ-ràng nhất, khiến có một số đồng-bào gọi người sử-dụng xe ấy là CIA .
Tôi chỉ nhắc-nhở anh+em trong Toán về mặt an-ninh bản-thân, chứ không giải-tán hoặc thay đổi ngụy-thức, mặc dù thật ra kết-quả giám-thị của họ chỉ thuộc lĩnh-vực thám-báo ― chưa phải điệp-báo như tôi mong muốn ― mà ở Trung-Ương thì do một Văn-Phòng khác chứ không phải Ngành chuyên-môn của tôi chủ đạo, mà Văn-Phòng ấy lại chỉ chủ-trương hoạt-động như thế mà thôi.
Có lần Ðại-Tá Lê Quang Nhơn, Chánh Sở I ANQĐ, ngỏ ý muốn rút nhân-viên của Sở mình về, vì họ thiếu người ― vả lại trong đó có cả một thiếu-tá ― nhưng tôi không thuận. Tôi muốn có sự hiện-diện của Toán ấy để đánh lạc hướng chú ý của đối-phương, nhằm bảo-mật các đường dây điệp-báo riêng của tôi.
Biệt-Đội “Thiên Nga”
BỘ Tư-Lệnh Đặc-Cảnh Trung-Ương, từ thời Trung-Tá Nguyễn Mâu, có thành-lập một đơn-vị nữ-tình-báo, từ cấp Trung-Ương xuống đến các Vùng, Tỉnh và Thị, mệnh danh “Biệt-Đội Thiên-Nga”. Tuy trong một số trường-hợp Biệt-Đội này đã lập được thành-tích khả-quan, nhưng nhìn chung thì kết-quả hoạt-động vẫn chưa tương-xứng với tổ-chức quy-mô nói trên. Nhiều nữ-nhân-viên được dùng vào các công-việc văn-phòng thay vì ra ngoài dò tìm và gài người xâm-nhập vào các chi-bộ cộng-sản nằm vùng hoặc từ mật-khu về móc nối tại nội-thành.
Thế nhưng Thiên-Nga dù sao thì cũng đã được đồng-bào ― và cả Việt-Cộng ― nghe tiếng, biết tên.
GẶP lúc Bộ Ch?Huy Cảnh-Lực Vùng I tuyển-mộ một đợt nữ-nhân-viên, tôi chỉ-thị cho Sở Yểm-Trợ ― mà cốt là để bắn tiếng ra ngoài ― hãy chọn cho tôi mươi cô trẻ nhất, đẹp nhất, độc-thân, để tôi huấn-luyện tình-báo cho họ, trong đó có môn tiếng Anh và môn khiêu-vũ, kể cả kỹ-thuật chinh-phục đàn-ông.
Trong lúc đó, Bộ Tư-Lệnh Đặc-Cảnh Trung-Ương điện hỏi ý-kiến các Vùng về việc giải-tán Biệt-Đội “Thiên- Nga”.
Trong Vùng II, tôi đã nhân danh Vùng ấy mà trả lời là xin vẫn giữ y nguyên; nay tại Vùng I, có nhiều triển-vọng sử dụng mỹ-nhân-kế hơn, tôi lại có dịp góp ý mạnh hơn về việc duy-trì cái tổ-chức ấy … mà tôi không hề dùng đến trong các điệp-vụ của tôi.
THIÊN-NGA ― của tôi ― là bất-cứ người-đẹp nào hội đủ điều-kiện cho tôi chấm chọn, từ học-đường, công/tư-sở, thương-xá, trà-thất, vũ-trường, cho đến nông-thôn, v.v… vốn sẵn có mặt khắp nơi, và tự họ đã sẵn có môi-trường sinh-hoạt thích-hợp với công-tác hơn là các nữ viên-chức Ngành An-Ninh. Đối với các cô gái phòng trà, từ ca-sĩ, má-xán, vũ-nữ, đến bồi bàn ― là giới “nhảy dù” tự do tại Thành Đà-Nẵng ― tôi đã bố-trí cho một số Trưởng Lưới, Trưởng Mũi, và Trưởng Mối thuộc Sở Tác-Vụ, kín-đáo khống-chế những ai có cơ-hội tiếp-xúc với các thành-viên Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi.
Đối với phiá Cảnh-Sát Sắc-Phục, tôi đã khéo-léo sắp-xếp để không tổn-thương quyền-hạn của họ; và trung-tá Nguyễn An Vinh, Chỉ-Huy Cảnh-Lực Thị-Xã Đà-Nẵng, đã hiểu biết và hợp-tác với tôi trong việc này .
Đồng-thời, tôi đã đạt được sự hợp-tác trọn-vẹn của Hãng Thầu nước ngoài, để tôi sử dụng nhân-viên có sẵn của họ, hoặc gài thêm người của Đặc-Cảnh vào làm công-nhân cho Hãng Thầu .
*
Đối nội, tôi đã xin được Thiếu-Tá Ngô Phi Đạm, là giảng sư xuất sắc nhất về tình báo tại Trường Tình Báo Trung Ương, thuyên-chuyển ra Vùng I làm việc với tôi .
(Tôi chỉ lược kể đôi điều chung chung mà thôi, còn nhiều vấn đề và các chi tiết khác nữa thì tôi đã viết trong các Chương khác của cuốn hồi ký này).
*
Nói chung, do sáng kiến riêng của tôi nói trên, nhóm thiểu số Đặc Cảnh Vùng I chúng tôi đã tuyển dụng được khá nhiều thành viên Ba Lan và Hung Gia Lợi, về mặt nổi thì từ các đại tá Trưởng Phái Đoàn cấp Khu Vực xuống đến các sĩ quan cấp úy Trưởng Tổ cấp Liên Tỉnh và Tỉnh, nhưng về mặt chìm thì họ là cán bộ tình báo chiến lược cấp trung ương (thông dịch viên có vị thế cao hơn Trưởng Phái Đoàn) của Đảng, Nhà Nước và Quân Đội 2 nước cộng sản quan trọng nhất, sau Nga, trong Liên Bang Các Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết (gọi tắt là Liên Xô, tức USSR: Union of Socialist Sovietic Republics), làm nội tuyến cho ta (tức là Hoa Kỳ) ― vì sau khi tuyển dụng được thì tôi đã chuyển giao họ cho cơ quan Tình Báo Trung Ương của Mỹ (CIA) tiếp tục khai thác sử dụng ngay trong hàng ngũ Liên Xô bên châu Âu .
Những cán bộ vốn được chọn lọc và tín nhiệm đưa đi công tác tại Việt Nam, khi trở về nước đều được xem là có công tham chiến đánh Mỹ ngay trên chiến trường Việt Nam. Với những cái-gọi-là kinh nghiệm đối đầu trực tiếp với phe “tư bản chủ nghĩa phản động”, các phần tử ấy được trân quý để đem hiểu biết thực tế vận dụng vào chức năng công vụ lãnh đạo hoạt động và huấn giảng nghiệp vụ gián điệp tại các khóa bồi dưỡng chuyên môn trong hệ thống Tổ Chức Liên Minh Warsaw (Liên Minh Quân Sự Vác Xô Vi, tại thủ đô Ba Lan) của Liên Xô chống lại Khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) của Thế Giới Tự Do .
Vì tôi còn phải lo về Việt Cộng (cộng sản Việt Nam) và về nội chính (các chính đảng, các giáo hội, các tổ chức “đối lập”, v.v…), trong tình hình rất nguy ngập của thời gian 1973-75, nên tôi đã cho phép các thuộc viên liên hệ tùy tiện chiếu theo chủ trương và phương thức làm việc đã có kết quả cụ thể của tôi mà hợp tác với Người Bạn Đồng Minh (cố vấn CIA) để tiến hành thêm, do đó tôi không nắm vững hết các thành quả đã đạt được, phải là to lớn hơn. Lại nữa, trong tinh thần phối hợp đồng minh chống Cộng, tôi đã chấp thuận cho Người Bạn Đồng Minh được trực tiếp sử dụng một số viên chức Đặc Cảnh của tôi mà họ thấy là xuất sắc, biệt phái hẳn qua cho họ (hẳn là thành quả phải không thua kém thành quả của phía Việt Nam), nên tôi không biết gì nhiều về các kết quả liên quan. Ngoài ra, tôi cũng giúp cho NBĐM phương tiện cần thiết (giấy phép đi lại trong giờ giới nghiêm, giấy phép mang vũ khí, v.v…) để họ tuyển dụng nhân viên riêng cho họ, nên tôi hoàn toàn không biết gì về thành quả hoạt động của các đường dây bí mật kia.
Chỉ riêng trong phạm vi những gì mà tôi có đích thân trực tiếp làm và còn nhớ, tôi đã tuyển dụng:
Đại tá Konelsko, Trưởng Phái Đoàn Ba Lan
Đại tá Guy Nagy, Trưởng Phái Đoàn Hung Gia Lợi
Trung úy Teleski, Trưởng Phòng Truyền Tin Mật Mã của Ba Lan
Đại úy Signalia, Trưởng Phòng Truyền Tin Mật Mã của Ba Lan (kế nhiệm Teleski)
Trung úy Benjenc Grosz, thông dịch viên của Hung Gia Lợi
Trung úy Benez Kadar, Trưởng Tổ Hung Gia Lợi tại Tam Kỳ
(quá trình nghiên cứu, chấm định, tiếp xúc, móc nối, bao vây, gài bẫy, thuyết phục, thử thách, tuyển mộ… đã được kể lại trong sách).
Họ là cán bộ tình báo cấp cao, ở cả hai lãnh vực chính trị và quân sự, mà lại chuyên môn truyền tin mật mã (biết rõ bí mật nội bộ), và rành (ít nhất là) tiếng Anh, làm thông dịch viên quốc tế (có tư cách công khai tiếp xúc với cả “đế quốc Mỹ”, huống gì bí mật liên lạc với các nhân vật ái quốc & chống Liên Xô), nay được tuyên dương là đã có công đánh Mỹ, được thăng lên cấp cao hơn và cử giữ chức lớn hơn: họ mà làm tay trong cho Mỹ thì nguyện vọng của dân nhân Ba Lan và Hung Gia Lợi thoát khỏi gọng kìm Liên Xô chắc chắn là sớm đạt thành.
Hồi đó, năm 1974-75, Người Bạn Đồng Minh đã chính thức thông báo cho tôi biết về một số tiến triển và kết quả khởi đầu ngay tại Ba Lan và Hung Gia Lợi, đồng thời nhiều lần công khai đãi tiệc khen thưởng các viên chức Đặc Cảnh hữu công (trong sáng kiến của tôi, bắt đầu từ năm 1973).
Đến năm 1979 (sáu năm sau), Giáo Hoàng John Paul II mới về thăm Ba Lan lần đầu tiên, mở đầu cho những hoạt động kế tiếp của Ngài, cũng nhằm góp phần giải thể chế độ cộng sản ở quê hương mình.
Năm 1981, cán bô cấp cao Công An trung ương Việt Cộng nói thẳng với tôi: “Tôi báo trước cho anh biết, chỉ trong vài hôm nữa thôi, tất cả các thành phần phản động tại Ba Lan cũng như Hung Ga Ri đều sẽ phải đền tội trước tòa án nhân dân; vả ngay cả bọn CIA liên quan cũng sẽ bị nhà nước có chủ quyền của hai nước ấy trừng trị thẳng tay … Sẽ không bao giờ xảy ra sự cố mà bọn đế quốc và lũ tay sai như anh hằng mơ, để anh có thế “tự hào” là chính mình đã góp phần đánh đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa tại Ba Lan và Hung Ga Ri, kéo theo sự sụp đổ của cả Khối Cộng Sản Đông Âu! Có phải bọn chủ CIA của anh đã nhồi nhét cái ý tưởng hão huyền ấy vào trong đầu óc vong bản của anh hay không?”
Lúc đó, vào năm 1981, Cộng-sản Việt-Nam chỉ biết là Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi bị tôi tổ-chức xâm-nhập giùm cho CIA từ năm 1973, nên mới suy-luận là nếu cộng-sản tại hai nước ấy mà sụp đổ thì sẽ kéo theo cả sự sụp đổ tại các nước kia.
Sau này, khi sự suy-diễn của họ trở thành sự thật, thì cái trình-tự nói trên đã đảo ngược lại: Từ đầu năm 1989, cộng-sản tại các nước trong Liên-Bang Xô-Viết đã chấm dứt, và cuối năm ấy, cộng-sản tại Hung-Gia-Lợi cũng đã cáo-chung. Chính Liên-Xô, do Gorbachev lãnh-đạo, đã mở đường, từ năm 1985, cho các nước thuộc quyền lần-lượt về với Tự-Do trước tiên, rồi chính mình cũng lột xác vào đầu năm 1990. Đến cuối năm này thì cộng sản Ba Lan cáo-chung. Thế là tan rã toàn Khối cộng-sản Đông-Âu.
(còn nữa)
LÊ XUÂN NHUẬN
Cảnh-Sát-Hóa
Bài Ca Vọng Cổ
Bài Ca Vọng Cổ
Tôi vượt biên một mình rồi định cư ở Pháp. Năm đó tôi mới 49 tuổi, vậy mà đi tìm việc làm, đến đâu người ta cũng chê là tôi già! Vì vậy, một hôm, khi chải tóc, tôi nhìn kỹ tôi trong gương. Tôi bỗng thấy ở đó có một người có vẻ quen nhưng thật ra thì rất lạ: mắt sâu, má hóp, mặt đầy nếp nhăn trên trán, ở đuôi mắt, ở khóe môi, mái tóc đã ngà bạc cắt tỉa thô sơ như tự tay cắt lấy. Từ bao lâu nay tôi không để ý, bây giờ soi gương vì bị chê già, tôi mới thấy rằng tôi của hồi trước “Cách mạng thành công” và tôi của bây giờ thật không giống nhau chút nào hết. Tôi già thiệt, già trước tuổi. Cho nên, tôi nhìn tôi không ra. Từ đó, mỗi ngày tôi… tập nhìn tôi một lần, nhìn kỹ, cho quen mắt!
Một người bạn làm việc lâu năm ở Côte d’Ivoire (Phi châu) hay tin tôi đã qua Pháp và vẫn còn thất nghiệp, bèn giới thiệu cho tôi Công ty Đường Mía của Nhà nước. Không biết anh ta nói thế nào mà họ nhận tôi ngay, còn gửi cho tôi vé máy bay nữa!
Xưa nay, tôi chưa từng quen một người da đen gốc Phi Châu nào hết. Và chỉ có vài khái niệm thô sơ về vùng Phi châu da đen như là: Ở đó nóng lắm, đất đai còn nhiều nơi hoang vu, dân chúng thì da đen thùi lùi, tối ngày chỉ thích vỗ trống, thích nhảy tưng tưng v…v… Vì vậy, tôi hơi… ngán. Nhưng cuối cùng rồi tôi quyết định qua xứ da đen để làm việc, danh dự hơn là ở lại Pháp để tháng tháng vác mặt Việt Nam đi xin trợ cấp đầu nọ, đầu kia.
Nơi tôi làm việc tên là Borotou, một cái làng nằm cách thủ đô Abidjan gần 800 km! Vùng nầy toàn là rừng là rừng. Không phải rừng rậm rì cây cao chớn chở như ở Việt Nam. Rừng ở đây cây thấp lưa thưa, thấp thấp cỡ mười, mười lăm thước… coi khô khốc. Không có núi non, chỉ có một vài đồi trũng nhưng đồi không cao và trũng, không sâu…
Nhà nước phá rừng trồng mía… Ruộng mía ngút ngàn! Nằm ở trung tâm là khu nhà máy, khu cơ giới, khu hành chánh, khu cư xá v…v… nằm cách nhau cỡ vài cây số. Muốn về thủ đổ Abidjan, phải lái xe hơi chạy theo đường mòn xuyên rừng gần ba chục cây số mới ra tới đường cái tráng nhựa. Từ đó, chạy đi Touba, một quận nhỏ với đông đảo dân cư. Từ đây, lấy máy bay Air Afrique về Abidjan, mỗi ngày chỉ có một chuyến. Phi trường Touba nhỏ xíu, chỉ có một nhà ga xây cất sơ sài và một phi đạo làm bằng đá đỏ, mỗi lần máy bay đáp lên đáp xuống là bụi bay… đỏ trời!
Tôi hơi dài dòng ở đây để thấy tôi đi “đi làm lại cuộc đời” ở một nơi hoang vu hẻo lánh mà cảnh trí thì chẳng có gì hấp dẫn hết! Thêm vào đó, tôi là người Á Đông duy nhất làm việc chung với Tây trắng (chỉ có năm người) và Tây đen (đông vô số kể).
Ở đây, thiên hạ gọi tôi là “le chinois” – thằng Tàu. Suốt ngày, suốt tháng tôi chỉ nói có tiếng Pháp. Cho nên, lâu lâu thèm quá, tôi soi gương rồi… nói chuyện với tôi bằng tiếng Việt, trông giống như thằng khùng! Chưa bao giờ tôi thấy tôi cô đơn bằng những lúc tôi đối diện tôi trong gương như vậy.
… Một hôm, sau hơn tám tháng “ở rừng”, tôi được gọi về Abidjan để họp (đây là lần đầu tiên được về thủ đô!). Anh tài xế đen đưa tôi ra Touba. Chúng tôi đến phi trường lối một giờ trưa. Sau khi phụ tôi gởi hành lý, anh tài xế nói:
– Tôi ra ngủ trưa ở trong xe. Chừng Patron (ông chủ) đi được rồi, tôi mới về.
Ở xứ đen, họ dùng từ “Patron” để gọi ông chủ, ông xếp, người có địa vị, có tiền, người mà họ nể nang v…v.. Nghe quen rồi, chẳng có gì chói lỗ tai hết! Tôi nói:
– Về đi! Đâu cần phải đợi!
Hắn nhăn răng cười, đưa hàm răng trắng tốt:
– Tại Patron không biết chớ ở đây, lâu lâu họ lại hủy chuyến bay vào giờ chót, nói tại máy bay ăn-banh (en panne) ở đâu đó. Máy bay cũng như xe hơi vậy, ai biết lúc nào nó nằm đường.
Rồi hắn đi ra xe.
Tôi ngồi xuống một phô-tơi, nhìn quanh, hành khách khá đông. Nhiều người ngồi với một số hành lý như thùng cạc-tông, bao bị, va-li v…v… Không phải họ không biết gửi hành lý, nhưng vì những gì họ đã gửi đã đủ số ký-lô dành cho mỗi hành khách, nên số còn lại họ… xách tay, cho dầu là vừa nhiều món vừa nặng, vừa cồng kềnh!
Không khí nóng bức. Mấy cái quạt trần quay vù vù, cộng thêm mấy cây quạt đứng xoay qua xoay lại, vậy mà cũng không đủ mát. Thiên hạ ngủ gà ngủ gật, tôi cũng ngã người trên lưng ghế, lim dim…
Trong lúc tôi thiu thiu ngủ thì loáng thoáng nghe có ai ca vọng cổ. Tôi mở mắt nhìn quanh rồi thở dài, nghĩ: “Tại mình nhớ quê hương xứ sở quá nên trong đầu nghe ca như vậy.” Rồi lại nhắm mắt lim dim… Lại nghe vọng cổ nữa. Mà lần nầy nghe rõ câu ngân nga trước khi “xuống hò”:
“Mấy nếp nhà tranh ẩn mình sau hàng tre rũ bóng… đang vươn lên ngọn khói… á… lam… à… chiều….”
Đúng rồi! Không phải ở trong đầu tôi, mà rõ ràng có ai ca vọng cổ ngồi kia. Tôi nhìn ra hướng đó, thấy xa xa dưới lùm cây dại có một người đen nằm võng. Và chỉ có người đó thôi. Lạ quá! Người đen đâu có nằm võng. Tập quán của họ là nằm một loại ghế dài bằng gỗ cong cong. Ngay như loại ghế bố thường thấy nằm dưới mấy cây dù to ở bãi biển… họ cũng ít dùng nữa.
Tò mò, tôi bước ra đi về hướng đó để xem là ai vừa ca vọng cổ lại vừa nằm võng đong đưa. Thì ra là một anh đen còn trẻ, còn cái võng là cái võng nhà binh của quân đội Việt Nam Cộng Hòa hồi xưa. Tôi nói bằng tiếng Pháp:
– Bonjour!
Anh ngừng ca, ngồi dậy nhìn tôi mỉm cười, rồi cũng nói “Bonjour”. Tôi hỏi, vẫn bằng tiếng Pháp:
– Anh hát cái gì vậy?
Hắn đứng lên, vừa bước về phía tôi vừa trả lời bằng tiếng Pháp:
– Một bài ca của Việt Nam. Còn ông? Có phải ông là “le chinois” làm việc cho hãng đường ở Borotou không?
Tôi trả lời, vẫn bằng tiếng Pháp:
– Đúng và sai! Đúng là tôi làm việc ở Borotou. Còn sai là vì tôi không phải là người Tàu. Tôi là người Việt Nam.
Bỗng hắn trợn mắt có vẻ vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ, rồi bật ra bằng tiếng Việt, giọng đặc sệt miền Nam, chẳng có một chút lơ lớ:
– Trời ơi! …. Bác là người Việt Nam hả?
Rồi hắn vỗ lên ngực:
– Con cũng là người Việt Nam nè!
Thiếu chút nữa là tôi bật cười. Nhưng tôi kiềm lại kịp, khi tôi nhìn gương mặt rạng rỡ vì sung sướng của hắn. Rồi tôi bỗng nghe một xúc động dâng tràn lên cổ. Thân đã lưu vong, lại “trôi sông lạc chợ” đến cái xứ “khỉ ho cò gáy” nầy mà gặp được một người biết nói tiếng Việt Nam và biết nhận mình là người Việt Nam, dù là một người đen, sao thấy quý vô cùng. Hình ảnh của quê hương như đang ngời lên trước mặt.
Tôi bước tới bắt tay hắn. Hắn bắt tay tôi bằng cả hai bàn tay, vừa lắc vừa nói huyên thuyên:
– Trời ơi!… Con mừng quá! Mừng quá! Trời ơi!… Bác biết không? Bao nhiêu năm nay con thèm gặp người Việt để nói chuyện cho đã. Bây giờ gặp bác, thiệt… con mừng “hết lớn” bác à!
Rồi hắn kéo tôi lại võng:
– Bác nằm đi! Nằm đi!
Hắn lại đống gạch “bờ-lốc” gần đấy lấy hai ba viên kê bên cạnh võng rồi ngồi lên đó, miệng vẫn không ngừng nói:
– Con nghe thiên hạ nói ở Borotou có một người Tàu. Con đâu dè là bác. Nếu biết vậy, con đã phóng Honda vô trỏng kiếm bác rồi! Đâu được tới bây giờ.
Hắn móc gói thuốc, rồi mời tôi:
– Mời bác hút với con một điếu.
Hắn đưa gói thuốc về phía tôi, mời bằng hai tay. Một cử chỉ mà từ lâu tôi không còn nhìn thấy. Một cử chỉ nói lên sự kính trọng người trưởng thượng. Tôi thấy ở đó một “cái gì” rất Việt Nam.
Tôi rút điếu thuốc để lên môi. Hắn chẹt quẹt máy, đưa ngọn lửa lên đầu điếu thuốc, một tay che che như trời đang có gió. Tôi bập thuốc rồi ngạc nhiên nhìn xuống cái quẹt máy. Hắn nhăn răng cười:
– Bộ bác nhìn ra nó rồi hả?
Tôi vừa nhả khói thuốc vừa gật đầu. Đó là loại quẹt máy Việt Nam, nho nhỏ, dẹp lép, đầu đít có nét cong cong. Muốn quẹt phải lấy hẳn cái nắp ra chớ nó không dính vào thân ống quẹt bằng một bản lề nhỏ như những quẹt máy ngoại quốc. Hắn cầm ống quẹt, vừa lật qua lật lại vừa nhìn một cách trìu mến:
– Của ông ngoại con cho đó! Ông cho hồi ổng còn sống lận.
Rồi hắn bật cười:
– Hồi đó ổng gọi con bằng “Thằng Lọ Nồi”.
Ngừng một chút rồi tiếp:
– Vậy mà ổng thương con lắm à bác!
Hắn đốt điếu thuốc, hít một hơi dài rồi nhả khói ra từ từ. Nhìn cách nhả khói của hắn, tôi biết hắn đang sống lại bằng nhiều kỷ niệm. Tôi nói:
– Vậy là cháu lai Việt Nam à?
– Dạ. Má con quê ở Nha Trang.
– Rồi má cháu bây giờ ở đâu?
Giọng của hắn như nghẹn lại:
– Má con chết rồi. Chết ở Nha Trang hồi năm 1975.
– Còn ba của cháu?
– Ổng hiện ở Paris. Tụi nầy nhờ có dân Tây nên sau 1975 được hồi hương. Con đi quân dịch cho Pháp xong rồi, về đây ở với bà nội. Con sanh ra và lớn lên ở Sài Gòn, về đây, buồn thúi ruột thúi gan luôn!
Tôi nhìn hắn một lúc, cố tìm ra một nét Việt Nam trên con người hắn. Thật tình, hắn không có nét gì lai hết. Hắn lớn con, nước da không đến nỗi đen thùi lùi như phần đông dân chúng ở xứ nầy, nhưng vẫn không có được cái màu cà phê lợt lợt để thấy có chút gì khác. Tóc xoắn sát da đầu, mắt lồi, môi dầy. Tôi chợt nói, nói một cách máy móc:
– Thấy cháu chẳng có lai chút nào hết!
Hắn nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng nghiêm trang:
– Có chớ bác. Con có lai chớ bác.
Hắn xòe hai bàn tay đưa ra phía trước, lật qua lật lại:
– Bên nội của con là nằm ở bên ngoài nầy đây nè.
Rồi hắn để một tay lên ngực, vỗ nhè nhẹ về phía trái tim: “Còn bên ngoại nó nằm ở bên trong. Ở đây, ở đây nè bác.”
Bỗng giọng hắn nghẹn lại:
– Con lai Việt Nam chớ bác!
Trong khoảnh khắc, tôi xúc động đến quên mất màu da đen của hắn, mà chỉ thấy trước mặt một thanh niên Việt Nam, Việt Nam từ cử chỉ tới lời lẽ nói năng. Tôi vỗ nhẹ lên vai hắn mấy cái, gật đầu nói:
– Ờ… Bác thấy. Bây giờ thì bác thấy.
Hắn mỉm cười:
– Ở đây, người ta nói con không giống ai hết, bởi vì con hành động cư xử, nói năng không giống họ. Bà nội con cũng nói như vậy nữa! Còn con thì mỗi lần con nhìn trong kiếng, con vẫn nhận ra con là người Việt Nam. Bác coi có khổ không?
Rồi nó nhìn tôi, một chút trìu mến dâng lên trong ánh mắt:
– Bây giờ con gặp bác rồi, con thấy không còn cô đơn nữa. Gặp một người mình, ở cái xó xa xôi hẻo lánh nầy, thiệt là Trời còn thương con quá!
Tôi im lặng nghe hắn nói, nhìn hắn nói mà có cảm tưởng như hắn đang nói cho cả hai: cho hắn và cho tôi. Bởi vì cả hai cùng một tâm trạng.
Hắn vẫn nói, như hắn thèm nói từ lâu:
– Nhớ Sài Gòn quá nên con hay ca vọng cổ cho đỡ buồn. Hồi nãy bác lại đây là lúc con đang ca bài “Đường Về Quê Ngoại” đó bác.
– Bác không biết ca, nhưng bác rất thích nghe vọng cổ.
Giọng nói hắn bỗng như hăng lên:
– Vọng cổ là cái chất của miền Nam mà bác. Nó không có lai Âu, lai Á gì hết. Nó có cái hồn Việt Nam cũng như cá kho tộ, tô canh chua. Bác thấy không? Bởi vậy, không có gì nhắc cho con nhớ Việt Nam bằng bài ca vọng cổ hết.
– Bác cũng vậy.
Tôi nói mà thầm phục sự hiểu biết của hắn. Và tôi thấy rất vui mừng có một người như vậy để chuyện trò từ đây về sau.
Có tiếng máy bay đang đánh một vòng trên trời. Chúng tôi cùng đứng lên, hắn nói:
– Nó tới rồi đó. Con phải sửa soạn xe trắc-tơ và rờ-mọt để lấy hành lý. Con làm việc cho hãng Air Afrique, bác à.
Rồi hắn nắm tay tôi lắc mạnh:
– Thôi, bác đi mạnh giỏi. Con tên là Jean. Ở đây ai cũng biết “Jean le Vietnamien” hết. Chừng về bác ghé con chơi, nghen.
Bỗng, hắn ôm chầm lấy tôi siết nhẹ rồi giữ như vậy không biết bao nhiêu lâu. Tôi nghe giọng hắn lạc đi:
– Ghé con nghe bác… Ghé con…!
Tôi không còn nói được gì hết. Chỉ vừa gật đầu vừa vỗ vỗ vào lưng hắn như vỗ lưng một người con.
Khi hắn buông tôi ra, tôi thấy hai má của hắn ướt nước mắt. Tôi quay đi, lầm lũi bước nhanh nhanh về nhà ga mà nghĩ thương cho “thằng Jean le Vietnamien”. Hồi nãy nó ôm tôi, có lẽ nó đã tưởng tượng như là nó đang ôm lại được một góc trời quê mẹ.
Trên máy bay, tôi miên man nghĩ đến “thằng Jean”, rồi tự hứa sẽ gặp lại nó thường. Để cho nó bớt cô đơn. Và cũng để cho tôi bớt cô đơn nữa!
Bây giờ, viết lại chuyện “thằng Jean” mà tôi tự hỏi: “Trong vô số người Việt Nam lưu vong hôm nay, còn được bao nhiêu người khi nhìn trong gương vẫn nhận ra mình là người Việt Nam? Và có được bao nhiêu người còn mang trong lòng bài ca vọng cổ, để thấy hình ảnh quê hương vẫn còn nguyên trong đó?”
Tiểu Tử (Trần Hoài Nam)
Đà Lạt
Đà Lạt
Tôi chợt thấy tuổi thơ ở đấy Bóng hoàng hôn nhuộm tím chân mây Sương quấn quít lối về phố cũ Đêm Đà Lạt sương lạnh tình đầy.
Đường quanh co bên Hồ Than Thở Bước lên đồi nhặt quả thông non Tà áo bay mập mờ sương trắng Thung lũng tình yêu, dấu cỏ mòn.
Đà Lạt phố, sương mù mơ mộng Sườn đồi cao vi vút thông reo Bên kia, làng hoa thêm sức sống Thung lũng ngàn hoa, phố núi đèo.
Đêm Đà Lạt, hứng giọt sương rơi Đặt lên môi, nghe tiếng em cười Tình như đã say theo tiếng nhạc Đà Lạt ơi! Giai điệu tuyệt vời.
Lê Tuấn
My Children-Các Con Tôi
Đêm xuân gọi mời
Đêm xuân gọi mời
Ở hai đầu nỗi nhớ Lặng lẽ buồn bơ vơ Anh gặp em ngày đó Đền bây giờ dại khờ.
Tình xưa thời con gái Tuổi trăng tròn ngây thơ Môi chạm môi bỡ ngỡ Đầy ướt át trong mơ.
Nụ mai vàng trước ngõ Gió xuân đang đợi chờ Nắng ươm đầy nỗi nhớ Thêm chữ buồn trong thơ..
Cành đào ươm sắc đỏ Dập dìu khách vui xuân Lang thang chiều dạo phố Bỗng dưng lòng bâng khuâng.
Buổi chiều vàng chợt tối Hạt mưa xuân nhẹ rơi Anh cùng em dạo bước Đêm xuân tiếng gọi mời.
Lê Tuấn
Đi qua buổi chiều
Chiều đi qua dòng sông Ngắm mây bay cuối trời Bóng người xưa thoáng hiện Nghe vang tiếng em cuời.
Chiều đi ngang con đường Bóng đổ nghiêng trời tây Ta một mình lặng lẽ Buớc chân buồn theo mây.
Tiếng chim kêu lạc bầy Dấu mình trong lá cây Ta đau vì nỗi nhớ Bóng em đã đong đầy.
Lê Tuấn
Chiều tà
Tay em vàng lá bay Rong chơi cuối đường chiều Áo dài bay phất phới Hương thơm bay ít nhiều.
Vô tình cánh hoa rơi Chợt câm nín nghẹn lời Để em buồn thương nhớ Ngày xuân đã xa vời.
Nỗi buồn vương xót xa Tuổi xuân quá mượt mà Làm sao em bật khóc Buồn vương ánh chiều tà.
Lê Tuấn
Dấu đêm trong tóc
Dấu đêm trong tóc
1 Tiếng chuông vang vọng giáo đường Thánh ca em hát từng chương huy hoàng Lung linh ngọn nến hai hàng Câu nào thánh hóa địa đàng nơi đây. 2 Chiều xuân gió nhẹ mây bay Tặng nhau khăn lụa, trao tay đóa hồng Nửa đêm đắp mảnh chăn bông Nghe con dế gọi ngoài đồng thiết tha. 3 Lấy hoa sen ướp hương trà Hứng mưa đun nước pha trà uống xuân Ngại ngần chen lẫn bâng khuâng Thương nhau mấy nỗi trầm luân bụi đường. 4 Cánh hoa thông điệp vô thường Tuết rơi trắng điểm bên đường gió đông Trời giăng sợi mỏng tơ hồng Vướng đôi quấn quýt tình nồng có nhau. 5 Dấu đêm trong tóc phai màu Sợi đen sợi bạc, gối đầu ngủ say Da thơm vòng ngực vươn đầy Cho nhau tàn cuộc hao gầy hương trinh.
Lê Tuấn “trích đoạn trong baì thơ 100 câu lục bát “Theo Bóng Chiều Tà”
Áo xưa khép nép
1 Áo xưa khép nép hững hờ Hàng khuy hé mở khoe bờ non cao Đôi môi chín đỏ ánh đào Cửa mây vén mở lạc vào suối mơ 2 Khóc ai lệ ướt trong thơ Tóc xanh ngày cũ bây giờ sương bay Hạt sương đậu cánh hoa này Nghiêng soi lòng suối bóng ai nhạt nhòa. 3 Dưới giàn thiên lý vàng hoa Kết thành vương niệm làm qùa tặng em Tiếng lòng lời nói môi êm Ru tình theo tiếng êm đềm mê say. 4 Hữu duyên như núi gặp mây Tơ vương mây cũng đỏ hây dáng hồng Xuân về trồi lá đươm bông Bướm bay uốn lượn theo vòng cánh duyên. 5 Trên cành tiếng hót chim khuyên Em nghiêng suối tóc tơ huyền nhẹ vương Làn sương trắng điểm phố phường Gót hài vui bước cung đường lá bay 6 Em về hoa nở trên tay Áo dài lụa mỏng thơ ngây dáng chiều Ý thơ muốn tỏ đôi điều Gởi theo vần điệu mỹ miều ngợi khen. 7 Về xem phố chợ lên đèn Theo hương vị lạ say men rượu mời Lặng buồn nhìn cánh hoa rơi Lòng nghe xao xuyến đất trời sang xuân. 8 Hoa vàng vương nhẹ gót chân Phố vui mỏi gót tần ngần bước đi Nào ngờ vướng lụy tình si Hương thơm bát ngát xuân thì vấn vương.
Lê Tuấn
Về quyển thông sử “A Story of Viet Nam” của GS Trương Bửu Lâm
Về quyển thông sử “A Story of Viet Nam“của giáo sư Trương Bửu Lâm
TRẦN ANH TUẤN
Trương Bửu Lâm là giáo sư Sử Học tại Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn trong hai thập niên 1950-60. Năm 1964, ông được học bổng sang Mỹ và ở luôn không về Việt Nam nữa. Sau một vài năm được huấn luyện qua chương trình Fulbright, ông dạy Sử Ðông Nam Á tại đại học UNY Stony Brook, New York. Ðến năm 1971, ông sang Hawaii dạy tại đại học UH Manoa cho đến khi về hưu.
Sử phẩm của giáo sư Trương Bửu Lâm bao gồm Patterns of Vietnamese Response to Foreign Intervention xuất bản năm 1968, New Lamps for Old năm 1982, Resistance, Rebellion, Revolution năm 1984, Colonialism Experienced năm 2000 và quyển A Story of Vietnam năm 2010 (Honolulu, Editions Thanh Cao, 368 t.)
Ngoại trừ quyển cuối cùng xuất bản năm 2010, những sử phẩm trên đây đều nhằm cung cấp học liệu cho sinh viên đại học Mỹ. Chúng xuất phát từ những giảng khoá của tác giả qua nhiều niên học, đồng thời đáp ứng điều kiện nghiên cứu trong ngạch giáo sư đại học tại Hoa Kỳ.
Về kỹ thuật, đây là những sử phẩm hoàn thành trong khuôn khổ của một hệ thống đại học tân tiến, thể hiện qua phương pháp nghiên cứu khoa học và nội dung nghiêm túc. Riêng về nội dung, đề tài nghiên cứu nhắm vào đối tượng Mỹ nên chúng không mới mẻ gì với độc giả gười Việt, ngoài một số sinh viên Mỹ gốc Việt.
Thí dụ như Colonialism Experienced: Vietnamese Writings on Colonialism, 1900-1931 (Ann Arbor, University of Michigan Press, 2000, 328 tr.) chỉlà một tập tài liệu. Tác giả đã chọn 20 bản văn trong lịch sử cận đại Việt Nam để dịch sang Anh văn cho sinh viên và độc giả ngoại quốc hiểu, cũng có nghĩa là loại sách mà giới nghiên cứu người Việt không cần, vì ai cũng có thể đọc được nguyên tác với ngôn ngữ gốc, lược bỏ đi một trung gian tức là bản dịch, cũng đồng thời là một chướng ngại dẫn đến ít nhiều sai lầm về ý nghĩa của các bản văn.
Nói thêm một vài chi tiết. Tác giả công phu chọn lựa 20 tài liệu thuộc nhiều thể loại trong ba thập niên 1900-1931: tài liệu tuyên truyền, thư ngỏ gửi nhà cầm quyền, tuyên ngôn của các đảng phái, tin tức trên nhật báo, và văn thơ. Các tài liệu này được viết bằng ba ngôn ngữ khác nhau, là Việt, Hán, và Pháp. Trước mỗi bản dịch sang tiếng Anh, tác giả có lời giới thiệu và phân tích làm rõ hoàn cảnh lịch sử đương thời khi tài liệu xuất hiện. Sự đóng góp của tác gỉa là truy tìm tài liệu trong nguyên dạng không bị cắt xén, rồi dịch qua thứ ngôn ngữ thông dụng là Anh văn để sinh viên của ông và độc giả hiểu, dù không đọc được chữ Hán, Pháp, hay Việt trong nguyên tác.
Tôi chỉ có thắc mắc về một chi tiết ông viết ngay trang đầu tiên của sách, nguyên văn thế này: “I would like to express my deep appreciation to Vo-Le Thanh Diep, who has provided me with many insightful interpretations of certain aspects of Vietnamese culture and particularly of Vietnamese literature.”
Sao đến nỗi này? Tôi tưởng giáo sư Trương Bửu Lâm phải là người dạy thiên hạ về văn hoá và văn học Việt Nam chứ? Sao nay lại phải có một người nào đó giúp, giáo sư mới hiểu một số khía cạnh của hai ngành này?
Sử phẩm mới nhất của Giáo sư Trương Bửu Lâm được phát hành trên hệ thống Amazon.com, một hệ thống bán sách thông dụng trên Internet của Hoa Kỳ. Ðó là một quyển thông sử chỉ dầy 368 trang, trình bầy toàn bộ lịch sử Việt Nam từ khởi nguyên cho đến năm 2008. Và đây là sử phẩm mà tôi muốn lên tiếng chất chính.
A Story of Viet Nam, tựa đề của sách, là một tác phẩm đơn giản dễ đọc. Dưới ngòi bút của một chuyên gia, sách dẫn độc giả suốt dòng lịch sử mấy ngàn năm trong 350 trang giấy mỏng.
Nhưng dưới tiêu đề “Story,” tức “Chuyện kể,» tác giả khái quát 4,000 năm sử Việt trong 170 trang đầu, mà dành hơn nửa quyển sách, tức 176 trang sau (từ trang 171 đến trang 346) cho câu chuyện vinh danh Ðảng Cộng Sản Việt Nam.
Nhân đây, tôi muốn nói về hai cách nhìn khác nhau về Sử. Một, là cách nhìn của thế giới Cộng Sản và hai, là cách nhìn của những ai sống trong Thế Giới Tự Do. Chúng ta hiểu hay định nghĩa Sử là những sự kiện xảy ra trong quá khứ. Còn người Cộng Sản thì hiểu và định nghĩa Sử là thông tin tuyên truyền.
Trần Huy Liệu, Bộ Trưởng Bộ Thông Tin Tuyên Truyền kiêm nhiệm vai trò Viện Trưởng Viện Sử Học đầu tiên của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sau Hiệp Ðịnh Genève là vì thế.
Là thông tin tuyên truyền nhằm phục vụ chính trị, nên “Sử” của người Cộng Sản là những sự kiện có cũng được (sự kiện quá khứ) mà không có thì bịa đặt ra (như vụ Lê Văn Tám mà chính giáo sư Sử Học Phan Huy Lê của Ðại Học Hà Nội tiết lộ là do Trần Huy Liệu bịa đặt.) Tôi từng nghe rất nhiều những tiếng than phiền trong cộng đồng người Việt hải ngoại về những “sử phẩm” của Hà Nội. Ðó là vì nhiều người trong chúng ta cứ “bắt” các “sử gia Hà Nội” phải nghĩ và viết Sử như chúng ta!
Nói chung, các sự kiện trong A Story of Viet Nam được trình bầy một chiều sao cho có lợi cho chế độ Cộng Sản.
Chẳng hạn như Tuần Lễ Vàng mà chính phủ Hồ Chí Minh phát động năm 1945, theo tác giả là cốt để trả lương cho cán bộ chính quyền và mua võ khí thành lập quân đội (trang 211). Thế là tác giả chưa biết việc thu vàng để đút lót cho quân “Tầu Tưởng” (chữ dùng của Hà Nội) sao?
Chẳng hạn như sự kiện Võ Nguyên Giáp tiêu diệt các đảng phái quốc gia trong vụ Ôn Như Hầu năm 1946 thì tác giả viết một cách mông lung là “Lời đồn cho biết Võ Nguyên Giáp đã lợi dụng sự vắng mặt của Hồ Chí Minh để tiêu diệt phần lớn đối lập với Việt Minh,” nguyên văn nơi trang 220: Rumors go around that Vo Nguyen Giap had profited from the absence of Ho Chi Minh to liquidate most of the opponents to the Viet Minh.”
“Lời đồn” thì có thật mà cũng không có thật, là một cách sử dụng ngôn từ có chủ đích riêng! Và “lợi dụng sự vắng mặt của Hồ Chí Minh” lại là một các diễn tả khéo léo khác, hàm ý Hồ Chí Minh không biết tức là không có trách nhiệm gì trong việc sát hại các đảng phái quốc gia tại Hà Nội năm 1945.
Trong sự kiện bắt giết các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Ðảng và các đảng phái quốc gia khác, các lãnh tụ Cộng Sản rất mưu lược. Theo tôi suy đoán, việc tiêu diệt các đảng phái quốc gia là sách lược để độc chiếm chính quyền thì các lãnh tụ Cộng Sản đã sắp xếp từ trước và đem thi hành khi Hồ Chí Minh không có mặt. Họ khôn khéo đến độ chính Võ Nguyên Giáp cũng không phải trách nhiệm, vì người ký lệnh bắt là Huỳnh Thúc Kháng cơ mà?!
Xung động tình cảm của một người -không hiểu vì lý do gì?- đã làm tác giả kết luận về chế độ Ngô Ðình Diệm thế này, nguyên văn nơi trang 254: “If one could evaluate the Ngô Ðình Diệm’s regime with a short sentence, it would be: “It is a pity!” Thật đúng với khẩu khí của Hà Nội trong thời chiến: “bọn Mỹ Ngụy!”
Trong khi Hà Nội không còn giọng điệu thông tin tuyên truyền như thế này nữa, thì tác giả Trương Bửu Lâm năm 2010 vẫn còn hăng hái mạt sát chế độ Ngô Ðình Diệm, chế độ đã ưu đãi ông từ khi ông còn là một bạch diện thư sinh, cũng lạ!
Nhận định rằng dân di cư từ miền Bắc vào miền Nam hồi năm 1954 sau Hiệp Ðịnh Genève đa số là người Công Giáo, nguyên văn nơi trang 255: “…the refugees from the North who, in majority, were catholics…” chứng tỏ tác giả đã không thường xuyên theo dõi thư tịch để biết trước khi ông xuất bản sách này ba năm, năm 2007, Giáo Sư Ðặng Phương Nghi –nguyên Giám Ðốc Nha Văn Khố và Thư Viện VNCH- đã có bài viết trong chuyên san Dòng Sử Việt tựa đề “Về số người Công Giáo di cư từ Bắc vào Nam sau Hiệp Ðịnh Genève” (California, Xuân Ðinh Hợi, số 2, tháng 1-3, 2007, tr. 74-78) chứng minh rằng số dân Công Giáo chỉ vào khoảng 25-50% tổng số dân di cư vào Nam mà thôi.
Trang 256 thì tác giả phê phán Luật 10/59 đặt Cộng Sản ra ngoài vòng pháp luật, rất phù hợp với ngôn từ của chính quyền Hà Nội, là Ngô Ðình Diệm “lê máy chém khắp miền Nam.”
Trang 266 là giọng khinh bạc của tác giả viết về sự kiện TT Ngô Ðình Diệm viếng thăm Hoa Kỳ và được TT Eisenhower tiếp đón theo nghi thức quốc trưởng: “On May 8, 1957, the U.S. President invited him (tức Ngô Ðình Diệm) to visit the United States and treated him on the same footing as any Chief of a sovereign state.”
Tổng Thống nước Hoa Kỳ không tiếp đón Tổng Thống nước Việt Nam Cộng Hòa như một quốc khách hay sao mà phải viết treated him on the same footing as any Chief of a sovereign state? Thế thì hình ảnh Trương Tấn Sang, Chủ Tịch nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 2013 cúi rạp mình trước hàng quân Trung Cộng, bên cạnh Chủ Tịch nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc đứng thẳng lưng thì sao? Ai đã giữ được quốc thể cho dân tộc Việt?
Hình ảnh Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm đĩnh đạc đọc diễn văn trước Lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ dưới sự chủ tọa của Phó Tổng Thống Richard Nixon và Chủ Tịch Hạ Viện Sam Rayburn ngày 9 tháng 5 năm 1957. (Tài liệu riêng TAT)
Trang 258 tác giả viết Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam là mặt trận kết hợp đại biểu của nhiều tổ chức tại miền Nam, có đại diện của tất cả các tôn giáo Phật Giáo, Công Giáo, Cao Ðài, Hòa Hảo, sắc tộc… Thật thế sao, hay Giáo sư Trương Bửu Lâm lại viết chuyện đùa –A Story– cho vui?!
Chuyện người Mỹ đồng ý chủ trương Bắc Tiến với tướng Nguyễn Khánh nơi trang 264 là một điều sai lầm. Ðọc tiếp những dòng chữ của tác giả, tôi mới biết tác giả của A Story of Viet Nam đã lầm lẫn chủ trương Bắc Tiến với sự kiện Biệt Kích nhẩy Bắc của Lực Lượng Ðặc Biệt trong QLVNCH! Thật đáng tiếc cho hiện tượng “râu ông nọ cắm cầm bà kia” trong một sử phẩm!
Ðây là vài mẫu tiền MTDTGPMNVN mà Hà Nội cho in năm1967 và đưa vào Nam năm 1968 để sử dụng khi chiếm đượcchính quyền. Tiền có tám (8) mệnh giá 10xu, 20xu, 50xu, 1đ,2đ, 5đ, 10đ, và 50đ. Theo Huy Ðức trong Bên Thắng Cuộc II.Quyền Bính, trang 161, thì Bắc Việt đã đem vào tổng cộng14,000 (sic!) hòm tiền loại này, mật danh là “Hàng 65.” Vìthế, viết “As expected, the attackers had no intention ofoccupying their target for any length of time…” là viết lấyđược, trái với sự thật lịch sử! (Bộ sưu tập TAT)
Tết Mậu Thân trong A Story of Viet Nam là một sự bóp méo lịch sử. Chủ trương của Bộ Chính trị Ðảng Cộng Sản Việt Nam thực hiện cuộc “Tổng Công Kích Tổng Khởi Nghĩa” năm 1968 là nhằm giành chính quyền miền Nam, chứ có phải đánh rồi rút đâu. Ðiều đơn giản là rút đi đâu, một khi đã tiến sâu vào tận thủ đô Sài Gòn? Và nhất là đã đem tiền và tem bưu chính vào để nắm chính quyền mà đánh rồi rút, là rút thế nào?
Ngày 9.2.1999, chính Võ Nguyên Giáp đã phát biểu tại Hà Nội trong dịp tổng kết chiến tranh là, nguyên văn được tác gỉa Huy Ðức ghi lại trong sách Bên Thắng Cuộc II. Quyền Bính, trang 161: “Lúc đầu mục tiêu đề ra rất cao, tổng công kích, tổng khởi nghĩa, giành trọn vẹn chính quyền về tay nhân dân. Giấy bạc đã được in và đã được chuyển vào Nam. Ðồng phục cho công an vào tiếp quản thành phố cũng đã được chuẩn bi…”
Vì thế, khi tác gỉa viết, “như đã dự tính, những người tấn công (tức Việt Cộng, TAT chú thích) đã không hề có ý chiếm giữ mục tiêu lâu dài…, nguyên văn là: “As expected, the attackers had no intention of occupying their target for any length of time…” chẳng qua là cách bào chữa cho sự thất trận cũng là sự thất bại của cuộc Tổng Công Kích Tổng Khởi Nghĩa do Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam tại Hà Nội xướng xuất năm 1968!
Trong đời sống văn hoá của miền Bắc, việc tác giả dịch và cho in bài thơ Nhất Ðịnh Thắng của Trần Dần là thoáng nét thơ mộng của một trí thức miền Nam, một điều hiếm thấy trong sách. Nhưng chữ “Anh” trong bài thơ là tiếng âu yếm của người vợ Việt Nam gọi chồng, sao tác giả lại dịch là “brother” nơi trang 301 được?
Chồng mà là “brother” thì loạn luân mất rồi! Trước giáo sư Trương Bửu Lâm đúng 12 năm thì tác giả của Counterpart: A South Vietnamese Naval Officer’s War (Annapolis, Naval Institute Press, 1998, 235 tr.) là Ðỗ Kiểm cũng đã dịch tiếng gọi yêu thương “anh em” giữa vợ chồng với nhau là “big brother” và “little sister” (trang 139, sđd). Nhưng Ðỗ Kiểm là một sĩ quan hải quân, thạo đi biển hơn là cầm bút, nên sự sai trái còn hiểu được, chứ một giáo sư đại học mà cũng phạm lỗi thông thường này thì thật khó hiểu.
Ngoài ra, nhận định của tác giả về đời sống văn hoá miền Bắc rất gượng ép. Ông viết “nhiều nhà văn hay nghệ sĩ (miền Bắc) chứng tỏ sự trung thành của họ với những chính sách văn hoá của Ðảng và tiếp tục sáng tạo những tác phẩm quí gía,” nguyên văn nơi trang 301: “Many writers or artists professed their loyalty to the cultural policies of the Party and continued to create valuable works.” Xin hỏi những tác phẩm nào là quí giá của giới viết văn, làm thơ, hay vẽ tranh miền Bắc những năm 1950 hay 60?
Nhận định của tác giả, thật ra, là bất nhất và mâu thuẫn, vì ở một trang sau đó, ông lại viết là Nguyên Hồng và Nguyễn Tuân tiếp tục in (sách) nhưng phẩm chất không bằng những sách họ xuất bản trước kia,” nguyên văn nơi trang 303: “… Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân continued to publish, but could never reach the quality of the works they had produced previously.”
Trang 296 thì con số nhân mạng trong cuộc Cải Cách Ruộng Ðất 1953-56 đã bị tác giả rút xuống chỉ còn “hàng ngàn người chết,” nguyên văn: The campaign (Cải Cách Ruộng Ðất) was rife with mistakes and claimed the lives of thousands of victims.” Theo Nguyễn Minh Cần, một cán bộ cao cấp trong Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã phản tỉnh, thì số nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc trong các năm 1953-56 là 172,000 người!
Còn sự kiện Cộng Sản chiếm giữ Huế hàng tháng và tàn sát dân Huế không hề thấy tác gỉa trình bầy. Che dấu tội ác cũng chính là tội ác vậy!
Bắt đầu từ trang 310 là chúng ta đi vào chương cuối cùng của sách, tựa đề “Nothing is more precious than Independence and Unity,” tức là lấy hẳn một câu nói của Hồ Chí Minh.
Chương này tôi càng thấy nhiều chuyện cần bàn.
Tác giả trình bầy là những tháng đầu sau khi chiếm cứ toàn thể lãnh thổ miền Nam, PRG, tức Provisional Revolutionary Government of South Vietnam, tức Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, lúng túng chưa biết áp dụng chính sách gì cho miền Nam.
Vậy là tác gỉa coi PRG là một thực thể, mà không biết rằng PRG chỉ là một hình thức mà Cộng Sản Bắc Việt, cụ thể là Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Việt Nam, đã dựng lên để đánh lừa dư luận thế giới và những người Việt ngây thơ nên ngớ ngẩn. Tác giả hẳn phải biết việc xua năm (5) quân đoàn theo năm (5) hướng vào đánh chiếm miền Nam là hoàn toàn do Bộ Chính Trị Hà Nội quyết định và điều khiển hồi đầu năm 1975.
Những sự kiện lịch sử này người Cộng Sản đâu có dấu diếm sau năm 1975?! Nếu tác giả đọc sách xuất bản tại Hà Nội, từ các cơ quan nghiên cứu, đến các cấp chính quyền, cùng giới lãnh đạo chính trị và quân sự của chế độ Cộng Hoà̉ Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, hẳn tác giả phải biết từng chi tiết việc đánh chiếm miền Nam thế nào, chi li đến cả chuyện tổ chức cho cán bộ và những nhóm người Việt thân Cộng tại Pháp và Hoa Kỳ dò xét khả năng Hoa Kỳ trở lại Việt Nam sau Hiệp Ðịnh Patris 1973 ra sao (sau khi được nhóm này dò la và thông báo cụ thể, Phạm Văn Ðồng đã có thể tuyên bố trong một buổi họp của Bộ Chính Trị tại Hà Nội, nguyên văn như sau: Cho ăn kẹo Mỹ cũng không trở lại Việt Nam!) Chiến Dịch Hồ Chí Minh cuối cùng chiếm Sài Gòn khởi sự ngày giờ nào, chính sách đối phó với tù hàng binh ra sao, chiếm cứ và củng cố chính quyền thế nào… nhất nhất đều đã được Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Việt Nam tại Hà Nội quyết định và điều khiển từ trước.
Làm gì có chuyện các cán bộ “Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” lúng túng không có chính sách cai trị miền Nam sau ngày 30.4.1975 nơi trang 310-311?!
Tiếp theo là tác gỉa đã căn cứ vào tài liệu tuyên truyền của chính quyền Cộng Sản tại Sài Gòn đã đổi tên để viết chính quyền mới sau 1975 đã chú tâm làm sạch xã hội (như tập trung gái mãi dâm, đốt bỏ các bàn đèn thuốc phiện, các loại thuốc xì ke ma túy, tịch thu các loại sách báo phản động, vân vân.)
Thế là tác gỉa thật sự không biết chuyện hàng đàn hàng lũ viên chức phường khóm dẫn thanh niên nam nữ xăm xăm vào các tư gia tại Sài Gòn và các tỉnh, “đóng chốt,” -tức ăn ngủ tại nhà người ta nhiều ngày- để lục lọi hầu tịch thu vàng bạc quý kim sau ngày 30.4.1975 sao?! Cán bộ Cộng Sản vào nhà dân, đến cái soong cái nồi cái gầu múc nước giếng cũng kiểm kê lập biên bản giải quyết (nguyên văn).
Biên bản kiểm kê nhà cửa và tài sản của chính quyền Cộng Sản tại Nha Trang ngày 18.4.1978 ghi rõ 1 lò ga Sanyo, 3 gầu thiếc (múc nước giếng), 2 thau nhôm, 3 soong nhỏ, 1 soong lớn không nắp, 1 ấm nhỏ, 1 ấm lớn, và 180đ tiền mới. Biên bản có chữ ký của Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng phường Xương Huân, thị xã Nha Trang, của những người đóng chốt kiểm kệ, và của khổ chủ. (Tài liệu riêng TAT)
Vàng bạc châu báu thì vào túi ai không biết, còn sách báo thì đốt hết, bất kể loại gì xuất bản tại miền Nam, lập lại trong thế kỷ XX tại nước ta chuyện đốt sách hai ngàn năm trước ở Tầu dưới thời Tần Thủy Hoàng (221-210 BC).
Chính sách ấy mọi rợ hay văn minh trong thế kỷ XX?
Tác gỉa có biết Khảo Cổ Tập San cũng bị tịch thu và thiêu đốt trong dịp này không? Khảo Cổ Tập San, chuyên san do Viện Khảo Cổ VNCH ở Sài Gòn ấn hành trong thập niên 1960, do Giám Đốc Viện Khảo Cổ Trương Bửu Lâm làm Chủ Nhiệm và Chủ Bút, phản động chỗ nào? Nó là loại sách phạm thuần phong mỹ tục từ bao giờ, mà Thông Tri số 218/CT.75 của Bộ Thông Tin Văn Hoá do Bộ Trưởng Lưu Hữu Phước ký ngày 20.8.1975 cấm dân chúng lưu giữ?
Chương cuối cùng này có nhiều sai lầm từ đầu là thế. Nhưng chưa hết, độc giả đọc tiếp sẽ thấy người viết sử dụng danh nghĩa chuyện kể -Story- để liên tục tuyên truyền cho chế độ Cộng Sản ở Việt Nam ngày nay.
Về thảm trạng thuyền nhân nơi trang 313, tác gỉa không hề đề cập đến nguyên do của thảm trạng, không hề nói đến việc chính quyền Cộng Sản thu vàng rồi cho người dân lên tầu vượt biên, không mảy may đề cập đến nạn hải tặc Thái Lan cướp của giết người hãm hiếp phụ nữ bất kể già trẻ. Ngược lại, tác gỉa giải thích chuyện vượt biên đơn thuần là sự mâu thuẫn giữa hai nước Cộng Sản Việt và Tầu.
Ðặc biệt, tác giả đã tự cho phép mình dông dài trong một bộ thông sử Việt Nam chuyện ông về sống ở Việt Nam trong hai năm 1991-1993.
Ðó là dịp tác giả khái quát xã hội Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản. Ông lướt qua những thay đổi để viết về những tiến bộ của chế độ. Khi thì ông nhận định Việt Nam bây giờ không còn là một nhà nước công an nữa, nguyên văn nơi trang 326: “Vietnam no longer looked like a police state.” Ði đến chỗ cực độ, ông viết nay Công An sợ dân chứ không phải là dân sợ Công An, nguyên văn nơi trang 327: “I often heard people say that now the police is afraid of the people and not the other way round.” Ông còn nhận định đảng viên Ðảng Cộng Sản bây giờ đều dấu diếm đảng tịch, nguyên văn cũng nơi trang 326: “Nowadays, people tried to hide the fact that they belong to the Party.”
Trong trang 327, tác giả hồn nhiên viết rằng tuy chưa có tự do báo chí ở Việt Nam ngày nay, nhưng nhiều nhật báo đã trực tiếp tấn công Chính Phủ hay Ðảng và tự do viết về nạn tham nhũng của cán bộ chính quyền cùng những chính sách sai trái của các cơ quan chính phủ.
Cũng nơi trang 327 này, tác gỉa viết Quốc Hội bây giờ có nhiều quyền thế hơn những quốc hội trước đây. Và Hiến Pháp ban hành năm 1990 đã quy định Tư Pháp độc lập thật sự với Hành Pháp, chữ của tác giả là “genuine independence!”
Ðặc biệt, tác gỉa đã sử dụng ngôn từ uốn éo “did not look very dissimilar…,” (không có vẻ không khác lắm…) để ca tụng Việt Nam ngày nay về sự đổi mới trong kinh tế và những biện pháp tự do trong chính trị mà ông ví không khác các quốc gia Thái Lan, Nam Dương, Tân Gia Ba, Ðài Loan, hay Ðại Hàn về trình độ tiến bộ. Thập niên 1990 thì làm sao nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam so sánh với các nước Thái Lan, hay Nam Dương, hay Tân Gia Ba, hay Ðài Loan, hay Ðại Hàn được? Cho đến thập niên 2010, tổ chức xã hội Việt Nam còn chưa chắc đã bằng tổ chức xã hội nước láng giềng Cam Bốt mà!
Tác giả dùng trang 328 để tiếp tục ca tụng những thành quả của CHXHCNVN: Năm 1991, bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, vốn đầu tư Ðại Hàn bắt đầu đổ vào cũng năm 1991, Hiệp Hội Các Quốc Gia ÐNA ASIAN nhận Việt Nam làm thành viên quan sát năm 1993 và thành viên chính thức năm 1995, Hoa Kỳ hủy bỏ cấm vận và tư bản Mỹ ồ ạt đầu tư năm 1994, Hoa Kỳ bình thuờng hóa quan hệ ngoại giao năm 1995, tỷ số tăng trưởng hàng năm lên hai con số (tức là trên 10%).
Vân vân và vân vân.
Thật đáng tiếc là khi viết A Story of Viet Nam, giáo sư Trương Bửu Lâm của Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn được kính nể về chuyên môn ngày nào đã từ bỏ vai trò cao quí của một người thầy, hơn thế nữa, một sử gia, để đóng vai trò của một cán bộ tuyên truyền cho chế độ độc tài độc đảng đang tại vị.
Ðể giải thích thiên hướng nghiên cứu kỳ lạ của một giáo sư đại học Mỹ gốc Việt, tôi nghĩ tác giả đã bị ảnh hưởng xấu của hoàn cảnh.
Tác gỉa sống ở Mỹ trong suốt thời gian 1964-1975 nên chịu ảnh hưởng của phong trào phản chiến đã phải uốn mình theo bọn trí thức phản chiến trong môi trường đại học Mỹ để tồn tại. Thêm vào đó, tác giả chịu ảnh hưởng của thân tộc vốn có những người thân Cộng (như một người bà con là Lý Chánh Trung chẳng hạn, từng viết sách xuất bản giữa Sài Gòn về những ngày ông ta sống và dạy học dưới chính thể VNCH là Những Ngày Buồn Nôn, nxb Ðối Diện, 1971, 317 trang, trong khi chính quyền VNCH tiếp tục đãi ngộ cho họ Lý dạy Ban Nhân Văn tại Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn tận đến ngày 30.4.1975!) cùng những thân nhân khác -còn gần gũi hơn nữa- trong gia đình chăng?
Rốt lại, lời đoan chắc của tác giả, là ông đã khách quan đến mức tối đa, nguyên văn nơi trang IX: “I have narrated my story with the greatest impartiality I am capable of….” là chuyện lời nói không đi đôi với việc làm!
Hình ảnh cũng cho thấy “tình cảm thân thương” tác giả dành cho chế độ hiện nay tại Việt Nam như thế nào. Sách có rất ít hình ảnh các nhân vật lịch sử, nhưng sách đã có hình hài dung tục cởi trần mặc sà-lỏn của hai cán bộ văn hoá Hà Nội đi… tắm biển là Ðinh Gia Khánh và Phạm Huy Thông nơi trang 198!
Sách trình bầy rất ít tài liệu lịch sử và chưa một tài liệu nào trong 4,000 năm sử Việt chiếm nổi một trang sách, nhưng Di Chúc của Hồ Chí Minh được trịnh trọng giới thiệu trong sáu (6) trang, từ trang 289 đến trang 294, và toàn bộ Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Hồ Chí Minh tại Ba Ðình năm 1945 trong hai trang rưỡi (2.5), từ trang 192 đến trang 194, chưa kể hình bìa tờ Tạp Chí Cộng Sản đã được in trước đó, trang 178, hay bản tin tìm mộ bộ đội Bắc Việt sau đó, trang 319.
Hình bìa quyển Những Ngày Buồn Nôn của Lý Chánh Trung, giáo sư Ban Nhân Văn Ðại Học Văn Khoa, do nhà xuất bản Ðối Diện phát hành tại VNCH năm 1971. (Tủ sách TAT)
Thiên hướng “cái gì cũng phải từ Hà Nội” của tác giả khiến danh sách sách báo tạp chí, hay tựa đề một bài thơ, hay tên tuổi một nghệ sĩ, một nhà văn, một họa sĩ… trong các trang của A Story of Viet Nam thường là từ miền Bắc.
Vì thiên hướng như thế, tôi thất vọng về cái nhìn của tác giả khi ông trình bầy một khía cạnh văn hoá của dân tộc Việt Nam, là hội họa. Có ai biết ba người Bùi Suối Hoa, Ðinh Thị Thắm Poong, và Ðinh Quân là ai không?! Họ có xứng đáng đại diện cho hội họa Việt Nam trong một quyển thông sử chứa đựng hơn 4,000 năm hay không?!
Ðiểm tích cực nhất mà tôi có thể tìm thấy trong A Story of Viet Nam là bóng dáng của một sử gia chuyên nghiệp qua nội dung tổng quát của sách. Ðây là một quyển thông sử trình bầy lịch sử văn minh, mà không phải đơn thuần là loại thông sử của các tác giả tài tử chỉ biết trình bầy lịch sử dân tộc bằng những trận đánh hay bằng sinh hoạt của vua quan tại triều đình. Sách còn có một nhận định… lạc lõng nhưng thật ra rất chính xác, rằng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thành lập năm 1954 là một chính phủ của Ðảng, do Ðảng, và vì Ðảng, nguyên văn nơi trang 295: “… the government of the Party, by the Party, and for the Party.”
Trước năm 1975, giáo sư Trương Bửu Lâm đã được chế độ Việt Nam Cộng Hòa biệt đãi. Năm 1957, ngay sau khi tốt nghiệp một trường Công Giáo nhỏ ở Bỉ -đại học Louvain- về nước, với vị thế của một bạch diện thư sinh mới rời ghế nhà trường, ông đã được bổ nhiệm vào chức vụ Giám Ðốc Viện Khảo Cổ và giáo sư của tất cả các đại học tại VNCH thời bấy giờ, là ba đại học Sài Gòn, Huế, và Ðà Lạt. Hơn thế nữa, ông còn được gia đình tổng thống Ngô Ðình Diệm biệt đãi, mời vào Dinh Ðộc Lập dạy kèm cho các con của ông bà cố vấn Ngô Ðình Nhu.
Tôi không xa lạ với giáo sư Trương Bửu Lâm. Ông là thầy tôi tại Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn trong niên khoá 1963-1964, niên khoá cuối cùng và dở dang ông dạy tại Việt Nam trước khi đi Mỹ và ở lại luôn từ đó.
Vào những ngày xưa trong sáng ấy, giáo sư Trương Bửu Lâm phụ trách môn Phương Pháp Sử. Giảng khoá của ông giá trị ở những kỹ thuật căn bản và những gợi ý cần thiết cho sinh viên trong nghề đã thấm vào máu thịt tôi từ đó.
Chính giảng khoá này năm 1970 bị một “giáo sư” Ðại Học Văn Khoa Ban Sử khác là Châu Long ăn cắp nguyên văn đem in dưới tên ông ta, tựa là Sử Học Nhập Môn (Sài Gòn, Văn Hào xb, 1970, 178 tr.) trong phần Phương Pháp Sử Học Tây Phương, tr. 25-85.
Cũng cần nói thêm là ông Châu Long lại là một đầu mối nằm vùng của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam mà biệt thự của ông tại Làng Ðại Học Thủ Ðức trước năm 1975 là nơi chứa chấp các cán bộ cao cấp Cộng Sản mỗi khi họ về Sài Gòn.
Sau ngày 30.4.1975, khi tất cả cư dân của Làng Ðại Học Thủ Ðức bị Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn Gia Ðịnh đuổi ra để họ chiếm cứ, thì ông Châu Long được Ủy Ban đền bù bằng một biệt thự trên đường Chi Lăng, Phú Nhuận. Tôi biết rõ được những chi tiết này vì một ngày đầu tháng 5.1975, ông Châu Long đã nhắn tôi đến đó gặp ông. Hôm ấy có mặt người thứ ba là giáo sư Lê Văn Chưởng dạy Ban Việt Hán, ̣ĐHVK Sài Gòn. Ở đó, ông Châu Long cho biết biệt thự ông đang ở là của Nguyễn Thiện Nhơn, hay Thượng Nhơn gì đó, Phụ Tá Ðặc Biệt của Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ, nhà có 18 phòng, nhiều đến nỗi có phòng ông còn chưa vào. Rồi ông Châu Long gằn giọng, nguyên văn, “Anh thấy chưa, tôi đã đuổi Nguyễn Thế Anh ra khỏi Việt Nam rồi. Ban Sử là một ổ CIA, Ðỗ Phan Hạnh là trưởng lưới. Anh làm gì thì khai đi, người ta biết hết rồi. Anh có làm cho USIS không?”
Ðó là lần đầu tiên trong đời, tôi nghe thấy danh từ lạ tai “trưởng lưới” trong ngành an ninh tình báo! Càng nghe ông Châu Long nói, tôi càng chưng hửng, vừa buồn vừa chán vừa khinh vừa…sợ vì trước đó, thời VNCH, Châu Long là vị giáo sư rất hiền lành tử tế, cả một đời dạy học hầu như ông chưa hề đánh rớt sinh viên bao giờ!
Hôm ấy, ông Châu Long còn đưa cho anh Chưởng và tôi xem tấm thiệp của Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn mời ông tham dự lễ mừng chiến thắng tại Dinh Ðộc Lập vào ngày, nếu tôi nhớ không lầm, là 12.5.1975.
Anh Lê Văn Chưởng hiện còn ở Sài Gòn thì phải, còn ông Châu Long nghe nói sau này hối hận (?), vào ở trong một ngôi chùa và mất ở đó. Thế cũng xong một kiếp người!
Hạng “giáo sư” như ông Châu Long này (xuất thân “tiến sĩ đại học” là thứ tiến sĩ ở Pháp cho không những phần tử tại các thuộc địa để họ về lại đất nước họ, loại bằng mà ứng viên không cần có Cao Học, cũng chẳng cần Cử Nhân, chỉ cần nộp một “công trình” là xong) được chế độ Việt Nam Cộng Hòa ưu đãi, cho dạy đại học, cho làm công chức cao cấp tại Bộ Ngoại Giao (phụ trách chương trình đào tạo Tham Vụ Ngoại Giao), được cấp biệt thự sang trọng tại Làng Đại Học Thủ Đức, vậy mà nằm vùng cho Cộng Sản đánh phá miền Nam, rồi tố cáo đồng nghiệp và sinh viên của mình cho các cán bộ Cộng Sản tiếp thu Trường Đại Học Văn Khoa tại Sài Gòn đầu tháng Năm năm 1975 thì có xứng đáng được gọi là “giáo sư” hay không?!
Hỏi, tức là trả lời!
Xin trở lại với giáo sư Trương Bửu Lâm. Tôi đã đắn đo -và có phần đau buồn- trước khi viết những dòng chữ trên đây. Lý do là truyền thống đạo đức Ðông Phương dạy người ta tôn kính và nhớ ơn thầy. Nhưng cũng là một ông thầy trong hơn 8 năm tại Việt Nam và 26 năm tại Hoa Kỳ, tôi nhận định thầy phải xứng đáng là thầy về khả năng và nhất là về tư cách thì trò mới tôn kính và nhớ ơn được. Tôi lại nghĩ đến những tội bất hiếu trong truyền thống Ðông Phương. Thường thì ai cũng chỉ biết tội nặng nhất, là tội không có con trai nối dõi tông đường, mà ít ai biết được hai tội kia. Ðó là tội làm con đã trưởng thành mà không đi làm nuôi cha mẹ già yếu. Và tội thấy cha mẹ lầm lỗi mà không lên tiếng để người khác chê cười cha mẹ.
Vì thế, tôi đã quyết định viết những dòng chữ trên. Mong độc giả và nhất là Giáo Sư Trương Bửu Lâm hiểu. Mà không hiểu thì tôi đành chịu, chứ trong nghề thì tôi không làm khác được.
Cuối cùng, những dòng chữ trên đây không hề có ý phê bình sự thiên Cộng của giáo sư Trương Bửu Lâm. Tôi tôn trọng lý tưởng của người khác. Người có lý tưởng mà tranh đấu cho lý tưởng, sống chết với lý tưởng, càng đáng trọng hơn nữa.
Tôi giành quyền phân tích là phân tích sự xuyên tạc và bóp méo sự kiện quá khứ của người viết Sử!
Nếu, ngay trong lời nói đầu, tác giả của A Story of Vietnam cho biết ông viết nhằm vinh danh Ðảng Cộng Sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh của đảng này thì vấn đề đã tách bạch. Và độc giả nào đồng hội đồng thuyền với ông xin cứ tiếp tục thưởng thức.
Nhưng không, tác giả đã nhân danh một sử gia chuyên nghiệp để viết lịch sử của một dân tộc.Nguyên văn trong phần Lời Tựa (Preface) nơi trang VIII như thế này: “As a specialist of Southeast Asian History, I am often asked to introduce a book that would relate the history of Vietnam, from its beginnings to the present… That is the reason I am happy and humbled to introduce here a work of mine I entitled A Story of Vietnam. I call it a story and not a history, because I do not want my book to be the usual conventional textbook, overburdened with interminable academic, historical, and bibliographic references. I prefer it to be easy to read, shorter on facts, and longer on stories. I also want my book to represent the sum total of what I have learned existentially about Vietnam in Vietnam, added to what I have researched and studied during the decades that I taught its history in colleges and universities in Vietnam and in the U.S.”
Xin tạm dịch: “Là một chuyên viên về sử Ðông Nam Á, tôi thường được yêu cầu viết một quyển sách liên hệ đến lịch sử Việt Nam từ khởi nguyên cho đến hiện tại… Ðó là lý do tôi vui mừng và khiêm tốn giới thiệu một tác phẩm của tôi tựa đề Chuyện Kể về Việt Nam. Tôi gọi đây là chuyện kể mà không phải là sử vì tôi không muốn sách của tôi là loại giáo khoa thông thường, miên man những tham chiếu hàn lâm, lịch sử, và thư tịch. Tôi thích sách dễ đọc, sự kiện càng ít mà chuyện kể càng nhiều. Tôi cũng muốn sách của tôi là tổng thể tất cả những gì tôi đã thực sự học được về Việt Nam tại Việt Nam, cộng với những gì tôi đã nghiên cứu và tìm hiểu qua nhiều thập niên giảng dạy Việt Sử trong các trường đại học lớn nhỏ tại Việt Nam và ở Hoa Kỳ.”
Thật đáng tiếc là tác giả của những sử phẩm chuyên nghiệp và giá trị như Sử Học Phương Pháp Luận tại Sài Gòn thời VNCH và sau này tại Hoa Kỳ như Patterns of Vietnamese Response to Foreign Intervention, hay New Lamps for Old, hay Resistance, Rebellion, Revolution, hay Colonialism Experienced lại là tác gỉa của A Story of Vietnam lúc về hưu.
Những công trình nghiêm túc trên đây bên cạnh thứ sách tuyên truyền chính trị thật không xứng đáng với tầm cỡ của một giáo sư đại học xuất thân từ miền Nam nước Việt!
Mặt khác, tôi không tin rằng với tình cảm dành hết cho Ðảng Cộng Sản và chế độ Cộng Sản độc tài toàn trị tại Việt Nam mà tác giả của A Story of Viet Nam sẽ được chế độ Hà Nội trọng vọng hay ưu đãi. Vì, với bản chất đa nghi của những nông dân trong làng xã, người cán bộ Cộng Sản Việt Nam nhìn ông trước sau chỉ là trí thức tiểu tư sản thành thị với tất cả những căn tính hời hợt, ham hưởng thụ, sợ khó sợ khổ, mà không có lý tưởng gì cao cả.
Khi nhận được quyển A Story of Vietnam do Giáo Sư Trương Bửu Lâm gửi từ Hawaii với hàng chữ “Xin gởi tặng Anh Trần Anh Tuấn để cùng nhớ lại những kỷ niệm xa xưa. Trương Bửu Lâm (ký),” tôi đã bối rối. Nội dung thế này thì làm sao mà tôi im lặng được?!
Vì thế, tôi đã phải mua ngay một quyển thứ hai để phân tích. Còn quyển được vị Thầy cũ ưu ái gửi tặng thì tôi xếp vào tủ sách của những kỷ niệm xa xưa và trong sáng, nẩy sinh từ niên khoá 1963-64 tại Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn.
Nói “xa xưa và trong sáng” vì hồi đó, Sử Học Phương Pháp Luận của giáo sư Trương Bửu Lâm là sách, cours quay ronéo thì đúng hơn, gối đầu giường của tôi. Và khi tôi đến thư viện Viện Khảo Cổ -lúc ấy là một biệt thự nhỏ ở đường Lê Thánh Tôn ngay trung tâm Sài Gòn- đọc sách, thì hầu như sách nào tôi tìm đọc, nhất là các ấn phẩm của École Francaise d’ Extrême-Orient (Viễn Ðông Bác Cổ Học Viện, quen gọi là Viện Viễn Ðông Bác Cổ, hay Viện Bác Cổ, Hà Nội), Société des Amis du Vieux Hué (Ðô Thành Hiếu Cổ Hội, Huế), và Société des Études Indochinoises (Ấn Hoa Cổ Học Hội, quen gọi là Hội Nghiên Cứu Ðông Dương, Sài Gòn), cũng thấy những ghi chú ngoài lề bằng bút chì, nét thanh mảnh rất rõ và đẹp của Ông Giám Ðốc họ Trương, người lúc nào cũng mặc complet mầu nâu sáng với mái tóc hippy dài phủ gáy, đúng điệu hào hoa của một công tử Nam Kỳ Lục Tỉnh!
TRẦN ANH TUẤN
(Trong Sử Việt Tại Bắc Mỹ 1975-2020 chưa xuất bản)
Ở Cuối Hai Con Đường
Ở Cuối Hai Con Đường
Những năm “cải tạo” ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đã có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi.
Sau đó, tôi được chuyển về trại 6/ Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn.
Ngày nhập trại, sau khi “biên chế” xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái lán lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ “đồng chí cán bộ quản giáo” đến tiếp nhận.
Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào lán. Điều trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta chỉ còn một cánh tay. Một nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ: “Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ?”
Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi, miệng nở nụ cười. Nhìn khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu.
Bằng một giọng đặc sệt Nghệ Tĩnh, anh quản giáo giới thiệu tên mình: Nguyễn văn Thà, rồi “báo cáo” môt số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội trưởng một tập vở học trò, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm bản “lý lịch trích ngang”.
Tôi đang ngồi hý hoáy viết cái bản kê khai lý lịch ba đời với bao nhiêu thứ “tội” dưới biển trên trời mà tôi đã thuộc lòng từ lâu lắm – bởi đã phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm – bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:
– Trong này có anh nào thuộc Sư Đoàn 23?
Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng:
– Thưa cán bộ, có tôi ạ.
– Anh ở trung đoàn mấy.
– Trung Đoàn 44.
– Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?
– Vâng, có ạ.
Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ còn cái tay áo đong đưa, lên:
– Tôi bị mất cánh tay này trong trận đó.
Nhìn qua anh em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi. Để lấy lại bình tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ động:
– Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào?
– Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư Đoàn 320.
Anh quản giáo rảo mắt nhìn quanh, rồi hạ giọng tiếp tục:
– Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn tăng của tôi còn có 2 chiếc. Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài, nhưng bị các anh bắt làm tù binh.
– Sau đó cán bộ được trao trả? Tôi hỏi.
– Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị. Nhờ vậy mà tôi còn sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê.
Dạo đó, miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm. Mỗi lán được đào một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em nhặt ngoài rừng, sau giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng xuống sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm tình những chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố gắng giữ gìn sức khỏe, đừng làm điều gì sai phạm để không phải nghe mấy ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói:
– Tôi rất đau lòng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết các anh đều là những người có trình độ văn hóa và ai cũng đã từng chỉ huy.
Mùa đông, không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một người tù chỉ có một miếng bánh mì đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt. Phần thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều người đứng không vững.
Một buổi chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả thung lũng trại tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong lán, cố nhai từng hạt bắp cứng như viên sỏi, nhìn ra cánh đồng phía trước, thấp thoáng một người mang áo tơi (loại áo mưa kết bằng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi trời tối.
Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng:
– Tôi để một giỏ cá đằng sau lán. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết.
Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động.
Biết là anh em tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân, quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn còn nguyên; đào mấy cái bếp “Hoàng Cầm” để luộc sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luộc sắn ăn cho no. Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh “chuẩn bị đi về”, anh em tức khắc giấu hết “tang vật” xuống một cái hố đã đào sẵn.
Dường như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no – dù chỉ là no sắn.
Không biết tối hôm ấy, trong giờ “giao ban”, quản giáo Thà đã báo cáo với ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi đã phát được bao nhiêu hecta rừng?
Mỗi lần ra bãi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ:
– Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt thì ta nghỉ. Nhớ giữ gìn sức khỏe, vì thời gian cải tạo còn dài lắm.
Vào một dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà ở lại với anh em. Số tiền lương vừa lãnh được, anh mua mấy bánh thuốc lào, vài ký kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều với anh em:
– Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đã chết. Vết thương quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một mình, không có thức ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được một đơn vị của Sư Đoàn 23 các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận tình săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa tôi về bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy vòng, thì vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng. Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt cả đêm. Người chỉ huy hôm ấy là một anh rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh còn cho tôi nửa bao thuốc lá còn lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau của vết thương. Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về quân y viện Pleiku. Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác sĩ các anh chăm sóc tận tình. Tất cả đã đối xử với tôi như người đồng đội. Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân tình. Vết thương vừa lành, thì tôi được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện còn cho tôi nhiều thuốc men và một số đồ dùng. Lòng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi nghẹn ngào trước tình con người, tình dân tộc mà các anh đã dành cho tôi. Tình cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy lòng, không dám tâm sự cùng ai, vì lòng tôi lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm mong chờ tôi trở về.
Anh cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng rõ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.
– Khi về lại ngoài Bắc, người ta có còn tin cậy anh không? Một anh tù hỏi.
– Ngay sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ các anh cho. Tôi cố giấu mấy viên thuốc trụ sinh phòng nhiễm trùng, nhưng họ khám xét kỹ quá, tôi phải tìm cách vất đi. Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng thế, không thể làm khác hơn. Chính vì vậy mà lòng tôi cứ dằn vặt mãi cho đến hôm nay.
Thời gian vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng.
Một buổi sáng sớm, khi sương mù còn vương trên thung lũng trại tù, một người đạp chiếc xe đạp vội vã rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo một cái rương bằng gỗ và một túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới thức dậy, còn ngái ngủ, chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nhìn lại, đưa cánh tay chỉ còn một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng trước cổng trại.
* * *
Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 50 người vượt biển, trong đó có tôi và ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của vương quốc Nauy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng đến anh thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết lòng săn sóc lo lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore, chúng tôi quá xúc động không ai cầm được nước mắt. Tất cả thủy thủ đoàn đều ra đứng thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm lấy từng người chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày sống trong trại, chúng tôi được thầy cô giáo và ông đại sứ Nauy, thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi đau của một người vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại được những kẻ xa lạ không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết lòng đùm bọc yêu thương. Mang cái ân tình đó, chúng tôi chọn Nauy là nơi tạm gởi phần đời còn lại của mình.
Bốn anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một người không cùng chiến tuyến mà còn có được tấm lòng. Sau lần bị “hạ tầng công tác” ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.
Sau hai năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp còn trẻ tuổi, lại ở gần nhà, nên sau này trở nên thân tình. Anh ta là sinh viên đang theo học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ học. Làm chung gần một năm, thì anh bạn Nauy này lại được nhận vào một công ty lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn Độ.
Bẵng đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, vì cùng đến với anh là một người con gái Việt nam. Anh giới thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị hôn thê của anh.
Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi nhìn thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường, mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi cũng niềm nở, đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người còn đi học ở Hà Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại Ấn Độ. Chính tại đây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Nauy này. Khi ấy cô đã có chồng và một đứa con trai. Người chồng trước cùng du học ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè và người thân cho biết là anh chồng đã cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đi. Cô đem việc này nói phải trái với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp chương trình Tiến sĩ tại một đại học ở Đông Đức.
Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông Đức) bỗng chốc không còn nữa. Cô không về nước mà tìm cách trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc được với anh Kenneth Hansen, để được bảo lãnh sang Nauy. Biết cô thuộc gia đình một đảng viên cộng sản cao cấp, bởi cô được du học ở nhiều nước thuộc khối cộng sản trước đây, nhưng tôi không hỏi vì sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth Hansen cho biết bố của cô trước kia là đại sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn khối cộng sản Đông Âu, ông xót xa nhìn ra được một điều gì đó. Trở về Việt Nam, ông không còn được nhà nước Cộng sản trọng dụng, trở thành kẻ bất mãn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.
Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đình, đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai sang Nauy với cô.
Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ đến anh quản giáo Nguyễn văn Thà thuở trước. Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về Nghệ Tĩnh tìm và trao lại cho anh, như để tỏ chút lòng biết ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy nước đọng mà vẫn còn giữ sạch được tấm lòng. Việc tìm anh không phải dễ dàng, vì chúng tôi không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ: “Ông Nguyễn văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn”. Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ tìm đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm việc tại bộ quốc phòng. Cô sẽ nhờ ông ta tìm hộ.
Một tháng sau, cô Đoan trở lại Nauy, báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô không tìm thấy tên Nguyễn văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là anh ta đã bị phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đã đích thân vào Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số điện thoại của tôi. Cô còn cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh thì cô nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng gì, vì chỉ một ít người ở thành phố có báo đọc.
Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp hội nhập vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không còn ai nhắc đến chuyện anh Thà.
Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật mình tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ bên ngoài cửa sổ chỉ -20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại thì phải có điều gì khẩn cấp lắm. Tôi bốc ống nghe. Đầu giây bên kia là giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả, nhưng rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy đủ họ và tên.
– Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ? Tôi hỏi.
– Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ.
Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là mình đã quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng:
– Bác có còn nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?
– Ông Thà, Nguyễn văn Thà, bác nhớ, nhưng cô là gì của ông Thà, và sao lại ở Ba-Lan?
– Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm Bác ạ. Tiếng cô gái sụt sùi.
– Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi tốn tiền.
Tôi gọi lại, và nghe tâm sự não nề của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết những người được chính quyền Việt Nam gởi sang lao động, đã không về nước, trốn ở lại. Vì sống bất hợp pháp, nên không tìm được việc làm chính thức. Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những người đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu.
Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của một người khác, mang đi bán. Nhưng nhiều lần dành dụm được một ít, chưa kịp gởi về giúp gia đình thì bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. Vì vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, còn cô Hà thì đang bị truy nã. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà gọi điện thoại cho tôi.
– Bây giờ cháu đang ở đâu? Tôi hỏi.
– Cháu đang trốn ở nhà một người bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết phải làm sao, thì bất ngờ nhớ đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường hợp rất cần thiết mới gọi cho bác.
– Ba cháu bây giờ làm gì?
– Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, nên chỉ nằm một chỗ. Vì vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây để kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ.
Tôi ghi số điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày rất gần ở Ba-Lan.
Tôi nhớ tới một người bạn Ba-Lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai vừa mới đến Nauy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi. Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy môt không đoàn chiến đấu thuộc quân đội cộng sản Ba-Lan. Về sau, anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesa lãnh đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đã lấy một chiếc trực thăng, chở gia đình, gồm người vợ và hai đứa con, bay sang Tây Đức. Theo sự thỉnh cầu của anh, gia đình anh được chính phủ Nauy đặc biệt nhận cho tị nạn chính trị.
Anh và tôi học tiếng Nauy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, thì tình hình chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lãnh đạo đã thắng lợi vẻ vang. Ông được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ. Anh Piwko, người bạn tị nạn của tôi, được mời về nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát. Vào những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm vui và hy vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với gia đình anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong dân chủ.
Sáng hôm sau, tôi tìm lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo tin sang thăm. Vì đi vội, nên tôi chỉ đi một mình. Vợ chồng anh đón tôi ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh chị còn cho biết là rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Nauy để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia đình anh đã dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh những điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm tình cùng anh về chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết lòng giúp tôi về việc này.
Anh đưa tôi đến gặp cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đình anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lãnh Tĩnh, em của Hà từ trại tù về.
Trước khi về lại Nauy, tôi đã thức trọn một đêm để tâm tình khuyên lơn hai chị em Hà, biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và chuyển về Việt nam biếu anh Thà, bố hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và sẽ tận tình lo lắng cho hai cháu.
Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà đã được Piwko bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, vì lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung học.
* * *
Các Anh thân quý
Khi ngồi viết những dòng này cho các anh, thực tình tôi không còn nhớ mặt các anh, nhưng tôi còn nhớ rất rõ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh còn nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, lòng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đình xin muôn vàn cảm tạ. Các anh làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác: “Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước cảnh khốn khổ của đồng loại để chăm lo cho bộ lông của mình”. Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác, những nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ cũng đã từ bỏ Mác, chỉ còn một vài nơi lấy Mác làm bức bình phong để che đậy những mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với tôi, vẫn mãi mãi là một lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời theo Mác đã luôn luôn làm ngược lại lời nói này của Mác.
Chúng tôi mừng cho các anh đã đưa được gia đình ra khỏi nước. Mặc dù tôi biết một người phải bỏ quê hương mà đi, còn đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may ra còn tìm được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp con người.
Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua biên giới. Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà, tiền phụ cấp không đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ còn một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để phụ giúp gia đình.
Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đình, tôi mới còn sống được đến hôm nay. Biết trốn lại Ba-Lan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn còn hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết lòng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây.
Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quý giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che cho ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian…”
* * *
Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh Thà. Anh đã qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấp trong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm thì: “Xin hãy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ?”
August 27, 2008
phạm tín an ninh
THỬ PHÂN TÍCH MỘT BÀI THƠ CỦA THÍCH TUỆ SỸ
THỬ PHÂN TÍCH MỘT BÀI THƠCỦA THÍCH TUỆ SỸ
Vĩnh Đào
KHÔNG ĐỀ
Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn.
Trên đây là một bài thơ rất được nhiều người biết đến của nhà thơ thiền sư Thương toạ Thích Tuệ Sỹ (ngày nay là Hoà thượng Thích Tuệ Sỹ). Bài thơ rất quyến rũ, lời thơ đậm màu triết lý nhân sinh nhưng cũng rất bí hiểm. Làm sao “hiểu” được bài thơ này? Người thưởng thức thơ có thể đọc đi đọc lại nhiều lần và thấy mình bị cuốn hút vì nhạc điệu của bài thơ cũng như những ngôn từ thanh thoát, gợi cảm, vừa giản dị vừa thông thái, nhưng không biết phải diễn dịch cách nào, làm sao theo dõi những tư tưởng của tác giả. Cho đến nay không có một bài bình giảng nào thử đưa ra một đuờng hướng để tiếp cận bài thơ này, ngoại trừ một bài cảm tưởng của Bùi Giáng (“Đi vào cõi thơ Tuệ Sỹ”, đăng trong quyển Đi vào cõi thơ, Nhà xuất bản Ca Dao, Sài Gòn, 1969), được thường xuyên nhắc tới trong những bài viết về thơ Tuệ Sỹ.
Nhưng theo tôi, thi sĩ Bùi Giáng chỉ đưa ra những cảm tưởng khái quát, khẳng định những điều to lớn, mà không đưa ra bất cứ một luận cứ nào để chứng minh những điều mình nói: “Ta tưởng như nghe ra ‘cao cách điệu’ bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc Nietzsche… Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ từ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.” Khẳng định những điều to lớn như vậy không có ích gì để giúp cho người đọc có một cái nhìn rõ hơn về tác phẩm.
Trước khi thử tìm một lối tiếp cận thỏa đáng bài thơ này, chúng ta cần biết rõ hơn về tác giả và hoàn cảnh sáng tác thi phẩm.
Thích Tuệ Sỹ, tên thật là Phạm Văn Thương, sinh tại Paksé, Lào, năm 1943. Vào đầu thập niên 1970 trong số các giáo sư của Viện Ðại Học Vạn Hạnh thì Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ và Phạm Công Thiện, chủ bút tạp chí “Tư tưởng” của Viện Ðại Học Vạn Hạnh, cả hai đều dưới 30 tuổi, được xem là những trí thức lỗi lạc nhất. Tuệ Sỹ chuyên về Phật học và tư tưởng Đông Phương, còn lãnh vực của cư sĩ Phật giáo Phạm Công Thiện là triết lý Tây phương. Cuối năm 1970, Phạm Công Thiện rời Việt Nam để đi Pháp và không trở về. Tuệ Sỹ thay Phạm Công Thiện chịu trách nhiệm tạp chí Tư Tưởng, nhưng đến năm 1973 thì Tuệ Sỹ cũng quyết định rời bỏ Sài Gòn và Viện Ðại Học Vạn Hạnh để rút về chùa Hải Đức, trên đỉnh đồi cao heo hút phía Tây thành phố Nha Trang. Chưa đầy hai năm sau thì xảy ra biến cố tháng 4 năm 1975 và sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hoà.
Cuối hè 1976, Thầy Tuệ Sỹ lại quyết định dấn thân vào một cuộc thử nghiệm mới. Ông rời chùa Hải Đức, một mình đi làm rẫy ở vùng rừng núi Vạn Giả, cách Nha Trang khoảng 60 cây số. Đến năm 1977, ông rời Vạn Giả vào Sài Gòn sống ở chùa Già Lam. Năm 1978, thì bị nhà cầm quyền CSVN bắt giam cho tới đầu năm 1981.
Ngày 1-4-1984, Thượng toạ Tuệ Sỹ lại bị bắt giữ cùng với Giáo sư Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát và một số tăng ni, bị kết tội âm mưu lật đổ chính quyền. Trong phiên tòa xảy ra năm 1988, ông bị kết án tử hình cùng với Giáo sư Lê Mạnh Thát. Do sự can thiệp của các cơ quan bảo vệ nhân quyền quốc tế, ông được giảm án xuống còn chung thân khổ sai. Năm 1998 Thượng toạ cùng với một số người khác được trả tự do.
Năm 1999, Hoà thượng Thích Tuệ Sỹ đảm nhiệm trách vụ Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), một tổ chức tổ chức không được chính quyền CSVN và Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) thừa nhận. Năm 2019, Tăng Thống Thích Quảng Độ ủy thác Hoà thượng Tuệ Sỹ lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở vị trí Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống trong thời gian Tăng Thống lâm trọng bệnh. Hoà thượng Tuệ Sỹ tiếp tục xử lý thường vụ Viện Tăng Thống sau khi Tăng thống Thích Quảng Độ qua đời vào tháng 2-2020.
Tập thơ Giấc mơ Trường Sơn do An Tiêm xuất bản năm 2002 tập họp các bài trong bốn tập bản thảo mỏng là Phương trời viễn mộng gồm 9 bài thơ viết trước năm 1975, Giấc mơ Trường Sơn gồm 29 bài sáng tác từ năm 1975 đến 1980, Tĩnh toạ gồm 9 bài, viết từ 1983 đến năm 2000, và Tĩnh thất, gồm 32 bài viết trong các năm 2000 và 2001.
Bài thơ trên đây, tác giả chỉ để là “Không đề” trong tập bản thảo. Trong tập Giấc mơ Trường Sơn, bài này mang tên “Khung trời cũ”. Đây có lẽ là tựa do nhà xuất bản đặt khi in lại, nhưng tựa đề này hình như không thích hợp mấy vì không liên quan đến các ý tưởng tản mạn của tác giả, từ những kỷ niệm của quá khứ đến những tư tưởng triết lý về thời gian và cuộc đời, và trở về hiện tại giữa bốn bức tường của tác giả, mơ tưởng đến một con suối giữa rừng, diễn tả rất sâu sắc và cô đọng.
Bài thơ trên được sáng tác theo thể thơ tự do, bắt đầu bằng hai câu thơ 9 chữ, phần còn lại chủ yếu là những câu thơ 8 chữ, xen kẻ với những câu 7 chữ, không theo một trật tự nào nhất định, nhưng khi đọc lên nghe rất quyến rũ vì nhạc tính rất cao và gây nên những cảm xúc khó tả, tùy theo những kỷ niệm cá nhân của người đọc, tuy rằng không dễ tìm ra những ý nghĩ nào dẫn dắt bài thơ.
Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Việc đầu tiên không nên làm là tự đặt ra những câu hỏi: Đôi mắt ướt của ai? Tuổi vàng nào? Và khung trời nào mà hội cũ? Những thắc mắc sẽ không bao giờ có được câu trả lời. Tác giả có những tâm tư, ý tưởng, những ám ảnh của riêng mình, viết ra thành lời thơ mà không có chủ đích diễn tả làm sao để người đọc hiểu rõ ngọn ngành. Vậy không có ích gì khi cố gắng tìm một cách diễn dịch nào cho “hợp lý”. Chúng ta chỉ có thể nhận thấy là hình ảnh này đã từng ám ảnh tác giả trong một bài thơ sáng tác trước đó vào năm 1976, trong thời gian đầu ở rừng Vạn Giả:
Người mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn
Khóe môi cười nắng quái cũng gầy hao
(“Một thoáng chiêm bao”)
Còn áo màu xanh nào? Trên đồi hoang thì chỉ có thể màu xanh của cỏ thay đổi theo thời gian. Hay là áo của một người nào? Không có gì cho phép xác định và điều này cũng không quan trọng để có thể ngăn cản chúng ta tìm hiểu phần tiếp của bài thơ.
Theo lời kể lại của Thượng tọa Thích Phước An, về sau là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hoá của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, thì chính Thầy Phước An vào mùa hè năm 1976 đã lên một chiếc xe đò cũ kỷ cùng với Thầy Tuệ Sỹ, để đưa Thầy đi làm rẫy tại một khu rừng hẻo lánh ở thị trấn Vạn Giả, gần đèo Cả. Rồi sau đó thì cứ một, hai tuần, Thầy Phước An lại về rừng Vạn Giả thăm bạn. Thầy thuật lại: “Đôi khi tôi ở lại đêm với anh trong túp lều tranh do tự tay anh cất lấy. Những lúc ở lại đêm như vậy, tôi lại càng cảm phục sức chịu đựng của anh. Đêm nơi đó chẳng có gì cả, ngoài ngọn đèn dầu leo lét trong túp lều tranh và bóng tối mịt mù giữa núi rừng mênh mông.”
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Chính những kỷ niệm ngồi tâm tình trong đêm khuya bên ngọn đèn dầu đã để lại cho nhà thơ những hình ảnh khắc sâu trong ký ức và cho cảm giác mình chia sẻ kiếp sống phiêu bồng của những người du thủ. Tác giả cũng đã nhắc đến một kỷ niệm tương tự trong một bài thơ khác:
Ai biết mình tóc trắng
Vì yêu ngọn nến tàn.
Rừng khuya bên bếp lạnh
Ngồi đợi gió sang canh.
(“Rừng khuya bên bếp lạnh”)
Sau khi hồi tưởng vài hình ảnh của quá khứ, nhà thơ chuyển dòng tư tưởng sang một hướng khác:
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Núi và biển biểu hiện cho thiên nhiên và tạo hoá, một thiên nhiên trường tồn qua năm tháng, không chịu ảnh hưởng của thời gian, không thể bị hủy diệt, không có gì biến mất, dù chỉ là một hạt muối trong lòng biển. Trước cái vô hạn của thiên nhiên là cái hữu hạn của con người:
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Người bị thời gian chi phối có cảm giác ngày vui qua mau, cùng với sự tiếp nối liên tục của các mùa. Xuân Diệu đã từng thở than: “Vừa nắng mai sao đã đến sương chiều?” Thi hào Victor Hugo của trào lưu lãng mạn Pháp thế kỷ 19 trong tập Lá mùa thu xuất bản tại Paris năm 1831 cũng đã so sánh tính trường tồn bất diệt của thiên nhiên trước cái cái mong manh của đời sống con người. Vạn vật luôn luôn tươi trẻ, mỗi năm lại hồi sinh trong một lễ hội tưng bừng, hoàn toàn thản nhiên, vô cảm trước kiếp người ngắn ngủi. Nhà thơ đã có những câu thấm thía như sau:
Một ngày tôi sẽ ra đi, giữa khung trời mở hội
Mà không có gì mất mát cho cõi đời rạng rỡ bao la! [1]
Nhưng đối với thiền sư, chắc chắn không có những tiếc nuối như vậy. “Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng?” chỉ là một câu hỏi cho người phàm tục. Đối với người tu hành, kéo dài kiếp sống chỉ là để trả cho xong nợ trần thế:
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Chỉ vì “tuổi đời chưa đủ” nên tác giả mới còn phải lưu lại trên trần gian, kéo dài một chuỗi ngày vô vị không có gì mà phải tiếc nuối. Các từ ngữ “gót mỏi” và “đi quanh” cho thấy nỗi chán chường của tác giả trước kiếp sống hiện tại.
Trở về với thực tại, nhà thơ đối mặt với tình trạng bị giam hãm của mình giữa bốn bức tường.
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn
Phải chăng đây cũng là một bước đi quanh quẩn trên con đường cát bụi của cõi trần gian? Rồi nhà thơ lại đưa trí tưởng tượng đến cảnh vật tự do thanh thản bên ngoài. Và biểu hiệu của tự do chính là con suối tung tăng giữa đá sỏi và cỏ cây, thảnh thơi chảy về sông và ra biển khơi. Trong một bài thơ khác của tập Giấc mơ Trường Sơn, tác giả cũng đã nhắc đến khoảng thời gian bị tù tội:
Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi nhắm mắt ta đi vào cõi mộng
Như sương mai như ánh chớp mây chiều
(“Tôi vẫn đợi”)
Lần này thì mộng mơ của tác giả không còn mơ hồ như sương mai như ánh chớp mây chiều, mà là hình ảnh rõ nét một con suối rộn rã băng ngàn tượng trưng cho ước vọng tự do.
Phần phân tích trên đây chỉ là quan điểm riêng của người viết. Có thể có những lối giải thích khác. Một bài thơ chỉ có giá trị để tồn tại với thời gian nếu nó chứa đựng những ý tưởng dồi dào, gây nên những cảm xúc mạnh mẽ cho người đọc, và cảm xúc có thể khác nhau tùy người đọc.
Nhà thơ có thể muốn bộc lộ một tâm trạng khó phát biểu thành lời, bộc lộ những tình cảm, những cảm xúc dồn dập, tế nhị, trong những câu thơ cô đọng, và chỉ muốn viết ra cho riêng mình, không cố gắng sắp đặt lời văn cho dễ hiểu. Kết quả chúng ta có thể thấy những câu thơ hết sức quyến rũ do nhạc tính của câu, do nhịp điệu và vần, do sự lựa chọn và kết hợp ngôn từ, từ đó tạo cho người đọc một cảm giác nhẹ nhàng, thích thú… Nhưng ý nghĩa của câu văn nhiều khi không rõ ràng, có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Và không thể nói là cách giải thích này đúng, hoặc cách nhìn kia sai.
Phạm Công Thiện khi bàn về thơ Tuệ Sỹ có nhận xét là: “Đọc thơ mà thấy rằng tác giả muốn nói rõ cái gì thì chẳng còn là thơ nữa.” [2] Trong những trường hợp này, khẳng định rằng: “Tác giả muốn nói…” là một điều hoài công. Mỗi người có thể cảm nhận bài thơ theo cách của mình, không nhất thiết phải tìm hiểu xem cách mình hiểu có hợp với những suy nghĩ của tác giả hay không.
Mặt khác, đứng trước một sáng tác với những ý tưởng dồi dào trình bày rất cô đọng theo ngôn ngữ thơ, người đọc thường thấy bỡ ngỡ và khó có thể tìm ra một đường lối tiếp cận để tìm thấy những nguồn cảm xúc mà tác phẩm có thể đem lại. Có lẽ vì vậy mà bài thơ “Không đề” hay “Khung trời cũ” của tác giả Tuệ Sỹ tuy được biết rất nhiều nhưng ít khi được bình giải. Nhiệm vụ của người bình giải là vạch ra một lối đi và trình bày những lý lẽ để thuyết phục người đọc khám phá tác phẩm theo lối mình. Cách nhìn đó có thể phù hợp với các ý tưởng của tác giả hay là không. Một khi một tác phẩm nghệ thuặt, một bức tranh hay một bài thơ, được trình bày trước công chúng, thì ý nghĩa có tác phẩm không còn thuộc về tác giả mà thuộc về người thưởng ngoạn.
Vĩnh Đào
[1] Je m’en irai bientôt, au milieu de la fête,Sans que rien manque au monde immense et radieux! Victor Hugo, Les Feuilles d’Automne (1831).
[2] “Nguyên Tánh – Phạm Công Thiện, Một Buổi Sáng Đọc Thơ Tuệ Sỹ” đăng lại trong Nguyên Siêu, Tuệ Sỹ Đạo Sư, Thơ và Phương Trời Mộng, tập 2 do Ban Tu Thư Phật Học Hải Đức Nha Trang in tại California, 2006. ↑