Desire – Lý Thuyết Ham Muốn -Mai Thanh Truyết

Desire – Lý Thuyết Ham Muốn

de·sire 

dəˈzī(ə)r 

Danh từ: Một cảm giác mạnh mẽ “muốn có” một cái gì đó hoặc “mong muốn” một cái gì đó xảy ra.

Động từ: Ham muốn mạnh mẽ trong việc “cho” hoặc “muốn’ một cái gì đó.

Lý thuyết ham muốn

cho rằng việc thực hiện một ham muốn đóng góp cho hạnh phúc của một người bất kể lượng niềm vui (hay sự không hài lòng). Một lợi thế rõ ràng của lý thuyết Desire là nó có thể hiểu theo cung cách diễn đạt của Wittgenstein. Ludwig Wittgenstein là một triết gia bị ám ảnh bởi những khó khăn về cách diễn đạt  ngôn ngữ, muốn giúp chúng ta tìm cách thoát khỏi một số vũng bùn mà chúng ta gặp phải trong giao tế, trong diễn đạt, và ngay cả trong suy tư

Cung cách đó được hiểu theo “Meaning of Language” dưới đây:

Từ đó, chúng ta thấy từ ngữ DESIRE được hiểu theo từng tâm cảm, từng thể trạng của mỗi con người.

Và bài viết chỉ mong trình bày một số suy nghĩ góp nhặt cát đá, suy diễn theo suy nghĩ chủ quan của người viết  nhằm mục đích chia xẻ cùng bạn đọc về một khía cạnh của tư tưởng và tâm ý.

  1. Desire – Ham muốn là gì?

Ham muốn – Desire, Thèm muốn – Craving, Khao khát – Longing. Những từ trên gợi ra cho chúng ta cái cảm giác thúc đẩy con người đạt được hoặc sở hữu một cái gì đó. Ham muốn là một cảm giác mạnh mẽ, xứng đáng hoặc không xứng đáng, đúng đắn hoặc không đúng đắn, thúc đẩy sự chiếm đoạt được hoặc sở hữu một cái gì đó (trong thực tế hoặc trí tưởng tượng).

Ham muốn là ở trong một trạng thái đặc biệt của tâm lý. Đó là một trạng thái tâm lý quen thuộc với tất cả những người đã từng muốn uống nước, muốn ăn một món ăn… hoặc muốn biết những sự kiện gì đã xảy ra cho một người bạn cũ. Nhưng từ sự quen thuộc đó không làm cho chúng ta dễ dàng đưa ra một lý thuyết về ham muốn. Mặc dù có sự tranh chấp trong chính mỗi ham muốn của bản thân, nhưng dù sao chúng ta cũng có thể tự khắc phục ham muốn của chính mình.

Ham muốn là một trạng thái của tâm – ý (heartily spirit) (người viết tự nghĩ ra từ ngữ nầy, không biết có đúng không, xin nhờ chỉ giáo) thường liên quan đến một số hiệu ứng khác nhau: một người ham muốn có xu hướng hành động theo những cách nhất định, cảm nhận theo những cách nhất định và suy nghĩ theo những cách nhất định.

Nếu tôi mong muốn uống trà chẳng hạn, thì tôi thường sẽ tự pha cho mình một tách trà; và nếu tôi không tự cảm thấy mình cần uống trà ngay lập tức, tôi sẽ không cảm thấy cái thôi thúc phải nấu nước sôi để pha trà… Tôi, lúc ấy sẽ thấy ý nghĩ về trà rất dễ chịu (vì không phải làm gì cả!). Từ đó, tôi sẽ thấy suy nghĩ của mình liên tục chuyển sang ý tưởng về trà. Từ đây, tôi sẽ đánh giá rằng trà có vẻ như là một ý tưởng tốt. Và như thế, như thế tiếp tục. Những hiệu ứng khác nhau này đã là trọng tâm trong tâm-ý của tôi về những nỗ lực để phát triển các lý thuyết; và đó chính là lý thuyết của ham muốn.

  • Triết lý về sự ham muốn

Hiểu được ham muốn đòi hỏi ít nhất hai điều kiện:

  • Thứ nhất, có một lý thuyết về bản thân ham muốn – desire itself;
  • Thứ hai, có một số quen thuộc với các loại ham muốn có được – desire that there are.

Một khi nắm được một sự hiểu biết về ham muốn, chính ta có thể làm sáng tỏ một số tranh cãi chung quanh những điều ham muốn.

Lý thuyết thỏa mãn ham muốn là một dạng chủ nghĩa chủ quan về hạnh phúc theo nghĩa thông thường, theo đó, để có được một cuộc sống tốt (tốt theo suy nghĩ riêng của từng cá nhân) phải làm với thái độ của một người tạo dựng ra một cuộc sống theo lòng ham muốn của mình hơn là bản chất thực sự của cuộc sống.

Có nhiều hình thức khác của chủ nghĩa “chủ quan” (subjectivism):

  • Lý thuyết mục tiêu thành tựu – Aim-achievement theories;
  • Lý thuyết hiện thực hóa giá trị – Value-realization theories;
  • Lý thuyết hạnh phúc – Happiness theories;
  • Và một số hình thức của chủ nghĩa khoái lạc – Hedonism.

Nhưng thực sự, tựu trung tất cả những lý thuyết trên chỉ nhằm thực hiện mục tiêu của lý thuyết “hoàn tất ham muốn” – desire-fulfillment mà thôi.

Còn đối với chủ nghĩa khách quan (objectivism) thì sao?

Các lý thuyết khách quan về hạnh phúc – well-being gồm:

  • Lý thuyết cầu toàn – perfectionism;
  • lý thuyết “danh sách khách quan” – objective- list theories.

Hai quan điểm trên trái ngược với chủ nghĩa chủ quan là: – Ít nhất một số điều liên quan đến bản chất tốt hay xấu (pro/con – attitudes) đối với chúng ta về căn bản nhưng không liên quan đến thái độ của chúng ta. Sự “hoàn tất ham muốn” cũng đóng một vai trò trung tâm trong một số lý thuyết về hạnh phúc, trong đó kết hợp lại các yếu tố chủ quan và khách quan.

Vì vậy, lý thuyết thực hiện ham muốn ngày nay chắc chắn là một trong những lý thuyết hàng đầu về hạnh phúc.

Một số nhà triết học coi “lý thuyết hoàn tất ham muốn” là lý thuyết hàng đầu.

Nếu đó là lý thuyết ngự trị của thế kỷ 20 và 21, lý thuyết nầy không mang lại sự chú ý thời trước đó. Một số nhà triết học cổ đại và trung cổ hàng đầu đã đưa ra quan điểm để từ chối nó. Ví dụ, trong Plato’s Gorgias (C. 380 BCE), chính Callicles, một đệ tử của Socrates đã khẳng quyết rằng:”Ông, người thực sự muốn sống nhằm cho phép những ham muốn của mình được đánh bóng tối đa (he who would truly live ought to allow his desires to wax to the uttermost).

Trong De Trinitate (C. 416 C.E.), Thánh Augustine đã thảo luận ngắn gọn về ý tưởng “tất cả đều được ban phước, bất cứ ai cùng sống như nhau” (all are blessed, whoever live as they will). Augustine tiếp tục khẳng quyết, tuy nhiên, lòng ham muốn (hoặc ý chí) đó là điều tối thiểu của sự cần thiết cho hạnh phúc.

  • Các căn bản trong việc/sự ham muốn
  1. Như vậy, thực sự ra, lòng ham muốn có căn bản nơi đâu và là gì?

Sự chấp nhận, nhu cầu cần được chuẩn duyệt – Acceptance, the need for approval.

Sự tò mò, nhu cầu học hỏi – Curiosity, the need to learn.

Nét ăn uống, nhu cầu thực phẩm – Eating, the need for food.

Gia đình, nhu cầu nuôi con – Family, the need to raise children.

Danh dự, sự cần thiết phải trung thành với các giá trị truyền thống – Honor, the need to be loyal to the tradition values.

Chủ nghĩa lý tưởng, sự cần thiết của công bằng xã hội – Idealism, the need for social justice.

• Độc lập, nhu cần cần thiết cho mọi cá thể – Independence, the need for individuality.

• Đặt hàng, nhu cầu cho (mọi việc) có tổ chức và ổn định – Order, the need for organized, stable,

  • Và một số ham muốn nguyên thủy (primal desire) của con người là gì?
  • Sống còn”: Sống một cuộc sống bền lâu và khỏe mạnh – Survival: Live a long and healthy life.
  • Bảo vệ: An toàn, chăm sóc và bảo vệ cho chính bạn và những người thân yêu – Protection: Safety, care and protection for yourself and loved ones.
  • Tự do: Tự do khỏi sự nguy hiểm, sợ hãi và đau đớn – Freedom: Freedom from danger, fear and pain.
  • Tiện nghi: Điều kiện sống thoải mái – Comfort: Comfortable living conditions.
  • Niềm vui: Thưởng thức đồ ăn, đồ uống và trải nghiệm – Pleasure: Enjoy food, beverages and experiences.
  • Ham muốn thâm sâu nhứt của con người là gì?

Ham muốn thâm sâu nhất (deepest desire) của bất kỳ con người nào là được Yêu Thương và được Trân Trọng.

Không có ai trên thế giới này không muốn được xem là đẹp đẻ hay tài giỏi hết.

Sẽ không có ai phải nhăn mặt (frown) khi được nghe “I love you” đến từ của miệng của người mình thương hết!

  • Ham muốn mạnh nhứt (strongest) của con người là gì?

TS Erica Goodstone nhận định rằng:”Ham muốn tình dục là thứ ham muốn mạnh mẽ nhứt của con người. Khi được thúc đẩy bởi năng lực của ham muốn này, quý ông và quý bà phát triển một số phẩm chất đáng kinh ngạc, bao gồm nhãn quan và trí tưởng tượng, lòng can đảm và ý chí cùng khả năng kiên nhẫn liên tục bất chấp mọi trở ngại và khó khăn” (visualization and imagination, courage and willpower and ability to persist in spite of all obstacles and difficulties).

e- Như vậy, có phải ham muốn có nghĩa là tình yêu?

Tình yêu là ham muốn, không có định nghĩa nào khác hơn nữa… Đối với một số người, đó là sự đáp lại tình cảm của họ, một số người khao khát được gần gũi với người yêu. hoặc người mình yêu. Nhưng cũng có vài ngoại lệ, là ai đó nghĩ rằng “có thể chỉ muốn người mình yêu hạnh phúc mà thôi, không cần thiết để được đáp lại” (tình yêu đơn côi chăng?)

Chỉ có những người dối lòng là những người nói

rằng tình yêu đích thực không có ham muốn!

  • Ham muốn có ý nghĩa gì trong Phật giáo?

Trong Phật giáo, dục vọng, vô minh, và chấp ngã nằm ở gốc rễ của mọi đau khổ. Theo dục vọng, Phật tử đề cập đến tham ái, vật chất và bất tử, tất cả đều là những ham muốn không bao giờ có thể được thỏa mãn cho mỗi con người.

Làm thế nào để một Phật tử thoát khỏi phải “chấp ngã”?

Có vài thực tiễn dưới đây để cho mỗi chúng ta cùng suy nghiệm nhằm “bớt đi” tính chấp ngã của chính mình:

* Thiền – Meditation: Thiền chỉ đơn giản là ngồi yên và cố gắng chú ý đến thời điểm hiện tại cho dù đó là hơi thở của bạn, cơ thể bạn hay những gì đang xảy ra xung quanh bạn ngay bây giờ;

* Từ bi – Compassion;

* Sự phụ thuộc lẫn nhau – Inter-independence;

* Chấp nhận – Accepting;

* Mở rộng – Expansiveness.           

5-Tam giác vàng

Điều gì là tuyệt vời về tam giác này?

Thực sự nó có ý nghĩa gì?

Một số người thành công nhứt đã theo hướng nầy và họ thành công vì “Năng lực của một tư duy tuyệt vời”.

Cuộc hành trình đến tam giác vàng bắt đầu với Ham muốn – Desire. Đó là sân ga từ nơi con tàu vận mạng bắt đầu lăn bánh. Con tàu sẽ dừng lại sau mỗi trạm và những người không có đủ kiên nhẫn sẽ rời khỏi tàu. Còn những người ở lại là người có đức tin (tùy theo suy nghĩ của bạn, có thể là đức tin (faith) mà cũng có thể là niềm tin (believe). Đây là một thuộc tính quan trọng thứ hai để thành công.

Trong sự so sánh nầy, Đức tin kiên định – Consistent Faith và Khát vọng – Desire vững chắc chuyển Tâm Ý thành Hành động – Action.

Hành động giúp chúng ta tăng thêm ham muốn. Kết quả của Hành động làm cho Đức tin mạnh mẽ hơn và thêm một lần nữa, Hành động được tăng thêm, và từ đó tiếp tục mãi mãi Hành động.

Phản ứng dây chuyền không kiểm soát của hành động này sẽ đưa chúng ta đến nơi chúng ta thực sự thuộc về… (actually belong).

  • Thay lời kết

Quý bạn vừa thả lòng với những định nghĩa, nhận đình cùng suy diễn hết sức trừu tượng về một danh từ hay động từ “Desire” tạm dịch là “Ham muốn” từ những suy nghĩ của các triết gia cho đến suy nghĩ của đời thường trong cõi ta bà nầy.

Để rồi bạn chuyển qua một vài suy diễn trong tinh thần Phật giáo…

Người viết không dám nói thêm nhiều nữa, chỉ mong mỗi người trong chúng ta nhìn về, nghĩ vềHam muốn” trong chiều hướng nào?

Và dù trong chiều hướng nào đi nữa chỉ mong Quý Bạn vẫn còn tỉnh táo để biết chính mình:

  • Đang nghĩ gì?
  • Đang làm gì?
  • Và suy nghĩ gì, làm gì đó có thích hợp với đạo lý của “Đời thường” không?

Xin chia xẻ vài suy nghĩ cùng Bạn trong mùa chay tịnh của Thiên Chúa giáo và mùa “cách ly tự nguyện” vì cô Coronavirus.

Và đây cũng là những suy nghĩ mà chính người viết cũng cần suy gẫm!

Phổ Lập Mai Thanh Truyết

An Nhiên Tự Tại

Houston, 26/3/2020

Phụ chú:

Kính Thưa Anh Truyết và các Anh Chi Em,

Bài viết anh phân tách về sự Ham Muốn rất hay.  Tôi xin góp một chút ý kiến.  Sau khi tất cả diễn biến về những thể loại ham muốn, thì chính ta nhìn lại chính mình, những ham muốn đó có đạt hiệu quả hay không, có khi được, nếu sự ham muốn đó trong tầm tay, có khi xa vời vì quá to lớn viển vong, có khi vì cái ta muốn thắng vì tự ái cá nhân.

Nói chung tất cả ham muốn đó do ta tự vẽ ra để trở thành một mục đích mà ta phải thực hiện dù tốt hay xấu.

Vậy làm sao sống cho có  những mục tiêu tốt, chính là ta phải tự nhìn lại trong ta,  vì ta muốn cái này, muốn cái kia, nói chung muốn đủ thứ trên đời, khi không đạt được thì phiền muộn, bất bình, hoặc đau khổ.

Như lời Phật dạy đó là Tham, Sân, Si.  Những thứ đó chỉ là trừu tượng và viễn vong, nhưng nếu không có Ý muốn đó,  chúng ta sẽ đứng giữa ngã ba đường,  mà ta phải chọn một con đường để đi.

Vậy ta phải vạch ra con đường, sao cho dung hòa .  Đó là một con đường chính giữa không có dính mắc hai bên.. Phải luôn nhìn lại chính mình, cảnh giác cái ham muốn thắng, mà phải quên mình nghĩ đến cái chung trong hiện tai.

Tôi đã luôn suy nghĩ ( đó cũng là cái ta xấu xí) tai sao ta có mặt trong đời này, tai sao ta không là cây cỏ, con chim, cái kiến , hoặc là, người giàu có, hoặc nữ hoàng hay là những người nổi tiếng.  Vậy thì cuộc sống này phải có lý do, mổi người mổi nhiệm vu, có trách nhiệm phải chu toàn đối với cha me sinh ra ta, với gia đình ta đang có mặt, lo cho con cái cháu chắt trong tương lai. Và với xã hội ta đang sống. Tai sao mình không sanh trong một nước khác mà mình sanh trong nước Việt Nam, vậy ta cũng có trách nhiệm đối với tổ quốc,

Ta phải làm tất cả những gì trong đời này với tất cả lòng biết ơn, đã cho ta có cuộc sống có ý nghĩa, dù có phong ba bão táp, và vui sống.  Nếu những ai đã từng đi vượt biên, sẽ hiểu được cái chết trong tích tắc giữa đai dương mênh mông không bến bờ. Hoặc đi máy bay nhìn xuống thấy con người mất hút trong quả đất.Trời đất bao la , ta chỉ là một sinh vật nhỏ bé trong vũ trụ . 

Chúng ta cũng may mắn là sanh ra được toàn vẹn, không tật nguyền, còn biết suy nghĩ phải trái, nếu không may sanh ra mà bị chứng bệnh vô não ngẩn ngơ thiếu hiểu biết, thì chúng ta sẽ ra sao.  Chúng ta lai được các đấng vĩ nhân hướng dẫn tâm linh biết nhân quả nghiệp báo, giống con rùa mù mà gặp bọng cây, đã mù làm sao thấy được bọng cây, Quả là may mắn. Chúng ta sanh ra không tự chọn, chúng ta chết đi cũng không biết được ngày. 

Vậy chúng ta hôm nay gặp nhau đây là một cái duyên hanh ngộ thật đáng vui mừng, nên chúng ta phải quý trọng lẫn nhau.

MAI THANH TRUYẾT




DĨ VÃNG SÂU & TÌNH BUỒN DA DIẾT – Mặc Trần Ai – Đời Đóng Lại – Chùm Thơ & Tranh Họa Của Huu-Thien Paul Phạm




Thơ diễn ngâm Non Nước…Nước Non Xa




Còn Nỗi Ngậm Ngùi

Thơ Vệ-Trà Huỳnh Kim Anh




CHÚC MỪNG Hai Nhà Văn Nữ VTLV – Phương Hoa

KÍNH MỜI ĐỌC BÀI TRONG LINK:

https://vvnm.vietbao.com/a247590/viet-ve-nuoc-my-nam-thu-xxii-12-05-2021-le-phat-giai-va-ra-mat-sach




Tưởng Niệm Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm – Giao Chỉ – San Jose

Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm
Tưởng niệm Thủ tướng Trần Thiện Khiêm
Giao Chỉ Vũ Văn Lộc

Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y,
Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp,
Chín mươi năm, cuộc đời như gió thoảng,
Chiều cô đơn về chậm lúc cao niên.

Nhà văn Giao Chỉ tưởng niệm Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm vừa qua đời ngày 24/6/2021 tại California.

⭐️ Những đại tướng VNCH
Quý vị có biết quân đội chúng ta có bao nhiêu ông đại tướng. Cao cấp và thâm niên nhất là đại tướng Lê Văn Tỵ, khi ông qua đời thời kỳ quốc trưởng Nguyễn Khánh đã truy thăng ông lên Thống Tướng. Các vị đại tướng khác là tổng thống Dương Văn Minh, quốc trưởng Nguyễn Khánh, Tổng tham mưu truong Cao Văn Viên và thủ tướng Trần Thiện Khiêm.        
⭐️ Hoàng hôn của các đại tướng
Ngoại trừ tướng Cao Văn Viên ra đi từ miền Đông, tất cả các vị đại tướng đều trải qua những ngày cuối cùng tại tiểu bang CA Hoa Kỳ.
Nước Mỹ đã từng là đồng minh của các tướng lãnh cầm quyền. Rồi đã quay lưng bỏ rơi, nhưng sau cùng Hoa Kỳ cũng vẫn là nơi quý vị gửi nắm xương tàn. Tôi có dịp nói chuyện với đại tướng Cao Văn Viên tại cao ốc cao niên xứ Virginia, với quốc trưởng Nguyễn Khánh và thủ tướng Khiêm tại Việt Museum San Jose. Không hỏi về chiến tranh và quốc sự. Chỉ hỏi về tuổi hoa niên. Còn tuổi nào là tuổi của tình yêu lúc mới vào đời. Tình yêu nước, yêu người và yêu chính mình.  Các niên trưởng đều đồng ý là tuổi 20. Thời kỳ trước 1954, ở Secteur Hưng Yên đã có 3 vị sĩ quan trẻ tình cờ gặp nhau trên chiến trường Bắc Việt. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu gốc Phan Rang, Trung Kỳ. Trung Úy Cao Văn Viên gia đình từ Lào trở về Hà Nội, Bắc Kỳ. Đại úy Trần Thiện Khiêm, quê Long An, Nam Kỳ. Không ai biết rằng sau này sẽ trở thành tổng thống, thủ tướng và tổng tham mưu trưởng. Cũng vào thời kỳ đó đại úy Nguyễn Khánh từ Sài Gòn ra hành quân Hà Nội đã lấy cô vợ của 36 phố phường.
Nửa thế kỳ sau tôi hỏi niên trưởng Khánh ai lái xe đưa ngài từ Sactramento về thăm bảo tàng Việt Museum tại San Jose ? Ông nói ngon lành. “Moi” lái chứ ai. Lại hỏi ai ngồi ghế chỉ huy bên cạnh? Bà ngoại hàng Đào của đám Bắc Kỳ nhà anh chứ còn ai. Mấy năm sau cả hai ông bà cùng vào ở chung một phòng trong nhà già bác sĩ Ngải. Luật nursing home là nam nữ bất khả chung phòng, ngoại trừ phòng của ông bà quốc trưởng. Khi quốc trưởng ra đi, khách vào thăm, cô gái hàng Đào Bắc Kỳ, một thời đệ nhất phu nhân hồn nhiên nói rằng anh Khánh đi công tác. Không có nhà. Bà đã thăng hoa ngay trước khi tình Bắc duyên Nam vẫn còn nguyên vẹn.
Ông Khánh lấy vợ Bắc nhưng ông đại úy Khiêm thì vẫn một lòng một dạ với tình yêu Nam Kỳ. Ông lấy vợ Rạch Giá. Trong quân đội cấp bậc của chúng tôi xa cách. Trong chính quyền vai trò của chúng tôi lại càng cách biệt, nhưng về đường tình duyên chúng tôi chẳng khác biệt bao nhiêu. Nhà tôi cũng là nữ sinh trường Nguyễn Trung Trực cùng với chị em bà Trần Thiện Khiêm. Khi cùng ngồi nói chuyện tôi thưa rằng từ Bắc vào Nam tìm thấy hồ Than Thở ở Đà Lạt. Ai ngờ đi hành quân ở Hậu Giang thấy Rạch Giá cũng có hồ Than Thở. Xếp Khiêm vỗ đùi nói rằng: “Toi”nói đúng, “moi”lấy vợ Rạch Giá cũng thấy cái hồ Than Thở  Mệt lắm.  
⭐️ Nói đến thủ tướng Trần Thiện Khiêm ai cũng tiếc rằng ông Thiệu ông Khiêm đều không ông nào để lại hồi ký. Lúc sinh thời thủ tướng Khiêm nổi tiếng là người ít nói dù trước năm 1975 hay sau này trải qua gần nửa thế kỷ lưu vong. Ngày xưa trong một buổi đại hội tại Vũng Tàu do tổng thống Thiệu chủ tọa có cả nội các và tướng lãnh tham dự. Hội trường có cả trăm người chiếu trực tiếp trên TV. Tổng thống thao thao bất tuyệt. Ông nói thẳng những điều cấm kỵ. Về bang giao Việt Mỹ, ông không ngần ngại nói rằng ảnh hưởng Hoa Kỳ Việt Nam rất quan trọng và trực tiếp. Bên Mỹ hắt hơi là bên ta sổ mũi. Suốt buổi thủ tướng ngồi bên cạnh, đeo kính mát, yên lặng và bình tĩnh. Báo chí gọi là ông Tư mắt Kính. Không nói. Không lỡ lời. Không sai lầm. Đó có thể là khuyết điểm của chính khách. Đó cũng có thể là ưu điểm của chính trị gia. Sau này ra hải ngoại cũng như thế. Dư luận có thể thêu vẽ và bình luận về vai trò của đại tướng trong chính trường Việt Nam từ binh biến 63 cho đến ngày tàn cuộc 75, nhưng không hề khai thác được điều gì trực tiếp từ niên trưởng Khiêm. Tất cả chỉ là suy diễn.
⭐️ Những ngày sau cùng.
Những năm gần đây niên trưởng Khiêm quanh quẩn tại San Jose. Vóc dáng cao lớn và khỏe mạnh với tuổi ngoài 90. Ông không ngần ngại xuất hiện trong các buổi họp mặt đông đảo. Cùng với niên trưởng đô đốc hải quân Trần văn Chơn và tham mưu trưởng Nguyễn Khắc Bình, quý vị làm thành bộ ba tương đắc của QLVNCH. Thêm vào sự hiện diện của tổng trưởng kinh tế Nguyễn Đức Cường và dân biểu dược sĩ Nguyễn văn Bẩy.  Dù sao cũng chỉ còn vang bóng một thời. Chung quanh là những người biết chuyện nhưng không nói và người không biết tha hồ lên tiếng. Văng vẳng đâu đây là lời nói than vãn của trung tướng Thiệu: Mất nước là mất tất cả. Trong hoàn cảnh cả cộng đồng Việt hải ngoại chia rẽ giữa 2 đảng Cộng Hóa và Dân Chủ, ông đại tướng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà lặng lẽ ra đi.  Lúc cư ngụ ở San Jose niên trưởng Khiêm bị té và đau chân. Ông nằm trong Nursing home một mình. Hồ Than thở xứ Kiên Giang của ông đã bỏ đi từ lâu sau một thời gian rất dài ông phải săn sóc cho bà. Ông thủ tướng đã trải qua giai đoạn rất vất vả nuôi vợ mệt mỏi hơn cả lúc cầm quyền. Ông vẫn nằm chờ đợi một mình. Một hôm có vị linh mục là cha xứ gốc Việt của miền Senter vào thăm thân phụ. Quan sát thấy tình cha con trong vòng đạo lý tôn giáo. Cha vào thăm con hay con vào thăm cha. Đại tướng bèn mời linh mục đến gặp. Ông muốn tìm về niềm tin tôn giáo vào những ngày cuối của cuộc đời. Tôi tưởng rằng niên trưởng Khiêm lẽ ra phải theo đạo từ thời ông Diệm, nhưng tôi nhầm. Thời đó mà rửa tội có thể do ảnh hưởng chính trị. Nhưng đến năm 2021 mà theo đạo là do tiếng gọi của con tim. Đại tướng hỏi vị chủ chiên tên họ là gì. Thầy tu thưa rằng họ Lê chữ đệm là Trung, tên gọi là Tướng. Lê Trung Tướng. Chuyện đơn giản thành phức tạp. Vào ngày đẹp trời. Ngay tại Nursing Home có ông Trung Tướng họ Lê rửa tội cho đại tướng thủ tướng họ Trần tại San Jose. Cuối tuần qua lễ tang đã tổ chức cho niên trưởng Khiêm tại San Diego nhưng hoàn cảnh hiện nầy mọi chuyện đều phải xếp hàng. Niên trưởng của chúng tôi, vị đại tướng cuối cùng của QLVNCH cũng đang xếp hàng nằm chờ chưa đến lượt hỏa thiêu.
⭐️ Con người một thời lẫm liệt, kiến trúc sư của biết bao nhiêu cuộc cách mạng và binh biến. Người đã từng chờ đợi Được làm Vua và Thua làm đại sứ. Đã gần 50 năm lưu lạc xứ người. 10 năm nuôi vợ đau yếu và sau cùng hồn thiêng đã bay về cố hương nhưng xác tục vẫn nằm chờ trong phòng lạnh để hỏa thiêu cùng thiên hạ. Đại tướng Khánh, đại tướng Viên, đại tướng Khiêm ai cũng nghĩ rằng cuộc đời đẹp nhất ở tuổi cấp úy ngoài 20. Nếu phải được trở lại làm tuổi trẻ 20 sẽ làm lại từ đầu. Sáng suốt hơn, xây dựng hơn, bao dung hơn và giúp được biết bao nhiêu cho đất nước cho dân tộc và cho chính mình.
Giao Chỉ VVL
⭐️ https://youtu.be/Tt7DdtjN0hw

Thủ Tương Trần Thiện Khiêm cùng các tướng lãnh VNCH viếng thăm Việt Museum San Jose .


  Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393 ReplyReply allForward




THÀNH XÂY KHÓI BIẾC – NON PHƠI ÁNH VÀNG – Cao Mỵ Nhân




CÒN NHÌN THẤY NHAU – Kiều Mỹ Duyên

KIỀU MỸ DUYÊN

Hình từ trái sang phải: Phạm Lang (chủ nhà), nhà văn Phương Hoa, Như Hảo, Minh Thúy, Đỗ Dung, Lê Diễm và Kiều Mỹ Duyên.

(Hình do cô Phạm Lang cung cấp.)

          Nhiều người lớn tuổi nói với nhau:

          – Bây giờ chúng ta còn nhìn thấy nhau là quý lắm rồi.

          Đúng vậy, thấy đó rồi mất đó.

          Một phái đoàn đến từ San Jose, gồm có Lê Diễm, Đỗ Dung, Phương Hoa và Minh Thúy. Họ là những nhà văn nữ có tác phẩm đã phát hành. Trong phái đoàn này chỉ có một ông, mọi người chọc ông Sơn là gươm lạc giữa rừng hoa. Phụ nữ dù lớn nhưng gặp lại bạn cũ thì ăn nói rất tự nhiên. Nơi gặp gỡ tại một ngôi nhà thật đẹp ở gần biển, có cổng an toàn. Gió biển lồng lộng dù trời đang nóng như lửa. Các bà ăn mặc rất đẹp, vẫn còn đang kiêu sa của một thời vàng son. Một ông khách và ông chủ nhà, Tiến Sĩ Barry từng là giáo sư dạy ở Đại học Hawaii, và là Giám đốc kỹ thuật Lực Lượng Chống Tàu Ngầm, Hạm Đội khu vực Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.

          Nhà đẹp từ trước nhà vào trong nhà. Hoa nở rực rỡ, nơi nào cũng có hoa tươi. Phụ nữ chiếm đa số, chỉ có hai ông phải chụp hình, quay phim các nữ nhà văn này.

          Bước vào hành lang của ngôi nhà, chúng tôi thấy một phụ nữ với bình dưỡng khí bên mình. Người phụ nữ đẹp này tươi cười như hoa. Cách đây không lâu, bác sĩ bảo cô ấy chỉ sống được 2 năm nữa, nhưng năm nay là năm thứ sáu, cô ấy vẫn sống vui vẻ. Trời nóng trên 90 độ mà từ San Jose đi một đoạn đường thật xa đến thăm bằng hữu ở Orange County thì còn gì quý bằng?

          Họ chỉ ở lại một đêm thứ bảy, rồi Chúa nhật trở về San Jose. Tình bằng hữu tuyệt vời, có sức mạnh mãnh liệt khiến những người phụ nữ này phải đi 6 giờ và về 6 giờ, trong lúc Trời nóng như thiêu như đốt. Tôi phục những người phụ nữ yếu ớt nhưng có sức mạnh tinh thần mãnh liệt.

          Sức mạnh tinh thần khiến họ đâu cũng tới, đến đâu cũng được. Hai vợ chồng chủ nhà rất nhiệt tình tiếp khách. Người chồng là người Mỹ không nói được tiếng Việt, nhưng rất nể vợ. Nếu không nể vợ thì đâu có tiếp một phái đoàn đông như thế? Trong lúc mọi người nói chuyện ào ào, ông chủ nhà không hiểu gì hết? Bà chủ nhà là thi sĩ, các nhạc sĩ đã sáng tác nhiều bản nhạc hay từ thơ của cô. Thức ăn nhiều quá, món nào cũng ngon. Mọi người nói chuyện xưa, chuyện nay, và ăn uống, không còn thì giờ để nhắc đến các tác phcủa chủ nhà. Thôi thì để khi khác vậy?

Hình từ trái sang phải: Đỗ Dung, Minh Thúy, ông Sơn, Bary Root (chủ nhà, chồng cô Phạm Lang), Phương Hoa, Kiều Mỹ Duyên, Lê Diễm và Như Hảo.

(Hình do cô Phạm Lang cung cấp.)

          Tình bạn ngọt ngào như thế? Quen nhau mấy chục năm, hiểu nhau mấy chục năm, tình bằng hữu nếu hiểu nhau dù xa cũng gần. Người ở bên này đại dương và người ở bên kia đại dương vẫn thương mến nhau, vẫn thấy gần nhau, vẫn hiểu nhau, nhưng gặp mặt nhau vẫn tốt hơn, nhìn ánh mắt của nhau đâu cần nói nhiều. Có người đi đến một nơi xa dự một cuộc họp nào đó chỉ cần gặp một người, đâu cần gặp tất cả thiên hạ, hạnh phúc được gặp người đó, chỉ chào hỏi nhau, hay nói vài câu cũng đủ. Tình cảm là như thế, có những việc làm không ai hiểu nổi, không ai giải thích được, không ai phân tích và hỏi tại sao?

Kiều Mỹ Duyên cầu mong mọi người sống yêu thương và bình an.

Còn nhìn thấy nhau là quý lắm.

(Hình chụp ở Costa Rica)

          Thế giới này nếu có tình người, cha mẹ thương con, con thương yêu ông bà, cha mẹ, bằng hữu thương nhau như ruột thịt, người này giúp đỡ người kia thì thế giới không có chiến tranh, không có hận thù, không có nhà tù, không có Cảnh Sát, không có quân đội.

          Chúng tôi đã từng đến một quốc gia tuyệt vời như thế. Chúng tôi đến Costa Rica dự lễ Quốc Khánh của Tòa Thánh Vatican theo lời mời của Khâm sai Sứ thần Tòa Thánh Vatican, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Tốt. Chúng tôi rất ngạc nhiên vì ra đường không thấy Cảnh Sát. Mỗi cây đèn đều có cây Thánh Giá ở góc đường, nơi đó có nhà thờ. Nhà thờ khắp nơi, Đông, Tây, Nam, Bắc, chỗ nào cũng có nhà thờ. Một quốc gia có 4 triệu dân, có 94 % là đạo Công Giáo, xứ sở không có Cảnh Sát, không có nhà tù. Costa Rica cách California 3 giờ đồng hồ đi máy bay. Nơi đây là Thiên Đường của những người yêu thiên nhiên, yêu không khí trong lành. Người dân có tuổi thọ rất cao vì họ sống với biển, với gió biển, suối, rừng, cây xanh khắp nơi.

Khâm sai Sứ thần Tòa Thánh Vatican, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Tốt.

          Khi về tới California, mọi người trong phái đoàn ai cũng nhắc đến biển, đến nơi Đức Mẹ hiện ra, và đặc biệt nhớ một xứ sở thanh bình không có Cảnh Sát. Suốt hành trình viếng thăm Costa Rica, đi khắp nơi không thấy bóng dáng một Cảnh Sát nào hết. Một xứ sở bình yên, tối ngủ không cần khóa cổng, khóa cửa, tuyệt lắm đồng hương ơi.

          Tôi mong đồng hương, nhất là những nhà văn nên đến Costa Rica một chuyến. Hãy để cho mình một thời gian sống với biển, suối, rừng cây xanh, ăn thật nhiều trái cây ngọt lịm, sẽ thấy đời đẹp hơn, vui hơn, đáng sống hơn, không lo lắng gì hết, quên hết muộn phiền, mệt mỏi, vất vả của cuộc sống thường ngày. Hãy nhìn từng đàn chim bay trên mặt biển. Hãy nhìn những khuôn mặt vô tư, nhảy múa, ca hát suốt ngày, vui như vui thời trẻ thơ, vui như sống ở Thiên Đường, không có chiến tranh, không có người ăn mày trên đường phố. Những người nào có tính nghệ sĩ sẽ tha hồ sáng tác những bản tình ca tuyệt diệu, những bài thơ, bài văn, đem niềm vui và lẽ sống cho người khác.

Kiều Mỹ Duyên đi giữa rừng cây ở Costa Rica.

          Nếu tôi là ca sĩ, tôi sẽ ca những bản nhạc tuyệt vời về tình người. Nếu tôi là thi sĩ, tôi sẽ làm những bài thơ về tình người tuyệt vời. Nếu tôi là văn sĩ, tôi sẽ viết về những mối tình bất hủ. Tôi ca ngợi hòa bình, không có chiến tranh, không có ai sản xuất vũ khí, không có người giết người, chỉ có người yêu người mà thôi.

         Tôi thích nói về tình yêu hơn thù hận. Yêu thương nhẹ nhàng hơn, thù hận sẽ làm cho đầu óc mình nặng nề, khó thở. Hãy thương nhau, hãy cho nhau nụ cười hay lời thăm hỏi ân cần, ấm áp. Hãy nhìn những người ra đi nhưng lòng không muốn từ giã cõi đời này. Ai mà không thích sống với gia đình và người thân của mình mãi mãi chứ?

          Đã nhiều năm, chiều nào chúng tôi cũng vào thăm đồng hương ở viện dưỡng lão. Tôi đã từng nghe:

          – Tôi không muốn chết, tôi không muốn chết.

          Tiếng rên rỉ của bệnh nhân làm cho người nghe xúc động, nhưng rồi thần chết cũng đến và đem người bệnh ra đi về cõi nào đó không ai biết?

          Còn sống thì còn yêu thương. Tình yêu ơi đừng cất cánh bay cao, bay xa. Tình yêu vĩnh cửu!

          Tôi rất trân quý tình yêu, tôi rất trân quý những buổi gặp gỡ với các bằng hữu từ xa đến. Họ đến từ những nơi rất xa, từ San Jose, Arizona, Florida, Chicago, Michigan, Boston, D.C, Seattle, Pháp, Úc, Á Châu, v.v.

          Tôi tự hỏi mai này mình còn gặp những bằng hữu này nữa không?

          Xin chúc sức khỏe, bình yên và hạnh phúc cho tất cả mọi người.

Orange County, 21/7/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




Thơ YÊU EM và XIN ĐỔI KIẾP NÀY




CD HOA TÍM NGƯỜI XƯA

Bé Victoria Thuý Vi




CHÀO MỪNG NHÀ VĂN HỒNG THỦY GIA NHẬP VTLV – Lê Văn Hải – Thơ Phương Hoa + Minh Thúy + Dương Huệ Anh & Truyện (Ra mắt) Hồng Thủy –

Tóm tắt tiểu sử:

*Viết văn từ 1958, Bút hiệu Mộng Huyền

*Ngừng viết khi lập gia đình. Viết lại tại Hoa Kỳ 1986

Đã xuất bản:

*Những Cánh Hoa Dại Mầu Vàng, 2010

*Hoa Tương Tư, 2017

*Góp mặt trong:

*Truyện ngắn Phụ nữ Việt, 1994

*Tuyển tập Phụ nữ Việt, 2006, 2008

*Hương đời kỳ diệu, 2007

*Du Tử Lê Tác giả và Tác phẩm

*Tuyển tập Thơ Cỏ Thơm

*Tuyển tập Văn chương Phụ nữ, 2013

*Hồi Tưởng Dấu Yêu, 2015

*Tuyển tập Cô gái Việt, 2016

*Nguyễn Ngọc Bích, Tấm lòng cho quê hương, 2016

*Chủ bút Nguyệt San Kỷ Nguyên Mới

*Trong Ban biên tập Cỏ Thơm

*Thành Viên Câu lạc bộ Văn Học Nghệ Thuật vùng HTĐ

*Chủ Tịch Văn Bút Hải Ngoại Vùng Ðông Bắc Hoa Kỳ (2018-hiện tại)

***************************

Phương Hoa & Hồng Thủy

ĐÀN BÀ LÀ GÌ NHỈ?

Phiếm Hồng Thuỷ

Đàn bà là món quà quí giá đặc biệt Thượng Đế tặng cho trái đất. Từ ngày có đàn bà, trái đất sống động vui vẻ hẳn lên. Ngày xưa lúc chưa có đàn bà, đàn ông cảm thấy tâm hồn cằn cỗi chả có đối tượng nào để mà mơ, mà mộng. Cuộc đời chán nản, khô khan. Ăn rồi chỉ muốn nằm chèo queo ở nhà.

Có bóng hồng xuất hiện, mắt các chàng bỗng sáng lên, tâm hồn bỗng phơi phới, yêu đời, đầu óc đâm ra mơ mộng, nghĩ toàn những danh từ thật bóng bẩy ướt át đế tán tỉnh các nàng. Bề ngoài các chàng cũng đẹp trai sáng sủa hẳn ra, vì tối ngày được trau chuốt.

Không đi tán đào, ăn diện làm gì cho mất công, phải không quí vị liền ông? Quên nữa, điều này mới là quan trọng. Có đàn bà các ông sạch sẽ hẳn ra. Ông nào lười biếng không chịu tắm gội, sửa soạn đi gặp đào cũng phải tắm rửa sạch sẽ, đánh răng đánh lợi kỹ càng. Để chắc ăn có ông còn súc miệng thêm bằng Listerine nữa chứ. Tóm lại là nhờ có đàn bà, đàn ông lúc nào cũng phải cố gắng ăn ở hợp vệ sinh thơm tho sạch sẽ. Tưởng tượng ghé vào tai nàng thì thầm mà hơi thở không thơm tho thì các nàng chạy de hết.

Các ông hà tiện không chịu chi tiêu cũng trở nên rộng rãi hào hoa hơn. Đi tán đào thì phải bao các nàng ăn uống. Lâu lâu cũng phải quà cáp đế lấy lòng người đẹp. Thành ra, dù kẹo cách mấy, các ông cũng phải mở bóp chi tiêu. Chi mãi thành quen, tính kẹo đỡ đi được một chút.

Trên đây chỉ là ba cái “công dụng” lẻ tẻ. Cái công dụng có chưởng lực mạnh nhất là đàn bà đã mang lại sự trường tồn cho nhân loại. Không có đàn bà trái đất sẽ vắng hoe. Làm sao loài người có thể sinh sôi, nẩy nở nếu đàn bà không mang nặng đẻ đau? Không có đàn bà chắc chắn loài người sẽ tuyệt chủng.

Như vậy đàn bà xứng đáng được vinh danh là người quan trọng nhất trên trái đất (VIP đấy).

Dù là VIP đàn bà vẫn bị xếp đặt ở một vị trí rất  khiêm tốn. Xã hội Việt Nam đặt ra những phong tục tập quán thật bất công với đàn bà. Chắng hạn như “Tại gia tòng phụ.Xuất giá tòng phu. Phu tử tòng tử.”

Về phương diện mê tín dị đoan cũng trọng nam khinh nữ. Hễ ra ngõ gặp trai là hên, gặp gái là xui. Sau khi lập gia đình, người đàn bà phải mang tên của chồng. Tên của mình bị chìm vào quên lãng.

Lớn lên con gái bị lép vế đủ thứ. Trong gia đình, bao giờ người con gái cũng phải làm việc nhiều hơn con trai và không được cưng chiều bằng con trai. Trong việc “bồ bịch” con gái chỉ là người bị động, nghĩa là bị dụ dỗ tán tỉnh. Con trai mới là chủ động, tự mình đi bắt bồ tán gái.

Vậy mà nếu con gái có nhiều bồ vẫn bị coi là đồ gái hư, lăng loàn, trắc nết. Con trai có nhiều bồ lại được khen là “anh chàng “đắt mèo” nhiều gái mê, hào hoa phong nhã.

 Khi lập gia đình, ông nào cũng muốn cô dâu phải còn mới toanh trong trắng nguyên vẹn, trong khi các ông đã cũ xì, cũ xịt, xài tới xài lui không biết bao nhiêu lần. Lấy nhau rồi, đàn ông vẫn có quyền “trai năm thê bảy thiếp”, nhưng đàn bà ngược lại “gái chính chuyên chỉ có một chồng.”

Đến lúc có con, đàn bà là người mang nặng, đẻ đau. Thức khuya, dậy sớm, lo cho con cho đến ngày chúng khôn lớn. Người mẹ bao giờ cũng vất vả với con nhiều hơn là bố. Vậy mà hễ cái gì dính dáng đến mẹ thì bị gọi là họ ngoại. Có nghĩa là vòng ngoài, ngoại tộc. Cái gì dính dáng đến bố được gọi là họ nội. Nội là bên trong, gần gũi thân thiết. Bị đối xử bất công như vậy mà đàn bà vẫn chấp nhận vui vẻ, coi đó là cái truyền thống của dân tộc, thử hỏi có tội nghiệp không?

Dù có bất công và theo lối cổ lỗ sĩ, quan niệm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” coi thường đàn bà tới đâu đi nữa, cũng không ai có thế chối cãi đàn bà đáng yêu vô cùng.

Đọc đến đây, nhiều đấng mày râu bị vợ đì hay bị đào hành hạ sẽ mắng mỏ tôi tới tấp “nhờ chị tí nhé! mấy điều chị nói về đàn bà ở trên chúng tôi nghe đã ngứa tai lắm rồi, nhưng không cãi được vì chị nói có lý quá. Nhưng còn cái câu chị khen đàn bà đáng yêu vô cùng thì phải xét lại. Chả hiểu mấy mụ bà chằng đang hành hạ chúng tôi, nó đáng yêu cái cái chỗ nào.

Bình tĩnh suy nghĩ lại đi các ông ơi! Khởi thủy đàn bà bao giờ cũng đáng yêu. Không đáng yêu các ông dại gì mà theo đuổi, o bế, tán tỉnh. Hứa nhăng hứa cuội đủ điều, rồi mang xe bông rước về làm vợ. Có ai đi tán một con mẹ đáng ghét để mong được làm người yêu hay làm vợ đâu. Bằng chứng cụ thể là thư tình gửi cho đàn bà bao giờ các ông cũng viết “Em yêu”, “Em yêu quí”, “Em yêu dấu”. Cuối thư bao giờ cũng không quên “yêu em nhiều lắm” v.v… và v.v…

Vậy nếu em không đáng yêu, các ông điên gì mà yêu em lắm thế? Vậy thì đàn bà đáng yêu là cái chắc chứ còn phải xét đi xét lại gì nữa. Lấy các ông rồi những người đàn bà đáng yêu nếu có thể trở thành bà chằng đáng ghét cũng chẳng có gì phải ngạc nhiên. Đàn bà vốn thông minh “nhập gia” phải “tùy tục” chứ làm sao hơn được. Ông chồng “quá trời”, cực chắng đã, bà vợ mới phải ra tay. Lý do thật đơn giản, đàn bà vốn mềm dẻo “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Ông chồng “quá xá quà xa” mà vợ hiền khô thì coi “hổng hợp”. Đàn bà phải tập thay đổi cho nó “xứng đôi vừa lứa” với chồng.

Như vậy các ông phải khen đàn bà mới phải. Nỡ lòng nào các ông lại gọi đàn bà bằng những cái tên chẳng êm ái tí nào “cọp cái”, “bà chằng”, “sư tử Hà Đông” v.v… Ăn ở kiểu đó là hổng có “phe” đâu à nghe. Trời phạt chết đó. Muốn lên thiên đàng với niết bàn, các ông nên ăn ở có trước có sau. Nghĩ đến đàn bà, các ông nên nghĩ đến những hình ảnh đẹp đầy mộng mị mà các ông mê mẩn ở những giây phút của thưở ban đầu. Hãy nhớ đến căn nhà các ông sống hồi độc thân nó lạnh lẽo, im vắng, chán nản như thế nào. Đến khi có nàng xuất hiện, tất cả đều biến đổi một cách nhiệm mầu. Trong nhà đầy tiếng cười nói ríu rít của trẻ thơ. Căn bếp lúc nào cũng ấm cúng với cơm dẻo canh ngọt, chiếc giường xưa kia lạnh lẽo vì chăn đơn gối chiếc, nay đã được sưởi ấm bằng ái ân nồng thắm của tình nghĩa vợ chồng.

Nghĩ như vậy các ông sẽ thấy đàn bà không chỉ đơn thuần là những người vợ. Đàn bà là những chiếc đũa thần, đã mang sự sống, niềm vui, hạnh phúc đến cho nhân loại. Tưởng tượng thế giới toàn đàn ông sẽ buồn nản đến thế nào. Tim các ông sẽ không có đối tượng để mà rung động. Hồn các ông sẽ không bao giờ có cơ hội để mà nhung nhớ mộng mơ. Các ông sẽ chẳng bao giờ được hưởng niềm vui nhìn đàn trẻ thơ tung tăng đùa giỡn. Và cuối cùng các ông sẽ chẳng bao giờ hiểu được ý nghĩa của tình yêu.

Tôi nhớ mỗi năm khi ngày “Mother’s Day” đến, các ông thường kiếm cớ “em là vợ anh chứ có phải là má anh đâu mà anh phải mua quà.” (Câu này tôi nghe…quen quen quí vị ạ) Dù những người vợ không phải là má của các ông, nhưng là…má của các con ông! Các nàng đã cho các ông những đứa con xinh đẹp ngoan ngoãn. Những người vợ xứng đáng được tặng một món quà trong ngày Mother’s Day, dù nhỏ bé cũng được, nhưng thể hiện cái tình nồng thắm của nghĩa vợ chồng.

Đàn bà dù là…chiếc đũa thần (tự khen đó nha!) nhưng vẫn thèm được chồng yêu, chồng chiều và nhất là “chồng cho quà.”

Các ông đừng bao giờ quên điều đó nhé!

                Hồng Thuỷ                                          




BÓNG TRĂNG SOI MẶT HỒ – Thơ Xướng Họa: Lê Tuấn & Phương Hoa + Minh Thúy




Chúc Mừng NHÀ VĂN CHU TẤN Lành Bệnh – Phương Hoa – Lê Tuấn – Thư Khanh – Hoàng Mai Nhất – Minh Thúy




MƯỢN

Sáng tác : Nguyễn Đình Hòa




CẦM CHẦU [Ca trù Thái Hà – Xuân Mai]




Trả Cho Người




Hoàng Hôn Của Các Đại Tướng – Giao Chỉ, San Jose.

Hoàng hôn của các đại tướng.

Giao Chỉ, San Jose.

Sáng nầy nhận được thư của niên trưởng hàng xóm Nguyễn Khắc Bình. Thứ sáu 16 tháng 7-2021 San Jose tưởng niệm thủ tướng Trần Thiên Khiêm tại nhà thờ Maria Goretti 2980 cầu nguyện lúc 11:30 và thánh lễ lúc 12 giờ. Ban tổ chức là tướng Bình nguyên TMT của đại tướng Khiêm và ông Ng Đức Cường nguyên tổng trưởng kinh tế trong nội các của thủ tướng đệ nhị cộng hòa. Ban tổ chức xin mời toàn thể đồng hương đến dự.                                                             Cũng vào dịp tháng 7 vào ngày 20-1974 cách đây 67 năm là dịp tưởng niệm cuộc di cư vĩ đại đưa 1 triệu người từ Bắc vào Nam. Tháng trước anh Dương Phục của Radio Saigon Houston hỏi rằng bác Lộc có biết đại tướng Khiêm ở CA không. Trả lời rằng ngày xưa ở Việt Nam chưa từng có dịp trực diện khi ông tướng còn trong quân đội. Sau này ông làm thủ tướng thì lại càng xa cách. Mấy năm gần đây tướng Bình có dịp mời ông đến thăm Việt Museum nên tôi mới có cơ hội nói chuyện. Nhắc lại chuyện xưa thời kỳ đất nước còn đủ hai đầu Nam Bắc, Sài Gòn Hà Nội cũng thực thú vị.

Những vị đại tướng VNCH.                                                                      

Quý vị có biết quân đội chúng ta có bao nhiêu ông đại tướng. Cao cấp và thâm niên nhất là đại tướng Lê Văn Tỵ, khi ông qua đời thời kỳ quốc trưởng Nguyễn Khánh đã truy thăng ông lên Thống Tướng. Các vị đại tướng khác là tổng thống Dương Văn Minh, Cố vấn Đặng Văn Quang, quốc trưởng Nguyễn Khánh, Tổng tham mưu truong Cao Văn Viên và thủ tướng Trần Thiện Khiêm.                  

 Hoàng hôn của các đại t ướng.                                                              

Ngoại trừ tướng Viên ra đi từ miền Đông, tất cả các vị đại tướng đều trải qua những ngày cuối cùng tại tiểu bang CA Hoa Kỳ. Nước Mỹ đã từng là đồng minh của các tướng lãnh cầm quyền. Rồi đã quay lưng bỏ rơi, nhưng sau cùng Hoa Kỳ cũng vẫn là nơi quý vị gửi nắm xương tàn. Tôi có dịp nói chuyện với đại tướng Cao Văn Viên tại cao ốc cao niên xứ Virginia, với quốc trưởng Nguyễn Khánh và thủ tướng Khiêm tại Việt Museum San Jose. Không hỏi về chiến tranh và quốc sự. Chỉ hỏi về tuổi hoa niên. Còn tuổi nào là tuổi của tình yêu lúc mới vào đời. Tình yêu nước, yêu người và yêu chính mình.  Các niên trưởng đều đồng ý là tuổi 20. Thời kỳ trước 1954, ở Secteur Hưng Yên đã có 3 vị sĩ quan trẻ tình cờ gặp nhau trên chiến trường Bắc Việt. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu gốc Phan Rang, Trung Kỳ. Trung Úy Cao Văn Viên gia đình từ Lào trở về Hà Nội, Bắc Kỳ. Đại úy Trần Thiện Khiêm, quê Long An, Nam Kỳ. Không ai biết rằng sau này sẽ trở thành tổng thống, thủ tướng và tổng tham mưu trưởng. Cũng vào thời kỳ đó đại úy Nguyễn Khánh từ Sài Gòn ra hành quân Hà Nội đã lấy cô vợ của 36 phố phường. Nửa thế kỳ sau tôi hỏi niên trưởng Khánh ai lái xe đưa ngài từ Sacto về thăm bảo tàng của chúng tôi tại San Jose. Ông nói ngon lành. “Moi” lái chứ ai. Lại hỏi ai ngồi ghế chỉ huy bên cạnh. Bà ngoại hàng Đào của đám Bắc Kỳ nhà anh chứ còn ai. Mấy năm sau cả hai ông bà cùng vào ở chung một phòng trong nhà già bác sĩ Ngải. Luật nursing home là nam nữ bất khả chung phòng, ngoại trừ phòng của ông bà quốc trưởng. Khi quốc trưởng ra đi, khách vào thăm, cô gái hàng Đào Bắc Kỳ, một thời đệ nhất phu nhân hồn nhiên nói rằng anh Khánh đi công tác. Không có nhà. Bà đã thăng hoa ngay trước khi tình Bắc duyên Nam vẫn còn nguyên vẹn. Ông Khánh lấy vợ Bắc nhưng ông đại úy Khiêm thì vẫn một lòng một dạ với tình yêu Nam Kỳ. Ông lấy vợ Rạch Giá. Trong quân đội cấp bậc của chúng tôi xa cách. Trong chính quyền vai trò của chúng tôi lại càng cách biệt, nhưng về đường tình duyên chúng tôi chẳng khác biệt bao nhiêu. Nhà tôi cũng là nữ sinh trường Nguyễn Trung Trực cùng với chị em bà Trần Thiện Khiêm. Khi cùng ngồi nói chuyện tôi thưa rằng từ Bắc vào Nam tìm thấy hồ Than Thở ở Đà Lạt. Ai ngờ đi hành quân ở Hậu Giang thấy Rạch Giá cũng có hồ Than Thở. Xếp Khiêm vỗ đùi nói rằng: “Toi”nói đúng, “moi”lấy vợ Rạch Giá cũng thấy cái hồ Than Thở  Mệt lắm.  

Nói đến thủ tướng Trần Thiện Khiêm ai cũng tiếc rằng ông Thiệu ông Khiêm đều không ông nào để lại hồi ký. Lúc sinh thời thủ tướng Khiêm nổi tiếng là người ít nói dù trước năm 1975 hay sau này trải qua gần nửa thế kỷ lưu vong. Ngày xưa trong một buổi đại hội tại Vũng Tàu do tổng thống Thiệu chủ tọa có cả nội các và tướng lãnh tham dự. Hội trường có cả trăm người chiếu trực tiếp trên TV. Tổng thống thao thao bất tuyệt. Ông nội thẳng những điều cấm kỵ. Về bang giao Việt Mỹ, ông không ngần ngại nói rằng ảnh hưởng Hoa Kỳ Việt Nam rất quan trọng và trực tiếp. Bên Mỹ hắt hơi là bên ta sổ mũi. Suốt buổi thủ tướng ngồi bên cạnh, đeo kính mát, yên lặng và bình tĩnh. Báo chí gọi là ông Tư mắt Kính. Không nói. Không lỡ lời. Không sai lầm. Đó có thể là khuyết điểm của chính khách. Đó cũng có thể là ưu điểm của chính trị gia. Sau này ra hải ngoại cũng như thế. Dư luận có thể thêu vẽ và bình luận về vai trò của đại tướng trong chính trường Việt Nam từ binh biến 63 cho đến ngày tàn cuộc 75, nhưng không hề khai thác được điều gì trực tiếp từ niên trưởng Khi êm. Tất cả chỉ là suy diễn. 

Những ngày sau cùng.

Những năm gần đây niên trưởng Khiêm quanh quẩn tại San Jose. Vóc dáng cao lớn và khỏe mạnh với tuổi ngoài 90. Ông không ngần ngại xuất hiện trong các buổi họp mặt đông đảo. Cùng với niên trưởng đô đốc hải quân Trần văn Chơn và tham mưu trưởng Nguyễn Khắc Bình, quý vị làm thành bộ ba tương đắc của QLVNCH. Thêm vào sự hiện diện của tổng trưởng kinh tế Nguyễn Đức Cường và dân biểu dược sĩ Nguyễn văn Bẩy.  Dù sao cũng chỉ còn vang bóng một thời. Chung quanh là những người biết chuyện nhưng không nói và người không biết tha hồ lên tiếng. Văng vẳng đâu đây là lời nói than vãn của trung tướng Thiệu: Mất nước là mất tất cả. Trong hoàn cảnh cả cộng đồng Việt hải ngoại chia rẽ giữa 2 đảng Cộng Hóa và Dân Chủ, ông đại tướng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà lặng lẽ ra đi.  Lúc cư ngụ ở San Jose niên trưởng Khiêm bị té và đau chân. Ông nằm trong Nursing home một mình. Hồ Than thở xứ Ki ên Giang của ông đã bỏ đi từ lâu sau một thời gian rất dài ông phải săn sóc cho bà. Ông thủ tướng đã trải qua giai đoạn rất vất vả nuôi vợ mệt mỏi hơn cả lúc cầm quyền. Ông vẫn nằm chờ đợi một mình. Một hôm có vị linh mục là cha xứ gốc Việt của miền Senter vào thăm thân phụ. Quan sát thấy tình cha con trong vòng đạo lý tôn giáo. Cha vào thăm con hay con vào thăm cha. Đại tướng bèn mời linh mục đến gặp. Ông muốn tìm về niềm tin tôn giáo vào những ngày cuối của cuộc đời. Tôi tưởng rằng niên trưởng Khiêm lẽ ra phải theo đạo từ thời ông Diệm, nhưng tôi nhầm. Thời đó mà rửa tội có thể do ảnh hưởng chính trị. Nhưng đến năm 2021 mà theo đạo là do tiếng gọi của con tim. Đại tướng hỏi vị chủ chiên tên họ là gì. Thầy tu thưa rằng họ Lê chữ đệm là Trung, tên gọi là Tướng. Lê Trung Tướng. Chuyện đơn giản thành phức tạp. Vào ngày đẹp trời. Ngay tại Nursing Home có ông Trung Tướng họ Lê rửa tội cho đại tướng thủ tướng họ Trần tại San Jose. Cuối tuần qua lễ tang đã tổ chức cho niên trưởng Khiêm tại San Deago nhưng hoàn cảnh hiện nầy mọi chuyện đều phải xếp hàng. Niên trưởng của chúng tôi, vị đại tướng cuối cùng của QLVNCH cũng đang xếp hàng nằm chờ chưa đến lượt hỏa thiêu. Con người một thời lẫm liệt, kiến trúc sư của biết bao nhiêu cuộc cách mạng và binh biến. Người đã từng chờ đợi Được làm Vua và thua làm đại sứ. Đã gần 50 năm lưu lạc xứ người. 10 năm nuôi vợ đau yếu và sau cùng hồn thiêng đã bay về cố hương nhưng xác tục vẫn nằm chờ trong phòng lạnh để hỏa thiêu cùng thiên hạ. Đại tướng Khánh, đại tướng Viên, đại tướng Khiêm ai cũng nghĩ rằng cuộc đời đẹp nhất ở tuổi cấp úy ngoài 20. Nếu phải được trở lại làm tuổi trẻ 20 sẽ làm lại từ đầu. Sáng suốt hơn, xây dựng hơn, bao dung hơn và giúp được biết bao nhiêu cho đất nước cho dân tộc và cho chính mình.

Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y, Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp. Chín mươi năm, cuộc đời như gió thoảng. Chiều cô đơn về chậm hồn cao niên.(Giao Chỉ tưởng niệm niên trưởng Khiêm, cùng hội cùng thuyền những người con rể xứ Kiên Giang.)

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




GỌI GIÓ VÀNG – Cao Mỵ Nhân

GỌI GIÓ VÀNG

Cao Mỵ Nhân

Thơ Đường qua thể loại thất ngôn bát cú thông thường, với hình thức một bài thơ gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ, 5 vần bằng  ở mỗi cuối câu: 1 2 4 6 8, cuối 3 câu: 3 5 7 thì tất nhiên là vần trắc rồi.

Nhưng không phải “chỉ có vậy.”  Nó, bài thơ thể loại này, còn bắt ta học gần nửa trăm quy luật: mà mỗi chữ, mỗi câu mang một nhiệm vụ riêng.

Các câu

1/ Phá đề

2/ Thừa đề

3+4 / Thực hay trạng: cặp đối thứ 1

5+6 / Luận: cặp đối thứ 2

7/ Chuyển

8 / Kết.

Xem ra quý vị cứ việc bám sát đề bài, với tinh thần nêu trên là qua cầu vui vẻ rồi.

Tôi nhớ cụ thi sĩ rất tên tuổi trong chiếu thơ Đường hàng chức sắc, nói với tôi rằng:

” Không phải cứ cặp đối 3+4 ( thực trạng ) với nội dung bài là đắc sách đâu, tất nhiên thực hay trạng của bài thơ Đường Luật là quan trọng rồi.

Nhưng, tôi nói cho Cao Mỵ Nhân biết, câu chuyển ( thứ 7 ), là đắt giá nhất, nó tóm gọn toàn bài trước khi kết thúc đấy .” ( Cụ Trình Xuyên ).

Sau khi tôi đã hoàn toàn chấm dứt cái nạn tù cải tạo do csvn áp đặt, đầu năm 1980, tôi bắt đầu sinh hoạt văn nghệ nơi các hội thơ, hội thảo thi ca cổ điển VN …xưa.

Tức là ngoài việc tôi gia nhập thi đàn Quỳnh Dao của quý vị nữ sĩ tên tuổi như Mộng Tuyết, Vân Nương, Quỳ Hương, Uyển Hương, Đinh thị Thục Oanh, Tuệ Mai vv…

Quý vị toàn gấp đôi, gấp rưỡi tuổi tôi, có vài vị nữ sĩ trẻ hơn các niên trưởng nêu trên, như Tuệ Nga, Tôn nữ Hỷ Khương, thì tôi trở thành ” Em út Quỳnh Dao “, có nghĩa là tuổi tác và sức khoẻ tôi còn xài được với thế hệ sau của quý niên trưởng chuyên xướng hoạ Thơ Đường.

Bên cạnh quý vị đương nêu, là quý thi khách Đường Thi như quý cụ Quách Tấn, Đông Hồ ( đã quá cố) , Giản Chi, Vũ Hoàng Chương,  Hà Thượng Nhân vv…cũng đã quá cố.

Song le, mỗi quý vị nữ sĩ Quỳnh Dao lại giao hảo với số khách Đường Thi riêng, mà khác đường lối chơi thơ cổ điển chung của thi đàn Quỳnh Dao, nên tôi vì là ” Em út Quỳnh Dao ” gần như tôi có bổn phận phải biết từng tích tắc khác biệt đó.

Thí dụ : Nữ sĩ Thu Nga thì thỉnh thoảng xướng hoạ với quý cụ thi sĩ Tế Nhị, Như Ý, Trình Xuyên, Linh Điểu vv…

Đại khái ” xã giao ” thơ, mà lại là thơ luật Đường , không phải đơn giản, chỉ 2 chữ ” Thôi, Xao ” của Giả Đảo đã là một thần thoại thích thú.

Nay, sau cuộc đổi đời 30 -4 -1975, sĩ khí người cầm bút đã gây nhiều mâu thuẫn thời thế, huống hồ chơi thơ luật, là các bậc thịnh Hán, túc Nho, có dịp biểu lộ tinh thần ” chi hồ giả dã ” thời đại ra, để khích bác điều bất như ý.

Do đó thế giới thơ của mỗi vị thì vô cùng …

Chuyện xướng hoạ thơ luật Đường vô hình chung cho ta cảm giác tôn ti trật tự của trước nhất là tuổi tác, các yếu tố khác như địa vị, gia thế vv…và nhất là thơ, có hay ho tới đâu, cũng phải qua ngưỡng cửa ” niên tuế ” khách thơ đang hiện diện ở hội thơ lúc đó.

Trong hội thơ Quỳnh Dao chúng tôi, kể từ ngày tôi tham dự , tôi luôn luôn là người giới thiệu chương trình hội thơ, thường thi đàn tổ chức thay phiên tại các tư gia của các nữ sĩ.

Cũng từ đấy, tôi may mắn được diện kiến các bậc ” Đường thi khách ” lão luyện còn …sót lại, mà tôi rất kính phục như quý cụ Quách Tấn ( Nha Trang ), Bùi Khánh Đản ( Saigon ) Chánh Hà, và nhất là nữ sĩ tiền chiến Ngân Giang, các vị ở Hà Nội từ thủa còn được tôn phong là Hà Thành thanh lịch.

Tức là thời đệ nhất bán thế kỷ vừa qua, không phải mang cái mầu sắc Xã Hội chủ Nghĩa hay vô sản, quý vị vô thăm Saigon và miền nam sau 30 – 4 – 2020, tôi mới có cơ hội được gặp quý cụ ” Đường thi chuyên nghiệp “.

Ngoài việc nữ sĩ chủ nhà buổi hội thơ hôm đó, mời tiệc, hội có thể mời thêm dăm ba khách ” thời thế ” , không làm thơ, nhưng muốn thả hồn theo dòng suy nghĩ riêng tư, thể hiện nơi hội thơ hậu chiến .

Cũng chính vì thế, mà không khí loãng ở một vài hội thơ sau cuộc đổi đời nêu trên, đã có lúc được khách tham dự phải bỏ cuộc, để mau chóng ra về, cho khỏi mang hoạ ” chính trị ” vào thân, vì bị Công An rình mò, bắt bớ.

Thí dụ : Tại tư thất nhà thơ hoàng phái Vĩnh Mạnh Thường Quân vào mùa xuân năm 1982, buổi đó được giới thiệu là có 3 vị thi sĩ lão thành đại diện cho 3 miền, gồm :  cụ Vũ Đình Liên ( Bắc) tác giả bài thơ” Ông Đồ “, cụ Vân Giang ( Trung ) và cụ Trác Ngọc ( Nam ) ngồi phía đầu dãy chiếu hoa trải kín nền phòng khách Thạch Động, chủ toạ.

Chúng tôi ngồi chung quanh chu vi chiếu thơ mở rộng.

Sau tất cả các thủ tục ban đầu, gồm giới thiệu thi tướng, thi tài vv… là ai muốn trình bầy ý thơ gì, cứ việc ” phát biểu “.

Nhà thơ ” Đường thi tức vị ” theo thời thế cho yên thân, đã hỏi cụ Vũ Đình Liên rằng :

” Cụ là chứng nhân của 2 thời đại thơ như Ông Đồ trước khi đi …cách mạng, và bài thơ Ông Đồ csvn, bút sắt thay bút lông ngày xưa vốn hoa tay thảo những nét, như phượng múa, rồng bay. Nay, nói theo thời đại ” logic ” tình hình thơ chung và riêng của cụ thế nào ?

Chúng ” cháu ” đã mất hết cảm hứng khi đọc lại bài thơ Ông Đồ xưa của cụ . Và, tại sao các cụ vô đây, để làm cái việc cho xe ba gác chở tất cả thơ hay, thơ đúng nghĩa thơ, của các thi sĩ danh tiếng cả nước, như thơ Vũ Hoàng Chương, thơ Đinh Hùng vv…” đem đi thiêu huỷ ?

Câu hỏi được đặt ra, nhưng không cần chờ nghe câu trả lời, nhà thơ trẻ ( ngoài 30 tuổi, cái tuổi dễ bị bắt nhất ) đứng lên cáo từ, và đi như chạy ra khỏi hội thơ.

Như tôi đã có dịp trình bầy nhiều lần là: Thơ luật Đường Tống đã phổ biến trong xã hội VN từ nhiều đời . Nét tinh hoa của thể luật này, tưởng kết thúc ngay từ đầu thế kỷ 20 vừa qua, với 2 hồi chuông báo tử thất thanh, của quý vị thi sĩ lỗi lạc Đường luật là cụ Tú Xương qua nỗi buồn phải chấp nhận hoàn cảnh tây học :

” Ném bút lông đi, viết bút chì …”

Cùng một cuốn thơ tạ từ năm tháng cũ :

” Mùa Cổ Điển ” của cụ Quách Tấn .

Tôi vốn ưa những điều ” ham hố ” .

Sau đại nạn 30 – 4 – 1975, thay vì đi tìm một ngoại ngữ học để có thể kiếm sống, tôi lại rong chơi ” Thơ Đường “, học hỏi và đi sát quý cụ để thấy được những kỳ bí, mà có lẽ chỉ ở thể loại này, người ta mới dễ bày tỏ, hứa hẹn, dặn dò quyết liệt người được nhận, hay phải trả lời thơ trao, hoặc tặng.

Nghe tin tôi vừa từ trại tù cải tạo về. Thi sĩ danh tiếng Bùi Khánh Đản cùng thi sĩ Bàng Bá Lân ( viết thơ mới nhiều hơn ) đã mỗi cụ một xe đạp mi ni, ghé thăm tôi sức khoẻ và hồn thơ khoảng khoát thế nào.

Cụ Bùi Khánh Đản viết trên một tờ giấy mầu vàng, rộng bằng trang báo lớn, bài thơ tên Quang Vinh như sau:

  QUANG VINH 

(Bài xướng)

Xiết chặt vòng tay cùng chặn gió

Mở đường kiếm khí dậy hào quang

Nước mây sẽ ấm trời băng lạnh

Cây cỏ rồi thay sắc đoạn trường

Hương chính nghĩa tràn trên đỉnh mộng

Lửa kiêu hùng đốt sạch rừng hoang

Chúng ta bỗng bật tim thành tiếng

” Sử Việt từ nay đẹp chữ vàng  “.

          Saigon 7/1980   

         BÙI KHÁNH ĐẢN

Dù mới từ trại tù cải tạo về, tôi cũng quên béng thân phận sĩ quan chế độ VNCH, rất dễ tái tù, khó tránh .

Tôi kính hoạ thơ cụ Bùi Khánh Đản tặng tôi như sau :

          GỌI GIÓ VÀNG 

              (Bài hoạ)

Vẫn thả diều lên, tìm hướng gió

Những ngày xanh biếc bầu trời quang

Để xem bóng nắng bao hy vọng

Còn thấy hơi sương phủ dặm trường

Thật rất vô tình nghe nước chảy

Thà đừng cố ý bước chân hoang

Đôi phen tim thắt vì thương tủi

” Mộng với thơ ai chép sử vàng ? “.

        Saigon 11-8-1980  

          CAO MỴ NHÂN

Cụ Bùi Khánh Đản ( 2010 ) và cụ Đỗ Bằng Đoàn ( 1908 – 1986 ) là đồng tác giả cuốn ” Đường Thi Trích Dịch” in roneo 300 cuốn tại Saigon năm 1959, gồm 503 bài của 133 tác giả.

Mới đây tôi được nghe: nhà xuất bản Văn Học Hà Nội đã  in tái bản tác phẩm đồ sộ ” Đường Thi Trích Dịch ” của 2 cụ nêu trên, dày 1271 trang, năm 2006.

Mỗi lần nhật nguyệt lững lờ trôi trên biển trời, cả thế giới

” Đường Thi ” lại như vần vũ gió mưa.

Những thế hệ suy tụng Đường Thi không xếp nếp thời gian, hiện nay ở quốc nội lẫn Hải ngoại, đang vun vén cả rừng hoa tuy bình cũ, nhưng rượu mới, ý thơ bát ngát, thanh sắc lạ lùng, nhưng đầy hứng cảm. Khách yêu thơ cổ điển ưa chuộng những tinh hoa ẩn hiện, linh diệu.

Song cũng chỉ hợp với quý vị tồn cổ, mang cảm giác thầm lặng trước sóng gió phế hưng của thể loại thi ca…đầy nguyên tắc từ xưa tới nay này.

              CAO MỴ NHÂN




Đọc ‘Hoa Cỏ Bên Đường’ của nhà báo Kiều Mỹ Duyên – PHAN TẤN HẢI & LÊ TỐNG MỘNG HOA – LÊ VĂN HẢI

Nữ Phóng Viên Chiến Trường Kiều Mỹ Duyên

Tôi hân hạnh được quen biết với Chị có lẽ đã trên 30 năm. Từ VN trước 75, tôi đã mến Chị qua bài phóng sự “Bay Trên Bầu Trời Lửa Đạn!” Rồi có duyên gặp Chị tại Hải ngoại. Mỗi lần xuống Nam Cali, có đến văn phòng địa ốc thăm Chị vài lần. Nhiều nhất đượcgặp Chị trong những buổi ra mắt sách.
Chị là cây bút hiếm có còn sót lại, gốc từ phóng viên chiến trường, đến nay vẫn sống chết với ngòi bút.
Nhớ thời khi Quê hương trong cơn “Binh lửa,” rất nhiều người vẫn theo đõi những bài phóng sự nóng hổi, khét mùi khói súng chiến trường có tên Kiều Mỹ Quyên, trên nhiều nhật báo ở Sài Gòn, nhất là trên nhật báo Hòa Bình. Tác giả bút ký chiến tranh độc đáo, có một không hai “Chinh Chiến Điêu Linh”
Qua Mỹ, người Nữ phóng viên nhỏ bé, còn xông sáo, thành công hơn cả trên chiến trường! Chị tốt nghiệp Đại học Cal Fulleton. Chủ nhân Ana Real Estate, một trong những văn phòng địa ốc lâu đời nhất, lớn nhất khu Sài Gòn Nhỏ.
Ngòi viết của Chị có mặt khắp nơi, trên khắp mọi phương tiện truyền thông, từ đài truyền hình, trên SBTN, SET, VNA TV, đến những đài phát thanh lớn, như Đài Á Châu Tự Do (RFA)…trên khắp mọi diễn đàn. Giống như “Tề Thiên Đại Thánh,” đâu cũng thấy!
VTLV hân hạnh giới thiệu Tác phẩm mới nhất của Chị xuất bản trong năm nay (2021) có tên “Hoa Cỏ Bên Đường” Bảo đảm rất khác với những ngòi bút nữ khác. Vì đã tôi luyện qua biết bao nhiêu chiến trường khốc liệt, dù qua bao nhiêu năm, vẫn sắc bén, như gươm như giáo, như súng như đạn, bắn vào con tim Người đọc, thành những mảng vết thương nhức nhối, mà sẽ…không bao giờ lành! Thử đọc mới biết!
LÊ VĂN HẢI

ĐỌC TUYỂN TẬP “HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG” CỦA KIỀU MỸ DUYÊN

LÊ TỐNG MỘNG HOA (VA)

Kiều Mỹ Duyên tham dự đại hội kỷ niệm 15 năm thành lập Đài Việt Nam Hải Ngoại.

Cô Lê Tống Mộng Hoa, một bằng hữu và là ân nhân của Hệ Thống Truyền Thông Việt Nam Hải Ngoại (áo dài vàng bên phải)

          Em đã đọc qua các bài giới thiệu tuyển tập HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG của nhà văn Huy Phương, nhà báo Chinh Nguyên và ký giả Mặc Lâm đài VOA. Cả 3 vị đều bộc lộ sự cảm phục và ngưỡng mộ lòng yêu thương, ham mê nghề nghiệp của “phóng viên chiến trường” xông pha vào nhiều chiến địa khốc liệt thập niên 1960 của người “nữ ký giả xuất sắc trong thời gian chiến tranh”: Kiều Mỹ Duyên.

Cả 3 nhà văn, nhà báo này đã viết rất chân tình, rất hay và dẫn dắt độc giả đến gặp một nhà báo lớn thành công, yêu thích nghề làm báo, một ký giả viết phóng sự chiến trường trong nước và viết báo ở hải ngoại qua hơn nửa thế kỷ (1968-2021):

Kiều Mỹ Duyên cũng là một nhà văn với lối hành văn giản dị mà lôi cuốn người đọc vô cùng. Lời giới thiệu tác giả HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG của 3 vị này đã quá đầy đủ và tuyệt dịu, vậy mà chị Kiều Mỹ Duyên vẫn muốn em viết đôi dòng cho tuyển tập này làm chi nữa?

          Vì vậy, em xin lỗi không giới thiệu sách HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG nữa mà chỉ “bật mí” những cá tính đặc biệt, đáng yêu của “chị Hai Kiều Mỹ Duyên” như tên gọi thân thương mà nhà văn Chinh Nguyên đã tặng cho chị.

          1/ Kiều Mỹ Duyên luôn nói cười vui vẻ, thân thiện mỗi khi gọi điện thoại cho bạn bè.

          Có lẽ nhờ duyên lành đưa đẩy mà em gặp và quen biết chị hơn 20 năm qua, mặc dù 2 người có cuộc sống và nghề nghiệp khác nhau. Chị là nhà địa ốc lớn, nhà báo nổi tiếng ăn nói khéo léo, mối giao thiệp lan rộng ra cả toàn cầu; còn em chỉ là “cô giáo dạy tiếng Việt không lương”, một chuyên viên điện toán tầm thường của chính phủ Liên Bang, chỉ giao tiếp trong phạm vi nhỏ hẹp của gia đình, sở làm, trường học tại địa phương.
          Điều khiến em thích thú nhiều nhất nơi chị là tiếng cười giòn giã, vui tươi mỗi lần chị gọi điện thoại hỏi thăm em.

          2/ Kiều Mỹ Duyên, nhà địa ốc giàu xụ luôn đòi “xin ăn” vì đang đói bụng?

          Mặc dù rất bận với 2- 3 công tác cùng một lúc, từ xa xôi chị vẫn gọi hỏi thăm và nói chuyện “thế sự gió mưa” với em ít nhất mỗi tuần 1 hoặc 2 lần.

          Em luôn cười thỏa thích khi nghe chị bảo: “Hoa ơi, mở cửa cho chị mau đi, chị đang đứng trước cửa đây nè, có gì cho chị ăn không, đói bụng quá!” Không những diễn màn hài hước “xin cơm chay” với em, vì biết em ăn chay trường tuy rằng chúng ta ở xa nhau vạn dặm (từ miền Tây sang miền Đông Hoa Kỳ), mà trong các chuyến đi hội họp ở các tiểu bang xa hoặc ở các quốc gia ngoài Hoa Kỳ, chị cũng “xin ăn” tại các chùa chiền và luôn được quý vị ni sư tiếp đãi ân cần, hậu hỹ. Chị còn được nhiều khách hàng của công ty Ana Real Estate (Broker An Nguyễn) làm thức ăn chay tinh khiết ngon lành mang đến biếu tặng chị vì lòng mến mộ, đến nỗi nhà văn Thu Nga (Tổng Giám Đốc Saigon Dallas Radio AM1600 kiêm Giám Đốc chi nhánh Hệ thống SBTN-TV Texas, bạn của chị ở Texas) đã phải than: “Mấy người này đang mang củi về rừng mà không biết!” Vì nhà nghèo mà lại đem dâng hiến cho nhà giàu, cũng lạ thật!

          3/ Hai chị em có chung một MƠ ƯỚC.

          Khi ký giả Mặc Lâm (đài VOA) phỏng vấn chị: “Bà có dự định gì cho những ngày sắp tới?”, sau hơn nửa thế kỷ hoạt động thành công trong lãnh vực báo chí truyền thông, chị đã tâm sự: “Cái mơ ước của chúng tôi suốt cuộc đời còn lại là giúp đỡ cho những người nghèo, những đứa trẻ mồ côi không cha không mẹ, hay là những người ở trong những làng quê hẻo lánh mà không được đi học thì mong rằng những đứa trẻ được đến trường, mong rằng những đứa trẻ có áo ấm mặc trong mùa đông và có thuốc men có thức ăn và có một đời sống văn minh cũng như tất cả mọi người.”

          Em đã cười vui sướng khi đọc đến đoạn này! Hi hi hi! Ha ha ha! Như vậy là hai chị em có chung một ước mơ, hèn gì tình thân thương giữa hai người tuy ở xa nhau, lối sống khác nhau vẫn còn được bền lâu, vững chãi.

          Xin cảm tạ ơn trên Trời Phật đã dẫn dắt cho em được quen biết với chị, một gương sáng hoạt động không ngừng nghỉ và đạt đến thành quả tốt đẹp rực rỡ trong môi trường báo chí, truyền thông cũng như địa ốc!

          Cầu mong cho tuyển tập HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG được đồng hương Việt Nam khắp nơi đón đọc thích thú và trở thành “Best Seller Book” năm nay giống như cuốn sách Chinh Chiến Điêu Linh của chị trước đây.

LÊ MỘNG HOÀNG

LÊ TỐNG MỘNG HOA (VA)-7/22/2021

Charity Group of VA Affection
Nhóm Từ Thiện Tình Thương VA
Caring and Sharing with Affection

Đọc ‘Hoa Cỏ Bên Đường’ của nhà báo Kiều Mỹ Duyên

Phan Tấn Hải

Không kể tới tuyển tập Chinh Chiến Điêu Linh, một tập bút ký xa xưa gồm nhiều bài có chủ đề một thời Chiến Tranh Việt Nam của phóng viên chiến trường Kiều Mỹ Duyên, tôi có nhiều cơ duyên đọc nhiều bài viết ở hải ngoại gần đây của người tôi quen gọi là chị An Nguyễn Kiều Mỹ Duyên, nhà báo của một thế hệ đã vào nghề phóng viên trước tôi nhiều thập niên. Những bài viết của chị gần đây thường là các đề tài bám sát đời thường. Thế rồi chị gom lại thành một tuyển tập có tên là Hoa Cỏ Bên Đường. Nơi đây, tôi chỉ viết về một số ghi nhận rời khi đọc tuyển tập này của nhà báo Kiều Mỹ Duyên, cũng là một người chị về nhiều phương diện.
 

Điều ghi nhận đầu tiên nơi chị là một thái độ tôn trọng các nhà tu bất kể dị biệt tôn giáo. Cái hay nơi chị là sự hồn nhiên, tôn kính rất mực thuần thành bất kể các tôn giáo khác nhau trong cộng đồng. Có thể đó là nhờ bản năng phụ nữ? Tôi không biết, nhưng hiển nhiên, chị là Phật Tử, điểm hay của chị là đã tiếp cận tất cả các tu sĩ tôn giáo khác như dường không hề dị biệt.
 

Điều này thực ra tôi đã học từ khi còn thơ ấu. Ba tôi dạy rằng đi qua chùa, nhà thờ, đền, miếu, thì phải cúi chào để bày tỏ lòng tôn kính, chớ có khởi tâm xúc phạm. Nhưng bản thân tôi không hoàn toàn hòa hài tự nhiên với nhiều tôn giáo khác, tuy rằng tôi luôn luôn chắp tay chào mỗi khi gặp linh mục, mục sư, giáo sĩ…

Kiều Mỹ Duyên phỏng vấn Hồng Y Francis George


Tôi đã kết thân, và đã giúp tận lực để in sách, rồi tìm người dịch sách cho Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San, một người tôi rất mực tôn kính vì đã hoạt động trong cương vị luật sư hơn 2 thập niên trong hệ thống nhà tù Oklahoma. Tôi cũng đã có giao tình rất thân với Mục sư Nguyễn Quang Minh, một huynh trưởng hướng đạo và một thời là người thông dịch tòa án tại Quận Cam. Tôi vẫn còn nhớ cách Mục sư Nguyễn Quang Minh yêu cầu một thanh niên đang trong diện quản chế mỗi tuần hay mỗi hai tuần tới gặp mục sư ở một quán cà phê góc đường Bolsa/Magnolia, chỉ để uống cà phê chừng nửa giờ, rồi Mục sư bảo anh đang trong diện quản chế đó đi đâu gần đó, làm gì chút đỉnh, tới trưa thì cấp giấy là đã hoạt động cộng đồng vài giờ chi đó để tòa án sẽ tính điểm. Những lúc đó, có khi tôi chỉ ngồi nói chuyện với Mục sư Minh thôi, có khi tôi chụp hình rồi về tòa soạn Việt Báo viết một bản tin về tuổi trẻ Việt sinh hoạt cộng đồng theo quy định quản chế. Tôi cũng là nhà báo đầu tiên đăng các lời kêu gọi từ thiện của Mục sư Nguyễn Xuân Bảo, ngươi từng bị đốt nhà thờ; và trong một lần Mục sư Bảo từ Việt Nam ra, khi phi cơ ghé trạm Nam Hàn, nhằm lúc World Cup, Mục sư đã mua một quả bóng túc cầu có huy hiệu đặc biệt của sự kiện đó, về trao cho tôi, nói là Mục sư chỉ duy nhất mua 1 thứ về, và chỉ nghĩ tới tôi thôi, xem như “mua banh World Cup để tặng cho cậu con của anh Hải đấy.” Dù vậy, tôi vẫn thấy luôn luôn có một khoảng cách giữa tôi và các tu sĩ tôn giáo khác. Nhiều vị tu sĩ nói rằng lúc cầu nguyện, vẫn cầu nguyện cho tôi. Như Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San nói, “Tôi luôn luôn cầu nguyện hàng ngày cho ông Phan Tấn Hải đấy. Ông Hải giúp tôi nhiều quá, nên tôi nghĩ tới ông hoài.” Tôi im lặng, lúng túng, vì bản thân mình là kiểu Phật Tử bên lề, không có thói quen cầu nguyện dù là cho mình hay cho người. Tôi chỉ khởi tâm từ để ước muốn bình an cho mọi người, nhưng không thực sự là cầu nguyện cụ thể. Có vẻ như mình ăn gian, vì họ cầu nguyện cho mình, mà mình không cầu nguyện cho họ. Nội mình lo canh giữ tâm mình cho đừng sai phạm cũng là hết ngày giờ rồi, hơi đâu mà cầu nguyện, nhưng chẳng hiểu sao chưa bao giờ tôi dám nói minh bạch. Chính những khi đó mới thấy mình với người là khác.

Kiều Mỹ Duyên phỏng vấn Hồng Y Phạm Minh Mẫn (bên trái), 2003

Nhưng chị Kiều Mỹ Duyên thì hòa đồng rất mực tự nhiên. Như trong bài Tạ Ơn đầu sách Hoa Cỏ Bên Đường, câu cuối chị viết là: “Cầu xin Thượng Đế ban phúc lành cho quý ân nhân.” Nghe rất tự nhiên, và sẽ làm biết bao nhiêu người hài lòng. Thực ra trong xã hội Hoa Kỳ, câu nói đó là tự nhiên, vì đi đâu cũng gặp chữ “God bless.” Dù vậy, tôi chưa bao giờ nói được hai chữ đó. Hóa ra, tôi mới thấy rằng tự bản thân mình không tự nhiên, khi thắc mắc về chữ nghĩa phức tạp.

 Nhà báo Kiều Mỹ Duyên là người có nhiều cơ duyên lớn trong đời. Nếu bạn ghé thăm văn phòng của chị ở khu thương mại nơi góc đường Westminster & Euclid, bạn sẽ thấy trên tường là một tấm hình chị đứng chụp chung với Đức Đạt Lai Lạt Ma đời 14. Đó là một hy hữu, cực kỳ hiếm có.

Rồi những cơ duyên khác của một nhà báo — đúng ra, chị còn là một người hoạt động cộng đồng, và đó là một ưu thế khi so với một nhà báo bình thường như tôi — chị Kiều Mỹ Duyên cũng từng có những cơ hội rất hiếm, như đã phỏng vấn Đức Hồng Y Francis George, khi Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ họp đại hội ở khách sạn Bilmore, Los Angeles, các ngày 15, 16 và 17 tháng 6/2006. Cũng dịp này, chị phỏng vấn Giám Mục William S. Skylstad, về những vấn đề rất trọng đại, như: Sự phát triển Thiên Chúa Giáo ở Hoa Kỳ trong những năm sắp tới, hay là Chủ tịch hội đồng giám mục Hoa Kỳ có ý định đến thăm Việt Nam hay không, và nếu có là khi nào. Để nhắc về tầm quan trọng: Đức Hồng Y Francis George là 1 trong 15 Giám Mục từng nằm trong danh sách được xem là ứng viên vào chức Giáo Hoàng trong đại hội mật nghị “2005 Papal Conclave” ở Vatican để bầu chọn tân Giáo Hoàng sau khi Đức Giáo Hoàng John Paul II băng hà tháng 4/2005.

Bản thân tôi ở trong nghề báo cũng lâu, chứng kiến nhiều sự kiện ở Orange County, nhưng kỷ niệm về phỏng vấn các lãnh tụ thì hoàn toàn thiếu vắng. Có thể, bản thân tôi ưa phỏng vấn các nhà thơ, nhà văn bên lề xã hội hơn. Trong khi đó, chị Kiều Mỹ Duyên có những cơ duyên lớn hơn.

Nhà báo Kiều Mỹ Duyên viết nơi trang 85-86 của sách Hoa Cỏ Bên Đường, trích:

“Nhờ làm nghề truyền thông mà tôi được nhiều cơ hội gặp mọi người, từ anh lính đến Đại tướng, từ người dân đến Tổng Thống, từ một người giáo dân đến Đức Cha chủ tịch Hội Đồng giám mục Hoa Kỳ, Đức Cha chủ tịch Hội Đồng giám mục Việt Nam. Đi đến đâu, tôi cũng được giúp đỡ một cách tận tình để được phỏng vấn.

Tôi phỏng vấn nhiều nhân vật quan trọng trên thế giới và tôi được cử làm phóng sự, thuyết trình, gồm có: Tổng Thống Gerald Rudolph Ford, bộ trưởng Elizabeth Dole, Tổng Thống Nga Mikhail Sergeyevich Gorbachev. Tổng Thống Nga nói sở dĩ nước Nga có tự do, nhờ ông và Tổng Thống George W. Bush làm việc ròng rã suốt 10 năm, thường họp ở Canada. Ông cho biết ông tham gia chánh trị lúc 18 tuổi nhưng chỉ một lần thất bại. Ông bị bắt giam gần bờ biển, chiều chiều nghe tiếng sóng vỗ và nhìn lên núi, ông nhất định phải trở lại chính trường và phải làm Tổng Thống. Khuôn mặt ông rất lạnh, ông có bằng Tiến sĩ toán, cô con gái đi theo ông khuôn mặt cũng rất lạnh. Tôi gặp Tổng Thống Nga hai lần, một lần ở Anaheim. Truyền thông có chỗ ngồi riêng, gần sân khấu, an ninh cho từng người truyền thông rất kỹ, cẩn thận không kém gì lúc tôi gặp Tổng Thống Ronald Reagan ở Anaheim hồi mới sang định cư ở Mỹ, mấy năm đó tôi đang làm báo cho Mỹ.”

Trong tập bút ký Hoa Cỏ Bên Đường, nhà báo Kiều Mỹ Duyên cũng ghi lại những cơ duyên phỏng vấn quý Thầy Phật Giáo VN, như ngài Đại Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu, Thiền sư Thích Thanh Từ, Hòa Thượng Giác Nhiên, Thầy Tuệ Sỹ, Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, Hòa Thượng Thích Mãn Giác…

Trong sách này chị Kiều Mỹ Duyên cũng kể lại một vài chi tiết lịch sử, có thể gây xúc động cho Phật Tử. Thí dụ, như chị kể lại nơi trang 94:

“Học trò của Đại Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu rất giỏi, rất giỏi và hiện nay trụ trì nhiều chùa ở khắp nơi trên thế giới. Có lần, thầy nhờ tôi gửi tiền về cho thầy Tuệ Sỹ. Thầy Tuệ Sỹ rất gầy, gầy không thể tưởng tượng được. Năm 2001, tôi cùng với phái đoàn từ thiện quốc tế dành thì giờ ghé thăm thầy Tuệ Sỹ. Chúng tôi đang ngồi quanh thầy thì một cụ bà, sau này chúng tôi biết bà cụ có người con trai làm trụ trì một ngôi chùa, cụ vừa đến quỳ xuống lạy thầy Tuệ Sỹ. Chúng tôi phải vội vội, vàng vàng tránh xa ra. Phòng khách của thầy Tuệ Sỹ nhỏ xíu, thầy ra tù về trú ngụ ở chùa Già Lam, Gò Vấp, không có hộ khẩu, không đi mua gạo được.”

Trong tuyển tập bút ký Hoa Cỏ Bên Đường, nhà báo Kiều Mỹ Duyên còn nhiều bài khác, mang chủ để sinh hoạt cộng đồng, hay khắc họa chân dung nhiều nhân vật — như viết về Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, về Giáo sư võ Aikido Đặng Thông Phong, về phóng viên Phan Trần Mai…

Nhà báo Kiều Mỹ Duyên đã trở thành một trụ cột lớn trong cộng đồng qua nhiều hoạt động, trong đó viết sách chỉ là một mảng hoạt động của chị. Gần như là chị có mặt khắp nơi trong cộng đồng. Chị xông xáo làm từ thiện, chị say mê làm đài phát thanh, chị mưu sinh bằng nghề địa ốc, chị tham dự guồng máy đại bồi thẩm đoàn của Orange County, và vân vân.

Nói theo một kiểu từng nghe được, thì nhà báo Kiều Mỹ Duyên có mặt trên từng cây số của cộng đồng Việt. Trong đó, tuyển tập bút ký Hoa Cỏ Bên Đường là một dấu mốc của nhà báo Kiều Mỹ Duyên, nơi đó độc giả sẽ nhìn rõ hơn chân dung và hoạt động của một người đã từng là phóng viên trước 1975 và bây giờ thỉnh thoảng làm phóng viên vì muốn đóng góp cho cộng đồng. Hy hữu mới có người như chị. Dễ dàng đoán được rằng tuyển tập bút ký Hoa Cỏ Bên Đường của nhà báo Kiều Mỹ Duyên hẳn là sẽ được cộng đồng đón nhận nồng nhiệt.

PHAN TẤN HẢI




TÌNH YÊU, TÌNH YÊU, VÀ TÌNH YÊU ƠI! – Kiều Mỹ Duyên

Đôi chim có bạn líu lo, ca hát đêm ngày vui buồn cùng ai.

          Một cô gái dễ thương, chủ nhiệm một tờ báo về Orange County dự đại hội kể với tôi rằng có người nói với cô:

          – Tôi cho em một hòn đảo nếu em để tôi chăm sóc em trọn đời. 

          Em trả lời:

          – Em yêu người chứ em không yêu hòn đảo, vì hòn đảo không có tiếng nói.

          Tôi nhìn vào mắt cô gái với sự ngưỡng mộ và thích thú.

          Một chàng trai trung niên đến thăm tôi cùng với một cô gái trung niên nói:

          – Cô ơi, em có 5 bất động sản, đã trả hết nợ rồi. Cô làm ơn cho tên của cô này vào với em.

          Nói xong chàng trai đưa tay chỉ vào cô gái cùng đến thăm tôi.

          Chàng trai đưa cho tôi địa chỉ của 5 bất động sản. Tôi đưa cho cô nhân viên tìm ra chủ quyền của 5 bất động sản này.

          Khi cô gái vừa bước ra ngoài để tìm báo đọc, tôi nói với chàng trai:

          – Em có biết khi em cho tên cô gái vào chủ quyền thì cô gái có phân nửa chủ quyền tài sản của em không?

          Chàng trai vừa cười vừa nói:

          – Cái mạng của em, em còn cho cô ấy huống chi bất động sản hay tiền bạc?

          Tôi nhủ thầm với chính mình tình yêu ơi, tình yêu sao mà dễ thương. Con người sống vì tình yêu, chết vì tình yêu. Tình yêu không thể giải nghĩa được tại sao mình thương yêu người này mà không  thương yêu người khác, tình yêu nhẹ như cơn gió thoảng.

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

(Tống Biệt Hành- Thâm Tâm)

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!

Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,

Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…

(Vì sao- Xuân Diệu)

          Tôi được tham dự một tiệc cưới ở Bolsa, chú rể 80 tuổi, là một người nổi tiếng trong cộng đồng vì hoạt động xã hội, cô dâu gần 76 tuổi. 5 thế hệ trong gia đình tham dự tiệc cưới, nhưng 1 năm sau tôi đi thăm và cầu nguyện cho người vừa qua đời, cũng 5 thế hệ đội khăn tang. Tình yêu ơi, tình yêu, họ sống với nhau một năm, một năm hạnh phúc còn gì quý báu hơn? Tình yêu ơi, tình yêu ơi, tình yêu cất cánh cho hai tâm hồn hòa điệu. Tôi nghe chuyện tình của người trẻ, tôi nghe chuyện tình của người già, trái tim có tiếng nói của nó, không cần hỏi tại sao tôi yêu?

          Nếu tôi viết chuyện tình của người tôi quen viết hoài không hết. Tôi sợ nhìn những khuôn mặt với nước mắt, tôi thích nhìn nụ cười với những khuôn mặt đang yêu và được yêu rực rỡ thế nào! Tôi thích nghe tiếng cười giòn tan của những người cho trái tim của mình cho người khác. Ôi tình yêu sao mà đẹp quá?

          Có người nói thần tượng của tôi phải có tiếng nói, nghe tôi cười, nghe tiếng tôi khóc, khi tôi có việc khẩn cấp như Thần Chết thấp thoáng bên cạnh tôi thì thần tượng hiện hữu bên tôi, thần tượng của tôi không ngồi trên bàn thờ.

          Tình yêu vui thật, ngàn màu sắc khác nhau như thơ, lãng mạn, vui tươi, tình yêu không tính toán, khi yêu là yêu không cân nhắc, không phân biệt một thứ gì, không có sự ngăn cách.

          Tình yêu, tình yêu ơi, sao mà đẹp thế?

          Nếu không có tình yêu người ta sẽ không mặc đẹp, không có tình yêu người ta cũng sẽ không nghe nhạc. Tình yêu ơi sao mà mầu nhiệm? Những cô gái trẻ tâm sự với tôi, con mua áo đẹp để ra đường lọt vào mắt xanh của hoàng tử trong mộng, chàng trai ăn mặc đẹp để lọt vào mắt xanh của công chúa. Tình yêu sao mà tuyệt vời! Nếu không có tình yêu chàng trai sẽ không dành dụm tiền mua nhà rước nàng về dinh. Nếu không có tình yêu, không lập gia đình, không có những đứa trẻ thiên thần thì mua nhà có đất rộng để làm chi? Có vườn rộng rãi, có tiếng cười của trẻ thơ, tình yêu ơi sao mà tuyệt vời?

          Tình yêu ơi là tình yêu, có xe đẹp, có nhà đẹp, có tiền dành dụm để cùng người yêu đi du lịch vòng quanh thế giới thăm những kỳ quan trong chuyện cổ tích, tình yêu ơi sao mà đẹp quá?

          Nếu mọi người đều yêu thương nhau thì không có chiến tranh, không có nhà tù, không có chém giết lẫn nhau.

          Tình yêu ơi, tình yêu sao mà mầu nhiệm? Khi yêu đời sống rất đẹp, đẹp lắm người ơi và tình yêu làm cho người ta lạc quan hơn, yêu đời hơn, thấy gì cũng đẹp, nhìn đời bằng mắt màu hồng. Những người đang yêu hay đang có tình yêu nhìn vào đôi mắt của họ là biết ngay. Đôi mắt rực rỡ, nụ cười thật tươi, vui ơi là vui, tiếng cười nói trong trẻo, reo vui hơn. Tôi mong thế giới đầy tình yêu, người yêu người, Thượng Đế yêu người, chính quyền thương dân lo cho dân, cha mẹ thương con, ông bà đùm bọc con cháu của mình. Ôi tình yêu tuyệt vời, người yêu người, chỉ thấy việc tốt của người xung quanh, và người yêu người đời sống sẽ phong phú hơn, tuyệt vời quá.

          Mọi người yêu thương nhau, đầu óc không căng thẳng, không có mưu mô thủ đoạn lường gạt lẫn nhau. Tình yêu lên tiếng gọi, tình yêu ơi! Hãy nghe tiếng chim hót ngoài vườn buổi sáng, hãy nhìn những cánh hoa rực rỡ rung rinh trong gió, nghe mùi hoa lý hương thơm ngát trước sân nhà mà nghĩ đến người mình thương yêu nhất.

          Tình yêu ơi, hỡi tình yêu, con người thì đến lúc nào đó phải ra đi nhưng tình yêu vĩnh viễn vẫn còn ở đây, ở trong trái tim của những người thương yêu mình.

          Tình yêu sao mà tuyệt vời, tình yêu sao dễ thương và tình yêu vĩnh cửu.

Orange County, 12/07/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




Giới Thiệu Tuyển Tập “HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG”- Giáo Sư Nguyễn Tường Tuấn

(Giáo sư Nguyễn Tường Tuấn, đồng sáng lập tổ chức Forgotten People Foundation – NGO, Western Oregon University, 2005-2006, cùng Tiến sĩ Jerry Braza. Giáo sư Tuấn Nguyễn, một cựu tù nhân chính trị và đã từng là một thuyền nhân, rất quan tâm đến cuộc sống của người dân Việt Nam. Tổ chức Forgotten People Foundation giúp đỡ trẻ em mồ côi, khuyết tật ở miền Bắc Việt Nam.)

          Thế hệ chúng tôi may mắn sinh ra và lớn lên nơi miền Nam tươi sáng. Trong cái hạnh phúc, là công dân của đất nước tự do, chúng tôi cũng phải gánh chịu nỗi bất hạnh của một quốc gia “nồi da xáo thịt“. Anh chị em miền Bắc, chưa bao giờ được hưởng cái không khí an lành của “Hòn ngọc viễn đông” một nửa hình chữ S đã từng là giấc mơ của cố Thủ tướng Tân Gia Ba, Lý Quang Diệu. Họ bị tẩy não ngay từ tấm bé, bằng lời thơ nô bộc “Yêu biết mấy nghe con tập nói – Tiếng đầu lòng con gọi Stalin – Thương cha, thương mẹ, thương chồng – Thương mình thương một, thương ông thương mười“. Chiến tranh xẩy ra vì thế, một nửa đất nước bị đầu độc, dù muốn hay không, thế hệ trẻ miền Bắc phải cầm súng lên đường, họ từ giã cha mẹ, vợ chồng, con cái, người yêu, để hy sinh cho bác và đảng, thực hiện giấc mơ “Sinh Bắc Tử Nam“.

          Thanh thiếu niên miền Nam cầm súng ra trận, không vì thằng bác khốn nạn, hay bè lũ đảng lưu manh. Chúng tôi chiến đấu để bảo vệ xóm làng, thành phố bình an. Cho dù phải hy sinh, thân xác phủ cờ vàng, người nằm xuống sẽ muôn đời được “Tổ Quốc ghi ơn”.

          Chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đã hiên ngang tái chiếm Cổ thành Quảng trị, anh dũng bảo vệ An Lộc, và kiêu hùng trên khắp mọi chiến trường. Trong từng thước đất của tổ quốc, chiếm lại bằng xương máu, người dân miền Nam Việt Nam không thể nào quên tên tuổi một nữ phóng viên chiến trường: Kiều Mỹ Duyên.

           Kiều Mỹ Duyên không ngồi tại văn phòng tiện nghi ở Sài Gòn để viết phóng sự. Chị mặc áo giáp, theo từng chuyến bay ra mặt trận, những bài tường thuật của chị là nhân chứng hào hùng cho tuổi trẻ chúng tôi, trong trận chiến bi thương, tàn khốc và bất công.

          Vâng, người lính Việt Nam Cộng Hòa đã hứng chịu mọi bất công nhất của thế giới tự do. Họ chiến đấu chống lại một chủ nghĩa cộng sản độc ác mà cả thế giới xa lánh. Tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower từng vinh danh Việt Nam Cộng Hòa là thành trì chống cộng của thế giới tự do. Nhưng đám phóng viên, báo chí, truyền thông Mỹ không như thế. Họ ngồi trong phòng lạnh khách sạn Caravell, Majestic, cà phê La Pagode, Givral, Brodard tại Sài Gòn để viết phóng sự chiến tranh. Nếu có chăng, họ đi theo một vài đơn vị chiến đấu của Hoa Kỳ … Quân đội Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu, hy sinh trên 4 vùng Chiến thuật bị bỏ rơi trên báo chí Mỹ. Mậu Thân 1968, chúng tôi đẩy lùi cuộc tổng tấn công lịch sử của Bắc Quân trên khắp các thành phố miền Nam. Charlie, địa danh đi vào lịch sử với tên tuổi cố Đại tá Nguyễn Đình Bảo, báo chí Hoa Kỳ không hề biết.

          Trong nỗi cô đơn tội nghiệp đó, người nữ phóng viên chiến trường Kiều Mỹ Duyên đã trở thành “Tiếng nói, cho những người không tiếng nói“. Không những tại Việt Nam, khi đến Hoa Kỳ vào những ngày đầu tiên của thập niên 75, chị như cánh Chim ưng đã thay lông, đổi cánh, tung bay trên bầu trời bao la. Chị theo phi cơ của Cảnh sát Hoa Kỳ để tường thuật săn đuổi tội phạm. Chị vào thăm và làm việc trong nhà tù Mỹ, tham dự không mệt mỏi các hoạt động từ thiện qua tổ chức Y.M.C.A hoạt động tại nhiều quốc gia thứ ba trên thế giới. Kiều Mỹ Duyên là một Barbara Walter của người Việt không những tại Hoa Kỳ mà còn trên nhiều quốc gia khác. Chị phỏng vấn các vị chức sắc cao cấp Công giáo Hoa Kỳ, và Việt Nam; chị cũng có mặt trong những chương trình phỏng vấn những vị Hòa  thượng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Về quốc tế, chị đã hỏi cựu Tổng thống Nga Gorbachev, một câu mà tất cả người Việt chúng ta cần nghe: Bao giờ đất nước Việt Nam thoát khỏi ách cộng sản? “Khi nào Trung Hoa cộng sản sụp đổ” đó là câu trả lời ngắn gọn của ông Gorbachev.

          Xin mời bạn cùng đọc “Hoa cỏ bên đường” để biết thêm về tầm vóc của chị Kiều Mỹ Duyên, một chiến sĩ tự do chưa hề buông súng.

Giáo sư Nguyễn Tường Tuấn

(Forgotten People Foundation – www.forgottenpeople.net2850 S.W Cedar Hills Blvd, Suite 131 | Beaverton, OR 97005)




Một Niềm Đau

Sáng tác: Thiên Phương | Ca sĩ: Ngọc Quý