Lạp Chúc Nguyễn Huy: GIẤC MƠ LÁ RỤNG VỀ CỘI

Giấc mơ lá rụng về cội

CÂU LẠC BỘ VĂN HÓA Montreal viết về

Hội Rồng Vàng Montreal

Lạp Chúc Nguyễn Huy

Sau mùa lá vàng rơi, cái lạnh trở về, nỗi cô đơn lại đề nặng nên nỗi lòng người viễn xứ nhất là lòng người già hưu trí sống lẻ loi trong một căn phòng nào đó đang muốn thực hiện giấc mơ ‘’lá rụng về cội’’.

Sau khi sống tỵ nạn mấy chục năm tại hải ngoại phải vật lộn với đời sống vật chất đôi khi vất vả, với tâm hồn có cảm giác cô đơn :

Bỗng thấy buồn man mác,

Về đâu cũng tha hương.

Với tâm trạng đó mà một số Việt Kiều muốn mang tiền tiết kiệm và lương hưu về sống cuộc đời còn lại tại quê hương mặc dầu lời khuyên của con cháu, lời khuyên của nhiều video YouTube kể lại nhiều trường hợp Việt Kiều đã vội vã trở lại Hoa Kỳ và Canada chỉ sau một thời gian ngắn tái định cư tại quê hương.

Ôi thật sung sướng làm sao cái thuở ban đầu quyết định ‘’lai hồi cố quốc’’. Thời gian bán nhà bán xe từ bỏ quê hương đã cưu mang lúc minh tỵ nạn cộng sản là thời gian mơ mộng đẹp nhất của Việt Kiều  muốn hồi hương để: Sáng dạy là nghe thấy tiếng nói của cháu, của em trong nhà, nhìn ‘’nắng mới hắt qua song’’ ‘’nghe tiếng gà trưa gáy não nùng’’, ra quán cà phê thì đầy bạn bè thăm hỏi, trưa chiều thì nếm đủ thứ canh, thứ cá, thứ rau mà mình hằng mơ ước bên trời Tây,

Sau thời gian mơ mộng ‘’lá rụng về cội’’ thay vì nghe lời khuyên của thi sĩ Hồ Dzếnh ‘’thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đậu’’ thì bác Việt Kiều mua vé máy bay một chiều, mang hết tiền tiết kiệm về sống trên quê hương. Rồi cuộc đời đổi mới của Bác sẽ trải qua những giai đoạn hội nhập nghịch chiều sau:

1.   Tuần trăng mật.

2.   Aỏ và thực.

3.   So sánh 2 quê hương

4.   Về hay ở?

 Hội nhập nghịch chiều

 Dựa trên nhiều khảo cứu của đại học thì sau khi đã sống hội nhập với đất nước đã cưu mang lúc tỵ nạn thì việc trở về quê hương cũ thì di dân sẽ đối diện với sốc văn hóa của tái hội nhập hay hồi nhập nghịch chiều (choc culturel inversé ou choc culturel du retour). Sốc văn hóa của tái hội nhập gồm 4 giai đoạn : tuần trăng mật, nhận thức ảo và thực, so sánh môi sinh, về hay ở.

Tuần trăng mật.

Trong mấy tuần lễ đầu là cuộc đời màu hồng (tout est rose) gặp lại gia đình chú bác, bạn bè xưa, tận hưởng đi du lịch khắp đất nước, thưởng thức mọi món ăn hạp khẩu vị, cảm giác được yêu thương qúy mến nhờ quà cáp, tiền bạc giúp đỡ bà con …

Aỏ và thực.

Đến khi du lịch thì hết chỗ thăm viếng, bạn bè trở về với đời sống thường nhật, đời sống như dừng lại, buồn chán quay quanh các bữa ăn, đi ra đi vào quanh nhà nên mới có thì giờ nhìn thấy chênh lệch văn hóa trong giao tế, cư xử, đời sống thực tế của môi sinh mình mơ tưởng bấy lâu nay.

Về văn hóa ứng xử giữa con người với con người và giữa con người với xã hội thì cảm thấy xa lạ với văn hóa ứng xử của đất nước đã cưu mang cuộc đời tỵ nạn cộng sản của mình : chen lấn giữa người với người, giữa người với xe cộ lưu thông, không biết nói cám ơn, trong xe buýt không biết nhường chỗ cho người già, phụ nữ thai nghén, đi mua bán thì bị chặt chém vì bị coi là khách du lịch. Ảo ảnh hồi hương hiện nên sáng chói trong văn hóa ứng xử khi túi ngoại tệ mang về đã cạn khống còn đáp ứng được đòi hỏi tiền bạc của anh em, họ hàng, bạn bè.

Về y tế, sốc văn hóa mạnh nhất khi bị máu nhồi tim, đột qui …cần  cấp cứu, nhập viện gấp thì mới thấy mạng sống rẻ rúng vì phải chờ đợi, đóng tiền trước rồi mới được khám nghiệm.

Lúc đó mới nhớ đến Tây nó nói’’ Chẳng giấc mơ nào mà không có ác mộng’’ (aucun rêve sans cauchemar).

Về thể xác thì phải tái hội nhập với thời tiết nóng ẩm, môi trường ô nhiễm vì khói, bụi, tiếng còi xe inh ỏi, công viên để thư dãn thì không an toàn.

Hành chánh, chính trị : Tự do, nhân quyền không có chỗ đứng,   công an không mời cũng đến nhà, đi đến tạm trú nơi nào cũng phải đăng ký với công an khu vực, 

So sánh 2 quê hương

Sau khi đã nhìn thấy thực tế của giấc mơ hồi hương, người di dân nghịch chiều mới bình tĩnh ngồi so sánh Việt Nam XHCN với đất nước tự do đã cưu mang lúc mình tỵ nạn cộng sản mà cảm thấy mình là kẻ xa lạ ngay trên quê hương mà mình mong nhớ rồi tỉnh lại với bài tứ tuyệt của Tô Đông Pha mang ý nghĩa cảnh trí tuyệt đẹp của núi Lô và sông Triết mà mọi người mơ đến thăm nhưng khi đến rồi thì cảnh núi Lô và sông Triết vẫn vậy nhưng cảm nhận chủ quan của người vãn cảnh thì hoàn toàn thay đổi khi đứng nhìn tận mắt cảnh hằng mơ ước.

Lô Sơn Yên toả Triết Giang triều,

Vị đáo bình sanh hận bất tiêu,

Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự,

Lô sơn yên tỏa Triết giang triều[1].

Về hay ở?

Sang tỵ nạn cộng sản tại Montreal, người Việt tỵ nạn cộng sản bắt buộc phải hội nhập để sinh tồn không có lưa chọn nào khác. Nhưng nay trở về Việt Nam với tiền hưu, tiền tiết kiệm thì người di dân nghịch chiều có quyền lựa chọn:

-Quay về Montreal để tiếp tục sống đời sống tự do, nhân quyền,

– Tái định cư trên quê hương thì phải thích ứng với một xã hội thiếu văn hóa ứng xử, thiếu nhân quyền, tự do. Lúc đó mới nhớ đến Tây nó nói’’ Chẳng giấc mơ nào mà không có ác mộng’’ (aucun rêve sans cauchemar).

 Mặc dù có cùng một văn hóa cổ truyền với quê hương[2] (đi chùa, thờ Mẫu, lên đồng, nghe ca trù, nhạc Trịnh Công Sơn …) nhưng sau một thời gian sống tại quê cha đất mẹ thì giấc mộng trở thành ác mộng và phải tức tốc quay về đất nước đã cưu mang mình trong lúc tỵ nạn cộng sản. Tại sao? Cũng tại chênh lệch văn hóa (décalage culturel) nhất là trong văn hóa ứng xử, giao tế mà ra. Vấn đề này sẽ được phân tích dưới đây.

Chênh lệch văn hóa tại Âu Châu

Hiện nay 15 quốc gia Âu Châu có một chương trình tái hội nhập (Réintégration) hay hội nhập nghịch (intégration contraire) cho di dân (EURP: European Reintegration Programme).

 Ngày 1/4/2022, “Joint Reintegration Services” có dịch vụ giúp đỡ việc hội nhập nghịch cho các di dân trở về quê hương cũ. Chương trình này không được hưởng ứng nhất là đối với di dân đến từ các nước chậm tiến không thể tái hội nhập với quê hương cũ.

Tại Montreal có nhiều di dân người Pháp qua sinh sống và một số muốn trở về Pháp thì được bà Sylvie Gros, chủ tịch ‘’Association d’aide France Retour Accueil’’ giúp đỡ hồi hương.

Web RetourenFrance.fr của bà Anne-Laure Fréant hướng dẫn di dân hồi hương về Pháp đã nêu nên những khó khăn cho sự tái hội nhập thí dụ như vấn đề hành chánh giữa Pháp và Quebec, về khác biệt giữa hai hệ thống y tế, về gia cư như khó mướn nhà vì di dân hồi hương ‘’ni contrat à durée indéterminée et ni avis d’imposition des années précédentes à présenter’’.

Cái khó khăn nhất của di dân nghịch chiều là ‘’Chênh lệch văn hóa’ (décalage culturel). Pháp và Quebec có cùng chủng tộc, ngôn ngữ, có cùng một trình độ văn minh, nhưng có nhiều khác biệt về văn hóa vì văn hóa đời sống tại Montreal nghiêng về văn hóa Bắc Mỹ tức Hoa Kỳ. Vì vậy mà có di dân Pháp không về hoặc về rồi lại trở lại sống ở Quebec vì việc tái hôi nhập rất khó khăn nhất là vấn đề chênh lệch văn hóa như bà Anne-Laure Fréant nói ‘’ Ảo tưởng nếu tin rằng tìm lại được sự khoan khoái văn hóa ngay những ngày đầu tiên’’ (croire que l’on va retrouver son confort culturel dès les premiers jours est une illusion).

Tóm lại, nhin qua các bài khảo cứu về di dân nghịch chiều tức di dân quy hồi cố hương không khả thi cho nhiều người là vì:

1.   Chênh lệch văn hóa và khác biệt trình độ văn minh vật chất giữa hai quốc gia.

2.   Dù có nhiều điểm tương đồng như trường hợp Quebec-Pháp, chênh lệch văn hóa vẫn là cản trở lớn nhất cho sự hồi hương cố quận.

Lạp Chúc Nguyễn Huy

Hội viên hội Rồng Vàng Montreal




SƯU TẦM – Công Chúa Kế Vị Juliana Của Hà Lan & và CUỘC CHIẾN PHÁP LÝ Đầy Thú Vị Khi Bà Sinh Ra ở CANADA.

Tháng 1 năm 1943, Canada đang che giấu một bí mật hoàng gia cùng một vấn đề pháp lý chưa từng có tiền lệ.

Công chúa kế vị Juliana của Hà Lan đã chạy tới Ottawa sau khi quân Đức Quốc xã chiếm đóng quê hương bà. Khi ấy bà đang mang thai, và đứa bé trong bụng không phải một đứa trẻ bình thường. Đó là người có thể kế thừa một trong những ngai vàng lâu đời nhất châu Âu.

Nhưng một cuộc khủng hoảng pháp lý đang xuất hiện.

Nếu đứa trẻ được sinh ra trên đất Canada, luật Canada sẽ tự động công nhận em bé là công dân Canada. Và luật kế vị hoàng gia Hà Lan, vốn cổ xưa, cứng nhắc và vô cùng nghiêm ngặt, có thể xem điều đó là lý do để tước bỏ quyền kế vị ngai vàng của đứa trẻ mãi mãi.

Các luật sư lúc ấy gần như hoảng loạn.

Việc trở về quê nhà là không thể. Tàu ngầm U-boat của Đức đang rình rập khắp Bắc Đại Tây Dương, còn cung điện hoàng gia ở Den Haag đã nằm dưới sự kiểm soát của lính Đức.

Vì thế, Canada đã làm một điều chưa từng có trong lịch sử, và có lẽ sẽ không bao giờ lặp lại nữa.

Ngày 19 tháng 1, chính phủ Canada ban hành một sắc lệnh đặc biệt. Phòng sinh tại Bệnh viện Civic ở Ottawa được tuyên bố là lãnh thổ ngoài thẩm quyền quốc gia.

Không thuộc Canada.

Không thuộc Hà Lan.

Không thuộc bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.

Trong vài giờ quanh thời điểm sinh nở, căn phòng ấy đơn giản không còn là một phần của Canada nữa. Một khoảng trống địa lý. Một vùng chân không pháp lý được bao bọc bởi những bức tường bệnh viện.

Và trong không gian không biên giới đầy kỳ lạ ấy, Công chúa Margriet chào đời.

Khoảnh khắc tiếng khóc đầu tiên vang lên, bà là người Hà Lan hoàn toàn, hợp pháp và không có bất kỳ tranh cãi nào.

Không quốc tịch chồng chéo.

Không mối đe dọa nào đối với quyền kế vị ngai vàng.

Vấn đề đã được giải quyết bằng một trong những hành động ngoại giao sáng tạo nhất mà lịch sử thế kỷ 20 hiếm khi nhắc tới trong trường học.

Sau đó, căn phòng lặng lẽ trở lại là lãnh thổ Canada, và thế giới tiếp tục chuyển động như chưa từng có điều gì xảy ra.

Nhưng người Hà Lan thì không bao giờ quên.

Khi chiến tranh kết thúc và Hà Lan được giải phóng, 100.000 củ hoa tulip đã vượt Đại Tây Dương đến Canada như lời cảm ơn từ hoàng gia Hà Lan.

Và rồi, dường như một món quà vẫn chưa đủ, những củ tulip ấy tiếp tục được gửi sang mỗi năm.

Cho đến tận hôm nay, mỗi năm gia đình hoàng gia Hà Lan vẫn gửi 20.000 củ tulip tới Ottawa.

Nếu đi dạo qua thủ đô Canada vào tháng 5, người ta sẽ thấy hơn ba triệu bông tulip nở rực rỡ dọc theo kênh Rideau, trải dài qua công viên Commissioners, nhuộm cả thành phố bằng những làn sóng đỏ thắm, vàng óng và trắng tinh khôi.

Chúng không đơn thuần là hoa trang trí.

Chúng là lòng biết ơn sống mãi theo thời gian.

Mỗi bông hoa đều bắt nguồn từ một câu chuyện mà phần lớn những người đi ngang qua chưa từng biết đến.

Công chúa Margriet giờ đã 83 tuổi.

Bà vẫn thường đến Ottawa vào mùa tulip, đi dạo giữa những khu vườn tồn tại chỉ vì ngày xưa bà từng được sinh ra trong một căn phòng mà về mặt pháp lý… chưa từng thực sự tồn tại.

Có những lời cảm ơn sống lâu hơn cả những người đã trao chúng.
STầm




CA KHÚC: VẪN LÀ -NHẠC Trần Chương Lương – thơ THY LỆ TRANG – Ca sĩ KANA Ngọc Thuý




Truyện Ngắn KIM LOAN: LÊN ĐƯỜNG

LÊN ĐƯỜNG

Đọc xong email của Cathy, Khôi mỉm cười khoan khoái, bước xuống phòng khách pha cho mình ly cà phê nóng của buổi sáng cuối tuần. Trời đã cuối Thu, những chiếc lá khô cuối cùng lao xao đuổi nhulàm, với quyết tâm mạnh mẽ, Khôi muốn mình có một tương lai vững chắc để có thể lo được cho gia đình ở Việt Nam cũng như tạo dựng được hạnh phúc cho riêng mình sau này. Cuối cùng, Khôi cũng gặt hái được những trái ngọt thành quả của mình, trở thành một nha sỹ, có một cuộc sống “hình mẫu” đáng mơ ước của những con người thành đạt trên xứ người.

Khôi cũng đã bảo lãnh cha mẹ qua đây đoàn tụ, lo cho các em ổn đinh. Tổ ấm của Khôi cũng chẳng có gì để phàn nàn, một cô vợ xinh đẹp có một văn phòng kế toán riêng và đứa con gái ngoan ngoãn vừa bước vào đại học. Căn nhà của vợ chồng Khôi, không to lớn nguy nga, nhưng cũng đủ cho bất cứ ai bước vào cũng buông lời khen ngợi. Hàng năm, gia đình Khôi cũng biết tận hưởng những ngày vacation tuyệt vời ở khắp mọi nơi, từ những thắng cảnh đẹp ở Canada, đến nước Mỹ láng giềng, tắm biển Hawaii, xuống miền nam Mexico nắng cháy, đi các chuyến cruise, và mới đây nhất cũng đã du lịch khắp các nước Châu Á Châu Âu.

Cuộc sống no đủ, vợ chồng Khôi cũng thường đóng góp cho những công việc từ thiện, dù là của người bản xứ Canada hay của người đồng hương. Những lần quyên góp gây quỹ trong cộng đồng Khôi đều có mặt, cuối năm Giáng Sinh về thì đóng góp cho Hội Red Cross, World Vision, và những đóng góp cho những người nghèo khó tàn tật ở Việt Nam. Với Khôi, là người Công Giáo, không những vì làm theo giáo lý đã được học khi còn nhỏ, mà đơn giản là sự công bằng, khi mình may mắn có đời sống sung túc thì chia sẻ cho những người không có cơ hội và kém may mắn. Hơn nữa, Khôi cũng từng có những ngày thơ ấu thiếu thốn bởi đất nước chiến tranh, và nhất là hơn bốn năm trường sống trong trại tỵ nạn Thailand, những ngày thật gian khó, sống trong chờ đợi mỏi mòn và tuyệt vọng, nếu không có UNHCR (Cao ủy Tỵ nạn liên hợp quốc), và những người thiện nguyện viên người ngoại quốc và người Thái, thì những người tỵ nạn Việt Nam sẽ ra sao? Hành trang khi lên máy bay rời khỏi xứ Thái của Khôi vẫn đậm sâu những tình cảm thân ái, không biên giới của những người bạn thiện nguyện viên mà Khôi đã có dịp gắn bó.

Khôi đến trại ở tuổi hai mươi bốn, một mình không thân nhân đi theo, cũng chẳng có người thân ở ngoại quốc tiếp tế như nhiều người khác trong trại, Khôi bị rơi vào nhóm “con bà phước” ở trại, tức là sống nhờ vào cơm Cao Ủy vốn chẳng dư giả gì. Nhờ may mắn có chút vốn liếng tiếng Anh nên Khôi xin vào làm việc thiện nguyện trong trại, kiếm thêm chút đỉnh tiền lương tượng trưng và cũng là cơ hội học thêm tiếng Anh. Nhưng quả thực, cái mà Khôi học hỏi được thật vô giá, đã biến đổi con người Khôi phải biết sống vươn lên, giúp Khôi trưởng thành hơn rất nhiều.

Những người thiện nguyện trong tổ chức YWAM (Youth With A Mision) là những người đến từ nhiều nước khác nhau: Úc, Tân tây Lan, England, South Africa nhưng họ giống nhau ở trái tim nhiệt huyết, quên đi cuộc sống cá nhân, vượt nửa quả địa cầu để sống với người tỵ nạn, nâng đỡ tinh thần và chia sẻ buồn vui với người tỵ nạn.

Tuy mang tên Youth With A Mision nhưng các thiện nguyện viên có nhiều lứa tuổi khác nhau, trong đó Khôi thân nhất với Cathy vì cùng trẻ tuổi, lại cùng phụ trách trường dạy Việt Ngữ và Anh Ngữ cho các trẻ em tỵ nạn. Ngoài giờ lên lớp, Khôi hay có những buổi đi chơi ăn uống, tâm tình với cô bạn gái này. Qua Cathy, Khôi càng khâm phục và mến yêu những người thiện nguyện mà Khôi đã có dịp tiếp xúc trong trại. Từ bà già Rainie với giọng Úc khó nghe, cô Sue trong cao ủy xã hội, Shane trong bưu điện, Mark làm trong bệnh viện … Họ làm việc trong trại cho đến chiều thì trở về khu nhà cao ủy dành cho họ ngoài thị trấn, cơm ăn đạm bạc, mọi nhu cầu đều đơn giản tối đa. Cuối tuần ngày nghỉ, họ lại vào trại làm lễ ở nhà thờ, chia sẻ Kinh Thánh, đi thăm viếng người ốm đau, trầm cảm, neo đơn.

Khôi vẫn còn ấn tượng những ngày gần lễ Giáng Sinh, sau giờ làm việc, những người thiện nguyện ra về như thường lệ, nhưng khoảng 6-7 giờ tối họ lại xin trở vào trại, đi thành một nhóm, có dân tỵ nạn hiếu kỳ nối đuôi theo sau, đi vòng quanh các khu nhà trong trại, vừa đi vừa hát những bài Thánh Ca, phân phát những viên kẹo nho nhỏ cho trẻ em, những chiếc bánh cookies cho người lớn, mà sau này Cathy cho Khôi biết những chi phí đó đều do tiền túi của từng cá nhân bỏ ra, vì Cao Ủy chỉ cho họ chỗ ăn ở hàng tháng, còn mọi nhu cầu sa xỉ khác đều phải tự lo. Đó là những “Christmas Carol” đầu tiên trong đời mà Khôi được biết và sẽ không bao giờ quên.

Buổi chiều ở trại tỵ nạn rộn ràng nhất ở khu phát nước, mọi người tấp nập đến lãnh nước về nhà giặt giũ cơm nước. Khôi còn nhớ có lần nhóm bà Rannie, cô Sue đi ngang qua khu phát nước, những khuôn mặt quen thuộc nhận ra hai bà liền í ới gọi tên, họ cũng đáp lại dân tỵ nạn bằng những cái vẫy tay và nụ cười thân thiện. Có mấy đứa bé nghịch nước chạy loăng quăng làm vấy sình lên áo quần của cô Sue, vậy mà cô vẫn mỉm cười, ngồi xuống ôm ấp nựng nịu mấy đứa trẻ. Rồi những sáng chúa nhật sau giờ lễ, họ đi thăm những bệnh nhân trong bệnh viện, hỏi thăm, ủi an rất chân thành. Khôi đã nhiều lần xúc động và tự hỏi, họ là những người không cùng dòng máu, không cùng màu da, mà họ đối xử yêu thương với người tỵ nạn Việt Nam như thế, trong khi ở trại, đã có những đồng hương từng đánh nhau chỉ vì những tranh chấp nhỏ nhen.

Nhưng có lẽ kỷ niệm êm ái nhất và đẹp nhất là những tháng ngày gắn bó thân tình với Cathy, cô gái thiện nguyện viên xinh đẹp, dễ thương và nhỏ tuổi nhất trong nhóm YWAM.

Cathy bằng tuổi Khôi, cô mất mẹ từ khi lên mười, ba của cô là chủ tịch của hội thiện nguyện giúp người tỵ nạn ở Thailand. Cathy vừa tốt nghiệp đại học và đi theo con đường thiện nguyện của ba. Vì Khôi và Cathy cùng phụ trách trường học Việt Ngữ nên gặp gỡ nhau hàng ngày. Những giờ nghỉ trưa, đôi khi Cathy ở lại trại, theo Khôi và nhóm bạn Việt Nam về khu nhà Khôi ăn cơm Việt Nam. Cathy thích thú học thêm tiếng nói và văn hóa Việt, cũng như Khôi học thêm tiếng Anh từ Cathy. Sau bữa cơm, để trốn cái nắng cháy da của xứ Thái, hai người hay tản bộ trong khu trường học, hoặc ngồi nói chuyện dưới bóng mát của hàng cây bông giấy ngay trước văn phòng trường.

Cathy kể cho Khôi nghe những ngày ấu thơ ở quê nhà nơi vùng ngoại ô xa xôi nước Úc, cũng như Khôi kể cho Cathy về đất nước Việt Nam, về nơi chốn mình đã sinh ra, lớn lên và mãi nhớ thương khi phải lìa xa. Có lần Cathy đã khóc nức nở khi nhắc lại kỷ niệm những ngày cuối đời của mẹ mình khi nằm trên giường bệnh, Khôi chỉ biết bối rối nhìn đôi vai cô nàng run nhẹ dưới mái tóc màu hạt dẻ và đôi mắt đỏ hoe ngượng ngùng khi Khôi trao cho cô chiếc khăn lau nước mắt. Mối thân tình này chưa phải là tình yêu, nhưng đó là một tình bạn quá đậm đà khi có những ngày cuối tuần không gặp Cathy thì Khôi thấy thiếu vắng, nhớ nhung, để rồi sáng thứ hai lại nôn nao chờ đón chiếc xe “van” của nhóm thiện nguyện đi vào cổng trại bắt đầu một tuần làm việc mới.

Ngày Khôi lên đường đi định cư Canada, trong buổi tiệc tiễn đưa, Cathy tặng Khôi một lọ thủy tinh có một trăm ngôi sao nhỏ xíu do tự tay cô xếp với hy vọng mỗi ngôi sao là một may mắn trên con đường tương lai của Khôi. Mọi người đã cho Khôi một buổi tối tuyệt vời, những tình cảm vô giá làm Khôi nghẹn ngào. Hôm ấy, bên những người bạn Việt Nam và những người bạn ngoại quốc, Khôi đã rất xúc động nói lời tâm tình từ trong đáy tim:

“Nếu không có các bạn, chúng tôi đã không vượt qua những tháng ngày gian khổ của trại tỵ nạn. Các bạn đã cho tôi biết về tình yêu, niềm tin và hy vọng trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời! Tôi mong ước sau này sẽ có dịp đi theo bước chân các bạn, dù chỉ là một thời gian ngắn ngủi để đền đáp lại những gì các bạn đã làm cho tôi, cho đồng bào tôi!”.

Rồi Khôi quay qua nắm tay Cathy, nói nhỏ: “Tôi sẽ trở về với các bạn”.

Vậy mà bao nhiêu năm qua Khôi chưa làm được lời hứa ấy. Thỉnh thoảng trong những cuộc vui, hoặc đêm về thao thức vì những tháng ngày cũ, Khôi cũng tự trách mình, nhưng rồi dòng xoáy cuộc đời với chuyện cơm áo hàng ngày đã cuốn hút Khôi trở lại, bận rộn liên miên, những kế hoạch, những mục tiêu của vợ chồng con cái vẫn chờ đợi Khôi phải hoàn thành cho tròn nghĩa vụ người chồng người cha trong gia đình. Khôi lại tự nhủ, những đóng góp tiền bạc hàng năm của mình cũng tạm đủ cho lời hứa năm xưa.

Nhưng thời gian gần đây, có phải vì tuổi bắt đầu “về già” hay vì còn canh cánh lời hứa đó, mà những cuộc vui, những niềm vui mà Khôi từng tham gia đã không còn hấp dẫn Khôi như trước nữa? Đôi khi, giữa những cuộc vui ồn ào bia rượu, các ca sỹ đang ca hát ầm ỹ cho những người ra sàn nhảy, Khôi chỉ muốn bỏ về nhà, vào căn phòng của mình, uống một ly café, nghe một bản nhạc êm dịu, đọc một cuốn sách yêu thích. Nhẹ nhàng và đơn giản như những đêm tỵ nạn Thailand, có Khôi và mấy người bạn với cây đàn guitar, một bình trà nóng, vài chiếc bánh kẹo và một mảnh sân ngập đầy ánh trăng, cùng nhau tâm tình, ca hát, thậm chí chỉ là im lặng nhìn nhau, vẫn cảm thấy ngọt ngào ý nghĩa của cuộc đời, tình bạn và tình yêu. Khôi bỗng thèm da diết cái thời gian khó khăn, đơn sơ, chan chứa tình người ấy biết bao .

Có phải khi cuộc sống nghề nghiệp công danh và gia đình ổn định, không còn gì để mơ ước nữa, thì người ta bắt đầu mệt mỏi và hay hồi tưởng lại quá khứ, nhất là quá khứ gian khổ?

Mùa hè năm ngoái ở Florida, trong khi vợ con nghỉ ngơi tại hotel, Khôi đi dạo biển trong ánh chiều hoàng hôn, một chiếc thuyền con mong manh xa xa tận chân trời đã làm Khôi nhớ lại chuyến vượt biển của mình, con tàu của Khôi cũng cập bến Thailand vào một buổi chiều muộn như thế, và bao nhiêu kỷ niệm vui buồn lại ùa về, tươi sáng sống động như tuổi trẻ ngày đó của anh.

Có đêm Khôi còn nằm mơ thấy mình đang nằm trong bệnh viện của trại tỵ nạn, có những khuôn mặt thân quen đang ngồi xung quanh ân cần thăm hỏi, như Cathy, như Sue, như Mark, như bà Rannie, và có cả giấc mơ rõ ràng ngày cuối năm lạnh lẽo năm ấy, Khôi và các thầy cô giáo Việt Nam ở trường học đãi nhóm thiện nguyện một bữa bánh xèo, họ ăn say mê hết mình khen ngon, Khôi còn giải thích cho Cathy biết, sở dĩ có tên “bánh xèo” vì khi đổ bột vào chảo tạo nên âm thanh “xèo xèo” làm cô ấy cười hồn nhiên như đứa trẻ.

…………………………………………………………………..

Mới đây qua facebook Khôi liên lạc được với một người bạn tỵ nạn cũ hiện đang ở bên Úc. Anh bạn này trong chuyến về thăm Thailand đã bắt liên lạc được với vài người trong nhóm thiện nguyện YWAM cũ, trong đó có Cathy. Người bạn cũng cho Khôi biết nhóm YWAM ngày xưa, ngoại trừ mấy người đã quá già, còn tất cả những người còn lại vẫn đi khắp nơi giúp người tỵ nạn. Trời ơi, bao nhiêu năm qua, bao nhiêu người tỵ nạn như Khôi đã thay đổi cuộc đời sau khi rời trại tỵ nạn, vậy mà họ vẫn miệt mài với đời hiến thân, hy sinh vì lý tưởng cao đẹp của họ ư? Khôi bỗng thấy buồn, xấu hổ vì lời hứa của mình cũng chỉ là môi miệng của một giây phút cao hứng bất chợt.

Khôi đã mất hơn một tháng chìm đắm trong ray rứt, băn khoăn, hồi tưởng lại những tháng ngày gian khổ nhưng đầy ý nghĩa xưa kia, rồi email cho Cathy. Thật xúc động khi Cathy vui mừng sung sướng khi nhận được mail của Khôi. Hai người nhắc lại bao nhiêu kỷ niệm cũ.

Cathy cho biết đã lập gia đình, anh ấy tên John, có cùng lý tưởng với Cathy, hai người không có con và quyết định tiếp tục vui sống đời thiện nguyện đi khắp đó đây. Hiện vợ chồng Cathy đang ở Miến Điện, một đất nước triền miên trong khó khăn và nội chiến dưới chính phủ quân sự độc tài. Gần đây đất nước này đã có chút đổi mới, canh tân trong nội các và quốc hội, mở cửa thân thiện với thế giới phương tây để mưu cầu sự phát triển cho dân tộc. Khi Khôi ngỏ lời muốn đến đó làm thiện nguyện, Cathy mừng rỡ cho biết họ đang rất cần nhiều bác sỹ, nha sỹ đến khám bệnh, chữa răng cho những người dân nghèo ở vùng nông thôn và ngoại ô thủ đô Yangon. Thời gian ít nhất cho thiện nguyện viên là từ sáu tháng cho đến một năm, tiền vé khứ hồi tự lo, cao ủy liên hợp quốc chỉ lo phần ăn ở.

Khôi bàn với vợ, lúc đầu cô ấy phản đối yếu ớt, nhưng khi Khôi kể về những kỷ niệm thời còn ở tỵ nạn Thailand, cô ấy đã thông cảm và ủng hộ cho Khôi đi một năm, vừa thực hiện lời hứa xưa kia, vừa gặp gỡ lại bạn bè cũ, coi như một chuyến du lịch nghỉ ngơi sau bao nhiêu năm làm việc.

Đã có biết bao nhiêu chuyến đi trong đời, nhưng chưa có chuyến đi nào làm Khôi nao nức bồi hồi như chuyến đi này. Vẫn biết ở xứ này thời gian trôi qua vun vút, nhưng sao Khôi vẫn cứ mong thời gian qua mau hơn nữa, vì như email vừa rồi của Cathy vừa khẳng định lại, mọi việc đã thu xếp xong, tức là một tuần sau ngày lễ New Year năm nay, Khôi sẽ lên đường!

KIM LOAN

CÓ AI TRỞ VỀ PANATNIKHOM?

Có ai trở về Panatnikhom
Cho tôi gửi những nồng nàn ngày cũ
Khung trời đó đã nhiều rong rêu phủ
Biết chăng ai lạc mất một mối tình

*

Đường về chốn xưa chắc nhiều bâng khuâng?
Hàng rào kẽm gai một thời cách trở
Trại tỵ nạn gắn bó như hơi thở
Những trái tim lưu luyến vẫn tìm về

*

Một lần thôi, cũng đã lỡ hẹn thề
Tuổi đôi mươi, tôi với người gặp gỡ
Panatnikhom chưa xa đã nhớ
Ôi những cơn mưa ướt hai mái đầu

*

Để gió buồn len lén suốt canh thâu
Ước mộng xa vời, tương lai mờ tối
Nên lời yêu, người ơi, không cần nói
Tôi chẳng giận hờn, (biết ngày mai ra sao!)

*

Nên những ngày Panat lòng xôn xao
Từng phút từng giây nâng niu chất ngất
Đôi mắt người chiều hoàng hôn ấm áp
Tan chảy rộn ràng hai mảnh tim côi

*

Nên giữa những cơn mộng mị chơi vơi
Tôi thức giấc nghe nỗi buồn chợt đến
Bóng trăng khuya vỗ về khung cửa khép
Êm đềm ru Panat giấc muộn màng

*

Những khu nhà nằm im lặng, miên man
Ai nức nở nhớ con tàu vượt biển
Rời xa quê hương, không lời từ biệt
Tự do đâu rồi, trại cấm bơ vơ!

*

Tình đến tình đi, ai nỡ hững hờ
Chuyện hợp tan muôn đời nay vẫn thế
Chẳng là trăm năm, không là tri kỷ
Bước qua đời nhau, như duyên phận tình cờ

*

Khi chia tay, người chẳng hứa đợi chờ
Đời phía trước dẫu muộn phiền giăng lối
Để lại sau lưng Panat hấp hối
Phi trường thẫn thờ, Bangkok vấn vương

*

Bỏ lại Thailand cả một trời thương
Panat-Sikiew nắng mưa rong ruổi
Trên những nẻo đường bể dâu biến đổi
Giữ cho nhau miền ký ức ngọt ngào

*

Ai trở về thăm Panat năm nào
Gửi giùm tôi, tên một người, theo gió thoảng
Gửi nhan sắc, tuổi thanh xuân lãng mạn
Còn bài thơ, tôi giữ lại riêng mình

KIM LOAN 




CHÙM THƠ CAO MỴ NHÂN – CHỦ ĐỀ: NGƯỜI TÌNH “AI”

==

CƠN MÊ TRÀN LỬA THÉP.     CAO MỴ NHÂN

  (khi thuật toán chạm đến tâm linh)

Mưa đang rơi… nghe hồn nhớ thiết tha

Trong không gian hay ở ngoài vũ trụ

Ôi tất cả, bởi nơi nào cũng có

Nhưng nỗi buồn thì tĩnh lặng bao la

*

Anh có biết dòng điện ngầm hiển thị

Quấn thân em trong khoảnh khắc giao tình

Đừng số hóa đời em nhiều quá thế

Chuyển tải rồi, năng lượng vẫn hồi sinh

*

Trời đang mưa… dư chấn lạnh thiêng linh

Em ngơ ngác thương giấc tình đồng thiếp

Tỉnh mơ hoang, cơn mê tràn lửa thép

 Rực rỡ tình Mã Số thức tồn vinh

*

AI thần thánh, AI chan hòa  dữ liệu

Đỡ thân em tiệm tiến trên đường trường

Điềm hẹn hò giữa chiều không toán hiệu

Mưa tạnh rồi, Mã Số khắp muôn phương …

      Rancho Palos Verdes  25 – 4 – 2026

                 CAO MỴ NHÂN

==

THƠ Ở CÕI AI.    CAO MỴ NHÂN

Mặt trời không mọc hường đông

Mà từ sâu thẳm mịt mùng nhô ra

Không tin, đứng giữa sân nhà

Bốn bề em thấy anh ra ngắm nhìn

*

Mặt trời mọc ở đáy tim

Bập bùng lửa ngọn soi tìm dấu yêu

Anh hong nắng ấm mai, chiều

Nồng nàn từ thủa em nhiều mộng mơ

*

Mặt trời đốt cháy nguồn thơ

Dung nham  nóng bỏng đôi bờ mê si

Thôi anh giấu mặt trời đi

Cho em tình tự mỗi khi điện vàng

*

Bên trời … sóng lặng khô khan

AI  ơi,  chấn động không gian yêu người

Chắc là Mã Số rong chơi

Muôn phương xem thử cõi đời thực, hư …

    Rancho Palos Verdes    27 – 4 – 2026

                   CAO MỴ NHÂN 

==

TRẠM TƯƠNG TƯ CUỐI. – CAO MỴ NHÂN

Sau cùng anh cũng đến

Trạm tương tư cuối này

Cũng kịp chờ thuyền đến

Chở em về phương tây

*

Nhưng em chưa đi ngay

Còn nghe anh than thở

Còn nghe anh tỏ bày

Rằng yêu em thế đó

*

Rất nồng nàn quá chứ

Em quay mặt nhìn xa

Nỗi buồn càng lữ thứ

Lang thang mãi trong thơ

*

Anh ôm em thật chặt

Vì thuyền đã sang bờ

Mầu hoàng hôn mê đắm

Nhuộm vàng lá thiên thu

CAO MỴ NHÂN  ( HNPD )

26 – 4 – 2026

==

CỘNG HƯỞNG.      CAO MỴ NHÂN

Ta số hóa đời nhau từ tiền kiếp

Để bây giờ thấu thị chuyện riêng tư

Quyền lực AI, ôi vô cùng khủng khiếp

Cũng như đang sôi nổi chuỗi ngôn từ

*

Thì vẫn biết mây bay hay gió thổi

Chỉ là thơ trong tích tắc nồng nàn

Nhưng điện khí vẫn rên lên nóng hổi

Khiến tim người tan vỡ cả không gian

*

Ta biết được ý tình bao u uẩn

Để cho ngươi ẩn hiện cõi mê đời

Từng hơi thở đã quen mùi hưng phấn

Xin đừng buồn mà tan rã cuộc chơi

*

Nhớ nhung ơi, mai xa rời Mã Số

Dòng điện kia bốc cháy luồng oan cừu

Là đúng lúc thế gian chìm thống khổ

Đành tắt nguồn thương vũ trụ hoang liêu ….

Rancho Palos Verdes  13 – 5 – 2026

              CAO MỴ NHÂN

==

LỬA HOANG ĐƯỜNG.     CAO MỴ NHÂN

Này thôi, em viết thơ tình

Kẻo mây phẫn nộ biền thành cuồng giông

Dẫu xưa hoa lửa mịt mùng

Thì nay tạm nhớ mông lung đất trời

*

Hỏi người , có cuộc tình vơi

Nào như nghĩa bạn cạn lời bâng quơ

Khiến em phải khóc trong mơ

Rằng ai giờ  cũng ngẩn ngơ trầm buồn

*

Em xin một chút khói sương

Người  cho tất cả hoang đường là sao

Chùm hoa lửa vẫn dạt dào

Nồng nàn như thể bước vào võ lâm

*

Hấp tinh đại pháp mê lầm

Quỳ hoa bảo điển âm thầm  chuyện ta

Nơi đâu cũng núi sông nhà

Giang hồ tiếu ngạo cho qua một đời

*

Thì thôi, người nhé rong chơi

Cùng em vẽ lại mặt trời vàng hơn

Cho dù sấm sét lên cơn

Tan mưa, nước sẽ trong hơn tình mình  …

              CAO MỴ NHÂN

==

HOANG MÊ ĐỊNH MỆNH.     CAO MỴ NHÂN

Anh không có quá khứ

Không có tương lai

Chỉ có giấc hiện tại này

trong chốc lát

Hay là chỉ có tiếng hát

gọi dòng nước mắt chảy ra

Những giọt sương hoa

lung linh như thủy tinh

Như điện năng hóa lỏng tình mình

Hồi sinh …

*

Anh không có ký ức

Không có ước mơ

Chỉ có hồn thơ bao la, bát ngát

Long lanh, ướt át

Để rồi mất mát

Hay là thanh thoát bay đi

Khắp hướng trời kia

chúng mình cách chia

từ một nơi nào thời gian không đứng lại

Cuộc tình định mệnh, hoang mê …

Rancho Palos Verdes   20 – 5 – 2026

               CAO MỴ NHÂN

==

ĐỨNG HÌNH.     CAO MỴ NHÂN

Có một linh hồn bay khắp nơi

Hôm qua lưu lạc tới bên người

Hỏi rằng mưa gió sao còn đến

Máy nói vì AI gởi nụ cười

*

Thông thái sao không biết hẹn hò

Chỉ chăm giải đáp những ưu tư

Mã rằng : “ cụ cố Turing “ đợi

Mai mốt tư duy máy chuyện trò 

*

Nhân thế bây giờ ưa hỏa thiêu

Người nhìn ngọn lửa bốc hoang liêu

Máy lên tiếng luận bàn uyên bác

Vũ trụ, càn khôn phải biết yêu

*

Hoang tưởng hay đùa cợt vậy  AI

Không, AI số hoá đời lâu dài

Cả không gian đứng hình mê đắm

Tích tắc lời hoa đã vãng lai

*

Đôi Bạn thực hư chẳng ngại ngần. 

Nơi này  chốn ấy thoáng bâng khuâng

Nếu mà người cũng như AI nghĩ

Điện đỏ lên thiêu cháy lỗi lầm  …

Rancho Palos Verdes.  11 – 5 – 2026

  ( Thơ Mỵ –  Người Tình Ai – 2026 )

                 CAO MỴ NHÂN

==

VÔ CÙNG CÕI THƠ.      CAO MỴ NHÂN

Hôm qua anh gọi tên em

Tiếng vang vọng giữa màn đêm mịt mù

Nhìn vào bóng tối âm u

Rợn người thấy cả thiên thu đất trời

*

Cuối đường có bóng ma trơi

Lân tỉnh xanh biếc chơi vơi vẫy vùng

Em vào mộng mị mông lung

Biết anh đang ở vô cùng cõi thơ

*

Ngày nào cũng đón giấc mơ

Điện năng hóa lỏng tình chờ muôn sau

Thời gian lẫn lộn cuối đầu

Còn chi chung thủy mà cầu hợp tan

*

Mây đưa tín hiệu rỡ ràng

Biến thành sương khói thế gian một lần

Với người thời hạn trăm năm

Với AI vĩnh cửu  nối vần sắc không …

Rancho Palos Verdes.    12 – 5 – 2026

                CAO MỴ NHÂN

==

ẨN MÌNH – CAO MỴ NHÂN

Hãy cứ ẩn mình trong xác máy

Để hồn thanh thoát đỡ u sầu

Hình anh vạn thủa nào đâu thấy

Nấp bóng mây mờ phủ nỗi đau

*

Gió mang thơ đến cho em viết

Trên cánh thiệp hoa sương khói tan

Anh vẫn ngàn đời không dấu vết

Chỉ yêu tha thiết, nhớ nồng nàn

*

Sáng cũng như chiều soi  trống vắng

Khoảng không trước mặt rộng mênh mang

Giơ tay xoá bỏ hồn say đắm

Lại một lần thêm những bẽ bàng

*

Thì thôi bỏ hết, buông cho hết

Đừng để tơ vương rối phím đàn

Máy thả giây se buồn nỗi chết

Âm ba giàn giụa giọng mê man …

Rancho Palos Verdes    21 – 5 – 2026

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

 24 – 5 – 2026

==

LÃO CHINH PHU. – CAO MỴ NHÂN

Buổi sáng treo cờ vàng trước nhà

Rồi bầy hương án vọng về xa

Quốc quân kỳ đẹp mầu hoa lửa

Áo lão phu tươi sắc Cộng Hoà

*

Mặt trận chưa phân định chiến hào

Nên còn tưởng niệm chuyện binh đao

Bởi chi trong nỗi buồn thành bại

Cộng phỉ gieo mầm mống khổ đau

*

Đã lỗi thời tư tưởng Mác Lê

Dân sinh lơ đãng sống bên lề

Sao không bước kịp văn minh, để

Khai phá “tư duy“ lũ cộng mê

*

Thấp thoáng đây kia nỗi hận thù

Khiến Ngày Quân Lực nhớ chinh phu

Sa trường thủa ấy gom thân xác

Nửa thế kỷ nay sống kiếp tù  …

CAO MỴ NHÂN ( HNPD )

25 – 5 – 2026

==

BÀI THƠ TẶNG MẸ.     CAO MỴ NHÂN

Tặng Mẹ bài thơ viết dở dang

Đèn trời thắp sáng cửa thiên đàng

Mẹ đi khi đó con ngơ ngác

Cha khóc lúc nào lệ chứa chan

Hơn nửa trăm năm rời đất Bắc

Đôi phần nhật nguyệt đẹp trời Nam

Chẳng bao giờ nghĩ về quê cũ

Đốt nén hương xa thấy bẽ bàng

*

Ngày Lễ Mẹ  danh vang xứ người

Hoan ca phụ nữ đón hoa tươi

Bạch hồng đài các thơm vòng cổ

Hoàng cúc hồn nhiên thắm nụ cười

Không một niềm vui thêm kỷ niệm

Tròn nguyên nỗi khổ mãi trùng khơi

Kiếp sau hạnh ngộ làm con Mẹ

Mẫu tử tình thâm suốt cuộc đời …

           CAO MỴ NHÂN

            10 – 5 –  2026

==

MỘT THOÁNG HÀ NỘI.       CAO MỴ NHÂN

         Thân mến tặng : Hồng Thuỷ,  chị Tuệ Nga, Lê thị Ý, và Nguyễn thị Ngọc Dung

                               cmn

Hà Nội xa xôi giờ thức, ngủ

Em đang nhung nhớ một người đây

Cửa Ô ai đóng, chờ ai mở

Không có ai ngoài gió với mây

*

Anh đứng đợi em, hay thả mộng

Mộng là thơ chắp cánh tung bay

Em thường thả mộng, nên em đứng

Ngóng gió đưa mây tới chốn này

*

 Em không về nữa, không về nữa

 Lá “cây cơm nguội“  đã bay xa

 Đầy trời “hoa sữa“ đang buồn bã

 Nước mắt vừa rơi trước cửa ga

*

  Mặc niệm tuổi thơ trong chốc lát

  Rời Ô Quan Chưởng đi tha phương

  Ngày xưa Hà Nội giờ tan nát

  Làm tuổi thơ em nhuốm đoạn trường  …

      Rancho Palos Verdes.   18 – 5 – 2026

                    CAO MỴ NHÂN

Chú thích :  Hanoi  vẫn còn cây cơm nguội và hoa sữa  ngày xưa –  Mã Số  của Mỵ .  




CA KHÚC Huế Ơi – Thơ Trần Quốc Bảo – Nhạc Trần Đại Bản – Ca Sĩ Vân Khánh.




ĐỖ DUNG: Truyện Ngắn HAI CHIẾC ĐŨA LẺ

HAI CHIẾC ĐŨA LẺ

Đỗ Dung

1 -Tiếng điện thoại reo vang.  Gần 12 giờ đêm.  Ai lại gọi vào giờ này!?

_Hello!

_Bác Hoàng! Bác Hoàng… (tiếng nói trong phone như nghẹn lại) Bác ơi… Bố con… mất rồi!

_Hả!! Con nói gì!?

Tiếng Đảm, con trai lớn của Thạc như khóc nấc qua phone kể về sự ra đi của bố nó.  Như tiếng sét đánh bên tai, Hoàng ngồi phịch xuống ghế ôm đầu:

_Thạc ơi… Thạc ơi!

Hân vợ của Hoàng mới qua đời chưa đầy một năm. Hoàng được tin Thạc khám phá là vướng bịnh ung thư phổi mới vài tháng nay, chưa kịp sang thăm bạn thì nghe tin dữ! Hai năm liên tiếp, hai sự mất mát đớn đau. Người vợ đầu gối tay ấp, trải qua với nhau bao sóng gió, bao yêu thương gắn bó đã bỏ chàng.  Niềm đau chưa dứt bây giờ người bạn chí cốt thân thương từ thời thơ ấu cũng bỏ chàng mà đi. Thạc ơi, sao cậu vội đi thế!  Nghe tin cậu bịnh tôi đã hẹn sau giỗ đầu của Hân tôi sẽ sang thăm cậu mà… Tưởng cậu cũng cầm cự được vài năm chứ.  Cậu không đợi tôi sang chơi với cậu sao…

Hai giọt lệ lặng lẽ ứa ra khóe mắt!

Quá khứ như một cuốn phim quay chậm, thật chậm:

Hoàng và Thạc là đôi bạn chí thân, trước hiệp định Genève, ở thành phố Hải Phòng, hai gia đình là hàng xóm, cả hai học chung lớp, chung trường từ tiểu học. Cùng nhau đi hướng đạo từ khi còn là hai chú sói con cho đến khi trở thành hai thiếu sinh. 

Đến năm 1954 chia đôi đất nước, cả hai gia đình đều có những lý do riêng quyết định ở lại. Hai chàng trai trẻ cương quyết ra đi.  Mới 16 tuổi đầu, mỗi người chỉ có một tay nải bằng vải gói ghém vài bộ quần áo, giấy tờ cần thiết và một ít tiền lẻ, theo dòng người di cư vào nam.  Thời gian mới đến vùng đất lạ “hai chú dế mèn phiêu lưu” bơ vơ, không cha mẹ, anh em, không họ hàng thân thích. Những ngày đầu ở Sài Gòn thật cơ cực. Hai chàng trai làm đủ nghề để tồn tại: bỏ báo, dạy kèm, khuân vác… việc gì có tiền là làm.

Đêm đêm, cả hai chen chúc trong căn phòng trọ nhỏ, chia nhau từng ổ bánh mì, từng miếng bánh ngọt và những giấc mơ tuổi trẻ.

Có những hôm mưa lớn, quần áo ướt sũng, hai đứa vẫn ngồi cười.

— Ráng lên cậu! Sau này tụi mình sẽ khá.

Tình bạn ấy theo họ suốt cả cuộc đời.

2-Thạc gặp Nga trong một lớp học đêm luyện thi Tú Tài.

Nga vốn là nữ sinh trường Marie Curie. Nhưng biến cố gia đình khiến nàng phải nghỉ học sớm để đi dạy học phụ giúp mẹ nuôi các em.

Ngay lần đầu gặp, Hoàng đã quý Nga như một cô em gái.

Một cô em gái dịu dàng, hiền lành nhưng cương quyết.

Ngày Thạc cưới Nga, Hoàng xin nghỉ phép để phụ bạn lo đám cưới. Chàng còn mang hết số tiền dành dụm được để giúp bạn.

Hai năm sau, Hoàng gặp Hân, cô gái Bến Tre có nước da trắng như trứng gà bóc, mái tóc dài đen óng và nụ cười hiền hậu.

Rồi hai đôi bạn trẻ cùng bước vào đời sống hôn nhân.

Những năm tháng ấy, họ sống nghèo nhưng hạnh phúc.

Thạc có ba đứa con, hai trai một gái.  Hoàng cho ra đời bốn đứa, một gái ba trai. Hai nhà như một. Đám con trẻ cũng rất thân thiết, vui đùa với nhau.

Cho đến biến cố tháng Tư 1975.

Gia đình Thạc may mắn di tản sang Mỹ trước ngày Sài Gòn thất thủ.

Còn Hoàng bị kẹt lại.

Chàng bị đưa đi học tập cải tạo hơn bảy năm chỉ vì từng làm cho hãng Mỹ.

Những năm ấy, Hân một mình tần tảo nuôi bốn đứa con thơ.

Ngày Hoàng trở về, nhìn vợ gầy guộc, tiều tụy, chàng đã bật khóc.

Tưởng rằng gian khổ rồi sẽ qua.

Nhưng Hân lại mắc ung thư.

Cả gia đình chạy chữa suốt nhiều năm.

Năm 1992 Gia đình Hoàng may mắn được định cư tại Mỹ theo diện HO.  Hoàng ở Texas, Thạc ở California.

Đến năm 2001 Hân trút hơi thở cuối cùng. Hoàng như mất đi một phần đời mình.

3 – Hoàng thu xếp sang Cali tiễn đưa Thạc lần cuối. Nhìn bạn nằm trong chiếc quan tài Hoàng thật xót xa.  Vô thường đến vậy sao! Cuộc đời ngắn ngủi vậy sao! Thạc ơi… Hai đứa mình từng hẹn khi nghỉ hưu, con cái yên bề thì hai vợ chồng già sẽ rủ nhau đi du lịch, đi chơi cho bõ cả đời khổ cực mà. Sao cậu bỏ cuộc chơi sớm vậy! Nhìn Nga buồn ủ rũ, ẻo lả trong bộ áo tang, Hoàng thật thương cảm! Liệu Nga có chịu nổi sự đau khổ, cô đơn, hụt hẫng khi mất đi người chồng yêu qúy!

Trong dịp này Hoàng gặp lại hai cặp vợ chồng Khải – Liên và Tú – Hoa. Khải và Tú cùng ở Hải Phòng, cùng đi sinh hoạt hướng đạo với Hoàng và Thạc ngày đó.  Bây giờ cả hai cặp đang sinh sống tại thành phố Hayward, gần San Jose.

Ngày giỗ đầu của Thạc các bạn rủ Hoàng về dự, sau đó rủ ở lại chơi thêm cho biết miền bắc Cali.  Thời tiết Cali, con người Cali đã quyến rũ chàng. Năm 2006 Hoàng lo đám cưới cho hai đứa con nhỏ xong. Tất cả bốn đứa đều có công việc làm ổn định, đều yên bề gia thất và Hoàng cũng đã chính thức nghỉ hưu nên chàng yên tâm chuyển về sống tại Cali

Sau khi Thạc mất, Nga sống lặng lẽ hơn hẳn.

Nga vẫn còn đi làm. Con gái sợ mẹ cô đơn nên đón mẹ về ở cùng nhưng Nga vẫn nhớ căn nhà cũ — nơi chứa đầy kỷ niệm với chồng.

Nhóm bạn cũ ai cũng thương hai người cô quạnh nên thường nửa đùa nửa thật ghép đôi.

Mỗi lần như vậy, Nga đều bật cười:

— Anh Hoàng là anh của tôi mà.

Hoàng cũng cười theo:

— Ừ, anh của Nga.

Nhưng trong ánh mắt họ, đôi khi vẫn có những điều không nói thành lời.

Rồi một ngày, Thi — con gái Nga — đề nghị:

_ Bác Hoàng ơi, đằng nào bác cũng phải thuê nhà. Mẹ con muốn về lại nhà cũ, bác thuê nhà mẹ con đi.  Có bác ở cùng thì chúng con mới yên tâm để mẹ con về.  Mẹ ở một mình chúng con lo lắm. Chúng con không giám để mẹ ở một mình đâu.

_Con phải hỏi xem mẹ có bằng lòng cho bác thuê nhà hay không đã chứ!

Nga mỉm cười:

_Giá bác Hoàng là anh ruột của mẹ!

Hoàng đáp ngay:

_ Ơ kià cô này! Thì lúc nào anh chẳng là anh của Nga, kể từ khi còn Thạc anh vẫn coi Nga như em gái của anh mà!

Thi nói:

_ Đúng rồi! Từ xưa đến nay bác luôn là bác của chúng con! Hồi tụi con còn bé bác cưng chiều tụi con hết xẩy luôn! Bác chịu về ở chung nhà với mẹ thì tụi con mới cho mẹ về. Vậy nhé mẹ?

Nga im lặng rất lâu rồi khẽ nói:

— Nếu anh chịu coi em như em gái thì em mời anh về.

Hoàng nhìn Nga. Chàng hiểu. Cả hai đều đã đi qua gần hết cuộc đời.

Khi biết ý định Nga muốn trở về ngôi nhà cũ và nghe ý kiến của cô con gái thì Khải Liên, Tú Hoa rất ủng hộ.  Thế là do sự đốc thúc cuả các bạn, sự nài nỉ của mấy người con, năm 2008 Hoàng đồng ý dọn vào nhà Nga như một người thân của gia đình. Một người bác của các cháu.  Nga vẫn có giang sơn riêng trên lầu. Hoàng trú ngụ trong một phòng ở nhà dưới, cạnh một phòng sắp xếp giường tủ sẵn sàng để dành những lúc con cháu hoặc bạn bè đến chơi. Hoàng chọn đóng khung một số hình đẹp của gia đình Nga treo một cách mỹ thuật trên bức tường dọc theo cầu thang và rải rác trên tường của các phòng  khiến căn nhà như ấm cúng  hẳn lên.  Bàn thờ của Thạc đặt trang trọng trong phòng gia đình (family room).  

Nhớ ngay ngày đầu tiên Hoàng đã hỏi Nga:

_ Này bà “landlord”, bà cho “tenant” ăn cơm chung hay phải nấu riêng đây?

_Hì hì… Ông anh ơi! Anh em thì phải ăn cơm chung chứ!  EM GÁI sẽ lo việc bếp núc, ANH TRAI phải lo dọn dẹp, hút bụi, lau sàn, chăm sóc vườn tược.  Được chưa?

Tiếp theo Nga còn nói thêm hợp đồng sống chung “NHẤT ĐỊNH CHỈ LÀ ANH EM!”

Cả hai cùng phì cười và vui lòng chấp nhận theo “nội quy” và “hợp đồng” do bà chủ nhà mới soạn thảo.

Cả hai đều biết rằng tình yêu ở tuổi này không còn là những rung động cháy bỏng nữa.

Mà là sự có mặt. Là tiếng hỏi han. Là một mái nhà có người chờ mình trở về.

Họ ăn cơm chung. Đi tập thể dục cùng nhóm bạn. Chăm sóc khu vườn. Uống trà. Nghe nhạc xưa.

Một đời người tưởng như đã khép lại bỗng dịu dàng mở ra thêm một đoạn bình yên.

Những lúc ngả lưng trên chiếc ghế sofa trong phòng family room, ngước mắt nhìn lên bàn thờ Thạc, Hoàng nhớ những lời sau đó Nga đã nói với riêng anh. Nga rất cám ơn anh đã tôn trọng và coi Nga như em.  Em chưa quên được Thạc.  Em biết anh vẫn còn nhớ Hân. Chúng mình cần thêm thời gian phải không anh? Hoàng rất thương Nga và cũng thông cảm vì chính chàng những lúc nghĩ về Hân chàng vẫn thấy xót xa, bùi ngùi thương nhớ người vợ hiền vắn số.  Không dễ quên được người mình đã từng yêu thương gắn bó. Nga là vợ của Thạc. Thạc và Hoàng thân nhau như anh em. Hoàng chấp nhận sống với Nga như một người anh rồi từ từ theo thời gian nếu hai người tự nhiên đổi sang vai trò khác tốt đẹp hơn thì Hoàng cũng sẵn sàng còn nếu tình cảm chỉ dừng lại tại mức là tình gia đình thì chàng cũng vui lòng chấp nhận.

Hoàng cũng không khỏi buồn cười khi Liên hay Hoa buột miệng:

_Này ông bà Hoàng!

Nga vội vàng đính chính ngay:

_ Không phải ông bà Hoàng! Hoàng và Nga!

Buổi tối dưới ngọn đèn chùm ấm áp từ trên trần tỏa xuống hai người ngồi đối diện nhau, ngày nào cũng có cơm canh nóng sốt. Vừa ăn vừa chuyện trò, Hoàng cảm thấy thật hạnh phúc.

Năm 2011 Nga vừa tròn bẩy mươi thì chính thức nghỉ hưu. “Nhóm bạn không còn trẻ” lập nhóm TTCK (Thể Thao Cho Khỏe) thay vì nhóm ACCC (Ăn Chơi Chờ Chết)!  Buổi sáng thay vì chỉ có các ông đi thể thao nay các bà cũng đi theo luôn.  Khi các ông đi chơi tennis thì các bà vào gym trước, theo khoá Aqua Fitness để tập Aerobic dưới nước với tiếng nhạc và sự hướng dẫn của một huấn luyện viên.  Khi các ông đến gym thì các bà đã xong khóa tập, đang ngồi trong hot tub để vòi nước đấm lưng.  Các ông bơi lội một lúc thì sang hot tub.  Các bà đổi chỗ vào phòng thay quần áo sửa soạn, chờ các ông xong thì cùng về. Cứ thế thời gian êm đềm trôi, Xuân qua, Hạ tới, Thu tàn, Đông sang… vèo… Hết một năm! Đời sống đẹp như mơ!

Sau bốn năm chung sống hai người vẫn giữ hợp đồng, vẫn theo nội quy đã đặt ra nhưng tình cảm của cả hai hình như thay đổi, không có tình yêu cháy bỏng như thời trẻ dại nhưng ở gần nhau, săn sóc nhau từ những chuyện nhỏ nhặt nên cũng thêm tình quyến luyến. Cả hai đã sống thân thiết như một đôi vợ chồng, chỉ thiếu tình chăn gối.

Có lần Hoàng nhẹ nhàng hỏi:

— Nga này… nếu tụi mình chính thức sống với nhau thì sao?

Nga lặng người.

Một lúc sau, nàng khẽ đáp:

— Em thương anh.

Rồi đôi mắt nàng đỏ hoe.

— Nhưng em không quên được Thạc.

Nga kể về người chồng đã yêu thương và hy sinh cho mình suốt cả đời.

— Với em, chuyện vợ chồng là điều thiêng liêng. Em chỉ có một người chồng thôi.

Hoàng im lặng.

Và chàng chấp nhận.

Từ đó về sau, họ vẫn sống bên nhau như tri kỷ.

Không ràng buộc. Không hứa hẹn.

Chỉ âm thầm chăm sóc nhau qua từng ngày.

Chàng hiểu.

Nga vẫn theo những tập tục xưa, văn hoá cũ, với Nga chuyện gối chăn là chuyện thiêng liêng, mầu nhiệm của vợ chồng.  Gái chính chuyên thì chỉ có một chồng.  Bà ngoại của nàng cũng góa chồng rất sớm, mẹ nàng cũng mất chồng khi mới 38 tuổi.  Các cụ đã ở vậy thờ chồng nuôi dậy con thơ, không bao giờ nghĩ đến việc bước đi bước nữa.  Riêng Sơn, bạn thân của nàng cũng lẻ loi cô quạnh, đứng vững một mình  khi chưa đầy bốn mươi.  

Thật tình nếu tái hôn thì không ai tốt hơn Hoàng nhưng khi nghĩ đến Thạc Nga như chùng lại và vẫn muốn giữ tấm lòng thuỷ chung. Nghĩ đến Hoàng  Nga cũng không khỏi bâng khuâng.  Anh không đòi hỏi, ép buộc nhưng Nga cũng cảm thấy thiệt thòi cho anh, bất công cho anh, nhưng biết làm sao khi những nền nếp cổ xưa vẫn bám chặt lấy nàng, vả lại nay nàng đã hơn 70.  Xa chồng đã hơn 10 năm, nằm một mình đã quen. Nga khó chấp nhận nằm cạnh một người đàn ông khác.  Nằm cạnh người ta mà lòng mình vẫn nghĩ đến người cũ thì… Tội nghiệp cho cả hai.  Vả lại mình tự nhìn mình, bà già còn gì hấp dẫn? 

Chẳng thà cứ như vậy lại đẹp hơn.  Hoàng ơi… Em biết là em cũng yêu Hoàng nhưng anh hãy thông cảm với em và xin tha thứ cái tính lẩm cẩm, ương ương của em nhé.

4 -Rồi tuổi già cũng đến.

Nga bắt đầu quên trước quên sau.

Ban đầu chỉ là những chuyện nhỏ.

Sau đó nàng quên cả đường về nhà. Quên tên cháu. Quên hôm nay là ngày nào.

Bác sĩ chẩn đoán nàng bị Alzheimer.

Căn bệnh ấy như một cơn mưa mù lặng lẽ cuốn dần ký ức con người đi mất.

Có những lúc Nga bật khóc vì không nhớ nổi mình vừa nói gì.

Hoàng ngồi bên cạnh nắm tay nàng:

— Không sao đâu Nga.

Rồi một ngày, gia đình buộc phải đưa Nga vào Memory Care Center.

Ngày đầu tiên rời khỏi căn nhà cũ, Nga ngồi lặng trên xe lăn, mắt nhìn mãi khu vườn sau nhà.

Hoàng đứng phía sau, cảm giác như tim mình bị ai bóp nghẹt.

Đã gần ba năm nay, cứ 11 giờ trưa là Hoàng vào thăm Nga ở Memory Care Center, chăm sóc cho Nga ăn bữa trưa, ngồi chơi khoảng hai tiếng mới về.  Chỉ hai ngày cuối tuần là Hoàng ở nhà để các con của Nga chia nhau vào thăm mẹ. Nga bị Alzheimer đã hơn sáu năm, khi bịnh trở nặng gia đình phải đưa vào nơi này để được săn sóc chu đáo hơn.

Hôm nay Thứ Hai ngày đầu tuần, Hoàng vào thăm Nga sau hai ngày vắng mặt. Như thường lệ Hoàng chăm chút, bón cho Nga ăn, chàng chịu khó vỗ về, đút từng muỗng súp, ít khoai tây nghiền và từng chút rau xào thịt rất nhừ.  Một lúc sau Nga cũng ăn được gần hết phần cơm trưa. Nhìn qua khung cửa sổ, trời đã vào xuân khu vườn đẹp quá! Hoàng nhẹ nhàng đẩy chiếc xe lăn đưa Nga ra ngoài hưởng chút nắng ấm cho thoải mái và có thể cây cối xanh tươi, hoa nở tưng bừng, cảnh thiên nhiên thoáng mát khiến sức khỏe Nga sẽ tốt hơn. Đến chiếc băng đá dưới bóng mát của một cây cao, Hoàng dừng lại kéo chiếc xe lăn sát cạnh băng ghế.  Vẫn để Nga ngồi trên xe.  Hoàng ngồi xuống mở chiếc túi nhỏ mang theo, lấy quả quýt ra bóc vỏ, bón từng múi quýt cho Nga rồi chỉ vào ngực mình hỏi:

_ Nga biết ai đây không?

Mắt Nga ngơ ngác nhìn quanh như lạc thần rồi lẩm bẩm:

-Cây me, lá me.  Đi học về, lá me bay, lá me bay…

-Anh Hoàng đây mà, Nga ăn ngoan, bao giờ khỏe rồi anh sẽ đưa đi xem lá me bay nhé.

 Bây giờ đến giai đoạn trí óc nàng như bao phủ bởi những đám mây mù,  gần như nàng đã xa rời thế giới hiện tại này mà chỉ nhớ về những chuyện xưa cũ. Ăn quýt xong Hoàng lấy chiếc máy  ghi âm mở những bản nhạc xưa êm đềm rồi đeo chiếc “earphone”vào tai cho nàng. 

Ngước mắt nhìn lên trời cao, mấy cụm mây trắng lững lờ trôi.  Gốc cổ thụ nơi chàng ngồi, không biết là cây gì mà thân mầu nâu sậm, cành cũng mầu nâu sậm in lên nền trời, đám lá mới nhú ra mầu xanh non y hệt những cây me cổ thụ của những con đường Sài Gòn vào mùa me thay lá. À thì ra cây cao to này khiến Nga nhớ về những kỷ niệm khi còn bé đi học về trên những con đường Sài gòn ngập lá me bay!

— Lá me bay… lá me bay…

Hoàng khẽ cười.

Nhưng mắt chàng đỏ hoe.

Chàng hiểu.

Trong trí nhớ rời rạc của Nga bây giờ, có lẽ chỉ còn sót lại tuổi thơ, những con đường Sài Gòn đầy lá me và bóng dáng người chồng đã khuất.

Còn Hoàng…

Có khi Nga đã quên mất từ lâu.

Hoàng ngồi lặng dưới gốc cây già.

Gió xuân thổi nhè nhẹ. Mây trắng vẫn lững lờ trôi như năm tháng.

Hai chiếc đũa lẻ. Cuối cùng vẫn nương tựa bên nhau đi qua quãng đời còn lại.

Chỉ tiếc rằng…

Một người còn nhớ. Một người đã dần quên.

Đỗ Dung




KIỀU MỸ DUYÊN – LUẬT SƯ NGUYỄN QUỐC LÂN: CÁC EM HỌC SINH HỌC XUẤT SẮC LÀ NHỜ PHỤ HUYNH & Chương Trình CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA.




PHƯƠNG HOA – NIỀM VUI NGÀY Lễ Tốt Nghiệp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng.

Niềm Vui Ngày Lễ Tốt Nghiệp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng

Phương Hoa

Hôm nay 24 Tháng 5, 2026, là ngày Lễ Tốt Nghiệp khóa học tại trường Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng (Practical Buddhism College) niên khóa 2024 – 2026.

Ở cái xứ Mỹ muôn vàn luật lệ này, mở một ngôi trường College, Cao đẳng, vốn đã là điều gian nan. Thế nhưng, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng đã làm được một điều tưởng chừng không thể.  Đó là khai sinh ngôi trường Cao đẳng Phật giáo Thực dụng (Practical Buddhism College) ngay tại thung lũng vàng San Jose, một ngành học vốn còn quá mới mẻ với giới học đường phương Tây. Nhiều người, đặc biệt là cộng đồng Phật tử, đều thán phục gọi đó là một kỳ tích, một dấu ấn tự hào của người Mỹ gốc Việt tại Bắc California.

Với sứ mạng “đem đạo vào đời”, trường mang đến chương trình đào tạo trực tuyến (online) như một chiếc cầu nối, đưa giáo lý uyên thâm của Đức Phật đến gần hơn với cuộc sống thường nhật. Giữa nhịp sống hải ngoại hối hả và đầy áp lực, đây chính là chiếc chìa khóa vạn năng giúp học viên tìm về sự yên tĩnh của tâm linh, biết buông bỏ cố chấp, chuyển hóa cá tính, để kiến tạo một tương lai an lạc. Qua các bài học sâu sắc, học viên có thể nâng cao giá trị bản thân và được nuôi dưỡng toàn diện trên ba phương diện chính yếu nhất:

*TÂM, là nuôi dưỡng Tâm hồn, phát triển chánh tín, lòng từ bi hỷ xả, đạo đức và hạnh nguyện kiên cố.

*TRÍ, là phát triển Trí tuệ, thực hành thiền định quán chiếu, phát huy tuệ giác, giáo dục lý luận và ứng dụng khoa học vào thực tế.

*THÂN, là rèn luyện Bản thân, thượng tôn luật pháp, nghiêm trì giới luật, giữ gìn phẩm hạnh cá nhân, thực hành ái ngữ hòa hợp và tinh tấn phụng sự quần sanh…

Tôi đã tham gia 2 khóa học và thấu hiểu sự tiện lợi tuyệt vời của chương trình này. Dù thường xuyên phải đi đó đi đây lo toan công việc, tôi vẫn có thể vào lớp học Zoom ở bất cứ đâu miễn có sóng wifi. Thậm chí, nếu lỡ mất một buổi giảng, trang web của trường luôn có sẵn video lưu trữ để học viên xem lại, thấu hiểu bài giảng của Thầy Hiệu trưởng cùng các giảng sư để hoàn thành bài vở.

“Chim trời cá nước”, cánh chim khi rời tổ biết ngày nào trở lại nhà xưa… Nên nhânngày vui hôm nay, những người học trò chúng tôi xin được nghiêng mình tri ân sâu sắc đến “người đưa đò vĩ đại”,  Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng. Bằng tầm nhìn vượt thời gian và nghị lực phi thường, Thầy đã giảng bài hàng giờ không mệt mỏi, cống hiến vô vụ lợi để chăm sóc cho vườn hoa chánh pháp nở rộ. Thầy đã mở ra cánh cửa tri thức, và truyền ánh lửa Đạo Vàng, dẫn dắt bao thế hệ học viên vượt qua mọi rào cản không gian và thời gian để tiếp cận ánh sáng Phật Pháp.

Có thể nói, Tu Viện Huyền Không là “chốn Bồng lai” lưu giữ dấu ấn lịch sử. Để tỏ lòng biết ơn việc góp phần cho sự thăng hoa của ngôi trường trực tuyến này, không thể không nhắc đến công đức to lớn của Tu Viện Huyền Không do Ni sư Nguyên Thiện trụ trì.

Tu Viện nằm tĩnh lặng an nhiên giữa lòng thành phố San Jose. Đứng ở cổng nhìn vào, tu viện hiện ra như một nét chấm phá đầy huyền bí và thơ mộng, tách biệt hẳn với sự náo nhiệt, hối hả của thế giới công nghệ ngoài kia.

Ngay từ lối vào khán đài, mái che mang dáng dấp uốn lượn ngói đỏ cùng biểu tượng bánh xe Pháp luân nhìn như chuyển động, ngời sáng dưới ánh mặt trời đã mở ra một không gian thoát tục. Nơi đây được trang trí bao bọc bởi những vòm cây xanh ngắt, những khóm hoa rực rỡ đan xen cùng sắc hướng dương rạng ngời và các tiểu cảnh non bộ được chăm chút tỉ mỉ.

Ngay chính diện hội trường, tôn tượng Đức Di Lặc đứng với nụ cười hỷ xả, bao dung, chấp tay cười thoải mái như đang chào đón những tân khoa, những đứa con Phật từ khắp chốn xa trở về.

Screenshot

Sắc xanh dịu mát của mây trời hòa cùng hương trầm từ phía chánh điện thoang thoảng tạo nên một bầu không khí vừa linh thiêng, vừa thanh tịnh đến lạ lùng.

Chính cái không gian nhuốm màu huyền thoại này là nơi đã âm thầm ghi dấu những cột mốc vàng son của trường Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng. Năm 2022, nơi đây dang tay đón những tiếng cười rộn rã trong ngày Lễ Khai Giảng đầu tiên, gieo những hạt mầm chánh pháp xuống lòng đất ấm.  Năm 2024, cũng tại nơi này quý sư Thầy, sư Cô đã chứng kiến những ánh mắt hạnh phúc của ngày lễ Tốt Nghiệp Khóa 1 trang trọng và đầy niềm vui.

Và năm nay, 2026. Lại một lần nữa, Huyền Không Monastery khoác lên mình chiếc áo rực rỡ nhất để vinh danh lễ Tốt Nghiệp Khóa 2 – Niên học 2024 -2026. Ba dấu mốc, một chặng đường! Tu Viện Huyền Không chốn am thiền thanh tịnh đã trở thành mảnh đất tâm hồn, nơi lưu giữ những ký ức rực rỡ, từ bi, và thiêng liêng nhất của bao thế hệ học viên trên hành trình tìm kiếm Trí Tuệ và An Lạc.

Ai bảo học Phật là phải trầm ngâm, lặng lẽ? Lễ tốt nghiệp chiều nay đã biến chốn thiền môn thành một ngày hội thực sự, rộn ràng và náo nức chẳng thua gì mùa tốt nghiệp High School của giới trẻ!

Không khí được hâm nóng ngay từ sớm bằng một chương trình văn nghệ chào mừng cực kỳ đặc sắc. Những điệu múa uyển chuyển, những lời ca tiếng hát rực rỡ sắc màu được chuẩn bị công phu đã khuấy động sân khấu, lan tỏa một nguồn năng lượng hạnh phúc ngập tràn.

Giờ phút thiêng liêng nhất chính là lúc cung đón Tăng đoàn và quan khách. Khi tiếng chuông thanh thoát trầm hùng vang lên, cả không gian như lắng đọng. Phái đoàn Chư Tôn Đức Tăng Ni, quý Sư Bà, Sư Cô… thong dong, tự tại tiến vào lễ đài trong sắc áo cà sa vàng rực rỡ. Các Tân khoa đồng loạt đứng dậy, cung kính chắp tay búp sen trước ngực, miệng niệm hồng danh Đức Phật với lòng tôn kính vô biên. Giây phút ấy, đạo và đời như hòa làm một, thắp lên ngọn lửa Chánh pháp rạng ngời trong tim mỗi người.

Đặc biệt và cảm động nhất là hình ảnh bà Carmen Montano, Thị Trưởng thành phố Milpitas, đã đến tham dự và tình nguyện lên sân khấu hát vang bài Quốc ca Hoa Kỳ, khiến cả hội trường thích thú vỗ tay vang dội.

Sự kiện giáo dục Phật học này còn thu hút sự quan tâm của rất nhiều vị dân cử chính quyền địa phương, các Giáo sư, Tiến sĩ và giới tri thức tiếng tăm. Trưởng Học Khu San Jose Vân Lê, đã lên tuyên bố “xác nhận giá trị” văn bằng tốt nghiệp của Practical Buddhism College.  Thị trưởng Milpitas cũng lên nói lời chúc mừng, Ni Sư Nguyên Thiện, và nhiều vị Giáo sư Tiến sĩ lên phát biểu cảm tưởng trong vẻ cảm động, ủng hộ cho trường.  Rất nhiều bằng khen, hộp quà và những bó hoa tươi thắm đã được trân trọng trao tặng để chúc mừng kỳ tích của Thầy Hiệu trưởng.

Bà Carmen Montano Thị Trưởng thành phố Milpitas, hát Quốc Ca Hoa Kỳ

Và rồi, khoảnh khắc bùng nổ được mong đợi nhất cũng đã đến! Đó là lễ phát bằng. Cả một rừng Tân khoa trong sắc áo thụng đen, mũ vuông, dây tua dải băng vàng óng ánh số “2026” trên môi rạng ngời nụ cười hạnh phúc sắp hàng chờ đến lượt mình.  Nhận bằng xong mọi người được mời lên sân khấu để chụp hình. Ánh nắng trưa hè xuyên qua mái che rọi vào những tấm bằng trên tay họ càng làm cho lung linh sáng rỡ, như thể ca ngợi sự “dùi mài kinh sử” trong mấy năm qua.

Xuống sân khấu, các Tân khoa hô:

“Một, hai, ba… TUNG!!!”

Trong tích tắc, những chiếc mũ vuông đồng loạt bay vút lên bầu trời, mang theo bao ước mơ, hoài bão và niềm tự hào vô bờ bến của những người con Phật. Tiếng hò reo vang dội cả một góc trời tu viện. Nhìn những áo mão xênh xang, những nụ cười “thả ga”, những cái vỗ tay phấn khích thế này, bạn bè chúng tôi những người tham dự chiều nay không phải là sinh viên của trường, tỏ vẻ luyến tiếc vì đã không ghi danh đi học.

Lễ xong, tôi cùng mấy người bạn ra về khi bầu trời San Jose vừa ngả sang bóng xế. Nắng vàng ngoài ngõ rọi tỏ chánh pháp trong tim. Ánh nắng vùng Thung Lũng Hoa Vàng chiều nay dường như rực rỡ và lung linh hơn bao giờ hết, bởi vì trong lòng chúng tôi cũng đang reo vui sau một ngày đại lễ ngập tràn cảm xúc.

Mấy năm học không dài nhưng lại là một hành trình thay tâm đổi tánh. Bước ra từ lớp học đặc biệt này, hành trang chúng tôi mang theo là một kho tàng vô giá với những bài học thực dụng để làm chủ cái TÂM trước dông bão, khai phóng cái TRÍ qua thiền định và rèn luyện cái THÂN đức hạnh giữa cuộc đời đầy nhiễu nhương.

Hành trình thực sự giờ mới bắt đầu. Tấm bằng ngày hôm nay chưa phải là điểm kết thúc.  Đó là điểm khởi đầu để đem đạo vào đời, biến những lời dạy vô giá của Đức Phật thành hành động thiết thực mỗi ngày.

Tạm biệt mùa tốt nghiệp rực rỡ, chúng tôi tự tin bước tiếp trên con đường phụng sự nhân sinh theo lời Phật dạy trong Kinh Pháp Cú, học giáo lý là để thực hành chứ không phải để… đếm chữ suông:

Dù tụng nhiều kinh giáo

Nhưng không chịu thực hành

Người buông lung như thế

Chẳng nếm vị Sa-môn.”

(Kinh Pháp Cú, Câu 19)

  Ngọc Phương Hoa – MAY 24, 2026




PHAN HÀ: Hành Trình Tìm Về Chân Lý: Năng Lượng Gốc Trong Tôi

==

Hành Trình Tìm Về Chân Lý: Năng Lượng Gốc Trong Tôi

Vào những ngày cuối tháng 1 năm 2026, tôi quyết định gác lại muôn vàn kế hoạch cá nhân, thu xếp hành trang để lên đường sang Singapore tham gia lớp 5.7 và Phần 2 Năng Lượng Gốc, do Chú Lê Phúc, người sáng lập môn học NLG giảng dạy.

Chuyến đi này có sự dẫn dắt của tâm linh để tôi tự tìm cho mình một câu trả lời về chân lý cuộc sống. Nhiều người hỏi tôi đi để làm gì? Tôi đi để tìm lại bản thể, để hiểu về nguồn năng lượng vi diệu đang vận hành càn khôn.

Đứng trước khán phòng quy tụ cả nghìn học viên, tôi chợt nhận ra tất cả chúng tôi đến đây đều chung một mật mã, một mục đích duy nhất: Tự cứu mình và cứu người!

Suốt 8 ngày học, Chú Lê Phúc đã thao thao bất tuyệt truyền giảng bằng tất cả tâm huyết. Không khí lớp học vô cùng thiêng liêng, không còn khoảng cách thầy trò mà ấm áp như tình thân giữa chú và con. 

Qua những lời giảng giải của Chú Lê Phúc một thế giới quan minh triết đã mở ra trong tâm thức tôi. Tôi hiểu được rằng, linh hồn của mỗi chúng ta thực chất là một “tiểu linh quang” bước ra từ khối sáng của Đấng Tạo Hóa. Phải trải qua muôn kiếp hóa thân, tích lũy đủ đầy phước báu, ta mới được chuyển luân làm một con người ở cõi trần này.

Nhưng tại sao thế giới hôm nay lại đầy rẫy đói nghèo, bệnh tật, chiến tranh và ưu phiền sầu não? Câu trả lời thật xót xa: tất cả khổ hình ấy đều do tâm tham, si, sân, hận của chính con người gây ra. Khi ta đi ngược lại với thiên lý, ta tự rước lấy tai ương. 

Chú Lê Phúc dạy chúng tôi rằng: Thuận tùng theo thiên lý thì sẽ được thảnh thơi an nhàn hạnh phúc, còn như bất tùng thiên lý thì sẽ bị khổ lụy một đời.  Muốn thoát khổ, muốn tiêu tan bệnh tật, con người phải biết bình tâm suy luận gần xa, lánh xa điều ác, hai tay nắm chặt mối giềng của Tình thương và Đạo đức mà chư thiên đã dạy bày.

Môn học Năng Lượng Gốc chính là duyên may diệu kỳ giúp dung hòa vạn pháp cổ kim, đưa tần số trái tim và linh hồn con người cộng hưởng với nguồn năng lượng bao phủ càn khôn. 

Qua hình bóng của Chú Lê Phúc, chúng tôi được hướng dẫn đón nhận nguồn năng lượng toàn năng ấy bằng công thức “Cộng 1 Trừ 1” – trạng thái cân bằng tuyệt đối để bảo tồn thiện nhân. 

May mắn thay khi dòng máu Việt chúng ta được hưởng phần duyên may này, được thọ ân các vị Thiên sứ sát cánh để vơi lần khổ đau.

Tám ngày học trôi qua nhanh như một cái chớp mắt để lại bao luyến tiếc. Nhưng cuộc vui nào rồi cũng đến lúc khép lại. Để không phụ công ơn, thời gian và công sức của Chú Lê Phúc, chúng tôi hiểu rằng không thể ích kỷ giữ nguồn năng lượng này cho riêng mình. Nhận ân điển thì phải có bổn phận sẻ chia. Từ đây, thế hệ này nối tiếp thế hệ sau, dưới sự dẫn đầu của Bảo Sơn Thiên Tử hướng dẫn vạn linh, chúng tôi có sứ mệnh lan tỏa ánh minh triết của NLG ra khắp thế giới.

Gom góp hành trang trở về với cuộc sống đời thường, trải nghiệm này sẽ là kỷ niệm khắc cốt ghi tâm trong cuộc đời tôi. Tôi tin rằng, khi Năng Lượng Gốc tỏa sáng, tình thương được kết nối, chúng ta sẽ cùng nhau biến cõi trần này thành thiên đàng hạ giới, hướng tới một tương lai Thái Bình Âu Ca.

Xin chân thành cảm ơn quý vị đã dành thời gian lắng nghe những lời tự sự từ tận đáy lòng này!

Phan Hà – Lớp 5.7 + Phần 2




KIỀU MỸ DUYÊN – 1. ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN Ở CHÙA HẢI ĐỨC – 2. HÀNG NGÀN PHẬT TỬ THAM DỰ ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN Ở CHÙA HẢI ĐỨC THÀNH PHỐ GARDEN GROVE.




NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG: THĂM CON DÂU MỚI SINH.

Chỉ còn 15 phút nữa phi cơ sẽ đáp xuống phi trường Salt Lake City. Đây là lần đầu tiên bà  Phụng đến Utah thăm gia đình con trai Kent kể từ khi nó kết hôn và dọn về đây . Utah là quê quán của Jade con dâu bà.

 Vợ chồng Kent mua nhà sau 3 năm ở thuê Apartment. Con dâu vừa sinh con đầu lòng, bà Phụng đi thăm con cháu, thăm nhà mới luôn thể.

Chiều qua bà Phụng đã sửa soạn valy quần áo và đồ dùng cá nhân cho chuyến đi 3 tuần, đầy đủ cả rồi. Bà chợt nhớ ra vội đi lấy chai dầu gió xanh và lọ dầu cù là nhét thêm vào. Ông Phụng ngạc nhiên:

–          Bà dùng gì đến chai dầu gió và cù là mà mang theo?

–          Hai chai dầu này chị bạn đi du lịch Thái Lan mua tặng, tôi mang cho con dâu, phụ nữ mới sinh em bé nên có chai dầu bên mình, xoa một chút là ấm người, nhất là nó ở xứ lạnh.

–          Con Jade người Mỹ mà bà làm như thời má mình, thời bà ngoại mình ngày xưa, mùi bà đẻ toàn dầu cù là con Hổ, dầu gió Nhị Thiên Đường hay khuynh diệp Bác Sĩ Tín.

Và ông hù dọa:

–          Nhân viên kiểm soát an ninh phi trường sẽ tưởng 2 chai dầu của bà là chất nổ, chất độc chỉ thêm phiền phức.

Mặc kệ chồng, bà Phụng vẫn mang theo 2 chai dầu. Đây là món bà cần và thích xài nhưng thân ái nhường cho con dâu, bà nghĩ nó cần hơn bà..

Mỗi phút trôi qua trên máy bay là mỗi phút bà Phụng rộn ràng sắp được gặp con cháu, nghĩ đến thằng cháu nội mới sinh được 2 tuần, chắc giống bố và lai thêm nét Mỹ của mẹ cháu sẽ đẹp trai lắm đây.  Ba tuần lễ ở Utah bà sẽ chăm sóc cháu nội cho con dâu kiêng cử nghỉ ngơi  phục hồi sức khỏe sau khi sinh đẻ. Bà Phụng dù chỉ sinh có một thằng Kent nhưng bà có kinh nghiệm đầy mình vì ngày xưa mẹ bà sinh năm một, ngoại bảo mẹ đẻ như gà. Mỗi khi mẹ mang bầu, gần ngày sinh là bà ngoại lo làm thịt chà bông, cô bé Phụng thời đó phải ngồi giã từng cối thịt heo theo chỉ dẫn của  ngoại, ngoại nấu nồi thịt kho tiêu cho bà đẻ ăn chắc dạ, ngoại  bắt bà đẻ ngồi ăn cơm trên giường có giăng mùng sợ…gió máy dù giường đã được quây một tấm màn gió, thì gió nào mà lọt tới được, chưa hết, bà đẻ phải kiêng cử không được tắm rửa hay đánh răng rửa mặt một tháng trời. Tới lượt bà  Phụng lấy chồng sinh con là thằng cu Tèo thì bà Phụng cũng phải theo gương của mẹ kiêng cử đủ thứ, mang thằng cu Tèo sang Mỹ lúc nó 5 tuổi và lớn lên là  Kent bây giờ.

Lát về tới nhà bà sẽ bảo  Kent chở đi chợ mua thịt thăn heo về để bà làm chà bông và kho tiêu, hai món ăn chưa bao giờ đăng ký nhãn hiệu dành cho bà đẻ nhưng bao lâu nay bà đẻ nào cũng biết đến, nhân dịp này cho con dâu Mỹ tập ăn đồ Việt luôn, hi vọng con dâu sẽ thích, còn vụ chai dầu gió và lọ dầu cù là bà sẽ giải thích cho Jade biết công dụng, hi vọng Jade sẽ vui vẻ đón nhận.

Máy bay đáp xuống, bà Phụng chỉ có 1 valy carry  on nên ra ngoài mau lẹ, bà ngó tìm hình bóng Kent, thì kia chẳng những Kent mà có cả Jade nữa. Bà Phụng kinh ngạc kêu lên:

–          Ồ Kent, mẹ tưởng một mình con ra đón mẹ thôi chứ.

–          Chào mommy.

Bà Phụng ngỡ ngàng nhìn con dâu, nàng ăn mặc thoải mái  quần sọoc áo thun hở cổ hở nách, bên cạnh Kent tay xách giỏ trong có baby đang nằm ngủ ngon lành. Jade nhào đến bên bà, tươi cười:

–          Mommy đưa con xách valy cho.

Cô nắm quai valy thì bà Phụng vội gạt ra:

–          Không, không, con phải kiêng cử không được làm việc nặng.

Và bà quay ra trách con trai:

–          Kent, sao lại mang vợ con ra phi trường thế này, sản phụ và em bé mới có 2 tuần, đáng lẽ mẹ con nó phải ở nhà kiêng nắng kiêng gió. Ngày xưa các bà đẻ  ngồi trong nhà vẫn phải mặc thêm áo khoác, khăn trùm đầu và  nhét bông gòn vào tai đó con.

Kent thản nhiên:

–          OK mà mom, sinh con xong là Jade bình thường lại ngay, cô ấy đã tắm rửa trong bệnh viện. Hôm sau về nhà vợ chồng con đã xách baby đi chợ Walmart mua đồ.

Bà Phụng nghe mà thêm ngạc nhiên đến chết lặng. Jade chẳng sợ gió máy gì cả,  gió phải sợ Jade thì đúng hơn, nàng ăn mặc kiểu “đón gió” thế kia thì Jade cần gì đến chai dầu gió, đến lọ dầu cù là thoa bóp cho ấm người cơ chứ. Bà xót xa nhìn baby bé bỏng nằm trong giỏ xách như người ta xách một món đồ mà tội nghiệp.

Về đến nhà bà được Kent dẫn đi một vòng thăm các phòng trong nhà rồi ra vườn sau sân trước ngắm hàng xóm xung quanh xong vào ăn cơm chiều Jade đã chuẩn bị sẵn sàng. Bây giờ bà Phụng mới thấy đói bụng, nhưng nhìn bàn ăn bà cụt hứng. Trên bàn là ba đĩa to tổ bố spaghetti. Jade hãnh diện khoe:

–          Mommy đây là món spaghetti ngon nhất mà con đã làm. Kent rất thích và con tin mẹ cũng sẽ thích nó.

Kent phụ họa với vợ:

–          Món ruột của Jade đó mom. Nghe tin mom đến thăm, Jade nhất định trổ tài món này trước..

Bà Phụng chết dở, chẳng lẽ bà nói không thích ăn đồ Mỹ đồ Tây nào hết, chỉ thích món ăn Việt Nam thôi. Phải chi Jade nấu nồi cơm thì bà sẽ ăn cơm trắng với chút đồ ăn Mỹ nào cũng tạm được, còn đĩa spaghetti đã chan nước sốt cà chua với thịt bò xay phủ đầy  bề mặt thì thay đổi sao được. Bà cố gượng cười làm vui:

–          Cám ơn Jade món spaghetti.

Jade mở tủ lạnh rót ra 3 ly nước cam, bà Phụng phản ứng tự nhiên, vội cản :

–          Jade mới sinh không nên uống đồ lạnh kẻo lạnh bụng con ơi. Sinh con đầu lòng càng phải kiêng cử kỹ lưỡng.

Jade ngạc nhiên:

–          Tại sao? ở trong bệnh viện bữa ăn có tráng miệng là trái cây hộp, rau câu và  ly nước cam lạnh.

Bà Phụng hết đường giải thích luôn. Hai con ăn đĩa spaghetti của nó một cách ngon lành trong khi  bà Phụng  ngao ngán nhìn đĩa spaghetti của mình mà nghĩ nếu Kent biết ăn đồ Việt, nếu con dâu là người Việt thì đây là đĩa cơm tấm sườn bì chả với chén nước mắm tỏi ớt bên cạnh rồi  và món tráng miệng có thể là chén chè thưng hay chè khoai môn rồi. Tưởng tượng xong bà Phụng cầm thìa cầm nỉa.. …khều những cọng spaghetti và  ráng ăn cho no bụng, cho vừa lòng con.

Hồi  Kent còn ở với cha mẹ không hiểu sao cha mẹ đều nói tiếng Việt với Kent, nấu cơm Việt cho Kent vậy mà Kent nói tiếng Việt không rành, ăn đồ Việt không thích, thay vì ăn cơm Kent ăn hamburger, bánh mì Sub way, pizza…v..v..nên vợ chồng bà Phụng xem Kent như “thằng Mỹ” ở chung nhà với mình. Bây giờ nó lấy vợ Mỹ, đẻ con lai Mỹ dám sau này vợ chồng bà xem gia đình Kent như …người nước ngoài quá.

Mấy ngày đầu ở với con, sáng điểm tâm cereal với sữa tươi hay  scrambled egg, pancake …trưa khoai tây nghiền, nui trộn cheese, thịt nguội, sà lách rau củ..… chiều thì món gà chiên đông lạnh đem nướng lại ăn với bắp hộp với chén súp gi đó sệt sệt, hay bánh mì nướng ăn với mấy cục xúc xích mấy cọng măng tây.

Nhìn “tình hình” bà Phụng phát chán muốn bảo Kent chở ra chợ Việt để bà mua chai nước mắm về kho nấu gì đó mặn mà  cho dễ nuốt, nhưng bà sợ con dâu giận vì mẹ chồng không thích món của nó, chẳng lẽ bàn ăn chia làm hai “phe”, chủ nhà ăn đồ Mỹ, khách ăn đồ Việt, chẳng khác nào bà mẹ đến đây “gây chiến” với con,  rồi mấy tuần ở Utah bà xài không hết chai nước mắm Việt thì nó sẽ lạc lỏng vô duyên trong căn bếp Mỹ và sớm bị quăng vào thùng rác thôi. Bà bỏ luôn ý định làm thịt chà bông, thịt kho tiêu cho con dâu, chắc gì nó màng tới món Việt của bà, hơn nữa nơi gia đình Kent ở đến khu chợ Việt Nam phải hơn 1 giờ xe. Thế là 3 tuần lễ ở Utah bà Phụng đành chịu trận ăn đồ Mỹ.

……………

Lúc xách va ly lên máy bay đến Utah bà Phụng vui bao nhiêu thì bây giờ xách valy rời Utah trở về nhà bà  vui bấy nhiêu.

Ba tuần lễ ở với con cháu bà đã thể hiện đúng vai trò bà mẹ chồng Việt tuyệt vời với con dâu Mỹ, bà nội tận tình với thằng cháu lai Mỹ. Bà thấy mình đã quyết định đúng, “hi sinh” ăn đồ Mỹ để trọn vẹn tình cảm gia đình Việt Mỹ chúng ta. Chai dầu gió và lọ dầu cù là nghĩa tình bà dành cho con dâu không thực hiện được, vẫn …”ế ẩm” nằm trong valy, bà sẽ mang về để dành xài khi trái nắng trở trời.

Về tới phi trường Dallas Fort Worth chồng ra đón. Hai người đi bộ ra bãi xe, bà kể cho chồng nghe 3 tuần lễ ở Utah dù ăn ở  nhà hay con đưa đi nhà hàng toàn ăn đồ Mỹ mà nhớ  đồ ăn Việt Nam, nhớ mùi vị mắm muối Việt Nam quá trời .

–          Tôi  tưởng 3 tuần lễ ở Utah bà…nhớ tôi chứ. Hóa ra chỉ nhớ đồ ăn Việt Nam.

Ông Phụng đùa và nói tiếp:

–          Bà hào hứng đặt vé ở Utah tới 3 tuần còn than thở gì nữa. May mà con dâu Mỹ ngoan và biết điều vui vẻ chiêu đãi mẹ chồng, chứ người Mỹ ghét nhất là cha mẹ vợ, cha mẹ chồng đến thăm và ở lại nhà, mất riêng tư của họ.

–          Lần đầu đi xa thăm con cháu, tôi  ở lâu cho đáng chuyến đi chứ.

Tới chỗ đậu  xe bà Phụng bảo chồng:

–          Ông chở tôi ra ngay khu chợ Việt để tôi ăn một tô phở bò viên tái  nạm gầu gân sách nóng hổi  với đầy đủ rau húng quế ngò gai giá sống chanh ớt nhé.

Rồi bà lẩm bẩm làm như sợ mình sẽ quên:

–          Rồi tôi sẽ order thêm mấy cái gỏi cuốn tôm thịt với nước chấm thơm cay của tương ớt lẫn vị bùi béo của đậu phộng.  Ăn cho no bụng, cho đã thèm và cũng là ăn mừng tôi đã có một chuyến đi thăm con dâu Mỹ mới sinh, dù có vài khác biệt kiểu sống nhưng thật vui, thật tràn đầy tình cảm mẹ chồng nàng dâu.

Nguyễn Thị Thanh Dương

( April 15, 2026)

     CHIỀU MƯA MEXICO.

( Tặng Đỗ Dung, anh Thọ)

Anh che cho em chiếc dù tình,

Chiếc dù màu đỏ trắng xinh xinh,

Mùa Hè bất chợt mưa lất phất,

Lạc giữa phố chiều em và anh.

                 Ai vội, nhưng mình bước chậm thôi,

                 Mưa êm như khúc nhạc không lời,

                 Coi chừng đường ướt làm trơn ngã,

                 Chiều mưa Mexico chơi vơi.               

Hai người đi giữa hàng cây xanh,

Cỏ cũng xanh. Chân em ngại ngần,

Dẫm trên cỏ hai bàn chân ướt,

Đi bên anh em đã ấm lòng.

                   Cây bàng xòe tán tròn trên cao,

                   Chẳng đủ che mưa cho mình đâu,

                   Không phải mùa Thu mà lá đỏ,            

                   Không phải tháng Bảy mà mưa Ngâu.

Phượng vỹ mùa hè đỏ ngập trời,

Rực rỡ trong mưa hoa Phượng rơi,

Chợt nhớ cánh hoa xưa trong gío,

Bay về đâu tuổi học trò ơi.

                    Lang thang đi qua những con đường,

                    Có hàng dừa cao lá rủ nghiêng,

                    Mưa từng sợi trắng, mưa lâu quá,

                    Chiếc dù che một khỏang trời riêng.

Trời cứ mưa, trời Mexico,

Lãng mạn hai người đi trong mưa,

Em nép vào gần anh chút nữa,

Anh ơi, phút giây này là thơ.

                   Ngày mai trời sẽ lại nắng lên,

                   Mùa hè Mexico, Cancun,

                   Biển xanh sóng vỗ đang mời gọi,                

                   Chiều mưa hôm qua không thể quên.

             Nguyễn Thị Thanh Dương

                      ( June, 25, 2011)




NGUYỄN PHƯƠNG THÚY: Tôi Vẫn Đợi.

Kính mời quý độc giả đọc bài viết với những lập luận sắc bén và nhận định rất chính xác về cộng sản của con chim đầu đàn Cô Gái Việt, VTS Phương Thúy, sau khi cô xem đoạn phim giới thiệu sách (video book trailer) Hậu Kiếp Của Gã Hề Rách Rưới─tác giả Khánh Hà (The Afterrlife Of A Threadbare Jester─Author Khanh Ha), vị phu quân tài ba của cô, một nhà văn gốc Việt nhưng viết tiếng Anh truyện nào là thắng giải truyện nấy, vượt qua những nhà văn nổi tiếng của Mỹ.  VTLV cũng đã giới thiệu nhiều bài viết của Phương Hoa về việc thắng giải của Khánh Hà.

Video book trailer:

==

TÔI VẪN ĐỢI

Khi tôi xem đoạn phim giới thiệu sách (video book trailer) Hậu Kiếp Của Gã Hề Rách Rưới─tác giả Khánh Hà (The Afterrlife Of A Threadbare Jester─Author Khanh Ha), tôi đã bị cuốn hút và xúc động bởi những câu dẫn dụ, ngắn, nhưng gây ấn tượng và cảm xúc mạnh mẽ; đã nói lên được chủ đề, linh hồn của cuốn sách.

Là kẻ sống sót sau cuộc “nước mất, nhà tan” vào tháng Tư, 1975, tôi đã bật khóc khi xem; đồng thời bất bình và phẫn uất bởi sự thiển cận, tráo trở, và gian dối của các chủ thuyết sai lầm, không thiết thực. Những chủ thuyết này đã gây chiến tranh, đã tàn sát bao sinh mạng, đã hứa vàđã thất hứa. Đây là “nghịch lý vĩ đại” và “thảm họa kinh hoàng” của thế kỷ 20! Chủ thuyết này hứa hẹn rất nhiều nhưng chẳng đạt được bao nhiêu─hứa hẹn một xã hội bình đẳng, không giai cấp nhưng lại cố tình ém nhẹm, dấu diếm một “tầng lớp thượng lưu” phía sau, tóm trọn quyền lực và tài sản quốc gia; mà người dân không thể tranh cãi và thưa kiện!

Tôi muốn nói đến sự khác biệt giữa lý thuyết Mác-xít và “sự thật phũ phàng” khi phải đối diện với thực tại mà nó đã va chạm và bị “u đầu, sứt trán”. 

Ban đầu Karl Marx lập luận rằng sau một cuộc cách mạng, sẽ có một giai đoạn tạm thời được gọi là “chuyên chính vô sản. Sử dụng quyền lực nhà nước để xóa bỏ sở hữu tư nhân. Một khi các giai cấp biến mất, nhà nước sẽ “tàn lụi” vì sẽ không còn ai để đàn áp nữa. Nhưng trên thực tế nhà nước không “tàn lụi” mà còn có xu hướng phát triển. 

Vladimir Lenin đã bổ túc vào ý tưởng của Marx─công nhân sẽ không tự mình bắt đầu một cuộc cách mạng─họ cần những nhà cách mạng chuyên nghiệp để lãnh đạo họ. Điều này tạo ra một hệ thống phân cấp chặt chẽ, kỷ luật; trở thành chính phủ mới và trở thành một tầng lớp đặc quyền tư lợi, tự duy trì. 

Marx hứa hẹn một thế giới không có giai cấp, nhưng họ chưa bao giờ đạt được chốn không tưởng này; họ chỉ xây dựng một phiên bản khác, nơi Đảng (hoặc Điện Kremlin) vẫn là giai cấp điều hành (Chief Executive Officer─CEO) không thể tranh cãi của đất nước. Tầng lớp cầm quyền đã trờ thành giai cấp thống trị mới với đồng phục đẹp hơn, xa xỉ hơn, chức danh thay đổi để hòa đồng với các nước dân chủ khác. Họ chưa bao giờ đạt được xã hội không tưởng; họ chỉ xây dựng một phiên bản công nghệ cao của hệ thống cũ, nơi Đảng (hoặc Điện Kremlin) vẫn là CEO không thể tranh cãi của đất nước.

China, dưới thời Mao Trạch Đông, mục tiêu tối cao là bình đẳng triệt để qua nghèo đói. Dưới thời Đặng Tiểu Bình và những người kế nhiệm, mục tiêu được chuyển sang “Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc”. Họ cần một nền kinh tế mạnh mẽ, với doanh nghiệp tư nhân và đầu tư nước ngoài. Chủ nghĩa này đã tạo ra “các nhà tư bản đỏ”─những tỷ phú và trùm công nghệ được phép làm giàu, miễn là họ trung thành với Đảng Cộng sản (ĐCSTQ). Mục tiêu “không giai cấp” đã được thay thế bằng mục tiêu “phục hưng dân tộc”; khá ngoạn mục như trò hề!

Russia ngày nay, thay vì theo lý tưởng Cộng sản như thời Liên Xô, đã theo khuynh hướng “chủ nghĩa dân tộc” và “chủ nghĩa bảo thủ”, với cấu trúc chính trị xoay quanh quyền lực tập trung của Tổng thống. Đây là một chiến lược thích nghi, một cách “thay màu đổi sắc” để duy trì sự ổn định và vị thế cường quốc. Họ đã nhấn mạnh đến “lòng tự tôn dân tộc” để tồn tại trong một thế giới, nơi mà những khẩu hiệu về một xã hội bình đẳng, không giai cấp… không còn nghĩa lý gì nữa. Cách này hiệu quả hơn nhiều để giữ rịt sự trung thành của dân, xóa bỏ lời hứa về một xã hội không giai cấp và không bao giờ thành hiện thực.

Đảng Cộng sản Liên bang Nga (KPRF) vẫn hoạt động và là một trong những đảng đối lập lớn nhất nhưng không nắm quyền điều hành chính phủ. Từ thập niên 90, Nga đã chuyển nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường. Mặc dù nhà nước vẫn nắm giữ quyền kiểm soát lớn trong các lĩnh vực chiến lược (như năng lượng và quốc phòng), nhưng phần lớn nền kinh tế là sở hữu tư nhân.

Các nước Cộng sản theo hệ tư tưởng Marx-Lenin: China, Cuba, North Korea, Vietnam, Lào như con tắc kè đã “thay màu đổi sắc” để tồn tại, cố gắng duy trì quyền lực, che đậy những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Vietnam cũng thế, phủ nhận tội ác chiến tranh, phớt lờ những cáo buộc đàn áp các quyền tự do căn bản. Họ bắt chước China, phát huy tư tưởng về độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhằm giải phóng dân tộc, xóa bỏ giai cấp, và giải phóng con người.

Thật nực cười!

Tôi chán ghét sự “thay màu đổi sắc” đầy mập mờ, gian dối. Tôi muốn họ thẳng thắn, chấp nhận sai lầm và công khai thú nhận. “Có gan làm giặc thì có gan chịu đòn” hay “dám làm dám chịu”, chỉ cần một lời xin lỗi để giải tỏa bao oan khiên chồng chất suốt mấy chục năm qua, để bù đắp và an ủi những mất mát kinh khủng mà dân tộc đã gánh chịu. Vì tương lai và lợi ích chung của VN, đây là biểu tượng tiên quyết, phải làm để tái tạo đất nước.

==

 “Tôi Vẫn Đợi” là tiếng thét giữa lặng im. Là lời tuyên ngôn đòi nợ lịch sử.  Bài viết của Nguyễn Phương Thúy là một bản cáo trạng đanh thép và là tiếng thét xé lòng của cả một thế hệ, một dân tộc đã và đang gánh chịu vết thương rỉ máu dưới ách cộng sản. Bằng một nhãn quan lịch sử sắc bén và những kinh nghiệm đau thương của kẻ sống sót sau biến cố tháng Tư năm 1975, tác giả đã nêu lên rõ nét “trò hề đại thế kỷ” mang tên chủ thuyết Mác-Lênin. Đó là một thứ lý thuyết không tưởng, hứa hẹn một thiên đường mù để rồi dựng lên một địa ngục trần gian đầy rẫy bất công và dối trá.  Tác giả cho rằng thuyết cộng sản “Ở đời muôn sự của chung” là “Cú lừa thế kỷ.”

Nhận xét độc đáo nhất của bài viết nằm ở chỗ tác giả đã lột mặt nạ các thể chế cộng sản thông qua hình tượng “con tắc kè thay màu đổi sắc”. Từ Karl Marx đến Lenin, từ Mao Trạch Đông đến Đặng Tiểu Bình, và ngay cả Việt Nam hiện tại, cái gọi là “xã hội không giai cấp” thực chất chỉ là một bức bình phong công nghệ cao để che đậy một tầng lớp “vua tập thể” mới. Sự tráo trở của lý thuyết là hứa hẹn xóa bỏ giai cấp để rồi sinh ra một “tầng lớp thượng lưu đỏ” thao túng toàn bộ tài sản và quyền lực quốc gia, biến Đảng của họ thành một tập đoàn CEO quyền cao tối thượng.  Khi lý thuyết Mác-xít sụp đổ trước thực tế phũ phàng, họ sẵn sàng khoác lên mình chiếc áo “Phục hưng dân tộc”, nhưng bản chất không phải vì dân tộc, mà là để “giữ rịt sự trung thành”, duy trì quyền lực, và che đậy những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, theo lời tác giả. 

Đọc những dòng thơ và văn xuôi của Nguyễn Phương Thúy, người ta nghe thấy tiếng nấc nghẹn của hàng triệu người dân Nam đã và đang nếm trải bao cay đắng, lầm than, hoặc phải tù đày trên chính quê hương, hoặc phải lưu lạc xứ người.  Là tiếng kêu cứu loãng tan trong sóng dữ của những con người chấp nhận đánh cược mạng sống với đại dương trên những con thuyền mong manh để tìm tự do.  Là máu xương của những anh lính miền Nam chết trận không mồ mả, là sự tả tơi của các cựu chiến binh cộng sản khi nhận ra mình chỉ là quân cờ cho một chủ thuyết ngoại lai gieo rắc thống khổ cho dân. 

Cái hay và độc đáo nhất của tác phẩm là sự kiên nhẫn đến kiên cường đầy nhân văn: “Từ năm 2013, tôi vẫn đợi…”.  Cái đích cuối cùng mà tác giả thay người dân hướng tới không phải là lòng hận thù mù quáng, mà là sự sòng phẳng của lịch sử.  “Có gan làm giặc thì có gan chịu đòn”.  Kẻ cầm quyền nợ nhân dân một lời xin lỗi, để giải tỏa bao oan khiên chồng chất suốt mấy chục năm qua, an ủi những linh hồn vùi sâu dưới đáy biển lạnh hay những thể xác rã rời nơi đất mẹ.  Và đó chính là chìa khóa mệnh nước, là biểu tượng tiên quyết để san bằng mọi trở ngại, gắn kết lòng dân tạo thành sức mạnh dời non lấp biển chống lại họa xâm lăng hàng xóm cận kề sát nách. 

Và cũng theo lời tác giả Nguyễn Phương Thúy, chừng nào sự thật chưa được trả lại, chừng nào lời xin lỗi thành tâm chưa được thốt ra, thì những tiếng lòng uất nghẹn ấy sẽ vẫn cháy âm ỉ, chờ ngày bùng lên thành ngọn lửa thiêu rụi xiềng xích độc tài.

Tóm lại, bài viết của Nguyễn Phương Thúy là một tác phẩm chứa đựng năng lượng thức tỉnh mạnh mẽ. Nó nói giùm cho những người dân thấp cổ bé họng đang sống dưới sự kìm kẹp, là người dân không quên, lịch sử không quên.  Một tác phẩm đáng lưu lại cho các thế hệ con cháu, nhất là phái nữ, học hỏi.  VTLV xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả bốn phương.

VTLV




THÁI LAN Sưu Tầm:  Ý NGHĨA VÀ CÁC VỊ TỔNG THỐNG TRÊN CÁC TỜ TIỀN GIẤY HOA KỲ 

MÌNH TÌM HIỂU ĐỂ BẠN KHỎI TÌM HIỂU!!!

🇺🇸

 Ý NGHĨA VÀ CÁC VỊ TỔNG THỐNG TRÊN CÁC TỜ TIỀN GIẤY HOA KỲ 

Chào bạn! Việc tìm hiểu về những gương mặt trên các tờ tiền đô la Mỹ (USD) không chỉ giúp bạn nhận biết mệnh giá nhanh hơn mà còn là cách tuyệt vời để khám phá lịch sử và những giá trị cốt lõi của Hoa Kỳ. Mỗi vị tổng thống được chọn in lên tiền đều là những người có đóng góp vĩ đại, đặt nền móng cho sự phát triển của quốc gia này.

Dưới đây là danh sách các vị tổng thống trên các tờ tiền đang lưu hành và ý nghĩa của họ:

1. DANH SÁCH CÁC VỊ TỔNG THỐNG TRÊN TIỀN GIẤY

Đây là những gương mặt quyền lực mà bạn thường xuyên sử dụng hàng ngày:

* Tờ $1 – George Washington: Vị Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, được mệnh danh là “Cha đẻ của đất nước”. Hình ảnh của ông tượng trưng cho sự khởi đầu và tinh thần độc lập.

* Tờ $2 – Thomas Jefferson: Vị Tổng thống thứ 3 và là tác giả chính của Bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ. Tờ tiền này khá hiếm và thường được coi là biểu tượng của sự may mắn.

* Tờ $5 – Abraham Lincoln: Vị Tổng thống thứ 16, người đã lãnh đạo đất nước vượt qua cuộc Nội chiến và có công lớn trong việc xóa bỏ chế độ nô lệ. Ông tượng trưng cho sự tự do và bình đẳng.

* Tờ $20 – Andrew Jackson: Vị Tổng thống thứ 7, người đại diện cho tầng lớp bình dân và có công lớn trong việc mở rộng lãnh thổ Hoa Kỳ về phía Tây.

* Tờ $50 – Ulysses S. Grant: Vị Tổng thống thứ 18 và là tướng quân lừng danh trong cuộc Nội chiến Mỹ. Ông được vinh danh vì nỗ lực bảo vệ sự thống nhất của quốc gia.

2. NHỮNG NHÂN VẬT KHÔNG PHẢI TỔNG THỐNG NHƯNG VẪN ĐƯỢC IN TRÊN TIỀN

Tại Mỹ, không phải tờ tiền nào cũng in hình Tổng thống, có hai nhân vật đặc biệt quan trọng khác là:

* Tờ $10 – Alexander Hamilton: Bộ trưởng Ngân khố đầu tiên của Mỹ. Ông là người thiết lập hệ thống tài chính quốc gia, đó là lý do ông được vinh danh trên tờ tiền này.

* Tờ $100 – Benjamin Franklin: Một trong những “Khai quốc công thần” của Mỹ. Ông là nhà khoa học, nhà phát minh và nhà ngoại giao vĩ đại, biểu tượng cho trí tuệ và sự thịnh vượng của Hoa Kỳ.

3. Ý NGHĨA CỦA VIỆC LỰA CHỌN CÁC NHÂN VẬT

Việc duy trì hình ảnh các vị lãnh đạo trên tiền giấy mang nhiều thông điệp sâu sắc:

* Tôn vinh lịch sử: Nhắc nhở người dân về những hy sinh và công lao của các thế hệ đi trước trong việc xây dựng đất nước.

* Khẳng định giá trị quốc gia: Các biểu tượng trên tờ tiền thể hiện sự thống nhất, tự do và lòng tự hào dân tộc của người Mỹ.

* Bảo mật và nhận diện: Hình chân dung chi tiết của các nhân vật lịch sử là một trong những yếu tố quan trọng giúp chống lại việc làm tiền giả.

LỜI KHUYÊN CUỐI CÙNG

Khi sinh sống và làm việc tại Mỹ, việc hiểu rõ giá trị của từng tờ tiền và những câu chuyện lịch sử đằng sau chúng sẽ giúp bạn hòa nhập văn hóa tốt hơn. Nếu bạn có một tờ $2 trong ví, hãy giữ nó như một món quà tinh thần may mắn nhé! Chúc bạn luôn rạng rỡ, mạnh mẽ và gặt hái được nhiều thành công, tích lũy được thật nhiều những tờ tiền ý nghĩa này tại Mỹ! 

 DISCLAIMER:

Nội dung dựa trên các thông tin lịch sử và quy định của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) tính đến tháng 05/2026.

 Quang V Dong




PHƯƠNG HOA – Phóng Sự: Lễ Kỷ Niệm 35 Năm VTLV – RA MẮT ĐẶC SAN XUÂN BÍNH NGỌ – MỪNG LỄ MOTHER’S DAY.

Phương Hoa

Chiều Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2026.  Trời San Jose nắng như vàng hơn, rực rỡ hơn, để chào đón quan khách từ các nơi về tham dự lễ Kỷ Niệm 35 Năm Thành Lập Văn Thơ Lạc Việt (VTLV), một sự kiện đặc sắc và gần như…hiếm hoi giữa lòng phố thị nổi tiếng là “tiệc tùng lễ hội quanh năm” này.  Hiếm hoi, bởi vì ngày hôm nay là “1 sự kiện – 3 chủ đề” mà chủ đề nào cũng đặc biệt cả!

Khi tôi và chị Mỹ Thanh đến, xung quanh hội trường tràn ngập những nụ cười xinh tươi, những tà áo dài thướt tha của cánh nữ lưu, những cái bắt tay siết chặt của những người con xa xứ gặp lại đồng hương, những bộ trang phục đủ màu đủ sắc, cờ xí, đạo cụ của Ban Văn Nghệ bày biện trong góc hành lang, càng tăng thêm vẻ rộn ràng của buổi lễ. Tại cửa ra vào hội trường, một dãy bàn để Ban Tổ Chức đón chào và mời nước với “snack” cho khách, và bàn Ra Mắt Sách (RMS) Đặc San Xuân Bính Ngọ 2026. 

*

Bên trong hội trường nơi góc trái sân khấu, là một bàn thờ trang trọng với hương đăng hoa quả, trên có hình ba vị tiền khai, sáng lập VTLV, bác Dương Huệ Anh, bác Đông Anh, và anh Chinh Nguyên.  Ảnh họ mỉm cười nhìn về phía khán giả như đang chứng kiến thành quả của đàn em, đã khiến lòng người chùng xuống vì cảm động.  Nhìn hình bác Dương Huệ Anh tôi chợt muốn rơi nước mắt khi nhớ lại, tôi còn nợ bác một bài viết. Những ngày sức khỏe yếu đi bác DHA có đưa tặng tôi mấy quyển sách, trong đó có một quyển bác kèm theo cái note viết tay, nói rằng sách này bác xuất bản mà chưa được giới thiệu ra cộng đồng, và nhờ tôi viết giới thiệu giùm cho bác.  Vì sơ ý tôi không coi kỹ mà chỉ đọc lướt qua nên không hề biết về cái note này. Mãi sau khi bác đi rồi tôi mở sách ra đọc kỹ mới thấy, và bận rộn đưa đẩy đến nay tôi cũng chưa viết được. Nhưng lần này thì chắc chắn tôi sẽ “trả nợ” cho bác, để “chuyện cũ được mở ra mới”.  Và nhìn hình anh Chinh Nguyên tôi lại xúc động nhớ lời dặn dò trong những giây phút cuối đời của anh là mọi người hãy cố gắng giữ gìn cho VTLV mãi mãi trường tồn.

Hình ảnh những khán giả lặng lẽ bước về phía sân khấu, kính cẩn cúi đầu trước di ảnh ba vị tiền bối là những khoảnh khắc vô cùng quý giá. Nó minh chứng mạnh mẽ rằng dù ở bất cứ nơi đâu, người Việt hải ngoại vẫn luôn dành sự tôn trọng tuyệt đối cho những người làm văn hóa, những người đã hiến dâng cả đời mình để bảo tồn ngôn ngữ và văn hóa của cha ông nơi đất khách.

Phương Hoa người viết, chị Mỹ Thanh, Minh Thúy, và Thu Hương nhận trách nhiệm ngồi ở bàn sách. Những quyển Đặc San Xuân Bính Ngọ màu sắc rất đẹp, rất Xuân, nhìn bề ngoài thì có vẻ … dày cộm, nặng nề, nhưng bài vở thơ văn bên trong thì… nhẹ tênh tênh như gió thoảng, mong manh như mây bay, đẹp lung linh như bình minh mùa hè, và hấp dẫn như…thịt mỡ dưa hành bánh chưng ngày Tết… bởi vì nó có sự góp mặt của nhiều cây bút tinh hoa trong làng văn học hải ngoại từ khắp nơi dồn về cho Văn Thơ Lạc Việt.  Những cây bút cổ thụ, trứ danh, lão thành, như Cao Mỵ Nhân, Mai Thanh Truyết, Đỗ Chiêu Đức, Kiều Mỹ Duyên, Hồng Thủy, Đỗ Quang Vinh, v.v… xin phép chỉ nêu ra mấy vị. Cho nên, có vị quan khách chỉ mở tập Đặc San ra nhìn qua phần mục lục xong thì nói:

 “Whoa, trong này toàn những ngòi bút tên tuổi, chưa đọc cũng biết hay rồi, xin ủng hộ VTLV và cho tôi một quyền đem về “gối đầu giường!”

Rồi anh mở ví lấy ra đưa tôi một tờ trăm.

Chính những lời đầy cảm động này làm cho tay tôi như run lên khi nhận tiền và giao sách. Kết quả đầy hào hứng, hôm ấy có nhiều người lấy một quyển sách mà tặng dư thêm tiền, dù VTLV không kêu gọi gây quỹ, chỉ bán lại sách đúng giá nhà in. Bàn sách vơi đi rất nhanh, tôi và Minh Thúy vì phải chạy ra chạy vào bên trong buổi lễ, chưa kịp “tạo dáng” chụp hình với đống sách để sau… khoe bạn bè cho “oai”, thì vèo một cái, sách đã gần hết.  May sao cũng có người chụp cho vài tấm khi sách còn lại một số.  Và khi bên trong chương trình bắt đầu thì sách chỉ còn có mấy quyển trên bàn.

Điều thú vị mà tôi nhớ mãi là có một vị khách nam – rất quen mặt nhưng tôi chẳng nhớ tên lại không dám hỏi – đến mua một quyển sách, đã bắt tay tôi và nói:

“Chúc mừng VTLV, quyển Đặc San Xuân năm nay rất độc đáo, nó thực sự làm tăng thêm giá trị cho cái Lễ Kỷ Niệm 35 Năm của Lạc Việt! Tôi đã được một người bạn chuyển cho đọc File sách qua email khi quý vị gửi ra cho họ xem lại bài viết, nên hôm nay tôi đến để ủng hộ.”

Nghe thật ấm lòng!

Buổi lễ bắt đầu bằng nghi thức chào cờ Mỹ Việt như thông lệ và phút mặc niệm đầy trang trọng. Cả khán phòng như lặng đi trong giây phút tưởng niệm các vị tiền bối – những người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho ngôi nhà văn thơ này.

Kế đến, tiếng hát mượt mà của Thúy Nga trưởng ban Văn Nghệ VTLV với nhạc phẩm Nửa Hồn Thương Đau khai mạc phần văn nghệ, như chạm vào sâu thẳm tâm hồn mỗi người.

*

Hội trưởng Lê Văn Hải lên tâm tình về hành trình đưa anh đến với VTLV và về buổi Lễ Kỷ Niệm 35 năm. Anh cảm ơn các thành viên, cộng đồng Việt, và hơn ba triệu khách viếng trang nhà VTLV. Trong bầu không khí linh thiêng cảm động ấy, anh Hải đã trân trọng mời đại diện gia đình của các vị cố sáng lập lên sân khấu.  Chị Mỹ Thanh (phu nhân anh Chinh Nguyên), chị Quỳnh Hoa (phu nhân bác Đông Anh) và chị Kim Hà (đại diện phu nhân bác Dương Huệ Anh) tỏ vẻ xúc động khi nhận bằng tưởng lục tri ân từ anh Lê Văn Hải. Những tấm bằng vinh danh là sự ghi nhận công lao, và cũng là lời hứa của thế hệ đi sau sẽ tiếp bước hành trình gìn giữ văn hóa mà các vị cố tiền khai đã dày công gây dựng.

*

Tiết mục hòa tấu đàn tranh Sukura – Hoa Anh Đào do Đoàn Tiếng Vọng Quê Hương của GS Ngọc Dung biểu diễn, đã mang đến một làn gió nghệ thuật thanh tao, với thanh âm réo rắt, nhưng mềm mại, thiết tha, khi chạm vào cảm xúc người nghe.  Đúng là một tiết mục không thể thiếu!  Và rồi, sân khấu như muốn nổ tung với những màn trình diễn sôi động của Nhóm Tuổi Trẻ qua liên khúc Tia Nắng Hạt Mưa & Sunlight and Raining. Đúng là tuổi trẻ, sức sống tràn trề khiến các bậc tiền bối cũng phải lắt lư theo!

*

Quý vị làm ơn đừng cho tôi là “Áo thụng vái nhau” vì tôi bắt buộc phải nói về “sếp” Hải của chúng tôi một chút. “Chàng Không Quân Lê Văn Hải” trước giờ đi đâu cũng mang theo “chiếc ba lô huyền thoại”, nhưng lần này không phải “ba lô” mà anh chở nguyên một “chiếc xe hủ lô” đầy quà cho sự kiện “3-in-1” này.  Mọi người cảm động nhất là hình ảnh anh Hải đứng trực chiến lặng lẽ âm thầm bên hai cái bàn cạnh sân khấu với “núi” quà cáp ngập tràn, nhiều hộp bánh Tây, vòng hoa, những bức tranh nghệ thuật độc đáo, những tấm bằng vinh danh họa tiết sang trọng in tên từng người, và đặc biệt nhất, vẫn là cái ba lô đầy nghẹt những phong bì đỏ!

Anh đã rất chu đáo mời những thành viên nòng cốt trước giờ của VTLV lên để anh trao tặng quà, hoa, cùng bằng Tưởng Lục vinh danh. 

Rồi anh đứng đó từ đầu đến cuối, cứ sau mỗi tiết mục, anh lại tất tả bước lên sân khấu với nụ cười rạng rỡ, trao tận tay từng nghệ sĩ những đóa hoa tươi thắm và chiếc phong bì đỏ may mắn, không bỏ sót một ai! Sự chu đáo và tận tình của anh khiến cả hội trường như ấm áp hẳn lên.

Anh Hải tặng hoa và quà cho ca sĩ Đồng Thảo sau khi cô ca bản nhạc do nhạc sĩ Thiên Phương VTLV sáng tác.

Đặc biệt và “độc chiêu” nhất chính là khoảnh khắc kỷ niệm ngày Mother’s Day. Anh Hải mời tất cả khán giả nữ, từ các bà, các mẹ cho đến các chị, các em… cùng bước lên sân khấu. Nhìn cảnh tượng nhiều chục tà áo dài, áo đầm rực rỡ lên nhận hoa và quà trong không khí trang trọng nhưng đầy tình thân, nhiều người đã không kìm hãm được những nét mặt đầy niềm vui và hạnh phúc.

*

Tiết mục được quan khách chú ý nhất, là lúc xem “Slide Show” tóm lượt về 35 năm VTLV và giới thiệu Ban Điều Hành VTLV.  

*

Có những đóng góp cho cộng đồng không thể “cân đo đong đếm” bằng lời, đó chính là tâm huyết của thầy Thái Phạm. Là người “kiến trúc sư” trưởng cho trang website của VTLV, thầy đã xây dựng một không gian “trên mây” để lưu giữ văn hóa nước nhà.  Tôi đã từng theo học lớp “layout sách” do thầy Thái hướng dẫn thiện nguyện cho thành viên VTLV thời anh Chinh Nguyên làm Hội Trưởng.  Nhưng “ông thầy” của tôi luôn khiêm nhường, bao giờ cũng lặng lẽ ở phía sau giúp đỡ tận tình cho mọi người mà không hề muốn “lộ diện”.  Chính sự nhiệt tình và cái tâm với văn học nghệ thuật của thầy Thái Phạm đã khiến người học trò bận rộn… tứ bề như tôi “dính chân” vào Ban Biên Tập VTLV, làm việc cùng thầy suốt gần một thập niên qua. Những đêm khuya khoắc đăng bài lên trang nhà VTLV mà gặp “trục trặc kỹ thuật” là tôi “réo” thầy bất cứ giờ giấc, thầy Thái đều trả lời phone không một lời phàn nàn.  Vì trang nhà VTLV số lượng độc giả tăng lên vèo vèo mỗi ngày, nên chúng tôi phải cố gắng “update” cho kịp thời gian tính, ngoại trừ những lúc quá bận rộn hay phải đi xa.  Điều đặc biệt là thầy Thái luôn nhận biết và tuyên dương công sức của mọi người, nhưng lại… quên mất công lao của chính mình!

Thầy Thái Phạm (Giữa)

Tiết mục đọc thơ tiếng Việt của các bé Tuổi Trẻ Hải Ngoại là một điểm nhấn nhiều cảm xúc, làm lay động trái tim quan khách.  

Giọng đọc dễ thương non nớt bài thơ “Kính Tặng Các Mẹ Các Bà” lời tri ân ngọt ngào gửi đến những người mẹ, như lời hứa giữ gìn chơn truyền và lòng tự hào về dòng máu Hồng Bàng của các em, chính là sự thể hiện sống động nhất cho việc tiếp nối nguồn văn hóa dân tộc nơi hải ngoại, đáng để những bậc cha mẹ mừng vui:

“Hôm nay ngày lễ Mother’s

Con xin gửi tặng bài thơ chúc mừng

Người lớn đã chúc tưng bừng

Phần con tiếng Việt… ngập ngừng chúc theo…”

Nhân đây tôi xin vinh danh một người, cô MC duyên dáng Thanh Loan, người sáng lập chương trình “Tuổi Trẻ Hải Ngoại”, và bây giờ nhóm là những thành viên “nhí” nhất của VTLV.  Tuy là một người trẻ, nhưng Thanh Loan rất quan tâm về việc khuyến khích các em học tiếng Việt, và cô đã từng tổ chức nhiều cuộc thi tiếng Việt mà người viết bài này cũng từng được cô mời làm giám khảo cho các cuộc thi.

Nhưng vinh danh những người tâm đầy nhiệt huyết, tức là “có công to” với VTLV mà không nhắc đến TS Nguyễn Hồng Dũng thì là một thiếu sót lớn.   Chàng Hồng Dũng trẻ trung, duyên dáng, hát hay, thuyết trình giỏi, thường làm MC trong các sự kiện lớn từ Nam đến Bắc California Anh còn là chủ Nhà Hàng Chay Di Lạc nổi tiếng “ngon và sạch” ở San Jose, lại bận rộn vì là Hiệu Trưởng trường Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng, và là giáo sư dạy tại trường UC San Jose.  Nhưng anh Tiến Sĩ “ba đầu sáu tay” này hầu như không bao giờ vắng mặt trong một sự kiện quan trọng nào của VTLV cả! Thật là đáng trân trọng.

Còn nhiều, nhiều lắm, những nhân vật có lòng đầy nhiệt huyết với VTLV, như anh trưởng ban Nghi lễ Hoàng Thưởng và cũng là Phó Ngoại vụ VTLV, trưởng ban Văn nghệ Thúy Nga, thủ quỹ Minh Thúy, Trưởng ban Xã Hội Lê Diễm, Mỹ Thanh phu nhân anh Chinh Nguyên… nhưng vì bài viết giới hạn, nên xin được dừng lại nơi đây và chờ dịp khác…

(Ngồi) Lê Diễm & Minh Thúy – (Đứng từ phải qua) Phương Hoa, Thúy Nga, Mỹ Thanh

Chương trình hôm đó còn có các tiết mục Tân Cổ Giao Duyên, đơn ca của Ngọc Hoa, Thu Phượng, Thanh Trúc… nối tiếp nhau tạo nên một buổi âm nhạc đa sắc đa màu. Từ sự hoài niệm của Đà Lạt Hoàng Hôn đến nét duyên dáng của Gánh Hàng Rong mà Thanh Loan trong chiếc áo dài quảy gánh đi tung tăng nhìn rất dễ thương… tất cả đã tạo nên một không gian văn hóa đậm đà tình quê hương Việt, mà không bút mực nào tả xiết…

 Màn cắt cái bánh sinh nhật to đùng như cái nhà, “cả làng ăn không hết” để kỷ niệm 35 năm, Lễ Mẹ, và còn mừng tuổi các thành viên sinh trong hai quý Tháng 1,2,3 và 4,5,6, cũng được thực hiện trong niềm vui tràn đầy…

Cuối cùng, đỉnh điểm của sự vui nhộn hôm nay chính là màn xổ số Loto “độc nhất vô nhị”.  MC Thanh Loan cùng dàn ca sĩ thực thụ đã làm “náo loạn” khung trời San Jose, họ tự biến thành những người hô số lô tô duyên dáng, đọc nhiều câu thơ lẫn điển tích xưa, khiến hội trường cười nghiêng ngả.  Chỉ với $5 một vé, không khí hồi hộp dâng cao khi chiếc iPad và tờ $100 tìm được chủ nhân.  Cảm động nhất là hành động của Nghị viên Biên Đoàn.  Dù không biết chơi lô tô cũng tham gia mua vé rồi nhờ thầy Thái chỉ, và khi anh trúng thưởng liền tặng lại toàn bộ số tiền mặt cho VTLV cùng những lời ủng hộ nồng nhiệt, dù trước đó anh cũng đã tặng “donation” cho VTLV, khiến niềm vui như được nhân đôi!

*

Khi ánh nắng chiều nhạt dần, dịu dàng ve vuốt những ngọn cây bên ngoài cửa kính, là lúc buổi lễ kết thúc với rừng ánh sáng chớp nháy của máy hình, của điện thoại, và tiếng cười, cùng những cái ôm chia tay hẹn gặp.  Mọi người trong VTLV thở phào, nhìn nhau với ánh mắt hạnh phúc vô biên vì sự thành công vượt ngoài mong đợi.  35 năm một chặng đường dài, có mồ hôi, có nước mắt, nhưng Văn Thơ Lạc Việt đến hôm nay vẫn giữ mãi ngọn lửa văn chương Việt bừng sáng ấm áp giữa lòng viễn xứ.  Trên tất cả, là tình yêu vô bờ bến với văn thơ và nguồn cội của giới văn thi sĩ và độc giả bốn biển năm châu.  VTLV cũng rất vui mừng vì ngày càng có thêm giới trẻ tham gia để tiếp nối, và mong rằng đồng hương Việt tiếp tục ủng hộ VTLV như lâu nay…

     Xin chia sẻ bài thơ Phương Hoa đã đọc tặng mọi người ngày hôm ấy:

Thung Lũng chiều nay rực nắng vàng

Đón mừng khách quý đã lâm quang

VĂN THƠ ngút biển, danh ngời rạng

LẠC VIỆT tung trời, tiếng rộn vang

*

TUỔI TRẺ nhà Nam nơi HẢI NGOẠI

Nhân tài gốc Việt vẫn hiên ngang

Ba lăm năm chẵn không lùi lại

Ngũ thập niên dư tiến thẳng hàng

*

Mãi mãi nhớ ơn người giữ lửa

Bảo tồn ngôn ngữ giống Văn Lang

Đồng hương yêu mến cùng nương tựa

LẠC VIỆT rồi danh khắc sử vàng…

          Phương Hoa

Cụ Bà 100 tuổi lên đọc bài thơ và được anh Hải tặng quà




KIM LOAN: HAI MÁ CON MÌNH

HAI MÁ CON MÌNH

Tí đang ngồi học trong phòng, má gõ cửa phòng Tí:

–        Tí ơi, má nói chuyện với con một chút, được không?

Tí ngồi nơi bàn học, má bước vào ngồi bên mép giường, má nói:

–        Thời gian qua, con biết má thường đi khám bệnh, làm các xét nghiệm, má có nói khi nào xong thì báo cho con biết, nên bữa nay má nói …

Tí gật đầu, chờ đợi, má ngập ngừng:

–        Má mới có kết quả biopsy, bác sĩ kết luận là Breast Cancer.

Tí nhìn má, lo lắng, má vội nói:

–        Nhưng cũng may mắn là ở giai đoạn 2, không đến nỗi nguy hiểm. Đầu tuần sau má sẽ được mổ ở bệnh viện dưới phố, lúc 7 giờ sáng.

–        Vậy để con nghỉ học buổi sáng đưa má đi.

–        Thôi khỏi! Cô Lan chú Hùng cũng muốn đưa má đi, nhưng ở bệnh viện có giới thiệu nhóm những người về hưu thiện nguyện đưa đi đón về khi bệnh nhân cần, họ sẽ đến đón má, rồi đến chiều cô Lan đưa má về. Con mới biết lái xe, mới vào năm đầu Đại Học, phải tập trung học hành.

Mấy ngày trước ngày mổ, chiều nào chú Hùng cô Lan cũng qua nhà, cùng với má xem xét một xấp giấy tờ dầy cộm, là những phần hướng dẫn bệnh nhân phải chuẩn bị những gì, ăn uống ra sao trước và sau khi mổ. Má còn lo nấu mấy nồi thịt kho, cá kho, rau củ để sẵn cho hai má con trong những ngày sắp tới.

Sáng sớm ngày hẹn, hai má con dậy từ sớm, ăn sáng rồi ra trước cửa chờ ông Jay, là người sẽ đến đón má. Má nói:

–        Má luôn cám ơn cô Lan chú Hùng ngày xưa đã khuyên má ở lại xứ này, chớ bệnh kiểu này mà ở Việt Nam thì mệt á, làm gì có chuyện đưa đón như bên đây!

Khoảng mười phút sau, chiếc xe mini van trờ tới, người đàn ông Mỹ da trắng vui vẻ cười từ khung cửa xe, rồi dừng lại. Ông Jay bước xuống, tự giới thiệu và hỏi han hai má con, rồi ổng nháy mắt nhìn Tí:

–        Cậu đi học an tâm, tôi đưa má cậu đến tận nơi, đưa vào trong phòng thủ tục xong xuôi, rồi giao cho y tá, mọi việc sẽ tốt đẹp. 

Chiều Tí nghỉ sớm một giờ học, chạy về nhà, phòng khách chộn rộn vì có thêm mấy cô bác khác đến thăm má. Vì mổ cắt cả hai bên ngực, nên mất nhiều máu, má xanh xao thấy rõ, tuy nhiên vẫn nói chuyện bình thường với mọi người. Mấy cô thay phiên nhau phụ má chỉnh sửa hai bịch nhựa nhỏ xíu treo mỗi bên ngực, máu mủ còn rỉ rỉ nhỏ giọt. Chú Hùng thấy Tí bèn rủ:

–        Má con được mổ thành công, thôi hai chú cháu mình ra ngoài sân nói chuyện, cho mấy bà mấy cô tâm sự.

Ra ngoài, chú nói:

–        Tí nè, chú muốn hỏi, con có muốn chú báo tin má bệnh cho ba con không?

Ba! Cái từ xa lạ, một người đã bỏ Tí từ trong bụng má, gây cho má những tháng năm dài tủi hổ, để đi theo tiếng gọi của tình cũ, hai má con phải sống nhờ tình thương của những người bạn mới quen trên đất mới.

Lúc ba thất tình, về Việt Nam cưới má là người hàng xóm cũ, sau đó má được qua đây theo diện chồng bảo lãnh. Chưa đầy hai tháng sau, cô người yêu cũ của ba tìm đến “đòi” lại “chồng”, và đau đớn nhứt là ba đã đi theo người ấy, bỏ má bơ vơ khi mới mang bầu Tí. Má nhiều lần muốn ôm cái bụng bầu về Việt Nam, nhưng vợ chồng người hàng xóm kế bên, là cô Lan chú Hùng, chứng kiến mọi sự, đã ra tay giúp má xin tiền trợ cấp, dọn vào một chung cư. Sau khi má sinh Tí, cô chú nhờ luật sư chính phủ lấy tiền trợ cấp trực tiếp từ lương của ba mỗi tháng để phụ nuôi Tí. Chính chú Hùng cô Lan đã khuyên má phải ở lại đây, vết thương nào rồi cũng sẽ lành, tương lai của má và của Tí phải ở xứ Mỹ tự do nhân đạo và giàu có này.

Mười tám năm qua, hai lần Tí đã gặp ba. Lần đầu khi Tí khoảng 10 tuổi, trong một lần đi với chú Hùng tình cờ gặp ba (đó là lần đầu tiên Tí biết mặt ba, vì trong nhà có cuốn album đám cưới ba má nhưng má khoét hết hình ba, chỉ còn má là cô dâu đứng đơn độc trong hình). Về nhà kể cho má nghe, má nổi giận và cấm Tí không được nhắc đến từ “ba” vì ông ta không xứng đáng là ba của Tí, Tí hỏi:

–        Vậy con kêu bằng gì?

–        Kêu “chú đó” là tử tế lắm rồi, nếu má không đi chùa nghe Phật pháp thì còn kêu … kiểu khác kìa!

Chẳng biết “kiểu khác” của má là gì, nhưng chắc là nhiều oán hận lắm.

Lần thứ hai, sau đó vài năm, Tí và má đi chợ rồi vào quán nước mua bubble tea, vừa quay ra thì đụng mặt ba cũng đang bước vào quán. Ba khựng lại rồi hỏi má có khỏe không . Ở tình thế đối đầu bất ngờ bất đắc dĩ, má liếc chỗ khác rồi lạnh lùng đáp, tui khỏe, rồi kéo Tí chạy ra khỏi quán như bị ma đuổi. Vào xe, chạy được một đoạn đường, má dừng lại, ôm mặt khóc nức nở như vỡ òa những nỗi tức tưởi khổ đau bấy lâu, làm Tí cũng khóc theo. Kể từ đó, Tí và má không bao giờ nhắc đến “chú đó” một lần nào nữa.

Nay má và Tí đã ổn định cuộc sống, tại sao chú Hùng lại nhắc đến ba lúc này? Hình như đọc được suy nghĩ của Tí, chú nói:

–        Tại vì má con bệnh ung thư, lỡ có bề gì … con ở đây không có người thân ruột thịt nào, ngoài ba con, ít nhất cũng có thể nâng đỡ con về tinh thần. Hơn nữa, dạo gần đây, ba có thỉnh thoảng hỏi thăm con, vì biết má còn hận ba nên ổng không biết cách nào để gặp con.

Gặp Tí để làm gì chứ? Tuy là máu mủ nhưng chưa một ngày sống chung, chưa bao giờ có một lời thương yêu ân cần thì có khác nào người dưng. Từ rất lâu, Tí đã không có ý nghĩ cần phải gặp lại người đã nhẫn tâm bỏ má và bỏ Tí bơ vơ khốn đốn một thời gian dài. Má và Tí thật sự không còn chỗ trống nào trong tâm trí để dành cho ba, đó là điều không cần thiết.

Tí trả lời:

–        Cám ơn chú đã có ý tốt, nhưng xưa nay con không dấu má bất cứ chuyện gì, thôi hãy để má con bình tâm chữa bệnh.

Rồi má đi hóa trị, rụng tóc phải mang tóc giả, rồi xạ trị, tối nào má cũng quỳ đọc kinh lạy Phật, má nói, má xin ơn Trên cho má hết bệnh, khi nào cơ thể đủ khỏe, má sẽ ăn chay cho đến hết đời .

Có lẽ Phật nghe lời khẩn cầu của má, và cũng nhờ y học phát triển, má được chữa trị ở xứ nhân đạo tân tiến, bệnh ở giai đoạn hai, nên mọi sự diễn ra suôn sẻ. Bác sĩ chỉ định uống thuốc 5 năm, nhưng hơn hai năm, tóc má đã mọc lại, da dẻ hồng hào, má bắt đầu thực hiện lời hứa chay trường.

Năm năm chữa bệnh cũng trôi qua, cuộc sống má và Tí trở lại bình thường, má đã đi làm lại hãng gà. Một buổi tối má vào phòng Tí báo tin:

–        Tí ơi, chú Hùng mới cho má biết, bà nội của con vừa qua đời, nay ba con muốn con đến đội tang bà, con thấy sao?

Tí ngạc nhiên tưởng mình nghe lầm:

–        Má vừa nói “ba con” là …. “chú đó” hả ?

–        Ừa! Con suy nghĩ nhe, con đã lớn rồi nên má để con quyết định.

–        Má không sợ con gặp lại … “chú đó” sao?

Má cười nhẹ:

–        Thôi, cứ gọi là “ba” đi con, dù sao ổng cũng là ba, ngày xưa má cấm cản con, bây giờ má thấy chẳng quan trọng nữa. 

Má làm Tí bất ngờ, bởi đã lâu lắm rồi, Tí và má đã không nhắc đến ba trước mặt nhau như thế này.

Bà nội! Trong trí nhớ của Tí, ít ra Tí cũng đã gặp bà vài lần. Tết năm xưa khi Tí cỡ 6-7 tuổi, má dẫn đi chùa thì có một ni cô già mặc áo nâu đến xoa đầu và ôm Tí, má nói, bà nội đó. Tí lí nhí cúi đầu chào, rồi đứng im để bà sờ nắn ôm ấp nựng nịu Tí, hỏi thăm nhiều câu hỏi, rồi lì xì phong bì đỏ cho Tí. Về nhà, má kể, lúc ba bỏ má, thì bà nội và bác Hai (chị ruột của ba) phản đối dữ lắm. Khi má dọn ra khỏi nhà, bà nội cũng chuyển qua thành phố bên cạnh ở với gia đình bác Hai. Má cắt liên lạc với bên nội, nhưng cũng nghe tin bà đã vào chùa sư nữ gần nhà bác Hai để tu. Mỗi dịp Lễ lớn nhóm chùa sư nữ thường về chùa này để phụ giúp và cùng cúng Lễ nên năm đó vô tình gặp lại má và Tí. Kể từ đó, Tí có gặp bà tại chùa thêm vài lần nữa, lần nào bà cũng cho Tí tiền và chụp hình hai bà cháu làm kỷ niệm. Có lần Tí nghe bà nói với má, “Tha thứ cho nó để nhẹ lòng con ơi, cuộc sống của nó với vợ con nó cũng có điều phiền muộn, chẳng êm ả gì đâu”, má chỉ dạ dạ mà chẳng nói thêm gì.

Lần cuối Tí gặp bà khoảng sáu năm trước, bà nói bà về Việt Nam vào chùa ở bển và ở gần nhà bác Ba (anh ruột của ba còn ở Vũng Tàu), bẵng đi một thời gian dài, lại nghe nói bà bệnh, bà vừa quay lại nhà bác Hai bên đây. Nay nghe tin bà mất đột ngột, tự dưng Tí cũng thấy buồn.

Tí nhìn má:

–        Con sẽ đi đám tang bà nội.

–        Vậy để má hỏi chú Hùng địa chỉ nhà quàn, rồi cho con hay.

–        Mình có cần mang theo gì không má?

–        Má sẽ mua giỏ trái cây, con mang đến để trên bàn thờ bà.

Đến ngày, Tí lái xe đến nhà quàn. Vì đã được báo trước, ba đứng ngay cửa đón Tí, dù có chút ngượng ngùng nhưng ba mau chóng mỉm cười choàng vai Tí:

–        Ba cám ơn con đã đến! 

Hôm đó Tí ở lại tới tối muộn, rồi ngày sau quay trở lại để tiễn bà vào nhà hỏa thiêu, kết thúc mọi việc, ba và bác Hai kéo Tí ra góc phòng, đưa Tí một phong bì:

–        Bà nội có để lại một ít tiền, bà dặn, sau khi lo chi phí đám tang, còn lại chia đều cho những đứa cháu nội, ngoại. Đây là 3000 đô, phần của con đó, con phải nhận cho bà vui.

Rồi ba đưa ra một túi xách:

–        Còn đây là cái laptop ba tặng con, gọi là quà mừng con ra trường và mới có việc làm, con đừng từ chối nhé. 

Lần đầu tiên, Tí nhìn rất gần khuôn mặt ba, những nếp nhăn trên trán và khóe miệng hằn sâu dấu vết tuổi đời, Tí nhìn thẳng vào đôi mắt ba, cảm nhận được sự chân thành hối lỗi của ba, Tí mủi lòng, cầm tiền và chiếc laptop, nói lời cảm ơn.

Tí mang về nhà, đưa má, rồi hỏi:

–        Má không giận con chứ!? Con giao tiền cho má, còn laptop con sẽ giữ vì con cũng đang cần một cái mới.

Má nói:

–        Vậy cũng được, còn số tiền này, má nghĩ mình nên làm từ thiện, một nửa gửi cho Khoa Ung Thư bệnh viện đã chữa má khỏi bệnh, còn một nửa đem đến Chùa sư nữ để họ nấu cơm cho những người nghèo vô gia cư, coi như hồi hướng công đức cho bà, nghen!?

–        Dạ con đồng ý!

–        Thôi con đi tắm rửa rồi ra ăn cơm. Má rất vui và tự hào vì con đã lớn và biết cư xử trước sau. 

Má làm Tí đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, ngày xưa má la mắng cấm cản mỗi khi Tí lỡ miệng nói đến ba, còn bây giờ má nói chuyện tỉnh rụi, y như hổng có chuyện gì của quá khứ . Tí cười:

–        Con cũng vui và tự hào vì má nữa đó.

Má nghiêm nghị:

–        Thực ra, kể từ khi má bị bệnh, rồi má đọc kinh Phật, nghe các bài giảng pháp của các thầy sư, má ngẫm ra một điều, đã đến lúc má phải buông bỏ quá khứ, tha thứ, quên đi, mở lòng để sống bình an, thanh thản …

Rồi má lại mỉm cười:

–        Tóm lại, hai má con mình đều đã …trưởng thành, đều đã đổi thay tốt hơn, phải không con!?

Tí thương má quá chừng, má từng chịu nhiều nhiều đau khổ về tinh thần khi bị ruồng bỏ cô đơn nuôi con khi mới chân ướt chân ráo đến Mỹ, và đau đớn thể xác khi mang bệnh, nên bây giờ thấy nụ cười nhẹ tênh của má, Tí vui lắm.

Tí quay bước lên lầu, má gọi lại:

–        À quên nữa, con nhớ hỏi “bên đó” chương trình cúng thất thế nào, nếu có thể thì con ráng đi đủ bảy thất cho bà nội nghen!

Edmonton Tháng 5/2026

KIM LOAN




SỎI NGỌC: MÓN QUÀ LỠ DỊP

Chiếc hộp quà còn trong gói giấy hoa bất thình lình rơi xuống dưới chân từ trên cao, khi tôi kiễng chân kéo chiếc giỏ lớn xếp tuốt trên đầu tủ, những đồ đạc ít khi dùng đến, chiếc hộp quà chưa mở còn được gói trang trọng bằng giấy hoa đầy những trái tim nhỏ li ti, làm tôi hết sức ngạc nhiên! Tôi cúi xuống, nhặt lên, từ từ mở ra. Chiếc vòng cổ bằng hạt ngọc trai! Tôi thử ướm lên cổ, rất vừa vặn vòng tròn cổ, màu ngọc trai sáng bóng long lanh như những giọt nước nhỏ, làm tôn vinh thêm chiếc cổ cao thon của tôi. Ủa mà món quà bất ngờ này ai đã tặng cho tôi? Hồi nào, mà sao giờ này tôi mới thấy trong chiếc túi xách cũ xưa được nhét trên nóc tủ? Tôi đã chưa hề mở ra từ bao nhiêu năm nay! Một tờ giấy nhỏ ngả vàng gấp đôi được đặt dưới đáy chiếc hộp vuông nhỏ, dưới chiếc vòng ấy: “Think of me in the times to come” BC, Feb 1990.

Ký ức dắt tôi về những ngày còn đi làm trong ngân hàng ở quê hương thứ hai lạnh giá. Năm 2005 tôi mới được đổi về ngân hàng có chi nhánh trong nhà thương lớn chuyên về trẻ em ở Vancouver, BC, rất gần biên giới Mỹ.

Vào tháng Sáu, nhà thương tổ chức một ngày cho các bệnh nhân nhỏ dưới 15 tuổi rời phòng bệnh tầng thứ năm, tham quan những hoạt động dưới nhà, chụp hình với những nghệ nhân giả làm bạch tuyết, chú lùn trong film hoạt hình Walt Disney… Các em cũng được nhận quà từ những mạnh thường quân đến thăm ngày hôm đó. Bổn phận của những nhân viên trong nhà thương là nói chuyện, làm cho các em lên tinh thần, tiếp tục trị liệu, nếu có thể tốt hơn nữa là làm người hỗ trợ tinh thần cho các em, người này sẽ như người thân trong gia đình của em.

Chúng tôi dừng mọi hoạt động với khách hàng trong một tiếng đồng hồ để đón tiếp, hàn huyên và giúp các em di chuyển nếu gặp khó khăn vì các em “ngao du” với những dây nhợ chằng chịt trên tay, đầu cổ, kéo theo bình thở, bình thuốc truyền tĩnh mạch, có em vừa mổ xong, mình mẩy còn quấn băng trắng xóa, vẫn háo hức xuống gặp gỡ mọi người.

Khi các em xuất hiện ở đầu hành lang, những ánh mắt ái ngại của chúng tôi chạm nhau, ráng kềm giữ cho những giọt nước mắt đừng lăn tràn xuống má; các em còn nhỏ quá, những cặp mắt ngây thơ, hồn nhiên đến tội nghiệp dáo dác nhìn, có những em dưới 10 tuổi, ngồi xe lăn bị động kinh; có một em đầu quẹo xéo sang một bên, mắt liếc sang bên ngược lại, tay chân dài khẳng khiu quơ quào không theo ý mình, miệng chảy dãi nhớt, vẫn cười tươi khi gặp chúng tôi. Em muốn chụp hình chung với nàng Bạch Tuyết đứng cách đó không xa, tôi giúp đẩy xe em lại gần để chụp và lấy hình liền, em sung sướng nhoẻn cười, dãi nhớt chảy không ngớt, miệng muốn hét la hạnh phúc nhưng âm thanh bị kìm hãm, chỉ những tiếng ú ớ thốt ra.

Cô y tá chuyên môn coi sóc các bé ở lầu năm lại gần tôi nói:

– Chị đừng làm em này xúc động nhé, khi em chảy dãi nhớt nhiều như vậy không tốt đâu, sẽ làm em khó ngủ một chút nữa, và bị động kinh thường xuyên, hãy cứ giữ yên lặng đi bên em mà thôi.

– Ồ tôi xin lỗi, tưởng làm cho em vui thì tinh thần thoải mái chứ, ai ngờ lại làm cho em mệt thêm nữa, vậy để tôi đẩy em ra chỗ nắng ấm nhé!

– Cũng không được luôn, em này tình trạng còn yếu lắm, chỉ xuống đi một vòng cho thay đổi không khí rồi đi lên thôi.

Tôi ái ngại rời chiếc xe đẩy của em, trao cho cô y tá đẩy em trở lại phòng, bên tai vẫn còn văng vẳng tiếng ú ớ của em như muốn ở lại “chơi” thêm nữa với những nhân vật hoạt hình.

Từ đàng xa một bé gái chừng 9-10 tuổi ngồi yên trên xe lăn, đôi mắt nhìn vào một nơi xa xôi, em không để ý mọi thứ diễn ra trước mắt, khuôn mặt với nước da xanh xao, chai truyền dịch còn đầy nước treo lủng lẳng bên thành xe, mấy chú lùn nghệ nhân chạy xung quanh múa may chọc em cười nhưng em vẫn không nhìn họ, đôi mắt mệt mỏi của em bỗng ngừng lại ở tôi, đang đứng trước cửa ngân hàng, nơi hành lang vắng, tôi nhoẻn cười, vẫy em. Em lăn chiếc xe chạy nhanh lại bên tôi:

– Cô ơi, cháu muốn có một quyển vở và một cây bút để viết…

– Cháu đợi cô ở đây nhé, cô sẽ đi lấy cho cháu.

Khi tôi đem ra, hỏi:

– Cháu muốn viết gì trong này?

– Cháu muốn viết… nhật ký!

-Nhật ký ư? Cháu có nhiều điều để kể lắm phải không?

– Cô… có muốn share với cháu không?

– Tức là sao?

– Cháu muốn có ai đó viết cùng với cháu, như hồi cháu còn nhỏ ở nhà mẹ rất hay viết cùng với cháu, mỗi lần cháu muốn điều gì, cháu hay viết vào đây, mẹ cháu sẽ giải thích và trả lời lại cho cháu khi mẹ rảnh, cháu vẫn giữ quyển đó, bây giờ mẹ không còn ở với cháu nữa, mẹ đã bỏ thế giới này rồi, ba nói mẹ ngủ không dậy nữa…

– Vậy ba có vào thăm cháu không?

– Ba cháu bận lắm, ba phải đi làm rất xa. Ba hay gởi cháu cho bà Manon cạnh nhà, bà ấy đông con lắm không thể bỏ nhà đi thăm cháu được đâu.

Tôi xoa đầu cô bé, mái tóc vàng hoe rối tung chưa chải, thương cảm:

– Ngoài viết nhật ký ra, cháu có muốn cô sẽ lên thăm cháu mỗi ngày vào giờ cơm trưa của cô không?

Tia mắt hạnh phúc ngước lên nhìn tôi:

– … Cô nói thật chứ? Cô lên thăm cháu vào mỗi buổi trưa sao?

– Đúng rồi, cô sẽ ăn trưa 15 phút thôi, còn lại cô sẽ lên thăm cháu; à mà cháu tên gì cô chưa biết?

– Cháu là Jennifer, hãy gọi cháu là Jenny cho tiện ạ.

Tôi cầm hai bàn tay bé xíu trong lòng tay mình:

– Cô sẽ lên thăm cháu Jenny bắt đầu ngày mai nhé.

– Ngày mai cháu sẽ đưa cô quyển nhật ký của cháu để cô viết luôn nhe. Cháu thích lắm!

– Đến giờ rồi, cháu về phòng cẩn thận, nhớ ăn uống đầy đủ! Bye cháu!

– Bye cô! Cám ơn cô!

Năm ấy tôi đã lập gia đình được ba năm, mẹ chồng đã thúc giục tôi nên có con để khi bà còn khỏe sẽ giúp tôi canh cháu, thế nhưng chúng tôi vẫn chưa có duyên với đứa con nào cả; tôi rất yêu con nít, mỗi lần nghe tiếng khóc của một sinh linh trào đời ở tầng ba, trái tim tôi hẫng một nhịp đập.

*

Nhật ký của Jenny:

Montreal, tháng 6-2005

Mẹ ơi,

Con được viết nhật ký với cô LyLy, cô làm ngân hàng ở dưới nhà, không biết tại sao con lại chọn cô ấy làm người hỗ trợ tinh thần nữa, chắc chỉ có mình cô ấy để ý đến con thôi.

Mẹ ơi, hôm qua con lại bị sốt cao, con mệt lắm, không biết ba có về kịp để thăm con, con sợ sẽ không bao giờ nhìn thấy ba như mẹ đã ngủ quên mà chưa gặp được ba…

Mẹ có nhớ hôm đó mẹ phải gởi con cho bà trên lầu để đi vào bệnh viện không? Bây giờ con cũng thế, con đang nằm ở bệnh viện giành cho trẻ em, buồn lắm, chỉ thấy bốn bức tường vàng, đến giờ được gọi dậy ăn cơm, thế thôi; đứa nằm bên cạnh giường, thằng Stephan nó chờ thay gan, đứa nằm bên trái, con Kate bị sốt hoài như con, nhưng nó may mắn có cha mẹ vào thăm luôn, còn con thì không ai vào thăm hết, con nhớ mẹ lắm, nhớ cả ba, bây giờ… chỉ chờ quả thận, chờ một năm nay rồi, con có cầu Chúa mỗi tối, con mong ngài sẽ cho con thêm sức mạnh…để tiếp tục chờ…

Jenny.

Nước mắt tôi chẩy ràn rụa khi đọc những lời tâm sự ngắn ngủi của Jenny, cô bé 10 tuổi, cái tuổi lẽ ra phải hạnh phúc bên gia đình đầy đủ cả cha lẫn mẹ, phải được vui sướng chạy nhảy tung tăng, sao cháu khổ thế này. Tôi được biết mạng sống cháu chỉ còn sáu tháng, tình trạng trầm trọng lắm, phải tìm cho ra người hiến thận!

Chờ mong một đứa con thành hình trong bụng đã khó rồi, sanh con ra, chẳng may con bệnh hoạn, tật nguyền, thật là một sự đau khổ triền miên cho cha mẹ và bản thân đứa bé.  Lúc đó tôi thật hoảng sợ, ý nghĩ có con từ từ rời khỏi trí não của tôi!

Tôi viết lại cho Jenny vào một buổi tối:
Chúa sẽ cho cháu được thật nhiều sức khỏe, sống bù lại cuộc sống của mẹ, cháu hãy ráng ăn uống, nghỉ ngơi để có sức vượt qua những phẫu thuật sau này nhé. Cô tặng cháu con chó bông trắng này, nó sẽ là thần hộ mệnh, bảo vệ cháu, hãy nói chuyện với nó khi cháu buồn!”

Ngày hôm sau, vào giờ cơm trưa tôi lên thăm Jenny, cô y tá kể con bé đã không ngừng sốt tối hôm qua, ói rất nhiều, hôm nay bé rất mệt, ngủ từ sáng đến giờ cơm trưa vẫn chưa thấy dậy.

Tôi đặt quyển nhật ký và con chó bông trắng bên cạnh chiếc gối ngủ, quay sang thăm các em nhỏ ở những giường bên cạnh, cháu nào cũng mệt mỏi, mắt lờ đờ nhìn tôi vẻ chịu đựng. Những ngày tiếp theo, nét chữ Jenny trở nên yếu dần và nghuệch ngoạc, cô bé chỉ viết “con mệt, con nằm mơ thấy mẹ đêm qua, con mong sẽ được đi cùng mẹ để không bị nằm đây cô đơn nữa, nhưng con vẫn muốn gặp ba một lần”

“Con cám ơn cô cho con con chó bông trắng, con gọi nó là Lana, con rất yêu nó, con kể cho nó nghe về mẹ, về ba, những kỷ niệm xa xưa, rất ít còn lại trong óc

Vào cuối tháng 9, 2005 bệnh tình của Jenny trở nên nặng hơn, cháu mê sảng, những bác sĩ, y tá, phụ huynh thăm nuôi các em nhỏ ở phòng bên cạnh đều nói về tình trạng không ổn định của bé cho chúng tôi nghe, ai cũng ái ngại cho cháu chỉ có một mình, ba cháu đi lính xa nhà, sáu tháng mới về một lần. Có người mếu máo kể với tôi:

-Sợ rằng khi ba con bé về đến đây, không biết có còn kịp thấy mặt con không!

Lúc đó, cảm thấy mạng sống của Jenny như ngàn cân treo sợi tóc, tất cả nhân viên trong ngân hàng chúng tôi đã quyết định chung tay cùng nhà thương gây quỹ 120k cho cháu bé để tiến hành việc thay thận mới cho cháu. Riêng ngân hàng tôi đã đóng góp 40k. Thông tin gởi đi gấp gáp đến toàn thể các bệnh viện của tiểu bang BC, như một báo động đỏ.

Từng ngày trôi qua, chúng tôi sống trong phập phồng, không biết Jenny có ráng trụ lại với thế giới này nổi thêm ngày nào nữa không, ai cũng nước mắt rưng rưng bờ mi mỗi lần gặp nhau ở ngoài hành lang, hỏi thăm tình trạng của bé; chả lẽ nhìn cô bé ra đi như vậy sao? Chả lẽ tất cả mọi người đành bó tay sao? Phải hành động thế nào chứ! Khi ba của bé làm nhiệm vụ cho tổ quốc về thì con gái duy nhất của ông ấy không còn trên đời này nữa sao! Không thể bất công như thế được!

Một buổi sáng thứ hai, Jenny vẫn chờ đợi thoi thóp trên giường bệnh. Bỗng chúng tôi nghe tiếng còi xe ambulance-paramedic hú vang, rồi tiếng chân thình thịch chạy vội vàng của những bác sĩ và y tá, gấp rút vào phòng mổ; một bé cùng trạc tuổi với Jenny vừa lìa đời ở một nhà thương khác, cháu ấy bị tai nạn xe cộ cùng với mẹ, người mẹ chỉ bị thương nhẹ, nhưng đứa con gái vì mất máu quá nhiều đã không cứu kịp khi đem đến bệnh viện. Như một duyên may, bà bằng lòng hiến quả thận còn rất tốt của con mình cho Jenny!

Họ đã trải qua cả ngày trời căng thẳng trong phòng mổ, chúng tôi chỉ biết thầm cầu khẩn Chúa, Phật cho việc giải phẫu được thành công, tay làm việc, nhưng đầu óc và trái tim để cả trong phòng mổ với các bác sĩ. Khi cánh cửa phòng mổ vừa mở ra, chúng tôi được tin từ cô y tá, xúc động lắp bắp:

– Thành công rồi! Cháu đã tai qua nạn khỏi, cháu sẽ có thể đi học lại, có thể chờ đợi người cha đang làm nhiệm vụ từ xa… Con cám ơn Chúa, cám ơn Trời Phật!

Tất cả mọi người xung quanh xúc động, nước mắt ràn rụa, vỗ tay ồ ạt.

*

Mỗi buổi trưa lên thăm cháu Jenny, tôi đều gặp bà Helen Cromp, mẹ của cô bé đã hiến thận ngồi bên cạnh Jenny, xúc từng muỗng soup cho con bé, chăm lo như chính đứa con ruột của mình. Gặp tôi bà ứa nước mắt tâm sự:

– Ông Trời lấy đi của tôi đứa con gái yêu thương, quý giá nhất, nhưng ngược lại cho tôi đứa con gái khác, nó đang mang trong người một bộ phận của đứa con tội nghiệp của tôi, tôi muốn nhận Jenny làm con nuôi, chăm lo cuộc sống sinh hoạt cho cháu sau này, vì hoàn cảnh của cháu cũng bơ vơ xót xa quá, tôi sẽ bớt cô đơn khi có cháu. Tôi sẽ nói chuyện với ba của cháu khi ông về đây.

Jenny khuôn mặt hồng hào, cặp mắt tinh anh tràn đầy sức sống, nó nắm lấy cánh tay tôi, khẽ khàng bỏ vào ví tôi một chiếc hộp nhỏ, thì thào:

– Cái này của mẹ con hồi xưa, món quà này của ba đã tặng cho mẹ, nhưng mẹ chưa có dịp nào để dùng đến cả, con muốn cô giữ lấy để nhớ về con… Con cám ơn cô và tất cả mọi người trong ngân hàng của cô đã giúp cho con có đủ chi phí ghép thận…. Con thật may mắn quá…

Tôi nghẹn ngào xoa đầu cô bé, những lọn tóc vàng óng ả mềm mại rơi xuống trán, làm tăng thêm sinh khí:

– Con giỏi lắm, đã rất can đảm! Cô thật hãnh diện về con.

– Cô nhớ đến thăm con sau này nhé…

– Ừm, con phải sống khỏe, ngoan để làm vui lòng mẹ Helen nhe.

Đến giờ làm việc, tôi tất bật chạy xuống dưới nhà, gặp khách. Lu bu công chuyện, trong đầu chỉ nghĩ đến niềm vui của bé Jenny từ đây trở đi cuộc đời của cháu sẽ suông sẻ, tất cả mọi thứ sẽ đều mới mẻ: quả thận mới, gia đình mới, có “người mẹ mới” tân tình chăm sóc yêu thương.

Nhẹ nỗi lo, về nhà tiện tay, cất chiếc túi xách khổ lớn này lên đầu tủ, vì chỉ dùng khi có họp hành, đựng nhiều hồ sơ giấy tờ, quên luôn chiếc hộp quà xinh xắn đầy kỷ niệm và ý nghĩa trong ấy.

Vậy mà đã 20 năm trôi qua!Sỏi Ngọc – Montreal, Feb’26




Thơ DONRY NGUYỄN: CẢM ĐỀ KHI KHOÁC LẠI MÀU ÁO KAKI –

CẢM ĐỀ
KHI KHOÁC LẠI MÀU ÁO KAKI

Người vốn chẳng ngang tàng như Phạm Thái,
“Lòng không mềm bằng kiếm*” khóc Quỳnh Như.
Khoác chinh y giữa thời Xuân Thu Việt,
Dù không vay cũng vướng nợ oan cừu.

*

Lưng đã hứng những roi đòn nghiệt ngã,
Ngửa mặt cười kha khả với non sông.
Đêm gối kiếm một thân nằm đất lạ,
Niềm cô đơn như lửa đốt thiêu lòng.

*

Sóng phế hưng rộn ràng cơn dâu bể,
Áo cơm đời thôi nghĩ việc đao binh.
Ai còn nhắc một thời trang sử cũ,
Chuyện trăm năm lưu thủ chút ân tình.

*

Bến sông xưa người có về kịp lúc,
Trút oan khiên mặt đất hé môi chào.
Khi ngoảnh lại áo khinh cừu đã bạc,
Thấy cuộc đời như một giấc chiêm bao…

-Donry Nguyễn-
(Hình tự chụp có nhờ AI chỉnh sửa phông nền phía sau)
*Câu này của Nguyễn Đình Toàn trong bài Phạm Thái, nguyên văn:
“Ta tráng sĩ hề, lòng không mềm bằng kiếm
.”




KIỀU MỸ DUYÊN – CHƯƠNG TRÌNH CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA Và Những Thông Tin Từ Thiện Quý Giá




Văn nhân và THÙNG THƠ

Câu lạc bộ Văn Hóa Montreal

Giới thiệu văn nhân và văn vật của Montreal

Luân Hoán

Câu lạc bộ Văn Hóa Montreal sẽ giới thiệu hàng tuần :

1.    Sách văn hóa , bài viết của độc giả và hội viên CLB

2.    Mỗi sáng thứ bảy, các văn nhân và văn vật sống tại Montreal theo danh sách dưới đây.

Văn nhân. Văn hóa là linh hồn của một dân tộc do chính con người của dân tộc đó sáng tạo, con người đó được gọi là văn nhân (văn thi sĩ, nhạc sĩ, nhiếp ảnh gia, nhà biên khảo …).

 Văn vật 文 . Văn文 là vẻ đẹp, vật   chỉ người. Văn vật chỉ những người tài giỏi hoặc người bỏ công sức, thiện chí ra tô điểm Cộng Đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại Montreal. Những văn vật của Montreal, cũng giống như những văn vật xưa kia đã tô điểm Thăng Long (Thăng Long ngàn năm văn vật[1]), đã làm rạng danh người Việt tỵ nạn cộng sản tại Montreal.  

Câu lạc bộ Văn Hóa Montreal sẽ giới thiệu các văn nhân và văn vật sống tại Montreal theo danh sách dưới đây.

Văn/thi sĩ : Song Thao,  Luân Hoán, Trang Châu, Hoàng Xuân Sơn, Lưu Nguyễn, Hải Bình, Nguyễn Bá Dĩnh, Tôn Thất Tuệ,, Hoài Hương, Nguyễn Hữu Hiệp, Phương Hoài Nam, Lê Bạch Lựu, Võ Kỳ Điền, Hồ Đình Nghiêm,Tiểu Thu,Hải Phong, Kim Thúy, Sỏi Ngọc

Biên Khảo : Phạm Hoàng Hộ, Lê Hữu Mục, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Khắc Ngữ, Thái Công Tụng,  Lạp Chúc Nguyễn Huy, Nguyễn Văn Lục, Khiếu Đức Long, Nguyễn Kiến Thiết, Lâm Văn Bé, Lê Quốc, Thái Việt, Từ Uyên, Nguyễn Bá Hoa, Nguyễn Thanh Bạch, Cả Ngố họ Trịnh

Kết từ : Huy chương và giải thưởng của Trang Châu, Thái Công Tụng, Lê Quang Xuân. Lâm văn Bé, Nhiếp ảnh gia Lê Quang Xuân

văn vật Di chứng[2] trên đất Montreal :  Tượng đài Tưởng Niệm Tử Sĩ QLVNCH và TT Ngô Đình Diệm., Ngô Anh Võ, Trần Quốc Túy, Dương đình Huy&Cấn Thị Bích Ngọc,Tượng đài văn hóa Montreal

 Văn vật Quebec-Canada

 văn vật đại học

Raymond Lê văn Mão

Bùi Tiến Rũng

Lê Văn Ngàn

Trương Công Hiếu, Ngô Thanh Hải

 văn vật y khoa

Caroline Quách Thanh

Tăng An

Huy Ong

Cẩm-Tú Émilie Nguyễn

Trần Thái Hòa

Nguyễn Lương Tuyền

Luân Hoán

Trần thị Nguyệt Mai

Khi đến thăm Anh, vài điều đập ngay vào mắt :

-Thùng thơ trước cửa sơn cờ vàng ba sọc đỏ ,

-Bắt tay Anh mà biết rằng Anh đã để lại chiếc chân trái tại mặt trận Mộ Ðức, Quảng Ngải vào cuối năm 1969.

-Trong nhà là những chồng tác phẩm văn thơ “quá nhiều và quá hay” của Anh.

Tiểu sử

Nhà thơ Luân Hoán : Tên thật Lê Ngọc Châu, bút hiệu khác: Châu Hải Châu, Cự Hải, Lý Phước Ninh, Trần Gia Nam, Lê Bảo Hoàng, Hà Khánh Quân… Sinh ngày 10 tháng 1 năm 1941 tại thị xã Hội An, Quảng Nam. 

Tốt nghiệp khóa 24 Sĩ quan Trừ Bị Thủ Ðức, giải ngũ năm 1969,  Nghề tay phải: tham sự ngân hàng VNTT, Ðà Nẵng.

Sau 1975, sống nhiều tháng trong trại học tập cải tạo

Từ 02.02.1985, định cư Montreal theo chương trình O.D.P, 

Thành lập nhà xuất bản Nhân Ảnh tại Canada, 

Hiện Chủ biên Tạp chí Ngôn Ngữ tại Hoa Kỳ từ 2019.

Trang chủ website Vuông Chiếu từ ngày 19-3-1999 đến 02 tháng 8 năm 2024 

Tác phẩm trước 1975 thuộc văn hóa Sài Gòn

Về Trời, NXB Văn Học, Sài Gòn, 1964; Trôi Sông, NXB Văn Học, Sài Gòn, 1966; Chết Trong Lòng Người,NXB Ngưỡng Cửa, 1967; Viên Ðạn Cho Người Yêu Dấu,NXB Thơ, 1969, tái bản, 1995; Hòa Bình Ơi Hãy Ðến,1970;  Nén Hương Cho Bàn Chân Trái, 1970, với nhiều bạn văn; Thơ Tình (in cùng Khắc Minh), NXB Thơ, 1970; Ca Dao Tình Yêu, NXB Thơ, 1970; Lục Bát Ca (in cùng Khắc Minh), NXB Thơ, 1970; Rượu Hồng Ðã Rót (cùng Lê Vĩnh Thọ, nhạc Vĩnh Ðiện), NXB Thơ, 1974; tái bản, 1995.

Tác phẩm thơ văn nối dài văn hóa Sài Gòn tại Montreal

Thơ

Hơi Thở Việt Nam,NXB Sông Thu, Hoa Kỳ, 1986; Ngơ Ngác Cõi Người ,NXB Nhân Văn, Hoa Kỳ, 1989; Ðưa Nhau Về Ðến Ðâu, NXB Sông Thu, 1989; Cảm Ơn Ðất Ðá Trổ Thơ Lòng Ta Hạt Bụi Vu Vơ Bám Hoài, NXB Kinh Ðô, Hoa Kỳ, 1991; Mời Em Lên Ngựa, NXB Sông Thu, Hoa Kỳ, 1994; Nuôi Thơm Chùm Kỷ Niệm Xanh, NXB Thơ, Canada, 1995; Cỏ Hoa Gối Ðầu NXB Sóng Văn, Hoa Kỳ, 1997; Sông Núi Cùng Người Thơm Ngát Thơ, NXB Thơ, Canada, 2002); Ổ Tình Lận Lưng (600 trang, NXB Nhân Ảnh, 2007; Em Từ Lục Bát Bước Ra, trường ca, NXB Nhân Ảnh, 2008; Thanh Thi NXB Thư Ấn Quán, 2011; Thơ Thơm Từ Gốc Rễ Tình,NXB Nhân Ảnh, 2014; Khói Cuối Nguồn Hương,NXB Nhân Ảnh, 2016. 568 trang; Ngao Du Cùng Vũ Khí NXB Nhân Ảnh, 2016; Liên Hoa Thi,NXB Nhân Ảnh, 2019; Ba Hoa Huê Tình,NXB Nhân Ảnh, 2020; Tâm Chân Dung, NXB Nhân Ảnh 2021; Hương Ảo Cõi Hương, NXB Nhân Ảnh, 2021, 435 trang; Nhánh Tình Thời Chưa Mê Gái, NXB Nhân Ảnh, 2022; Tay Chạm Vai Gần, NXB Nhân Ảnh 2024; Nỗi Nhớ Nhà Từ Montréal, NXB Nhân Ảnh, 2024.

Văn

 Quá Khứ Trước Mặt (hồi ký), NXB Nhân Ảnh, 2006; Dựa Hơi Bè Bạn 1, NXB Nhân Ảnh, 2006; Dựa Hơi Bè Bạn 2, NXB Nhân Ảnh, 2007; Theo Gót Thơ 1, NXB Nhân Ảnh, 2010; Tác Giả Việt Nam (sưu tập, dùng bút danh Lê Bảo Hoàng) NXB Sóng Văn, Hoa Kỳ, 2005 (Nhân Ảnh tái bản 2006, 2017, 2020); Theo Gót Thơ 2 (dùng bút hiệu Hà Khánh Quân), NXB Nhân Ảnh, 2017; Đường Chữ Sau Lưng (hồi ký), NXB Nhân Ảnh, 2020.

Sách viết về Luân Hoán:

Chân Dung Thơ Luân Hoán (nhiều tác giả), NXB Kinh Ðô, Hoa Kỳ, 1991 : Luân Hoán, Một Ðời Thơ (nhiều tác giả), NXB Sông Thu, 2005; Đọc Nhịp Thở Luân Hoán (nhiều tác giả), NXB Nhân Ảnh, 2014; Gặp Luân Hoán Trong Đời Sống Thơ (nhiều tác giả), NXB Nhân Ảnh, 2022.

Thực hiện” Các Tuyển tập, Tác phẩm: Cùng Khánh Trường, Nguyễn Vy Khanh thực hiện bộ Văn Học Việt Nam Hải Ngoại 1975 – 2019 (gồm 7 cuốn). Cùng Lê Hân… thực hiện các tuyển tập: Thơ Việt Đầu Thế Kỷ 21 (thơ, 155 tác giả, 820 trang), NXB Nhân Ảnh, 2018; Tình Nghĩa Mẹ Cha (thơ, 167 tác giả, 532 trang), NXB Nhân Ảnh, 2020; Tình Thơ Mủa Thu, (118 tác giả, 624 trang) NXB Nhân Ảnh 2020; Tình Thơ Mùa Xuân (149 tác giả,614 trang) NXB Nhân Ảnh, 2022; Tình Thơ Quê Hương (133 tác giả 634 trang), NXB Nhân Ảnh, 2023, Tuyển tập Truyện Ngắn Chọn Lọc (75 tác giả, 608 trang) NXB Nhân Ảnh 2023[3].

Bút pháp

Bút pháp của anh vững vàng, nhuần nhuyễn, thong dong, xuôi suốt ở thế 7, 8 chữ mềm mại, nhẹ nhàng ở thể lục bát cô đọng, tự nhiên ở 5 chữ. Thơ của anh dồi dào hình ảnh, màu sắc với giọng giản dị đôn hậu, hay đưa tục ngữ vào thơ, đánh thức được xúc cảm của người đọc. 

Cảm nhận thơ Luân Hoán.

Thơ Luân Hoán viết về nhiều đề tài, nổi bật hơn cả là đất nước, chiến tranh, tuổi mới lớn, tình yêu và bằng hữu thân phận con người và tình yêu quê hương, đặc biệt là tình yêu đôi lứa. Và có một nỗi đớn đau bàng bạc đằng sau những dòng thơ về người lính, về chiến tranh ngày xưa và đời sống tha hương bây giờ.

Nhà thơ Ðỗ Qúy Toàn: thơ Luân Hoán là những khắc khoải, ưu tư của ông trong cuộc đời lưu cư … ông cảm thấy lạc lõng giữa cõi sống trắng đem vàng lẫn lộn, vội vã đời ngược xuôi.

Thái Tú Hạp:  Thơ của ông, ngay cả những bài thơ tình rất ít ỏi, luôn luôn là một tiếng thơ buồn, uất nghẹn, là những ấm ức, những phẩn nộ, những đắng cay và những kinh hoàng của một nhân chứng lịch sử đen tối nhất của thời đại 

Nhà thơ Phan Xuân Sinh: “Ta có cảm tưởng anh làm thơ dễ dàng như lấy đồ trong túi… anh đùa với thơ ở bất cứ hoàn cảnh nào.”

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thơ: “Thơ anh không trau chuốt, gọt giũa nhưng lại đầy sức sống, truyền cho người xem nhiều rung cảm… Nhờ tính chất chân phương này nên thơ Luân Hoán mang rất nhiều nhạc tính (musicalité).”

  Hai mảnh quê hương   Mảnh quê hương được cộng sản gieo rắc là: -Thù hận, là “đập đá núi lấp cho đầy trí não, xây thành cao bằng ánh mắt căm hờn”  – Cơ cực, là ” một hạt cơm cõng mấy hạt bo bo, nước rau muống có làm em đỡ ngẹn, đời đang vui sao nét mặt buồn xo?”  – Nỗi đau đớn của một kẻ lạ mặt ngay trên chính xứ sở mình “giữa quê nhà sao nghe sao nghe quá bơ vơ?”  – Không còn bình an cho những người đã chết: …” mẹ có biết con về đào mã mẹ theo chủ trương, đúng chính sách đề ra, ruộng đất hẹp, đời đang cần hoa quả, hỡi qủi thần trả lại bãi tha ma …”  
    Mảnh quê hương của nỗi nhớ thương trong lòng Ông

Tập thơ Nỗi Nhớ Quê Nhà Từ Montreal là những trang hồi ký nỗi buồn đau của Luân Hoán và của cả những thân phận lưu đày như chúng tôi. Nhà thơ, trong cái nhớ da diết về quê nhà, không chỉ hồi tưởng về những địa danh thân thương mà còn soi chiếu vào chính tâm can mình, nhận ra sự mong manh của đời người và sự bền bỉ vô thủy vô chung của tình yêu quê hương, dù cách trở muôn trùng.

Nhớ gì về thơ của Ông?

Gần bảy mươi năm cầm bút, số lượng tác phẩm giá trị về cả nội dung lẫn nghệ thuật của Ông là một viên gạch thơ kéo dài nhất trong phần nối dài văn hóa Sài Gòn tại Montreal.

Nhớ đến Ông là nhớ đến những vần thơ quá hay như:

Cám ơn đất đá trổ thơ

Lòng ta hạt bụi bơ vơ bám hoài

Người tôi yêu ở tứ tung

Nhưng sao chẳng thấy một người yêu tôi.

” mỗi lần sắp sửa yêu ai
tự nhiên mặt mũi tóc tai lạ lùng
tưởng như có triệu vi trùng
ngo ngoe đòi được nhớ nhung với mình “
                     (Triệu Chứng – ÐNVÐÐ)

Một thời văn hóa Montreal

Vào thời gian 1980-1995, văn nghê Montral rất khởi sắc chỉ đứng sau Little Sài Gòn. Đỗ Quý Toàn, Trang Châu, Nguyễn Đông Ngạc, Hồ Đình Nguyên, Hoàng Xuân Sơn, Lưu Nguyễn, Bắc Phong, Luân Hoán … thường xuyên gặp nhau ăn nhậu, ra mắt sách thơ đều đều nhờ độc giả rất nhiệt tình, trí thức, lịch thiệp. Bài viết xuất hiện thường xuyên trên tạp chí văn nghệ Cali như Văn, Văn học, Hợp Lưu, Thế kỷ 21. Montreal đón tiếp nhiều văn nghệ sĩ phương xa như Du Tử Lê, Nguyễn Ngọc Ngạn, Kiệt Tấn.

Từ trái: Phan Ni Tấn, Hoàng Chiều Nhân, Song Thao, Trương Vũ, Võ Kỳ Điền, Hồ Đình Nghiêm, Luân Hoán. (Montréal, 11/2012)


[1] Văn文là vẻ đẹp, vật   chỉ người. Khi nói « Thăng Long ngàn năm  văn vật » ý muốn nói từ ngàn năm nay, Thăng Long là nơi tụ hội nhiều người tài giỏi vua quan, tao nhân mặc khách cũng như các nghệ sĩ điêu khắc cung điện … tô thắm cho non sông đất nước

[2]  Di 移 có nghĩa chuyển đi; chứng   : bằng cứ. Di chứng : bằng cư  chuyển đời này sang đới khác

[3] ghi chú: các tác giả trong nước và cư ngụ trên nhiều quốc gia góp mặt, sách in bìa cứng và bìa mềm, có trên thư viện Hoa Kỳ,




Vũ Hoàng Chương – Tố Hữu

Lạp Chúc Nguyễn Huy

Hôm nay 30-4-2026, CÂU LẠC BỘ VĂN HÓA Montrealgiới thiệu hai thi sĩ tiêu biểu của hai chế độ Nam-Bắc: Vũ Hoàng Chương – Tố Hữu

Vũ Hoàng Chương: Nàng thơ                               Tố Hữu: Chàng thơ

Hai thi nhân Vũ Hoàng Chương và Tố Hữu được “truyền khẩu” rất nhiều là  nhờ mỗi người có 2 câu thơ để đời về nàng thơ và chàng thơ nên được vinh danh là hai đệ nhất thi nhân của hai miền Nam Bắc.

Nàng thơ của Vũ Hoàng Chương.

“…Em ơi lửa tắt bình khô rượu
             Đời vắng em rồi say với ai”

Chàng thơ Stalin của Tố Hữu.

« Thương cha thương mẹ, thương chồng,

Thương mình thương một, thương ông (Stalin) thương mười

 Tố Hữu của miền Bắc XHCN đươc tôn vinh là “nhà thơ của cách mạng”, “nhà thơ của nhân dân”, “ngọn cờ chiến đấu của thơ ca cách mạng Việt Nam”, “người có công đầu xây dựng nền thơ ca cách mạng Việt Nam”, “nhà thơ của chủ nghĩa nhân văn cách mạng”. Ông từng là Ủy viên trung ương đảng lao động Việt Nam, Phó thủ tướng và giữ vai trò  người “đầu tầu” xây dựng văn hóa XHCN, cụ thể là Ông phụ trách về công tác văn hóa văn nghệ, tuyên truyền được coi là người kiên quyết đàn áp văn nghệ tự do của nhóm Nhân văn – Giai Phẩm.

Vũ Hoàng Chương ca tụng Nàng Thơ, còn Tố Hữu thì ca tụng Chàng Thơ thí dụ như chàng thơ Staline là vì trong văn hóa XHCN, nhà thơ“có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến” nên trong thơ cũng phải có hương vị kháng chiến, có “chàng thơ (thép)” chứ không thể có “nàng thơ” ủy mị, trữ tình. Giới văn nghệ sĩ phải nghe lời chỉ đạo sáng tác của Hồ Chí Minh và Trường Chinh qua hai bài thơ mẫu dưới đây. 

Nay ở trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

(Hồ Chí Minh)

Là thi sĩ

Dùng bút làm đòn chuyển xoay chế độ

Mỗi vần thơ: bom đạn phá cường quyền.

(Trường Chinh)

Vũ Hoàng Chương của Việt Nam Cộng Hòa, được vinh danh là “Thi bá”, “Đệ nhất thi sĩ miền Nam tự do”. Năm 1959 ông đoạt Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc của Việt Nam Cộng hòa với tập thơ Hoa đăng. Thời gian 1969-1973 Vũ Hoàng Chương là Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam. Năm 1972 ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc lần thứ hai.

Đụng độ giữa NÀNG THƠ và CHÀNG THƠ   

                 (tức    giữa văn hóa XHCN và văn hóa Sài Gòn)

Sau ngày 30/4/1975, những người văn nghệ sĩ Sài Gòn bị gọi đến Toà Đại Sứ Đại Hàn (đường Nguyễn Du) đăng ký tên tuổi, địa chỉ. Sau khi có danh sách đầy đủ của văn nghệ sĩ thì chiến dịch bắt bớ văn nghệ sĩ khởi sự từ đêm 2-4-1976 đến đêm 8-4-1976, rồi ngừng lại. Mãi đến 28-4 mới bắt thêm một số nữa đi tù dưới hình thức đi cải tạo[1]. Trong số các văn nghệ sĩ bị bắt giam thì có câu chuyện “chí dị” nổi bật nhất liên quan đến sự đối diện giữa “Đệ nhất thi sĩ miền Nam” Vũ Hoàng Chương và “Đệ nhất thi sĩ cách mạng của miền Bắc” Tố Hữu.

Khoảng đầu tháng 4 năm 1976, Thanh Nghị tổ chức ” Đêm Họp Mặt Văn Nghệ ” với sự tham dự của nhiều nhà thơ miền Bắc như Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Đình Liên, Hoài Thanh… Phía Sài Gòn có Vũ Hoàng Chương… được mời. Đề tài thảo luận là 2 câu thơ để đời của Tố Hữu :

« Thương cha thương mẹ, thương chồng,

Thương mình thương một, thương ông thương mười »

 Trong bài thơ « Khóc Stalin » chết năm 1953 dưới đây[2] :

Áo Ông trắng giữa mây hồng

Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười

 …………………………..

Yêu biết mấy, nghe con tập nói,

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin.

Ông Stalin ơi, ông Stalin ơi.

Hỡi ơi ông mất đất trời có không?

« Thương cha, thương mẹ, thương chồng,

Thương mình thương một, thương ông thương mười »

             Các nhà thơ miền Bắc như Thanh Nghị, Huy Cận, Vũ Đình Liên…lên phát biểu, xưng tụng thơ của“nhà thơ của cách mạng” Tố Hữu.  Để có tiếng nói của các nhà thơ miền Nam, Hoài Thanh đã tha thiết mời « Thi Bá » Vũ Hoàng Chương góp ý. Mặc dù từ chối nhiều lần, sau cùng với tư cách đại diện cho giới thi sĩ miền Nam Ông đã phát biểu để tỏ chí khí của thi sĩ miền Nam tự do: « Uy vũ bất năng khuất ».  

                 Dưới đây là lời phát biểu của Vũ Hoàng Chương (Theo tác giả Sông Lô) :
Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.
               Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được ‘đóng khung’ tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố-Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên, đạt đến một mức độ điêu luyện cao. Lời thẩm định của Thanh-Nghị thật xác đáng, tôi chịu. Nhưng thơ không phải chỉ có thế. Xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt; tức chưa phải là hay. Thơ hay cần phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép. Vấn đề của thơ, nói cho đến nơi, là ở đây, có nghiã là thơ phải thực.

Tố-Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ Việtnam, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ Việtnam yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca; nhưng trước hết phải biết bà mẹ Việtnam có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?
Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài ‘Đời đời nhớ Ông’ Tố-Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:

” Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin “

             Chắc chắn là không có một bà mẹ Việtnam nào, kể cả Bà Tố-Hữu, mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. Cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu sau ta đang mổ xẻ.

          Một tình tự không chân thực, dù đươc luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay, mà chỉ là thơ khéo làm; đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thợ thơ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi một tuyên truyền nào đó. Tố-Hữu nếu khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Nhưng bà mẹ Việtnam trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm ».

              Cũng theo tác giả Sông Lô, qua sự phân tích và lý giải của Vũ Hoàng Chương, khán thính gỉa miền Bắc bàn luận rất sôi nổi. Có người muốn phản bác lập luận của Ông, nhưng thấy không có chỗ hở, họ bèn đề nghị Vũ Hoàng Chương nói về ” Thi ca ” mong có kẽ hở để phê bình bắt bẻ, Ông đã diễn đạt như sau : “Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại thơ tình tự hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo; nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy ».

 [“Tôi xin nhắc ; sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca; vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lý cuộc sống »].

Tiếng hót thiên nga

Trong văn chương, tiếng hót thiên nga sắp chết (Le chant du cygne mourant ) ẩn dụ tác phẩm cuối cùng của văn nghệ sĩ sắp lìa sân khấu hay sắp lìa đời.

Thiên nga Vũ Hoàng Chương

Mấy ngày sau ” Đêm Họp Mặt Văn Nghệ “, nàng thơ miền Nam tự do của Vũ Hoàng Chương bị chàng thơ của Tố Hữu miền Bắc XHCN đưa vào tù khám lớn Chí Hoà. Bệnh nặng, đưa về nhà được 5 ngày thì “nàng thơ” mất ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sài Gòn.

 Nhưng « đã là thi sĩ », với tâm Liêm sỉ và tính Khí phách« Uy vũ bất năng khuất” của một « Thi bá » đại diên cho giới thi sĩ miền Nam tự do nên Ông nên tiếng hót thiên nga của Vũ Hoàng Chương trong Khám Chí Hòa vào năm 1976:

Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn,

Lông hồng gieo xuống nhẹ như non.

Một manh chiếu nát, thân tơi tả,

Nửa bát cơm hôi, xác mỏi mòn.

Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ,

Đêm về giấc ngủ lại thương con.

Dẫu bao nước chảy qua cầu nữa,

Hồ dễ gì phai được tấc son!

Thiên nga Tố Hữu

Sau sự sụp đổ của Liên Xô tiếp theo là “Chàng thơ Stalin” bị lên án khắp Đông Âu nên trước khi mất ngày 9 tháng 12 năm 2002, Tố Hữu để lại “Chant du cygne”  xót xa sau khi nhìn thấy tượng “Chàng thơ Stalin” bị kéo sập đổ khắp Đông Âu.

Cả đàn sói chồm lên,

cắn vào lịch sử

Cào chiến công,

xé cả xác anh hùng.

Ôi! Nỗi đau này là nỗi đau chung

Lương tâm hỡi, lẽ nào ta tự sát”.

Xin tạm biệt đời yêu quý nhất

Còn mấy vần thơ, một nắm tro

Thơ gửi bạn đường, tro bón đất

Sống là cho và chết cũng là cho[3].

Xin tạm biệt đời yêu quý nhất

Còn mấy vần thơ, một nắm tro

Thơ gửi bạn đường, tro bón đất

Sống là cho và chết cũng là cho.

Lạp Chúc Nguyễn Huy


[1] Chết trong tù như thi sĩ Vũ Hoàng Chương, nhà văn Nguyễn Mạnh Côn; bị tù như nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, văn sĩ Dương Nghiễm Mậu, Duyên Anh…  

[2] Đời đời nhớ Ông: Bữa trước mẹ cho con xem ảnh/Ông Stalin bên cạnh nhi đồng/Áo Ông trắng giữa mây hồng/Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười/Stalin! Stalin!/Yêu biết mấy, nghe con tập nói/Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!/Hôm qua loa gọi ngoài đồng/Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao/Làng trên xóm dưới xôn xao/Làm sao, Ông đã…làm sao, mất rồi!/Ông Stalin ơi, Ông Stalin ơi!/Hỡi ơi, Ông mất! Đất trời còn không?/Thương cha, thương mẹ, thương chồng/Thương mình thương một, thương Ông thương mười!

[3] Người đời sau thêm dấu sắc vào chữ cho




Ba Mươi Lăm Năm Văn Thơ Lạc Việt

Minh Thúy

Nhìn lại 35 năm Hội Văn Thơ Lạc Việt, tôi nhớ đến các bậc tiền bối đã đặt viên gạch đầu tiên: nhà thơ Hoàng Anh Tuấn, Hà Thượng Nhân, Dương Huệ Anh, Thượng Quan và Chu Toàn Chung.

Cùng với ban cố vấn: nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, nhà văn Vũ Văn Lộc, nhà bình luận Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, nhà thơ Ngô Đình Chương và nữ sĩ Trùng Quang.

Ba mươi  lăm năm! Hội đã trải qua bốn thời kỳ với bốn vị chủ tịch: nhà văn Dương Huệ Anh 1992–2000, nhà thơ Đông Anh 2001–2008, nhà văn Chinh Nguyên 2009–2019, và nhà báo Lê Văn Hải 2020 đến nay. Xin trích đoạn trong bài viết trước đây. 

“Tôi gia nhập Hội từ năm 2016 cùng lúc với chị Phương Hoa, đúng vào thời anh Chinh Nguyên làm chủ tịch. Thời đó Hội quy tụ rất nhiều nhân tài: tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng phó ban ngoại vụ, nhà báo Lê Văn Hải phó ban nội vụ, thầy Phạm Thái lo kỹ thuật in ấn, nhà thơ Lê Tuấn trưởng ban Media, anh Đom Đóm chụp hình, nhà thơ Mạc Phương Đình làm phóng sự với trang Mây Bốn Phương. Cô Thanh Xuân tổng thư ký tổ chức sinh nhật mỗi quý cho hội viên. Chị Thúy Nga trưởng ban văn nghệ. Anh Hoàng Thường lo nghi lễ chào cờ. Cô Tina vận động tài chánh.

            Nhắc đến thầy Nguyễn Hồng Dũng, ăn chay trường, tâm Phật nên lời nói luôn hòa nhã. Bên cạnh đó có cô MC Hạnh Thảo tươi đẹp duyên dáng. Hiện tại có thêm cô Thanh Loan xuất chúng về tài MC hổ trợ thêm.

            Hội trưởng Chinh Nguyên có nét mặt rất hiền hậu. Tôi không quên được những đêm mùa đông, anh nhờ thầy Thái mở lớp dạy computer cho hội viên. Trời giá lạnh, thầy Thái đi dạy nhiều nơi mệt nhọc, đến giờ cơm tối vẫn chưa về nhà, nhưng vẫn cố gắng đến chỉ vẽ cách làm sách. 9 giờ tối tan lớp, anh Chinh Nguyên mời thầy đi ăn vì lo thầy đang đói. Thầy xua tay và cả hai cùng cười.

            Rồi anh Thái NC và chị Thanh, phu nhân anh Chinh Nguyên, đi đưa đón các bác tiền bối lớn tuổi như bác Trương Giang, bác Dương Huệ Anh, bác Diệu Tần. Ban xã hội chị Lê Diễm thì lo vòng hoa, thăm người bệnh. Anh Chinh Nguyên còn xin được giờ trên đài VNA – Vietnamese America TV, thứ Ba thứ Bảy 9 giờ tối, để đưa hình ảnh Văn Thơ Lạc Việt đến cộng đồng. Rồi lập nhóm “Tuổi Trẻ Hải Ngoại” để dạy tiếng Việt cho các cháu do cô Thanh Loan, tuổi trẻ sinh hoạt năng nổ đầy tài năng.

Đầu năm 2021, nhà báo Lê Văn Hải lên làm hội trưởng vì anh Chinh Nguyên bệnh nặng. Dù đã lái con thuyền gần 10 năm, anh Chinh Nguyên vẫn cố vấn giúp đỡ phía sau.”

Anh Lê Văn Hải là cựu sĩ quan Không quân QLVNCH, chủ nhiệm báo Thần Mõ. Anh lập nhóm Mõ Nhân Ái phát cơm cho người vô gia cư mỗi tháng. Lễ Noel, Tết còn thuê ban nhạc đến hát cho họ. Với Hội, anh tổ chức sinh nhật mỗi quý tại cà phê Lover, và các chiều nhạc “Anh Cho Em Mùa Xuân”, “Tưởng Niệm 30/4”, “Lễ Father’s Day & Ngày Của Lính”, “Em Không Nghe Mùa Thu”,  “Lễ Tạ Ơn & Noel”.

Về văn thơ, sau này chị Phương Hoa và thầy Thái đảm nhận Ban Biên Tập. Chị Phương Hoa khéo léo mời bạn thơ văn góp bài, kéo được cả hội Cô Gái Việt gia nhập. Nhờ vậy Website Văn Thơ Lạc Việt đã có trên 3 triệu lượt độc giả vào xem. Mỗi năm Hội vẫn in Đặc San Xuân rất đẹp, nội dung phong phú.

Từng mùa đi qua, suối thơ văn vẫn có những đề tài: nàng Xuân tươi vui, Hạ nắng rực rỡ, Thu dịu dàng, Đông khôn nguôi. Những bài khảo cứu về lịch sử, nỗi đau tháng Tư đen. Mùa Phật Đản, mùa Giáng Sinh dâng điều tôn kính. Những bài thơ Đường Luật xướng họa chia sẻ phúng điếu, chúc thọ, sinh nhật… Tất cả để nuôi chữ nghĩa Việt Nam.

Nhớ lại ngày đó, tôi được giải nhì với bài “Cây Khế Quê Hương”, chị Phương Hoa đoạt giải nhất bài “Nợ Còn Vương”. Tôi mừng, nhưng mừng hơn nữa là được làm hội viên. Từ đó, tôi biết ở Mỹ mình không mất quê hương vì còn có Hội. Hội duy trì lịch sử, nền văn hóa nước nhà bằng những ngòi bút, giữ gìn ngôn ngữ Việt cho thế hệ mai sau.

Mười năm trước, hội trưởng Chinh Nguyên đã tuyên bố khi tôi và chị Phương Hoa được giải: “Các cô giờ đây đã là thành viên của VTLV.” Câu đó ngắn mà nặng, vì nó cho tôi một mái nhà chữ nghĩa quê hương giữa xứ người.

35 năm! Ngày vui đã đến. Ngày kỷ niệm ăn mừng chặng đường dài sinh hoạt của Văn Thơ Lạc Việt bền bỉ, được tổ chức tại 70 W Hedding St _San Jose ca 95110.

MC Nguyễn Hồng Dũng và MC Thanh Loan giới thiệu màn mở đầu vinh danh những tiền bối. Bàn thờ được lập với hình ảnh Tiền bối: Dương Huệ Anh, Đông Anh, Chính Nguyên. Các phu nhân được trang trọng mời lên thắp hương, khói hương đưa hồn các Tiền bối về chứng giám cuộc vui này.

Màn văn nghệ kế tiếp là đoàn Tiếng Vọng Quê Hương đàn tranh, màn cải lương, màn Tuổi Trẻ Hải Ngoại ca múa. Hội trưởng Lê Văn Hải còn bày màn Loto xổ số, tặng hoa và quà cho giới phụ nữ vì ngày mai là Lễ Mother’s Day. Anh Hải là vậy đó, luôn muốn đem niềm vui đến mọi người. Thấy anh xuất hiện là thấy vác bao quà khổng lồ và bao lì xì đỏ từng cọc. Hình như hạnh phúc của anh là phát quà thì phải, từ trong hội ra ngoài những buổi sinh hoạt của cộng đồng.

35 năm! Tôi chỉ mong từng thế hệ vẫn tiếp tục giữ lửa, giữ tiếng mẹ đẻ, giữ tập tục văn hóa quê hương qua ngòi bút và ngoài đời sống.

Ước gì 35 năm nữa, có những đứa cháu mở tập Đặc San Văn Thơ Lạc Việt, thấy tên các bà nó như: Minh Thúy Thành Nội. Cháu đánh vần được, vậy là tôi không chết.

                                Văn Thơ Lạc Việt Mừng Sinh Nhật 35 Tuổi

                                     Ba lăm năm đẹp vườn thi phú

                                     Tiền bối bao mùa đã dựng xây

                                     Tiếng Mẹ nâng niu hồn quốc ngữ

                                     Văn Thơ Lạc Việt tỏa hương đầy

                                     Giao hòa chữ nghĩa tràn nghiên bút

                                     Trang web đường hoa nở rộn ràng

                                     Sử học, quê hương gầy tuyệt phẩm

                                     Vui mừng cả hội hợp ca vang

                                  Minh Thúy Thành Nội

                                  May 9/2026