Ý NGHĨA CÁC NGÀY 19 THÁNG 8 VÀ 2 THÁNG 9 ĐỐI VỚI NGƯỜI VIỆT HIỆN NAY
Hàng năm, cứ đến tháng 8 dương lịch là chế độ CS Việt Nam tưng bừng tổ chức ăn mừng ngày 19 tháng 8, ngày họ cướp được chính quyền từ chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945, và ngày 2 tháng 9, ngày ông Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập” tại công trường Ba Đình, Hà Nội. Ít hàng phía sau nhằm cung cấp chút hiểu biết cần thiết cho một số bạn ở thế hệ trẻ, những người chưa có hoàn cảnh biết nhiều về hai sự kiện lịch sử ấy.
Những người Cộng sản Việt Nam cũng luôn luôn khoa trương rằng họ có công lãnh đạo dân tộc trong hai cuộc chiến tranh lớn: 1) Đánh Pháp để giành độc lập, và 2) Đánh Mỹ để thống nhất đất nước. Vì thế họ có quyền – và được độc quyền — lãnh đạo đất nước. Họ đồng hóa thể chế của họ với Tổ quốc Việt Nam. Ở trong nước, ai lên tiếng phê phán chế độ sẽ bị ghép vào tội phản quốc.
Năm nay 2025, đúng 80 năm sau khi những người CS Việt Nam giành được chính quyền năm 1945 và đưa dân tộc vào hai cuộc chiến tranh thảm khốc, tuy chấm dứt năm 1975 nhưng hậu quả và tình trạng phân hóa tới nay vẫn còn trầm trọng, chúng ta cũng nên bình tâm xét lại thực chất của cuộc “cách mạng” cùng nguyên do của hai cuộc chiến tranh ấy, rồi nhận định một cách khách quan xem công nghiệp của đảng CS Việt Nam lớn đến mức nào.
- “Đánh Pháp để giành độc lập”
Sau khi Thế chiến thứ 2 (World War II) chấm dứt năm 1945, các cường quốc Âu Mỹ ý thức được rằng trong hoàn cảnh mới, việc tiếp tục giữ các nước châu Á làm thuộc địa là điều không chấp nhận được nữa. Chế độ thuộc địa đã đến lúc phải cáo chung. Vì thế:
–Hoa Kỳ trả độc lập cho Philippines. Philippines tuyên bố độc lập ngày 4 tháng 7 năm 1945.
–Anh trả độc lập cho Ấn Độ. Ấn Độ độc lập từ năm 1947.
–Anh trả độc lập cho Miến Điện (tên cũ Burma, tên hiện nay Myanmar). Miến Điện độc lập từ tháng 1-1948.
–Anh trả độc lập cho Mã Lai (tên cũ Malaya, tên hiện nay Malaysia). Vốn do nhiều tiểu bang hợp lại, khung cảnh chính trị có phần phức tạp, Mã Lai được tự trị năm 1948, và hoàn toàn độc lập năm 1957.
–Hòa Lan trả độc lập cho Nam Dương. Lúc đầu, giới thực dân Hòa Lan tham lam không chịu trả, dân Nam Dương phải tranh đấu bằng võ lực trong 4 năm. Sau nhờ áp lực của thế giới, nhất là từ Hoa Kỳ, Nam Dương được hoàn toàn độc lập từ tháng 12-1949.
–Dân tộc duy nhất ở châu Á phải tranh đấu gian khổ đến năm 1954 và sau đó, đất nước bị chia cắt, là Việt Nam. Tuy có cảm tình với nền độc lập của Việt Nam, Hoa Kỳ đã không làm áp lực với chính phủ Pháp như đã làm với chính phủ Hòa Lan tại Nam Dương, không ép họ phải trả độc lập cho chính phủ Hồ Chí Minh. Lý do: Đó là một chính thể Cộng sản, và Hồ Chí Minh với nhiều bí danh khác nhau, đã được phát hiện là một chuyên viên của Cộng sản quốc tế, từng được huấn luyện ở Nga. Theo Gs. Tường Vũ, trong cuốn Vietnam’s Communist Revolution (New York : Cambridge University Press, 2017), sau khi tìm đọc thật kỹ trong Văn Kiện Đảng Toàn Tập của chế độ CS Hà Nội, vị giáo sư Chính trị học và Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Á châu tại University of Oregon đã phát hiện rằng ngay từ năm 1946, trước khi Mao Trạch Đông thành công ở Trung Hoa, trong các văn kiện Đảng, chính thể Hồ Chí Minh luôn luôn ca ngợi “các lực lượng của xã hội chủ nghĩa” do Liên Xô dẫn đầu và kịch liệt đả kích “chủ nghĩa đế quốc” (chỉ Hoa Kỳ) ¹. Tuy cộng tác với một số sĩ quan OSS của Hoa Kỳ năm 1945, tuy dùng một tấm hình mang chữ ký của tướng Claire L. Chennault để khoe với nhiều người là “được Mỹ giúp,” tuy dẫn lời bản “Tuyên ngôn độc lập” của Hoa Kỳ cho bản Tuyên ngôn do mình soạn, ông Hồ Chí Minh không phủ nhận sự kiện là một người Cộng sản. Trong những năm 1945, 1946, bên cạnh việc viết thư cho Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman, ông cũng viết thư kêu gọi sự giúp đỡ của lãnh tụ Liên Xô Stalin, và cùng không được trả lời. Ngay từ những năm 1941, 1942, báo Việt Nam Độc Lập do Hồ Chí Minh chủ trương, đã đăng những bài ca tụng nước Nga như một thiên đường, và viết, “Chỉ khi nào nước Nga toàn thắng, thế giới mới được thấy những ngày vinh quang” ². Cuối năm 1945, tuy tuyên bố “đảng Cộng sản tự ý giải tán” để che mắt dư luận, báo Sự Thật của “Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác” do Trường Chinh điều hành, trong số ra ngày 5 tháng 12, 1945, vẫn xác quyết, “Con đường duy nhất có thể đưa nhân loại đến tự do, hòa bình, và hạnh phúc, là ‘thực hiện triệt để’ chủ nghĩa Mác” (các trang 104-105) ³.
Mấy chục năm sau nhìn lại, theo nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, cuộc “Cách mạng tháng Tám” của Mặt trận Việt Minh năm 1945, thực ra chỉ là một hành động cướp chính quyền, và những người CS cũng dùng động từ “cướp.” Đáng buồn hơn, việc cướp ấy không cần thiết vì ở Việt Nam, sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh ngày 15 tháng 8 năm 1945, ở Việt Nam có một khoảng trống quyền lực:
–Người Pháp: Đã bị người Nhật gạt ra bên lề sau cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945, các nhân vật trọng yếu bị Nhật bắt giam.
–Người Nhật: Đã đầu hàng sau khi thua trận, nhất là sau khi nước Nhật bị hai quả bom nguyên tử. Họ đang chuẩn bị giao nộp võ khí để sẽ được đưa về nước.
–Chính phủ Trần Trọng Kim: Gồm một số nhà giáo, trí thức … không có tham vọng chính trị, được kêu gọi đứng ra quản trị đất nước sau khi chính quyền Pháp bị Nhật đánh đổ, chỉ quan tâm đến các vấn đề xã hội, cứu tế (đang có nạn đói trầm trọng), y tế, giáo dục …. Các vị sẵn sàng từ chức khi có người thay, và sau đó đã từ chức.
–Vua Bảo Đại: sẵn sàng thoái vị, tuyên bố “Thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ.”
Trong cuốn Bảo Đại, Trần Trọng Kim và Đế quốc Việt Nam (California : Truyền Thống Việt, 2017), Gs. Phạm Cao Dương đưa ra nhiều tài liệu cho thấy trong phiên họp giữa Hoàng đế Bảo Đại và Nội các Trần Trọng Kim ở Huế ngày 17 tháng 8 năm 1945, bên cạnh ý kiến giao hẳn quyền cho Việt Minh, có ý kiến của Luật sư Vũ Văn Hiền, Bộ trưởng Tài chánh, là: Việt Nam cần có một chính phủ hợp pháp để bảo đảm được trật tự, và để khi Đồng Minh tới, có sẵn một chính phủ đúng danh nghĩa pháp lý, có tư thế và thẩm quyền đối thoại với họ, không để họ mượn cớ là Việt Nam đang hỗn loạn, vô chính phủ mà giúp thực dân Pháp trở lại Việt Nam. Để đạt mục đích ấy, nên trao cho lực lượng Việt Minh quyền lập chính phủ, nhưng giữ lại thể chế quân chủ hiện có (đổi thành quân chủ lập hiến) ⁴. Ý kiến ấy được các vị Bộ trưởng am hiểu về luật, các ông Trịnh Đình Thảo, Trần Văn Chương và Phan Anh tán thành. Một đạo Dụ được soạn thảo ngay sau đó: Dụ số 105 ngày 17 tháng 8 năm 1945. Vua Bảo Đại sẵn sàng giao chính quyền cho Việt Minh là một tổ chức đấu tranh, và mời các lãnh tụ Việt Minh tới Huế để thành lập Nội các ⁵ .
Ngay từ đầu tháng 8 năm 1945, trong cương vị người cầm đầu Chính phủ, Thủ tướng Trần Trọng Kim cũng đã có ý định mời những người Việt Minh cộng tác. Nhân từ Huế ra Hà Nội, cụ nhờ Khâm sai Phan Kế Toại bắn tiếng mời Việt Minh cử đại diện đến nói chuyện. Tuy người tới gặp cụ còn rất trẻ, nhà giáo lão thành, tác giả Việt Nam Sử Lược đã nói như sau:
“Chúng tôi ra làm việc chỉ vì nước mà thôi, chứ không có ý cầu danh lợi gì cả, tôi chắc đảng các ông cũng vì nước mà hành động. Nếu vậy chúng ta tuy đi con đường khác nhau nhưng cũng một mục đích như nhau. Các ông thử xem ta có thể hợp tác với nhau, kẻ ở trong người ở ngoài, để cứu nước được không?” Trong những hàng phía sau, cụ Trần Trọng Kim tóm lược cuộc đối thoại giữa cụ và người đại diện của Việt Minh:
Người ấy nói:
“Sự hành động của chúng tôi đã có chủ nghĩa riêng và có chương trình nhất định để đem nước đến chỗ hoàn toàn độc lập. Chúng tôi có thể làm lấy được.”
–“Sự mưu cầu cho nước được độc lập cũng là mục đích của chúng tôi, nhưng vì đi đường thẳng có nhiều sự khó khăn nên chúng tôi phải uyển khúc mà đi từ từ có lẽ chắc chắn hơn.”
–“Chúng tôi chỉ có một con đường thẳng đi đến hoàn toàn độc lập chứ không có hai.”
–“Theo như ý các ông như thế, tôi sợ rất hại cho dân, mà chưa chắc đã thành công được.”
–“Chúng tôi chắc thế nào cũng thành công. Nếu có hại cũng không cần, có hại rồi mới có lợi. Dù người trong nước mười phần chết mất chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại, còn hơn với chín phần kia” (nhấn mạnh của người chép lại).
Rồi người ấy ngồi đọc một bài hình như đã thuộc lòng để kể những công việc của đảng Việt Minh. Thấy thái độ người ấy như thế, tôi biết không thể lấy nghĩa lý nói chuyện được. Tôi nói:
–“Nếu các ông chắc lấy được quyền độc lập cho nước nhà, sao các ông không vào chính phủ làm việc, cần gì phải đánh phá cho khổ dân?”
–“Chúng tôi sẽ cướp lấy quyền để tỏ cho các nước Ðồng Minh biết chúng tôi mạnh, chứ không chịu để ai nhường.”
–“Các ông có chắc là các nước Ðồng Minh tin ở sức mạnh của các ông không?”
–“Chắc lắm. Chắc trăm phần trăm.”
–“Tương lai còn dài, các ông nhận lấy trách nhiệm đối với quốc dân và lịch sử ” ⁶.
Theo Gs. Phạm Cao Dương, người thay mặt Việt Minh đến gặp cụ Trần Trọng Kim hôm ấy là Lê Trọng Nghĩa. Các tài liệu về ông Nghĩa cho thấy ông sinh năm 1922 (năm 1945 mới 23 tuổi). Sau khi Việt Minh thành công ông được bầu vào Quốc Hội, rồi làm Cục trưởng cục Quân báo. Ông được thăng đến Đại tá Chánh Văn phòng, làm Trợ tá cho tướng Võ Nguyên Giáp. Năm 1968 ông bị bắt vì bị coi là có liên quan đến nhóm “Xét lại chống Đảng,” bị giam và phải “lao động cải tạo” từ 1968 đến 1976. Ông bị khai trừ khỏi đảng CS, mất hết chức vụ và quyền lợi. Sau 47 năm giữ im lặng, trước khi qua đời năm 2015 ông để lại di chúc yêu cầu được minh oan. Theo một bạn thân của ông là Trần Đĩnh (Đèn Cù, Quyển 2, trang 535-549), ông Nghĩa rất đau lòng vì nỗi khổ của các con: trong lý lịch, họ bị coi là con một người phản Đảng. “Nghĩa sau đó vào Cầu Giấy kể lại với tôi. Rồi ngơ ngác, ‘Thế là mất hết à’?” ⁷
Lệ Trọng Nghĩa còn được mời tới gặp Khâm sai Phan Kế Toại sáng ngày 16 tháng 8 năm 1945. Lần này ông Toại chính thức mời Mặt trận Việt Minh cộng tác với chính phủ Trần Trọng Kim, và “vui lòng chờ Mặt trận cử người tham gia chính phủ.” Người cùng đi với ông Nghĩa, ông Nguyễn Khang (Chủ tịch Ủy ban Quân sự Cách mạng Hà Nội) dứt khoát trả lời, “Tốt nhất ông Toại nên từ chức, trao chính quyền lại cho Việt Minh” ⁸.
Theo nhà biên khảo David G. Marr trong cuốn Vietnam 1945 (Berkeley, CA : University of California Press, 1995), dựa theo các tài liệu từ phía Hà Nội, thì trước khi gặp ông Lê Trọng Nghĩa ngày 16 tháng 8, Khâm sai Phan Kế Toại đã tiếp một phái đoàn của Việt Minh do ông Nguyễn Khang cầm đầu ngày 13 tháng 8. Qua ông Khang, Khâm sai Toại mời Việt Minh giữ một số chức vụ trong chính quyền, nhưng ông Khang nhất quyết từ chối ⁹.
Trong lần tiếp xúc sau, xảy ra lúc 8 giờ sáng ngày 18 tháng 8 năm 1945, tại một biệt thự ở số 101 đường Gambetta, nay là đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội, đại diện chính phủ Trần Trọng Kim là giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật, một học giả lỗi lạc và uy tín đương thời. Giáo sư Hãn tự giới thiệu là “người đại diện cao cấp nhất của Thủ tướng Chính phủ tại Hà Nội,” và tới để báo tin, “Chúng tôi biết chắc chắn có tin quân đội Đồng Minh đã bắt đầu lên đường, chia nhau vào chiếm Nam Bắc vĩ tuyến 16 nước ta rồi. Đất nước đang có nguy cơ đe dọa lại bị xâm chiếm và chia cắt một lần nữa.” Giáo sư Hãn gợi ý, “Chúng ta hãy tiếp tục thương thảo, nói chuyện với nhau. Việt Minh các ông cứ nắm tất cả các vùng nông thôn, nhưng để cho chính phủ quản lý một số thành phố lớn, cốt để có danh nghĩa mà nói chuyện với Đồng Minh trong lúc này, không thì nguy cả” ¹⁰.
Các học giả Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn không phải là những người có tham vọng chính trị. Khi đề nghị Việt Minh duy trì thể chế quân chủ nhưng được quyền lập chính phủ điều hành việc nước, cũng như khi đề nghị Việt Minh để lại cho chính phủ đương thời một số thành phố lớn để có tư thế đối thoại với các lực lượng Đồng Minh sắp đến Việt Nam, các ông chỉ nghĩ đến quyền lợi của quốc gia. Hành động “cướp chính quyền” của Việt Minh đã khiến chính phủ do họ lập ra năm 1945 không được nhìn nhận là một chính phủ có căn bản pháp lý. Giữa tháng 9 năm 1945, khi tướng Douglas Gracey của Anh đem quân tới Sài gòn để tước khí giới quân đội Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16, đối mặt với những cuộc biểu tình hỗn loạn và tranh chấp bạo động dẫn tới đổ máu diễn ra quanh Sài gòn nhưng không tìm được người đại điện hợp pháp của Việt Nam để đối thoại, ông ta đã có những hành động thuận lợi cho người Pháp.
Theo Gs. Phạm Cao Dương, Lê Trọng Nghĩa còn đến dinh Khâm sai một lần nữa vào chiều ngày 18 tháng 8 để gặp bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, người đại diện chính phủ thay Khâm sai Phan Kế Toại đã từ chức, nhưng không phải để thảo luận mà chỉ cốt thăm dò tình hình.
Trong các lần tiếp xúc, trừ lần cuối cùng, các cụ Trần Trọng Kim, Phan Kế Toại và giáo sư Hoàng Xuân Hãn đều chân thành mời Việt Minh vào chính phủ làm việc để “cùng lo cho quyền lợi đất nước” nhưng tất cả đều bị từ chối. Lý do là Việt Minh, với nòng cốt là đảng Cộng sản, đã chủ trương “cướp chính quyển” để một mình lãnh đạo đất nước hầu thực hiện một cuộc cách mạng theo đường lối riêng, bất chấp những tai hại và nguy hiểm có thể xảy tới cho dân tộc, đúng như lời tuyên bố của Lê Trọng Nghĩa, “Dù người trong nước mười phần chết mất chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại, còn hơn với chín phần kia.” Đó cũng là lý do trong những năm 1945, 1946, trước và sau khi giành được chính quyền, Việt Minh đã tìm cách tiêu diệt toàn bộ các nhà trí thức có uy tín và những người hoạt động chính trị không phải là Cộng sản. Chúng ta có thể kể Phạm Quỳnh, Khái Hưng, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Huỳnh Văn Phương, Trần Văn Thạch, Ls. Dương Văn Giáo, bs. Hồ Vĩnh Ký và vợ là bs. Nguyễn Ngọc Sương, Trương Tử Anh, Lý Đông A, Nhượng Tống… Các lãnh tụ tôn giáo có ảnh hưởng như Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ của Phật giáo Hòa Hảo cũng bị sát hại.
Ngày 17 tháng 8-1945 ở Hà Nội, lúc 3 giờ chiều, nhân một cuộc biểu tình của Tổng hội Công chức trước Nhà hát lớn để ủng hộ chính phủ sau khi Nhật đầu hàng, cán bộ Việt Minh tới cướp máy vi âm, hô “Hoan hô Việt Minh” và trương cờ đỏ sao vàng. Nhà biên chép lịch sử Đoàn Thêm cho biết như sau, “Rồi đoàn biểu tình được lệnh chuyển bước, tuần hành qua nhiều đường lớn… Tới ngã sáu Cửa Nam, vài anh áo cộc quần đen, chắc chắn không phải là công chức, vừa chạy vừa phất lá cờ đỏ giữa có ngôi sao vàng, anh khác giơ một vật ít thấy ở thời đó là khẩu súng lục, bắn vài phát như để thị uy: “Anh em hãy cùng tôi hô ‘Mặt trận Giải phóng muôn năm’.” Vài công chức, có lẽ hoảng sợ quá, đành “Muôn năm” theo một cách gượng gạo và máy móc” ¹¹.
Ngày 19 tháng 8, từ sáng sớm, Việt Minh tổ chức biểu tình tuần hành từ trước Nhà hát lớn để đi “cướp chính quyền.” Theo hồi ký của nhà biên khảo Hoàng Tường trong Việt Nam Đấu Tranh (Westminster, CA : Văn Khoa, 1987), “Lúc mới xuất phát chỉ độ 500 người, nhưng sau đó cứ mỗi khu phố đi qua lại có dân chúng hiếu kỳ đi theo, nên đoàn biểu tình trở nên đông đảo, ước độ 2000 người, đa số là thanh niên, thiếu nữ, thiếu nhi. Dẫn đầu là một lá cờ lớn (nền đỏ sao vàng), rồi đến biểu ngữ lớn nhỏ… Hai bên đoàn người biểu tình diễn hành còn có một đám người cỡi xe đạp cắm cờ trên ghi đông, vừa đạp vừa hô, “Ủng hộ Việt Minh nắm chính quyền” ¹² . Bác sĩ Nguyễn Tường Bách kể lại, “Có người cầm cờ đỏ, nhỏ, bằng giấy, có người hô khẩu hiệu, “Ủng hộ độc lập, Đả đảo thực dân Pháp.” Thỉnh thoảng có vài người đi kèm, họ chia nhau rẽ vào các nhà bên đường xua người ra phố tham dự biểu tình. Vì vậy người xuống đường càng ngày càng đông, nam nữ già trẻ đều có; vì nếu không hồ hởi để đi biểu tình, cũng khó mà từ chối không dự vào một hoạt động để ủng hộ độc lập” ¹³.
Nhà biên khảo Hoàng Tường viết tiếp, “Đầu tiên đoàn biểu tình dừng lại trước phủ Khâm sai. Trong khi tiếng hô “Ủng hộ Việt Minh nắm chính quyền” vang dậy thì một bọn chừng hơn 10 người tách khỏi đoàn biểu tình tiến vào trong dinh, trước bộ mặt ngơ ngác của một anh Bảo an binh đứng gác. Đi đầu là hai người tay cầm lăm lăm khẩu súng sáu, và hai người khác khiêng một lá cờ đại, nền đỏ sao vàng. Thế rồi chỉ một lát sau, lá cờ được kéo lên trước cửa dinh, ngạo nghễ tung bay trước gió. Anh Bảo an binh gác ngoài cửa cũng được thay thế luôn: một người trong đám biểu tình tách ra, nhận lấy cây súng trường anh Bảo an binh trao cho, và đứng gác trước dinh.¹⁴ ” Khâm sai Phan Kế Toại có cảm tình với Việt Minh, nhất là sau khi Phan Kế An, con trai ông, gia nhập và hoạt động cho họ. Tối 17 tháng 8, sau khi biết việc xin từ chức đã được chấp thuận, ông rời dinh Khâm sai về nhà riêng. Trước khi đi, ông dặn viên Chánh quản và một Bảo an binh có nhiệm vụ canh giữ dinh, “Không nổ súng” để tránh đổ máu một cách vô ích.
Sau đó, đoàn biểu tình lần lượt diễn hành đến tòa Thị chính, nhà máy đèn, nhà bưu điện, rồi đến các ty sở khác, đài phát thanh. Cuối cùng họ kéo đến trại Bảo an binh … Cuộc đoạt chính quyền diễn ra êm ru. Đảng viên Cộng sản xuất hiện rất đông đảo, khoa tay múa chân, miệng hô: “Cách mạng thành công! Cách mạng thành công!” ¹⁵
Thật ra, nếu đáp ứng lời mời của vua Bảo Đại, vào Huế lập chính phủ trong tinh thần đạo Dụ số 105 ngày 17-8-1945 như đã nói trên, những người Cộng sản cũng sẽ làm chủ tất cả những dinh thự ấy cũng như các dinh thự khác trên toàn quốc, vì trong thể chế quân chủ lập hiến, ngôi vua chỉ mang tính cách biểu tượng quốc gia. Nhưng điều họ muốn là có thanh thế thật mạnh (cướp được chính quyền) để sau đó có thể thực hiện thêm nhiều hành động “ngày long trời, đêm lở đất” khác.
Trong hồi ký Một Cơn Gió Bụi, học giả Trần Trọng Kim cho biết, “Lúc bấy giờ người Nhật có đến bảo tôi: “Quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân Đồng Minh đến thay. Nếu chính phủ Việt Nam công nhiên có lời mời quân Nhật giúp, quân Nhật còn có thể giữ trật tự”. Tôi nghĩ quân Nhật đã đầu hàng, quân Đồng Minh sắp đến, mình nhờ quân Nhật đánh người mình còn nghĩa lý gì nữa, và lại mang tiếng “cõng rắn cắn gà nhà”. Tôi từ chối không nhận” ¹⁶.
Gần 70 năm sau, Trần Đĩnh, một nhà văn và biên khảo trưởng thành trong chế độ Hà Nội, cũng viết: “Tổng tư lệnh Nhật vào Huế, gặp Bảo Đại và Trần Trọng Kim, nói, ‘Nếu các vị yêu cầu, Nhật với 50,000 quân tinh nhuệ, có thể dẹp Việt Minh trong một đêm. Việt Minh có quá lắm là 5000 người, còn súng ống lại càng quá ít.’ Nhưng hai ông này từ chối” ¹⁷.
Sau khi Việt Minh cướp được chính quyền ở Hà Nội ngày 19 tháng 8-1945, vua Bảo Đại thoái vị, trao kiếm và ấn tượng trưng vương quyền cho đại diện của họ (Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận) ngày 25 tháng 8-1945. Một tuần sau, ngày 2 tháng 9-1945, ông Hồ Chí Minh đọc lời Tuyên ngôn độc lập.
Nhưng niềm vui không được lâu. Hơn 10 hôm sau, ngày 13 tháng 9-1945, theo tinh thần Thỏa ước Potsdam, Thiếu tướng Douglas Gracey của Anh đem quân tới Sài gòn để tước khí giới quân đội Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16. Tình trạng chính trị ở miền nam Việt Nam những năm 1945-1946 không ổn định. Nhiều nhân sĩ trí thức ái quốc, nhiều tổ chức tôn giáo không chấp nhận sự thao túng và những biện pháp khống chế của các nhân vật Cộng sản. Phía Cộng sản khủng bố, hạ sát nhiều nhân vật ưu tú của miền Nam, đưa tới việc nhiều tổ chức tôn giáo và nhân sĩ (như nhà giáo Trần Văn Hương) vừa lo sợ vừa bất mãn, tách khỏi phong trào kháng chiến do CS chỉ huy. Tình trạng mất an ninh quanh khu vực Sài gòn – Chợ Lớn khiến tướng Gracey ban lệnh thiết quân luật và cho võ trang một số thường dân Pháp, giúp Pháp có lợi thế. Sau khi tướng Leclerc của Pháp đem quân tới vào tháng 10-1945, ông mở rộng phạm vi kiểm soát của Pháp đến hầu hết các thị trấn và tỉnh lỵ miền Nam, dồn lực lượng Việt Minh vào thế co cụm, phải lẩn tránh vào các vùng hẻo lánh, bưng biền. Một trong những tài liệu đáng tin cậy, giúp chúng ta biết một cách khái quát vể tình trạng miền Nam những năm ấy là cuốn Gió Mùa Đông Bắc của bác sĩ Trần Nguơn Phiêu (Amarillo, TX : Hải Mã, 2008). Sinh năm 1927, ở đúng tuổi 18 năm 1945, ông đã tích cực dấn thân vào phong trào tranh đấu cho độc lập trong mấy năm đầu ¹⁸.
Sau khi tạm ổn định trong Nam, tướng Leclerc đem quân ra Bắc, chuẩn bị đổ bộ ở Hải Phòng. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, đại diện của Pháp là Jean Sainteny ký với ông Hồ Chí Minh một Hiệp ước sơ bộ, trong đó Pháp công nhận Việt Nam là một nước tự do trong khối Liên hiệp Pháp và trong Liên bang Đông Dương. Để đổi lại, chính phủ Hồ Chí Minh đồng ý cho Pháp đưa 15,000 quân vào miền Bắc trong vòng 5 năm. Mâu thuẫn Việt-Pháp sau đó gia tăng. Đêm 19 tháng 12-1946, Việt Minh tấn công quân đội Pháp ở Hà Nội, mở màn cho cuộc chiến tranh Việt Minh – Pháp kéo dài tới Hiệp định Geneva tháng 7 năm 1954.
Khi Việt Minh khởi sự giao tranh với Pháp cuối năm 1946 rồi bỏ Hà Nội và các đô thị chạy lên chiến khu, chỉ một tỷ lệ nhỏ dân chúng có phương tiện chạy theo hay tản cư tới những vùng tương đối an ninh gần quanh. Cư dân còn ở lại các thành phố vẫn cần được bảo vệ, trong đó có những trí thức và thành phần tư sản sẽ bị sát hại hoặc đàn áp nếu tới sống ở vùng do Việt Minh kiểm soát. Việc nhiều nước Á Châu được trả lại độc lập đã khiến một số không nhỏ người Việt nhận thấy nếu tập hợp quanh một nhân vật có uy tín, đủ tư thế đại diện, có thể tiến tới việc điều đình với người Pháp để thu hồi độc lập dần dần. Tháng 5 năm 1947, Cao ủy Pháp tại Đông Dương là Émile Bollaert đọc một bài diễn văn quan trọng ở Hà Đông, đưa ra quan niệm “độc lập trong sự liên lập,” và tuyên bố “sẵn sàng tham khảo tất cả các phe phái chính trị ở Việt Nam.” Đó là lý do khiến cựu hoàng Bảo Đại, người đã tự nguyện thoái vị năm 1945 với câu “Không muốn làm vua một nước nô lệ” được nhiều khuynh hướng chính trị người Việt tìm tới yết kiến, thỉnh cầu đứng ra làm đại diện. Cuộc chiến tranh cũng bị dư luận Pháp lên án. Vì thế Pháp và Việt Nam dần dần tiến tới Thỏa ước Hạ Long năm 1948, rồi Hiệp định Élysée năm 1949, trong đó Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam. Năm 1949 cũng là năm Cộng sản toàn thắng trên lục địa Trung Hoa. Hai khuynh hướng chính trị thành hình ở Việt Nam. Một bên là đoàn kết quanh một nhân vật có uy tín để điều đình với Pháp hầu thu hồi độc lập qua từng giai đoạn (phe Quốc gia), một bên là dựa vào sự giúp đỡ của Trung Cộng để đánh Pháp (phe Cộng sản).
Hiệp định Elysée chưa phải một hiệp định toàn hảo. Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập “trong Liên hiệp Pháp,” và xác nhận Nam Kỳ trở về lãnh thổ Việt Nam, nhưng về ngoại giao Việt Nam chưa hoàn toàn tự do. Việt Nam còn phải “phối hợp hoạt động với đường lối chung của Liên hiệp Pháp,” “các quốc gia được Việt Nam cử phái đoàn ngoại giao phải có sự tương đồng của chính phủ Cộng hòa Pháp.” Nói cách khác, năm 1949 khi ký Hiệp định Elysée, chính thể Quốc gia Việt Nam chưa được độc lập về phương diện đối ngoại.
Được tin Pháp ký Hiệp định Elysée với cựu hoàng Bảo Đại, ông Hồ Chí Minh phẫn nộ, tuyên bố “đó chỉ là một tờ giấy lộn.” Nhưng so với bản Hiệp định do chính ông ký với Pháp ngày 6 tháng 3 năm 1946, thì Hiệp định Elysée là một bước tiến xa và ở một cấp cao hơn.
–Trong Hiệp định ngày 6 tháng 3-1946, Pháp công nhận Việt Nam là một nước tự do “trong Liên bang Đông Dương và trong Liên hiệp Pháp.” Trong Hiệp định Elysée, Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập “trong Liên hiệp Pháp.” Liên hiệp Pháp là một hình thức kết hợp giữa một số quốc gia từng là thuộc địa của Pháp, cũng tương tự khối Liên hiệp Anh (British Commonwealth), gồm một số quốc gia từng có những gắn bó với Anh (như Úc, Tân Tây Lan [New Zealand], Canada, South Africa, và một số quốc gia nhỏ).
— Trong Hiệp định ngày 6 tháng 3-1946, Pháp không cam kết sẽ trả Nam Kỳ cho Việt Nam, chỉ nói rằng “chính phủ Pháp hứa sẽ thừa nhận những quyết định của dân chúng qua cuộc trưng cầu dân ý.” Trong Hiệp định Elysée, Pháp xác nhận Nam Kỳ trở về lãnh thổ Việt Nam.
–Người ký Hiệp định ngày 6 tháng 3-1946 với Hồ Chí Minh là Jean Sainteny, trong tư cách “phái viên của phủ Cao ủy Pháp, được sự ủy quyền của Đô đốc d’Argenlieu, đặc sứ toàn quyền của Cộng hòa Pháp.” Người ký Hiệp định Elysée với Cựu hoàng Bảo Đại là Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc Vincent Auriol.
–Trong Hiệp định ngày 6 tháng 3-1946, ông Hồ Chí Minh nhận đón 15,000 quân Pháp vào đóng ở miền Bắc Việt Nam. Nói cách khác, ông không chống lại mà hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Pháp trong lãnh thổ Việt Nam.
Từ đó trên đất nước Việt Nam hiện diện hai chính phủ song hành là chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo, và chính phủ Quốc Gia Việt Nam do Quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu. Chính thể Quốc gia là một lối thoát cho nhiều nhà hoạt động chính trị với tinh thần dân tộc và cho những người dân không thể sống dưới chế độ Cộng sản. Những năm sau đó, dân chúng bỏ vùng Việt Minh, hồi cư về các thành phố để sống dưới chính thể Quốc gia càng ngày càng đông.
Nhờ sự tận lực giúp đỡ của Trung Cộng, phe Cộng sản thắng Pháp ở Điện Biên Phủ năm 1954 và đất nước Việt Nam bị chia đôi ở vĩ tuyến 17. Miền Bắc theo chế độ Cộng sản. Những người tự thấy không thể sống với Cộng sản ở miền Bắc phải lánh vào miền Nam.
Trong cuộc chiến giữa Việt Minh và Pháp từ 1946 đến 1954, theo tài liệu của Việt Minh, số quân nhân tử trận và mất tích là 191,605 người. Theo các sử gia Tây phương, con số ấy từ 175,000 tới 300,000 người. Số thường dân Việt Nam bị chết được ước lượng từ 125,000 tới 400,000 ¹⁹. Việt Minh theo chính sách tiêu thổ kháng chiến, nên tất cả các đô thị bị đập phá tan hoang.
- “Đánh Mỹ để thống nhất đất nước”
Những hàng phía trên đã cho ta thấy khi Thế chiến thứ 2 chấm dứt năm 1945, nếu ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản không khăng khăng đưa đất nước vào con đường Cộng sản, Việt Nam có thể đã độc lập, nếu không sớm như Philippines và Ấn Độ (từ 1945 đến 1947), thì cũng tương tự Nam Dương (năm 1949), hay trễ lắm như Mã Lai (năm 1957). Đâu cần phải cầu xin Trung Cộng giúp đỡ để đánh Pháp rồi sau đó bị họ khống chế? Nếu các nhà lãnh đạo miền Bắc không khăng khăng áp dụng chủ thuyết Cộng sản, đất nước đâu đến nỗi phân đôi? Đâu cần một cuộc nội chiến thảm khốc để thống nhất đất nước?
Mặt khác, trong cuộc Chiến Tranh Lạnh (the Cold War) giữa hai đại cường quốc Nga – Mỹ (1947-1991), Việt Nam không phải quốc gia duy nhất bị chia đôi. Chúng ta cũng thấy có Đông – Tây Đức và Nam – Bắc Hàn. Đông – Tây Đức giữ tình trạng chia cắt cho đến khi thống nhất trong hòa bình năm 1990. Bắc Hàn chủ động tấn công năm 1950, gây nên cuộc chiến tranh Cao Ly (the Korean War) trong những năm 1950-53, nhưng sau tháng 7-1953 cũng chấp nhận chia cắt ở vĩ tuyến 38, giới hạn cuộc tranh chấp ở mức độ “chiến tranh miệng.” Việt Nam là quốc gia duy nhất trải qua một cuộc chiến thảm khốc với:
–Ở miền Bắc:
-Trên 849,000 quân nhân tử trận
-Trên 600,000 quân nhân bị thương
-Trên 232,000 quân nhân mất tích
-Số thường dân ở vùng do CS kiểm soát bị chết vì chiến tranh: từ 30 ngàn tới 182 ngàn.
–Ở miền Nam:
-313,000 quân nhân tử trận
-1,170,000 quân nhân bị thương
-Từ 195 đến 430 ngàn thường dân bị chết oan ²⁰.
Đúng là “nhất tướng công thành, vạn cốt khô”. Dân trong nước đã đưa ra lời nhận xét, “Con đường Bác đi là con đường bi đát.”
Đầu thập niên 1980, khi tướng Võ Nguyên Giáp bị đổi sang phụ trách “Ủy ban Sinh đẻ có kế hoạch,” trông coi việc hạn chế sinh đẻ và ngừa thai, người dân miền Bắc cũng đưa ra cặp câu đối:
Tướng Võ không còn Nguyên Giáp nữa,
Bác Hồ cũng chẳng Chí Minh đâu!
Đất nước hiện đã thống nhất nhưng lòng người vẫn chưa thổng nhất. Việt Nam bị tàn phá, trở nên lạc hậu, thua kém xa các lân bang. Trong khoảng đầu thập niên 1960, mức sống ở Hàn Quốc, Thái Lan, Mã Lai … thấp hơn ở Nam Việt Nam. Hiện nay họ tiến hơn rất xa. Có phải đó là “sự nghiệp vĩ đại” để các nhà lãnh đạo đảng CSVN muốn dân Việt phải “nhớ ơn?”
Để ép dân miền Bắc hi sinh, những người Cộng sản dùng tinh thần dân tộc và phương pháp lừa dối. Họ xuyên tạc là dân miền Nam bị “đế quốc Mỹ và tay sai” áp bức, vô cùng cực khổ, không có gì để ăn, nên thanh niên thiếu nữ miền Bắc cần hi sinh vào để “cứu” bà con ruột thịt miền Nam, như tinh thần câu thơ của Bùi Minh Quốc:
Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy
Dầu xa xôi gấp mấy cũng lên đường
Bùi Minh Quốc đã cùng vợ, nhà văn Dương Thị Xuân Quý, vào chiến trường miền Nam, gửi người con duy nhất của hai người là Bùi Dương Hương Ly nhờ bà ngoại nuôi hộ. Nhà văn Xuân Quý hi sinh ở miền Nam khi mới 28 tuổi, và khi con của hai người mới được 2 tuổi.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, theo chân đoàn quân chiến thắng vào tiếp thu Sài Gòn, nhà văn Dương Thu Hương đã “ngồi xuống vỉa hè ôm mặt khóc như cha chết,” vì nhận ra rằng, “Cái mô hình xã hội của miền đất bại trận mới chính là mô hình của nền văn minh, và chúng tôi, người trong đội ngũ chiến thắng, thì thực ra đã chiến đấu cho một mô hình xã hội man rợ.” “Điều đó khiến tôi hết sức cay đắng. Cả thế hệ của chúng tôi đã bị lừa…”. Theo bà, “Dân Việt Nam đã bị đẩy vào một cuộc chiến vô nghĩa.” Phía sau là đường dẫn đưa một số lời phát biểu đặc sắc của bà:
Đứng về phương diện kinh tế, mặc dầu trong hoàn cảnh chiến tranh, mức sống tại miền Nam vẫn cao hơn tại miền Bắc nhiều. Ca sĩ Ái Vân kể lại ngày đầu tiên bà từ Hà Nội đến thăm gia đình người chị ruột của thân phụ ở Sài gòn:
“Khi đến thăm cô Cả, cô sinh viên nghèo Ái Vân cũng mang biếu gia đình chút quà từ tiêu chuẩn ăn của mình. Chị Nga, … là con dâu trưởng của cô Cả, hỏi, “Cô mang cho chúng tôi quà gì thế?” Tôi trịnh trọng vừa mở bọc vừa nói, “Em biếu gia đình 2 cân gạo ạ, chắc nhà mình cũng đang cần.”
Ối giời, cả nhà cười nghiêng ngả, chị Nga cười đến nỗi suýt té từ trên ghế xuống sàn. Chị nói, “Giời ạ. Lại mang gạo cứu trợ cho chúng tôi nữa cơ đấy. Khổ thân em.” Rồi chị dắt tôi tới mở thùng gạo to tướng bằng nhựa, bên trong đầy ắp gạo, thứ gạo trắng muốt và thơm phức, nõn nà. Bây giờ tôi mới để ý trong nhà ngoài ti vi, tủ lạnh, còn có máy giặt và nhiều thứ lạ lẫm khác, cho thấy một cuộc sống rất tiện nghi, không thể có trong bất kỳ nhà nào ở miền Bắc tại thời điểm đấy…” ²¹.
Không riêng gì mức sống vật chất, nếp sống về tinh thần ở miền Nam năm 1975 cũng cao hơn ở miền Bắc. Ca sĩ Ái Vân cho biết tiếp:
“Trước đây cứ nghe nói đồng bào miền Nam “bị Mỹ Ngụy kìm kẹp,” khổ lắm, cứ hình dung dân Sài Gòn đói khổ lắm. Mới vào Sài Gòn tôi rất ngỡ ngàng. Chỉ cần nhìn cách ăn mặc, trang điểm, đi lại, ăn nói nhẹ nhàng; chỉ cần ra chợ mua gì cũng có câu cảm ơn và túi nilon đựng đồ đủ biết mình không cùng đẳng cấp văn minh với người ta rồi. Biết mình bị ngộ nhận với thông tin lệch lạc” ²².
Phía sau là những hàng tự thuật và nhận xét của một chuyên viên kỹ thuật miền Bắc được cử vào để “tiếp thu” miền Nam, Trương Minh:
“Xe vừa vào địa giới miền Nam, chúng tôi đã bấm tay nhau nhìn khung cảnh mới. Nhà cửa người dân cùng các công trình đô thị như cầu, đường gần các trục lộ giao thông trông đẹp và văn minh hơn hẳn miền Bắc. Đi rồi nghỉ ngơi rồi đi tiếp cho đến khi đoàn xe đến được khu công nghiệp Biên Hòa. Có quá nhiều nhà máy tại đây. Đoàn 18 người chúng tôi nhìn ngang nhìn dọc từng dãy nhà máy trong khu vực này, và tuy không ai nói với ai, đều trầm trồ trước công nghiệp miền Nam.
“… Ngay từ lúc còn ngồi trên xe buýt nhìn cảnh vật dọc theo đường và khu phố dẫn vào Sài Gòn, tôi đã thấy vượt trội nhiều lần so với thủ đô Hà Nội. Một vẻ bề ngoài sáng sủa, văn minh, lộ ra từ cách phục sức, sinh hoạt của người dân miền Nam.
“… Sài Gòn, hay nói rộng ra cả miền Nam, không phải là một xã hội lạc hậu, nghèo nàn, đói khổ, đầy rẫy cảnh người bóc lột người như bao lâu nay người dân miền Bắc được (hay bị) báo đài Hà Nội mô tả… Đây là mô hình của một xã hội văn minh, và người nào được sống trong xã hội này quả thật may mắn hơn sống ở xã hội XHCN tại miền Bắc. Tiếc thay! Một xã hội như thế lại vừa bị cướp mất đi” ²³.
Theo nhà nghiên cứu văn hóa Vương Trí Nhàn, “Không chỉ kinh tế tốt hơn mà giáo dục miền Nam lúc đó cũng hơn. Không chỉ đường xá tốt mà tư cách cá nhân của con người trong đó nói chung cũng trưởng thành hơn con người miền Bắc. Trình độ hiểu biết và tuân thủ pháp luật tốt. Giữa người với người có quan hệ tử tế, thanh thiếu niên lúc đó ham học và biết học hơn.” ²⁴
Trong bài “Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc” đăng trong tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 7-8 (114-115) năm 2014, với chuyên đề “Giáo dục miền Nam Việt Nam 1954-1975,” ông nhận xét thêm: “Trong khi khác biệt với giáo dục miền Nam, thì giáo dục miền Bắc cũng khác nhiều so với thế giới. Đủ hiểu tại sao sau khi đào tạo trong nước, ra tiếp xúc với xã hội hiện đại, cánh học sinh, sinh viên miền Bắc bọn tôi thường ú ớ, lạc lõng, trong khi những người được giáo dục miền Nam đào tạo thì hội nhập rất tự nhiên và hiệu quả” ²⁵ Phía sau là đường dẫn đưa tới trang blog đăng những bài suy tư của ông:
Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc
Xã hội miền Nam năm 1975 chưa phải là một xã hội toàn hảo. Nền dân chủ miền Nam đang xây dựng năm 1975 chưa phải là một nền dân chủ kiện toàn. Nhưng theo nhận xét của một nhà văn (Dương Thu Hương), một nghệ sĩ (Ái Vân), một chuyên viên kỹ thuật (Trương Minh), một nhà nghiên cứu văn hóa (Vương Trí Nhàn) cùng tới từ miền Bắc, xã hội ấy không cần các lãnh tụ Cộng sản tại Hà Nội xua quân vượt Trường Sơn để “giải phóng.” Hơn hai triệu người Việt đã bị hi sinh trong một cuộc chiến huynh đệ tương tàn thảm khốc và vô nghĩa. Như vậy ngày 19 tháng 8 năm 1945, ngày Việt Minh cướp chính quyền từ chính phủ Trần Trọng Kim ở Hà Nội, trong khi vua Bảo Đại và các cụ Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn … nhiều lần mời cộng tác, có đáng được coi là một ngày để dân Việt “hân hoan kỷ niệm” hay không?
GHI CHÚ
1. Tường Vũ, Vietnam’s Communist Revolution (New York : Cambridge Univ. Press, 2017), trang 105.
2. Sách đã dẫn, trang 95-96.
3. Sách đã dẫn, trang 104-105.
4. Phạm Cao Dương, Bảo Đại, Trần Trọng Kim và Đế quốc Việt Nam (California : Truyền Thống Việt, 2017), pp. 288-289. Xem thêm Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Đình Huế đến Chiến Khu Việt Bắc (Tp HCM : NXB Trẻ, 1996), pp. 76-77.
5. Phạm Cao Dương, op. cit, pp. 289-290.
6. Trần Trọng Kim, Một Cơn Gió Bụi (Saigon: Vĩnh Sơn, 1969), pp. 86–88.
7. Trần Đĩnh, Đèn Cù, Vol. 2 (Westminster, CA : Người Việt Books, 2014), pp. 545–547.
8. Phạm Cao Dương, op. cit., pp. 307–309.
9. Marr, David G. Vietnam 1945 (Berkeley: University of California Press, 1995), p. 374.
10. Phạm Cao Dương, op. cit., pp. 309-311.
11. Đoàn Thêm, Những Ngày Chưa Quên, 1939–1954 (Sài Gòn: Nam Chi Tùng Thư. Reprinted Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1969), pp. 47–48.
12. Hoàng Tường, Việt Nam Đấu Tranh (Westminster, CA : Văn Khoa, 1987), p. 68.
13. Nguyễn Tường Bách, Việt Nam Một Thế Kỷ Qua: Hồi Ký, Vol. I. (Westminster, CA: Thạch Ngữ, 1998), p. 169).
14. Hoàng Tường, op. cit, p. 68-69.
15. Ibid., p. 69.
16. Trần Trọng Kim, op. cit., p. 93.
17. Trần Đĩnh, op. cit., p. 478.
18. Trần Nguơn Phiêu, Gió Mùa Đông Bắc (Amarillo, TX: Hải Mã, 2008).
19. From Wikipedia:
First Indochina War – Wikipedia
20. From Wikipedia:
Vietnam War – Wikipedia
21. Ái Vân, Để Gió Cuốn Đi: Autobiography (Saigon: Hội Nhà Văn Pub., 2016), pp. 156–157).
22. Ibid., p. 156.
23. Trương Minh, “Chuyện kể của một người chiến thắng khi vào Nam” (Story of a victor entering the South.” In Nguyễn Tường Tâm, Cuộc Chiến Việt Nam 50 Ngày Cuối Cùng (San Jose, CA : NT Tâm, 2025), pp. 509–512.
24. “Cú sốc giáo dục khi vào Nam tiếp quản” (The educational shock when entering the South for takeover). In Nguyễn Tường Tâm, op. cit., pp. 517-518.
25. Vương Trí Nhàn, “Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc” (Some reflections on the differences between southern and northern education), in Nghiên Cứu và Phát Triển (Research and Development), Nos. 7–8 (114–115), 2014, p. 267.
TS NGUYỄN HỒNG DŨNG – THĂNG HOA CUỘC ĐỜI
THĂNG HOA CUỘC ĐỜI
Kỳ 125 Tư Tưởng Cấp Tiến Giữa Dòng Nguyên Thủy
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
Kinh Duy Ma Cật ra đời không phải là sự ngẫu nhiên, mà phản ánh một nhu cầu thiết thực trong việc truyền bá Phật pháp cho quảng đại quần chúng. Từ sau kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất, ngay sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết bàn, tư tưởng về sự canh tân Phật giáo đã manh nha trong tâm trí của nhiều vị đệ tử. Điều này vốn là quy luật tự nhiên của bất kỳ một đoàn thể hay tổ chức nào vì khi số lượng thành viên càng đông, thì nhu cầu đổi mới, thích ứng với xã hội càng trở nên cấp bách; huống hồ giáo đoàn của Đức Phật ngày càng lớn mạnh, gồm đến một ngàn hai trăm vị Tỳ kheo, rồi hàng trăm Tỳ kheo ni, cùng vô số hàng Ưu bà tắc, Ưu bà di. Đứng trước thực tế ấy, việc đổi mới phương cách hoằng hóa là điều tất yếu để Phật pháp có thể thấm sâu vào đời sống con người.
Tất nhiên, Phật giáo nguyên thủy vẫn là nền tảng căn bản không bao giờ thay đổi. Đó là cốt tủy của giáo pháp như Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, giáo lý về vô thường, vô ngã, khổ, không, Niết-bàn… Đây chính là gốc rễ của cây Bồ đề, là nền móng vững chắc của đạo giải thoát. Nhưng xã hội con người luôn chuyển biến, phương tiện sinh hoạt luôn đổi thay, tầm nhìn và cách sống cũng ngày càng khác trước. Nếu cứ giữ nguyên hình thức cứng nhắc, e rằng quần chúng sẽ khó tiếp nhận. Ngược lại, nếu phóng túng quá, xa rời tinh thần uyên áo của Đức Phật thì dễ rơi vào tà đạo. Chính từ đó, Đại thừa Phật giáo ra đời, với sắc thái được ví như “gấm thêu hoa” bởi không phủ nhận nền tảng nguyên thủy, mà còn làm cho Phật pháp thêm phần phong phú, sinh động, dễ hội nhập vào xã hội, trong khi vẫn giữ vững cái cốt lõi bất biến.
Trong giáo đoàn thời Đức Phật còn tại thế, muốn gia nhập thì người ta phải rời bỏ gia đình, cạo tóc, khoác y, khất thực, tu tập thiền định… rồi mới có cơ hội chứng đắc thánh quả. Nhìn thoáng qua, sự xả bỏ ái tình, tiền của, địa vị để sống đời an bần lạc đạo quả là việc phi thường, khó ai bì kịp. Nhưng đối với hàng phàm nhân còn nặng nợ gia duyên, tài sản ruộng vườn, dục lạc cuốn hút, công danh sự nghiệp ràng buộc… thì con đường xuất gia ấy trở thành điều hầu như không thể. Vì thế, trong khi thời Phật tại thế có vài ngàn vị xuất gia, thì về lâu dài, sau khi Ngài nhập diệt, giáo đoàn sẽđối diện nguy cơ mai một. Người hộ trì Tam bảo thì nhiều, nhưng người thực hành di huấn của Phật lại ít. Đây chính là nỗi lo của các bậc thiện tri thức lúc bấy giờ rằng, liệu hạt giống Bồ đề có còn được duy trì lâu dài hay không?
Thoạt kỳ thuỷ, vai trò của hàng cư sĩ ban đầu bị giới hạn. Người tại gia chỉ được xem như hộ pháp, khó đạt đến quả vị tối thượng. Nhưng kỳ thực, trong kinh điển, Đức Phật đã dạy rõ ràng, hễ ai đoạn diệt được các lậu hoặc thì đều có thể giải thoát, bất kể là xuất gia hay tại gia. Như vậy, xuất gia là một lợi thế vì ít vướng bận, nhưng cư sĩ nếu tinh tấn tu tập thì cũng có thể chứng ngộ như thường. Đáng tiếc thay, trong giai đoạn sơ khai, các bộ phái đã dần đóng khung trong hình thức tu trì cứng nhắc, không mở ra con đường cho cư sĩ thành Phật. Do đó, đạo Phật trở thành pháp môn chỉ dành cho số ít người dũng cảm, khiến khả năng phổ độ chúng sinh bị hạn chế.
Phật pháp từ ngàn xưa đã được tôn vinh như viên kim cương bất hoại, tỏa ánh sáng nhiệm mầu giữa cõi Ta bà đầy khổ lụy. Dẫu thế gian đổi thay, dòng đời xoay chuyển, ánh sáng ấy vẫn chiếu rọi không hề phai nhạt, soi đường cho những tâm hồn khát khao giải thoát. Giá trị của Phật pháp không nằm ở sự huyền bí xa vời, mà chính ở chỗ giúp con người tìm lại bản tâm thanh tịnh, sống giữa th ế gian mà không bị đời lôi cuốn. Khi tâm an định, trí tuệ bừng sáng, thì chân lý hiển hiện ngay trong từng hơi thở, từng bước đi.
Người cư sĩ dù còn vướng bận gia đình, xã hội, nếu biết giữ tâm hướng đạo, tu tập giới, định, tuệ, thì vẫn có thể bước lên con đường Bồ đề đạo quả. Đó chính là tinh thần “thân không xuất gia mà tâm xuất gia” nghĩa là tuy vẫn sống đời thường, chưa rời bỏ gia đình, công việc hay xã hội, nhưng trong tâm đã có chí nguyện tu hành, buông xả tham sân si,
giữ lòng thanh tịnh và hướng về giải thoát. Xuất gia quan trọng nhất không chỉ là hình thức cạo tóc, khoác áo, mà là sự xuất ly phiền não, lìa bỏ dục vọng trong tâm. Người tại gia nếu giữ giới, nuôi dưỡng trí tuệ, lòng từ bi, sống chánh niệm, thì cũng được gọi là “tâm xuất gia”, và công đức ấy chẳng kém người mang hình tướng tu sĩ; điều này minh chứng rằng Phật pháp không giới hạn trong hàng ngũ Tăng già, mà mở rộng cho tất cả mọi người. Chính tính nhân bản ấy làm nên sức sống bất diệt của đạo Phật là ai cũng có cơ hội đạt đến giải thoát, ai cũng có thể thắp sáng trí tuệ và lòng từ bi.
Như viên kim cương tỏa chiếu muôn phương, Phật pháp mãi là ngọn đuốc soi đường, đưa con người vượt khỏi đêm tối vô minh để đến bờ an lạc, hạnh phúc và giải thoát. Trong suốt bốn mươi lăm năm thuyết pháp, Đức Phật đã vận dụng phương tiện thiện xảo, dùng khái niệm “Ngũ thừa” để chỉ những nấc thang tu chứng phù hợp với căn cơ và trình độ của mỗi chúng sinh. Ngài không áp đặt một khuôn mẫu duy nhất, mà mở ra nhiều lối đi, giúp mọi người từ phàm phu đến bậc trí đều có thể nương theo mà tu học. Bậc thấp nhất là Nhân thừa, dành cho người giữ gìn năm giới, thực hành mười điều thiện, nuôi dưỡng đời sống hiền hòa, đạo đức, nhờ vậy có thể duy trì phước báu tái sinh làm người. Cao hơn là Thiên thừa, vốn cũng lấy căn bản từ thiện hạnh, nhưng ở mức tinh tấn hơn, gieo trồng nhiều công đức, để hưởng quả báo
sinh lên cõi trời với sự an vui thù thắng.
Khi bước sang nấc thang giải thoát, có Thanh văn thừa, chỉ cho những ai nhờ nghe pháp mà giác ngộ Tứ diệu đế, từ đó tu tập đoạn trừ khổ đau, chứng đắc giải thoát cho riêng mình. Song song với đạo lộ đó là Độc giác thừa, vốn thuộc về những vị nào có căn cơ đặc biệt, không cần thầy chỉ dạy, mà nhờ quán chiếu nhân duyên vô thường liền trực ngộ chân lý, đạt đến thành quả giải thoát độc lập. Hai con đường này được gộp chung lại gọi là Nhị thừa, biểu hiện sự thanh lọc phiền não và đạt được an lạc cá nhân.
Cao nhất trong ngũ thừa Phật giáo là Bồ tát thừa, một con đường rộng lớn và cao cả. Người học Phật nơi đây không chỉ lo giải thoát cho bản thân, mà còn phát tâm quyết cứu độ tất cả chúng sinh, nguyện ở lại giữa đời để gieo duyên, dìu dắt, chia sẻ trí tuệ và từ bi. Con đường Bồ tát là đỉnh cao của tinh thần Phật giáo, chỗ trí tuệ soi sáng và từ bi lan tỏa, nơi tự giác và giác tha cùng hội tụ. Đó chính là Đại thừa, chiếc thuyền rộng lớn có thể chở vô số người vượt qua
bờ sinh tử, mở ra viễn cảnh giải thoát cho toàn thể chúng sinh chứ không chỉ riêng một cá nhân ai.
Nhìn tổng thể, Ngũ thừa chính là một hệ thống phương tiện khéo léo, từ thấp đến cao, từ nhân gian đến giác ngộ tối thượng, để ai ai cũng có con đường phù hợp mà bước đi. Và dù ở nấc thang nào, mỗi bước đều hướng về chân lý giải thoát mà Đức Phật đã khai mở cho nhân loại. Trong tiến trình lịch sử, Phật giáo từ Ấn Độ đã phân thành hai dòng lớn thành Nam truyền và Bắc truyền. Nam truyền (Theravāda, nguyên thủy) lan xuống phương Nam như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Cam bốt… với trọng tâm gìn giữ tạng Pāli, đề cao đời sống thanh tịnh, thiền định và hướng về con đường A la hán. Bắc truyền (Mahāyāna hay Đại
chúng) đi lên phương Bắc qua Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản…, phát triển thêm nhiều bộ kinh điển, nhấn mạnh lý tưởng Bồ tát, tinh thần nhập thế và “bất tư nghì giải thoát”.
Tuy nhiên, việc gọi Nam truyền là “Tiểu thừa” và Bắc truyền là “Đại thừa” dễ dẫn đến hiểu lầm. Danh xưng “Tiểu thừa” vốn mang tính tranh luận trong lịch sử, không phản ánh trọn vẹn giá trị tu tập của Nam truyền. Thực tế, căn cứ Luật tạng Hữu bộ và giáo pháp căn bản, bất cứ ai hành trì Bát Chánh Đạo, Tứ vô lượng tâm, Tứ nhiếp pháp thì đều đi trên con đường Đại thừa, vì đều hướng đến giải thoát và lợi ích chúng sinh.
Cả hai truyền thống đều dựa trên Tam học là Giới, Định, Huệ và Tứ diệu đế, chỉ khác ở phương tiện và hình thái phát triển. Nam truyền giữ nguyên vẹn tinh thần nguyên thủy, nhấn mạnh sự giải thoát cá nhân như một nền tảng chắc chắn. Bắc truyền mở rộng viễn tượng, đề cao tinh thần vị tha, nhưng cũng không rời khỏi cội nguồn căn bản. Nhìn khách quan, hai dòng truyền thừa bổ sung cho nhau: một bên là sự tinh nghiêm, nền tảng thiền quán; một bên là sự khai triển bao dung, uyển chuyển phương tiện.
Do đó, thay vì phân chia, người học Phật hôm nay nên nhận ra rằng cả Nam truyền lẫn Bắc truyền đều cùng chung một gốc, đó chính là tìm cầu giác ngộ và giải thoát khổ đau, chỉ khác nhau ở cách biểu đạt và phương tiện hành trì.
Kinh Duy Ma Cật mở ra một hướng nhìn đặc biệt trong lịch sử tư tưởng Phật giáo, tinh thần nhập thế gắn liền với trí tuệ giải thoát. Nhân vật trung tâm, cư sĩ Duy Ma Cật, không phải là một vị Tỳ kheo xuất gia, mà là một cư sĩ sống giữa lòng xã hội. Nhưng chính nơi vị cư sĩ này, ta thấy hội tụ đủ trí tuệ, từ bi và phương tiện thiện xảo để ngang hàng với các bậc Đại Bồ tát. Điều này hàm ý rằng giác ngộ không bị giới hạn trong hình thức tu tập, mà mở ra cho tất cả những ai đủ tâm đức và đại hạnh.
Biểu tượng nhập thế ở đây là điểm đặc sắc vì Duy Ma Cật không rời khỏi phố chợ, không xa lánh gia đình, mà vẫn hóa độ chúng sinh bằng sự hiện hữu đầy tự tại. Căn bệnh của ông, thay vì là một nỗi khổ, lại được dùng như phương tiện giáo hóa: “bệnh vì chúng sinh bệnh, khổ vì chúng sinh khổ”. Qua đó, ông làm sáng tỏ tinh thần đồng sự nhiếp, cùng chia sẻ khổ đau để dẫn dắt người khác đến chỗ giác ngộ. Nhập thế không phải để bị đời cuốn trôi, mà là để sống ngay trong trần thế với tâm sáng suốt, biến phiền não thành bồ-đề.
Đặc biệt, kinh nhấn mạnh đến “bất tư nghì giải thoát” là một cảnh giới vượt ngoài tư duy nhị nguyên. Bất tư nghì không chỉ là kỳ diệu siêu việt, mà còn là sự tự tại vô ngần giữa thế gian, như sen nở trong bùn mà chẳng nhiễm bùn.
Cảnh giới này khiến mọi giới hạn về hai mặt trong ngoài, sạch dơ, sinh diệt… trở nên rỗng không, để người học Phật tự do ứng hiện mà không bị trói buộc. Đó chính là chỗ “tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên”, vừa sống giữa đời vừa không mất đi bản tâm thanh tịnh.
Tinh thần ấy tương ứng với lời Lục Tổ Huệ Năng trong Pháp Bảo Đàn Kinh dạy: “Phật pháp tại thế gian, Bất ly thế gian giác. Ly thế mích Bồ đề, Do như cầu thố giác.” Ý nghĩa bốn câu trên là Phật pháp không xa rời đời sống, nếu lìa thế gian mà cầu giác ngộ thì chẳng khác nào đi tìm sừng thỏ, lông rùa. Đây là lời cảnh tỉnh mà Lục Tổ đã quan tâm rằng,
Phật đạo không ở nơi viễn mộng mà ở trong từng sát na hiện thực, trong từng việc làm bình dị của mỗi chúng ta. Như vậy, Duy Ma Cật trở thành biểu tượng của người sống giữa đời mà không bị đời chi phối, lấy trí tuệ và bi nguyện làm ngọn đèn soi sáng. Hình ảnh ấy nhắc nhở người học Phật hôm nay rằng, con đường giải thoát không tách rời xã hội, mà chính trong từng mối quan hệ, từng công việc hằng ngày, ta có thể sống được tinh thần “bất tư nghì giải
thoát”.
Trong tiến trình tu học Phật pháp, những ngộ nhận và thái độ cực đoan thường khiến con đường giác ngộ bị lệch lạc. Một số người mang danh đệ tử Phật nhưng lại tin tưởng vào những hình thức mê tín như cầu xin thần thánh, bói toán, đốt vàng mã, coi Phật như một vị thần linh ban phước giáng họa. Cách nhìn này hoàn toàn trái với tinh thần tự giác và tự lực mà đạo Phật đề cao. Ngược lại, cũng có những người đi vào cực đoan khác: quá thiên về nghiên cứu triết học, phủ nhận mọi nghi lễ, cho rằng tụng kinh, lễ bái, cúng dường chỉ là hình thức không cần thiết. Kết quả là Phật pháp trong cách tiếp cận ấy trở nên khô thiển, thiếu sức cảm hóa bậc tri thức và xa lạ với quảng đại quần chúng.
Đức Phật từng dạy về Trung đạo trong Kinh Chuyển Pháp Luân với bài pháp đầu tiên, Đức Phật đã chỉ con đường kỳ diệu đó hầu tránh hai thái cực, một bên là buông mình trong dục lạc thế gian, bên kia là khổ hạnh ép xác làm tổn hại thân tâm. Trung đạo không phải là sự thỏa hiệp nửa vời, mà là con đường sáng suốt, hướng về giải thoát. Con đường ấy chính là Bát Chánh Đạo gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn,
chánh niệm và chánh định. Đây là nền tảng cho trí tuệ phát sinh, tâm được an tịnh, và rốt ráo đạt đến Niết-bàn. Trong tu học ngày nay, tinh thần Trung đạo càng cần được vận dụng. Nếu chỉ thiên về nghi lễ hình thức, ta có nguy cơ sa vào mê tín, biến đạo thành sự cầu khẩn. Ngược lại, nếu phủ nhận nghi lễ hoàn toàn, ta sẽ đánh mất một phương tiện nhiếp tâm, một cánh cửa đưa tâm vào định và nuôi dưỡng niềm tin. Do đó, người học Phật cần biết khéo dung hòa, giữ gìn nghi lễ như một phương tiện thiện xảo, nhưng đồng thời chăm lo tu tập nội tâm, giữ tâm tỉnh giác. Chính sự quân bình ấy mới giúp Phật pháp đi vào đời sống, vừa gần gũi vừa sâu xa.
Thực chất, nghi lễ không phải cứu cánh mà là phương tiện. Khi được thực hành bằng tâm thanh tịnh, nghi lễ giúp nuôi dưỡng lòng cung kính, tạo nên môi trường thuận lợi cho việc nhiếp tâm, gieo trồng hạt giống giải thoát. Không phải Phật hay thần linh ban phước, mà chính là tâm trong sáng của mình tạo nên cảnh giới an lạc và giải thoát ngay giữa đời
thường.
Kinh Duy Ma Cật ra đời không chỉ là một dấu mốc trong lịch sử Phật giáo, mà còn là thông điệp tuyệt vời gửi đến nhân loại muôn nghìn kiếp vị lai. Kinh đã mở rộng cánh cửa đạo, đưa Phật pháp từ chốn thiền môn đi vào mọi ngõ ngách đời sống, khẳng định rằng hàng cư sĩ cũng có thể là bậc thầy trí tuệ, là ánh sáng cho tha nhân. Tinh thần “bất tư nghì giải thoát” mà kinh trình bày đã phá vỡ mọi ranh giới giữa xuất gia và tại gia, giữa đời và đạo, giữa phàm phu và
thánh nhân. Đó là sự tự tại vô ngần vì sống giữa trần thế mà không nhiễm bụi trần, hiện hữu giữa đau khổ mà vẫn gieo mầm an lạc.
Ngày nay ở xã hội Tây Phương với khoa học phát triễn tột bực, trí tuệ nhân tạo đã chiếm lãnh thị phần hầu như trọn vẹn nhưng tâm thức con người vẫn không có loại cơ năng kỹ thuật kỳ diệu nào thay thế được, chính nhờ tư tưởng này, Phật pháp trở nên gần gũi hơn, thấm sâu hơn vào đời sống thường nhật, mà vẫn giữ trọn tinh hoa của giáo lý nguyên thủy. Người học Phật hôm nay, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, cũng có thể tiếp nhận ánh sáng ấy, để chuyển hóa khổ đau thành trí tuệ, biến phiền não thành bồ đề. Đây là giá trị phổ quát mà nhân loại đang cần thiết về một con đường không tách rời thế gian, mà hòa nhập để làm trong sáng thế gian. Duy Ma Cật trong thời đại kỹ thuật số lại càng rõ sứ mạng thiêng liêng bằng lời nhắc nhở rằng, giải thoát không ở đâu xa, mà ngay nơi đời sống này, nếu ta biết sống bằng tâm an nhiên và trí tuệ vô ngại.
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
GS/TS MAI THANH TRUYẾT – Con Đường Việt Nam VII – Làm sao mở rộng việc tiếp cận với Tây phương.
Con Đường Việt Nam VII
Làm sao mở rộng việc tiếp cận với Tây phương
Mở rộng tiếp cận phương Tây và duy trì quyền lãnh đạo: Hai khái niệm có đối lập nhau không?
Việc mở rộng tiếp cận phương Tây và tập trung quyền lãnh đạo không nhất thiết là hai xu hướng đối lập. Thực tế, nhiều quốc gia đã thành công trong việc kết hợp cả hai yếu tố này bằng cách học hỏi kinh nghiệm phương Tây để cải cách và phát triển nhưng vẫn giữ vững hệ thống chính trị của mình. Việt Nam có thể tham khảo các mô hình tương tự như Trung Quốc, Singapore hay một số quốc gia Đông Á khác để tìm ra hướng đi phù hợp.
1. Làm thế nào để mở rộng tiếp cận phương Tây mà không làm mất ổn định chính trị?
Chuyển đổi tư duy về hội nhập
- Không xem phương Tây là một thế lực đối lập, mà là một nguồn tài nguyên tri thức, công nghệ, kinh tế cần khai thác.
- Học hỏi những giá trị tích cực như quản trị minh bạch, nền kinh tế thị trường, khoa học công nghệ, nhưng vẫn giữ bản sắc riêng trong chính trị và văn hóa.
Mở rộng quan hệ kinh tế nhưng duy trì kiểm soát chính trị
- Việt Nam có thể tận dụng thương mại, đầu tư và công nghệ từ phương Tây để phát triển kinh tế, nhưng vẫn giữ quyền lãnh đạo của Đảng trong quy định của luật pháp. Nếu bao biện và độc đoán trong lãnh đạo sẽ hạn chế sự phát triển trên.
- Tiếp tục ký kết và thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA) với phương Tây, thúc đẩy đầu tư nhưng không để nước ngoài kiểm soát các lĩnh vực nhạy cảm.
Cải cách hành chính và pháp luật để phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế
- Xây dựng hệ thống luật pháp công khai, minh bạch, giảm quan liêu và tham nhũng để tăng cường niềm tin của các nhà đầu tư và người dân.
- Đảm bảo một hệ thống tư pháp độc lập hơn trong lĩnh vực kinh tế, để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển theo quy luật thị trường. Dứt khoát không “hô” khẩu hiệu.
2. Những quốc gia nào đã làm được điều này?
Singapore: Kiểm soát chính trị nhưng nền kinh tế thị trường cực kỳ tự do
- Dưới thời Thủ tướng Lý Quang Diệu, Singapore áp dụng các nguyên tắc quản trị của phương Tây (pháp trị, minh bạch, hiệu quả) nhưng vẫn duy trì sự kiểm soát mạnh mẽ của chính phủ.
- Kết quả: Một nền kinh tế thịnh vượng với mức sống cao nhưng hệ thống chính trị vẫn tập trung vào một đảng cầm quyền mạnh.
Các nước Bắc Âu: Dân chủ nhưng quản trị tập trung, hiệu quả
- Các quốc gia như Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch có nền dân chủ nhưng chính phủ vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nhiều lĩnh vực quan trọng như giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội.
- Kết quả: Phát triển bền vững, với mức độ hài lòng của người dân cao.
Nhận định: Việt Nam có thể học hỏi từ các mô hình này để tiếp cận phương Tây mà vẫn duy trì quyền lãnh đạo.
3. Những điều Việt Nam cần làm để cân bằng giữa hội nhập và kiểm soát chính trị
Cần minh bạch trong chính sách và trách nhiệm trong việc thực hiện
- Xây dựng hệ thống chính phủ điện tử để tăng cường tính công khai và trong sáng, giảm tham nhũng.
- Tạo ra các kênh đối thoại giữa chính quyền và doanh nghiệp thường xuyên; từ đó, người dân để phản hồi nhanh chóng và hiệu quả hơn.
Tăng cường hợp tác với phương Tây trong giáo dục và khoa học
- Khuyến khích các chương trình hợp tác giữa các trường đại học Việt Nam với các đại học hàng đầu phương Tây.
- Đầu tư mạnh vào các ngành công nghệ cao, AI, khoa học dữ liệu để không bị tụt hậu trong nền kinh tế toàn cầu.
Định hướng phát triển kinh tế theo mô hình thị trường tự do nhưng có kiểm soát
- Tiếp tục cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát với các ngành chiến lược như năng lượng, viễn thông, ngân hàng.
- Thúc đẩy khu vực tư nhân phát triển mạnh hơn, giảm bớt rào cản về thủ tục hành chính.
Mở rộng không gian tự do nhưng trong khuôn khổ ổn định
- Cho phép báo chí và truyền thông có vai trò giám sát nhưng trong giới hạn nhất định để tránh gây bất ổn.
- Tăng cường đối thoại chính trị thay vì đối đầu, để người dân có cơ hội đóng góp ý kiến một cách xây dựng.
4. Kết luận: Hai hướng đi không đối lập, nếu có lộ trình phù hợp
Việt Nam không cần lựa chọn giữa phương Tây hay giữ quyền lãnh đạo, có thể làm cả hai điều này song song và không vượt các quyền quy định trong hiến pháp.
Nếu tiếp cận phương Tây thông minh (tận dụng kinh tế, công nghệ, giáo dục) nhưng vẫn kiểm soát chính trị một cách hiệu quả, Việt Nam có thể phát triển mà không gây mất ổn định.
Học hỏi các mô hình như Singapore, hay Bắc Âu có thể giúp Việt Nam tìm ra hướng đi phù hợp nhất.
Vì vậy, Việt Nam trong quá trình hội nhập nên đi theo hướng dung hòa ứng hợp với nền văn hóa Á Đông, không quá khép kín bế quan tỏa cảng như thời phong kiến, cũng không “mở toẹt” như thế giới Tây phương trước khi hấp thụ/tiêu thụ một nền tự do mà Tây phương đánh đổi nhiều thế kỷ
Lịch sử đã cho thấy rằng khép kín hoàn toàn sẽ dẫn đến tụt hậu, trong khi mở cửa quá nhanh, thiếu kiểm soát có thể gây ra những biến động không lường trước được. Do đó, một lộ trình hội nhập có chọn lọc, phù hợp với bản sắc văn hóa và trình độ phát triển của đất nước là hướng đi bền vững nhất.
Mai Thanh Truyết
Houston – Tháng 9-2025
________________________________________
Mai Thanh Truyết https://maithanhtruyet1.blogspot.com/
https://www.facebook.com/MaiThanhTruyetUSA
Hãy để lại cho thế hệ nối tiếp một trái đất Xanh.
Let pass on to the next generation a Green Earth – Mai Thanh Truyết
Nói Với Đại Dương
René-François Sully Prudhomme (1839 –1907) là một nhà thơ và nhà tiểu luận người Pháp, sinh ra trong một gia đình chủ cửa hàng người Pháp ở Paris, ban đầu học để trở thành một kỹ sư, nhưng chuyển sang triết học và sau đó là thơ ca. Nhưng bệnh về mắt đã làm gián đoạn việc học, nên ông đã làm việc một thời gian ở vùng Creusot cho xưởng đúc thép Schneider, và sau đó bắt đầu học luật tại một văn phòng công chứng. Prudhomme quan tâm tới các chủ đề triết học và khoa học. Ông là nhà văn đầu tiên nhận giải Nobel Văn học, và ông đã cống hiến phần lớn số tiền giải thưởng để thành lập một giải thưởng thơ, giải thưởng này để cho Société des gens de lettres trao tặng.
Với suy tư triết học, ông để hồn mình nói chuyện với đại dương. Để thấu triệt tư tưởng của ông xin mời đọc bài thơ A L’OCÉEAN (NÓI VỚI ĐẠI DƯƠNG trong bài Anh Việt đối chiếu dưới đây:
“Satan! ngươi phải nhào xuống âm phủ, tận đáy vực sâu,
vì tội kiêu ngạo của ngươi! (Is. 14: 15)
Bài dưới đây đáng để suy gẫm cho kẻ kiêu căng cao ngạo,
bất tuân thánh chỉ: “MẾN CHÚA và YÊU THA NHÂN”
À l’Océan
1- Océan, que vaux-tu dans l’infini du monde ?
Toi, si large à nos yeux enchaînés sur tes bords,
Mais étroit pour notre âme aux rebelles essors,
Qui, du haut des soleils te mesure et te sonde ;
2- Presque éternel pour nous plus instables que l’onde,
Mais pourtant, comme nous, œuvre et jouet des sorts,
Car tu nous vois mourir, mais des astres sont morts,
Et nulle éternité dans les jours ne se fonde.
3- Comme une vaste armée où l’héroïsme bout
Marche à l’assaut d’un mur, tu viens heurter la roche,
Mais la roche est solide et reparaît debout.
Va, tu n’es cru géant que du nain qui t’approche :
Ah ! Je t’admirais trop, le ciel me le reproche,
Il me dit: «Rien n’est grand ni puissant que le Tout! »
Auteur: René-François Sully Prudhomme
NÓI VỚI ĐẠI DƯƠNG
1- Hỡi đại dương, biển cả! Ngươi có biết hay không?
Ngươi đáng chi trong vũ trụ mênh mông vô tận?
Dán mắt vào bờ, nhìn ngươi rộng thật mất hút,
Nhưng khi hồn ta nổi điên bay vút lên cao,
Đo dòng, dò đáy, ta thấy ngươi sao nhỏ hẹp!
2- Chẳng như sóng cả, ta bấp bênh, ngươi thiệt bền vững,
Nhưng số kiếp lao nhọc dập vùi, ngươi cũng như ta.
Ngươi thấy ta chết, mà tinh tú hoá ra cũng tắt.
Chẳng có gì vĩnh viễn khi chẳng kịp bắt thời gian.
3- Như máu anh hùng sục sôi nơi đạo quân hùng dũng,
Ào ạt tấn công tường thành, ngươi lại đụng đá tảng
Nhưng đá rắn chắc, nên đá vẫn đứng thẳng trơ trơ.
Chồm lên đi, rướn nữa đi, hỡi tên khổng lồ to xác!
Ngươi tưởng mình kếch xù bởi tên lùn đứng sát gần ngươi.
Quả là ta ngưỡng mộ ngươi, nhưng Trời nhạo cười ta điên.
Người dằn giọng quở la liền:
“Không gì hùng vĩ, vô biên, uy quyền
Hơn là Tạo Hoá vi-huyền,
Người là Thượng Đế dựng nên đất trời!”
Ben. Đỗ Quang Vinh diễn dịch
BÀI TỪ THÂN HỮU: Video Tưởng Nhớ Nhà Văn Phan Lạc Tiếp, Người Đồng Sáng Lập Uỷ Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển.

VIDEO
**
Video tưởng nhớ nhà văn Phan Lạc Tiếp, người đồng sáng lập Uỷ Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển
21 tháng 9 năm 2025
Nhân dịp đánh dấu 45 năm hoạt động trải qua 3 thế hệ
BPSOS, ngày 21 tháng 9, 2025
Chủ Nhật 21 tháng 9 là Lễ Chung Thất 49 ngày cho nhà văn Phan Lạc Tiếp và cũng là ngày BPSOS tổ chức bữa tiệc ở Orange County, California để đánh dấu 45 năm hoạt động liên tục. Vì phải lo Lễ Chung Thất, tang quyến không thể đến dự nên gửi gắm một video ngắn đến quan khách tham gia bữa tiệc: https://youtu.be/J6qXc_q6cYc?si=vYhvxwU9EbQ-pOJO
Nhà văn Phan Lạc Tiếp cùng với Giáo Sư Nguyễn Hữu Xương cùng một số nhân sĩ đã thành lập Uỷ Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển, tiếng Anh là Boat People S.O.S. Committee, năm 1980. Cuối năm 1990, sứ mệnh bảo vệ đồng bào thuyền nhân được chuyển giao cho chi nhánh vùng thủ đô Hoa Kỳ.

Chi nhánh này trở thành văn phòng trung ướng và đổi tên tiếng Việt thành Uỷ Ban Cứu Người Vượt Biển. Tên tiếng Anh vẫn giữ là Boat People SOS, cắt đi chữ Committee. Sau đó, tên được viết tắt thành BPSOS.
“Anh Phan Lạc Tiếp đại diện cho thế hệ mở đường,” Ts. Nguyễn Đình Thắng, Tổng Giám Đốc kiêm Chủ Tịch BPSOS, nhận định. “Chúng tôi thuộc thế hệ tiếp nối và đang trao truyền cho thế hệ trẻ hơn.”
Video ngắn sẽ được trình chiếu tại sự kiện đánh dấu 45 năm hoạt động của BPSOS để tưởng nhớ một trong những người mở đường: Nhà văn Phan Lạc Tiếp.
Bài liên quan:
Vĩnh biệt nhà văn Phan Lạc Tiếp, một trong số người khởi dựng BPSOS
https://machsongmedia.org/all/lich-su/van-kho-thuyen-nhan/vinh-biet-nha-van-phan-lac-tiep-mot-trong-so-nguoi-khoi-dung-bpsos.html