Mừng Lễ Phật Đản: ĐI CHÙA – MINH THÚY (Thành Nội)

ĐI CHÙA

            Tôi đi Chùa theo Mẹ từ lúc chưa vào lớp tiểu học, hình như khoảng ba, bốn tuổi thì phải. Hồi đó Mẹ hay đi tụng kinh mỗi tối là ngôi Chùa Tịnh Bình nằm trên đường Tăng Bạt Hổ (thành phố Huế), sau mẹ có duyên quy y chùa Diệu Đế trên đường Bạch Đằng. Những mùa lễ lớn các chú điệu đạp xe vào đưa giấy mời, mẹ cúng dường tịnh tài, tới ngày lễ ghé chợ mua cá đem ra sông phóng sanh.

           Còn nhớ tuổi thơ rất rõ… mỗi lần lên Chùa tôi thường được các cụ xoa đầu nựng má, cho bánh kẹo hoặc quả quýt và khen “cháu giỏi lắm, mẹ ngồi đọc kinh cả tiếng đồng hồ mà cháu ngồi yên không phá phách”, chưa kể được các chú điệu hay các thầy trẻ cho cả bọc bánh In đủ màu sắc (có lẽ lúc nhỏ vì ham quà bánh nên thích theo mẹ chăng?). Khi tuổi thiếu nữ không còn đi theo mẹ nữa, mà thích đi với bạn vào dịp lễ Phật Đản hoặc Vu Lan, lúc đạp xe tới Chùa gần, khi dùng hai chuyến xe Đò lên chùa Từ Đàm, chùa Tường Vân hoặc xa hơn là chùa Thiền Lâm Tự nằm trên núi. Mỗi lần đi cả nhóm ghé vô chợ Đông Ba mua hoa Sen dâng cúng Phật, hôm đó dặn nhau mặc áo dài trắng đàng hoàng nghiêm chỉnh, dù rằng không còn được quà nhưng ngôi Chùa có sức thu hút theo không khí hiền hoà, cảnh vật đầy hoa thơm đủ sắc thật đẹp, nhất là những cây hoa Sứ trước sân Chùa nở hoa trắng toát ra kỳ hương nhẹ nhàng.

            Những năm từ 1980 đến 1984 tôi vào Sài Gòn tìm đường vượt biên, có lúc ở nhà Dung (bạn hàng xóm Huế) thêu hàng, em trai Dung khoảng 13 tuổi  rất hiền lành thường ăn chay nhưng giấu gia đình, ngồi một góc nhai cơm với xì dầu, chị em hợp mạng, em hé môi cho biết mỗi tối lặng lẽ đi Chùa tụng kinh, từ đó sau giờ cơm chiều em nháy mắt tôi đi đúng giờ nhập lễ. 

Vượt biên đến đảo trải qua cuộc hành trình tưởng bỏ mạng nơi biển cả, từ đảo Pulau  Bidong chuyển tiếp qua trại Sungei Besi, hai nơi đều được dựng Chùa, nên mỗi chiều tôi thường lên bám víu lời kinh tiếng kệ cho tâm trí tỉnh lại. Qua Mỹ năm 1985 chân ướt chân ráo đã đi cày sáng mờ sương đến tối trời về đầu tắt mặt tối không còn thời giờ. Một buổi chiều được về sớm, cô em dâu chở tôi tới ngôi Chùa Đức Viên trên San Jose lúc đó Sư Bà Đàm Lựu làm trụ trì, tôi mừng hết lớn vì được ngồi trên xe ngắm màu nắng hai bên đồi của Freeway 680. Được thấy ngôi Chùa lần đầu nơi xứ Mỹ, tiếng trống Bát Nhã, hồi chuông thức tĩnh cho tôi cảm giác bồi hồi về kỷ niệm những ngày theo chân mẹ đi Chùa, tôi cố ngăn không để cảm xúc trào dâng nhưng nước mắt cứ tuôn ra như đứa con trôi sông lạc chợ, lăn lóc bụi thời gian đang trở về bến bình yên tạm thời giây lát. 

Sáu năm sau tôi chuyển job, có được ngày cuối tuần nhưng chỉ thuận khi gặp một công mấy việc mới lên San Jose. Một trưa ghé Chùa thỉnh tượng Phật và tìm quyển Hư Hư Lục của sư cô Như Thủy, quý bác đang đổ bánh xèo dùng trưa, sự niềm nở mở rộng tấm lòng làm chúng tôi khó từ chối lời mời, tôi yêu không khí thanh tịnh, hình ảnh quý bác, quý sư cô ăn nói nhẹ nhàng cùng nụ cười nhân từ hiền hậu tăng sự kính mến của tôi vô cùng. Tuy nhiên đường xá xa xôi nên thỉnh thoảng mới viếng Chùa được, tôi hằng mơ ước giá chi dưới vùng mình sinh sống có được ngôi Chùa.

            Trung Tâm Phật Giáo mọc lên nơi thành phố Hayward năm 1986 nhưng tôi không hề hay biết. Nhận job mới nên tôi dời nhà lên vùng Hayward tiện công ăn việc làm, tình cờ dự đám cưới, ngồi chung bàn nói chuyện, cháu B cho biết có ngôi Chùa nhỏ nằm trên đường Calaroga. Từ đó duyên đến với tôi, mỗi chiều thứ sáu sau giờ làm, lòng tôi hớn hở như bao người vì được “xả trại” nghỉ ngơi hai ngày weekends không bị kim đồng hồ báo thức, mà niềm vui trước nhất là được đi Chùa về tối sẽ ngủ dậy trễ sáng sau. Cuối tuần tôi dành thì giờ một ngày đi chợ, nấu ăn đàng hoàng thịnh soạn so với những ngày đi cày, chủ nhật lên Chùa sinh hoạt có khi cả ngày hoặc nửa ngày theo chương trình sắp xếp của Chùa. 

Thầy Tôi 

Tu hành “hữu xạ tự nhiên hương” 

Dũa đức mài tâm giữa sắc thường

Giảm thiểu rau cà thông mạch lạc

Đơn sơ y áo ngộ am tường

Trì kinh sáng tụng rèn nhân đức

Điểm hạt chiều thiền quán thiện lương

Chúng dẫn, tăng dìu đường chánh pháp 

Danh Thầy Từ Lực sáng vầng dương 

                                MTTN 

             Thầy Từ Lực trụ trì ngôi Trung Tâm Phật Giáo Hayward là người con của xứ sông Hương núi Ngự, Thầy chuyên cần vừa học vừa tu đã tốt nghiệp cử nhân ngành thư viện, mỹ thuật tại San Francisco State University, sau đó tiếp tục theo ban cao học tại California State University Hayward. Thời gian ấy Thầy cũng rất vất vả vì ban ngày đi làm việc trên trường UC Berkeley, tối về hướng dẫn đại chúng tụng kinh vào thứ hai, tư, sáu. Càng ngày việc phật sự càng nhiều, đám tang cần ma chay tụng niệm cầu siêu người chết, những tiểu bang lạnh mời Thầy đi hoằng pháp lưu động, vì bên đó thiếu vắng Thầy. Các bác họp đạo hữu lại vận động mỗi người một tay cố gắng hỗ trợ tài chánh thêm nữa trang trải hàng tháng, và yêu cầu Thầy nghỉ việc giữ gìn sức khỏe, để còn hướng dẫn đại chúng tu tập. Tưởng yên thân thầy trò lo việc tu học, nhưng vài năm sau County gởi giấy về báo địa điểm Chùa không hợp lệ dùng nơi tụ tập đêm ngày, hàng xóm gởi đơn khiếu nại. Cuối cùng đạo hữu cho Chùa mượn trong vòng 5 năm không lấy tiền lời cộng thêm sự cúng dường của tứ chúng. Thầy tìm được địa điểm trên đường Meekland cũng thuộc thành phố Hayward, xem như Chùa Phổ Từ được thành lập từ năm 2000. Công trình xây cất gặp lắm gian nan vất vả, nói như kiểu người phàm thì thầy “làm dâu trăm họ”, nhưng rồi thiện thần hộ pháp che chở, mọi trở ngại từ nội ma, ngoại ma, nội chướng, ngoại chướng của thế gian cũng được túc đắc tiêu diệt.

CHÙA PHỔ TỪ

(Tung hoành trục khoán)

MÁI ấm tâm linh dội trống đồng

CHÙA Từ tĩnh lặng nhẹ ngân chuông

CHE lòng mộ đạo nơi thiền quán

CHỞ dạ mến Thầy chốn tịnh không 

HỒN  đậm pháp môn thường tự tại

DÂN đằm giáo lý cũng thong dong

TỘC hành cuộc sống gieo nhân thiện

NẾP SỐNG MUÔN ĐỜI CỦA TỔ TÔNG

                                                MTTN

Ngày tháng tiếp tục đi qua từng mùa xuân, hạ, thu, đông…Tôi vẫn đều đặn sinh hoạt cùng quý bác, quý anh chị và bạn hữu như tìm về nơi chốn bình an cho tâm hồn, bên cạnh cuộc sống chồng chất nhiều lo âu, trách nhiệm đôi khi nhận chịu áp lực nặng nề đè nén tiếng thở dài.

            Đến Chùa gặp những thiện hữu tri thức, tu tập hạn chế lời nói, họ chỉ thực hành bằng công việc cho tôi học hỏi gương tốt rất nhiều. Nhớ những sáng chủ nhật tới Chùa sớm, có lúc quét lá, có khi vào bếp phụ được việc gì trong lúc chờ đợi chương trình đúng 9 giờ hành lễ. Trước tiên Thầy hướng dẫn đại chúng ngồi thiền kêu gọi tâm trở về tĩnh lặng, tập hít sâu thở ra ý thức sự sống phút hiện tại, sau đó thầy trò tụng niệm kinh cầu an, hoặc nếu có cúng hương linh thì tụng thời kinh Di Đà, kinh Địa Tạng và Chú Vãng Sanh, 10 phút thư giãn hoặc thiền hành trong sân, kế tiếp Thầy ban thời pháp hướng dẫn các pháp của Đức Phật dẫn dắt con đường tươi sáng an lạc, buổi trưa dùng cơm thanh tịnh 

       “Có không còn mất chẳng bận lòng 

       Yêu ghét được thua chẳng mong trông

       Mở rộng tâm ra lòng thanh thản 

       An vui tự tại dạ thong dong”

              Mỗi tháng có ngày tu học từ sáng đến chiều, ngày xưa các cụ gọi là Thọ Bát Quan Trai phải tuân theo các điều lệ nghiêm túc (không đeo nữ trang, không phấn son, không nghe nhạc, chỉ thọ nhận buổi cơm trưa và không được ăn tối). Qua Mỹ cuộc sống bận rộn, thời gian quí báu, Thầy Tự Lực tìm con đường trung dung thích hợp mọi lứa tuổi nên đổi lại “Ngày Tu Học”. Sáng tham thiền, ôn tụng Tam Quy Ngũ Giới và Thập Thiện Giới, hành thiền và nhận thời pháp lời hay ý đẹp của đạo Phật. Thọ chay trước tiên ngồi quán chiếu và hồi hướng công đức tới người trồng ra thực phẩm, người mua về nấu nướng cúng dường cho mình thọ trai. Sau giờ nghỉ ngơi buổi trưa một tiếng, tiếp tục vào chánh điện dưới sự hướng dẫn lạy sám hối 108 lần. Buổi  chiều ra về lái xe nhìn khung cảnh chung quanh thật đẹp, thật bình an, lắng đọng soi lại tâm mình để sửa  đổi, ngẫm trong thời gian qua đã hành được bao nhiêu điều tốt, bao nhiêu việc thiện, bao nhiêu lần nóng giận, và bao nhiêu lần mắc khẩu nghiệp nói điều có thể làm người khác buồn lòng?

              Ban đầu chúng tôi thọ “Tam Quy Ngũ Giới” tại Trung tâm Phật Giáo được Thầy quy y, tháng ăn chay 4 ngày, chỉ từng đó mà khó lắm đấy, gieo lòng sợ hãi của chúng sinh không đạt tới, nhưng nhờ có sự ân cần khéo léo của Thầy rằng :

             – Cố gắng với nội tâm và ý chí nếu đạt được một điều, hai điều cũng là quý, từ đó mỗi ngày rèn luyện, thanh lọc thân tâm  dần thêm.

“Trăm năm trước thì ta chưa gặp

Trăm năm sau biết có gặp lại không?

Cuộc đời sắc sắc , không không

Thôi thì ta hãy hết lòng với nhau”

            Nhờ Thầy dẫn dắt đường đi nước bước nên bà con yên lòng tu tập. Hai năm sau tôi thọ Thập Thiện Giới tại Chùa Quang Nghiêm của Sư Ông Minh Đạt dưới Stockton trong buổi đại lễ, cùng đi cả nhóm đệ tử theo thầy Từ Lực, giới này phải ăn chay tháng 10 ngày. Biết bao nhiêu điều tu tập tôi rớt lên rớt xuống, tập đi tập lại nhưng rất hãnh diện đã thành công điều này. Chiêu dụ người khác theo mình cũng khó, tôi áp dụng tuần hai ngày, tuần ba ngày chay, những ngày còn lại nấu mặn. Nhiều chị bảo “cứ nêm nếm rồi nhổ ra súc miệng sạch hoặc nấu cầm chừng không nếm”, tôi nghĩ phải nấu đàng hoàng mới yên tâm không bị ray rức “bỏ đời theo đạo”, trong khi đang còn bổn phận trách nhiệm, thôi thì đem đạo vào đời, lúc sống cho mình và lúc làm vui lòng người khác.

Mong Trọn Tình Lam

“Thể Sắc Thái” 

Tình lam  đón tuổi  mấy mươi ngoài 

Đã hết xanh đầu thuở trẻ choai

Sắc tím chân trời còn đắm cảnh 

Màu cam vạt nắng vẫn mơ loài

Lời vàng bút ký nào quên được

Ý ngọc thầy trao mãi nhớ hoài 

Máu đỏ thi nhân hoà cảm xúc 

Đen trời nguyệt tỏ gợi thơ ngoai

                                    MTTN

           Đến Chùa khung cảnh luôn tươi sáng, bông hoa nở rộ, chim hót ríu rít từ đầu cổng ra đến vườn lộ thiên Phật Quan Âm, bên cạnh có hòn non bộ. Ngồi yên, lắng lòng thanh tịnh, nghe tiếng chuông Chùa tĩnh thức đánh tan niềm tục lụy trong giây phút hiện tại. Hình ảnh bức tượng chiếu sáng trong tâm, cảm nhận sự nhiệm mầu của những bậc giác ngộ soi đường nở hoa. Gần gũi thấy lối sống quý sư Cô, quý Thầy suốt ngày lo việc Phật sự, bữa ăn đạm bạc, hình ảnh giản dị với bộ nâu sòng không sắc, cuộc sống thật đáng kính phục hơn nữa khi biết một số ra trường với mảnh bằng PHD hoặc Matter khi còn trẻ tuổi, nếu như ở ngoài đời đã kiếm tiền thật nhiều và dễ dàng,  nhưng họ chẳng luyến tiếc để tìm con đường chân lý, hoằng hóa độ sanh thế giới đầy não trượt, buông bỏ vui thú trong cuộc đời giả tạm.

Ánh Sáng Phật Đạo 

Đồng tu tứ chúng hương dâng nguyện 

Thắp dậy niềm tin luyện pháp kinh

Hồi chuông lay động vô minh 

Hành Tứ Diệu Đế tâm bình an vui

Dòng đời vạn biến vùi đau khổ

Bát Nhã chèo thuyền ngộ vực sâu

Trầm luân lắm cảnh bể dâu

Phật đài đánh lễ cúi đầu lắng tan

Thầm xin tuệ đuốc ban mầu nhiệm

Khép cửa tham, sân, nghiệm …Có, Không

Phật đường ánh đạo khai thông 

Hoa bừng, chim hót nắng hồng vươn cao

                                    MTTN

            Đôi khi cũng có những nỗi lo theo sự khốn đốn của các Chùa nói chung, lòng cũng nặng nề khó tả, dẫu biết Chùa chiền mọc lên nhiều thì đất thánh nhiều càng tốt, nhưng chỉ là biết mà không kham hết được đành nhắm mắt tuỳ duyên. Tánh tôi thuộc loại cứng đầu cứng cổ, nhỏ lớn không để những vấn đề dị đoan ảnh hưởng như mua nhà xem phong thủy, coi ngày giờ, cầu xin…Tu hành cũng cần có tinh thần Bi, Trí, Dũng. Quý Thầy nói điều gì thuận thì nhập vào não và duy trì, điều gì không hợp thì quên nhanh, nhất là sau này nhìn những youtube bên VN người dân quá mê tín theo sự hướng dẫn sai lạc của một số Chùa thật là chán nản. Tôi đọc bài Tản Văn Phật Giáo (Đi Chùa để làm gì) của tác giả Mạnh Kim thấy biết bao nhiêu điều xấu làm mờ đi hình ảnh của ngôi Chùa, có đoạn của Albert Einstein từng nói “Chính những người dung thứ hay khuyến khích việc xấu ác đã làm cho thế giới này trở nên nguy hiểm nhiều hơn là những người nhúng tay vào việc ác”, (nói một cách đơn giản hơn thì sự im lặng trước những điều xấu ác cũng chính là đồng loã) 

Một lần em chồng tôi lên Chùa nhờ Thầy cúng giải Sao, thầy Tự Lực nói khéo

– Chị gieo việc thiện nhiều sẽ tiêu trừ hoặc giảm bớt những nghiệp xấu.

Lần nọ trong buổi giảng pháp của Ôn Minh Đạt có người đến xin giúp việc ma chay, coi giờ tốt để chôn cất người mất. Ôn nhẹ nhàng nói: 

– Thầy chỉ truyền thừa sứ mạng Đức Phật giao phó là có nhiệm vụ hộ niệm cho người mất, Thầy không biết xem giờ, khi họ ra đi có chọn được giờ tốt không?

            Đó là những vị Thầy đã phát huy tinh thần giáo pháp của Đức Phật, ngày xưa Phật không cần Chùa, nhưng bây giờ số lượng đạo hữu quá đông cũng phải cần ngôi Chùa để sinh hoạt, nhất là nơi nuôi dưỡng tuổi trẻ gia đình Phật Tử mầm mống xây dựng xã hội lành mạnh, nên Chùa phải cần sự hộ trì tam bảo, giúp đại chúng cùng nhau nương tựa tìm con đường chánh pháp tu tập. 

       “Lắng lòng theo những nhịp chuông 

       Buông dần tục niệm bên tuồng đời kia 

       Miệt mài thương ghét sớm khuya 

       Rồi mai cũng vất xuống bia mộ mình”

           Thầy giao chìa khoá cho tôi giữ tủ sách, những buổi lễ lớn dọn ra phát hành, một số phật tử về VN thăm gia đình, mua áo tràng, xâu chuỗi cũng như các tượng Phật, ly đèn nguyên thùng đem qua cúng dường Chùa gây quỹ, thì tôi phải dọn ra bán, thêm đồng nào cũng để bù vào những buổi cơm Chùa lo liệu, mời phật tử dùng trưa mỗi chủ nhật đến sinh hoạt. Lúc nhỏ tôi thường hay nghe người ta nói đùa “cơm Chùa, của Chùa không ăn cũng uổng”, giờ tôi mới thấy tận mắt cảnh ấy… một bàn dài thức ăn, không kể quen biết hay xa lạ, đã đến Chùa là được Sư Cô, bạn đạo mời dùng. Cà phê trà nóng sẵn bình, các ông nội bà nội, ông ngoại bà ngoại hay cha mẹ dẫn con cháu đi học tiếng Việt, sinh hoạt gia đình Phật Tử, trong lúc chờ đợi, cha ông đi dọn rác làm vườn, mệt nghỉ vào uống cà phê, hoặc lấy thức ăn ngồi dưới gốc cây bóng mát dùng, các bà mẹ vào bếp nấu lo các em nhỏ. Tôi rất thích khung cảnh thanh bình tuyệt vời này, đó là điểm tuyệt vời tôi thích đến đây vì được thấy lối sống hiền hoà, tâm phật, ý Phật, tứ chúng cùng tu. Tâm người như ngựa không cương, nếu ở nhà chắc gì tôi được yên thân hay bị phone gọi, bếp réo chưa kể ma nhác nổi lên lười biếng.

Tôi được đi hành hương theo tổ chức của Chùa rất nhiều lần. Khi ghé về Sacramento và Stockton thăm Chùa Phước Thiện, Chùa Phổ Minh, Thiền viện Diệu Nhân, lúc lên San Francisco thăm dự lễ Tam Bộ Nhất Bái, hoặc thăm Chùa Sư Nữ người Mỹ, tràn ngập niềm vui trong tình đạo. Các đạo hữu tự sắp xếp chia ca, chia nhóm, mỗi người hai khay lo thức ăn cho ngày Tu Học hoặc các lễ nhỏ, những lúc khách đến bất ngờ quá đông, đạo hữu của Chùa nhịn miệng đãi khách phương xa, nhưng lúc thức ăn quá dư các sư cô nhắc nhở bới về, chị em lấy hộp nhận thức ăn cười và chọc nhau “tu tâm thì ít mà togo thì nhiều”.

            Càng ngày bàn thờ vong càng đông, có những hôm lễ 49 hoặc 100 ngày cúng thất có tới 7, 8 di ảnh nhìn lạnh người. Sự chết không đợi lão 80, 90 mà vẫn có 60, 20,  thậm chí ngay cả 5 tuổi. Đối diện và hộ niệm mỗi tuần, tôi thường quán chiếu về sự sống, sự chết, về lẽ vô thường, sâu xa triết lý là Không Sanh, Không Diệt để cố tu tập hơn nữa, ra đi chẳng đem theo thứ gì ngoài công đức để lại.

“Trăm năm nhìn xuống đời hư ảo 

Phút chốc nhìn lên ngộ lẽ trời 

Ta trồng hạt giống từ bi

Ngày sau kết trái vô vi cúng dường 

Nguyện trên khắp nẻo vô thường 

Người đi phổ độ vào đường chân như”

         Có lần tôi gặp thầy (quên tên) nơi Chùa Thiên Trúc, thầy tốt nghiệp bằng tiến sĩ về môn Thần Học, ngồi trà đạo về đề tài Sống Chết, thầy cười chỉ nói một câu “chết là một cuộc chơi”, không hiểu sao câu nói đó truyền trong tâm thức tôi sự bình thản, khiến tôi không cảm thấy sợ hãi trước sự chết. Đời người một lần ra đi, còn hơi thở ngày nào biết ngày đó, tôi tâm niệm quan trọng khi sống là biết chia sẻ, góp công những điều phước thiện làm đẹp cho đời sống. Sinh, Lão, Bệnh, Tử, nhưng con ma vô thường vẫn không đợi tuần tự như vậy, dĩ nhiên khi đối diện cảnh ngộ của sinh ly tử biệt, ai cũng đau lòng, nhưng phải chuyển hoá sự suy nghĩ để bớt khổ đau hơn, và nghiệp báo mỗi người mang theo phải chấp nhận, chỉ nên cố gắng tu tập, can đảm nhận mọi thử thách và rèn luyện kiên nhẫn như kinh Đức phật từng nhắc nhở “Như Lai chỉ là bậc Đạo Sư, học hay không là do chính bản thân mình, có học thì tới, không học sẽ không bao giờ tới “

  “Vô minh rớt lại ta bà 

   Soi trong tự tánh thấy ta lại về 

   Thoát ra từ vực u mê

   Vô thường được mất có hề chi đâu”

              Chỉ còn vài ngày nữa Lễ Phật Đản, năm nay tình trạng bệnh dịch đang còn phòng ngừa  dẫu đã được chích thuốc, thôi thì ở nhà dâng hoa quả thắp hương tưởng nhớ đấng Từ Phụ, vị Phật trong tâm nhắc nhở con mỗi khi sai phạm lỗi lầm, nhắc nhở con soi lại tấm gương nội tâm. Mùa của quý Thầy nhập hạ, mùa cho tôi sống nhiều kỷ niệm êm đềm thời thơ ấu bên mẹ, thời hoa mộng bên bạn bè viếng những ngôi Chùa xa gần “che chở hồn dân tộc” nơi thành phố Huế thân yêu thuở nào….

 Tán Phật 

Bảy bước hoa sen xuất thế trần

Ta bà hoá độ khắp hoàn luân

Rừng cây suối cỏ thiền an trí

Góc gội Bồ Đề quán tịnh thân

Khai ngộ môn tu bừng ánh đuốc 

Tri thông Phật pháp tỏa làn vân

Mười phương ánh đạo lan truyền sáng 

Bốn biển năm bề độ cõi nhân 

                                                Minh Thúy (Thành Nội)

                                                Mùa Phật Đản 2021




Lời Chúc Mừng Đại Lễ Phật Đản 2021- LÊ VĂN HẢI & Thơ Phương Hoa – Hoàng Mai Nhất




CON LÀ CON MÈO TRẠNG QUỲNH CỦA MẠ

Con Là Con Mèo Trạng Quỳnh Của Mạ            

Mạ sinh con đang lúc nhà nghèo khó
Một phần cơm, khoai sắn độn hai phần
Thuở ấu thời, mắm cà cùng muối đậu
Con đã quen ngon miệng món nhà bần.

Lúc mớ rạm ngoài đồng đem ram muối
Muà nước lên con bống thệ kho khô
Những chột nưa mạ nấu cùng tí ruốc
Rau tập tàng vị ngọt những ngày thơ.

 
Đọi rau khoai ngọt ngào con tôm đất
Hũ tép chua có những lát măng vòi
Bánh tráng nướng còn thơm mùi mít trộn
Những món quen con vẫn nhớ trọn đời.

Ngày mưa bão, trên mâm thường trứng luộc
Trưa mùa hè, nước rau muống thay canh
Chút dưa, muối cũng vội vàng xong bữa
Sao mạ hay – ngồi ăn cuối một mình.

Con là con mèo Trạng Quỳnh cuả mạ
Đã phận quen ăn những món ăn nghèo
Trước những mâm đầy sơn hào hải vị
Con dửng dưng như đứa trẻ quen chiều.

Giờ con đã xa nửa vòng trái đất
Biết khi mô mới trở gót quay về
Trên bếp lưả chụm rơm chiều khói tỏa
Con cá cơm mạ nấu bữa canh me.
 
Cho ấm áp thêm cuộc đời trống lạnh
Hạnh phúc này xoa diụ tấm lòng con
Khi hơi toả thơm ngát mùi gạo mới
Trên tay con, miếng cơm cháy thơm dòn.
 
Con, đứa trẻ lạc loài trên xứ lạ
Đang quay cuồng theo cơm áo, ngựa xe
Mà thương mạ vẫn thường hay tựa cửa
Bên mâm cơm, vắng bóng đứa con về.  
 
                              Huy Phương

Mama, I Am Your Self-Contented Cat

                 

You gave birth to me while being destitute:

Potato or cassava doubling rice each meal to suit.

Salted egg-plants and peanuts since childhood,

I had got accustomed to the poor people’s food.

The crabs from the paddy-fields that you fried,

The goby from inundation that you cooked dried,

The chunks of taro you prepared with rousong,

The sundry veg…, that with my youth got along.                                         

The sweet potato buds, with prawns as spices,

The soured shrimps, with bamboo shoot slices,

The grilled pancakes smelling jackfruit, thyme,

The familiar dishes… I remember all my lifetime.

On stormy days, on the salver were boiled eggs;

In summer, water spinach for broth without dregs;

A bit of pickle was enough for a quick repast…

But you Mama always remained alone the last.

Regals are rich, their cats have delicacies to try;

I was Mama’s cat, only meagre dishes did satisfy.

So content with my lot that feasts I did not enjoy,

Indifferent, seeming kittle as a too coshered boy.

Well, now that I have been a hemisphere away,

I do not know when I will come back and stay

There, on the straw fire under smoke you stoop

To cook with anchovies the eve tamarind soup.

So that warmth is added to my empty existence:

Such bliss will appease my heart in this distance,

With the cooking smelling the new harvest rice,

And for me a crisp piece of burned rice as a price.

As a lost young child lonely in a strange land,

Being whirled along means of living’s demand,

I feel so anxious for Mama against the door-case

Or by the food tray always longing to see my face.

Translation by Thanh-Thanh




Vượt Qua Covid-19 LẠC VIỆT SAN JOSE Hồi Sinh Cùng Nước Mỹ – GIAO CHỈ SJ & THƠ Mừng VTLV – Dương Huệ Anh

VƯỢT QUA COVID 19 LẠC VIỆT SJ. HỒI SINH CÙNG NƯỚC MỸ.               

Giao Chỉ. SJ.

 (Viết tặng các bạn Chinh Nguyên, Lê văn Hải, Đông Anh và các bạn văn thơ Lạc Việt)

Cách đây hơn 30 năm thi sĩ Dương Huệ Anh thành lập một hội thi ca miền Bắc CA. Thời đó sinh hoạt ra sao chúng tôi không rõ nhưng chắc chắn là hội họp hiền lành không bão bùng sóng gió. Dương tiên sinh phụ trách được khoảng 4 năm thì bạn Nguyễn Đình Tạo sau 9 năm ngục tù chèo thuyền đến USA bèn nhận đảm trách hội trưởng. Bác Tạo quê ở huyện Đông Anh nên làm thơ ký tên kỷ niệm quê nhà.

Thi sĩ Đông Anh có ông bạn tù là nhà thơ Hà Thượng Nhân bèn mời làm cố vấn. Tôi là bạn cùng khóa với Đông Anh nên cũng được cho tên Giao Chỉ vào danh sách. Cũng nhờ vào vai trò cố vấn nên tôi có cơ hội gặp gỡ các bạn bè cao niên trong làng văn nghệ địa phương.

Bác Đông Anh lãnh nhiệm vụ được chừng 8 năm thì giao lại cho ông Chinh Nguyen. Theo thông lệ nhiệm kỳ của tổng thống 4 năm tái cử thành 8 năm. Thi sĩ Chinh Nguyên gốc không quân đi luôn một lèo gần 20 năm. Lý do đơn giản là anh chị em hội viên thấy ông hội trưởng lèo lái rất nhẹ nhàng và tình nghĩa sâu đậm nên không cần bầu cử.

Thi Văn Đàn Lạc Việt sinh hoạt rất nhộn nhịp hàng năm. Có TV, Radio, trao giải văn thơ hàng năm. In thành tác phẩm xuất bản. Các hội viên thi nhau in tác phẩm riêng. Quanh năm làm thơ, phổ nhạc, tổ chức văn nghệ, sinh nhật tập thể và tham dự vào các hoạt động cộng đồng.

Qua đến năm 2020 cũng như các đoàn thể khác, vì Covid 19 hội viên Lạc Việt phải Thiền tại gia một thời gian cho đến ngày chủ nhật 16 tháng 5-2021 tổ chức đại hội hồi sinh cùng nước Mỹ. Chúng tôi có dịp gặp lại các bạn cao niên tưởng rằng người đã đi xa mà vẫn còn quanh đây. Phúc đức vô cùng.

Trong dịp này bạn Chinh Nguyên loan báo xin về tạm nghỉ mời không quân phi hành Lê văn Hải thay thế.

Cựu Chủ Tịch Chinh Nguyên bàn giao ấn tín cho Tân Chủ Tịch Lê Văn Hải

Anh Hải là gương mặt quen thuộc của cộng đồng Việt tại Bắc CA. Đây là chủ nhân của tờ báo Mõ nổi tiếng San Jose. Hải Mõ đã đích thân tham dự vào hầu hết các sinh hoạt cộng đồng , văn nghệ và xã hội tại địa phương. Anh Hải vừa viết báo vừa là họa sĩ vẽ tranh đồng thời cũng là ca sĩ đồng ca và hoạt náo viên cho các chương trình vận động quần chúng.

Một trong các ưu điểm của Lê Văn Hải là nhân vật hào phóng đã từng là Mạnh thường quân của hầu hết các hoạt động gây quỹ thường niên. Từ chương trình Homeless, cứu thuyền nhân, thương phế binh, gửi quà về quê hương tất cả đều có Mõ San Jose nhiệt thành tham dự. Mỗi lần công tác dù đóng vai chánh hay phó, Mõ San Jose không ngần ngại bảo trợ toàn phần hay quá bán. Anh lo chu đáo các phần quà dưới đĩa ăn hay dưới gầm bàn. Những tác phẩm hội họa và những chai rượu chuẩn bị biếu quan khách.

Trong buổi chiều hội ngộ giữa tháng 5 chúng tôi thấy phần trình diện của anh chị em Lạc Việt đông đảo và vui tươi. Đây là hình ảnh đẹp đẽ nhất của tổ chức sau hơn 30 năm sinh hoạt. Công của anh Chinh Nguyên rất nhiều. Cố vấn Hà Thượng Nhân khi ra đi có để lại câu thơ bất hủ. Những mái đầu cất cao. Không một lời than thở. Câu thơ này nên dành tặng cho bà Chinh Nguyên. Anh Chinh nhờ vợ đảm đang đã giúp anh xây dựng Lạc Việt. Trong cái thế giới hợp đoàn của cộng đồng Việt tại Hoa Kỳ, chỉ có Chinh Nguyên là hội trưởng duy nhất giao cho phu nhân công tác đi đón các hội viên già mỗi lần họp mặt. Nàng cúi đầu lặng thinh, không một lời than thở. Đằng sau người đàn ông thành công luôn luôn có một người đàn bà. Vậy đằng sau người đàn ông thất bại thì có ai. Xin trả lời: 2 Người đàn bà.

Thi văn đàn Lạc Việt họp mặt năm nay đàn bà nhiều hơn đàn ông với nhiều tác giả là phụ nữ. Ưu điểm đáng ghi nhận là có sự hiện diện của ông Dương Huệ Anh đã ngoài 90 tuổi. Chủ tịch sáng lập vui mừng nhìn thấy tổ chức của bác vẫn còn vững mạnh.

Người sáng lập Văn Thơ Lạc Việt, hiện là cố vấn VTLV Dương Huệ Anh (Giữa, đội mũ)

Chỉ tiếc thay cho bạn tôi là bác Đông Anh hiện nay đầu óc quá lơ mơ. Mỗi buổi sáng ông Tạo ngủ dậy gặp vợ lại tưởng là người lạ bèn cất tiếng chào. Mười năm trước chị Tạo còn nghĩ rằng nhà thơ nói đùa, nhưng ngày nay em biết rằng chàng chẳng còn nhớ em là ai.

Riêng phần chúng tôi, xin cảm ơn Chinh Nguyên vẫn còn nhớ đến cố vấn Giao Chỉ. Riêng cảm ơn anh Mõ Hải tặng cho tấm tranh kỷ niệm. Nhờ có buổi chiều Phú Lâm tôi gặp lại các bạn cố vấn trên 80 tuổi. Chẳng phải lần đầu nhưng vẫn có thể là lần cuối. Văn nghệ nghiệp dư nhưng vẫn không kém phần linh động. MC lảnh lót làm tròn bổn phận. Diễn giả nói chuyện ngắn gọn đầy đủ thân tình. Thực đơn Phú Lâm ngon lành và chu đáo. Các tác giả giới thiệu sách rất phong phú và nhiệt thành.

Bác Nguyễn Đức Cường nguyên tổng trưởng kinh tế VNCH đã mua một số tác phẩm và gửi lời khen ngợi ban tổ chức. Chúng tôi cũng gửi tiền anh Chinh Nguyên để mua sách cho thư viện của Museum.

 Nhìn khung cảnh ấm cúng của các bạn, tôi muốn mời một lần sau đến chơi chỗ của chúng tôi tại Viet Museum.                            

 Thân ái.

Giao Chỉ San Jose.




(thơ song ngữ) CON LÀ CON MÈO TRẠNG QUỲNH CỦA MẠ của HUY PHƯƠNG & THANH-THANH




BÌNH YÊN TRONG TÂM HỒN

BÌNH YÊN TRONG TÂM HỒN

KIỀU MỸ DUYÊN

Ký giả Kiều Mỹ Duyên

Tìm về thiên nhiên, tìm sự thanh thản, an nhiên cho tâm hồn.

          Làm bất cứ nghề gì cũng mong có sự bình yên trong tâm hồn, tối về nhà phải ngủ ngon, muốn thế phải học hỏi không ngừng, học ở trường không chưa đủ, phải học ngoài đời, học từ những người có nghề nghiệp có kiến thức uyên thâm. Tốt nghiệp đại học 4, 6, 8 năm ai cũng có thể học được, nhà nào cũng có con tốt nghiệp đại học, nhưng học ở đại học thì học lý thuyết nhiều hơn là thực tế, thực tế là phải học từ những người có kinh nghiệm truyền dạy.

          Văn phòng của chúng tôi, Ana Real Estate có lớp hàng tuần huấn luyện cho chuyên viên địa ốc trở thành chuyên nghiệp. Muốn không bị thưa kiện thì phải học không ngừng nghỉ, học để hiểu biết, học để làm việc với khách hàng một cách thuyết phục và nhận được sự tin tưởng từ khách hàng. Khách hàng nói chuyện với chuyên viên địa ốc chừng 5- 10 phút là biết ngay chuyên viên địa ốc đó có kiến thức  hay không?

          Chúng tôi thường mời những chuyên viên liên quan đến nghề địa ốc đến văn phòng để hướng dẫn các chuyên viên của chúng tôi. Các chuyên viên cũ hay mới cũng phải học, học không ngừng nghỉ. Chúng tôi huấn luyện chuyên viên nghe nhiều hơn nói. Nếu nói nhiều quá rồi không biết mình nói gì? Lắng nghe nhiều hơn là nói, phải biết khách hàng mình cần gì, muốn gì, họ ao ước có cái nhà để ở, người khác thì muốn bán nhà nhanh, v.v.

          Thứ bảy, chủ nhật nào văn phòng của chúng tôi cũng có lớp. Sự học hỏi rất cần thiết cho người cầu tiến, mong làm việc với khách hàng một cách hữu hiệu. Nếu đồng hương muốn bán nhà, chỉ cần đặt vài câu hỏi với chuyên viên là biết ngay họ có kiến thức hay không?

          – Anh chị làm nghề địa ốc bao lâu rồi? Học bao nhiêu lớp huấn luyện sau khi có bằng địa ốc? Học với ai? Những lớp học đó tên là gì? Hằng năm có tiếp tục học những luật mới của địa ốc không?

          – Anh chị bán được bao nhiêu căn nhà rồi? Nhà đó ở thành phố nào?

          Chuyên viên địa ốc hỏi người đi mua nhà làm lương bao nhiêu, cho xem giấy tờ khai thuế, tiền để trong nhà băng, tín chỉ bao nhiêu điểm, v.v.? Tại sao người mua nhà không hỏi lại chuyên viên địa ốc chứ?

Các chuyên viên địa ốc văn phòng Ana Real Estate được các chuyên gia training mỗi tuần. (Trong hình: Duke Nguyen, Cảnh Sát tư pháp, nguyên là ứng cử viên Cảnh Sát Trưởng của Orange County(áo cam) huấn luyện các agents cách tự vệ và bảo vệ khách hàng khi đi xem nhà)

          Nếu ai có hỏi tôi rằng chị bán được bao nhiêu căn nhà? Tôi sẽ trả lời ngay những nha tôi đã bán ở các thành phố khác nhau như ở các quận Los Angeles, San Jose, Riverside, San Bernardino và Orange County.

          Ngày xưa, tôi mới vào nghề địa ốc mấy tháng có người hỏi tôi rằng chị làm nghề địa ốc, chị khuyến khích đồng hương mua nhà, vậy thì chị mua nhà chưa?

          Tôi trả lời ngay, tôi vừa làm nghề địa ốc mấy tháng tôi mua nhà ngay. Tháng đầu tiên, tôi đã bán và list 23 căn nhà, chiếm giải thưởng của miền Nam California. Đó cũng là nhờ có gia đình giúp đỡ, cắm bảng open house, in tờ bướm, phát tờ bướm và nhiều thứ nữa. Nếu không tin, tôi sẽ cho địa chỉ nhà, quý vị có thể tìm ra ngay nhà đó là nhà của tôi. Trước khi vào nghề địa ốc, tôi tin tưởng rằng tôi có khả năng làm nghề này, và có khả năng mua nhà trong thời gian rất ngắn. Đúng vậy, ngụ ngôn của Pháp rằng muốn thì được (Vouloir, c’est pouvoir). Người nào quyết tâm làm việc gì đó sẽ được và sẽ thành công nếu cố gắng và học hỏi không ngừng, và yếu tố quan trọng sống làm sao để cho đồng bào thương. Người ta thương mình thì không bao giờ sợ đói, không ai chết đói vì thiếu ăn, nhưng chết vì thiếu tình thương.

          Càng lớn tuổi chúng ta mới cảm nhận được tình thương quan trọng nhất trên đời này. Nhiều người không sợ thiếu cơm, thiếu áo mà sợ cô đơn, cô độc .       

          Làm bất cứ việc gì cũng mong sự bình yên trong tâm hồn, tiền rừng bạc biển mà tối ngủ không ngon thì cũng chết sớm.

          Ai cũng mong được thương yêu, muốn người ta thương mình, mình phải thương mình trước. Làm việc tối tăm mặt mũi không có thì giờ để ăn thì không nên. Phải ăn uống điều độ, phải nghỉ ngơi. Có nhiều người lớn tuổi làm việc tận lực vì biết mình không còn sống bao lâu trên thế gian này. Điều đó không nên, nếu mình biết giữ sức khỏe, ăn uống điều độ, ngủ đúng giờ, ngủ ngon giấc, biết đâu mình sống lâu hơn, giúp người khác nhiều hơn.

          Tôi thường khuyên người thân của mình sống làm sao để được mọi người thương thì không bao giờ sợ đói. Dù đi đến đâu hay ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng không bao giờ sợ đói, đói là do mình mà thôi. Sống để người ghét mình thì sợ không toàn mạng chứ đừng nói đến việc người ta cho mình ăn.

          Tình thương vô hình nhưng cần thiết trong đời sống của mọi người. Nhiều người cho rằng người ở Việt Nam có nhiều tình cảm đậm đà, sâu sắc vì người ở Việt Nam có nhiều thì giờ hơn người ở Mỹ. Người ở Mỹ làm việc tối tăm mặt mũi không còn thì giờ để nghĩ đến người khác? Nói như thế cũng không đúng. Mình phải tự hỏi mình là ai? Mình có trong trái tim của người nào đó không? Một ngày có 24 giờ, người nào cũng có bao nhiêu đó thời gian, sở dĩ người này không nghĩ đến người kia vì trong trái tim của họ không có mình.

Hãy trao nhau yêu thương và sự quan tâm.

          Tôi có nhiều người bạn tuyệt vời, dù bận rộn thế nào bạn tôi vẫn gọi thăm tôi thường xuyên, không bao giờ bạn tôi nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ. Tại sao mình có thì giờ ăn một ngày 3 bữa, có thể ngủ một đêm 8  giờ mà không có vài ba phút để gọi thăm bạn mình, vì mình không có trong trái tim của bạn mình. Đã là bạn thì không bao giờ than không có thì giờ. Đến lúc nào đó, người ta không cần cơm áo gạo tiền mà chỉ cần đến tình thương và sự quan tâm.

          Tôi đã từng nuốt nước mắt vào tim khi nhìn những người già trong viện dưỡng lão không thân nhân thăm viếng, chỉ trừ những người làm việc thiện nguyện. Họ là những người một thời vang bóng, có thanh danh trong xã hội, nhưng khi về già sống cô đơn trong viện dưỡng lão. Hơn 40 năm nay, tôi có mặt thường xuyên trong các viện dưỡng lão ở miền Nam California. Tôi nghe ông bà cụ tâm sự về con cháu, về quá khứ của họ mà tôi xúc động.

          Tình thương, tình thương và tình thương cần lắm, rất cần cho mọi người. Tình thương người với người vô giá, sống vui với tình thương của những người trong gia đình, trong cộng đồng, với những người xung quanh. Buổi chiều về nhà, thấy ánh đèn long lanh, nghe tiếng cười của trẻ thơ, nhìn ánh mắt ấm áp của người lớn tuổi đã thấy ấm lòng. Thương yêu và sống vui vẻ, hạnh phúc thì còn gì bằng?

Càng lớn tuổi, tôi càng tin vào thuyết Nhân Quả của nhà Phật.

          Càng lớn tuổi, tôi càng tin vào thuyết Nhân Quả của nhà Phật, người nào làm việc xấu thì gặp việc xấu đến, người nào làm việc tốt thì mọi sự tốt lành sẽ đến. Sống làm sao được bình yên trong tâm hồn là đủ, giàu nghèo sang hèn đâu có gì quan trọng, sống mình biết đủ là đủ. Hãy nhìn tính tốt của người khác, người nào cũng có tính tốt, tại chúng ta không nhìn thấy mà thôi?

          Quan niệm của tôi không nghe việc xấu của người khác, không thấy việc xấu của người khác và không nói việc xấu của người khác. Cuộc sống bình yên, đi làm về tối sẽ ngủ ngon, thắc mắc việc của người khác sẽ khổ thôi, tại sao mình phải mang cái khổ vào thân? Cha mẹ sinh ra con, thương yêu con, nhịn ăn để cho con ăn, tại sao không thương cha mẹ là rước khổ vào thân?

          Biển đẹp, rừng cây đẹp, tiếng chim hót líu lo trên cành, hoa lá màu sắc rực rỡ, rung rinh trong gió tuyệt đẹp. Hãy ngắm nhìn cảnh thiên nhiên đẹp tuyệt vời, vô tư, khong thù oán thì đời đẹp lắm.

          Yêu thiên nhiên, sống với thiên nhiên, sống với tiếng hót của loài chim với giọng cười của con suối, hạnh phúc lắm.

          Muốn bình yên đâu phải lúc nào cũng được bình yên, nhưng khi bị nhức đầu quá thì phải làm sao? Uống thuốc đau đầu ư? Không nên uống thuốc đau đầu, phải tìm đến một vị thần hộ mệnh của mình, vị thần hiện hữu ở trần gian mà mình kính mến để nhờ giúp đỡ. Sự giúp đỡ của vị thần sống là điều tốt đẹp nhất trần gian, vị thần sống biết lắng nghe, biết nói và biết giải quyết vấn đề thực tế, vấn đề rắc rối ở trên cõi trần gian này. Mong rằng mọi người đều có thần hộ mệnh cho mình.

Cầu xin Đức Mẹ hiển linh hằng cứu giúp.

          Hãy tận hưởng những gì mình có, không thắc mắc, không oán thù bất cứ người nào. Sống yêu thương thấy đời đẹp lắm.

          Hy vọng mọi người được yêu thương, sống an vui, hạnh phúc và bình yên. Hãy cho nhau tình thương, mong lắm thay!

Orange County, 18/5/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




THƠ Xướng Họa: HẸN EM – CHỜ ĐẾN RƯỢU KHÔ- Mạc Phương Đình & Phương Hoa + Ca Khúc DÁNG HOA thơ Mạc Phương Đình – Nhạc LÝ KIẾN TRUNG – Ca sĩ Ngọc Mỹ




THƠ Thăm Bệnh Thành Viên VTLV- Dương Huệ Anh & Phương Hoa




THƠ XƯỚNG HỌA “Buổi Chiều Vàng” – LÊ TUẤN, Minh Thúy, Phương Hoa




MỚ TÓC – Cao Mỵ Nhân & TRANH THƠ Lê Văn Hải + THƠ Cảm Tác & Thơ Họa – Phương Hoa & Minh Thúy + Thơ Cảm Tác Lê Tuấn

MỚ TÓC

(Cảm tác từ bài viết “Mớ Tóc” của nữ sĩ Cao Mỵ Nhân)

Mớ tóc ngang lưng vốn mượt mà

Dáng kiều một thuở đẹp như hoa

Áo bay theo gió hồn trong trắng

Tâm quyện cùng mây tuổi ngọc ngà

Sóng biếc làn thu say dũng sĩ

Suối huyền sắc hạ rực gương nga

Đã đành…xuống kéo vì non nước

Tóc ngắn tình dài vẫn thiết tha…

Phương Hoa – May 19th 2021

***

TÓC THỀ

(Họa)

Ngày xưa mái tóc mượt xinh mà 

Thiếu nữ bao thời đẹp tợ hoa 

Hạ đắm khoe tà tô dáng lụa 

Thu say phủ lối điểm thân ngà

Ru mây rắc tím hồn thi sĩ 

Thả gió đơm hồng bóng nguyệt nga

Suối nghiệp đường tình buông quá khứ 

Thay vào kiểu ngắn mộng đời tha 

               Minh Thuý Thành Nội

                   Tháng 5/19/2021

MỚ TÓC

Cao Mỵ Nhân

Nói tới “Mớ tóc” thì không có thể ngắn trên cổ áo như quy định của đoàn Nữ Quân Nhân Quân Lực VNCH chúng tôi thủa trước 30 -4 -1975 được.

Mớ tóc mà quý vị thường thấy trong cuộc đời đàn bà con gái, là những mái tóc dài từ ngang lưng đến phết gót, còn gọi tóc dài đến quét đất, mới là rõ ràng.

Hôm nay tôi nghĩ về những mái tóc dài của quý vị nữ lưu xứ Bắc kỳ ngày xưa, khi tôi lớn lên được thấy.

Và những mái tóc thề thả ngang lưng mà cả một nền văn hoá Huế không thể thiếu, nếu nhắc đến hay bàn về “Mớ tóc VN”

Riêng “Mớ tóc” phụ nữ miền Nam, thì hầu như đã “quốc tế hoá” lâu đời rồi .

Thế thì để đan cử một hình ảnh chung chung rõ nét nhất, tôi xin phép được kể về “Mớ tóc” của tôi.

Khi tôi đưa “Mớ tóc” của tôi ra ánh sáng, là phần nhận xét thắng thế của …anh đã “bất chiến tự nhiên thành”, hay là anh sẽ cười thầm tôi: “Chẳng ai khảo cũng xưng ra, dại thế, hoặc: khờ chi lạ, tự dưng thưa: lạy ông, tôi ở bụi này …”

Nghĩa là tôi rất không phụ nữ tí nào khi bàn tán về mái tóc của mình, lẽ ra phải dấu kỹ , bởi vì “Cái răng, cái tóc là góc con người”, mình phải huyền bí cho đời điểm trang chứ.

Chu choa, tôi lại nghĩ đơn giản thôi, được kể lể về mái tóc rất thờ ơ của mình, có lẽ  chỉ kể từ lúc còn để bum bê, khoảng 5,6 tuổi trở lên thôi, chứ trước nữa, tôi chỉ nhớ qua những tấm ảnh, giống như kể về tóc của ai không phải mình.

Vâng, thưa quý vị “Mớ tóc” của tôi bắt đầu xuất hiện thế này :

Trước hết, giai đoạn còn được lệ thuộc vào bố mẹ, ở Chapa Laokay Bắc Việt, khoảng đã 5,6 tuổi rồi, tôi chả cần soi gương cũng biết mỗi lần tóc lởm chởm ngang vai, là lập tức 2 chị em tôi bé nhất nhà, phải ngồi ở cái tràng kỷ, đợi bố tôi mang cái kéo cỡ vừa và cái lược sừng của chung cả nhà vẫn vắt vẻo trên giá gương ngoài sân vào nhà khách, rồi bảo : “Con MỸ cắt trước”, tức là chị Mỹ tôi phải cắt tóc trước.

Đương nhiên tôi phải đợi bố cắt tóc cho chị Mỹ tôi xong, mới tới lượt tôi.

Tôi không an tâm tí nào, lo lắng cái lưỡi kéo nó xước vào da mặt hay chiếc cổ ngoan cố cứ ngó ngoáy của mình.

Thậm chí có lần nước mắt cứ chảy vòng quanh vì sợ quá. Nếu mẹ tôi vô tình đi ngang, hay mẹ tôi cố ý đứng lại coi bố tôi cắt tóc cho 2 con bé gái thế nào, thì tôi là người nắm chặt tay mẹ, cúi mặt xuống, thút thít khóc.

Bố tôi không nhìn vì còn đang để tâm vào cắt tóc cho chị Mỹ tôi cơ mà, nhưng ông lại nói:

“Cái con Mỵ này mới hay, đã tới lượt mày đâu mà khóc chứ”

Khi nghe bố khẳng định chưa tới lượt tôi cắt tóc, tôi cũng lơ mơ hiểu là việc cắt tóc vô cùng dễ sợ, nên chưa chi tôi đã khóc rồi.

Thế là tôi khóc oà lên, thổn thức xin mẹ tôi cho tôi không phải cắt tóc trời ạ.

Tất nhiên chuyện cắt tóc đã là thường kỳ, chả biết bao lâu một lần, nhưng hễ tóc chấm vai, là bố tôi đã cho kéo tung hoành trên  “Mớ tóc” bé thơ của chị em tôi, biến mớ tóc thành hình “cánh cửa” .

Tóc cánh cửa là tóc để thẳng vòng quanh đầu, riêng phần trán cắt ngang, cho tới sau này, đã già rồi, mà tóc tôi vẫn đang chơi kiểu bum bê hình cánh cửa gọn gàng, dễ gội, chẳng cần phải uốn éo tóc kiểu gì cho mất thì giờ nữa .

Thế rồi tôi ngồi vào ghế đầy tóc rơi của chị tôi, mẹ tôi rũ cái khăn che trước ngực tôi, cột chéo quanh cổ tôi, bố tôi ngó tôi khổ sở vì cắt tóc, cười với mẹ tôi:

“Con MỸ nó ngoan thế, bố cắt mau mắn xong rồi, mà hễ cứ con MỴ này là nó cọ quạy sợ hãi như chết đến nơi vậy”.

Tôi được mẹ tôi ngồi cạnh, cầm bàn tay toát mồ hôi trộm của tôi, tôi cứ nhìn mẹ tôi chăm chăm khổ não. Cho tới khi bố tôi buông kéo, chải tóc tôi, rồi rũ khăn phành phạch, tôi mới hoàn hồn.

Sau giai đoạn tóc “cái cửa”, là tóc bờm xơm, vô tổ chức.

Bấy giờ tôi quanh tuổi lên 10, học tiểu học trường nữ tiểu học Lệ Hải ở Hải Phòng.

Đã bắt đầu mặc áo dài đi học. Chị em tôi có khá nhiều áo dài. Nhưng đặc biệt “Mớ tóc” thì tôi quên béng.

Lúc nhớ là bố tôi cho mỗi đứa một cái lược xước bằng nhựa …Mỗi lần chải tóc xong, là xước cái lược lên tóc, từ trán đẩy ra sau, thay cho kẹp như các chị lớn ngoài đường.

Chị Mỹ tôi lược mầu xanh, tôi mầu hồng.

Rồi từ bỏ lược xước lúc nào không hay. Tóc tôi thả ngang vai, chúng tôi vẫn chưa quan trọng “Mớ tóc” như các bạn tuổi “Teen” bây giờ.

Sau đó, lớn hơn vài tuổi, tóc chúng tôi đã kẹp đuôi gà. Tức là tóc đã dài hơn, túm lại đằng sau, rồi kẹp lại bằng một cái kẹp ba lá.

Chúng tôi đã lên trung học, tóc dài lúc nào cũng không hay như giai đoạn vừa kể trên.

Tôi cũng đã làm thơ và viết truyện nhi đồng gởi đăng báo .

Di cư vô Nam, học nữ Trung học Trưng Vương với “Mái tóc dài quá lưng,” nhưng vẫn kẹp lại.

Một số bạn bè đã uốn tóc. Chị lớn nhất nhà tôi, tên Thy đã uốn tóc cho hợp không khí Saigon.

Tôi giữ mái tóc dài này e cũng 5, 6 năm, hết thời trung học .

Thi vô trường Cán sự Xã Hội Caritas của các soeur dòng Nữ Tử Bác Ái, đường Tú Xương Saigon, nhận bộ đồng phục trắng của các khoá sinh y tá xã hội và tấm voan che đầu.

Gần như mọi học sinh đó phải để tóc ngắn, mới tiện phủ voan che kín cả phần vai áo blouse và tablier, chỉ một mình tôi trong lớp học 10 chị em là còn tóc dài.

Tôi có thể toàn quyền thay đối “Mớ tóc” chứ, đã nhận học bổng, lại buổi sáng đi tập sự ở các nhà thương, buổi chiều lên lớp học lý thuyết với trên 10 môn học, quá sức bận rộn mà tôi chưa chịu cắt tóc cho gọn gàng, gội chải mau chóng, tôi cứ ôm “Mớ tóc” làm gì cho khổ thân, rắc rối.

Song song với việc theo học nghề “Cán sự xã hội”, tôi còn tham gia hướng đạo, tôi là toán phó toán Lê Ngọc Hân, mỗi tuần phải đi họp một lần ở Hội Nữ Hướng Đạo VN, với bộ xiêm áo Hướng Đạo, cũng nên cắt tóc ngắn chứ.

Song, để thích hợp với 2 sinh hoạt nêu trên, tôi đã chia “Mớ tóc” rất dầy của tôi ra làm 2, thắt bím  cuộn lên cao, hay thả trước ngực.

Như thế cũng tạm ổn với “Mớ tóc” dài của tôi, mặc dầu tôi không ưa thích, mà tôi không cắt ngắn mới là lập dị.

Tới khi học xong, ngày mãn khoá cũng vẫn còn 2 bím tóc trên vai. Song, tình thế bắt buộc rồi, chúng tôi đã chính thức tới Cục Xã Hội Quân Đội, với quân phục hoàn toàn không thể dằng dai thêm “Mớ tóc” cổ điến trước sinh hoạt đoàn thể nữ quân nhân, luôn luôn bay nhảy khắp chốn, khắp nơi với mấy dạng bản quân phục dành cho phái nữ, gồm áo xiêm trong văn phòng, đồ trận treilli nơi công tác như thăm viếng tiền đồn, đồng bằng lũ lụt, lội sóng, qua phà vv…

Nghĩa là không còn cách nào giữ “Mớ tóc” dài được nữa .

Tuy nhiên, vì nhà ba tôi đã rời Tân Sơn Nhứt lên Đalat, tôi phải ở lại trường Caritas của các ma soeur, nên tôi hơi buồn , vì chị em cùng khoá ra ngoài phố ở hết, còn mình tôi với bạn bè các lớp khác của trường Caritas, tôi cảm thấy gần khuôn viên nội trú hơn là ra ngoài xã hội.

Thú thực tôi vẫn chưa có ý định gì về “Mớ tóc” của tôi. Nó như là đang mang một lời nguyền chi đó, tôi cứ băn khoăn, nằm úp mặt xuống gối ngày thứ 7 và chủ nhật trong khu nhà ngủ của trường. Tôi từ chối tất cả bạn bè thăm viếng, rủ đi chơi ăn uống, cine’ vv…

Một ngày kia, chị bạn thân của tôi, sau khi học xong, đã ra thuê nhà ngoài phố để ở cho tự do hơn, vô trường tìm tôi, chị ấy thấy tôi nằm khóc, thì cười khuyên rằng:

 “Mớ tóc”  dài thì đẹp đấy, nhưng nó không còn thích hợp với Mỵ nữa rồi. Thay đồ đi chơi mau…”

Tôi buồn thì đi chơi thôi, chị bạn kêu cyclo đến thẳng Tiệm uốn tóc ở ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt Saigon.

Chị nói với chủ tiệm : “Cắt tóc ngắn cho cô này cao trên cổ áo” .

Chủ tiệm uốn tóc là chú Tàu, đảo mắt qua “Mớ tóc” tôi, dừng lại ở cặp mắt đỏ hoe của tôi. Chú ta gật đầu cười như dỗ dành :

“Không sao đâu, tôi sẽ làm cho một mái tóc lẹp ( đẹp).

Vừa nói xong, không đợi tôi trả lời, chú Tàu đưa kéo lên cắt một chùm tóc đánh xoẹt đã, rồi đủng đỉnh mang một lô sách mẫu tóc cũ mới lẫn lộn tới trước mặt ghế tôi ngồi:

“Coi đi, muốn kiểu nào, tôi cắt cho kiểu đó…”

Chị bạn tôi cười rũ ra, nhìn “Mớ tóc” bị cắt một chùm của tôi: ” Bây giờ thì bắt buộc phải cắt tóc ngắn rồi, thực tế đã phải cắt thành kiểu, chứ Mỵ để tóc vầy đi về hả ? “

Tôi không cười được, mà khóc thì càng vô lý hơn .

Cả một sinh hoạt nghề nghiệp nhà binh bắt buộc rồi, đến nam quân nhân còn phải hớt tóc ngắn nữa là tôi, nữ quân nhân mặc xiêm y hằng ngày, tóc dài sao được .

Tôi chỉ một mái tóc thẳng, cúp vào cổ áo, chính là mái tóc bây giờ tôi vẫn để kiểu đơn giản đó đấy.

Chú Tàu cắt từng lọn tóc tôi thả xuống đất, tôi nhìn theo, chị bạn tôi thì dửng dưng vì chị uốn tóc quá lâu rồi.

Hình như con người ta, có vô tâm vô tính thế nào đi nữa, thì đứng trước cảnh hồn nhiên, nếu không muốn nói là “thánh thiện” cũng phải xúc động.

Chú Tàu cắt tóc tôi thủa ấy, cứ thỉnh thoảng lại chép miệng : “Uổng quá, nhưng nghe cô này nói, là chị bạn tôi, cô phải tóc ngắn mới đúng luật đi làm hả ?”

Tôi không trả lời, chợt nghĩ tới hàng chục những người thân quen mà từng ca tụng “Mớ tóc” tôi sẽ hoặc cười vui, hoặc lặng người đi, khi thấy mái tóc ngắn của tôi lát nữa đây.

Chị bạn mời tôi đi ăn cơm tiệm, đi coi một phim ở rạp Eden, rồi đưa tôi về trường Caritas mà hơn 3 năm chúng tôi nội trú, nay tôi đơn lẻ về trường với “Mớ tóc” lạ …

Nhưng mái tóc ngắn này lại phù hợp với không khí và khung cảnh trường Caritas của các soeur tây phương, mà đa phần là các nữ sinh người Pháp, lai Pháp, hay cô nhi Pháp bị bỏ lại…

Tôi vừa xuất hiện ở phòng ăn tối , thì tất cả reo lên :

“Cleopatre”, lý do tôi đã cắt “Mớ tóc” dài cố hữu của tôi, thành một mái tóc thẳng

cúp vào, mà bấy giờ chú Tàu cắt tóc đã không cắt ngắn lắm, còn một chút phủ tới vai, nên giống mái tóc Cleopatre đang chiếu ở các rạp Saigon mùa hè năm 1963 .

Như vậy tôi đã bỏ “Mớ tóc” dài 55 năm nay.

Anh mỉm cười bâng quơ: “Bây giờ photoshop  “Mớ tóc” cho người thơ tìm lại hình ảnh cũ nha, nhưng muốn Mớ tóc dài để làm chi đây?”

Cũng chẳng cần nữa, khi anh gặp mình, mái tóc đã ngưng chảy cả nửa trăm năm rồi mà.

Chúng ta hãy giữ gìn những gì chúng ta đang có, đừng để mất đi, như tôi bây giờ đã thân quý mái tóc ngắn, đã không thể để dài hơn quá cổ áo.

Cái răng cái tóc là góc con người thật. Một khi không còn chúng, là chính ta xa lạ ta hàng vạn …dặm trường rồi .

              CAO MỴ NHÂN

MÁI TÓC

(Cảm tác Lê Tuấn)

Cái gốc con người mái tóc bay

Làm thân con gái thuở hoa cài

Ai mà chẳng muốn người say đắm

Nhiều bóng tình quân, theo gót hài.

*

Ửng hồng đôi má, tuổi hoa niên

Hoa cài mái tóc đẹp như tiên

Say đắm hồn ai làm thi sĩ

Vóc dáng ngây thơ, nụ cười hiền.

Lê Tuấn




THƠ Chuyển Ngữ: PHÁP, VIỆT – PHÁP, ANH, VIỆT — Đỗ Quang Vinh




Mùa Xuân Và Thi Nhân Video Phần 3




BÀI THƠ Lục Bát “Điểm Danh” CHÚC MỪNG Ngày Hội Ngộ VTLV – Nhà Thơ Cố Vấn DƯƠNG HUỆ ANH, Thư Cảm Nhận của Cố Vấn VTLV NGUYÊN PHƯƠNG, Thư Cám Ơn của MINH THÚY, và Thư Cảm Nhận Của Nhà Thơ Hoàng Mai Nhất




LỜI CẢM TẠ của Tân Chủ Tịch VTLV, TÂM THƯ CỦA THANH XUÂN – Tổng Thư Ký VTLV, và YouTube Chiều Hội Ngộ & Lễ bàn Giao – Trưởng Ban Media Lê Tuấn




Chiều Hội Ngộ VTLV 5-16-2011

Chân Thành Cảm Tạ

Quý Niên Trưởng, Quý anh Chị trong Gia Đình Văn Thơ Lạc Việt.

Đã tham dự, góp tay, để Buổi Chiều Hội Ngộ 2021,  đã Thành công Tốt đẹp, hơn cả những gì mong ước!

Buổi tiệc tuy đơn sơ, nhưng lại đạt được những ưu điểm hiếm có sau:

-Mở đầu cho một sinh hoạt văn nghệ, tụ tập đông người, sau hơm một năm bị cấm đoán.

-Quy tụ những Nhà văn, Thi sĩ thành danh, lão thành cũng như trẻ tuổi, nhiều nhất tại Bắc Cali.

-Nhiều Tác giả ra mắt Tác phẩm nhiều nhất!

-Không khí văn nghệ, yêu thương hiếm có.

Để có được kết quả tốt đẹp này, là nhờ sự góp sức của tất cả Quý Anh Chị, nhất là Anh Chinh Nguyên.

Thật vui, hạnh phúc được cộng tác, làm việc với tất cả Quý vị, lúc nào cũng yêu thương nhau như tình trong Gia đình.

Một lần nữa, xin được gởi lời cảm tạ chân thành, với cả Trái tim! Cám ơn! cám ơn nhiều…nhiều…thật…nhiều!

LVHải

https://www.youtube.com/watch?v=6agMbIzrWVA



Thơ MỪNG CHIỀU HỘI NGỘ – Phương Hoa + Bài Họa Minh Thúy & Thơ CHÚC MỪNG – Thư Khanh & Bài viết + YouTube Mạc Phương Đình




Thơ NGÀY HỘI NGỘ, Thơ CHÚC MỪNG của nhà thơ THƯ KHANH, & Tường Thuật của nhà thơ, nhà báo MẠC PHƯƠNG ĐÌNH




Đêm Trong Tù

Cánh cửa tù đóng lại, ngày đã tắt

Những kiếp người ray rứt sống trong tù

Từ bên trong ta nhìn qua khung sắt

Ánh trăng đêm, làn sương trắng xa mù.

Đêm rùng rợn ta thấy toàn bóng qủi

Qủi giam người, loài qỉu đỏ, ma trơi

Chúng lấp ló dưới trời đêm trăng tỏ

Canh giữ tù, rình rập uống máu người.

Ta tỉnh thức giữa tha ma mộ địa

Nghe âm vang, đau buốt lóng xương gầy

Tám năm qua, chừng ấy là vô tận

Chừng ấy thời gian, gẫy cánh chim bay.

Quen với cõi trời, không còn nắng mai

Trời sáng mà sao, đêm vẫn nối dài

Tuổi ta đã quá nửa đời sương gió

Sao vẫn còn thêm, mảnh vụn tù đày.

AET Lê Tuấn

Nỗi đau buồn đã trải qua tám năm tù đày

Dưới chế độ cộng sản

Mùa Xuân Trong Tù

Một dải đường xa, xa rất xa

Sâu thẳm rừng hoang bóng sương mù

Xuân chợt đến, quặn đau nỗi nhớ

Kiếp thân tù, tàn giấc thiên thu.

Ta tưởng thời gian bị lãng quên

Nào ngờ hoa nở nhắc ngày xuân

Tám năm cạn lòng thương sông núi

Một nhánh hoa xuân, nhắc tình gần.

Tết này, còn mang nặng kiếp tù

Ngắm hoa buồn tựa như lá thu

Hạt bụi mưa xuân, đọng trên mắt

Nghe tiếng thở than, bóng sương mù.

Mẹ vẫn chờ mong Tết con về

Nào ngờ, vạn dặm bóng sơn khê

Chợt nghĩ mà đau lòng nỗi nhớ

Mắt mẹ buồn đau giọt lệ mờ.

Anh vẫn chưa về Tết năm nay

Em buồn như mùa thu lá bay

Ngọn gió xuân tình hiu hắt thổi

Cánh nhạn trời xuân, tung cánh bay.

Nghe tiếng thời gian, thèm nỗi nhớ

Nhan sắc mùa xuân đã úa tàn

Nhớ thương nhau tìm trong giấc mộng

Mùa xuân về, hoa lá trên ngàn.

AET. Lê Tuấn

Mùa xuân trong tù

Tại miền trung bắc việt




Thơ Xướng Họa: THIỀN VÀ MÙA XUÂN – Lê Tuấn, Minh Thúy, & Phương Hoa




Thành Kính Phân Ưu: BÉ KÝ, NỮ HỌA SĨ TIÊU BIỂU, NỔI DANH NHẤT VIỆT NAM VỪA TỪ TRẦN!

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

**

VĂN THƠ đưa tiển một nhân tài

LẠC VIỆT chia buồn, thương tiếc thay

BÉ KÝ một đời danh sáng mãi

Cọ Tiên trọn kiếp tiếng lưu hoài

Phối màu nét trải tranh rồng lượn

Tốc họa bút vờn ảnh phụng bay

Đã hết nợ trần rời thế tục

Chúc người an lạc chốn Thiên Thai

Văn Thơ Lạc Việt

Phương Hoa – May 13th 2021

Bé Ký Khi còn trẻ

Nữ họa sĩ Bé Ký, một tên tuổi gắn liền với nền hội họa của người Việt Nam, được giới hội họa ngoại quốc biết đến nhất, vừa qua đời, vào chiều hôm qua, Thứ Tư, 12 Tháng Năm, tại tư gia ở Westminster, hưởng thọ 83 tuổi.

Tin này được Ông Cung, con trai của họa sĩ Bé Ký xác nhận và thông báo cho các bạn hữu.

Ông Cung kể: “Mẹ mất vào khoảng 2 giờ đến 6 giờ chiều. Tôi về nhà thì thấy bà mất trong lúc ngủ và đang nắm tay ba. Mẹ tôi không chỉ là một người mẹ bình thường, và còn là một họa sĩ rất thành công mà nhiều người đã biết.”

Nữ Họa sĩ Bé Ký, tên thật là Nguyễn Thị Bé, sinh năm 1938 ở Hải Dương, Bắc Việt. Bà mồ côi cha mẹ từ lúc 8 tuổi. Thiếu tình thương, vì vậy, điều đó ảnh hưởng nhiều tác phẩm của bà, đã tạo ra những bức tranh với nội dung tràn đầy tình mẫu tử.

Sau khi di cư, bà sống với cha mẹ nuôi, khi vào miền Nam. Sau đó, tìm lại được cha mẹ ruột sau năm 1975, nhưng tất cả đã qua đời.

Về hội họa, bà tự học vẽ từ nhỏ và được các họa sĩ như Trần Đắc, Trần Văn Thọ và Văn Đen chỉ dẫn.

Bà là nữ họa sĩ có nhiều cuộc triển lãm nhất, chính vì thế mà hội họa thế giới biết về bà nhiều nhất. Từ năm 1957 đến 1975, bà có đến 16 cuộc triển lãm ở Sài Gòn, có tranh bán nhiều nhất! có giá nhất!

Sau khi đến Hoa Kỳ vào năm 1989, bà cùng chồng là họa sĩ Hồ Thành Đức và gia đình sống ở thành phố Westminster, California. Các tác phẩm của bà cũng được trưng bày tại nhiều cuộc triển lãm tại rất nhiều tiểu bang, và còn được trưng bày tại nhiều Học Viện nổi tiếng của Hoa Kỳ.

Sự ra đi của nữ họa sĩ Bé Ký là một mất mát lớn đối với nền hội họa của người Việt Nam, vì bà có rất nhiều tác phẩm cống hiến độc đáo trong lãnh vực này.

Họa sĩ Bé Ký là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên theo con đường hội họa, với nét tốc họa theo đường lối mới, rất đặc biệt. Nét vẽ của bà khó ai có, khó ai bắt chước được. Bà tự học vẽ từ nhỏ, và bắt đầu vẽ tranh từ lúc còn rất trẻ.

Những tác phẩm của họa sĩ Bé Ký rất phóng khoáng, đầy tinh thần, tình tự đáng yêu của dân tộc, thể hiện được nhiều mặt sinh hoạt của xã hội.

Tranh của bà có đề tài rất gần gũi với đời sống, lúc thì

 vẽ người bán hàng ngoài đường, thợ hớt tóc, lấy ráy tai, đá gà, đi chợ…nên ai cũng thích. Từ lúc trẻ, bà đã được báo chí Pháp, Âu Châu ca ngợi rất nhiều.

Sự ra đi của bà là mất mát lớn nền hội họa Việt Nam, nhất là đối với phái nữ, vì bà là đại diện tài năng vẽ cho họ trong nhiều năm, trong lãnh vực hội họa thế giới. Cho đến bây giờ vẫn chưa thấy họa sĩ nữ nào thay thế vị trí này được cả.

Văn Thơ Lạc Việt xin gởi lời chia buồn đến Họa sĩ Hồ Thành Đức và Tang Gia. Quý vị vừa mất một người thân, Việt Nam trong lãnh vực hội họa, mất một Họa sĩ tài năng hiến có.

Focus on six candles in foreground.

(Lê Văn Hải Theo NV)




Bà Huyện Thanh Quan – VTLV Mạn Đàm Phần 5




GIỚI THIỆU: Thi Tập Thơ Xướng Họa Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ -Phương Hoa

Thi Tập Thơ Xướng Họa Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ

Phương Hoa

Tôi quen biết nhị vị thi sĩ Cao Mỵ Nhân (Hoa Kỳ) và Trịnh Cơ (Pháp Quốc) cũng đã được mấy năm, khởi đầu từ trên những diễn đàn Đường Thi xướng họa. Tôi rất quý mến và ngưỡng mộ họ, và tôi cũng biết, cả hai đều từng là quân nhân Việt Nam Cộng Hoà, là anh kiệt và anh thư phục vụ nước nhà từ trước 1975 cho đến ngày tan đàn xẻ nghé.

Nhà thơ đàn chị Cao Mỵ Nhân thì tôi đã có dịp gặp mặt về sau tại Văn Thơ Lạc Việt, San Jose, Hoa Kỳ. Chị nhìn hiền hoà, rất trang nhã, nhưng ít nói, nét mặt có chút nghiêm nghị và hơi… kỳ bí, kỳ bí như những vần thơ du dương nhưng đầy ẩn ý ẩn tình của chị.  Tôi thích mê sự kỳ bí ấy, cũng thích mê sự phong phú về chữ nghĩa của nhà thơ, và niềm mê thích này đã làm cho tôi đôi khi xúc động tận tâm can chỉ vì đọc được một vài câu độc đáo trong các bài thơ của chị. Mỗi lần đọc thơ Cao Mỵ Nhân tôi thường hay nghiền ngẫm, tìm tòi, để nhận chân và thưởng thức cho kỳ hết những tinh tuý của bài thơ trước khi đặt bút đáp họa.

Riêng về thi sĩ Trịnh Cơ thì tôi chỉ gặp anh qua… bóng. Trong tấm hình, có một chiếc bóng nhìn từ phía sau lưng, dáng người dong dỏng cao với mái tóc hoa râm đang bước độc hành trên con đường dài hun hút tận bên trời Paris, Pháp Quốc.  Dù với dáng vẻ cô đơn lẻ loi ấy, nhưng tâm hồn Trịnh Cơ lại chất chứa ngập tràn những búp nụ, những mầm thơ mượt mà, ngào ngạt hương thơm.  Dù chưa bao giờ diện kiến, nhưng tôi luôn thích đọc thơ của thi sĩ và cố gắng họa lại bài xướng của anh mỗi khi chúng xuất hiện trên các diễn đàn nếu tôi có thời gian.

Trên các diễn đàn, hai nhà thơ nổi trội Cao Mỵ Nhân và Trịnh Cơ vẫn thường xuyên xướng họa cùng chúng tôi trong vẻ vô tư. Nhưng tôi thật bất ngờ, bất ngờ đến giật cả mình, khi hôm nay nhận được tập thơ mà hai vị đang chuẩn bị in chung. Bao ý nghĩ ngộ nghĩnh chợt nảy ra trong đầu tôi, như có lẽ họ đã từng là một cặp “thanh mai trúc mã” ngày xưa, từng bị cách chia kẻ chân trời người góc bể vì quê hương loạn lạc bây giờ gặp lại, có lẽ vì sự trắc trở ấy đã khiến cho hai tâm hồn xao động nên ý thơ mới ngùn ngụt, hồn thơ mới dạt dào, và tình thơ mới lai láng đến thế.  Lòng rộn ràng với những ý nghĩ tò mò đầy thú vị đó, tôi vội buông bỏ tất cả mọi thứ bận rộn đời thường để mở tập thơ ra mà nghiền ngẫm, mà thưởng thức một cách… “triệt để.”

Thấy bài thơ đầu tiên “ANH VÀ 2019” là của thi sĩ Cao Mỵ Nhân, tôi cười thầm trong thích thú. Nhà thơ Trịnh Cơ hiện đang sống ở phương Tây nên thực hiện đúng cái câu “Lady’s First,” phụ nữ luôn ưu tiên số một, để nhường nữ thi sĩ “ra tay trình làng” trước, chứ không phải như phong tục Á Đông mình, đã xem thường thân phận cánh quần thoa, lại còn cho là “Phụ nhân nan hóa,” phụ nữ không dễ gì dạy dỗ, cảm hóa được, và mỗi khi ra đường, người đàn bà thường phải đi phía sau để cho phù hợp với câu “Núp bóng tùng quân” cổ hủ.

Bài đầu tiên trong thi tập, “ANH VÀ 2019,” là bài thơ Lục Bát Cao Mỵ Nhân viết lúc đón Giao Thừa, khi thi sĩ đang ngồi cùng “người ấy” (hay tưởng tượng có người ấy ngồi cùng) nhìn TV chờ đếm phút quả cầu Chào Mừng Năm Mới vỡ tung, nhưng trong lòng không có chút hơi hướm mừng vui hạnh phúc vì được đón Giao Thừa, mà lại chứa đựng ngập tràn tâm tư sầu nhớ.  Hình ảnh sống động nhất tác giả cho thấy trong bài thơ, là nữ thi sĩ đưa tay chặn lên trái tim lúc trái cầu sắp vỡ và nhìn vào TV thấy trời đêm rõ ràng nhưng lại không thấy cố quốc nơi đâu. Nỗi niềm thương nhớ về quê Mẹ Việt Nam trong thời điểm giao Xuân của người con ly hương đã gói trọn vào mấy câu thơ làm xao động lòng người:

“Ở đây không có… Việt Nam

Quả cầu quê mẹ cơ hàn héo khô

Trái tim thất nhịp mơ hồ

Đêm đen đổ xuống nấm mồ giao xuân…” (Anh Và 2019 – CMN – tr. 12)

Người ta nói, thơ Lục Bát dễ làm nhưng làm rất khó hay, và họa thơ Lục Bát thì lại càng không dễ. Chữ nghĩa cần phải lưu loát mượt mà, ý tứ phải sâu xa, và vần điệu phải phù hợp mới là một bài họa hấp dẫn khiến độc giả chăm chú thưởng thức; và quan trọng nhất là, phải tránh tình trạng làm thơ Lục Bát đọc lên nghe như…ca dao, khiến người ta chỉ lướt phớt qua rồi đánh giá bài họa có đúng vần đúng luật hay chăng.  Ở đây chúng ta có thể thấy nữ thi sĩ Cao Mỵ Nhân gặp phải “Kỳ phùng địch thủ.” Nhà thơ Trịnh Cơ đã gom được đủ các yêu cầu ấy trong bài họa “2019 ĐỐI MẶT.”  Chưa kể đến những đối đáp xướng họa khá lý thú trong khổ thơ đầu về chuyện cả hai mơ ước cùng ngồi bên nhau, cùng đưa tay đặt lên tim khi nhìn TV trong giờ Giao Thừa chỉ thấy bầu trời đêm, và đôi bên người thì “xin còn mãi nhau,” kẻ hứa “sẽ còn với nhau,” xin mời quý vị cùng thưởng thức vế họa tuyệt vời của thi sĩ Trịnh Cơ, cũng bày tỏ cái tâm trạng đau buồn vì mất quê hương trong giờ Trừ Tịch cùng với thi nhân:

“Nhìn kỹ… đâu có Việt Nam

Đêm đông lạnh lẽo nỗi hàn lạnh khô

Cây kim đếm nhịp đồng hồ

Như là đưa tiễn đến mồ ngày Xuân” (2019 Đối Mặt – TC- tr. 13)

Tiếp theo, trải dài, xuyên suốt hơn phân nửa tập thơ là phần xướng họa “Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ.  Hai thi nhân với hồn thơ lai láng cứ thế mà thoải mái vung bút trải vần, xướng họa với nhau, chữ nghĩa giao duyên, ý tình hòa điệu, phát họa lên những đường nét sống động, bừng sáng từng chữ từng câu trên từng trang sách gọi mời, khiến cho người đọc mãi mê theo tiếp hết bài này sang bài khác, không thể dừng lại.  Mời bạn hãy xem, bài Lục Bát 4 câu rất mượt mà “Bên Đó” của Cao Mỵ Nhân với những lời than làm nhói lòng người:

“Sao mưa lại lạnh trời thu

Khiến người bên đó thương ru bên này

Mưa đêm thấm ướt hồn say

Người bên đó ngó mưa bay thẫn thờ…” (Bên Đó – CMN – tr. 14)

Thì tiếp theo ngay, bài họa “Bên Này” của Trịnh Cơ cũng làm cho trái tim ai trật nhịp:

“Giọt mưa rỉ rả đêm Thu

Nhớ người bên đó lời ru luống này

Mơ màng trong giấc mộng say

Nửa đêm nghe tiếng lá bay ơ thờ.” (Bên Này – TC – tr 15)

Thơ Lục Bát đã hay đến vậy, đọc những bài Đường Thi xướng họa của hai nhà thơ lão thành càng khiến tôi như bị lạc vào “mê hồn trận.” Đọc một hồi những bài thơ kế tiếp, tôi đột nhiên…nín thở, khi mắt chạm vào bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú “Mảnh Trăng Thơ” của thi sĩ Cao Mỵ Nhân.  Chỉ hai câu mở đầu thôi đã có thể nói là tuyệt tác, và tôi bị chấn động tận tâm can, “Từ lâu, để mực đọng nghiên vàng/Bút cũng âm thầm ngại điểm trang.” Một sự ví von tuyệt hảo! Lời lẽ tuy đơn giản nhẹ nhàng nhưng thật thâm thúy, làm cho người đọc cảm nhận được đây là những tiếng than xé lòng của kẻ cô đơn. Mực đã bị bỏ đọng bơ vơ ở nghiên vàng, thì bút còn điểm trang để làm gì cơ chứ! Hai cặp đối cũng thật tuyệt vời, nhưng tôi phải giữ lại để cho độc giả tự mình thưởng thức mới là thú vị.  Chỉ xin chia sẻ cùng quý vị nơi đây hai câu kết, vì hai câu này đã làm tăng thêm phần đặt sắc cho bài thơ. Bơ vơ thì mặc bơ vơ, tác giả tự nhủ, ta cứ vui cứ đối bóng với thơ, để rồi còn tìm cách bay theo trăng để đi xé nửa cái thiên đàng đã mất. Tự cổ chí kim, chỉ mới có Thi Tiên Lý Bạch đời Đường bên Tàu nhảy xuống sông để vớt trăng lên, giờ đây lại có thi nữ Việt là Cao Mỵ Nhân đòi theo trăng đi xé nửa cái thiên đàng. Những điều kỳ thú ngoạn mục như vậy chỉ có những nhà thơ “siêu việt” mới tính làm, hoặc nghĩ ra!

“Thì cứ cùng thơ vui đối bóng

Theo trăng đi xé nửa thiên đàng.” (Mảnh Trăng Thơ – CMN – tr. 73)

Riêng bài họa của nhà thơ Trịnh Cơ “Nhớ Cảnh Trường Xưa” trong trường hợp này, tuy không đáp ứng với ý nghĩa của bài xướng, mà chỉ là họa nương vận, nhưng cũng phải kể là một bài họa hay.  Trong khi bài xướng của Cao Mỵ Nhân chứa đầy lãng mạn về tình yêu nam nữ, than thở với bút nghiên, với trăng và thơ, thương mây khóc gió cho sự bơ vơ…, thì bài họa của Trịnh Cơ cũng tràn ngập sự nhớ nhung tiếc nuối, nhưng mà là nhớ về tình yêu đất nước, về một thời được đào tạo dưới mái trường quân đội với những bước chân “ắc ê” gọn gàng, và những chuyến hải hành bảo vệ quê hương. Để rồi cuối cùng thi sĩ thốt lên tiếng than:

“Nước non xả tắc thời vi diệu

Nay chẳng còn đâu chốn địa đàng.” (Nhớ Cảnh Trường Xưa – TC – tr. 74)

Bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt vận trắc “Nỗi Buồn Vô Cớ” của thi nữ Cao Mỵ Nhân dưới đây cũng đưa người yêu thơ vào một khung trời đầy mộng ảo, “Có những nỗi buồn vô cớ lắm/Mà sao thổn thức đến trăm năm.” Đã làm người thì ít nhiều gì ai cũng có những tâm sự thầm kín. Chắc độc giả sẽ đồng cảm khi được nhà thơ “nói giùm” giải bày giùm cho những băng khoăn, những nỗi buồn âm ỷ đang giấu giếm trong lòng, và sau cùng thì …xúi người ta thổ lộ:

“Thì cứ tự nhiên ngồi thổ lộ

Tỏ bày như chẳng có chi ngăn

Tỏ bày tình tiết sầu thương đó

Khổ luỵ trong tim nức nở thầm…” (Nỗi Buồn Vô Cớ – CMN – tr. 93)

Và để đáp lại nỗi niềm của thi nhân, Trịnh Cơ đã họa bài “Buồn…Cũng Vậy Thôi” thật duyên dáng trữ tình, để bày tỏ với đối phương, rằng thì là bên nớ chỉ có những nỗi buồn, nhưng bên ni là cả vạn điều buồn, chúng cứ mãi đong đưa trên hố thẳm, rồi “Khi sầu khi chán lại như câm” mà thi nhân không thố lộ nên nào ai hay biết,“Ta giữ trong tim không hé lộ/Ai nào có biết để can ngăn…”(Buồn…Cũng Vậy Thôi – TC)  Đây quả thật đúng là tri kỷ.

Đặc biệt, bài thơ thể tự do Ngũ Ngôn “Viết Sau 10:00 PM” của Cao Mỵ Nhân cũng làm tôi xao xuyến. Nhà thơ đã trải lòng, trút cạn nhớ nhung vào thơ lúc 10 giờ khuya, cùng tâm sự với những con chim biển cũng đang cô đơn giữa màn đêm, và nghe được chúng thốt lên những tiếng kêu thầm hò hẹn trong tuyệt vọng.

“Em cũng như chim biển

Cô đơn giữa thế gian

Chim kêu thầm hò hẹn

Nỗi u tình chứa chan…” (Viết Sau 10:00 PM – CMN – tr. 125)

Người ta nói “Thần giao cách cảm” có lẽ chính xác nhất để dùng trong trường hợp này.  Thì ra từ chốn xa xăm chàng thi nhân kia cũng đâu có ngủ được lúc 10 giờ đêm. Ta hãy nghe Trịnh Cơ tâm sự cùng nàng thơ nơi viễn xứ trong bài họa “Đêm Về”, “Tiếng chuông gõ 10 giờ/Sao cứ còn thương nhớ,” và “trần tình” rằng vì thi sĩ vẫn còn yêu biển, yêu nguồn vui thế gian, nên đã quên lời hẹn ước, tuy vậy tình yêu say đắm thì vẫn mãi chan hòa:

“Ta vẫn còn yêu biển,

Nguồn vui giữa nhân gian,

Cứ quên lời ước hẹn.

Tình yêu vẫn hòa chan…” (Đêm Về – TC – tr. 127)

Qua nhiều năm cùng theo đòi xướng họa trong các diễn đàn thơ, tôi đã thưởng thức đủ các thể loại mà nhà thơ Cao Mỵ Nhân đã sáng tác. Bài thơ 8 chữ “Trái Tim Lửa” này cũng là một trong các bài thơ tự do đặc sắc của thi nữ. Lúc này trái tim yêu của thi nhân hừng hực bốc cháy vì tình, cho nên mặc kệ những chông gai, mặc kệ bao trở ngại, nàng thơ chỉ thấy “Xuân sẽ đến bốn mùa đều tươi thắm/Đẹp hồn ta đang bốc cháy hoang sơ.” Thông điệp gửi đi cho người trong mộng thật dạt dào, chất chứa ngập lụt say mê, chờ đợi chỉ cần một tiếng hót khẽ của loài chim quý là sẽ được cả trái tim nàng:

 “Nhưng Chim Quí một lần thôi hót khẽ

Ta tặng người nguyên vẹn trái tim thơ…”(Trái Tim Lửa – CMN – tr 136)

Đáp lại khối tình “bốc lửa bốc khói” này, chàng thi sĩ cũng đâu có kém. Bài họa “Về Nghe Cô Đơn” của Trịnh Cơ càng chất chứa lắm nỗi niềm. Chàng còn “bạo gan” nhắc lại chuyện xưa, cái thuở cùng nhau bàn tính “Chuyện ngày ấy bàn về ăn trái cấm/Ở Thiên Đường cây đẹp, lá nghiêng chờ.” Nhưng cuối cùng rồi mấy lời trách cứ cũng được trao lại cho ai kia:

Nhìn xuống dưới, âm thầm rơi giọt lệ

Lụy trần ai khiến ta phải ơ thờ

Quay trở lại hầu nghe lời kể lể

Tình bay xa, còn lại mấy câu thơ… (Về Nghe Cô Đơn – TC – tr.137)

Sự sắp xếp trong thi tập này thật là thú vị, quá bán trong phần đầu là những bài thơ Cao Mỵ Nhân xướng – Trịnh Cơ họa.  Đọc một hơi, thưởng thức hết phần đầu thì tiếp theo phần sau đổi ngược lại Trịnh Cơ xướng – Cao Mỵ Nhân họa.  Dòng thơ trữ tình, mượt mà, nhưng lại chất chứa nhiều nỗi niềm riêng của thi sĩ Trịnh Cơ lâu nay cũng rất được các nhóm xướng họa bạn bè chúng tôi yêu thích, không kém gì nữ sĩ Cao Mỵ Nhân. Thi sĩ Trịnh Cơ rất “có duyên” với thơ tứ tuyệt, lời thơ giản dị không gút mắc, nhưng ý tứ rất phong phú, làm xúc động người đọc, cho nên thơ của anh cũng đã được nhiều người đáp họa. Bài thơ “Biết Đâu” đong đầy cảm xúc của Trịnh Cơ sau đây khiến những người đang yêu phải chạnh lòng xót xa. Chàng cùng người ấy lâu lâu mới gặp một lần, nhưng có nỗi đau nào hơn khi “Nụ hôn vừa dứt rồi ly biệt/Ở cuối chân trời giấc mộng tan.” Sự xa cách như thế đã khiến cho nhà thơ e ngại. Chúng ta hãy đọc những lời lo âu khắc khoải của chàng, “Đâu biết lần này sẽ gặp nhau/Còn yêu tha thiết tựa ban đầu?” và:

“Hay là hờ hững như người lạ

Để lại cho anh cả mối sầu!” (Biết Đâu – TC – tr. 155)

Và thú vị vô cùng, nàng thơ Cao Mỵ Nhân đã vội vàng đáp lại bài họa ngọt ngào, “Đành Thôi” với những lời cảm thông, trần tình, vỗ về “ai kia,” bỡi vì không hợp mới tan, “Kẻ ở người đi ôi giã biệt/Bởi không hợp được mới đành tan.” Và:

“Hoàng hôn cũng nguội theo tình lạ

Tuổi tác đầy thêm mộng mị sầu…” (Đành Thôi – CMN – tr. 156)

Bài thơ “Có Ai” của thi sĩ Trịnh Cơ tiếp theo đây nói lên nỗi niềm cô độc làm cho người ta phải xót xa. Một người có cuộc sống mà muốn “Nói chuyện… tâm tình chẳng có ai/Đêm đêm trằn trọc suốt canh dài” thì quả là buồn vô kể. Lời thơ như nức nở, ý thơ như trách móc ai đó sao nỡ đành “bỏ ta một mình,” và một chút ước mơ được có người bên cạnh:

“Bởi ta đang sống đời hiu quạnh

Thiếu vắng ai bên cạnh, đỡ sầu.” (Có Ai – TC – tr. 157)

Tuyệt thay, đàng này bài “Có Ai” của Trịnh Cơ than thở bị bỏ cô đơn, thì đàng kia, Cao Mỵ Nhân đã trải lòng cảm thông thay cho “ai đó” của nhà thơ, bằng bài họa “Vẫn Ông” rất duyên dáng, thêm chút dí dỏm, nhưng có thể thấy trong lời thơ ẩn hiện chút …hờn ghen nhè nhẹ rất dễ thương. Bởi vì ngày xưa bay bướm quá, đa đoan quá, có cả chục giai nhân quanh mình, cho nên bây giờ…ráng chịu chứ than thở mà làm chi:

“Giờ thì đầu bạc trắng hơn xưa

Cả chục giai nhân bỗng ngó hờ

Bởi lẽ đa đoan nên khổ luỵ

Đâu còn thanh thản mà làm ngơ”(Vẫn Ông – CMN – tr. 158)

Thi sĩ Trịnh Cơ từng là một sĩ quan Hải Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Bài thơ “Lời Cuối” của anh tôi đọc mà rưng rưng cảm phục. “Tôi chết đi… xin chớ phủ cờ.” Đây là lời di chúc, dặn lại khi thi sĩ mất đi thì không nên phủ cờ Quốc Gia như bao người vẫn làm lâu nay nơi hải ngoại.  Dù vận nước đảo điên là do thế cuộc tạo nên, chứ quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa chúng ta thuở ấy vẫn một lòng chiến đấu rất anh dũng, thi sĩ vẫn cho rằng mình không làm tròn viêc giữ nước nên không xứng đáng, mà chỉ có những người vị quốc vong thân mới xúng đáng được phủ cờ:

“Phủ cờ cho kẻ đáng tôn vinh

Ngã gục thân trai, hiến phận mình

Bỏ mạng sa trường cho đất nước

Đã bao cay đắng lúc đăng trình…” (Lời Cuối – TC – tr. 169)

Nhà thơ Cao Mỵ Nhân cũng từng là một sĩ quan QLVNCH. Cho nên bài họa “Vàng Sắc Nhớ” của chị là một đồng cảm, kiêm ý trách móc những kẻ đã bỏ lại thành xưa bóng cờ tổ quốc, nhưng rồi lại quên bẳng đi, để mãi lơ ngơ với dáng vẻ phạc phờ của người không biết đâu là quê hương. Dù ai có quên, nhưng nhà thơ thì vẫn nhớ,

 vẫn giữ lại vuông cờ khi giã từ trận mạc:

“Giã từ trận mạc giữ vuông cờ

Hiu hắt vàng hong nắng nhuộm tơ

Bạn hỏi buồn thương xa đất tổ

Chứa chan tình nghĩa chẳng phai mờ…” (Vàng Sắc Nhớ – CMN – tr.170)

Bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú của nhà thơ Trịnh Cơ “Tàn Đông” là một bài thơ buồn, nhưng chữ nghĩa lại xôn xao tràn đầy cảm xúc. Đó là nỗi u buồn bất chợt, chính thi sĩ cũng “Không biết vì đâu cảm thấy buồn.” Hai câu thực đã làm cho hồn tôi xao xuyến. Cái hình ảnh sống động trước mắt với đàn chim rét mướt bay vật vờ về tổ, và con suối thì chênh chao khi nhớ lại cội nguồn, diễn tả một tâm trạng đau thương khiến cho những kẻ ly hương, tan tác vì mất nước như tôi càng thêm nhói cả cõi lòng:

“Đàn chim rét mướt bay về tổ

Con suối chênh chao nhớ lại nguồn”(Tàn Đông – TC – tr. 185)

May mắn thay, nhà thơ Cao Mỵ Nhân đã…cứu bồ bằng bài họa “Paris Buồn” giúp tôi có thêm “sinh khí,” tươi tắn lên một chút để tôi khỏi “đổ thừa” thi sĩ Trịnh Cơ đã làm cho lòng tôi héo úa khi sắp kết thúc bài viết này.  Cao Mỵ Nhân đã an ủi “người ta” là tại vì Paris quá lãng mạn mới khiến cho buồn, chứ thực ra thì mùa đông đã tàn, tuyết cũng tan chờ Xuân đến:

“Chim én mừng xuân tươi sắc cội

Tao nhân đón khách lộng thơ nguồn..” (Paris Buồn – CMN – tr. 186)

Tới đây thì tôi xin phép được tạm dừng vì bài viết đã khá dài. Thực ra thì còn nhiều, nhiều lắm những bài tình thơ có thể nói là tuyệt tác trong thi phẩm “Xướng Họa” của nhị vị Cao Mỵ Nhân và Trịnh Cơ.  Điều tôi muốn nói ở đây là “cặp bài trùng” này quá ư tuyệt vời trong các thể thơ xướng họa. Họ đã quá hoà hợp, quá “nhập vai,” nhâp vai trong việc trải lòng như là tâm sự của chính một đôi trai tài gái sắc từng yêu nhau, bị trắc trở, và rồi khi gặp lại thì đã muộn màng nhưng hồn thơ vẫn còn réo rắc, chứa đựng ngập tràn nỗi nhớ, niềm thương. Cho nên xuyên suốt thời gian từng bước đọc thơ và ghi lại cảm nhận của mình, Phương Hoa tôi cũng đã “nhập vai” trong cái cảm xúc họ là “một đôi” thật sự. Nếu sự thật hai người trước đây chưa từng yêu nhau, chưa bao giờ quen biết nhau, mà đây chỉ là “bình thủy tương phùng” trên những dòng thơ xướng họa nơi hải ngoại rồi trở thành bạn thiết, thì quả là thi tài của họ đã lên đến đỉnh cao, nguồn tình thơ quá lai láng dạt dào.

Cuối cùng, thi tập “XƯỚNG HỌA” của hai nhà thơ Cao Mỵ Nhân và Trịnh Cơ là một tác phẩm văn học có giá trị, chẳng những rất đáng đọc, mà cần phải đọc thật kỹ mới thưởng thức hết những cái hay cái đẹp cái ý cái tình của mỗi một bài thơ. Tôi tin rằng quý vị sẽ thích thú với sự phong phú chữ nghĩa của những bài thơ tình thật ngọt ngào, thật lãng mạn, trong tập thơ này.

Xin trân trọng kính giới thiệu cùng với quý độc giả thi tập “XƯỚNG HỌA” của Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ.

 Muốn mua sách Xin Liên lạc Tác giả:

Trịnh cơ – Cao Mỵ Nhân

trinhco@gmail.com

caomynhan91@yahoo.com

Liên lạc Nhà xuất bản:

Nhân Ảnh

han.le3359@gmail.com

(408) 722-5626

Phương Hoa – Miền Bắc California