Nhóm LM Nguyễn Kim Điền

Cuộc đời đấu tranh cho Tôn Giáo và Dân Chủ Nhân Quyền.

Xin quý vị click vào hình để đọc




Những Tình Khúc Ns Nguyễn Đình Hòa




Bài nhạc “Stand By Me” được trình diễn bằng đàn bàu




NHÌN LẠI LỊCH SỬ BÁCH VIỆT VÀ QUÁ TRÌNH HÁN HÓA BÁCH VIỆT

08 Tháng Chín 201612:00 SA(Xem: 5056)
Trần Gia Ninh

Tượng Thừa tướng Nam Việt Lữ Gia
ở Linh Tiên Đạo Quán, Hoài Đức, HN.

 
Khi đọc những câu hỏi “Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. Hoặc “Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây? (1), nhiều người nghĩ chắc là ý kiến của những anh chàng người Việt nặng đầu óc dân tộc chủ nghĩa. Nhưng thật bất ngờ, những câu hỏi này và tương tự như vậy hiện là những chủ đề nóng của các diễn đàn tranh luận trên mạng Internet của người Trung Hoa, bằng tiếng Trung chứ không phải của người Việt.

 Họ đã chất vấn nhau, đại loại thế này: Hơn một nghìn năm, trước khi nhà Tống lên ngôi, Giao Châu là thuộc Trung Hoa, dù chị em họ Trưng có nổi dậy cũng chỉ mấy năm là dẹp yên. Thế mà vì sao từ đời Tống trở đi các triều đại Trung Hoa không thể thu phục nổi Việt Nam. Hơn nữa, dân tộc Việt Nam, người Kinh ấy, từ đâu mà ra, hình thành từ lúc nào? Người Hán chúng ta từ cổ xưa đã có sức đồng hóa cực mạnh. Số dân tộc đã bị Hán tộc đồng hóa không đếm xuể. Tại sao chừng ấy năm đô hộ vậy mà không đồng hóa nổi Việt Nam… Nếu An Nam là thuộc Trung Quốc từ thời đó, liệu bây giờ quần đảo Nam Sa (VN gọi là Trường Sa) có thành vấn đề không? Việt Nam có còn chiếm được nhiều đảo ở Nam Sa như bây giờ không?

 Là người Việt Nam, chắc ai cũng muốn chính mình tìm câu trả lời cho những câu hỏi thú vị đó. Chúng ta từng nghe nói rằng, từ xa xưa một dải giang sơn mênh mông từ Nam sông Dương Tử trở về Nam là nơi các tộc dân Việt sinh sống và phát triển nền văn minh lúa nước rực rỡ. Thế rồi ngày nay, hầu hết đều trở thành lãnh thổ và giang sơn của người Hán, dùng Hán ngữ và văn hóa Hán. Quá trình đó người ta quen gọi là Hán hóa. Vì vậy nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt, và quá trình Hán hóa Bách Việt, là một cách ôn cố tri tân hữu ích. Đáng tiếc là thời xa xưa đó lịch sử chủ yếu ghi chép lại bằng Hán ngữ cổ ở Trung Hoa, không dễ tiếp cận với đa số hiện nay. Vì lẽ đó người viết bài này cố gắng tóm tắt những gì mà sử sách cổ còn ghi lại, kết hợp với những tài liệu khoa học đã công bố của một số học giả uy tín trên thế giới, ngõ hầu cung cấp một vài thông tin hữu ích, nhiều chiều, kể cả còn đang tranh cãi.
Bách Việt là ai và ở đâu?

 Vào thời thượng cổ, từ đời nhà Thương 商朝 (khoảng 1600-1046 TCN), trong văn tự thì chỉ có một chữ Việt 戉 (nghĩa là cái rìu), cũng là tên chung cho tộc người ở phía Nam không phải là người Trung Hoa, do tộc người này sử dụng rìu (Việt) làm công cụ. Về sau, vào thời Xuân Thu Chiến quốc 春秋 戰國 (722-221 TCN) bắt đầu trong văn tự có hai chữ Việt là 越 và 粤, đều chỉ bộ tộc Việt, dùng như nhau (Sách cổ viết là 越粵互通-Việt Việt Hỗ Thông), ta hay gọi 越 là Việt bộ tẩu 走 (đi, chạy) và Việt 粤 là Việt bộ mễ 米-(lúa) (2).

 Trong Hán ngữ cận, hiện đại, hai chữ Việt này (có thể từ sau đời Minh) thì dùng có phân biệt rõ ràng. Chữ Việt bộ tẩu 越 là ghi tên tộc Việt của nước Việt có lãnh thổ ở vùng Bắc Triết Giang, ngày nay là vùng Thượng Hải, Ninh Ba, Thiệu Hưng (Cối Kê 會稽 xưa). Một loại ca kịch cổ ở vùng này vẫn còn tên là Việt Kịch 越剧. Chữ Việt bộ tẩu này cũng là tên của tộc Nam Việt (Triệu Đà) Âu Việt và Lạc Việt (Việt Nam ngày nay), Mân Việt (Phúc Kiến), Điền Việt (Vân Nam, Quảng Tây)… Chữ Việt 粤 bộ mễ 米 ngày nay dùng ghi tên cư dân vùng Quảng Đông, Hồng Kong, Ma Cao… những cư dân này sử dụng ngôn ngữ gọi là tiếng Quảng Đông (Cantonese). (Ai đến Quảng Châu đều thấy biển xe ô tô đều bắt đầu bằng chữ 粤 là vì vậy).

 Bởi vì xưa có đến hàng trăm tộc Việt, cho nên sử sách gọi chung là Bách Việt 百越 hoặc 百粤. Tên gọi Bách Việt xuất hiện trong văn sách lần đầu tiên trong bộ Lã thị Xuân Thu 吕氏春秋 của Lã Bất Vi 呂不韋 (291–235 TCN) thời nhà Tần.

 Trong lịch sử Trung Hoa, toàn bộ vùng đất Giang Nam (tên gọi vùng Nam Sông Dương Tử), rộng bảy tám ngàn dặm từ Giao Chỉ đến Cối Kê, từ trước thời Tần Hán đều là nơi cư ngụ của các tộc Bách Việt.
 Thời nhà Hạ gọi là Vu Việt 于越, đời Thương gọi là Man Việt 蛮越 hoặc Nam Việt 南越, đời Chu gọi là Dương Việt 扬越, Kinh Việt 荆越, từ thời Chiến quốc gọi là Bách Việt百越.

Sách Lộ Sử của La Bí (1131 – 1189) người đời Tống viết (3): Việt thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu ngai, Thả âu, Tây âu, Cung nhân, Mục thâm, Tồi phu, Cầm nhân, Thương ngô, Việt khu, Quế quốc, Tổn tử, Sản lí (Tây Song Bản Nạp), Hải quý, Cửu khuẩn, Kê dư, Bắc đái, Phó cú, Khu ngô (Cú ngô)…, gọi là Bách Việt. 
Hán Hóa Bách Việt – Giai đoạn từ thượng cổ đến trước thời Tần-Hán

 Gọi Hán hóa chỉ là để cho tiện thôi, thực ra không đúng, vì lúc này làm gì đã có nhà Hán. Hai nước Ngô – Việt là những tộc Bách Việt được ghi chép rất sớm trong sử sách. Nước Ngô 吴国,còn gọi là Cú Ngô 句吴, Công Ngô 工吴,攻吾… lập quốc vào thời Chu Vũ Vương (thế kỷ 12 TCN), kinh đô ở Tô Châu 苏州 ngày nay, từ thủy tổ là Ngô Thái Bá 吳太伯 truyền đến Phù Sai夫差 thì bị diệt vong bởi nước Việt (473 TCN). Thực ra ghi chép sớm nhất trong sử sách là Vu Việt 于越, tiền thân của nước Việt 越 国 thời Chiến quốc. Nước Việt đã tồn tại muộn nhất cũng từ thời nhà Thương, không tham gia vào sự kiện Vũ Vương Phạt Trụ (1046 TCN), nhưng sử có ghi là khá lâu trước đó đã làm tân khách của Chu Thành Vương 周成王(1132 – 1083 TCN). Nước Việt đã có một văn hóa dân tộc đặc sắc, gọi là Văn hóa Mã Kiều 馬橋文化, mà các chứng tích đã tìm thấy khi khai quật di chỉ Thái Hồ 太湖地區. Nước Việt định đô ở Cối Kê 會稽 (Thiệu Hưng ngày nay) truyền đến đời Câu Tiễn句踐 (496 – 464 TCN) thì bành trướng lên phía Bắc, năm 473 TCN sau khi diệt nước Ngô, mở rộng bờ cõi Bắc chiếm Giang Tô 江蘇, Nam đoạt Mân Đài 閩台 (tức Phúc Kiến ngày nay), Đông giáp Đông Hải 東海, Tây đến Hoàn Nam 皖南 (phía Nam An Huy ngày nay), hùng cứ một cõi Đông Nam. Đến năm 306 TCN, nước Sở 楚國 nhân nước Việt, triều vua Vô Cương, nội loạn, bèn liên kết với nước Tề 齊國 tiến chiếm nước Việt, đổi thành quận Giang Đông, nước Việt tuyệt diệt và bị Sở hóa từ đó. Những sự kiện này được ghi chép tỉ mỉ trong bộ sử Ngô Việt Xuân Thu 吳越春秋 do Triệu Diệp 赵晔 thời Đông Hán soạn (~năm 25). Các nhà khoa học thế giới ngày nay cũng đã phục dựng đầy đủ lịch sử này, ví dụ xem Eric Henry (4).

 Đến đây cần nói rõ, Sở là gốc Hoa Hạ (sau này gọi là Hán) hay là Bách Việt, hiện còn nhiều tranh cãi. Dân Hoa Hạ (chính là tộc Hán sau này) nhận mình là con cháu của Tam Hoàng, Ngũ Đế. Tam Hoàng thì rất thần tiên, mơ hồ, Ngũ Đế có vẻ cụ thể hơn. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên (5) thì đó là năm chi: Hoàng Đế (黃帝), Chuyên Húc (顓頊), Đế Cốc (帝嚳), Đế Nghiêu (帝堯), Đế Thuấn (帝舜). Dân nước Sở tự nhận thuộc chi Chuyên Húc, họ Cao Dương 高阳 tức là tộc Hoa Hạ (Hán). Đất nước Sở nằm ở đoạn giữa sông Trường Giang, vùng Nam Bắc Hồ Động Đình, quen gọi là vùng Kinh Sở (Hồ Bắc – Hồ Nam của Trung Hoa ngày nay). Vùng Kinh Sở nằm chồng lấn phía Nam lưu vực sông Hoài sông Vị của dân Trung Nguyên Hoa Hạ. Đó là vùng đất đầu tiên mà một chi của dân Hoa Hạ (chi Chuyên Húc) thiên di xuống. Nhà thơ Khuất Nguyên (340 – 278 TCN) người nước Sở, mở đầu bài thơ Ly Tao đã viết (6): Bá Dung nhớ cha ta thuở nọ, /Vốn dòng vua về họ Cao Dương (Nhượng Tống dịch thơ). Trước khi con cháu Cao Dương nam thiên đến đây, dân bản địa là tộc nào? Nước Sở lập quốc vào cuối đời Thương đầu đời Chu (1042 TCN). Sách Sử Ký – thiên Sở Thế gia viết rằng người Sở là dân Man (Sở Man), vua Sở nhận mình là dân Man Di (7). Man là chữ người Hoa Hạ gọi dân miền Nam không phải là Trung Hoa. Những khai quật khảo cổ ở vùng Kinh Sở gần đây cũng cho thấy rằng thực ra cư dân tối cổ ở vùng Kinh Sở có nguồn gốc Tam Miêu, một dân tộc thuộc nhóm Bách Việt. Đây có thể là nhóm Âu Việt ở phía Tây nên còn gọi là tộc Tây Âu, để phân biệt với Đông Âu là tộc Âu Việt phía Đông, tức vùng Mân – Đài (Phúc Kiến). Tộc Tây Âu, theo các nhà dân tộc học, có thể là tổ tiên các tộc H’mông, Lào, Miến, Thái… hiện nay, ít nhiều cũng có cùng huyết thống người Việt Nam cổ. Như vậy là quá trình Trung Hoa hóa dân Man (Miêu tộc bản địa) đã bắt đầu từ cuối Thương đầu đời Chu rồi. Có thể tạm gọi đó là đợt đồng hóa thứ nhất. Sự Trung Hoa hóa theo thế lực nước Sở, bành trướng đến Trùng Khánh, Quý Châu, về sau sang tiếp phía Đông, trở thành một trong thất hùng thời Chiến quốc. Đặc biệt là quý tộc Sở cổ đều có họ Hùng (熊 – con gấu), vua Sở là Hùng Vương, phải chăng có liên hệ gì đó đến Hùng Vương ở Việt Nam, chỉ khác chữ Hán viết 雄 – hùng mạnh, (trong sử Trung Hoa cổ không tìm thấy ghi Hùng Vương 雄 này, có lẽ đây là do các nhà Nho Việt Nam viết lại sau này!). Tóm lại đến thời Khuất Nguyên, rồi sau đó là lúc Sở diệt Việt phía Đông, thì Sở đã hoàn toàn biến thành dân Trung Hoa, và quá trình Trung Hoa hóa Ngô – Việt là quá trình đồng hóa thứ hai, tiến hành thông qua nước Sở.

 Các nhà khoa học Nhật, Mỹ, đã có nhiều phát hiện, chứng minh nền văn minh Ngô Việt sau khi nước Việt bị diệt và Trung Hoa hóa (đúng hơn là Sở hóa), đã theo dòng người Ngô Việt chạy ra biển sang Nhật Bản (tiếng Nhật Bản đọc Hán tự theo kiểu nước Ngô, nên gọi là ごおん-Go On- Ngô âm 呉音). Nền văn minh đó chủ yếu theo bộ phận tinh hoa của dân Ngô Việt chạy xuống phía Nam hợp lưu cùng Việt bản địa, thành ra văn minh Việt kéo từ Lĩnh Nam (phía Nam dãy Ngũ Lĩnh – tức Bắc Lưỡng Quảng ngày nay) đến Giao Chỉ. Theo phát hiện của Jerry Norman và Tsu-lin Mei (Washington University và Cornell University) thì nhiều từ cổ của tộc Việt nước Ngô Việt hiện vẫn thông dụng trong tiếng Việt ngày nay, ví dụ các từ: chết; chó, đồng (trong đồng cốt), sông, khái (hổ), ngà (trong ngà voi), con (trong con cái), ruồi, đằm (trong đằm ướt), sam (con sam), biết; bọt , bèo…8 Điều này chứng tỏ rằng dân Lạc Việt ít nhiều có cùng huyết thống với dân Ngô Việt xưa.  
Hán hóa Bách Việt- Giai đoạn sau thời Tần-Hán

 Cho đến trước khi Tần Thủy Hoàng diệt được sáu nước, dẹp bỏ nhà Chu, thống nhất Trung Hoa (221 TCN) thì dân Hoa Hạ (Hán tộc) chỉ chiếm lãnh và đồng hóa được dải đất từ Hoàng Hà xuống đến Ngũ Lĩnh9, còn từ Ngũ Lĩnh trở về Nam (Lưỡng Quảng, Giao Chỉ, Hải Nam… gọi tắt là Lĩnh Nam) thuộc về Âu Việt (gọi chung Tây Âu và Đông Âu) và Lạc Việt. Từ Kinh Sở trở về Tây, Tây Nam (Vân Nam) vẫn còn thuộc về Điền Việt, Tây Âu, Đại Lý…

 Vùng Bách Việt phía Tây Nam này (Vân Nam) thì mãi đến thế kỷ 12 còn độc lập, dù người Hán có tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm chiếm lẻ tẻ. Chỉ sau khi Mông Cổ chiếm Đại Lý (1253), Vân Nam, rồi sau đó chiếm nốt Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, thì Vân Nam mới nhập vào Trung Hoa. Năm 1381, Minh Thái Tổ mới bình định xong Vân Nam và cuộc Hán hóa hoàn tất rất nhanh. Ngày nay hơn 61% cư dân Vân Nam là người Hán.

 Vùng Lĩnh Nam chiếm làm đất Trung Hoa từ thời Tần – Hán, nhưng quá trình Hán hóa thì khá khó khăn và cho đến nay vẫn chưa xong hết (!). Cổ sử Trung Hoa chép thì Lĩnh Nam có nhiều bộ tộc Việt lập quốc như Tây Âu, Lạc Việt… có nước Dạ Lang (nhưng không thấy chép Văn Lang!). Âu và Lạc (10) là một tộc Việt hay là hai tộc Việt khác nhau, cho đến tận ngày nay vẫn còn tranh cãi. Sách “Hoài Nam Tử” (139 TCN) thì chỉ viết có Tây Âu (11) không có nói đến Lạc chỗ nào cả. Sách “Sử Ký” (94 TCN) muộn hơn một ít thì cũng có viết Âu, không tìm thấy chữ Lạc đứng riêng một mình, mà luôn luôn chỉ có chép Âu Lạc liền nhau (12). Tuy nhiên trong Lã thị Xuân Thu (291–235 TCN) sớm nhất thì có chép” Việt Lạc-越骆” (13). Việt Lạc rất có thể chính là nước Lạc Việt trong sử sách sau này, Việt Lạc là ghi âm trực tiếp từ ngôn ngữ người Việt, theo ngữ pháp Việt, còn sau này ghi Lạc Việt là ghi chép qua thông dịch sang Hán Ngữ, theo ngữ pháp Hán.

 Luận theo sử sách chép, có thể thời tiền Tần thì Âu và Lạc là hai chi Việt khác nhau. Thời kỳ chiến đấu chống lại Tần thì có thể hai chi Việt này liên minh lại với nhau thành một khối Âu Lạc. Lúc đó trung tâm là ở Nam Trung Hoa, vùng Vũ Minh Mã đầu (Nam Ninh – Quảng Tây ngày nay). Chỉ sau khi Hán Vũ Đế bình Nam Việt của Triệu Đà thì hai chi này mới lại phân chia ra, và trung tâm di về vùng quanh Hà Nội ngày nay.

 Đồng thời với nước Lạc Việt có nước Tây Âu hay Âu Việt mà người đứng đầu trong sử chép là Thục Phán. Tuy nhiên Âu Việt lập quốc lúc nào và Thục Phán từ đâu ra thì sử sách không ghi rõ. Rất nhiều ý kiến cho rằng Thục Phán là hậu duệ của vương triều nước Thục. Quả thực sử có chép một quốc gia tên là Thục Quốc, ở Tây Nam Trung Hoa ngày nay. Thường Cừ (347)người đời Tấn viết trong Sách “Hoa Dương Quốc Chí” (14): “Nước Thục Đông giáp nước Ba, Nam giáp Việt, Bắc phân giới với nước Tần, Tây tựa Nga Ba”. Vị trí địa lý như vậy nên cư dân ở đây bao gồm người Khương, người Việt, người Hoa Hạ. Dòng họ Khai Minh làm vua nước Thục, truyền được 12 đời, đến năm 316 TCN đời Chu Thận Vương thì bị nhà Tần diệt (15), hậu duệ chạy về phương Nam. Sử chép đến đây thì đứt đoạn, không nói gì tiếp. Cho nên về sau nói Thục Phán là hậu duệ Khai Minh thị, cha Thục Phán là Khai Minh Chế chiếm lưu vực Diệp Du Thủy (tức thượng nguồn sông Hồng) (16), xưng là An Tri Vương vua nước Tây Âu, sau truyền ngôi cho con là Phán, cũng chỉ là một giả thuyết, chép lại theo truyền thuyết của tộc dân Đại Y (17).

 Lúc này cũng là thời kỳ theo truyền thuyết là có nước Văn Lang ở phía trung và hạ lưu sông Hồng (trong cổ sử Trung Hoa không có tên nước Văn Lang, chỉ có tên một nước là Dạ Lang, liệu có liên quan đến Văn Lang không?), do dòng họ Hùng làm vua. Việc Thục Phán là hậu duệ nước Thục, cũng như nước Văn Lang có vua Hùng trị vì 18 đời trong sử An Nam là ghi lại theo truyền thuyết. Tuy nhiên Thục Vương Tử tên Phán, Hùng Vương vua Lạc Việt, Thục diệt Hùng Vương chiếm lãnh thổ, xưng là An Dương Vương thì có ghi trong sử cổ Trung Hoa từ đầu Công nguyên.

 Theo quyển “Việt sử lược” (18), của tác giả không rõ tên, có lẽ là người Việt Nam khắc in ở Trung Hoa vào quãng cuối Nguyên đầu đời Minh (~1360), có viết về nước Văn Lang, vua là Đối Vương 碓王, sau bị Thục Phán đánh đuổi, Phán xưng là An Dương Vương.

 Sách cổ “Thủy kinh chú” dẫn lại lời ghi trong “Giao châu ngoại vực ký” rằng (19) “… Thục Vương Tử dẫn binh tướng ba vạn đánh lại Lạc Vương 雒王, Lạc hầu 雒侯, thu phục các Lạc Tướng. Rồi đó Thục Vương Tử xưng là An Dương Vương”. Sách “Cựu Đường thư” dẫn lại “Nam Việt chí” chép (20) “Đất Giao Chỉ vô cùng màu mỡ, xưa có vua xưng là Hùng Vương 雄王, có Lạc hầu phò tá. Thục Vương Tử dẫn quân tướng ba vạn tiến đánh, diệt được Hùng Vương. Thục xưng làm An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ”. Như vậy thì sử sách có ba tên gọi cho vua nước Lạc Việt: Lạc Vương, Hùng Vương, Đối Vương. Có nhiều ý kiến cho rằng ba tên gọi này là một, chính là Lạc Vương, các tên khác do về sau sao chép nhầm chữ Lạc 雒 của Hán ngữ mà thành (21). Dầu sao thì cũng có hai lý giải về truyền thuyết danh xưng Hùng Vương, một là dòng dõi họ Hùng Vương nước Sở, hai là Lạc Vương vua của dân Lạc Việt. Dù tên tuổi đúng sai thế nào, thì Hùng Vương không chỉ thuần túy là truyền thuyết của Việt Nam, mà cũng có ghi trong cổ sử Trung Hoa. Nhân vật Thục Phán tuy nguồn cội chưa xác định, nhưng cũng có thật, đánh chiếm Lạc Việt lập nên nước Âu Lạc xưng là An Dương Vương cũng là có thật, có ghi trong chính sử không chỉ của Việt Nam (22).

 Tần diệt Sở, rồi đánh chiếm Lĩnh Nam, Đô Úy Triệu Đà được Tần cắt cử quản lĩnh Quế Lâm, Tượng Quận. Nhân khi nơi nơi nổi lên chống Tần, năm 204 TCN Triệu Đà bèn chiếm Lĩnh Nam lập nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu) và đánh chiếm Âu Lạc. Sách “Giao Châu ngoại vực ký” chép: “Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng” (23). Sách “Thái Bình Ngự Lãm” dẫn “Nhật Nam truyện” còn chép phóng đại hơn, nỏ một phát giết ba vạn người và còn kể tỉ mỉ chuyện tình Mỵ Châu Trọng Thủy, chuyện mất nỏ thần, dẫn đến An Dương Vương thất bại (24). Nước Âu Lạc từ đó nhập vào nước Nam Việt (25). Triệu Đà lập nước Nam Việt năm 203 TCN, giữ độc lập với nhà Hán được 92 năm, truyền 5 đời vua, đến đời Triệu Kiến Đức và thừa tướng Lữ Gia (26) thì mất nước vào tay Hán Vũ Đế năm 111 TCN. Một dải Lĩnh Nam và Đông Hải bị Hán chiếm và Hán hóa kéo dài hơn ngàn năm, ngoại trừ Lạc Việt, còn lại hoàn toàn trở thành Hán. Lạc Việt, sau hơn 1000 năm nô lệ và Hán hóa, vẫn giữ được bản sắc và nền văn minh Việt, cuối cùng thì giành được độc lập và trở thành Đại Cồ Việt, Đại Việt, Nam Việt và Việt Nam đến tận ngày nay. Đó là một trường hợp duy nhất mà Trung Hoa không thể Hán hóa được.
Vì sao Đại Việt không bị Hán hóa?

 Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm:

1 – Đồng hóa tự nhiên: đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người.

2 – Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc bị trị chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của dân tộc thống trị; đây là một tội ác. (27) Người Hán đã thực hiện cả hai biện pháp đồng hóa này hơn một ngàn năm mà Đại Việt vẫn không bị đồng hóa, người Trung Hoa ngày nay tìm mọi lý lẽ để biện minh nhưng chính họ cũng không thấy thuyết phục lắm. Chẳng hạn:
 * Việt Nam ở xa Trung Nguyên, núi sông cách trở không tiện đồng hóa. Phản bác lại: Tại sao Vân Nam cũng xa, núi sông cách trở hơn nhiều mà chỉ trong mấy trăm năm đã bị đồng hóa hoàn toàn.
 * Việt Nam ở phương Nam, nóng ẩm, người Hán không ở được. Thế tại sao Hải Nam cũng như vậy mà lại ở được, đồng hóa xong rồi.
 * Tại vì số lượng người Hán di dân xuống Việt Nam ít. Thực ra, không có bằng chứng nào là ít hơn Hải Nam, Vân Nam cả. Chỉ riêng số quan lại cai trị và số quân chiếm đóng trong hơn một ngàn năm, cũng không ít hơn số dân bản địa. Chỉ có thể hiểu người Hán ở đây đã bị Việt hóa. Cũng có ý kiến cực đoan bênh vực, nói rằng thực ra đã Hán hóa dân Việt rồi nhưng từ sau năm 1945, Việt Nam đã thanh lọc lại hết!

 Cũng có một số kiến giải của người Trung Hoa bình thường ngày nay, xem ra cũng ít nhiều có lý, ví như:
 * Người Kinh có ba nguồn gốc: Người Lạc Việt, Người Thục, Người Hán. Do vậy người Kinh hấp thụ được tinh hoa của ba chủng tộc nên trở thành một tộc người ưu tú.
 * Người Hán ở Việt Nam kể cả các tầng lớp cai trị không đồng hóa được người Kinh, trái lại bị đồng hóa ngược trở thành người Việt. Người Kinh là một tộc người có năng lực đồng hóa mạnh, bằng nếu không nói là còn hơn người Hán. Hãy xem họ mở rộng về phía Nam thì rõ.

 Nhưng đó chỉ là những lý do bề ngoài mà những người bình thường có thể nhận thấy được. Thực ra, theo các nhà chuyên môn, đồng hóa dân tộc là một vấn đề khoa học lớn, rất nhạy cảm và vẫn chưa có được một lý thuyết nào đứng vững cả, vì vậy tạm thời không bàn đến lý luận trong bài này. Thông thường đồng hóa dân tộc là một sự tổng hòa gồm:
 * Đồng hóa chủng tộc, thường được thực hiện bằng một cuộc chinh phục và kẻ chinh phục hoặc diệt chủng dân bị chinh phục, hoặc xua đuổi dân bị chinh phục để thay thế bằng cư dân của phía chinh phục, hoặc pha loãng huyết thống.
 * Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng.
 * Đồng hóa về tổ chức cộng đồng, xã hội.
 (Về vấn đề Văn Hóa, Ngôn Ngữ, Tín Ngưỡng, đều là những yếu tố bảo tồn dân tộc Việt, xin dành cho bài sau).

 Sự đồng hóa dân tộc sẽ khó được thực hiện.
 1. Nếu một dân tộc có sức sống sinh học và xã hội mãnh liệt thì sự đồng hóa chủng tộc khó thành công, ví dụ điển hình là dân tộc Do Thái.
 2. Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng phụ thuộc vào trình độ văn minh của dân tộc. Một dân tộc mạnh về chinh chiến, có thể chiến thắng trong cuộc chinh phục, nhưng nếu trình độ văn minh thấp hơn thì sẽ bị kẻ bại trận đồng hóa, điển hình như tộc Hung Nô, Nữ Chân, Mãn Châu… đều chiến thắng người Hán nhưng lại bị Hán hóa.
 3. Khi một cộng đồng dân tộc có tổ chức tốt, cố kết các thành viên bền chặt, thì dân tộc đó rất khó bị đồng hóa.

 Nhìn lại thì thấy người Việt (người Kinh) có đủ cả ba yếu tố 1,2,3: Người Kinh hiện nay là nơi tập hợp các thành phần ưu tú nhất của Bách Việt, bởi lẽ khi Bách Việt bị Hán hóa, các thành phần ưu tú, tinh hoa trong xã hội Việt là mục tiêu tàn sát của người Hán, do đó các thành phần này phải tháo chạy, và nơi dung nạp họ là mảnh đất cuối trời Bách Việt, tức Việt Nam ngày nay. Hãy xem thí dụ về ngôn ngữ Ngô Việt còn lưu lại trong tiếng Việt (như đã nói ở trên), đó là một bằng chứng cho sự dịch chuyển của người Ngô-Việt xuống đây. Vì vậy tộc người Kinh có sức sống mãnh liệt.

 Tinh hoa của văn minh Bách Việt được cô đọng lại ở người Kinh, chắc chắn không kém nền văn minh Hoa Hạ. Người Việt dù không có văn tự riêng (hay có mà bị xóa sạch sau ngàn năm nô lệ) nhưng vẫn phát triển và bảo tồn được ngôn ngữ dân tộc, dù phải mượn Hán Ngữ để ghi chép, thì thật là một kỳ tích, chẳng kém gì người Do Thái vẫn giữ được tiếng Do Thái dù bị diệt chủng và xua đuổi hai ngàn năm.

 Tổ chức xã hội của tộc Việt, điển hình là làng xã đã cố kết cộng đồng rất chặt. Tổ chức nhà nước cũng có rất sớm, từ thời Chiến quốc, do đó rất khó phá vỡ, nó tồn tại dấu tích sau khi khi đã độc lập. Hãy nhớ đến Hội Nghị Diên Hồng thời Trần để thấy tinh thần của tổ chức xã hội gắn kết người dân với triều đình chặt chẽ đến mức nào. Ngay cả một vương triều thất thế, bị truy đuổi như Triều Mạc, cũng không bán rẻ đất nước cho ngoại bang. Năm 1594, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ Vạn Ninh, trước khi chết để di chúc cho Mạc Kính Cung: “Nay vận khí nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời, dân ta vô tội mà để phải mắc nợ binh đao, sao lại nỡ thế… Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng” (28).

 Quân Minh đầu TK 15 cũng khó mà có thể chiếm được Đại Việt làm quận huyện nếu không có những nhóm quý tộc như nhóm Mạc Thúy, vì quyền lợi riêng bán rẻ dân tộc cho người Minh. Nên biết Mạc Thúy là hậu duệ của danh nhân Mạc Đĩnh Chi, một đại thần nhà Trần… Nhà Thanh không thể chiếm Thăng Long nếu không có vua quan bán nước Lê Chiêu Thống, tiếc thay y lại là dòng dõi của anh hùng dân tộc Lê Lợi…

 Than ôi! truyền thống thì hào hùng rực rỡ, tổ tiên phải đổ bao mồ hôi, xương máu mới có, nhưng bán rẻ nó đi thì thật dễ dàng. May sao tự ngàn xưa số những kẻ bán rẻ dân tộc như vậy là vô cùng nhỏ trong cộng đồng người Việt.1

CHÚ DẪN

 1为什么经历了一千多年的统治,中国始终不能同化越南?“Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. http://bbs.tianya.cn/post-no05-226522-1.shtml
 越南人(京族)为何难以同化 “ Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?” http://lt.cjdby.net/thread-1440161-1-1.html

 2 Có học giả Việt đương thời theo tự dạng vội suy đoán rằng viết như vậy có lẽ chỉ tộc người vác rìu đi (chạy) săn và tộc người trồng lúa trong ruộng. Chứng tỏ thời bấy giờ tộc Việt thuộc văn minh săn bắn và trồng trọt. Có lẽ không phải đơn giản như vậy. Khảo sát lịch sử văn tự thì thấy rằng Việt 越 và Việt粵 âm đọc giống nhau, “Sử ký” viết là 越, “Hán thư” viết là 粤. Âm đọc 粤 là từ âm đọc của chữ Vu 于, người cổ đọc 越 là于. Vu 于 viết theo lối chữ triện 篆 là 亏, hài thanh là chữ vũ 雨-mưa, viết lên trên thành 雩. Trong “Hán Thư” còn tồn nhiều chữ cổ, nên chữ Việt 越 đều cải viết thành雩, sau theo lối chữ lệ 隶, chữ khải 楷 mới viết thành ra 粤, tức biến hóa hình chữ vũ 雨 đặt trên chữ Vu亏.
 3 “路史” 罗泌 (1131—1189) 宋朝 : 越裳, 雒越, 瓯越瓯皑, 且瓯, 西瓯, 供人, 目深, 摧夫, 禽人, 苍梧, 越区, 桂国, 损子, 产里(西双版纳), 海癸, 九菌, 稽余, 北带,仆句, 区吴(句吳), 是谓百越。
#4 http://www.sino-platonic.org/complete/spp176_history_of_yue.html The Submerged History of Yuè. By Eric Henry, University of North Carolina

 5 史記-司馬遷 (145 – 86 TCN)
  6屈原在《离骚: 帝高阳之苗裔兮,朕皇考曰伯庸- Đế Cao Dương chi miêu duệ hề, Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung.
 7《史记.楚世家》记载: “封熊绎于楚蛮- phong Hùng Dịch ư Sở Man “, “ 熊渠曰: 我蛮夷也不与中国之号谥- Hùng Cừ nói: Ta là dân man di, không cùng hiệu, thụy của Trung quốc. Hùng Dịch (~1006 TCN) là vua lập ra nước Sở, Hùng Cừ (~877 TCN) là vua Sở về sau. Sở Man là tên nhà Thương, Chu gọi dân Kinh Sở bản địa, Man tức là Man Việt, tên tộc Việt thời nhà Thương.
 8 Jerry Norman and Tsu-lin Mei, Monumenta Serica, Vol. 32 (1976), pp.274-301, Published by: Taylor & Francis, Ltd.
 9 五岭 Ngũ Lĩnh-dãy núi phía Nam Trung Hoa chạy qua biên giới các tỉnh Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, có năm đỉnh cao (Ngũ lĩnh) là 越城 (Việt Thành)、都庞 (Đô Lung), 萌渚 (Manh Chử), 骑田 (Kỵ Điền), 大庾(Đại Dữu).
 10 Chữ Lạc có nhiều cách viết, đều đọc là Lạc. Hai chữ 雒,骆 thường dùng như nhau để chép Lạc Việt trong sách cổ. Tiếng Bắc Kinh đọc là Luo, Quảng Đông đọc lok, Đời Đường đọc lak. Nhiều học giả cho rằng nguồn gốc chữ Lạc là do người Hán ghi âm chữ Lúa, Ló của người Việt, người Mường mà ra. Người Việt là tộc người có nền văn minh lúa nước.
 11《淮南子·人间训:“(秦皇)又以卒凿渠而通粮道,以与越人战,杀西呕君译吁宋。Hoài Nam Tử. Nhân gia huấn: (Tần Hoàng) cho quân đào kênh thông đường vận lương, rồi đánh người Việt, giết được vua Tây Âu là Dịch Hu Tống”.
 12《史记·南越列传》赵佗上呈汉文帝的“谢罪书”:“且南方卑湿,蛮夷中间,其东闽越千人众号称王,其西瓯骆裸国亦称王。” Triệu Đà dâng thư tạ tội với Hán Văn Đế: “ đất phương Nam thấp, ẩm ướt. Trong các tộc man di ở đây, (chỉ dám) xưng vương phía Đông với dân Đông Âu vài ngàn khẩu, phía Tây với nước Âu Lạc khỏa thân (ý nói đóng khố cởi trần).
 13《吕氏春秋·孝行览·本味篇》:“和之美者:阳朴之姜,招摇之桂,越骆之菌。”高诱注:“越骆,国名。菌,竹笋。” Lã thị Xuân Thu-Hiếu hạnh lãm, bản vị thiên:” Những thứ hoàn mỹ là gừng Dương Phác, quế Chiêu Diêu, Khuẩn (Măng) Việt Lạc” Cao Dụ chú giải:” Việt Lạc là tên nước, Khuẩn là măng tre”.
 14 常璩(347)华阳国志-(卷三蜀志): Thường Cừ, “Hoa Dương Quốc Chí” (quyển 3-Thục Chí): “历夏、商、周,武王伐纣,蜀与焉。其地东接于巴,南接于越,北与秦分,西奄峨嶓。” Trải qua Hạ, Thương, Chu,Vũ Vương phạt Trụ, cùng có nước Thục. Nước đó đông giáp nước Ba, nam giáp nước Việt, bắc phân giới với Tần, Tây dựa Nga Ba” (vì vậy cư dân ở đây có thể là người Khương, Hoa Hạ và Việt-TGN).
 #15“华阳国志·蜀志:“周慎王五年秋,秦大夫张仪、司马错、都尉墨等从石牛道伐蜀,蜀王自于葭萌拒之,败绩。王遁走,至武阳为秦军所害,其相、傅及太子退至逢乡,死于白鹿山。开明氏遂亡,凡王蜀十二世 ““Hoa Dương Quốc Chí, thiên Thục Chí”: “Mùa thu đời Chu Thận Vương thứ năm, các Đại Phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Đô úy Mặc v.v theo đường Thạch Ngưu tiến phạt Thục. Thục Vương thân cùng Gia Mạnh cự địch, bị thất bại. Vương tháo chạy đến Vũ Dương thì bị quân Tần hại, Thái tử thoái lui về và chết tại núi Bạch Lộc. Dòng họ Khai Minh, truyền được 12 đời, đến đây bị diệt”. Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn,Tứ Xuyên.
 16 叶榆水
 17岱依人
 18《越史略》卷一载:“周庄王时嘉宁部有异人焉,能以幻术服诸部落,自称碓王,都于文郎,号文郎国。以淳质为俗,结绳为政,传十八世,皆称碓王。越勾践尝遣使来谕,碓王拒之。周末为蜀王子泮所逐而代之。泮筑城于越裳,号安阳王,竟不与周通。” .: Việt sử lược: “thời chu Trang Vương, ở Gia Ninh bộ có người tài, dùng xảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Đối Vương, đô ở Văn Lang, nước là Văn Lang. Tục lệ thuần hậu, chính sự nghiêm chỉnh, truyền 18 đời, đều xưng là Đối Vương. Việt Vương Câu Tiễn đã từng đến dụ, Vương đều từ chối. Vào cuối đời nhà Chu bị Thục Vương Tử tên là Phán đánh đuổi, thay thế trị vì. Phán xây thành Việt Thường, hiệu là An Dương Vương, tuyệt giao với nhà Chu”.
 19《水经·叶榆水注》中注引《交州外域记》云:“交趾昔未有郡县之时,土地有雒田,其田从潮水上,民垦食其田,因名为雒民。设雒王、雒侯主诸郡县。??后蜀王子将兵三万来讨雒王、雒侯,服诸雒将。蜀王子因称为安阳王。Sách “Thủy Kinh.Diệp Du Thủy chú”, dẫn theo “Giao Châu Ngoại Vực Ký” viết rằng: Giao Chỉ thời chưa có quận huyện, đất đai thì có Lạc điền, nước ruộng lên xuống theo triều, dân làm ruộng sinh sống, nên gọi là Lạc dân. Thiết đặt Lạc Vương, Lạc hầu cai quản các quận huyện. ?? về sau Thục vương tử xua quân tướng ba van đánh Lạc Vương, Lạc Hầu, thu phục các Lạc Tướng. Thục vương tử xưng là An Dương Vương.
20《旧唐书·地理志》则引《南越志》云:“交趾之地,最为膏腴,旧有君长曰雄王,其佐曰雄侯。后蜀王将兵三万讨雄王,灭之。蜀以其子为安阳王,治交趾。Sách “Cựu Đường Thư” dẫn lại “Nam Việt Chí” viết rằng: Đất Giao Chỉ rất mầu mỡ, xưa có vua gọi là Hùng Vương, phò tá là các Hùng Hầu. Về sau ba van quân tướng của Thục vương đánh bại Hùng Vương. Con của Thục Vương xưng là An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ.
21 So sánh các sách thì “Giao Châu ngoại vực ký” là cổ nhất, ít nhất là trước đời Ngụy Tấn (TK3), “Nam Việt Chí” soạn sau thời Bắc Ngụy, còn “Việt sử lược” có lẽ soạn thời Hồng Vũ (~1358) nhà Minh sau này. Quân Vương của nước Lạc Việt theo sách cổ nhất (“Giao châu ngoại vực ký”) ghi là Lạc Vương 雒王, sách về sau (Việt sử lược, Nam Việt chí) thì ghi là Đối Vương 碓王, Hùng Vương 雄王. Một số học giả Trung Hoa và Quốc tế ngờ rằng ba chữ 碓, 雄, 雒 (bộ thủ “chuy 隹 “) nguyên chỉ là chữ 雒 (Lạc) do mấy trăm năm sau sao chép nhầm phần các chữ ghép (chữ các 各thành chữ thạch 石 hay chữ quăng 厷) mà ra. Tuy nhiên nhiều học giả Viêt Nam không nhất trí, vì cho rằng các nhà Nho Việt Nam ngày xưa đều rất uyên thâm, khó mà lầm lẫn được. Ai cũng có lý cả!22 Các sách của Việt Nam có nói đến Hùng Vương, An Dương Vương cổ nhất như Lĩnh Nam Chích Quái 嶺南摭怪, Việt Điện U Linh Tập 粵甸幽靈集 hay Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書 thì cũng soạn vào thời Trần, muộn hơn nhiều so với các sách của Trung Hoa như Giao Châu Ngoại Vực Ký 交州外域记, Thái Bình Ngự Lãm 太平御览. Cho nên các sự tích và tên tuổi như Hùng Vương, An Dương Vương… chắc là chép lại từ sách Trung Hoa, vì Việt lúc đó không có chữ viết… Tất nhiên, cũng không loại trừ có những ý kiến khác.
 23《交州外域记: “南越王尉佗举众攻安阳王。安阳王有神人皋通,下辅佐,为安阳王治神弩一张,一发杀三百人”: Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông xuống phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”.
24《太平御览》卷348:《日南傳》曰:一發萬人死,三發殺三萬人。佗退,遣太子始降安陽。安陽不知通神人,遇無道理,通去。始有姿容端美,安陽王女眉珠悅其貌而通之。始與珠入庫盜鋸截神弩,亡歸報佗。佗出其非意。安陽王弩折兵挫,浮海奔竄: “Thái Bình Ngự Lãm, quyển 348 dẫn “Nhật Nam Truyện” viết:.. một phát giết vạn người, ba phát giết ba vạn người. Đà lui, sai thái tử Thủy hàng An Dương. An Dương không biết Thông là thần nhân, thấy (vua) không hiểu đạo lý, Cao Thông bèn bỏ đi. Thủy có tư dung đoan mỹ, con gái An Dương Vương là Mỵ Châu vì thích y đẹp mà xiêu lòng. Thủy sai Châu vào kho cưa đứt nỏ thần rồi về nước báo tin. Đà liền xuất kỳ bất ý (tiến đánh). An Dương Vương nỏ gãy binh tan, trốn chạy ra biển. (Thái Bình Ngự Lãm là sách soạn vào thời Bắc Tống (977 -984), trích dẫn “Nhật Nam Truyện” thì chắc là còn cũ hơn. “Nhật Nam Truyện” hình như đã thất truyền, chỉ thấy trích dẫn lại ở sách này-TGN).
25 Người viết bài này đã đến thăm và khảo sát khá kỹ Bảo Tàng Nam Việt Vương ở Quảng Châu. Bảo tàng xây trên khu lăng mộ của Triệu Mô, vua kế vị Triệu Đà (Thủy chết sớm, Mô là con Thủy thay). Ngôi mộ được phát hiện năm 1983, hầu như còn nguyên vẹn, đồ tạo tác rất kỳ vĩ, tinh xảo chứng tỏ trình độ văn minh của người Việt lúc đó khá cao, nếu không nói là hơn hẳn người Hán. Xem bảo tàng thấy các cổ vật trưng bày như thạp đồng, trống đồng, vũ khí… giống in và còn phong phú hơn nhiều so với Bảo Tàng Lịch Sử quốc gia Việt Nam giai đoạn lịch sử đó.
#26 Lữ Gia, Thừa tướng nắm quyền hành của nước Nam Việt, chống lại nhà Hán, thua trận bị chém chết. Lữ Gia và người ở Quận Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay), lăng mộ và đền thờ hiện còn ở Ân Thi, Hưng Yên
27Nguyễn Hải Hoành: Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc? – http://nghiencuuquocte.org/2015/09/07/viet-nam-khong-bi-dong-hoa-1000-nam-bac-thuoc/#sthash.0FZriY2F.dpuf.
28 Đại Việt sử ký toàn thư – NXB VHTT năm 2000, tập 3, trang 294.

* Người viết bài này xin bày tỏ lời cảm ơn nhà Hán học, dịch giả Trần Đình Hiến về những thảo luận, góp ý quý giá cho phần dịch các đoạn trích trong các sách sử cổ viết bằng văn ngôn trên đây.




Classic Hits

View Post

https://www.youtube.com/watch?v=y3KEhWTnWvE
https://www.youtube.com/watch?v=kUrxm4z9I-c
https://www.youtube.com/watch?v=6s1tuvmdWMs



THƠ SONG THẤT LỤC BÁT LIÊN HOÀN THUẬN NGHỊCH ĐỘC

…Về thơ lục bát, để chứng-minh vẻ đẹp độc-đáo của ngôn-ngữ Mẹ Việt, chúng tôi có đề-xuất lối đọc xuôi đọc ngược này trong hai tác-phẩm Tiếng Việt Tuyệt-Vời và Về nguồn. Ngay cả lục bát gián thất, chúng tôi cũng khám phá lối đọc xuôi đọc ngược này, thường thấy trong các thiệp xuân mỗi năm của chúng tôi gửi đến các thân-hữu.

Xin mời đọc TIẾNG VIỆT TUYỆT VỜI, chương 8, tiết §2- HỒN NƯỚC TRONG THƠ VIỆT nơi link => http://doquangvinhvenguon.com/ti7871ng-vi7879t-tuy7879t-v7901i.html

XUÂN THẮM LÀNG, BUÔN
(song thất lục bát thuận nghịch độc liên hoàn)

(đọc xuôi)

Buôn làng mãi in lòng nhung nhớ
Trải lụa vàng hoa gió reo xuân
Xuân tình mạch suối trào tuôn
Làng ơi, luôn thắm sắc xuân, ơi làng!

(đọc ngược)

Xuân reo gió, hoa vàng lụa trải
Nhớ nhung lòng in mãi làng buôn 
Tuôn trào suối mạch tình Xuân,
Làng ơi, Xuân sắc thắm luôn, ơi làng!

(liên hoàn)

Buôn thôn mãi in lòng nhung nhớ
Trải lụa vàng hoa gió reo xuân
 
Xuân tình mạch suối trào tuôn,
v.v…………
 
Đỗ Quang Vinh
(ngày 23 tháng Chạp, năm Tân Sửu (04-2-2021)



Tự Hào hai chữ SÀI GÒN

Chiếc đồng hồ Patek Philippe 2523 giờ thế giới có khắc tên SAIGON được sản xuất năm 1953 trở thành chiếc đồng hồ đắt nhất được bán ở Á châu.

SAIGON – cái tên địa danh 1 trong 40 thành phố nổi tiếng trên thế giới được khắc tên trên mặt đồng hồ Thụy Sỹ từ những năm 1953. Chiều qua uống cafe với đứa em, buôn chuyện khắp thế giới mới biết em cũng cùng sở thích mê đồng hồ (mình chỉ mê thôi nha). Em gởi hình cái đồng hồ và hỏi có biết  tin thú vị này không ? Xem xong thật sự mình rất rất ngạc nhiên xen lẫn tự hào cái tên SAIGON được khắc trên mặt đồng hồ của một thương hiệu nổi tiếng nhất thế giới – PATEK PHILIPPE – model 2523 của Thụy Sỹ.  Tin quá hay và quá thú vị không phải ai mê đồng hồ cũng biết. 

***

Tối mình về nhà lật đật “lục tung” internet tìm hiểu mới càng “nổi da gà”, khi biết nó được sản xuất năm 1953, khi miền Nam lúc đó do Pháp đô hộ, nhưng thành phố SAIGON được khắc tên 1 trong 24 múi giờ thế giới. 

Cái tên được ngạo ngễ đứng chung với 40 thành phố nổi tiếng đại diện trên thế giới: Sydney, Montreal, Moscow, New York, California, Rio De Janeiro, London, Paris, Geneva, Tokyo,…..có cả Singapore (mình hơi thắc mắc nước Singapore thành lập năm 1965, nhưng đồng hồ này lại được sản xuất năm 1953 ?).

Tương truyền, vào năm 1876 sau khi lỡ chuyến tàu ở Ireland, kỹ sư đường sắt người Scotland – Mr.Stanford Fleming bắt đầu tìm cách chuẩn hóa thời gian. Phát biểu trước Viện Hoàng gia Canada ở Toronto năm 1879, ông đề xuất chia trái đất thành 24 múi giờ, mỗi múi cách nhau một tiếng với thời gian chung cho từng múi giờ riêng lẻ. Ý tưởng của ông đã vấp phải sự phản đối đáng kể từ các chính phủ và cộng đồng khoa học nhưng sự kiên trì của ông đã được đền đáp khi khái niệm mang tính cách mạng của ông cuối cùng được thông qua vào năm 1884 tại Washington, khi 25 quốc gia tham gia hội nghị Kinh tuyến Quốc tế quyết định rằng kinh tuyến gốc của kinh độ 0 ° sẽ đi qua Greenwich, nước Anh.

Đồng hồ giờ thế giới dường như ít được các tín đồ đồng hồ quan tâm cho đến khi nhà chế tác đồng hồ thiên tài Mr.Louis Cottier thiết kế một bộ máy đồng hồ bỏ túi có giờ địa phương với kim giờ và kim phút ở trung tâm, được liên kết với một vòng xoay 24 giờ và được bao quanh bởi một vòng quay số cố định bên ngoài với tên của các thành phố khác nhau được ghi trên đó. Đồng hồ bỏ túi giờ thế giới, tiền thân của tất cả đồng hồ giờ thế giới, hiển thị đồng thời mọi múi giờ trên thế giới, đồng thời cho phép xem giờ địa phương dễ dàng và chính xác, và tất cả trên một mặt số duy nhất.

Cottier đã thu nhỏ phát minh của mình vào cuối những năm 1930, xuất hiện trên chiếc Patek Philippe model 1415. Đến năm 1953, Patek Philippe model 2523 có hệ thống hai núm vặn mới, một để lên dây cót và một ở vị trí 9h để điều khiển đĩa các thành phố. Khi được giới thiệu ra thị trường, đồng hồ hai núm mới này không thành công về mặt thương mại, nên rất ít sản phẩm được sản xuất. Chỉ có 7 cái được chế tác bằng vàng hồng,  5 cái có bản đồ thành phố Âu châu  và Bắc Mỹ. Trong đó, 1 trong 2 cái duy nhất dùng bản đồ Âu Châu & Á châu  có mặt sứ màu xanh nước biển, khi lặn xuống nước màu trên mặt có một chiều sâu như dưới biển. Đồng hồ duy nhất này có cả 2 thứ trên mặt mà các nhà sưu tập đồng hồ mong muốn là mặt bằng men Enamel (loại sứ trên cái mặt tròn ở giữa) phải nung 2 lần mới thành. Và mặt trang trí vói những pattern bằng máy (do huyền thoại Louis Cottier phát minh, sau đó hãng Patek Philippe sử dụng). Đặc biệt được sản xuất trong thập niên 50 thế kỷ trước, thập niên hoàng kim của chế tạo, thiết kế, kỹ thuật điêu luyện của đôi tay những bậc thầy.

Và…..chiếc đồng hồ Patek Philippe 2523 giờ thế giới có khắc tên SAIGON được sản xuất năm 1953 trở thành chiếc đồng hồ đắt nhất được bán ở Á châu. Nghe nói đâu  vài triệu đô chứ mấy ?!? Ahihi…!

Minh Hoà Photographer  (SaiGon – Nov. 16, 2020)




LM Nguyễn Văn Lý

Kính mong quí vị hổ trợ bằng mọi phương tiện, để
phát huy tinh thần tranh đấu bất bạo động của nhóm
Linh mục Nguyễn Kim Điền, hầu sớm có tự do tôn
giáo và nhân quyền trên quê hương.
Kính chúc quí vị an bình.
Chinh Nguyên

Xin quý vị click vào hình để đọc




Dòng Thơ Kỷ Niệm

Đông Anh & Chinh Nguyên.

Chúng tôi ấn hành tập Thơ Kỷ Niệm này cũng là để kỷ niệm những bước chân hoang đi ngoài Tổ Quốc. Nhắc kỷ niệm xưa để luôn luôn thôi thúc một ngày về quê hương trong ánh nắng vàng tự do hạnh phúc.
Đông Anh & Chinh Nguyên.

Xin quý vị click vào hình để đọc:




Nếu đời không có thơ

Vài lời tự bạch

Khi tuổi đời đã xế bóng, vấn đề cơm áo tạm ổn định thì hồn thơ bỗng bừng cháy theo kỷ niệm thời áo trắng xa xưa…, của những chiều mưa ngồi bất động thả ánh mắt theo bong bóng nổi tan, hay mùa Thu với những tà áo tím xuất hiện trên khắp nẻo đường của xứ Sông Hương, Núi Ngự, của buổi chiều Hạ tìm hạt nắng mong manh sắp tàn dần theo hoàng hôn…

Thời gian đầu chỉ viết lung tung không lề luật. Rồi cơ may đến, MT gặp được người anh tên Bảo Trâm, đã chỉ dạy, hướng dẫn về các luật thơ, rồi đi xa hơn nữa là giới thiệu MT đến các diễn đàn văn thơ cũng như nhiều hội thơ Thất Ngôn Bát Cú để có cơ hội học hỏi thêm, từ đó MT lại được mời tham gia vào nhiều hội thơ khác nữa.

Khởi đầu, học thơ 5 chữ, 8 chữ, Tứ Tuyệt, Song Thất Lục Bát rồi cuối cùng là thơ Thất Ngôn Bát Cú, với loại thơ TNBC, có rất nhiều thể loại thật thú vị cho trí óc rèn luyện, đây là loại thơ MT thích nhất, vì vậy mà tập đầu tay MT chỉ nghĩ đến thơ Thất Ngôn Bát Cú là chính.

Thơ là sân chơi tao nhã, là cảm xúc dâng tràn theo câu chuyện đời, đôi lời tâm sự từ bạn bè, hay kỷ niệm được cô đọng đã lâu, hoặc là mơ là mộng, là thơ là thẩn đôi ba phút trong thế giới tưởng tượng, để tạm quên đi thực tế chắc hẳn không đẹp như mơ.

Còn gì thú vị bằng khi cùng với bạn thơ xướng họa giải trí sau một ngày làm việc mệt nhọc.

Khi vốn liếng đã đầy ắp, MT muốn lưu niệm cùng quý thi nhân khắp bốn phương trời, ước ao thành hình tập thơ và san sẻ đến những bạn yêu thơ gần xa, mong hỷ xã nếu có nhiều sai sót về mọi mặt 

Cuối cùng MT xin ngỏ lời tri ân đến người anh, người Thầy Bảo Trâm đã hướng dẫn đi vào luật thơ, đã làm hơn một ngàn tranh thơ cho MT, đã gom nhặt, tìm kiếm trên các hội thơ để cất giữ dùm thơ khi thấy MT quá bận rộn “cày bừa” trong tuần, cuối tuần chạy rong ngoài đường lo việc chú bác, chỉ biết xướng hoặc họa thơ mà không nhớ bài nào, không biết cách giữ gìn. Có lẽ người Thầy đã nhiệt tình hăng say khi thấy công lao đào tạo đệ tử…” tạm gọi” là có kết quả về luật thơ?

Nói tóm lại nếu không có Thầy Bảo Trâm thì MT không có được vốn liếng thơ để hôm nay được Thầy trình bày thành tập thơ này. 

Sau nữa MT xin cám ơn hội trưởng Chinh Nguyên của hội Văn Thơ Lạc Việt đã mở lớp học miễn phí về cách sử dụng Computer, về cách trình bày một cuốn sách, cũng như in sách do Thầy Phạm Thái nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ MT hoàn thành tập thơ Xướng Họa 2017 này.

Xin mời quý độc giả cùng bước vào vườn thơ với muôn cánh hoa đầy hương sắc. 

          Minh Thúy

Xin vui lòng click vào hình để xem sách



Đội Đập Đá

Xin vui lòng click vào hình để xem sách




Đôi Mắt Biển

XIN CHÀO QUÝ VỊ

     Tôi viết và gởi tới quý vị những bài thơ ngẫu hứng không niêm luật không tựa, và có tựa những bài thơ nói lên tình yêu không bao giờ xa rời, nỗi yêu thương không bao giờ đứt đoạn đã và đang ẩn hiện trong lòng chúng ta quê hương ngàn trùng xa cách, và tiếng mẹ như sóng vỗ bờ.

      Tôi nghĩ rằng đó là sự nổi loạn của con tim hay sự trổi dậy của tình người, lời tình gọi mơ hồ như sóng biển chiều vọng lại xa xăm vời vợi thương yêu!

Xin quý vị click vào hình để đọc




Nỗi Đau Dài

Xin quý vị click vào hình để đọc.




THƠ XUÂN TÂN SỬU Xướng Họa: Tuyết Vân – Phương Hoa – Minh Thúy

XUÂN MONG ƯỚC

(Xướng)

Xuân về mừng đón Tân Niên

Hoa mai hoa cúc ngoài hiên nở rồi…

Xuân nay lặng lẽ bên đời

Ngắm xuân với những bồi hồi xót xa

Lặng trong ngày tháng phong ba

Bao nhiêu buồn khổ, bao là đắng cay

Vì đâu nên nỗi…cảnh này?

Xót thương nhân loại những ngày buồn đau

Năm qua bên cuộc bể dâu…

Dìm bao số phận…mà đau thương lòng

Xuân về tiễn biệt mùa đông…

Xuân mang thương nhớ cùng mong ước nhiều

Trời xuân hết cảnh đìu hiu

Xuân đem hy vọng đem điều thiết tha…

Mong cho hạnh phúc mọi nhà

Mùa xuân tươi thắm chan hoà niềm vui

Tuyết Vân (xuân 2021)

****

MỪNG XUÂN TÂN SỬU

(Họa)

Giao Thừa dâng lễ Tất Niên

Đì đùng tiếng pháo bên hiên nhộn rồi

Trăng non soi xuống trần đời

Tiếng chuông Trừ Tịch từng hồi ngân xa

Đường làng lũ lượt năm ba

Lên chùa hái lộc hương là mắt cay

Cỏ cây hoa lá nơi này

Thắm tươi quên hết bao ngày khổ đau

Xuân về sáng đẹp nương dâu

Tương lai tan biến niềm đau trong lòng

Không còn nặng mối sầu đông

Niềm vui đã thỏa còn mong chi nhiều

Gió Xuân rười rượi hiu hiu

Lòng Xuân phới phới trăm điều khai hoa

Chúc Xuân Trâu khỏe nhà nhà

Mừng Xuân Tân Sửu hợp hòa an vui…

Phương Hoa – Feb 2nd 2021

****

XUÂN 2021

(Họa)

Vạn vật thay sắc đầu niên

Đào , Mai nở nhắc bên hiên đây rồi

Đàn chim tung cánh bên trời

Tâm hồn lắng đọng từng hồi chuyện xa

Tha phương nhớ quá mẹ ba

Thời gian cơ cực toàn là lệ cay

Lưu vong tỵ nạn nơi này

Hằn sâu ký ức chuỗi ngày hận đau

Núi non mờ mịt ngàn dâu

Quê hương tan tác vết sâu ẩn lòng

Vùi theo quang cảnh sầu đông

Bây giờ lộc biếc thầm mong thật nhiều

Nâng từng giọt nắng hắt hiu

Cúc vàng nghiêng nụ yêu kiều sương sa

Đón Xuân chúc Tết bao nhà

Năm Tân Sửu được phước hoà lộc vui.

              Minh Thuý Thành Nội

                  Tháng 2/2/2021




Tản Mạn về Mùa Thu và Thi Nhân

Xin vui lòng click vào hình để đọc sách

https://www.youtube.com/watch?v=0Gs75l7E6Vk



Nghe “Đền Em” Cung Trầm Tưởng – diễn ngâm bởi Hoàng Khai Nhan

Source: PK-Người Việt Tây Bắc- (Nguoi Viet NW)

Seattle -NVTB – (24-1-2021) Buổi chiều hôm nay thời tiết nắng đẹp- còn hơn nửa tháng là đến Tết ta. Tin thời tiết báo sang tuần có tuyết – Thôi thúc đi uống cà phê ngoài phố trước những ngày sẽ… lạnh; nhân thăm tiệm café rang xay tại chỗ, hạt cafe từ Pleiku -Ban Mê Thuột, gửi hãng chuyên aromé tại Seattle; và còn được uống “Trà Lá Xanh – Lâm Đồng”..

Dù trong thời Covid Vũ Hán hoành hành, nhóm trẻ Friends Of Little Sài Gòn vẫn mới vừa khai trương khai trương, sau hai năm chuẩn bị thiết kế… mang tên: “Café Hello Em” , sắp xếp chung trong tòa nhà “Creative Space” của The Friends of Little Saigon, tại 1227 S. Weller St., Seattle.

Trước đó trên đường tới Seattle, nhân tiện tạt ngang một vòng dạo quanh đảo Mercer Island, vòng quanh đường bờ hồ Washington… nhớ lại kỷ niệm một ngày nơi này có mấy anh chị em đến chuẩn bị cho vài tiết mục cống hiến vào “Ngày 30-4-2015″.. nhắc đến các bài thơ tù Hoàng Liên Sơn, trong đó có cả “Nguyện Cầu Mùa Thu” thơ CTT, “Hoa Trắng” Nguyễn Văn Thu (*) 

Cười cười vì cái tên khá ngộ nghĩnh với .. “Hello Em Café“, rồi lại thấy có một tiệm phở khác trong Mercer Island lại cũng có tên “Em” đó lại là “Phở Em”… Sau một ngày vui với nắng, gió… Rồi khuya về, nghe một bài hát… qua cel phone lại thấy một Youtube trên FaceBook, thấy giới thiệu tiếng thơ “diễn ngâm bởi Hoàng Khai Nhan”.. Bài “Đền Em” – thơ Cung Trầm Tưởng viết từ năm 1956, và tiếp nối bằng ca khúc phổ nhạc bởi Phạm Duy qua tiếng hát Thái Thanh.

Bài thơ này đã xuất hiện trên tạp chí Trẻ năm 1959- của thế kỷ 20. Trình bày đẹp tập tặng không (phát hành toàn quốc – song hành với nguyệt san Thế Giới Tự Do Cơ Quan Viện Trợ Văn Hóa Hoa Kỳ (USAID) (**)

Lắng nghe, và thao thức mất ngủ, với “Đền Em.” . Tiếng “Em” ngọt ngào qua text của gọi tắt : – “Em” hay “M” v.v…

Đền Em chỉ giản dị – là những điều còn nợ nhau – có khi bị “bắt đền” hay tự nguyện- mà hỏi có cách nào “để trả được món nợ” đây. Hay còn có đền bù, hoặc chỉ cụt ngủn “” – là muốn “lắp đầy” giúp “ai đó” vươn tới một ước mơ- từ người mình thân yêu, tha thiết, cho người muốn đạt tới một chỗ vinh quang, bay cao xa hơn!

Nghe Hoàng Khai Nhan diễn ngâm bài thơ ngắn của Cung Trầm Tưởng, mà tưởng như ai đó đang khẩn khoản những lời xin lỗi, lấp liếm đi “những hò hẹn với ước mơ không với tới”, trong đó có cả khí phách của một người thanh niên muốn học thành đạt cống hiến cho “quê hương” còn trẻ (nhớ về Non sông bóng mẹ sầu u– Mòn trông ngưỡng cửa, chiều lu mái sầu ) … Khi nghe sáng tác, tưởng chỉ là một chuyện tình đẹp, hát khi đã buông xuôi… mà ta gọi là “hò hẹn với mai sau“, hay “Kiếp sau”, hoặc còn được gọi là “Thiên Thu” lại là một lời nhắn gửi khác với … (mòn trông ngưỡng cửa- chiều lu mái sầu)

Nghe mãi video “Thi Nhạc Giao Duyên”, để thấy niềm vui thời tươi trẻ hẹn với non sông, khi bao người mới rời đất Bắc vào Nam, Rồi lại một lần nữa rời miền Nam sang đến đất Mỹ v.v.. và khúc hát đi với thơ nhạc mang một cảm giác mênh mang buồn như thời còn nghe Tao Đàn.. còn sống chết thề nguyền.., và mường tượng ra thấy mình gần gũi biết bao với “các món nợ”, mà dẫu mình chẳng hề vay xin – mà đã là để đời chưa trả hết…

Cũng xin được Đền được Bù ở kiếp mai ..

Tiếng “Bù” cho ta tưởng tượng ra ý nguyện muốn tự nguyện “lắp đầy”, khi nhận ra những thiếu vắng khẩn thiết của em, của con, của người thân, và với Cung Trầm Tưởng còn “đền bù” với cả “Non Sông- Bóng Mẹ Sầu U” nữa. Và còn muốn đền bù, cho cả người đã không có chút đầm ấm từ cha hay mẹ, của cả Em bé thơ bị gửi vào ký túc xá, như trong phim: “Les Dimanches de Ville d’Avray – (Sundays and Cybele) – thực hiện năm 1962, mà những gì cô bé xin (rất thân yêu) cũng nhỏ nhoi như những viên kẹo, con búp bê bằng vải có khuôn mặt nhọ lem, hay con gà trống đồng trên đỉnh tháp nhà thờ d’Avray… em từng “khẩn khoản” muốn được! – Mà ai đó trong chúng ta khó cầm lòng, với ao ước “lắp đầy” muốn tặng không- cho em đạt ước muốn bay cao , bay xa trong những mơ ước lẻ loi, vốn em cưu mang đôi cánh cháy….

Muốn bù cho em, đền cho em và lắp đầy những mơ ước của Em- chỉ vì đôi mắt em tha thiết được bay ra khỏi cảnh tội nghiệp và bay cao xa, như mọi ước mơ được chắp cánh. Ảnh trên là một bích chương quảng cáo ở SàiGòn Việt Nam, cuốn phim đen trắng, chàng cựu Không Quân phi hành, trầm cảm từ giã chiến trường lang thang, gnhìn qua hàng rào cổng tòa nhà khó kín , nạn nhân của hoàn cảnh, phải sống trong (viện Dục Anh- hay ký túc xá- chỉ được về nhà khi có thân nhân.

Thật tình trong cuộc đời: Cả khi ta không: vay, nợ hay xin – và cả khi Em cũng chẳng bao bao giờ “bắt đền”, để phải lo “Đền Bù Em“..

***

Trong bao nỗi niềm đó, cảm xúc yêu mến: những dòng thơ Cung Trầm Tưởng, những dòng thơ phổ thành ca khúc của Phạm Duy, những hình minh họa và nét chữ viết nhan đề ca khúc của Ngy Cao Uyên – có từ 65 năm qua- lơ lửng như đám mây trắng- bàng bạc trở về. để nhắc nhở một chút gì đã mượn, đã đón nhận, từ Em, cho cả đến món nợ quê hương – Xin được Đền – Bù, Lắp Đầy cho nhau qua tác phẩm: “Đền Em

“Thơ Đền Em”- hay “Kiếp Sau”, là bài hát thứ hai trong số 5 ca khúc phổ nhạc từ 13 bài trong tập thơ Cung Trầm Tưởng, minh họa Ngy Cao Uyên

Xuất hiện trên tạp chí Trẻ do USAID ấn hành thời xa xưa… Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng, (trái) Nhạc Sĩ Phạm Duy (giữa), và Họa Sĩ Ngy Cao Uyên,, chính là một đột phá từ sinh hoạt nghệ thuật Hoa Kỳ vào xứ sở vốn yêu thi ca-nhạc.

Xin bấm vào mũi tên trong video YouTube bên dưới để thưởng thức: Nhạc Phạm Duy, Thơ Cung Trầm Tưởng, Tiếng hát Thái Thanh, Hình ảnh Trần Công Mỹ & Phần diễn ngâm cùng dàn dựng video bởi: Hoàng Khai Nhan:

Hoàng Khai Nhan, diễn ngâm và giới thiệu “Đền Em” qua music video.

Hai bài thơ dưới đây đây do Ts Thư Khanh và Ts Phương Hoa cảm hứng xướng họa khi nghe Hoàng Khai Nhan diễn ngâm bài thơ “Kiếp sau”

Mở nghe Ai đó Ngâm Thơ : 

” Buồn như chấu cắn ngỡ như …”Thất Tình ” ?!

Buồn vì đất nước điêu linh ,

Giặc Cộng tàn phá tan tành bấy nay.

Nỗi buồn sao cứ tăng đầy,

Giọng sao tha thiết … – như ngày dấu yêu …

THƯ KHANH Seattle 

 

CẢM XÚC

(Kính góp họa cùng thi hữu Thư Khanh)

Đền Em” rót mật vào thơ

Lòng Cung Trầm Tưởng hoang mơ vì tình

Thi nhân chữ nghĩa lung linh

Giọng ngâm dường đã tập tành lâu nay

Tiếng tơ réo rắt đong đầy

“Kiếp Sau” vẫn nhớ những ngày đã yêu

Phương Hoa – FEB 2nd 2021

 

“Đền Em” được nhắc tới nhiều, như là một ca khúc hay vượt trội hơn cả trong kết hợp thơ nhạc, từ bài thơ rất ngắn (1956) mang dáng dấp như ca dao đứng đầu 13 bài trong thi tập “Tình Ca” (chữ viết tay đẹp lạ của Ngy Cao Uyên)….

5 bài được phổ nhạc trong tập thơ “Tình Ca” ngày xưa ấy với minh họa kèm theo các bài thơ và music sheets của Ngy Cao Uyên, đó là:

  1. Mùa Thu Paris
  2. Kiếp Sau (phổ từ bài thơ Bù Em- ngắn ngủn với 6 câu lục bát, như lục bát ca dao…). Trong bài hát này, nhạc sĩ đã không đánh mất hai câu thơ ý nghĩa nhất, được mang vào phần kết thúc: “Non sông bóng mẹ sầu u, Mòn trông ngưỡng cửa, chiều lu mái sầu…”
  3. Về Đây
  4. Khoác Kín
  5. Chưa Bao Giờ Buồn Thế (từ bài thơ Khép Kín)

Hai chữ mở đầu của bài thơ “Bù em” sau khi ở lại, vì Sài Gòn từ 1975 thất thủ, rồi nhà thơ chịu tù đầy 10 năm, bao gồm cả những tháng Hoàng Liên Sơn, Hoàng Liên Sơn – nơi cựu Trung Tá Không Quân, Cung Trầm Tưởng có bài thơ dành cho mẹ sầu Quê Hương mang tên “Nguyện Cầu Mùa Thu” (1977).

(Source: PK-Nguoi Viet NW)

Chú thích:

(*) Ghi chú phần bổ sung lạc ra ngoài đề tài:

(*) Có những nhắc nhớ ghi lại cảm xúc thời mới nhìn thấy “Tình Ca”, Khác hẳn cảm xúc sau khi chính mình cũng là một người đồng cảnh tù… Trước đó trên đường tới Seattle, nhân tiện tạt ngang một vòng dạo quanh đảo Mercer Island, vòng quanh đường bờ hồ Washington… nhớ lại kỷ niệm một ngày nơi này có mấy anh chị em đến chuẩn bị cho vài tiết mục thơ nhạc Mẹ Quê Hương mòn trông và Tù Đầy.. cống hiến vào “Ngày 30-4-2015”..

Mùa này đi trên đường vắng của East Mercer Way (ven bờ đảo) không thấy có hoa trắng rơi rải trắng lấm tấm khắp trên vài con đường vắng – như trong ký ức tôi 65 năm xưa… thảm hoa trắng nhỏ từ một cây vú sữa “già cội” rải khắp sân, của chủ phố Louis Lê Cang Đảm (cháu nội của cụ “Nhất Sỹ” -Lê Phát Đạt, ông ngoại của Nam Phương Hoàng Hậu– Nhà này ở gần nhà thờ Huyện Sĩ, “khi mới Di Cư Từ Bắc Vào Nam”, nơi gia đình tôi may mắn được cho “ở đậu” tá túc mà có thể cũng là người giúp cho có việc làm đầu tiên ở Phòng Thông Tin Usaid, sau này in báo Trẻ và Báo Thế Giới Tự Do..?, còn lưu lại trong ký ức từ 1955-1956.. Rồi mãi mươi năm sau bạn học tôi ở các năm trung học lại chính là con trai ông, tên anh là Louis Đảm, và 16 năm trước cha của anh cũng lại là học trò của Sư Huynh Phạm Ngọc Hóa trường Taberd (là anh ruột của bố tôi)… Tôi phải dài dòng thế, vì rất thích Báo Thế Giới Tự Do và Tạp Chí Trẻ, chính nơi đây đã tặng Free kèm theo báo Trẻ, insert tập “Tình Ca”, in giấy trắng láng- chữ “Tình Ca” mực đen in cùng size với tạp chí Trẻ để insert trong báo – được cơ quan USAID tâng không… vào thời điểm đó… Kể lại dài dòng chỉ vì vậy thôi! Bài thơ này đã xuất hiện trên tạp chí Trẻ năm 1959- của thế kỷ 20. Trình bày đẹp tập tặng không (phát hành toàn quốc – song hành với nguyệt san Thế Giới Tự Do Cơ Quan Viện Trợ Văn Hóa Hoa Kỳ (USAID)

(**) Bài thơ này đã xuất hiện trên tạp chí Trẻ năm 1959in trong một số báo chủ đề “Phạm Duy – Cung Trầm Tưởng và Họa Sĩ Ngy Cao Uyên”. Nhớ nhiều đến bố có việc làm công nhân viên ở đấy, và ông mang về nhà rất nhiều sách in bìa giấy trắng dầy của nhà xuất bản Phượng Giang, Tự Lực Văn Đoàn, Sáng Tạo cũng từ nơi này “hỗ trợ ” phổ biến (?), cũng chỉ để mang tặng không cho người quen… (PK)

 




Những Mùa Thu Qua Trên Cuộc Tình Tôi (Trường Sa)

Source: PK-Người Việt Tây Bắc- (Nguoi Viet NW)

https://www.youtube.com/watch?v=erMQ6SnOzN4&feature=emb_logo

Sáng tác: Trường Sa
Hát: Hoàng Khai Nhan
Hình: Sài Gòn Xưa từ Internet
Phim: Hồ Con Rùa Quay Từ Trên Cao bởi V.Thai Minh
Thực hiện video: Hoàng Khai Nhan

Những Mùa Thu Qua Trên Cuộc Tình Tôi là một là một sáng tác soạn sau này của nhạc sĩ Hải Quân VNCH Trường Sa, trong số 44 ca khúc do ông không ngưng nghỉ sáng tác từ trước 1975. Trong số này có những bài hát dành cho cuộc sống cùng đại dương thời quân ngũ. Có những bài hát sáng tác sau này, sau khi ông về SàiGòn trên chuyến tầu Việt Nam Thương Tín; để rồi phải chịu nhận những năm tháng tù đày dài ngày nghiệt ngã sau khi trở về (1975).

Trong thương nhớ sự ra đi mới đây của ca sĩ Lệ Thu, cũng khiến nhiều người nhắc đến tên các ca khúc Trường Sa gắn liền với tình yêu, kỷ niệm và sự lãng mạn; chẳng riêng Lệ Thu hát hay, mà nhiều người yêu nhạc, một số ca sĩ khác cũng vẫn yêu thích hát như: Xin Còn Gọi Tên Nhau, Rồi Mai Tôi Đưa Em, Một Mai Em Đi.v.v. .

Ca/nhạc sĩ Hoàng Khai Nhan, cũng là một quân nhân- yêu Tổ Quốc-Không Gian, cùng chịu nỗi gian nan, và có nhiều điểm đồng cảm với nhạc sĩ Trường Sa yêu Tổ Quôsc -Đại Dương, đặc biệt là Mùa Thu, những cuộc tình… và một nơi chốn, vẫn “còn chút gì để nhớ” về: SàiGòn (như Anh Bằng-BH) với: “Nhớ Đêm Mưa Sài Gòn“, thấm đầy qua lời ca khúc và con đường Duy Tân ngày nào xa xưa, với những thước phim (nơi hồ phun nước đài Con Rùa và ngọn đuốc cao vọi ghi ơn các quốc gia đồng minh của VNCH-, rất gần trường Luật. Nơi đây đông kín những sinh viên nam nữ, bước ra vào cổng trường bằng gỗ mầu huyết dụ giản dị, giữa sân là cây hoa sứ già cỗi… luôn nở hoa. (như Phạm Duy-Nguyễn Tất Nhiên) với: “Trả Lại Em Yêu“… hay “người từ trăm năm- về qua trường Luật- Thi hỏng tú tài ta đợi ngày đi”.. (Từ nhạc sĩ Trường Sa, đã dắt nỗi nhớ sang tới nhạc Anh Bằng,như một liên khúc rồi tới: “Thà Như Giọt Mưa” phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên nữa! Những ca khúc một thời ở Miền Nam mang ta về tháng ngày Sài Gòn cũ, những dòng nhạc tình từ những chiếc máy Akai trước 1975,… cũng chất chứa nhiều ca khúc tha thiết của Trường Sa.. Chính vì thế khi ca nhạc sĩ chọn hát và phổ biến ca khúc này đã lay động trái tim người yêu nhạc, nhớ Sài Gòn và tự hào, qua những kỷ niệm trên cuộc tình mình, qua một thời Không Quân đáng ghi nhớ…

Riêng với lãnh vực nhiếp ảmh của Hoàng Khai Nhan, phần lớn là góc cạnh sinh hoạt một không gian xung quanh thường gặp trong ký ức… Riêng với số ảnh mà ông chụp từ quê nhà, mỗi bức ảnh không chỉ là thơ mộng đẹp hoặc mầu sắc lung linh đầy chất sống, mà còn chất chứa nhiều suy tư gửi đến người thưởng ngoạn như: “Chị gánh hàng rong trên đồi cát Phan Rang”, “Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn” (ngày nay), dấy lên những cảm xúc.. cho người xem có những ấn tượng mạnh về một Sài Gòn đã khác, và ông đã nắm bắt kịp được những sâu thẳm của sự mất mát… khiến người xem bừng dậy những nỗi nhớ SàiGòn… với bao nỗi niềm ngập tràn cảm giác hoài niệm bâng khuâng,…

Ghi chú: Một số ảnh Hoàng Khai Nhan chụp, đã được khá nhiều nơi xử dụng bao gồm cả các video Thúy Nga, cũng như báo tuần và online của Người Việt Tây Bắc (Nguoi Viet NW) vẫn giới thiệu qua từng cơ hội minh họa nổi bật… như dấu mốc thời gian, với những bức ảnh từ Hoàng Khai Nhan, từng cùng ta đi suốt 4 mùa ngày ấy Sài Gòn, và quê nhà… trên trang bìa báo NVTB./. (PK-Người Việt NW)- Bài viết này cũng được phổ biến trên FB của Hoàng Khai Nha và “Trang Nhà của Asia Entertainment”. v,v,,




OUR WAY BACK HOME (1989)

Xin mời vào website

www.phammanhdat.com




Video Nhạc Xuân 2021-Phạm Mạnh Đạt

Xin mời vào website

www.phammanhdat.com




Lời Tình Buồn

Xin quý vị click vào hình để đọc




Thorn In The Heart

Mrs. Salle Hayden MA, NLP. 
Author, Editor và publish.

Lời bình của bà Salle Hayden, về tác phẩm “THORN IN THE HEART” của tác giả Chinh Nguyên.
Thank you so much for sharing this book with me. 
Your feeling is quite clear. I know that there are many “kids” in the Vietnamese community who do not really know their parents’ and grandparents’ suffering. This book is an introduction to understanding the human tragedy that Vietnam had been for so long. 
I’m not sure that it has changed so much under the Communists, but we can’t see into that window, can we?
I appreciate your skill and fervor.

Salle Hayden
Tác phẩm “Thorn In The Heart” dầy 576 trang.
Quý vị mua sách xin liên lạc:
Chinh Nguyên E-mail cnchinhnguyen7@gmail.com.
phone : 1(669) 225-6043 Gía: $30.00 Mỹ Kim.
Hoặc xin quý vị click vào hình để đọc trọn bộ.
Please, click on the picture below to read the novel




Nợ Em Một Đời

Xin vui lòng click vào hình để đọc