GIAO CHỈ – LỄ ĐỘNG THỔ tại Việt Museum

Lễ động thổ tại Việt Museum

Mời tham dự lễ khánh thành 11 giờ trưa thứ bẩy 13 tháng 11 năm 2021 tại Việt Museum

Thưa quý vị đồng hương Quân cán chính VNCH.

Trưa ngày 6 tháng 10-2021 nhằm ngày 1 tháng 9 âm lịch Tân Sửu ban tổ chức khánh thành Đài tưởng niệm đã làm lễ động thổ. Buổi lễ vô cùng đơn giản, trang nghiêm và xúc động. Có sự hiện diện của ông Bùi Đức Lạc là niên trưởng của gia đình Mũ đỏ San Jose từ hơn 40 năm qua. Có mặt anh Nguyễn Thu Lương hiện là hội trưởng TQLC tại San Jose cùng nhiều chiến hữu mũ xanh. Hình ảnh anh trưởng ban tổ chức Huỳnh Lương Thiện và ông Bùi Đức Lạc mặc khăn đóng áo dài quỳ gối làm lễ làm tôi cảm động. Trong lời phát biểu rất ngập ngừng tôi nói rằng những chuyện chống đối sẽ phải dừng lại trên không gian và thời gian này. Chúng ta chỉ cần những đóng góp ý kiến xây dựng.  

Với 3 cây nhang cắm xuống trong ngày lễ động thổ vừa qua tôi xin viết thêm những lời kêu gọi như sau.

1)Khác biệt không thù hận.Trong cơ quan và tại Việt Museum cũng có nhiều ý kiến khác biệt nhưng tuyệt đối không có hiềm khích chống đối. Giữa chúng tôi với tổ chức xây dựng tượng đài cũng có nhiều ý kiến khác biệt nhưng tuyệt đối không có điều gì đáng tiếc xảy ra. Chúng tôi quan niệm rằng sáng kiến xây tượng đài của các thành viên hậu duệ là chuyện rất tốt. Thành phận cao niên khi có dịp đóng góp ý kiến, hướng dẫn và sửa chữa trong tình thân bao dung và hợp tác cũng là chuyện rất tốt. Đây là việc chúng tôi đang làm.

2)Trong tinh thần hợp tác và xây dựng chúng tôi sẽ lần lượt đóng góp ý kiến về hình thức, nội dung và danh tính của tác phẩm cùng tất cả các lĩnh vực liên hệ khác. Không những đóng góp ý kiến, chúng tôi sẽ ghi nhận ý kiến của mọi người và tìm cách thực hiện việc sửa chữa thực sự trong phạm vi kỹ thuật, tài chánh và thời gian cho phép. Hiện nay với việc tiếp nhận dự án đặt vĩnh viễn tại Việt Museum. Chúng tôi sẽ có điều kiện để thực hiện những điều kể trên.

3) Tác phẩm hiện nay chưa có chỗ định vị và tự thân chưa hoàn hảo nhưng chính là hiện thân của linh hồn các tử sĩ hy sinh trong cuộc chiến tranh tàn khốc mà trận Cổ Thành Quảng Trị mang ý nghĩa chiến thắng cuối cùng của năm 1972. Giá trị tinh thần của dự án quả thực vô giá nhưng chính những sự thiếu xót chưa toàn hào là động cơ để chúng tôi tiếp nhận để sẽ đóng góp hữu hiệu vào sự hoàn chỉnh của tác phẩm. Nếu dự án hiện là tượng đồng giáp vàng đứng trên bệ ngọc thì chắc chắn không đến phần chúng tôi gánh vác.

4)Xin quý vị yên tâm. Chúng tôi không nhầm lẫn, Không bị lừa dối. Không gây chuyện trong nội bộ hay ngoại vi. Không họp bè kéo đảng để làm cộng đồng thêm phân hóa. Trong lễ động thổ với những cây nhang cắm xuống phần đất linh thiêng của Việt Museum, một bên thờ linh hồn trăm ngàn thuyền nhân và một bên là tử sĩ, chúng tôi cũng cầu xin những lời đánh phá từ 2 phía phải dừng lại. Hãy tắt đi những ngọn đèn sân khấu của cuộc trình diễn vô duyên giữa lúc dịch Covid vẫn còn đang hành hạ toàn thế giới. Hàng triệu người dân Việt đang đi bộ ngàn dặm trở về quê nhà trong nước mắt và nước mưa.

5) Hãy đến Việt Museum vào ngày lễ khánh thành, dù không toàn hảo, dù chưa chính danh, những quan dân chánh của một thời VNCH hãy đến với chúng tôi. Tay trong tay và lòng mở rộng tấm lòng. Đến với những người đã chết cho chúng ta được sống.

Giao Chỉ Vũ Văn Lộc, giám đốc sáng lập Viet Museum tại San Jose. 

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




THƠ – Ngày Thu & Loài Hoa Dại Bên Đường – Lê Tuấn

NGÀY THU

Mây trời xuống thấp lối thu sang

Gió lạnh chiều nay thổi lá vàng

Sương mỏng nhẹ bay tà lụa trắng

Tình thu còn mãi tiếng âm vang.

Cành trơ trụi, thấm ướt hơi sương

Lá rụng đêm qua phủ lấp đường

Áo lụa trắng, thu buồn ảm đạm

Tiếng dương cầm nhịp điệu yêu thương

Lê Tuấn

 ******

LOÀI HOA DẠI BÊN ĐƯỜNG

Ta nhẹ bước một mình xuống phố

Bất chợt!

một bông hoa dại ẩn hiện ven đường

Hoa nở bên đường như đang cầu thực

Ta bước qua một bên

Sở làm hoa tàn héo

Hoa lách mình nghiêng theo ngọn gió

Lung Linh!

Lung Linh!

 * * *

Cánh hoa dại vàng

Nhuộm nắng thu sang

Mà sao chạm vào tim ta huyền hoặc

Một nỗi buồn vừa đánh rơi

Em có nhặt được

Thì cho ta xin?

Nhưng có lẽ

Chỉ riêng hoa nhặt được

Phải cám ơn đời

Loài hoa khờ dại

Gợi lại trong ta

Bao điều che giấu

Cho đêm về thèm giấc ngủ trong mơ

Sáng sớm mai thức dậy

Thu lại vàng

thêm một chiếc lá rơi.

 * * *

Xin lập lại lần nữa

Ta cám ơn đời!

Cám ơn loài hoa khờ dại

Gợi nhớ thêm biết bao điều hụt hẫng

Để ngôn từ lai láng chảy vào thơ

Lang thang một thời cùng khổ

Cho dòng mực thấm ướt lá thư xưa

 * * *

Cám ơn hoa đã vì ta nở

Ta muốn nâng đất cao hơn tí nữa

Và kéo mây trời xuống thấp cho gần

Nhìn tận mắt em

Loài hoa khờ dại

Trong hố thẳm nào đen tối?

Mà sao che dấu

Cả hồn ta.

Lê Tuấn

Viết cho mùa thu yêu thương

Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng

October 5, 21




Biên Khảo – “Kỹ nghệ nhựa dẻo….” – Mai Thanh Truyết




Happy Halloween! Con Ma Sói Xuất Hiện Giữa Ban Ngày Với Khách Không Nhà (Homeless) –

Lê Văn Hải

(San Jose) Còn 3 ngày nữa là Lễ Hội Hlloween, sáng hôm nay, Thứ Năm ngày 28 tháng 10 năm 2021, trong bữa cơm chiêu đãi những khách không nhà (Homeless) thường xuyên, vào 2 ngày trong tuần, Thứ Năm và Thứ Sáu. Mọi việc đang diễn ra bình thường, thình lình một “Con Ma Sói!” xuất hiên giữa ban ngày! Miệng dính đầy máu, gầm gừ, hung hãn, giơ móng vuốt nhọn hoắc, như muốn ăn tươi nuốt sống những người đứng gần.

Nhưng có điều ngạc nhiên, là mọi người hiện diện, đã không sợ, còn tươi cười chỉ trỏ thích thú. Nhiều người còn đòi chụp hình chung.

Vì họ biết đây chỉ là con ma sói giả. (Do Anh Lê Văn Hải, Trưởng Nhóm Mõ Nhân Ái, hóa trang.) Chỉ có mục đích mang niềm vui, tiếng cười đến cho mọi người, trong dịp lễ Mừng Ma Quỷ năm nay mà thôi.

Con ma sói tiến đến gần, tiếp xúc từng khách không nhà, đổi thái độ hung hãn, thân ái trao kẹo và bao lì xì có chút tiền mặt, và còn hay hơn là con ma này còn biết nói tiếng người! “Happy Halloween!”

Đây chỉ là hoạt động truyền thống kéo dài biết bao nhiêu năm nay, (28 năm) nhằm mang lại chút niềm vui, an ủi đến với những người khốn khổ, bị gạt ra khỏi bên lề cuộc sống. Rất thèm những tình thương vào những dịp lễ hội cuối năm. Gồm Lễ Tạ Ơn, Thank Giving, có Gà tây, Giáng Sinh có Ông Già Noel phát quà, Tết Tây, Tết Ta có Bao lì xì đỏ….

Vào những ngày hết năm, đây là thời gian khắc nghiệt, khó khăn nhất đối với người Homeless. Ngoài trời lạnh giá, không người thân chung quanh, nhìn xã hội với những sinh hoạt hân hoan hạnh phúc, đoàn tụ. Còn mình thì một miếng ăn cũng không có, chỗ ở thì màn trời chiếu đất, “hòn đá gối đầu” cũng không! Nên rất tủi thân, chán chường. Năm nào cũng có nhiều người tự tử, tìm cái chết đau thương cóng lạnh, trong những ngày khốn khổ này.

Chính vì thế Nhóm Mõ Nhân Ái, đã cố gắng mang không khí tình thương gia đình đến với họ, coi họ như người thân ruột thịt. Nhiều người Homeless rất cảm động tâm sự: “Hóa ra các bạn Việt Nam luôn luôn còn nghĩ đến chúng tôi! Nhất là vào những dịp lễ! Chưa thấy nhóm nào đối xử tử tế với chúng tôi như thế. Cám ơn, cám ơn rất nhiều!”

Cali là tiểu bang có vấn nạn ngưởi không nhà thê thảm nhất, mãi mãi không thể giải quyết thảm trạng này. Chiếm 40 phần trăm Homeless trên toàn quốc. Giá sinh hoạt đắt đỏ, hễ thất nghiệp là ra ngoài đường! Là một trong những nguyên nhân chính.

Nhóm của Anh Hải, Mõ Nhân Ái đã bền bỉ theo đuổi công tác nhân ái này hơn môt phần tư thế kỷ! Hoạt động được một thời gian dài như thế, vì bên anh còn rất nhiều nhóm thiện nguyện khác cộng tác, chưa kể rất nhiều ân nhân ẩn danh đứng đàng sau, luôn luôn hổ trợ những việc làm của anh.

Nhân dịp này, anh cũng đại diện Nhóm, xin chuyển lời cảm tạ chân thành từ đáy tim. “Một miếng khi đói, bằng gói khi no!” trong tinh thần “thương người như thể thương thân,” xin Thượng Đế trả công bội hậu cho tấm lòng tốt của Quý Vị. Và cũng không quên “Happy Halloween!”

Chủ Nhật Tuần Này, Ngày 31 Tháng 10, Nước Mỹ Tưng Bừng Mừng Lễ Hội Halloween!

(LVHải Tổng hợp)

Halloween hay còn gọi là lễ hội người hóa trang thành Ma Quỷ! Đây là một trong những lễ hội vui nhộn nhất, mà các bạn trẻ vô cùng yêu thích. Bởi sức thu hút huyền bí, nhiều màu sắc, sáng tạo đẹp mắt, hấp dẫn.

Đây là lễ hội kỳ quái nhất, sắp đến ngày này, khắp nơi trên nước Mỹ đều có những hình ảnh về ngày lễ Halloween trưng bày khắp nơi. Hình “thằng bù nhìn” bằng rơm, mặc áo vải, rách rưới, nằm bên cạnh mấy chùm bắp khô. Rồi hình bà phù thủy mũi nhọn hoắc, mặc áo đen ngồi bay trên cán chổi. Rất thiếu sót nếu không có quả bí ngô được khắc theo hình mặt người, cười toét miệng, đến mắt. Chưa kể những hình những con ma, con dơi, đủ hình dạng, được dán lên cửa kính hay cửa sổ trước nhà và trên lối đi.

Trong siêu thị, các cửa hàng tạp hóa, bán đồ gia dụng và các tiệm thuốc tây, không ai không thấy hàng núi kẹo khổng lồ đủ loại, đủ kiểu, đủ màu được bày bán. Cùng với các loại y phục để mặc hóa trang trong ngày nàỵ. Mặt nạ quỷ nhe nanh, ma cà rồng miệng bê bết máu, cho đến những mặt nạ kỳ quái. Rồi những bộ y phục hóa trang tương đối hiền lành hơn, rập theo các nhân vật trong những phim hoạt họa ăn khách. Gần đây còn có thêm các khuôn mặt các chính trị gia.

Lễ Halloweeen tại Mỹ được trẻ em đón mừng nồng nhiệt nhất, so với các ngày lễ khác. Nhưng không phải nó chỉ dành riêng cho các em không thôi. Ngày này, 31/10, trẻ con được cha mẹ, anh chị dẫn đi xin kẹo, là điều dĩ nhiên. Nhưng những nguời trưởng thành, từ 18 đến 24, cũng vẫn thường hay mở tiệc tưng bừng hay đi dự dạ tiệc hóa trang. Số người ở độ tuổi từ 25 đến 44, thường là phụ huynh thì dẫn con em đi xin kẹo, hoặc ở nhà, khoét những quả bí ngô thành hình mặt người cười, người Mỹ gọi là Jack OLantern. Và hầu hết những ông bà lớn tuổi thì ở nhà, để phát kẹo khi trẻ con gõ cửa đến xin.

Halloween là lễ được nhiều người trang hoàng và ăn mừng lớn thứ nhì trong các lễ hội mùa Đông ở Mỹ. Nó được coi là ngày lễ mở đầu cho mùa lễ hội cuối năm. Người Mỹ tiêu tiền khá nhiều và trung bình trong những năm trở lại đây, các nhà bán lẻ đã thu về, tổng cộng trên hàng tỉ đô la cho ngày lễ kỳ quái nàỵ!

*Tại sao ngày lễ Halloween lại rơi vào 31/10? Và tại sao phải có những hình ảnh, trang phục ma quái như thế?

Theo một trong những truyền thuyết bắt nguồn từ văn hóa của người Celt thời cổ Ireland, thì 31/10, là lúc chính thức chấm dứt mùa Hè nắng ấm, họ tin rằng cũng chấm dứt mùa của sự sống trên dương gian!

Chuyện kể rằng vào ngày này, những hồn ma vất vưởng chết trong năm đó, sẽ trở lại trần thế, tìm một người nào đó nhập xác! để mong còn được tồn tại sau khi chết. Thế nhưng người dương thế thì lại không muốn bị ma bắt hồn, nên đến tối ngày 31/10 họ tắt đèn, tắt bếp lửa, để cho nhà cửa lạnh lẽo như cõi âm phủ. Họ còn mặc quần áo giả trang, cho lẫn lộn với đám ma quỉ và khua động khắp xóm làng để đuổi tà mạ.

Còn vì sao quả bí ngô lại được khoét theo hình mặt người cười toét miệng?

Tại Hoa Kỳ, các bà nội trợ đã mang quả bí này ra khoét ruột, rồi khắc hình mặt người trên đó từ hàng trăm năm naỵ. Cũng theo truyền thuyết của người Ireland, thì xưa có một anh chàng biệt danh là “Jack” tính tình “Hà tiện” Một hôm anh chàng Jack này mời quỷ đi uống rượụ Nhưng Jack lại không muốn trả tiền rượu, nên chàng ta bèn dụ dỗ con quỷ hãy hóa phép tự biến thành thành đồng tiền, để Jack mua rượu cùng nhậu cho vuị. Khi quỷ nghe bùi tai biến thành đồng tiền, thì Jack nhặt ngay lấy bỏ vào túi áo, trong đó có sẵn một thánh giá bằng bạc, khiến quỷ không thể trở lại nguyên hình được nữạ Nhưng rồi sau Jack đã giải phóng cho quỷ, với điều kiện là quỷ không được quấy nhiễu Jack trong suốt 1 năm, và nếu Jack chết, quỷ cũng không được tịch thu lấy linh hồn của Jack.

Cho đến năm sau, Jack lại đánh lừa được quỷ cú nữa, để quỷ leo lên cây cao hái quả. Trong lúc quỷ còn đương loay hoay trên cây, thì Jack khắc ngay một thánh giá vào thân cây, thế là quỷ sợ không dám leo xuống. Cho đến khi quỷ hứa, không được quấy nhiễu Jack thêm 10 năm nữạ, rồi Jack mới bóc chỗ vỏ cây có khắc thánh giá đị, quỷ mới leo xuống được.

Chẳng bao lâu sau đó thì anh chàng Jack lừa đảo qua đời. Hồn ma của Jack đến gõ cửa thiên đường, nhưng thượng đế không nhận cho một kẻ tinh ranh láu cá như vậy vào cõi trờị. Xuống địa ngục thì gặp quỷ bị lừa khi trước, còn tức tối, nên Jack muốn vào địa ngục cũng không xong. Tuy nhiên giữ lời hứa không bắt hồn Jack, quỷ đuổi jack đi lang thang và chỉ cho Jack một cục than hồng, để mà dò dường trong đêm tốị, Jack bỏ cục than cháy đỏ vào trong một củ cải tròn khoét ruột làm đèn, từ đó cứ luẩn quẩn khắp cõi dương gian. Người Ireland gọi là Jack of the Lantern, tức là Jack lồng đèn, và sau biến thành Jack OLantern.

Người Ireland khoét ruột củ cải tròn hoặc củ khoai tây theo hình mặt người cười láu cá như vậy, đem bày ở bệ cửa sổ hay gần cửa ra vào, để xua đuổi những hồn ma vất vưởng như Jack, khỏi xâm nhập vào gia cư của họ. Khi những di dân từ Ireland và Anh Quốc tới Hoa Kỳ, họ thấy rằng quả bí đỏ, tức bí ngô hay bí rợ, một thổ sản phong phú ở vùng đất mới, là nguyên liệu thích hợp nhất để họ khoét ruột tỉa hình mặt anh chàng Jack Lantern.

Quả bí đỏ, xưa nay vẫn tượng trưng cho sự phong phú của mùa màng miền Bắc Mỹ, được trồng rất nhiều tại Hoa Kỳ. Hàng năm vào trước lễ Halloween mấy tuần, các nông gia mở hội thi xem ai trồng được quả bí kỷ lục to nhất. Miền Bắc Cali, khu vực “Vịnh Nửa Vầng Trăng” thường đạt thành tích này, với những quả bí khổng lồ nặng cả gần hàng ngàn pound.

Ngoài trái bí ngô, còn nhiều hình ảnh khác gắn liền trong trong ngày lễ

*Chuyện về quả táo Pomona

Cây táo từ lâu đã được gắn với hình ảnh nữ thần bất tử và trí tuệ. Nếu bổ ngang một quả táo, sẽ lộ ra hình ngôi sao 5 cánh, biểu tượng cho nữ thần trong niềm tin của người Châu Âu ngày xưạ. Táo Pomona là những quả táo được thả trong chậu nước, hoặc trên sợi dâỵ. Những thanh niên tới tuổi cập kê tìm mọi cách để lấy quả táo và người nào làm được thì sẽ là người sớm được lập gia đình. Ngoài ra còn nhiều truyền thuyết dân gian khá lý thú như ai gọt vỏ táo Pomona trước một cái gương, bên cạnh một cây nến cháy, thì sẽ nhìn thấy hình ảnh của người vợ (chồng) tương lai trong gương, hoặc cố gắng giữ vỏ táo càng lâu thì cuộc đời của bạn được kéo dài thêm 100 năm!

*Tục hóa trang với những bộ trang phục kỳ quái.

Người Châu Âu thì cho rằng, những bộ trang phục kỳ quái trong ngày Halloween, không phải có xuất xứ từ người Celtic, mà có xuất xứ từ chính những người Châu Âụ Vào thế kỷ thứ 9, ngày 2/11 hàng năm và cũng là ngày cầu cho các linh hồn, những giáo dân thường ăn mặc rách rưới giống như những kẻ ăn mày, rồi đi từ làng này sang làng kia để xin những mẫu bánh vụn tượng trưng cho thức ăn nuôi dưỡng linh hồn. Những người này tin rằng, họ càng xin được nhiều mẩu bánh, thì linh hồn của những người thân của họ sẽ nhận được càng nhiều những lời cầu nguyện. Các giáo dân tin rằng, những lời cầu nguyện này sẽ giúp cho những linh hồn người thân của họ còn mắc kẹt ở đâu đó sẽ được lên thiên đàng.

*Tục xin kẹo trong ngày Halloween

“Trick Or Treat” Đây là sinh hoạt chính của hầu hết trẻ em và thiếu niên tại Hoa Kỳ trong đêm Halloween.

“Trick or Treat” có nghĩa “Cho kẹo hay bị ghẹo! bị phá phách!”

“Trick” nguyên nghĩa là đánh lừa, trò chơi tinh ma nghịch ngợm. “Treat” là tiếp đón, đối xử tử tế, tiếp đãị. Các em nhỏ và thiếu niên, thanh niên hóa trang với áo quần và mặt nạ hình ma quỷ, rồi cầm lồng đèn đi từ nhà này sang nhà khác trong xóm, gõ cửa và nói “trick or treat”. Câu này có nghĩa là: “Nếu muốn chúng tôi không chơi xấu, thì hãy đãi chúng tôi cái gì đi!” Thông thường những người láng giềng luôn luôn tiếp đón bằng kẹo và trái câỵ.

*Một điều ít người biết: Tuy là Mừng Ma Quỷ, nhưng Lễ nhưng vẫn có ý nghĩa giáo dục.

Hành động và cuộc đời của Jack đã trở thành những kinh nghiệm để tuổi trẻ rút ra một bài học làm người, đó là:

-Sống không nên tham lam, bủn xỉn, keo kiệt, để chết khỏi phải lang thang!

-Phải có lòng bác ái, từ bi, biết giúp đỡ kẻ khó khăn, xử tử tế, cho dù họ đã qua đời!

Không nên chơi đùa với ma quỷ. Ma quỷ hiểu theo nghĩa bóng là những trò lừa lọc, đe dọa, làm cho người khác sợ hãi, những việc làm tinh quái do trí thông minh và tưởng tượng của tuổi trẻ sáng tạo ra, có khi làm hại đến người, đến xã hội. Chơi đùa, giao du với ma quỷ sẽ dễ bị cám dỗ đi vào đường tối tăm và tội lỗị. “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng!”

Tuy nhiên, chuyện anh chàng Jack trong đêm Halloween cũng ghi nhận một thái độ sòng phẳng của quỷ, đó là “ân đền, oán trả” và “giữ lời hứa”. Dù rằng sự “giữ lời hứa” này đã làm cho Jack rơi vào thân phận cô hồn lang thang vất vưởng. Quỷ còn giữ chữ tín, hướng chi con người. Người không giữ chữ tín, trong cuộc sống khó mà thành công.

Đối với các xã hội Âu, Mỹ Halloween đã trở thành lễ hội vui chơi hằng năm cho trẻ em và cả người lớn. Hầu như ít người quan tâm tìm hiểu ý nghĩa xây dựng nhân bản của nó.

*Ý nghĩa nhân bản: Nghĩ đến cả người chết, hướng chi người sống!

Nếu đào sâu hơn, có lẽ sẽ tìm thấy tính cách nhân bản trong câu chuyện. Thử đặt câu hỏi: tại sao dưới ánh sáng khoa học và kỹ thuật mà các nước Âu, Mỹ vẫn dành một ngày lễ hội cho người của “cõi Âm” mà đại diện là chàng Jack?

Jack là nhân vật tưởng tượng nhưng đã thực sự hiện thân trong cuộc đời, trong thân phận làm người, mà lại là một người cô đơn, không nơi cư ngụ (Homeless!) Khi chết, Jack trở thành cô hồn, không chỗ dung thân. Thiên Đàng và Địa Ngục đều từ chối!

Truyền thống lễ hội Âu Mỹ đã dành cho Jack một ngàỵ, một ngày được trở lại với cõi dương thế. Trong ngày đó, Jack có thể sống vui chơi thoải mái, vì tình người sống đã hóa trang thành ma quỷ để linh hồn Jack có chỗ trà trộn vào cho đỡ cô đơn. Đây là ý nghĩa nhân bản sống phải biết giúp đỡ nhau của lễ hội Halloween.

Lời kết

Ngày lễ Halloween được du nhập vào Mỹ từ năm 1840, theo chân những người di cư sang Mỹ. Đầu tiên nó chỉ diễn ở các nông trại miền quê, nhưng ngày nay cũng giống như nhiều quốc gia khác, Halloween đã trở thành một ngày lễ chung vui chơi, dùa giỡn cho tất cả mọi người, trên nhiều quốc gia, nhằm để quên đi những lo âu trong đời sống. Giới trẻ tại Việt Nam cũng rất thích ngày lễ này.

Lời chúc

Kính chúc Quý vị và Gia Đình, nhất là những Bé tí hon lời chúc cho ngày lễ, (đậm mầu sợ hãi từ Ma Quỷ):

Một ngày Lễ Halloween gặp những điều bất ngờ, khủng khiếp và rùng rợn! Sáng gặp quỷ hút máu! chiều gặp ma lưỡi dài, tối mơ thấy mình lạc xuống địa ngục! bị cưa người, máu lênh láng, chưa hết! rồi bị bỏ vào chiên trong chảo dầu! (Khà!Khà!)

Nhưng dù sao đi nữa, người lớn cứ bình tĩnh đón một Lễ Halloween vui vẻ, hạnh phúc nha! Và các bạn trẻ đi xin được nhiều kẹo, dù bị ma nhát, sợ muốn chết! nhưng vẫn nhớ nhiều cảm giác thích thú trong ngày Lễ đặc biệt này.

Happy Halloween! Chúc Mừng Lễ Ma Quỷ 2021!




DIỄM CA

https://m.youtube.com/watch?time_continue=192&v=oOpydALOwKM&feature=emb_logo



THƠ Cao Mỵ Nhân – NHỮNG CHIẾC ÁO DÀI




LÀM VIỆC TỪ THIỆN: ĐẤU GIÁ TRANH $2.2 TRIỆU

Kiều Mỹ Duyên




HỒI KÝ – Hoàng Mai Nhất & Bằng Hữu Hiệp Phan

Nguồn hình: Internet

Có ai còn nhớ không:

Ngày xưa đi học Tiêủ Học (1955-1960), cứ mỗi cuối năm phát thưởng cho những học sinh học giỏi (giỏi về học vấn, giỏi về hạnh kiểm); thì trong số những quà thưởng ấy, bao giờ cũng có những quyển tập 100 trang hay 50 trang, mà điều đặc biệt là bìa sau của những tập vở ấy, luôn luôn có truyên hình bằng tranh màu như: Phạm Công Cúc Hoa, Tấm Cám, Hai bà Trưng, Bà Triệu Ẩu cởi voi đánh giặc Tàu chạy có cờ;  Vua Quang Trung đại thắng quân Thanh, Tướng Lý Thường Kiệt phạt Tống bình Chiêm; anh hùng Lê Lợi; Ngô Quyền và Dũng Tướng Trần Bình Trọng của nhà Trần lúc chống quân Mông Cổ bị bắt; đã nói một câu nói để đời đi vào lịch sử dân tộc Việt: “Thà làm quỷ nước Nam chớ không thèm làm Vua phương Bắc “…v…v…

Ngày ấy tôi rất thích những tâp vở có truyện tranh ấy mỗi khi được lãnh thưởng. Và những câu chuyện bằng hình ảnh ấy đã đi theo suốt cuộc đời tôi cho đến bây giờ và mãi mãi không bao giờ quên. Tôi rất là trân quý, kính trọng tinh thần yêu nước của tiền nhân để hun đúc cho mình một tinh thần ái quốc và hãnh diện là mình đã được làm con dân nước Việt (VNCH).

Hoàng Mai Nhất
(Lê Anh Thượng)
Seattle, WA 25/10/21

Xin giới thiệu: Mời đọc bài của Hiệp Phan

Hồi ký của “cậu bé Biên Hòa”

 Tôi sinh ra và lớn lên tại Biên Hòa, một tнàин phố hiền hòa nằm bên cạnh dòng sông Đồng Nai thơ mộng.

Nhà tôi ở gần вệин viện Pнạm Hữu Chí (nay là вệин viện Đồng Nai) – một nhà тнươиɢ thí nơi chuyên chữa вệин miễn phí cho mọi người, nơi đây kнôиg hề phân biệt người có tiền hoặc kнôиg, kнôиg hề từ cнốι chữa вệин cho người dân dù phí tổn cao như thế nào. Mọi người вệин đều được đối χử bình đẳng như nhau. Tôi nhớ có một lần bị đạp phải gai nhọn trong lòng bàn chân, bị mưng mủ, đᴀu nhức kinh кнủиɢ, mẹ tôi đưa tôi vào вệин viện này, các y tá & bác sĩ, tiếp chúng tôi một cách ân cần тử tế, với thái độ tôn trọng người вệин mà kнôиg hề hách ᴅịcн hay gợi ý vòi tiền hoặc quà cáp từ người nhà của tôi. Trên tường вệин viện, tôi kнôиg hề thấy có khẩu hiệu “Lương y như từ mẫu” nào cả, nhưng thái độ cư xử hòa nhã của nhân viên y tế ở đây kнôиg khác chi là mẹ hiền. Ngoài cổng вệин viện có một bảng hiệu cấm bóp kèn cho các loại xᴇ cộ để kнôиg ảnh hưởng đến người вệин.

Ngày xưa, thời niên thiếu của tôi đã từng có một hệ thống нàин cнíɴн gọn nhẹ, phục vụ người dân hữu hiệu và lịch sự như vậy, chứ kнôиg phải “нàин” dân là cнíɴн.

Ngày xưa, tôi đã từng biết về một xã hội мαng đầy tình nhân văи qua cách ứng χử của mọi người:

Tôi còn nhớ khi cha tôi mất vào năm 1973, khi xᴇ tang đưa linh cữu ông đến nơi an nghĩ sau cùng, ngồi trên xᴇ tang tôi quan ѕáт thấy các anh cảnh ѕáт, quân cảnh đang làm nhiệm vụ trên các giao ʟộ, khi gặp xᴇ tang đi ngang qua, các anh đứng nghiêm chào theo nghi thức quân cách. Và một điều ngạc nhiên lý thú khác là tôi thấy những người dân mà gia đìɴн tôi kнôиg quen biết, khi họ đi xᴇ gắn máy hoặc xᴇ đạp vượt qua xᴇ tang, kнôиg ai bảo ai, họ đều giở nón cúi đầu chào tiễn biệt cha tôi. Hình ảnh này đã cho tôi một ấn tượng và cảм xúc thật mạnh mẻ. Sau này tìm hiểu, tôi mới biết đó là lề thói ứng xử tнông тнường của mọi người để tỏ lòng tôn trọng đối với người đã khuất.

Vào thời ấy, mỗi khi ngồi học bài khuya, đến 10 giờ, tôi тнường nghe từ radio hoặc TV nhắc nhở mọi người nên điều cнỉnh âm thanh vừa đủ nghe để kнôиg phiền lòng hàng xóm.

Tôi còn nhớ mỗi sáng thứ hai chúng tôi làm lễ chào cờ ở trường tiểu học Nguyễn Du, khi quốc kỳ được kéo lên trong tiếng quốc ca vang lên của toàn thể học sinh, tôi thấy phía bên ngoài cổng trường: chú xích lô dừng xe lại, những người bộ нànн đi ngang dừng lại và bà bán hàng rong cũng bỏ quang gánh, tất cả tự giác đứng nghiêm cнỉnh hướng về quốc kỳ cùng hát quốc ca cho đến khi lễ chào cờ kết thúc .Ý thức công dân của người dân miền nam Việt Nam thời ấy là như thế.

Khi có dịp đi Saigon, tôi để ý thấy tại các giao lộ, các loại xe cộ đều tự giác dừng lại khi đèn đỏ cho dù kнôиg có cảnh ѕáт. Lúc ấy, kнôиg hề có chuyện vượt đèn đỏ cнạy bạt мạnɢ khi kнôиg có người kiểm soát.

Trong giao tế, cảм ơn và xιɴ lỗi là câu nói тнường xuyên của người dân thời ấy.

Ngày xưa thời niên thiếu của tôi đã từng có một xã hội tuy còn nhiều bất cập nhưng rất là văn minh và có được một nền dân trí cao như vậy.

Ngày xưa, tôi đã từng thụ hưởng một nền giáo dục nhân bản, dân tộc và khai phóng. Nền giáo dục này đã dạy tôi làm người trước khi dạy tôi học thức.

Năm 1966, tôi vào học lớp năm (nay là lớp một) tại trường tiểu học Nguyễn Du, trên tường của lớp học vỡ lòng này có một câu cách ngôn “Tiên học lễ hậu học văn” treo cố định suốt cả một năm học .Sau này lớn lên, tôi mới hiểu đó là tiêu chí căn bản của nền giáo dục VNCH.

Tôi đã từng có những thầy cô ở bậc tiểu học tận tâm giảng dạy cho tôi những bài học rèn luyện nhân cách qua sách giáo khoa như: Em tập tính tốt, Các bài tập đọc, sử ký, địa lý, khoa học thường thức, những bài học thuộc lòng từ quốc văn giáo khoa thư, Gia huấn ca, Nhị thập tứ hiếu, Tâm hồn cao thượng ….Các giáo trình này đề cao các giá trị lịch sử, dân tộc, tự chủ, nghệ thuật, văn hóa …để rèn luyện cho học sinh giỏi về kiến thức tổng quát và có tấm lòng nhân hậu yêu nước thương nòi, có lòng biết ơn mọi người trong xã hội.

Bậc tiểu học, hàng tuần thầy cô giáo đều viết lên bảng câu cách ngôn của tuần từ các ca dao tục ngữ ẩn chứa triết lý tình thương để in sâu vào tâm khảm của học sinh. Hàng tháng thầy cô thiết lập bảng danh dự để xếp нạng học sinh theo điểm số. Ngày ấy chất lượng học sinh được phân loại rõ ràng cнíɴн xác chứ kнôиg hề có tình trạng nhà trường cнạy theo thành tích với tỷ lệ 100% học sinh giỏi không có yếu kém !!

Năm 1970, tôi vào trường Trυng học công lậᴘ Ngô Quyền sau một kỳ thi tuyển sinh đệ thất (nay là lớp 6) đầy gay go nhưng cũng rất công bằng. Ở bậc trυng học, tôi đã có những vị giáo sư tận tâm truyền đạt cho tôi kiến thức tổng quát, ý thức công dân và dạy cho chúng tôi về Công pháp quốc tế, Tam quyền phân lậᴘ, về giá trị của một xã hội tự do, dân chủ. Khi học lớp 9, chúng tôi đã được thầy luyện cho kỹ năng thuyết trình trước đám đông, tập tính phản biện và biết phân tích, so sánh đối chiếu , biết tranh luận trước những vấn đề mà chúng tôi kнôиg đồng ý, chứ kнôиg phải răm rắp cúi đầu nghe theo một chiều từ người khác như bầy cừu mà kнôиg dám ᴘнản kháng.

]Ngày xưa Biên Hòa quê tôi có nhà sách Huỳnh Hiệp bán đủ mọi thể loại sách rất đa dạng phong phú từ nhiều tác giả khác nhau, từ nhiều quan điểm khác nhau, kнôиg có vùng cấm. Ở nơi ấy, kнôиg cần mua sách, nhưng tôi có thể tự do thoải mái đọc “cọp” tất cả các loại sách mình ưa thích mà kнôиg bị trở ngại nào. Chúng tôi тнường gọi nhà sách này là тнư viện tri thức cho học sinh nghèo.

Thời niên thiếu đã đem lại cho tôi nhiều kỷ niệm tuyệt vời và tự hào về một xã hội tươi đẹp mà tôi đã từng sống.

Nhưng một thời hoa mộng ấy đã thật sự kết thúc một cách oᴀɴ nghiệt vào cuối tháng 4 năm 1975 khi tôi 16 tuổi.

Giờ đây, khi thời gian qua nhanh tuổi đờι đã xế, trí nhớ đôi lúc cũng còn lẫn lộn, nhưng quên gì thì quên, tôi kнôиg thể nào quên được những năm tháng được sống trong một xã hội hiền lương tốt đẹp , dù ở trong thời kỳ chιến tranh khốc liệt nhất. Tôi kнôиg thể nào quên được ngày xưa tôi đã từng có một thời niên thiếu như thế. Tôi cũng sẽ kể lại cho con tôi là tôi đã từng sống trong một nước Việt Nam Cộng Hòa văn minh và nhân bản như thế trong quá khứ, mà thế hệ con cháu tôi ngày nay kнôиg thể nào tìm lại được các giá trị ấy ngay trên chính quê hương của tôi .

Hiep Phan




THƠ Mặc Khách: Ngậm Ngùi – Gọi Thầm – Lời Tình Buồn

Nguồn hình: Internet

NGẬM NGÙI

Bước bâng khuâng tìm về lối cũ

Phố phường xưa gợi nhớ đứng trông

    Xa em buốt lạnh trong lòng

Hồn anh lạc lõng giữa giòng thời gian

*

Trong âm thầm ước mong gặp lại

Bước em về có gió heo may

    Em cười hoa lá mê say

Bên em anh cũng lòng ngây ngất nhìn

*

Bóng dừa nghiêng khoan thai em bước

Tà áo bay hoa lá nên thơ

    Phố đêm se lạnh đợi chờ…

Chỉ còn nỗi nhớ thẩn thờ hồn đau    

*        

Rồi từ đó xa nhau mãi mãi

Em đâu rồi lặng lẽ đêm thâu

    Niềm vui thoáng chốc qua mau

Nỗi sầu còn lại nhớ nhau muôn chiều…

*

Những con đường lặng im ngơ ngác  

Nằm đợi chờ phố cũng đổi thay

     Dấu xưa sương phủ mưa bay

Còn đây giọt lê chia tay Ngậm Ngùi !

MẶC KHÁCH

***

GỌI  THẦM

     Tàn đông tuyết phủ mưa rơi

Quê người  hoa cũng tả tơi sắc màu

     Thời gian thấm thoát qua mau

Từng vì sao rụng xôn xao thiên hà

*

       Quẩn quanh chiếc bóng với ta

Linh hồn bỏ ngõ tình xa mất rồi

      Gió lay sương thấm bờ vai

Còn đâu cát biển dấu hài tung tăng

*

      Công viên chen giữa ánh Trăng

Kề môi quên hết bụi đường trần gian

      Hồn thơ vùi giữa tuyết đan

Nửa mê nửa tỉnh lang thang tháng ngày

*

     Xa quê mới biết lưu đày

Xa nhau mới biết hao gầy tình thơ

     Lâu rồi chẳng thấy giấc mơ

Giật mình xa lạ phủ mờ không gian     

*        

     Môi hồng nồng ấm dung nhan 

Nay thành cổ tích dư âm phai dần                            

     Bỗng dưng sao nhớ bâng khuâng

Gối chăn chợt lạnh Gọi Thầm tên nhau

*

MẶC KHÁCH

***

LỜI TÌNH BUỒN

(Trich HỒN THƠ  t/g Mặc Khách )

*

 Tiếng ai hát, gợi lòng sầu ray rức

Giọng trầm buồn tê điếng xoáy vào tim

Từng âm thanh bay lượn xót xa nhìn

Hòa theo nhạc lời tình buồn dang dở

*

Nhớ không em, tháng tư buồn nức nở

Xa nhau rồi tất cả là hư không

Lòng ta đây hoài vọng giấc mơ nồng

Nhung nhớ mãi, bóng hình bên gối chiếc

*

Hát nữa đi em ru ta vào mộng

Làn hơi cao buông thả rồi dịu dàng

Quyện vào nhau lơ lững trong không gian

Tim se thắt, lời ca buồn xao xuyến

*

Từ buổi ấy lòng ta như mê hoặc

Ngại ngùng lo, run sợ ai đến gần

Chắn lời ca che nốt nhạc em ngân

Hồn ngất lịm bên cung đàn thổn thức….

*

MẶC kHÁCH




THƠ HALLOWEEN – Cao Mỵ Nhân

HỘI MA HALLOWEEN.    CAO MỴ NHÂN 

*

Theo anh đi dự hội Ma

Tháng Mười buổi tối ngày Ba Mốt này

Tóc em trắng khói sương bay

Áo anh cũng trắng như mây lạnh buồn

*

Dọc đường từ lúc hoàng hôn

Đã nghe tiếng hét Ma còn cười vui

Hoá trang trong nỗi ngậm ngùi

Khăn che nửa mặt, tình vùi mộng mơ

*

Đèn nhà thiên hạ toả mờ

Đưa tay lên gõ cửa chờ tha nhân 

Kẹo ư ? Nào có khó khăn 

Vãi rơi từng gói băn khoăn xứ người 

*

Quê nhà Covid khắp nơi

Saigon phong toả, nửa vời tung hê

Ma đang đuổi bắt tứ bề 

Khôi hài lời chúc ” Happy Halloween ” này 

*

 Thôi thì đợi 2022

Ma quên lễ hội, quỷ sai hẹn hò 

Để mừng hoa nở đầy thơ 

Tháng Mười ngày ngắn đêm chờ trăng treo…

CAO MỴ NHÂN

      




VĂN – Chiều Bệnh Viện – Cao Mỵ Nhân

CHIỀU BỆNH VIỆN.    CAO MỴ NHÂN 

Khi tôi đến thành phố đó, mặt trời bắt đầu lên một lượt với ngày, vạt núi thả dần ánh nắng mầu vàng, đổ chứa chan trên khắp nẻo, tôi nói xe dừng lại ngắm nhìn …

Anh mỉm cười trong tâm thức tôi, vì anh có đang ở cạnh tôi đâu, đó chỉ là những ngôn từ không thoát ra tiếng nói, hay đó chỉ là mơ mộng lâu ngày trở thành …quán tính. 

Tôi muốn nói với anh rằng : Anh không cần phải thốt lên âm thanh, chúng ta đang là những nhân vật nổi trong một bức tranh tĩnh . 

Anh biết tôi từng phút giây đang làm gì, vì mỗi ngày tôi viết thư cho anh, kể hết ngọn nguồn . Không đòi hỏi một hồi âm, dù thì thầm như hơi gió mùa thu, lẫn với sương bay, khói toả…

Tại sao có một người biết tôi từng giọt nước mắt rơi ra, từng tia nhìn lặng lẽ, mà anh lại …chậm hiểu thế chứ ? 

Anh cười một cách xót xa: ” Thì suy tư của M có lạnh mấy, như gió mùa thu, cũng chỉ mát thôi . ” 

Đúng rồi, có cần chi đốt lửa chờ khí ấm, bởi gió mùa thu đã lẫn trong hơi thở M rồi …người tình tịnh ngôn thân kính ạ. 

Thế là mình đã mấy ngày ” nín lặng ” trong cái nhà thương ở thành phố Thiên Thần Gabriel,  trong tư thế bắt buộc phải ngồi bó gối nơi chiếc ghế dành cho người thăm, kê ở cạnh giường bà chị đang đau thập tử nhất sinh. 

Cả một đại dương cách trở thân tộc, chỉ có bà chị với mình ở xứ sở này, hai chị em đều đang tuổi thu vàng, ngắm cây phong bắt đầu thưa lá… nghe hơi thu lùa qua thân áo, và nỗi buồn tênh thấm vào từng chân tơ kẽ tóc mỗi người . 

Bà chị ngó mông lung, nói thật nhỏ nhẹ : 

” Nằm nhà thương 4 ngày, chờ thuốc chưa về, giống như là chờ chết.” 

Bà chị yên lặng, rồi tiếp: 

” Hình như phải có thật nhiều tiền, ở MỸ tư bản mà, để chưa hay không được cơ quan y tế chấp thuận cách chữa hay thuốc hiếm kiểu ” Mê đi Mê đi “, là bỏ tiền ra ngay . ..

” Không .” Tôi trả lời : ” Vẫn phải đi theo hành lang y tế vạch sẵn, bởi có ôm bịch tiền, cũng chẳng kéo được bịnh có tên có tuổi dữ tợn đó, ra khỏi cơ thể đâu . ” 

Bà chị tội nghiệp của tôi bấy giờ đang bị nghi là ung thư bạch huyết cầu, những vết nám thoạt mầu hồng , sau sậm dần, rồi nổi những cục u, đau nhức . 

” Mê đi – Mê đi ” của chị đang chưa cho phép tiến hành hoá trị…đau nhức và tái tê về cuộc sống chênh vênh trên đường đời . 

Chồng chị mất năm ngoái, chị đau năm nay, không con cháu. Nhà thương là nơi chị đang tạm trú mấy hôm nay, nhưng chị với tôi đều có cảm tưởng là lâu quá rồi . 

Cái viễn ảnh trước mặt mang mầu sắc thê lương chi lạ, nhưng chị yêu đời quá, chị muốn sống cảnh “độc thân ” thêm vài năm để đi chơi cho biết đó, biết đây…

Chị bảo có lên Thiên Đường đi nữa, thì cũng phải biết hạ giới này đẹp đẽ đến thế nào chứ. 

Sở dĩ có hiện tượng này, thèm được sống để ngắm trời đất chung quanh ta thôi. 

Chị biết tôi sẽ hỏi : ” Chị muốn sống cho ai ? ” 

Và tôi biết chị sẽ trả lời : ” Muốn sống cho bản thân chị .” 

Tôi cũng yêu đời như chị, nhưng lại hay so sánh các hoàn cảnh khác, của các đối tượng khác.

Tôi không đặt ước hẹn với đất trời khiêm cung như chị, xin Thượng Đế có 2 năm ( hai năm quay đi quay lại là hết ) . 

Tôi không xin Ngài kiểu lương thiện thế, tôi xin cho cuộc tình tôi thơ mộng suốt trăm năm. 

Buổi chiều thứ bảy ở nhà thương, khi ánh nắng bắt đầu lên lại chín tầng mây buồn nản, tôi không dám nhớ anh giờ phút này, nó làm như không gian hấp hối, như tôi đang kể, nhất là ở nhà thương, không có người thân kẻ thích. 

Tôi lặng lẽ ngồi trong phòng khách lớn, nhìn thân nhân và khách ra vô thăm viếng . 

Đủ giới người, đủ tuổi tác, đủ sắc tộc …

 Có tiếng khóc thầm, khóc nhỏ, hay chỉ sụt sịt trong lỗ mũi, nhưng cũng có tiếng la to vì bịnh nhân đau quá . 

Ngày nghỉ nên lượng người thăm viếng đông hơn ngày thường, tuy nhiên chẳng thấy ai cười rỡn, như thế là rất biết tôn trọng bịnh nhân . 

Y tá tới thông báo cho chị tôi biết rằng tối , dù ai cũng nghĩ và lo là không có thể có thuốc làm xạ trị cho chị ấy, nhưng thuốc đã về, chị tôi sẽ được chuyển lên lầu 4, để làm “ki mô” như mong đợi được chữa trị . 

Tôi định nói với chị nhà xa quá, chắc tôi không tới được thường xuyên đâu. Nhưng nhìn vẻ buồn nản, đôi khi hốt hoảng, tôi lại sợ chị tôi mang cảm giác tuyệt vọng về sức khoẻ không phục hồi . 

Cảm giác tuyệt vọng thì khởi sự đều giống nhau, hư hao sức khoẻ như nêu trên, suy thoái tinh thần dẫn đến bất lực trầm trọng, mất niềm tin trong cuộc sống, phá sản, vô hiệu hoá tài năng và khả năng. Muốn biến khỏi thế gian này . 

Sau ngồi phân tách từng trường hợp một, mới thấy là mọi chuyện đều đi tới 2 giải pháp bắt buộc tự nhiên, mà quý cụ xưa thường nói là : ” cùng tắc biến, biến tắc thông ” . 

Có điều cái ” thông ” đó, nó bi quan hay lạc quan . 

Cuối cùng trong chẩn trị cũng vậy, gặp thầy gặp thuốc thì khỏi bịnh thôi, và đó là cái “thông ”  quý giá nhất mà ai đau ốm kinh niên, trầm kha cũng đều mong mỏi . 

Chị ơi, chị thân yêu ơi, ngày mai trời sẽ sáng, chúng ta hãy cầu nguyện cho thế giới bình an, cho chị hanh thông êm đềm , hy vọng chan hoà trong bình minh rực rỡ, chị tôi cười héo hắt, còn tôi thì tràn ngập nỗi nhớ, niềm thương bao la, nhưng tuyệt vọng vô cùng, vì hình ảnh này cứ bị cắt xén dần, cho tới khi mất hút . 

Bây giờ thì đúng là không còn gì trước mặt tôi, kể từ buổi chiều hôm đó, sân bệnh viện Thiên Thần Gabriel vẫn nắng mưa sương gió, năm này sang tháng khác, những người đến, những người về, song cũng đã biết bao người đến không về, mà đi mất hút, vâng , họ đã đi mất hút, kể cả chị tôi. 

Tôi cúi xuống nhìn lớp lá vàng, lá đỏ, lá khô …ở một công viên nơi thành phố đó . 

Có lẽ chị tôi chưa bao giờ dư thì giờ như tôi, là tới một công viên, để nghe lòng mình xa xót buồn thương …

Từ tâm thức, lại cũng chỉ từ tâm thức thôi, anh gọi tôi, anh bảo rằng : ” Cuộc đời hữu hạn là vậy, cho dẫu có níu kéo thời gian cho đủ một trăm năm, chúng ta cũng không có thêm tháng ngày tuyệt vời em hỡi …” 

Chị tôi mất vào đúng buổi giao mùa vãn hạ qua thu 31/8 cách đây hơn 3 năm . 

          CAO MỴ NHÂN 




THƠ Song ngữ Việt Anh: CÚC CỐ NHÂN – Cao Mỵ Nhân & Thanh Thanh

Nguồn hình: Internet

CÚC CỐ NHÂN           

Anh về, yêu lại màu hoa cúc 

Rực rỡ bình minh lộng lẫy xuân

Cúc đỏ, cúc vàng chen chúc nở     

Phương trời như thiếu cúc tri âm

Anh giữ trên tay hoa cúc trắng      

Một cành đơn độc giữa phù vân    

Mây, hoa cùng thấy lòng hoang vắng

Từ thưở người đi đã cách ngăn      

Cố nhân cột tóc bằng nơ tím  

Áo tím làm xuân chợt thoáng buồn

Chiếc nón bài thơ quai lụa tím              

Hiên chùa cúc tím nhuộm hoàng hôn    

Ảo giác say hoa xưa bát ngát         

Chao ôi, ngày tháng cứ xa dần              

Hương gây mùi nhớ, thơm ngào ngạt    

Thanh sắc nào thay cúc cố nhân         

   

                       CAO MỴ NHÂN   

***

      OLD CHRYSANTHEMUM

Back home, I resume my love of chrysanthemums.

Red tansies, yellow tansies, do bloom as a whole

With their colors so radiant as when spring comes;

But this place seems to lack the flower of my soul.

I hold a white nice chrysanthemum in my hand,

The poor solitary blossom in this ephemeral state:

Clouds and flowers appear fallen in a forlorn land

Since my sweetheart and me are already separate.

The old lover used a purple tie to bind her hair rap;

Her violet dress suddenly caused spring to frown;

The poem-woven conical hat with purple silk strap

And the pagoda purple tansies imbrued the sundown.

So vast was my fancy addiction to this flower kind!

Alas, time has passed further and further, it by rolled.

The fragrance excites the recollections in my mind.

Which hue could replace my chrysanthemum of old?

Translation by THANH-THANH




THƠ: Con Trâu Mộng – Trường Giang

Nguồn hình: Internet

CON TRÂU MỘNG.   

    

Trâu là giống hiền từ rất mực,

Giúp nhà nông gắng sức cầy bừa.

Chẳng nề cực nhọc sớm trưa,

Cũng không quản ngại nắng mưa bão bùng.

Dù rét mướt lạnh lùng băng giá,

Vẫn kéo cầy đến vã mồ hôi.

Làm ra thóc gạo giúp đời,

Dẫu thân vất vả không lời thở than.

Mùa Hạ tới thi gan với nắng,

10- Vẫn triền miên có gắng kéo cầy.

Bóng chiều khi ngả về Tây,

Mới ngừng “lao động” một ngày hụt hơi.

Màn đêm xuống thảnh thơi yên nghỉ,

Sái quai hàm bền bỉ miệng nhai.

Tính hiền như một củ khoai,

Bon chen không chút đoái hoài ganh đua.

Mỗi năm cả chiêm, mùa hai vụ,

Đã cần cù vì chủ đảm đang.

Lẫm trên, kho dưới gọn gàng,

20- Đầy lên tới nóc lúa vàng thơm tho.

Thân lam lũ trời cho sức mạnh,

Tính siêng năng không tránh khó khăn.

Suốt đời cực nhọc vì dân,

Chỉ mong thiên hạ tấm thân an nhàn.

25- Riêng mình chi xá lầm than…

         TRƯỜNG GIANG




THƠ: THƯƠNG TIẾC BÀ MAI ANH – Cao Mỵ Nhân & Thơ Họa Của Thi Hữu

Bà Mai Anh

THƯƠNG TIẾC BÀ MAI ANH

(Xướng)

Vô cùng thương tiếc bà Mai Anh

Nhân dáng ôn nhu, tính khí lành

Một thủa tham gia làm việc thiện

Nhiều lần tới hội góp công thành

Ngữ ngôn thuần hậu khi giao tiếp

Đạo hạnh khiêm cung lúc đấu tranh

Phụng sự gia binh trên đất nước

Phu nhân Tổng Thống đẹp phương danh …

Los Angeles 18 – 10 – 2021

Cao Mỵ Nhân

***

NGÀN THU VĨNH BIỆT ĐỆ NHẤT PHU NHÂN MAI ANH

(Họa)

Tin buồn Đệ Nhất Phu Nhân Anh

An giấc ngàn thu chốn đất lành

Cuộc sống hiền lương hằng đẹp tốt

Kiếp đời nhân ái mãi toàn thành

Nghĩa tình xử thế luôn hòa hoãn

Đạo đức giao du chẳng cạnh tranh

Yêu nước thương dân câu nhật tụng

Thành công hội nhập với thành danh.

Toronto 18/10/2021

Nguyên Trần

Viết với cả tấm lòng thành

***

RẠNG NGỜI THANH SỬ

(Họa)

Chẳng dòng thế phiệt cũng trâm anh

Đất Mỹ Tho cây trái ngọt lành

Thương nước, hòa bình chưa hiển hiện

Vì dân, công đức đã viên thành

Chăm lo nghĩa tử nơi trường học

Ủy lạo tiền đồn giữa chiến tranh

Đệ Nhất Phu Nhân hằng sống mãi

Rạng ngời thanh sử vẫn lưu danh

Nguyễn Kinh Bắc

Cape Cod 10/21/21

***

NIÊM THỨC HƯ KHÔNG

(Họa)

Các đài một thuở…cửa Trâm Anh

Cửu thập vân du hưởng phước lành

Nhất phận vẹn lòng, trang thục nữ

Hai Thân ấm dạ, bậc sinh thành

Giao tình luôn giữ tâm từ thiện

Vận thế phai lòa khói chiến tranh

Về cõi Niết Bàn an Nước Chúa

Riêng niềm,…chôn chặt lẽ công danh(!)

21-10-2021

Nguyễn Huy Khôi

***

KÍNH TIỄN BÀ MAI ANH

(Kính họa )

Đôi dòng kính tiễn Nguyễn Mai Anh

Đệ Nhất Phu Nhân tính thiện lành

Một thuở trợ nghèo ban ý đẹp

Nhiều năm giúp khó trải lòng thành

Uy nghi đức cả khi bình lặng

Điềm đạm tâm từ buổi chiến tranh

Tổng Thống chờ bà nơi nước Chúa

Sử trần ghi chép bậc hiền danh

Phương Hoa – OCT 21st 2021

***

Thương Quý Bà Mai Anh

(Họa)

Đệ nhất phu nhân bậc thiện lành

Buông trần tạ thế mệnh Mai Anh

Bao thời bởi nước nguyên lòng tận

Một thủa vì dân trọn ý thành

Bác ái tâm hoà đầy nhiệt cảnh

Hiền từ nghĩa thắm khó tài tranh

Mẫu nghi xứng đáng cùng thiên hạ

Hậu sẽ lưu truyền sử đẹp danh

           Minh Thuý Thành Nội

              Tháng 10/24/2021     




KHÓC BẠN

Ấu Oanh

“Bác Dương thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta…”

Từ thuở ấu thơ, anh em chúng tôi đều được mẹ ru bằng bài thơ Khóc Bạn của cụ Tam nguyên Yên Đổ khóc ông cố nội chúng tôi là cụ Nghè Dương Khuê. Bài thơ trở thành bài ca dao nằm trong ký ức tôi từ ngày đó, hơn 40 năm sau lại bật ra như những lời nhớ thương tha thiết của tôi với người bạn thân: Vũ Hoàng Oanh. Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê lúc tuổi đời đã xế chiều nên nỗi nhớ chỉ là ngậm ngùi, còn tôi khóc bạn khi tuổi đời chưa tới 50 là cái khóc xót thương vô hạn.

Ngày còn học Trưng Vương thì Oanh học trên tôi một lớp. Chúng tôi chỉ biết nhau nhưng chưa phải là bạn. Mãi đến khi thi vào trường Sư Phạm, vô tình làm sao, hai đứa trùng tên nên có số báo danh kế nhau. Gặp nhau ở trường thi, lại ngồi cạnh nhau thì không quen cũng thành quen huống chi chúng tôi cùng là dân TV lại biết nhau từ trước. Dĩ nhiên hai đứa tôi mau chóng kết hợp với nhau, cóp qua cóp lại bài nhau nên kết quả là hai đứa cùng đậu và còn được xếp chung vào một lớp. Tôi và Oanh trở thành bạn thân từ đấy.

Oanh không đẹp nhưng dễ thương với đôi má bầu bĩnh, đôi mắt hơi đượm buồn, lúc nào cũng như vướng vất một câu hỏi gì chưa được giải đáp.Nhưng điều mà bạn bè nhớ nhất ở Oanh là tính tình đôn hậu, chiều bạn và tử tế với mọi người.

Đời học trò, dẫu rằng lớp học trò này đang chuẩn bị làm người lớn, vẫn có biết bao niềm vui nỗi buồn non trẻ để chia sẻ cùng nhau. Đôi khi thấy bạn bè có người yêu đến đón hoặc ghé thăm, đôi mắt hỏi han cuả Oanh chợt tối lại, vương một chút buồn bã. Tôi gạn hỏi, Oanh chỉ lắc đầu, nhiều lần sau nữa, chẳng đặng đừng, Oanh cười mỉm chi đáp “Nhớ bồ” “Thế bồ đâu rồi” “Bồ thuộc người khác rồi”, rồi nhanh chóng Oanh lảng ngay “Thôi khỉ ạ, đừng hỏi nữa, chuyện xưa rồi”.

Thời gian trôi thật nhanh. Gần đến ngày ra trường, chúng tôi gấp rút học thi và ráo riết chuẩn bị các bài thi thực tập. Một hôm, gặp phải bài thi hóc búa, tôi hỏi mượn Oanh một bài mẫu vì Oanh rất chăm chỉ trong việc sưu tầm các bài dạy mẫu, còn tôi là con cháu họ lười nên rất chểnh mảng. Oanh đang hí hoáy viết nên bảo “Mở cặp ra, ngăn bên trái đó”. Tôi mở cặp lục lọi. Bài mẫu chẳng thấy đâu, tôi vớ ngay được một lá thư. Quên béng ngay bài dạy, tôi len lén kéo nhẹ tờ thư ra khỏi bao và liếc thật nhanh vài giòng. “Ồ, thư tình”, tôi thầm kêu trong đầu. Vừa lúc đó Oanh quay sang, thấy vậy, Oanh vội vã quăng ngay cây bút, soài người giựt lại lá thư, miệng la bài hải “Ố́í, ối, trả đây, trả đây”. Lá thư không dài và cũng không có những lời lẽ yêu đương hoa mỹ nhưng đọc thì biết ngay đó là thư tình, thư tình cuả một nhà văn. Ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ cuả một người viết văn thì có muôn ngàn cách để bày tỏ tình yêu. Tôi mừng thấy bạn bẽn lẽn cất lá thư. Một chút ửng hồng trên đôi má bầu bĩnh… Từ đó tôi thấy Oanh hay cười hơn.

Trong khi chờ đợi kết quả sắp hạng ra trường, chúng tôi phải đi khám sức khoẻ tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Hôm đó Oanh chở tôi bằng chiếc Vélo Solex mượn được. Chỉ còn cách bệnh viện khoảng 100m thì bất ngờ xe đang chạy ngon trớn bỗng đâm xầm vào một đống đá xanh đổ ngay giữa lòng đường. Xe mất thăng bằng đổ ập xuống, quăng hai đứa chúng tôi ra hai nơi. Lúc đó tôi đang có thai cháu đầu lòng khoảng 4 tháng. Hốt hoảng, Oanh bật dậy lao ngay về phía tôi mà không thấy rằng 1 đầu gối quần bị rách để lộ vết thương rướm máu và 1 bàn tay bị đá xanh đâm nát máu thấm đỏ cả. Oanh lính quýnh ôm nâng tôi dậy, mặt tái mét, miệng líu lại “Oanh, Oanh có sao không? Có đau bụng không?” Tôi tuy cũng rất lo sợ cho cái thai nhưng thấy Oanh quá lo lắng cho tôi, tôi thấy lòng cồn cào thương bạn nên vội trấn an “Mình không sao, đừng lo. Thôi mau nhấc xe dậy, vào ngay bệnh viện nhờ họ băng bó cho Oanh”.

Ra trường, tôi về dạy ở Gia Định, còn Oanh xuống Biên Hoà. Như một xui khiến của số mệnh, người yêu của Oanh, nhà văn Dương Hùng Cường, còn có bút hiệu là Dê Húc Càn đồng thời là một quân nhân cũng đang làm việc tại phi trường Biên Hoà. Họ đã được gần nhau, cuộc tình dẫn đến kết cuộc tốt đẹp là cái đám cưới vào năm 1964. Năm sau, 1965, Oanh sinh cháu đầu lòng Dương Mạc Thi rồi tiếp theo Oanh sinh liền 7 cô công chúa trong vòng 10 năm. Khi anh Cường đổi về làm việc tại Sài gòn thì Oanh cũng được thuyên chuyển về dạy học taị trường Hồng Bàng (sau năm 1975 thì dạy tại trường Hùng Vương, cùng thuộc quận 5). Chúng tôi lại có dịp gần gũi nhau.

Vào khoảng năm 74 tôi thấy Oanh ngoài giờ dạy ở trường công còn dạy thêm ở 2 trung tâm tư nữa. Thấy tôi thắc mắc sao Oanh dạy quá nhiều, không còn thời giờ dành cho các con nữa thì Oanh tâm sự: “Ông Cường giành phần chăm mấy đứa nhỏ. Ông ấy bảo, ổng ru con hay hơn mình”, rồi Oanh xuống giọng “Mình phải dạy thêm lấy tiền cho ông Cường in truyện”.

Nói là chăm sóc con chứ thật ra thì lúc đó gia đình nào cũng có người giúp việc, lo cơm nước, giặt giũ, bế bồng trẻ nhỏ rồi. Tôi thông cảm với Oanh vì thời gian đó, lương hai vợ chồng gom lại, dẫu rằng anh Cường còn viết báo thêm cũng chỉ đủ chi tiêu cho một gia đình mười mấy miệng ăn mà thôi. Muốn in sách truyện, Oanh phải cật lực giúp chồng.

Thế là bao nhiêu tiền bạc dành dụm được đều đổ dồn vào việc cho ra đời đứa con tinh thần “Vĩnh biệt Phượng”.

Thương thay, sách vừa xuất xưởng, chưa kịp phân phối ra ngoài thì ngày 30 tháng 4 như một cơn cuồng phong ập đến, xoá tan hết bao ước mơ, bao xây đắp cuả cả một miền Nam thân yêu trong đó có 2 gia đình chúng tôi. Ông xã tôi cũng như anh Dương Hùng Cường đều trở thành tù nhân cuả chế độ mới và 2 gia đình chúng tôi trở thành những nạn nhân như trăm ngàn gia đình quân nhân công chức chế độ cũ, luôn luôn bị soi mói, rình rập, theo rõi, lúc nào cũng sống trong phập phồng, lo lắng, sợ sệt… Với đồng lương chết đói, chúng tôi vẫn phải cố bám vào trường lớp để khỏi phải bị đuổi đi vùng kinh tế mới. Hai đứa tôi cùng chia nhau cái ngậm ngùi cuả số phận. Oanh 7 con và tôi 6, gia tài chỉ là hai bàn tay trắng với cõi lòng đầy ắp âu lo. Chúng tôi càng gắn bó với nhau hơn. Hai đứa lăn lưng ra làm đủ mọi việc

Thoạt đầu là bán sách. Lúc bấy giờ chủ trương của chế độ mới là thiêu hủy hết số sách báo của miền Nam được gọi là văn hoá đồi truỵ, tàn dư Mỹ ngụy. Chúng tôi lại thuộc các gia đình văn nghệ sĩ, càng bị để ý, bị lục xoát thường xuyên hơn. Nếu trái lệnh sẽ bị ghép vào đủ thứ tội tình. Để được yên thân nuôi con và cũng là để che mắt thế gian, chúng tôi gom góp hết số “tàn dư Mỹ ngụy” trong nhà, nhờ người quen dẫn giắt lên chợ sách Nguyễn Huy Thiệp bày bán. Nhìn những cuốn sách mình từng nâng niu yêu quý từ từ đội nón ra đi, lòng tôi bùi ngùi khôn tả. Cầm cuốn “Chạy trốn Tự do” mà ông xã tôi mới dịch trước đó không lâu, tôi thầm tự hỏi: “Tại sao laị dịch cuốn sách mang cái tên oan nghiệt này?” Cuốn “Vĩnh Biệt Phượng” cuả anh Dương Hùng Cường cũng cùng chung số phận, phơi mặt trên 1 tấm ni lông trải dưới mặt đường con phố NHT. Tôi và Oanh thủ 2 cái nón rộng vành, hễ liếc xa xa thấy người quen kẻ thuộc hay bạn bè gần xa cuả chồng thì lập tức cái nón được kéo sụp xuống. Ôi thời thế có ai học đến chữ ngờ!

Một hôm vào khoảng xế trưa, hai đứa đang ngồi vêu ra thì một cháu gái cuả Oanh đạp xe lên tìm mẹ, báo tin em bé út vừa phải vào nhà thương. Khi đó cháu Dao Tiên mới non 1 tuổi. Oanh hốt hoảng ra về. Hôm sau, rồi hôm sau nữa cũng không thấy Oanh lên tôi đoán chắc Oanh phải ở trong bệnh viện với con. Ba, bốn hôm sau Oanh trở lại, cặp mắt còn sưng, oà khóc, nói “Oanh ơi, cháu Dao Tiên mất rồi. Cháu mất vì thiếu dinh dưỡng, vì đói ăn đó Oanh ạ!”

“Nghề” bán sách cuả chúng tôi do thời cuộc mà tự sinh thì cũng do thời cuộc mà tự diệt. Ch́úng tôi học quấn thuốc lá, vào bao rồi đem vô Chợ Lớn bán nhưng cũng chẳng được bao lâu thì chợ thuốc lá cũng bị càn quét. Tôi nhờ biết may vá từ nhỏ nên quay ra may quần áo con nít đem giao các chợ, còn Oanh thì đi bỏ mối bánh kẹo cho các căn tin trường học. Cứ thế, chúng tôi lần hồi sống qua ngày.

Ngoài lúc đi kiếm cơm, chúng tôi còn rủ nhau đi kiếm chồng tù. Hai năm trời biền biệt không chút tin tức, chúng tôi lo sợ cho số phận các ông chồng. Dò la, thăm hỏi chẳng có kết quả, chúng tôi đánh bạo rủ nhau lên tận ban Quân quản Thành phố để hỏi han. Câu trả lời cũng chỉ như bao nơi khác: “Cứ yên tâm chờ đợi”. Cuối cùng thì cuối năm 1977 cũng có tin về sau hơn 2 năm kể từ ngày các sĩ quan cuả chế độ cũ nghe lời đường mật “Chuẩn bị đồ ăn uống và vật dụng cá nhân trong vòng 10 ngày để đi trình diện”. Ông xã tôi bị nhốt ở trại Hàm Tân, còn anh Cường thì ở Long Khánh. Cứ 3 tháng chúng tôi được phép thăm nuôi tiếp tế thức ăn và thuốc men 1 lần. Hai đứa lại có dịp chỉ bảo nhau làm món gì để được lâu, thuốc nào cần nhất v..v.. để mang lên trại.

Tôi còn nhớ thời gian đó, mỗi chiều tối, sau giờ tan trường, Oanh thường ghé tôi, có khi ở đến tận khuya. Các con Oanh ở nhà đã có cô cháu gái mà Oanh cưu mang từ sau năm 75 chăm nom cơm nước. Chúng tôi ngồi bên nhau chia sẻ mọi điều. Tôi hiểu Oanh nhiều nỗi lo lắng vì nợ nần thúc giục mà không có phương cách giải quyết. Tôi đỡ hơn Oanh một chút là tôi còn có mẹ. Đôi khi hai đứa ngồi bên nhau hàng giờ mà chẳng nói với nhau một tiếng nhưng chúng tôi đều hiểu rằng chúng tôi đang chia nhau nỗi sầu khổ âm thầm.

Một hôm, khoảng sau Tết năm 1978 Oanh ghé tôi theo lệ thường, nhưng hôm đó vẻ mặt Oanh rất bần thần, ngồi hoài không nói. Tôi hỏi:

– Hôm nay Oanh có chuyện gì không mà như mất hồn vậy?

Oanh vẫn ngồi yên không nói. Tôi đứng dậy rót cho bạn 1 ly nước, đến ngồi gần bên ân cần:

– Có việc gì hả Oanh?

Sau một phút ngập ngừng, Oanh nói khẽ thật khẽ như sợ có ai nghe thấy:

– Ta nói cái này, đừng giật mình nhé…Mình có bầu.

Tôi giật thót mình, hai lỗ tai lùng bùng.

– Oanh nói gì? Ai có bầu?

– Mình.

– Hả?

– Mình có bầu thật đấy, vừa đi khám bác sĩ về xong.

Tôi trân trối nhìn Oanh, vẫn không tin ở hai tai mình. Biết vậy, Oanh mới tỉ tê khai:

– Hôm Tết rồi đi thăm ông Cường, trại cho ở lại một đêm…

Tôi thở phào như trút được cho chính mình gánh nặng nghìn cân. Oanh nói tiếp:

– Oanh ơi, dẫn mình đi phá đi, mới được khoảng hai tháng thôi, phá chắc dễ.

Tôi ngỡ ngàng hỏi lại:

– Phá? Sao lại phá?

– Chứ để thì làm sao coi được. Ai đời cô giáo có chồng đi tù mà lại mang bầu. Đâu có ai hiểu…

– Thì nói ra cho mọi người biết.

– Ai tin? Bạn bè, rồi còn học trò nữa chứ. Eo ôi, nghĩ đến là ta rùng mình rồi.

Tôi chợt thấy Oanh có lý. Ừ, ai mà tin nổi, nhất là thời buổi này. Toàn ban giám hiệu đều là người cách mạng, họ sẽ có cớ để bêu riếu, để bôi tro trát trấu lên đầu lên cổ vợ con “ thằng ngụy”. Tôi thở dài:

– Ừ, để mình tính xem.

Nói vậy cho Oanh yên lòng chứ thật ra tôi cũng chẳng biết tính làm sao. Tối đến, trong bữa cơm gia đình, tôi nói chuyện với mẹ tôi về việc Oanh muốn tôi chia sẻ.

Mẹ tôi bảo:

– Ngày mai Oanh có ghé, con gọi mẹ, mẹ hỏi cô ấy một tí.

– Mẹ hỏi gì hả mẹ?

– Có phải Oanh toàn con gái không?

– Vâng, 7 đứa, bỏ 1 còn 6, toàn là gái cả.

– Mẹ muốn tính xem lần này có bầu, Oanh sẽ sinh trai hay gái.

– Trai hay gái thì thay đổi được gì hả mẹ. Cũng bia miệng mà thôi.

– Mình sẽ nghĩ cách giùm cô ấy. Vả lại, vì sợ bia miệng mà phá bỏ đi một đứa con của mình thì sẽ mang tội con ạ.

Mẹ tôi đặc biệt có một cách tính rất tài tình để biết người mẹ sẽ sinh trai hay gái. Cụ có dạy cho tôi một bài toàn chữ Hán, tôi học mãi không thuộc (vì mình có biết tí teo chữ Hán nào đâu). Tôi đã chép vào 1 cuốn sổ để dành nhưng qua hết đợt bố ráp này đến đợt bố ráp khác nó đã không cánh mà bay.

Dẫu rằng cả Oanh và anh Cường đều không mang tư tưởng “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” nhưng cha mẹ nào mà chả mong ước mình có đủ cả trai lẫn gái.

Sau khi gặp mẹ tôi, Oanh mừng lắm, không còn nghĩ đến việc phá thai nữa vì tin tưởng rằng lần này sẽ sinh được một quý tử.

Thông thường, cứ mỗi đầu tháng, các giáo viên chúng tôi đều phải họp toàn trường để kiểm điểm công việc dạy và thực hiện các chỉ thị của Phòng hoặc Sở giáo dục. Tôi xúi Oanh trong phiên họp kỳ này lấy cớ báo cáo 1 công việc gì đó rồi bôi mặt cám ơn nhà nước đã cho chúng tôi được gặp mặt, tiếp tế cho chồng ở trại giam lại còn gia ân cho ở lại trại 1 ngày 1 đêm nhân dịp Tết vừa qua nữa. Việc đó quả nhiên hiệu nghiệm. Oanh tuy bị trêu chọc song đã thoát được cơn hiểm nguy. Cũng may mắn cho Oanh, chỉ vài tháng sau khi cái bụng bầu của Oanh lộ rõ thì anh Cường được về.

Một hôm tôi vừa từ chợ về nhà thì đã thấy anh Cường ngồi đợi. Không kịp để tôi hỏi han câu nào, anh đã vào đề liền:

– Oanh sinh rồi chị, ở Bệnh viện Hùng Vương, con trai.

– Ồ, chúc mừng anh. Chắc là Oanh vui lắm. Kỳ này hai ông bà có quý tử, phải ăn mừng thôi

Không trả lời câu nói đùa của tôi, anh chìa ra mảnh giấy cỏn con nói:

– Oanh gửi chị cái này.

Tôi vội vàng mở mảnh giấy đọc “Oanh ơi, cứu bồ, cho mình mượn 50 đồng để đóng tiền bệnh viện nhé”.

Tôi vừa đi giao hàng về nhưng cũng chỉ có trong tay 30 đồng. Tôi vội vã đạp xe lại ngay nhà chị bạn cùng trường. Tuy chẳng giầu có gì nhưng chị tương đối khá giả hơn chúng tôi vì những tháng ngày xa xưa trước 75, chị là con kiến biết lo xa, ki cóp mua vàng để dành, (trong khi tôi lại là con ve, kêu ra rả hết muà hè, chỉ biết rong chơi ca hát, cho nên khi đông về thì đói rã răng). Chị lại có lòng tốt nên bạn bè khi cơ nhỡ chị đều sẵn sàng san sẻ.

Trao cho anh Cường năm chục bạc xong, tôi biết ngày mai không có tiền chợ cho con song trong lòng vẫn vui vì mừng cho bạn, càng mừng hơn vì thấy cách tính của mẹ tôi thật chính xác, không làm cho Oanh mừng hụt. Nhưng người mừng nhất ắt hẳn là anh Dương Hùng Cường. Anh đặt tên cho cháu là Phụng Hoàng, Dương Phụng Hoàng, con chim quí.

Khoảng 3,4 năm sau khi ra tù, anh Cường liên lạc được với nhà văn Trần Tam Tiệp đang cư ngụ tại Pháp xin lên tiếng kêu gọi Văn Bút Quốc Tế can thiệp và giúp đỡ cho một số các gia đình văn nghệ sĩ Miền Nam còn kẹt lại quê nhà, đang gặp rất nhiều khó khăn cả về 2 mặt vật chất lẫn tinh thần. Ít lâu sau đó, mỗi năm gia đình chúng tôi nhận được từ 1 đến 3 thùng thuốc tây gửi từ Pháp về (nhưng có lẽ đó là do chính tiền cuả anh TTTiệp, chứ không phaỉ của VBQT). Song song với thùng quà đôi khi còn có cả 1,2 tờ báo Kháng Chiến nữa. Rồi anh bảo anh em bên nhà viết bài gửi sang. Những thùng quà tuy ít ỏi này cũng đã giúp được gia đình chúng tôi qua những cơn vô cùng bĩ cực. Nhưng oan nghiệt thay, cũng chính những thùng quà này lại đưa chồng tôi, Khuất Duy Trác, anh Dương Hùng Cường và một số các văn nghệ sĩ khác như các nhà văn Dzoãn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thuỷ, Hiếu Chân, các nhà thơ Lý Thụy Ý, Trần Ngọc Tự… vào tù lần thứ hai. Bọn Công an thành phố còn viết nguyên một cuốn truyện đầy tính bịa đặt và vu cáo có tên Những Tên Biệt Kích Cầm Bút, hòng bôi bẩn và hạ giá nhóm văn ngệ sĩ trên, sửa soạn dư luận cho một bản án thật nặng nề. Chúng đem giam một số tại nhà giam Chí Hoà, số còn lại tại trại giam Phan Đăng Lưu, có ông xã tôi và anh Cường. Oanh và tôi lại có cùng một địa chỉ để tới lui. Số phận chúng tôi cứ gắn chặt với nhau trong những hoàn cảnh nghiệt ngã như vậy.

Do từ việc bỏ bánh kẹo cho các căn-tin trường học, Oanh lần hồi biết được cách thức để đấu thầu toàn bộ cả căn-tin cuả mỗi trường. Oanh rủ tôi làm công việc này. Thế là hai chúng tôi cùng khởi sự tại một ngôi trường Tàu trong Chợ Lớn. Sau này rành rẽ rồi thì mỗi đứa làm ở mỗi trường khác nhau.

Cứ vào cuối mỗi năm học, giáo viên các trường đều phải điều chỉnh lại tờ lý lịch đã khai từ những ngày đổi đời 30/4/75. Năm 1980, con gái thứ hai của tôi đi vượt biên, tôi không khai. Đến khi ông xã tôi bị bắt lại lần 2 tôi cũng không khai. Ban giám hiệu nhà trường chắc hẳn không biết nên tôi vẫn được yên thân. Bất ngờ, vào đầu năm 87, hiệu trưởng mời tôi lên nói chuyện. Bà hỏi han tôi về tình hình gia đình, chồng con, công việc v..v.. và cuối cùng bà hỏi tôi có up to date lý lịch đầy đủ cho mỗi năm không. Tôi manh nha thấy điều gì đó không ổn. Tuần lễ sau tôi xin nghỉ bệnh và tuần kế tiếp tôi tống tiếp lá đơn xin thôi việc. Ở thời điểm này, chiến dịch tống khứ gia đình vợ con tù cải tạo đi kinh tế mới đã chấm dứt vì hoàn toàn thất bại. Từ các vùng kinh tế mới, biết bao gia đình đói rách tả tơi, bệnh hoạn, người sống kẻ chết, lũ lượt kéo về thành phố, nằm la liệt tại các công viên, chợ, nhà thờ, chùa…chính quyền không thể xua đuổi vì họ không còn nơi chốn để dung thân nữa. Do đó tôi không còn lo sợ vì phải lên rừng lập nghiệp. Lại nữa tống khứ đi được một con vợ “ngụy”, cũng nhẹ gánh lo cho ban giám hiệu nên họ nhận đơn mà không hỏi han gì cả.

Thời gian này rộ lên rất nhiều tin tức về việc Mỹ sẽ đón các sĩ quan QLVNCH bị tù cải tạo. Tuy rằng chỉ là tin đồn miệng, chẳng có một nguồn xác thực nào nhưng chúng tôi vẫn cứ nuôi hy vọng trong lòng để tiếp tục sống và tiếp tục chịu đựng.

Một ngày đầu tháng 12 năm 1987, lúc đó khoảng 2-3 giờ trưa tôi đang ở nhà thì cô cháu gái cuả Oanh đến, mặt mũi phờ phạc, nói như đứt hơi: “Cô ơi, chú Cường mất rồi, cô con đang xỉu ở nhà, cô xuống mau đi cô”

Khi tôi bước chân vào đến nhà thì thấy Oanh đang vật vã vừa khóc vừa gào: “Tôi không sống một mình đâu, trời ơi là trời. Anh Cường ơi, em không sống một mình đâu!!” Tôi ôm lấy tấm thân gầy guộc của bạn, lòng đau xót từng cơn và nước mắt cứ mặc tình tuôn chảy… Không biết bao lâu sau, khi kêu gào đã quá mệt, tôi đỡ Oanh nằm xuống giường rồi bảo với các con Oanh: “ để yên cho mẹ nghỉ một chút”.

Hàng xóm xung quanh nghe tiếng khóc, vài ba người lấp ló ngoài cửa.

Bình tâm trở lại, tôi hỏi thăm cháu Linh, cháu tỉ tê kể: “Sáng nay cháu ở nhà, công an khu vực tới đòi gặp mẹ. Cháu bảo mẹ đang dạy ở trường, anh ấy nhắn bảo mẹ ra phường gấp có giấy báo cuả bố. Khi cháu ra trường bảo cho mẹ biết thì mẹ vẫn nghĩ là tin mừng. Mẹ bảo chắc bố được thả…ồ, hay là…Mỹ đón. Mẹ bảo cháu về trước, chuẩn bị đồ vest cho Bố. Đến khi hai mẹ con ra đến phường nhận giấy mới vỡ lẽ…Họ bảo sáng ra đến giờ tập họp, không thấy bố ra, đến đập cửa phòng cũng không thấy bố cháu trả lời, họ mở khoá ra thì thấy bố cháu đã mất rồi.”

Oanh được phép đến trại giam Phan Đăng Lưu để nhận diện xác chồng trước khi được phép chôn cất. Đám tang phải làm gấp ngày hôm sau và chỉ cho 2 người mang áo quan vào lấy xác tại khám Chí Hoà mà thôi. Hôm sau tôi đi cùng với Oanh nhưng phải ngồi chờ ngoài gốc cây trước cổng trại cùng với các con nhỏ cuả Oanh. Số bạn bè và họ hàng thân thuộc đến đưa tiễn đều không được tập trung một nơi mà phải phân tán rải rác dọc theo con đường Hoà Hưng, chờ đợi khi xe tang ra đến đầu đường rồi mới được tháp tùng theo. Ôi, quân Cộng sản sao mà độc ác. Người sống chúng không tha đã đành, người chết chúng cũng không cho chôn cất tử tế…Huyệt mộ đã lấp lại rồi nhưng Oanh vẫn đứng trơ trơ như một bức tượng. Nước mắt đâu?

Có lẽ nó đã chảy ngược vào lòng. Tôi chợt nhớ đến bài thơ “Đi nhận xác chồng” của Lê Thị Ý:

Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu

Thật tội nghiệp cho bạn tôi. Cũng thật tội nghiệp cho những người phụ nữ trót sinh ra trong thời đại chúng tôi.

Vết thương tang chồng chưa ngưng chảy máu thì 3 tháng sau Oanh lại phải rứt ruột đẩy đứa con gái đầu lòng thân yêu, Dương Mạc Thi, ra đi trong một chuyến vượt biển với bao bất trắc chờ đợi. Than ôi, đó cũng là lần cuối cùng Oanh nắm đ̣ược bàn tay nhỏ bé cuả con: chuyến tàu chở cháu Thi đã không bao giờ tới bến. Chỉ trong vòng 4 tháng Oanh đưa hình hai người thương yêu nhất đời mình lên chùa…

Rồi dòng đời lại tất bật trôi đi. Oanh vội vã bịt kín những vết thương, giấu chặt nó vào tận cùng trái tim để ngày ngày phải đối mặt với những cam go của cuộc sống, với tương lai cuả bầy con còn lại. Thời gian sau này chúng tôi ít gặp nhau hơn vì mỗi đứa thầu riêng mỗi trường mà công việc thì quá đa đoan, tất bật, cần đến rất nhiều thời gian, Oanh lại vẫn theo đuổi công việc dạy học.

Mùa hè năm 1989, giữa chúng tôi có vài chuyện không vui, tôi giận Oanh. Biết mình không đúng, xin lỗi tôi không xong, Oanh nhờ một cô bạn khác đến năn nỉ, tôi vẫn gan cùng mình không chịu làm hoà. Gần 2 tháng trời chúng tôi không gặp nhau. Một buổi trời đã chạng vạng tối, một anh bạn tù cuả ông xã tôi, hốt hoảng đến báo tin Oanh bị đụng xe, đã đưa vào bệng viện Trưng Vương, nhưng tình trạng hình như không được ổn. Tôi tức tốc vào thẳng nhà thương trong tâm trạng rối bời và thật hồi hộp.

Oanh nằm đó, bất động, đôi mắt đã khép lại vĩnh viễn…Tôi bật lên khóc nức nở, nắm lấy tay bạn, sờ lên mặt bạn, vuốt trên người bạn, tôi muốn gào lên “Oanh ơi. Oanh ơi, mình đây, mình đang ở bên Oanh đây, mình không còn giận Oanh nữa đâu, tỉnh dậy đi Oanh ơi!!!” Tôi đưa tay bứt mớ tóc trên đầu xem mình có thật sự tỉnh không, có phải đây là sự thật không…Nỗi hối hận trong tôi trào lên, tôi giận tôi, tôi ghét tôi, tôi là con bạn tồi, sao tôi cố chấp thế…Tuy đã cố dằn vì chỗ đông người, cổ họng tôi vẫn bật lên tiếng gọi “Oanh ơi. Oanh ơi. Dậy đi, mình thương Oanh lắm, có nghe mình nói không?”

Tôi ngồi bên Oanh như thế, nước mắt tiếp tục chảy không thôi, biết bao điều muốn vuột ra khỏi trái tim nên lồng ngực đau thắt… Lâu lắm, chợt nghe tiếng bà dì Oanh nói “Cô phụ tôi thay quần áo cho Oanh nhé. Người bây giờ còn mềm, thay dễ”.

Tôi nâng đầu Oanh dậy tay chạm ngay vết thương sau ót, máu còn dính bết vào tóc. Đến lúc thay áo lại phát hiện ra phần dưới cũng bị thương, hình như vỡ xương hông thì phải. Ôi, đau đớn biết bao!

Mãi sau này các cháu con Oanh mới kể rằng, sáng hôm đó, một cậu nhỏ mới quen đến chở Oanh về Thủ Đức để đi hỏi vợ giùm cho cậu ta. Buổi chiều, trên đường về, đã gần đến nhà, đang băng qua con lộ Lý Thường Kiệt để vào ngõ thì bị một xe hơi do người tài xế say rượu đâm phải.

Oanh là thế đấy, hay làm chuyện bao đồng để giúp người.

Oanh mất đi bỏ lại bầy con 5 đứa. Con chim quý, Phụng Hoàng, của vợ chồng Oanh sinh bất phùng thời, mới 10 tuổi đầu đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhưng như một định luật bù trừ, hai con lớn cuả Oanh tiếp tục công việc của mẹ, không những đã duy trì được mức sống đầy đủ cho gia đình mà các cháu còn dìu dắt nhau học hành tới nơi tới chốn nữa. Nếu người ta tin có linh hồn thì chính linh hồn người Mẹ, day dứt lúc ra đi đã quay trở lại thế gian này để phù trợ cho các con vươn lên trong cuộc sống.

Hôm nay ngồi viết những dòng hồi tưởng này về một phần đời không nhỏ của bạn tôi, Vũ Hoàng Oanh, người phụ nữ tâm tính hiền lành, hay giúp đỡ người khác nhưng số phận cay nghiệt đã dành cho cuộc đời bao tang thương, oan trái. Khi sống, tâm tư luôn mòn mỏi vì lo toan cơm áo, còn mang nặng những vết thương không cơ hàn gắn. Đến lúc lià đời, lại ra đi trong một cơn mê khốc liệt với thân thể đớn đau, với cõi lòng đứt đoạn vì bầy con thơ dại.

Oanh ơi, những dòng hồi ức hôm nay cũng còn là những nén hương muộn màng mình thắp lên để nhớ đến Oanh, nhớ đến một quãng đời hai chúng ta cùng chung bước trải dài từ tuổi học trò cho đến khi vĩnh biệt.

Ngủ đi Oanh, hỡi bạn hiền,
Ngủ cho say nhé, triền miên giấc nồng
Chuông chùa vọng giữa thinh không
Đưa hồn an lạc về vùng tịnh yên.

Ấu Oanh
Hai mươi năm, ngày giỗ bạn, 21.6.1989 – 21.6.2009

Tiểu sử nhà văn Dương Hùng Cường

Sinh ngày 1-10-1934 tại Hà Nội, gia nhập Không Quân thụ huấn cơ khí viên tại Pháp năm 1953, trở thành hạ sĩ quan cơ khí phục vụ tại nhiều đơn vị. Từ giữa thập niên 1960 phục vụ tại Phòng Tâm Lý Chiến Bộ Tư Lệnh Không Quân với cấp bậc Chuẩn Úy. Là một cây bút nổi tiếng trong giới văn nghệ, báo chí Sài Gòn, ông có 3 tác phẩm đã xuất bản: Lính Thành Phố, Buồn Vui Phi Trường và Vĩnh Biệt Phượng. Sau năm 1975, bị tù cải tạo tới năm 1979. Năm 1984, bị bắt giam với tội danh gián điệp do viết bài gửi ra nước ngoài và qua đời tại nhà tù T20 Phan Đăng Lưu, Gia Định năm 1987.




MƯA  SEATTLE — VƯỜN  THƯỢNG & BÌNH

rain raining GIF

MƯA  SEATTLE

Seattle mưa sáng, mưa chiều

Mưa trưa, mưa tối…sáng chiều đều mưa

Không mưa trời lạnh có thừa

Mưa nhiều trời ấm, mưa vừa lạnh se

Mưa rơi như bức màn the

Mưa khoe niềm nhớ, mưa che nỗi buồn

Mưa tuôn ướt đẫm mặt đường

Ướt đôi mi…nhớ…con đường ngày xưa

Lá me đổ xuống giống mưa

Saigon ngày ấy cũng mưa sáng chiều

Hoàng Mai Nhất

VƯỜN  THƯỢNG & BÌNH

Đường về nhà tôi cây xăng đầu ngõ

Kế bên chùa chuông gỏ lúc chiều buông

Nhà của tôi hoa Hồng trồng ngoài cổng

Cúc đủ màu, Thược Dược nở trong sân

Vườn nhà tôi cây Thông có bốn

Bụi Trúc vàng bên cạnh mấy cây Plum

Cuối mùa Thu, Hồng giòn cho trái    

Vườn Thượng Bình, đừng ngại ghé sang chơi  

             
 Hoàng Mai Nhất               




Cầu Nguyện Cho Một Người Hiền Vừa Ra Đi

KIỀU MỸ DUYÊN




Sứ Mệnh Tinh Thần

Yên Sơn

1.
Đang nín thở, nằm bẹp dí trong một góc tối tăm ở một nơi xa lạ để chạy trốn công an Việt cộng thì nghe tiếng dọng cửa ầm ầm. Tôi cố khom mình, nhích sâu thêm một chút vào bóng tối bỗng bị lọt thỏm… xuống sàn nhà, đau điếng! Mở bừng mắt, mồ hôi vã như tắm, tôi thở phào, vui mừng… khi biết mình đang nằm trong phòng khách sạn vừa trải qua một giấc mơ kinh hoàng!

Chưa kịp hoàn hồn thì lại nghe tiếng gõ cửa. “Ai đó?” “cần dọn phòng không?” “Chưa cần”. Đó là mẩu đối thoại với người bồi phòng ở ngoài hành lang. Tôi leo lên giường nằm xuống, cố ngủ thêm một chút nữa nhưng không tài nào chợp mắt được vì những tiếng ồn ào bên ngoài xông vào phòng rất khó chịu. Nhìn đồng hồ bàn thấy đã qua trưa! Tôi lại hoảng hốt bước như nhảy vào phòng tắm, làm vệ sinh rồi sắp xếp công việc phải làm hôm nay. Việc phải làm hôm nay cũng là lý do chính tôi về Quảng Ngãi lần này.

2.
Tôi đã rời xa Quảng Ngãi khá lâu; bây giờ về đây, thấy đâu đâu cũng đều xa lạ, nhưng trong tôi vẫn như bùi ngùi, luyến tiếc một thứ gì đó. Có lẽ tuổi xuân chăng chứ cảnh không cũ và người người đều xa lạ. Quảng Ngãi trong tâm thức của tôi là những hình ảnh thân thương, mộc mạc nhưng diệu kỳ vô cùng. Quảng Ngãi trong tôi là dòng sông Trà, sông Vệ mông mênh; là những con đò ngang mỏng manh; là những bờ xe nước kỳ vĩ; là những tiếng xe ngựa gõ lộp cộp trên đường đá; là những đêm trăng sáng, trời trong bạn bè kéo nhau ra bãi cát ngủ qua đêm. Quảng Ngãi trong tôi là an vui, thanh bình suốt thời tuổi thơ mầu nhiệm… Lòng tôi lâng lâng cảm xúc, bâng khuâng, rưng rức lạ lùng!

Ra khỏi khách sạn, trời nắng chói chang, tính tìm một anh xe ôm để đi đến chỗ cần đến. Vâng, đi về xóm nhỏ thì chỉ có đi xe ôm mới tiện tìm kiếm. Đang lớ ngớ giữa một chỗ xô bồ, phía trước khách sạn Trung Tâm trên đường Lê Lợi, Quảng Ngãi. Có lẽ đây là nơi tụ tập chờ khách của những người chạy xe ôm, xích lô đạp. Họ tụ năm tụ ba tán dóc, đánh cờ, binh xập xám, nói nói cười cười xen lẫn tiếng cãi cọ ồn ào cả một góc phố. Tôi nghĩ cần một tách cà phê trước khi đi. Bước vào quán cà phê bên đường ngồi xuống. Trong lòng xôn xao lạ. Biết là không gian này không phải là sự chọn lựa của tôi. Có bóng dáng của các em bé bán vé số dạo. Tiếng mời chào đủ các âm giọng ba miền đất nước. Đầu óc tôi mụ mị trong không gian hỗn tạp tiếng người, tiếng còi xe; trên tay ôm một chiếc bình sành nhỏ đựng tro cốt của Huệ – một người học trò ngoan hiền- đưa về từ Mỹ.

Vừa ngồi vào bàn thì một đám nhóc bán vé số nhào tới mời chào. Tôi lắc đầu nói không mua mặc dù chúng nó năn nỉ dai dẳng. Tôi ngồi làm thinh, mặt mày nghiêm và buồn được một lúc thì chúng nó bỏ đi. Xong lại có thằng bé đánh giày trờ tới “chú đánh giày không chú”. “Trời đất, chú mang giày thể thao mà đánh nỗi gì?” “Giày thể thao thì đánh theo giày thể thao chú ơi.” “Không đâu cháu, chú cần uống ly nước rồi đi công việc gấp.”

Thằng bé vừa đi thì một bé gái rất nhỏ – có lẽ chừng 5-6 tuổi là cùng – sà đến bên tôi: “Chú mua giùm con ít vé số đi chú?” “Không, chú không mua đâu cháu.” “Chú làm ơn giúp con; mua mấy tờ cũng được. Con cần bán rất nhiều vé số hôm nay vì mạ con đang bệnh, cần tiền mua thuốc!”

Tôi nghĩ tụi nhỏ bán vé số bao giờ cũng có những lý do bi đát để câu khách nên tôi chẳng quan tâm gì lắm. Chỉ khi nhìn kỹ con bé, thấy mặt mũi sáng sủa, xinh xắn nhưng gầy gò, chiếc áo bà ba có hai miếng vá ở khuỷu tay và vai, chân đi đôi dép mòn cả gót làm tôi chạnh lòng! Với số tuổi này đáng lẽ cháu ở nhà vui chơi sao lại tả tơi bán vé số! Nhìn quanh một lượt thấy lũ nhóc bán vé số đều không khác gì nhau mấy nhưng tự nhiên tôi có thiện cảm với con bé này. Không biết vì cái giọng Huế nhỏ nhẹ dễ thương của nó có dự phần trong tình cảm bất chợt này không; đối với trẻ con, nhất là các bé gái bao giờ tôi cũng dành nhiều cảm tình hơn. Tôi dạy con nít hơn 40 năm qua nên tôi rất yêu mến trẻ con; thế nhưng, tuổi đời đã đi qua ngã sáu rồi, tôi vẫn chưa có cơ hội thực tập hai tiếng “ông cháu” mầu nhiệm.
– Chú không mua vé số nhưng chú có thể tặng cháu ít tiền ăn bánh mì được không? Miệng nói tay móc túi lấy ra một ít tiền lẻ đưa cho con bé.
Nó khoa tay từ chối và đi thụt lui vài bước:
– Dạ không được mô chú. Chú mua vé số thì con rất vui. Rất cám ơn chú nhưng con không xin tiền.
– …? Tôi bỡ ngỡ, chưa biết ứng xử sao.
– Mạ con dặn không được lấy tiền của người khác.
– Thì cháu có lấy của ai đâu, chú tự nguyện, kể như tiền chú mua vé số thôi mà?
– Chú mua vé số thì con bán. Còn không mua thì con không lấy mô. Chú mua giùm con một ít đi?
– Chú không thích vé số. Người ta nói trúng số xui lắm!
– Con mới nghe chú nói lần đầu. Chú không mua thì con đi nghe.
Con bé mới chừng ấy tuổi mà đối đáp như người lớn. Nó dợm bước đi, tôi vội vã nắm tay con bé giữ lại:
– Được rồi, được rồi! Chú mua.
Con bé nhoẻn miệng cười dễ thương hết sức:
– Chú mua mấy vé nì?
Thấy con bé cầm trên tay một xấp, tôi hỏi:
– Một tấm bao nhiêu tiền cháu?
– Dạ 10 ngàn!
– Phần cháu lời được bao nhiêu mỗi tấm
– Dạ tám trăm!
– Từ sáng tới giờ cháu bán được bao nhiêu?
– Dạ tệ lắm! Chắc chỉ khoảng hơn 10 tấm thôi!

Trong đầu tôi làm vội một con toán: 10 tấm được 8 ngàn, khoảng 40 xu Mỹ.
– Bán bao nhiêu mới đủ tiền thuốc cho mẹ cháu?
– Dạ không biết nơi, nhưng chắc cần bán nhiều lắm
– Cháu đếm thử cháu còn bao nhiêu tờ?

Con bé mở to đôi mắt có vẻ ngạc nhiên, quẹt ngón trỏ bé tý vào miệng, cắm cúi đếm một hồi rồi ngước lên nói:
– Dạ còn đúng 86 tờ.
– Nếu hết ngày mà cháu bán không hết thì làm sao?
– Cuối ngày phải trở lại đại lý để thanh toán. Số không bán được sẽ bị phạt 10%.
– Vậy làm sao? Bây giờ đã xế bóng?
– Có lẽ con phải bán tới khuya!
– Cuối ngày! Tới khuya!?
Như hiểu ý tôi nó nói liền:
– Dạ cuối ngày là lúc mình đem tới đại lý thanh toán. Con xin người ta tới 10 giờ đêm. Nếu hết sớm thì được về sớm. Chú mua giùm con 10 vé nghe?
– Nếu chú mua hết thì cháu về nhà với mẹ hay đi bán tiếp?
Con bé trố mắt như không tin những gì nó vừa nghe:
– Chú noái thiệt không?
– ….! – Tôi không nói gì, chờ đợi câu trả lời tiếp của nó.
– Rứa thì con sẽ về mua thuốc cho mạ trước rồi tính tiếp. Con bé nói như reo.

Tôi đưa tay đỡ tập vé số trên tay con bé, móc bóp đưa cho nó tờ 50 đô. Nó ngập ngừng một thoáng xong cầm tờ giấy bạc rồi móc cục tiền bó bằng dây thun trong túi đưa hết cho tôi và nói: “đây là tiền thối lại cho chú nè.” “sao cháu chưa đếm mà đưa hết cho chú vậy?” “đó là tiền con bán 14 tấm vé số từ sáng giờ đó.” Tôi đẩy tay nó, bảo giữ luôn không cần thối lại, nó không chịu; nó nhất định chỉ lấy đúng số tiền vé số mà thôi, dù tôi có năn nỉ thêm cũng vô ích. Tôi thầm nghĩ, ở cái xã hội băng hoại, mục nát từ thượng tầng đến các anh công an đứng đường này sao còn có được những tâm hồn lương thiện, đoan hậu như thế! Ước gì những kẻ ăn trên ngồi trốc có được một chút liêm sỉ của con bé này thì đất nước mình, dân tộc mình đâu đến nỗi tang thương, khuất phục như hôm nay! Vừa cảm phục vừa thương con bé quá, muốn ôm nó vào lòng.
Vì thấy nó có vẻ ngập ngừng khi cầm tờ 50 đô nên để chắc ăn, tôi dắt nó qua tiệm vàng kế bên đổi ra tiền VN và đưa cho nó đúng con số nó muốn. Nó đếm lại lần nữa rồi ngước mắt lên nhìn tôi nhỏen miệng cười nói:
– Con đếm lại cho chắc chú không đưa hơn số tiền vé số.
Tôi cười méo vì thương tính nết ngay thẳng và hồn nhiên của con bé; tôi đưa tay xoa đầu tạm biệt con bé với nhiều lưu luyến, và cũng không quên chúc mẹ nó chóng lành bệnh.

3.
Tôi ngoắc một anh xe ôm. Hai anh cùng chạy tới hỏi tôi muốn đi đâu. Tôi nói tôi chỉ cần một anh cho tôi đi về địa chỉ này. Vì không biết hỏi anh nào nên tôi xòe số địa chỉ ghi trên tờ giấy ra giữa. Một anh nói 65 ngàn một chiều. Anh kia nói 45 ngàn… rồi hai anh cãi nhau, “đây chạy tới Mỹ Khê mà 45 ngàn, tính giựt khách người ta hay sao?” “Chỉ chạy tới Tịnh Khê mà đòi chặt người ta 65 ngàn!” “Anh có biết chỗ này gần bãi biển Mỹ Khê hay không?” “Nhưng chưa tới cầu Mỹ Khê, cũng không phải ra bãi tắm!”… Thấy hai người cãi nhau mãi mất thì giờ, tôi chọn anh bạn lấy 45 ngàn. Thật ra 65 hay 45 cũng chỉ thêm $1 USD mà thôi, đâu có bao nhiêu nhưng tôi theo anh 45 ngàn vì thấy anh ta có vẻ thật thà hơn nhiều.
Tôi leo lên xe ngồi sau gợi chuyện:
– Anh nghĩ bao lâu mình sẽ tới nơi?
– Dạ khoảng 45 phút là nhiều.
– Tôi không gấp lắm, anh chạy an toàn là tốt nhất.
– Dạ, vậy cứ đi đường chính theo Quốc lộ 24B là tốt nhất.
– Mình đi đường mới qua ngã Tam Thương phải không?
– Dạ, em sẽ chạy theo Lê Thánh Tôn, rẽ trái đường Đinh Tiên Hoàng, cũng là đường Bà Triệu, qua cầu mới, rẽ phải theo quốc lộ 24B về hướng Mỹ Khê.
– Anh cứ chạy đường nào nhanh và an toàn là được rồi.
– Mà anh tìm ai ở đó vậy?
– Một người quen.
– Em có thể biết tên không, may ra em biết?
– Anh ở vùng đó à?
– Dạ, nhà em ở gần chợ Tịnh Khê, không xa địa chỉ anh sắp tới.
– Anh biết ai tên Phạm Thị Phương Lan, một người đàn bà khoảng tuổi 30?
– Vậy thì xin lỗi, em không biết.

Anh xe ôm khoảng hơn 40 tuổi. Ăn nói lịch sự và có vẻ thành thật. Tôi cảm thấy yên tâm. Trên đường xe cộ tấp nập đủ loại. Anh vừa chạy vừa kể chuyện khi tôi hỏi để mà hỏi “anh có gia đình vợ con rồi chứ?” Có lẽ anh cũng đã biết tôi không phải là người ở đây nên “cạn mạch sầu” thao thao bất tuyệt. Anh kể chuyện anh sinh ra không có cha. Cha anh là lính Sư đoàn 2, chết trên đường chạy loạn tháng 3/1975. Vì là gia đình “ngụy quân” nên mẹ con anh bị chế độ mới ức hiếp đủ điều trong đời sống cơ bần. Mười năm sau mẹ anh bạo bệnh mất và anh mồ côi cả cha lẫn mẹ từ đó. Anh ở với Nội được mấy năm, không làm gì được để giúp mà còn là gánh nặng cho một gia đình cũng tả tơi không kém. Sau đó anh tự bươn chải để sống cho tới bây giờ. Ngày ngày chạy xe ôm mưu sinh, có một con trai đang học cấp một; có vợ buôn bán nhỏ ngoài chợ Tịnh Khê…

Tôi ngồi nghe anh kể chuyện với tiếng gió ào ào bên tai, nên chỉ nghe mà không góp chuyện. Trong lòng tôi đang bâng khuâng, hồi hộp nghĩ tới chuyện gặp gỡ sắp tới!

Xe chạy khoảng gần tiếng đồng hồ thì tới khu Trường Trung Học Cơ Sở Võ Bẩm nằm bên trái quốc lộ; đối diện bên kia lộ là trường Trung học Phổ Thông Sơn Mỹ. Anh tài xế nói với tôi sắp tới nơi rồi. Tôi giật mình vì khu này ở gần họ hàng nhà tôi. Nhìn đồng hồ thấy hơn 2 giờ chiều. Thấy vẫn còn sớm, hơn nữa tôi cũng cần thêm thời gian để ổn định tinh thần trước khi giáp mặt; tôi đề nghị ghé vào quán uống nước trước khi vào nhà. Tôi đã từng nhiều lần hồi hộp trước ngưỡng cửa sinh tử của cuộc đời, nhưng chỉ đơn thuần hồi hộp trước khi loạt đạn đầu tiên được bắn ra khỏi nòng súng. Còn sứ mệnh (mission) của tôi lần này coi bộ khó khăn hơn nhiều; ngoài sự hồi hộp, lòng tôi còn đầy thương cảm và bối rối. Dẫu đã có được tấm hình bỏ túi do người học trò đưa để dễ nhận diện – tấm hình chụp chung của hai người hơn hai năm trước – nhưng vẫn không hình dung được người ấy bây giờ ra sao, sẽ phản ứng ra sao trước một thực tế phũ phàng.

Ngồi uống nước độ hơn mười phút, chúng tôi chạy tới địa chỉ đã ghi. Tôi đưa tay gõ cửa một lúc lâu mới có một ông cụ ra mở cửa. Tôi hơi bỡ ngỡ:
– Thưa Bác cháu muốn hỏi thăm cô Phương Lan.
– Ồ! Cô ấy đã về ở trên thành phố tháng trước rồi. Mà anh là ai, quen biết ra sao với cô đó?
– Thưa Bác, có người ở bên Mỹ nhờ cháu tìm giúp cho họ.
– Trông tướng tá chú chắc mới bên Mỹ về phải không?
– Dạ phải!
– Chờ con tui một chặp, nó về đưa chú địa chỉ của cô ấy. Khi dọn đi, cô có dặn con tui, nếu có người quen nào muốn tìm, nhất là người ở bên Mỹ, thì đưa địa chỉ cho họ.
Tôi sốt ruột quá, hỏi “bao lâu nữa con Bác mới về?” Ông cụ cười mỉm nói “chắc chặp nữa thôi, nó chạy qua trường mầm non đón con về liền, chắc không lâu nữa đâu.” Nói xong mời chúng tôi vào nhà ngồi đợi. Cụ mời chúng tôi hai tách trà thơm.

Ngồi một lúc, tôi cứ thắp thỏm ngó mong. Anh tài xế biết tôi nóng ruột nên hỏi “anh có muốn đi một vòng trong lúc chờ đợi không, em không tính tiền thêm đâu?” “Thôi mình đợi đi anh!” Thật tình tôi cũng muốn chạy ra biển cho khuây khỏa nhưng trong lòng cứ nôn nao muốn lấy địa chỉ ngay để còn đi tìm. Thời gian cứ chậm chạp, chậm chạp!

Hơn 20 phút mới thấy một thiếu phụ dắt cháu nhỏ vào nhà. Bỡ ngỡ nhìn chúng tôi. Ông cụ nói liền “người ở Mỹ về muốn tìm chị Lan, Ba nói họ chờ con về đưa họ địa chỉ.” Thiếu phụ quay qua hỏi tôi:
– Chắc ông là người muốn tìm chị Lan?
– Tôi tên Phong, ở Mỹ về, tìm giúp cho một người khác.
– Sao người đó không tự về tìm lấy?
– Có, nhưng không nói được!
Tôi chỉ chiếc bình sành trên tay. Thiếu phụ có vẻ tái mặt, lúng túng, lẳng lặng đi vào trong một lúc đem ra một tờ giấy có ghi địa chỉ đưa cho tôi.
– Xin chia buồn với ông. Có lẽ ba tôi đã cho ông biết chị Lan dọn về thành phố tháng rồi. Chị Lan ốm yếu không biết có chịu nỗi sự đau buồn này không. Chúc ông may mắn.
Tôi cám ơn cô ta và nói lời từ giã với hai cha con. Hỏi anh xe ôm có muốn đưa tôi trở lại thành phố tìm tới địa chỉ này không. Anh trả lời là rất vui lòng và cũng sẽ lấy thêm 45 ngàn nữa thôi. Tôi nói không thành vấn đề, chỉ mong làm cho xong trách nhiệm hôm nay cho nhẹ mình.

4.
Về lại thành phố hơn 4 giờ chiều. Địa chỉ ở trong hẻm Ngô Quyền với hai cái xẹt (sur), khu chợ Quảng Ngãi, rất khó tìm. Anh xe ôm vừa chạy vừa hỏi thăm, cuối cùng cũng tới được. Địa chỉ là một căn nhà nhỏ trông gọn gàng, sạch sẽ. Tôi lại hồi hộp đưa tay gõ cửa, nghe tiếng trả lời của một cụ bà người Huế; rồi cửa xịch mở. Một bà cụ trông gầy gò ốm yếu, lưng lại cong, ngó tôi từ đầu tới chân:
– Cậu muốn tìm ai?
– Thưa Bác có phải cô Phương Lan ở đây không ạ?
– Cậu là ai mà biết tên con gái tui?
– Thưa Bác có người bên Mỹ nhờ cháu tìm giúp.
– Phải thằng Huệ nhờ cậu không?
– Dạ phải.
– Mời cậu vào nhà nói chuyện.
– Vâng cho cháu trả tiền xe cho họ về đã.
– Nếu anh muốn em ở quanh đây chờ anh cũng được. – Anh tài xế vội nói.
– Cám ơn anh, đây về khách sạn không xa lắm, hơn nữa không biết phải bao nhiêu lâu mới xong. Khi xong việc tôi sẽ gọi xe khác chắc không khó lắm đâu.
– Theo me thấy anh có thể đi bộ tới khách sạn cũng được.
Tôi đưa cho anh ta 200 ngàn VND mới đổi ở tiệm vàng hồi trưa. Anh ta gãi đầu lúng túng:
– Em tên Minh, mỗi ngày em đều loanh quanh trước khách sạn Trung Tâm và bến xe Quảng Ngãi. Anh cần đi đâu em sẽ hướng dẫn anh không sợ bị người ta lường gạt.
– Vâng, nếu cần tôi sẽ tìm anh.

Nhìn anh tài xế đi khuất, tôi theo bà cụ vào nhà. Căn phòng nhỏ trông rất tươm tất, vắn khéo nhưng có vẻ đạm bạc. Bà cụ mời tôi ngồi vào chiếc ghế duy nhất bên cạnh chiếc bàn con kê sát tường; tôi ý tứ đặt hũ tro cốt xuống chiếc bàn. Từ trưa đến giờ tôi ôm cứng trên tay, chỉ để xuống được 15 phút ở quán nước dưới Tịnh Khê. Bà cụ vén tấm màn ngăn làm phòng ngủ và ngồi trên cạnh giường.
– Mạ con hắn vừa ra chợ chắc cũng sắp về. Cậu ngồi đợi được chớ? Để tui lấy nước mời cậu.
– Dạ thưa Bác không cần đâu ạ, cháu vừa uống nước rồi.
Nói là nói vậy chứ tôi cũng đã khát nước, chỉ vì thấy nhà đơn chiếc quá và bà cụ cũng gầy gò trông tội nghiệp.
– Cậu mới về hay về lâu rồi? Hiện ở mô?
– Thưa Bác, cháu tên Phong, từ Saigon về Đà Nẵng xế trưa hôm qua, vậy mà mãi tới khuya xe mới về tới khách sạn Trung Tâm trên đường Lê Thánh Tôn gần đây.
– Dường như cậu ở bên Mỹ về?
– Sao Bác biết?
– Thì trông bộ dạng của cậu và nghe cậu nói thằng Huệ bên Mỹ nhờ cậu ra đây tìm em Lan.
– Dạ vâng ạ! Để Phương Lan về cháu sẽ kể hết đầu đuôi luôn ạ.
Tôi sốt ruột quá, đứng lên ngó mong ra cửa. Bà cụ nhận là mẹ của Phương Lan nhưng sao không nghe Huệ nhắc tới khi còn sống.
– Thưa Bác cho cháu để cái bình ở đây, cháu ra hẻm mua bao thuốc lá về liền.
– Được được, cậu cứ để đó tôi coai cho, không mất đi mô mà lo.

Tôi lang thang ra đầu hẻm, ngồi ngay quán cóc đầu con hẻm để ngó chừng; gọi ly cà phê đá và mua gói thuốc lá của một bà bán bên cạnh, phì phà chờ đợi. Tôi nghĩ ngồi ở đây, nếu mẹ con cô ấy về nhà nhất định phải đi qua con hẻm này, nên yên tâm ngồi chờ. Thế mà tôi đã hút hết hai điếu thuốc, uống hết ly cà phê mà vẫn không thấy tăm dạng của một cô gái khoảng 30 tuổi đi với đứa con nhỏ nào cả. Sự chờ đợi thật vô cùng khó chịu, thấy thời gian đi chậm như rùa. Tôi nghĩ tôi phải vô nhà kẻo bà cụ trông.

Tính đưa tay gõ cửa thì cửa xịch mở. Một thiếu phụ với suối tóc đen mượt, dài chấm lưng, gương mặt thanh tú, khả ái nhưng trông võ vàng, tiều tụy. Đôi mắt đỏ ngầu, dường như vừa mới khóc. Tôi lúng túng hẳn. Nàng cũng chưa kịp nói gì thì một con bé phía sau lưng vượt lên trước:
– Ủa chào chú!
Tôi kinh ngạc thấy con bé bán vé số khi trưa.
– Mạ ơi, đúng là chú ni là người mua hết vé số của con khi trưa mà con noái với mạ đó! – Con bé quay sang nói với mẹ nó.
– Chào anh. Anh Phong phải không? Tôi là Phương Lan, mẹ của cháu Lan Huệ! – Giọng nàng sũng nước mắt.
– ….
– Mời anh vào nhà đã.
– Con qua quán dì Tám mua cho mạ mấy chai nước ngọt; nhớ lấy ít nước đá.
– Dạ mạ!
– Không cần đi đâu cháu. -Tôi giữ vai ngăn con bé lại.
– Anh để cháu đi, nhà chẳng có gì.

Thấy không tiện ngăn cản thêm, tôi đành buông tay, theo nàng bước vào nhà. Thấy bà cụ vẫn ngồi trên giường mặt buồn dàu dàu, tôi gật đầu chào, nói với cụ cũng như nói với Phương Lan:
– Xin lỗi Bác, cháu đợi lâu sốt ruột quá nên ra ngoài đầu hẻm uống nước. Tưởng đâu Phương Lan về đường đó mà không thấy nên ngồi hơi lâu.
– Tôi tưởng cậu đi luôn rồi chớ!
– Dạ đâu có! Cháu về đây chỉ có một việc này thôi mà!
– Cậu ngồi xuống đi rồi nói chuyện.
Phương Lan đẩy chiếc ghế về phía tôi và ngồi chiếc đối diện. Chắc có lẽ chiếc ghế để trong bếp mới được mang ra. Tôi chưa biết mở lời cách nào thì nàng nói tiếp:
– Mạ con em đi đường trong nên anh không thấy là phải. Khi vô tới nhà, thấy trên bàn có cái bình sành này, bé Lan Huệ nói liền “sao giống cái bình của chú mua vé số của con khi trưa quá!”
– …
– Con bé về lúc trưa, khoe với em, “có một cái chú chắc ở đâu mới tới; tụi thằng Tèo, thằng Dũng bị chú từ chối mà chú lại mua của con, còn mua hết nữa chứ!” Rồi nó khoe là “chú nớ cố cho tiền con mà con nhớ lời dặn của mạ nên nhất định không lấy.”
– Vâng, sự thực là vậy! Phương Lan dạy con hay quá! Chính vì sự thông minh và thực thà của nó mà tôi đã “phải lòng nó”.
– Cám ơn anh, tuy gia đình em nghèo nhưng lúc mô em cũng nhắc con “nghèo cho sạch, rách cho thơm”. Em đâu có muốn bắt con đi bán vé số, chỉ vì thời gian gần đây em bệnh triền miên không làm ăn chi được hết. Ba thế hệ tùy thuộc vào em mà sức em tàn, lực em kiệt! Cả tuần nay lại nằm liệt một chỗ, ăn uống khó khăn. Con bé thương mẹ, nhất định đòi cho nó đi bán vé số tạm thời. Cũng may, cháu được nhiều người thương, nhưng không vì vậy mà em để con phải khổ lâu. Chỉ vì đang mùa hè cháu nghỉ ở nhà không việc chi làm và chưa biết làm răng để thoát ra khỏi hoàn cảnh tối tăm ni. Khi trưa nó về lại mang theo một chị y tá chích dạo… cách đây vài tiếng đồng hồ, em mới ngồi dậy nỗi, ráng cùng đi với cháu ra nhà thuốc tây mua thuốc theo lời dặn của cô y tá; cũng là cách cho đỡ quẫn trí, cuồng chân.

Nàng thao thao như để che giấu cảm xúc; như để cho tôi có thêm bình tĩnh. Ngồi nghe nàng nói mà lòng tôi xót xa, bối rối, vẫn chưa dám mở lời.

Cánh cửa xịch mở, con bé đã về cầm theo mấy lon nước ngọt và một cục nước đá nhỏ. Tôi nhìn con bé với tất cả trìu mến. Nó đi thẳng vào bếp, nghe tiếng nước chảy, tiếng chặt đá và tiếng ly tách lịch kịch. Tôi ngó vẩn vơ chung quanh phòng. Bà cụ vẫn ngồi yên kiên nhẫn nhai trầu. Tôi nhìn qua khung cửa sổ. Bên ngoài bóng chiều đã xuống thấp, tiếng rao hàng cũng thưa thớt dần. Tôi đưa mắt nhìn nàng nhưng không đủ can đảm nhìn lâu. Con bé đem cho bà một ly nước trước khi đặt hai ly trên bàn chúng tôi ngồi, xong tới ngồi bên cạnh giường gần bà ngó tôi… Tôi bảo con bé “chú không uống nước ngọt được, uống vào là sưng cuống họng, ho liền trong vòng 30 phút. Cháu cho chú tách nước lạnh rất tốt. Con bé ngó mẹ nó, thấy Phương Lan gật đầu, nó lại chạy xuống bếp đem lên cho tôi một ly đá lạnh. Tôi đưa ly nước ngọt cho nó, nó ngần ngừ nhìn mẹ và mẹ nó gật đầu ra dấu đồng ý.
Bỗng nhiên, nàng nhìn thẳng vào mắt tôi:
– Có phải anh mang cho chúng tôi một tin rất xấu không?
Tim tôi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực; miệng tôi chát đắng, ấp úng không nói nên lời!
– Có phải đây là hũ tro cốt của Huệ?
– …!

Tôi nghẹn lời chưa kịp trả lời. Người thiếu phụ đang ngồi trước mặt tôi quá sức thông minh và thẳng thắn. Tôi bối rối nhìn bà cụ rồi nhìn con bé. Không gian vô cùng tĩnh mịch, thỉnh thoảng nghe tiếng rao hàng của những người bán rong đi ngang trước cửa. Lòng tôi chùng xuống, nghe nhịp tim đập bồi hồi. Mọi người như rất chú tâm để nghe tôi xác nhận. Phương Lan vừa khóc vừa nói:
– Em đã sẵn sàng nghe anh xác nhận. Cả tháng ni em đã linh tính có điều bất thường, mặc dù đã hơn hai năm rồi không nghe tin tức chi của Huệ. Dù vậy, em vẫn nhất quyết không tin Huệ quên bỏ mạ con em.
– Vâng, Huệ không bao giờ quên bỏ mẹ con Phương Lan. Có quá nhiều đau thương đã xảy ra cho Huệ, nhưng nó nhất định không nói với ai, kể cả tôi. Tôi là thầy dạy võ của Huệ. Huệ đã đến học với tôi gần bốn năm. Tính Huệ hiền hòa ít nói nhưng siêng năng và vô cùng lễ phép. Những ngày lễ tết, Huệ thường đến nhà thăm và tặng quà cáp, đôi khi đi với Mẹ. Nhìn cách đối đáp với mẹ nó, tôi biết Huệ là một người con chí hiếu. Dần dà tôi coi nó như một người thân và không lấy tiền học phí của nó nữa. Mỗi lần có tiệc vui trong gia đình đều có nó tham dự, vài lần đi chung với Mẹ nó. Dù vậy, khi tôi hỏi chuyện gia đình vợ con thì nó chỉ cười buồn mà không nói. Tôi biết Huệ chắc có điều gì khó nói nên tôi tôn trọng sự riêng tư không hề hỏi nữa. Mỗi lần đến tập xong rồi về. Lâu lâu tôi không thấy tới thì tôi gọi hỏi thăm. Rồi Huệ lại bất chợt xuất hiện, vẫn tập tành siêng năng, kỷ luật như thường.
Tôi ngưng lại, bưng ly uống một ngụm nước. Nước đá lạnh như làm cho tôi bình thản trở lại. Tôi thong thả đặt ly xuống bàn, hắng giọng tiếp:
– Cách đây khoảng hai năm, buổi chiều, lúc tôi đang dạy lớp thì nghe điện thoại của Huệ. Tôi bắt điện thoại để nghe tiếng nấc của Huệ, “Thầy ơi! Mẹ em mất rồi!” Tôi sửng sốt hỏi “Mẹ đau bệnh gì vậy?” “Dạ, Mẹ em bị ung thư buồng trứng!” “Mới phát giác hay lâu rồi?” “Dạ chữa trị cả năm rồi Thầy ạ!” “Mẹ đang được quàn ở đâu?” “Dạ nhà quàn Vĩnh Phước.” “Có người thân nào ở đó với em không?” “Kính Thầy em là người duy nhất, em không có thân nhân, chỉ có hai mẹ con thôi!” Thế là tôi giao lớp cho học trò lớn, lái xe xuống ngay với Huệ vì tôi nghĩ Huệ đang cần tôi.
Phương Lan nấc nhẹ, nước mắt đầm đìa. Con bé lấy khăn tay đưa cho mẹ nó. Tôi cũng nghẹn ngào, khó khăn nói tiếp:
– Sau khi tang lễ hoàn tất, Huệ càng lúc càng vắng mặt ở trường. Tôi nghĩ có lẽ Huệ vì quá đau buồn nên hết muốn tập luyện. Lâu lâu không thấy thì tôi lại gọi hỏi thăm an ủi. Có lần tôi đề nghị “hay là em về ở chung với Thầy”, Huệ nói nó không muốn bán căn nhà kỷ niệm của mẹ nó. Những khi tôi thắc mắc về sự tập tành không đều đặn của Huệ nó đều nói “thầy đừng lo nhiều cho em, khi nào khỏe em sẽ đi tập.” Dù trong đầu tôi nghĩ “bây giờ chỉ có một thân một mình mà sao không khỏe?” nhưng tôi không nói ra điều đó. Bẵng đi một thời gian khá lâu tôi không nghe thấy gì ở Huệ nữa, tôi định tạo bất ngờ cho Huệ bằng cách ghé ngang nhà không báo trước. Tôi bàn với nhà tôi nhưng nhà tôi không bằng lòng. Nhà tôi nói “mình là người lớn, là cương vị thầy nữa, không nên làm như vậy dù thật lòng thương mến. Mỗi người có một cuộc sống riêng tư, đừng đặt người khác trước những ngỡ ngàng đáng ân hận…” Thế là tôi chỉ còn biết thương nhớ và đầy thắc mắc.

Tôi ngưng lại uống nước. Mọi người vẫn kiên nhẫn ngồi chờ. Tôi cố ngậm hớp nước lạnh thật lâu để dằn cơn xúc động trước khi nói tiếp:
– Cách đây hai tháng, Huệ gọi nói muốn gặp tôi gấp, có việc vô cùng hệ trọng cần nhờ. Tiếng nói nghe rất yếu ớt. Địa chỉ là nhà thương MD Anderson, khu Medical Center gần trung tâm phố Houston. Lòng tôi nghi nghi ngại ngại. MD Anderson là trung tâm ung bứu nổi tiếng thế giới cũng là nơi làm việc của nhà tôi gần 20 năm qua. Buông điện thoại xong là tôi lái xe đi ngay. Vào đến nơi mới biết Huệ đang nằm điều trị tại khu chăm sóc đặc biệt (intensive care unit). Trông Huệ tiều tụy quá mức làm tôi rất ngỡ ngàng. Hình ảnh chú học trò văn vẻ, mạnh khỏe, đẹp trai chỉ còn lại vài đường nét lu mờ trên người bệnh. Huệ bị ung thư ruột già thời kỳ chót; đã kinh qua hóa trị rồi xạ trị nhưng không thoát. Tôi bốc điện thoại gọi nhà tôi nhờ hỏi thăm vị Bác sĩ chuyên môn xem lại hồ sơ. Hóa ra, vị Bác sĩ chuyên môn này lại là cấp trên của nhà tôi và cũng là Bác sĩ đang chăm sóc cho Huệ. Ông ta nói với tôi rằng khi Huệ nhập viện thì đã quá trễ! Ông đã cố gắng hết sức nhưng không cứu được. Vì Huệ không có thân nhân nên họ đang làm thủ tục chuyển Huệ qua hospice- nơi chăm sóc cho những bệnh nhân không còn phương án trị liệu. Nói cách khác là nằm chờ chết!

Tôi phải dừng lại vì Phương Lan khóc nức nở thành tiếng. Nàng lẩm bẩm, “Huệ ơi! Thế mà em đã trách oan cho anh rồi!” Đột nhiên nàng tuột xuống khỏi ghế ngồi; tôi nhanh tay chụp được tay nàng giữ lại để khỏi va đầu vào bàn; đứng phắt dậy đỡ lưng nàng trước khi đụng đất. Con bé khóc thét lên gọi mẹ ơi mẹ hỡi. Bà cụ cũng vội vàng chạy xáp tới. Tôi vội vã bế xốc nàng đặt ngay ngắn trên giường, khuyên bà cụ và con bé bình tĩnh… Tôi dùng hai đầu ngón trỏ xoa bóp liên tục vào hai đại huyệt Nhĩ Môn và Thái Dương hai bên mặt nàng được một lúc thì nàng tỉnh dậy. Bà cụ lấy chai dầu xanh dưới gối xức vào hai bên thái dương cho nàng. Nàng tiếp tục khóc rấm rứt:
– Em xin lỗi, anh kể tiếp đi.
– Phương Lan tịnh dưỡng chút đi rồi tôi sẽ kể tiếp.
Bóng tối đã chiếm gần trọn căn phòng. Bà cụ bảo con bé thắp đèn lên. Con bé đứng dậy bưng chiếc đèn dầu ở góc phòng, quẹt diêm đốt. Ánh sáng lù mù trông căn phòng nghiêng ngả, thê lương hơn. Tôi bỗng sực nhớ từ sáng tới giờ chưa ăn gì. Tôi đề nghị đưa cả nhà đi ăn nhưng tất cả 3 người đồng loạt từ chối. Tôi nghĩ ngay ra một phương cách:
– Thưa Bác và cô Phương Lan, cả ngày nay bận rộn nên tôi chưa có gì trong bụng, nếu không ăn tối tôi sẽ không đủ sức nói chuyện thêm!
– Rất tiếc nhà em cũng chẳng có gì để mời anh. Phương Lan gượng ngồi dậy, con bé đỡ lưng mẹ nó.
– Thế thì thường ngày 3 người ăn uống ra sao?
– Dạ ăn cho qua ngày anh à. Lúc em không bệnh thì buôn bán vặt vãnh ngoài chợ mỗi ngày. Hai năm trước, em nhận được 10 ngàn đô la của Huệ gửi cho, kèm theo bức thư nói rằng “em cố gắng dùng số tiền này buôn bán đỡ đần trong thời gian tới chờ anh làm thủ tục giấy tờ bão lãnh.” Thế rồi bặt tin luôn. Em có gửi thư và gọi điện thoại nhiều lần nhưng không thấy hồi âm. Em cay đắng nghĩ rằng, Huệ đã thí cho mạ con em 10 ngàn để rồi trốn biệt! Em cố nghĩ tốt cho Huệ nhưng càng ngày em càng thấy suy nghĩ Huệ đã bỏ mạ con em đúng hơn tất cả những lý do em bào chữa khác.

Kể tới đây lại khóc òa. Con bé lấy khăn ướt lau mặt cho mẹ nó. Được một lúc, nàng trấn tỉnh lại nói tiếp:
– Anh biết không, “tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”. buôn bán nhỏ để nuôi ba miệng ăn nên càng ngày vốn càng hao hụt. Vì thế, tháng trước khi con em nghỉ hè, em quyết định dọn về thành phố để xoay xở may ra khá hơn; ai ngờ lòng người lừa lọc, họ nhẫn tâm giựt mất lẽ sống của ba người chúng em khi em nộp tiền sang một cái sạp bán trái cây ngoài chợ Quảng Ngãi. Tuần sau em tới nhận sạp thì mới biết đó là trò lường gạt. Không tìm được thủ phạm, lại tiếc tiền và lo sợ không biết gia đình sẽ sinh sống ra sao nên kiệt sức quỵ dần, nằm liệt giường cả tuần nay. Đó là lý do em đành lòng để Lan Huệ đi bán vé số tạm thời.
– Phương Lan nghỉ chút đi, đừng nói nữa. Bây giờ phải giải quyết buổi ăn tối trước đã. Chuyện đâu còn có đó. Thế nào cũng có con đường sáng cho Cụ và hai mẹ con Phương Lan. Tin tôi đi!
– Rứa thì anh tính răng em xin nghe theo. Nhưng người em yếu quá, em không thể ra ngoài được.
Tôi chưa biết nói sao, bà cụ đỡ lời:
– Huệ, mi chạy ra quán chú Tư nói chú cho người mang cho mình 4 phần cơm đặc biệt để đãi khách rồi mạ mi thanh toán sau.
– Cô với Bác nghỉ chút đi, cháu đi cùng với Lan Huệ.
Con bé ngó mẹ nó, thấy mẹ nó gật đầu:
– Con dẫn đường bác Phong đi đi.

Tôi nắm tay con bé, muốn truyền tất cả sự thương yêu của Ba nó qua trái tim ướt sũng của tôi. Với số tuổi này ở bên Mỹ sung sướng biết bao nhiêu, trong khi con bé này phải ngày ngày lê gót đi khắp phố phường bán vé số lo thuốc cho mẹ! Còn đau đớn nào bằng! Tôi trìu mến hỏi nó:
– Lan Huệ, cháu bao nhiêu tuổi rồi?
– Dạ con 7 tuổi!
– Cháu học lớp mấy?
– Con vừa xong lớp một ở dưới Tịnh khê. Đầu mùa hè mạ con dọn về đây; khai trường con sẽ ghi danh lớp hai.
– Nếu có Ông Tiên cho cháu một mơ ước bây giờ, cháu sẽ mơ ước điều gì?
– Ước cho mạ con khỏe mạnh và con có cha như lũ bạn trong lớp. Nó nói liền không cần suy nghĩ.
– Đã nói là chỉ có một thôi mà!
Nó cúi gầm xuống, bước đi theo tay kéo của tôi. Không biết nó tính toán cái gì trong cái đầu bé tí đó. Được một lát nó ngước lên nói:
– Ba con chết rồi, rứa cho con xin mạ khỏe mạnh như xưa.
Con bé này vừa thông minh vừa chí hiếu giống như ba mẹ nó. Tôi cũng chợt đau lòng thay cho nó. Nếu có điều kiện học hành đàng hoàng, chắc chắn nó sẽ nên người hữu dụng mai sau. Tôi tự nhủ thầm “chắc chắn cháu sẽ có tương lai tốt đẹp thôi”
Chúng tôi bước vào một tiệm ăn nhỏ xíu bên ngoài con hẻm. Con bé nhìn tôi, tôi nhìn nó:
– Bà và Mẹ cháu muốn ăn món gì?
– Khi nãy Bà nói mua 4 phần cơm đặc biệt đãi khách.
– Cháu muốn ăn gì khác không?
– Hủ tíu mì! Nhưng chỗ ni chỉ bán cơm thôi.
– Ở đâu bán hủ tíu mì?
– Ngoài đường lớn mới có.
– Xa không?
– Một con hẻm nữa là tới đường Ngô Quyền sẽ thấy tiệm liền hà!
– Rồi, chú cháu mình đi.
– Không được mô chú. Không mua cơm về nhà sẽ bị Bà và Mạ la chết.
– Chú chịu trách nhiệm cho. Hơn nữa mẹ cháu không được khỏe làm sao nuốt cơm cho trôi; Bà cũng già rồi, cơm khó nuốt lắm.
– Vậy thì về nhà chú nói là tại chú muốn ăn hủ tíu mì đó nghe.
– Được rồi, chú hứa.

Tôi đưa ngón tay ngoéo ngón tay bé tí của nó. Nhìn mặt cười rạng rỡ của nó tôi càng thương hơn. Tôi bỗng ước ao nó làm con, làm cháu gì của tôi cũng được, tôi sẽ lo lắng, thương yêu nó hết lòng để bù trừ những bất hạnh trong mấy năm qua.
Về đến nhà với 4 tô hủ tíu mì đựng trong hai cái gà-mèn, tôi nói liền:
– Tôi mua hủ tíu mì cho Bác và Phương Lan dễ ăn nha.

Nói xong kín đáo nhìn con bé nháy mắt, nó mỉm cười quay đi đồng lõa. Bà cụ và Phương Lan ráng ăn một ít rồi ngừng. Riêng con bé ăn một cách ngon lành làm tôi muốn chảy nước mắt. Có lẽ lâu lắm nó chưa được ăn món ăn xa xỉ này.

Sau bữa ăn ngắn, thấy không tiện ở lâu, tôi đề nghị ngày mai tôi trở lại sớm để nói cho hết câu chuyện. Phương Lan dụ dự nhưng đồng ý. Có lẽ bất đắc dĩ chứ có cách nào hơn.
– Cháu xin chào Bác và mẹ con Phương Lan. Sáng mai mấy giờ tiện cho tôi trở lại?
– Giờ nào anh ngủ dậy thì tới cũng được ạ. Anh đang ở khách sạn nào?
– Khách sạn Trung Tâm trên đường Lê Lợi.
– Chỗ nớ cách đây không xa lắm.
– Nếu biết trước tôi đâu mất nửa ngày đi tìm!

Chợt để ý thấy hũ tro cốt của Huệ đã được đặt lên bàn thờ có nén hương đang cháy.
– Thưa Bác và cô Phương Lan, trước khi ra về, tôi muốn được thắp nhang cảm tạ trời đất và tạm an vị tro cốt của em Huệ.
– Cám ơn anh đã chu đáo!

Phương Lan vừa âm thầm khóc vừa bước tới trước bàn thờ, lấy một nén nhang run run đốt. Tôi nghĩ có lẽ nàng sẽ khóc suốt đêm nay. Tôi không biết an ủi cách nào, đành lặng lẽ cầm nén nhang từ tay nàng trao, đứng trước bàn khấn vái lớn cho mọi người cùng nghe.
– Huệ ơi! Cuối cùng thì em cũng đã về bên vợ con như ý nguyện. Thầy cảm tạ hương linh em đã giúp Thầy vượt qua nhiều thử thách để chu toàn lời hứa với em. Dĩ nhiên công việc chưa xong, hy vọng trong vài ngày nữa sẽ được. Em an nghỉ và ở bên vợ con phù trợ cho họ vượt qua tất cả nghịch cảnh do ông trời thử thách, sớm cho họ được bình an từ tinh thần đến vật chất. Thầy cũng đã hứa với em, Thầy sẽ để tâm tới bé Lan Huệ từ hôm nay. Bây giờ kể như đã xong phần quan trọng nhất, những việc khác chắc không có gì để lo. Ngày mai, Thầy sẽ trở lại đây để lo cho xong trách nhiệm em giao phó. Tạm biệt Huệ.

Tôi cắm nhang xong quay lại đã thấy Phương Lan mắt lệ đầm đìa, dang tay ôm chặt tôi, gục đầu trên vai khóc nức nở:
– Mạ con em đội ơn anh. Còn nhiều điều em nôn nóng muốn biết nhưng không còn thắp thỏm như mấy năm qua nữa. Huệ đã về với mạ con em dù chỉ là di cốt nhưng trong thâm tâm em cũng đã thấy mãn nguyện lắm rồi. Vô vàn cám tạ tấm chân tình anh đã dành cho chúng em, và đặc biệt cho mạ con em. Hẹn gặp anh sáng mai và chúc anh ngủ ngon đêm nay.

Tôi nghĩ phải có niềm cảm xúc sâu sắc lắm mới khiến một người con gái Việt Nam biểu lộ cử chỉ thân mật như vậy. Tôi quá bất ngờ nên đâm ra lúng túng, một tay buông thõng, một tay ngại ngùng đập nhẹ trên chiếc vai gầy run rẩy, thổn thức để nói lời an ủi. Nàng cố dằn cơn xúc động, buông tay, ngả nghiêng bước tới giường nằm vật xuống gối khóc vùi. Con bé giờ này cũng khóc theo mẹ và bà Cụ cứ lấy tay áo quẹt nước mắt. Tôi bối rối chôn chân tại chỗ. Tình cảnh rất khó lòng, đi không nỡ ở không được! Không quay mặt lại, Phương Lan nói trong nước mắt nhưng dứt khoát “anh đi về kẻo muộn, mai chúng em gặp lại anh”. Tạm biệt!

Tôi bước qua khuôn cửa, thuận tay khép lại, nghe nặng bước chân, tâm hồn chùng xuống thật thấp với tấm lòng đầy trắc ẩn và âu lo lẫn xót thương. Một gia đình nhỏ với 3 thế hệ toàn là đàn bà đứng trước một nghịch cảnh đớn đau. Tôi thấy mình bất lực quá trước đau thương to tát của 3 người đàn bà đáng thương này.

5.
Màn đêm phủ kín khu phố; những ngọn đèn đường vàng vọt trải xuống cảnh vật chung quanh một màu ảm đạm, thê lương. Đâu đây tiếng dế kêu vang như hòa cùng tiếng khóc than của một người thiếu phụ mất chồng và một đứa con gái nhỏ mất cha.

Có chiếc xe ôm trờ tới, tôi bảo anh ta cho tôi trở về khách sạn Trung Tâm. Anh ta nhìn tôi chằm chặp, nói “anh có thể đi bộ được mà”. “Tôi không thể đi thêm bước nào nữa”. Anh tài xế nhìn tôi ái ngại, “anh có muốn tôi chạy quanh một vòng cho khuây khỏa không?” “Cám ơn anh, tôi cần một giấc ngủ!”
Chỉ xa hơn một lốc đường và tốn không đầy 3 phút chạy xe, anh tài xế đã đổ tôi xuống trước khách sạn. Bước xuống xe, hai chân muốn khuỵu xuống. Về đến phòng, không kịp thay đồ, tôi tuột giày nằm vật mình trên nệm… Một ngày đầy âu lo, vất vả làm rệu rã cả tâm hồn lẫn thể xác! Thế nhưng có ngủ được đâu. Niềm xót thương đứa học trò tình nghĩa đã ra đi, để lại vợ con trong hoàn cảnh vô cùng nghiệt ngã như hiện tại cứ dâng đầy, làm hai con mắt ráo hoảnh. Tôi cố làm mọi cách để quên hết mọi chuyện, áp dụng mọi phương pháp để dỗ giấc ngủ… nhưng hình ảnh đau thương của một gia đình 3 thế hệ cứ chập chờn làm cay đôi mắt.
Cứ ray rứt như thế cho đến quá nửa khuya, tôi bật dậy vào phòng tắm mở nước đầy bồn, nằm ngâm mình với những suy tư dằn vặt rồi ngủ quên cho tới gần sáng khi tiếng loa tuyên truyền vang lên ra rả bên ngoài khách sạn.

Lau mình sạch sẽ xong, tôi lại vùi đầu vào gối cố ngủ tiếp nhưng không thể nào, cứ nghĩ tới những công việc cần phải làm trước mắt, trong ngày hôm nay… tôi nóng lòng trông cho trời mau sáng…

7 giờ sáng, tôi thay đồ ra hàng quán trước khách sạn uống mấy cốc cà phê chờ đợi. Tôi nghĩ có lẽ mọi người cũng nóng lòng muốn biết hết câu chuyện, và tôi cũng muốn nói cho xong, cho nhẹ lòng. Thấy còn nhiều thì giờ, tôi quyết định đi bộ theo con đường anh xe ôm chạy tối hôm qua. Đi dọc theo đường Quang Trung để nhớ về một thời… Ngày xưa, tôi cũng có “người yêu bé nhỏ” có tiệm bán xe đạp ở trên con đường này. Khi đi ngang qua trường Trung học Trần Quốc Tuấn – ngôi trường nổi tiếng năm xưa không biết bây giờ có còn được dư hương ngày tháng cũ hay cũng chỉ còn là những kỷ niệm muôn màu như tuổi ấu thơ của tôi đã biệt mù trong thế kỷ trước… Ngôi trường đồ sộ hơn nhiều so với “năm xưa”. Bây giờ đang là mùa Hè, sân trường lác đác người và xe cộ, những tàng phượng vỹ đỏ ối sân trường cho tôi nhiều bồi hồi nhớ tiếc.

Quẹo phải Nguyễn Nghiêm, quẹo trái Ngô Quyền, quẹo vào hai con hẻm, tới trước nhà thấy cửa trước mở hé. Vừa bước qua khoảng sân hẹp đã thấy Phương Lan đứng chờ:
– Em nghĩ tối qua chắc anh không ngủ được… nên mới tới trễ?
– Bằng vào đâu cô nói vậy?
– Nhìn mặt anh trỏm lơ em đoán rứa. Vì không ngủ được, anh trằn trọc suốt đêm và rồi ngủ quên lúc về sáng?
– Nếu vậy tôi cũng có thể nói cô đã thức và khóc trắng đêm.
Phương Lan cúi mặt như cố giấu đôi mắt đỏ ngầu, sưng húp.
– Dạ, em mô có muốn rứa nhưng nước mắt cứ tuôn hoài. Em đã tốn biết bao nhiêu nước mắt trước khi anh về nhưng có lẽ trời sinh ra em với hồ nước mắt lớn hơn bình thường!
Bé Lan Huệ cũng vui mừng ôm chầmm lấy tôi khi tôi vừa đặt chân qua ngưỡng cửa. Cụ bà cũng đã thức, đang ngồi trên mép giường nhai trầu bỏm bẻm.
– Cháu chào Bác ạ. Tối qua Bác ngủ được tí nào không?
– Ngủ nghê chi được cậu. Mạ con chúng nó khóc hoài cả đêm. Hơn nữa tui cũng buồn cho số phận của con cháu quá!
– Vâng thưa Bác, cháu là người ngoài mà cũng buồn não nuột cho hoàn cảnh của gia đình Bác huống chi người ruột thịt, và là con là vợ. Chuyện đã xảy ra rồi, bây giờ những người còn sống phải sống cho đáng sống để linh hồn người ra đi không quá nặng nề.
– Anh uống cà phê chưa? – Phương Lan hỏi.
– Đã uống ở khách sạn rồi.

Ngửi thấy mùi khói nhang nồng nực, tôi đưa tay kéo thêm cánh cửa mở rộng hơn chút nữa, xong tự động ngồi xuống chỗ ngồi hôm qua. Phương Lan cũng ngồi xuống ghế đối diện. Trông nàng có vẻ bình tĩnh hơn nhiều. Trên chiếc bàn nhỏ có một chiếc bình trà nhỏ với 4 cái tách nằm úp trong một cái đĩa vừa đủ lớn. Nàng khoan thai rót trà ra ba tách, đẩy về phía tôi một chung, gật đầu thay lời mời và hai tay bưng một chung đứng lên mời bà cụ. Trở lại ghế ngồi, nhắm môi vào chung trà rồi nhẹ nhàng đặt xuống, nhìn thẳng vào tôi, giọng tâm sự:
– Anh Phong à! Suốt đêm qua em đã nghĩ thấu đến thực tế đời mình. Huệ đã chết rồi và em có bổn phận phải sống tốt để lo cho cháu Lan Huệ. Chừ em đã bình tĩnh hơn nhiều rồi; anh có thể kể hết ngọn ngành câu chuyện.
– Hôm qua mình ngừng ở chỗ Huệ sắp chuyển nhà thương.
– Anh nói Huệ bị ung thư không cứu chữa kịp và vì Huệ không có thân nhân nên người ta chuẩn bị đưa Huệ qua chỗ nằm chờ chết… Trời ơi nghe đau lòng quá! Huệ có vợ, có con mà!
Nói tới đây nàng lại nấc lên, nước mắt lại tuôn trào. Tôi ái ngại nhìn nàng, nhìn con bé, nhìn bà cụ, nhìn quanh căn phòng, nhìn lên bàn thờ nghi ngút khói hương… Để làm nhẹ không khí ảm đạm, tôi nói như chọc nàng:
– Cô mới nói là cô đã bình tĩnh rồi mà?
Nàng nhích môi như cố mỉm cười nhưng là nụ cười méo xệch trên bờ môi khô héo:
– Em xin lỗi, em sẽ cố gắng!
– Tôi mong cô cố gắng nhiều hơn nữa vì những gì tôi sắp nói ra sẽ vô cùng bi thiết. Cô nên nhớ, đàng nào Huệ cũng đã chết rồi; bổn phận của tôi phải làm những gì Huệ gửi gắm; và bổn phận của cô là giữ gìn sức khỏe thật tốt để chăm sóc cụ bà trong lúc tuổi già và lo tương lai cho bé Lan Huệ, giọt máu duy nhất của Huệ.

6.
Tối hôm đó Huệ mệt quá không nói được gì ngoài câu “em trông mong Thầy giúp em, vì em không còn ai thân thuộc ngoài vợ và con gái nhỏ còn ở VN.” Tôi quá bất ngờ để nghe như vậy nhưng không tiện nói gì vì Huệ lả đi. Tôi quanh quẩn với Huệ tới khuya, khi thấy Huệ đã tạm ổn tôi ra về vì không chuẩn bị trước.
Sáng sớm hôm sau tôi trở lại thì người ta đã chuyển Huệ qua nhà thương hospice. Theo lời chỉ dẫn của phòng y tá trực, tôi chạy qua với Huệ.

Huệ thấy tôi vào mừng rỡ gượng ngồi dậy, “em trông Thầy từ sáng sớm đến giờ! Em đã ký giấy ủy quyền pháp lý cho Thầy với bệnh viện tối hôm qua.” Tôi ngăn không cho ngồi dậy, nhưng Huệ nói hôm nay Huệ thấy khỏe hơn nhiều. Tôi bấm nút cho chiếc giường cao lên tối đa, chặn thêm vài chiếc gối sau lưng để Huệ ngồi thoải mái. Tôi ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh giường.
– Huệ nói “hôm nay em phải nói hết sự thật cho Thầy biết vì em rất cần đến sự hy sinh và giúp đỡ của Thầy.”
Tôi lo sợ Huệ phải vận động tâm lực nhiều quá không tốt:
– Thì khi nào em thật khỏe kể Thầy nghe cũng được.
– Thầy không cần phải lo cho sức khỏe của em nữa. Em biết thời gian của em không còn được bao lâu, bác sĩ và y tá cũng đã nói cho em biết là em có thể ra đi bất cứ lúc nào.
Tôi mủi lòng ráng cầm nước mắt:
– Nếu Thầy có thể giúp được gì cho em, Thầy rất vui lòng. Đã từ lâu Thầy coi em như người thân trong gia đình. Chỉ vì em ít nói nên Thầy không rõ em nghĩ sao.
– Em xin Thầy cho em nói hết mọi việc xong Thầy sẽ cho em biết ý kiến của Thầy; nhất là sau này, khi có dịp Thầy nói lại với vợ con em giùm em.
Dù trong thâm tâm tôi nghĩ sẽ chẳng có cơ hội đó nhưng vì tôn trọng thời gian hiếm hoi còn lại của chú học trò, tôi gật đầu lắng nghe.
– Em sẽ nói điều cần nói trước và không theo thứ tự nào. Những gì em không kịp nói thì cũng đành, Thầy không cần bận tâm. Em cũng xin Thầy tha thứ vì em đã không cho Thầy biết về đời sống riêng tư của em. Và còn tự ý làm một việc mà không hỏi ý kiến Thầy trước. Em sẽ nói tới sau. Em biết Thầy ngạc nhiên lắm khi biết em đã có vợ có con ở Việt Nam.

7.
Bảy năm về trước em đi cùng mẹ em về Mỹ Khê, Quảng Ngãi lần đầu tiên thăm mộ phần của ba em. Theo lời mẹ em kể, ba em bị giết trong trại tù Cộng sản vì trốn trại khi em chưa đầy tuổi. Trong chuyến đi này em gặp và thương yêu một người con gái đồng cảnh ngộ tên Phạm Thị Phương Lan, dân Mỹ Khê gốc Huế. Sau khi về Mỹ, chúng em vẫn thường xuyên liên lạc càng ngày càng mật thiết. Chúng em thật sự yêu nhau, muốn tiến đến hôn nhân. Trong thời gian quen biết em nhận thấy Phương Lan là một cô gái hiền hòa, xinh đẹp, tâm hồn đoan hậu và là một người con hiếu đễ. Nàng không hề đòi hỏi bất cứ một điều gì ở em, kể cả khi em đề nghị làm giấy tờ cho nàng sang Mỹ. Đến lúc này em mới biết mẹ con Phương Lan không còn thân nhân nào ở Việt Nam!
Dĩ nhiên tất cả việc riêng tư này em đều cho mẹ em biết. Mẹ em nói em đủ khôn lớn rồi có thể tự quyết định tương lai cho mình; mẹ không lo được gì và cũng sẽ không phản đối.

Vì quá yêu thương và tin tưởng lẫn nhau, sáu tháng sau, em xin phép Mẹ trở lại Quảng Ngãi một mình để làm một đám cưới đơn giản nhằm hợp thức hóa hôn nhân. Em về lại Mỹ hỏi thăm nhiều Luật sư Di trú về trường hợp của chúng em. Ai cũng nói là không có cách nào cho tới khi Phương Lan trở thành công dân Hoa Kỳ mới bảo lãnh cho mẹ nàng qua được.

Tụi em chưa biết tính sao thì được tin Phương Lan có mang. Em vừa mừng vui vừa buồn bã… Rồi Phương Lan sinh hạ một bé gái. Em tức tốc bay về khi nàng còn trong nhà thương. Chúng em đồng ý đặt tên cho con là Lan Huệ để đánh dấu mối tình sâu đậm của chúng em. Việc bảo lãnh vẫn dậm chân tại chỗ. Không ai nói với ai nhưng trong thâm tâm đều biết rất khó để chúng em đoàn viên trong nghịch cảnh éo le này. Em thương yêu mẹ của nàng như yêu thương mẹ của em. Chúng em cùng đau đớn chấp nhận số phận. Không dám nói ra nhưng ai cũng biết chỉ khi nào hai bà mẹ trăm tuổi thì chúng em mới có cơ hội chung sống với nhau, hoặc bên này hoặc bên kia…

Nói tới đây thì Huệ mệt quá phải ngưng lại. Tôi khuyên Huệ nằm xuống nghỉ ngơi đợi lúc khỏe sẽ tiếp. Huệ ra dấu xin uống nước, cùng lúc cô y tá vào thăm bệnh. Tôi bước ra ngoài, gọi nhà tôi hỏi ông bác sĩ về tình trạng sức khỏe của Huệ. Ông ta khuyên, nếu là người thân thì nên chuẩn bị tinh thần và vui vẻ với Huệ được lúc nào hay lúc nấy (enjoy him while you could). Tôi cố làm tỉnh, trở lại phòng. Huệ đã đỡ mệt và muốn tôi ngồi bên giường để Huệ nói tiếp.
– Thưa Thầy, Thầy đừng lo cho em, em cần nói ngay những điều cần nói chỉ sợ không còn đủ giờ. Dạ, cách đây khoảng ba năm, mẹ em ngả bệnh rồi mất vài năm trước như Thầy đã biết. Trong thời gian mẹ em bệnh, em phải luôn ở bên mẹ sau giờ đi làm, dù Mẹ ở nhà hay trong bệnh viện, vì chỉ có hai mẹ con. Ngoài ra, em còn phải cáng đáng tài chánh cho mọi chi phí trong gia đình kể cả thuốc men. Những khó khăn này em chỉ giữ riêng em chứ không dám nói với Phương Lan vì em nghĩ chẳng lợi ích gì mà còn tạo thêm sự lo lắng cho nhau hơn thôi. Em chỉ nói với Phương Lan về bệnh tình của mẹ em. Phương Lan tỏ ra rất thông cảm và khuyên em yên tâm lo cho mẹ là quan trọng hơn hết. Sự cao thượng của nàng đã an ủi em không ít. Trong khi đó tiền để dành càng ngày càng cạn dần, em lo sợ nếu không tính ngay thì cuộc sống của mẹ con Phương Lan sẽ rất khó khăn; vì thế, em quyết định lấy ra 10 ngàn đô gửi cho nàng, khuyến khích tìm cách buôn bán sống tạm trong thời gian khó khăn sắp tới. Bệnh tình của mẹ em trở nên nguy kịch nên em không còn tâm trí nào để nghĩ tới việc riêng của mình. Để rồi chưa đầy năm sau mẹ em lìa đời! Tang lễ cho mẹ xong, tinh thần em suy sụp đáng kể, tài chánh kiệt quệ. Cả tháng sau em mới nguôi ngoai, dần dần phục hồi. Trong thời gian bị bệnh em có nghĩ nhiều về vợ con nhưng em không muốn liên lạc trong lúc cùng quẫn. Em dự định trở lại sở làm một thời gian để dành đủ tiền sẽ về thăm mẹ con Phương Lan; lúc gặp nhau sẽ giải thích sự vắng bóng của em trong thời gian qua cũng không muộn. Nhằm lúc kinh tế khó khăn, hãng xưởng sa thải nhân viên hoặc đóng cửa và vì vậy em bị cho nghỉ việc luôn!”
Thấy Huệ ra dấu xin uống nước, tôi nói em nghỉ một lát nhưng Huệ lắc đầu. “Thầy để em nói, phần này mới là quan trọng.”

Ba tháng sau em vẫn chưa tìm ra việc làm, em buồn chán quá sức, ăn ngủ thất thường lại nhớ vợ, nhớ con đứt ruột… rồi ngã bệnh. Ông bác sĩ gia đình chỉ nói có lẽ tại em buồn rầu rồi sinh bệnh; bảo em về cố tĩnh dưỡng, ăn uống, ngủ nghỉ điều độ một thời gian sẽ khỏi; rồi cho cái toa mua mớ trụ sinh về uống.

Thấy cơn đau bụng thuyên giảm đi nhiều em chưa kịp mừng thì phải nhờ ông bạn hàng xóm đưa đi cấp cứu vì bụng dưới của em đau không chịu nỗi!

Sau khi khám nghiệm, bác sĩ nói em có vấn đề ở ruột già! Họ gửi em đi các chuyên khoa để xác nghiệm… Sự xác nhận cuối cùng là em bị ung thư ruột già không còn cách chữa trị như Thầy đã biết. Họ đề nghị em làm xạ trị không ổn, đổi qua hóa trị cũng vô phương. Trong thời gian điều trị, em sợ em khó thể vượt qua nên đã lo sắp xếp mọi thứ từ ngân hàng, nhà cửa, xe cộ, hang bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm nhân thọ; đi luật sư làm di chúc; làm giấy ủy quyền pháp lý (power of attorney). Em đã để tên Thầy là người đại diện pháp lý, có toàn quyền định đoạt về tài sản khiêm nhường của em kể cả thân xác này sau khi em không còn tự quyết định được nữa. Em hoàn toàn tin tưởng vào tấm lòng nhân ái của Thầy; và Thầy là người thân duy nhất của em bên Mỹ. Tất cả sổ sách, giấy tờ, chìa khóa em đựng trong hộp sắt để tại Chase Bank trên đường Bellaire Blvd., Houston, TX gần đường Synott; và đây là chìa khóa chiếc hộp sắt em xin trân trọng giao lại cho Thầy quản thủ. Sau khi em chết rồi, Thầy cứ theo di chúc mà giúp em hoàn thành tâm nguyện.

Nói xong, Huệ cởi chiếc chìa khóa đeo trên tay đưa cho tôi rồi nhắm mắt lịm đi. Hơi thở gấp gáp, mặt tái nhợt! Tôi hoảng hốt gọi y tá trực vào phòng xem xét… Một lúc sau Huệ tỉnh lại. Huệ nhìn tôi gượng mỉm cười, môi mấp máy, yếu ớt nhưng thần thái có vẻ tự tại lắm. Tôi nắm chặt tay Huệ và áp tai để nghe:
– Bây giờ thì em yên tâm rồi. Thầy hứa với em đi! Em chỉ ân hận là không chính miệng em kể lại cho vợ em nghe về những trầm luân của em; em biết Phương Lan đang buồn trách em và rồi nàng sẽ đau đớn lắm khi biết tất cả sự thật. Và em cũng ân hận không được nhìn được mặt đứa con gái yêu quý; hơn ba năm qua chắc nó đã lớn lắm rồi…

Nói tới đây Huệ thở hắt ra và nhắm mắt lại, hai giọt nước mắt lăn dài trên đôi má gầy nhom. Tôi ngó nhịp tim vẫn đập nhưng không đều đặn và hơi thở yếu dần đi. Một tay nắm, một tay ôm vai, tôi áp miệng vào tai Huệ thì thầm: “Thầy tuyên hứa với em sẽ làm tất cả những gì em muốn Thầy làm.” Huệ mở bừng mắt ra, cố siết nhẹ tay tôi, mỉm miệng cười xong trút hơi thở cuối cùng!

8.
Phương Lan hự lên một tiếng rồi ngất xỉu. Tôi đã đề phòng nên đỡ nàng kịp lúc, bế xốc nàng đặt lên giường, làm các động tác như hôm qua. Ngoài xoa bóp ở hai huyệt Nhĩ Môn và Thái Dương, lần này tôi phải nắn bóp thêm huyệt Thần Đình trên đỉnh đầu để trợ não. Tiếng khóc của bà cụ và con bé quyện hòa với mùi hương trầm u uất làm đau xé tim gan. Dù vậy, tôi cũng cố bình tĩnh để trấn an hai người trong lúc nước mắt cứ chực tuôn trào.

Một lúc sau Phương Lan tỉnh dần nhưng lại hôn mê ngay. Tôi thực sự lo sợ cho sức khỏe của nàng, nên vừa nắn bóp các huyệt đạo cho nàng vừa bảo con bé mở toang các cánh cửa cho thoáng khí và chạy tìm gấp người y tá hôm nọ. Nó vừa khóc vừa chạy đi. Bà cụ lu bu xức dầu xanh lên mũi, lên thái dương Phương Lan. Tôi xem mạch nàng vẫn điều hòa dù hơi thở có yếu ớt. Tôi biết, ai mà không sốc với hoàn cảnh đau đớn cùng cực như vầy!

Vài phút sau nàng lai tỉnh, ngỏ lời xin uống nước. Tôi lấy tách trà và giúp nàng ngồi dậy. Thân hình nàng ẻo lả như cọng bún; tôi phải để nàng tựa vào tôi và chậm chạp cho nàng uống từng hớp nước xong đặt nàng nằm gối đầu lên hai chiếc gối chồng cao.
Khoảng mười phút sau, cô ý tá và con bé hớt hải bước vào nhà. Người y tá hành sự thành thạo, bày đồ nghề và chích cho nàng một ống thuốc khỏe (?); tôi không buồn hỏi loại thuốc gì vì thấy cô ta đã chích cho Phương Lan hôm qua rất tốt. Cô y tá ra về hẹn tối sẽ tới chích thêm một ống nữa.
Tôi nhẹ nhàng nói với Phương Lan:
– Tôi chia sẻ sự đau đớn, mất mát to lớn của Phương Lan nhưng cô phải ráng khỏe, chúng ta còn vài việc cần làm, tôi chỉ có thể ở đây vài hôm nữa thôi.
Phương Lan lại òa khóc. Tôi khuyên giải:
– Người đi đã đi, người ở lại mới là quan trọng. Bà cụ và bé Lan Huệ chỉ trông cậy vào cô, và đó cũng là ước nguyện của Huệ.
– Dạ, em hiểu!
– Tôi nghĩ tốt nhất bây giờ tôi về khách sạn, để mọi người nghỉ ngơi; sau trưa tôi trở lại, rất mong Phương Lan khỏe đi ra ngoài được, chúng ta có việc cần làm.
– Bao giờ anh trở lại Mỹ?
– Xong việc ở đây, tôi trở lại Mỹ Khê, ghé thăm mồ mả ông bà một hôm xong về Saigon thăm bạn bè vài hôm.
– Quê anh cũng ở Mỹ Khê? – Nàng có vẻ ngạc nhiên.
– Dòng họ, bà con tôi hầu hết ở đó.
– Anh có liên hệ chi với dòng họ Trương Quang không?
– Dòng họ của tôi.
– Em sém làm dâu nhà Trương Quang.
– ??? – Tôi ngó nàng chờ đợi.
– Cũng may, em khám phá sớm gia đình nớ có thân nhân làm lớn trong chính quyền Việt cộng nên chấm dứt liên hệ liền.
– Ăn nhằm gì tới tương lai của cô?
– Em không thích liên hệ tới Việt cộng!
– Cô chưa biết tôi là ai sao dám nói những điều như vậy?
– Em chắc anh không phải Việt cộng, vì Việt cộng không có trái tim từ ái, không có tấm lòng nhân hậu.
– Thôi bỏ qua chuyện này đi Phương Lan, tôi không muốn tai bay họa gửi cho ai hết.
– Bi chừ em thấy khỏe nhiều rồi, anh không cần phải đi tới đi lui. Anh muốn em đi mô và làm chi mà anh noái rất cần?
– Buổi trưa các ngân hàng có làm việc hay không?
– Em không lui tới những chỗ nớ nên không rõ. Chắc ăn mình có thể tới đó sau 1 giờ chiều. Ở trên đường Hùng Vương gần nhà có Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam, đó là chi nhánh của Vietcombank.
– Rất tốt! Vậy liệu cô và mọi người đi tiệm ăn trưa với tôi được không, xong tôi với cô đi nhà bank lúc 2 giờ, để cho họ còn ngủ trưa an giấc.
– Mạ em không thích đi tiệm ăn mô. Mình mua thức ăn đem về nhà như hôm qua được không anh?
Tôi dành phần đi mua thức ăn cùng với bé Lan Huệ. Con bé vui hẳn lên, tự động nắm tay tôi kéo đi. Không ai nói ăn gì nên tôi tự quyết định tới tiệm cơm gà nổi tiếng ở gần chợ Quảng Ngãi mua về.
Trong suốt bữa ăn gia đình, tôi cố pha trò để phá tan không khí u trầm nhưng không thành công mấy. Phương Lan và bà cụ vẫn chỉ ăn chút đỉnh; tôi và con bé cứ ăn ngon lành vì bụng đói. Tôi chưa nói gì về những dự định sắp tới, chỉ mở hé chút chút là ngoài tin buồn cũng sẽ có tin vui…

9.
Sau khi Huệ trút hơi thở sau cùng và trong lúc chờ giảo nghiệm, tôi dàn xếp với nhà thương rồi cấp tốc chạy về ngân hàng Chase mở tủ sắt đọc di chúc để biết phải làm gì.

Trong di chúc, Huệ cho tôi chi tiết để liên lạc với hãng bảo hiểm nhân thọ AIG ngay sau khi Huệ tắt thở để được hướng dẫn. Huệ muốn được hỏa thiêu; nhờ tôi tìm cách bán căn nhà và chiếc xe; đến nhà băng đóng trương mục, lấy hết tiền ra; đến ngôi chùa nơi để di ảnh của Mẹ, trích ra $5 ngàn để cúng chùa. Khẩn cầu tôi đi Việt Nam về Mỹ Khê tìm gặp mẹ con Phương Lan trao lại tất cả số tiền còn lại để nàng buôn bán nuôi con và lo cho mẹ già sau khi chi trả tất cả những khoản chi phí cần thiết, kể cả chi phí cho chuyến đi của tôi; tiền bảo hiểm nhân thọ ký thác vào quỹ học vấn cho con gái Lan Huệ. Huệ cũng bày tỏ ước mong Phương Lan sẽ thay Huệ chăm sóc mồ mả của Ba Huệ ở Mỹ Khê…

Tôi chảy nước mắt vì những toan tính tình nghĩa và chu đáo của Huệ. Tôi gọi ngay cho hãng bảo hiểm. Ngạc nhiên thay, họ đã biết trước, đã chuẩn bị sẵn giấy tờ cho tôi ký nộp qua internet. Tôi thắc mắc hỏi họ, họ chia buồn và nói với tôi Huệ đã chuẩn bị cho việc ra đi từ mấy tuần trước. Nhờ vậy mọi thủ tục rất suôn sẻ.

Sau khi xong việc tang lễ, tôi mang hũ tro cốt để tạm vào chùa (cho tới khi tôi mang đi Việt Nam) nhân dịp đến cúng viếng theo lời dặn của Huệ. Vị trụ trì cũng là chỗ quen biết lâu dài nên dành cho tôi mọi sự dễ dàng. Tôi nhờ chú em làm địa ốc đăng bảng bán nhà sau khi đã mướn người dọn dẹp, lau chùi, cắt cỏ sạch sẽ. Nhà trệt có 3 phòng ngủ, rộng 1700 square feet, hai phòng tắm, mái nhà thay chưa quá 5 năm, nhà để xe riêng, khoản đất ¼ mẫu, bàn ghế tủ giường còn nguyên vẹn. Chú em đề nghị đăng giá $120 ngàn gồm luôn đồ đạt. Đồng thời tôi cũng liên lạc với một người bạn quen, có công ty mua bán xe cũ để bán chiếc xe của Huệ. Chiếc xe Toyota Camry 2008, bạn nói vì thương hoàn cảnh của Huệ nên mua giúp $10 ngàn, không tính thuế. Tôi liên lạc với hãng bảo hiểm AIG làm thủ tục chuyển hết số hiện kim vào một trương mục đặc biệt tôi vừa mở ở ngân hàng Citibank. Trong khi đó tôi cũng xếp đặt công việc ở trường võ, giao cho một học trò lớn tuổi, cao đẳng nhất để trông coi trong thời gian tôi vắng mặt.
Trong đời tôi thăng trầm cũng lắm, gian nan cũng thừa trong bất cứ công việc gì tôi làm; thế nhưng, trong tiến trình lo cho Huệ mọi việc đều trơn tru, mau lẹ. Nhiều lúc tôi nghĩ có lẽ Huệ theo phò hộ cho tôi nên mọi chuyện mới êm thắm như vậy.

Nhà đăng bảng chưa đầy một tháng đã có mấy người muốn mua; trong số đó có một cặp vợ chồng lớn tuổi người Việt ở California mới dọn về, muốn mua một căn nhà nho nhỏ, trả tiền mặt, để an hưởng tuổi già. Họ hẹn đến xem nhà rồi đồng ý mua luôn với giá $122 ngàn tiền mặt, đặt cọc 20% ngay trong ngày. Chú em tôi vui mừng gọi báo cho biết; rồi năm ngày sau, giấy tờ sang nhượng hoàn tất. Chú em chỉ lấy ít tiền công tượng trưng.

Tôi làm một cuốn sổ nhỏ, ghi tất cả những dữ kiện về tài chánh của Huệ để sau này trao lại cho Phương Lan.

***

Hai giờ chiều chúng tôi có mặt ở ngân hàng. Phương Lan rất đỗi ngạc nhiên thấy tôi mở hai trương mục, một cho nàng và một dành riêng cho con bé. Càng ngạc nhiên đến nỗi không tin là sự thật khi tôi chuyển ngân vào mỗi trương mục. Tổng số tiền cho nàng là $124+ ngàn (gồm tiền bán nhà, bán xe, sổ tiết kiệm); của con bé $105+ ngàn (gồm $100 ngàn trị giá bảo hiểm và tiền lời). Tôi đề nghị nàng lấy ra một ít để chi dụng và lo thuốc men, số còn lại để trong nhà băng cho an toàn cho tới lúc cần dùng thì lấy. Nàng đồng ý lấy ra 10 triệu tiền mặt.

Tôi thật không ngờ mọi sự việc lại xảy ra một cách mau lẹ và suôn sẻ như vậy. Khi mọi thủ tục đã xong, tôi mở xách tay lấy ra tờ di chúc của Huệ để lại cho riêng tôi, và cuốn sổ tài chánh trao lại cho Phương Lan giữ làm kỷ niệm. Tôi cũng nói luôn ước nguyện của Huệ muốn nàng thay Huệ chăm sóc mộ phần của ông cụ. Nước mắt lại lả chả rơi; nàng sụt sùi khóc như thế suốt trong thời gian làm thủ tục giấy tờ.

Tôi thở phào khoan khoái như trút được gánh nặng trên lưng. Cám ơn người nhân viên ngân hàng rối rít. Chúng tôi đứng dậy ra khỏi nhà băng. Đôi chân tôi nhẹ tênh, tâm hồn tôi bềnh bồng. Sức khỏe Phương Lan quá yếu, tôi phải dìu nàng ra cửa gọi taxi đưa nàng về nhà. Tôi dự định về tới nhà dặn dò đâu đó xong xuôi sẽ nói lời từ giã với mọi người. Phương Lan rất yếu để đi hết hai con hẻm nhưng tôi ngại người ta dòm ngó đành để nàng chậm chạp bước đi một mình, tôi theo sát sau canh chừng. Khi tới ngõ đã thấy bà Cụ và con bé bắc ghế ngồi trước cửa như trông đợi. Con bé thấy mẹ chạy lại ôm chầm, dìu mẹ nó vào giường rồi xoay lại ôm tôi và khóc. Tôi cảm động ôm chặt con bé vào lòng, thủ thỉ:
– Từ nay về sau cháu ngoan của chú không cần đi bán vé số nữa. Ba của cháu đã chuẩn bị hết việc học hành cho cháu rồi. Cháu phải hứa với chú học hành ngoan ngoãn để nên người hữu dụng mai sau. Đó cũng là ước nguyện của ba cháu. Ba cháu đã thương nhớ cháu vô cùng!
Con bé khóc lớn, nói trong tiếng nấc:
– Dạ con hứa với Ba, con hứa với Chú!
Tôi gật đầu chào bà cụ, bế con bé trên tay cùng bước đến trước bàn thờ khói hương nghi ngút, tôi đặt con bé xuống, loay hoay đốt hai nén nhang, trao cho con bé một… Phương Lan cũng tới đứng một bên từ lúc nào, tôi trao nén nhang còn lại cho nàng và đốt thêm một cây khác. Tôi khấn lớn:
– Huệ quý mến, Thầy đã giữ trọn lời hứa với em rồi đó, đã chu toàn tốt đẹp một “mission” tưởng đâu “impossible”; một sứ mạng tinh thần đầy nước mắt. Thầy biết chắc có sự phù trợ của em nên mọi việc đều thông suốt, hoàn mỹ. Thầy cám ơn em. Bên kia thế giới chắc em đang nở nụ cười mãn nguyện. Thầy tiếc cho em có vợ đẹp con ngoan mà không cùng cộng hưởng hạnh phúc gia đình lâu dài. Có lẽ mỗi người chúng ta khi sinh ra đã được xếp đặt cho một định mệnh riêng biệt. Định mệnh của em có nghiệt ngã nhưng Thầy chắc những người thân yêu này sẽ làm rạng danh em. Cầu xin linh hồn em đời đời an lạc nơi cõi vĩnh hằng.
Phương Lan khóc rấm rứt, cắm nhang rồi phũ phục xuống đất lạy trước di cốt của Huệ. Con bé cũng quỳ lạy theo mẹ. Cụ bà ngồi ở cạnh giường tự nãy giờ cũng lặng lẽ đứng dậy thắp nhang lên bàn thờ.

Ngoài hiên bóng chiều mờ dần, tiếng ồn ào của thị tứ cũng lắng xuống cùng với tiếng rao hàng thỉnh thoảng vang lên. Tôi ngỏ lời chào tạm biệt nhưng ai cũng năn nỉ tôi ở thêm chút nữa. Phương Lan vừa khóc vừa nói:
– Lần chia tay này không chắc có lần tái ngộ. Xin anh ở lại dùng bữa cơm cuối cùng với chúng em. Em không biết nói gì hơn ngoài tấm lòng tri ân sâu xa của gia đình em đối với nghĩa cử cao đẹp của anh. Em xin lạy anh một lạy đền ơn…
Tôi nhảy tránh qua một bên để nghe nàng nói tiếp:
– Em xin hứa với anh và vong linh Huệ, em sẽ tự lo thân mình, bảo trọng sức khỏe và tận tình chăm sóc Lan Huệ; nhất định cháu sẽ học hành tới nơi tới chốn để có một tương lai rạng rỡ như di ngôn của Ba nó. Việc mồ mả của Ba Huệ, em đã là vợ của Huệ nên đã và đang thay mặt chồng lo việc hương khói từ lúc cưới nhau đến giờ.
– Cậu ráng ở lại với chúng tôi một lúc nữa nghe. -Bà cụ nói.
– Chú đi con buồn lắm!
Nói xong nó lại khóc ròng. Tôi cũng buồn bã nói:
– Trước sau gì cũng phải chia tay. Tôi sẽ đưa số điện thoại của tôi bên Mỹ cho Phương Lan để khi nào cần thiết thì liên lạc. Việc tôi làm hoàn toàn do lòng tự nguyện và do tấm lòng quý mến người học trò đầy tình nghĩa của tôi. Vì thế, tôi không dám nhận cái lạy đền ơn của cô nhưng tôi nhận lời với mọi người… ở lại dùng cơm tối với gia đình.

Tôi lại đi với Bé Lan Huệ mua thức ăn đổi món nhưng bà cụ và Phương Lan cũng chẳng ăn uống gì khá hơn mặc dù cô ý tá đã trở lại chích thêm cho nàng một ống thuốc khỏe.
Khoảng 9g tối tôi ra về, lòng tràn ngập niềm vui, chân bước lâng lâng, tâm hồn nhẹ nhàng… nhưng khi về tới phòng thì đôi mi nặng trĩu, đôi chân rời rã, đặt lưng nằm xuống là ngủ vùi một giấc, không còn biết trời trăng gì cả cho tới hơn 8 giờ sáng hôm sau khi những tiếng động của mấy người dọn phòng làm tôi thức giấc.

10.
Tôi xếp đặt thì giờ để đi Mỹ Khê thăm nhà thờ Đại Tôn, nhà thờ Tiểu Tôn và nhà thờ Thái Bảo Trương Đăng Quế một chuyến; nhân tiện ghé thăm một vài người bà con thân thuộc rồi sáng mai trở về Saigon, tuần sau về lại Mỹ.

Vừa bước ra phòng khách, tôi khựng lại vì thấy Phương Lan đã đứng đó từ lúc nào! Nàng có vẻ mừng ra mặt nhưng bỗng nước mắt lại rơi! Tôi chưa kịp nói gì thì nàng đã nói:
– Em sợ anh đi sớm nên đến đây chờ từ lúc 6g sáng hỏi thăm chị Lễ Tân (front desk) cho biết anh còn đang ngủ nên ngồi chờ tới bây giờ.
Tôi ái ngại nhìn nàng và mời nàng ngồi xuống ghế, âu lo hỏi:
– Có chuyện gì không Phương Lan?
– Dạ không có gì quan trọng lắm. Tối qua khi anh về rồi em vẫn bâng khuâng thương tiếc Huệ nên không ngủ được. Em lấy bản Di Chúc của Huệ và cuốn sổ nhỏ của anh đưa ra xem. Em thấy anh ghi tỉ mỉ việc tài sản của Huệ và chi tiết chi tiêu nhưng không thấy chi phí cho chuyến đi của anh như lời Huệ muốn nên em đến tìm anh để xin anh cho em gửi lại tất cả chi phí theo lời dặn dò của Huệ trong di chúc. Nếu không, em sẽ áy náy suốt đời.
– Phương Lan không cần phải áy náy. Như tôi đã nói, công việc này hoàn toàn tự nguyện như một nghĩa cử cuối cùng đối với một người học trò yêu quý đã đặt hết niềm tin vào mình. Thật sự lúc đầu tôi nghĩ sẽ làm như vậy, nhưng suy đi nghĩ lại tôi thấy không thể làm như thế được, nhất là khi thấy tình cảnh sống của Bà cụ và mẹ con Phương Lan. Thật ra, tất cả những chi phí cho chuyến đi này đối với tôi không đáng là bao nhiêu, mong cô yên tâm để cho tôi có cơ hội làm được một việc đáng làm và kể như quà tặng của tôi dành cho gia đình cô vậy.
Phương Lan đứng lên tiến lại phía tôi. Tôi cũng ngập ngừng đứng dậy, nàng ôm choàng tôi vừa khóc vừa nói:
– Anh đã noái rứa thì em xin nghe. Mạ con em xin kết cỏ ngậm vành cảm tạ tấm lòng cao thượng của anh.
Thấy mọi người nhìn làm tôi luống cuống, gỡ tay nàng dìu ngồi xuống ghế:
– Xin đừng nói chuyện ân nghĩa nữa. Cô hãy ráng bảo dưỡng sức khỏe thật tốt để lo cho bà cụ và cháu Lan Huệ. Tôi không cần nhắc cô cũng thừa biết là rất nên cẩn thận trong việc giao tế. Cũng không cần bày là cô cần phải làm gì để có tương lai tốt đẹp hơn. Tôi quý mến con bé lắm, nó rất thông minh, hiếu nghĩa giống ba mẹ nó. Xin giữ liên lạc; nếu tôi có dịp trở lại Quảng Ngãi lần sau, tôi sẽ tìm thăm mọi người. Bây giờ thì tôi phải đi Mỹ Khê. Kể như đây là lần từ giã cuối cùng.
– Em ước phải chi sức khỏe của em tốt em sẽ đi cùng với anh về Mỹ Khê hôm nay luôn.
– Khi nào xong hết mọi việc và sức khỏe cho phép, cô về cúng ông cụ mâm cơm là tốt rồi!
– Em xin nghe lời anh. Chúc anh đi bình yên.

Chúng tôi cùng đứng dậy sánh vai bước ra cửa. Không gian bên ngoài tràn ngập tiếng còi xe và tiếng người qua lại ồn ào bất tận. Phương Lan cúi mặt bước đi bên tôi, nghe tiếng nàng sụt sịt nhưng tôi làm như không để ý, nói lời từ biệt lần nữa. Bất ngờ nàng quay lại ôm chặt tôi, sau một khoảnh khắc, buông tay quay mặt vội vã bước đi hòa lẫn vào đám đông tấp nập trên đường. Tôi thương cảm nhìn theo “tội nghiệp cho một kiếp con người”.

Ánh nắng hè chói chang, cùng tiếng ve sầu râm ran hòa nhập vào hoạt cảnh của một thành phố cố vươn mình lên trong một xã hội phát triển không mấy trật tự.
Đó, Quảng Ngãi quê tôi!

Mùa Hè 2014

Sứ Mệnh Tinh Thần




Giỗ Tổ Hát Bội

KIỀU MỸ DUYÊN

Giỗ Tổ hát bội lần thứ 10 tại Thư Viện Việt Nam

10872 Westminster Ave, Suite 214 & 215

          Tôi dặn cô thư ký mỗi lần thư viện Việt Nam trên lầu có hội họp của cộng đồng người Việt Nam thì cho tôi hay. Người ta tổ chức vất vả thì phải có người tham dự, có thư mời hay không tôi vẫn đến. Thường thường, tôi đến nơi sinh hoạt của cộng đồng Việt Nam bao giờ cũng được ân cần mời vào phòng họp và mời vào ghế ngồi dù đến muộn. Vẫn chưa có một người nào ban tổ chức đuổi ra, có lẽ đó là phước đức ông bà để lại cho con cháu nhờ. Bởi vậy, cuối tuần tôi hay đi như bay show của các ca sĩ.

          Chủ nhật 10/10/2021, Câu Lạc Bộ Hát Bội và nghệ sĩ Thiên Thanh tổ chức giỗ Tổ hát bội, một môn nghệ thuật cổ truyền tại thư viện Việt Nam. Tôi vừa bước vào cửa, cô tiếp tân với nụ cười thật tươi, cô nói cảm ơn tôi đã thông báo dùm trên đài truyền hình và đài phát thanh. Trong chiếc áo dài lộng lẫy, cô nói nhanh như nhà binh. Cô cũng là ca sĩ nhưng hôm nay làm nhiệm vụ tiếp tân mời khách ngồi và ăn trưa. Nhiều ca nghệ sĩ có mặt trong ban tổ chức. Đỗ Thanh, giám đốc Entertainment, là một trong những mạnh thường quân đóng góp cho lễ giỗ hát bội. Đỗ Thanh ca cải lương rất hay và ca tân nhạc cũng xuất sắc

          Tôi chợt nhìn lên bàn thờ nho nhỏ, đó là bàn thờ Tổ. Thường hát cải lương, hát bội đều có Tổ nghiệp. Các ca nghệ sĩ thường khấn lạy Tổ nghiệp trước khi diễn. Hình ca sĩ Phi Nhung đặt cạnh bàn thờ. Ca sĩ Phi Nhung vừa qua đời, cô hát được cải lương và tân nhạc. Cô được mọi người mến chuộng nhắc đến nhiều vì có lẽ cô ca cổ nhạc rất hay, rất có hồn. Phi Nhung chết vì bệnh Covid-19 ở Việt Nam, hỏa táng ở Việt Nam đem tro về Hoa Kỳ. Con gái của Phi Nhung, Wendy Phạm mơ ước thi hài của mẹ được đem về Mỹ, nhưng than ôi, mơ ước không thực hiện được vì nhiều thủ tục phức tạp nên phải hỏa táng ở Việt Nam, đem tro về lại Mỹ và được làm lễ cầu siêu  ở chùa Huệ Quang, thành phố Santa Ana.

          Một người vừa ra đi, nhiều người thương mến.

Bàn Thờ Tổ

          Khi chúng tôi vừa đến thì trên sân khấu nhiều nghệ sĩ đang trổ tài. Người nào hát cũng hết lòng với trái tim của họ để trong tiếng hát lời ca. Hội trường im lặng, tiếng đàn, tiếng hát hòa lẫn với nhau, mọi người thưởng thức các nhạc phẩm một cách say mê.

          Ngày xưa ở Việt Nam, môn cải lương và hát bội được nhiều người yêu chuộng, nhưng khi ra ngoại quốc, những môn này vẫn còn tồn tại nhưng không được tổ chức thường xuyên vì quá tốn kém, không nhiều người thưởng thức những môn nghệ thuật này. Lâu lâu chúng tôi mới nghe nói tới có tổ chức hát cải lương, hát bội nhưng không nhiều.

          Tiếng hát Ái Liên trên sân khấu vẫn nỉ non, với tiếng đàn da diết của các nhạc sĩ. Tôi còn nhớ tôi gặp Ái Liên ở chùa Bảo Quang, chùa Huệ Quang và nhiều chùa khác khi cô vừa định cư ở Hoa Kỳ. Cô đi hát nhiều lắm, hát ở các chùa miễn phí. Tiếng hát của cô đi vào lòng của mọi người. Nhiều nghệ sĩ hiện diện hôm nay đi hát rất nhiều, hát miễn phí. Tôi rất ngưỡng mộ những nghệ sĩ làm việc từ thiện vì nghệ thuật. Tôi cũng gặp ca sĩ Minh Tuyết ở chùa Bảo Quang, Đạo Tràng Nhân Quả, các viện dưỡng lão. Tiếng hát của Ái Liên và Minh Tuyết càng ngày càng điêu luyện. Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh, luyện tập thường xuyên, hát sẽ hay thêm.

          Môn hát bội và cải lương được nhiều người yêu chuộng ở Việt Nam trước năm 1975, sang Hoa Kỳ 2 môn nghệ thuật này không được thịnh hành lắm, vì số nghệ sĩ lớn tuổi điêu luyện hát 2 môn này không nhiều, và từ từ số người lớn tuổi đã ra đi, đồng bào thưởng thức 2 môn này cũng không đông lắm. Giáo sư Dương Ngọc Bầy, giáo sư dạy hát bội trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn trước 1975, cho biết hát bội là môn nghệ thuật đầu tiên của ngành ca diễn dân tộc. Tại miền Nam California, nghệ sĩ Thiên Thanh tiếp tục nối gót giáo sư duy trì môn hát bội.

          Trước năm 1975, tôi làm cho nhật báo Hòa Bình, chủ nhiệm là linh mục Trần Du. Nhân viên của tòa soạn toàn là người Bắc, chỉ vài người Nam là tôi và ký giả Hồ Nam, cho nên tất cả thiệp mời đi xem hát bội, cải lương đều được giao cho tôi. Ban đầu, tôi không biết gì về hát bội và cải lương nhưng đi xem mãi tôi đam mê lúc nào không hay? Đây là môn nghệ thuật rất khó diễn xuất, chẳng hạn nghệ sĩ Phùng Há diễn xuất làm tướng, trang phục lộng lẫy, diễn xuất rất linh động. Nếu một người không có sức khỏe khó có thể diễn xuất mấy giờ liên tục múa gươm, múa kiếm, vừa diễn xuất vừa hát cùng một lúc. Hồi đó, nhiều khán giả mê Phùng Há lắm, trong đó có tôi. Trước 1975, rất nhiều nghệ sĩ cải lương nổi tiếng như nghệ sĩ Bích Thuận, Bích Sơn, nghệ sĩ Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Hùng Cường, Bạch Tuyết, Kim Cương, v.v. làm say đắm lòng người mộ điệu.

          Tôi là phóng viên viết tin tức, viết đủ loại, viết với trái tim của mình, viết về trẻ mồ côi, người già trong viện dưỡng lão, viết về lính, viết về chiến tranh, làm thơ, nhưng chưa có bài thơ nào được nhạc sĩ phổ nhạc. Có lẽ lúc đó tôi không quen nhạc sĩ, dù nhạc sĩ đến thăm tờ báo Hòa Bình rất nhiều.

Nghệ sĩ Bích Thuận

Nghệ sĩ Phùng Há

Nghệ sĩ Bích Sơn

          Hát bội, hát cải lương, người nghệ sĩ phải tập luyện nhiều lắm, không khác gì võ sinh đi tập võ ở võ đường, từ giờ này đến giờ khác, tóc ướt mồ hôi. Viết về hát bội, về cải lương nhiều năm, tôi rất kính phục những nghệ sĩ đam mê hai môn nghệ thuật này.

          Hôm nay, rất tiếc tôi đến trễ, tính của tôi là người đúng giờ nhưng cuối tuần chạy từ chỗ này đến chỗ khác, đường xá cuối tuần hay kẹt xe nên đến trễ, dù văn phòng tôi ở dưới lầu, bước lên lầu chỉ mấy phút.

          Những tà áo dài tha thướt, lộng lẫy bước lên cầu thang. Hôm nay, không phải chỉ hát bội, hát cải lương mà có những ca sĩ rất trẻ, thế hệ thứ hai, thứ ba hát tân nhạc. Ở Mỹ này, sao cô nào cũng đẹp. Thư viện Việt Nam không phải là rạp hát, nhưng tình cảm của đồng bào yêu nghệ thuật hát bội và cải lương làm cho hội trường ấm áp hơn, vui vẻ hơn.  Thức ăn bày đầy trên bàn: xôi, thịt quay, trái cây, v.v. Vừa ăn, vừa nghe hát miễn phí, người nào cũng vui, khuôn mặt rực rỡ vì được nghe hát.

          Chương trình ngày giỗ tổ hát bội rất phong phú ở thư viện Việt Nam đường Westminster và Euclid, thành phố Garden Grove. Đồng bào tham dự trang phục rất chỉnh tề, phụ nữ mặc áo dài, có các cụ tóc bạc phơ, đa số là người Nam. Ban tổ chức làm theo phong tục cổ truyền: chào cờ, tế lễ, đọc diễn văn của ban tổ chức, cảm tưởng của quan khách, v.v.

          Các tiết mục biểu diễn: Quang Trung Bắc Tiến (Ngọc Ân vai vua Quang Trung, Thiên Thanh vai công chúa Ngọc Hân), Thi Sách và Trưng Trắc (Ngọc Ân trong vai Thi Sách, Ái Liên trong vai Trưng Trắc), ca sĩ Bích Thuận với bài Về đi anh, Minh Hùng ca tân cổ, Don Nguyễn ca tân cổ, Quế Phương với Cát bụi cuộc đời, ca sĩ Tuyết Minh với Chuyện một con đò, Minh Tâm với Cung đàn xưa của Văn Phụng, và nhiều ca sĩ khác như Mỹ Hiếu, Hoàng Ngọc Thúy, Lam Phương, Diệu Liên, Hạnh Cư, Oscar, mục sư David Huỳnh, v.v.

          Một buổi giỗ tổ vô cùng phong phú với nhiều nghệ sĩ tham dự, ban nhạc hùng hậu, không khí rất vui. Cô xướng ngôn viên vui vẻ làm cho hội trường lúc nào cũng náo nhiệt.

          Mong rằng trong cộng đồng Việt Nam được tổ chức nhiều buổi hát bội, hát cải lương. Nếu phổ biến rộng rãi chắc chắn sẽ được nhiều người hưởng ứng. Nghe nhạc miễn phí, ca sĩ hát với trái tim của mình, được mời hay không được mời, đồng bào mình biết thì cũng sẽ đến.

          Chúc cho người có lòng nào cũng được đón nhận một cách nồng nhiệt. Mong lắm thay.

Orange County, 18/10/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




Chớm Thu

Hình như trời đất… chớm thu …

Không gian tim tím sương mù sa sa .

Chim khuyên cũng biếng hát ca ,

Nằm Yên trong ổ mộng mơ bên chồng .

– Vườn ai hoa nhạt sắc hồng ,

Bướm quên thệ nguyện – quên lòng tương tư .

 Cô em qua ngõ quên dù ,

Xoã nguyên mái tóc – y bờ liễu xanh .

– Dung nhan em chớm khuynh thành ,

Cho vừa giấy mực thơ anh gieo vần .

Vào thu …man mác nắng vàng ,

Ấm lòng anh …

Như chiếc  khăn  quàng em trao .

– Chớm Thu – Chớm thu …

Thật rồi sao ….

THƯ KHANH Seattle CHỚM THU




Vĩnh biệt một nhân vật phụ nữ lịch sử

bay final.jpg

Vĩnh biệt một nhân vật phụ nữ lịch sử: Bà Nguyễn Thị Mai Anh, Phu nhân của cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vừa mới qua đời tại San Diego.

(TM tổng hợp)tam final.jpg

*Phác họa chút nét chân dung

Bà sinh năm 1931, tên Nguyễn Thị Mai Anh là con gái thứ bảy (nên còn có biệt danh Cô Bảy Mỹ Tho) trong một gia đình Công giáo ngoan đạo, ở Mỹ Tho, có mười anh chị em. Tin Bà vừa tạ thế năm 2021, Tai California, Hoa Kỳ, hưởng thọ 90 tuổi.

Lúc còn là cô gái trẻ, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng người em gái là cô Tám Hảo thường xuyên lên Sài Gòn để đi học và thăm thân nhân. Do gia đình quen biết với Dược sĩ Huỳnh Văn Xuân, làm việc ở viện bào chế Trang Hai, hai chị em Bà được giới thiệu làm trình dược viên, (giới thiệu thuốc) tại Viện bào chế Roussell. Chính ông Huỳnh Văn Xuân làm mai mối cho Nguyễn Văn Thiệu (lúc đó đang đeo lon Trung úy) quen Mai Anh. Mặt khác, cậu Mai Anh là Đặng Văn Quang cũng là bạn đồng khóa Trường Võ bị Đà Lạt với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, nên cả hai người được khuyến khích, cổ võ se duyên thành vợ chồng. Dù có đôi chút trở ngại vì Mai Anh theo đạo Công giáo. Ông Bà chính thức cử hành hôn lễ năm 1951. Sau này, vào năm 1958, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mới rửa tội theo đạo.

Thời gian Ông Thiệu cầm quyền, Bà hoàn toàn không can dự vào chính trường, mà chỉ chú tâm vào các hoạt động xã hội.

Ở cương vị là Phu Nhân của Tổng Thống, Bà rất thông cảm với sự thiếu thốn những trung tâm y tế phục vụ người dân. Vì thế, sau nhiều năm hoạt động xã hội, Bà Nguyễn Thị Mai Anh là người đã gợi ý và khởi xướng thành lập một bệnh viện phục vụ người dân, ngay tại thủ đô Saigon.

Bệnh viện Vì Dân tọa lạc tại ngã tư Bảy Hiền, thường được giới bình dân Sài Gòn hay kêu đó là “bệnh viện Bà Thiệu!” Bệnh viện được xây dựng do Bà vận động quyên tiền từ thiện của nhiều người bao gồm: Thân hào Nhân sĩ, Thương gia, Kỹ nghệ gia.

Bệnh viện Vì Dân là bệnh viện tư nhân, nhưng được điều hành như bệnh viện công. Người dân vào khám và chữa bệnh được miễn phí hoàn toàn. Sau khi Bác Sỹ khám bệnh xong thì bệnh nhân được phát thuốc theo toa. Nếu ai bị bệnh nặng thì được nằm lại bệnh viện để chữa bệnh.

Bệnh viện Vì Dân được khánh thành ngày 20 tháng 3 năm 1973, với 400 giường bệnh và nhiều phân khoa khác nhau: Khoa Ngoại và Nội trú, khoa giải phẫu, khoa xét nghiệm, khoa tai mũi họng, khoa quang tuyến, nhãn khoa, khoa nhi đồng, nhà thuốc tây. Bệnh Viện Vì Dân là bệnh viện lớn và tân tiến nhất ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Bệnh viên có nhiều vị Bác Sỹ và Y Tá chuyên môn, cũng như xử dụng những dụng cụ y khoa tân tiến nhất.

Sau 72, cuộc chiến càng ngày càng leo thang, sau khi quyết định cuộc “Triệt Thoái Cao Nguyên”, ngày 21 tháng 4 năm 1975, do những áp lực từ chiến trường, từ các Quốc gia đồng minh, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức trên đài truyền hình. Sau đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng gia đình rời khỏi Việt Nam vào đêm 25 tháng 4, và bay tới Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch với tư cách là Đặc sứ của Việt Nam Cộng hòa. Lúc đầu cả gia đình sang sống tại Đài Loan, nơi trước đó ông Nguyễn Văn Kiểu, anh ông Thiệu làm Đại sứ.

Sau khi con trai thứ hai, Nguyễn Quang Lộc sang Anh Quốc học, thì cả nhà lại sang London định cư, và sống ở đó trong suốt 15 năm. Khi mấy người con sang Mỹ để tiếp tục con đường học vấn năm 1985, thì cả nhà cũng đến định cư tại thành phố Boston, Hoa kỳ, vì Bà Mai Anh muốn ở gần những người con tthân yêu của mình.

Ông bà có 3 người con là:

– Nguyễn Thị Tuấn Anh (Trưởng nữ)

– Nguyễn Quang Lộc (Trưởng nam)

– Nguyễn Thiệu Long (Thứ nam)

Ngày 29 tháng 9 năm 2001, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ trần tại Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess Medical Center thuộc thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ, sau khi bị đột quỵ ở nhà. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được an táng tại Boston. Lúc mất ông hưởng thọ 78 tuổi.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nói: “Tôi mong có dịp về lại Việt Nam thăm mồ mả Ông Bà, và mang tro cốt của ổng (chồng, Nguyễn Văn Thiệu) về khi đất nước bình yên; Ông Già có trối rằng: “Nếu được thì đem chôn tại quê ông ở Phan Rang, nếu không thì rải một nửa xuống biển và một nửa trên núi”, Bà nói như vậy về ước vọng của Bà như một phụ nữ Việt Nam bình thường, không quên ơn Tổ tiên dòng họ “cây có gốc, người có cội”.

Những  người từng làm việc trong Dinh Độc Lập dưới thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã nói về Bà như sau: “Chúng tôi luôn luôn giữ lòng quý mến đối với Tổng thống Phu nhân. Bà lúc nào cũng giữ nếp sống bình dị của người đàn bà phúc hậu, bao dung của sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đối với chúng tôi, Bà Thiệu là hình ảnh một người mẹ, một người vợ hiền đảm đang hơn là một vị Đệ Nhất Phu nhân. Tuy sống trong tột đỉnh của quyền thế và nhung lụa giàu sang, nhưng Bà Thiệu là người đáng kính, không có cái kênh kiệu của một người có quyền thế, mà chỉ biết lo cho gia đình, phụng sự xã hội mà thôi.”

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lúc nào cũng vui vẻ và thân thiện với tất cả mọi người chung quanh. Khuôn mặt phúc hậu và nhân cách của Bà làm người đối diện cảm thấy gần gũi yêu thương và kính trọng. “Bà không bao giờ câu nệ về cách cư xử của nhân viên thuộc cấp. Mỗi lần gặp mặt, Bà luôn luôn lên tiếng hỏi thăm sức khỏe chúng tôi trước, không kịp để chúng tôi chào Bà. Điều đặc biệt là Bà không bao giờ đề cập đến bất cứ chuyện gì có liên quan đến việc làm chính trị của Tổng Thống Thiệu với chúng tôi.”

Hằng tháng, nhất là những dịp Lễ Tết, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thường đi ủy lạo Thương binh ở khắp bốn vùng chiến thuật cũng như tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Đồng thời bà còn tham gia rất nhiều hoạt động xã hội và từ thiện nữa. Nhận thấy xã hội còn nhiều nhiễu nhương nên Bà Nguyễn Thị Mai Anh, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã thành lập “Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội” vào ngày 1 tháng 6 năm 1968 để an ủi và giúp đỡ người dân. Bà nói: “Xã hội bây giờ đang nhiễu nhương. Phụ nữ phải tham gia làm công tác xã hội với sự yêu thương và đồng cảm, để có thể xoa dịu phần nào sự đau khổ người dân của đất nước!”.

Cả thời gian Ông Thiệu cầm quyền, Bà dành hầu hết thì giờ của mình để cứu trợ những người tỵ nạn chiến tranh, quả phụ mất chồng trong cuộc chiến và đặc biệt là những cô nhi bị bỏ rơi. Trong một lần đi thăm trẻ em mồ côi ở cô nhi viện Don Bosco tại Saigon, thì Bà bồng một em bé lên, với khuôn mặt rạng rỡ và nụ cười rất tươi, Bà nói với mọi người hiện diện rằng: “Một trong những đặc ân mà tôi thích nhất, là cái ngày mà tôi được quyền ôm và gọi tất cả các em cô nhi là các con của tôi.“

Nhân lúc bế giảng khóa học dành cho những bà vợ của thành viên nội các tại Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4 năm 1968, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nói: “Phụ nữ, ngoài nhiệm vụ ở hậu phương là yểm trợ tiền tuyến, bằng cách giúp băng bó những vết thương mà còn có thể xông pha ngoài chiến trận để đánh giặc như Hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị nữa. Tôi nghĩ rằng phụ nữ nên tự nguyện học một khóa căn bản về quân sự để có chút hiểu biết hầu có thể giúp đỡ tiền tuyến lúc cần thiết”.

Không những Bà thường xuyên đi hiến máu, Bà còn khuyến khích mọi người đi hiến máu như Bà. Năm nào Bà cũng tham dự ngày lễ diễn hành nhân ngày giỗ Hai Bà Trưng. Ngay cả lúc cư ngụ ở Mỹ, Bà vẫn tham dự ngày lễ giỗ Hai Bà hằng năm.

Mặc dầu là vợ của một Tổng Thống, nhưng vì sinh trưởng ở Mỹ Tho, nên giọng nói và tánh tình của Bà hiền hậu và dễ thương như những người dân chất phát sinh trưởng ở miền Nam.

Vào năm 1972, một người Hoa Kỳ làm việc tại Việt Nam, đã xin phép lấy tên Bà Nguyễn Thị Mai Anh đặt cho một giống Lan: “Brassolaeliocattleya Mai Anh.”

Năm 2009, Bà dọn qua sống với gia đình con trai là anh Nguyễn Quang Lộc thuộc tiểu bang California, vì Bà muốn ở gần con cháu của mình. Bấy giờ Bà đã hơi lớn tuổi nên sức khỏe của Bà không còn được như xưa. Tuy nhiên những lễ giỗ TT Thiệu, mà người Việt khắp nơi tổ chức, Bà vẫn cố gắng có mặt.

*Lời kết: Ra đi, nhưng để lại hình ảnh đẹp!

“Đất nước còn, còn tất cả, đất nước mất, mất tất cả!” hay “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, hảy nhỉn những gì CS làm!” như lời cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã nói, bao nhiêu năm trôi qua, chân lý ấy vẫn không sai.

Sau 46 năm, qua gần nửa thế kỷ, càng thêm thổn thức, thương nhớ 2 nền Cộng Hòa. Còn đâu những hình ảnh những người chiến sĩ chiến đấu quên mình, mang lại an toàn, thanh bình cho người dân. Những người hậu phương không quên ơn, có lòng đi thăm thương bệnh binh, ra ngoài tiền tuyến, đến các bệnh viện nơi hậu phương, hoặc tiền đồn hiểm nguy, mà bà Nguyễn Văn Thiệu là một trong những người đầy tấm lòng, muốn phục vụ đền ơn các Chiến Sĩ VNCH hy sinh vì nước như thế.

Sau khi Sài gòn sụp đổ, trưa ngày 30 tháng Tư, 75, Phu nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trở về với vai trò người mẹ, người vợ của đời thường khép kín, không còn xuất hiện trước đám đông, không còn ống kính truyền hình ghi nhận hình ảnh của bà khi đi ủy lạo thương bệnh binh ở các Tổng Y Viện Cộng Hòa, và các y viện tiền tuyến, nơi bệnh viện Vì Dân hay làm các công tác xã hội.

Sau bao nhiêu năm vật đổi sao dời, một mệnh phụ phu nhân ngày nào, nay vẫn giữ được nét thanh tao, quý phái, đường bệ, vẫn tươi cười hân hoan chào đón những cộng sự viên năm xưa của chồng mình, những chiến sĩ từng hy sinh cam khổ, vì dân mà chiến đấu, vì nước mà hy sinh, bảo vệ Miềm Nam tự do hạnh phúc trên 20 năm. Tuy quyền thế tột đỉnh, vẫn đối xử với mọi người, bằng một nụ cười đôn hậu của người phụ nữ miền Nam sông nước hiền hòa.

Vâng! Bà là đệ nhất phu nhân của đệ nhị Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa, Tổng Thống Phu Nhân Nguyễn Văn Thiệu khuê danh Nguyễn Thị Mai Anh là như thế. Bình dị, thân thiện, với tấm lòng nhân ái, Bà ra đi để lại hình ảnh rất đẹp trong tin người dân Miền Nam. Tin Bà mất đã làm nhiều người thương tiếc.

Một điều lạ là, Cộng sản VN sau 75, có kế hoạch bôi xấu các lãnh tụ miền Nam, nhưng lại không đụng đến Bà! (Bà Kỳ thì có!)

Nhắc lại một hình ảnh đẹp, từ một chân dung để tưởng nhớ một Nền Cộng Hòa, mà có muôn ngàn điều để hãnh diện về những vai trò “chiến sĩ” cùng chung lưng chiến đấu, họ ở tiền tuyến hay hậu phương, trong quân ngũ, hay dân chính, hoặc chỉ là những người vợ chiến sĩ, “Tình Quân Dân Cá Nước” một thời tay trong tay cùng nhau giữ nước. Nhưng vận nước vào thời kỳ đen tối, để mất tất cả.

Nơi xứ người, vắng bóng quê hương mờ khuất. Chúng ta cần có những điều cần ghi nhớ và hãnh diện của một thời dân chủ tự do no ấm, khi thời gian qua mau, nhắc nhở cho con cháu, trong đó có hình ảnh cao quý của Phu Nhân TT, Nguyễn Thị Mai Anh!

Sống đẹp như thế, Chúa sẽ rước Bà vào nước Thiên Đàng!

Vộ Cùng Thương Tiếc.bon final.jpg

mot final.jpg
hai final.jpg
nam final.jpg
ba ba final.jpg



(thơ song ngữ) NHỚ ƠI của CAO NGUYÊN & THANH-THANH