LOÀI HOA CÓ HÌNH DÁNG NGỌT NGÀO NHƯ QUE KEM

Hoa Tulip không những là một trong các loài hoa phổ biến nhất thế giới , nhờ những cánh hoa rực rỡ mà còn là biểu tượng của mùa xuân .

Chúng ta đã quá quen thuộc với các loại hoa Tulip xanh , đỏ , tím , vàng … Nên có thể ít biết đến loài hoa Tulip độc đáo với cánh hoa trắng xen giữa cánh hồng . Khiến chúng trông giống như những que kem ngon lành .

Hoa có hình nón nằm trong chiếc bát màu hồng . Tuyệt đẹp phải không các bạn .

Yến Anh –  PetroTimes




DUY TÂN vị vua yêu nước thương nòi

“Chiều chiều trước bến Vân Lâu,

Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm!

Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông!

Thuyền ai thấp thoáng bên sông,

Nghe câu mái đẩy, chạnh lòng nước non!”

Tác giả 5 câu hò trên là “Ưng Bình Thúc Giạ Thị”, tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Bình (1877-1961), là một Hoàng Thân nhà Nguyễn, cháu nội của Tuy Lý Vương, đang nhắc đến một giai thoại bi tráng của lịch sử dân tộc.

Năm 1916, Trần Cao Vân và Thái Phiên ngồi giả câu cá để bí mật gặp vua Duy Tân bàn việc khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Chẳng may việc bất thành, nhà vua bị quân Pháp bắt và đày đến đảo Réunion.

Vua Duy Tân là con thứ 8 vua Thành Thái, tên húy Vĩnh San lên ngôi năm mới 7 tuổi, sau khi Pháp truất phế vua cha là Thành Thái.

Có giai thoại rằng, mùa hè năm nào vua Duy Tân cũng ra nghỉ mát ở cửa Tùng, một cửa biển đẹp, yên tĩnh, có bãi tắm bằng phẳng, cát trắng và mịn. Một hôm, nhà vua từ bãi tắm lên, hai tay còn dính cát, một thị vệ liền bưng lại một thau nước ngọt mời vua rửa tay, vua vừa rửa vừa hỏi: “Tay bẩn lấy nước mà rửa, nước bẩn lấy chi mà rửa?”.

Thị vệ lúng túng không trả lời được. Nhà vua bèn trả lời cho người thị vệ: “Nước bẩn thì lấy máu mà rửa! Hiểu không?”.

Theo sử sách, ngày 6/5/1916, vua Duy Tân bị thực dân Pháp bắt tại một ngôi chùa cạnh núi Ngũ Phong, đem về giam ở đồn Mang Cá, rồi sau đó đày ra đảo Reunion (châu Phi) cùng với cua cha ThànhThái

Khi bị giam ở Mang Cá, dù rất muốn duy trì thú vui đọc sách, tập thể dục, đánh đàn và nghe hòa nhạc… như thời trong cung, vua Duy Tân vẫn quyết không hạ mình, đòi Pháp một sự chiếu cố nào. Đến ngày nhà vua sắp bị dẫn lên tàu để vào Nam, bắt đầu cuộc hành trình đi đày, một viên đại diện của Khâm sứ đến thăm và hỏi: “Nhà vua có một quỹ tiền riêng lưu trữ tại kho nội vụ. Ngài có cần lấy một ít để đi đường không?”.

Vua Duy Tân đáp: “Tiền đó để cấp cho ông vua cai trị nước Nam, chứ không phải là của tôi – một người tù. Hơn nữa, chính phủ bảo hộ không chu cấp nổi cho một người tù hay sao, mà còn phải lấy tiền mang theo. Tôi không cần có tiền riêng”.

Viên đại diện toà Khâm sứ thấy vua thèm đọc sách, bèn hỏi: “Ngài có một tủ sách quý giá đến mấy ngàn cuốn bằng Pháp văn. Ngài có muốn lấy một bộ nào đem theo đọc cho khuây khỏa không?”. Vua Duy Tân gật đầu nhận ngay và dặn thêm: “Sách tôi rất thích. Nhờ ông lấy giúp bộ Histoires de la Révolution Française (Lịch sử cách mạng Pháp) của Michelet, nhưng phải lấy cho trọn bộ.

Vị đại diện toà Khâm sứ nghe thế sợ quá, không dám về báo cáo lại với phía Pháp.

Ngày 26-12-1945 vua Duy Tân mất trong một tai nạn máy bay ở xứ Bangui thuộc châu Phi.

Đến năm 1987, hài cốt của nhà vua được đưa về Việt Nam, cải táng bên cạnh vua cha Thành Thái.

./.

(ThaiNC sưu tập, tóm lược, và đúc kết)




CÁC TÁC PHẨM GIÀNH GIẢI CUỘC THI NHIẾP ẢNH DƯỚI NƯỚC

Nguồn : An Ngọc – theo Daily Mail .

* Edwar Herreno là nhiếp ảnh gia giành giải chung cuộc với tác phẩm ” Giải tỏa hy vọng ” .

— Bức ảnh này chụp cá mập đầu búa , ở ngoài khơi quần đảo Galapagos .

* Nhiếp ảnh gia Yung Sea Wu giành giải nhất , hạng mục ” Hành vi sinh vật biển ” với tác phẩm ” Mola Mola ” .

— Chụp ngoài khơi đảo Lembongan – Indonesia .

— Bức ảnh cho thấy , Cá Thái Dương ở độ sâu 37m . Rất dễ bị nấm và ký sinh trùng trên da . Nên đôi khi có những con cá nhỏ trợ giúp nó làm sạch trên thân .

* Tác phẩm ” Sự tò mò ” của nhiếp ảnh gia Joanna Smart giải nhất hạng mục ” Nước lạnh ” .

— Bức ảnh con hải cẩu đang tò mò trước ống kính . Chụp ngoài khơi đảo Anaeapa – California – Mỹ .

* Ảnh đẹp huyền ảo về con cá đuối đang lướt nhẹ dưới thợ lặn ở Hawaii .

* Nhiếp ảnh gia Paul Cox đặt tên là ” Vòng tay mở rộng ” giải nhất hạng mục ” Góc rộng ” .

* Khi lặn ngoài khơi Baja- California Sur – Mexico . Jacopo Brunnetti đã chụp được con cá mập mako dài 3m , đang khoe hàm răng sắc nhọn .

— Bức ảnh giải nhất cho hạng mục ” Chân dung tiếp cận ).

* Yannick Bruynoghe chụp được bức ảnh hiếm có về mập voi , đang bơi gần đàn cá nhồng tại rạn san hô Tubbataha ở Philippines .

— Tác phẩm mang tên ” Chào mừng đến với Tubbataha ” , giải nhất cho hạng mục ” Góc rộng nhỏ gọn ” .

* Tanen Atilgen khi đang lặn ở Biển Đỏ ngoài khơi Ai Cập . Đã chụp được ” Chiếc xe máy nổi tiếng của ThisHegorm ” . Anh cho biết , ý tưởng chiếu sáng chiếc xe máy trong xác tàu đắm ThisHegorm không phải là mới . Nhưng thật ra tôi đã chụp nó từ năm 2013 .

— Giải nhất cho hạng mục ” Xác tàu đắm ” .

* Khi đang lặn ngoài khơi bờ biển Batangas ở Philippines . Lars Michaelis chụp được bức ảnh 2 con tôm xương đang đánh nhau .

— Anh đặt tên là ” Tiếng vang trong rừng ” giải nhất cho hạng mục ” Marco ” .

* Uwe Schmolke chụp được khi đang lặn ngoài khơi bờ biển Bali – Indonesia .

— Bức ảnh con sên biển được đặt tên ” Vẻ đẹp ” giải nhất hạng mục ” Compact macro ” .

* Tác phẩm giải nhất hạng mục ” Hành vi nhỏ gọn ” thuộc về nhiếp ảnh gia Stan Chen .

— Bức ảnh chụp 2 con cá rồng , khi lặn ngoài khơi đảo Lembeph – Indonesia .

* Eric Hou chụp được bức ảnh bắt mắt này ở ngoài khơi bờ biển Batangas – Philippines . Giải nhất hạng mục ” Nước đen ” .

— Tác phẩm có tên ” Đỏ ” .

* Bức ảnh táo bạo có tên ” Bong bóng ” . Hạng nhất cho hạng mục ” Nghệ thuật dưới nước ” .

— Nhiếp ảnh gia Rodger Klein cho biết : anh có được bức ảnh này , trong một buổi chụp thử nghiệm tại hồ bơi ở bãi biển Venice – California – Mỹ .




THÁNH ĐƯỜNG MADONNA DELLA CORONA Ở ITALY

THÁNH ĐƯỜNG MADONNA DELLA CORONA Ở ITALY

* Thánh đường Madonna Della Corona ở Italy nổi tiếng thế giới , là nhà thờ cheo leo trên vách núi . Tách biệt với khu dân cư . Kiến trúc độc đáo của nhà thờ được xây dựng từ thế kỷ 16 , kỳ vĩ và cổ kính .

* Nằm trên vách núi đá Beldo , cao 550m . Thánh đường Madonna Della Corona là điểm đến của nhiều du khách . Nguyên do bởi đây là nhà thờ cheo leo trên vách núi đá có kiến trúc đặc biệt .

* Do thánh đường Madonna Della Corona nằm tách biệt với khu dân cư . Nên ở đây vô cùng yên tĩnh , thanh bình và không khí trong lành .

* Năm 1899 , mặt tiền nhà thờ được trùng tu theo phong cách kiến trúc Gothic .

* Trong suốt nhiều thế kỷ , Thánh đường Madonna Della Corona là nơi sinh sống và tu hành của các tu sĩ .

* Để lên đến Thánh đường Madonna Della Corona . Du khách phải đi theo đường bộ với  1.540 bậc thang bằng đá .

* Trên đường lên Thánh đường du khách có thể chiêm ngưỡng 14 bức tượng đồng . Và du khách phải mất 2 tiếng đồng hồ để đi từ dưới lên Thánh Đường Madonna Della Corona .

Theo Internet




Thời Phong Kiến thịnh trị, có phải con quan thì được làm quan?

Thời Phong Kiến thịnh trị, có phải con quan thì được làm quan?

(Cao Văn Thức)

Helios Thư Quán

 ·

Từ xưa đến nay, người đời thường nói “con quan thì lại được làm quan”. Nhưng ở các thời kỳ chế độ phong kiến thịnh trị thì có phải hầu hết con quan thì đều được làm quan hay không? Và muốn làm quan thì phải có những tiêu chuẩn nào? Chúng ta có thể tìm hiểu điều đó ở một nhà nước phong kiến gần với hiện nay nhất là triều Nguyễn thế kỷ XIX.

Nhà Nguyễn buổi đầu, sau khi tiêu diệt vương triều Tây Sơn, thì sử dụng quan chức là những người đã có công lao phò tá chúa Nguyễn trong chiến tranh hoặc một số cựu thần nhà Lê nhằm mua chuộc giới sĩ phu Bắc Hà.

Nhưng sau khi đã củng cố chính quyền vững vàng, ổn định được trật tự xã hội, thì vua Gia Long (1802-1819) đã cho mở khoa thi nho học để kén chọn nhân sự cho bộ máy nhà nước. Thời Gia Long mở được 3 khoa thi, cách nhau 6 năm (1807, 1813, 1819) và chỉ là thi Hương ở cấp địa phương để chọn hương cống và sinh đồ chứ chưa tổ chức được thi Hội ở cấp trung ương để chọn tiến sĩ.

Thời Minh Mạng (1820 – 1840) cho quy định lại 3 năm thi một lần và bắt đầu từ năm 1822 tổ chức thi Hội ở kinh đô để chọn tiến sĩ. Năm 1828, nhà vua cho đổi cách gọi học vị ở cấp thi Hương: hương cống là cử nhân và sinh đồ là tú tài. Thi Hương có tất cả có 4 kỳ tức 4 đợt hoặc 4 vòng loại), người nào đỗ 3 kỳ là tú tài, đỗ 4 kỳ là cử nhân.

Ai đỗ cử nhân thì được quyền thi Hội. Thi Hội cũng có 4 kỳ như thi Hương nhưng mức độ khó hơn rất nhiều; ai đỗ cả 4 kỳ thì được vào thi Đình để sắp xếp thứ bậc tiến sĩ(1). Từ năm 1829, nhà vua cũng cho lấy thêm những người có điểm thi gần sát điểm chuẩn tiến sĩ đệ tam giáp, ghi tên ở bảng riêng gọi là Phó bảng(2).

Những người thi đỗ cử nhân, phó bảng, tiến sĩ đều được triều đình bổ nhiệm ra làm quan. Tú tài muốn ra làm quan thì phải ôn luyện chờ ba năm sau thi lại để giật cho được cái cử nhân, có người thi nhiều lần cũng chỉ đậu lại tú tài. Có thể nói từ năm 1807 trở đi, nhà Nguyễn bắt đầu dùng khoa cử để tuyển chọn quan chức. Từ đó về sau, hầu hết quan chức đều xuất thân khoa bảng. Quan chức ngày đó đều có trình độ học vấn thực sự vì các khoa thi Hương, Hội được tổ chức nghiêm túc, khắt khe và tỉ lệ thí sinh thi đỗ rất ít ỏi. Thi Hương hàng trăm thí sinh thì mới có một người đỗ cử nhân, thi Hội hàng chục cử nhân mới có một người đỗ tiến sĩ. Ngày đó muốn đỗ đạt để ra làm quan đòi hỏi phải là những người thông minh, học giỏi và bền chí, kiên trì học tập trong suốt nhiều năm trời.

Thời phong kiến, người đỗ đạt khoa bảng rất được tôn vinh. Triều đình tôn vinh các nhà khoa bảng vì mục đích thu hút những người ưu tú vào guồng máy nhà nước, để họ đem tài năng phục vụ cho chế độ phong kiến. Xã hội tôn vinh người đỗ đạt vì họ là những người học giỏi làm rạng danh cho quê hương, xóm làng, là những ông Nghè (tiến sĩ), ông Cống (cử nhân) có địa vị cao quý trong xã hội. Người đỗ đạt nhưng chưa ra làm quan cũng đã có vai vế trong địa phương, được làng, tổng nể trọng. Người ra làm quan thì càng được trọng vọng, có địa vị cao quý trong xã hội. Làm quan từ tri huyện trở lên thì được ở trong dinh thự khang trang, đi ra ngoài thì được cưỡi ngựa hoặc ngồi võng điều, che lọng ngà giá trị như ngày nay đi xe hơi loại đắt tiền, có lính tráng theo hầu hạ… Và quan chức ngày xưa thì rất sang trọng, lịch lãm. Sự sang trọng ấy không phải vì cái vỏ bề ngoài (áo quần, võng lọng, ngựa xe…) mà ở nền tảng văn hoá bên trong con người họ. Nền tảng văn hoá được đào luyện từ tấm bé trong các gia đình nho giáo. Nên cái sang trọng của họ toát lên từ văn hoá, chứ không phải là những vật chất trang trí diêm dúa, loè loẹt, khoe mẽ bề ngoài của những kẻ trọc phú học làm sang.

Ngày trước, con quan mà muốn làm quan thì phải chịu khó học hành nghiêm túc, thi cử đỗ đạt. Con quan mà thi không đỗ thì cũng chỉ suốt đời làm thường dân mà thôi. Đơn cử một trong rất nhiều trường hợp tiêu biểu thời bấy giờ là gia đình Hoàng giáp Phạm Văn Nghị ở làng Tam Đăng, tổng An Trung, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn Tam Quang, xã Yên Thắng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). Phạm Văn Nghị nổi tiếng học giỏi, thi đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) năm 1838, làm quan đến Đốc học(3) rồi cáo quan về mở trường dạy học; ông có 5 người con trai thì một người đỗ Phó bảng, ba người đỗ cử nhân đều ra làm quan, còn một người không đỗ đạt thì ở nhà làm dân thường.

Thời Nguyễn luật lệ thi cử rất nghiêm khắc nên dù cho cha ông có làm quan chức cao cấp vẫn không thể can thiệp vào chuyện thi cử của con cháu. Luật “hồi tỵ” của triều đình đã quy định rõ là quan chức nào có con em dự thi thì không được ở trong hội đồng chấm thi nơi đó.

Và ở chốn trường thi thì rất sòng phẳng, con em người dân lao động nghèo khó hay con cháu quan chức cao cấp giàu sang thì cũng bình đẳng như nhau. Bài thi của thí sinh được rọc phách và qua hai vòng chấm sơ khảo, phúc khảo, rồi chánh chủ khảo, phó chủ khảo xem lại lần cuối trước khi quyết định công bố danh sách trúng tuyển. Sau đó bài thi và danh sách trúng tuyển phải đệ về kinh đô cho bộ Lễ xét duyệt lại. Vì vậy, trong hội đồng thi từ người cao nhất là ông chánh chủ khảo (chủ tịch hội đồng) cho đến thấp nhất là các ông chấm sơ khảo (vòng 1), người nào cũng phải làm việc nghiêm túc, cẩn thận và không dám “chấm mút” gì cả, vì sơ sẩy một chút là có thể bị tội: nhẹ thì bị giáng chức, cách chức, nặng có thể tù mọt gông hoặc tử hình. Đơn cử trường hợp chấm thi của nhà thơ Cao Bá Quát năm 1841 để thấy kỷ luật thi cử thời nhà Nguyễn khắc khe như thế nào. Năm đó Cao Bá Quát đang làm một chức quan nhỏ (Hành tẩu) ở bộ Lễ, được sung vào hội đồng giám khảo trường thi Hương Thừa Thiên. Trong khi chấm bài ở vòng 1, ông thấy có một số bài thi rất hay nhưng lại mắc đôi chút sai sót nhỏ phải bị đánh hỏng thật đáng tiếc; vì lòng liên tài nên ông đã bàn bạc với một vị sơ khảo khác là Phan Nhạ (bạn đỗ cử nhân đồng khoa với ông trước kia), dùng muội đèn chữa lại sai sót cho các quyển thi này. Nhưng rồi vụ việc phát giác, Cao Bá Quát bị bắt giam trong nhà ngục hơn một năm trời; ông bị thẩm vấn và tra tấn đòn roi rất tàn nhẫn. Cuối cùng ông cũng được tha vì dù vi phạm luật lệ nhưng là do tấm lòng quý trọng nhân tài chứ không có điều gì khuất tất, mờ ám trong việc chấm thi. Các quan khác trong hội đồng chấm thi ở trường Thừa Thiên năm đó cũng bị liên đới, nhiều người bị cách chức, giáng chức, đòn roi…

Con quan chức hay con dân thường mà đỗ đạt (cử nhân, phó bảng, tiến sĩ) thì đều được triều đình bổ dụng làm quan. Thăng tiến trên bước đường hoạn lộ chủ yếu là do tài năng của người đó, chứ không có chuyện cha ông quyền cao chức trọng “lót đường” cho con cháu ngồi vào những chức vụ béo bở như ở một số giai đoạn suy vi trong lịch sử.

Nhưng trong việc sử dụng nhân lực, nhà Nguyễn cũng có đôi chút “ưu ái” – được quy định rõ ràng bằng luật lệ – cho con cái các quan chức cao cấp, có công lao với triều đình. Quan chức cao cấp hàm nhất, nhị phẩm (Tổng đốc, Thượng thư…) thì con cái dù không đỗ đạt hoặc chỉ đỗ tú tài cũng được “tập ấm”(4) và ra làm quan. Tất nhiên là những người được “tập ấm” phải có học vấn, chữ nghĩa chứ loại dốt nát “đặc cán mai” thì không được chọn. Đơn cử một trong nhiều trường hợp tiểu biểu là quan Thượng thư (Bộ trưởng) bộ Công(5) là Đào Tấn, quê ở thôn Vinh Thạnh, tổng Thời Tú, huyện Tuy Phước, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định (nay thuộc thôn Vinh Thạnh, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định); ông có nhiều con trai, trong đó có 3 người đỗ cử nhân và một người đỗ tú tài. Ngoài 3 người đỗ cử nhân được bổ làm quan, thì người đỗ tú tài cũng được “tập ấm” làm quan; mấy người con trai còn lại thì sức học yếu kém nên chỉ ở nhà làm thường dân mà thôi.

Tuy vậy, nhìn chung đa số những người được “tập ấm” mà ra làm quan thì đều lẹt đẹt ở chức vụ cấp thấp (phủ, huyện) rồi về hưu. Mà cũng phải thôi, triều đình cần những người thông minh, tài giỏi để cáng đáng việc nước, giữ những trọng trách của quốc gia, mà những người làm quan bằng con đường “tập ấm” chắc chắn là khả năng tầm thường vì sinh trưởng trong gia đình quan chức cao cấp, điều kiện học tập thuận lợi, thế mà họ không đỗ đạt hoặc chỉ đỗ làng nhàng (sinh đồ, tú tài) mà thôi.

Trong lịch sử, nhìn chung tỉ lệ con cháu quan chức đỗ đạt làm quan nhiều hơn con em người dân lao động. Như trên đã nói, thi cử thời Nguyễn rất sòng phẳng và công bằng nên không có chuyện “con ông cháu cha” tiêu cực như những thời loạn về sau. Cho nên con quan làm quan nhiều hơn con dân là điều hợp lý, vì xét ra con quan được cộng hưởng nhiều yếu tố thuận lợi hơn con em người dân lao động nghèo:

Thứ nhất, là “gien” thông minh di truyền của cha ông, dòng họ. Thời đó, muốn đỗ đạt làm quan thì phải thông minh, học giỏi.

Ngày trước, các cụ rất ý thức vấn đề “gien”di truyền, vì vậy trong chuyện hôn nhân con cái có quan niệm là phải “lấy vợ chọn tông, lấy chồng chọn giống”.

Những gia đình đỗ đạt khoa bảng thường thông gia với những gia đình tương đương như vậy. Đơn cử một trong rất nhiều trường hợp phổ biến thời bấy giờ: Gia đình Phó bảng Nghiêm Châu Tuệ ở tỉnh Hà Đông trước đây (nay thuộc Hà Nội) thông gia với hầu khắp các gia đình khoa bảng danh giá xứ Bắc Kỳ thời bấy giờ như Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền (Ứng Hoà, Hà Đông), Đình nguyên Tiến sĩ Nguyễn Đình Tuân (Hiệp Hoà, Bắc Giang), Phó bảng Nguyễn Tái Tích (Bất Bạt, Sơn Tây)… Con cháu sinh ra sẽ ảnh hưởng tư chất thông minh của cha ông hai bên nội, ngoại, cộng với những yếu tố khác sẽ học giỏi, đỗ đạt và nối được nghiệp nhà (làm quan), đem lại danh giá cho gia đình, dòng họ…

Ngày đó, những gia đình có truyền thống đỗ đạt khoa bảng được gọi là một cách tôn kính là đại gia, tức gia đình lớn theo nghĩa chữ Hán, chứ không phải chỉ những người giàu có như hiện nay. Ngày đó, những người giàu có mà không có học vấn, ít chữ nghĩa  thì người ta thường gọi là phú hào, hoặc xem nhẹ hơn là trọc phú. Gia đình khoa bảng thì không đời nào họ làm thông gia với gia đình trọc phú vì họ cho đó là hạng người thiếu văn hoá, xảo trá, tâm thuật không tốt. Ngược lại, gia đình khoa bảng, quan chức nhiều đời giàu sang vinh hiển nhưng sẵn sàng thông gia với một gia đình lao động nghèo nếu nhận thấy gia đình ấy nề nếp, đạo đức và có con trai học giỏi. Ví dụ Thượng thư bộ Học(6) là Cao Xuân Dục (quê ở Thịnh Mỹ, Diễn Châu, Nghệ An) đã gả con gái cho một anh học trò nhà rất nghèo nhưng học giỏi là Đặng Văn Thuỵ. Về sau nhờ sự hỗ trợ cả vật chất và tinh thần của gia đình vợ, Đặng Văn Thuỵ đã thi đậu Hoàng giáp Đình nguyên khoa thi Hội năm Giáp Thìn (1904) và làm quan đến Tế Tửu trường Quốc Tử Giám (tương đương Giám đốc Đại học quốc gia ngày nay).

Thứ hai, nhà quan thì đầy đủ sách vở tích luỹ từ nhiều thế hệ trước. Ngày xưa, điều kiện in ấn rất hạn chế nên sách vở in ra ít và khó mua. Vì vậy những nhà nho thường có ý thức sưu tầm và tích luỹ sách vở làm tài liệu học tập cho con cháu. Khoảng ba, bốn đời tích luỹ thì từ tủ sách nhỏ đã trở thành một thư viện gia đình với hàng nghìn cuốn sách. Ngày đó, hầu hết các gia đình khoa bảng đều có một thư viện riêng của gia đình. Ví dụ như quan Thượng thư bộ Học Cao Xuân Dục có 8 người con trai nên mỗi khi mua hoặc mượn được một cuốn sách có giá trị, cụ cho sao chép lại thành 8 bản để phát cho mỗi người con học tập. Thư viện Long Cương của gia đình cụ Thượng Cao thuộc loại lớn nhất xứ Nghệ, hoặc thư viện Hy Long của quan Tuần phủ hưu trí là Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng ở làng Hành Thiện, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định cũng là một thư viện tư nhân tầm cỡ bậc nhất xứ Bắc Kỳ thời bấy giờ với số lượng sách hàng vạn quyển “chứa đầy sáu gian nhà ngói”….

Ngoài việc sách vở đầy đủ thì các gia đình khoa bảng ngày trước đều có truyền thống học tập. Ông dạy cháu, cha dạy con, anh dạy em…và trẻ em được học tập từ rất sớm, khoảng 6, 7 tuổi đã bắt đầu học vỡ lòng. Nhiều nhà khoa bảng giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước, nhưng vẫn tranh thủ thời gian rảnh rỗi để rèn cặp con cháu; nếu quá bận việc quan thì họ mướn thầy đồ về nuôi trong nhà để dạy trẻ em học. Lớn lên đến tuổi thanh thiếu niên thì học trò con nhà quan có thể học tại nhà với cha ông hoặc được gửi đến học ở trường của các bậc đại khoa trong vùng hoặc địa phương khác, dùi mài kinh sử cho đến khi đỗ đạt.

Thứ ba, nhà quan có điều kiện kinh tế đầy đủ hơn nhà dân lao động nghèo. Những nhà khoa bảng làm quan chức vụ càng to thì lương bổng triều đình chu cấp càng khá, nếu vì những lý do khác nhau họ từ quan sớm về mở trường dạy học thì với uy tín và danh vọng, trường của các vị cũng thu hút được môn sinh theo học rất đông; vì vậy nhà quan có điều kiện kinh tế nuôi con ăn học thuận lợi hơn người dân lao động nghèo quanh năm đầu tắt mặt tối, cày thuê cuốc mướn vẫn không đủ ăn.

Thứ tư, đa số quan chức đều ý thức để Đức cho con cháu. Ngày ấy các nhà khoa bảng đại đa số khi ra làm quan đều thanh liêm, vì họ được rèn luyện đạo đức từ chốn “cửa Khổng, sân Trình” và do được giáo dục nền tảng như vậy nên họ rất sợ luật nhân quả, vì vậy họ không nhũng lạm hoặc làm những việc thất đức để di hại cho con cháu. Họ thường làm những việc tốt để đức về sau cho con cháu phát triển bền vững. Ví dụ một số trong hàng trăm trường hợp quan chức thanh liêm thời bấy giờ, ví dụ như Nguyễn Công Trứ làm quan đến Tổng đốc Hải An nhưng khi về hưu vẫn sống thanh bạch với một ít tiền hưu trí và dăm sào đất ruộng do triều đình ban cấp; Nguyễn Khuyến khi về nghỉ hưu mà gia sản vẫn chỉ là “ba gian nhà cỏ thấp le te”(7);

Hoàng Diệu làm quan đến Tổng đốc Hà Nội nhưng tiền lương dành dụm mãi cả hàng năm trời vẫn chưa đủ để lợp lại mái ngói ngôi nhà ở quê đã dột nát…

Hầu hết các gia đình quan chức này đều phúc bền, con cháu đều thành đạt ở những mức độ khác nhau và duy trì được sự phát triển bền vững về sau. Đơn cử hai trường hợp tiêu biểu nhất  trong hàng trăm trường hợp tiêu biểu của sự phát triển bền vững ở các nho gia đạo đức là gia đình Tổng đốc Hoàng Diệu ở làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam và Thượng thư Cao Xuân Dục ở làng Thịnh Mỹ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Gia đình cụ Hoàng Diệu gồm 7 anh em thì có 6 người đỗ đạt (1 Phó bảng, 3 cử nhân và 2 tú tài). Anh em cụ đều làm quan thanh liêm, con cháu về sau cũng thành đạt; trong đó người em trai của cụ Hoàng Diệu là cử nhân Hoàng Văn Bảng có những người cháu nội sau này là những nhà khoa học nổi tiếng như Hoàng Phê (ngôn ngữ học), Hoàng Quý (vật lý), Hoàng Kiệt (mỹ thuật), Hoàng Tụy và Hoàng Chúng (toán học)…trong đó Hoàng Tuỵ là nhà toán học đẳng cấp quốc tế.

Cụ Cao Xuân Dục làm quan đến Thượng thư, rất nhân hậu, giúp đỡ nhiều người khó khăn; cụ có 8 người con thì người con trưởng đỗ Phó bảng, một số người con thứ đỗ cử nhân, tú tài và ra làm quan. Người con trưởng là Cao Xuân Tiếu làm quan đến Thượng thư bộ Lễ(8), hàm nhất phẩm như cha. Khi cụ Cao Xuân Dục qua đời, người con gái là nữ sĩ Cao Ngọc Anh viết bài văn tế về người cha mình, có câu:

“Này ninh, này phú, này quý, này khang

Sống có hậu trời cho đủ phúc”…

Trong hàng cháu của cụ Thượng Cao nổi tiếng nhất là Giáo sư Cao Xuân Huy, nhà Đông phương học và trong hàng chắt nổi tiếng nhất là Giáo sư Cao Xuân Hạo, nhà ngôn ngữ học; ngoài ra còn hàng mấy chục cháu, chắt, chít đỗ kỹ sư, bác sĩ, tiến sĩ… trong và ngoài nước.

Thời kỳ chế độ phong kiến thịnh trị, giáo dục thi cử nghiêm minh, đào tạo ra được những quan chức có tài năng và nhân cách, đóng góp nhiều công lao cho đất nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá…mà tên tuổi còn lưu danh cho đến ngày nay. Con quan mà muốn làm quan, giữ những trọng trách của đất nước thì phải thông minh, học giỏi, thi cử đỗ đạt và yếu tố quan trọng nhất là phải có tài năng thực sự. Con cháu nhà quan ngày đó đi lên bằng đôi chân thật sự của mình chứ hoàn toàn không có sự “lót đường”, nâng đỡ tiêu cực từ thế lực cha ông. Mà có muốn nâng đỡ cũng không được vì cơ chế kiểm soát rất ngặt nghèo: luật pháp nghiêm khắc, cơ quan giám sát như Ngự sử đài thẳng thừng đàn hặc tội lỗi các quan từ trung ương đến địa phương, các quan chức đối trọng nhau trong triều sẵn sàng tố cáo đối thủ, và trên hết là nhà vua cần người tài giỏi để giúp vua trị nước nên trừng trị rất nặng những vụ việc bổ nhiệm bất chính…Vì vậy, nhà quan chỉ có cách duy nhất nâng đỡ con cháu thành đạt là cố gắng lo đầy đủ cơm áo, sách vở, thầy giáo…để đám trẻ có điều kiện học hành đến nơi đến chốn.

Ở những giai đoạn suy vi trong lịch sử, con cháu quan chức thăng tiến bằng sự “lót đường”, dựa dẫm vào thế lực cha ông thì chỉ là những bọn quan lại dốt nát, ăn tàn phá hại đất nước mà thôi.

——-

Chú thích:

1.    Học vị tiến sĩ triều Nguyễn cũng tương tự triều Lê ở thế kỷ XV-XVIII:

·       – 1. Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ (tiến sĩ hạng nhất) gồm: Đệ nhất danh (Trạng nguyên), Đệ nhị danh (Bảng nhãn), Đệ tam danh (Thám hoa). Thực tế triều đình không lấy đỗ tới Trạng nguyên, chỉ từ Bảng nhãn trở xuống. Thời Nguyễn chỉ có 2 người đỗ Bảng nhãn và 9 người đỗ Thám hoa.

·       – 2. Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (tiến sĩ hạng hai) còn gọi là Hoàng giáp: số lượng đỗ không hạn chế, khoa đỗ cao nhất là 4 người, khoa thấp nhất là 1 người; có khoa thi triều đình không lấy đỗ đến Hoàng giáp.

·       – 3. Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (tiến sĩ hạng ba) thường gọi tắt là tiến sĩ: số lượng đỗ không hạn chế, khoa đỗ cao nhất là 10 người, khoa thấp nhất là 2 người; khoa thi nào cũng có người đỗ ở bậc này.

Tất cả tiến sĩ 3 hạng trên đều được yết tên trên bảng chính (Giáp bảng) màu vàng, có vẽ hình rồng nên thường gọi là long bảng (bảng rồng) hoặc hoàng bảng (bảng vàng).

2.    Tiến sĩ lấy thêm, tên yết riêng ở bảng phụ (Phó bảng) màu đỏ.

3.    Đốc học là chức quan phụ trách giáo dục của một tỉnh, tương tự giám đốc Sở GD-ĐT hiện nay.

4.    Triều Nguyễn có lệ tập ấm: con quan hàm chánh nhất, nhị phẩm thì được phong phẩm hàm ở bậc tòng lục phẩm gọi là ấm thọ và được bổ nhiệm làm quan; còn các quan phẩm hàm ở bậc thấp hơn thì còn cái chỉ được tập ấm gọi là ấm sinh. Ấm sinh muốn làm quan thì

phải thi đỗ cử nhân trở lên.

5.    Bộ Công: phụ trách về xây dựng, giao thông; tương tự Bộ Xây Dựng và Bộ Giao thông vận tải hiện nay.

6.    Bộ Học: phụ trách về giáo dục; tương tự Bộ GD-ĐT hiện nay. Thời trước ngành giáo dục do bộ Lễ kiêm nhiệm, đến năm 1906, tách riêng giáo dục ra thành Bộ Học.

7.    Trích trong bài “Thu ẩm” của Nguyễn Khuyến (Nguyễn Văn Huyền chủ biên, Nguyễn Khuyến – Tác phẩm, NXB KHXH, 1984).

8.    Thời phong kiến độc lập, bộ Lễ phụ trách 3 khối: ngoại giao, văn hoá, giáo dục. Thời thuộc Pháp, bộ Lễ chỉ còn phụ trách về văn hoá; tương tự Bộ Văn hoá-Thể thao-Du lịch hiện nay.

Tài liệu tham khảo:

1.    Nguyễn Ngọc Quỳnh, Hệ thống giáo dục và khoa cử Nho giáo triều Nguyễn, NXB Chính trị Quốc gia, 2011.

2.    Nguyễn Thế Anh, Theo dòng lịch sử, NXB Tổng hợp TP.HCM, 2017.

3.    Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, NXB Văn Học, 1995.

4.    Nguyễn Q. Thắng, Khoa cử và giáo dục Việt Nam, NXB Tổng hợp TP.HCM, 2005.

5.    Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, NXB KHXH, 2016.

6.    Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Văn Học, 2015.

7.    Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục, NXB Lao Động, 2011.

8.    Cao Xuân Dục, Quốc triều khoa bảng lục, NXB Văn Học, 2011.

9.    Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, NXB Hồng Đức, 2012.

10. Lê Văn Giang, Lịch sử giản lược – Hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, 2003.

11. Trần Thanh Tâm, Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn, NXB, Thuận Hóa, 1996.

12. Phạm Hồng Thái, “Tuyển dụng, sử dụng quan lại thời phong kiến Việt Nam và một số gợi mở”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, 04-01-2018.




BÔNG HỒNG MÙA XUÂN

BÔNG HỒNG MÙA XUÂN

Đây là bài thơ của tác giả Lý Thụy Ý, đăng trong Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong Sài Gòn vào năm 1968.


… Lúc đó chiến tranh Miền Nam Việt Nam đang hồi khốc liệt. Bài thơ viết về chuyện tình của một người lính thời chiến và cô gái bán bông hồng ở hậu cứ …

Bài thơ thể hiện tình cảm lãng mạn đầy tính nhân văn đằm thắm thật đáng yêu trong tình yêu trai gái, tình đồng đội và sự nhớ ơn những người lính đã nằm xuống để bảo vệ Miền Nam Việt Nam thân yêu trước năm 1975.

BÔNG HỒNG MÙA XUÂN
“Bán cho tôi một bông hồng đi, cô bé!
Đóa nào tươi còn búp nụ mịn màng.”
Tôi ngước lên: “Xin ông chờ tôi lựa.
Một bông hồng vừa ý nghĩa, vừa sang!”

Khách mỉm cười: “Cô thật tài quảng cáo!
Thế… hoa hồng mang ý nghĩa sao, cô?”
Tôi bối rối: “Hình như người ta bảo
Nó tượng trưng tình nồng thắm vô bờ.”

“Cám ơn cô! Giá bao nhiêu đấy nhỉ?”
Tôi lắc đầu: “Thôi, xin biếu không ông
Một đóa hoa không đáng bao nhiêu cả
Rất mong ông làm người đẹp vừa lòng.”

Khách bỗng nhìn tôi, mắt như xoáy lốc
“Cô bé lầm! Tôi không tặng người yêu
Thằng bạn thân chiều qua vào nghĩa địa
Một bông hồng cho nó bớt quạnh hiu.

“Nhưng cô bé phải nhận tiền tôi chứ!
Hoa cho không, rồi mẹ mắng làm sao?”
Tôi cúi mặt: “Xin gửi người xấu số
Chuyện của ông làm tôi bỗng nghẹn ngào!”

Khách quay đi, áo hoa rừng đã bạc
Dáng cao gầy khuất hẳn bóng chiều nghiêng
Tôi bất chợt đưa tay làm dấu thánh
Mẹ giữ gìn cho Người ấy bình yên!

Trời đầu xuân còn vương vương sắc lạnh
Nắng vàng mơ, má con gái thêm hồng
Tôi bâng khuâng nhớ đến người khách lạ
Mình nhớ Người, Người có nhớ mình không?

Chiều hai chín phố phường sao tấp nập
Người ta vui từng cặp đẹp bên nhau
Mắt tôi lạc… rồi bỗng dưng bừng sáng
“Phải anh không? Người khách của hôm nào?”

Tim đập mạnh sau áo hàng lụa mỏng
Anh đến gần, lời nói cũng reo vui:
“… Sao cô bé… hàng hôm nay đắt chứ?
Còn nhớ tôi… hay cô đã quên rồi!

Hành quân xong, tôi vừa về hậu cứ
Ghé ngang đây xin cô một bông hồng
Và mong cô cho tôi xin lời chúc:
“Rất mong ông làm người đẹp vừa lòng.”

Tôi bỗng nghe như tim mình thắt lại
Gượng tìm hoa, rồi trao tặng tay Người
Khách nhìn tôi, mắt bỗng dưng dịu xuống
Đầy đăm chiêu và nghiêm lại nụ cười:

“Xin lỗi cô, nếu lời tôi đường đột
Nhưng thật tình tôi không thể nào quên
Người con gái trong một lần gặp gỡ
Nhớ thật nhiều… dù chưa được biết tên.

Một bông hồng – như hôm nào cô nói:
“Là tượng trưng tình nồng thắm vô bờ.”
Tôi run tay, nhận hoa hồng Người tặng
Sự thật rồi… mà cứ ngỡ đang mơ.

(Thơ: Lý Thụy Ý)




CHỊ NGUYỆT CỦA ANH

“CHỊ NGUYỆT CỦA ANH”

Chị tên Nguyệt, lúc đó chị khoảng 13 tuổi, còn tôi khoảng 11. Theo lời người ta kể thì chị mồ côi cha mẹ được vợ chồng người hàng xóm đem về nuôi. Ông Bà Chín không có con nên họ xem chị như con cái trong nhà, cho chị đi học. Đổi lại, chị phải dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc Ông Bà Chín. Chị học trên tôi hai lớp, tôi đệ thất, còn chị lớp đệ ngũ. Theo như chị kể lại, quê chị ở Tân Thành bị Việt Cộng về chiếm làng, ba má chị mất tích chỉ hai ngày sau đó. Người cậu của chị phải dẫn cả gia đình chạy di tản ra quận lỵ nơi tôi ở. Họ dẫn chị theo nhưng không đủ điều kiện nuôi cả gia đình gần 10 người nên cho Ông Bà Chín làm con nuôi.

Nhà chị đối diện nhà tôi trên đường dẫn ra bờ sông Tiền Giang. Buổi sáng đầu tiên tôi gặp chị trong bộ bà ba đen cũ đã ngả màu phèn vàng úa và đôi dép đứt quai phải nối lại bằng giây kẽm. Chị đang quét nhà, từ trong ra ngoài thì bị bà Chín rầy, bảo phải quét từ ngoài vào trong. Bà giải thích quét ra là đẩy hết cái phước ra ngoài, phải quét vô để nhận được phước. Tôi thấy hai mắt chị long lanh nước mắt như muốn khóc nên vội chạy tới hỏi:

-Bộ mầy mới tới đây làm cho bà Chín hả?

Chị trả lời:

-Hông phải, tao là con nuôi của ba má Chín.

Tôi nói với chị:

-Tui tên Bình, nhà tui bên đó.

-Tao tên Nguyệt, mầy mấy tuổi?

-11

-Tao 13, mầy phải gọi tao bằng chị.

-Ừ, chị Nguyệt hé.

Vậy là tôi làm quen được với chị từ đó. Năm chị học hết đệ tứ thì phải thôi học do Ông Chín bịnh nặng rồi qua đời, Bà Chín một mình không đủ điều kiện cho chị tiếp tục đi học. Mỗi ngày chị ra sạp vải ngoài chợ tiếp Bà Chín buôn bán. Năm tôi 15 tuổi phải xa nhà lên tỉnh tiếp tục học thi tú tài một, rồi tú tài hai nên ít khi được gặp lại chị. Sau khi đậu tú tài hai chuẩn bị vào đại học thì nghe tin Bà Chín cũng vừa qua đời, bỏ lại ngôi nhà cũ nát vì không có người đàn ông chăm sóc. Lúc này tôi đang rảnh rang nên tình nguyện giúp chị sửa sang lại căn nhà của chị được thừa hưởng. Mỗi ngày trước khi chị ra sạp vải, chị hay hỏi tôi cần mua vật dụng gì để chị gọi người đem tới, tôi khỏi phải mua. Sau ba tháng hè, tôi cũng tạm sửa lại căn nhà của chị, tuy không khéo nhưng cũng không dột trước hổng sau.

Khi cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt, tôi bị động viên, vào trường Bộ Binh Thủ Đức. Ngày ra trường về thăm ba má thì gặp lại chị Nguyệt. Lúc nầy chị đã là gái đôi mươi, có rất nhiều chàng trai đang theo đuổi nhưng chị vẫn phòng không gối chiếc. Nhiều lần chị tâm sự với má tôi:

-Con trai cái quận nầy sao mà như công tử bột, tối ngày chỉ biết lo tán gái, nhậu nhẹt, nhìn như cọng bún thiu, cô nào vô phước mới rước họ về làm chồng.

Hai tuần phép qua rất nhanh. Ngày tôi chuẩn bị trình diện sư đoàn, chị đem tượng Phật nhỏ qua đưa cho tôi, bảo giữ trong người làm vật hộ thân. Hai mắt chị long lanh nước mắt như muốn khóc. Tôi vội nói:

-Vài bữa có phép thường niên tôi về thăm chị. Chị ráng giữ gìn sức khỏe.

Bình đi mạnh giỏi, Nguyệt mỗi đêm sẽ đọc kinh cầu xin Trời Phật che chở cho Bình.

Tôi hơi giật mình khi chị xưng Nguyệt chứ không còn mầy tao như ngày xưa. Thật sự mà nói, lúc nào tôi vẫn xem chị như người thân trong gia đình, không có một chút tình cảm trai gái giữa tôi và chị.

-Cảm ơn chị lo lắng cho tôi.

Tôi ra đi biền biệt. Hơn mười tháng sau tôi trở về thăm nhà sau khi xuất viện do bị thương chân phải. Đêm đầu tiên vừa về tới nhà là chị qua thăm, hỏi như muốn khóc:

-Sao Bình bị thương mà không cho Nguyệt hay để đi thăm?

-Vết thương không có gì trầm trọng lắm đâu chị, vả lại tôi không muốn chị lo lắng, lặn lội đường xá xa xôi nguy hiểm cho chị.

-Bình nói vậy coi Nguyệt như người dưng sao?

-Đâu phải vậy chị, tôi thương chị như người thân trong nhà mà.

-Ừ nhớ đó nhe, thương như người thân trong nhà.

Trong những ngày phép dưỡng thương đó nhiều khi chị làm bộ gọi tôi qua sửa dùm cây đèn dầu hay đóng lại chân bàn bị lung lay. Chị nấu đủ món cho tôi ăn, bảo là tẩm bổ để khi trở lại đon vị có đủ sức đi hành quân. Có ngày chị đóng cửa sạp vài, lấy cớ mệt về nhà nghỉ. Chị bảo muốn về để gần gũi, tâm sự với tôi trước khi về đơn vị. Không biết ba má tôi nghĩ gì mà cứ thỉnh thoảng hỏi khi nào tôi lập gia đình. Tôi viện cớ đang thời chiến tranh chưa muốn lập gia đình.

Lần lượt hai đứa em gái tôi lấy chồng phương xa, bỏ lại ba má tôi già yếu. Thằng em trai còn đi học viện đại học Cần Thơ, được miễn dịch phải bỏ học về nuôi ba má. Tôi thì ra đi biền biệt, cả năm mới về thăm nhà. Mỗi lần về chỉ năm ba hôm rồi lại ra đi. Chị thì vẫn phòng không đơn chiếc. Có lần tôi hỏi:

-Sao chị chưa chịu lấy chồng để có người lo lắng trước sau cho chị?

-Bình nhìn chung quanh đây xem ai là người xứng đáng cho Nguyệt nâng khăn sửa túi? Nguyệt thà ở giá suốt đời chứ không muốn chung chăn với những người hèn nhát, chạy chọt giấy tờ trốn quân dịch.

-Vậy có người đàn ông như thế nào chị mới chịu?

-Người ấy phải giống như Bình, sống đời trai hiên giang lo giúp nước, diệt giặc, bảo vệ quê hương.

-Vậy để tôi tìm ông nào trong đơn vị giới thiệu cho chị nhe.

-Đồ quỉ, đừng có chọc Nguyệt như vậy nữa, Nguyệt nói thiệt mà.

Cuộc đời cứ thế trôi đi. Ngày 30 tháng 4 1975. Tôi bị bắt rồi đi tù trại “cải tạo” Vườn Đào. Năm sau chị đến thăm tôi. Chị cho hay thằng em tôi bị bọn công an phường bắt tội phản động. Nó rải truyền đơn bị bắt. Họ đánh nó chết trong tù. Hai đứa em gái theo chồng vượt biên ngày đất nước rơi vào tay cộng sản, không biết tin tức gì cho đến nay. Ba má tôi quá đau buồn bịnh nặng không đi thăm tôi được nên nhờ chị đi dùm. Chị còn kể là sạp vải của chị đã bị xung vào hợp tác xã. Bây giờ chỉ sống nhờ chăm sóc khu vườn nhỏ của ba má tôi kiếm huê lợi nuôi sống ba má tôi và chị. Nhìn chị già đi rất nhiều so với ngày xưa. Mắt chị hoằn đen, hốc hác, tiều tụy đi. Tôi cũng không hơn gì chị sau một năm tù đày, lao động, thiếu ăn.

Ba má tôi lần lượt qua đời không có một đứa con về để tang. Chị phải bán ngôi nhà của chị để có tiền chôn cất ba má tôi. Đều dặn mỗi ba tháng là chị đến thăm một lần tiếp tế cho tôi thêm chút thức ăn phụ vào phần ăn ít ỏi của người lính tù thất trận. Bốn năm sau thì họ thả tôi. Ngày ra trại với vài chục đồng chi phí xe cộ và mảnh giấy ra trại. Tôi với năm người bạn tù đi bộ ra đến chợ Mỹ Phước Tây đón xe ra Cai Lậy. Mấy bà bán hàng trong chợ nhìn chúng tôi trong bộ quần áo rách bươm liền gọi:

-Mấy cậu vô đây ăn sáng rổi hãy đi, 2 tiếng nữa xe mới chạy.

Họ đem cho chúng tôi 6 dĩa cơm sườn bì và sáu ly cà phê đen. Đó là bữa cơm ngon nhất trong bốn năm đời tù “cải tạo” của tôi. Mọi người chung quanh bu nhau kẻ cho trái bắp, người cho gói xôi bảo là để dành đi đường ăn đỡ đói. Chúng tôi nhìn họ mà nước mắt cứ tuôn tràn không nói nên lời, dù chỉ một tiếng cám ơn. Khi đến giờ xe chạy, người tài xế xe nhất định không lấy tiền cho dù chúng tôi cố dúi tiền vào tay anh. Tôi nhớ lại tên quản giáo Ba Phần lên lớp chúng tôi:

-Các anh có tội rất lớn với nhân dân. Chúng tôi giữ các anh trong vòng rào kẽm gai là để bảo vệ các anh vì nhân dân sẽ trả thù cho những tội ác các anh đã gây ra.

Nhân dân chợ Mỹ Phước Tây đã trả thù chúng tôi với những dĩa cơm sườn, những gói xôi, những trái bắp mà họ có thể để dành cho người thân của họ trong lúc cả nước phải thắt lưng buộc bụng trong thời kỳ bao cấp, củi quế gạo châu này.

Khi xe đến Cai Lậy thì khoảng 2 giờ chiều . Năm người bạn tù chờ xe về Sài Gòn, còn tôi về miền Tây. Anh lơ xe chạy ra ngã ba Cai Lậy ngoắc xe lại gởi tôi lên chuyến xe cuối cùng. Trước khi lên xe, anh đưa cho tôi một ổ bánh mì thịt rồi chào tay kiểu quân đội. Như cái máy, tôi chào lại vì theo phản ứng tự nhiên của một người lính VNCH dù đã thất trận. Anh nói vội rồi chạy vào trong chợ Cai Lậy.

-Ông thầy đi đường bình an.

Tôi nhìn theo anh lơ xe, cố nhớ gương mặt anh để khi nào có dịp tôi sẽ trả lại ơn nghĩa anh đã dành cho chúng tôi. Một lần nữa, anh tài xế nhất định không chịu lấy tiền xe. Mấy người đàn bà trên xe nhìn tôi với ánh mắt thông cảm. Họ nhường cho tôi một chỗ ngồi hàng ghế cuối xe.

Tôi về đến nhà khoảng 10 giờ đêm. Ngôi nhà cũ kỹ cửa đóng im lìm. Tôi gõ cửa.

-Ai mà gõ cửa ban đêm ban hôm vậy?

Tiếng chị Nguyệt đang ngái ngủ từ bên trong.

-Bình đây chị.

Tôi nghe tiếng chân trần chạy hấp tấp ra cửa. Chị Nguyệt mở cửa rồi ôm lấy tôi khóc:

-Nguyệt không biết Bình về hôm nay. Có đói không để Nguyệt hâm cơm lại cho Bình ăn?

-Trên đường về tôi được người ta cho ăn nhiều lắm, đến giờ còn no lắm.

Tôi đến trước bàn thờ ba má, quì lạy xin lỗi tội bất hiếu không về chịu tang ngày hai người mất. Tôi nhìn khói nhang quyện vòng theo cây đèn dầu le lói như ba má về thăm thằng con xấu số mới ra tù. Tôi quì trước bàn thờ mà nước mắt cứ tuôn tràn.

-Ba má tha tội cho con, vì hoàn cảnh tù đày mà con không về để tang cho ba má.

Chị đặt tay lên vai tôi:

-Hai bác rất hiểu cho Bình, đừng quá đau buồn, hãy ráng lên để đối đầu với những ngày sắp tới.

Và những ngày sắp tới đến với tôi trong khổ cực của “thằng sĩ quan Ngụy”. Họ bắt tôi trình diện hàng tuần, không được đi xa khỏi xã. Tất cả những hành vi của tôi đều bị theo dõi. Đôi khi bọn công an xã đến gõ cửa ban đêm để kiêm tra, xét nhà và muốn biết chắc chắn là có tôi trong nhà. Tôi sống như người bị giam lỏng trong nhà tù lớn.

Tôi nhìn chị chăm sóc cho tôi từng miếng ăn, giấc ngủ như một người vợ lo cho chồng mà nghĩ đến cái vô tình của tôi.

-Chị Nguyệt.

-Gì đó Bình?

-Tôi muốn hỏi chị chuyện nầy.

-Ừ, Bình nói đi.

Ngập ngừng một hồi tôi nói:

-Chị nhớ lúc mới quen, chị bảo tôi phải gọi chị hay không?

-Nhớ chớ sao không. Những ngày vui đó qua mau quá.

-Chị còn muốn tôi gọi chị nữa hay không?

-Vậy Bình muốn gọi tôi gì đây?

-Tôi gọi chị là vợ tôi được không?

Chị Nguyệt nhìn tôi với ánh mắt rất ngạc nhiên rồi đổi sang mừng rỡ:

-Em chờ câu nói đó của anh lâu lắm rồi.

Hai tháng sau chúng tôi làm đám cưới. Tiệc cưới rất đơn giản, chỉ mời bà con lối xóm. Hai năm sau Nguyệt cho tôi đứa con trai đầu lòng. Tôi đặt tên Nhẫn để nói lên cái nhẫn nại của chị dành cho tôi. Năm sau nữa thì chị cho tôi thêm đứa con gái, chị đặt tên nó là Cam để nói đến cái cam khổ của vợ chồng chúng tôi.

Một hôm đầu năm 1990, chị chạy hớt hải về nhà:

-Anh ơi! Họ muốn cho mình đi định cư bên Mỹ.

-Em lại mơ tưởng viễn vong. Ai lại cho thằng sĩ quan Ngụy như anh đi khỏi Việt Nam.

-Đây nè, coi đi.

Chị đưa cho tôi xem tờ báo cho biết Bộ Ngoại Giao và Quốc Hội Mỹ chấp thuận cho tù nhân chính trị được đi định cư tại Mỹ ký ngày 30/7/1989. Lòng vòng lo nạp đơn, lót tiền cho họ ký giấy cũng hơn hai năm. Tôi dỡ mộ đem xương cốt ba má thiêu rồi đem gởi vô chùa vì tôi biết là sẽ lâu lắm mới trở lại quê hương nầy. Tuy đã nuôi tôi lớn lên, tuy nhiều người vẫn còn tình người sẵn sàng đùm bọc che chở người thất trận. Nhưng tôi phải ra đi để con tôi có tương lai hơn, có nhiều cơ hội để vươn lên với đời hơn.

Bao nhiêu tiền chúng tôi dành dụm đều cạn sạch. Ngày gia đình tôi lên máy bay đi Mỹ, trong túi còn đủ 200 đồng đô la sau khi bán nhà, bán đất của cha mẹ để lại. Đáp xuống phi trường JFK thành phố New York. Cả gia đình hai đứa em gái tôi có mặt đầy đủ đón gia đình tôi. Ba anh em chúng tôi ôm nhau khóc sau hơn 17 năm xa cách. Mấy đêm đầu tiên tôi không ngủ được, vừa lạ chỗ, vừa lo lắng cho tương lai sắp đến. Mình phải làm gì lo cho gia đình, cho con cái đi học, và đủ mọi chuyện cứ liên tục hiện lên trong đầu. Từ quê hương bỏ lại sau lưng, từ quê hương thứ hai sẵn sàng bao dung cho người lính thất trận.

26 năm sau, nhìn lại từ ngày đến đất nước Mỹ giàu lòng nhân đạo nầy, hai đứa con tôi đã ra trường đi làm xa. Vợ chồng tôi nghỉ hưu dời về vùng đất ấm Florida. Chị Nguyệt nay đã gần 70 nhưng vẫn còn nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam luôn lo cho chồng, cho con. Sáng nào tôi cũng có ly cà phê sữa nóng ít sữa, còn chị thì vẫn một ly trà cúc đường phèn. Nhiều lần tôi nói lời cảm ơn chị đã cưu mang ba má tôi khi tôi còn trong tù cải tạo. Chị chỉ cười đưa hàm răng khểnh rồi nói:

-Em kết anh từ lúc mình mới gặp nhau lần đầu.

-Vậy tại sao bắt người ta kêu bằng chị?

-Làm chị cho nó oai chút chơi mà …

-Lúc nào em cũng là chị Nguyệt của anh.

Cửu Long

Viết theo lời kể của một HO)





15 ĐỊA ĐIỂM TRÊN TRÁI ĐẤT TRÔNG GIỐNG NHƯ Ở HÀNH TINH KHÁC

15 ĐỊA ĐIỂM TRÊN TRÁI ĐẤT TRÔNG GIỐNG NHƯ Ở HÀNH TINH KHÁC

Nguồn : Dân Việt

1. Công viên núi lửa Lassen – California – Mỹ .

— Là nơi duy nhất trên trái đất , có 4 loại hình nưi lửa khác nhau :

+ Núi lửa dạng tầng .

+ Núi lửa hình khuyên .

+ Núi lửa hình nón .

+ Núi lửa dung nham kết hợp với tro .

2. Núi Roraima .

— Đỉnh cao nhất thuộc dãy Pakaraima .

— Nằm tiếp giáp 3 nước : Brazil – Guiana – Venezuela .

— Xung quanh núi luôn bị bao phủ những đám mây . Khiến đỉnh núi trông như lơ lửng giữa trời .

3. Công viên địa chất Trương Dịch – Đan Hà – Trung quốc .

— Hình thành sau một vận động địa chất kéo dài 24 triệu năm .

4. Salar de Uynni .

— Là hồ muối lớn nhất thế giới .

— Mặt hồ luôn bao phủ một lớp nước mỏng . Xem như là một tấm gương lớn , nó trở thành thứ làm mốc để hiệu chỉnh thông số cho các vệ tinh .

5. Sa mạc Salvardor Dali .

— Sa mạc trải dài 100 km vuông .

— Thoạt nhìn trông như một tác phẩm tranh : những đỉnh núi như điệu vũ bằng màu nước , những tảng đá như những cây mọc lên từ đất .

— Cảnh quan này trông khác lạ so với các sa mạc trên hành tinh .

6. Thung lũng Afar nằm ở Ethiopia .

— Nơi đây có rất nhiều hồ lưu huỳnh . Chỉ có một loài vi khuẩn đặc biệt , mới có thể sống được .

7. Hẻm núi Antelope .

— Nằm trong lãnh địa của thổ dân da đỏ Navajo .

— Nước mưa và gió trong hàng triệu năm , đã mài mòn cát trong đá , để lại những khoảng trống như một công trình đặc sắc .

8. Valle de la Luna .

— Nằm trong sa mạc Atacama . Vốn là sa mạc khô hạn nhất hành tinh .

— Có khung cảnh giống như mặt trăng .

9. Fly Gegser .

— Đây là sự hình thành quang cảnh địa chất của thiên nhiên và con người .

— Ban đầu , người ta dự tính xây dựng một cái giếng ở đây . Tuy nhiên , trong quá trình khoan có sơ sót xảy ra . Khiến cho nước phun trào lên mặt bề mặt đất .

— Và sau nhiều năm bồi tụ các chất trong dòng nước ngầm . Một ngọn ” núi ” cao khoảng 1,5 m đã hình thành ( như hình ảnh ) và còn tiếp tục tăng kích thước .

10. Đôi mắt của Chúa .

— Hang động Prohodna hay còn gọi là ” Đôi mắt của Chúa ” ở Bulgari .

— Hai lỗ tự nhiên xuyên qua hang đá rất đối xứng , trông như đôi mắt .

— Vào mùa mưa , nước chảy theo xuống trông như những giọt nước mắt .

11. Sa mạc Wadirum .

— Có cảnh quan kỳ lạ nhất trên trái đất . Những vách đá không giống như những vách đá nào khác trên hành tinh .

12. Quần đảo Socotra .

— Những cây máu rồng là đặc hữu trên quần đảo này . Không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác trên trái đất . Nếu bóc vỏ cây ra , nước đỏ chảy ra trông như máu .

13. Công viên quốc gia Bryce Canyon .

— Những tảng đá trông như những cái cây .

— Vào hoàng hôn , chúng thay đổi từ màu trắng thành đỏ . Nên cảnh tượng vô cũng độc đáo .

14. Thung lũng Chết .

— Ở sa mạc Namib thuộc Namibia .

— Những cái cây chết khô đã giữ nguyên hiện trạng , không mục rã trong 600 năm qua .

15. Sông băng Perito Moreno .

— Có màu sắc bất thường , do lớp băng dày hấp thụ tất cả các quang phổ , ngoại trừ màu xanh lam .

— Ngoài ra , tiếng băng róc rách tạo nên những giai điệu độc đáo . Không giống bất cứ thú gì .




CÁI CHẾT BI THẢM CỦA MỘT NHÀ GIÁO LỖI LẠC MIỀN NAM

CÁI CHẾT BI THẢM CỦA MỘT NHÀ GIÁO LỖI LẠC MIỀN NAM

Giáo Sư NGUYỄN DUY XUÂN, sinh năm 1925 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ. Ông sang Pháp du học tốt nghiệp cử nhân kinh tế; sau đó theo học chương trình sau đại học ở Anh, lấy bằng Thạc sĩ về kinh tế học; tiếp đến sang Mỹ theo học ở đại học Vanderbilt, và lấy học vị Tiến sĩ kinh tế học rồi trở về miền Nam VN năm 1963.

Về nước, GS Xuân giảng dạy tại nhiều trường đại học. Đầu năm 1970, ông được mời về làm Viện trưởng Viện Đại học Cần Thơ. Trong thời gian đảm nhận vị trí Viện trưởng, Giáo sư đã nỗ lực phát triển mọi lãnh vực, đặc biệt đối với hai ngành là Sư phạm và Nông nghiệp.

Giáo sư Nguyễn Duy Xuân là người TIÊN PHONG trong việc thiết lập hệ thống đào tạo tín chỉ theo mô hình các đại học bên Hoa Kỳ. Mà ai cũng biết, hệ thống đại học Hoa Kỳ cho đến nay vẫn là hệ thống đứng hàng đầu thế giới. Ở Việt Nam, sau biến cố 30/4/1975, việc đào tạo đại học hệt như… “trường cấp 4” (cấp 1: tiểu học, cấp 2 & 3: trung học). Mãi tới sau này nền giáo dục đại học của CHXHCN VN mới rục rịch chuyển đổi đào tạo theo hệ thống tín chỉ – trong khi GS Nguyễn Duy Xuân đã canh tân việc này gần nửa thế kỷ trước đây!

Những ngày sau cùng của chính thể VNCH, GS Nguyễn Duy Xuân đảm nhiệm vai trò Tổng Trưởng Văn hóa – Giáo dục – Thanh niên trong nội các Dương Văn Minh .

Sau biến cố tháng 4/1975, trong khi ông Dương Văn Minh vẫn điềm nhiên sống tại dinh thự riêng (dinh Hoa Lan) sau đó bay sang định cư tại Pháp thì Giáo sư Xuân bắt đầu cuộc đoạn trường khốn khổ, bi thảm. Ông bị đưa đi cải tạo tại Thủ Đức, rồi đẩy tuốt ra ngoài trại cải tạo Ba Sao thuộc tỉnh Hà Nam Ninh (nay thuộc tỉnh Hà Nam).

Ròng rã suốt 11 năm, nhà giáo & nhà trí thức lỗi lạc Nguyễn Duy Xuân đã phải chôn chân trong trại Ba Sao, để rồi chết rũ tại đây vào năm 1986 lúc Giáo sư 61 tuổi.

Trại Ba Sao nức tiếng với việc có tới 626 trại viên tử vong chỉ trong vòng 13 năm (1975-1988).

Thi hài của GS Xuân chôn nơi một quả đồi thuộc Ba Sao.

—————————————————————————

* Hình ảnh: Tiểu sành chứa tro cốt của GS Xuân, vào tháng 4/2015 tức mãi gần 30 năm sau khi ông qua đời, được bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga (con của GS Xuân) đưa từ nghĩa địa trại  Ba Sao bằng đường tàu lửa vào Sài Gòn.

Tro cốt của GS Xuân được gửi ở chùa Thiên Hưng (đường Vạn Kiếp, quận Bình Thạnh) thể theo di nguyện của GS Xuân được ở lại quê hương (thay vì đưa qua Pháp mà con cháu của GS đang định cư).

(Nguồn fb Võ Khánh Tuyên)




Dịch giả Huỳnh Phan Anh qua đời tại Mỹ

Dịch giả Huỳnh Phan Anh qua đời tại Mỹ

31/08/2020 15:46 GMT+7

Dịch giả Huỳnh Phan Anh vừa qua đời lúc 16h45 ngày 30-8 tại San Jose, California, Hoa Kỳ (tức 6h45 sáng 31-8 – giờ Việt Nam) sau một thời gian nằm bệnh, hưởng thọ 81 tuổi.

Dịch giả Huỳnh Phan Anh qua đời tại Mỹ - Ảnh 1.
Dịch giả Huỳnh Phan Anh (trái) chụp chung với nhà thơ Yves Bonnefoy tại Paris năm 1999 – Ảnh tư liệu

Dịch giả Huỳnh Phan Anh tên thật là Huỳnh Thanh Tâm, sinh năm 1940 tại Bình Dương, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Đà Lạt và là giáo sư triết học tại miền Nam. Nhưng sự nghiệp của ông gắn liền với hoạt động dịch thuật và phổ biến tác phẩm văn chương triết từ các nước đến với người đọc Việt Nam từ trước 1975.

Theo những bạn bè của ông từ hồi còn gặp nhau ở tòa soạn báo Văn tại Sài Gòn, tác phẩm phê bình văn học đầu tay của Huỳnh Phan Anh là Văn chương và kinh nghiệm hư vô (NXB Hoàng Đông Phương, 1968), sau đó ông có tập truyện Người đồng hành (Đêm Trắng xuất bản 1969), kế đó là tập tiểu luận – phê bình Đi tìm tác phẩm văn chương (Đồng Tháp, 1972); ngoài ra ông còn truyện vừa Những ngày mưa (Đêm Trắng xuất bản), và tập truyện Phía ngoài viết chung với Nguyễn Đình Toàn.

Nhưng sự nghiệp dịch thuật của Huỳnh Phan Anh mới thật đáng nể, ông đã chuyển ngữ nhiều tác phẩm quan trọng, cả những tác phẩm kinh điển của văn chương và tư tưởng thế giới được in và tái bản nhiều lần trong mấy chục năm qua:

Một mùa địa ngục (thơ Arthur Rimbaud, NXB Văn Học), Tuyển thơ tình yêu (Paul Eluard, NXB Hội Nhà Văn), Thơ Yves Bonnefoy (NXB Hội Nhà Văn), Chuông gọi hồn ai (tiểu thuyết, Ernest Hemingway, NXB Văn Học), Tình yêu bên vực thẳm (tiểu thuyết, Erich Maria Remarque, NXB Trẻ), Sa mạc (tiểu thuyết, J.M.G Le Clézio, NXB Hội Nhà Văn), Lạc lối về (tiểu thuyết, Heinrich Boll, NXB Văn hóa Văn Nghệ), Tình yêu và tuổi trẻ (tiểu thuyết, Valery Larbaud, NXB Trẻ), Những cuộc đời tỏa sáng (nghiên cứu, André Maurois, NXB Trẻ), Ảo ảnh (Thomas Mann, Văn học), Cỏ (Claude Simon, Hội nhà văn), Thế giới của Sophie (Jostein Gaarder, Văn hoá thông tin, Nhã Nam tái bản), Bãi hoang (Jean-René Huguenin, Đồng Nai, Dtbook tái bản), Rimbaud toàn tập (Arthur Rimbaud, Văn hóa Sài Gòn), Thời gian của một tiếng thở dài (Anne Philipe, NXB Văn nghệ TP.HCM).

Một số tác phẩm quan trọng đã được ông sớm dịch từ trước 1975 như Tình yêu và lý tưởng (Thomas Mann, Ngày Mới, 1974), Chuyến viễn hành trong đêm (Heinrich Böll, Vàng Son, 1973), Tình cuồng (Raymond Radiguet, dịch chung với Nguyễn Nhật Duật, Ngày Mới, 1973)…

Tất cả cuộc sống của ông là ở đây, nó quá đẹp với đủ vui buồn của một chàng trai sớm già dặn và buồn bã vì bị văn chương chiêu dụ, bị triết học mê hoặc; một ngòi bút tài hoa sớm thành danh; một tên tuổi nức tiếng, nhưng ít ai thấy mặt, nghĩa là cô đơn trong chốn đông đảo, như một cách nói của ông

Nhà văn – dịch giả MAI SƠN

Theo nhà thơ Phạm Chu Sa, một bạn văn của Huỳnh Phan Anh, ở độ tuổi 30, Huỳnh Phan Anh đã “cùng với các nhà văn – nhà phê bình Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Quốc Trụ, Nguyễn Hữu Trí và Đặng Phùng Quân quy tụ thành nhóm Đêm Trắng.

Đêm Trắng là nhóm văn học có khuynh hướng hiện sinh, đi tìm cái mới trong văn chương để làm mới văn chương. Hầu hết thành viên của nhóm là nhà văn kiêm nhà giáo dạy văn học và triết học. Huỳnh Phan Anh rất ngưỡng mộ và chịu ảnh hưởng của Jean Paul Sartre, nhà văn – nhà triết học người Pháp, người có công xiển dương chủ nghĩa hiện sinh”.

Cũng theo Phạm Chu Sa, “năm 2002, Huỳnh Phan Anh sang Mỹ định cư tại San Jose, một TP ở Bắc California có hơn 100.000 người Việt nhưng anh sống gần như khép kín, cách biệt, cả với giới văn nghệ sĩ – bạn bè cũ của anh. Phần do anh bị bệnh tim, phần không biết lái xe”.

Trong một lần trả lời phỏng vấn báo trong nước, dịch giả Huỳnh Phan Anh bộc bạch: “Trước hết, tôi xin khẳng định một điều là cho dù tôi có sống tại Mỹ một vài năm hay trong suốt phần còn lại của cuộc đời, tôi cũng khó hội nhập được vào nước Mỹ! Tôi không bao giờ là một nhà văn lưu vong”.

Một cuộc đời sống và làm việc hết mình cho văn chương, phê bình và dịch thuật với lượng tác phẩm đồ sộ rất có giá trị, tên tuổi Huỳnh Phan Anh chắc chắn còn sống mãi với những người trân trọng ngôn ngữ và văn chương.

Theo Internet




Cây đàn tranh kỷ niệm

Cây đàn tranh kỷ niệm

(Ghi theo lời kể)

Như mọi người đã biết kỹ thuật đóng đàn Tranh khó ai qua được tay nghề bác Vĩnh Bảo, ông vừa là một nhạc sư vừa là một nghệ nhân số 1 về đàn Tranh của Việtnam.

Tìm hiểu trên Wikipedia thì được biết:

“ nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo (sinh năm 1918) là nhà nghiên cứu âm nhạc, giáo sư giảng dạy âm nhạc truyền thống. nhạc sĩ trình tấu và nghệ nhân đóng đàn… Và đặc biệt Ông rất yêu thích đờn ca tài tử.

Chính Ông là người đã có nhiều đóng góp và cải tiến đàn tranh từ 16 dây thành đàn tranh 17, 19 và 21 dây với kích thước và âm vực rộng hơn.

Từ năm 1955 cho đến năm 1964, ông dạy môn đàn tranh và cũng là trưởng ban nhạc cổ miền Nam tại Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ ở Sài Gòn. Ngoài ra ông cũng đã đi diễn thuyết giới thiệu và trình tấu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở nhiều nơi trên thế giới…”

Dịp may đến khi bạn mình quen biết nghệ sĩ Đặng Lan (đàn Độc Huyền) trong các buổi sinh hoạt âm nhạc tài tử tại San Jose, Calif do giáo sư Ngọc Dung (đàn Tranh) và Cô cũng chính là người thành lập đoàn Tiếng Vọng Quê Huơng (nhằm gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc của nền âm nhạc truyền thống Việtnam tại nước ngoài)

Cần nói thêm, mình được biết khi còn ở Việtnam nghệ sĩ Đặng Lan cùng với NS Văn Hai và các nghệ sĩ cổ nhạc khác trong các dịp rảnh rỗi (không đi diễn) thường ghé nhà bác Vĩnh Bảo để sinh hoạt và trao đổi thân tình về đờn ca tài tử (ít nhất bác cũng dành 1 ngày trong tháng thường thì nhiều hơn tại nhà để họp mặt ) nên từ lâu các anh đã trở thành người nhà của gia đình bác Vĩnh Bảo.

Nghĩ tới các nhạc cụ cổ truyền Việt nam thông dụng. Mình nghĩ ngay tới đàn Tranh và ngỏ lời với anh Đặng Lan muốn có một cây đàn Tranh 25 dây do chính bác Vĩnh Bảo đóng, (thật là quá sức tưởng tượng vì dân nghệ sĩ professional đi biểu diễn cũng chỉ sử dụng cây đàn Tranh 22 dây là quá dư rồi). Thế là anh Đặng Lan và anh Văn Hai đã tận tình giúp và thay mặt mình thưa chuyện chuyện cùng bác Vĩnh Bảo.

Những tình cảm mà bác dành cho các nghệ sĩ chân chính thì thật lớn, riêng các anh Văn Hai, Đặng Lan thì đặc biệt hơn hẳn nên Bác đã nhận lời đóng cây đàn Tranh 25 dây đầu tiên và độc nhất này, (vì từ xưa tới nay bác và gia đình chưa từng đóng cho bất cứ một ai cây đàn Tranh nào lớn và có nhiều dây như thế). Đây có lẽ là cây đàn duy nhất mà bác nhận lời đóng vì khi ấy bác Vĩnh Bảo đã tròn 100 tuổi rồi (2017).

Năm 2018 mình có về Việt nam và được nghe anh Văn Hai thuật lại: hàng tuần hoặc khi rảnh rỗi anh thường ghé thăm bác Vĩnh Bảo vì bác đã lớn tuổi và cũng vì cây đàn đặc biệt này. Anh Văn Hai cũng cho biết thêm Nhạc sư Vĩnh Bảo đã dành rất nhiều thời gian tâm huyết cũng như đã dồn tất cả tình yêu và cả tình tự dân tộc trong tâm hồn cho sự thai nghén đứa con tinh thần này. Chính Bác đã phải đích thân phát thảo từng chi tiết một và cùng gia đình tỉ mỉ đo ni làm khuôn cho cây đàn “Đại” này, vì trước đây xuởng đóng đàn không hề có khuôn lớn.

Kiểu dáng đàn cũng là một vấn đề cần phải nghiên cứu (nếu giữ nguyên dáng kiểu đàn Tranh truyền thống thì nhạc sĩ sẽ không thể chạy ngón lả lướt thật nhanh được trong lúc trình tấu vì phần thân sẽ vồng lên rất to và nhìn đàn sẽ thô kệch, mà đóng kiểu Koto “một loại đàn Tranh của Nhật” thì sẽ mất đi sự riêng biệt và nét dịu dàng duyên dáng cùng sự độc đáo của cây đàn Tranh Việtnam) Bác đã phải tính toán và mất rất nhiều công sức nhằm chọn lựa nhiều giải pháp khác nhau để có được sự hoàn hảo tối ưu như hiện nay.

Vì cây đàn cho xứ lạnh nên bác đã chọn gỗ mặt đàn là loại gỗ cây Kiri của Nhật Bản để có được âm thanh thật hay, chuẩn xác. (Kiri là loại gỗ nhẹ, mềm nhưng đặc, và là loại gỗ có độ đàn hồi xoắn cao, không bị rạn nứt, biến dạng và chịu được sự thay đổi của khí hậu, thời tiết của xứ lạnh… ) Vì những lý do trên nên bác không dùng gỗ Ngô Đồng truyền thống được, nó chỉ thích hợp với khí hậu của Việtnam. (Gỗ Ngô Đồng rất phổ biến cho đàn Tranh, vì âm thanh chuẩn và tốt ở Việtnam từ bao đời nay thì mặt đàn phải được đóng bằng gỗ Ngô Đồng)

-Nếu mặt đàn may mắn chọn được đoạn giữa của thân cây và thân gỗ khi phát triển mà quay về hướng mặt trời là tốt nhất, đoạn này ít bị thay đổi (rạn nứt, giãn nở theo thời tiết và thời gian của xứ nhiệt đới) cây đàn sẽ cho âm thanh chắc và vang.

-Nếu mặt đàn chọn gỗ ở phần trên gần ngọn thì âm thanh sẽ mỏng, lép, ít vang.

-còn mặt đàn mà ở phần gần gốc thì âm thanh sẽ tù, đục, không thoát.

Làm mặt cây đàn này phải nhập gỗ Kiri từ bên Nhật nguyên miếng thật lớn (vì là đàn 25 dây nên kích thước cũng lớn hơn hẳn).

Để phân biệt mặt gỗ Kiri (có vân) còn mặt Ngô Đồng (không vân), thường thì mặt đàn không phủ bóng bằng Verni (để mặt mộc) sẽ tạo được độ vang hơn và như thế ta cũng sẽ dễ nhận biết được chất lượng của gỗ.

Khi bán đàn cho mọi người bác vẫn khuyên nên đóng bằng gỗ Ngô Đồng âm thanh vẫn hay mà giá lại rẻ hơn nhiều, để tiết kiệm tiền cho chính khách hàng, có lẽ đây là lương tâm đạo đức và là tính cách rất độc đáo đã từng tạo nên tên tuổi của gia đình bác, sau này chị Thu Anh “con gái bác” cũng theo gương cha, bao giờ truớc khi bán cũng trao đổi thật kỹ với khách và cho những lời khuyên chân thành nhất chứ không vì đồng tiền mà đánh mất lương tâm, rồi chị cũng thú thật cái mà chị sợ nhất vẫn là sợ mất tiếng tăm của gia đình Vĩnh Bảo bao đời nay)

Như mọi người được biết: nhiều nghệ nhân rất giỏi về đóng đàn nhưng mặt khuyết họ thường lại không phải là nhạc sĩ giỏi nên cũng khó phân biệt chi ly, rạch ròi được thế nào là âm thanh chuẩn mực cùng sự ngọt ngào sâu thẳm của từng âm điệu của tiếng đàn Tranh trong khi nhấn nhá, hoặc họ là nghệ sĩ biểu diễn thì được trời phú cho họ có “cái tai” thẩm âm rất chuẩn xác thì lại không rành chi tiết về kỹ thuật đóng đàn. Nghệ nhân kết hợp được cả hai tính chất trên thật là hiếm, đúng là được mặt này thì khuyết ở mặt khác ?

Riêng nhạc sư Vĩnh Bảo thì có  được cả hai. Theo lời Bác kể: năm 10 tuổi bác đã tự tay ráp cái gáo dừa và cần đàn khi được người ta cho cây đàn gáo mà 2 phần rời nhau. Có lẽ bác đã tập mày mò đóng đàn từ khi ấy. Được biết sau thời gian không đi dạy tại trường nhạc trong nước. Bác may mắn có điều kiện ra nước Ngoài để dạy thêm về âm nhạc cổ truyền cho các học trò thế giới và Bác đã quyết chí ghi danh học thêm về kỹ thuật đóng đàn Violin tại trường hẳn hoi, nên có lẽ bác là nghệ nhân đàn dân tộc duy nhất đã được đào tạo từ trường lớp tại Tây Phương.

Những kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của cách đóng đàn Violin mà bác đã học được nó đã là một nền móng vững chắc chẳng phải ai cũng có được và sau này đã được bác nhuần nhuyễn áp dụng để hình thành cho cây đàn Tranh Việtnam với thương hiệu Vĩnh Bảo. nhưng để hình thành và tạo nên tên tuổi trong lòng mọi người chắc chắn bác đã phải qua rất nhiều thời gian tìm tòi trải nghiệm, cùng biết bao biến tấu để tạo thành.Ngoài ra chị Thu Anh cũng tiết lộ bí mật kỹ thuật tạo ra tiếng đàn hay nằm ở chỗ hiểu được đặc tính sự giãn nở của từng loại gỗ khi kết hợp với nhau, và gia đình đã dày công nghiên cứu để có hẳn loại keo đặc biệt gia truyền chỉ để dùng riêng cho việc đóng đàn… Chị tâm sự mỗi cây đàn xuất ra đều được thẩm âm thật kỹ trước khi tới tay người dùng… rất tiếc nhiều lần nói chuyện với Chị mà không ghi nhớ được là bao để chia sẻ cùng các bạn.

Điều quan trọng nhất vẫn là được gia đình bác xác nhận: “ chắc chắn đây là cây đàn Tranh 25 dây độc nhất vô nhị cả ở Việtnam cũng như trên thế giới do chính tay bác Vĩnh Bảo đóng và ký tên “.

Khi viết những dòng này thì năm nay bác cũng vừa tròn 103 tuổi, bác cùng gia đình cho biết: “sẽ không hề có ý định và muốn làm lại một cây đàn 25 dây thứ hai như vậy nữa.” Đây thực sự là một món quà tình cảm vô giá mà Bác muốn dành lại cho hậu thế.

Ngoài chữ ký của nhạc sư Vĩnh Bảo, cây đàn này còn may mắn hơn nữa khi được các giáo sư, nghệ sĩ cũng là những người bạn thân của bác Vĩnh Bảo ký tên lưu niệm. Xin cảm ơn Gs tiến sĩ âm nhạc học dân tộc Trần quang Hải (Pháp), Giáo sư đàn Tranh Ngọc Dung (San Jose, Calif), NS Đỗ Lộc, NS Văn Hai, NS Đặng Lan (San Jose, Calif) …

Nay được sở hữu, đó là niềm vui, niềm hãnh diện, và tự hào rất lớn, một lần nữa xin được đặc biệt cảm ơn bác Vĩnh Bảo và gia đình.

Chúc bác nhiều niềm vui trong tuổi hạc.

Hồng Nguyên.

***

– Giáo sư Trần quang Hải nhân dịp qua Hoa Kỳ nhận bằng tưởng lục của trường đại học Long Beach University “ tuyên dương về những đóng góp của Ông trong việc nghiên cứu, phổ biến âm nhạc dân tộc Việtnam trên thế giới.” Đã ký tên trên đàn.

– NS Đỗ Lộc nhân chuyến đi biểu diễn trong “Ao Dai Festival” tại Calif, Hoa Kỳ đã ký tên.

Theo Internet




VĨNH BIỆT HUỲNH PHAN ANH

VĨNH BIỆT HUỲNH PHAN ANH 

Bùi Chí Vinh

Nhà văn kiêm dịch giả Huỳnh Phan Anh mất lúc 16g45 ngày Chủ nhật 30-8 tại tư gia San Jose thọ 81 tuổi. Tác giả “Văn Chương Và Kinh Nghiệm Hư Vô” chính là thầy dạy tôi môn Công Dân tại trường trung học công lập Nguyễn Trãi niên khóa 1970-1971. Tại ngôi trường Nguyễn Trãi này trong suốt thời trung học đệ nhị cấp tôi vốn là một trong vài học sinh xuất sắc nhất lớp…

Thuở đó tôi lồng lộn sải vó cố tìm ra ánh sáng cuối đường hầm trên con đường sạn đạo của mình. Tôi từng trần thuyết về đề tài Tam Dân Chủ Nghĩa trước thầy Huỳnh Thành Tâm tức nhà văn Huỳnh Phan Anh nổi tiếng dạy tôi năm lớp 10A và được thầy cho điểm tuyệt đối về sự hùng biện táo bạo.

Khác với hai thầy Đỗ Quý Toàn, Tạ Quang Khôi mà tôi không lần nào gặp lại, riêng thầy Huỳnh Phan Anh sau 1975 tôi được hân hạnh tái ngộ và trở thành một đồng nghiệp nhỏ thân thiết của thầy. Tôi còn nhớ cuối năm 1975 trên báo Văn Nghệ Giải Phóng xuất hiện hai bài tùy bút nổi tiếng một của Trịnh Công Sơn và một của Huỳnh Phan Anh. Hai bài viết thuộc dạng sắc sảo trong cách nhìn của mỗi người về những biến thiên của thời cuộc, nhưng tùy bút NHÌN LẠI của Huỳnh Phan Anh được dư luận đánh giá cao hơn tùy bút mang tên HẠNH PHÚC của Trịnh Công Sơn. Tôi không coi đó là sự giác ngộ cách mạng hoặc sám hối nghề nghiệp của Huỳnh Phan Anh như sự chụp mũ ác ý của một số người cầm bút.

Tôi hiểu tâm trạng của một nhà văn tự trọng kiêm một nhà giáo lương thiện và ủng hộ con đường đi của thầy. Đến giờ này có thể nói khả năng biên dịch, phóng tác của thầy theo thời gian ngày càng rực rỡ hơn bao giờ hết. Đơn cử bản dịch Huỳnh Phan Anh cuốn CHUÔNG GỌI HỒN AI của Ernest Hemingway sẵn sàng “chấp” hàng loạt nhà văn thế hệ sau 1975 thay phiên nhau dịch mà chẳng có ai so sánh được. Một đơn cử khác, bản dịch Huỳnh Phan Anh cuốn TÌNH YÊU BÊN VỰC THẲM của Erich Maria Remarque cũng là một thứ “hàng độc” về văn phong lịch lãm của thầy. Tôi khẳng định rằng thầy đã cùng với các dịch giả Ngọc Thứ Lang, Phạm Công Thiện, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Hữu Hiệu… tạo nên trường phái dịch thuật đẳng cấp trước 1975, đủ sức lột trần được tinh hoa bản gốc của các danh tác quốc tế và làm giàu có thêm cho kho tàng ngôn ngữ Việt Nam.

Hai thầy trò chúng tôi đã nhiều lần cụng ly, nhiều lần lăn lóc, nhiều lần ngổn ngang tâm sự với nhau cho dù Huỳnh Phan Anh hầu như không nhớ gì tên học trò Nguyễn Trãi ngày xưa được ông cho điểm cao nhất môn trần thuyết. Có lần ông kể với tôi trong một đêm say khướt ngồi xe xích lô về nhà trên đường Võ Văn Tần (đường Trần Quý Cáp cũ) ông đã được tay tài xế xích lô xa lạ đọc cho nghe bài thơ XÍCH LÔ HÀNH của tôi, sau đó còn hát nghêu ngao ca khúc phổ nhạc bài thơ đó.

Ông xúc động nói với tôi rằng:”Như vậy là mày đã tồn tại. Nhà thơ cả đời chỉ cần một sáng tác được truyền khẩu, thế mà bài thơ Xích Lô của mày được phổ biến khắp nơi. Tao hãnh diện được làm thầy của một thi sĩ nhân dân kiểu đó”. Khi tôi viết những dòng này thì vị thầy giáo đáng kính đã lưu lạc giang hồ bên Mỹ quốc, trước khi đi tôi đã cố gắng cùng thầy gõ cửa đủ mọi cơ quan, báo chí để nộp từng chồng hồ sơ khiếu nại khiếu tố dày cộm về đám cường hào ác bá tỉnh Tây Ninh cướp đất hương hỏa của gia đình thầy, nhưng tất cả nỗ lực đều thất bại bởi “con cóc không thể kiện ông trời” khi không còn thượng đế. Chẳng biết thầy còn nhớ những kỷ niệm bụi đời của chúng tôi không? 

Và tôi cũng mở ngoặc luôn ở đây: Có lẽ thầy Tâm không còn nhớ gì nữa, bằng chứng là những lần về lại Việt Nam thầy không một lần tìm đến nhà tôi, cho dù thuở chưa đi “xuất khẩu” nước ngoài, cứ vài ngày là thầy lại gõ cửa hào hứng mời tôi đi nhậu rượu hà thủ ô miệt Đa Kao. Cũng không sao, thưa thầy Huỳnh Thành Tâm tức Huỳnh Phan Anh, cái gạch nối cần thiết nhất của chúng ta là bài thơ XÍCH LÔ HÀNH (qua lời khẳng định của thầy) vẫn luôn luôn tồn tại cho đến bây giờ:

XÍCH LÔ HÀNH

Tưởng mình ta đạp xích lô

Nào hay phố xá ngựa thồ như nêm

Buộc cho ta miếng băng đen

Để cho cặp mắt làm quen mù loà

Xỏ giàm vào mõm nữa cha

Để cho số tuổi ta già theo răng

Giật cương đi hỡi mấy thằng

Ê, sao nước mắt chợt lăn xuống cằm

Ta đi dụ khị người phàm

Thấy huynh hiền sĩ từ quan lên rừng

Dạ dày ta nhảy lung tung

Nhảy dăm phút nữa dám khùng nghe cha

Cũng may vừa tới ngã ba

Cô em yểu điệu tà tà leo lên

Lưng ta khòm giống cái yên

Chổng mông em cưỡi mùi Thiền nhấp nhô

“Ba đồng một cuốc” mại dô!

Có con ngựa đực vừa ho vừa gào

Ta thồ ngang động hoa đào

Thấy dăm kỹ nữ trắng phau trổ nghề

Thồ ngang đống rác thúi ghê

Thấy bầy tiểu tử chửi thề giành moi

Thồ ngang khách sạn em ơi

Chó ngồi ăn nhậu còn người ăn xin

Nhưng mà chớ có rùng mình

Tại ta kéo thắng chưa linh em à

Gân chân lõm tựa ổ gà

Mặt xương bụng lép chẳng ma nào ngồi

Mới ra nghề tưởng khơi khơi

“Bác Hồ ngó thẳng” đâu chơi gà mờ

Dạ dày lại đánh lô tô

Mồm ta méo xệch bên bờ tử sinh

Như là góa phụ tắt kinh

Ruột xe có chửa thình lình, chết cha!

Té ra trong cõi người ta

Ruột lô, ruột xịn khéo là ghét nhau

Đếm tiền còn thiếu xu hào

Đếm ta thấy chớm bệnh lao mất rồi

Vá giùm chút, bạn hiền ơi

Xích lô cà chớn của thời cà chua!

BCV

(trích từ hồi ký GIAI THOẠI CỦA THI SĨ)

Trong đám cưới Bùi Chí Vinh. Hương Lan:
Người đứng: Phan Bá Chức
Người ngồi: Vợ chồng họa sĩ kiêm diễn viên Lê Chánh và Huỳnh Phan Anh.

Theo Internet




CÔ GÁI TRÀ VINH KIÊN CƯỜNG BẤT KHUẤT

VỀ CÔ GÁI TRÀ VINH KIÊN CƯỜNG BẤT KHUẤT Nguyễn Đặng Minh Mẫn

Cô ấy là một thuyền nhân tí hon. 4 tuổi theo gia đình lênh đênh trên biển đi tìm tự do. Qua bốn trại tị nạn , lao đao khốn khó nhưng những năm tháng ấy cũng đã kịp hình thành ý thức về tự do và quan trọng hơn, suốt 8 năm tị nạn trên đất Thái, cô đã tìm ra lẽ sống và niềm tin của cuộc đời. Cô xin được học giáo lý để được rửa tội theo chân Chúa. 12 tuổi, cái độ tuổi ham ăn ham chơi của đa số bạn đồng lứa thì cô bắt đầu chạm cú shock đầu tiên của đời mình. 12 tuổi cô cùng gia đình bị trả ngược về Việt Nam.

Do ngày vượt biển đến trại tị nạn đã quá ngày tiếp nhận thuyền nhân, cả nhà cô bị trả về với tâm thế bị cưỡng bức, không một mảnh giấy cầm tay. Cô về Trà Vinh nhập học lớp 4 và hành trình học tập của cô cũng bắt đầu lao đao theo những định kiến của chế độ đặt ra cho những “kẻ phản quốc”.”Kẻ phản quốc” cũng là câu nói cửa miệng của thầy cô trong trường khi nói tới tên Mẫn. Thầy giáo chủ nhiệm cấp 2 nói với cô “chỉ có những đứa phản quốc mới bỏ đi vượt biên thôi”.

Sau khoá sơ cấp Dược (cô học cho Cha Mẹ an lòng) cô quyết định thôi học vì cô biết có tiếp tục hành trình trường lớp cô cũng sẽ không thể vươn lên được trong cái xã hội nhỏ hẹp kia với những định kiến lệch lạc thiếu tình người đến độ bệnh hoạn. Vốn dĩ gia đình xuất thân từ nền Cộng Hoà nên việc sống và hoà nhập với nhận thức của xã hội và những người được mua chuộc để theo dõi cô cùng gia đình là một điều không thể.

Thị xã Trà Vinh nhỏ hẹp không thoả mãn được ý thức về tự do cũng như mong muốn về quyền được làm người đúng nghĩa mà cô đã sớm được gieo trồng và phát triển. Hằng đêm, ngoài việc đọc kinh cầu nguyện thì việc dò đài Radio trên sóng quốc tế cũng là một niềm vui sống và hi vọng của cô gái 24 tuổi đời. Cô biết được phía bên ngoài kia, thế giới của những người Việt lưu vong, lòng yêu nước vẫn luôn âm ĩ, cô biết nhiều hơn và ý thức nhiều hơn về lòng yêu nước của bản thân. 25 tuổi cô quyết định rời bỏ Trà Vinh lên Sài Gòn tìm những người cùng chí hướng, cùng suy nghĩ và cùng một nhận thức về yêu nước về tự do. 25 tuổi cô phải thay đổi chỗ ở liên tục vì sự đeo bám của công an, an ninh và sự quấy nhiễu của bọn họ, áp lực lên gia đình cô ở quê nhà.

Những hình ảnh của cô trong những cuộc cuộc biểu tình, biểu ngữ về Hoàng Sa – Trường Sa và tinh thần dân tộc của cô một ngày một dày thêm trong tủ hồ sơ an ninh về những kẻ phản động. Cô bị bắt tại sân bay cùng Mẹ và anh trai trong một chuyến bay về lại Việt Nam sau những ngày giao lưu gặp gỡ các bạn bè Việt Nam lưu vong trên khắp thế giới. Sau hai đợt Sơ thẩm – Phúc Thẩm cô bị kêu án 8 năm do tội danh phản quốc và lôi kéo đồng bọn (bao gồm Mẹ và anh trai).Mẹ cô bị kêu án 3 năm, anh trai sau gần hai năm tạm giam được thả về và hưởng án treo.

Suốt 8 năm trong lao tù, không ít lần cộng sản yêu cầu thoả thuận cùng cô để cô được giảm án nhưng cô đều từ chối vì không bao giờ bắt tay hay thoả thuận gì với cộng sản. 8 năm lừng lững và ung dung bước ra khỏi trại giam, cô về với tâm thế ngẩng cao đầu, được hỏi về những năm tháng tù đày cô bé cười rất tưoi và trả lời tôi. “Suốt tám năm em được Đức Mẹ che chở, em hay nằm mơ thấy Đức Mẹ đưa tay ra cho em nắm, và suốt những tháng năm đó em thấy mình đủ sức chị à. Đừng ai hỏi em có hối hận không vì em trả lời một lần duy nhất là em không bao giờ hối hận đâu”.

8 năm lưu vong trên đất Thái trải qua 4 trại tị nạn và 8 năm tù đày trên đất Việt Nam cũng trải qua 4 trại tù khủng khiếp nhất. 16 năm tuổi đời của cô đã trôi qua như thế. Có ai cảm thấy mình quá nhỏ bé trước cô ấy như tôi không?

Theo FB Chiêu Anh Nguyễn




Văn hoá là những gì còn lại sau thử thách

Văn hoá là những gì còn lại sau thử thách

Xem những món đồ gốm thuộc hàng thượng đẳng, từ thế kỷ 15 của Việt Nam ở The Metropolitan Museum of Art, New York.

Bình con chim này chắc chỉ còn lại vài con, lưu lạc đâu đó ngoài Việt Nam. Năm 2000 khi chiếc tàu chở đồ gốm bị chìm ngoài cửa biển Hội An được vớt lên và thẩm định. Giới khảo cổ học và dân sưu tầm đồ cổ hoàn toàn “choáng” trước một kho tàng gốm cổ, chìm dưới đáy đại dương hơn 500 năm, lại là đồ gốm của Việt Nam. Trước đó, giới nghiên cứu đã đổ về Hải Dương để khai quật, tìm hiểu. Nhưng chưa có trong tay những hàng gọi là thượng đẳng. Đợt đấu giá lô hàng gốm đầu tiên tại San Francisco, gồm bình rồng. Ba chiếc bình đầu tiên kêu giá từ 30 ngàn đến 50 ngàn đollars, đã được mua với giá trung bình 65 ngàn đollars một bình.

Từ đó gốm cổ Việt Nam làm từ Chu Đậu, tỉnh Hải Dương lên đời; được trang trọng có mặt trong một số bảo tàng viện quốc tế; sánh vai cùng gốm đời Minh, đời Song của Tàu.Khi đem chiếc tàu bị chìm phân chất, giới nghiên cứu cho biết chiếc tàu này làm bằng gỗ Teak, một loại gỗ của Thái, rất tốt để làm thuyền. Cùng chung số phận của chiếc tàu, có hai bộ xương chết dưới tận khoang tàu. Có lẽ là của những người Thái đi qua Việt Nam mua bán đồ gốm, và trên đường về lại Thái thì ghe gặp bão bị chìm. Hàng trăm ngàn món hàng gốm, có món bị nước biển làm hư, nhưng cũng có món gần như còn giữ nguyên vẹn vẻ đẹp, cho dù hơn 500 năm đã bị nước mặn bào mòn.

“Văn hoá là những gì còn lại sau thử thách, được gìn giữ trong tim và tâm hồn của một dân tộc”. Thánh Gandi từng nói vậy. Văn hoá gốm cổ của Việt Nam hơn 500 năm vẫn được trân trọng. Còn văn hoá của bác và đảng, thứ văn hoá nghệ thuật mì ăn liền, hạ cấp và tuyên truyền như loại ca nhạc “chị Ba năm tấn”, mới có vài năm cọ xát với nhạc vàng của miền Nam; đã quay lưng ra lăn đùng chết một cách tức tưởi, không kèn không trống.

Đỗ T. Công




Mua danh, bán tiếng trong giới khoa bảng và đại học VN

Mua danh, bán tiếng trong giới khoa bảng và đại học Việt Nam

TS Nguyễn Đức An

ĐH Bournemouth, Anh Quốc

25 tháng 8 2020

Cách đây vài năm, nhân chuyến về VN, tôi được trường đại học X mời đến thăm để bàn cơ hội hợp tác. Họ tiếp đón trọng thị, đưa tôi đi tham quan cơ sở vật chất chuyên ngành, xem sản phẩm sinh viên, gặp nhiều người có trách nhiệm từ ban giám hiệu trường đến trưởng phó khoa, các giảng viên, nhân viên phòng lab.

Nhưng trên đường về, lòng thật buồn. Nỗi buồn cứ lan man theo tôi và trỗi dậy trong mấy tuần qua, khi báo chí và mạng xã hội trong nước xôn xao chuyện “mua bán” công trình khoa học.

Hôm đó, họ đề nghị hai hình thức “hợp tác” cơ bản. Một, tôi đứng tên trong đội ngũ cơ hữu để họ làm thủ tục mở chuyên ngành. Không cần làm gì cả, chỉ cần đứng tên (vì tôi có hàm vị học thuật cần thiết theo quy định của Bộ Giáo dục), hằng tháng sẽ nhận một mức lương kha khá. Nếu thu xếp được thì giờ thì về giảng dạy, nhưng không nhất thiết.

Hai, họ đề nghị tôi hỗ trợ mảng khoa học, bằng cách ký tên tôi dưới danh nghĩa trường X trong các công trình của tôi trên thế giới. Đổi lại, họ sẽ trả mỗi bài một mức tiền khá cao, được quy định cụ thể trong một hợp đồng kinh tế (tuỳ theo đẳng cấp tạp chí đăng bài, thứ tự tên tác giả…).

Vài tuần sau đó, sau một chuỗi email bàn bạc nhưng có vẻ không dẫn đến đâu vì hai bên hiểu khái niệm “hợp tác” khác nhau, tôi phải viết thư nói rõ ra. Rằng tôi sẽ không đứng tên trong bất cứ các công trình tôi làm bên này dưới tên X. Rằng tôi sẽ chỉ đứng tên vào đội ngũ nếu tôi thực sự tham gia giảng dạy, chứ không phải để cho họ đủ ban bệ. Lý do, tôi cũng nói thẳng với họ, là nó không phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực nghề nghiệp mà tôi muốn gìn giữ cho riêng mình.

Kể lại chuyện trên không phải để phê phán một đơn vị riêng lẻ nào. X không phải là nơi đầu tiên tôi từ khước những việc này: từng có vài trường ĐH ở Trung Quốc và VN đề nghị tôi làm tương tự để nhận các khoản tiền không nhỏ.

Một loạt bài điều tra trên báo Thanh Niên vào giữa tháng Tám cho thấy đây là cả một ngành công nghiệp quy củ, phục vụ cho một thị trường béo bở giữa nhiều cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước. Loạt bài – dù có một vài sai sót kỹ thuật nhỏ, dễ gây hiểu nhầm – cho thấy chuyện mua danh bán tiếng khoa học mang rất nhiều dạng thái. Bên cạnh các trường trả tiền để được hưởng tiếng thơm công trình quốc tế (và để nâng vị trí xếp hạng) là rất nhiều cá nhân đi thuê viết luận văn để lấy bằng cấp, mua bài trên các tạp chí khoa học dỏm để đủ tiêu chuẩn lên giáo sư hay phó giáo sư…

Nhiều lần đem chuyện này ra tâm sự với đồng nghiệp trong nước, tôi đều nhận những cái lắc đầu, bức xúc nhưng cam chịu. Có lẽ vì nó phổ dụng nên khi đề xuất các “hợp tác” trên với tôi, những người bạn trường X rất tự nhiên, như không có gì để băn khoăn cả. Dường như một cái không bình thường đang được bình thường hoá.

Những ngày qua, theo dõi tranh luận quanh việc này, tôi thấy nhiều lý lẽ bênh vực cho chuyện “mua bán”. Rằng chính nhờ chịu khó chi mạnh cho những việc đó mà một vài trường đại học non trẻ (“bên mua”) vượt qua và gây sức ép khiến các đại học lâu đời đẩy mạnh nghiên cứu hơn. Rằng nhờ đó mà các nhà khoa học viết thuê (“bên bán”) có thêm thu nhập đủ sống trước khi cống hiến cho khoa học. Rằng nhờ đó mà VN còn hiển hiện đôi chút trong nền khoa văn thế giới. Rằng làm thế cũng chẳng vi phạm luật pháp.

Những lý lẽ ấy, theo tôi, đều bỏ qua hai khía cạnh căn cơ của vấn đề.

Thứ nhất, khoa học không thể phát triển trên tư duy “ăn xổi ở thì”, chạy theo cái phù du trước mắt. Khi từ chối trường X, tôi nói tôi rất muốn giúp trường nhưng nếu làm như ý họ thì tôi chẳng giúp gì để họ phát triển bền vững. Trước đó, tôi đề nghị họ lập ra một nhóm giảng viên nòng cốt, hằng năm tôi sẽ sắp xếp đi về, thậm chí có thể mời gọi các đồng nghiệp khác về cùng, để vừa dạy cho sinh viên, giúp họ soạn thảo chương trình, vừa hướng dẫn kỹ năng nghiên cứu cũng như cùng họ làm đề tài để công bố quốc tế.

Làm thế sẽ được cả đôi đường – tôi thoả mãn ước muốn đem kinh nghiệm và tri thức về chia sẻ với các đồng nghiệp và sinh viên, đóng góp cho nền học thuật nước nhà, còn nhà trường được một đội ngũ kỹ năng, về lâu dài có thể tự nghiên cứu và sản xuất bài báo khoa học quốc tế. Nhưng những việc thực chất này lại có vẻ xa xôi so với các mục tiêu mà họ muốn gặt liền tay từ sự “hợp tác” với tôi.

Không biết có bao giờ họ nghĩ rằng vẻ ngoài bóng nhoáng không thể che dấu lâu dài cho sự rỗng tuếch bên trong? Toà lâu đài trên cát có nguy nga đến mấy cũng sẽ tới lúc đổ nhào.

Thứ hai, đây là một câu chuyện đạo đức, với nhiều hệ luỵ xã hội. Không thể không “rùng mình” khi những hành vi trên diễn ra ngay trong một tầng lớp được cho là tinh hoa, có ảnh hưởng sâu sắc đến tương lai đất nước và vận mệnh dân tộc. Kẻ mua cũng tệ, người bán cũng chẳng hơn. Sự liêm chính ở đâu? Lòng tự trọng khoa học ở đâu? Tinh thần học hỏi ở đâu? Sự kiên trì khám phá thế giới ở đâu? Sự khát khao và khiêm nhường trước tri thức ở đâu?

Không có những cột trụ nền tảng đó thì sẽ chẳng bao giờ có một nền khoa học – và rộng hơn, một trình độ phát triển – đường hoàng và bền vững. Hãy tưởng tượng những ông bà giáo sư, tiến sĩ theo con đường mua bán này sẽ trở thành những chuyên gia, cố vấn, lãnh đạo khoa học tại các trường viện và bên ngoài xã hội thì đất nước sẽ về đâu? Điều gì sẽ xảy ra nếu xã hội đặt chẳng may đặt niềm tin và đổ dồn đầu tư vào các trường đại học nổi danh nhờ các công trình quốc tế không do họ làm ra?

Tôi phải nói ngay là tôi vẫn gặp ở trong nước rất nhiều nhà khoa học tài năng, thành đạt trên những trụ cột đạo đức trên. Nhưng tin xấu lan nhanh hơn tin tốt. Chỉ vài trường hợp như trên cũng đủ để nhiều người dân đóng thuế nuôi khoa học, nhiều phụ huynh đóng tiền cho con đi học và nhất là các em sinh viên suy nghĩ tiêu cực về thế giới những con người đang dẫn dắt nghiên cứu và truyền bá tri thức trên giảng đường.

Nói cách khác, nếu giới khoa bảng VN không chung tay để biến những vấn nạn trên trở thành chuyện bất bình thường, họ sẽ dễ bị xã hội nghi vấn, xa lánh và coi rẻ. Và khi khoa học không còn được xã hội coi trọng, khoa học sẽ mất tính chính danh. Khoa học sẽ không còn là khoa học.

TS Nguyễn Đức An nguyên là nhà báo ở TP HCM, hiện là phó giáo sư ngành báo chí-truyền thông tại Đại Học Bournemouth, Anh Quốc.

Theo BBC




Cây Đắng Nở Hoa – truyện ngắn

Cây Đắng Nở Hoa

Thế Giang

… Từ giờ cho tới trung tuần tháng Mười, bác sẽ có hai, ba dịp được rượu chè, đãi đằng… đầu tháng Mười Một sẽ có tin vui thật lớn. Tin nầy sẽ thay đổi hoàn toàn cuộc đời bác… Bệnh nặng nhưng sẽ qua đựợc, không lo, số bác được nhờ con cái…

– Tháng Mười ta hay tây?

Người đàn ông trạc ngoài 50 bồn chồn hỏi.

– Tháng Mười dương, tôi bói bài Tây nên nói theo dương lịch.

– Như vậy có nghĩa trong tuần tới nầy?

– Vâng, bài nó hiện lên như vậy. Bác còn muốn hỏi chuyện gì nữa không?

Người đàn bà mặc áo cánh trắng hơi khó đoán tuổi, có vẻ dân kẻ chợ, ngồi xếp chân vòng tròn trên cái phản độc nhất trong căn nhà lá xốc lại cỗ bài. Người đàn ông tần ngần dấp nước bọt vào ngón tay để rút tiếp con bài cái: “Được uống rượu thì đúng rồi, trong tháng nầy làng có đám giỗ của ông Cả Hương, ông Thuận cuối xóm mới “đi” năm ngoái… Còn ai nữa nhỉ? Đám liệt sĩ chống Mỹ thì cha mẹ, vợ con túng thiếu đã thôi giỗ từ hai, ba năm nay… À, còn thím Tuất xóm Gạch, chồng mới chết bên Kăm-phu-chi-a…thảo nào mà mình không nhớ, chứ cả năm có ngần ấy dịp để uống rượu mà quên sao được.”

– Đây nầy, tôi nói có sai đâu, thế nào rồi con ách rô cũng hiện ra mà. Cam đoan trong tháng nầy sẽ có tin vui lớn…, từ con cái và tài lộc còn vượng phát nữa.

Người đàn ông nhấp nhổm người trên phản, chiếc quần đùi đã tụt xuống dưới rốn để lộ ra cái bụng răn reo. Chùi tay vào manh vải độc nhất trên người đó, ông táy máy sờ vào con bài đỏ nằm bên con bản mệnh của mình.

– Phỉnh người già là mang tội lắm đấy, không lẽ tháng nầy thằng Sơn nó gửi quà cho tôi. Tháng vừa rồi nhận thư nghe nó than ở bên Nga cũng túng thiếu lắm, tiền học bổng mua sách học còn không đủ nữa là…

– Cái nhà bác nầy, nói thế mà nghe được à, bài nó nói sao thì tôi nói vậy chứ ăn tiền ăn bạc gì của nhà bác mà tôi nói sai nói quàng?

– Ý bà muốn chê mấy buồng chuối của tôi đắt không muốn mua nên tưởng tượng ra như vậy chứ gì?

– Trời Phật ơi! Bác ăn nói như vậy không sợ Trời vật hay sao? Thuận mua vừa bán, làng nầy thiếu gì chuối mà tôi phải đi ép uổng bác cơ chứ?

Người đàn ông còn chưa yên tâm nên thử tiếp:– Ý bà muốn bao nhiêu?

– Thì vẫn như hồi đầu tôi mà cả với bác ấy. Cái chuyện “mua non” chuối nầy tôi cũng không muốn lắm đâu, nó thất đức làm sao ấy mà nhỡ ra xấu trời là mất sạch vốn.

– Ấy ấy, sao bà lại nói thế, tôi có dám nghĩ gì đâu… mà bà vẫn mua đấy chứ?

– Tôi mua là để giúp bác, lãi lời là bao nhiêu… mà số bác cũng khá tới nơi rồi…

– Vị chi tất cả là bảy buồng, nhân cho 18 là 126 đồng. Bà có mang theo tiền không?

Sợ kéo dài thêm, bà hàng chuối sẽ đổi ý nên người đàn ông vội kết thúc câu chuyện.

Người đàn ông vừa nhẩm tính trong đầu: bốn cân gạo nhân cho 20 là tám chục đồng, hai cút rượu 16 đồng, số còn lại mua nửa cân lạc về nhấm và rang mặn để ăn dần. Phải rồi, mua gạo ngay chứ chần chừ, nấn ná là mình lại uống rượu hết. Mình khô mép cũng lâu rồi, hai cút không biết có đủ cho hai bữa không. Trời hôm nay mát uống rượu sẽ ngon lắm đây.

Bữa giỗ năm nay bà cả Hương làm thật linh đình. Ngay từ sáng hôm qua đứa con dâu đã đạp xe lên tận chợ huyện để mua thịt lợn và đậu phụ. Chợ làng thường chỉ có lợn nhỏ và bệnh nên người ta mới giết. Tuy vậy bà cũng gióng giả với làng nước rằng sẽ mua vét cho hết nếu ai ra sau 8 giờ sáng.Ông bí thư xã nghe thấy vậy ngứa tai lắm, nhất là khi vợ rỉa rói đay nghiến làm sao ông lại để yên chuyện hủ lậu giỗ gả nầy trong địa hạt cai quản của mình, định bụng sẽ triệu tập dân làng họp về nếp sống văn minh, lành mạnh và tiết kiệm vào ngay tối hôm trước ngày giỗ để ngăn chặn.Nhưng bà cả Hương thật khéo lo xa, khi cái công văn mời họp còn thảo dở để trên bàn thì bà đã xởi lởi chui vào cổng nhà ông, tay xách cái thủ lợn được bọc kín trong mấy lớp lá chuối. Chị vợ hít mùi máu lợn liền nháy mắt cho chồng. Ông hiểu ý nên lỉnh qua bên Văn hóa thông tin xã cho các bà tiện nói chuyện.

Không khí giỗ chạp rạo rực đến từng nhà. Các lão ông lo lắng không biết bà quả phụ ông cố chủ nhiệm hợp tác xã mua rượu ở đâu. Rượu của làng này nấu thì tệ lắm, chua loen loét mà uống mãi vẫn chưa ngọt được cuống họng. Đám trẻ con băn khoăn về chỗ ngồi của chúng. Năm ngoái cô con dâu trưởng của bà Hương đã lùa tất cả xuống bếp, mà mâm trẻ con thì thiếu đủ các món nên chúng vừa ăn vừa tranh thủ nhét xôi nhét thịt vào túi áo.

Lát nữa khi những đứa dại khờ còn đang thòm thèm đứng mút tay nhìn lén qua khe cửa xem người lớn uống rượu thì chúng thong thả kéo nhau ra đình, vừa đi vừa nhấm nháp chỗ xôi thịt vừa thủ được.

– Nhớ mời bằng được bác Đặng con nhé. Tội nghiệp cái ông nhạc sĩ lỡ thời, cho ông ấy một hai cút rượu vào là chuyện trò rôm rả, nổi đình nổi đám. Thật bốn thằng mõ ngày xưa pha trò không bằng một mình bác ấy. Cái chân giò u cất trong khạp gạo lát nữa nhớ gói về cho bác. Cấm quân bay không được phạm vào!

Cô con gái phàn nàn rằng vụ cà chua, khoai tây năm nay chưa chắc được mùa, u làm giỗ tốn kém quá, khéo không kéo lại được.

Bà Hương cười mát giảng giải cho con gái:

– Quân bay nông cạn lắm; một vốn bốn lời, tao làm bữa giỗ nầy đấm mõm cả làng, đến kỳ đại hội xã viên tới chúng nó sẽ dồn phiếu cho anh cả mày vào chức chủ nhiệm hợp tác xã. Nhìn đấy, cơ nghiệp nhà nầy tạo nên chỉ trong ba năm thầy mày làm chủ nhiệm đó thôi.

Tuy được u giải thích như vậy, song đám đàn bà trong nhà vẫn thông mưu với nhau cùng giấu bớt rượu thịt.

– Rước cụ xơi rượu…

– Vâng bác cứ để mặc em… hình như mâm ta còn thiếu món giò bò?

Ông Mưu “lác” buông đũa nhỏm người nhìn qua bên cạnh, nơi các ông bí thư, chủ tịch, công an xã đã bắt đầu từ trước đó nửa giờ.

– Giò bò chỉ cho các chức sắc thôi, cánh ta xơi tạm giò thủ vậy. Kìa, còn có cả ông Huyện đội nữa nầy… Thằng con trai út bà Hương đợt nghĩa vụ quân sự nầy được hoãn… hèn gì mà có giò bò…

Nhưng rồi thì đám mâm thấp vế cũng cho qua đi cơn ganh tị. Đĩa thịt lợn luộc ngộn mỡ, đĩa cá trôi rán nguyên con đang mở mắt nhìn chòng chọc thế kia thì bố ai mà lo nghĩ chuyện xa xôi cho được.

Khi tiệc rượu vừa lên đến cao trào, tiếng mời rượu, tiếng gọi món ăn và tăng tẳng đâu đây tiếng đàn miệng đang đi dạo cho khúc quan họ thì cô con gái bà Hương tay bưng bát canh miến nóng hỏi vọng từ ngoài sân, lướt qua mấy chục cài đầu người đang nhấp nhô lượn sóng:

– Có ai là ông Đặng Đình Hưng ở đây không? Ra có người cần gặp.

– Hưng nào. Đặng Đình Hưng nào? Làng nầy làm gì có ai tên Đặng Đình Hưng?

Có tiếng người thắc mắc hỏi lại:

– Đặng Đình Hưng phải không? Đúng rồi, cái nhà bác nhạc sĩ Đặng ở ven đê đó.

Ông công an xã xác nhận lại.

– Mà ai cần gặp? Ông hỏi tới.

– Cháu không rõ, họ đi xe Volga từ Hà Nội về đang đỗ chờ ngoài đình làng đấy.

– Xe Volga hả? Thôi thế thì đúng rồi, thằng cháu trai tôi đang làm lái xe cho ông Bộ trưởng nên đánh xe về làng đấy.

Ông Tươi “ba toác” đặt mạnh chén rượu xuống, ẵm vội cái tin đáng hãnh diện đó vào lòng.

– Ai! Ai? Cái thằng Toan lại rước “các ông” về đấy à? Thôi chết tôi rồi, nhà còn mỗi con gà mái đẻ, thịt nốt thì lấy ai mà ấp trứng…?

Bà vợ ông Tươi đang vừa cho con bú vừa vê nắm xôi thất thanh hỏi: Xe Volga màu gì?

Ông bí thư xã cài vội cái khuy áo ngực,vuốt lại mái tóc, cắt ngang lời bà:

– Có phải xe màu đen không?

– Vâng, xe màu đen ông ạ.

Cô con gái bà Hương xác nhận lại.

– Bỏ mẹ rồi, ông bí thư tỉnh uỷ chứ không phải ai đâu… mà có đúng xe màu đen không hay mày nhầm với màu xanh đậm?

– Cháu nhìn phớt qua nên không chắc lắm.

– Đám thanh niên đâu rồi?

– Chi đoàn xã sáng nay đi hội diễn văn nghệ trên huyện chiều mới về.

Có ai đó nhanh nhảu báo cáo.

– Gọi ngay cho tôi đám dân quân!

– Chúng nó còn đang uống rượu.

– Rượu với chè cái gì, bố chúng nó về thăm mà chúng nó còn rung đùi ngồi uống à? Nổi kẻng báo động chiến đấu cấp một lên cho tao!

Đám trai làng lầm bầm chửi, song vẫn lốc nhốc đứng dậy.

– Chia làm hai cánh, một xuống ao hợp tác xã đánh mươi cân cá. Chỉ lấy cá chép trên một ký thôi nghe không. Cánh còn lại vào “vườn cây nhớ ơn Bác” hái hai xọt cam về đây. Mẹ tiên sư, về mà không báo trước hai ba hôm cho người ta kịp chuẩn bị.

– Ao hợp tác xã tát hết vào tuần trước rồi, chả còn gì đâu mà bắt.

Anh xã đội trưởng làu bàu.

– Xuống ao cá bác Hồ!

– Ao đó “bác” dặn chỉ để cho gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng.

– Ông bí thư tỉnh uỷ không đẻ ra cả cách mạng ấy à. Quân bay có muốn chết cả lũ không? Ông mà chết thì chúng mầy cũng chết!

Khi kẻng báo động vừa khua vang ngoài đầu xóm thì hai người khách lạ đã thập thò trước sân.

– Chúng tôi muốn gặp ông Đặng Đình Hưng…

– À, ra thế là các ông; các ông muốn gặp ông Đặng? Các ông là ai? Gặp có việc gì?

Ông công an xã đưa mắt nhìn ông bí thư thở phào rồi xoi mói nhìn khách.

– Chúng tôi ở trên Bộ Văn Hoá về gặp ông ấy có chút việc riêng.

– Việc riêng không thể nói ra đây được à?

– Tôi là Huy Du, bí thư đảng đoàn Hội nhạc sĩ, yêu cầu ông mời hộ ông Hưng ra cho chúng tôi nói chuyện!

– Dạ… dạ, bác Hưng ngồi ở góc kia…, đó ông có nhìn thấy không? Thôi để tôi vào gọi hộ cho.

Vừa thoáng nghe đến cái tên Huy Du. ông Hưng đã xây xẩm mặt mày. Bao nhiêu rượu uống từ đầu bữa tới giờ toát hết hơi lạnh sau gáy. Nhè miếng giò đang nhai dở trong miệng vào bát, ông ngồi thừ ra lo nghĩ. Ông công an xã sốt ruột bèn xốc nách ông đứng dậy.Chân nam đá chân xiêu, quên cả xỏ guốc, ông lảo đảo vịn vai đám khách đang ngồi bệt dưới đất lần ra ngoài. Huy Du cái tên gợi lại cho ông những hình ảnh đấu tố của Bộ Văn hoá 20 năm về trước. Huy Du, bạn ông; Huy Du, người ngưỡng mộ ông; Huy Du đầu thú; Huy Du thủ trưởng; Huy Du, người phát động đấu tố Nhân Văn Giai Phẩm; Huy Du, cơn ác mộng của nửa đời ông… và bây giờ Huy Du lại về đây…

Ông còn lúng túng chưa biết xưng hô làm sao thì hắn ta đã ào tới ôm lấy vai, nụ cười gắn sẵn trên môi.

– Sao có khoẻ không Hưng? Bệnh tật vậy mà vẫn còn sức uống rượu à?

Ông cảm thấy nhột nhạt và lo sợ về cử chỉ thân mật bất ngờ nầy. Đã bao lần người ta êm ái, ân cần, nhân danh sự giúp đỡ khuyên vợ ông bỏ ông… và đẩy ông vào tù.

– Nghe tin cậu bị ung thư anh em rất lo. Hôm qua anh Trần Độ điện thoại hỏi thăm và yêu cầu mình về đón cậu đi nhà thương. Anh ấy nhường cả chiếc xe Volga thường ngày đi làm để cho cậu đấy.

Chúng nó vẫn để ý theo dõi mình? Vẫn chưa buông tha… sao chúng nó biết mình ung thư?

– Đời sống dễ chịu không? Chắc cũng khó khăn nhiều phải không? Nhưng giờ thì khá rồi! Cậu biết không, tay đại sứ của mình từ Ba Lan vừa điện về nhà xin ý kiến nên chuyển 30.000 đô-la tiền thưởng vào Ban tiếp nhận viện trợ trung ương hay chuyển vào ngân quỹ của sứ quán. Tụi mình chạy vội lên ông Phạm Văn Đồng xin giúp đỡ… Và thế là Thủ tướng ký lệnh trả lại cho thằng bé số tiền đó.

– Tiền gì? Thằng bé nào…?

– Thì thằng Sơn nhà cậu ấy. Cậu chưa biết chuyện gì xảy ra à? Thằng Sơn giật giải nhất thi Chopin ở Vác-sa-va ba ngày nay, báo chí đài phát thanh phát ầm lên mà cậu không hay sao?

– Tôi có cái đài cái đóm nào đâu mà biết… Sao? Nó đoạt giải nhất Chopin à?

– Ồ… ở đây sao người ta lại lười đọc báo, nghe đài quá! Các địa phương chả bao giờ nắm vững tình hình được…

Ông đã bắt đầu yên tâm với chiều hướng của câu chuyện, nhưng lòng vẫn còn bán tín bán nghi.

– Được ba ngày rồi à? Thế lúc nầy cháu nó ở đâu?

– Hiện cháu đã về lại Nga rồi. Nửa tháng nữa sẽ nghỉ phép về thăm nhà.

– Về Hà Nội à?

– Ừ, về Hà Nội. Sao? Cậu thấy trong người thế nào? Phải thu xếp lên ngay Hà Nội ngay bây giờ, tớ đã liên hệ với bệnh viện K, họ hứa sẽ thu xếp ngay cho cậu một chỗ nằm.

– Chả hy vọng gì đâu, xin cứ để tôi được yên ở đây. Cái bệnh nầy giỏi lắm cũng chỉ năm sáu tháng nữa là cùng, mà đừng có đụng dao kéo gì tới thì mới được…

– Cậu bệnh nầy lâu chưa?

– Nửa năm nay rồi…

– Bậy thật, thế mà chúng tớ có biết gì đâu, mãi đến hôm kia Thủ tướng điện hỏi thăm xem thằng Sơn là ai, cha mẹ nó làm gì v.v… tụi mình mới hay.

Họ sánh vai nhau đi trên đường làng. Huy Du ôm riết lấy vai ông bạn cũ, thỉnh thoảng lại ghé tai nói nhỏ điều gì rồi cười lên rinh rích. Những lúc đó, ông Hưng dừng lại, chờ cơn cười của Huy Du qua đi, hai bàn chân đi đất gãi gãi vào nhau cho đỡ ngứa rồi đi tiếp.

– Đi đây, rẽ đây… đường làng chật quá, tớ phải cho lái xe đỗ tuốt ngoài đầu đình… cậu đi đâu vậy? Tớ nhận được chỉ thị của anh Trần Độ là phải đưa cậu lên Hà Nội ngay lập tức!

– Cho tôi về nhà cái đã… còn nửa cút rượu uống dở giắt trong vách nhà… mà tôi bỏ quên đôi guốc ở đâu rồi?

– Lấy rượu thôi nhé… đồ đạc không cần, lên Hà Nội lấy quần áo của tớ mặc cho nó tươm tất một chút…

***

Gió Thu lờ lững vờn quanh dẫy nhà hai tầng quét vôi mầu vàng. Hàng sấu già mọc giăng hàng trước cửa đài phát thanh sướng run lên vì được vuốt ve.

Mở toang cửa sổ của văn phòng điều trị, ông Hưng vươn cổ uống lấy từng cơn gió. Bữa cơm chiều ba món nấu đơn giản nhưng đầy chất lượng của bệnh viện dành cho những con người tuyệt đường sinh lộ đang óc ách trăn trở trong bụng ông. Ăn uống kham khổ lâu ngày đã quen bỗng dưng từng khối thịt cá như đạn trái phá nã thẳng vào dạ dầy đâm ra hỏng bét hết cả. May mà ông nghe lời bác sĩ không ăn thêm món thịt ngỗng quay không biết của ai mua ở phố Hàng Buồm gửi vào. Quà cáp thật nhiều, của người quen có, của những cái tên lạ hoắc cũng có.

Sau cái trò Phạm Tuân lên vũ trụ, giờ lại tới tin con trai ông trở thành đệ nhất dương cầm thế giới đang gây dư luận sôi nổi trong cả nước. Quán rượu, quán cà phê, nước trà, đang khi chen chúc nhau trên xe buýt, người ta kháo nhau về cái tin bất ngờ đó. Nhiều gã thanh niên sau khi thêm thắt một vài chi tiết chung quanh cuộc thi rồi xuống giọng trầm buồn kể về cuộc đời gian truân đầy éo le của bố nó 

– Tôi vẫn thường uống rượu với ông Đặng Đình Hưng mà! – Một chi tiết đáng giá bảo đảm cho sự quen biết đối với bậc danh nhân. Ngay cả đến ông hàng xóm thật, hồi mà thiên tài của thằng Sơn còn mong manh trong vỏ trứng, đã một ngày hai bận sang đấm cửa nhà nó yêu cầu câm ngay cái âm thanh không thích hợp với rau muống, chuyện đấu đá ở cơ quan, để cho ông được yên tĩnh, cũng ngậm ngùi oán trách sự ngược đãi của chế độ đối với nhân tài.

Thôi cũng chả sao; bất mãn đang là cái mốt của người Hà Nội mà. Giới văn nghệ sĩ thì sung sướng ra mặt. Gặp nhau ngoài đường anh nào anh nấy mặt mũi tưng tửng làm như mình là người đoạt giải vậy. Xưa nay vốn bị coi khinh bạc, bị coi như một thứ xướng ca, mõ làng cho đảng giờ cũng đẻ ra được một cái gì, y như nàng thứ phi bỗng dưng sinh hạ cho chúa thượng một đấng con trai bèn lên mặt với đám thê thiếp. Cái đất nước quá nghèo nầy suốt đời ngửa cổ chờ đón tin trúng số độc đắc và những phen có dầu… hụt của tổng cục dầu khí, giờ đang nở mặt nở mày với thế giới.

Nhưng “Trung Ương” thì không được hài lòng lắm. Thật là một cú bất ngờ, xưa nay đã trót kìm kẹp đè nén khiến bao tài năng bị sinh non đẻ bậy, giờ lại phải ngậm đắng nuốt cay ẵm ngửa một cuộc đời đã thoát khỏi quỹ đạo của đảng bay ra ngoài giao du với thế giới. Việc nhọc lòng đầu tiên là ông Phạm Hùng buộc phải ký lệnh hết hiệu lực cái án phát vãng lưu vong cho ông bố thằng Sơn. Thứ đến là Sở quản lý nhà đất phải lo cho ông cái buồng để ở. Rồi đây, khi quan trên trông xuống, người ta trông vào, gia đình nó cũng phải có một chỗ trú thân cho tươm tất. Giới lãnh đạo văn nghệ lại phải lựa lời để thay đổi cách xưng hô. 

“Tên đồ tể Đặng Đình Hưng” (?) không hiểu ông nhạc sĩ Huy Du, bí thư đảng đoàn Hội Nhạc Sĩ lấy đâu ra lòng căm giận để nguyền rủa người bạn thân, kẻ đã can tội nhỏ nước mắt cho những oan hồn cải cách ruộng đất mà khi đó chính ông ta cũng là thành viên của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Và cũng chính ông Huy Du nầy, khi thằng Sơn đã học hết những cái gì có được của trường nhạc Việt Nam bèn lên giọng lập trường quan điểm đe bác bỏ đề nghị gửi nó đi Nga học. May mà có dịp ông Na-ta-xon, giáo sư dương cầm Nga, ghé Hà Nội, giữa rừng âm thanh bát nháo, ông đã lọc ra tiếng đàn thằng Sơn. Nhưng ba năm liền Hà Nội vẫn lì ra với lời yêu cầu gửi thẳng nó qua cho ông dạy. Đến độ ông nổi cáu, sát hạch lại trình độ tất cả học sinh được gửi sang, đuổi về một mớ và dọa sẽ đuổi tất cả nếu không cho thằng Sơn đi. Bị dồn vào bước đường cùng nên anh đội cẩm Huy Du đành duyệt cho qua lý lịch của nó.

“… Con bị ốm nặng bố ạ, có lẽ vì hành trình đi Vac-sa-va quá dài mà con đi bằng xe lửa. Sứ quán bác đơn xin tiền lộ phí của con để đi thi, họ cũng khước từ bảo hộ cho danh xưng của con trong cuộc thi. Nhưng con quyết định liều và giáo sư Na-ta-xon một lần nữa lại giúp con, ông ấy cho con tiền đi đường, tiền thuê dàn nhạc đệm và tiền trọ… 

Trong cơn sốt 39.5 độ, con đã chảy nước mắt ròng: Các nước tham dự cuộc thi đều được chào cờ và cử quốc ca của mình, mà Việt Nam thì không có – Con tham dự với tư cách thí sinh tự do… Nhưng cũng nhờ sự cay đắng đó mà con gặp đươc Chopin – Những nỗi đau giao thoa với nhau đã bật lên tiếng đàn của hồn ông…”

Ông hiểu con ông như hiểu chính mình. Nó vẫn cô đơn và đầy dũng cảm như cha nó. Nhưng ngôi sao bản mệnh của nó vững hơn nên đi hết được con đường ông đã dắt nó vào và bỏ dở. Buông rơi lá thư tay nóng hổi của con trai gửi về, ông liếc mắt xuống tờ báo Nhân Dân: 

“Công-cua Sô Phanh – Công-cua gốc mít.” 

Hàng tít lớn chạy dài cắt ngang tờ báo – “…Đặng Thái Sơn, tiếng đàn vọng lên từ những căn hầm trú ẩn. Tiếng đàn bay cao hơn tiếng bom Mỹ nổ. Tiếng đàn vọng lên từ dưới những gốc mít của các trại sơ tán của trường nhạc Việt Nam. Đặng Thái Sơn, những nỗi đau của một dân tộc đấu tranh đòi độc lập…”. 

Cái thằng Thép Mới nầy “rỉ” quá rồi. Thi sĩ Tố Hữu vừa dồn hết cảm hứng cho Phạm Tuân vào vũ trụ nên chưa lấy lại được hơi sức. Cũng may! Ông nhớ lại hình ảnh của những đứa trẻ con đá bóng trên đường phố trong đêm khuya, từng bầy công an bịt chặt các ngã đường – như đánh trận – để đuổi bắt chúng. Những đứa trẻ ở trần mồ hôi trơn láng, khó bắt thì ngáng chân! Rồi mai đây khi những đứa bé gẫy răng, đổ máu đầu để nứt đất chui lên thành Thế Anh, Cao Cường v.v… (hai cầu thủ nổi tiếng) thì con mẹ mìn đó lại ẵm vội vào lòng. “Nhờ sự quan tâm vun trồng của đảng!”…

Ông thấy thương con ông, ông thương những đứa trẻ. Nó chỉ có một con đường, cắm đầu mà đi, đằng sau không có lối về. Khi đụng đến bức tường cuối đường thì úp mặt vào, đợi tiếng lên đạn…

Nhưng lần nầy thì đạn nổ ngược, nó đã nhảy bật qua khỏi bức tường bay thoát ra thế giới bên ngoài. Ông nhẩm đếm những xác người đã ngã gục dưới bức tường đó. Trần Dần, Phan Khôi… những Đoàn Phú Tứ lẩn thẩn suốt đời đi dép lệch, những Lê Đạt lầm lũi chui trong đêm như con cóc, người quen gặp không dám chào vì sợ liên luỵ, những thằng họa sĩ sau khi buộc lòng học nghề thợ mộc trong tù nhìn bàn tay phế thải cứng như thợ đóng cối của mình mà trào nước mắt… Còn biết bao nhiêu cuộc đời bị rút phép thông-công đẩy vào bóng tối như mình?

Ông nhớ lại những trại nuôi bò mà người ta đã lùa ông và bạn bè ông lên đó để “lấy lại tình thương, lập trường giai cấp từ những con vật!…”. Để Văn Cao bây giờ suốt ngày đi ngoài đường thơ thẩn như con bò. Còn Hoàng Cầm nữa, nó yêu từ gốc rạ toả hơi ấm sớm mai, ngơ ngẩn hỏi “lá diêu bông” ở đâu… chứng nào vẫn tật nấy, còn ngứa ngáy với thơ thì lại rũ xương trong tù mà thôi.

Khuôn mặt vợ ông từ từ hiện lên. Nàng vẫn sống mà ông như nhớ về người đã chết. Hơn chục năm rồi không gặp lại kể từ lần cuối ra toà li dị. Tất cả đã đổ vỡ, đổ vỡ từ nàng Thái Thị Liên đẹp mơ mộng, có tiếng đàn lãng mạn như tình yêu đối với ông. Người ta không thể chịu được bà trưởng hệ Piano lại là vợ của “thằng Nhân Văn Giai Phẩm.” Nàng cũng không thể chịu được con người ngày hôm qua còn là đấng tao nhân hào hoa phong nhã ngước mắt nhìn trời là nhạc ý tuôn theo mây, nay thành kẻ phẫn chí nát rượu. Con cái nàng không thể ngóc đầu lên được nếu ngày nào còn là con “thằng Nhân Văn Giai Phẩm…”. Và ông đành gạt nước mắt chia tay vợ ở tòa án rúc về xó quê hẻo lành đợi tuổi già đến khuân đi. Nghĩ đến, ông vẫn còn tủi giận. Ông vẫn còn yêu, hằng đêm ông vẫn còn nhớ. Nhưng trời đày làm sao để những con người xa thì nhớ thương mà lại gần thì thấy ghét. Một cơn ho xé phổi kéo giật ông xuống giường. Người nữ y tá trực vội xô cửa chạy vào.

– Ông lại uống rượu phải không?

– Không, tôi có uống nữa đâu, có lẽ tại lạnh, làm ơn đóng hộ cái cửa sổ.

Ông cố giơ tay chỉ ra phía sau mình.

– Ông tệ lắm, cấm thế nào vẫn lén uống. Ông Huy Du đã chỉ cho chúng tôi mánh khoé giấu rượu của ông mà vẫn không sao ngăn được.

Có tiếng lao xao trò chuyện ngoài hành lang.

– Tôi chỉ vào năm phút thôi, tôi là cháu họ của ông ấy mà…

Anh đó cố vật nài.

– Đã bảo không được là không được mà!

Tiếng đàn ông xẵng giọng đáp lại.

– … Tôi đã nói với các người rất nhiều lần rồi, người bệnh cần được tĩnh dưỡng. Yêu cầu 4 giờ rưỡi chiều mai trở lại!

Ông nhận ra giọng nói của nhạc sĩ Huy Du. 

– Cái thằng nầy thật lắm nghề, khi méo khi tròn, nó định làm bầu gánh hát cho cha con nhà nầy hay sao vậy? –. Cô y tá vừa khép cánh cửa lại là ông vùng dậy liền. Ngắm nghía bộ quần áo của Huy Du đưa, ông tắc lưỡi rồi trút bỏ bộ đồ bệnh nhân, mặc nó vào. Tụt người khỏi bệ cửa sổ, ông bò xuống đường. Khi chân vừa chấm đất thì chợt vang lên một hồi kẻng. Ông giật mình đứng sững người lại để định thần. À, hoá ra tiếng kẻng đổi gác của hỏa lò Hà Nội. Nháy mắt với chú công an đang bồng súng trợn mắt nhìn mình trong chấn song sắt, ông đi cứ như chạy đến quán rượu của Hoàng Cầm.

– Thằng Sơn nó về là mình có quyền xoá tên trong “sổ thiên tào” của ông bạn vàng rồi. Tiên sư nó, mỗi lần ghi nợ mình là nó xướng to lên cho vợ nghe thấy rồi lẳng lặng dúi thêm cho nửa lít mang về.

Thế Giang

( Nguồn: Trích từ CÂY ĐẮNG NỞ HOA trong tập truyện ngắn Thằng Người Có Đuôi; Nhà xuất bản Người Việt, 1987).

Image may contain: 2 people, people sitting
Văn Cao và Đặng Đình Hưng



Nguyễn Bính, nhà thơ của nhiều thời

Nguyễn Bính, nhà thơ của nhiều thời


08/08/2020

Tác giả: Bùi Mạnh Nhị

1. 

Từ khi xuất hiện trong phong trào Thơ mới cho đến nay, Nguyễn Bính đã và chắc chắn vẫn sẽ luôn thuộc các nhà thơ có lượng độc giả đông đảo nhất. “Người Việt Nam còn yêu thơ Nguyễn Bính mãi, càng văn minh hiện đại lại càng trân trọng” (Vũ Quần Phương)… Điều gì làm nên kỳ diệu ấy?

Có nhiều cách trả lời

Rằng, thơ Nguyễn Bính có “một điều quý vô ngần: hồn xưa của đất nước” (Hoài Thanh).

Rằng, “So với các nhà thơ lãng mạn trước đây, Nguyễn Bính đứng riêng một cõi” (Lê Đình Kỵ) v.v…

Xin nói thêm: Thơ Nguyễn Bính không bao giờ cũ. Nguyễn Bính là nhà thơ của nhiều thời. Vì ông luôn là khác biệt. Khác biệt một cách gần gũi. Gần gũi một cách khác biệt. Tầng sâu nhất của thơ Nguyễn Bính không chỉ là hồn dân tộc, mà còn là “giọng nói của toàn nhân loại thức dậy” qua giọng nói của một con người, một cá nhân. Nói cách khác, thơ Nguyễn Bính “dường như nói bằng hàng nghìn giọng, mê đắm và thuyết phục, nó nâng cái mô tả từ chỗ ngắn ngủi một lần và tạm thời lên chỗ tồn tại muôn đời”.

2. 

Nguyễn Bính luôn là như thế, trước hết, ngay từ cách nhà thơ đến với hiện đại.

Trong thời kỳ nảy sinh và phát triển của thơ mới (từ năm 1932 đến năm 1945), “Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỉ”. Bấy giờ, vấn đề đặt ra cho quá trình tiếp biến văn hóa với phương Tây, chủ yếu là với Pháp, không còn là sự lựa chọn giữa canh tân và thủ cựu, mà là đổi mới như thế nào, theo chiều hướng nào. Trong lúc Âu hóa  vừa là xu thế vừa là ưu thế của đổi mới theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu, với những nhà thơ rất tiêu biểu như  Xuân Diệu “mới nhất trong các nhà Thơ mới”, Hàn Mặc Tử “lạ nhất trong các nhà Thơ mới”, Chế Lan Viên “không thể lấy kích tấc thường mà hòng đo được” (Hoài Thanh), thì “người nhà quê Nguyễn Bính vẫn ngang nhiên sống như thường”, thơ Nguyễn Bính vẫn là “tiếng nói vui buồn của tâm hồn dân gian muôn thuở”. Thơ ông bổ sung một minh chứng rất sâu sắc và lý thú, thuyết phục về quy luật của mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết, văn hóa dân gian và văn hóa dân tộc. Trong mối quan hệ này, văn học dân gian, văn hóa dân gian luôn là nền tảng, cơ sở, là văn học “mẹ”, văn hóa “mẹ”. Trong thời kỳ của Thơ mới, chính văn học dân gian, văn hóa dân gian, đất quê, hồn quê, đã dẫn Nguyễn Bính đến với hiện đại một cách đầy thuyết phục… Cách Nguyễn Bính đến với hiện đại thêm một lần làm sáng tỏ luận đề triết học: “Truyền thống là người lính canh của tinh thần nhân loại… Không có tâm linh nằm ngoài truyền thống”.

Thơ Nguyễn Bính đặc rệt truyền thống, mà vẫn mới, vẫn riêng. Ông đã làm mới mê hồn thơ lục bát và thơ thất ngôn theo cách của ông. Nói về những nhà thơ tiêu biểu cho thơ lục bát, người ta sẽ, ngay lập tức, đi thẳng từ ca dao, Nguyễn Du đến Nguyễn Bính, như một mặc định. Đặc biệt, cùng với các nhà Thơ mới khác, Nguyễn Bính đã đưa cái tôi cá nhân, cũng là cái tôi của thời đại, cái tôi của nhân loại vào thơ, tự nhiên nhi nhiên, góp phần quan trọng đưa văn học Việt Nam “thực hiện một chuyển dịch quan trọng: vượt khỏi phạm vi khu vực để tiến vào thế giới”. Cái tôi ấy, vào những năm tháng đất nước dồn tất cả sức mạnh vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, tất nhiên sẽ không phù hợp. Nhưng khi cuộc sống trở lại trạng thái bình thường, nó lại tìm được những đồng vọng để hiểu thêm một thời và con người. “Thơ Nguyễn Bính thuộc trường hợp hiếm hoi…, bởi vì trong cuộc cọ xát cũ mới ấy, đã bộc lộ những sâu sắc trong tâm hồn không chỉ của một cá nhân, mà cả một dân tộc, không chỉ của một thời, mà, có lẽ, của nhiều thời…”. Cũng nhờ đó, Nguyễn Bính có các tập thơ hay (chẳng hạn, những tập thơ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945), những bài thơ hay (Lỡ bước sang ngang, Tương tư, Lòng mẹ, Chân quê, Cô hái mơ, Mưa xuân, Hoa cỏ may, Qua nhà,Thư cho thầy mẹ, Chờ nhau, v.v…) và hàng trăm câu thơ tuyệt bút như thể trời đất, quỷ thần cho…

3. 

Một trong những nguyên nhân chính để Nguyễn Bính là nhà thơ của nhiều thời là thơ ông thể hiện rất đặc sắc rất nhiều cổ mẫu kết tinh từ những mô thức tâm lý. Từ điển văn học giải thích: “Cổ mẫu là khái niệm dùng để chỉ những mẫu của các biểu tượng, các cấu trúc tinh thần bẩm sinh, trong tưởng tượng của con người, chứa đựng trong vô thức tập thể của cộng đồng nhân loại”. Nói cách khác, cổ mẫu là “những kinh nghiệm được lặp đi lặp lại nhiều lần của loài người”, “Kho báu của nhân loại nằm trong tính đa dạng sáng tạo, nhưng nguồn gốc của tính sáng tạo lại nằm trong  tính thống nhất sinh thành của nhân loại”. Người đọc văn học theo lý thuyết cổ mẫu thường dõi theo những biểu tượng, những motif lặp đi lặp lại nhiều lần, có ý nghĩa phổ quát trong các tác phẩm để thấy những ý nghĩa điển hình của nó trong văn hóa, văn chương nhân loại và dân tộc cũng như những ý nghĩa chuyển dịch, xung năng, tương tác của nó trong các tác phẩm, tác giả cụ thể.

Xin chỉ nói về một vài cổ mẫu.

Trước hết là cổ mẫu Hành trình, cụ thể thêm: cổ mẫu Đi và Lỡ bước.

Hành trình, theo cách nhìn của lý thuyết cổ mẫu, “là tìm kiếm, tìm chân lý, bất tử và phát hiện một trung tâm tinh thần”. Hành trình “trở thành dấu hiệu và biểu tượng của sự luôn luôn chối từ bản thân…, và cần kết luận rằng cuộc du hành duy nhất có giá trị là cuộc du hành của con người bên trong bản thân mình”. Nhân loại đã có bao nhiêu cuộc hành trình, đớn đau và vĩ đại: hành trình của Chúa, hành trình về đất Phật, hành trình về miền đất hứa, hành trình dời Ai Cập, hành trình của Don Quixote,vv… Nguyễn Bính đã đi đâu, về đâu? Trở lại với không khí xã hội thời Thơ mới, hành trình của Nguyễn Bính là hành trình của thi sỹ “giang hồ”, cô đơn, lỡ bước, khi dấu ấn cuối cùng “giấc mơ quan trạng”, “Ngựa bạch buông chùng áo Trạng Nguyên” (Xóm Ngự Viên) – lý tưởng của nho sỹ bình dân một thời, đã vĩnh viễn khép lại: “Khoa cử bỏ rồi, thôi hết Trạng”, “Lỡ duyên búi tóc củ hanh/ Trường thi Nam Định biến thành trường bay” (Con nhà nho cũ). Anh đi đấy, anh về đâu/ Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm. (Không đề).

Câu hỏi không lời đáp. Nhịp thơ cũng theo cánh buồm, nhỏ dần, rồi mất hút. Đến nhịp thơ cuối, không còn thấy màu nâu của cánh buồm. Nhịp thơ điệp mà không trùng. Đi mà không biết đi đâu! Về không biết về đâu. Như thân phận trên dòng sông cuộc đời mênh mang, hoang vắng: “Giang hồ ai biết đi đâu mà tìm” (Giang hồ). Dễ hiểu vì sao thơ Nguyễn Bính hay nhắc nhiều đến con đòbến đò, “chuyến đò thân thế”, và sân ga, con tàu: “Đò sang còn một chuyến này/ Khách sang còn một người đây hỡi đò!” (Người đi), “Đem thân đi với giang hồ/ Sân ga phẳng lặng, bến đò lênh đênh” (Quê tôi). Ấy là con đò quê, ga là ga xép. Cũng có khi là con sông trong tâm tưởng, chảy rất mạnh, rất mênh mang trong văn hóa phương Đông: sông Tương, sông Dịch. Thời gian chủ yếu là buổi chiều và trong đêm: “Càng chiều anh thấy con đường càng xa” (Định mệnh), “Tàu biết bây giờ chạy đến đâu/ Đêm sâu hoàn trả lại đêm sâu” (Chuyến tàu đêm). Con tàu, sân ga trong thơ Nguyễn Bính thật buồn…

Nguyễn Bính cũng là một bóng người giữa những bóng người đổ bóng xuống sân ga: “bóng lẻ”, “Hai bóng chung lưng thành một bóng”, “bóng liêu xiêu”, “bóng nhòa trong bóng tối”, “Một mình làm cả cuộc phân ly” (Những bóng người trên sân ga). Tường vàng, mái đỏ màu son/ Nhà ga lại chứa linh hồn nhà ga.

Cái “hiện đại” tường vàngngói đỏ bề ngoài của ga xép ai ngờ không dấu nổi linh hồn của cuộc đời, thân phận, chia lìa và nước mắt. Màu sắc ấy của tường, của ngói còn gợi cả những liên tưởng khác. Tường vàng, bề ngoài tưởng rực rỡ nhưng dường như đó cũng là màu của dáng hình, cuộc đời vàng vọt đang ngày càng phôi pha. Và màu đỏ như son của mái ngói, còn gợi ánh mắt đỏ hoe, trái tim đỏ máu trước những chia lìa buồn bã, tiễn đưa vô định, đã và dang diễn ra. Linh hồn nhà ga là linh hồn của những cuộc hành trình đi và đến, những cuộc chia ly không hẹn ngày gặp lại, hành trình và chia ly sâu thẳm ngay chính trong thân và phận mỗi con người. Nguyễn Bính chính là một hành trình cô đơn như vậy, một nhà ga cô đơn như vậy!

Chẳng ngẫu nhiên, “Lỡ bước sang ngang”, tên một bài thơ lại được đặt tên cho cả một tập thơ! Không chỉ người con gái “lỡ bước sang ngang”, mà chính Nguyễn Bính và cả thế hệ những người như ông “lỡ bước sang ngang” trong hành trình ấy, trên chuyến đò và sân sân ga ấy: Năm ấy sang sông lỡ chuyến đò/ Đò đầy sóng lớn nước sông to/ Mười hai bến nước xa lăng lắc/ Lầm tự ngày xưa, lỡ đến giờ.

Trong hành trình “dan díu nợ giang hồ”, “Tự mình đắp núi khơi sông/ Tự mình đày ải tấm lòng mình đi” (Đêm nay khơi tỏ tim đèn), “tâm hồn tôi”, cái tôi đang tự đi tìm mình của Nguyễn Bính đến với rất nhiều nơi. Địa danh thực là Lạng Sơn, Vinh, Huế, Sài Gòn, ga Kép, v.v… Địa danh thực mà ảo, ảo mà thực hoặc hoàn toàn ảo thì nhiều hơn rất nhiều: “Kinh thành”, “Xóm Ngự Viên”, “Mười hai bến nước”, “Mây Tần”, “Một nghìn cửa sổ”, “Lầu hoa”, “ Rừng Mơ”, “Rừng mai”, “Bến mơ”, “Vườn Tiên”, “Suối Thiên Thai”, v.v… Ông phân thân thành cặp đối lập: Tráng sĩ – Thi sĩ. Con người “Tráng sĩ” của ông, có lẽ, là “cái rớt”cuối cùng của kiểu nhà nho tài tử trong văn học Việt Nam trung đại. Con người ấy vẫn có cái chất hào hoa, kiêu bạc nhưng xuất hiện đã rất lu mờ và đầy cô đơn – cái cô đơn của tráng sĩ không còn hợp thời, không bao giờ có “lúc khải hoàn thân gió bụi” (Lá thư về Bắc). Sông lạnh thấy đâu người gọi gió,/ Trăng tà tìm mãi kẻ mài gươm. (Xuân vẫn tha hương). Đem theo cát bụi đường xa lại/ Tráng sĩ dừng chân khẽ thở dài. (Quán lạnh).

Con người “Thi sĩ” mới thực sự thể hiện “cái tôi”của Nguyễn Bính. Cũng như nhiều nhà thơ khác thời Thơ mới, Nguyễn Bính đến với Tình yêu, nhưng khác với nhiều nhà thơ khác, tiếng vọng của “vô thức tập thể”, của cổ mẫu luôn tự nhiên dệt thành những vần thơ. Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ đã cụ thể hóa được cuộc sống vô thức của toàn nhân loại trong nhiều bài thơ tình yêu. Ông lý tưởng hóa tình yêu trong những bồn chồn, nhớ thương, day dứt. Và, như Platon, nhà hiền triết vĩ đại của nhân loại, đã nói: “khi tình yêu được chuyển dịch từ một lý tưởng sang một con người bằng xương bằng thịt”, từ ý niệm vĩnh cửu đến con người cụ thể, thì thực tế này lại đưa tới sự “bất cân đối với những điều thiêng liêng”. Vì thế, thơ tình của Nguyễn Bình cũng là hành trình Đi – Lỡ bước.

Nguyễn Bính có những vần thơ tương tư nổi tiếng: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,/ Một người chín nhớ mười mong một người (Tương tư). Giếng thơi mưa ngập nước tràn/ Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều (Qua nhà). Cô hái mơ ơi! Cô gái ơi/ Chẳng trả lời nhau lấy một lời!/ Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng/ Rừng mơ hiu hắt, lá mơ rơi… (Cô hái mơ).

Ông vương quốc hóađịa đàng hóa tình yêu: “Ví chăng có một nước Tình Ái/ Em làm hoàng hậu, anh làm vua” (Ái khanh hành), “Với người trong giấc mơ tiên/ Của chàng thi sĩ quê trên mây hồng” (Mười hai bến nước), “Hồ tiên đâu phải hồ trần/ Em không thả cá mà thuần thả thơ” (Xây hồ bán nguyệt). Nỗi nhớ, sự chờ mong tình yêu trong thơ ông được dệt bằng bao cảm xúc, bao biểu tượng, đi thẳng vào trái tim người: Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ/ Em thử quay xem được mấy vòng?/ Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ/ Em thử lào xem được mấy thưng? (Nhớ).

Nguyễn Bính đi vào chính mình, nhờ đó đã nói được và nói rất hay, rất sâu những biện chứng tâm hồn, những qui luật tình cảm, cái điều của muôn thuở, muôn người: “Mẹ cha thì nhớ thương mình/ Mình đi thương nhớ người tình xa xôi” (Thư cho thầy mẹ), “Trời xanh còn khóc nữa là/ Nhớ nhà ít, nhớ người ta thì nhiều” (Gặp nhau). Sống trong tâm lý tình yêu, cảm nhận về thời gian, không gian trong thơ ông rất đặc biệt, theo cách dân gian nhưng vẫn là duy nhất của riêng ông, độc bản: “Láng giềng đã đỏ đèn đâu/ Chờ em ăn dập miếng trầu, em sang” (Chờ nhau), “Chờ mong như suốt đêm qua/ Chàng ơi! Một tháng là ba mươi ngày”, “Cách một ngày ngựa với ba ngày đò” (Thư cho chị), “Nhà em cách bốn quả đồi/ Cách ba ngọn suối, cách đôi cánh rừng” (Xa cách), “Thương như thế, nhớ làm sao/ Kinh thành biết có mưa rào đêm nay” (Thương nhớ Kinh thành).

Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính phần lớn là lỡ hẹn, ly biệt. Ông nhập thân, hóa thân thành cô gái trong “Mưa xuân”. Mưa ấy, từ những bông hoa bụi “phơi phới bay”, nhanh chóng chuyển thành “mưa nặng hạt”, những hạt mưa sầu tủi, tội nghiệp, bẽ bàng. Con đường đến với tình yêu tưởng gần, hóa ra là xa ngái: Mình em lầm lũi trên đường về/ Có ngắn gì đâu một dải đê/ Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt/ Lạnh lùng thêm tủi với đêm khuya.

Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính cũng rất nhiều nước mắt biệt ly. Nỗi cô đơn của ông đủ lớn để vũ trụ hóavô tận hóa những nỗi đau và cô đơn của con người: “Nước mắt là cơm bữa/ Hợp tan như bèo trôi” (Đề tặng ảnh), “Đêm nay hai đứa chung tình ấy/ Khóc ướt trần gian để biệt nhau” (Bạc tình)… Nhưng, đau khổ, cô đơn nhất của ông, có lẽ vẫn là hành trình vô vọng đi tìm cái tôi của mình: “Tôi tìm đâu thấy mảnh trời Thần Tiên”, “Nhưng đau lòng biết bao nhiêu/ Người tôi yêu chỉ biết yêu như người” (Đào Nguyên), “Thương tôi mình hiểu cho tôi nhé/ Mà chỉ mình tôi mới hiểu tôi” (Mười hai bến nước). “Cái tôi là không thể chia sẻ được”. Và thực ra, chính ông cũng không hiểu bản thân mình, vì thế ông luôn luôn đi tìm mình. Rõ ràng, thơ Nguyễn Bính là “cuộc du hành của con người bên trong bản thân mình”. Hành trình ấy không bao giờ tới đích…

Nguyễn Bính là nhân vật điển hình của cặp phạm trù gia đình – không gia đình thời Thơ mới. Đây cũng là cổ mẫu rất tiêu biểu của văn hóa và văn học nhân loại. Trong thơ Nguyễn Bính, mẫu đề Không gia đình luôn song hành với mẫu đề Đi – Lỡ bước. Với Nguyễn Bính, mổ côi mẹ từ ba tháng tuổi, “Mẹ hiền mất sớm, giời đầy làm thơ”, sự bùng nổ của cảm xúc Không gia đình càng nhức buốt: Con đi mười mấy năm trời,/ Một thân bé bỏng, nửa đời gió sương./ …/ Thầy ơi! Đừng bán vườn chè/ Mẹ ơi! Đừng chặt cây lê con trồng (Thư cho Thầy Mẹ).

Những câu thơ ấy như được viết bằng cô đơn, bằng nước mắt!

Yêu gia đình, nhưng Nguyễn Bính vẫn là, nói đúng hơn, vẫn phải là “con chim lìa đàn”: Lạy đôi mắt mẹ đừng buồn,/ Ngày mai con lại lên đường ra đi (Lại đi). Hỡi ôi! Những kẻ lên đường/ Đang tâm để cả cô đơn lại nhà (Chia tay).

Nguyễn Bính có gần mười bài thơ gửi chị Trúc, nhân vật có bóng dáng trong đời thật nhưng cũng là nhân vật văn học (Lỡ bước sang ngangMột chiều sayXây hồ bán nguyệtXây lại cuộc đờiXuân tha hươngXuân vẫn tha hươngXuân lại tha hươngKhăn hồngChị đã ghen). Phần vì chị Trúc đẹp, duyên dáng, gần gũi, phần nữa, và đây mới là căn nguyên chính, nhà thơ thấy từ đây hình bóng của người mẹ, của những người thân yêu, của điểm tựa tin cậy để gửi gắm, sẻ chia, tỏ bày những tâm sự, những nỗi niềm khó biết nói cùng ai: “Em đi non nước xa khơi quá/ Mỗi độ xuân về bao nhớ thương!” (Xuân vẫn tha hương), “Chiều ba mươi, hết năm rồi/ Nhà tôi, riêng một mình tôi vắng nhà” (Xuân về nhớ cố hương). Chính từ tầng sâu tâm thức của tiếng vọng Không gia đình, ông đã có những vần thơ tuyệt bút của thánh thần: Từ nay khi nhớ quê nhà/ Thấy mây Tần biết đó là thôn Vân (Anh về quê cũ).

Các nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Bính phần lớn cũng trong trạng thái tinh thần Không gia đình, cô đơn. Đó là cô sư nữ trẻ đẹp “Có cô sư nữ người mong mỏng/ Buông thõng dây gầu xuống giếng thơi” (Chiều quê); cụ sư già ép thân xác đến với cô tịch, vô thường: “Sư già quét lá sau chùa/ Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông” (Chùa vắng). Đó là tráng sĩ: “Đêm nay tráng sĩ không nơi trọ/ Nằm tạm qua đêm quán dọc đường” (Quán lạnh). Đặc biệt, điển hình cho số phận, tâm trạng Không gia đình chính là người phụ nữ trong Lỡ bước sang ngang: “Mười năm gối hận bên giường/ Mười năm nước mắt bữa thường thay canh”. Tiếng pháo, dây pháo đỏ trong ngày cưới của các cô gái luôn gắn với tiếng thở dài của cả người trong cuộc và người ngoài cuộc. Cả đến người mẹ cũng sống trong bồn chồn, khắc khoải lo âu với trạng thái Không gia đình của người con gái khi đứa con bước chân về nhà chồng. Người mẹ gượng cứng cỏi, chủ động bao nhiêu trước mặt con, thì lại yếu mềm bấy nhiêu ngay khi bàn chân con bước khỏi nhà mình. Những câu thơ dưới đây cũng chính là “Huyền thoại mẹ”: Đưa con ra đến cửa buồng thôi,/ Mẹ phải xa con khổ mấy mươi./ Con ạ! Đêm nay mình mẹ khóc,/ Đêm đêm, mình mẹ lại đưa thoi (Lòng mẹ).

Chỉ dẫn một vài cổ mẫu trong thơ Nguyễn Bính, đủ thấy thơ ông có những tầng sâu, ma lực thế nào! Thơ Nguyễn Bính luôn là độc đáo, của riêng ông nhưng cũng là tâm trạng phổ quát, tiếng lòng của nhiều cá nhân không hề quen biết. Thơ Nguyễn Bính là thơ của nhiều người, nhiều nhà, nhiều thời. Những cổ mẫu thức dậy, đan dệt độc đáo trong thơ ông đã góp phần làm cho thơ Nguyễn Bính không chỉ ở tầm dân tộc mà còn thuộc tầm nhân loại.

4.

Khi chấm giải cho tập thơ Tâm hồn tôi của Nguyễn Bính, nhà văn Thạch Lam thay mặt Hội đồng giám khảo “Giải thưởng văn chương Tự lực văn đoàn, năm 1937”, đã nhận xét: “Ông Nguyễn Bính sẽ trở nên một văn sĩ có tương lai”. Còn nhà phê bình Phạm Mạnh Phan, người đương thời Thơ mới, đánh giá: “Nguyễn Bính đích thực là thi sĩ, có những câu thơ tuyệt diệu”. Một số nhà thơ, nhà phê bình sau này nhận thấy thơ Nguyễn Bính có những dấu hiệu, đặc điểm của thiên tài. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đặt câu hỏi và tự ông đã trả lời: “Cho đến tận hôm nay, có nhà thơ lục bát nào mà nhân dân thuộc nhiều như Nguyễn Bính chưa?!”

Bấy nhiêu cảm nhận, đánh giá, càng cho thấy Nguyễn Bính đã và sẽ là nhà thơ của nhiều thời. 

Nguồn Văn nghệ số 32/2020




Cửa Ải Nam Quan qua các giai đoạn lịch sử

Cửa Ải Nam Quan qua các giai đoạn lịch sử

Từ xưa, khi còn nhỏ chúng ta thường nghe câu nói, nước Việt Nam ta “Từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau”. Lúc đó chỉ nghe tên thôi chứ chưa bao giờ biết hình ảnh cửa Ải Nam Quan nó ra sao và ở đâu? Ải Nam Quan chia đôi biên giới hai nước Việt – Tàu. Đường từ Lạng Sơn đi qua cửa Ải Nam Quan, theo bản đồ Pháp vẽ từ những năm 1885 khi quân Pháp đánh nhau với quân Cờ Đen. Từ Đồng Đăng đi về phiá biên giới Tàu, đến Ải Quan Nam là 4km như bảng chỉ đường tại Đồng Đăng. Sau 1885, Ải Nam Quan thay đổi theo những diễn biến của lịch sử.

Năm 1885, Thiếu tướng Pháp De Négrier đem quân đánh với quân cờ đen Lưu Vĩnh Phúc trong khu vực Lạng Sơn, ông đã cho phá tan cổng thành Ải Nam Quan. Như vậy cửa Ải Nam Quan này trước khi bị phá hủy, là do Tàu xây. Sau đó Ải được Pháp dựng lại, hình chụp năm 1896 cho thấy tại vùng đất biên giới, có hai cửa; gồm cửa Ải Nam Quan của Việt Nam và Trấn Nam Quan của Tàu. (1)

Theo hình, khu vực tại biên giới có hai Ải. Một của Việt Nam, cửa Ải Nam Quan (cửa Thành của người An Nam?) và sau Ải Nam Quan Việt Nam là Trấn Nam Quan của Tàu (Thành để trấn áp người An Nam?). Tàu kêu Trấn Nam Quan chắc là có ý miệt thị người An Nam.? Xem chúng ta là man di mọi rợ, cần phải trấn áp. Cửa Ải Nam Quan mới của Việt Nam do Pháp dựng lên; có mặt hình người vẽ trên cổng thành, Ải ngắn và đơn sơ, kéo dài qua hai bên sườn núi. Sau lưng cửa Ải Nam Quan là đường dẫn đến Trấn Nam Quan của Tàu, to lớn và xây dài qua bên nhiều dãy núi. Hiện nay cái gọi là “Hữu Nghị Quan” của Tàu, so với địa điểm vùng đất Ải Nam Quan của Việt Nam và Trấn Nam Quan của Tàu trước kia; thì không giống nhau.

Không biết chắc cửa Ải Nam Quan xây lúc nào nhưng từ thế kỷ 14, khi Nguyễn Trãi chia tay cha Nguyễn Phi Khanh, về phò Lê đuổi Minh thì đó là năm 1414. Sử ghi lại lúc Tàu bắt Nguyễn Phi Khanh và nhiều tù bình Việt giải về Tàu, có đi ngang qua cửa Ải Nam Quan. Nguyễn Trãi đã tiễn đưa cha mình, một đi không trở lại ngay thời điểm lịch sử đó. Khi Liễu Thăng đem quân qua Ải Nam Quan, quân nhà Lê đã dụ cho tướng Tàu đi sâu vào nước Nam. Tại Ải Chi Lăng, Lạng Sơn, Tướng Liễu Thăng đã bị quân Lê Lợi chém bay đầu. Đó là năm 1427, tức 13 năm sau khi Nguyễn Trãi nghe lời dặn của Cha mình tại Ải Nam Quan, về phò Lê Lợi mà phục hận, nợ nước thù nhà.  Vài năm sau đó, nhà Minh lại đem quân qua uy hiếp nước Việt. Mạc Đăng Dung đã trói mình, đi chân đất qua cửa Ải Nam Quan để xin hàng. Đem dâng nước Việt thành một Châu, một Quận hay một Trấn cho nhà Minh. Năm đó sử Việt ghi là 1541.

Cửa Ải Nam Quan đã có từ trước thế kỷ 14, cho đến thế kỷ 15, thời nhà Mạc và kéo dài đến thế kỷ 18. Suốt chiều dài lịch sử này không có nhiều sự kiện để ghi lại và thay đổi. Chỉ đến năm 1885 lúc quân Pháp đánh với quân Cờ Đen, cửa Ải Nam Quan mới bị phá hủy lần thứ nhất, và cho xây dựng lại sau đó. Hình chụp từ năm 1896 với kiến trúc đơn sơ, có hình vẽ trên cổng thành, từ những tấm bưu thiếp còn ghi lại.

Năm 1979, khi chiến tranh Trung-Việt xảy ra, Trung Cộng đã tàn phá nát Tỉnh Lạng Sơn; cửa Ải Nam Quan cũng chịu chung số phận. Từ đó, di tích lịch sử cửa Ải Nam Quan không còn nữa; và những vùng đất từng bị quân csTQ chiếm trong cuộc chiến này, coi như mất vào tay Tàu. Vì vậy đường biên giới mới đã bị Tàu lấn dài xuống phương Nam.

Trong cuộc chiến biên giới 1979. Việt Nam cho là “Trung Quốc đã huy động 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn), 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không.” Tạp chí Quân sự của Mỹ viết “Trung Quốc đưa 200 nghìn quân, 400 xe tăng và 1.500 khẩu pháo trong cuộc chiến Trung-Việt. Riêng tại Lạng Sơn, quân Giải phóng Trung Quốc đã lên tới 70 nghìn quân. Sư đoàn Sao Vàng của Việt Nam bị Trung Quốc bao vây. Trong vòng vài ngày quân Trung Quốc đã gần như xóa sổ Sư đoàn Sao Vàng và tàn phá Tỉnh Lạng Sơn thành bình địa.” (2)

Bản vẽ đường biên giới sau Hiệp Định Biên Giới của csVN, cho thấy khu vực thuộc Ải Nam Quan đã nằm sâu trong ranh phận của Tàu. Trong tài liệu do chính Bộ Ngoại Giao csVN công bố, tố cáo phía csTQ “đã ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách cửa Nam Quan 100 m trên đường quốc lộ để xóa vết tích đường biên giới lịch sử, rồi đặt cột ki-lô-mét 0 đường bộ sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100m, coi đó là vị trí đường quốc giới giữa hai nước ở khu vực này.” (3)

Trên thực tế, quân Trung Quốc chiếm đóng khoảng 60 km² lãnh thổ và một số nơi như khu vực quanh vùng đất Ải Nam Quan gần Lạng Sơn. Trung Quốc chiếm đóng các địa điểm không có giá trị quân sự nhưng có giá trị biểu tượng. Tại các nơi khác, Trung Quốc chiếm giữ các vị trí chiến lược quân sự làm bàn đạp, để từ đó có thể tiến đánh Việt Nam sau này. (4)

Cái gọi là Hữu Nghị Quan hiện nay cho thấy nó là kết quả cướp đất của Tàu sau cuộc chiến Trung-Việt 1979, và cũng là tội của csVN trước lịch sử; khi đã không bảo vệ được sự toàn vẹn của lãnh thổ Việt Nam.

Theo FB Đỗ T. Công

(1) On 23 February 1885 de Négrier advanced from Lang Son and defeated the demoralised Guangxi Army at Đồng Đăng, close to the Chinese border, driving the Chinese out of Tonkin altogether. De Négrier briefly crossed into Guangxi province and blew up the Gate of China, an elaborate ceremonial gate erected by the Chinese at Zhennan Pass to mark the border between China and Annam. (Picture source: Sur les frontieres du Tonkin)

(2) Peter Tsouras – Military History Magazine

(3) Tài liệu do Bộ ngoại giao csVN công bố ngày 15.3.1979

(4) Edward C. O’Dowd – Chinese Military Strategy in the Third Indochina War and Nayan Chanda – Brother Enemy

(5) Hình Giặc Cờ Đen và vũ khí bị Pháp tịch thu




HOẢ HOẠN CALI – Thơ & Hoạ

HOẢ HOẠN CALI – Thơ & Hoạ

Kết quả hình ảnh cho hình ãnh một đám cháy rừng ở mỹ

Cali hỏa hoạn đến tung hoành
Thời tiết bao ngày nắng nóng hanh
Lửa bốc phừng phừng mùi khét lẹt
Mây vần cuộn cuộn gió hôi tanh
Chim kêu thảm thiết bay cuồng loạn
Người rú bi thương chạy quýnh quanh
Khói tỏa mịt mù trùm cảnh vật
Khẩn cầu Thượng Đế cứu nàn nhanh..
.
Phương Hoa
Aug 21st 2020

Thơ Họa:

ÔI HỎA TAI

Cali Bà Hỏa lộng hoành hành
Nổi lửa nhân mùa tiết nắng hanh
Khói tỏa gió lùa bay tứ xứ
Thú tìm lối thoát chạy loanh quanh
Hãi rừng bão lửa thiêu mù mịt
Lánh nạn cửa nhà bỏ vắng tanh
Ngửa mặt khẩn Trời thương trút nước …
Tràn ùa cứu nạn được qua nhanh…

CAO BỒI GIÀ
21-08-2020

LỬA ” RAP ” KHẨN CẦU

Lửa đỏ tung ra những bức hoành
Ca Li rùng rợn dưới trời hanh
Ba trăm ngọn đuốc luồn hơi nóng
Một cõi thiên thu toả khí tanh
Cứ mỗi mùa khô nghe nứt nẻ
Lại thêm nước loạn ngó cuồng quanh
Tiếng kêu cầu khẩn bàn tay Chúa
Tưởng khúc van xin nhạc ” rap ” nhanh…
Hawthorne 21 – 8 – 2020

CAO MỴ NHÂN

HỎA HOẠN BẮC CALI

Hỏa hoạn Cali phá lộng hoành
Dân tình chịu nóng khí trời hanh
Nằm nhà sợ hãi nghe mùi khét
Đóng cửa lo buồn ngửi khói tanh
Đỏ rực trời giăng người di tản
Đen ngùm khói phủ vật rời quanh
Vườn nho cháy rụi rừng thiêu đốt
Cúi lạy ông trời cứu thoát nhanh

Minh Thuý Thành Nội
Tháng 8/21/2020

HỎA HOẠN CALI

Cali thần hỏa đến hành hoành
Giữa lúc trời khô ngập nắng hanh
Cây lá lửa tràn gieo tiếng thảm
Thú rừng thịt cháy bốc mùi tanh
Người lo lắng vội tìm nơi ổn
Lính cứu cấp liền áp sát quanh
Trong hiểm họa từ dân đến nước
Đồng lòng ứng phó thật là nhanh…

Lý Đức Quỳnh
22/8/2020




BỘ CHỮ VN 4.0 CỦA CÁC Ô.

KIỀU TRƯỜNG LÂM  & TRẦN TƯ BÌNH

Ở trong nước, sau khi Ô. Bùi Hiền đưa ra phương-thức cải-tiến chữ viết tiếng Việt vào năm 2017 (ref), thì vào đầu năm nay,  2020, có hai tác-giả Kiều Trường Lâm và Trần Tư Bình cũng đưa ra đề-nghị sử-dụng một số mẫu-tự thay cho các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, để viết chữ Việt không dấu cho gọn và nhanh hơn cách-thức được viết hiện nay.

Hai tác-giả này không nhận là mình cải-tiến chữ viết Tiếng Việt, mà chỉ kết-hợp sáng-kiến “Chữ Việt Nhanh” của Ô. Kiều Trường Lâm (ở Việt-Nam) với sáng-kiến “Ký Hiệu Dấu” của Ô. Trần Tư Bình (ở Úc) để đưa ra những cải tiến ở dạng viết tắt không dấu.

Ngày 25-3-2020, hai ông đã nhận được giấy chứng-nhận bản-quyền do Cục Bản Quyền thuộc Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch cấp; và tác-phẩm của hai ông được gọi là “Chữ VN song song 4.0”

Song song là tùy-ý dùng bên cạnh chữ viết hiện có, chứ không thay-thế cách viết hiện nay.

4.0 là “trong thời-đại công-nghệ 4.0”.

Theo “Chữ VN song song 4.0”, người dùng sử-dụng tất cả 26 mẫu-tự La-Tin.  Riêng về dấu thanh và dấu phụ cho chữ Quốc-Ngữ thì dùng 18 mẫu-tự [trong số 26 mẫu-tự ấy] để thay thế các dấu.

*

Nói chung, tôi không tán-đồng phương-cách đổi mới chữ viết của 2 Ô. Kiều Trường Lâm và Trần Tư Bình trong chương-trình “Chữ VN song song 4.0

Sau đây là vài thí-dụ (lý-do):

Chữ I thay cho Y:

Các Ô. Lâm và Bình chỉ viết ngắn gọn là “chữ I thay cho Y” nên người-đọc có thể hiểu lầm là “I” thay cho “Y” ở bất-cứ vị-trí và chức-năng nào trong chữ Việt.

Về điểm này, tác-giả Lê Xuân Nhuận đã đặc-biệt nói rõ là mẫu-tự “i/I” chỉ thay mẫu-tự “y/Y” ở vị-trí đứng cuối 5 (năm) phụ-âm h/H, k/K, l/L, m/M, và t/T mà thôi (thí-dụ: “hi-vọng” thay cho “hy-vọng”, “kỉ-luật” thay cho “kỷ-luật”, “lí-do” thay cho “lý-do”, “mĩ-thuật” thay cho “mỹ-thuật”, và “tỉ-lệ” thay cho “tỷ-lệ”.  (Ref)

Y thay cho UY:

Theo “Chữ VN song song 4.0”, nếu ta muốn viết “Tuy an-ninh quốc-gia là ưu-tiên…” thì ta phải viết “Ty an-ninh quốc-gia là ưu-tiên…”.  

Cũng thế: Uyên-bác trở thành yên-bác    uyên-ương trở thành yên-ương.

Các chữ “Tuy” và “Ty” có nghĩa khác nhau.  Đổi mới như thế tức là xóa-bỏ chữ “Tuy” trong ngôn-ngữ Việt-Nam (làm nghèo tiếng Việt).

Đồng-thời, các chữ “yên bác”, “yên ương” có thể bị đọc là “iên bác/giên bác”, “iên ương/giên ương”.

C thay K:

Khi ta muốn viết “kẻng”, “kiêng”, “kênh”, “kinh”, ta sẽ viết là “cẻng”, “ciêng”, “cênh”, “cinh”.

Hơn nữa, theo luật “G thay NG” và “H thay NH” ở phụ-âm cuối chữ thì ta phải viết “kẻng” thành “cẻg”, “kiêng” thành “ciêg”, “kênh” thành “cêh”, “kinh” thành “cih”.

Nhưng lại có luật “W thay NG, NGH” [không nói là phụ-âm đầu chữ hay phụ-âm cuối chữ] nên ta lại cũng phải viết “kẻng” thành “cẻw”, “kiêng” thành “ciêw”.

Tức là “kẻng” được viết thành 3 cách: “cẻng”, “cẻg”, “cẻw”!

kiêng” là “ciêng” hoặc “ciêg” hoặc “ciêw”!

v.v…

Viết thành 3 cách (1 chữ đổi mới thành ra 3 chữ khác nhau) thì làm sao mà “giản dị”, “nhanh chóng” và “thống nhất”?

K thay KH:

Khi ta muốn viết “khen ngợi”, “khi nào”, thì ta viết là “ken ngợi”, “ki nào”!

Vậy khi ý ta muốn nói “ken két”, “kỉ luật” mà ta viết đúng là “ken két”, “kỉ luật” thì, theo “Chữ VN song song 4.0”, ta phải đọc là “khen khét”, “khỉ luật”!

Các dấu:

Theo “Chữ VN song song 4.0” thì:

Đồng thời, có 18 ký hiệu dấu dùng để thay thế các dấu thanh và dấu phụ cho chữ quốc ngữ.

J=Dấu sắc,  L=Dấu huyền,  Z=Dấu hỏi,  S=Dấu ngã,  R=Dấu nặng.

Nhóm X, K, V, W, H thay thế 5 dấu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng +

dấu trăng ᨆ hay dấu móc ˀ cho các chữ ắ ằ ẳ ẵ ặ, ớ ờ ở ỡ ợ, ứ ừ ử ữ ự.

Nhóm B, D, Q, G, F thay thế 5 dấu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng +

dấu nón ^ cho chữ ấ ầ ẩ ẫ ậ, ế ề ể ễ ệ, ố ồ ổ ỗ ộ.

Nhóm O, Y, P, trong đó

chữ O thay thế dấu trăng ᨆ hoặc dấu móc ˀ cho chữ có thanh ngang như ă, ơ, ư;

chữ Y thay thế dấu nón ^ cho chữ có thanh ngang như â, ê, ô.

chữ P là ký hiệu chữ bỏ dấu thanh & dấu phụ, chỉ đặt P sau chữ không có dấu thanh và dấu phụ nào trong chữ có vần để không bị hiểu lầm qua chữ khác;

Đã có “J=Dấu sắc,  L=Dấu huyền,  Z=Dấu hỏi,  S=Dấu ngã,  R=Dấu nặng” mà lại còn chia ra làm 3 Nhóm, thì làm sao mà nhớ cho hết cách-thức bỏ dấu.

Đây là bài thơ “Mưa Xuân” của Nguyễn Bính:

Theo luật “Chữ VN song song 4.0”, thì “L” là dấu huyền.  “Em là” viết thành “Em lal” là đúng.  Nhưng “bán” (Mẹ già chưa bán) mà viết là “banl” thì nó là “bàn” chứ không phải “bán”.

Đưa ra ví-dụ (đối-nội: để tỏ là mình viết đúng; đối-ngoại: để giúp người khác viết theo cho đúng) mà lại viết sai, thì làm sao mà thuyết-phục được ai?

*

Luôn tiện cũng xin ghi thêm là Ô. Kiều Trường Lâm đã lại đưa ra một sáng-kiến mới, gọi là “Chữ viết bảo mật thời 4.0”:

Ô. Lâm cho biết là loại chữ này do ông một mình tạo ra (không có Ô. Trần Tư Bình), sau cả chục năm nghiên-cứu và hoàn-thiên, và đang tiến-hành thủ-tục xin cấp bản-quyền — nhưng nghĩa của nó [“bảo mật”] là gì thì ông chưa vội tiết-lộ.

Bề mặt đã “lộ” là nó có phần dựa vào chữ viết của Đại-Hàn. 

LÊ XUÂN NHUẬN  

GHI THÊM:

Trong đề-nghị cải-mệnh chữ viết của mình, Lê Xuân Nhuận không hề (không bao giờ) chủ-trương dùng “I” thay “Y” ở bất-cứ vị-trí và chức-năng nào trong chữ Việt, mà chỉ thay-thế trong 5 (năm) trường-hợp mà thôi – là khi đứng sau các phụ-âm H, K, L, M, T mà thôi (thí-dụ: hi-vọng thay cho hy-vọng, kỉ-luật thay cho kỷ-luật, lí-do thay cho lý-do, mĩ-thuật thay cho mỹ-thuật, và tỉ-lệ thay cho tỷ-lệ).

Không có vấn-đề “thâm-thúy” trở thành “thâm-thúi”!

(Ref: Dùng I Thay Y)

Cảnh-Sát-Hóa

ReplyForward



Người vẽ bìa tờ nhạc trước 1975

Người vẽ bìa tờ nhạc trước 1975

 Họa sĩ DUY LIÊM  

Họa sĩ Duy Liêm – Người vẽ bìa tờ nhạc trước 1975

Trước năm 1975, các hình bìa tờ nhạc được trang trí bằng các hình vẽ hoặc hình người mẫu, ca sĩ, diễn viên nổi tiếng. Đối với các bìa nhạc là hình vẽ thì có hai người họa sĩ nổi tiếng nhất chuyên vẽ bìa nhạc là Kha Thùy Châu và Duy Liêm. Khán giả sẽ không bao giờ quên được những hình bìa ấn tượng của các bài hát Thương Về Miền Trung, Chuyến Đò Không Em, Đêm Tâm Sự… qua nét vẽ của họa sĩ Duy Liêm.Bài viết dưới đây của người con rễ của Duy Liêm viết về sự nghiệp của ông.***Thời niên thiếu, thú tiêu khiển cùa tôi là vẽ lại những hình bìa các bàn nhạc. Tôi say sưa sưu tầm những bản nhạc, không vì nhạc mà vì những bức họa bìa nhạc của Họa sĩ Duy Liêm.Rồi lên đường du học, duyên tiền định, người tôi yêu lại là trưởng nữ họa sĩ Duy Liêm, đó là Duy Nga, người đã cho tôi ba đứa con gái thông minh xinh đẹp. Nhờ Duy Nga, tôi có được một bộ sưu tập tranh lụa, tranh sơn mài, tranh sơn dầu, sơn khắc, kim nhũ, bìa nhạc, bìa sách khá phong phú cùa Họa sĩ Duy Liêm.Họa sĩ Duy Liêm, sinh năm 1914 tại Phan Thiết. Vào những năm cuối đời, ông sống ở Việt Nam, hai mắt bị mù, bị suyển kinh niên. Bình sinh ông ít thích ai viết về ông, mỗi lần có ký giả đến gặp là ông bỏ đi mất, ông vẫn đùa “hữu xạ tự nhiên hương, hà tất phải bôi bù xít”. Nhưng bây giờ thì ông không “thoát” được vì người viết là con rể trong nhà và có lẽ tôi là người có được nhiều nhất các tác phẩm của ông.

Họa sĩ Duy Liêm thời trai trẻ

Tôi muốn so sánh ông với Katsushika Hokusai, một họa sĩ trứ danh Nhật Bản đã ảnh hường đến đời sống mỹ thuật cùa người Nhật từ thế kỷ 19 đến nay. Với sự nghiệp sáng tác đồ sộ, họa sĩ Duy Liêm xứng đáng với sự so sánh ấy.Họa phẩm của ông đi vào đời sống người Việt hàng ngày. Ai cũng nhớ đến những màu sắc vui tươi, những đường cong, nét gẫy hình khối, từ tờ giấy bạc thời Việt Minh, đến áo dài bà Ngô Đình Nhu, bức tranh Nhạc Sầu đoạt giải nhất Đông Nam Á hiện còn trang hoàng nơi phòng khách vị Thủ tướng Mã Lai, đến bìa nhạc, bìa sách từ 1954 đến 1990, đến tranh sơn mài Thành Lễ, Lam Sơn, đồ gốm Biên Hòa, tranh thêu Thu Hà, thảm, đồ thủ công, bìa sơn mài, hộp sơn mài… và hàng trăm tấm tranh lụa, sơn dầu đã được bán ra ngoại quốc.Tranh Thành Lễ được sao đi sao lại hàng trăm, hàng nghìn bản mỗi mẫu từ mấy chục năm nay, tranh sơn mài Thành Lễ hiện diện trong mỗi gia đình Việt Nam từ trong nước ra đến hải ngoại nhưng ít ai biết đến tác giả các bức tranh ấy là Họa sĩ Duy Liêm.Thành Lễ và Duy Liêm cùng học trường Mỹ Thuật Trang Trí Gia Định. (Ecole d’Art decoratif de Gia Định). Thành Lễ ngừng học từ năm thứ hai, ra đời kinh doanh ngành sơn mài và Duy Liêm tốt nghiệp năm 1937 là họa sĩ chính của Thành Lễ từ đó. Tài kinh doanh của Thành Lễ và nghệ thuật của Duy Liêm đã đưa nghệ thuật sơn mài từ một tiểu công nghệ bản xứ qua những lần huy chương vàng Hội chợ Paris và các hội chợ Quốc Tế khác, thế giới đã biết dến sơn mài Việt Nam. Các tác phẩm của Duy Liêm đã tạo nên công ăn việc làm cho hàng ngàn người các ngành sơn mài, đồ gốm, thảm thêu và các nghệ nhân miền Nam vẫn kính trọng ông là bậc thầy của nền tiểu công nghệ Việt Nam.Duy Liêm và tranh sơn mài

Nhiều bức sơn mài đã trải qua “tam sao thất bản”, nhiều bức trải qua các tay thợ vụng về đã làm sai lạc rất nhiều so với bản chính. Các hãng sơn mài trong nước, cũng như các hãng Thành Lễ của Hoàng Đình Tuyên (con rể Thành Lễ) của Nguyễn Thành Vinh (con ruột Thành Lễ) đã sửa đổi thêm thắt làm sai lạc và mất vẻ thẩm mỹ rất nhiều so với bản chính. Đó là lý do sự sa sút của ngành sơn mài những năm gần đây.Những tác phẩm đắc ý nhất cùa ông là tranh lụa, tôi dược may mắn có những tác phẩm đắc ý của ông:

  • Giấc hè một thiếu phụ cho con bú ngủ quên trên võng trưa, con ngù, mẹ còn lộ bộ ngực trần.
  • Du Xuân hai thiếu nữ đi giữa vườn hoa xuân.
  • Suối tóc bộ tranh thiếu nữ ngồi chải tóc trên giường tre bên bụi chuối đong đưa ngoài vườn.
  • Hái sen thiếu nữ hái sen bờ ao.

Đề tài tranh ông rất phong phú đa dạng từ cảnh chài lưới Phan Thiết đến đền Angkor, vinh quy bái tổ, cảnh ghe thuyền trên sông, cung điện Huế và đề tài ông thường vẽ nhất có lẽ là thiếu nữ Việt Nam.Sơn dầu, ông vẽ nhiều nhất tranh lập thể và lõa thể.

Các nhạc sĩ miền Nam ngày trước, muốn nhạc phẩm mình ăn khách, theo lời khuyên nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam, Diên Hồng, Sống Mới… là phải cố cho được bìa của Duy Liêm vẽ, vì thế mỗi bản nhạc viết xong là các nhạc sĩ thường phải xách đàn dẫn ca sĩ đến hát cho Duy Liêm nghe để vẽ bìa. Nhạc hay, Duy Liêm có hứng sẽ vẽ bìa đẹp, còn nhạc dở thì dù có năn nỉ, đắt tiền gấp đôi, nhạc vẫn bù trớt. Vì thế, giới nhạc sĩ miền Nam, từ Hoàng Thi Thơ, Phạm Đình Chương, Lam Phương, Trúc Phương, Trần Thiện Thanh, Hoàng Trọng, Nguyễn Hữu Thiết… đều rất thân thiết với Duy Liêm và qua ông đã đưa lên danh vọng người cháu gái là ca sĩ Thanh Thúy.Những năm tháng cuối của cuộc đời, khi mắt Duy Liêm chưa mờ hằn mà còn lờ mờ thì các con vẽ theo ý ông và ông sửa chữa, sau đó thì các con của ông đã trở thành các họa sĩ. Duy Sĩ, họa sĩ một hãng phim hoạt họa ở Portland (Mỹ), đã từng dược giải thưởng lớn truyền hình Mỹ. Quốc Hoàng, họa sĩ chính các hãng sơn mài, thay thế ông. Họa sĩ Vẹt (Hồ Đắc Vũ) con rễ (Canada).Đây là lúc để tổng kết lại một đời sáng tác của một họa sĩ đa tài, đa tình, đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ về lượng cũng như về phẩm, để lại bao nhiêu mối tình và ba mươi người con từ trong nước ra đến ngoài nước. Đó là điều hiếm có đối với một họa sĩ một nước nghèo, nghệ thuật hội họa chưa được trân trọng như các nước tiên tiến.Tôi mơ ước mai sau sẽ xây dựng mộc viện bảo tàng hội họa Duy Liêm ở Phan Thiết, quê hương ông, hay ở Gò Vấp, nơi ông sống và sáng tác, để sưu tầm toàn bộ sự nghiệp cùa ông ước lượng 40,000 hay 50,000 tác phẩm, từ sơn mài, sơn dầu, tranh lụa, bình, hộp, thảm, sứ… những tác phấm đã nâng cao nghệ thuật sơn mài Việt Nam lên tầm quốc tế, một sự nghiệp đồ sộ – tôi nghĩ không kém gì các họa sĩ tiếng tăm trên thế giới.Họa sĩ Duy Liêm đã qua đời năm 1994, hưởng thọ 80 tuổi.Nhất UyênNguồn: Thế Kỷ 21 số 49, Tháng 5-1993
Một số hình bìa nhạc bài hát nổi tiếng qua nét vẽ của họa sĩ Duy Liêm:

inh

Le Tuan 




“Lên dốc sơn núi” – tập thơ

“Lên dốc sơn núi”

10/07/2020

Phạm Xuân Nguyên

Hôm nay tôi cùng bạn đọc tập thơ “Chút lời mênh mông” của nhà thơ Nguyễn Đức Sơn (1937 – 2020).

Ông sinh ở Ninh Thuận, quê gốc Thừa Thiên – Huế. Xuất hiện trên văn đàn miền Nam từ thập niên 1960 và nổi tiếng với bút danh Sao Trên Rừng, ông là một trong mấy gương mặt “kỳ dị” của văn chương Sài Gòn cùng với Bùi Giáng, Phạm Công Thiện. 

Ông thường sống ở núi nên có biệt danh Sơn Núi để phân biệt với Sơn Biển là biệt danh của nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn sống ở Phan Thiết (tác giả tập thơ “Chiến tranh Việt Nam và tôi” cũng nổi tiếng trước 1975). Sự nghiệp văn chương của ông đã xuất bản 8 tập thơ và 3 tập truyện ngắn từ 1965 đến 1973. 

Đọc
sách cùng bạn: "Lê dốc sơn núi" - Ảnh
1.

Tập “Chút lời mênh mông” là sự xuất hiện trở lại văn đàn của Nguyễn Đức Sơn sau gần nửa thế kỷ biệt tích gồm 110 bài thơ chưa in trong các tập trước của tác giả, được các con ông tập hợp lại. Các bài thơ ở đây có những bài tương đối mới, lại có những bài viết nửa thế kỷ trước, từ thời lao tù quân dịch của tác giả. Trong tập có lời tựa công phu của nhà sư Thích Không Hạnh, có bức vẽ và các thủ bút của tác giả, có các bức thư hoạ của nhà thư pháp Hồ Công Khanh. 

Nhà thơ còn kịp thấy tập thơ xuất bản đầu năm nay trước khi qua đời ngày 11/6/2020 sau nhiều năm sống ở vùng rừng núi Bảo Lộc (Lâm Đồng). Một năm trước, tại Mỹ, ở Nhà xuất bản Văn học, cũng đã ra một tập thơ Nguyễn Đức Sơn nhan đề “Thơ và Đá” bằng ba ngữ Việt – Anh – Nhật với lời tựa của thầy Tuệ Sỹ.

Nói tới thơ Nguyễn Đức Sơn, người ta hay bảo đó là thơ dâm tục. Nhưng trước khi nói chuyện đó, bạn hãy cứ đọc vào tập thơ này của ông để thấy ông rất đời. Chỉ lấy riêng những bài ông viết về con cái đã đủ thấy. Ông nhìn con tập lẫy thấy “Co chân tròn trịa như hòn đá lăn” nên dặn con “Muốn cho đời sống không cằn / Tập cho quen mất thăng bằng từ đây” (tr. 26). Ông dỗ con ăn chén bột gạo không có đường vàng nên phải cho muối vào và động viên con “Mặn thì dương tính phải cao / Mai kia cứng cáp con lao vào đời” (tr. 31). Rồi đến một hôm ông lại dỗ con nữa:

 “Hết đường cha trộn với trăng

Hình như sắc độ vàng bằng với nhau

Thôi thì con ráng ăn mau

Hôm nay lạt lẽo ngày sau ngọt ngào” (tr. 32)

Đi vào thơ Nguyễn Đức Sơn, trước hết hãy đọc những bài rất đời như thế đã. Giờ mà nói chuyện thơ ông dâm tục có khi còn bị mắng, bị phê, dù thơ ông đã lưu hành bao năm và nay đã được in như ở tập này. 

Nhưng cái cần nói thì cũng phải nói. Về chuyện dâm tục trong thơ Nguyễn Đức Sơn, có hai câu thơ của ông hay được dẫn ra để nói, nhưng cũng là hai câu được nhớ nhiều nhắc nhiều, và cả khen nhiều. Đó là hai câu ở bài “Vũng nước thánh” in trong tập “Đêm nguyệt động” (1967): “Ôi một đêm bụi cỏ dáng thu người / Em chưa đái mà hồn anh đã ướt“. Bảo nó tục vì nói chuyện tiểu đái ướt hồn thì là tục theo cái lẽ xưa nay coi là tục tĩu những chuyện bài tiết cơ thể. Nhưng bảo đó là một câu thơ cực hay về tình yêu xưa nay chưa ai viết thì nó thực là hay. Cái dâm tục trong thơ Nguyễn Đức Sơn là thế đấy. Và trước nay đã có nhiều người luận giải, phân tích cái tục đó để nói đó không phải tục. Cũng như đã có nhiều bài viết mổ xẻ thơ ông nói chung với rất nhiều lẽ cao siêu thâm thuý.

Cho nên tôi mới nói, bạn nếu chưa đọc thơ Nguyễn Đức Sơn bao giờ thì hãy cứ đi thẳng vào thơ ông, đến trực tiếp với câu chữ lời thơ của ông, cứ trực cảm với ông bằng cảm xúc chính mình, cứ uyên nguyên trần trụi, bỏ qua mọi sự luận giải lý tính. Hãy đọc thơ, và không cứ thơ, bằng mắt bằng hồn bằng tâm của mình, bằng cái không trong mình, chớ để ai đổ lấp bất cứ cái gì vào đó. Đọc bằng mình sau đó mới đọc bằng người. Đọc hồn nhiên nhi nhiên tự nhiên.

 Và đọc như thế thì bạn trước hết sẽ được thích khoái với thơ của ông Sơn Núi. Có ai ngộ được “Bát nhã” như ông thế này không:

Một sớm sương giăng mờ núi sông

Ghé thăm tình cũ cảm mênh mông

Cầu tiêu em ỉa quên chưa dội

Bãi cứt nhìn qua hiện đoá hồng” (tr. 88)

Bạn choáng, tôi chắc thế, khi chạm phải cái từ vẫn bị coi là dơ bẩn, và sẽ càng choáng hơn khi thấy từ nó hiện ra một đoá hồng của tình yêu. (Tôi nhớ ông Sơn Biển cũng có câu thơ với cái từ tục này “Ta vốn ghét đàn bà như ghét cứt / Nhưng vì sao ta lại yêu em“. Sau này khi được in lại, câu thơ đã bị biên tập sửa thành “Ta vốn ghét đàn bà như ghét đất” thế thì còn gì là ý vị của tình yêu!). Bạn choáng vì chưa bao giờ gặp một sự kết hợp lạ lùng đến thế của những từ ngữ, hình ảnh, cảm xúc ngỡ như không bao giờ kết hợp được. Ấy vậy nhà thơ mới gọi tên bài thơ là “Bát nhã” như trao bạn một chìa khoá thơ.

CHÚT LỜI MÊNH MÔNG

Tác giả: Nguyễn Đức Sơn

Thư viện Huệ Quang & Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2020

Số trang: 150

Bởi vì thiên nhiên vũ trụ là vô hình vô tướng:

Có bay cao chín tầng trời

Chỉ nghe thượng đế ngàn đời nín thinh

Có dòm sâu tận cửa mình

Cũng không thấy được cái hình thế gian” (tr. 54)

Giữa cõi vô đó hiện ra một Nguyễn Đức Sơn:

Bởi quen ăn nói lùng khùng

Trăm năm xã hội không dùng được ta

Một đời vô lượng thơ ca

Ngàn năm trời đất bao la thở dài” (tr. 59)

Bài thơ này mang tên “Trăm năm, Ngàn năm”. Con người sinh ra đời là bị giãy dụa trong cõi nhân gian phàm tục. Mấy ai biết “một điều phải hiểu cho sâu / trăm năm hai chữ vô cầu mà thôi” (tr. 34). Những hệ luỵ trần gian ai cũng phải trải. Nhưng có ai trải rồi lại được như Nguyễn Đức Sơn:

Sướng quá đời ta tuổi sắp già

Bao nhiêu học thuyết bước đều qua

Nay về dắt bóng chơi am vắng

Ấu trĩ vườn trăng một tiếng gà” (tr. 78)

Đó là sự vượt thoát cõi sống, siêu thoát nhân sinh của người thấu lẽ vô thường vũ trụ. Cái bãi cứt ở trên và trái ổi ở đây là cùng trong một quán tưởng của thi nhân. 

 “Trưa đứng một mình đợi ai lên

Đất trời đâu có dưới và trên

Đồi cao ổi sót rụng một trái

Dòi ăn một bên ta một bên” (tr. 77)

Và như thế với Nguyễn Đức Sơn cái gì cũng là thơ, bất luận là cái gì. Cho nên đọc thơ ông đừng bận tâm dâm tục xấu đẹp, đừng để cái trí biện biệt chi phối cái cảm thức toàn thể. Tôi đã nói đến cái thích khoái giật mình choáng váng của người lần đầu đọc thơ Nguyễn Đức Sơn. Vì mọi cái bình thường tầm thường dung tục vào thơ ông một cách tự nhiên bất ngờ mà cũng đơn sơ giản tiện như hàng ngày chúng vẫn có đó, trong ta và ngoài ta, ai cũng nhìn cũng biết nhưng không ai thơ chúng được như ông. 

Thơ ông rất trong đời và cũng rất ngoài đời. Ông cuốc đất và thấy đất cười “bốc hơi nức nở như người đang vui“, chừng đó đủ để ông gửi con trọn một niềm tin “dù cha cuốc phải trái mìn nổ tung” (tr. 30). Người đời nhìn núi chỉ là núi. Còn Nguyễn Đức Sơn bồng con ngắm núi “thấy trong bóng núi trùng trùng bóng ta” (tr. 66), ra suối nhìn hoa trôi chợt trong một sát na “thấy trong nước cuốn có tôi và người” (tr. 97). Ông đau đớn một kiếp người, cả trùng trùng kiếp người, khi “Đêm thăm bạn sắp đẻ ở Di Linh” (tr. 144), một bài thơ thật khủng khiếp Nguyễn Đức Sơn.

Có thể hình dung đường vào thơ Nguyễn Đức Sơn là đường dốc núi. Người đọc phải lên dốc ngược với những gì mình quen đọc, quen coi là thơ. Đường dốc nhiều gai góc trơn trượt nhưng mỗi bước lên là một bước mở cao sáng trời. Nhà thơ đã có bài thơ mang tên “Lên dốc sơn núi” hiểu tả thực thì như chỉ chỗ ông ở mà hiểu theo cách thơ thì là “bày đường” vào thơ ông:

 “Lên dốc

Sơn núi

Bên thơm

Bên thúi

Tỉnh thức

Khỏi cần

Đầu ngẩng

Đầu cúi” (tr. 146).

Và đây “Chút lời mênh mông” ông viết dịp sinh nhật tuổi 33 (1970), nửa thế kỷ sau đến với bạn đọc như lời di chúc của ông ở tuổi 83, giã từ một cuộc chơi trong cõi trời cõi người.

 “Một mai cha chết đừng chôn

Ngại chưa xuất kịp chút hồn thiết tha

Cái gì cha nói chưa ra

Biết đâu còn sót trong da máu này

Tuy nhiên đừng để lâu ngày

Đốt ngay lập tức là hay nhất đời

Con mang tro bụi xa vời

Gửi cho thiên địa chút lời mênh mông” (tr. 147)

Bạn đọc thơ Nguyễn Đức Sơn cách gì cũng sẽ gặp chút lời của ông gửi vào mênh mông đó. Từ đọc thơ theo cách đời đến đọc thơ theo cách triết, cách thiền, bạn sẽ dần leo được dốc Sơn Núi và gặp được một nhà thơ đã tự họa mình “Xem tôi chánh hậu thằng điên / Tim pha chút máu thánh hiền cho vui” (tr. 135). Và rồi những lời thơ khác lạ, “điên khùng” của ông sẽ giúp bạn thấm trải đời hơn trong tất cả những xấu xa tốt đẹp tục lụy của nó.

Hẹn bạn lần tới với một cuốn sách mới khác.

Đà Lạt, 9.7.2020

*****

Theo Internet