Mạ sinh con đang lúc nhà nghèo khó Một phần cơm, khoai sắn độn hai phần Thuở ấu thời, mắm cà cùng muối đậu Con đã quen ngon miệng món nhà bần.
Lúc mớ rạm ngoài đồng đem ram muối Muà nước lên con bống thệ kho khô Những chột nưa mạ nấu cùng tí ruốc Rau tập tàng vị ngọt những ngày thơ.
Đọi rau khoai ngọt ngào con tôm đất Hũ tép chua có những lát măng vòi Bánh tráng nướng còn thơm mùi mít trộn Những món quen con vẫn nhớ trọn đời.
Ngày mưa bão, trên mâm thường trứng luộc Trưa mùa hè, nước rau muống thay canh Chút dưa, muối cũng vội vàng xong bữa Sao mạ hay – ngồi ăn cuối một mình.
Con là con mèo Trạng Quỳnh cuả mạ Đã phận quen ăn những món ăn nghèo Trước những mâm đầy sơn hào hải vị Con dửng dưng như đứa trẻ quen chiều.
Giờ con đã xa nửa vòng trái đất Biết khi mô mới trở gót quay về Trên bếp lưả chụm rơm chiều khói tỏa Con cá cơm mạ nấu bữa canh me.
Cho ấm áp thêm cuộc đời trống lạnh Hạnh phúc này xoa diụ tấm lòng con Khi hơi toả thơm ngát mùi gạo mới Trên tay con, miếng cơm cháy thơm dòn.
Con, đứa trẻ lạc loài trên xứ lạ Đang quay cuồng theo cơm áo, ngựa xe Mà thương mạ vẫn thường hay tựa cửa Bên mâm cơm, vắng bóng đứa con về.
Huy Phương
Mama, I Am YourSelf-Contented Cat
You gave birth to me while being destitute:
Potato or cassava doubling rice each meal to suit.
Salted egg-plants and peanuts since childhood,
I had got accustomed to the poor people’s food.
The crabs from the paddy-fields that you fried,
The goby from inundation that you cooked dried,
The chunks of taro you prepared with rousong,
The sundry veg…, that with my youth got along.
The sweet potato buds, with prawns as spices,
The soured shrimps, with bamboo shoot slices,
The grilled pancakes smelling jackfruit, thyme,
The familiar dishes… I remember all my lifetime.
On stormy days, on the salver were boiled eggs;
In summer, water spinach for broth without dregs;
A bit of pickle was enough for a quick repast…
But you Mama always remained alone the last.
Regals are rich, their cats have delicacies to try;
I was Mama’s cat, only meagre dishes did satisfy.
So content with my lot that feasts I did not enjoy,
Indifferent, seeming kittle as a too coshered boy.
Well, now that I have been a hemisphere away,
I do not know when I will come back and stay
There, on the straw fire under smoke you stoop
To cook with anchovies the eve tamarind soup.
So that warmth is added to my empty existence:
Such bliss will appease my heart in this distance,
With the cooking smelling the new harvest rice,
And for me a crisp piece of burned rice as a price.
As a lost young child lonely in a strange land,
Being whirled along means of living’s demand,
I feel so anxious for Mama against the door-case
Or by the food tray always longing to see my face.
Translation byThanh-Thanh
Vượt Qua Covid-19 LẠC VIỆT SAN JOSE Hồi Sinh Cùng Nước Mỹ – GIAO CHỈ SJ & THƠ Mừng VTLV – Dương Huệ Anh
VƯỢT QUA COVID 19 LẠC VIỆT SJ. HỒI SINH CÙNG NƯỚC MỸ.
Giao Chỉ. SJ.
(Viết tặng các bạn Chinh Nguyên, Lê văn Hải, Đông Anh và các bạn văn thơ Lạc Việt)
Cách đây hơn 30 năm thi sĩ Dương Huệ Anh thành lập một hội thi ca miền Bắc CA. Thời đó sinh hoạt ra sao chúng tôi không rõ nhưng chắc chắn là hội họp hiền lành không bão bùng sóng gió. Dương tiên sinh phụ trách được khoảng 4 năm thì bạn Nguyễn Đình Tạo sau 9 năm ngục tù chèo thuyền đến USA bèn nhận đảm trách hội trưởng. Bác Tạo quê ở huyện Đông Anh nên làm thơ ký tên kỷ niệm quê nhà.
Thi sĩ Đông Anh có ông bạn tù là nhà thơ Hà Thượng Nhân bèn mời làm cố vấn. Tôi là bạn cùng khóa với Đông Anh nên cũng được cho tên Giao Chỉ vào danh sách. Cũng nhờ vào vai trò cố vấn nên tôi có cơ hội gặp gỡ các bạn bè cao niên trong làng văn nghệ địa phương.
Bác Đông Anh lãnh nhiệm vụ được chừng 8 năm thì giao lại cho ông Chinh Nguyen. Theo thông lệ nhiệm kỳ của tổng thống 4 năm tái cử thành 8 năm. Thi sĩ Chinh Nguyên gốc không quân đi luôn một lèo gần 20 năm. Lý do đơn giản là anh chị em hội viên thấy ông hội trưởng lèo lái rất nhẹ nhàng và tình nghĩa sâu đậm nên không cần bầu cử.
Thi Văn Đàn Lạc Việt sinh hoạt rất nhộn nhịp hàng năm. Có TV, Radio, trao giải văn thơ hàng năm. In thành tác phẩm xuất bản. Các hội viên thi nhau in tác phẩm riêng. Quanh năm làm thơ, phổ nhạc, tổ chức văn nghệ, sinh nhật tập thể và tham dự vào các hoạt động cộng đồng.
Qua đến năm 2020 cũng như các đoàn thể khác, vì Covid 19 hội viên Lạc Việt phải Thiền tại gia một thời gian cho đến ngày chủ nhật 16 tháng 5-2021 tổ chức đại hội hồi sinh cùng nước Mỹ. Chúng tôi có dịp gặp lại các bạn cao niên tưởng rằng người đã đi xa mà vẫn còn quanh đây. Phúc đức vô cùng.
Trong dịp này bạn Chinh Nguyên loan báo xin về tạm nghỉ mời không quân phi hành Lê văn Hải thay thế.
Cựu Chủ Tịch Chinh Nguyên bàn giao ấn tín cho Tân Chủ Tịch Lê Văn Hải
Anh Hải là gương mặt quen thuộc của cộng đồng Việt tại Bắc CA. Đây là chủ nhân của tờ báo Mõ nổi tiếng San Jose. Hải Mõ đã đích thân tham dự vào hầu hết các sinh hoạt cộng đồng , văn nghệ và xã hội tại địa phương. Anh Hải vừa viết báo vừa là họa sĩ vẽ tranh đồng thời cũng là ca sĩ đồng ca và hoạt náo viên cho các chương trình vận động quần chúng.
Một trong các ưu điểm của Lê Văn Hải là nhân vật hào phóng đã từng là Mạnh thường quân của hầu hết các hoạt động gây quỹ thường niên. Từ chương trình Homeless, cứu thuyền nhân, thương phế binh, gửi quà về quê hương tất cả đều có Mõ San Jose nhiệt thành tham dự. Mỗi lần công tác dù đóng vai chánh hay phó, Mõ San Jose không ngần ngại bảo trợ toàn phần hay quá bán. Anh lo chu đáo các phần quà dưới đĩa ăn hay dưới gầm bàn. Những tác phẩm hội họa và những chai rượu chuẩn bị biếu quan khách.
Trong buổi chiều hội ngộ giữa tháng 5 chúng tôi thấy phần trình diện của anh chị em Lạc Việt đông đảo và vui tươi. Đây là hình ảnh đẹp đẽ nhất của tổ chức sau hơn 30 năm sinh hoạt. Công của anh Chinh Nguyên rất nhiều. Cố vấn Hà Thượng Nhân khi ra đi có để lại câu thơ bất hủ. Những mái đầu cất cao. Không một lời than thở. Câu thơ này nên dành tặng cho bà Chinh Nguyên. Anh Chinh nhờ vợ đảm đang đã giúp anh xây dựng Lạc Việt. Trong cái thế giới hợp đoàn của cộng đồng Việt tại Hoa Kỳ, chỉ có Chinh Nguyên là hội trưởng duy nhất giao cho phu nhân công tác đi đón các hội viên già mỗi lần họp mặt. Nàng cúi đầu lặng thinh, không một lời than thở. Đằng sau người đàn ông thành công luôn luôn có một người đàn bà. Vậy đằng sau người đàn ông thất bại thì có ai. Xin trả lời: 2 Người đàn bà.
Thi văn đàn Lạc Việt họp mặt năm nay đàn bà nhiều hơn đàn ông với nhiều tác giả là phụ nữ. Ưu điểm đáng ghi nhận là có sự hiện diện của ông Dương Huệ Anh đã ngoài 90 tuổi. Chủ tịch sáng lập vui mừng nhìn thấy tổ chức của bác vẫn còn vững mạnh.
Người sáng lập Văn Thơ Lạc Việt, hiện là cố vấn VTLV Dương Huệ Anh (Giữa, đội mũ)
Chỉ tiếc thay cho bạn tôi là bác Đông Anh hiện nay đầu óc quá lơ mơ. Mỗi buổi sáng ông Tạo ngủ dậy gặp vợ lại tưởng là người lạ bèn cất tiếng chào. Mười năm trước chị Tạo còn nghĩ rằng nhà thơ nói đùa, nhưng ngày nay em biết rằng chàng chẳng còn nhớ em là ai.
Riêng phần chúng tôi, xin cảm ơn Chinh Nguyên vẫn còn nhớ đến cố vấn Giao Chỉ. Riêng cảm ơn anh Mõ Hải tặng cho tấm tranh kỷ niệm. Nhờ có buổi chiều Phú Lâm tôi gặp lại các bạn cố vấn trên 80 tuổi. Chẳng phải lần đầu nhưng vẫn có thể là lần cuối. Văn nghệ nghiệp dư nhưng vẫn không kém phần linh động. MC lảnh lót làm tròn bổn phận. Diễn giả nói chuyện ngắn gọn đầy đủ thân tình. Thực đơn Phú Lâm ngon lành và chu đáo. Các tác giả giới thiệu sách rất phong phú và nhiệt thành.
Bác Nguyễn Đức Cường nguyên tổng trưởng kinh tế VNCH đã mua một số tác phẩm và gửi lời khen ngợi ban tổ chức. Chúng tôi cũng gửi tiền anh Chinh Nguyên để mua sách cho thư viện của Museum.
Nhìn khung cảnh ấm cúng của các bạn, tôi muốn mời một lần sau đến chơi chỗ của chúng tôi tại Viet Museum.
Thân ái.
Giao Chỉ San Jose.
(thơ song ngữ) CON LÀ CON MÈO TRẠNG QUỲNH CỦA MẠ của HUY PHƯƠNG & THANH-THANH
BÌNH YÊN TRONG TÂM HỒN
BÌNH YÊN TRONG TÂM HỒN
KIỀU MỸ DUYÊN
Ký giả Kiều Mỹ Duyên
Tìm về thiên nhiên, tìm sự thanh thản, an nhiên cho tâm hồn.
Làm bất cứ nghề gì cũng mong có sự bình yên trong tâm hồn, tối về nhà phải ngủ ngon, muốn thế phải học hỏi không ngừng, học ở trường không chưa đủ, phải học ngoài đời, học từ những người có nghề nghiệp có kiến thức uyên thâm. Tốt nghiệp đại học 4, 6, 8 năm ai cũng có thể học được, nhà nào cũng có con tốt nghiệp đại học, nhưng học ở đại học thì học lý thuyết nhiều hơn là thực tế, thực tế là phải học từ những người có kinh nghiệm truyền dạy.
Văn phòng của chúng tôi, Ana Real Estate có lớp hàng tuần huấn luyện cho chuyên viên địa ốc trở thành chuyên nghiệp. Muốn không bị thưa kiện thì phải học không ngừng nghỉ, học để hiểu biết, học để làm việc với khách hàng một cách thuyết phục và nhận được sự tin tưởng từ khách hàng. Khách hàng nói chuyện với chuyên viên địa ốc chừng 5- 10 phút là biết ngay chuyên viên địa ốc đó có kiến thức hay không?
Chúng tôi thường mời những chuyên viên liên quan đến nghề địa ốc đến văn phòng để hướng dẫn các chuyên viên của chúng tôi. Các chuyên viên cũ hay mới cũng phải học, học không ngừng nghỉ. Chúng tôi huấn luyện chuyên viên nghe nhiều hơn nói. Nếu nói nhiều quá rồi không biết mình nói gì? Lắng nghe nhiều hơn là nói, phải biết khách hàng mình cần gì, muốn gì, họ ao ước có cái nhà để ở, người khác thì muốn bán nhà nhanh, v.v.
Thứ bảy, chủ nhật nào văn phòng của chúng tôi cũng có lớp. Sự học hỏi rất cần thiết cho người cầu tiến, mong làm việc với khách hàng một cách hữu hiệu. Nếu đồng hương muốn bán nhà, chỉ cần đặt vài câu hỏi với chuyên viên là biết ngay họ có kiến thức hay không?
– Anh chị làm nghề địa ốc bao lâu rồi? Học bao nhiêu lớp huấn luyện sau khi có bằng địa ốc? Học với ai? Những lớp học đó tên là gì? Hằng năm có tiếp tục học những luật mới của địa ốc không?
– Anh chị bán được bao nhiêu căn nhà rồi? Nhà đó ở thành phố nào?
Chuyên viên địa ốc hỏi người đi mua nhà làm lương bao nhiêu, cho xem giấy tờ khai thuế, tiền để trong nhà băng, tín chỉ bao nhiêu điểm, v.v.? Tại sao người mua nhà không hỏi lại chuyên viên địa ốc chứ?
Các chuyên viên địa ốc văn phòng Ana Real Estate được các chuyên gia training mỗi tuần. (Trong hình: Duke Nguyen, Cảnh Sát tư pháp, nguyên là ứng cử viên Cảnh Sát Trưởng của Orange County(áo cam) huấn luyện các agents cách tự vệ và bảo vệ khách hàng khi đi xem nhà)
Nếu ai có hỏi tôi rằng chị bán được bao nhiêu căn nhà? Tôi sẽ trả lời ngay những nha tôi đã bán ở các thành phố khác nhau như ở các quận Los Angeles, San Jose, Riverside, San Bernardino và Orange County.
Ngày xưa, tôi mới vào nghề địa ốc mấy tháng có người hỏi tôi rằng chị làm nghề địa ốc, chị khuyến khích đồng hương mua nhà, vậy thì chị mua nhà chưa?
Tôi trả lời ngay, tôi vừa làm nghề địa ốc mấy tháng tôi mua nhà ngay. Tháng đầu tiên, tôi đã bán và list 23 căn nhà, chiếm giải thưởng của miền Nam California. Đó cũng là nhờ có gia đình giúp đỡ, cắm bảng open house, in tờ bướm, phát tờ bướm và nhiều thứ nữa. Nếu không tin, tôi sẽ cho địa chỉ nhà, quý vị có thể tìm ra ngay nhà đó là nhà của tôi. Trước khi vào nghề địa ốc, tôi tin tưởng rằng tôi có khả năng làm nghề này, và có khả năng mua nhà trong thời gian rất ngắn. Đúng vậy, ngụ ngôn của Pháp rằng muốn thì được (Vouloir, c’est pouvoir). Người nào quyết tâm làm việc gì đó sẽ được và sẽ thành công nếu cố gắng và học hỏi không ngừng, và yếu tố quan trọng sống làm sao để cho đồng bào thương. Người ta thương mình thì không bao giờ sợ đói, không ai chết đói vì thiếu ăn, nhưng chết vì thiếu tình thương.
Càng lớn tuổi chúng ta mới cảm nhận được tình thương quan trọng nhất trên đời này. Nhiều người không sợ thiếu cơm, thiếu áo mà sợ cô đơn, cô độc .
Làm bất cứ việc gì cũng mong sự bình yên trong tâm hồn, tiền rừng bạc biển mà tối ngủ không ngon thì cũng chết sớm.
Ai cũng mong được thương yêu, muốn người ta thương mình, mình phải thương mình trước. Làm việc tối tăm mặt mũi không có thì giờ để ăn thì không nên. Phải ăn uống điều độ, phải nghỉ ngơi. Có nhiều người lớn tuổi làm việc tận lực vì biết mình không còn sống bao lâu trên thế gian này. Điều đó không nên, nếu mình biết giữ sức khỏe, ăn uống điều độ, ngủ đúng giờ, ngủ ngon giấc, biết đâu mình sống lâu hơn, giúp người khác nhiều hơn.
Tôi thường khuyên người thân của mình sống làm sao để được mọi người thương thì không bao giờ sợ đói. Dù đi đến đâu hay ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng không bao giờ sợ đói, đói là do mình mà thôi. Sống để người ghét mình thì sợ không toàn mạng chứ đừng nói đến việc người ta cho mình ăn.
Tình thương vô hình nhưng cần thiết trong đời sống của mọi người. Nhiều người cho rằng người ở Việt Nam có nhiều tình cảm đậm đà, sâu sắc vì người ở Việt Nam có nhiều thì giờ hơn người ở Mỹ. Người ở Mỹ làm việc tối tăm mặt mũi không còn thì giờ để nghĩ đến người khác? Nói như thế cũng không đúng. Mình phải tự hỏi mình là ai? Mình có trong trái tim của người nào đó không? Một ngày có 24 giờ, người nào cũng có bao nhiêu đó thời gian, sở dĩ người này không nghĩ đến người kia vì trong trái tim của họ không có mình.
Hãy trao nhau yêu thương và sự quan tâm.
Tôi có nhiều người bạn tuyệt vời, dù bận rộn thế nào bạn tôi vẫn gọi thăm tôi thường xuyên, không bao giờ bạn tôi nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ. Tại sao mình có thì giờ ăn một ngày 3 bữa, có thể ngủ một đêm 8 giờ mà không có vài ba phút để gọi thăm bạn mình, vì mình không có trong trái tim của bạn mình. Đã là bạn thì không bao giờ than không có thì giờ. Đến lúc nào đó, người ta không cần cơm áo gạo tiền mà chỉ cần đến tình thương và sự quan tâm.
Tôi đã từng nuốt nước mắt vào tim khi nhìn những người già trong viện dưỡng lão không thân nhân thăm viếng, chỉ trừ những người làm việc thiện nguyện. Họ là những người một thời vang bóng, có thanh danh trong xã hội, nhưng khi về già sống cô đơn trong viện dưỡng lão. Hơn 40 năm nay, tôi có mặt thường xuyên trong các viện dưỡng lão ở miền Nam California. Tôi nghe ông bà cụ tâm sự về con cháu, về quá khứ của họ mà tôi xúc động.
Tình thương, tình thương và tình thương cần lắm, rất cần cho mọi người. Tình thương người với người vô giá, sống vui với tình thương của những người trong gia đình, trong cộng đồng, với những người xung quanh. Buổi chiều về nhà, thấy ánh đèn long lanh, nghe tiếng cười của trẻ thơ, nhìn ánh mắt ấm áp của người lớn tuổi đã thấy ấm lòng. Thương yêu và sống vui vẻ, hạnh phúc thì còn gì bằng?
Càng lớn tuổi, tôi càng tin vào thuyết Nhân Quả của nhà Phật.
Càng lớn tuổi, tôi càng tin vào thuyết Nhân Quả của nhà Phật, người nào làm việc xấu thì gặp việc xấu đến, người nào làm việc tốt thì mọi sự tốt lành sẽ đến. Sống làm sao được bình yên trong tâm hồn là đủ, giàu nghèo sang hèn đâu có gì quan trọng, sống mình biết đủ là đủ. Hãy nhìn tính tốt của người khác, người nào cũng có tính tốt, tại chúng ta không nhìn thấy mà thôi?
Quan niệm của tôi không nghe việc xấu của người khác, không thấy việc xấu của người khác và không nói việc xấu của người khác. Cuộc sống bình yên, đi làm về tối sẽ ngủ ngon, thắc mắc việc của người khác sẽ khổ thôi, tại sao mình phải mang cái khổ vào thân? Cha mẹ sinh ra con, thương yêu con, nhịn ăn để cho con ăn, tại sao không thương cha mẹ là rước khổ vào thân?
Biển đẹp, rừng cây đẹp, tiếng chim hót líu lo trên cành, hoa lá màu sắc rực rỡ, rung rinh trong gió tuyệt đẹp. Hãy ngắm nhìn cảnh thiên nhiên đẹp tuyệt vời, vô tư, khong thù oán thì đời đẹp lắm.
Yêu thiên nhiên, sống với thiên nhiên, sống với tiếng hót của loài chim với giọng cười của con suối, hạnh phúc lắm.
Muốn bình yên đâu phải lúc nào cũng được bình yên, nhưng khi bị nhức đầu quá thì phải làm sao? Uống thuốc đau đầu ư? Không nên uống thuốc đau đầu, phải tìm đến một vị thần hộ mệnh của mình, vị thần hiện hữu ở trần gian mà mình kính mến để nhờ giúp đỡ. Sự giúp đỡ của vị thần sống là điều tốt đẹp nhất trần gian, vị thần sống biết lắng nghe, biết nói và biết giải quyết vấn đề thực tế, vấn đề rắc rối ở trên cõi trần gian này. Mong rằng mọi người đều có thần hộ mệnh cho mình.
Cầu xin Đức Mẹ hiển linh hằng cứu giúp.
Hãy tận hưởng những gì mình có, không thắc mắc, không oán thù bất cứ người nào. Sống yêu thương thấy đời đẹp lắm.
Hy vọng mọi người được yêu thương, sống an vui, hạnh phúc và bình yên. Hãy cho nhau tình thương, mong lắm thay!
Orange County, 18/5/2021
KIỀU MỸ DUYÊN
(kieumyduyen1@yahoo.com)
THƠ Xướng Họa: HẸN EM – CHỜ ĐẾN RƯỢU KHÔ- Mạc Phương Đình & Phương Hoa + Ca Khúc DÁNG HOA thơ Mạc Phương Đình – Nhạc LÝ KIẾN TRUNG – Ca sĩ Ngọc Mỹ
Nguồn ảnh minh họa 4 mùa: internet
THƠ Thăm Bệnh Thành Viên VTLV- Dương Huệ Anh & Phương Hoa
Nguồn ảnh: Internet
THƠ XƯỚNG HỌA “Buổi Chiều Vàng” – LÊ TUẤN, Minh Thúy, Phương Hoa
Nguồn hình: Internet
MỚ TÓC – Cao Mỵ Nhân & TRANH THƠ Lê Văn Hải + THƠ Cảm Tác & Thơ Họa – Phương Hoa & Minh Thúy + Thơ Cảm Tác Lê Tuấn
MỚ TÓC
(Cảm tác từ bài viết “Mớ Tóc” của nữ sĩ Cao Mỵ Nhân)
Mớ tóc ngang lưng vốn mượt mà
Dáng kiều một thuở đẹp như hoa
Áo bay theo gió hồn trong trắng
Tâm quyện cùng mây tuổi ngọc ngà
Sóng biếc làn thu say dũng sĩ
Suối huyền sắc hạ rực gương nga
Đã đành…xuống kéo vì non nước
Tóc ngắn tình dài vẫn thiết tha…
Phương Hoa – May 19th 2021
***
TÓC THỀ
(Họa)
Ngày xưa mái tóc mượt xinh mà
Thiếu nữ bao thời đẹp tợ hoa
Hạ đắm khoe tà tô dáng lụa
Thu say phủ lối điểm thân ngà
Ru mây rắc tím hồn thi sĩ
Thả gió đơm hồng bóng nguyệt nga
Suối nghiệp đường tình buông quá khứ
Thay vào kiểu ngắn mộng đời tha
Minh Thuý Thành Nội
Tháng 5/19/2021
MỚ TÓC
Cao Mỵ Nhân
Nói tới “Mớ tóc” thì không có thể ngắn trên cổ áo như quy định của đoàn Nữ Quân Nhân Quân Lực VNCH chúng tôi thủa trước 30 -4 -1975 được.
Mớ tóc mà quý vị thường thấy trong cuộc đời đàn bà con gái, là những mái tóc dài từ ngang lưng đến phết gót, còn gọi tóc dài đến quét đất, mới là rõ ràng.
Hôm nay tôi nghĩ về những mái tóc dài của quý vị nữ lưu xứ Bắc kỳ ngày xưa, khi tôi lớn lên được thấy.
Và những mái tóc thề thả ngang lưng mà cả một nền văn hoá Huế không thể thiếu, nếu nhắc đến hay bàn về “Mớ tóc VN”
Riêng “Mớ tóc” phụ nữ miền Nam, thì hầu như đã “quốc tế hoá” lâu đời rồi .
Thế thì để đan cử một hình ảnh chung chung rõ nét nhất, tôi xin phép được kể về “Mớ tóc” của tôi.
Khi tôi đưa “Mớ tóc” của tôi ra ánh sáng, là phần nhận xét thắng thế của …anh đã “bất chiến tự nhiên thành”, hay là anh sẽ cười thầm tôi: “Chẳng ai khảo cũng xưng ra, dại thế, hoặc: khờ chi lạ, tự dưng thưa: lạy ông, tôi ở bụi này …”
Nghĩa là tôi rất không phụ nữ tí nào khi bàn tán về mái tóc của mình, lẽ ra phải dấu kỹ , bởi vì “Cái răng, cái tóc là góc con người”, mình phải huyền bí cho đời điểm trang chứ.
Chu choa, tôi lại nghĩ đơn giản thôi, được kể lể về mái tóc rất thờ ơ của mình, có lẽ chỉ kể từ lúc còn để bum bê, khoảng 5,6 tuổi trở lên thôi, chứ trước nữa, tôi chỉ nhớ qua những tấm ảnh, giống như kể về tóc của ai không phải mình.
Vâng, thưa quý vị “Mớ tóc” của tôi bắt đầu xuất hiện thế này :
Trước hết, giai đoạn còn được lệ thuộc vào bố mẹ, ở Chapa Laokay Bắc Việt, khoảng đã 5,6 tuổi rồi, tôi chả cần soi gương cũng biết mỗi lần tóc lởm chởm ngang vai, là lập tức 2 chị em tôi bé nhất nhà, phải ngồi ở cái tràng kỷ, đợi bố tôi mang cái kéo cỡ vừa và cái lược sừng của chung cả nhà vẫn vắt vẻo trên giá gương ngoài sân vào nhà khách, rồi bảo : “Con MỸ cắt trước”, tức là chị Mỹ tôi phải cắt tóc trước.
Đương nhiên tôi phải đợi bố cắt tóc cho chị Mỹ tôi xong, mới tới lượt tôi.
Tôi không an tâm tí nào, lo lắng cái lưỡi kéo nó xước vào da mặt hay chiếc cổ ngoan cố cứ ngó ngoáy của mình.
Thậm chí có lần nước mắt cứ chảy vòng quanh vì sợ quá. Nếu mẹ tôi vô tình đi ngang, hay mẹ tôi cố ý đứng lại coi bố tôi cắt tóc cho 2 con bé gái thế nào, thì tôi là người nắm chặt tay mẹ, cúi mặt xuống, thút thít khóc.
Bố tôi không nhìn vì còn đang để tâm vào cắt tóc cho chị Mỹ tôi cơ mà, nhưng ông lại nói:
“Cái con Mỵ này mới hay, đã tới lượt mày đâu mà khóc chứ”
Khi nghe bố khẳng định chưa tới lượt tôi cắt tóc, tôi cũng lơ mơ hiểu là việc cắt tóc vô cùng dễ sợ, nên chưa chi tôi đã khóc rồi.
Thế là tôi khóc oà lên, thổn thức xin mẹ tôi cho tôi không phải cắt tóc trời ạ.
Tất nhiên chuyện cắt tóc đã là thường kỳ, chả biết bao lâu một lần, nhưng hễ tóc chấm vai, là bố tôi đã cho kéo tung hoành trên “Mớ tóc” bé thơ của chị em tôi, biến mớ tóc thành hình “cánh cửa” .
Tóc cánh cửa là tóc để thẳng vòng quanh đầu, riêng phần trán cắt ngang, cho tới sau này, đã già rồi, mà tóc tôi vẫn đang chơi kiểu bum bê hình cánh cửa gọn gàng, dễ gội, chẳng cần phải uốn éo tóc kiểu gì cho mất thì giờ nữa .
Thế rồi tôi ngồi vào ghế đầy tóc rơi của chị tôi, mẹ tôi rũ cái khăn che trước ngực tôi, cột chéo quanh cổ tôi, bố tôi ngó tôi khổ sở vì cắt tóc, cười với mẹ tôi:
“Con MỸ nó ngoan thế, bố cắt mau mắn xong rồi, mà hễ cứ con MỴ này là nó cọ quạy sợ hãi như chết đến nơi vậy”.
Tôi được mẹ tôi ngồi cạnh, cầm bàn tay toát mồ hôi trộm của tôi, tôi cứ nhìn mẹ tôi chăm chăm khổ não. Cho tới khi bố tôi buông kéo, chải tóc tôi, rồi rũ khăn phành phạch, tôi mới hoàn hồn.
Sau giai đoạn tóc “cái cửa”, là tóc bờm xơm, vô tổ chức.
Bấy giờ tôi quanh tuổi lên 10, học tiểu học trường nữ tiểu học Lệ Hải ở Hải Phòng.
Đã bắt đầu mặc áo dài đi học. Chị em tôi có khá nhiều áo dài. Nhưng đặc biệt “Mớ tóc” thì tôi quên béng.
Lúc nhớ là bố tôi cho mỗi đứa một cái lược xước bằng nhựa …Mỗi lần chải tóc xong, là xước cái lược lên tóc, từ trán đẩy ra sau, thay cho kẹp như các chị lớn ngoài đường.
Chị Mỹ tôi lược mầu xanh, tôi mầu hồng.
Rồi từ bỏ lược xước lúc nào không hay. Tóc tôi thả ngang vai, chúng tôi vẫn chưa quan trọng “Mớ tóc” như các bạn tuổi “Teen” bây giờ.
Sau đó, lớn hơn vài tuổi, tóc chúng tôi đã kẹp đuôi gà. Tức là tóc đã dài hơn, túm lại đằng sau, rồi kẹp lại bằng một cái kẹp ba lá.
Chúng tôi đã lên trung học, tóc dài lúc nào cũng không hay như giai đoạn vừa kể trên.
Tôi cũng đã làm thơ và viết truyện nhi đồng gởi đăng báo .
Di cư vô Nam, học nữ Trung học Trưng Vương với “Mái tóc dài quá lưng,” nhưng vẫn kẹp lại.
Một số bạn bè đã uốn tóc. Chị lớn nhất nhà tôi, tên Thy đã uốn tóc cho hợp không khí Saigon.
Tôi giữ mái tóc dài này e cũng 5, 6 năm, hết thời trung học .
Thi vô trường Cán sự Xã Hội Caritas của các soeur dòng Nữ Tử Bác Ái, đường Tú Xương Saigon, nhận bộ đồng phục trắng của các khoá sinh y tá xã hội và tấm voan che đầu.
Gần như mọi học sinh đó phải để tóc ngắn, mới tiện phủ voan che kín cả phần vai áo blouse và tablier, chỉ một mình tôi trong lớp học 10 chị em là còn tóc dài.
Tôi có thể toàn quyền thay đối “Mớ tóc” chứ, đã nhận học bổng, lại buổi sáng đi tập sự ở các nhà thương, buổi chiều lên lớp học lý thuyết với trên 10 môn học, quá sức bận rộn mà tôi chưa chịu cắt tóc cho gọn gàng, gội chải mau chóng, tôi cứ ôm “Mớ tóc” làm gì cho khổ thân, rắc rối.
Song song với việc theo học nghề “Cán sự xã hội”, tôi còn tham gia hướng đạo, tôi là toán phó toán Lê Ngọc Hân, mỗi tuần phải đi họp một lần ở Hội Nữ Hướng Đạo VN, với bộ xiêm áo Hướng Đạo, cũng nên cắt tóc ngắn chứ.
Song, để thích hợp với 2 sinh hoạt nêu trên, tôi đã chia “Mớ tóc” rất dầy của tôi ra làm 2, thắt bím cuộn lên cao, hay thả trước ngực.
Như thế cũng tạm ổn với “Mớ tóc” dài của tôi, mặc dầu tôi không ưa thích, mà tôi không cắt ngắn mới là lập dị.
Tới khi học xong, ngày mãn khoá cũng vẫn còn 2 bím tóc trên vai. Song, tình thế bắt buộc rồi, chúng tôi đã chính thức tới Cục Xã Hội Quân Đội, với quân phục hoàn toàn không thể dằng dai thêm “Mớ tóc” cổ điến trước sinh hoạt đoàn thể nữ quân nhân, luôn luôn bay nhảy khắp chốn, khắp nơi với mấy dạng bản quân phục dành cho phái nữ, gồm áo xiêm trong văn phòng, đồ trận treilli nơi công tác như thăm viếng tiền đồn, đồng bằng lũ lụt, lội sóng, qua phà vv…
Nghĩa là không còn cách nào giữ “Mớ tóc” dài được nữa .
Tuy nhiên, vì nhà ba tôi đã rời Tân Sơn Nhứt lên Đalat, tôi phải ở lại trường Caritas của các ma soeur, nên tôi hơi buồn , vì chị em cùng khoá ra ngoài phố ở hết, còn mình tôi với bạn bè các lớp khác của trường Caritas, tôi cảm thấy gần khuôn viên nội trú hơn là ra ngoài xã hội.
Thú thực tôi vẫn chưa có ý định gì về “Mớ tóc” của tôi. Nó như là đang mang một lời nguyền chi đó, tôi cứ băn khoăn, nằm úp mặt xuống gối ngày thứ 7 và chủ nhật trong khu nhà ngủ của trường. Tôi từ chối tất cả bạn bè thăm viếng, rủ đi chơi ăn uống, cine’ vv…
Một ngày kia, chị bạn thân của tôi, sau khi học xong, đã ra thuê nhà ngoài phố để ở cho tự do hơn, vô trường tìm tôi, chị ấy thấy tôi nằm khóc, thì cười khuyên rằng:
“Mớ tóc” dài thì đẹp đấy, nhưng nó không còn thích hợp với Mỵ nữa rồi. Thay đồ đi chơi mau…”
Tôi buồn thì đi chơi thôi, chị bạn kêu cyclo đến thẳng Tiệm uốn tóc ở ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt Saigon.
Chị nói với chủ tiệm : “Cắt tóc ngắn cho cô này cao trên cổ áo” .
Chủ tiệm uốn tóc là chú Tàu, đảo mắt qua “Mớ tóc” tôi, dừng lại ở cặp mắt đỏ hoe của tôi. Chú ta gật đầu cười như dỗ dành :
“Không sao đâu, tôi sẽ làm cho một mái tóc lẹp ( đẹp).
Vừa nói xong, không đợi tôi trả lời, chú Tàu đưa kéo lên cắt một chùm tóc đánh xoẹt đã, rồi đủng đỉnh mang một lô sách mẫu tóc cũ mới lẫn lộn tới trước mặt ghế tôi ngồi:
“Coi đi, muốn kiểu nào, tôi cắt cho kiểu đó…”
Chị bạn tôi cười rũ ra, nhìn “Mớ tóc” bị cắt một chùm của tôi: ” Bây giờ thì bắt buộc phải cắt tóc ngắn rồi, thực tế đã phải cắt thành kiểu, chứ Mỵ để tóc vầy đi về hả ? “
Tôi không cười được, mà khóc thì càng vô lý hơn .
Cả một sinh hoạt nghề nghiệp nhà binh bắt buộc rồi, đến nam quân nhân còn phải hớt tóc ngắn nữa là tôi, nữ quân nhân mặc xiêm y hằng ngày, tóc dài sao được .
Tôi chỉ một mái tóc thẳng, cúp vào cổ áo, chính là mái tóc bây giờ tôi vẫn để kiểu đơn giản đó đấy.
Chú Tàu cắt từng lọn tóc tôi thả xuống đất, tôi nhìn theo, chị bạn tôi thì dửng dưng vì chị uốn tóc quá lâu rồi.
Hình như con người ta, có vô tâm vô tính thế nào đi nữa, thì đứng trước cảnh hồn nhiên, nếu không muốn nói là “thánh thiện” cũng phải xúc động.
Chú Tàu cắt tóc tôi thủa ấy, cứ thỉnh thoảng lại chép miệng : “Uổng quá, nhưng nghe cô này nói, là chị bạn tôi, cô phải tóc ngắn mới đúng luật đi làm hả ?”
Tôi không trả lời, chợt nghĩ tới hàng chục những người thân quen mà từng ca tụng “Mớ tóc” tôi sẽ hoặc cười vui, hoặc lặng người đi, khi thấy mái tóc ngắn của tôi lát nữa đây.
Chị bạn mời tôi đi ăn cơm tiệm, đi coi một phim ở rạp Eden, rồi đưa tôi về trường Caritas mà hơn 3 năm chúng tôi nội trú, nay tôi đơn lẻ về trường với “Mớ tóc” lạ …
Nhưng mái tóc ngắn này lại phù hợp với không khí và khung cảnh trường Caritas của các soeur tây phương, mà đa phần là các nữ sinh người Pháp, lai Pháp, hay cô nhi Pháp bị bỏ lại…
Tôi vừa xuất hiện ở phòng ăn tối , thì tất cả reo lên :
“Cleopatre”, lý do tôi đã cắt “Mớ tóc” dài cố hữu của tôi, thành một mái tóc thẳng
cúp vào, mà bấy giờ chú Tàu cắt tóc đã không cắt ngắn lắm, còn một chút phủ tới vai, nên giống mái tóc Cleopatre đang chiếu ở các rạp Saigon mùa hè năm 1963 .
Như vậy tôi đã bỏ “Mớ tóc” dài 55 năm nay.
Anh mỉm cười bâng quơ: “Bây giờ photoshop “Mớ tóc” cho người thơ tìm lại hình ảnh cũ nha, nhưng muốn Mớ tóc dài để làm chi đây?”
Cũng chẳng cần nữa, khi anh gặp mình, mái tóc đã ngưng chảy cả nửa trăm năm rồi mà.
Chúng ta hãy giữ gìn những gì chúng ta đang có, đừng để mất đi, như tôi bây giờ đã thân quý mái tóc ngắn, đã không thể để dài hơn quá cổ áo.
Cái răng cái tóc là góc con người thật. Một khi không còn chúng, là chính ta xa lạ ta hàng vạn …dặm trường rồi .
CAO MỴ NHÂN
MÁI TÓC
(Cảm tác Lê Tuấn)
Cái gốc con người mái tóc bay
Làm thân con gái thuở hoa cài
Ai mà chẳng muốn người say đắm
Nhiều bóng tình quân, theo gót hài.
*
Ửng hồng đôi má, tuổi hoa niên
Hoa cài mái tóc đẹp như tiên
Say đắm hồn ai làm thi sĩ
Vóc dáng ngây thơ, nụ cười hiền.
Lê Tuấn
THƠ Chuyển Ngữ: PHÁP, VIỆT – PHÁP, ANH, VIỆT — Đỗ Quang Vinh
Nguồn ảnh: internet
Mùa Xuân Và Thi Nhân Video Phần 3
BÀI THƠ Lục Bát “Điểm Danh” CHÚC MỪNG Ngày Hội Ngộ VTLV – Nhà Thơ Cố Vấn DƯƠNG HUỆ ANH, Thư Cảm Nhận của Cố Vấn VTLV NGUYÊN PHƯƠNG, Thư Cám Ơn của MINH THÚY, và Thư Cảm Nhận Của Nhà Thơ Hoàng Mai Nhất
LỜI CẢM TẠ của Tân Chủ Tịch VTLV, TÂM THƯ CỦA THANH XUÂN – Tổng Thư Ký VTLV, và YouTube Chiều Hội Ngộ & Lễ bàn Giao – Trưởng Ban Media Lê Tuấn
Chiều Hội Ngộ VTLV 5-16-2011
Chân Thành Cảm Tạ
Quý Niên Trưởng, Quý anh Chị trong Gia Đình Văn Thơ Lạc Việt.
Đã tham dự, góp tay, để Buổi Chiều Hội Ngộ 2021, đã Thành công Tốt đẹp, hơn cả những gì mong ước!
Buổi tiệc tuy đơn sơ, nhưng lại đạt được những ưu điểm hiếm có sau:
-Mở đầu cho một sinh hoạt văn nghệ, tụ tập đông người, sau hơm một năm bị cấm đoán.
-Quy tụ những Nhà văn, Thi sĩ thành danh, lão thành cũng như trẻ tuổi, nhiều nhất tại Bắc Cali.
-Nhiều Tác giả ra mắt Tác phẩm nhiều nhất!
-Không khí văn nghệ, yêu thương hiếm có.
Để có được kết quả tốt đẹp này, là nhờ sự góp sức của tất cả Quý Anh Chị, nhất là Anh Chinh Nguyên.
Thật vui, hạnh phúc được cộng tác, làm việc với tất cả Quý vị, lúc nào cũng yêu thương nhau như tình trong Gia đình.
Một lần nữa, xin được gởi lời cảm tạ chân thành, với cả Trái tim! Cám ơn! cám ơn nhiều…nhiều…thật…nhiều!
LVHải
https://www.youtube.com/watch?v=6agMbIzrWVA
Thơ MỪNG CHIỀU HỘI NGỘ – Phương Hoa + Bài Họa Minh Thúy & Thơ CHÚC MỪNG – Thư Khanh & Bài viết + YouTube Mạc Phương Đình
Thơ NGÀY HỘI NGỘ, Thơ CHÚC MỪNG của nhà thơ THƯ KHANH, & Tường Thuật của nhà thơ, nhà báo MẠC PHƯƠNG ĐÌNH
Đêm Trong Tù
Cánh cửa tù đóng lại, ngày đã tắt
Những kiếp người ray rứt sống trong tù
Từ bên trong ta nhìn qua khung sắt
Ánh trăng đêm, làn sương trắng xa mù.
Đêm rùng rợn ta thấy toàn bóng qủi
Qủi giam người, loài qỉu đỏ, ma trơi
Chúng lấp ló dưới trời đêm trăng tỏ
Canh giữ tù, rình rập uống máu người.
Ta tỉnh thức giữa tha ma mộ địa
Nghe âm vang, đau buốt lóng xương gầy
Tám năm qua, chừng ấy là vô tận
Chừng ấy thời gian, gẫy cánh chim bay.
Quen với cõi trời, không còn nắng mai
Trời sáng mà sao, đêm vẫn nối dài
Tuổi ta đã quá nửa đời sương gió
Sao vẫn còn thêm, mảnh vụn tù đày.
AET Lê Tuấn
Nỗi đau buồn đã trải qua tám năm tù đày
Dưới chế độ cộng sản
Mùa Xuân Trong Tù
Một dải đường xa, xa rất xa
Sâu thẳm rừng hoang bóng sương mù
Xuân chợt đến, quặn đau nỗi nhớ
Kiếp thân tù, tàn giấc thiên thu.
Ta tưởng thời gian bị lãng quên
Nào ngờ hoa nở nhắc ngày xuân
Tám năm cạn lòng thương sông núi
Một nhánh hoa xuân, nhắc tình gần.
Tết này, còn mang nặng kiếp tù
Ngắm hoa buồn tựa như lá thu
Hạt bụi mưa xuân, đọng trên mắt
Nghe tiếng thở than, bóng sương mù.
Mẹ vẫn chờ mong Tết con về
Nào ngờ, vạn dặm bóng sơn khê
Chợt nghĩ mà đau lòng nỗi nhớ
Mắt mẹ buồn đau giọt lệ mờ.
Anh vẫn chưa về Tết năm nay
Em buồn như mùa thu lá bay
Ngọn gió xuân tình hiu hắt thổi
Cánh nhạn trời xuân, tung cánh bay.
Nghe tiếng thời gian, thèm nỗi nhớ
Nhan sắc mùa xuân đã úa tàn
Nhớ thương nhau tìm trong giấc mộng
Mùa xuân về, hoa lá trên ngàn.
AET. Lê Tuấn
Mùa xuân trong tù
Tại miền trung bắc việt
Thơ Xướng Họa: THIỀN VÀ MÙA XUÂN – Lê Tuấn, Minh Thúy, & Phương Hoa
Thành Kính Phân Ưu: BÉ KÝ, NỮ HỌA SĨ TIÊU BIỂU, NỔI DANH NHẤT VIỆT NAM VỪA TỪ TRẦN!
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
**
VĂN THƠ đưa tiển một nhân tài
LẠC VIỆT chia buồn, thương tiếc thay
BÉ KÝ một đời danh sáng mãi
Cọ Tiên trọn kiếp tiếng lưu hoài
Phối màu nét trải tranh rồng lượn
Tốc họa bút vờn ảnh phụng bay
Đã hết nợ trần rời thế tục
Chúc người an lạc chốn Thiên Thai
Văn Thơ Lạc Việt
Phương Hoa – May 13th 2021
Bé Ký Khi còn trẻ
Nữ họa sĩ Bé Ký, một tên tuổi gắn liền với nền hội họa của người Việt Nam, được giới hội họa ngoại quốc biết đến nhất, vừa qua đời, vào chiều hôm qua, Thứ Tư, 12 Tháng Năm, tại tư gia ở Westminster, hưởng thọ 83 tuổi.
Tin này được Ông Cung, con trai của họa sĩ Bé Ký xác nhận và thông báo cho các bạn hữu.
Ông Cung kể: “Mẹ mất vào khoảng 2 giờ đến 6 giờ chiều. Tôi về nhà thì thấy bà mất trong lúc ngủ và đang nắm tay ba. Mẹ tôi không chỉ là một người mẹ bình thường, và còn là một họa sĩ rất thành công mà nhiều người đã biết.”
Nữ Họa sĩ Bé Ký, tên thật là Nguyễn Thị Bé, sinh năm 1938 ở Hải Dương, Bắc Việt. Bà mồ côi cha mẹ từ lúc 8 tuổi. Thiếu tình thương, vì vậy, điều đó ảnh hưởng nhiều tác phẩm của bà, đã tạo ra những bức tranh với nội dung tràn đầy tình mẫu tử.
Sau khi di cư, bà sống với cha mẹ nuôi, khi vào miền Nam. Sau đó, tìm lại được cha mẹ ruột sau năm 1975, nhưng tất cả đã qua đời.
Về hội họa, bà tự học vẽ từ nhỏ và được các họa sĩ như Trần Đắc, Trần Văn Thọ và Văn Đen chỉ dẫn.
Bà là nữ họa sĩ có nhiều cuộc triển lãm nhất, chính vì thế mà hội họa thế giới biết về bà nhiều nhất. Từ năm 1957 đến 1975, bà có đến 16 cuộc triển lãm ở Sài Gòn, có tranh bán nhiều nhất! có giá nhất!
Sau khi đến Hoa Kỳ vào năm 1989, bà cùng chồng là họa sĩ Hồ Thành Đức và gia đình sống ở thành phố Westminster, California. Các tác phẩm của bà cũng được trưng bày tại nhiều cuộc triển lãm tại rất nhiều tiểu bang, và còn được trưng bày tại nhiều Học Viện nổi tiếng của Hoa Kỳ.
Sự ra đi của nữ họa sĩ Bé Ký là một mất mát lớn đối với nền hội họa của người Việt Nam, vì bà có rất nhiều tác phẩm cống hiến độc đáo trong lãnh vực này.
Họa sĩ Bé Ký là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên theo con đường hội họa, với nét tốc họa theo đường lối mới, rất đặc biệt. Nét vẽ của bà khó ai có, khó ai bắt chước được. Bà tự học vẽ từ nhỏ, và bắt đầu vẽ tranh từ lúc còn rất trẻ.
Những tác phẩm của họa sĩ Bé Ký rất phóng khoáng, đầy tinh thần, tình tự đáng yêu của dân tộc, thể hiện được nhiều mặt sinh hoạt của xã hội.
Tranh của bà có đề tài rất gần gũi với đời sống, lúc thì
vẽ người bán hàng ngoài đường, thợ hớt tóc, lấy ráy tai, đá gà, đi chợ…nên ai cũng thích. Từ lúc trẻ, bà đã được báo chí Pháp, Âu Châu ca ngợi rất nhiều.
Sự ra đi của bà là mất mát lớn nền hội họa Việt Nam, nhất là đối với phái nữ, vì bà là đại diện tài năng vẽ cho họ trong nhiều năm, trong lãnh vực hội họa thế giới. Cho đến bây giờ vẫn chưa thấy họa sĩ nữ nào thay thế vị trí này được cả.
Văn Thơ Lạc Việt xin gởi lời chia buồn đến Họa sĩ Hồ Thành Đức và Tang Gia. Quý vị vừa mất một người thân, Việt Nam trong lãnh vực hội họa, mất một Họa sĩ tài năng hiến có.
Focus on six candles in foreground.
(Lê Văn Hải Theo NV)
Bà Huyện Thanh Quan – VTLV Mạn Đàm Phần 5
GIỚI THIỆU: Thi Tập Thơ Xướng Họa Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ -Phương Hoa
Thi Tập Thơ Xướng Họa Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ
Phương Hoa
Tôi quen biết nhị vị thi sĩ Cao Mỵ Nhân (Hoa Kỳ) và Trịnh Cơ (Pháp Quốc) cũng đã được mấy năm, khởi đầu từ trên những diễn đàn Đường Thi xướng họa. Tôi rất quý mến và ngưỡng mộ họ, và tôi cũng biết, cả hai đều từng là quân nhân Việt Nam Cộng Hoà, là anh kiệt và anh thư phục vụ nước nhà từ trước 1975 cho đến ngày tan đàn xẻ nghé.
Nhà thơ đàn chị Cao Mỵ Nhân thì tôi đã có dịp gặp mặt về sau tại Văn Thơ Lạc Việt, San Jose, Hoa Kỳ. Chị nhìn hiền hoà, rất trang nhã, nhưng ít nói, nét mặt có chút nghiêm nghị và hơi… kỳ bí, kỳ bí như những vần thơ du dương nhưng đầy ẩn ý ẩn tình của chị. Tôi thích mê sự kỳ bí ấy, cũng thích mê sự phong phú về chữ nghĩa của nhà thơ, và niềm mê thích này đã làm cho tôi đôi khi xúc động tận tâm can chỉ vì đọc được một vài câu độc đáo trong các bài thơ của chị. Mỗi lần đọc thơ Cao Mỵ Nhân tôi thường hay nghiền ngẫm, tìm tòi, để nhận chân và thưởng thức cho kỳ hết những tinh tuý của bài thơ trước khi đặt bút đáp họa.
Riêng về thi sĩ Trịnh Cơ thì tôi chỉ gặp anh qua… bóng. Trong tấm hình, có một chiếc bóng nhìn từ phía sau lưng, dáng người dong dỏng cao với mái tóc hoa râm đang bước độc hành trên con đường dài hun hút tận bên trời Paris, Pháp Quốc. Dù với dáng vẻ cô đơn lẻ loi ấy, nhưng tâm hồn Trịnh Cơ lại chất chứa ngập tràn những búp nụ, những mầm thơ mượt mà, ngào ngạt hương thơm. Dù chưa bao giờ diện kiến, nhưng tôi luôn thích đọc thơ của thi sĩ và cố gắng họa lại bài xướng của anh mỗi khi chúng xuất hiện trên các diễn đàn nếu tôi có thời gian.
Trên các diễn đàn, hai nhà thơ nổi trội Cao Mỵ Nhân và Trịnh Cơ vẫn thường xuyên xướng họa cùng chúng tôi trong vẻ vô tư. Nhưng tôi thật bất ngờ, bất ngờ đến giật cả mình, khi hôm nay nhận được tập thơ mà hai vị đang chuẩn bị in chung. Bao ý nghĩ ngộ nghĩnh chợt nảy ra trong đầu tôi, như có lẽ họ đã từng là một cặp “thanh mai trúc mã” ngày xưa, từng bị cách chia kẻ chân trời người góc bể vì quê hương loạn lạc bây giờ gặp lại, có lẽ vì sự trắc trở ấy đã khiến cho hai tâm hồn xao động nên ý thơ mới ngùn ngụt, hồn thơ mới dạt dào, và tình thơ mới lai láng đến thế. Lòng rộn ràng với những ý nghĩ tò mò đầy thú vị đó, tôi vội buông bỏ tất cả mọi thứ bận rộn đời thường để mở tập thơ ra mà nghiền ngẫm, mà thưởng thức một cách… “triệt để.”
Thấy bài thơ đầu tiên “ANH VÀ 2019” là của thi sĩ Cao Mỵ Nhân, tôi cười thầm trong thích thú. Nhà thơ Trịnh Cơ hiện đang sống ở phương Tây nên thực hiện đúng cái câu “Lady’s First,” phụ nữ luôn ưu tiên số một, để nhường nữ thi sĩ “ra tay trình làng” trước, chứ không phải như phong tục Á Đông mình, đã xem thường thân phận cánh quần thoa, lại còn cho là “Phụ nhân nan hóa,” phụ nữ không dễ gì dạy dỗ, cảm hóa được, và mỗi khi ra đường, người đàn bà thường phải đi phía sau để cho phù hợp với câu “Núp bóng tùng quân” cổ hủ.
Bài đầu tiên trong thi tập, “ANH VÀ 2019,” là bài thơ Lục Bát Cao Mỵ Nhân viết lúc đón Giao Thừa, khi thi sĩ đang ngồi cùng “người ấy” (hay tưởng tượng có người ấy ngồi cùng) nhìn TV chờ đếm phút quả cầu Chào Mừng Năm Mới vỡ tung, nhưng trong lòng không có chút hơi hướm mừng vui hạnh phúc vì được đón Giao Thừa, mà lại chứa đựng ngập tràn tâm tư sầu nhớ. Hình ảnh sống động nhất tác giả cho thấy trong bài thơ, là nữ thi sĩ đưa tay chặn lên trái tim lúc trái cầu sắp vỡ và nhìn vào TV thấy trời đêm rõ ràng nhưng lại không thấy cố quốc nơi đâu. Nỗi niềm thương nhớ về quê Mẹ Việt Nam trong thời điểm giao Xuân của người con ly hương đã gói trọn vào mấy câu thơ làm xao động lòng người:
“Ở đây không có… Việt Nam
Quả cầu quê mẹ cơ hàn héo khô
Trái tim thất nhịp mơ hồ
Đêm đen đổ xuống nấm mồ giao xuân…” (Anh Và 2019 – CMN – tr. 12)
Người ta nói, thơ Lục Bát dễ làm nhưng làm rất khó hay, và họa thơ Lục Bát thì lại càng không dễ. Chữ nghĩa cần phải lưu loát mượt mà, ý tứ phải sâu xa, và vần điệu phải phù hợp mới là một bài họa hấp dẫn khiến độc giả chăm chú thưởng thức; và quan trọng nhất là, phải tránh tình trạng làm thơ Lục Bát đọc lên nghe như…ca dao, khiến người ta chỉ lướt phớt qua rồi đánh giá bài họa có đúng vần đúng luật hay chăng. Ở đây chúng ta có thể thấy nữ thi sĩ Cao Mỵ Nhân gặp phải “Kỳ phùng địch thủ.” Nhà thơ Trịnh Cơ đã gom được đủ các yêu cầu ấy trong bài họa “2019 ĐỐI MẶT.” Chưa kể đến những đối đáp xướng họa khá lý thú trong khổ thơ đầu về chuyện cả hai mơ ước cùng ngồi bên nhau, cùng đưa tay đặt lên tim khi nhìn TV trong giờ Giao Thừa chỉ thấy bầu trời đêm, và đôi bên người thì “xin còn mãi nhau,” kẻ hứa “sẽ còn với nhau,” xin mời quý vị cùng thưởng thức vế họa tuyệt vời của thi sĩ Trịnh Cơ, cũng bày tỏ cái tâm trạng đau buồn vì mất quê hương trong giờ Trừ Tịch cùng với thi nhân:
“Nhìn kỹ… đâu có Việt Nam
Đêm đông lạnh lẽo nỗi hàn lạnh khô
Cây kim đếm nhịp đồng hồ
Như là đưa tiễn đến mồ ngày Xuân” (2019 Đối Mặt – TC- tr. 13)
Tiếp theo, trải dài, xuyên suốt hơn phân nửa tập thơ là phần xướng họa “Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ. Hai thi nhân với hồn thơ lai láng cứ thế mà thoải mái vung bút trải vần, xướng họa với nhau, chữ nghĩa giao duyên, ý tình hòa điệu, phát họa lên những đường nét sống động, bừng sáng từng chữ từng câu trên từng trang sách gọi mời, khiến cho người đọc mãi mê theo tiếp hết bài này sang bài khác, không thể dừng lại. Mời bạn hãy xem, bài Lục Bát 4 câu rất mượt mà “Bên Đó” của Cao Mỵ Nhân với những lời than làm nhói lòng người:
“Sao mưa lại lạnh trời thu
Khiến người bên đó thương ru bên này
Mưa đêm thấm ướt hồn say
Người bên đó ngó mưa bay thẫn thờ…” (Bên Đó – CMN – tr. 14)
Thì tiếp theo ngay, bài họa “Bên Này” của Trịnh Cơ cũng làm cho trái tim ai trật nhịp:
“Giọt mưa rỉ rả đêm Thu
Nhớ người bên đó lời ru luống này
Mơ màng trong giấc mộng say
Nửa đêm nghe tiếng lá bay ơ thờ.” (Bên Này – TC – tr 15)
Thơ Lục Bát đã hay đến vậy, đọc những bài Đường Thi xướng họa của hai nhà thơ lão thành càng khiến tôi như bị lạc vào “mê hồn trận.” Đọc một hồi những bài thơ kế tiếp, tôi đột nhiên…nín thở, khi mắt chạm vào bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú “Mảnh Trăng Thơ” của thi sĩ Cao Mỵ Nhân. Chỉ hai câu mở đầu thôi đã có thể nói là tuyệt tác, và tôi bị chấn động tận tâm can, “Từ lâu, để mực đọng nghiên vàng/Bút cũng âm thầm ngại điểm trang.” Một sự ví von tuyệt hảo! Lời lẽ tuy đơn giản nhẹ nhàng nhưng thật thâm thúy, làm cho người đọc cảm nhận được đây là những tiếng than xé lòng của kẻ cô đơn. Mực đã bị bỏ đọng bơ vơ ở nghiên vàng, thì bút còn điểm trang để làm gì cơ chứ! Hai cặp đối cũng thật tuyệt vời, nhưng tôi phải giữ lại để cho độc giả tự mình thưởng thức mới là thú vị. Chỉ xin chia sẻ cùng quý vị nơi đây hai câu kết, vì hai câu này đã làm tăng thêm phần đặt sắc cho bài thơ. Bơ vơ thì mặc bơ vơ, tác giả tự nhủ, ta cứ vui cứ đối bóng với thơ, để rồi còn tìm cách bay theo trăng để đi xé nửa cái thiên đàng đã mất. Tự cổ chí kim, chỉ mới có Thi Tiên Lý Bạch đời Đường bên Tàu nhảy xuống sông để vớt trăng lên, giờ đây lại có thi nữ Việt là Cao Mỵ Nhân đòi theo trăng đi xé nửa cái thiên đàng. Những điều kỳ thú ngoạn mục như vậy chỉ có những nhà thơ “siêu việt” mới tính làm, hoặc nghĩ ra!
“Thì cứ cùng thơ vui đối bóng
Theo trăng đi xé nửa thiên đàng.” (Mảnh Trăng Thơ – CMN – tr. 73)
Riêng bài họa của nhà thơ Trịnh Cơ “Nhớ Cảnh Trường Xưa” trong trường hợp này, tuy không đáp ứng với ý nghĩa của bài xướng, mà chỉ là họa nương vận, nhưng cũng phải kể là một bài họa hay. Trong khi bài xướng của Cao Mỵ Nhân chứa đầy lãng mạn về tình yêu nam nữ, than thở với bút nghiên, với trăng và thơ, thương mây khóc gió cho sự bơ vơ…, thì bài họa của Trịnh Cơ cũng tràn ngập sự nhớ nhung tiếc nuối, nhưng mà là nhớ về tình yêu đất nước, về một thời được đào tạo dưới mái trường quân đội với những bước chân “ắc ê” gọn gàng, và những chuyến hải hành bảo vệ quê hương. Để rồi cuối cùng thi sĩ thốt lên tiếng than:
“Nước non xả tắc thời vi diệu
Nay chẳng còn đâu chốn địa đàng.” (Nhớ Cảnh Trường Xưa – TC – tr. 74)
Bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt vận trắc “Nỗi Buồn Vô Cớ” của thi nữ Cao Mỵ Nhân dưới đây cũng đưa người yêu thơ vào một khung trời đầy mộng ảo, “Có những nỗi buồn vô cớ lắm/Mà sao thổn thức đến trăm năm.” Đã làm người thì ít nhiều gì ai cũng có những tâm sự thầm kín. Chắc độc giả sẽ đồng cảm khi được nhà thơ “nói giùm” giải bày giùm cho những băng khoăn, những nỗi buồn âm ỷ đang giấu giếm trong lòng, và sau cùng thì …xúi người ta thổ lộ:
“Thì cứ tự nhiên ngồi thổ lộ
Tỏ bày như chẳng có chi ngăn
Tỏ bày tình tiết sầu thương đó
Khổ luỵ trong tim nức nở thầm…” (Nỗi Buồn Vô Cớ – CMN – tr. 93)
Và để đáp lại nỗi niềm của thi nhân, Trịnh Cơ đã họa bài “Buồn…Cũng Vậy Thôi” thật duyên dáng trữ tình, để bày tỏ với đối phương, rằng thì là bên nớ chỉ có những nỗi buồn, nhưng bên ni là cả vạn điều buồn, chúng cứ mãi đong đưa trên hố thẳm, rồi “Khi sầu khi chán lại như câm” mà thi nhân không thố lộ nên nào ai hay biết,“Ta giữ trong tim không hé lộ/Ai nào có biết để can ngăn…”(Buồn…Cũng Vậy Thôi – TC) Đây quả thật đúng là tri kỷ.
Đặc biệt, bài thơ thể tự do Ngũ Ngôn “Viết Sau 10:00 PM” của Cao Mỵ Nhân cũng làm tôi xao xuyến. Nhà thơ đã trải lòng, trút cạn nhớ nhung vào thơ lúc 10 giờ khuya, cùng tâm sự với những con chim biển cũng đang cô đơn giữa màn đêm, và nghe được chúng thốt lên những tiếng kêu thầm hò hẹn trong tuyệt vọng.
“Em cũng như chim biển
Cô đơn giữa thế gian
Chim kêu thầm hò hẹn
Nỗi u tình chứa chan…” (Viết Sau 10:00 PM – CMN – tr. 125)
Người ta nói “Thần giao cách cảm” có lẽ chính xác nhất để dùng trong trường hợp này. Thì ra từ chốn xa xăm chàng thi nhân kia cũng đâu có ngủ được lúc 10 giờ đêm. Ta hãy nghe Trịnh Cơ tâm sự cùng nàng thơ nơi viễn xứ trong bài họa “Đêm Về”, “Tiếng chuông gõ 10 giờ/Sao cứ còn thương nhớ,” và “trần tình” rằng vì thi sĩ vẫn còn yêu biển, yêu nguồn vui thế gian, nên đã quên lời hẹn ước, tuy vậy tình yêu say đắm thì vẫn mãi chan hòa:
“Ta vẫn còn yêu biển,
Nguồn vui giữa nhân gian,
Cứ quên lời ước hẹn.
Tình yêu vẫn hòa chan…” (Đêm Về – TC – tr. 127)
Qua nhiều năm cùng theo đòi xướng họa trong các diễn đàn thơ, tôi đã thưởng thức đủ các thể loại mà nhà thơ Cao Mỵ Nhân đã sáng tác. Bài thơ 8 chữ “Trái Tim Lửa” này cũng là một trong các bài thơ tự do đặc sắc của thi nữ. Lúc này trái tim yêu của thi nhân hừng hực bốc cháy vì tình, cho nên mặc kệ những chông gai, mặc kệ bao trở ngại, nàng thơ chỉ thấy “Xuân sẽ đến bốn mùa đều tươi thắm/Đẹp hồn ta đang bốc cháy hoang sơ.” Thông điệp gửi đi cho người trong mộng thật dạt dào, chất chứa ngập lụt say mê, chờ đợi chỉ cần một tiếng hót khẽ của loài chim quý là sẽ được cả trái tim nàng:
“Nhưng Chim Quí một lần thôi hót khẽ
Ta tặng người nguyên vẹn trái tim thơ…”(Trái Tim Lửa – CMN – tr 136)
Đáp lại khối tình “bốc lửa bốc khói” này, chàng thi sĩ cũng đâu có kém. Bài họa “Về Nghe Cô Đơn” của Trịnh Cơ càng chất chứa lắm nỗi niềm. Chàng còn “bạo gan” nhắc lại chuyện xưa, cái thuở cùng nhau bàn tính “Chuyện ngày ấy bàn về ăn trái cấm/Ở Thiên Đường cây đẹp, lá nghiêng chờ.” Nhưng cuối cùng rồi mấy lời trách cứ cũng được trao lại cho ai kia:
Nhìn xuống dưới, âm thầm rơi giọt lệ
Lụy trần ai khiến ta phải ơ thờ
Quay trở lại hầu nghe lời kể lể
Tình bay xa, còn lại mấy câu thơ… (Về Nghe Cô Đơn – TC – tr.137)
Sự sắp xếp trong thi tập này thật là thú vị, quá bán trong phần đầu là những bài thơ Cao Mỵ Nhân xướng – Trịnh Cơ họa. Đọc một hơi, thưởng thức hết phần đầu thì tiếp theo phần sau đổi ngược lại Trịnh Cơ xướng – Cao Mỵ Nhân họa. Dòng thơ trữ tình, mượt mà, nhưng lại chất chứa nhiều nỗi niềm riêng của thi sĩ Trịnh Cơ lâu nay cũng rất được các nhóm xướng họa bạn bè chúng tôi yêu thích, không kém gì nữ sĩ Cao Mỵ Nhân. Thi sĩ Trịnh Cơ rất “có duyên” với thơ tứ tuyệt, lời thơ giản dị không gút mắc, nhưng ý tứ rất phong phú, làm xúc động người đọc, cho nên thơ của anh cũng đã được nhiều người đáp họa. Bài thơ “Biết Đâu” đong đầy cảm xúc của Trịnh Cơ sau đây khiến những người đang yêu phải chạnh lòng xót xa. Chàng cùng người ấy lâu lâu mới gặp một lần, nhưng có nỗi đau nào hơn khi “Nụ hôn vừa dứt rồi ly biệt/Ở cuối chân trời giấc mộng tan.” Sự xa cách như thế đã khiến cho nhà thơ e ngại. Chúng ta hãy đọc những lời lo âu khắc khoải của chàng, “Đâu biết lần này sẽ gặp nhau/Còn yêu tha thiết tựa ban đầu?” và:
“Hay là hờ hững như người lạ
Để lại cho anh cả mối sầu!” (Biết Đâu – TC – tr. 155)
Và thú vị vô cùng, nàng thơ Cao Mỵ Nhân đã vội vàng đáp lại bài họa ngọt ngào, “Đành Thôi” với những lời cảm thông, trần tình, vỗ về “ai kia,” bỡi vì không hợp mới tan, “Kẻ ở người đi ôi giã biệt/Bởi không hợp được mới đành tan.” Và:
“Hoàng hôn cũng nguội theo tình lạ
Tuổi tác đầy thêm mộng mị sầu…” (Đành Thôi – CMN – tr. 156)
Bài thơ “Có Ai” của thi sĩ Trịnh Cơ tiếp theo đây nói lên nỗi niềm cô độc làm cho người ta phải xót xa. Một người có cuộc sống mà muốn “Nói chuyện… tâm tình chẳng có ai/Đêm đêm trằn trọc suốt canh dài” thì quả là buồn vô kể. Lời thơ như nức nở, ý thơ như trách móc ai đó sao nỡ đành “bỏ ta một mình,” và một chút ước mơ được có người bên cạnh:
“Bởi ta đang sống đời hiu quạnh
Thiếu vắng ai bên cạnh, đỡ sầu.” (Có Ai – TC – tr. 157)
Tuyệt thay, đàng này bài “Có Ai” của Trịnh Cơ than thở bị bỏ cô đơn, thì đàng kia, Cao Mỵ Nhân đã trải lòng cảm thông thay cho “ai đó” của nhà thơ, bằng bài họa “Vẫn Ông” rất duyên dáng, thêm chút dí dỏm, nhưng có thể thấy trong lời thơ ẩn hiện chút …hờn ghen nhè nhẹ rất dễ thương. Bởi vì ngày xưa bay bướm quá, đa đoan quá, có cả chục giai nhân quanh mình, cho nên bây giờ…ráng chịu chứ than thở mà làm chi:
“Giờ thì đầu bạc trắng hơn xưa
Cả chục giai nhân bỗng ngó hờ
Bởi lẽ đa đoan nên khổ luỵ
Đâu còn thanh thản mà làm ngơ”(Vẫn Ông – CMN – tr. 158)
Thi sĩ Trịnh Cơ từng là một sĩ quan Hải Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Bài thơ “Lời Cuối” của anh tôi đọc mà rưng rưng cảm phục. “Tôi chết đi… xin chớ phủ cờ.” Đây là lời di chúc, dặn lại khi thi sĩ mất đi thì không nên phủ cờ Quốc Gia như bao người vẫn làm lâu nay nơi hải ngoại. Dù vận nước đảo điên là do thế cuộc tạo nên, chứ quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa chúng ta thuở ấy vẫn một lòng chiến đấu rất anh dũng, thi sĩ vẫn cho rằng mình không làm tròn viêc giữ nước nên không xứng đáng, mà chỉ có những người vị quốc vong thân mới xúng đáng được phủ cờ:
“Phủ cờ cho kẻ đáng tôn vinh
Ngã gục thân trai, hiến phận mình
Bỏ mạng sa trường cho đất nước
Đã bao cay đắng lúc đăng trình…” (Lời Cuối – TC – tr. 169)
Nhà thơ Cao Mỵ Nhân cũng từng là một sĩ quan QLVNCH. Cho nên bài họa “Vàng Sắc Nhớ” của chị là một đồng cảm, kiêm ý trách móc những kẻ đã bỏ lại thành xưa bóng cờ tổ quốc, nhưng rồi lại quên bẳng đi, để mãi lơ ngơ với dáng vẻ phạc phờ của người không biết đâu là quê hương. Dù ai có quên, nhưng nhà thơ thì vẫn nhớ,
Bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú của nhà thơ Trịnh Cơ “Tàn Đông” là một bài thơ buồn, nhưng chữ nghĩa lại xôn xao tràn đầy cảm xúc. Đó là nỗi u buồn bất chợt, chính thi sĩ cũng “Không biết vì đâu cảm thấy buồn.” Hai câu thực đã làm cho hồn tôi xao xuyến. Cái hình ảnh sống động trước mắt với đàn chim rét mướt bay vật vờ về tổ, và con suối thì chênh chao khi nhớ lại cội nguồn, diễn tả một tâm trạng đau thương khiến cho những kẻ ly hương, tan tác vì mất nước như tôi càng thêm nhói cả cõi lòng:
“Đàn chim rét mướt bay về tổ
Con suối chênh chao nhớ lại nguồn”(Tàn Đông – TC – tr. 185)
May mắn thay, nhà thơ Cao Mỵ Nhân đã…cứu bồ bằng bài họa “Paris Buồn” giúp tôi có thêm “sinh khí,” tươi tắn lên một chút để tôi khỏi “đổ thừa” thi sĩ Trịnh Cơ đã làm cho lòng tôi héo úa khi sắp kết thúc bài viết này. Cao Mỵ Nhân đã an ủi “người ta” là tại vì Paris quá lãng mạn mới khiến cho buồn, chứ thực ra thì mùa đông đã tàn, tuyết cũng tan chờ Xuân đến:
“Chim én mừng xuân tươi sắc cội
Tao nhân đón khách lộng thơ nguồn..” (Paris Buồn – CMN – tr. 186)
Tới đây thì tôi xin phép được tạm dừng vì bài viết đã khá dài. Thực ra thì còn nhiều, nhiều lắm những bài tình thơ có thể nói là tuyệt tác trong thi phẩm “Xướng Họa” của nhị vị Cao Mỵ Nhân và Trịnh Cơ. Điều tôi muốn nói ở đây là “cặp bài trùng” này quá ư tuyệt vời trong các thể thơ xướng họa. Họ đã quá hoà hợp, quá “nhập vai,” nhâp vai trong việc trải lòng như là tâm sự của chính một đôi trai tài gái sắc từng yêu nhau, bị trắc trở, và rồi khi gặp lại thì đã muộn màng nhưng hồn thơ vẫn còn réo rắc, chứa đựng ngập tràn nỗi nhớ, niềm thương. Cho nên xuyên suốt thời gian từng bước đọc thơ và ghi lại cảm nhận của mình, Phương Hoa tôi cũng đã “nhập vai” trong cái cảm xúc họ là “một đôi” thật sự. Nếu sự thật hai người trước đây chưa từng yêu nhau, chưa bao giờ quen biết nhau, mà đây chỉ là “bình thủy tương phùng” trên những dòng thơ xướng họa nơi hải ngoại rồi trở thành bạn thiết, thì quả là thi tài của họ đã lên đến đỉnh cao, nguồn tình thơ quá lai láng dạt dào.
Cuối cùng, thi tập “XƯỚNG HỌA” của hai nhà thơ Cao Mỵ Nhân và Trịnh Cơ là một tác phẩm văn học có giá trị, chẳng những rất đáng đọc, mà cần phải đọc thật kỹ mới thưởng thức hết những cái hay cái đẹp cái ý cái tình của mỗi một bài thơ. Tôi tin rằng quý vị sẽ thích thú với sự phong phú chữ nghĩa của những bài thơ tình thật ngọt ngào, thật lãng mạn, trong tập thơ này.
Xin trân trọng kính giới thiệu cùng với quý độc giả thi tập “XƯỚNG HỌA” của Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ.
Muốn mua sách Xin Liên lạc Tác giả:
Trịnh cơ – Cao Mỵ Nhân
trinhco@gmail.com
caomynhan91@yahoo.com
Liên lạc Nhà xuất bản:
Nhân Ảnh
han.le3359@gmail.com
(408) 722-5626
Phương Hoa – Miền Bắc California
Xin giới thiệu với quý vị “TẬP THÁI CỰC DƯỠNG SINH”- Đỗ Quang Vinh
Cách Thiền động, chúng tôi vẫn thực hành bấy lâu nay: Sau khi đọc LỜI NGỎ => xin mời tâp dưỡng sinh => trước hết xin đọc kỹ phần 1-TRIẾT LÝ CỦA THÁI CỰC DƯỠNG SINH & 2- NGUYÊN TẮC CƠ BẢN Chỉ cần tập những chiêu thức cơ bản đủ để giữ gìn sức khỏe & di dưỡng tâm hồn nhất là quý vị lớn tuổi không thể tập thành bài. Giới thiệu bài Thái Cực Kiếm là để quý vị thấy sự mềm mại uyển chuyển của dòng chảy các bước di chuyển, dù sử dụng thanh kiếm & để thấy tính cách dưỡng sinh áp dụng trong võ thuât gọi là Y Võ Dưỡng Sinh. Xin đa tạ và chúc sức khoẻ thân tâm an lạc.
Xin mời bấm vào đây:
Đỗ Quang Vinh
VIPASSANA: Môn Thiền Cho Mọi Tôn Giáo – “MÙA XUÂN NỞ HOA TRONG TÔI” – Tác giả Phương Hoa. (Update thêm “Tranh Thiền Ngôn” của chủ tịch VTLV Lê Văn Hải & Cảm Nhận Và Chia Sẻ Ý Nghĩa Về Thiền Của nhà thơ Lê Tuấn)
Tranh và “Thiền Ngôn” (trên) của Chủ Tịch VTLV Lê Văn Hải
Khóa thiền ngày 17 tháng 9 năm 2018 tại Dhamma Delaware
Bạn có từng than vãn, “Đời là bể khổ?”
Bạn có bao giờ đi tìm kiếm sự bình yên cho tâm hồn?
Bạn đang bị căng thẳng vì cuộc sống tất bật, vì gia đình, hay vì tình yêu?
Bạn muốn thoát khỏi khổ đau và tìm hạnh phúc thực sự cho đời mình?
Mời bạn theo dõi bài ký sự dưới đây. Tác giả nhờ có duyên may tìm được giải pháp cho sự an định thân tâm, để có thể gạt bỏ những “hỉ nộ ái ố” của đời thường, và biến mình trở thành một người hoàn toàn mới. Xin chia sẻ lại những kinh nghiệm và thành quả này như là món quà Xuân tặng quý bạn đọc trong Năm Mới Kỷ Hợi, để bạn “nhâm nhi” cùng bánh mứt trong ba ngày Tết, và biết đâu từ đó bạn có thể tìm được hướng đi mới, tìm được niềm an lạc và hạnh phúc thật sự cho đời mình.
****
“Người tràn đầy năng lượng. Đầu óc thanh thản. Tâm bừng sáng. Bước chân lâng lâng. Tinh thần vững như… bàn thạch.”
Đó là những gì bản thân tôi cảm thấy, khi đứng dậy từ thiền đường sau buổi tịnh tọa cuối cùng của khóa thiền 10 ngày Vipassana, tại trung tâm Dhamma Delaware. Nhìn quanh, các bạn thiền sinh khác cũng lục tục đứng lên, người cầm gối chêm, kẻ ôm bồ đoàn, người gấp khăn choàng, mặt mũi ai nấy đều đầy vẻ hân hoan, nhìn tươi roi rói.
Để có được cái kết quả như vừa nói, chúng tôi đã chăm chú tôi luyện suốt cả 10 ngày. Nói thật quý vị nghe, với cái lưng bao năm bị “xi cà que”, trước kia tôi ngồi chừng hơn nửa tiếng đồng hồ đã là khó chịu. Vậy mà suốt khóa học, tôi vào thiền đường ngồi cả chục giờ mỗi ngày, dù chỉ bắt buộc có ba giờ ngồi thiền chung cả lớp, và một giờ pháp thoại vào buổi tối. Những giờ khác ai muốn ngồi trong thiền đường hay tịnh tọa tại phòng mình cũng không sao. Tuy nhiên, thiền đường lúc nào cũng kín chỗ vì ít người muốn ngồi một mình.
Về phòng cất dụng cụ xong tôi đi qua nhà ăn. Trong suốt khóa tu, chúng tôi được dạy mọi vật đều vô thường, sinh diệt, sinh diệt… Cho nên, có niềm vui không bám víu, có nỗi buồn không chán ghét để làm khổ tâm mình, vì tất cả sinh ra rồi cũng sẽ diệt đi. Vậy mà lúc này đây trong tôi vẫn dâng lên đầy ắp niềm vui không thể kềm nén. Thôi thì tôi tự cho tôi… phá giới một lúc, khi về nhà sẽ tiếp tục thực hiện theo lời thầy. Hôm nay là ngày kết thúc “Sự Im Lặng Thánh Thiện”. Tôi sắp được mở miệng nói chuyện cùng các bạn thiền sinh, và nhất là tìm xem ông xã tôi có khỏe hay không. Mấy bữa trời mưa, trong thiền đường có tiếng nhiều người ho và sịt mũi bên phía thiền sinh nam, mà lọ thuốc Tylenol chuẩn bị sẵn lại nằm trong hành lý của tôi, nên dù cố gắng tập trung, mỗi lần nghe tiếng ho ai đó có âm vang giông giống ông ấy thì tôi lại bị phân tâm hết một chốc. Nhưng tôi không biết làm cách nào đưa lọ thuốc cho “chàng” phòng khi cần đến. Mười ngày qua, mọi người “im hơi lặng tiếng”, nam nữ cách biệt, tịnh thân, tịnh khẩu, tịnh ý, thiền sinh được yêu cầu không tiếp xúc hay nói chuyện với bất cứ ai, kể cả ra dấu, nhìn, nhắn tin, hoặc ghi chép, dù chồng vợ hay người nhà hay bạn thiền cùng phòng. Tất cả thiết bị điện tử, cell phone, máy tính, iPad, bút mực, sách vở đều phải giao nộp cho trung tâm cất giữ, để thiền sinh không bị phân tâm trong suốt thời gian hành thiền.
Cho đến giờ, tôi vẫn như chưa tin được cái nhân duyên đã đưa chúng tôi đến với pháp môn Vipassana quý báu này. Số là mấy năm gần đây sức khỏe nhà tôi không ổn. Cái chứng Vertigo đã làm cho ông khốn đốn, lâu lâu đầu óc quay mòng mòng rồi ngã cái đùng bất tỉnh nhân sự khiến tôi bao phen mất vía. Bác sĩ Kaiser nói đó là chứng bệnh già, khi nó đến với ta thì phải “sống chung hòa bình” suốt đời với nó, vì không có thuốc gì chữa khỏi chứng bệnh này. Cho nên ông ấy bắt đầu nghiên cứu về thiền định để giúp tịnh tâm, an ổn thần kinh, và giữ gìn thân tâm an lạc. Tôi “nối gót theo chàng” cùng nhau tìm hiểu, vì tôi cũng muốn học thiền để giữ gìn sức khỏe, cho đầu óc minh mẫn và tinh thần nhẹ bớt những sầu muộn lo âu. Chúng tôi đã nghe rất nhiều về thiền Vipassana. Nhưng càng tìm hiểu lại càng như bị “tẩu hỏa nhập ma” vì có quá nhiều nơi nhiều chỗ dạy thiền Vipassana nên chẳng biết làm sao mà chọn.
May mắn đến, tôi tìm ra trang web của trung tâm Vipassana Meditation. Pháp môn này do thiền sư S. N. Goenka giảng dạy. Người là đệ tử truyền thừa của đại thiền sư Sayagyi U Ba Khin người Miến Điện. Theo lịch sử từ trung tâm, Vipassana là môn thiền cổ xưa nhất ở Ấn độ mà Đức Gotama (Phật Thích Ca) tìm thấy lại từ hơn 2500 năm về trước và gom góp những tinh túy mà ngài đã thực hành giảng dạy cho chúng sinh trong 45 năm. Thời kỳ Đức Phật còn tại thế, thiền Vipassana đã cứu rỗi biết bao người đủ mọi thành phần xã hội Ấn Độ thoát khỏi khổ đau.
Điều gây ấn tượng tốt cho ông xã tôi chọn môn thiền này, là Vipassana của thiền sư Goenka không bắt buộc thiền sinh phải lệ thuộc vào một tôn giáo hay tông phái nào. Trong gần năm chục năm, thiền sư Goenka đã truyền bá Vipassana ra gần cả trăm quốc gia trên thế giới, Trung Hoa, Nga, Hoa Kỳ, Cuba, Tây Bá Lợi Á, Úc Châu, Việt Nam, Thụy Sĩ, và hàng chục trung tâm ở Bắc Mỹ. Ngài đã được mời phát biểu tại những diễn đàn nổi tiếng, như Hội Nghị Thượng Đỉnh Thiên Niên Kỷ Thế Giới tại Liên Hiệp Quốc, Hội Nghị Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Switzerland…Và mặc dù thiền sư viên tịch cách đây 5 năm, hiện Hoa Kỳ và các nước thiền Vipassana vẫn phát triển mạnh với nhiều trung tâm đang được dự tính xây thêm vì số người chờ ngày càng đông. Còn nữa, trọn khóa học thiền sinh phải trường trai (ăn chay suốt những ngày ở đây – ngày thường ở nhà tùy ý), tuân theo năm giới cấm: không sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, và chất gây say nghiện, là những giới cấm giữ gìn đạo đức. Đặc biệt với pháp môn này, thiền sư Goenka chỉ giảng dạy duy nhất một điều, là giúp thiền sinh tự mình thanh lọc thân tâm để thoát khỏi khổ đau, để được hạnh phúc mãi mãi. Chắc chắn đây phải là một phương pháp thiền rất tốt. Nhà tôi nói.
Phần tôi thì sở thích có hơi…ngộ nghĩnh. Điều thú vị nhất, hấp dẫn tôi nhất, lại là cái ý tưởng độc đáo “Sự Im Lặng Thánh Thiện” trong suốt khóa thiền. Chưa chi tôi đã cảm thấy hồi hộp. Chẳng biết cảm giác mình sẽ như thế nào khi 10 ngày không mở miệng nói chuyện, không điện thoại, vi tính, hay ghi chép, là những việc tôi làm hằng ngày. Sở thích viết lách đã khiến tôi từ bé vốn rất e thẹn và sợ đám đông, khi lớn lên trở nên một người dạn dĩ lúc nói trước công chúng, và luôn trò chuyện xã giao với người chung quanh để tìm đề tài cho các bài viết của mình. Giờ đây phải “án binh” khép miệng đến những 10 ngày. Tôi có làm được không đây?
Điều nổi trội nữa làm chúng tôi thích, là số người đến với Vipassana gồm đủ các tôn giáo, nhiều vị tăng, ni cô, linh mục, ma-sơ, cư sĩ, đã thực tập Vipassana thành công. Có một câu trong bài giảng tại Thụy Sĩ năm 1980 của thiền sư S. N. Goenka tìm thấy trên internet làm chúng tôi xúc động, “Bệnh là bệnh chung, do đó thuốc chữa phải là thuốc chữa chung. Ví dụ, khi chúng ta nóng giận, sự nóng giận này không phải là sự nóng giận của người theo Thiên Chúa Giáo hoặc Hồi Giáo, sự nóng giận của người Trung Hoa hoặc người Mỹ. Tương tự, sự thương yêu và lòng từ bi không dành riêng cho bất cứ một sắc dân hoặc một nhóm người nào.”
Nhà tôi quyết định xong, tôi vô trang web ghi danh. Các trung tâm thiền dạy bởi ngài Goenka ở Hoa Kỳ hằng tháng đều mở mấy khóa Anh Ngữ 10 ngày cho người lớn, trẻ em, và sinh viên học sinh, có cả Vipassana tại những trung tâm cải huấn cho các tù nhân nữa. Về tiếng Việt thì hiện tại có 6 trung tâm Vipassana, mỗi năm mở ít nhất một khóa thiền song ngữ Anh Việt ở Toronto, Canada, Delaware, Georgia, Texas, Bắc và Nam California. Delaware và Toronto cũng có các khóa học với thông dịch viên tiếng Việt. Chúng tôi tiếc hùi hụi, vì người ta đã biết pháp môn này từ mấy chục năm nay, mà mình đến giờ mới biết. Cả Hoa Kỳ khi ấy chỉ có trung tâm Dhamma Delaware là còn chỗ trống cho khóa Anh Việt. Gì chứ học thiền thì phải nghe bằng chính ngôn ngữ của mình mới thấu hiểu hết những tinh túy của pháp môn. Ghi danh xong tôi book vé máy bay rồi hồi hộp chờ ngày lên đường.
Trung tâm Vipassana còn chu đáo lo cả việc giúp đưa đón thiền sinh. Ai ở xa đi máy bay, tàu lửa, Greyhound, sẽ được những thiện nguyện viên đến đón ở phi trường và các trạm. Những người ở lân cận có thể được sắp xếp đi chung xe. Tôi vô mục “đi chung xe” và nhờ đón chúng tôi ở phi trường. Vì ở xa, tôi xin đến sớm một ngày cho khỏi bị trễ giờ khai giảng khoá học vào 5g chiều hôm sau và được trung tâm đồng ý.
Khi người phục vụ đến phi trường Philadelphia đón vợ chồng tôi, trên xe đã có sẵn hai vị sư cô, một đến từ California, và một từ Washington. Anh thiện nguyện viên rất nhiệt tình và thân thiện, đã giới thiệu và giải thích cho chúng tôi những danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử của Philadelphia và Delaware cùng những nơi thuộc về lịch sử Độc Lập của Hoa Kỳ mỗi khi xe chạy ngang qua. Thật là được một dịp cho chúng tôi “mở mắt”.
Xe dừng trước cổng thiền viện. Tấm bảng nhỏ ghi “Dhamma Delaware Center” được dựng khiêm nhường bên cạnh khóm hoa vạn thọ, nhưng nhìn vào bên trong thì sâu hun hút, ngút ngàn với nhiều cây xanh cao tốt giống như một khu rừng thiên nhiên. Mọi người xuống xe. Tôi hít thở một hơi thật sâu để rũ bớt bụi đường. Người tài xế bước lại mở cổng. Đột nhiên tôi cảm giác như có một nguồn năng lượng đặc biệt rung động từ bên trong tỏa nhẹ ra làm cho tâm trạng thật là dễ chịu, thật ấm áp. Và tôi quên hết bao mệt nhọc của chuyến bay dài.
Không chỉ mình tôi, sư cô QD cũng có vẻ xúc động khi bước vào cổng nhìn thấy quang cảnh thoáng mát, trang nghiêm, và yên tĩnh của trung tâm thiền.
– Chỉ bước đến đây, đã cảm thấy bầu không khí đầy vẻ thiêng liêng rồi! Cô buột miệng.
Chúng tôi được chiêu đãi một bữa tối thịnh soạn với món phở chay độc đáo. Ăn xong chúng tôi đi nhận phòng ở tạm một đêm rồi mai mới chính thức được sắp xếp. Sự yên tĩnh và khung cảnh trang nghiêm có chút hoang dã núi rừng với tiếng côn trùng rỉ rả xen lẫn tiếng gió vi vu từ rừng cây xung quanh đã giúp tôi có một giấc ngủ thật đầy, thật ngon không mộng mị, dù thường ngày tôi hơi khó ngủ và giờ giấc giữa Cali, miền Đông khác nhau đến 3 giờ.
Tôi thức giấc giữa tiếng ríu rít của chim chóc bên ngoài cửa sổ. Nằm sấp người lại một cách lười biếng, tôi vẹt rèm nhìn ra. Nắng đã lên, rừng cây xanh lay động dịu dàng vì những cơn gió nhẹ thổi qua mơn man cành lá. Trên thảm cỏ xanh tươi xen lẫn vài cây rau mã đề hoang dại, vài chú sóc xinh xắn vểnh cong cái đuôi như một vòng cung bông lau chúi mũi xuống đất dùng hai chân trước miệt mài đào bới. Khi vớ được chiếc nấm dại hay thứ gì đó, sóc ta ôm chặt lấy rồi đứng dựng lên cho vào mồm gặm lia gặm lịa. Trông thật là dễ thương, nhàn nhã và an bình. Đây quả đúng là chốn để tịnh tâm.
Vì đến sớm, ba người chúng tôi rảnh nguyên một ngày. Vì chưa khai giảng, chưa vô khuôn khổ, chúng tôi rủ nhau đi bộ ra cổng, vòng quanh khu vực trung tâm, trước thể dục sau “thăm dân cho biết sự tình”. Buổi sớm mai không khí thật mát mẻ trong lành. Ba người vừa chậm rãi đếm bước vừa hít thở theo kiểu thiền hành. Từng dạy học cho đám nhóc tì Mỹ và dạy thể dục cho những vị cao niên ở trung tâm dưỡng lão, nên tôi có thói quen thường bước đi lắc lư theo kiểu thể dục nhịp điệu mỗi lần đi bộ thư giãn. Bây giờ đang đi cùng hai sư cô nên dù có “ngứa ngáy tay chân” muốn đánh nhịp hay bước nhanh tôi cũng phải kiềm nén lại, vì không dám tỏ ra mình… vô phép.
Nhưng có lẽ do sự từ tốn khoan thai của chúng tôi chẳng “dọa” được lũ côn trùng, nên đã xảy ra một chuyện tệ hại vô cùng. Đang đi, sư cô QD bỗng dưng la “oái” một tiếng rồi cúi xuống ôm lấy cổ chân, mặt cô tái lại với vẻ đau đớn tột cùng. Một vết đỏ nổi lên, máu tươi tươm ra từ vết cắn. Tôi thấy sư cô dù đau đến nhăn cả mặt mày cũng không hề oán thán, mà chỉ tỏ vẻ chấp nhận.
– Vậy là phải trả “cái món nợ” nào ở chốn này đây! Sư cô ôn tồn nói.
Từ chuyện cỏn con này mà tôi cảm nhận được từ tâm của bậc tu hành. Nếu là tôi, đau đến cỡ đó chắc tôi phải rủa thầm cái con bọ chết tiệt nào nỡ đang tâm chào đón tôi buổi sáng bằng một phát độc ác như thế. Tưởng là chuyện nhỏ, nhưng vết cắn đã sưng lên lan đỏ khắp cổ chân và đau đớn khiến sư cô phải đi cà nhắc hết một hồi.
Buổi chiều, các thiền sinh lần lượt đến. Trung tâm như sôi động, rộn ràng hẳn lên. Mọi người làm việc tất bật, nhưng nét mặt ai nấy đều hiện rõ nét thân thiện vui tươi. Thấy một bà cụ kéo cái vali bự bước vào, tôi đến chào. Trông cụ mệt mỏi, nhưng tinh thần lại rất vững vàng, nhìn uy nghi và đầy thần lực. Cụ ở xa, đi từ sáng sớm vì phải chuyển đổi bốn năm trạm xe, tàu điện, xe buýt, greyhound và còn đi bộ nhiều đoạn. Tôi tròn mắt thán phục khi biết đây là lần thứ năm cụ tham dự khóa 10 ngày của thầy Goenka. Cụ nói trước kia cụ rất khó tính, từng bị mổ đầu gối lắp vào thanh sắt, đau đớn khó chịu nên thường căng thẳng. Và thiền Vipassana giúp cụ tĩnh tâm, cảm thấy an lạc nên cụ liên tục tham gia. Khi vào khóa học, dù có những giờ được phép thiền tọa tại phòng khỏi vô thiền đường, vậy mà cụ vẫn luôn có mặt, chăm chú ngồi yên trên ghế. Cụ là người làm cho tôi phải nhìn vào mỗi lần có ý định bỏ cuộc.
Thủ tục ghi danh khá đơn giản. Khóa thiền cung cấp hoàn toàn miễn phí, từ nơi ăn chốn ở, đến tọa cụ bồ đoàn, cả ghế và nệm tựa lưng cho những người bị đau lưng, đau chân không thể ngồi xếp bằng. Các thiền sư phụ tá, ban điều hành và người phục vụ đều làm việc vô vụ lợi. Thiền sinh mới vô không phải đóng bất cứ món tiền nào. Sau khóa học, nếu cảm thấy hưởng được lợi lạc thì tự nguyện hiến tặng để cho người kế tiếp cùng được hưởng như mình, còn nếu không có khả năng đóng góp cũng chẳng sao.
Bắt đầu là một cuộc tiền hội nghị để ban quản trị dặn dò điều lệ và giới thiệu hai vị thiền sư phụ tá với mọi người. Thầy TĐ và cô LĐ là vợ chồng, họ đến từ Nam California, sẽ phụ tá hướng dẫn cho khóa thiền Anh Việt này. Đến tối mọi người mới được đặt chân vô thiền đường nhận vị trí có tên mình và bắt đầu khóa tu. “Noble Silence” cũng có hiệu lực từ giây phút này.
Ngày thứ nhất, ba tiếng chuông báo thức vang lên lúc 4 giờ sáng. Mọi người trờ dậy làm vệ sinh cá nhân xong là đúng 4 giờ 30, chuông báo hiệu tập trung vào thiền đường. Hai vị thiền sư phụ tá ngồi bên trên, cùng mọi người lặng im theo dõi và làm theo băng đĩa hướng dẫn của cố thiền sư Goenka. Lúc sanh tiền, thiền sư đã sắp xếp cách dạy này cho tất cả mọi trung tâm thiền trên thế giới để được thống nhất. Các thiền sư phụ tá có mặt ở đó, khi nào cần giải đáp thắc mắc cho thiền sinh về những khó khăn khi ngồi thiền, về những cảm giác mới khám phá và về kỹ thuật ngồi tịnh tọa. Tuyệt đối họ không hề giảng dạy hay thêm bớt một lời nào ngoài những bài giảng của ngài Goenka. Ngày đầu tiên cho đến ngày thứ ba, mọi người tập thở, hay là “thiền Anappana”. Chú tâm quan sát hơi thở vào ra nơi hai lỗ mũi, thở và nhận biết hơi thở đang vào ra. Đây là cách tập trung tư tưởng giúp thiền sinh phát triển khả năng chú ý.
Về tư thế ngồi, thiền sinh không cần phải ngồi theo một kiểu nào nhất định, kiểu nào cũng được, miễn cảm thấy dễ chịu, bán già, kiết già, kiểu Miến Điện chân trước chân sau, quỳ gối kiểu Nhật, hoặc ngồi trên ghế. Điều này quá là dễ dàng cho mọi người. Nhưng vì cái lưng tôi đau nên thử kiểu nào tôi cũng bị hành hạ. Cuối cùng tôi giữ kiểu kiết già mà tôi đã tập qua khi ở nhà, vì nó vững vàng hơn, giúp cái lưng tôi cân bằng hơn. Dù sau mỗi giờ thiền đều có nghỉ giải lao, chân và đùi tôi vẫn đau điếng, đôi khi tê cứng phải đổi chân liên tục. Tôi tưởng mình là “đệ nhất nhúc nhích” trong thiền đường, nhưng không, dù mắt nhắm tôi vẫn nghe rõ mồn một những tiếng sột soạt xung quanh. Đến tối, ngài Goenka có một giờ pháp thoại tuyệt vời giảng giải tỉ mỉ về ý nghĩa và lợi ích của việc quan sát hơi thở. Vì hơi thở liên hệ mật thiết với trạng thái tâm của ta, cho nên bất cứ lúc nào phiền não khởi sinh trong tâm thì hơi thở ta sẽ đổi khác, nhanh hơn và nặng nề hơn. Rồi khi sự phiền não qua đi, hơi thở sẽ ổn định trở lại. Vì vậy quan sát hơi thở ta “có thể khám phá thực tại không chỉ ở thân thể mà còn ở tâm thức nữa và làm cho nó trở nên thanh tịnh”. Nghe rất hay, nhưng sao tôi vẫn chưa thông suốt được.
Ngày thứ hai cũng còn quan sát hơi thở, nhưng chú ý của chúng tôi được hướng vào việc cảm nhận sự vào ra và nhiệt độ của hơi thở, hơi lạnh khi nó đi vào, hơi ấm khi nó đi ra. Vì sự nhức mỏi “lấn sân” cho nên dù cố gắng hết cỡ, phải “năm thì mười họa” tôi mới cảm nhận được chút xíu âm ấm ngay cửa mũi khi hơi thở đi ra.
Ngày thứ ba là tìm kiếm và tập trung vào bất kỳ cảm giác nào, như rung động, nóng, lạnh, có thể cảm nhận ở vùng tam giác bên dưới lỗ mũi, để chuẩn bị cho ngày thứ tư là bắt đầu áp dụng thiền Vipassana, là phép quan sát toàn thân. Tôi ngồi quan sát hơi thở vào ra mà lòng băn khoăn vì không tìm thấy một chút “cảm giác” gì như lời thầy nói. Đau mỏi bức rức, tôi cứ ngọ ngoạy như con giun. Khi nào ngồi yên được một chút thì cái tâm tôi nó lại đi lang thang, chạy hết chỗ này sang chỗ khác, những chuyện quá khứ từ đời nảo đời nao ào ạt hiện về. Quá căng thẳng, tôi bị no hơi ngang. Bụng căng tròn như quả bóng, cổ tôi rướn lên ngáp ngáp giống kẻ sắp lên đồng dù cố kiềm nén. Tôi bắt đầu tính đến chuyện rủ ông xã bỏ về. Lại nghĩ, chẳng lẽ từ Cali bay qua đến nửa vòng… nước Mỹ mà giờ đành phải bỏ cuộc hay sao.
Sau khi ăn trưa, tôi cùng vài người ra khoảng sân trống thật rộng từ thiền đường đến nhà ăn, khu vực dành cho nữ giới thiền hành giải lao. Đang từ từ đếm bước, dù bị cấm nói chuyện và đừng nhìn ngó đến ai, mắt tôi vẫn vô tình lướt qua phía nhà ăn. Một cô tình nguyện viên người Mỹ từ bếp bước ra. Ngực đeo tạp dề, tóc búi cao, tay cô cầm tấm thảm nhỏ loại chùi chân đập mạnh vào thành rào rồi gác lên phơi. Xong cô chụp lấy cây chổi và quét lia lịa. Mắt tôi lại lang thang qua building số 1. Xuyên qua cửa kính tôi thấy cô thiền sinh cũ người Việt đang lau sàn nhà. Bỗng đâu ba tiếng chuông vang lên báo hiệu giờ thiền kế tiếp. Mọi người đang đi bộ đồng loạt dừng lại quay vào.
Tôi chợt xúc động, trái tim như mềm đi khi nhìn thấy cô gái Mỹ lúc nãy từ nhà bếp cũng khăn áo đề huề tất tả bước thoăn thoắt qua thiền đường cùng chúng tôi, kể cả cô phục vụ vừa mới lau sàn nhà bên building #1 cũng vội bước vào. Tôi xúc động vì tôi đã nhận ra “Tâm Từ” của những thiền sinh cũ này. Họ cũng đến dự khóa thiền như chúng tôi, còn bỏ công sức ra để phục vụ thiện nguyện. Nhờ những tấm lòng như họ mà cả trung tâm, từ thiền đường, đến phòng ốc, thậm chí nhà vệ sinh, nhà bếp trong ngoài đâu đâu cũng đều sạch bóng. Nhờ những tấm lòng ấy, mà các thiền sinh mới như tôi có được những chỗ ngủ tốt, những bữa ăn ngon, và an tâm chuyên chú hành thiền. Sau bữa ăn trước khi tiếp tục đi tọa thiền, họ lại bận tíu tít, dọn dẹp lau chùi để những
thiền sinh mới chúng tôi có thì giờ nhẩn nha, tà tà đi bộ.
Dù đã “phạm lỗi” nhìn ngó lung tung làm cho tâm mình dao động, tôi chấp nhận, vì tôi đã biết mình phải làm gì. Tôi tự hứa với lòng sẽ cố gắng ngồi thiền chăm chỉ hơn, chú tâm hơn, vì sự thành công của tôi sẽ đáp lại tấm thịnh tình và tâm từ của những thiền sinh cũ này.
Sáng ngày thứ tư một chị bạn cùng phòng bỏ chạy vì lý do sức khỏe, nhưng tôi đã có quyết tâm nên nhất định phải theo tới cùng. Buổi chiều hôm nay rất quan trọng, thiền Vipassana, hay là phép quan sát toàn thân bắt đầu. Chúng tôi được dạy quan sát từ đầu tới chân rồi từ chân lên tới đỉnh đầu. “Quan sát sự việc như nó là” và giữ sự bình tâm không phản ứng, thiền sư dạy thế. Kỹ thuật này thật khó giải thích, phải vào thực hành mới cảm nhận được hết cái tinh túy của pháp môn. Ngày đầu tiên tôi rất khó tập trung, vì sự đau đã lấn át tịnh tâm. Nhưng tối đó bài pháp thoại của thiền sư đã cho tôi sức mạnh. Phải cố gắng ghi nhận bất kỳ cảm giác nào có được, dù thô hay tế, dễ chịu hay khó chịu, và nhìn chúng với sự bình tâm, với sự hiểu biết rằng tất cả chúng đều vô thường, sinh rồi diệt. Từ đó về sau, ngày này qua ngày khác tôi chăm chú thực hành theo lời thầy và dần dần lấy được sự tĩnh tâm khi quán sát khắp châu thân. Tuyệt vời thay, khi tôi cố gắng giữ được tâm bình thản, chấp nhận chứ không thèm bực mình hay tỏ ý khó chịu với các cảm giác nhức nhối, các cơn đau cuối cùng rồi cũng tan đi. Quả đúng là chúng tự sinh tự diệt! Đến ngày thứ tám, thì điều kỳ diệu đã xảy ra. Tôi vượt qua thông suốt một giờ thiền, ngồi kiểu kiết già không hề đổi chân hay nhúc nhích. Đó là điều “không tưởng” cho cái lưng của tôi trước khi tôi đến với Vipassana.
Và tôi đã làm được cho tới ngày cuối khóa! Như có phép mầu, chỉ sau 10 ngày tĩnh tâm thiền tọa kiết già các cơn đau lưng của tôi biến mất không còn chút tăm hơi. Tôi thấy rõ hiệu quả của phép quán sát toàn thân Vipassana. Nhờ nghe lời giảng kết hợp thực tập chăm chú, tôi đã lãnh hội những lời dạy của thiền sư về kỹ thuật này. Theo ngài, pháp môn Vipassana thuộc về tâm lý học cơ bản – tâm ảnh hưởng đến thân và thân ảnh hưởng đến tâm – cho nên kỹ thuật quan sát toàn thân rất có hiệu quả và cuối cùng sự an lạc sẽ xuất hiện. Nhận biết rõ điều này thì bất cứ cảm giác nào, thí dụ quá vui khi thành công, được nổi tiếng, hay phát tài, hoặc quá thất vọng vì mất mát, vì không đạt được ước mơ, thì tâm ta cũng sẽ không bị dao động vì ta đã biết về tính sinh diệt vô thường của chúng. Như vậy là tìm thấy an lạc.
Bên cạnh sự giảng dạy rõ ràng tỉ mỉ của thiền sư Goenka, mỗi cuối buổi tọa thiền, thầy cô thiền sư phụ tá gọi một số thiền sinh lên phỏng vấn, hỏi han về những gì chúng tôi cảm nhận được, và chỉ vẽ thêm làm sao cho đúng, sau đó cùng ngồi thiền chung dăm phút với thầy cô. Điều này giúp ích rất nhiều, chúng tôi tự tin hơn và thực hành hiệu quả hơn.
Ngày cuối ngài Goenka dạy chúng tôi phải duy trì sự tỉnh giác tự nhiên của tâm thức để xem những tham ái, sân hận, vô minh và dao động có mặt hiện tại trên thân ta hay không. Thầy nói những phiền não ngủ ngầm sâu kín, bị chôn lấp trong vô thức lâu nay bây giờ bắt đầu xuất hiện lên bề mặt tâm thức. Đó là sự phát triển tốt, vì nếu những phiền não đó không hiện ra trên bề mặt, thì không thể nào diệt được. “Khi chúng nó khởi lên, ta quán sát chúng một cách bình thản, và chúng nó sẽ tuần tự tiêu đi theo thứ lớp. Đó là ta đã đạt được tới sự giải thoát.” Trong giờ thiền sau cùng, thầy dặn dò nhiều điều hữu ích, khuyến khích chúng tôi tiếp tục hành thiền khi về nhà. Những lời kinh tiếng Pali thiền Tâm Từ “Metta” là tâm thương yêu, tha thứ, và chia sẻ tình thương với tất cả chúng sinh, được thầy đọc lên, và lời chúc lành cầu mong cho mọi chúng sinh được bình an, rồi những câu chúc phúc cho mọi người, “Hãy hạnh phúc! Hãy hạnh phúc!” của thầy như mãi vọng theo khi chúng tôi bước ra khỏi thiền đường…
Qua đến nhà ăn thì gặp ông xã tôi đứng bên ngoài. Đó là lần đầu tiên sau 10 ngày “cấm cửa” chúng tôi mới thấy mặt nhau. Nhà tôi giới thiệu tôi với người bạn Mỹ cùng phòng đang đứng bên cạnh. Ông ấy chào tôi rất thân thiện nên tôi “tiện tay” hỏi chuyện ông vài câu. Đây là khóa thiền Vipassana đầu tiên mà ông đến học nhưng rất thích. Là người có đạo Tin Lành, là giáo sư đại học, ông từng dạy English và Music và còn là thầy dạy Yoga nữa. Khi được hỏi điều gì từ khóa thiền này làm ông thích thú nhất, ông giáo sư sôi nổi nói:
– Everything! Tất cả! Nhưng tôi thích sự thông thái của thiền sư Goenka, và đặc biệt cái pháp quan sát toàn thân ông dạy cũng quá tuyệt vời! Thật là thú vị khi ngồi quan sát chính bản thân mình, nhìn từng cảm giác đến rồi đi, những điều vô thường sinh diệt này trước đây tôi chưa bao giờ nghe biết đến. Quá hay!
– Vậy thì ông sẽ giới thiệu thiền Vipassana với những người khác chứ? Tôi hỏi vui.
– “Absolutely!” Tất nhiên rồi! Ông nói với nụ cười rạng rỡ.
Tôi cũng nói chuyện với hai người đứng cạnh giáo sư. Một người theo “Maronite Antiochian” là đạo Công Giáo Liban, một trong những Giáo hội Công giáo lớn nhất ở Liban và khắp vùng Trung Đông, và người kia cũng vui vẻ kể, anh có đạo Hindu tức Ấn Độ Giáo. Hai người đều nói thiền Vipassana mang lại cho họ nhiều điều tốt, nhất là cách để giữ tâm yên tĩnh và mở lòng vị tha đối với mọi người xung quanh. Quả là thiền Vipassana đã đến với tất cả các tôn giáo.
Tôi chào vị giáo sư, và theo thói quen tôi đưa tay ra định bắt tay từ giã ông. Tôi nghĩ hôm nay đã “xả trại” không còn lệnh cấm nói chuyện thì một cái bắt tay từ giã với người Mỹ là chuyện bình thường. Không ngờ vị giáo sư này “thuộc bài” còn kỹ hơn tôi. Thay vì đưa tay ra, ông vội chắp hai tay lại và xá nhẹ một cái theo kiểu chào của các nhà tu. Tôi “quê một cục” vội chắp tay đáp lễ, trong lòng cảm thấy rất mắc cỡ. Sau về nhà đọc kỹ những thông tin thầy phụ tá cho, tôi mới biết luật cấm đụng chạm thân thể giữa các thiền sinh dù khác phái hay cùng phái được áp dụng mọi lúc mọi nơi trong toàn khu vực trung tâm thiền.
Chuyện này làm tôi nhớ lại, và hiểu ra, luật lệ khóa thiền và mọi điều cấm kỵ có lý do của nó mà khi “đụng chuyện” tôi mới thấy cảm phục thiền sư Goenka khi thầy đưa ra những điều lệ này. Đặc biệt lệnh cấm thiền sinh không được đụng chạm thân thể nhau. Lần kia vì thấy mỗi khi ra nghỉ giải lao tôi đấm chân liên tục, có cô gái người Việt tốt bụng bước lại bảo để cô ấy chỉ cho cách tập sẽ hết đau nhanh. Tôi chưa kịp phản ứng, cô bé nhanh nhẹn đẩy tôi vào sát tường, chụp lấy hai tay tôi đưa lên cao miệng kêu tôi nhón gót. Ngay lập tức, cô phục vụ chạy lại ngăn cản. Vì điều này mà tôi bị cô thiền sư phụ tá gọi lên gặp riêng. Tôi hớn hở bước vô phòng mang theo những câu thắc mắc vì ngỡ cô muốn giúp. Nào ngờ sau khi giải đáp cho tôi xong, cô nhắc nhở nhẹ nhàng về việc “đụng chạm thân thể” với thiền sinh khác. Thì ra việc phạm cấm kỵ của tôi đã được báo cho cô. Nhưng tôi không phiền vì biết lỗi của mình.
Cô LĐ nói, sự đụng chạm thân thể ngoài việc khiến cho thiền sinh phân tán tư tưởng, ở đây mỗi ngày ngồi tĩnh toạ ai cũng cố quán thân tâm để đẩy ra ngoài cho sạch những uế trược, những bất tịnh chất chứa lâu đời đang dần trồi lên từ trong tiềm thức. Sự đụng chạm này có khi còn truyền cho nhau những điện năng, từ trường xấu của đối phương, nếu có, và mình sẽ rất khó mà định tâm. Nghe vậy tôi… sáng mắt ra, nhớ lại chuyện tôi và các bạn cùng phòng gặp phải, và đã “trả giá” cách đó mấy hôm. Sau khi xin lỗi cô giáo, tôi “tự thú trước bình minh”:
– Thưa cô, cô nói đúng quá! Giờ em mới nhớ lại cái hôm chị cùng phòng cảm thấy mệt không thể tiếp tục cho hết khoá thiền. Sau khi lên gặp cô về phòng chị ấy “phá giới” nói lời từ giã mọi người. Chị khóc và nói nghe cô phân tích thật cảm động muốn ở lại, nhưng sức khỏe tệ quá. Thế là mấy chị em cùng phòng thương quá xúm nhau khuyên chị ở lại, và ôm từ giã mỗi người một cái. Tôi “khai” luôn:
– Tối đó cả phòng không ai ngủ được hết cô ơi, người này nằm nghe người kia trằn trọc trở mình, vì bọn em đã bị những lời trao đổi, sự đụng chạm đó ám ảnh.
Cô tròn mắt nhìn tôi:
– Cả phòng nói chuyện? Và còn ôm nhau nữa?
– Dạ chỉ ba người thưa cô! Tôi đáp trong ân hận. – Người trẻ nhất phòng là thiền sinh cũ. Cô ấy giữ giới kỹ càng, từ đầu đến cuối im thin thít, nên tối đó cổ ngủ im re.
Thực ra đâu phải chỉ có cánh nữ chúng tôi là dễ dàng phạm cái giới “cấm nói chuyện”.
Ông xã tôi khi đọc tới đoạn này đã ngồi cười một mình. Gạn tra mãi chàng mới… bật mí, kể lại chuyện phá giới của cánh… liền ông. Người bạn cùng phòng với ông ấy bị chứng thoái vị đĩa đệm phải ngồi thiền trên ghế. Đến ngày thứ ba không cảm nhận được gì, phần bị cái xương sống nó hành, nên anh muốn bỏ chạy cho rồi. Nhưng hết ngày thứ tư đột nhiên anh ấy “nhập định” được, quán sát toàn thân thông suốt. Mừng quá tối đó về phòng anh chàng muốn khoe thành quả cho bạn. Sợ phạm luật không dám nói to nên ghé miệng vào tai bạn thì thầm, mắt thì nhìn láo liên nhìn ra cửa sợ bị những người phục vụ bắt gặp. Ông xã tôi bụng cũng muốn nghe xem bạn nói gì mà tâm lại “sợ tội” nên nào dám hỏi, chỉ kê lỗ tai lại gần ông bạn hơn. Khổ nỗi hai “anh cụ” đều vượt quá xa “cổ lai hy”, mắt đã mờ tai lại… lờ đờ hơn. Cho nên “ông nghỉnh rình ông ngảng” người vểnh tai kẻ nghểnh cổ, mà anh xã nhà tôi chỉ nghe hơi thở xì xào và thấy cái miệng nhóp nhép lập bập của ông bạn chứ chẳng hiểu được gì. Chợt nghe có tiếng người đi qua, hai chàng … hết hồn ai vọt về giường nấy mà trong lòng ấm ức “kẻ muốn nói còn chưa nói được, người muốn nghe cũng chửa nghe xong!” Về nhà đến nay anh bạn tọa thiền cũng rất thành công, rất thông suốt, và hai anh bạn già thường liên lạc nói chuyện với nhau về thiền.
Tôi “vái chào” ông giáo sư rồi bước vào bên trong nhà ăn. Xin nói sơ một chút về thức ăn của nhà bếp. Chắc những người không biết ăn chay sẽ e ngại vì học ở đây phải ăn chay suốt 10 ngày. Và chỉ có hai bữa chính sáng, trưa, buổi chiều ăn nhẹ trái cây, uống sữa, hoặc sữa đậu nành, sữa gạo. Nhưng tôi bảo đảm, khi về nhà các bạn sẽ nhớ những bữa ăn chay phong phú và đầy bổ dưỡng ở đây không thua gì các món mặn, còn “healthy” hơn là khác. Chu đáo nhất, ngày nào cũng có món súp mận khô ngừa táo bón, giúp thiền sinh khỏi bị… bí vì ngồi lâu. Thực đơn thay đổi mỗi ngày và rất đa dạng để mọi người tự chọn. Các món Á Châu như canh rong biển đậu hũ, canh táo tàu phổ tai, cháo nấm đậu hũ, đậu nành hột đút lò, đậu hũ đút lò, xào thập cẩm, và nhiều món Tây phương, salad trộn các loại hạt, pho mát, bơ thực vật, bánh mì gạo lức, sữa tươi, sữa đậu nành… hầu hết là thực phẩm hữu cơ “organic.” Gia vị phụ mật ong, dầu olive, bột nghệ, bột flaxseed, và các loại trà, cà phê, nhiều loại không có “cà phê in”, và những loại dành cho người kiêng béo, mặn, ngọt.
Tôi chợt nhớ lời thiền sư Goenka, hiến tặng vật chất cho các trung tâm thiền Vipassana rất quan trọng, vì sẽ giúp cho những người đến sau có cơ hội hành thiền, nhưng đem phổ biến rộng rãi pháp môn này càng quan trọng hơn. Tôi liền qua gặp cô thiền sư phụ tá LĐ, xin phép cô cho tôi hỏi thêm một ít thông tin để khi về nhà tôi viết bài tường thuật về khóa thiền, hầu chia sẻ cho cộng đồng Việt về môn thiền Vipassana quý giá này. Tôi biết người Việt mình phần đông theo đạo Phật, có lẽ chưa có nhiều người hiểu rõ về môn thiền Vipassana, họ sợ sẽ phải cải đạo khi đến với pháp môn, nên chưa có đông người Việt tham gia như người Mỹ hoặc các sắc dân khác. Cô cũng đồng ý với tôi nên vui vẻ cho tôi cái hẹn gặp cả thầy cô. Sau khi trò chuyện, hai vị đã cho tôi nhiều thông tin quý giá và tài liệu về Vipassana. Cô LĐ kể lại, thấy được lợi ích của thiền Vipassana, và pháp môn này được hoằng khai ra thế giới, thầy cô mong muốn làm chút gì để có thể truyền bá cho đồng bào bên quê nhà. Nhờ nhân duyên dẫn dắt, năm 2006 hai người và bạn đồng hành của họ đã đưa được mấy chục người Việt qua một thiền đường Cam Bốt học thiền Vipassana rồi đưa trở về, dẫn đến nhiều người biết, và mở rộng pháp môn này ở quê nhà như hiện giờ. Cô nói đó là những kỷ niệm khó quên về con đường hành thiền Vipassana của thầy cô. Thầy TĐ cho chúng tôi biết, hiện nay tại Việt Nam có một trung tâm Vipassana rất quy mô dạy thiền theo truyền thống ngài Goenka, hoạt động dưới sự bảo trợ của tổ chức thế giới UNESCO ở Củ Chi, miền Nam, và một trung tâm nữa cũng do UNESCO bảo trợ vừa bắt đầu hoạt động năm nay 2018 tại Sóc Sơn, Hà Nội.
Khi được hỏi thầy cô có điều gì muốn nhắn nhủ hay chia sẻ với đồng hương Việt mình về thiền Vipassana không, thì cô LĐ cười hiền hòa nói:
– Pháp môn thiền Vipassana có quá nhiều lợi ích, tôi mong là ngày càng được cộng đồng mình biết đến rộng rãi hơn và tham gia nhiều như người Mỹ và các sắc dân khác trên thế giới, để đem lại niềm vui, hạnh phúc, và an lạc cho bản thân và gia đình mọi người…
Sau đó thiền sinh tập trung lại để nghe tuyên bố mãn khóa. Ông trưởng ban điều hành trung tâm phát biểu chúc mừng khóa thiền thành công. Tiếp đến ông Việt Nam quản lý khóa thiền ghi danh sách những thiền sinh tự nguyện làm công tác dọn dẹp, làm vệ sinh, cũng như sắp xếp các thứ để chuẩn bị cho khoá thiền kế tiếp. Mọi người, kể cả các sư cô đều vui vẻ xung phong nhận lãnh công việc dọn dẹp trong buổi cuối cùng. Đến mục đi nhờ xe, người ta hỏi và ghi danh những ai cần đi nhờ xe về nhà, ra phi trường, trạm xe buýt. Và những ai có thể đưa giùm người. Thật cảm động, cuộc trao đổi “kẻ ban người nhận” diễn ra rất rộn rã bằng thứ tình cảm giúp đỡ thật lòng. Nếu ai có thời gian là tình nguyện giúp ngay, dù tiện đường hay không.
Chúng tôi may mắn làm quen vợ chồng anh thiền sinh cũ H. & G. cùng anh P. bạn của họ. Họ sẽ cùng lái xe về nhà anh ấy ở tận Canada. Khi nghe nói chúng tôi book vé máy bay dư một tuần sau khoá thiền để đi thăm tượng Nữ Thần Tự Do ở New York, dù không phải tiện đường cho lắm hai anh này cũng tình nguyện sẽ chở giùm.
Ngày thứ 11, chúng tôi giã từ thiền viện Delaware với một tâm trạng luyến lưu khó tả. Nhớ cảnh thanh bình yên tĩnh, nhớ mấy người bạn thiền dễ thương vừa quen. Nhớ cô bạn HL tâm từ đi tọa thiền mà khệ nệ khênh mấy chục chai nước lọc. Không biết là trung tâm có máy lọc nước, cô mua nhiều “để chia sẻ cho những thiền sinh ở xa không mang theo được.” Và ngày nào cô cũng thảy trên bàn cho mỗi người một chai. Trên xe của anh bạn, mọi người chuyện trò rôm rả về thiền Vipassana. Anh P. người Canada cũng là một thiền sinh Vipassana kỳ cựu. Người điềm đạm, trình độ hiểu biết về thiền Vipassana rất sâu. Anh cho biết ý nguyện của anh là cố gắng tu tập nhiều thêm nữa để tiến xa hơn với pháp môn này. Còn chuyện của anh H. người Nam Cali thì vô cùng hấp dẫn. Có lần một người từ Anh Quốc bay qua Canada để tham dự khóa thiền Vipassana đã book lộn vé máy bay đến Mỹ. Anh H. đã “ra tay nghĩa hiệp” chở dùm cô ấy đi hơn một nghìn dặm đường để đến trung tâm mà cô đã ghi danh. Mấy ngày đầu, cô người Anh chịu cực không nổi nhiều lần định bỏ về, nhưng vì nghĩ đến tấm lòng của người thiền sinh cũ vượt bao nhiêu dặm đường đưa cô đến đó nên cô ráng ở lại. Và cô đã hoàn thành viên mãn khóa thiền. Tâm từ của anh H. đã lan tỏa, cảm hóa được người thiền sinh mới. Anh còn kể chúng tôi nghe chuyện một ca sĩ – nhạc sĩ người Mỹ anh biết, nhờ ngồi thiền Vipassana mà có thể sáng tác những tuyệt phẩm âm nhạc “Platinum”. Anh chàng này sau đó hiến tặng một số lớn hiện kim để xây dựng trung tâm thiền Vipassana. Và chuyện một thiền sinh nữ người Việt hành thiền Vipassana mà tự chữa lành căn bệnh ung thư lá lách hiểm nghèo, căn bệnh nan y đã lấy đi mạng sống của Steve Jobs. Tôi nghe hấp dẫn quá, nên nói đùa kêu anh khi nào gặp chàng ca nhạc sĩ đó thì nhớ giới thiệu để tôi phỏng vấn và viết một bài. Đến New York, mấy người bạn mới đã tìm đường đến khách sạn, mang giúp hành lý lên tận phòng cho chúng tôi và rồi cùng đi dạo Time Square một lúc mới từ giã chạy qua Canada. Tình cảm thiền sinh Vipassana đối với nhau quả thật đậm đà, đúng với câu bốn bể đều là anh em.
Về nhà tôi đọc kỹ những tài liệu thầy TĐ thiền sư phụ tá đã cho. Có nhiều câu chuyện thú vị và cảm động về việc ngài Goenka đưa thiền Vipassana vô trong tù, xin tóm tắt lại vài điều chia sẻ với các bạn. Thầy Goenka đã từng dạy thiền, cảm hóa hàng nghìn tù nhân Ấn Độ, hầu hết đều là tù trọng án. Khi cai ngục đưa các tù nhân ra học thiền, họ bị xiềng xích tay chân. Thiền sư Goenka buộc nhà tù phải mở hết xiềng. Quản trị nhà tù không chịu, sợ tù nhân nổi loạn giết người bỏ trốn, và vì an toàn cho thiền sư, họ buộc ngài phải trú ngụ bên ngoài, mỗi ngày vào tù giảng dạy. Thiền sư nhất định không chịu, đòi phải mở hết xiềng và cùng ở cùng ăn với tù nhân. Ban quản trị nói luật nhà tù là chỗ chỉ dành cho tù nhân. Tôi muốn khóc khi đọc câu đáp lại của ngài Goenka, “Vậy thì các anh hãy kết án tôi đi! Tôi nhất định phải ở trong tù cùng với các tù nhân để dạy thiền cho họ.” Cuối cùng ban giám đốc nhà tù phải nhượng bộ, làm ra một dự luật cho phép thiền sư sống trong tù và cởi xiềng xích cho các trọng phạm để họ ngồi thiền.
Sau khi học xong khóa thiền 10 ngày với thầy Goenka các tù nhân đã giác ngộ, khóc lóc xin nạn nhân tha thứ, và vui vẻ chấp nhận đền tội chứ không còn muốn chống án. Thông tin còn cho thấy nhà tù đầu tiên tại Mỹ đưa Vipassana vào dạy cho phạm nhân từ 1977 đến 2002, và mở lại vào năm 2006 là Trung Tâm Cải Huấn Bắc Mỹ (NRF-King County North Rehabilitation Facility) ở Seattle, Washington. Nhờ kết quả rất tốt của những khóa thiền 10 ngày tại đây mà năm 2002, Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ đã cấp cho đại học Washington kinh phí ba năm để nghiên cứu về lợi ích của thiền Vipassana đối với tù nhân. Cũng đã có vài khóa thiền Vipassana được tổ chức tại nhà tù San Francisco, California.
Đọc xong tôi tìm lên trang web của Trung Tâm Cải Huấn Bắc Mỹ (King County North Rehabilitation Facility) thì quả đúng là như vậy. Trên mạng tôi còn đọc được chuyện thiền Vipassana trong tù đã hấp dẫn nữ đạo diễn Jenny Phillips. Và bà cũng đã tham dự một khóa thiền Vipassana 10 ngày. Bộ phim “Dhamma Brothers” của bà nói về những tội nhân đang thọ trọng án tại trại Cải Huấn Donaldson, Alabama đã được cảm hóa sau khi tham dự khóa thiền 10 ngày Vipassana của ngài Goenka. Phim được quay năm 1999 đã được 2 giải thưởng, từ Woods Hole Film Festival 2007, và từ NCCD (National Council on Crime and Delinquency) 2007.
Theo tài liệu từ Trung Tâm Nghiên Cứu Thiền Vipassana Ấn Độ, các nhà lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo La Mã nhận thấy thiền Vipassana không mang tính chất tông phái và tốt cho tất cả mọi người, nên cho phép giáo dân tham gia. Mẹ Bề Trên Mary và Cha Lawrence là vài người trong những nhà lãnh đạo Công Giáo đầu tiên học Vipassana. Trung tâm nghiên cứu Thiền Vipassana Ấn Độ ghi nhận, có hơn 6.000 linh mục và bà Sơ, Mẹ Bề Trên tham dự thiền Vipassana, trong đó có một Sơ đã là Thiền sư. Và một trung tâm dành riêng cho các vị này được mở gần Munbai, Ấn Độ. Tôi cũng đọc được bài viết của Đức Cha Lawrence trong tài liệu. Ngài công nhận kỹ thuật thiền Vipassana bao gồm đạo đức, là những điều tương ứng với Mười Điều Răn Công giáo, và mục đích của thiền Vipassana chẳng phải để biến thế giới thành Phật tử, mà là biến đổi con người trở nên tốt đẹp hơn, dù người ấy theo hay không theo tín ngưỡng nào.
Còn Mary, Mẹ Bề Trên của một trường dạy nữ tu ở Dalhousie cũng chia sẻ, thiềnVipassana giúp người ta kiểm soát được tư tưởng, các loại tình cảm đố kỵ, chán ghét, đau khổ, ham muốn, và thay thế chúng bằng tình cảm thương yêu và từ bi. “Khóa thiền này không dựa trên một giáo điều nào, nó là một thứ kỹ thuật, mà nếu hiểu rõ, và thực hành hằng ngày khoảng hai tiếng đồng hồ, sẽ giúp chúng ta phát triển mọi tiềm năng, giúp chúng ta trở thành một người Công giáo tốt hơn, một người Hindu, một người Hồi giáo, hay một Phật tử tốt hơn.” Mẹ Bề Trên đã viết thế.
Tôi không phải là người Công Giáo, nhưng nhận xét và chia sẻ kinh nghiệm chân tình của các vị chân tu này làm cho tôi rất tâm đắc, tự hứa với lòng phải cố gắng hơn nữa, tập trung vào việc hành thiền, và sắp tới sẽ tiếp tục tham gia các khóa thiền Vipassana. Xin kính lời cám ơn thầy cô thiền sư phụ tá TĐ & LĐ đã chia sẻ những thông tin quý giá.
Từ việc quan sát hơi thở và tự quán sát toàn thân theo kỹ thuật thiền Vipassana, chúng tôi, mới tham gia chỉ một khóa đầu tiên, không dám nói là đã “đạt thành chánh quả” như các bậc chân tu, nhưng có thể khẳng định rằng, trong cuộc sống hằng ngày chúng tôi đã tìm thấy được cách sống cho an nhiên tự tại. Vipassana như có phép mầu, đã chuyển đổi được tâm tính con người, một điều mà ông bà mình vẫn thường nói, “Non sông dễ đổi, bản tính khó dời”. Nhờ luôn luôn chú ý đến hơi thở, tôi nhận ra ngay những điều bất tịnh vừa chớm nẩy trong tâm để dừng lại kịp lúc, và nhờ phép quan sát toàn thân, tôi hiểu được sự vô thường của vạn vật, biết chấp nhận sự sinh ra và diệt đi và quên khổ đau. Trước kia vì vô minh để tâm vọng động, tôi đã tự làm khổ mình không ít. Mỗi lần có tin buồn, dì cậu hay bà con, những người tôi yêu quý bên nhà qua đời, hay sự thất bại khi đứa con làm thủ tục bán “short-sale” ngôi nhà đẹp, tôi đau khổ đến mất ăn mất ngủ. Và lúc có chuyện vui, như những lần đoạt giải cao viết văn chẳng hạn, tôi quá vui mừng trước sự chúc tụng của bạn bè, lên khán đài phát biểu, được TV phỏng vấn, chụp hình cùng các vị dân cử… Những ánh hào quang đó cũng làm tôi mất ngủ quên ăn. Giờ tôi hiểu ra, những thứ buồn vui hay danh vọng ấy chẳng qua cũng là phù du, đến rồi đi, buồn quá hay mừng lắm chỉ làm cho tâm mình thêm khổ não. Phải chi tôi biết Vipassana sớm thì đã đón nhận chúng với cái tâm bình thản, có lẽ giờ này tôi cũng giảm được vài nếp nhăn trên trán, hoặc chí ít, cũng không để cho mấy sợi “tóc muối” có cơ hội đứng ngang hàng chen lẫn cùng đám “tóc tiêu” như bây giờ.
Ngày trước, có khi những chuyện “nhỏ như cọng cỏ” là giận hờn vu vơ với cái “người dưng khác họ” cũng làm cho tôi đau khổ vô biên. Bây giờ mỗi lần ông ấy có chuyện không vừa ý nổi giận cau mày, thay vì “làm mình làm mẩy” tôi chỉ nói nhẹ nhàng, “Lấy sự nhăn nhó khó chịu ấy về đi, không ai nhận đâu!” Thế là sắc mặt chàng tươi trở lại. Dù bây giờ đã là “bà già trầu” nhưng thỉnh thoảng tôi lại quên mất, cứ ngỡ mình vẫn còn là “em bé ngày xưa ấy” của chàng nên giở trò mè nheo, hờn dỗi, khiến bực mình. Nếu trước kia, là người ít nói nhưng tính nóng còn hơn “Trương Phi” ông ấy sẽ nổi doá cự lại làm mọi chuyện lớn thêm, còn bây giờ chàng chỉ nói, “Tâm bất tịnh rồi, quán thân đi!” Vậy là cùng nhau cười xoà hết chuyện. Chúng tôi thường đùa tụi mình giờ là “Tình 3B”, “Bạn đời, Bạn già, và Bạn thiền.” Ngày ngày ăn chay, ngồi tịnh tọa chung, tháng tháng cùng đi ngồi thiền nhóm, và thỉnh thoảng dắt nhau đi phục vụ Dhamma (giáo pháp – tiếng Pali) cho các khóa thiền Vipassana trong vùng. Bấy nhiêu đó là đủ vui cho cái tuổi về chiều, “cố gắng sống thảnh thơi để chờ thời đi…dzìa trển!” Nhà tôi nói như vậy.
Thú thật, chàng xã của tôi “thấm nhuần” Vipassana còn kỹ hơn tôi, ngồi thiền giỏi hơn tôi, tịnh tâm dễ hơn tôi, và thay vì “cà kê dê ngỗng” như tôi, ông ấy tóm gọn sự lợi ích, hiệu quả, và chân lý của pháp môn Vipassana chỉ trong một bài thơ Đường Luật mà rất là đầy đủ:
“Hữu duyên hạnh ngộ PASSANA (Vipassana)
Giáo pháp lọc tâm diệt ý tà.
Tham, dục, ngày ngày thôi bám víu,
Sân, si, chốc chốc cũng lìa xa.
Mắt tai mũi lưỡi cần an tịnh,
Trí tuệ lòng từ sẽ hiện ra.
Trì giới quán thân từng khoảnh khắc,
Sống đời hạnh phúc với DHAMMA (giáo pháp).”
Tân Khoa
Chúng tôi đã kết nối được với một nhóm ngồi thiền Vipassana (Vipassana Group Sitting) gần vùng cư ngụ và đến ngồi thiền chung mỗi tháng vài lần. Lần đầu đến dự, tôi ngạc nhiên và khâm phục những thiền sinh Mỹ này. Hầu hết là người trí thức trẻ, còn đi làm, vậy mà cùng nhau họp lại, và tự đóng góp tài chính thuê một gian phòng trong trung tâm dạy Yoga, chuẩn bị đầy đủ bàn ghế bồ đoàn toạ cụ cho việc ngồi thiền. Mỗi ngày đều có tổ chức suất ngồi thiền một giờ sáng sớm và một giờ vào buổi tối, để những ai trên đường đi làm và đi làm về ghé qua cùng ngồi chung. Và mỗi tháng có hai khoá tọa thiền nguyên một ngày cuối tuần, có cả thiền sư phụ tá giám sát và hướng dẫn. Dù chỉ là khóa thiền một ngày, mọi thứ được sắp xếp y hệt như khi học ở trung tâm. Cũng ngồi theo băng đĩa giảng dạy của thiền sư Goenka, ăn chay nguyên ngày, giữ sự im lặng thánh thiện, và giờ giấc cũng giống nhau. Đi ngồi thiền nhóm cùng với các thiền sinh Mỹ tôi mới khám phá ra hệ thống Vipassana của thiền sư Goenka là hệ thống hoạt động toàn cầu. Đã là thiền sinh cũ của thầy Goenka thì tên tuổi chúng tôi được lưu lại vĩnh viễn trên hệ thống. Nếu tôi có dịp đến bất cứ nước nào trên thế giới mà có ý định tìm một khóa thiền Vipassana tu tập, thì cũng sẽ được hưởng tất cả mọi quyền lợi “thiền sinh cũ Vipassana” của truyền thống Goenka, các thiền sinh bạn ở đó sẽ giúp đỡ, đưa đón và lo nơi ăn chốn ở đàng hoàng. Thầy Goenka nói ngồi thiền chung với nhóm nhiều người sẽ rất có lợi vì được sự trợ lực từ những người xung quanh. Tôi thấy đúng lắm, ngồi chung với nhóm tôi cảm nhận được điện lực từ trường và tâm từ của mọi người lan tỏa.
Vừa rồi tôi cũng đã đi phục vụ khoá thiền một ngày “Children And Teenager Course” tại chỗ ngồi thiền nhóm này. Khóa thiền mở dành cho các cháu độ tuổi 8 đến 15. Dù đây chỉ là một cái “Hall” do nhóm thiền sinh Mỹ tự nguyện tổ chức, vẫn phải trực thuộc vào hệ thống và dưới sự quản lý nghiêm nhặt của trung tâm chính Vipassana California với một ban điều hành rất là bài bản. Khi vợ chồng tôi ghi danh đi phục vụ cho khoá thiền này, chúng tôi phải vào trang web trung tâm điền đơn xin phục vụ cung cấp đầy đủ thông tin cá nhân, và phải điền đơn để họ làm “Background Check” lý lịch “trong trắng” thì mới được nhận. Khóa thiền cũng có hai thiền sư phụ tá đến trợ giảng, một nam giúp cho boys và một nữ giúp cho girls. Cũng phải giữ “Sự Im lặng Thánh Thiện”, phục vụ ăn trưa miễn phí cho các cháu, và nhiều “trò chơi thông minh” được các thiện nguyện viên chúng tôi hướng dẫn trong những giờ giải lao. Mọi người cùng nhau thực hiện thành công khóa thiền một ngày. Các em khi mới vào còn quậy, nhảy nhót lung tung, nói lý lẽ với người lớn, nhưng đến cuối khóa chúng trở nên ngoan ngoãn dễ thương vô cùng. Cô thầy thiền sư phụ tá “khảo bài” về những gì các cháu đã học được trong ngày hôm ấy, và các cháu hào hứng sôi nổi đưa tay lên giành nhau trả lời đúng chính xác những gì các cháu vừa được dạy.
Sinh hoạt với các thiền sinh Mỹ và thiền sinh các nước khác, tôi biết được cái tâm của họ lớn vô cùng. Hỏi chuyện thì nhiều người nói “không thể đếm” được bao nhiêu khóa thiền họ đã học. Đối với những người đã tìm thấy và gặt hái được chân lý của Vipassana cho tâm hồn và cuộc đời họ, thì việc hiến tặng tiền bạc những vật ngoại thân để xây dựng thiền đường chỉ là “chuyện nhỏ”. Như vừa rồi Vipassana hệ thống Goenka Bắc Cali đã mua một trang trại 54 mẫu Anh gần thung lũng điện tử San Jose, giá 2 triệu 1 Mỹ Kim. Chương trình sắp tới, bước một, thiền viện thứ tư của Cali sẽ được xây dựng với kinh phí khoảng 8 triệu để có đủ chỗ ở và thiền cho 80 thiền sinh. Bước hai sẽ mở ra cho đủ thâu nhận 150 người. Thật là một con số đáng kinh ngạc, những chương trình quy mô như thế mà toàn bộ đều đến từ sự cúng dường, có thể thấy lòng từ tâm của thiền sinh Vipassana to lớn cỡ nào. Họ đã gặt hái kết quả từ thiền Vipassna, nên hiến tặng của cải, vật chất, và công sức không mong cầu báo đáp, chỉ để giúp cơ hội cho nhiều người khác được học về pháp môn Vipassana.
Cho đến giờ, những lời giảng quý giá của thiền sư Goenka như luôn vang vọng trong tôi. Ngài nói luật tự nhiên và thiên nhiên rất công bằng. Tâm ta sẽ nhận được sự tưởng thưởng hay trừng phạt là tuỳ vào cách suy nghĩ và hành xử của chính ta. Nếu tâm chúng ta thanh tịnh, ban phát hoà ái và tình thương cho mọi người, mọi loài, thì sẽ hưởng được sự an nhiên tự tại và hạnh phúc viên mãn. Nếu tâm ta bất thiện, mang sự thù hằn, ghét bỏ, mê đắm tham lam, thèm muốn những thứ không phải của mình, hay hại người, thì sẽ bị luật tự nhiên trừng phạt, mà là trừng phạt ngay lập tức. Cho dù chỉ là sự bất thiện trong ý nghĩ, thì sự trừng phạt sẽ làm cho tâm ta vật vã, suy nghĩ bất an, còn nếu như đã gây ra những điều ác, xấu cho người, thì tâm ta sẽ bị dằn vặt, cắn rứt cho đến cuối đời, tận giờ phút lâm chung thì mọi điều bất thiện đó sẽ hiện lên không thiếu một mảy may. Thầy nói người hành thiền Vipassana phải luôn luôn sống trong trí tuệ, nhìn và quan sát thân tâm, ý thức rõ từng lời nói và việc làm để biết dừng lại kịp lúc, xóa bỏ nó đi và trong tâm không còn sự thèm muốn hay thù ghét nữa, chắc chắn ta sẽ được giải thoát khỏi những ràng buộc đau khổ để sống đời hạnh phúc thật sự.
Tóm lại, Vipassana là con đường dẫn đến giải thoát khổ não đời người, nó giúp diệt trừ thèm muốn, giận ghét, và vô minh, là những căn nguyên gây khổ đau cho nhân loại. Bạn đã đọc đến đây, kể như bạn cũng có duyên lành. Biết đâu cơ duyên dẫn dắt, đem được kỹ thuật thiền nguyên thủy Vipassana của bậc giác ngộ gần hai nghìn sáu trăm năm trước hòa quyện vào đời sống tất bật hằng ngày của bạn để giúp bạn có một cuộc sống thanh thản yêu đời và an lạc hơn.
Nguyện cho bài viết này mang lại chút ít lợi lạc cho ai đó. Nguyện cho tất cả chúng sinh trên thế giới này đều được an lành và hạnh phúc trong Năm Mới Kỷ Hợi và mãi mãi…
*Nếu muốn tìm hiểu thêm về Vipassana, bạn có thể vào đây:
https://www.dhamma.org/en-US/index – Tiếng Anh
http://www.vn.dhamma.org/ – Tiếng Việt
*Những câu hỏi và trả lời thú vị nếu bạn muốn biết về Vipassana trong tù ở Mỹ:
https://www.prison.dhamma.org/prisonqa.htm
Cảm Nhận Và Chia Sẻ Thêm Ý Nghĩa Về Thiền Của Nhà Thơ Lễ Tuấn:
Cám ơn bài viết của nữ sĩ Phương Hoa.
Bài viết rất hay. Giới thiệu về Phương Pháp Thiền (Thiền Vipassana là gì?) Nói đúng hơn đây là phương pháp Thiền minh sát trí tuệ. phương pháp Thiền Quán, không phải Thiền Định. Thiền Vipassana thuộc loại thiền quán, chú trọng đến tương quan mật thiết giữa tâm và thân từ đó loại bỏ được những suy nghĩ, hành động tiêu cực và để đạt được sự an nhàn, vui vẻ, nguồn năng lượng tích cực. Bởi Vipassana có nghĩa là “thấy mọi sự vật như bản chất thật của chúng ngay trong lúc quan sát”, nó là một tiến trình logic của việc thanh lọc tâm tưởng bằng cách tự quán chiếu bản thân mình. Đây là một phương pháp Thiền rất tuyệt vời (rất hay).
Tuy nhiên theo tôi nhận xét. Muốn xoá bỏ một (tâm thức u tối) hay phiền não, nhất định người thiền định, phải dùng đến một năng lượng để triệt tiêu. (chữ năng lượng ở đây có nghĩa “năng lượng từ bản thân” phải dùng đến một kỹ năng quan sát trí tuệ rồi triệt tiêu nó). Tôi thường suy nghĩ:Nếu ta nhìn thấy bất cứ khoảng đen tối nào trong tâm hồn, thì hãy mở tung cánh cửa đó ra, để cho ánh sáng của Chân Thiện Mỹ tràn vào. Việc mở tung cánh cửa, của một ngăn tối trong tư tưởng, nếu bất cứ ai đạt đến cảnh giới cao siêu, thì đều làm được và làm một cách rất tự nhiên (không cần năng lượng).
Bản thân tôi cũng tìm hiểu về nhiều triết lý về Thiền, và cuối cùng tôi tự tìm ra một chân lý. Đó là triết lý “Chủng Thể Nẩy Sinh” sự nẩy sinh trong mọi vấn đề thì đó là nhân tố thứ 3. Anh A gặp Anh B, hai người nói chuyện, qua câu chuyện, sẽ nẩy sinh một yếu tố thứ 3, yếu tố thứ 3 hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất câu chuyện, nếu câu chuyện hoà thuận, thì chủng thể thứ 3 sẽ là nguồn năng lượng (Tình thương sự đồng cảm). Nếu câu chuyện dẫn đến bất đồng, đi đến to tiếng, thi chủ thể thứ 3 sẽ là sự giận giữ (lòng thù hận, ganh ghét).Nếu trong lúc ngồi thiền mà tâm bị động, để cho dòng suy tư bị nhiễu loạn thì ngay lập tức (Chủng thể thứ 3) xuất hiện và thôi thúc, ngôi thứ ba sẽ thôi thúc, hãy làm đi hay hãy bỏ cuộc. Giải thích một chút về (Chủng Thể Thứ 3) Dòng suy tư xuất phát từ tâm hồn (đây là chủng thể thứ 1) đưa suy nghĩ đến một vấn đề (Thánh thiện hay đen tối) đây là (Chủng Thể Thứ 2) và sự xuất hiện của tư tưởng dẫn đến hành động, đây là (Chủng Thể Thứ 3). Đây chỉ là một ví dụ rất nhỏ, nếu bàn thêm thi bao la vô cùng.
Bài viết về Thiền Vipassana của Phương Hoa, đã gợi nhớ trong tôi nhiều tư tưởng, nhiều triết lý đã đọc qua. Cám ơn bài viết rất hay của Nữ Sĩ Phương Hoa. Chúc thật vui và bình an, như trọng tâm của Thiền Vipassana