TRIỀU ĐÌNH ANNAM VÀ VUA DUY TÂN DƯỚI CON MẮT NHÀ VĂN SĨ HÀN LÂM EUGÈNE BRIEUX

Vào khoảng năm 1910, nhà văn sĩ có chân trong Hàn lâm Viện Văn chương Eugène Brieux [a] được cử đi du lịch phương Đông.

Sau cuộc hành trình ấy về, ông có cho xuất bản một quyển sách viết theo lối nhật ký, nhan đề là “Voyage en Indochine. ‒ Simples notes d’un touriste”, trong ấy ông đã mô tả một cách rõ rệt tình hình các xứ Viễn Đông, nhất là tình hình chính trị ở xứ Đông Dương ta.

Dưới đây là một đoạn văn ông nói về triều đình An Nam và vua Duy Tân, một đoạn mà chính ở báo này, ông Trần Thanh Mại đã có nhắc qua một lượt.

Nay xin trích dịch ra đây cho đầy đủ, gọi là cung cho độc giả một món tài liệu về sử học, việc mà Sông Hương vẫn theo đuổi lâu nay.

***

Chúa nhật 12 Novembre

Tôi đã thấy vị hoàng đế trẻ con ấy rồi. Ông Khâm sứ và tôi đã mang bộ lễ phục đen, về dịp ấy ‒ khi mười giờ mai! Tôi đã tự lấy làm hổ thẹn về tấn kịch khôi hài mà chính tôi, tôi cũng phải đóng trước cậu bé ngây thơ ấy.

Các quan Phụ chánh, như một đàn quạ, đến chào chúng tôi; tôi có cái cảm giác khó chịu trong khi nắm trong tay mình những bàn tay móng dài và cong, chỉ sợ gãy bể đi mất, nó bắt nghĩ đến những vuốt của thú vậy.

Họ đi trước chúng tôi, mời chúng tôi đi qua một cánh cửa nhỏ. Đây chúng tôi đã vào tới chỗ chính điện. Các vật đầu tiên mà tôi thấy, trong khi trong óc tôi còn mường tượng những tội ác ngày xưa đã xảy ra ở đây, các vật đầu tiên ấy là một thức chơi của trẻ con, một chiếc ô-tô mà thường người ta vặn máy lò xo cho chạy ấy. Thật là buồn cười quá đi mất! Một cánh cửa khác mở ra, rồi trước hàng đình thần ghê tởm, một anh chàng tí hon mặc toàn sắc vàng, đến trước chúng tôi, đạo mạo, nghiêm trang, bị chăn giữ, bị xô đẩy nữa, và đưa tay ra chào. Trông dạng cậu bé không tới sáu tuổi.

Ấy thế mà thương hại! Cậu lại có dáng điệu lắm đấy! Những cử chỉ cậu đã dùng để chỉ chỗ ngồi cho ông Khâm sứ và tôi, đầy những vẻ bệ vệ oai nghi. Nhưng thấy vậy, người ta chỉ có thể cảm động thương tâm mà thôi.

Những thị vệ ăn mặc lôi thôi mang thuốc xì gà và rượu sâm banh lại ‒ trong giờ nầy! ‒ Những kẻ dâng cái cúp bằng kim khí cho vua, đều quỳ xuống cả.

Câu chuyện bắt đầu trao đổi, nhờ một viên thông ngôn cúi gãy đôi người ra và nói nhỏ tiếng vì cung kính. Các quan đại thần thì chú mắt vào cậu bé và như ở đây, mà cũng còn nhắc cho cậu những câu vấn đáp họ đã soạn sẵn. Người ta có thể nói đó là những anh gõ đầu trẻ đứng trông học trò mình thi, cái cuộc thi nó sẽ định đoạt tương lai của họ.

Trong khi vua đang trao đổi những câu lễ phép lấy lệ với quan Khâm sứ, tôi cố nhìn. Vua vẫn có một bộ mặt thông minh, nhưng xét cho kỹ thì thấy có dáng lo lắng buồn rầu hơn là nghiêm trang. Vua tỏ ra bộ sợ không thuộc bài của mình; trông hai bàn tay chút xíu măn mo một chiếc khăn lụa thì biết vua đang bực tức lắm. Rồi trong khi những tiếng “Tâu Hoàng thượng” lặp đi lặp lại nhiều lần, văng vẳng đến tai tôi, tôi nhìn cái mũ nho nhỏ hất lên trời ấy, cái trán nho nhỏ ấy, rồi tôi chỉ muốn nói: “Thôi được rồi! Cậu trả lời được đúng cả rồi đấy. Bây giờ cho cậu đi chơi!”.

Nhưng vua đã xây lại tôi, và hỏi tôi đi tàu có bình an không, cái mục đích cuộc hành trình của tôi, v.v… Mỗi lần trước khi nói, vua nín lặng lâu như để cố nhớ lại đã. Nếu như không buồn thảm đến thế, thì tôi đã bật cười vì thấy cách mệt nhọc của vua trong khi gắng làm cho ra bộ thích nghe những câu trả lời của tôi.

Xong mấy câu thi lễ cần thiết, ông Khâm sứ xoay cuộc nói chuyện ra một chiều thân thiện hơn. Bây giờ thì vua bắt đầu nói tiếng Pháp, và nghe hiểu cũng kha khá. Vua chỉ muốn cười, và mỗi khi cười thì cái mũi nho nhỏ của ngài nhăn lại ở phía trên sống, như một đứa con nít nhỏ lắm ấy. À! Thật thế ư? Ra người chú ngài đi tàu bể lại say sóng kia! Thế thì chẳng buồn cười lắm nhỉ? Rồi một giọng cười trong trẻo đưa ra, làm cho không khí bấy giờ phải ngạc nhiên… Nhưng bây giờ ông chú ấy ở đâu rồi nhỉ? Ở thành Avignon, gần thành Avignon. (1)

Người ta còn cắt nghĩa cho vua rằng vì lòng tử tế mà chính phủ Pháp lựa xứ ấy cho chú ngài ở, vì khí hậu ở đấy cũng gần giống như ở An Nam. Vua lại cười nữa, và nói rằng mình sợ ngựa lắm.

Nhưng bỗng nhiên vua dừng nín bặt, e lệ và nhìn trộm năm ông quan im lặng mặc y phục thâm vẫn đứng nhìn vua cung kính lắm.

Chúng tôi ra về. Vẫn là cái bắt tay bệ vệ oai nghi như trước. Chúng tôi ra xa. Tôi đoái lui thì thấy cậu bé mặc áo vàng như muốn chạy theo nhưng mấy quan Thượng thư đã lôi lại.

Chúng tôi lại đi qua các cánh cửa ngày xưa ít khi nào mở, và để lại sau mình, tức là ở giữa cậu bé và sự tự do, những đền đài không mỹ thuật, ẩm thấp, vắng vẻ, những thành trì xây theo kiểu Vauban, với hào, với lũy, với tất cả cánh cửa làm ra để giam cầm vua lại hơn là để bảo hộ cho vua.

Thương hại cho cậu bé!

Cung điện của cậu giống như một viện bảo tàng nhân chủng, ở trong ấy người ta chăm nom mà cất kỹ cái mẩu cuối cùng và quý báu của một giống đã mất rồi.

Cậu bé ấy có tính đa cảm lạ thường, nóng nảy như tính cha. Người ta kể cho tôi rằng hễ bị rầy một tí là cậu đã đâm ra khóc nức nở.

Không phải là cậu không biết cái địa vị của cậu. Ngay bây giờ cậu đã có nhiều cơn giận dữ, còn là vô hiệu, khiến nhiều khi cậu trở lại đương đầu với các vị Thượng thư và nói với họ rằng: “Ta là vua”.

Vua cũng giữ thể diện của mình lắm. Có một viên thầy thuốc nhà binh mới qua, đã đến thăm vua nhiều lượt rồi mà khi nào cũng mặc áo quần trắng thường. Một hôm, vua bảo ông ta rằng:

‒ Như tuồng tôi chưa bao giờ thấy ông mặc lễ phục cả thì phải.

Viên thầy thuốc xin lỗi:

‒ Mặc âu phục thì phải cái nóng lắm.

Vua liền gắt:

‒ Thế thì ông sẽ chịu nóng vậy!

Vua lại còn có nhiều câu nói ngẳng và xấc nữa. Trong một cuộc đại lễ, một vị quan to tưởng phải đọc cho vua một tờ chúc từ cho thật dài, vua ngắt đi nửa chừng mà bảo:

‒ Ông không mệt à?

Tôi có hỏi người ta có ý đem vua sang Pháp khi nào không, thì họ trả lời:

‒ Có chứ! Nếu như có một cuộc đấu xảo, thì sẽ đem vua đi.

Thương hại cho cậu bé! [b]

EUGÈNE BRIEUX

Nguồn:

Sông Hương, Huế, s. 19 (5 Décembre 1936), tr. 1.

Chú thích

 (1) Ám chỉ đức ông Hoài Ân vương Bửu Yêm, hồi ấy qua du học bên Pháp.(nguyên chú của tòa soạn S.H.)

[a] Eugène Brieux (1858-1932) người Pháp, nhà viết kịch, nhà báo, nhà du lịch; cuốn du ký kể tên trong bài xuất bản năm 1910.

[b] Bài dịch không ghi tên dịch giả; vậy tác quyền thuộc tòa soạn, tức là do Phan Khôi dịch.

Theo Internet




Campuchia-Từ Hun Sen đến Hang Chuon Naron

Đỗ Ngà FB

Đất nước Campuchia là đất nước trải qua 2 giai đoạn cộng sản. Giai đoạn đầu là Cộng Sản Kmer Đỏ, quân này cho truy giết tầng lớp trí thức và chỉ giữ lại tầng lớp dân ngu dễ trị, trong đó có 80% giáo viên bị giết. Chính vì vậy nên trí tuệ dân tộc này gần như trở về số zero tròn trĩnh. Sau thời CS Kmer thì đến CS Heng Samrin, đâu là một chế độ bù nhìn do Việt Nam dựng lên và tất nhiên bên trong nó cũng rập khuôn Việt Nam. Cộng Sản nào cũng như nhau cả, cũng thực hiện chính sách ngu dân để trị. Có điều chính quyền CS Heng Samrin thì thực hiện chính sách giáo dục ngu dân còn chính quyền CS Kmer Đỏ thì giết trí thức.

Đến năm 1993 đất nước Campuchia chuyển sang thể chế Quân Chủ lập Hiến và Hun Sen- một cựu bộ trưởng ngoại giao trong chính quyền CS Heng Samrin được ngồi vào ghế đồng thủ tướng cùng với hoàng thân Norodom Ranariddh. Năm 1998 thì Hun Sen đảo chính lật Norodom Ranariddh và độc chiếm ghế thủ tướng cho đến nay. Nói cho cùng Hun sen cũng là CS, vì vậy mà sau thời CS Heng Samrin, Hun Sen cần phải có một thời gian đủ dài để ông ta gột rửa được tư duy CS đã thấm vào người ông ta. 

Và thực tế cho thấy Hun Sen chứng tỏ rằng ông ta đã thoát khỏi mớ lý thuyết giáo điều của CNCS và có cái nhìn chiến lược hơn. Trong các nước Đông Nam Á thì Singapore là quốc gia có mô hình phát triển dựa trên sự học hỏi Phương Tây trong việc tuyển chọn con người tài cho đất nước và thiết lập cơ chế minh bạch. Hun Sen đã nhìn sang Singapore và cho đến hôm nay, ông ta đã vứt bỏ toàn bộ những thứ cặn bã của CS trong người ông và hướng tới xây dựng mô hình giống Singapore.

Học Lý Quang Diệu trong công cuộc xây dựng quyền lực cho gia tộc, ông Hun Sen đã đầu tư cho con trai Hun Manet xuất ngoại và học tại Học Viện Quân Sự West Point danh tiếng của Hoa Kỳ và sau đó trở về tiếp quản dần quyền lực. Con đường ông chọn khá giống với cách mà Lý Quang Diệu đào tạo Lý Hiển Long. 

Năm 2013 ông Hun Sen đã mạnh dạn bổ nhiệm Hang Chuon Naron một nhà kinh tế tốt nghiệp đại học Lyon – Pháp làm bộ trưởng bộ giáo dục. Đây có thể nói là một bổ nhiệm thành công của ông Hun Sen khi ông ta nhìn thấy tài năng thực sự của ông này.

Đứng ở góc độ kinh tế, ông Hang Chuon Naron nhìn nhận rằng, không chỉ ở Campuchia, mà ở các nước phát triển cũng vậy luôn có những người có khả năng tiếp thu nền giáo dục tiến bộ và những người không khả năng. Những người có khả năng ấy nguồn chất xám tiềm năng rất lớn cho sự phát quốc gia, sẽ lãng phí rất lớn nếu đất nước  không thể khai thác nguồn chất xám này. Như vậy cải cách giáo dục là chính sách cốt lõi để cho những người có khả năng ấy có cơ hội tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến.

Khi tiếp quản nền giáo dục Campuchia, ông Hang Chuon Naron đã nhìn ra ngay cái tỷ lệ 80% đậu tốt nhiệp trung học là ảo. Vì ông ta thừa biết nền giáo dục của Campuchia trải qua 2 đời CS cai thị thì nội lực bên trong không còn gì cả. Và bước sang thời Quân Chủ lập Hiến thì đất nước này vẫn chưa có lần cải cách giáo dục triệt để nào để thay đổi. Vậy nên ông ta muốn lột bỏ cái tỷ lệ dối trá 80% ấy để xem chất lượng thực tế của nền giáo dục Campuchia là như thế nào?

Để lột được tỷ lệ 80% dối trá đó, việc đầu tiên là ông tăng lương giáo viên lên gấp đôi để giáo viên sống được vì lương, tiếp theo ra luật phạt nặng những giáo viên nào dính tiêu cực để cho họ biết sợ mà chùn bước, và cuối cùng ông áp dụng cơ chế minh bạch để đảm bảo rằng, ai đã làm dối thì không thể che đậy. Kết quả là tỷ lệ đậu tốt nghiệp từ 80% rớt xuống còn 26% vào năm sau. Đấy là một cuộc cải cách chấn động xã hội. Tuy nhiên với tỷ lệ đậu tốt nghiệp 26% là tỷ lệ thật, dựa vào đó ông ta và bộ máy giáo dục mới có định lượng mà ra chính sách.

Với chính sách hợp lý thì từ năm 2014 thì tỷ lệ đậu tốt nghiệp tăng dần qua hàng năm và hiện nay đã đạt  64% năm 2017, và 64% này là thỉ lệ thật. Khi tỷ lệ đậu tốt nghiệp tăng lên đến 80% thì xem như Hang Chuon Naron đã thay 80% đậu tốt nghiệp giả tạo thành 80% đậu tốt nghiệp thật, và đây là nền tảng để thay máu nguồn chất xám cho đất nước Campuchia trong tương lai. Song song đó, tỷ lệ học sinh bỏ học giữa các lớp 10 đến 12 giảm từ 23,8% năm 2015 xuống còn 19,4% năm 2016. Tất nhiên, với chính sách tăng gấp đôi lương và nhiều chương trình cải cách thì ngân sách giáo dục đã tăng lên từ dưới 10% chi tiêu quốc gia vào năm 2013 lên 18,3% vào năm 2016.

Cũng với con mắt của một chuyên gia kinh tế, ông Hang Chuon Naron cho rằng, muốn rút ngắn khoảng cách với thế giới nhanh nhất là đầu tư vào công nghệ. Điều này phù hợp với xu hương thế giới và việc Tàu Cộng phát triển công nghệ vượt Tây Âu và tiệm cận với Mỹ là minh chứng. Hiện nay ông cho thiết lập chương trình thúc đẩy vai trò của công nghệ trong trường học bằng cách xây dựng các phòng thí nghiệm CNTT-TT được trang bị tốt và khuyến khích học sinh học tập do các nhân viên đào tạo về phương pháp giảng dạy sáng tạo. Sắp tới ông ta cho triển khai ở 200 trường học tại tất cả 25 tỉnh thành và ông ta dự tính mất khoảng 10 đến 15 năm sẽ thu hẹp được khoảng cách giữa thành thị và nông thôn.

Hun Sen là một kẻ tham quyền, tuy nhiên ông ta không mù quáng và ích kỷ đến mức hy sinh quyền lợi quốc gia để bảo vệ quyền lực cho gia tộc như ĐCS Việt Nam đang làm mà ông ta chọn cách cách khác, ông ta nâng cao năng lực lãnh đạo cho con cái để làm sao chúng theo kịp với mặt bằng thế giới. Về vấn đề quốc gia đại sự, ông ta không chọn người bất tài như người kiểu chọn Phùng Xuân Nhạ của nhóm lợi ích ở Việt Nam, mà ông ta mạnh dạn chọn người có năng lực vào ghế bộ trưởng và giao quyền để họ kiến thiết quốc gia. Chỉ một mình Hun Sen cũng đủ bỏ rất xa bộ Chính Trị ĐCS Việt Nam về tầm nhìn chiến lược và khả năng quản trị đất nước.

Như chúng ta thấy, bệnh dối trá ở Campuchia đã được Hang Chuon Naron triệt tận gốc trong vòng 4 năm thì tại Việt Nam được CS nuôi dưỡng và phát triển nó đã đến mức bất trị. Ngày xưa nạn bằng cấp giả, học hành giả tràn lan nhưng chưa ai dám công khai dùng bộ máy công an bảo vệ cái giả đó, thế nhưng hiện nay thì chuyện đó đã xảy ra ở đất nước này. Vụ ông Bí thư Đăk Lăk Bùi Văn Cường bắt giam ông Phạm Đình Quý và ông Hoàng Minh Tuấn là ví dụ. Điều đáng nói là chính quyền CS cũng đang dùng báo chí để dung túng cho điều đó. Đây là cái thua rõ ràng của Việt Nam trước người anh em Campuchia.

Hậu CS, thì sẽ mất một thời gian để quốc gia hiệu chỉnh chính sách tạo đà theo những nước phương Tây. Và hiện nay Hun Sen đã tạo đà cho đất nước campuchia bằng cách đào tạo con cái có thực học và chọn người tài vào bộ máy. Hậu Hun Sen thì Việt Nam chỉ có thể ngửi khói Campuchia mà thôi. 

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://tuoitre.vn/bo-truong-thuc-tam-giao-duc-campuchia-cai-cach-thuc-chat-duoc-quoc-te-cong-nhan-20200927083401627.htm?

https://tuoitre.vn/giang-vien-truong-dai-hoc-ton-duc-thang-bi-cong-an-moi-lam-viec-20200925130232004.htm?

https://www.nguoi-viet.com/viet-nam/them-mot-nguoi-bi-bat-vi-to-cao-bi-thu-dak-lak-dao-luan-an-tien-si/



Ngày Tháng Tám

Thơ Song Linh

Thanh Thanh chuyển dịch

NGÀY THÁNG TÁM

Ngày tháng tám mùa thu về rất lạ

Em mắt buồn theo cỏ lá heo may

Đường thở dài vàng nắng áng mây bay

Tình cúi mặt để sầu rêu nhánh lá

Ngày tháng tám mùa thu xanh biển cả

Cánh chim về hong ấm nụ môi hôn

Bài thơ yêu nhung nhớ lại gần hơn

Căn gác nhỏ mở lòng vui đất lạnh

Ngày tháng tám mùa thu vàng đất trắng

Tay em mềm gối mộng ngát trùng dương

Con sóng vỗ thềm trăng mòn vách đá

Gió thu về mây trắng đẹp trời hương

Ngày tháng tám mùa thu trùng xuống thấp

Đất khóc thầm tan vỡ mối tình hoa

Em nói dối ta buồn như muốn khóc

Con thuyền nào chở hết cõi lòng ta

Ngày tháng tám mùa thu về thêm tuổi

Đất mẹ nghèo mọc cánh vỗ trời hoang

Và tình ta từ đó cũng lang thang

Khi trước mặt cuộc đởi chưa đáp số

                        SONG LINH

A DAY IN AUGUST

That day in August, Autumn seemed so strange;

Your eyes grew sad like in grass blades a change.

The road sighed in the yellow cloudy sun,

Love faced down, anxiety got leaves moss dun.

Also a day in August, Autumn had been sea blue;

The birds had returned to warm their kiss due;

The romantic poem of each other helping take hold;

The small attic opening its heart on the land tho cold.

On that day in August, Fall had gilded the white earth;

Your soft arms as dreamy pillows in an ocean mirth;

Crashed by the waves in the moon the cliff worn;

The fall wind bringing back a clear perfumed morn.

Then, that day in August, Autumn sank abruptly low,

The ground silently cried, broken the love glow.

You lied to me so that I felt I wanted to weep,

No vessel could transport my soul in sorrow deep.

Yes, that day in August returned adding a year in age,

My poor maternal place grew wings to a wild stage;

And my love too since then got adrift dilution

While my immediate existence had not yet a solution.

Translation by THANH-THANH

Thanh-Thanh.com




Hồi Ký Đập Đập Đá Trại 6 Nghệ Tĩnh

https://www.amazon.com/Quality-Shock-Absorbing-Iphone-4s-silver/dp/1716600782/ref=sr_1_1?dchild=1&keywords=Doi+dap+da&qid=1601437190&sr=8-1



TIẾNG CHUÔNG THIÊN MỤ

(Nhã Ca)

Tôi lớn lên bên này sông Hương

Con sông chẻ đời ra những vùng thương nhớ

Cây trái Kim Long, sắt thép cầu Bạch Hổ

Cửa từ bi vồn vã bước chân sông

Mặt nước xanh trong suốt tuổi thơ hồng

Tháp cổ chuông xưa sông hiền sóng mọn

Những đêm tối bao la những ngày tháng lớn

Những sáng chim chiều dế canh gà

Tiếng chuông buồn vui dợn thấu xương da

Người với chuông như chiều với tối

Tôi bỏ nhà ra đi năm mười chín tuổi

Đêm trước ngày đi nằm đợi tiếng chuông

Cuối cơn điên đầu giấc ngủ đau buồn

Tiếng chuông đến dịu dàng lay tôi dậy

Tiếng chuông đến và đi chỉ mình tôi thấy

Chỉ mình tôi nhìn thấy tiếng chuông tan

Tiếng chuông tan đều như hơi thở anh em

Tiếng chuông tan rời như lệ mẹ hiền

Tiếng chuông tan lâu như mưa ngoài phố

Tiếng chuông tan dài như đêm không ngủ

Tiếng chuông tan tành như tiếng vỡ trong tôi

Từ dạo xa chuông khôn lớn giữa đời

Đổi họ thay tên viết văn làm báo

Cơm áo dậy mồm ăn lơ nói láo

Cửa từ bi xưa mất dấu đứa con hư

Tháp cổ chuông xưa, sông nhỏ sương mù

Dòng nước cũ trong mắt nhìn ẩm đục

Con đường cũ trong hồn nghe cỏ mọc

Chuông cũ giờ đây bằn bặt trong da

Tuổi hồng sa chân chết đuối bao giờ

Ngày tháng cũ cầm bằng như nước lũ

Nhưng sao chiều nay bỗng bàng hoàng nhớ

Tiếng chuông xưa bừng sống lại trongtôi

Tiếng chuông xưa kìa tuổi dại ta ơi

Chuông oà vỡ trong tôi nghìn tiếng nói

Những mảnh đồng đen như da đêm tối

Những mảnh đồng đen như tiếng cựa mình

Những mảnh đồng đen như máu phục sinh

Những mảnh đồng đen kề nhau bước tới

Tôi thức dậy rồi đây chuông ơi chuông hỡi

Tôi thức dậy đây tôi thức dậy rồi

Thưc dậy thực sự rồi

Thức dậy cùng giông bão,

Thức dậy cùng tan vỡ

Thưc dậy cùng lịch sử

Mẹ hiền ơi thành phố cũ chiều nay

Có tiếng chuông nào rơi như lệ trên tay

Trên mặt nước trên mặt người mặt lộ

Cho con trở về đừng mê sảng ngó

( Nhã Ca)




ĐỀ ĐỐC TRẦN VĂN CHƠN

    (100 năm ngày sinh)

– Sanh ngày 24 tháng 09 năm 1920 tại Vũng Tàu

– Năm 1952, tốt nghiệp Thủ khoa khóa 1 Sĩ quan Hải quân Nha Trang, cấp bậc Hải quân Thiếu úy

– Năm 1953, Chỉ huy phó Hải đoàn Xung phong ở Vĩnh Long, cấp bậc Hải quân Trung úy

– Năm 1954, Chỉ huy phó Hải đoàn Xung phong Ninh Giang

– Năm 1955, Chỉ huy trưởng Trợ chiến hạm Linh Kiếm HQ-226, Chỉ huy trưởng Lực lượng Giang đoàn, cấp bậc Hải quân Đại úy

– Năm 1957 – 1959, Tư lệnh Quân chủng Hải quân kiêm Giám đốc Hải quân Công xưởng, cấp bậc Hải quân Thiếu tá, Hải quân Trung tá

– Năm 1960, du học lớp Chỉ huy tại trường Hải chiến Hoa Kỳ

– Năm 1962, Chỉ huy trưởng Lực lượng Tuần giang

– Năm 1966, tái nhiệm Tư lệnh Quân chủng Hải quân, cấp bậc Hải quân Đại tá

– Năm 1968, thăng Phó Đề đốc, cấp bậc Chuẩn tướng

– Năm 1970, thăng Đề đốc, cấp bậc Thiếu tướng

– Năm 1974, giải ngũ

– Năm 1975 – 1987, bị bắt đi tù chính trị

– Năm 1991, định cư tại California, Hoa Kỳ

– Ngày 02 tháng 05 năm 2019, qua đời tại nơi định cư

– Đệ Tam Đẳng Bảo quốc Huân chương, nhiều huy chương trong và ngoài nước




NHỮNG TÒA BẢO THÁP Ở CỐ ĐÔ HUẾ

1. BẢO THÁP PHƯỚC DUYÊN :

— Gắn liền với Chùa Thiên Mụ .

— Là biểu tượng nổi tiếng của xứ Huế .

— Được xây dựng năm 1844 .

— Tháp cao 21 m , gồm 7 tầng – xây theo lối kiến trúc hình khối bát giác — mỗi tầng thờ 7 vị Phật khác nhau .

– Kiến trúc tháp là các chi tiết bằng pháp lam – sản phẩm cao cấp phủ men màu đặc sắc lên cốt kim loại —

— Đó là các hình ngọn lửa nơi góc đao mái , nổi tiếng và nhất là bình cam lồ bằng đồng trên đỉnh tháp .

— Hàng năm , Tháp chỉ mở cửa trong chốc lác vào dịp Tết Nguyên Đán và Đại lễ Phật Đãn . Vì vậy , nội thất bảo tháp vẫn là điều bí ẩn của hầu hết mọi người .

2. CHÙA HUYỀN KHÔNG :

— Tọa lạc xã Hương Lồ , huyện Hương Trà , tỉnh Thừa Thiên -Huế .

— Được xây dựng năm 1978 .

— Công trình ấn tượng nhất , chính là Bảo tháp Đại Giác , được khánh thành năm 2015 .

— Tòa bảo tháp Đại Giác thiết kế thể hiện một phần vũ trụ quan của Phật Giáo . Với mái Tu-di ( Seneru ) ở trung tâm và Từ Đại Châu ở bốn hướng .

3. Tọa lạc trên đồi Quảng Tế , xã Thủy Xuân , thành phố Huế .

— Chùa THIỀN LÂM được thiền sư Hộ Nhẫn lập năm 1960 .

— Điểm nhấn của chùa là ngôi Bảo tháp mang phong cách Miến Điện đặc sắc .

–Tòa tháp có màu trắng , đỉnh vàng cao vút , uy nghi mà thanh thoát .

— Kiến trúc toát lên màu sắc nghệ thuật Phật giáo Nam Tông .

— Nhìn từ xa , Bảo tháp nổi bật giữa núi đồi Cố đô Huế .

Theo FB




Hữu Loan, Dzũng Chinh, Vũ Anh Khanh

Ba người lạ cùng nhau nổi tiếng

Hữu Loan, Dzũng Chinh, Vũ Anh Khanh, ba con người tuy hoàn cảnh và đường đời khác nhau nhưng đã tình cờ gặp nhau nơi con đường cái quan, trên đường tranh đấu, mưu cầu Xuân tự do cho quê hương, dân tộc.

Từ trái, nhạc sĩ Dzũng Chinh, nhà thơ Vũ Anh Khanh, nhà thơ Hữu Loan. (Hình:wikimedia.org & Người Đưa Tin)

“Nàng có ba người anh đi quân đội,” Hữu Loan mở đầu bài thơ khóc vợ mang tên “Màu Tím Hoa Sim” được ông làm từ năm 1949, sau được in trên tờ Trăm Hoa do Nguyễn Bính làm chủ nhiệm, đã đi vào lịch sử thi ca, như một chứng nhân của lịch sử. Còn ông, sau này trở thành chứng nhân của cuộc đời.

Khi Hữu Loan vướng vào vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm, cũng như những bất mãn trước đó trong cải cách ruộng đất, ông bỏ đảng, bỏ quân đội trở về vùng quê heo hút, Nga Sơn, Thanh Hóa, để làm một người phu kéo xe thồ đá. Bỏ lại phía sau lưng con đường công danh (mà ông cho là bại hoại) phía trước.

Hữu Loan làm thơ không nhiều. Thơ ông vượt tuyến, vào Nam, không biết có phải do được in trong tập “Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Đất Bắc?”

Chỉ biết, bài “Màu Tím Hoa Sim” được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc, và truyền bá sâu rộng ở miền Nam. Ít nhất có ba bài được giới trẻ và giới trí thức thời bấy giờ yêu chuộng là “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh, “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh và “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” của Phạm Duy.

Riêng bài “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh và “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” của Phạm Duy, một bi ca, một hùng ca, cho đến nay vẫn là những tác phẩm nổi tiếng nhất dựa trên bài thơ gốc của Hữu Loan; trong đó, nhạc phẩm của Dzũng Chinh ra đời vào thập niên 1960, được cho là bản phổ nhạc sớm nhất.

Sau năm 1975, Hữu Loan có vô thăm Sài Gòn. Ông ra chợ trời, mua được mấy băng cassette cũ, trong đó có thâu bài “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh. Nghe nói, Hữu Loan nghe đi nghe lại, tỏ ra thích thú với Dzũng Chinh, người mà theo Hữu Loan phổ nhạc thơ ông hay nhất.

Nhạc sĩ Dzũng Chinh.

Dzũng Chinh đưa Hữu Loan và Vũ Anh Khanh nổi tiếng hơn Dzũng Chinh, một sĩ quan bộ binh trẻ tuổi, tài hoa trong Quân Lực VNCH, không chỉ “nổi” lên khi sáng tác bản nhạc “Những Đồi Hoa Sim” với tiếng hát của nữ ca sĩ Phương Dung (được khán giả đương thời ưu ái gọi là “Con nhạn trắng Gò Công”) vào thời điểm năm 1961-1962, mà ông còn

được nhiều người biết đến với nhạc phẩm “Đêm Dài Chưa Muốn Sáng” qua giọng ca của Hoàng Oanh.

Nhạc phẩm này nói lên nỗi niềm bi thiết, trước lịch sử bi hùng của dân tộc, khát khao một mùa Xuân thanh bình, quê hương liền một huyết mạch lịch sử.

Lời nhạc trầm hùng, trong “Đêm Dài Chưa Muốn Sáng” của Dzũng Chinh làm người ta nhớ tới những tác phẩm bất hủ như “Hòn Vọng Phu” của Lê Thương; “Con Đường Cái Quan”của Phạm Duy; chút u uất, đau đớn vì những khát vọng thuần nhân bản bị đè nén, bức hại như trong “Người Anh Vĩnh Bình” của Nguyễn Đức Quang.

Nghe “Đêm Dài Chưa Muốn Sáng” của Dzũng Chinh, thấy thương tiếc cho ông. Một vùng trời âm nhạc bao la, ông vừa chạm đôi cánh vào. Nhưng chưa kịp vẫy vùng, tung cánh chim bằng lướt gió, thì lửa đạn chiến tranh đã đưa ông về tận đáy mồ sâu.

Ông hy sinh dưới chân núi Chà Bang (Ninh Phước) vào đêm cuối Tháng Hai, 1969. Năm đó Dzũng Chinh mới 28 tuổi (sinh năm 1941). Dzũng Chinh để lại cho đời tiếng kêu bi thiết, của một thời mà mãi trời chưa sáng: “Từ nghìn năm trước đất mòn nào đưa/ Tiếng gọi Trường Sơn theo bóng tối tuổi gầy mòn… Gục ngã nơi sa trường, manh áo nhuộm bụi đường/ Cây lá bạc màu xanh, một lời nguyền hy sinh chưa hề nhòa…”

Nơi Dzũng Chinh nằm xuống, cũng là một vùng có nhiều hoa sim tím, mọc dài theo triền đồi cát trắng, miền duyên hải.

Từ những đồi hoa sim của Hữu Loan, hay mùa sim tím theo những triền cát trắng của duyên hải miền Trung – Nam bộ, quê hương của mình, Dzũng Chinh mơ thấy Xuân về trên đỉnh Trường Sơn với bao thao thức:

“Mấy mùa mùa đợi mong, mai nở ven rừng/ Xuân đến bao giờ người nào hay…

Cũng như Hữu Loan, Dzũng Chinh không sáng tác nhiều (hay đúng hơn là chưa kịp viết nhiều). Ngoài bài “Những Đồi Hoa Sim,” “Đêm Dài Chưa Muốn Sáng,” “Lời Tạ Từ,” “Hoa Trắng Tình Yêu,” “Hai Màu Hoa,” thì Dzũng Chinh còn được biết đến với một bài nổi tiếng khác, là bài “Tha La Xóm Đạo,” phổ thơ Vũ Anh Khanh.

Nhà thơ Vũ Anh Khanh. 

Vũ Anh Khanh nổi lên với “Tha La Xóm Đạo”

Vũ Anh Khanh cũng là người ở vùng duyên hải miền Trung-Nam bộ. Ông quê ở Phan Thiết nhưng thuộc thế hệ trước. Ông viết văn, làm báo với Thẩm Thệ Hà, thập niên 1940-1950 ở Sài Gòn.

Ông là một cây bút chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của ông phần lớn được in trong năm 1949 tại Sài Gòn, với “số lượng phát hành chiếm kỷ lục trong số ấn phẩm thời đó,” gồm truyện dài “Cây Ná Trắc” (nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn, 1947), “Nửa Bồ Xương Khô” (hai tập, nhà xuất bản Tân Việt Nam, Sài Gòn, 1949), “Bạc Xỉu Lìn” (nhà xuất bản Tiếng Chuông, Sài Gòn, 1949)…

Trong một lần cùng Thẩm Thệ Hà về thăm quê bạn ở Trảng Bàng (Tây Ninh), Vũ Anh Khanh có ghé thăm họ đạo Tha La, cám cảnh sinh tình ông viết ra bài thơ Tha La. Sau bài thơ này được in trong tiểu thuyết “Nửa Bồ Xương Khô” của ông.

Bài thơ “Tha La Xóm Đạo” cũng được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc, nhưng bài do nhạc sĩ Dzũng Chinh phổ nhạc là đi vào lòng người nhất. Theo wikipedia.org, “Tha La Xóm Đạo” đã được nhạc sĩ Dzũng Chinh, cũng là người Phan Thiết, phổ nhạc vào năm 1964.

Có lẽ, cũng như “Màu Tím Hoa Sim,” “Tha La Xóm Đạo” sẽ còn mãi với thời gian, như là chứng nhân của một thời – không thể nào quên.

Nếu như Hữu Loan đi kháng chiến ở miền Bắc, thì Vũ Anh Khanh đi  kháng chiến ở miền Nam.

Sau 1954, Vũ Anh Khanh tập kết ra Bắc. Đến năm 1956, sau khi đi dự hội nghị nhà văn Á-Phi tại Ấn Độ, Vũ Anh Khanh trở về, sửa giấy phép đi đường, tìm cách tới bờ sông Bến Hải, với ý định vượt tuyến trở lại miền Nam tự do.

Nhưng khi Vũ Anh Khanh còn đang ở giữa dòng nước, chưa kịp chạm tới bờ Nam. Thì bị biên phòng Cộng Sản miền Bắc phát hiện, dùng tên tẩm thuốc độc, bắn chết ông.

Cái chết của Vũ Anh Khanh trở thành một khúc ca bi tráng, cho một văn-thi nhân sớm biết quay đầu là bờ. Ông đã không vượt qua nổi dòng sông định mệnh. Nhưng trong bóng đêm của hơn nửa thế kỷ trước, ông đã can đảm vượt qua dòng sông ý thức hệ. Nơi mà cho tới tận hôm nay, hàng triệu triệu con người, vẫn còn bị “mắc kẹt” ở bờ bên kia.

Năm Vũ Anh Khanh mất, ông mới 30 tuổi (ông sinh năm 1926).

Nhà thơ Hữu Loan. 

Hữu Loan, truân chuyên một đời

Như vậy, trong ba người văn nghệ khoác áo chinh nhân vì vận nước, chỉ có mình Hữu Loan là Trời cho (hay Trời bắt) được (phải) sống lâu. Vì sống lâu không phải để mong làm lão làng, mà chỉ để làm chứng nhân cho câu nói của người xưa – đa thọ, đa nhục (?!).

Hơn thế nữa, Hữu Loan phải sống như lời ông kể lại, trong thơ:

“Một bên là chính quyền có đủ thứ nhân dân

(quân đội, tòa án, nhà tù nhân dân)

Và nhất là Cuồng tín nhân dân…”

Ông đã trả lời trong một cuộc thẩm vấn:

-Sao anh không làm nhà?

-Vì tôi mắc làm người!

Cả cuộc đời của Hữu Loan, vật lộn tranh đấu từng ngày, để chỉ được làm người – con người lương thiện, bình dị, không viết hoa (như Cộng Sản tuyên truyền).

Hữu Loan có hai người vợ. Cả hai đều là con địa chủ. Dù ông chỉ là con của một tá điền.

Nhờ siêng năng tự học, ông lấy được bằng tú tài Tây. Tham gia kháng chiến, ông là tuyên huấn của sư đoàn, kiêm chính trị viên tiểu đoàn.

Người vợ đầu của ông mất trong thời chiến tranh, như trong bài “Màu Tím Hoa Sim” ông viết: “Nhưng không chết người trai khói lửa, mà chết người em gái nhỏ hậu phương.”

Nhà thơ Hữu Loan và người vợ thứ hai. 

Người vợ thứ hai, ông “nhặt được” sau cải cách ruộng đất.

Bà nguyên là con của một gia đình địa chủ, mà người cha trong kháng chiến thường cho tá điền gánh gạo tới ủng hộ quân lương cho sư đoàn của ông. Chính Hữu Loan nhiều lần đề nghị sư đoàn cấp giấy khen cho người địa chủ yêu nước kia. Nhưng trong cải cách ruộng đất, gia đình người địa chủ kia bị chôn, chỉ chừa cái đầu lên mặt ruộng, để trâu kéo bừa “cày” cho tới chết. Riêng cô con gái năm đó mới 17 tuổi, được tha, nhưng bị đuổi ra khỏi nhà, với chỉ thị của cán bộ là dân làng không ai được tiếp xúc với cô.

Cô đi lang thang, nhặt những mẩu khoai sót trên đồng để ăn, tối về ngủ trong miếu hoang.

Trong nơm nớp lo sợ, trước sự cuồng tín của cán bộ và sự cuồng tín nhân dân…

Hay tin, Hữu Loan từ đơn vị trở về, đón cô gái bị chế độ căm thù, ruồng bỏ kia về nhà. Từ đó, ông bắt đầu một hành trình làm người gian nan, còn khổ nhục hơn cả thời tham gia kháng chiến.

Người ta phá, không muốn cho Hữu Loan thồ đá, vì không muốn ông làm người lương thiện (dám bỏ đảng, bỏ quân đội). Vợ ông buôn bán ngoài chợ, người ta bao vây, hất hết đồ xuống đất… Nhưng tất cả sự cuồng tín của một chế độ, cũng không chà đạp nổi nhân tính của một con người như Hữu Loan.

Nhiều người không hiểu chuyện, đố kỵ cho rằng Hữu Loan chỉ làm có một bài thơ thôi, mà nổi tiếng tới tận bây giờ. Sự thật, cuộc đời của Hữu Loan trong mấy mươi năm, cắn răng từng ngày, để được làm một con người lương thiện dưới chế độ Cộng Sản, còn đẹp hơn tất cả những bài thơ.

Ngoài bài “Màu Tím Hoa Sim,” Hữu Loan còn có những bài như: “Hoa Lúa,” “Đèo Cả”…

Tha La xóm đạo ở xóm An Hội, xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, nổi tiếng khắp nơi nhờ bài hát “Tha La Xóm Đạo” của nhạc sĩ Dzũng Chinh phổ từ bài thơ cùng tên của nhà thơ Vũ Anh Khanh. (Hình: Flickr Vinh_Saigon).

Sau chiến tranh, trở về từ chiến khu, nhìn cảnh miền Bắc điêu tàn, nhất là sau cải cách ruộng đất. Hữu Loan làm bài thơ Tết, đăng trên Giai Phẩm – Xuân 1957, với câu như: “Tết và mùa Xuân/ Như mắt người ứa lệ.”

Nơi Nga Sơn, miền heo hút gió, người phu thồ đá vật lộn từng ngày với áo cơm, cùng hiểm nguy muôn thứ hận thù rình rập, vẫn không quên thế cuộc. Ông ngước nhìn mây bay trên đầu, như thấy tận đỉnh Trường Sơn, mượn tiếng quạ kêu, ông làm một bài thơ nói lên nỗi niềm ai oán. Thương cho những người lính ngã xuống, trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam-Bắc.

 (Văn Lang)




Những loài cây hiếm khi nở hoa

1. NỮ HOÀNG CỦA DÃY ANDES :

— Cây thuộc họ Dứa – tên khoa học : Puya Raimindii ) là loài thực vật giữ kỷ lục về nở hoa muộn nhất .

— Phải mất từ 80 đến 150 năm mới nở hoa .

— Chỉ được tìm thấy ở 2 nước : Peru và Bolivia , trên độ cao từ 3.000 đến 4.800 m.

— Nơi có điều kiện khí hậu khắc nghiệt và đất đai khô cằn .

— Do đó , nó cần thời gian rất lâu để hấp thụ dinh dưỡng cho việc nở hoa .

— Khi ra hoa , loài cây này cũng có thể cho cả ngàn bông , chứa đến 10 triệu hạt giống .

— Sau khi phân tán hạt giống , Nữ Hoàng sẽ từ biệt cuộc đời .

— Hiện nay , các cây con của Nữ Hoàng có nguy cơ chết yểu . Do bị ăn hoặc bị giẫm đạp bởi gia súc .

2. Có lẽ nhiều người sẽ khá bất ngờ , khi biết TRE cũng có thể ra hoa . Thậm chí kết quả .

— Tuy nhiên , Tre chỉ nở hoa 1 lần trong giai đoạn từ 60 đến 100 năm .

— Nên không phải ai cũng có cơ hội được chiêm ngưỡng hoa của loài thực vật này .

— Hoa Tre thường nở thành chùm , có màu vàng nhạt .

— Màu sắc của hoa Tre sẽ thay đổi tùy theo từng loài .

— Tre ra hoa và kết quả . Đáy chính là thời khắc cuối cùng của loài cây này .

— Bởi sau đó , Tre sẽ nhanh chóng tàn lụi và không thể hồi sinh .

3. TẠI MADAGASCA : một Đảo Quốc trên Ấn Độ Dương . Có hơn 170 loài Cọ , có giá trị to lớn về kinh tế và sinh học .

— Trong đó nổi tiếng là Cọ Tahina .

— Tahina là loài Cọ khổng lồ , có chiều cao thân lên tới 20m . Đường kính thân trung bình 0, 5 m , đường kính lá khoảng 5m .

— Loài Cọ Tahina này có vòng đời kỳ lạ : các chùm hoa chỉ xuất hiện , sau khi thân đạt tới chiều cao tối đa . Và sắp xếp theo kiểu cột đèn .

— Chúng thường nở hoa sau 30 đến 50 năm .

— Một số cây nở sau 100 năm .

— Điều đặc biệt , Cọ Tahina dồn toàn bộ chất dinh dưỡng dự trữ cho quá trình nở hoa .

— Do đó , sau khi hoa biến thành quả . Chúng sẽ gục ngã vì cạn kiệt dưỡng chất .

— Những bông hoa giống như lời chào vĩnh biệt của chúng đối với cuộc đời .

4. CỌ TALIPOT cũng là loài cây nở hoa rất muộn .

— Khi khoe sắc 1 lần trong khoảng 30 đến 80 năm .

— Đợt hoa của Cọ Talipot phải lên tới hàng triệu bông .

— Với số lượng hoa lớn như vậy . Cây phải dồn rất nhiều chất dinh dưỡng để kết quả .

— Khi một cơn mưa đổ xuống , hàng trăm ngàn quả lìa khỏi cây .

— Đây cũng chính là lúc Cọ Talipot kết thúc cuộc đồi mình .

Theo Internet




HÀNG RÀO XƯƠNG RỒNG Ở SÓC TRĂNG

* Một hàng rào hoa Xương Rồng tuyệt đẹp của người Sóc Trăng , tọa lạc tại Khóm 3 – phường 2 – thị xã Ngã Năm , rất độc đáo .

* Những cây Xương Rồng cao to vươn lên trong nắng . Làm nền tảng vững chắc để từng đóa hoa khoe sắc trắng dưới ánh nắng hè .

* Được biết , hàng rào hoa Xương Rồng này là của ông Trương Văn Thôn ( 88 tuổi ) . Ông đã trồng hàng rào này cách đây 15 năm . Đến năm 2018 , những cây to cao bổng nhiên trổ hoa rất đẹp . Cũng từ đó , ngôi nhà nhỏ của ông Thôn trở nên nhộn nhịp vì du khách gần xa đến quay phim chụp hình rồi đưa lên Facebook . Thế là , hàng rào Xương Rồng của ông Thôn dần dần trở nên nổi tiếng khắp nơi .

* Hoa Xương Rồng là cái tên mà các bạn tẻ gọi cho . Thực ra chính xác , đây là cây Nọc Trụ hay còn gọi là Long Cốt .

* Nọc Trụ là loài cây thuộc họ Xương Rồng . Thân màu xanh lục sẫm , cao lớn và phân nhánh , vươn thẳng lên trời .

* Mỗi năm cứ độ tháng 5 , Nọc Trụ bắt đầu trổ  hoa . Những đóa hoa trắng , cánh dài khoảng 20cm , có nhiều nhụy và hương thơm thoang thoảng . Điều đặc biệt của cây Nọc Trụ là chịu đựng được khí hậu khắc nghiệt của khô nóng .

* Hoa Nọc Trụ chỉ nở trong khoảng 10 ngày . Vì thế , du khách thường tranh thủ để đến kịp chiêm ngưỡng hàng rào hoa Xương Rồng ở Sóc Trăng .

( Nguồn : Khám phá du lịch VN ).

Theo FB




Chuyến bay không có điểm đến

Dịch COVID-19 xảy ra làm tất cả các Hãng hàng không điêu đứng ! Riêng Hãng hàng không Australia đã nghĩ ra cách này …

Nhiều hành khách sẵn lòng chi ít nhất 780 USD để mua vé cho chuyến bay không có điểm đến, chỉ đi lòng vòng trên trời suốt 7 tiếng đồng hồ !

Một hãng hàng không của Australia cho biết, họ đã bán được 150 suất vé từ hạng thương gia tới phổ thông, với giá cao nhất lên tới 3.734 USD chỉ trong vòng 10 phút. Điều đáng nói ở chỗ, đây là chuyến bay không có điểm đến.

Cụ thể, với loại vé này, du khách sẽ xuất phát từ sân bay quốc nội Sydney, bay trên trời suốt 7 tiếng để ngắm nhiều cảnh quan hấp dẫn của “xứ sở chuột túi”.

Chuyến bay hướng tới bờ biển New South Wales, bay qua Queensland đến Sunshine Coast, Brisbane và Gold Coast, đưa du khách ngắm nhìn rạn san hô Great Barrier Reef nổi tiếng từ trên cao, rồi qua một số danh lam khác.

Sau khi bay “lòng vòng” suốt 7 tiếng trên trời, du khách lại hạ cánh xuống điểm khởi hành ban đầu. Vì lịch trình đặc biệt, nên nó còn được gọi là “chuyến bay boomerang”.

Du khách sẽ ngồi trên máy bay Boeing 787-9, với cửa sổ cỡ đại – lớn nhất so với các chuyến bay thương mại, thưởng thức bữa ăn do đầu bếp nổi tiếng Australia – Neil Perry nấu nướng, nhận đồ ngủ của hãng hàng không kèm một túi quà, đồng thời có cơ hội mua các kỷ vật của chiếc máy bay Boeing 747.

Dù tham gia chuyến đi này hành khách không cần mang theo hộ chiếu, nhưng hãng bay vẫn khuyến cáo phải đeo khẩu trang khi lên máy bay.

Sau khi bán hết sạch vé chỉ trong vòng 10 phút, đại diện hãng bay khẳng định “đó là chuyến bay bán chạy nhất trong lịch sử của hãng”.

Theo CNN




Biển Xanh




Da Cao Cấp

Ngu Yên

Gần nửa thế kỷ sống ở Hoa Kỳ,

nếu bạn chưa gặp kinh nghiệm

bị kỳ thị,

chưa buồn lòng

vì chỉ khác màu da,

có lẽ,

bạn ngây thơ

hoặc ngu ngơ

hoặc giả vờ.

Kỳ thị là phản ứng tự nhiên:

thích hay không thích,

khinh hay không khinh,

sợ hay không sợ.

Kỳ thị là chuyện phải chấp nhận

dù không vui.

Kỳ thị không thể chịu đựng

khi đổ máu

khi tội hình

khi quá độ

khi mạng người bị diệt vong.

Người Việt kỳ thị có hạng trên thế giới.

Hầu hết người Việt già không thích da đen.

Đa số giới Việt trẻ bạn bè đa văn hóa

không phân biệt màu da,

chỉ phân biệt tốt xấu.

Khi người Việt ủng hộ kỳ thị,

có tự hỏi da mình màu gì?

Không thể hơn da đen,

Vì da Việt chưa có Louis Armstrong, Michael Jordan, Muhammad Ali, Whitney Houston, Beyoncé, Denzel Washington, Will Smith, Morgan Freeman, Whoopi Goldberg, George Washington, Alice Ball, Mae C. Jemison, Maya Angelou, Toni Morrison, Langston Hughes, Barrack Obama…

Không thể hơn da Mễ,

Vì da Việt chưa có Octavio Paz, Carlos Fuentes, Anthony Quinn, Jennifer Lopez, Victor Celorio, Victor Ochoa, Pacho Villa, Alfonso Garcia Robles, Mario José Molina…

Chỉ có thể hơn da bản thân.

Khi người Việt ủng hộ da trắng kỳ thị da màu,

đã tự quên mình là ai,

có lẽ,

vì ngây thơ

vì ngu ngơ

vì giả vờ

hoặc nửa nghi nửa ngờ da mình thuộc hàng cao cấp. 




Ý nghĩa niên hiệu của 12 vị vua triều Nguyễn

Việt Nam thời các hoàng đế trị vị, việc đặt và ban hành niên hiệu đều có liên quan mật thiết đến ý chí chính trị của hoàng đế. Bằng hình thức niên hiệu, hoàng đế đã đưa ý chí chính trị của mình thẩm thấu vào cuộc sống thường nhật của quốc gia.

Trước triều Nguyễn, hoàng đế Việt Nam không chỉ có một niên hiệu, thường có việc đổi niên hiệu. Sau chịu ảnh hưởng của đời Minh – Thanh, mỗi đời vua một niên hiệu. Triều Lê Trung Hưng bắt đầu thực hiện mỗi đời vua một niên hiệu. Đến triều Nguyễn thì chế độ này đã được cố định.

Triều Nguyễn có tổng cộng 13 vị hoàng đế, trừ vua Cung Tông kế vị ngắn ngủi 3 ngày ra không có niên hiệu, tổng cộng đã đặt ra 12 niên hiệu, trong đó niên hiệu Hiệp Hòa chưa được sử dụng. Các vua Việt Nam tuy đã nhạt nhòa theo lịch sử nhưng những niên hiệu mà họ để lại làm cho chúng ta sau hàng trăm năm vẫn cảm nhận được ý thức chính trị của họ.

Gia Long – Niên hiệu của vua Nguyễn Thế Tổ (18 năm, 1802 – 1819)

Nguyễn Thế Tổ Nguyễn Phúc Ánh là người sáng lập ra triều Nguyễn. Năm 1802, Nguyễn Thế Tổ đánh bại triều Tây Sơn, thu phục cựu đô Phú Xuân, Quảng Nam và đổi tên là Thuận Hóa. Năm sau, đổi niên hiệu Gia Long, lập ra triều Nguyễn. Đặt quốc hiệu là Nam Việt, về sau, triều Thanh sắc phong ông làm Nam Việt Quốc Vương.

“Đại Nam thực lục – đệ nhất kỷ” có ghi: “Lấy ngày 1 tháng 5 năm nay chiếu cáo thiên hạ, hôm sau chiếu cáo các Thánh, Kỷ Nguyên Gia, lấy kỷ thống nhất để biểu thị mới cái đức”. Ý nghĩa của cái tên Gia Long lấy từ cụm từ “Gia Định Thăng Long”, để bày tỏ ý nghĩa thống nhất thiên hạ (Việt Nam).

Sử Trung Quốc “Thanh sử cảo – Việt Nam truyện” có chép: “Nguyễn Phúc Ánh có được quốc gia nhờ Gia Định, Vĩnh Long binh lực nhiều, nên lấy hai tỉnh làm niên hiệu, gọi là Gia Long”. Nhưng chúng tôi nhận thấy rằng niên hiệu của hoàng đế lấy ý nghĩa trong 2 từ Gia Định, Thăng Long. Bởi lúc đó khi triều Nguyễn vừa thiết lập, niên hiệu này cũng cho thấy hàm ý triều Nguyễn kế thừa triều Lê chính thống trị vị toàn bộ Việt Nam.

Giai đoạn Gia Long tại vị trị vì, tình hình Việt Nam dần ổn định. Ông đã tiến hành cải cách trên các lĩnh vực quân sự, hành chính, kinh tế, văn hóa, xây dựng lớn nhiều đô thành, đường xá. Tham khảo “Đại Thanh luật” của Trung Quốc, ông đã ban hành “Gia Long luật thư” (sách luật Gia Long), đương thời gọi là “Hoàng triều luật lệ”.

Cuốn “Quốc triều chính biên toát yếu” (bản tóm tắt chính biên triều đình) biên soạn trong những năm Duy Tân triều Nguyễn, đã đánh giá Gia Long Nguyễn Phúc Ánh là:

“Vua đã phục hưng sáng nghiệp, công lao và đức độ đều lớn, tạo phúc cho dân to lớn chưa từng có. Khi bắt đầu lập quốc, vua cho xây dựng thành quách, tu sửa lăng tẩm, dựng đàn Giao Tế, đàn Xã Tắc, ban thưởng tước lộc, mở khoa thi cử chọn nhân tài, chấn hưng lễ nhạc, trường học, định ra pháp luật chế độ, điều luật, bảo tồn dòng dõi nhà Lê, Trịnh, kéo dài chế độ thế tập cho công thần, ngăn quan tướng Tây Sơn, đề phòng cẩn mật Xiêm La, bao dung Chân Lạp, vỗ về Vạn Tượng, uy danh chấn động muôn phương, nhân đức bao trùm các nước nhỏ, quy mô che phủ rộng lớn xa xôi“.

Minh Mạng – Niên hiệu của vua Đại Nam Nguyễn Thánh Tổ (21 năm, 1820 – 1840)

Đại Nam Thánh Tổ, tên húy Nguyễn Phúc Đảm, lên ngôi năm Gia Long thứ 18 (1819), đổi niên hiệu Minh Mạng. Trong thời gian ông trị vì, quốc lực cường thịnh nhất. Sau này vào ngày Giáp Tuất tháng 3 mùa xuân năm Minh Mạng thứ 19, đổi tên quốc hiệu là Đại Nam. Niên hiệu Minh Mạng lấy từ sách “Thượng thư – Hàm hữu nhất đức”: “Khắc hưởng thiên tâm, thụ thiên minh mạng” (Được hưởng lòng trời, thì được cái mệnh sáng của trời).

Vua Minh Mạng là con thứ 4 của Nguyễn Thế Tổ Gia Long. Sau này, hoàng thái hậu Anh Duệ mất sớm, chuyển kế thừa cho con của hoàng hậu Thiên Cao, và coi ông là “đích tử”. Sau đó Nguyễn Phúc Đảm đổi tên thành Nguyễn Phúc Kiểu, được lập làm hoàng thái tử. Niên hiệu Minh Mạng cũng biểu lộ ngôi vị của ông là chính thống, ông lên ngôi là do thiên mệnh.

Trong thời gian vua Minh Mạng trị vì, ông đã tiến hành rất nhiều cải cách. Minh Mạng đã xây dựng thể chế quan lại hệ thống hóa mô phỏng theo triều Mãn Thanh, hoàn thiện chế độ khoa cử, xây dựng chế độ hành tỉnh, đưa triều Nguyễn vào giai đoạn cực thịnh. Một lòng mong muốn xây dựng Việt Nam thành đại đế quốc như triều Thanh, ông đánh nam dẹp tây, mở rộng cương thổ của Việt Nam lớn nhất, thôn tính sát nhập Cam Pu Chia và Lào.

Nhưng về đối ngoại ông lại thi hành chính sách bế quan tỏa cảng. Trong nước thì cấm truyền bá Cơ Đốc giáo, bức hại giáo sỹ, làm cho phương Tây ác cảm, bị người phương Tây gọi là “Nero phương Đông”, đã để lại một mối hậu hoạ sau này. Cuốn “Quốc triều chính biên toát yếu” đã đánh giá Minh Mạng:

“Vua với tư cách thánh thượng kế thừa đại đinh, dốc sức trị quốc, tô điểm thái bình. Học điển cố xưa, sửa sang lễ nhạc, cẩn trọng quyền lực, rà soát pháp luật chế độ, đặt khoa cử chọn nhân tài. Vua cày ruộng khuyến nông, cử quan tuần các tỉnh, đặt chức kinh sát để kiểm tra quan lại. Cho đến ngăn chặn kẻ thân cận lộng quyền, ngăn ngừa cảnh giới hoạn quan, lệnh hoàng thân quốc thích không được can dự việc bên ngoài, ý vua ngăn chặn tệ nạ từ khi còn manh nha ra rất sâu sắc. 21 năm lo nghĩ, cần mẫn, khoan thứ, việc chính sự luôn giữ hàng ngày, phàm tất cả sắc lệnh, phê duyệt, dụ chỉ, bố cáo đều tự vua viết. Bắt đầu dạy chữ giáo hóa các vùng man di, uy danh chấn động Xiêm La, Lào, thánh đức thần công, không thể kể hết“.

Thiệu Trị – Niên hiệu của vua Đại Nam Hiến Tổ (7 năm, 1841 – 1847)

Đại Nam Hiến Tổ Nguyễn Phúc Tuyền tên ban đầu là Nguyễn Phúc Miên Tông, con trai trưởng đích hệ của vua Minh Mạng. Năm Minh Mạng thứ 21 (năm 1840) lên ngôi, niên hiệu Thiệu Trị. Thiệu Trị kế thừa đế quốc Đại Nam hùng mạnh, lãnh thổ bao gồm cả Cao Miên (Cam-pu-chia), Vạn Tượng (Lào)… Để bày tỏ kính trọng cha – vua Minh Mạng nên định niên hiệu là Thiệu Trị, với ý nghĩa là “Thiệu tiên hoàng Minh Mạng chi Trị” (Nối nghiệp trị vì của tiên hoàng Minh Mạng).

Thời gian trị vì Thiệu Trị tôn trọng không thay đổi cách trị vì của vua cha, giữ lại các phép cũ. Về thái độ với phương Tây, Thiệu Trị cũng giống y như vua cha Minh Mạng, có thái độ bảo thủ và đối địch với các nước phương Tây, nhưng trong những năm Thiệu Trị cấm thiên chúa giáo có hòa hoãn hơn thời Minh Mạng. Thiệu Trị tiếp tục các chính sách của vua Minh Mạng, thưởng cho những người bắt các giáo sỹ phương Tây, và đưa các giáo sỹ bị bắt về Thuận Hóa giam giữ, lệnh cho họ dịch các sách phương Tây. Sau này người Pháp bắn pháo đánh Đà Nẵng. Vua Thiệu Trị nổi giận, lại tuyên bố lệnh cấm Thiên Chúa giáo, và tăng cường đàn áp giáo đồ Thiên Chúa giáo trong nước.

Tự Đức – Niên hiệu của vua Đại Nam Dực Tông (36 năm, 1848 – 1883)

Đại Nam Dực Tông Nguyễn Phúc Thì tên gốc là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, con trai đích hệ của vua Thiệu Trị (con trai thứ 2), năm Thiệu Trị thứ 7 lên ngôi, năm sau đổi niên hiệu là Tự Đức. Trong “Đại Nam thực lục đệ tứ kỷ” viết, nghĩa của Tự Đức là “Tự tiên hoàng Thiệu Trị chi Đức” (kế thừa đức của vua cha Thiệu Trị).

Trong thời gian Tự Đức trị vì, nước Đại Nam dần dần suy yếu, người Pháp xâm nhập, xâm chiếm mấy tỉnh phía nam, ký hiệp ước bất bình đẳng, Việt Nam dần dần trở thành thuộc địa Pháp. Về văn hóa, cũng như vua cha coi trọng giáo dục văn hóa là Nho gia, biên soạn nhiều bộ sách sử như “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, và viết “Tự Đức Thánh chế tự học giải nghĩa ca”… Niên hiệu Tự Đức là niên hiệu sử dụng lâu nhất của triều Nguyễn. Các vua kế vị sau là Nguyễn Cung Tông và Hiệp Hòa cũng dùng niên hiệu này.

Tự Đức qua đời tháng 6 năm Tự Đức thứ 36, con nuôi trưởng của ông là Nguyễn Cung Tông Nguyễn Phúc Ưng Chân kế vị, nhưng kế vị được 3 ngày thì bị quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết soán cải di chiếu phế bỏ, và cũng chưa đặt niên hiệu. Sau khi Nguyễn Cung Tông bị phế, quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lập con thứ 29 của vua Thiệu Trị là Lang Quốc Công Nguyễn Phúc Hồng Dật lên ngôi, đổi tên là Nguyễn Phúc Thăng, sửa niên hiệu từ năm sau là năm Hiệp Hòa thứ nhất.

Hiệp Hòa 

Hiệp Hòa có xuất xứ từ sách “Thượng thư – Nghiêu điển” là “Hiệp Hòa vạn bang, lê dân ư biến thời ung” (hòa hiệp với vạn nước thì nhân dân thời biến loạn sẽ trở lại yên bình hài hòa). Đại Nam lúc này đã tơi tả thảm hại, vua mới hy vọng dưới sự trị vì của mình có thể hòa hiệp với nước Pháp, để nhân dân an định. Nhưng vua Hiệp Hòa chỉ là bù nhìn, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết chuyên quyền khiến vua hết sức bất mãn, muốn tiếp nhận chính sách bảo hộ do người Pháp đưa ra để chống lại đại thần phụ chính cường thịnh.

Sự việc bị Nguyễn Văn Tường biết và tấu bẩm Từ Dụ thái hậu. Ngày 29 tháng 11 năm 1883 đảo chính, Tường giết chết Trần Tiễn Thành và phế truất vua Hiệp Hòa, sử sách gọi là phế đế. Vì kế vị 4 tháng vẫn trong năm Tự Đức thứ 36, niên hiệu Hiệp Hòa vẫn chưa chính thức sử dụng.

Kiến Phúc – Niên hiệu của vua Đại Nam Giản Tông (1 năm, 1884).

Đại Nam Giản Tông tên húy là Nguyễn Phúc Hạo, tên gốc là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, là con nuôi của Tự Đức (con thứ 3). Quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết sau khi phế giết vua Hiệp Hòa, ngày 30 tháng 11 năm 1883 lập Giản Tông, đổi niên hiệu là Kiến Phúc. Trị vì 1 năm, thời gian đó Việt Nam và Pháp ký “Hiệp ước Thuận Hóa thứ 2”, Việt Nam trở thành nước bảo hộ của Pháp. Việt Nam đem ấn vàng Việt Nam Quốc Vương do triều Thanh ban nấu chảy, tuyên bố thoát ly quan hệ triều cống với triều Thanh.

Hàm Nghi – Niên hiệu của vua Đại Nam Xuất Đế (năm 1885, phong trào Cần Vương sử dụng đến năm 1889)

Vua Hàm Nghi tên húy là Nguyễn Phúc Minh, tên gốc là Nguyễn Phúc Ưng, con của Kiên Thái Vương. Vua Kiến Phúc mất, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết chuyên quyền không muốn để con nuôi thứ 2 của Tự Đức Nguyễn Phúc Ưng Kỳ lên ngôi, bèn đưa em trai Nguyễn Phúc Ưng Kỳ là Nguyễn Phúc Ưng Ủng lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Hàm Nghi. Hàm Nghi có nguồn gốc từ “Thi Kinh”: “Cảnh viên duy hàn thụ mệnh hàm nghi, bách lộc thị hà” (Núi Cảnh Sơn có sông lớn bao quanh, triều kế thừa triều Thương là thu mệnh trời, tất cả đều thích hợp, trăm lộc đều có cả). Nó phản ánh khát vọng cho nhân dân được yên vui của Hàm Nghi.

Khi vua Hàm Nghi trị vì, Việt Nam đã là thuộc địa của Pháp, người Pháp đối với hoàng thất cũng rất kiêu căng ngỗ ngược. Vua Hàm Nghi được Tôn Thất Thuyết phò tá lấy danh nghĩa hoàng đế ban “Cần vương chiếu”, và xin Mãn Thanh sắc phong, hiệu triệu nhân dân các địa phương nổi dậy chống sự thống trị của người Pháp. Các nơi khắp Việt Nam ào ào khởi binh hưởng ứng. Phong trào nổi dậy chống sự thống trị của người Pháp này được đời sau gọi là phong trào Cần Vương. Sau đó Hàm Nghi bị phản đồ bán đứng cho Pháp, bị bắt và lưu đày ở Algeria.

Đồng Khánh – Niên hiệu của vua Đại Nam Cảnh Tông (4 năm, 1885 – 1888)

Đại Nam Cảnh Tông tên húy là Nguyễn Phúc Biện, tên gốc là Nguyễn Phúc Ưng Thị, là con nuôi thứ 2 của vua Tự Đức, năm Tự Đức thứ 35 được vua Tự Đức sắc phong làm Kiên Giang Quận Công. Sau khi vua Hàm Nghi ra đi phát động phong trào Cần Vương, chính quyền thuộc địa Pháp để vỗ về dân chúng đã thương lượng cùng Từ Dụ thái hậu lập Kiên Giang Quận Công Nguyễn Phúc Ưng Thị làm hoàng đế.

Thế là ngày 9 tháng 8 năm Hàm Nghi thứ nhất, đổi tên theo tên đế hệ là Nguyễn Phúc Biện và làm lễ tấn quang, ngày 10 lên ngôi vua, đổi niên hiệu là Đồng Khánh, từ ngày 22 tháng 5 năm Hàm Nghi thứ nhất đổi là năm Ất Dậu Đồng Khánh, năm sau bắt đầu gọi là năm thứ nhất. Đồng Khánh có nghĩa là “Trung hưng đồng khánh” (phục hưng lại, tất cả đều vui mừng).

Lúc này triều Nguyễn hoàn toàn phụ thuộc vào Pháp nên để che giấu màu sắc thuộc địa, nên xưng là vua Đồng Khánh và người Pháp hợp tác khôi phục trung hưng Đại Nam. Vua Đồng Khánh tự nhận là “Quả nhân khôi phục lại hưng thịnh”, Đồng Khánh kế vị dưới sự bảo hộ của người Pháp tuyên bố Đại Nam là “Quốc thái dân an, phổ thiên đồng khánh” (Quốc thái dân an, khắp trời đều vui).

Thành Thái – Niên hiệu của vua Thành Thái

Vua Thành Thái tên húy là Nguyễn Phúc Chiêu, tên gốc là Nguyễn Phúc Bửu Lân, là con của Cung Tông. Năm Đồng Khánh thứ 3 vua Đồng Khánh qua đời, Khâm sứ Trung Kỳ người Pháp Lê-na đưa Nguyễn Phúc Bửu Lân lên ngôi, và đổi tên theo tên đế hệ là Nguyễn Phúc Chiêu, đổi niên hiệu là Thành Thái. Thành Thái có nguồn gốc từ “Dịch Kinh” là “Thái, tiểu vãng đại lai, cát hanh. Tắc thị thiên địa giao, nhi vạn vật thông dã” (Thái, đi nhỏ về lớn, tốt lành. Tức là trời đất giao hòa, vạn vật hanh thông). Có ý nghĩa là quẻ Thái là trời đất giao hòa mà Thành. Thái có nghĩa là an định.

Vua Thành Thái lên ngôi chú ý đến quốc sự, đi thị sát dân tình. Trong thời gian trị vì, thể hiện tương đối thân thiện với xã hội phương Tây, cũng là vị quân vương Việt Nam đầu tiên học lái xe, cắt tóc ngắn theo kiểu phương Tây. Tuy chịu ảnh hưởng của giáo dục nước Pháp sâu sắc, nhưng ông cảm thấy đau buồn vì quốc gia mình bị người Pháp khống chế. Năm Thành Thái thứ 17 (1907), vua Thành Thái bổ nhiệm một số quan lại mà chưa được sự đồng ý của chính quyền thực dân Pháp, làm cho người Pháp không tín nhiệm ông. Thế là Khâm sứ Trung Kỳ người Pháp phế truất vua Thành Thái.

Duy Tân – Niên hiệu vua kế tiếp Đại Nam (10 năm, 1907 – 1916)

Vua Duy Tân tên húy là Nguyễn Phúc Hoảng, tên gốc là Nguyễn Phúc Vĩnh San, là con trai vua Thành Thái. Năm Thành Thái thứ 17, Nguyễn Phúc Vĩnh San mới 8 tuổi được lập làm hoàng đế, đổi tên là Nguyễn Phúc Hoảng, đổi niên hiệu là Duy Tân, Duy Tân có nguồn gốc từ sách “Thượng Thư” là “Hàm dữ duy tân” (Tất cả đều được đổi mới), với ý nghĩa là Đại Nam dưới sự bảo hộ của người Pháp, đất nước đổi mới, mọi người dân được an lạc.

Trong thời gian vua Duy Tân trị vì, người Pháp kiêu căng ngỗ ngược, vua Duy Tân cực kỳ căm ghét. Cuối tháng 4 năm 1916 (năm Duy Tân thứ 10), vua Duy Tân bí mật gặp các thành viên của Việt Nam Quang Phục Hội, lên kế hoạch đảo chính. Nhưng đảo chính thất bại. Người Pháp dự định đưa vua Duy Tân trở lại hoàng thành làm hoàng đế, nhưng vua không muốn làm bù nhìn. Thế là vua Duy Tân và vua cha bị lưu đày ở đảo Reunion.

Khải Định – Niên hiệu của vua Đại Nam Hoằng Tông (10 năm, 1916 – 1925)

Tên húy là Nguyễn Phúc Tuấn, tên gốc là Nguyễn Phúc Bửu Đảo, là con của vua Đồng Khánh. Ngày 18 tháng 5 năm 1916 (ngày 27 tháng 4 năm Duy Tân thứ 10) Nguyễn Phúc Bửu Đảo được thực dân Pháp lập làm hoàng đế Việt Nam, đổi niên hiệu là Khải Định. “Khải” là khai mở, “Định” là bình an, an định. Vì 2 vua Thành Thái, Duy Tân làm trái ngược ý chí của người Pháp, Khải Định mang ý nghĩa cam chịu làm bù nhìn cho người Pháp nên đặt niên hiệu là Khải Định. Trong thời gian trị vì ông đã ban bố nhiều pháp lệnh có lợi cho người Pháp. Ông cũng giống cha ông không nhận được nhiều thiện cảm của người dân Việt Nam.

Khi trị vì, Khải Định đã đến Marseille Pháp, tham gia triển lãm các nước thuộc địa Pháp. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, hoàng đế xuất ngoại thăm viếng. Nhưng chuyến đi Pháp này bị mọi người chê trách. Sau khi vua Khải Định lên bờ cảng Marseille, thì gặp phải sự phản đối của nhóm người Việt lưu vong ở Pháp.

Bảo Đại – Niên hiệu hoàng đế cuối cùng

Vua Bảo Đại, hoàng đế cuối cùng của Việt Nam tên húy là Nguyễn Phúc Thiển, tên gốc là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy. Năm Khải Định thứ 10 (1926), Khải Định tạ thế, ông kế vị làm hoàng đế, đổi niên hiệu là Bảo Đại. Bảo Đại lấy từ “Tả Truyện – kỳ lục nhật” là “Tuy vạn bang, lũ phong niên, bảo đại, định công, an dân, hòa chúng” (Dẹp yên vạn nước, liên tiếp được mùa, giữ được vị trí nước lớn, lập công đức, làm dân yên ổn, hòa hợp với tất cả mọi người), ngụ ý là kéo dài phúc tộ nhà Nguyễn, lập công dựng nghiệp.

Các vị Vua triều nhà Nguyễn




Chuyện Cây kiếm của vua Hàm Nghi

Và nghi án Nguyễn Phúc Hồng Bảo

Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi, nhân rảnh rỗi bàn luận thế sự. Tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.

Trong giây phút cảm khái theo dòng lịch sử của gia tộc, anh kể tôi câu chuyện thâm cung bí sử sau đây về nghi án của Nguyễn Phúc Hồng Bảo.

“Lúc còn nhỏ ở Huế, tôi không sống cùng Ba Mạ mà sống cùng ông bà nội. Ôn Mệ cưng tôi lắm, nhứt là Ôn. Tôi muốn gì cũng được, thích gì cũng có. Tuy vậy, tôi vốn là một thằng bé ngoan, không đòi hỏi hay nghịch phá gì quá đáng nên hình như không có vấn đề gì. Chỉ một lần duy nhứt, vâng, một lần duy nhứt tôi bị Ôn bắt nằm xuống nã cho mấy roi.

Ở với ôn mệ, tôi được tự do tung tăng nhà trên xóm dưới, bất cứ chỗ nào muốn chơi đùa phá phách gì cũng được, chỉ chừa một chỗ duy nhứt Ôn dặn dò tôi không được đụng tới, đó là dưới gầm bàn thờ. Ôn tôi để một số đồ đạc gì của dòng họ dưới đó, tôi không biết.

Dĩ nhiên tôi rất vâng lời và không hề xâm phạm tới vùng cấm đó. Nhưng chỉ được một thời gian, sau khi đã nhàm chán và quen thuộc với khắp mọi nơi trong nhà, tôi bắt đầu tò mò và để ý đến vùng bí mật dưới bàn thờ mà bao lâu nay bao giờ cũng được một lớp vài điều che khuất. Trí tò mò của tôi trỗi lên mãnh liệt đến nỗi một hôm không dằn được, đợi Ôn Mệ đi vắng tôi vén màn chui vô xem.

Không có gì cả, ngoại trừ một số sách báo cũ từ thời nào. Chỉ có một cái hộp bằng gỗ cũ kỷ, chạm trỗ tương đối khá tinh vi, dài chừng một mét.

Nếu có điều gì bí mật, chắc chắn phải nằm trong cái hộp này. Tôi nhìn một hồi rồi không dằn được, mở ra, và thấy một thanh kiếm.

Một thanh kiếm rỉ!

Tôi ngạc nhiên vô cùng vì cái vật mà ôn tôi giữ kín và tôn trọng như gia bảo lại là một thanh kiếm tầm thường không có gì đặc biệt, giống như con dao dùng trong nhà dài hơn một chút, và bị rỉ sét trông thật xấu xí.

Tôi thất vọng lắm, tuy nhiên óc tò mò đã được thỏa. Tôi bỏ thanh kiếm vào hộp trả về chỗ cũ và lẳng lặng chui ra.

Nếu câu chuyện cây kiếm đến đây là hết thì tôi đã không bị một trận đòn, và không biết khi nào mới biết đến một lịch sử độc đáo của gia tộc.

Số là lũ con nít chúng tôi trong xóm vẫn tụ họp chơi đùa chia phe đánh nhau hằng ngày. Choảng nhau bằng tay hay súng miệng nổ đoành đoành hoài cũng chán. Một hôm tụi tôi quyết định một trò chơi mới. Cũng là chia phe đánh nhau như mọi khi, nhưng lần này tụi tôi sẽ… đánh kiếm. Mỗi thằng về nhà tự chặt tre hay kiếm một thanh gỗ nào đó tạo cho mình một thanh kiếm. Thằng nào siêng thì làm thêm cái bao cho thêm phần le lói, còn không thì cây kiếm tre thắt ngang lưng cũng oai phong lẩm liệt chán.

Tôi cũng định tự mình làm một cây kiếm tre. Nhưng hôm đó không hiểu phải đi đâu hay sao đó mà không thể làm xong. Đến giờ điểm quân chuẩn bị chiến tranh mà chưa có kiếm. Tôi bỗng nghĩ tới cây kiếm dưới bàn thờ và không suy nghĩ thiệt hơn gì nữa, sẵn dịp Ôn Mệ qua nhà hàng xóm ăn kỵ, tôi vào bàn thờ mở hộp lấy luôn cây kiếm và dông một mạch đến chỗ tụi tôi đã hẹn chia phe quyết chiến.

Dĩ nhiên cây kiếm của tôi tuy trông xấu xí và rỉ sét, nhưng vẫn là cây kiếm thật và rõ ràng là một chiến tướng giữa một bầy kiếm tre yếu ớt chỉ đáng làm quân sĩ. Đêm đó, vì vậy, tôi được bầu làm chủ tướng một phe.

Ỷ có cây kiếm sắt, tôi mặc sức tung hoành chiến trận vì mấy cây kiếm gỗ hay kiếm tre địch quân chạm vào kiếm của tôi không gãy cũng bị… cong hay mẻ, nên chúng nó chạy te hết. Phe tôi chiến thắng vẻ vang.

Sau chiến trận, tôi hối hả chạy về nhà để trả thanh kiếm về chỗ cũ.

Nhưng than ôi, thật là tai bay vạ gió.

Thanh kiếm tôi dắt sau lưng nãy giờ đã không còn nữa. Chắc là đã rơi trên đường chạy về mà không hay.  Tôi sợ quá muốn trở lại kiếm nhưng đường từ nhà tôi tới bãi cỏ nơi chúng tôi chiến đấu khá xa, và trời thì đã tối mịch biết đâu mà mò ?  Nên đành lặng câm vô nhà ngủ, và định bụng sáng mai sẽ dậy thiệt sớm trở lại đường cũ kiếm cây kiếm.

Nhưng có lẽ là định mệnh.

Sáng đó tôi ngủ quên và thức dậy khá trể.

Một thằng bạn trong nhóm đánh nhau hôm qua đi đâu sáng sớm nhặt được cây kiếm đem tới nhà trả ngay …ông nội tôi.

Không còn đường chối cãi.

Lần đầu tiên tôi bị Ôn la một trận tơi bời và phạt quỳ gối.

Tôi biết mình có lỗi, nhưng vẫn ấm ức vì nghĩ rằng cây kiếm vẫn còn đó đã mất đâu? Vả lại đó chỉ là cây kiếm cũ kỷ không có giá trị gì cả mà sao Ôn quý nó như vậy!

Càng nghĩ tôi càng tủi thân. Nghĩ rằng Ôn thương cây kiếm hơn là thương tôi. Vì vậy tôi đâm ra hờn dỗi không ăn uống gì cả mấy bữa liền, cứ ngồi khóc tủi thân…

Thấy tôi cứ tấm tức, Mệ nội dắt tôi tới trước bàn thờ chỉ bức ảnh lớn treo trên tường hỏi tôi có biết đó là ai không?

Tấm ảnh này dĩ nhiên tôi vẫn thấy hằng ngày. Đó là bức họa chân dung một người đàn ông bán thân, đầu đôi mão có vẻ như một ông quan. Tôi lúc đó chỉ biết mang máng là ông tổ của nhà tôi, còn ông là ai tên gì tôi cũng không hề biết.

Mệ tôi trịnh trọng nói rằng người đó là  AN PHONG CÔNG Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là hoàng tử trưởng của vua Thiệu Trị, mà theo lẽ phải lên làm vua nước Việt Nam sau khi vua Thiệu Trị băng hà.  Nhưng dĩ nhiên trong lịch sử thì Hoàng tử thứ Nguyễn Phúc Hồng Nhậm đã lên ngôi, tức là vua Tự Đức.

Và bà kể cho tôi nghe một câu chuyện năm xưa có liên hệ đến lai lịch của gia tộc nhà tôi.

Ngày đó, thật ra mệ tôi chỉ kể một cách đơn giản rằng hoàng tử Hồng Bảo là con lớn nhất, đáng lẽ phải được lên ngôi vua, nhưng vì mẹ là Đinh Thị phạm tội nên bị đuổi về làm thứ dân (tội gì thì mệ tôi cũng không biết). Cả đến họ Nguyễn của hoàng tử Hồng Bảo cũng phải bị đồi sang họ Đinh là họ mẹ. Cho nên ông Cố tôi là con của hoàng tử Hồng Bảo đã từng có thời mang họ Đinh của mẹ lưu lạc trong dân gian, mà đúng ra nếu vẫn giữ họ Nguyễn sẽ có vai vế chữ “Ưng” theo thứ tự “Đế Hệ Thi” của nhà Nguyễn hoàng tộc là

Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh

Bảo Quý Định Long Trường

Hiền Năng Kham Kế Thuật

Thế Thoại Quốc Gia Xương

Nhưng nếu vậy tại sao ông nội tôi không mang họ Đinh, mà trở lại họ Nguyễn?

Mệ kể rằng khi vua Hàm Nghi thoát ly khỏi kinh thành Huế truyền hịch Cần Vương để chống lại thực dân Pháp, ông Cố của tôi, về vai vế cũng như tuổi tác là vai anh của vua Hàm Nghi, đã vì lòng yêu nước đặt việc công trên việc tư đáp ứng hịch Cần Vương của vua dấn thân chống Pháp. Hai anh em đã nhận nhau trong thời gian kháng chiến chống Pháp này.

Đến đây tôi tạm mở một dấu ngoặc về nghi án Hồng Bảo

Sự việc hoàng tử Hồng Bảo tại sao bị thất sủng và con cháu phải đổi sang họ mẹ vốn là một nghi án lớn của triều Nguyễn.

Dòng họ tôi từ xưa đến nay vẫn truyền miệng cho con cháu rằng:  Hoàng tử Hồng Bảo tuy là con trưỏng, nhưng mẹ Định Thị lại là vợ thứ, và xuất thân dân giả. Hoàng tử thứ hai Hồng Nhậm tuy nhỏ hơn vai em, nhưng lại là con của chánh phi Phạm thị của vua Thiệu trị (Nhà Nguyễn không phong chức Hoàng Hậu cho vợ của vua lúc còn sinh tiền). Do đó, đã có sự đấu tranh giữa hai bà. Họ đã làm gì, đó là bí mật thâm cung bí sử. Chỉ biết rằng mẹ con Đinh thị và Hồng Bảo đã thất thế nên bị kết tội và đuổi về làm dân. Hoàng tử Hồng Nhậm lên ngôi thành vua Tự Đức.

Đó là trong gia tôc tôi kể lại như vậy. Sử sách chính thức đối với việc này hình như không thấy ghi lại. Có chăng là những sử liệu nghiên cứu đã đưa khá nhiều giả thuyết và nghi vấn khác nhau.

1-  Có tài liệu ghi rằng Hoàng Tử Hồng Bảo tuy là trưởng, nhưng là một người ham chơi biếng nhác không đủ tài làm vua. Vua cha Thiệu Trị thấy rõ điều này nên trước khi băng hà đã ủy thác lại cho trọng thần Trương Đăng Quế lập Hoàng tử thứ hai Hồng Nhậm vốn tinh anh mẫn cán, xứng đáng làm vua hơn anh.

2- Tài liệu khác cho rằng vua Tự Đức vốn là con của ông quan Trương Đăng Quế này đã đánh tráo vào cung từ nhỏ. Cho nên có dịp là ông Trương Đăng Quế đã thi hành thủ đoạn sửa đổi di chiếu của vua Thiệu Trị truất phế Hồng Bảo lập Hồng Nhậm lên làm vua.

3- Hoàng Tử Hồng Bảo tin rằng mình bị sang đoạt ngôi báu nên đã âm mưu làm phản mong chiếm lại ngôi. Mưu đồ thất bại, Hồng Bảo bị bắt, được vua Tự Đức tha chết chỉ giam vào ngục. Con cháu của Hồng Bảo đều bị đuổi làm thứ dân mang họ Đinh. Hồng Bảo đã thắt cổ tự vẫn trong ngục chết sau đó.

Caí chết của hoàng tử Hồng Bảo cũng là một nghi án, vì nhiều sử gia suy luận rằng vua Tự Đức không muốn mang tiếng giết anh nên giam vào ngục, nhưng đã âm thầm sai người giết chết, rồi dàn cảnh ông Hồng Bảo tự vẫn để diệt trừ mọi mầm mống phản lọan sau này.

Tất cả cũng chỉ là truyền thuyết được ghi lại mà thôi. Không có gì chứng minh cả.

Trở lại với phong trào Cần Vương của vua Hàm Nghi.

Lúc đó gia tộc tôi phải chịu mang họ Đinh lưu lạc trong dân gian, đối với vua Tự Đức có một ân oán như vậy, nhưng lại không liên hệ gì đến vua Hàm Nghi.

Vua Tự Đức vốn không có con và phải nhận cháu làm con nuôi. Sau khi ông  mất con nuôi là Ưng Chân lên nối ngôi tức là vua Dục Đức. Tình hình đất nước bấy giờ rất rôí ren. Phần thì ngoại xâm, phần thì các quan trong triều tranh đấu lẫn nhau, nên vua Dục Đức làm vua được ba ngày lại bị truất phế. Rồi vua Hiệp Hoà, vua Kiến Phúc lần lượt lên ngôi và bị hại trong một thời gian rất ngắn. Dân gian lúc đó có câu

“Nhất giang lưỡng quốc nan bất thuyết

Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường”

Nghĩa là

“Một sông hai nước, lời khó nói

Bốn tháng, ba vua, điềm chẳng lành”

Hai ông Thuyết và Tường đã được nhắc đến trong hai câu ca dao trên.

Ông hoàng Ưng Lịch, là cháu ruột của cả hai ông Hồng Bảo và Hồng Nhậm được đưa lên làm vua Hàm Nghi. Vua Hàm Nghi  đối với nghi án của ông bác Hồng Bảo có một cái nhìn khách quan hơn, và nhất là cảm cái tình của ông cố tôi đã quên thù nhà mà dấn thân giúp vua chống ngoại xâm. Lúc đó đang ở ngoài thành tranh đấu cùng thực dân, vua Hàm Nghi không có bên mình ngọc tỷ, hay cây kiếm lệnh trượng trưng cho uy quyền của Hoàng Gia. Vua bèn rút thanh gươm của người lính hầu cận đang ở bên cạnh để trượng trưng cho cây kiếm đó và tuyên bố “Trẩm từ nay cho phép hậu duệ của An Phong Công được trở về với họ Nguyễn. Và dòng trưởng được phép tiếp tục theo Đế Hệ Thi của Minh Mạng Hoàng Đế.”

Chỉ dòng trưởng mả thôi, còn dòng thứ chỉ có thể trở lại họ Nguyễn nhưng không được quyền theo Đế Hệ Thi.

Lời vua là kim khẩu.

Điều này giải thích tại sao ông nội tôi là Bửu V., Bác cả, anh của ba tôi là Vĩnh Q.,  và người con trai đầu của bác là Bảo C.  Trong khi thân phụ tôi là con thứ nên chỉ được trở về với họ Nguyễn mà không được theo Đế Hệ Thi.

Ngày đó khi lần đầu tiên nghe mệ tôi kể sơ về nguồn gốc của ông Hồng Bảo, tôi thật không ngờ gia đình mình lại có một lý lịch độc đáo như vậy. Và nếu không có sự cảm thông của vua Hàm Nghi ngày ấy thì bây giờ tôi vốn vẫn còn là họ Đinh chứ đâu phải họ Nguyễn!

Cây kiếm đó vua Hàm Nghi đã ban lại cho gia tộc tôi để làm bằng chứng, Ông cố tôi rất trân trọng vì đây là vật của vua ban, truyền lại cho ông nội tôi cất giữ. Tức là cây kiếm rì mà tôi lấy chơi suýt nữa làm rơi mất.

Nó chỉ là cây kiếm bình thường của một ngưòi lính thời bấy giờ mà thôi, nhưng với gia tộc tôi, trong một khoảnh khắc nào đó năm xưa đã trượng trưng cho uy quyền tối thượng của Hoàng Gia, của dòng họ mà vị vua yêu nước Hàm Nghi ban xá cho chi hệ gia tộc An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo được trở về với họ Nguyễn.

Sau bìến cố tết Mậu Thân 1968, căn nhà đó bị đạn bom đánh đổ. Ông Nội tôi cũng mất trong dịp đó nên cây kiếm không biết đã thất lạc về đâu. Vả chăng, nó cũng chỉ là một thỏi sắt rỉ, chỉ có giá trị lịch sử đối với gia tộc tôi mà thôi, còn ngoài ra không có một giá trị nào khác nữa.

Những chuyện thâm cung bí sử, nguồn gốc của gia tộc nhắc đến ở trên dựa một phần trên quyển gia phả ba tôi đã photo lại trước khi lên đường HO sang Mỹ. Tiếc rằng gia phả nhà tôi viết bằng chử Nho, và bảng dịch tiếng Việt thì chưa hoàn thành và dang dở thiếu sót rất nhiều. Tôi phải tự tìm hiểu lấy, đối chiếu qua sách vở và tài liệu từ Internet mà thôi.Ngày nay, gia tộc tôi dĩ nhiên vẫn truyền tụng về nguồn gốc của dòng họ từ Chúa Nguyễn Hoàng trở về sau. Tuy nhiên, thế hệ con cháu bây giờ chắc không còn ai biết và nhớ đến vật gia bảo cây kiếm của vua Hàm Nghi đó nữa.

Và anh kết luận: Những người Việt trong nước cũng như hải ngoại sau năm 1975 thường diễn giải câu sấm Trạng Trình “Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về” nghĩa là ông Nguyễn văn Thiệu đi, nhưng rồi ông Nguyễn Vĩnh Thụy (tức vua Bảo Đại khi đó còn sống) sẽ về, không biết rằng câu sấm ấy thực ra đã ứng nghiệm từ lâu rồi. “Nguyễn đã đi, và Nguyễn đã về”, ứng vào việc ngai vàng họ Nguyễn đã có lúc lọt vào tay ngoại tộc họ Trương, tức vua Tự Đức. Nhưng mệnh trời khó cãi, vua Tự Đức vì vậy không thể có con nối dõi, phải trao ngai vàng lại cho họ Nguyễn, tức “Nguyễn đã về.”

Nghe xong câu chuyện, tôi hỏi tấm chân dung ông Hồng Bảo hiện nay trong nhà có phải là tấm ở nhà ông nội anh năm xưa? Anh nói không phải. Tấm ảnh đỏ đã bị mất hay cháy trong tết Mậu Thân. Tấm này do anh tự vẽ lấy theo ký ức còn ghi lại trong đầu.

Anh nói thêm nếu tính theo vai vế thì anh hàng chữ “Bảo”, ngang với hoàng tử Bảo Long, Bảo Thắng. Tuy nhiên thân phụ anh là con thứ nên chỉ có thể trở về với họ Nguyễn mà thôi, không thể có chữ “Bảo” đệm trước tên được.

HẾT

Lời người viết:

Bài viết này hoàn toàn dựa vào lời kể của một người nhận là hậu duệ của An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, vị hoàng tử mà nếu không vì những thâm cung bí sử xảy ra như ở trên thì đã là vua nuớc Việt, không phải vua Tự Đức. Lịch sử Việt Nam cho đến ngày nay hầu như cố tình bỏ quên, hay có chăng chỉ là những giai thoại, sử liệu mập mờ về vụ án tại sao vua Thiệu Trị bỏ trưởng Hồng Bảo lập thứ Hồng Nhậm, hay cho đến cái chết của ông Hồng Bảo đến nay vẫn là một nghi án.

Người viết chỉ là kẻ ghi lại, không biết gì về gia phả hoàng tộc họ Nguyễn Phước, không có ý định, và càng không đủ tư cách viết lịch sử. Do đó, bạn đọc chỉ nên xem đây như là câu chuyện dã sử, và nhất là không thể dùng câu chuyện này như một chứng liệu lịch sử nào cả.

./.

ThaiNC




Bí ẩn về ngôi mộ của ông Trần Phú

Trước năm 1975, ngoại ô Sài Gòn có một nghĩa trang rộng lớn, được đặt tên là “Nghĩa trang Đô Thành”, nằm trên đường Lê Văn Duyệt (nối dài Sài Gòn) – đối diện là trại lính Nhảy dù Nguyễn Trung Hiếu, và sau lưng là Cư xá Sĩ Quan Chí Hòa (Bắc Hải).

Nghĩa trang này bị giải tỏa vào năm 1998, một phần đất phía sau bị chia chác biến thành nhà ở, còn một phần mặt tiền trở thành Công viên Lê Thị Riêng.

Khi làm việc đào phá tại nghĩa trang này vào ngày 4.1.1999, lao công bất ngờ tìm thấy mộ của ông Trần Phú (Tổng bí thư đầu tiên của đảng CSVN).

Qua đó, sau 68 năm ngày ông Trần Phú chết, nhà cầm quyền ở thành Hồ mới “phát giác” ra một “chứng tích lịch sử” vô cùng quan trọng – để rồi ngày 12.1.1999 vội vã đưa số xương cốt này về tái an táng tại quê nhà của ông ở tỉnh Hà Tĩnh.

Câu chuyện “bí ẩn’ là ở chỗ, tại sao mộ của một Tổng bí thư đảng CSVN lại nằm trong khu Nghĩa trang Công Giáo, ở phía sau Nghĩa trang Đô Thành (sát với con rạch của Cư xá Sĩ quan Chí Hòa). Nơi  dành riêng cho những người có đạo (có tên Thánh) mới được chôn cất.

Và tại sao tư liệu và lịch sử Đảng CSVN chỉ viết ông bị bắt và mất vào cuối năm 1931, ngoài ra “không ai biết ông mất trong hoàn cảnh nào và chôn cất ở đâu”.

Theo lịch sử hình thành Đảng Cộng Sản ở VN, thì ông Trần Phú là “học trò xuất sắc của Chủ tịch HCM”, được ông Hồ đưa về từ Quảng Châu vào tháng 4 năm 1930.

Cuộc đời làm “Kách Mệnh” của Trần Phú thật ngắn ngủi. Vào ngày 18.4.1931 ông Phú bị Pháp bắt giam, nhưng đến ngày 6.9.1931 (tức chỉ sau 5 tháng) đã qua đời tại bệnh viện Chợ Quán vì bệnh lao, lúc mới 27 tuổi (như vậy khó mà có thể tạo hào quang cho ông Phú là đã bị Thực dân hành hạ dã man đến chết trong tù).

Mới đây trên facebook của ông Trần Đăng Phiệt có nói đến việc mộ của ông Trần Phú được tìm thấy ở Đất Thánh họ đạo Chợ Quán nằm sau Nghĩa trang Đô Thành, với mộ bia và tên tuổi đầy đủ.

Nhà cầm quyền CSVN cũng bán tín bán nghi, nhưng sau khi thử DNA thì xác nhận đây chính là hài cốt của ông Trần Phú nên mới cho đem về Bắc, để lập khu tưởng niệm.

Câu chuyện ly kỳ ở chỗ: “Một cụ già lão thành Cách mạng (bị giam chung với ông Trần Phú) ở Trà Vinh khi tình cờ biết tin “tìm được mộ TBT Trần Phú” trên báo SGGP đã viết một lá thư dài tường thuật đầy đủ quá trình bị giam giữ, theo đạo, rửa tội, chết và an táng của ông Trần Phú tại nhà thương Chợ Quán rồi gởi cho Cha sở xứ đạo Chợ Quán vào ngày 03.7.2018″.

Cha sở họ đạo Chợ Quán lúc đó là Linh mục FX Lê Văn Nhạc; Ngài đã kiểm tra lại tài liệu lưu trữ của Giáo xứ giai đoạn 1930-1940 thì phát giác sổ rửa tội năm 1931 có ghi tân tòng Phê-rô Trần Phú. Sau đó ngài cho sao chụp hồ sơ lưu sổ rửa tội, và bức thư của cụ lão thành Cách mạng Trà Vinh ra làm ba bản. Một gởi cho Chính quyền TP, một gửi lên tòa Tổng Giám mục SG, một lưu tại giáo xứ.

Hiện nay tại bệnh viện Nhiệt Đới (nhà thương Chợ Quán cũ) số 764 Võ Văn Kiệt, P.1, Q.5; bước vào cổng phía tay trái có một công viên nhỏ và tượng đài Đức Mẹ nay vẫn còn lưu giữ, là nơi các dì phước thời xưa mỗi buổi chiều đến thăm nom, chăm sóc bệnh nhân và đưa Mình Thánh cho các bệnh nhân có đạo được rước Chúa. Vào các chiều thứ bảy, các dì tổ chức dạy Giáo lý và có các Cha đến giải tội.

Ông Trần Phú là một trong những bệnh nhân được cảm hóa, tin Chúa và cảm mến Chúa để được rửa tội tại đây. Đi vào hành lang bên tay phải, nhà cầm quyền cho dựng lại “một chuồng cọp” nói là nơi giam giữ ông Trần Phú lúc được đem đến đây chữa bệnh. Người ta cũng dựng lên một bức tượng của ông tại đó.

Một nữ y tá làm việc lâu năm tại nơi này cho biết: “Cái nhà đá nói là nơi giam giữ ông Trần Phú là chuyện tưởng tượng. Bởi thời đó Bệnh viện là bệnh viện, và nếu là phạm nhân thì họ chỉ cần còng tay vào giường và có người canh gác là đủ”.

Riêng Cha sở Lê Văn Nhạc nay đã 80 tuổi. Ngài đang nghỉ hưu tại GX Hạnh Thông Tây, Gò Vấp”. (Hết trích).

Cần biết, một người trưởng thành xin rửa tội vào đạo Công Giáo thủ tục còn khó hơn đứa trẻ sơ sinh. Giáo hội đòi hỏi người tân tòng phải học đạo, có người “đỡ đầu”, và trí óc còn minh mẫn (nếu là bệnh nhân).

Câu chuyện trên, chắc chắn không được nhà cầm quyền CSVN công nhận, bởi Lm Lê Văn Nhạc cho biết, ngài từng được Cán bộ CS đến hỏi thăm khi nhận được “hồ sơ” về việc rửa tội xin vào đạo Công Giáo của ông Trần Phú, và yêu cầu ngài không phổ biến tin tức này.

Và nếu phải nói về việc “ngoài dự kiến” không hay ấy, các văn nô viết lịch sử Đảng cũng sẽ nói “bọn thực dân và tay sai” đã ép buộc Đ/c Trần Phú vào đạo, để phá bỏ hình ảnh “vô thần” của Tổng Bí Thư.

Cho đến nay CSVN đã có 12 người làm TBT, nhưng rất nhiều ông khi chết đã bị hé lộ chuyện vẫn tin tưởng có thế giới bên kia, chứ không “vô thần” như lúc tuyên thệ vào Đảng.

Ông HCM cũng nói khi chết sẽ đi gặp Các Mác và Lê Nin. Ông Lê Khả Phiêu trong nhà có bàn thờ Phật to tướng, và khi hạ huyệt có nhiều sư tụng kinh gõ mõ..v.v.

Hiện nay, khi đi vào Công viên Lê Thị Riêng, người ta sẽ thấy phía bên trái có một tượng đài được xây dựng vào tháng 9.2005 dành cho ông Trần Phú với phù điêu mang hình cờ Đảng, cùng câu nói “nổi tiếng” của ông: “Hãy giữ vững chí khí chiến đấu”.

Cần biết, trước 1975 đây là nơi đầy “oan khiên, chướng khí”.

Vào năm 1963, gần trăm xác của các binh lính trung thành với TT Ngô Đình Diệm bị quân đảo chính bắn chết, và được đưa về đây.

Đến năm 1968 hơn 2 ngàn xác của Cộng quân bị hạ sát trong trận Tổng tấn công Tết Mậu Thân cũng được “tập kết” thành một lỗ.

Thê thảm hơn, vào ngày 30.4.1975 trên 3 ngàn xác chết của binh lính hai bên, và thường dân cũng được kéo về bỏ chất đống ở nghĩa địa, khiến dân chúng quanh vùng Ngã Ba Ông Tạ phải “ngộp thở” vì mùi tử khí trong nhiều ngày.

Và tất cả những người xấu số chết vào giờ thứ 25 này, đều đã được vùi chung trong một hố chôn tập thể.

Chưa hết, sau Tháng Tư Đen 1975, nhiều chuyến vượt biên không thành với vài chục xác chết của dân vượt biển (ở ấp Hàng Dầu) cũng được chở về đây, chờ người thân đến nhận.

Bên trong Công viên Lê Thị Riêng hiện nay còn có một hồ nước, nhưng không ai dám cho con em đến gần, bởi “các hồn ma nghĩa địa” đã kéo nhiều em chết chìm khi chơi dưới hồ, dù nước không sâu!

Nguyễn Vy Túy

Theo FB




PHƯƠNG XA

Thơ Vũ Hoàng Chương

Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng,

Xô về đông hay giạt tới phương đoài,

Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng,

Lòng cô đơn cay đắng hoạ dần vơi.

Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bẩy đứa,

Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh,

Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,

Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.

Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,

Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,

Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,

Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.

Men đã ngấm bọn ta chờ nắng tắt,

Treo buồm cao cùng hát tiếng hò khoan.

Gió đã nổi nhịp trăng chiều hiu hắt,

Thuyền ơi thuyền theo gió hãy cho ngoan.




ĐÔI GUỐC TRẮNG

Nhật Tiến 

đăng trong Văn Hóa Ngày Nay – Tập 2 – Tháng 7, 1958

Tôi đứng trên vệ đê nhìn xuống. Chuối xanh cả một vùng ven sông. Nắng lấp loáng trên những tầu lá. Vào buổi trưa, bốn bề êm ả quá. Chỉ có tiếng gió rì rào, tiếng chim chiêm chiếp và mơ-hồ có tiếng một nhà máy ở xa xa vẳng lại.

Qua những gốc chuối, bên kia là mặt sông. Nước xanh ngắt. Sóng nước nhòe trong ánh nắng loang-loáng như bạc.Tôi đi xuống dưới ấy. Lối cát trong vườn chuối phẳng lì. Hơi đất phù sa từ mé sông đưa lên âm ẩm. Quanh tôi đầy bóng mát; ánh nắng nghiêng nghiêng trên những tầu lá xanh và mỏng. Những bẹ chuối đang nở hoa.

Có vết chân ai đi trên lối cát. Tôi nhìn ra bờ sông. Bốn bề vắng lặng. Vết đi in sâu xuống thành một hố xinh xinh. Những vết guốc gót nhỏ với bàn chân thon. Tôi lại chăm chú nhìn ra bờ sông. Nắng nhấp nháy chói mắt. Không có ai ở ngoài ấy cả.

Vết guốc quanh co trong vườn chuối. Tôi nghĩ đến một thiếu nữ có mái tóc đen dài, có cặp môi mộng đỏ. Lần theo vết guốc ấy, tôi tưởng tượng đến một cuộc đi chơi của hai người trong bóng mát.

Vết guốc mất dấu ở ven sông. Cát ở đây đẫm nước nên mịn hẳn. Sóng giạt lên bờ rồi rút ra xa. Mấy lớp bọt vàng bị bỏ rơi lại, sùi lên rồi ngấm xuống.

Tôi nhìn vào những lùm cây chìa ra mặt nước. Mấy quả sung chín rơi lõm bõm. Và có một đôi guốc. Đôi guốc trắng nằm ở ven sông, lấm-tấm đất phù sa đỏ.

Tự nhiên tôi hồi hộp. Ở đây không phải có một mình tôi. Có hai người. Tôi và một thiếu nữ đang tắm ở sau bụi cây sung; tôi nhìn về phía ấy, và tưởng tượng sau bụi cây phải là một tà áo trắng mắc vào cành, gió đưa phơ phất. Tôi không nghĩ đến một mảnh quần lụa vo tròn trên bờ cỏ, nhưng nghĩ đến một mái tóc đen dài giãi trên mặt sóng, một thân hình óng ả đang đắm mình dưới làn nước veo. Có tiếng chim hót gần đây. Tôi ước gì mình được là con chim.

Ngoài mặt sông, sóng vẫn nhấp nhô rồi giạt lên bờ cát. Trời xanh lơ lơ. Khúc sông lấp loáng ánh nắng, lượn mình quanh những lùm cỏ, bụi cây. Bờ bên kia là ruộng mía. Đằng sau tôi là lối cát đi trong vườn chuối. Lối cát in những vết guốc lốm đốm chạy vòng lên chân đê.

Ở đây không có mình tôi. Có hai người. Hai đứa. Tôi mỉm cười, trầm ngâm.

Nhưng rồi tôi cũng phải ngược lại lối cũ. Bịn rịn đấy, nhưng cũng đành. Nếu không tôi sẽ xấu hổ với những con chim đang hót ở bờ sông.

Tôi bỏ lại phía sau đôi guốc trắng. Đôi guốc trắng nằm trên lòng cát mịn, có lấm tấm đất phù sa đỏ. Giá mang về được một chiếc để sau này khi quen nhau, lấy nhau rồi hai đứa cùng giở ra xem. Yêu biết mấy.

Và rồi tôi lại đứng trên vệ đê nhìn xuống dưới ấy. Chuối xanh cả một vùng ven sông. Nắng lấp loáng qua những tầu lá. Có những con chim đang chuyền cành. Có một mái tóc đen dài giãi trên mặt sóng và có một đôi guốc trắng nằm ở bờ sông.

Đôi guốc mà chẳng bao giờ còn có người đi.

Vì sáng hôm sau… có tin một thiếu nữ trầm mình ở chỗ ấy.

Nhật Tiến




Nhà văn Nhật Tiến qua đời

Nguyễn Vy Túy

Tuy Nguyen

Ông mất tại Hoa kỳ, thọ 84 tuổi.

ÔNG THEO CHÂN HIỀN THÊ CHỈ SAU 18 NGÀY.

Một nhà văn, nhà giáo đáng kính của thế hệ chúng tôi, đã qua đời  lúc 11 giờ 26 phút trưa ngày 14 Tháng Chín, 2020, (tức 27 Tháng Bảy, Canh Tý), tại thành phố Irvine, Nam California, hưởng thọ 84 tuổi, theo tin loan báo từ gia đình.

Nhà văn Nhật Tiến qua đời chỉ ít ngày “sau sự ra đi của hiền thê là nữ văn sĩ, dịch giả Đỗ Phương Khanh vào ngày 26 Tháng Tám vừa qua”, gia đình cho hay.

Trước 1975, ông là Giáo sư Cố vấn cho Thi Văn Đoàn Trầm Tích ở Sài Gòn (do tôi làm Thi Văn Đoàn trưởng), và từng ký tặng tất cả các tác phẩm của ông và tuần báo Thiếu Nhi do ông làm Chủ bút, cho thư viện của Trường Trung học Văn Đức, và tôi đã có vinh dự đến tòa soạn báo Thiếu Nhi để nhận và đưa về trường.

Cũng chính từ cuộc gặp gỡ này, ông nhận lời làm Cố Vấn.

Năm 1979, khi ông và gia đình gặp nạn Hải tặc trong vùng Vịnh Thái Lan (qua vụ án đảo Kokra), với tư cách chủ bút tuần báo Chuông Sài Gòn, chúng tôi đã vận động độc giả và chính quyền Úc cùng yểm trợ tài chánh để ông và các nhân chứng ra tòa chống lại bọn hải tặc.

Các bức thư trao đổi giữa tòa soạn và ông, chúng tôi vẫn còn cất giữ. Bởi đó là những chứng tích lịch sử về một thời oan trái đầy đau khổ, của những thuyền nhân bất hạnh trên đường vượt biển tìm tự do.

Bây giờ ông đã “đoàn tụ” với vợ trên thiên đường.

Đoạn đường Núi Sọ đầy chông gai, ông và bà đã đi qua.

Nguyện chúc Ông Bà an vui nơi miền cực lạc.

*Nguyễn Vy Túy

Dưới đây là tiểu sử nhà văn Nhật Tiến theo công bố của gia đình.

“Nhà văn Nhật Tiến tên đầy đủ là Bùi Nhật Tiến, sinh ngày 24 Tháng Tám, năm 1936, tại Hà Nội – là tên tuổi lớn trên văn đàn Việt Nam. Ông là tác giả tiếp nối của dòng văn học Tự Lực Văn Đoàn; và, bằng chính đời sống và sáng tác của mình, ông mở rộng những chủ đề và cả phong cách sáng tác theo dòng lịch sử đất nước. Có thể nói, lịch sử đặt ông vào những biến cố lớn của đất nước, để từ đó, thông qua ngòi bút của mình, ông trở thành tiếng nói của thời đại mà chính ông và gia đình là những nhân chứng sống. Năm 1954 ông di cư vào Nam, sống tại Đà Lạt, rồi Sài Gòn. Vượt biển vào Tháng Mười, 1979, và tỵ nạn tại Songkhla (Thái Lan) chín tháng. Ông và gia đình định cư tại California (Hoa Kỳ) từ năm 1980”.

“Về sự nghiệp văn chương, ông đoạt Giải Nhất Giải Văn Chương Toàn Quốc năm 1960-1961, với tác phẩm Thềm Hoang. Trước đó, năm 1952, truyện ngắn của ông lần đầu xuất hiện tại Hà Nội trên nhật báo Giang Sơn và những vở kịch trên tuần báo Cải Tạo năm 1953-1954. Tại Đà Lạt, năm 1954-1955, ông tiếp tục viết kịch truyền thanh cho đài radio tiếng nói của Ngự Lâm Quân. Từ năm 1958, tại Sài Gòn, 1958, ông tham gia Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay do nhà văn Nhất Linh chủ biên”.

Trước năm 1975, tại Việt Nam, ông từng viết cho: Giang Sơn, Cải Tạo, Thời Tập, Chánh Đạo, Bách Khoa, Văn, Tân Phong, Văn Học, Đông Phương. Tại hải ngoại, từ năm 1980 đến nay, ông được mời xuất hiện trên nhiều tờ báo và trang web. Riêng tại California, ông đã từ viết cho: Người Việt, Sài Gòn, Văn Nghệ, Hợp Lưu, Văn Học, Việt Tide, Vietstream, Khai Phóng, Chấn Hưng, Việt Nam Hải Ngoại. Ngoài ra, ông còn có tác phẩm trên Đất Mới (ở Seattle), Ngày Nay (ở Kansas City), Xác Định (ở Virginia). Xa hơn, bên ngoài Hoa Kỳ, ông có bài trên Chuông Saigon, Việt Luận, Chiêu Dương phát hành tại Úc châu, Lửa Việt tại Canada, Độc Lập tại Tây Đức), và Đường Mới, Quê Mẹ tại Pháp.

Tác phẩm của ông bao gồm nhiều thể loại: Truyện dài, truyện ngắn, truyện thiếu nhi, kịch-tiểu thuyết kịch. Đặc biệt, những năm sau này ông làm công việc khảo cứu gần như là văn học sử qua các tác phẩm Ghi Chép và Tiểu Luận. Ngoài viết văn, ông còn là nhà giáo. Ông dạy học, và tham gia các hoạt động văn hóa, giáo dục và xã hội khác. Ông là người viết thỉnh nguyện thư và sau trở thành thành viên của Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển (Boat People S.O.S. Committee), từ năm1980 đến 1990.

Các tác phẩm của nhà văn Nhật Tiến đã phát hành.

Truyện dài:

-Những Người Áo Trắng (1959)

-Những Vì Sao Lạc (1960)

-Thềm Hoang (1961)

-Mây Hoàng Hôn (1962)

-Chuyện Bé Phượng (1964)

-Vách Đá Cheo Leo (1965)

-Chim Hót Trong Lồng (1966)

-Tay Ngọc (1968)

-Giấc Ngủ Chập Chờn (1969)

-Quê Nhà Yêu Dấu (1970)

-Mồ Hôi Của Đá (1988)

Truyện ngắn: Đã viết hơn 100 tác phẩm, một số được giới thiệu trong các tuyển tập…

-Những Bước Tiên Của Tôi (1951, tuyển tập truyện và thơ chép tay đã thất truyền)

-Ánh Sáng Công Viên (1963)

-Giọt Lệ Đen (1968)

-Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972)

-Tiếng Kèn (1982)

-Một Thời Đang Qua (1985)

-Cánh Cửa (1990)

-Quê Nhà – Quê Người (1994, in chung với nhà văn Nhật Tuấn)

-Mưa Xuân (2013)

Truyện thiếu nhi:

-Lá Chúc Thư (truyện dài, 1969)

-Theo Gió Ngàn Bay (truyện vừa, 1970)

-Quà Giáng Sinh (truyện vừa, 1970)

-Đóa Hồng Gai (truyện vừa, 1970)

-Kể chuyện Tấm Cám (truyện ngắn, 1970)

-Ngày Tháng Êm Đềm (truyện vừa, 1972)

-Đường Lê Núi Thiên Mã (truyện dài, 1972)

-Thuở Mơ Làm Văn Sĩ (hồi ký, 1973)

Kịch & tiểu thuyết kịch:

-Người Kéo Màn (tiểu thuyết kịch, 1962)

-Hạ Sơn (kịch lửa trại, 1973)

-Công Lý Xã Hội Chủ Nghĩa (kịch một màn, 1988)

-Một Buổi Diễn Kịch (truyện ngắn kịch, 1990)

-Một Khoảnh Đời Thường (kịch một màn, 2013)

-Ông Giáo Hồi Hưu (kịch một màn, 2013)

Ghi chép-Tiểu luận:

-Hải Tặc Trong Vịnh Thái Lan (1981, viết chung với Dương Phục và Vũ Thanh Thủy)

-Thuyền Nhân – Vài Trang Bi Sử (2008)

-Hành Trình Chữ Nghĩa (2012)

-Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác (2012)

-Sự Thật Không Thể Bị Chôn Vùi (2012)

-Một Thời… Như Thế (2012)

-Từ Hội Bút Việt Đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam (2016)




Hồi ký về Đại tá Sử gia Phạm Văn Sơn

Trường Xuân Phu Tử Hồ Quang

Lời người viết: 

Tôi phải viết lại bài này một lần nữa cho rõ ràng hơn. Vì rằng, vừa qua cũng có những bài viết về cái chết của Ðại Tá Sơn, nhưng phần chính không nói được tính khí kiên cường của Ðại Tá mà chỉ xoáy vào mối liên hệ tình cảm cá nhân của 2 bên với nhau…

 

Tôi tuy không phải là người được khiêng xác Ðại Tá đi chôn (việc chôn cất tù nhân chính trị thường do nhóm tù hình sự đảm nhận vào ban đêm, nhằm khỏi gây dư luận xôn xao…) nhưng là người đưa xác Ðại Tá Sơn từ trạm xá đến nhà Vĩnh Biệt trong khuôn viên nhà tù, do đó tôi biết rất rõ về cái chết của Ông.

 

*  *  *

Chúng tôi từ nhiều trại “tập trung cải tạo” thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, gồm đủ mọi thành phần “nặng ký” khác nhau, đều bị chuyển xuống miền trung du, vì Trung Quốc sắp xua quân xâm lăng biên giới… Nói chung, Cộng Sản đã ghép chúng tôi vào loại “ác ôn” vì trong chế độ VNCH chúng tôi đã phục vụ ở các ngành: Tuyên Úy, Tình Báo, An Ninh Quân Ðội, Cảnh Sát, Chiến Tranh Chính Trị, Tâm Lý Chiến…

 

Giai đoạn này chúng tôi không còn được đi lại dễ dàng như khi sống trong núi rừng hồi còn Ðoàn 776 thuộc Nha Quân Pháp (Bộ Quốc Phòng) VC trông coi… mà bị tống ngay vào buồng giam do công an “áo vàng” cai quản. Trên danh xưng, bọn công an trại giam (thuộc Bộ Nội Vụ) bắt chúng tôi phải thừa nhận mình là “Cải Tạo Viên” chứ không phải là “Tù Nhân”…

 

Ngay từ khi bước qua cổng để vào sân trại giam K1 Tân Lập, chúng tôi đã thấy một cái gì đó rờn rợn cả người. Mọi thủ tục khám xét thật là khắc nghiệt, nhìn mặt mày hầm hầm của những tên công an vừa nộ nạt, vừa đấm đá mấy tên tù “hình sự” phụ giúp việc khám xét các tù “chính trị” mới đến mà tất cả chúng tôi thầm nhìn nhau… lắc đầu!

 

Không khí “cải tạo” do công an thuộc Bộ Nội Vụ cai quản làm chúng tôi ngột ngạt thật. Mấy ngày sau chúng tôi mới biết từ miệng các tù hình sự, các cảnh sát bảo vệ mang súng dẫn “đội tù” đi lao động như sau: Trại Tù Tân Lập là trại tù khét tiếng khắc nghiệt nhất tại miền Bắc, còn phân trại K1 là trại “điểm” của tỉnh Vĩnh Phú này.

 

Tỉnh Vĩnh Phú có 2 trại tù lớn, đó là Tân Lập và Phong Quan, nhưng Tân Lập lớn hơn (7 phân trại) và được Bộ Nội Vụ chọn làm trại tù kiểu mẫu cho toàn quốc.

 

Như chúng ta ai cũng biết chuyện “kiểu mẫu” của một trại tù dưới chế độ Cộng Sản luôn luôn phải hiểu rằng sự hà khắc, sự dã man do bọn cai tù áp dụng đối với tù nhân phải thật tàn bạo nhất mới được nâng lên làm “trại kiểu mẫu”. Phân Trại K1 Tân Lập đạt đủ các “tiêu chuẩn” gian ác đó, nên hàng năm mở Ðại Hội Tù Nhân luôn được giữ lá cờ đầu.

 

Chúng tôi bị giam ở trại này từ tháng Mười 1978, vì lúc đó những vùng biên giới phía Bắc là mục tiêu của quân Trung Quốc lăm le xâm chiếm. Và quả thực vào đầu Xuân 1979, Trung Quốc đã xua quân đánh các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam để dạy cho Việt Nam Bài Học Thứ Nhất!

 

Trong số các tù nhân chính trị từ Hoàng Liên Sơn bị đưa về trại tập trung quỷ tha ma bắt này, có Ðại Tá Phạm Văn Sơn.

 

Mặc dầu bị nhốt chung cùng một trại, nhưng lúc đầu anh em chúng tôi chưa biết hết nhau lắm, còn đối với Cộng Sản thì hẳn nhiên chúng quá rõ về lý lịch từng người chúng tôi. Họ phân chia chúng tôi thành nhiều đội theo “tội trạng” để nhốt chung vào một phòng. Phòng giam được bao bọc bởi 4 bức tường kiên cố, trần phòng giam được rào chằng chịt bởi những lớp kẽm gai, tất cả che khuất bằng tấm “pla-phông” cứng. Các cửa sổ của phòng giam đều có những song sắt ngang dọc có đường kính chừng 18mm. Phòng giam tập thể nào cũng có một lối đi chung ở giữa, dọc theo tường của phòng là 1 dãy sạp dài 2 tầng dùng làm chỗ ngủ cho tù nhân. Mỗi phòng giam chứa khoảng 200 tù, tính trung bình mỗi tù nhân có chừng 0.4m bề ngang để nằm, do đó các tù nhân thường nằm ngược đầu nhau mới có thể cựa mình được.

 

Lúc đầu thì Ðại Tá Sơn cũng như các anh em khác ở chung trong đội lao động. Chừng nửa tháng sau, không hiểu tình hình thế nào mà Ðại Tá cùng Cha Thịnh (Ðại Tá Giám đốc Nha Tuyên Úy Công Giáo), Mục Sư Kỳ (Ðại Tá Giám Ðốc Nha Tuyên Úy Tin Lành) và một người khác nữa tôi quên tên bị đưa vào phòng “cách ly”. Ðể giải thích chuyện này, Công An Trực Trại K1 Tân Lập nói rằng: Ðể tránh “lây lan” cho các “cải tạo viên” khác, nên những người này phải được cho ở riêng… Trên thực tế, Mục Sư Kỳ chỉ bị vàng da, Cha Thịnh bị bệnh “đồi mồi” loang đốm ở vùng môi và cằm, Ðại Tá Sơn cũng bi bịnh này nhưng nặng hơn (khắp cả tay chân mặt mày), bọn cai tù cho đây là bệnh “phong cùi”.

 

Rõ ràng chuyện bệnh tật của 4 người này chỉ là một trong trăm ngàn lý do mà Việt Cộng áp dụng nhằm ngăn cách những người chúng cho là nguy hiểm nhất trong tập thể anh em tù chúng tôi. Sau khi gom 4 người đó vào với nhau rồi, họ thấy việc làm quá trơ trẽn nên mới đưa thêm một Thiếu Úy Ngành Quân Báo còn trẻ, bị mụn nhọt làm thối ngón út của bàn chân trái, vào ở chung để lý giải danh xưng “bệnh cùi” cho hợp lý.

 

Phòng “cách ly” bây giờ gồm 5 người sinh hoạt chung với nhau, không được phép ra ngoài, đến giờ cơm nước, tù hình sự mang đến, không cho bất cứ tù chính trị nào lai vãng lại gần, mặc dù phòng cách ly này không phải là phòng kỷ luật. Phòng kỷ luật là 1 cái hầm nổi, xây gạch kiên cố, chật hẹp, chứa tối đa 2 người, thiếu ánh sáng, có hệ thống cùm chân bằng các khoanh sắt hình móng ngựa.

 

Ngày 2 buổi, trong khi anh em tù nhân chính trị khác làm kiếp lao động khổ sai, thì trong phòng “cách ly”, 4 vị “bự” này phải viết kiểm điểm, nhất là Ðại Tá Phạm Văn Sơn, ông phải trả lời hết mọi câu hỏi mà cán bộ chấp pháp trung ương từ Hà Nội về làm việc đặt ra. Gọi là lấy khẩu cung, nhưng thực chất họ có dụng ý muốn tìm hiểu để học hỏi thêm.

 

Cuộc sống của 5 người cùng “phòng cách ly” vẫn ngày tháng trôi đều: cơm 9kg/tháng, chia làm 2 bữa một ngày. Trưa, tối, bọn hình sự đem cơm tới, mỗi sáng thì ghé xem bên trong có ai bị việc gì không, tiện thể lấy phân để đem ra bón rau cải ở khu lao động, thỉnh thoảng năm ba ngày tên cán bộ trực trại cho họ đi tắm một lần trong giếng gần “đội nhà bếp”.

 

Mấy tháng trôi qua, một hôm cán bộ Việt Cộng phát hiện trong bài viết về lịch sử, khi so sánh 2 chế độ “tù” thời VNCH và thời XHCN của ĐT Sơn một điều gì đó chúng tôi không rỏ, nhưng họ cho đó là một việc làm “đại phản động hay cực kỳ phản động” nên Ban Giám Thị Trại Tân Lập “đặc biệt chiếu cố” bằng quyết định “mật” cho anh Sơn vào ngay hầm biệt giam tại K1. Tất cả anh em chúng tôi khi vi phạm điều gì đều bị gọi tên ra trước sân, riêng trường hợp Ðại Tá Sơn thì quá đặc biệt, ngay cả Cha Thịnh và Mục Sư Kỳ cũng không biết nốt. Cả hai vị này khi gặp tôi chỉ nói rằng:

– Họ chuyển ảnh đi đâu mất rồi, vì có đem theo hết tất cả đồ dùng cá nhân…

Nhàn là một tên “đâm thuê, chém mướn, lừa đảo, cờ bạc”. Tên này vẫn làm Trưởng Ban Thi Ðua để kềm kẹp chúng tôi. Hắn biết rõ Ðại Tá Sơn ở đâu vì y là người đưa cơm hàng ngày cho Ðại Tá Sơn khi bị cùm trong phòng biệt giam.

Một hôm Nhàn than phiền với tôi:
– Cái tên Sơn này cứng đầu… từ hôm bị biệt giam đến nay không chịu ăn chịu uống gì cả, lại còn phóng uế bừa bãi, linh tinh… thối chịu “đếch” được!

Thấy có cơ hội, tôi nói ngay:
– Thế anh đưa cơm hằng ngày cho hắn ta, hắn ta có chửi mắng gì anh không?
– Anh ta đâu có thèm nói năng gì mà chửi với không chửi… Chỉ cái tội viết bậy mà vào cùm nên khổ thân đấy thôi! Các anh bảo nhau mà liệu hồn!
– Tôi nghe nói khi ở phòng cách ly, anh ta được viết những gì đúng theo cán bộ yêu cầu kia mà?

– Thì đương nhiên phải đúng yêu cầu, nhưng diễn tả mặt tích cực thì được, đằng này cứ phanh phui chuyện tiêu cực thì hỏng ngay…

Tôi giả vờ:
– Như thế nào là tiêu cực? Anh cho tôi biết để còn giữ mình có thể cải tạo tốt không chỉ riêng bản thân mà còn giúp anh em khác nữa chứ…?

Nghe tôi hỏi có lý, tên Nhàn vênh mặt có vẻ như một cán bộ công an khi lên lớp cho các tù nhân:
– Anh ta khờ lắm! Viết gì không viết lại viết bài có nội dung đem so sánh hai chế độ tù giữa Chủ Nghĩa Tư Bản và Chủ Nghĩa Xã Hội… còn đem chuyện gian trá trong việc trao trả tù binh của hai bên ra phân tích… Chơi kiểu này thì chết thôi con ạ!

Chừng 4 ngày sau, tôi giả bộ đi ngang qua khu cấm này gọi là coi xem có vấn đề gì cho an ninh trại hay không. Trước khi đi tôi có báo cho tên cán bộ trực trại biết. Tên này dặn thêm: “Anh phải cẩn thận chứ tên Sơn khá nguy hiểm đấy nhé !”. Cũng từ câu nói của tên này, tôi mới xác quyết rằng Ðại Tá Phạm Văn Sơn đang bị kỷ luật.

Làm bộ như đang đi lo việc quan sát phía bên ngoài các phòng kỷ luật, nhìn quanh thấy không có ai, tôi nói nhẹ vọng vào:
– Anh Sơn, em là Q. đây, anh khỏe không? Ðói lắm không? Em vứt vào nửa cái bánh bột nhé!

Giọng thật nhỏ, yếu, vọng ra:
– Q. đó hả?

Tôi không cần gì cả, đừng vứt vào, bọn chúng đến kiểm soát thì chết cả lũ, ráng phải lo giúp các bạn khác nữa… Hôm nay đã 4 ngày tôi nhịn ăn rồi, ít hôm nữa thì anh sẽ rõ những việc tôi làm. Anh mau đi khỏi đây, và từ nãy giờ coi như anh chưa lại chỗ tôi, và cũng đừng nói với ai là tôi đang ở đây, nếu lỡ việc ra thì anh sẽ bị nguy, mà ngay chính tôi cũng không thể thực hiện ý nguyện của mình…

Tôi rón rén bước về phía các phòng giam khác giả vờ đi kiểm soát tổng quát…

Sau giờ xuất trại đi lao động chiều hôm ấy, một tên tù hình sự đến nói với tôi:
– Chú à, cháu đề xuất với chú chuyện này, khó khăn thật đấy, nếu vỡ ra thì cháu chết ngay, nhưng nếu không nói thì không được.

Tôi bảo ngay:
– Mầy lại lèng èng chuyện gì đây, linh tinh nữa phải không? Nhanh lên kẻo đến giờ tao phải phát dầu cho các buồng rồi đây!

Tên hình sự ngập ngừng:
– Vâng ạ, vâng ạ! Chú Sơn bảo chú cho chú ấy xin tờ giấy trắng, còn cháu thì có cây bút chì để chú ấy viết cái gì gì ấy mà…

Tôi như điếc cả 2 lỗ tai, không biết nghe có lầm không, nếu nó gài mình thì ngày mai tôi lại phải vào cùm, nếu nó thật lòng thì mình phải làm sao đây? Tôi giả vờ nạt nộ một hồi, xong nói tiếp:
– Thôi, tao không giải quyết được việc gì đâu, tao bận lắm, mầy ở đây coi văn phòng giúp tao một tí, đừng cho giấy tờ trên bàn gió bay lộn xộn, và không cho bất cứ ai sờ vào món gì cả nghe chưa? Tao phải xuống bệnh xá một tí là về ngay!

Nói xong tôi đi thật vội, không dám nhìn lại cho đến khi phải trở về lấy dùi trống đánh lên 3 tiếng gọi các “trực sinh” (danh xưng dùng cho những tù nhân lo việc vệ sinh, cơm nước cho anh em tù khác ra ngoài lao động) của các phòng đến nhận dầu về thắp trong đêm, chủ yếu để có lửa hút thuốc lào…

Ngoài ra, trong đêm, có ánh sáng leo lét của ngọn đèn tuy làm bằng vỏ chai cưa cổ, nhưng cũng giúp được nhiều việc như rủi có anh em nào đau nặng, cần cấp cứu là phải hô to: “Báo cáo cán bộ, phòng X có người đau nặng, xin được cấp cứu”. Hô to lên như vậy nhiều lần cho tới khi các tên cán bộ vào mở cửa thì anh em mới có thể thấy đường để khiêng người bệnh lên trạm xá. Nếu bệnh quá nặng thì để lại luôn tại trạm xá, nếu bệnh nhẹ hơn thì chỉ nhận 2 viên “xuyên tâm liên” rồi phải khiêng trả lại phòng giam ngay. Nói là “trạm xá” cho oai thôi, chứ thật ra cũng vẫn là một phòng giam bị khóa cửa cẩn thận như mọi phòng giam tù khác. Có nhiều anh em tù chính trị được cấp cứu trong những đêm như vậy, sáng hôm sau đã phải vĩnh viễn ra đi, có khi ngay tại trạm xá, đôi khi ngay tại phòng giam chung. Nói chung, tù chính trị chết nhiều hơn tù hình sự. Gần 2 năm bị giam tại trại Tân Lập, tôi chưa gặp một trường hợp nào tù hình sự bị mạng vong cả.

Hai ngày sau, tên cán bộ trực trại gọi tên Nhàn (Trưởng Ban Thi Ðua) đưa 2 tù hình sự khỏe mạnh khiêng Ðại Tá Sơn từ phòng Kỷ Luật xuống trạm xá, lúc đó đã 8g tối, các tù nhân khác đã vào chỗ ngủ. Màn đêm xuống, từ lâu… Tại trạm xá chả có thuốc men gì để giúp cho Ðại Tá Sơn khỏe lại mặc dầu biết Ðại Tá kiệt sức vì tuyệt thực đã mấy ngày… Thế rồi Ðại Tá bắt đầu đi vào mê sảng… Ðến 2g sáng hôm sau, Ðại Tá Sơn được đưa về lại Phòng Cách Ly cùng với Cha Thịnh, Mực Sư Kỳ, nhưng lúc này ông ta yếu lắm rồi, không nói được lời nào với các người chung phòng. Tình trạng dần dần đi vào mê man… cho đến 8 giờ sáng hôm sau.

Thường thì 7 giờ 30 sáng tên công an làm cán bộ trực trại vào mở cửa phòng cách ly để những người này làm vệ sinh cá nhân, sau đó họ phải vê than đá bột lại thành từng nắm vừa trong hai bàn tay, đem phơi khô để đội nhà bếp lấy về đun bếp. Công việc “vê” than này chỉ dành riêng cho 5 người trong phòng cách ly mà thôi. Hôm đó anh chàng Thiếu Úy Quân Báo, sau khi làm vệ sinh cá nhân xong, thấy Ðại Tá Sơn quá yếu sợ để nằm trong phòng sẽ ngộp thở vì thiếu không khí, nên đã đề nghị mấy người còn lại phụ khiêng Ðại Tá Sơn ra bên ngoài bên đống than đang “nắm” dở… để hưởng chút không khí trong lành.

Lúc đầu Ðại Tá còn gượng ngồi được giống như một người đang làm việc “nắm” than. Nhưng khi lệnh xuất trại đi lao động, thì cũng là lúc Ðại Tá không còn ngồi nổi nữa, ông gục mặt trên đống than dang dở, và bất động… Cũng đúng lúc đó anh tù chính trị làm ở nhà bếp đem xe cải tiến đến… Thay vì chở than về đun bếp như thường lệ, anh ta phải dùng ngay xe nầy để chở Ðại Tá Sơn lên trạm xá cấp cứu… Khi vượt qua sân trại thì đúng vào lúc chỉ còn một đội tù cuối cùng xuất trại, những người đi sau ngoái đầu nhìn ngơ ngác, không biết chuyện gì đã xảy ra… Khi kéo được Ðại Tá Sơn đến trạm xá, những người tù trong này chạy ra để phụ khiêng vào cấp cứu…Nhưng lúc đó Ðại Tá đã tắt thở rồi…

Ðại Tá Phạm Văn Sơn đã vĩnh biệt anh em như vậy đó! Đúng vào ngày 06/12/1978.

Khoảng 11 giờ trưa khi tất cả các tù nhân còn đang ở ngoài bãi lao động, thì xác Ðại Tá Sơn được nhóm tù hình sự và tôi đưa đến “nhà vĩnh biệt”, một cái chòi mái lợp tranh, vách tô bằng đất sét nhồi với rạ do chính anh em tù chúng tôi dựng lên phía Tây đằng sau khu nhà giam của chính mình.

Những bộ quần áo tù rách nát, vá víu chằng chịt được khoác thêm vào người anh Sơn để gọi là tạm ấm khi phải trở về lòng đất lạnh.

Tám giờ tối, các phòng giam của khu tù chính trị được khóa cẩn thận, thì cũng là lúc chiếc hòm bằng cây “vông đồng” sần sùi, tồi tàn đựng xác Ðại Tá được đặt trên xe “cải tiến”, do 4 tên tù hình sự kéo và đẩy đi. Họ chôn anh Sơn cạnh bên kia bờ suối nhỏ, phía bên này là một rừng sắn đang tươi tốt cao ngang lưng, thành quả lao động bằng máu và mồ hôi trong những ngày khổ sai của số người còn sống sót…

Tin về cái chết của Ðại Tá kiêm Sử gia Phạm Văn Sơn được giữ kín. Ðiều này chứng tỏ đã không có sự bình thường như mọi lần trước khi có một trong những anh em chúng tôi ra đi.

Ðại Tá Sơn nằm xuống yên lặng như thế, nhưng mọi việc còn lại gây nhiều chấn động không phải chỉ trong anh em tù với nhau mà ngược lại có sự bàn tán, tranh luận… thể hiện ngay trong nội bộ của bọn chỉ huy trại Tân Lập (K1) do nội dung lá thư viết bằng bút chì trên 1 trang giấy “tự túc” mà tên hình sự đã tự ý lấy tại phòng thi đua. Trong thư Ðại Tá Sơn nói rằng: “Xin các ông hãy xem xét lại cách đối xử với chúng tôi, những hình thức dã man như vừa qua hoàn toàn không có lợi mà ngược lại rồi đây trong lịch sử phải ghi thêm vào đấy vết ô nhục mãi ngàn đời sau cho dân tộc VN… vì đã có một thời mà người cộng sản từng đối xử dã man ngay với đồng bào, đồng loại của mình!” (Thực ra câu này, tôi chỉ viết dựa theo ý chính của tên Nhàn, còn nguyên văn thì không cách nào cá nhân tôi có thể xem được).

Sau biến cố này, bộ mặt sinh hoạt tù khác hẳn, kỷ luật nghiêm ngặt hơn. Về phía ban thi đua được tăng cường thêm 2 người tù chính trị làm trật tự, các đội trưởng phải chịu trách nhiệm hết mọi hành vi của đội viên mình trong mọi nhất cử nhất động.

Bên ngoài tuy phải áp dụng hình thức lao động khổ sai như cũ, nhưng bên trong bọn Việt Cộng đã ngầm bảo nhau cần nhẹ tay hơn. Trước đó, việc nấu nướng riêng tư không cho phép, nay thì có lệnh mỗi tù nhân vào sáng Chủ Nhật có thể xuống bếp trại để hâm lại những thức ăn riêng.

Hôm nay ngồi suy ngẫm lại chuyện cũ thì cái chết của Ðại Tá Sơn nào có khác gì những anh hùng Nguyễn Tri Phương (thà nhịn đói chịu đau mà chết chứ không bao giờ khuất phục giặc Pháp), Hoàng Diệu (lên thành treo cổ tự vẫn chứ không đầu hàng)… Ðại Tá Phạm Văn Sơn tuyệt thực trong nhà kỷ luật, chấp nhận cái chết, vì muốn đòi quyền lợi cho các anh em tù nhân chính trị khác được hưởng đúng theo quy chế của một tù binh theo luật quốc tế, tuy kết quả không như ông mong muốn, nhưng dầu sao cũng làm cho những anh em còn sống được dễ thở hơn…

Ðại Tá Sơn chịu chết để cho anh em chúng tôi sống…

Viết bài này với ước mong có thể thay mặt cho các anh em cùng sống chung với Ðại Tá kiêm Sử gia Phạm Văn Sơn tại trại K1 Tân Lập, xin được thắp nén nhang vái linh hồn Ðại Tá luôn được siêu thoát.

Trường Xuân Phu Tử Hồ Quang
Viết lại vào ngày 18/5/2010
Nguồn : Diễn Đàn Cựu SVQY

Di ảnh cố Đại tá Phạm Văn Sơn




NHỮNG BỨC ẢNH CUỘC THI DU LỊCH AGORA 2020 ĐẸP NHẤT

Theo Internet

* Agaro là ứng dụng di động có 3,5 triệu người dùng . Hầu hết là các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp và không chuyên .

* Đây cũng là đơn vị tổ chức các cuộc thi nhiếp ảnh với nhiều chủ đề khác nhau . Thu hút hàng trăn ngàn người tham gia mỗi năm .

* Năm nay , cuộc thi chủ đề ” Du lịch ( # Travel2020 ) ” diễn ra từ ngày 24/7 đến 7/8/2020 . Nhận được 13.685 ảnh dự thi .

* Sau 1 tháng bình chọn , ban tổ chức đã tìm ra top 50 ảnh tốt nhất . Và trao thưởng 1.000 usd cho tác giả Brian TR ( Tây Ban Nha ) với bức ảnh ” Khoảnh khắc kỳ diệu ” . Ảnh đạt giải nhất này chụp chính tác giả và bạn đồng hành là chú chó cưng , đang ngắm hoàng hôn ở Dolomiter – Italy – qua cửa lều .

* Dưới đây là một số ảnh xuất sắc nhất trong top 50 ảnh du lịch đẹp nhất năm 2020 của Agora :

* Tác phẩm ” Khoảnh khắc kỳ diệu ” của Brian TR , Tây Ban Nha . Giải nhất cuộc thi Du lịch (#Travel2020) của Agora

14

The winner of #Travel2020, Brian, who goes under the Instagram handle @rakia10 took this stunning photo from inside his tent in Seceda, Italy Credit: @rakia10/AGORA IMAGES

From breathtaking mountain views snapped from the opening of a tent to vast desserts of amber hues, over 13,000 snaps were submitted to the photo contest.

A shortlist of 50 finalists was narrowed down by competition judges for the mobile App, Agora, to find the overall winner.

Octavi Royo, Agora’s co-founder and CEO, said: “Thanks to these photos, we can travel to some amazing corners of our planet and see them from the point of view of travel photographers.”

STAY IN THE LOOP

14

The photo was taken on a chilly autumn morning on a road trip to the Black Forest region in Germany by @gloomicious, who was wanting to travel to get away from a stressful time at work Credit: @gloomicious/AGORA IMAGES

UP IN THE AIR

14

Ares Mahol captured his younger cousin’s face, lit up by the sky outside the plane as they flew to Iceland – it was the first time he had ever been on an aeroplane Credit: @ares_mahol/AGORA IMAGES

MELLOW YELLOW

14

German photographer Jörg Petermann wandering through the Austria Alps. The gloomy mist was broken up by cheerful yellow flowers Credit: @jp.photoart/AGORA IMAGES

ALPINE ADVENTURE

14

Snowshoeing in the French Southern Alpes, this photographer stumbled upon a cute snow coated cabin Credit: @ghislainfave/AGORA IMAGES

SHOESTRING TRAVEL

14

@Careless_Wandering shared a hair raising snap of her perching on the edge looking out over Horseshoe Bend in Canada Credit: @careless_wandering/AGORA IMAGES

DREAMBOAT

14

Arnold Maisner took this snap of his partner looking out as they floated along Lake Braies, Italy. Arnold wrote: “Enjoy the moment. Go on a journey and experience something. Get out of the comfort zone.” Credit: @arnold_maisner_photo/AGORA IMAGES

ICE COOL VIEWS

14

British snapper Dan Rose took this beautiful photo inside an ice cave at the foot of the Watzmann mountain Credit: @danrose/AGORA IMAGES

FLYING HIGH

14

@obra19 saw a paraglider float across the sky as the sun rose in the Philippines Credit: @obra19/AGORA IMAGES

WORLD WONDER

14

@Globaltravelphotography took a photo of his girlfriend wearing a traditional Indian Sari in the mosque on the side of the Taj Mahal Credit: @globetravelphotography/AGORA IMAGES

LIGHT UP YOUR LIFE

14

The Great Staples Tor rock formation under the milky way. The photographer used lights and long exposure to frame the landscape, capturing all the detail and magic of the location Credit: @theliamman/AGORA IMAGES

GOLDEN HOUR

14

The photographer captured himself walking down Mouse Tank Rd during golden hour, basking in nature’s glory Credit: @adamdesjardins0211/AGORA IMAGES

14

https://www.the-sun.com/news/1447989/travel-2020-agora-photo-competition/



RU TÌNH

Hôm nào mở cửa mùa Thu,
Nắng hanh mây tụ non mù quyện nhau,
Lửa tình chớm trước duyên sau,
Chiều nào mang sáo qua cầu thang mây.

Hôm nào mở cửa Hạ say,
Sóng trùng dương dợn ngất ngây gió nồng,
Sầu ve phượng vỹ nát lòng,
Ngày nào biển gọi ru dòng tình thơ.

Hôm nào mở cửa Đông mơ,
Trăng non buốt giá soi mờ bóng xiêu,
Người đi lỗi tạ muôn chiều,
Ru tình tạ lỗi cô liêu một thời.

Hôm nào mở cửa Xuân tươi,
Ra đi là mất mộng đời xuân xanh,
Gởi người ở lại an lành!
Gởi người ở lại Mai lành nguyên hương !

Hôm nào người ghé bến thương,
Người mang cả một thiên đường đê mê,
Bên nhau rộn rã non thề,
Thời gian ngừng bặt biển thề dưới trăng !

Tình em vằng vặc trăng rằm,
Tình anh sầu rụng rơi nằm trong thơ,
Bên nhau hò hẹn tận giờ,
Tình ru thắm thiết cuối bờ yêu thương…!

NGUYỄN THIÊN LONG