Hạt Mưa Niềm Nhớ





Kính thưa quí vị,
Giới thiệu một tác phẩm thơ luôn luôn làm tôi bối rối. Bối rối vì người làm thơ nói lên cảm xúc rất riêng tư của mình mà người đọc nhiều khi chỉ thấy thoáng qua, nên có thể không giới thiệu tới cái phần xâu xa của tác gỉa. Khác với chính khách, thi sĩ không đại diện cho đám đông, không nhân danh quần chúng. Người làm thơ chỉ phát biểu cảm xúc của riêng mình, với cảm quan rất cá biệt. Nói như nhà thơ Nguyễn Đức Sơn: “thơ là những gì phức biệt có riêng tôi”. Chính với cái cá biệt đó thi sĩ đã dựng lên một thế giới của riêng mình. Trong thế giới riêng đó thiên nhiên đột nhiên có sức sống, có mầu sắc, có hương vị riêng mà chỉ thi sĩ nghe thấy nhìn thấy ngửi thấy.
Với người không làm thơ buồn vui không liên quan tới mưa nắng. Chẳng hạn trời mưa chỉ nghe tiếng mưa rơi, nhưng nơi một người làm thơ như Huy Cận ông thấy cả sức nặng của bầu trời tạo nên cái buồn của mình:
Đêm mưa làm nhớ không gian
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng nghe ta buồn buồn
Ngược lại nơi Xuân Diệu, một tri kỷ của Huy Cận, thì cái buồn nó tới vì thi sĩ thấy trời nhẹ đi:
Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn
Cùng là nỗi buồn mà ngừơi thì thấy vì trời nặng, người thì thấy vì trời nhẹ. Hoàn toàn ngược chiều nhau. Thi sĩ là người đã tái tạo thiên nhiên như vậy. Chính cái cảm xúc khác biệt đó đã làm một người viết thành thi sĩ. Thi sĩ thấy và cảm những điều mà chỉ ông ta thấy và cảm mà người khác không thấy, không cảm.
Nhìn mây bay ta có thể nghĩ tới trời nắng hay sắp mưa, nhìn hoa nở ta thấy mùa xuân đang tới, nhưng ở Lý Bạch mấy trăm năm trước thì:
Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung
Nghĩa là nhìn mây bay ông nhớ tới xiêm áo tha thướt của nàng, nhìn hoa nở ông nhớ tới khuôn mặt diễm lệ của nàng. Những xúc động đó tới từ môt tâm hồn phong phú mà cũng rất riêng tư. Nhà thơ Joseph Brodsky, trong diễn văn nhận giải Nobel Văn Chương năm 1987 viết là: “Nếu nghệ thuật có dạy một cái gì cho nghệ sĩ thì đó chính là cái tính cách riêng tư của cuộc sống con người.” Ông nhận xét là người ta có thể chia sẻ nhiều thứ như bánh mì, chiếc giường, niềm tin nhưng không thể chia một bài thơ.
Chính vì cái rất đỗi tư riêng đó nhận xét về thơ luôn luôn là môt nghi vấn. May thay dù khởi đi từ cảm xúc riêng, bài thơ thành công luôn luôn truyền đạt đuợc tới người đọc cái cảm xúc của tác gỉa để người đọc cùng cảm cái rung động của tác gỉa. Từ một nỗi niềm tư để hòa vào một cái rất chung. Từ một cái riêng lẻ thành một cái rất tập thể.
Chính nhờ thế mà thơ trở thành phổ biến. Nó chuyên chở cái mà nhiều người cảm thấy nhưng không viết ra: tình yêu, nỗi nhớ nhung, mối hoài cảm v…v…. Băn khoăn, yêu vu vơ ở tuổi 20, dào dạt nỗi nhớ quê ở tuổi trưởng thành, ngậm ngùi với những hoài cảm khi xa quê hương. Thơ Hoàng Song Liêm là như vậy. Trong 100 trang thơ, từ những bài làm vào thập niên 50 tới những bài làm gần đây người đọc thấy tràn ngập tình yêu và nỗi nhớ nhung quê hương mà ông muốn truyền tới người đọc.
Rụt rè như:
Đo đắn phong thư gìn giữ mãi
Mong chờ hẹn dịp để trao đưa
Nhưng rồi e ấp tay dè dặt
Tha thiết bao nhiêu bấy hững hờ
Bâng khuâng như:
Hái bông hoa trong một vườn dị thảo
Ngát hương lòng ta gửi tặng riêng em
Em chẳng nhận cả trời sẩu não
Ta trở về ngồi đợi bóng trăng lên
Tập thơ gồm 46 bài tác gỉa sáng tác từ 1952 tới những năm gần đây. Sinh ra trong một đất nước chiến tranh, và chính ông là một sĩ quan đứng trên một chiến tuyến nhưng thơ ông không hề có dấu vết chiến tranh. Học Chu Van An từ 1948 tới 1954, rồi di cư vào Nam ông đồng hóa vào quân đội, làm trưởng ban biên tập cho Nha Chiến Tranh Tâm Lý. Sau đó chuyển sang Không Quân phục vụ trong ngành cơ khí cho tới 1965 mới chuyển sang Tâm Lý Chiến, làm chủ bút cho báo Lý Tưởng của Không Quân.
Từ khi còn đi học ông đã làm thơ đăng báo. Ông cộng tác với báo Tia Sáng, Giác Ngộ, Hồ Gươm, Giang Sơn khi chưa tới 20 và nhiều bài thơ trong tập thơ ra mắt hôm nay ông đã sáng tác vào thời kỳ trên dưới 20 tuổi.
Chất liệu trong thơ của ông ở thời kỳ này là tâm sự của tuổi 20, có tình yêu, có viễn mơ:
Đò ơi Ta một kẻ phiêu linh
Trọn tuổi hoa mơ mộng viễn trình
Ghé bến đây rung chèo dật sóng
Cho cùng theo với kiếp lênh đênh
Cũng như mọi thanh niên cùng lứa tuổi, ông cũng nghĩ tới chiến tranh đang chờ đợi:
Ngày mai khói lửa ngụt sa trường
Thân dấn vào trong lớp súng gươm
Khí uất căm hờn say bóng nguyệt
Quên tình dứt đứt cả tơ vương
Nhưng những xúc động về chiến tranh chỉ thoáng qua, hầu hết thơ trong thời kỳ này là tình yêu.
Hơn một nửa sau tập thơ là nỗi nhớ:
Nhớ thời bạch diện áo thư sinh
Nhớ thủa hàn vi ước mộng lành
Nhớ thủa mắt trong tình mới chớm
Ngẩn ngơ mầu áo, áo ai xanh
Mặc dù có 20 năm quân ngũ, và trưởng thành trong giai đoạn khốc liệt của chiến tranh, thơ Hoàng Song Liêm không hề mang một dấu vết chiến tranh hay hận thù. Thơ của ông không có bom đạn, không có lửa cháy, không có nước mắt. Có lẽ tình yêu chan chứa đã che đi những vết hằn của chiến tranh.
Nếu đọc thơ là để nghiêng tâm hồn mình xuống với kỷ niệm, đề những hoài cảm xôn xao trở về thì phần 2 trong thơ Hoàng Song Liêm đã đưa người đọc tới những hòai cảm đó.
Khi lưu vong mỗi người có một phản ứng khác nhau, có người chua xót, có người ngậm ngùi. Phần lớn là cay đắng vì đã bị bứt khỏi gốc rễ để đối diện với thử thách mới; xót xa vì bị đẩy khỏi thân quen để vật lộn với xa lạ. Thơ vì thế chua cay, bao phủ bởi những day dứt quê hương. Như thơ Cao Tần:
Mai mốt anh về có thằng túm hỏi
Mày qua bên Mỹ học được củ gì
Muốn biết tài nhau đưa ông cây chổi
Nói mày hay ông thượng đẳng culi
Ông rửa bát chì hơn bà nội trợ
Ông quét nhà sạch hơn em bé ngoan
Ngày ngày phóng xe như thằng phải gió
Đêm về nằm vùi nước mắt chứa chan
Nhưng dù với những đắng cay chất ngất, lòng nhung nhớ quê hương vẫn trán đầy đâu đó với những hình ành ngọt ngào:
Em hãy tìm về sau căn nhà cũ
Đứng bên rào mà ngó lại vườn xưa
Em nhớ nhé dưới tàn cây trứng cá
Những trái mọng hồng trong ánh nắng sau mưa
Với Hoàng Song Liêm người đọc không thấy cái cay đắng, cái hận thù của kẻ lưu đầy. Tràn ngập trong thơ ông là cái diụ dàng trong hoài niệm. Buồn đấy nhưng không là cái buồn chua xót, nhớ đấy nhưng không là cái nhớ đắng cay. Đó là những xúc động trước cảnh trí nơi quê người làm trạnh nhớ quê hương đất tổ:
Vầng trăng ai xẻ nửa
Chênh chếch mãi non đoài
Mây trời mây viễn xứ
Lòng ai thương nhớ ai?
Cũng như hầu hết những người xa quê hương trong cái lạnh nơi quê người ông nhớ lại những hình ảnh quê xưa,; nhưng những nhung nhớ đó không hằn học, không chua chát mà nhiều tình người:
Bên ấy mùa này đã lạnh chưa
Sầu nghiêng gối lẻ bóng trăng mờ
Tình xa một nửa tim còn thiếu
Thao thức năm canh giấc mộng chờ
Bên ấy giờ này qúa nửa đêm
Phòng riêng nệm ấm giấc mơ chìm
Hành tinh ai cắt làm hai mảnh
Chiều xế bên này bóng nhớ em
Và cùng với thời gian tăng, lòng tha thiết với quê càng tăng thêm, ta thấy thơ ông bàng bạc những cảm xúc về quê hương:
Ôi quê hương gợi nhớ thủa nào xa
Hong tuổi dại nghe lời ru của mẹ
Bài ca dao thuộc nằm lòng tấm bé
Thương cái cò lặn lội mãi bờ ao
Với tuổi thất thập mà vẫn sáng tác thơ, ông đã cho thấy cái tha thiết với thi ca với văn chương Việt Nam. Thông thường cái mất mát lớn trong văn chương khi xa quê hương là người viết mất đi cái sức sáng tạo mà khi trong còn trong nước rất dồi dào. Chúng ta có thề thấy hiện tương này phổ biến trong rất nhiều giới làm văn hoá Việt Nam. Vẽ không như xưa, viết không như xưa, làm nhạc không như xưa. Như cây trồng đất mới, rất ít bén rễ mới.
Sáng tạo và xuất bản trong điều kiện lưu vong là đã nuôi dưỡng dòng văn học Việt không những cho chúng ta, thế hệ ra đi đầu tiên, mà còn cho những thế hệ mai sau. Nước Nhật có một tục lệ là mỗi năm chọn mười bài thơ hay nhất sáng tác trong nước và ngoài nước để chính tác gỉa đọc thơ cho Nhật Hoàng trong một buổi lễ vào dịp Tết. Nhà văn Võ Phiến có nhắc tới Thi Sĩ Minoru Fujita một người sống lưu lạc ngoài nước Nhật từ nhỏ đã được chon. Đó là một trường hợp rất đặc biệt vì ông ta đã sống xa quê hương rất lâu, trở nên xa lạ với sinh hoạt trong nước. Có môt người tìm được một bài thơ ngắn của ông dịch sang tiếng Anh:
I no longer know
What they are saying
In my native land
But I know the flowers
Smell the same
Tạm phóng dịch: Quê hương cho dù biến đổi, và mình cho dù đã xa lạ với vấn đề của xã hội mới, ngôn ngữ mới, nhưng tôi biết nơi đó hoa vẫn tỏa một mùi thơm cũ, mùi hương đó mãi mãi không thay đổi.
Như vậy chừng nào hoa xưa vẫn tỏa mùi thơm cũ nhà thơ vẫn cảm đươc mùi hương xưa, chừng đó nhà thơ vẫn thấy gần gũi với quê hương, vẫn làm thơ với ngôn ngữ quê hương và vẫn được tán thưởng cho dù sống trong hay ngòai nước.
Xin cám ơn qúi vị.
Hoàng Song Liêm là một trong những con người di tản tương đối thành công. Anh là một Sĩ quan Không Quân cấp Tá. Cộng Sản vào Nam, anh đã sớm đào thoát chạy ra nước ngoài.Anh không bị một ngày tù như phần đông những người bạn cùng trang lứa với anh. Sang đến Hoa Kỳ,anh làm ăn khá giả, con cái tương đối thành công nhưng lời thơ anh vẫn u uất buồn :
Tết lạnh quê người phai sắc áo
Người đi nẻo khuất vẫn chưa về
Nghiêng bầu lại rót mùi cay đắng
Gió lạnh phòng không chẳng liếp che !
Không có liếp nào che cả. Mới biết tấm lòng thương quê nhớ nước mãnh liệt đến chừng nào. Bỏ nước ra đi vì anh không thể sống dưới một chế độ không có Tự do,Dân Chủ.Có tự do, Dân chủ rồi nhưng còn một cái gì đó anh không có. Đó là quê hương. Quê hương không phải chỉ là song,là núi, là mồ mả ông cha,là họ hang, làng mạc. Quê hương lại còn là những làn gió, những ánh trăng, những cơn mưa gió thất thường, những con đường lầy lội, những mái rơm, mái rạ, những con người lầm than, đói khổ. Nó là cuộc đời, là tuổi trẻ của chúng ta. Là tiếng mẹ ru, là mùi thơm hoa cau, hoa bưởi, là đêm khuya tiếng chiếc mo cau rụng ở vườn sau. Ôi quê hương ! Là thứ chúng ta không thể diễn tả bằng lời nhưng nỗi mất mát quê hương vẫn hiện hữu trong chúng ta từng giây, từng phút.
Toàn thể tập thơ không bài nào là không đề cập đến quê hương. Quê hương và tuổi trẻ. Quê hương và thời gian. Càng về già,chúng ta càng quý tuổi trẻ,càng ngậm ngùi vì thời gian qua mau.
Dài tay năm ngón xanh xao
Sầu mây tóc trắng chiêm bao nửa vời.
Dài tay mười ngón tay xuôi,
Sầu đôi hộc mắt, môi cười ngẩn ngơ.
Quẩn quanh năm tháng thừa dư,
Gai chông nhọn hoắt,chân dò dẫm đi.
“Sầu đôi hộc mắt”hai con mắt lõm xuống vì đêm không ngủ được vì sống ở đây không thực sự là sống. Sống ở đây đối với người chỉ còn có nghĩa là tồn tại….
Năm cửa ô xưa băm sáu phố
Xa quê hương, nhất là quê hương ấy lại là Hà Nội thanh lịch thì là sao những người con của Hà Nội có thể quên được năm cửa ô, quên được Hà Nội băm sáu phố phường.
Năm 1954, Mai Thảo bỏ miền Bắc đã viết một cuốn truyện thật hay:” Đêm giã từ Hà Nội”. Hay vì thực, vì chân thành. Nghệ thuật chỉ làm nên những bài thơ, chỉ tâm hồn mới là thi sĩ. Câu nói đó của một thi nhân Pháp viết cách đây hàng thế kỷ mà muôn đời vẫn đúng.
Tôi nhớ mãi đến Hoàng Song Liêm những ngày mới chập chững bước vào đời.Khi ấy,chúng tôi còn là quân nhân trong ngành Tâm Lý Chiến. Liêm thì ngoài 20, còn tôi ngoài 3 chục. Liêm còn độc thân , tôi đã có ba bốn con. Chúng tôi gặp nhau và tự nhiên thấy rất gần gũi, thân thiết với nhau,vì chúng tôi cùng làm thơ và cùng yêu thơ…
Phương Nam mù mịt trời phương Bắc,
Mây trắng giang hồ , mây viễn phưong..
Tôi biết tại sao Liêm lại giao cho tôi viết mấy lời đầu của cuốn sách. Vì Liêm cũng như tôi, chúng tôi thích sự chân thành. Nếu như lối viết của Vũ Hoàng Chưong, của Huy Cận cổ rồi thì làm sao chúng ta còn thưởng thức được Tản Đà, còn thưởng thức được ca dao. Hoá ra cuộc sống của thi ca còn ngắn ngủi hơn cả cuộc sống của con người nữa hay sao ? Mới không phải là tìm ra lối diễn tả kỳ cuc. Mới là cách nhìn sự vật. Nhiều người nhìn mà có thấy gì đâu ? hang nghìn năm trước, Lý Bạch nhìn trăng và nói thế này :
Nhân phan minh nguyệt bất khả đắc
Nguyệt hành khước dữ nhân tương tuỳ.
(Người với lên trăng thì không được,
(Nhưng người đi đâu thì trăng theo đó )
Hoặc:
Kim nhân bất kiến cổ thì nguyệt,
Kim nguyệt tằng kinh chiếu cố nhân.
Người ngày nay không thấy trăng ngày xưa
( Nhưng ) trăng ngày nay vẫn thấy người ngày xưa.
Kiếp sống của con người thật là phù du so với cảnh vật. Lý Bạch chỉ nhìn và diễn tả. Ông không cần biện luận. Cần gì phải biện luận. Chúng ta chỉ đọc cũng đủ thấm thía cho cuộc sống ngắn ngủi của kiếp nhân sinh.
Hoàng Song Liêm năm mươi năm rồi anh mới lại cho tôi đọc thơ . Thơ anh vẫn trẻ như ngày nào. Hình dáng chúng ta không còn như xưa nữa nhưng tinh thần chúng ta nào có gì đổi khác.
Tôi mừng cuộc đời chưa làm tôi mất một người bạn, một người thơ.
HÀ THƯỢNG NHÂN
Trần Tuấn Kiệt
Có những người văn nghệ đã thành danh từ vài thập niên trước, nhưng vì hoàn cảnh lịch sử, cuộc đời họ đã một thời gian im lặng, hay sinh hoạt văn hóa ở một nơi xa xôi nào mà người trong nước không biết, đó là trường hợp anh Hoàng Song Liêm. Anh vừa cho xuất bản thi phẩm Hoàng Song Liêm, nhà xuất bản Văn Nghệ, đồng thời có riêng một ấn phẩm đặc biệt kèm theo để bạn thơ thưởng thức phần thơ riêng của anh. Tôi vốn thích cái gì riêng biệt không muốn ai đó kiểm duyệt mình nên vội đọc phần này trước.
Thoạt đầu khiến ta chưa dở vội trang thơ trong vì khổ thơ và mẫu bìa vẽ một nàng thơ tuyệt vời màu sắc tươi thắm đậm tình dân tộc. Tôi nghĩ đó là một nét họa của Ðằng Giao. Quả nhiên, khi xem lại thì tranh của Ðằng Giao thật nhưng tôi cứ lớ ngớ tìm hoài không thấy tên họa sĩ, ngoại trừ bức chân dung sắc nét của anh ký tên là Toại 6/29/01 thế thôi. Anh Hoàng Song Liêm tỏ ra rất trân trọng với thơ mình từ việc chọn khổ in thơ, tranh và những trang giấy hoa đẹp vẽ những viền mây bao phủ và làm nền cho thơ bay trên đó.
Tôi xin diễn sơ ngoại cảnh một chút. Tôi từ chỗ cô Nguyễn thị Hàm Anh về, hiện trời mưa như trút, trời đỏ như gạch son, những ngày cuối năm đầy mưa gió lạnh lùng ở Saigon. Cũng chính Hàm Anh trao cho tôi hai bản thơ quý của anh mà từ lâu rồi, tôi chưa thấy ai in thơ đẹp như thế. Tôi ra đóng chặt cửa trên gác lại, mưa ào ạt và sấm động liên hồi. Tôi vốn rất sợ sấm, hồi nhỏ ở quê tôi bị sét đánh hụt một lần, bà ngoại tôi bay chiếc nón lá khi cùng tôi chạy qua cầu sắt Sa Ðéc. Vì thế sau này tôi rất sợ sấm chớp… Ðóng cửa lại, mặc cho mưa gào bên ngoài, trong căn gác vắng tôi ngồi đọc thơ Hoàng Song Liêm.
Ðọc bài “Hoài Vọng” tôi nghe như có một chút gì khắc khoải, u hờn mặc dầu dấu vết thời gian đã đẩy đưa rất nhiều hư ảnh về quá khứ. Ngôn từ Việt, những chữ: đó, nọ, kia, mà… như âm vang của một tiếng đàn cổ reo lên trong thời đại này đem lại rất nhiều hoài cảm thiêng liêng
Lửa của lòng ta nay đã tắt
Thôi nhắc làm chi những lúc xưa
Những chiều mơ mộng rồi hoài vọng
Mà… bóng thời gian đã xóa mờ
Anh nói đến ngọn lửa, dù anh cho là đã tắt nhưng ta cảm thấy nó đang giục nhiều nỗi đời nung nấu trong thâm tâm nhà thơ… dễ gì đã tắt!
Bài “Hẹn” tiếp theo cho thấy một tay thơ đã chín, đã điêu luyện tự bao giờ với nghệ thuật thơ lục bát ngày xưa. Người ta thấy dòng thơ lục bát này đi từ Nguyễn Du, đến Huy Cận, đến Hoàng Trúc Ly, Hoài Khanh… Giòng lưu ly của thơ lục bát đã hòa với giòng sông lớn của thi ca Việt đem đến một tòa hoa gấm bền bỉ và bất tử. Sẽ có những người em tiếp theo đi trên những dòng lục bát sâu xa trường cửu đó mai sau.
Bây giờ hãy đọc:
Mai này… hẹn sẽ về thăm
Ô hay sao vẫn ruột tằm rối tơ?
Biển Ðông vẫn cách đôi bờ
Chân mây đã khuất lối xưa mịt mù
Hạ buồn tóc điểm sương thu
Ðầu non đá dựng bốn mùa miên đông
Mai này… biết có về không
Ðàn mê chợt rớt tiếng đồng lạnh tanh
Mộng thầm, gối mỏng chông chênh
Chân ai bước mỏi nẻo xanh, mai về
Khí thơ êm đềm lạnh đến hư không và miên viễn như một dòng thời gian bất tận khiến ta nhớ đến bài thơ của Lưu Trọng Lư, bài Quay Tơ. Các bạn quý thơ hãy đọc và chia xẻ nỗi ngậm ngùi với Hoàng Song Liêm trong cảnh “tà huân” của cuộc đời! Tuy cảnh tà huân, nhưng anh đã lưu lại cho người đời điệu thơ vừa trữ tình sầu mộng vừa lẫn hương vị siêu hình của luật trời: Sự tuần hoàn của Tạo hóa mà không một ai thoát khỏi kiếp người như thế cả. Tôi cho đấy là một bài thơ tuyệt đẹp, một bài lục bát hiếm hoi trong vườn thơ hiện đại.
Nhưng đâu phải chỉ một nỗi miên man đến chạnh lòng đó. Bài “Tổ quốc xa” đã mang lại một thứ tâm tình viết lịch sử như anh Nguyễn Mạnh Côn, anh Vũ Khắc Khoan độ nào. Nói đến Nguyễn Mạnh Côn tôi mạn phép mở ngoặc một chút về chuyện anh bị bỏ đói khát chết trong trại cải tạo, có người đồn là do Duyên Anh gây ra. Nhưng anh Nguyễn Quốc Ðịnh cũng là bạn văn chương ở chung với Duyên Anh và Nguyễn Mạnh Côn xác định rõ với tôi là việc đó không phải do Duyên Anh tạo ra. Vậy xin ghi vài lời để anh em ngoài cuộc rõ và giải mối oan tình cho Duyên Anh từ lâu nay (?!)
Vẫn niềm hoài cổ,vẫn khắc khoải với nước non – dù tóc đã bạc, gối đã mòn, tâm hồn vẫn còn rất nhiều lửa để hong ấm nỗi niềm nhớ thương về một thời Quốc gia rực rỡ- Thời đại lịch sử đôi khi lúc vơi rồi lại đầy. Lịch sử chân chính bao giờ vẫn tồn tại trong lòng người – Nhà thơ ơi! Không mất đi đâu cả! Cũng như như dòng lục bát của anh vẫn ngân nga trong thời gian đó vậy. Tôi nhớ tới thơ Vũ Hoàng Chuơng.
Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh
Thời đại này, lịch sử trở mặt, lịch sử của bầy ngạ quỷ chỉ muốn ăn thịt đồng bào, nòi giống còn hơn gấp vạn lần thời của nhà thơ họ Vũ khi xưa.
Simon Veil bảo lịch sử có hai bề mặt. Bề mặt đen tối đang bủa vây khắp nơi khiến cho dù nhà thơ Hoàng Song Liêm đã mệt mỏi trên đường đời vẫn buông lời thơ như Bà Huyện Thanh Quan trong ThăngLong Thành Hoài Cổ. Người có ý thức tự do và yêu nước ai có thể thờ ơ được với nước non này. Vì thế mà trong thơ ông, chúng ta còn nghe rõ tiếng hờn uy linh của sông núi, của những chiến trường xưa và chiến binh anh hùng đã một thời trận mạc để bảo vệ đất nước, giang san trước bọn giặc thù. “Màu xanh” tưởng đâu thanh thoát, nhẹ nhàng, trẻ trung vui sướng. Ai ngờ lại ẩn rất nhiều tiếng vọng của non sông một thời.
Trời xanh xanh biển xanh xanh
Ðỉnh núi che nghiêng bóng cờ thành
Phần phật cờ bay mùi khói tỏa
Nghe rền trống trận thuở đao binh
Thoáng nhìn một bài thơ, ai chớ vì cái tựa mà hiểu lầm. Ðạo ẩn ư tiểu hành. Những ngụ ngôn và phản ngôn của thi ca chứa nhiều trong đó. Màu Xanh!
Dầu sao nhà thơ vẫn còn rất nhiều tình cảm mặn nồng của tuổi thanh xuân đầy những mộng tình tha thiết. “Em” của nhà thơ là ai đây? Là người bạn đời chăn gối, tình nhân hay nàng Thơ. Chúng ta không vội phân tích ý nghĩa và ngôn từ, chỉ nên thưởng thức vần thơ êm đềm, châu ngọc của thi nhân. Mời bạn đọc “Viết cho em” và tự thưởng thức lấy cái hương vị diễm tình của thơ.
Hoàng Song Liêm làm thơ cả một đời mà bắt đầu vào thời của Quách Tấn, của Vũ Hoàng Chương, Phạm Hầu. Ðọc thơ ông phải nghĩ tới linh hồn thơ ấy đi qua rất nhiều chặng đường nghệ thuật từ lãng mạn, tượng trưng đến siêu thực, siêu hình bàng bạc khắp ý thơ – từng trải qua rất nhiều nẻo đường lịch sử văn học của dân tộc Việt. Cũng không khỏi nhớ đến những người anh cả là Hà Thượng Nhân, Cao Tiêu… những người bạn như Tô Kiều Ngân còn ở lại VN.
Rồi thấm thoát bóng dương cũng mờ dần, buổi hoàng hôn lại đến và con người thi sĩ vốn hiện hữu giữa trần gian còn để lại gì? Nào những màu thời gian… của Ðoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh, nào những lớp lang lịch sử xô về đưa tất cả vào thái hư tịch mịch. Nhà thơ nói về thời gian vô thường, những hiện tượng của đời vẫn sinh động đẹp đẽ… và thi nhân thay đổi với Vô Cùng nhưng còn mùa Xuân ấm nồng lại đến. Ðông sẽ tàn và Xuân lại sang như Bùi Giáng viết:
Em bảo rằng đừng tuyệt vọng nghe không
Còn trang thơ thấm lại với trời hồng
Tuy nhiên khi đọc thơ ông ta cũng cảm thấy bồi hồi xao xuyến quá! Niềm xao xuyến làm linh hồn ta cũng cảm thấy khắc khoải như thơ ông. Tiếng thơ đẹp, mẫu đẹp của tiếng thời gian, của một đời người với bao nỗi thất bại của con người thiên thu đi về trong hố thẳm của lịch sử và cuộc đời (như Con Lũ Quanh Ta). Còn một điều quan trọng là sự chân tình trong thơ. Ðọc thơ ông, người ta không thấy có sự làm dáng thi sĩ hay trí thức mà là những tiếng thơ từ tâm tình cao rộng, đầy sự cảm thông đối với con người, với lịch sử và cuộc đời.
Với “Hà Nội, đêm giã từ”, những câu thơ đạt tới một nghệ thuật thi ngữ mênh mông với mối tình xa xôi của kẻ giang hồ viễn xứ.
… Phương Nam mù mịt trời phương Bắc
Mây trắng giang hồ mây viễn phương
Có hình ảnh dấn thân trong cõi cát bụi thời gian của một người chứa đựng nhiều lửa, nhiều nhiệt huyết lúc lên đường
Lục bát Hoàng Song Liêm dàn ra một không gian rộng, tiếng thơ đạt đến sự tự nhiên như những thi tài xưa nay. Ông xử dụng thơ trơn tru, ngọt ngào và đậm tình thu bát ngát. Sự điêu luyện đó còn thể hiện trong rất nhiều vần lục bát trong thơ ông. Hoàng Song Liêm không chỉ có thơ bảy chữ, lục bát, ông còn làm nhiều bài thơ xuôi, thơ sáu chữ, thơ tự do với những kỳ tứ rất lạ…
Cuối cùng đến bài thơ “Rồi ngày tháng qua đi” do Ðỗ Nguyên phổ nhạc. Thơ và nhạc giống như đội bạn tình thường hòa quyện với nhau – trong hai thứ nghệ thuật của cuộc đời-
Những dòng viết trên chỉ là viết cho thi bản riêng biệt của nhà thơ Hoàng Song Liêm. Riêng thi phẩm lớn của ông in rất nhiều thơ hay mà tôi chưa có thời gian đọc vì sức khỏe quá kém sút trong những ngày gần đây. Khi hồi phục lại được, tôi sẽ đọc cẩn thận hơn về một tác phẩm và một đời người làm thơ, sống với thơ thật đẹp của ông.
Trần Tuấn Kiệt
12/2005
MÙA XUÂN, THƯƠNG NGƯỜI NHƯ THỂ THƯƠNG THÂN
KIỀU MỸ DUYÊN
MERRY CHRISTMAS and HAPPY NEW YEAR
CHÚC MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH
KÍNH CHÚC VĂN THƠ LẠC VIỆT
Một Mùa Thánh Đức /A Holy Season wishing
Năm Mới bình an / A New Year greetings
Hân hoan vạn phúc /Plenty of Joy and Happines
Chất ngất Thiên Ân / Abundance of God’s Blessdness
***
Đêm nay vang khúc an bình
Gọi nhau buông oán câu tình gắn môi,
Đêm nay Con Chúa làm người
Một giao ước mới cho đời chúng sinh
***
Tonight resounds the song of Peace
Calling each other to drop resentment
And stick-on lips the love sentence.
Tonight, resounds the song of cherish,
The Son of God made man
Declares to mankind a new covenant
(phiên khúc 2 thánh ca ĐÊM THÁNH ÂNTÌNH)
Đỗ Quang Vinh

VIET MUSEUM
Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa
Thư ngỏ cuối năm gửi quý chiến hữu, bằng hữu và toàn thể đồng bào
Nhân dịp cuối năm Tân Sửu 2021 và chào đón năm Nhâm Dần 2022 chúng tôi xin gửi lời chúc mừng quý vị một năm mới rất nhiều may mắn. Tổng kết: Viet Museum là tổ chức do IRCC thành lập chính thức nhận ngôi nhà Victoria trong Kelley San Jose History Park vào ngày mùng 4 tháng ba 2006 đến nay là 15 năm.Trước khi di chuyển vào khu vực lịch sử, cơ quan IRCC đã có 20 năm sưu tầm và sáng tạo di vật bảo tàng. Tiếp theo là 5 năm sửa chữa ngôi nhà lịch sử. Sau cùng hoàn tất 10 năm kiện toàn để có được Viet Museum đầu tiên và duy nhất của người Việt hải ngoại.Trải qua 35 năm sưu tầm sáng tác và xây dựng đã có tổng cộng 100 đề mục. Hoàn tất mỗi đề mục là một câu chuyện lịch sử thể hiện qua nghệ thuật để triển lãm theo hình thức bảo tàng. Vì vậy,dù rằng vẫn ở trong một kích thước giới hạn về không gian, không thể so sánh với các bảo tàng quốc tế hàng trăm triệu mỹ kim, nhưng trên thực tế, giá trị đất đai và địa ốc vào năm 2021 là 3 triệu mỹ kim và phần di sản và các tác phẩm lịch sử là 4 triệu mỹ kim.
Đón nhận tượng đài Quảng Trị. Năm nay 2021, chúng tôi hết sức hãnh diện đã vượt qua mọi thử thách để tiếp nhận và hợp tác với anh chị em thế hệ nối tiếp hoàn tất định vị tượng đài bia đá trong khu vườn Tự Do của Viet Museum. Dù cho hình thức nội dung và hoàn cảnh sáng tạo ra sao. Chúng tôi thành kính tin rằng tượng đá đã có linh hồn của toàn thể quân dân chính Việt Nam Cộng Hòa hy sinh không riêng trên chiến trường hỏa tuyến mà trong suốt 1972 từ Kontum kiêu hùng qua Bình Long anh dũng cho đến trận sau cùng tái chiếm cổ thành Quảng Trị.
Xây dựng đền Thánh. Viet Museum đã có bức tường của các anh hùng tuẫn tiết.Tượng người chiến sĩ quỳ gối tưởng niệm chiến hữu hy sinh.Tượng chiến binh xung phong trên chiến trường Xuân Lộc. Mộ bia nguyên thủy của chiến sĩ vô danh đem về từ nghĩa trang Biên Hòa và mô hình toàn thể nghĩa trang quân đội. Hai con thuyền của thuyền nhân đi từ Cà Mau và đi từ làng Hải Nhuận miền Trung. Viet Museum đã có đầy đủ di sản và tác phẩm để trở thành một ngôi đền Thánh tôn thờ những người đã chết vì tự do.
Sau đây là các dự án tương lai.Vào dịp cuối năm 2021 chúng tôi sẽ tổ chức chương trình Ra Mắt sách hết sức đặc biệt. Qua đề tài Việt Nam Cộng Hòa “Đất và Người.” Đây là một cuốn sách nói riêng về công cuộc xây dựng đất nước miền Nam từ 1954 đến 1975. Qua 2022 chúng tôi có một số dự án hết sức đặc biệt.
1)Hội Tết văn hóa trong History Park
2) Tượng đài Thương tiếc. Viet Museum dự trù nghiên cứu để thực hiện tượng đài Thương tiếc nổi tiếng tại nghĩa trang quân đội Biên Hòa trước1975. Đã bị cộng sản phá đổ và thủ tiêu. Đây là một tượng đài mà tất cả đồng bào hải ngoại đều biết và tưởng nhớ.
3) Đình làng Đình Bảng :Một trong những dự trù tương lai mà chúng tôi đã nghĩ đến và sẽ cố sức thực hiện. Đó là sẽ xây một hội trường văn hóa Việt Nam với kỹ thuật xây dựng bên ngoài theo mẫu đình làng Đình Bảng có 700 năm lịch sử tại Việt Nam.Chúng tôi ước mong rằng bên cạnh ngôi nhà Victoria theo thiết kế của tây phương chúng ta có một hội trường văn hóa hoàn toàn Việt Nam của đông phương.Đó là ước mơ tương lai của chúng tôi cũng như của Viet Museum.
4)Phát hành lịch Viet Museum: Song văn hóa, lịch sử và song ngữ.
5)Xuất bản Tuyển tập Giao Chỉ Văn tuyển hàng tháng
6)Phát hành: Giai Phẩm Museum 2 kỳ 1 năm
7)Phim Ảnh:Thực hiện Phim tài Liệu
8)Xây cất nhà vệ sinh và thang máy lên lầu
9)Hoàn tất: Sự hiện diện trên Web, Face, Wiki và các phương diện truyền thông.
10) Phối hơp: và yểm trợ thân hữu các chương trình xây dựng cộng đồng hải ngoại. Viện bảo tàng bên Úc, phong trào giúp Thương binh quả phụ VNCH, đấu tranh cho nhân quyền tại Việt Nam, giúp đồng bào tại Đông Nam Á…
11) Chính thức kêu gọi: Tinh thần hòa giải và đoàn kết trong công đồng Việt Nam tại hải ngoại. Chấm dứt mọi tranh cãi vì tỵ hiềm cá nhân. Hãy dồn nỗ lực yểm trợ cho đồng bào trong nước đấu tranh cho tự do dâh chủ. Tại hải ngoại tích cực ghi danh bầu cử và ứng cử để đấu tranh cho dân sinh tại Hoa Kỳ và nhân quyền cho Việt Nam
Giao Chỉ, Vũ văn lộc, Executive Director IRCC /Viet Museum..
*
Danh sách thân nhân những tù nhân lương tâm đang thọ án tại Viet Nam
Nhà tranh đấu Phạm Đoan Trang vừa bị công sản Hà Nội tuyên án 9 năm tù vì tội viết sách báo tranh đấu cho tự do dân chủ. Cả thế giới lên án. Chúng ta nỡ lòng nào mà ngồi chửi mắng nhau
1/ TNLT Trần Đức Thạch- bị bắt tháng 4/2020-bị kết án 12 năm tù và 3 năm quản chế:
2/ TNLT Nguyễn Đức Quốc Vượng-29t-bị bắt 23/9/2019-bị kết án 8 năm tù+3 năm quản chế
3/ TNLT Ms Nguyễn Trung Tôn(1972): bị bắt tháng 7/2017-bị kết án 12 năm tù+ 3năm quản chế
4/ Cấn Thị Thêu+ Vợ Trịnh Bá Phương+Em Trịnh Bá Tư= bị bắt 24/6/2020 mỗi người 8 năm tù+3 năm quản chế
5/ TNLT Nguyễn Năng Tĩnh- bị bắt 27/5/2019- bị kết án 11 năm tù + 5 năm quản chế
6/ TNLT Trần Hoàng Phúc(1994) bị bắt 29/6/2017 _ bị kết án 6 năm tù giam+ 4 năm quản chế
7/ TNLT Lưu Văn Vịnh(1963)-bị bắt 6/11/2016-Bị kết án 15 năm tù
8 /TNLT: Nguyễn Bắc Truyển (1968) bị bắt 2014-Bị kết án 11 năm tù giam 3 năm quản chế
9/ TNLT: Trương Minh Đức(1960) – bị bắt ngày 12/9/2014-bị kết án 12 năm tù+ 3 năm quản chế
10/ TNLT:Nguyễn Thúy Hạnh(1963) bị bắt ngày 7/4/2021-chưa ra tòa kết án
11/TNLT Nguyễn Viết Dũng(1986)bị bắt 27/9/2017-bị kết án 7 năm tù+3 năm quản chế
12/ Huỳnh Đức Thanh Bình(1996)bị bắt 7/7/2018=bị kết án 10 năm tù
13/ TNLT Nguyễn Văn Nghiêm(1963)bị bắt 5/11/2019- bị kết án 6 năm tù
14/ TNLT Ngô Văn Dũng-bị bắt 4/9/2018-bị kết án 5 năm tù
15/ TNLT Nguyễn Thị Ngọc Hạnh(1976) bị kết án ngày 31/7/2020 tuyên án 8 năm tù giam
16/ Trần Thanh Phương(1975)bị kết án ngày 31/7/2020 tuyên án 3 năm 6 tháng tù
17/ TNLT Hồ Đình Cương- bị kết án ngày 31/72020-Bị tuyên án 4 năm 6 tháng tù
18/ TNLT Nguyễn Tường Thụy(1952) Bị bắt 23/5/2020 bị kết án 11 năm tù
19/ NLT Hoàng Đức Bình(1983) bắt 15/5/2017-kết án 14 năm tù trong phiên tòa 24/4/2018
20/ TNLT Nguyễn Văn Oai(1981) kết án 5 năm tù+4 năm quản chế trong tòa ngày 18/9/2017
Giao Chi San Jose. giaochi12@gmail.com (408) 316 8393

Merry Christmas And Happy New Year
Kính chúc toàn thể quý vị Văn Thi Hữu VTLV. Một mùa giáng sinh An Bình và một năm mới Vạn Sự Như Ý.
Trân Trọng
Lê Tuấn
Em Đi Lễ Nửa Đêm
**
Tháng mười hai giáng sinh
Lòng vương vấn chân tình
Ngoài kia trời gió lạnh
Ánh đèn màu lung linh
*
Em mặc áo len hồng
Khăn quàng cổ quấn vòng
Giày cổ cao nhung ấm
Em đi vào mùa đông
*
Mọi người vẫn nhìn trông
Em thấy thẹn trong lòng
Tiếng người khen xinh quá
Gió lay nhẹ lá thông.
*
Mẹ cười nghe lời khen
Em nhìn theo ánh đèn
Những sắc màu lóng lánh
Giáo dân mừng Noel.
*
Thánh đường tiếng chuông ngân
Vinh danh Chúa giáng trần
Bình an nơi trần thế
Xóa tan lòng phân vân
*
Hôm nay đến nhà thờ
Màn sương trắng che mờ
Chúa đóng đinh! Thập giá
Giang tay như đón chờ.
*
Dải mây trắng lững lờ
Đẹp như là trong mơ
Em làm dấu thánh giá
Lòng hân hoan đợi chờ.
*
Giáo đường lễ nửa đêm
Mỗi lúc một đông thêm
Trang nghiêm vào thánh lễ
Hoa tuyết rơi bên thềm.
*
Đêm hiển thánh vô cùng
Lòng người hòa nhịp chung
Ca đoàn vang tiếng hát
Rực sáng cả vương cung.
*
Cây thông mừng giáng sinh
Ánh đèn sáng lung linh
Quả châu treo rực rỡ
Em chụp vài tấm hình.
*
Em chắp tay nguyện cầu
Chúa giáng sinh nhiệm màu
Xuống trần gian cứu chuộc
Loài người mối tội đầu.
*
Xin Chúa ban bình an
Những ân tình chứa chan
Thoát bao cơn dịch bệnh
Loài người hết gian nan.
*
Em đi lễ nửa đêm
Tâm hồn em yếu mềm
Xin Chúa ban sức mạnh
Vượt qua những nỗi niềm.
*
Lê Tuấn
Cảm nhận mùa Noel. Trong vần thơ 5 chữ
San Jose. December 17. 21
***
MÙA XUÂN LÀ MÙA HY VỌNG
KIỀU MỸ DUYÊN

Hoa mai rực rỡ đón chào mùa Xuân, mùa hy vọng.
Thời gian qua rất nhanh, không đợi chờ mà Xuân cũng đến. Mọi người chuẩn bị đón Xuân, đêm 30 Tết đón Giao Thừa, đến chùa, nhà thờ hay những nơi tôn nghiêm để cầu nguyện cho người thân của mình.
Những ngày trước Tết ai cũng bận rộn, Tết Việt Nam khác với Tết ở hải ngoại, nhiều khi không vào ngày cuối tuần thì vẫn đi làm, có người xin nghỉ việc, có người mới vào làm không dám xin nghỉ việc, sợ mất việc thì khổ.
Từ Giáng Sinh đến Tết nhà nào cũng sửa soạn thật đẹp, cây thông, hoa ở vườn, hay trái cây ở vườn đợi cho chín, hái cúng ông bà của mình, mua sắm hàng giảm giá, mục này hấp dẫn nhiều người, những người lớn tuổi không quan tâm quà cho chính mình nhưng phải để ý con cháu hay người thân của mình cho nên cũng đi mua sắm, say mê mua sắm thì tốn tiền, lấy tín chỉ ra mua rồi suốt năm làm trả nợ.
Thường thường thì vào những ngày lễ, ngày Tết ai cũng nghĩ đến người thân của mình và những người làm ơn cho mình suốt năm qua, dù nghèo hay giàu cũng phải có những món quà nho nhỏ, tỏ tấm lòng biết ơn của mình. Chúng tôi làm thương mại mấy chục năm qua, cũng nhờ sự thương yêu của đồng hương mà mới tồn tại cho đến ngày hôm nay, nếu nói về ân nghĩa thì kể sao cho hết, từ các vị lãnh đạo tôn giáo, đến những người làm việc với mình, bao giờ Tết chúng tôi cũng đi đổi tiền mới, không bao giờ mua vé số, vì tôi biết mình không trúng số đâu và lại nhìn thấy những người trúng số sự bất hạnh chợt đến cho nên cũng không mua vé số và cũng không mong trúng sổ số, thỉnh thoảng có người tặng nhưng chỉ trúng $10 mà thôi.
Quan tâm đến tất cả mọi người xung quanh, người bỏ báo mỗi buổi sáng, người quét dọn văn phòng, người làm vườn cắt cỏ, người sửa xe, nhạc sĩ, ca sĩ, cho tôi nhạc, những tác giả cho tôi những sáng tác mới hay những quyển sách dịch hay, những người bạn ở xa về Orange County thường cho tôi những món quà quý báu ở địa phương đang ở. Ân tình làm sao kể hết!
Bệnh nhân ở bệnh viện, viện dưỡng lão cho tôi những nụ cười thật tươi trong những buổi chiều tôi vào thăm. Những vị lãnh đạo tinh thần mỗi lần nói chuyện xong bao giờ cũng nói:
– Tôi cầu nguyện cho sức khỏe của chị.
Những lời quý báu, vô giá, tiền không mua được lời cầu nguyện.
Tôi thường nói với nhân viên của mình:
– Ở làm sao cho đồng bào thương thì mình không bao giờ đói.
Đói làm sao được ở xứ này? Một xứ sở của cơ hội, cơ hội học hỏi, cơ hội làm giàu. Người Việt tị nạn không có nhiều tỷ phú nhưng triệu phú thì nhiều lắm, đếm không hết như một chàng trai trẻ, 32 tuổi ở Floria từ hai bàn tay trắng trở thành triệu phú nhanh nhất thế giới, đó là Peter Nguyễn, 18 tháng lợi tức 100 triệu Mỹ Kim. Tỷ phú Trung Dung, 30 tuổi bán cổ phần một tỷ 850 triệu.

Tỷ phú Trung Dung và Kiều Mỹ Duyên
Có lần Trung Dung nói với tôi:
– Chị hỏi em ít thôi, 5 phút, em chỉ làm việc được, mà không nói nhiều. Em là người Chàm.
Còn rất nhiều người Việt Nam giàu lắm, mà tôi được hân hạnh phỏng vấn cho đài truyền hình, cho đài phát thanh và báo chí.
Rất nhiều di dân giàu, tị nạn giàu ở Mỹ hay đến từ các quốc gia khác. Ở đây chúng tôi muốn nói những người giàu là người Việt Nam, vẫn hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, vẫn mộ đạo và có lòng nhân ái. Dù ở đâu trên rừng sâu, núi thẳm hay ở biển cả, nếu có lòng thì với hai bàn tay và khối óc nhỏ bé của mình vẫn giúp người khác được, giúp những người xung quanh mình và bà con thân nhân mình đang ở Việt Nam.
Một hôm, tôi đến chùa Điều Ngự vào buổi tối để thu hình. Chùa đang xây cất, nhưng Phật Tử ra vào tấp nập, người thì lo nấu ăn, người thì lo xếp ghế cho buổi cầu nguyện sắp tới. Phu nhân của cố luật sư Phạm Kính Vinh, hiền lành, làm việc không ngừng nghỉ, ít nói, nhưng tận tình với công việc. Sáng nào chị cũng đến chùa làm công quả, tối về nhà và cứ như thế làm việc từ ngày này qua ngày kia không mệt mỏi, không than phiền. Nhiều nữ Phật tử từ xa như Los Angeles, Riverside, San Diego cũng đến. Lòng mộ đạo của mọi người làm cho tôi cảm phục.
Nhiều người nói: Hòa Thượng Viên Lý và Hòa Thượng Viên Huy có phước, Phật tử nhiều nơi xa về đây cúng đường, lễ Phật. Các thầy bận lắm, nhất là cầu nguyện cho những gia đình có người thân vừa qua đời. Người lãnh đạo tôn giáo không bao giờ nghỉ ngơi, vì ngày nào cũng có Phật tử mất, càng ngày thì đám tang càng nhiều. Viện chủ của chùa đâu thể bỏ Phật tử của mình mà không lo, nhất là cầu siêu cho người qua đời, cầu an cho người đang nằm bệnh viện, bao nhiêu thứ phải lo. Vất vả nhất là những vị viện chủ đang xây chùa, hàng trăm thứ phải lo, giấy phép, tiền để xây cất, nhiều thứ làm quý vị ơi.
Chúng tôi cầu nguyện và mong mọi sự tốt đẹp sẽ đến cho các chùa đang xây cất, tốn tiền nhiều lắm. Mong trời Phật phù hộ cho những vị có lòng, cho ân nhân, cho viện chủ của chùa, cho Phật tử bình yên, sức khỏe để lo Phật sự.
Thỉnh thoảng chúng tôi đi theo phái đoàn Phật Tử của chùa Bảo Quang ở Santa Ana đi cho cơm cho những người không nhà ở công viên. Người không nhà gồm đủ thành phần: già trẻ, đàn ông, đàn bà, v.v. Họ nằm dưới cỏ, ngồi dưới gốc cây, nói chuyện vui vẻ, di chuyển từ nơi này đến nơi khác hàng tuần. Nhiều phái đoàn Việt Nam cho cơm, như chùa Bảo Quang thì có cơm chay, gồm nhiều món, cơm chiên, nước ngọt, trà, nước lọc. Người không nhà đứng xếp hàng tử tế, không ai chen lấn, nói năng lịch sự, có người bồng con nhỏ trên tay. Với 31 năm quen người không nhà, cảm nhận được thân phận con người, có ai mà không mong có công ăn việc làm, mái ấm nhà êm, nhưng không phải ai cũng được như thế? Tôi đã từng đi theo các phái đoàn cho cơm cho người không nhà ở San Jose, Santa Ana, Garden Grove, nhiều nơi tôi đến, tôi đều được nghe những tiếng nói reo vui, tiếng cười rộn rã, sống hôm nay không biết ngày mai ra sao nhưng họ vẫn cười, không có gì để lo, ăn ngày hôm nay no bụng đã ngày mai sẽ tính sau.
Những người nấu cơm ở chùa Bảo Quang rất dễ thương, mùa hè có khi trời rất nóng nhưng họ vẫn vui vẻ làm việc từ thiện với trái tim của mình. Có người nấu cơm rồi đến tận nơi công viên xới cơm cho người homeless, có người nấu cơm rồi về nhà, vì mệt quá không đi nổi nữa. Người nấu cơm vui vẻ, người ăn cơm miễn phí vui vẻ, tất cả đều hòa điệu như hơi thở, như nhịp đàn, tình thương nhân loại đưa người nấu cơm và người ăn cơm gần với nhau thông cảm và thương yêu nhau.
31 năm cho cơm cho người không nhà, thời gian này dài lắm, nhưng chùa Bảo Quang và Phật tử của chùa vẫn tiếp tục làm việc, tôi nhìn thấy có người đem bầu, bí, mướp, trái cây, rau cải đến chùa tặng cho người không nhà. Trong những người làm việc công quả này có người đã qua đời, có người tiếp tục làm việc từ thiện, người này đi thì có người khác đến.
Một lần, chúng tôi mời Hồ Đắc đến thăm người không nhà, từ đó Hồ Đắc tiếp tục đến chùa hàng tuần, dù làm chủ một văn phòng bảo hiểm nhưng đến ngày thứ ba thì để cho nhân viên làm việc, Hồ Đắc đi làm việc từ thiện, bưng thùng cơm thật nặng lên xe. Làm việc từ thiện đâu phải đợi đến già mới làm, người trẻ vẫn làm được.
Tôi rất mong những người trẻ và những người có lòng để một chút thì giờ làm việc thiện, làm bất cứ việc gì hữu ích cho người khác thì làm.
Ông Trời rất công bình cho chúng ta người nào cũng có 24 giờ mỗi ngày, nếu mình biết dành dụm thì giờ thì cũng có thể vào thăm bệnh nhân ở bệnh viện, viện dưỡng lão, hay mỗi tuần có thể thăm người không nhà ở các công viên.
Chùa Huệ Quang ở Santa Ana, cứ ngày rằm và ngày mùng 1 tặng cơm chay cho những người nào thích ăn chay, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, ai thích ăn chay thì cứ đến chùa, miễn phí, 2 năm nay rất đông thực khách đến. Nếu những ngày đó rơi vào cuối tuần, hoặc ngày lễ thì thực khách đến đông lắm, hơn 500 người, và ngày thường cũng 300 người, càng ngày số người ăn chay càng nhiều, ăn chay để giữ cho sức khỏe tốt, ăn chay để tránh sát sinh.
Người nào làm việc tốt cũng được nhiều người ngưỡng mộ. Tôi ngưỡng mộ rất nhiều người, đêm đêm trời lạnh về mưa đông vẫn có người đến chùa, nhà thờ cầu nguyện, sức mạnh của sự cầu nguyện không ai có thể tưởng tượng được. Người nào có niềm tin ở tôn giáo thì đời sống sẽ phong phú hơn.

Christina Lê (đứng bên trái) và Tuấn Lưu (nón xám) đang phát thực phẩm cho người không nhà. (Ảnh do Kiều Mỹ Duyên chụp)
Mỗi lần cho cơm cho người không nhà bao giờ tôi cũng rủ những người trẻ đi cùng, Thảo, Vân, Christina Lê, Tuấn Lưu. Khi trở về chắc chắn các người trẻ này sẽ nhớ ơn công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ mình, vì nếu cha mẹ sinh con ra đem quăng cho người khác nuôi thì nhất định các cháu không có được ngày hôm nay. Tôi thường khuyên những người trẻ đi chùa, đi nhà thờ và làm việc xã hội, mình được như ngày nay là có phúc lắm, có cha có mẹ có anh em và được cắp sách đến trường, cũng vào giờ này biết bao nhiêu đứa trẻ không có cơm ăn áo mặc, không được đến trường, đâu ai muốn như thế?
Mùa xuân, tôi mơ ước nhiều lắm, mơ ước mọi người trên thế giới buổi tối trước khi đi ngủ bụng không đói, và tất cả những đứa trẻ được đến trường học, được thương yêu, được chăm sóc, trẻ em Việt Nam, Cambodia, chúng tôi đã gặp nhiều em không được đi học, vì cha mẹ nghèo quá. Làm sao bây giờ? Thôi thì mình làm được bao nhiêu hay bấy nhiêu, làm hết khả năng của mình.
Tôi mơ ước hòa bình, không có máu đổ, đầu rơi. Nếu trong gia đình mỗi người thương yêu nhau, ông bà, cha mẹ, con cháu thương yêu nhau, hàng xóm tốt, trường học tốt, trẻ con tốt, cộng đồng thương yêu nhau, gặp nhau ai cũng chào nhau bằng nụ cười thân thiện, quốc gia giàu giúp quốc gia nghèo phát triển, nếu được như thế thì sẽ không có chiến tranh, đâu có chết chóc? Một người chết để lại đau khổ cho gia đình và dòng họ, đâu có ai thích nhìn nước mắt rơi, mà chỉ thích nhìn nụ cười của người đối diện.
Có những người lớn tuổi làm việc xã hội suốt cả đời mà lúc nào cũng tươi cười như cố trung tá Nguyễn Thị Hạnh Nhân lo cho thương phế binh, cô nhi quả phụ ở Việt Nam, không bao giờ tôi thấy chị nhăn mày nhíu mặt. Tôi mong người lớn tuổi nào cũng sống hữu ích và vui vẻ như thế. Mong tất cả người lớn tuổi khỏe mạnh giúp người, giúp đời. Giúp cho ai cũng là giúp cũng tốt, miễn có lòng tốt giúp người là tốt. Thương người như thể thương thân, thấy người đói khổ thì thương, đâu cần phải là thân nhân của mình, mình cũng thương. Mình thương người thì người sẽ thương mình, làm thế nào khi đi khắp nơi trên thế giới nơi nào cũng có người giúp đỡ, sẽ không sợ đói, sẽ có đời sống hạnh phúc.

Mùa Xuân trên đất Mỹ.
Tôi có duyên được đi nhiều. Nhiều nơi tôi đến như Bắc Âu lạnh cóng xương sống, nhưng vẫn gặp nhiều người nở nụ cười thật tươi khi nghe chúng tôi nói tiếng Việt ở phi trường Đan Mạch, Phần Lan, Hòa Lan, khi nhận diện ra chúng tôi là người Việt Nam thì được mới về nhà ăn cơm Việt Nam, thật là cảm động. Người Việt Nam vốn tình cảm nồng nàn, không biết người đó từ đâu đến miễn là nói tiếng Việt là nhận ra đồng hương là đối xử nồng hậu ngay.
Tôi mơ ước được trở lại những nơi tôi đã đi qua như Đắc Tô Đắc Sút, điạ đầu giới tuyến cao nguyên trung phần, biên giới Việt Cambodia, Việt Lào, Tha La xóm Đạo, v.v.
Quê hương yêu dấu, nơi nào cũng đẹp, miền Thượng đẹp tuyệt vời với những sơn nữ với tiếng ca thánh thót, với những đôi mắt ngây thơ, với dòng sông trong vắt, nơi nào cũng đẹp, nơi nào người đến rồi cũng đi với nhiều kỷ niệm đẹp, nơi mà tôi đã đến có còn như xưa? Cảnh cũ người xưa bây giờ ra sao, nào ai biết? Lũ lụt, tàn phá rừng, rừng còn xanh hay cây rụng? Rừng cao su, rừng cà phê, biển hồ Pleiku, tôi mong được trở về.

Mùa Xuân trên miền Thượng.
Mơ ước thì nhiều mà thực hiện bao nhiêu nào ai biết? Mỗi ngày tôi viết ra nhiều việc để làm, nhưng đến tôi khi trở về nhà những việc đã viết ra chưa làm hết? Cũng như mơ ước tận trong trái tim của mình biết bao giờ thực hiện được? Những đứa trẻ trong các cô nhi viện vẫn lớn theo thời gian, trong sự đói khổ, các em không đủ ăn, không đủ áo ấm mùa đông những vẫn phải sống như những người bình thường. Mong xã hội có nhiều người có lòng nhân để cho người khổ bớt khổ, trẻ con đỡ đói. Một bao gạo $10, 10 bao gạo $100, nếu người nào cũng từ tâm mỗi tháng tặng 10 bao gạo thì không có trẻ em nào đói trên quả địa cầu này.

Kiều Mỹ Duyên mua gạo cho trẻ em mồ côi Việt Nam
Xin Trời Phật, xin Thượng Đế phù hộ cho những người khốn khổ, cho những người lòng nhân ái giúp đỡ người khác. Cầu nguyện thật nhiều và thật chân thành, xin những lời cầu nguyện của mọi người được có kết quả tốt đẹp.
Mùa Xuân xin mọi người cầu nguyện thật nhiều cho nhau, cho tất cả sự bình yên đến với nhân loại.
Orange County, 15/12/2021
KIỀU MỸ DUYÊN
(kieumyduyen1@yahoo.com)

Sáng thứ Năm vừa qua, ngày 16 tháng 12 năm 2021, trong không khí mùa Đông giá lạnh, có mưa phùn lất phất, thình lình Ông Già Noel (do Anh Hải hóa trang) xuất hiện! trong bữa cơm nóng hàng tuần, phục vụ những người không nhà.
Sự có mặt của Ông, làm không khí chuyển thành sôi động, hứng thú ngay lập tức. Nhiều người vỗ tay hoan hô mừng rỡ, chỉ trỏ… “Santa Clause is coming to town!”
Ông giơ tay chào, cất tiếng…Hô hô hô! Và tham gia ngay vào tiết mục xổ số tặng quà Giáng Sinh cho những người may mắn. Ngoài phần quà, còn kèm thêm 20 đô la tiền mặt. Khách nào trúng, hân hoan nhảy cỡn như em bé được mẹ cho quà.
Rồi Ông lì xì có chút tiền mặt, kẹp trong thiệp Giáng Sinh, kèm theo món quà nhỏ, ân cần gởi đến từng Khách không nhà, không quên nói Lời chúc An Lành. Nhiều người rưng rưng cảm động, ôm lấy Ông cám ơn chụp hình kỷ niệm.
Đây chỉ là những công tác nhỏ, với chủ trương, đem tất cả tình thương yêu, như người trong gia đình, nhất là trong những dịp Lễ Tết, mà Nhóm đã theo đuổi 28 năm nay, đến với những người kém may mắn trong cuộc sống.
“Cách cho quý hơn của cho!” Họ tâm sự nhiều lần, những khoảng thời gian vào dịp Lễ cuối năm, là khoảng thời gian khắc nghiệt khổ sở, cô đơn nhất đối với họ. Nhìn chung quanh, ai cũng vui vẻ hạnh phúc, còn mình chẳng có gì cả, lang thang ngoài đường gió lạnh. Chịu không nổi, nhiều người qua đời nhiều nhất trong khoảng thời gian khốn khổ này.
Nhóm Mõ Nhân ái đã cố gắng mang không khí ấm áp ngày lễ đến với họ, như Lễ Tạ Ơn có hình ảnh Ông đầu bếp đứng nướng Gà Tây, Halloween, giả hình Quỷ Ma chơi đùa, phát kẹo, Tết có đốt pháo lì xì…để an ủi, xoa dịu, quên đi phần nào nỗi cô đơn, mà họ đang phải chịu đựng.
Chương trình đã được nhiều Ân Nhân ẩn danh ủng hộ, mỗi tuần phục vụ 2 bữa ăn nóng hổi, (thứ Năm, thứ Sáu) phát những đồ vật dụng cần thiết, tặng chút tiền mặt. Đặc biệt cả mùa dịch Covid, kéo dài gần 2 năm, chương trình cũng không bị gián đoạn, thay vì phục vụ tại chỗ, thì tặng khách mang đi. (To go)
Nhân mùa Lễ, xin được gởi lời Cảm tạ đến tất cả Quý Vị, với tấm lòng vàng, đã yểm trợ chương trình để có thể đi được đoạn đường dài 28 năm!
Kính chúc Quý Vị và Gia Đình: Một Mùa Giáng Sinh An Lành, Hạnh Phúc, nhận được muôn ngàn Hồng Ân Thiên Chúa từ Trời Cao.

MÙA GIÁNG SINH…
TÂM SỰ
**
…Thu mới qua, Đông đã đến rồi,
Bao nhiêu lá rụng, mấy người vui ?
Vợ chồng xa cách, già… thêm bệnh,
Mấy kẻ không nhà…biết gọi ai ?!
Trời ở xa, nghe khó giúp mình,
Chúa thương, nhưng biết pháp còn linh?
Quá nhiều tội lỗi, loài hung ác,
Tàn sát nhau, tham, chẳng nghĩ tình !!
Cả vạn năm, Ngài chịu cực hình,
Lỗi lầm, đền, trả, đám sinh linh?
Biết bao giờ hết,
Nguồn vui sống
Bừng nở năm châu nhịp thái bình ?!
Mùa Giáng Sinh…cầu nguyện Chúa Cha:
Phép màu trải rộng khắp Ta Bà …
Thánh, Thần cứu hộ dân lương thiện,
Đang chết mòn…vì bọn quỉ ma ?!
Đừng kể người trong hay ngoại Dạo,
Yêu hồ tận diệt gấp, mong thay!
Độc tài, cuồng tín…tiêu trừ sạch,
Triệu triệu vòng… tay nối cánh tay,
Để sống yêu thương, hòa một nhịp,
Ba ngàn Thế Giới…hát, vui thay !
Bi tâm rộng mở, theo gương Phật,
Giúp độ nhau, Nhân Chính, đức dây…
Dương Huệ Anh
12/12/21 12.27pm


ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG
*
Đêm Thánh vô cùng trân quý ơi
Đoá hoa nhân ái nở bên trời
Khát khao yêu mến người thiên hạ
Tất cả xin vào dự hội chơi
*
Ánh biếc vì sao lấp lánh xa
Tươi vui lửa ấm sưởi muôn nhà
Chúa ơi, Đêm Thánh vô cùng tận
Người với người thương ta với ta
*
Bạn với bè trên mỗi bước xuân
Hoan ca nơi khắp ngả dương trần
Mây vương sắc áo mầu nhân ảnh
Đêm Thánh vô cùng đẹp dấu chân.
*
Mãi mãi hoa thơ kết vạn lòng
Dâng lên Thiên Chúa mỗi mùa đông
Bình an dưới thế đêm vô tận
Chúa ở cùng anh chị em mong …
CAO MỴ NHÂN
*
ĐI LỄ NỬA ĐÊM
*
Rằng em chưa hết yêu đâu
Chênh vênh anh đứng trên cầu nhân sinh
Chúa không ruồng bỏ chúng mình
Anh không từ tạ cuộc tình hồn nhiên
*
Merry Christmas bình yên
Đưa em đi lễ nửa đêm đón Người
Thiêng liêng ngự trị đời đời
Ba ngôi hiệp nhất khắp trời hoa đăng
*
Em thưa: Lòng Chúa mênh mang
Trái tim Thiên Chúa rỡ ràng bao la
Yêu từ trái đắng nở hoa
Thơ em phong tặng tình ca kiếp này
*
Lặng thầm dấu thánh in đầy
Merry Christmas đắm say nẻo về
Thiên đường lộng lẫy đam mê
Hồi chuông thức tỉnh hồn si cao vời …
CAO MỴ NHÂN

*
HÁT THÁNH CA
Buổi sáng em ngồi hát thánh ca
Cả không gian sáng rỡ quanh nhà
Anh đang xa tít chân mây rộng
Em nguyện trời ân sủng chúng ta
*
Ôi, nguyện trời cao, tuyệt đỉnh cao
Giơ tay em với tới phương nào
Không gian vần vũ, anh yêu hỡi
Sương khói mơ hồ giữa ánh sao
*
Chúa ở cùng anh, Chúa bỏ em
Bâng khuâng hờn tủi những ưu phiền
Ngay khi anh đến, khi anh đến
Mang nỗi u hoài, trễ muộn thêm
*
Buổi tối thánh ca vẳng ngập ngừng
Chao ôi, có thật Chúa bên lưng
Đỡ em đi hết đường đau khổ
Dấu lệ yêu thương, đọc ” Kính mừng …”
CAO MỴ NHÂN
*
TRƯỚC LỄ GIÁNG SINH
*
Chúa ơi, con chẳng còn nao nức
Nghe tiếng chuông, chờ Lễ Nửa Đêm
Con thấy lòng con yên lặng quá
Thản nhiên vào giấc ngủ êm đềm
*
Bao nhiêu bạn trẻ đã ra đường
Phải họ đi tìm Chúa mến thương
Hay họ chỉ đi tìm bóng họ
Bên nhau, mai mốt lại muôn phương
*
Ở đây, cạnh Chúa vẫn cô đơn
Ngửa mặt nhìn sao, nén tủi hờn
Con muốn lênh đênh trên biển cả
Một lần sóng gió, Chúa gần hơn
*
Chúa ơi, Chúa đến làm chi nhỉ
Con khóc như mưa, Chúa lại …cười
Con khổ sở hoài, xin Chúa giúp
Chúa kêu thử thách với con thôi
*
Con vừa cầu nguyện gởi cho ai
Thôi nhé, Noel này lạc loài
Con viết thơ buồn trên giá thánh
Ngày mai thức giấc, chắc sầu vơi…
*
CAO MỴ NHÂN

Trưa hôm nay hồi 11Am – Thứ Bảy 11-12-2021 buổi Lễ Kỷ niệm lần thứ 73 Ngày Quốc tế Nhân quyền đã được Cộng đồng Người Việt Bắc California tổ chức tại Hội trường Quận hạt Santa Clara 70 W Hedding Street với sự tham dự của hàng trăm đồng hương cùng một số đại diện các cộng đồng bạn tại địa phương , cùng với sự tham dự của các Cộng Đồng HongKong, Philippino, Urghurs, Taiwan, Tibet.


Mời xem Video Lễ Kỷ Niệm Ngày Quốc Nhân Quyền do Ủy Ban Điều Hợp Sinh Hoạt Cộng Đồng Bắc Cali cùng Tổ Chức với các Hội Đoàn Địa Phương
Phần 1:
Phần 2:
Phần cuối:
MOI RA MAT SACH VA TUONG NIEM PHI CONG ANH HUNG.
Lá thư cuối năm 2021
Ra mắt sách: Di sản của Việt Nam Cộng Hoà.
The Republic of Vietnam’s Environment & People.
Tác giả bác sĩ Phan Quang Đán
bài của Giao Chỉ, San Jose.
Chương trình ra mắt sách đặc biệt.
Tổ chức 10 giờ sáng thứ bảy 18 tháng 12-2021
hội trường Santa Clara County 70 W. Hedding San Jose.
(Khai mạc đúng giờ.) Xin đến từ 9:30 am.
Phần mở đầu nghi thức và giới thiệu bằng Anh Ngữ.
Tiếp theo bằng Việt Ngữ. Tác phẩm dành để biếu tặng.
Không bán.)
Xin đến với Việt Nam Cộng Hòa.
Gửi các bằng hữu Bắc CA. Đặc biệt kính mời các bác sĩ và gia đình y khoa đến để nhớ về bác sĩ Phan quang Đán. Mời các bạn Không quân Việt Nam đến để nhớ về Trần Thế Vinh và Phan Quang Tuấn đã hy sinh tại mặt trận Quảng Trị ngày 7 và 9 tháng 4-1972. Tran The Vinh Phi doan 518 Phan Quang Tuan
Trải qua 2 năm từ 2020 đến nay, chúng ta đã sống 2 năm hết sức khó khăn. Nhân loại đã từng có trận dịch 1918 sau đại chiến. Ngày nay thế giới chịu trận dịch Covid 19 lại thêm những xáo trộn chính trường Hoa Kỳ chia rẽ anh em ta. Cuối năm Tân Sửu xin mời quý bạn nhân danh VNCH hãy đến với nhau. Tại Việt Museum có triển lãm bộ sưu tầm huy chương duy nhất trên thế giới trị giá 200 ngàn mỹ kim chia ra phần: Quân sự và dân sự. Hàng trăm loại huy chương quân sự ai cũng đã có nghe qua, nhưng phía dân sự mấy ai biết rằng trong phần xây dựng đất nước chúng ta cũng có huy chương cho nhà giáo mang danh giáo dục bội tinh. Huy chương cho nông dân, huy chương cho thợ thuyền và nhiều lãnh vực khác. Đã có hàng ngàn câu chuyện về chiến tranh và quân sử nhưng duy nhất chỉ có một cuốn sách viết về đất và người miền Nam của vị phó thủ tướng cuối cùng. Xin vui lòng đọc phần giới thiệu đầy đủ đính kèm. Chúng tôi nhân danh viện bảo tàng Thuyền nhân và VNCH phát hành tác phẩm Anh ngữ về VNCH để biếu các vị dân cử, các thư viện, các nhà biên khảo, các vị quan tâm. Nếu có kết quả sẽ in thêm. Tuy nhiên khi tìm hiểu về vị tác giả có con trai hy sinh trên mây trời Cam Lộ tại mặt trận Quảng Trị năm 1972 tôi hết sức xúc động. Tháng 9 năm nay xuống Bolsa nhận di sản tượng đài do các anh chị em thế hệ tương lai thực hiện. Rồi lễ khánh thành hoàn tất tại Việt Museum. Chúng ta đã nói đến chiến binh các đại đơn vị tổng trừ bị sống và chết ở miền hỏa tuyến. Cuối năm tưởng niệm 2021 tôi muốn có dịp nhắc đến sự hy sinh hết sức biểu tượng của không quân trong dịp ra mắt sách 18 tháng 12 tại Santa Clara County. Xin kể rằng tháng 2 năm 1972 Bắc quân tống tấn công VNCH mở đầu tại Kontum. Tháng 3 vây Bình Long và tháng 4 đại quân tràn qua vỹ tuyến. Ngày 3 tháng 4-72 sư đoàn 1 không quân gửi đợt đầu 16 skyraiders với 8 phi tuần thuộc các phi đoàn 518 và 514. Đại uý phi công khu trục Phạm ngọc Hà đã kể lại đầy đủ các trận đánh của không quân Việt Nam. Trong chiến tranh Việt Nam không trận nào là không có máy bay tham dự. Không lần nào là không có phi công hy sinh. Lần này ra hỏa tuyến với hệ thống phòng không dày đặc của cộng sản được Nga Sô trang bị đủ loại hỏa tiễn. Dưới đất toàn là chiến xa và mục tiêu số 1 của các phi công tác chiến là diệt tăng. Dân Huế treo giải thưởng cho các phi công hạ chiến xa địch. Hai phi công dũng sĩ của phi đoàn 518 đã trở thành anh hùng của mặt trận Đông Hà. Khi ra đi tháng 4-1972 phi công Trần thế Vinh và phi công Phan Quang Tuấn cùng 26 tuổi cấp bậc trung uý. Tháng sau đã đến hạn kỳ cả 2 thăng cấp đại uý. Trong tuần lễ cuối cùng của chiến dịch Quảng Trị đại uý phi công Trần thế Vinh trở thành con bài chủ số 1 của không quân Việt Nam đã hạ được 21 chiến xa Bắc Việt. Đại uý Phan quang Tuấn tổng kết hạ được 17 chiến xa. Cả hai đều hy sinh trong những phi vụ của tuần lễ cuối cùng. Riêng phi đoàn 518 đã xuất quân 512 phi vụ và mất 2 phi công xuất sắc trong tuần lễ cuối trước khi bàn giao vùng trời Quảng Trị cho phi đoàn 514. Ngay trong phi vụ bị hy sinh Trần Thế Vịnh hạ thêm 2 chiến xa địch. Tại Huế gia đình bác sĩ Phan Quang Đán đã dự lễ tưởng niệm cho cả 2 phi công anh hùng cùng hy sinh cho chiến trường hỏa tuyến. Tuấn hy sinh ngày 7 tháng 4-72 và 2 ngày sau Vinh gẫy cánh 9 tháng 4. Với thành tích diệt hạ hơn 20 chiến xa trong một chiến dịch. Đại uý Trần Thế Vinh được tuyên dương là anh hùng không quân của năm 1972 và hình ảnh tràn ngập khắp miền Nam. Ngày nay 49 năm sau ngay tại San Jose nhân dịp ra mắt sách VNCH chúng ta sẽ có dịp nhắc đến cả 2 anh hùng của mây trời Cam Lộ cùng các chiến sĩ không quân “Đi không ai tìm xác rơi.”
Xin đọc bản tin đầy đủ:
Ra mắt sách:
Di sản của Việt Nam Cộng Hoà.
The Republic of Vietnam’s Environment & People.
Tác giả bác sĩ Phan Quang Đán
bài của Giao Chỉ, San Jose.
Chương trình ra mắt sách đặc biệt.
Tổ chức 10 giờ sáng thứ bảy 18 tháng 12-2021
hội trường Santa Clara County 70 W. Hedding San Jose. (Khai mạc đúng giờ).
Phần mở đầu nghi thức và giới thiệu bằng Anh Ngữ.
Tiếp theo bằng Việt Ngữ.
Tác phẩm dành để biếu tặng. (Không bán.) Dr. Phan Quang Dan
Cuối năm 2021 Viện bảo tàng Thuyền nhân và VNCH tại San Jose sẽ tổ chức Ra mắt Sách giới thiệu tác phẩm của vị phó thủ tướng cuối cùng của miền Nam Việt Nam. Bác sĩ Phan Quang Đán là một trí thức khoa bảng với bằng cấp y khoa của Hà Nội 1945, bằng bác sĩ Sorbonne tại Pháp và bằng Hoa Kỳ tại Harvard năm 1954. Tác giả cũng đồng thời là một nhân sĩ lập pháp đối lập với đệ nhất cộng hòa, bị tù chính trị 3 năm và cũng là người góp phần xây dựng đệ nhị cộng hòa cho đến những năm sau cùng của miền Nam. Suốt nửa thế kỷ VNCH lưu vong đã có biết bao nhiêu trang quân sử viết về các trận đánh trong chiến tranh Việt Nam nhưng chưa từng có tài liệu dân sinh về đất nước và con người. Tác phẩm này chính là tập hợp đã ghi lại với rất nhiều tin tức của viện thống kê Sài Gòn và nha địa dư Đà Lạt. Miền Nam Việt Nam trải qua 21 năm với 2 nền cộng hòa nhưng không có vị lãnh tụ nào để lại hồi ký lịch sử. Chúng ta đã từng có 2 vị quốc trưởng, 4 vị tổng thống và nhiều vị thủ tướng, nhưng duy nhất chỉ có bác sĩ Phan Quang Đán cùng các cộng sự viên của ông đã soạn thảo tác phẩm về đề tài Đất và Người miền Nam vào những ngày cùng tháng tận của VNCH.
Mục đích Ra mắt sách. Nhân loại hiện nay đang sống trong thời kỳ điện toán. Sách vở đã từng hiện diện cả ngàn năm đưa nhân loại từ bán khai đến thời đại văn minh rực rỡ ngày nay. Tuy nhiên bây giờ là giai đoạn hoàng hôn của sách vở. Một ngày mai sách vở sẽ trở thành tài liệu tiêu biểu cho những ngày đã qua và là kỷ niệm của quá khứ. Nhưng sách vở sẽ là hình ảnh của cuộc đời của từng người Việt xa quê hương. Với sứ mạng của Viện bảo tàng thuyền nhân và VNCH chúng tôi muốn tìm lại những tác phẩm tiêu biểu gửi đến mọi người trong chương trình gọi là Giữ đời cho nhau. Vì cuốn sách này viết bằng Anh Ngữ nên ưu tiên sẽ gửi đến thế hệ tương lai tại Hoa Kỳ. Sách sẽ trao tặng cho các văn phòng dân cử địa phương. Các thư viện, các tổ chức quan tâm và các nhà sưu tầm lịch sử. Chúng tôi sẽ mời các vị dân cử đến nghe phần giới thiệu và nhận sách. 58 ngàn chiến binh Mỹ đã hy sinh tại VN với hơn 200 ngàn thương bệnh binh. Hoa Kỳ và VNCH đã chia sẻ niềm đau làm mất miền Nam Việt Nam. Ngày nay sau gần nửa thế kỷ, các vị dân cử Mỹ biết gì về VNCH hay chỉ gặp gỡ xã giao với cử tri vì lá phiếu. Chúng tôi sẽ dành phần mở đầu của chương trình Ra Mắt sách để trao vào tay các nhà dân cử địa phương một tác phẩm viết về con người và đất nước mà 2 dân tộc Mỹ Việt đã cùng sống chết bên nhau. Sau phần mở đầu bằng Anh Ngữ sẽ đến phần giới thiệu với độc giả Việt Nam bằng Việt Ngữ. Đây không phải là một chương trình ra mắt sách vì nhu cầu bán sách. Đây là một tập hợp để chuyển giao thông điệp chính trị đồng minh vận và dân vận muộn màng cho thế hệ tương lai. Chúng tôi rất hân hạnh được thân quyến gia đình họ Phan của bác sĩ Phan Quang Đán cho phép. Trong lịch sử cận đại chúng ta hẳn không quên các nhà cách mạng họ Phan như Phan Đình Phùng, Phan châu Trinh, và Phan bội Châu. Ngày nay cũng rất cần nhắc đến con người và tác phẩm của cụ Phan Quang Đán. Trong số các nhà lãnh đạo của VNCH gần như chỉ có bác sĩ Phan Quang Dân có người con trai là phi công anh hùng vào năm 1972 đã hy sinh trên trời Cam Lộ tại cuộc chiến miền hỏa tuyến Quảng Trị. Người phi công trẻ tuổi đã không tìm được xác. Bài ca năm trước vẫn còn nghe vẳng đâu đây. Đi không ai tìm xác rơi. Hồ sơ phi vụ của đại úy phi công Phan Quang Tuấn 26 tuổi bay khu trục bị phòng không ngày 7 tháng 4-1972 tại Cam Lộ, Đông Hà. Mất tích. Đã hơn 50 năm qua. Ai đã nghe thấy tiếng gọi của bác sĩ phó thủ tướng Phan Quang Đán nói với người con trưởng Phan Quang Tuệ. Con bay ra Huế với cậu. Em con gẫy cánh ở Đông Hà. Rơi trong vùng địch. Chưa tìm được xác. Ông bác sĩ với 3 mảnh bằng y khoa danh tiếng. Với 3 năm tù cộng hòa đệ nhất để rồi suốt cuộc đời còn lại phục vụ cho cộng hòa đệ nhị. Ông là người lo cho dân Việt tỵ nạn trên chính quê hương yêu dấu. Trách nhiệm toàn diện về lãnh vực xã hội cho miền Nam. Với tất cả tâm huyết và nghị lực dành cho quê hương nhưng đất nước vẫn đòi hỏi ông phải hy sinh thêm người con trai anh dũng ngay tại miền Trung thân yêu của họ Phan.
Vì những tình tiết đặc biệt như vậy nên chúng tôi đã chọn tác phẩm Đất và Người của VNCH để gửi biếu mọi người.
Sơ lược về tác phẩm: Một tác phẩm vô cùng đặc biệt biên soạn bằng Anh Ngữ. The Republic of Vietnam’s Environment & People. Tên tiếng Việt: Việt Nam Cộng Hòa, Đất nước và Con người. Tác giả: Phó Thủ tướng , Quốc Vụ Khanh Phan quang Đán. Cuối năm 1974 bác sĩ Phan Quang Đán đã phối hợp với các nhân viên trực thuộc soạn thảo một tài liệu về Con người và đất phương Nam dưới thời đệ nhị cộng hòa. Tác phẩm sẽ giới thiệu trong nghị hội tháng giêng năm 1975 do UNICEF thuộc Liên Hiệp Quốc bảo trợ. Tài liệu thống kê lấy từ viện quốc gia thống kê Sài Gòn và phần địa lý nhân văn tham khảo từ nha địa dư quốc gia Đà Lạt. Bác sĩ Đán là tác giả chính chỉ đạo việc phối hợp biên soạn nhưng đã nhờ rất nhiều ở người phụ tá là ông Võ Văn Nhơn thuộc bộ xã hội. Chúng ta hẳn còn nhớ lại thời kỳ đầu năm 1975 hội nghị quốc tế tổ chức tại Thủ Đức với đề tài phát triển quốc gia và bảo vệ quyền thiếu nhi. Tác phẩm của bác sĩ phó thủ tướng VNCH được đón nhận đặc biệt giữa bầu không khí chiến tranh đè nặng trong lòng mọi người. Ai nghĩ rằng 3 tháng sau sẽ có một ngày 30 tháng tư năm 1975. Tác phẩm này sẽ trở thành di sản cuối cùng của VNCH. Tác phẩm gồm 588 trang khổ lớn tràn ngập tin tức về đất nước và con người thời VNCH. Có 3 phần chính là địa lý nhân văn, môi trường sống và con người. Nhưng khai thác chi tiết về nội dung sẽ tìm thấy tất cả về đất và người một thời đã xây dựng phương Nam tuy ngắn ngủi nhưng thực sự ngời sáng về tất cả mọi phương diện. Xin ghi lại các con số đáng lưu ý. 472 bản đồ, 90 bản vẽ,40 biểu đồ thống kê, 150 bức hình, 510 đầu sách đã tham khảo, 2000 địa danh và nhân vật được ghi nhận, Tên và chữ ký của 117 vì dân biểu quốc hội. Thêm 10 trang danh sách các hội đoàn thiện nguyện bất vụ lợi trong nước và ngoài nước. Phần phụ lục lại có thêm tóm lược hiệp định Geneve 1954 nên gọi là tờ khai sinh của nền Cộng hòa miền Nam. Bản Hiến Pháp đệ nhị cộng hòa và sau cùng là bản tóm lược hiệp định Paris 1973 có thể coi như bản án tử hình chờ ngày khai tử của nền Cộng Hòa miền Nam.(Ghi chú: Vì nhiều trang nên không in trong kỳ xuất bản này)
Người con trưởng là thẩm phán tòa di trú Phan Quang Tuệ được thân phụ trao lại tác phẩm này. Ngày nay dù cộng sản thay tên đổi họ các địa danh nhưng phần tài liệu về địa lý nhân văn trong tác phẩm của miền Nam vẫn còn giá trị muôn đời. Bao nhiêu đèo cao và vực sâu. Bao nhiêu sông nước và hải đảo. Khí hậu thay đổi ra sao và dân số cao thấp thế nào. Cuốn sách đất và người phương Nam có đủ hết. Từ gần nửa thế kỳ vừa qua, chúng ta đã được đọc về các trận đánh trong chiến tranh Việt Nam. Hàng trăm đến hàng ngàn câu chuyện. Nhưng không mấy ai có sách in về 20 năm xây dựng đất nước của 2 nền cộng hòa. Tác phẩm này đã trở thành di sản của đồng bao hai ngoai trong 50 năm lưu vong. Bây giờ cần đưa ra ngoài ánh sáng
Sơ lược về tác giả. Bác sĩ Phan quang Đán sinh năm 1918 tại Nghệ An đã tốt nghiệp bác sĩ tại Hà Nội năm 1945, thêm bằng bác sĩ Sorbonne tại Pháp và lấy thêm bằng Hoa Kỳ tại Harvard năm 1954. Dưới thời đệ nhất cộng hòa bác sĩ Đán thuộc thành phản đối lập dù đã trúng cử dân biểu 1958. Qua năm 1960 ông đã từng bị tù chính trị 3 năm vì tham gia đảo chính bất thành. Cũng trong thời gian này, nhà văn Nhất Linh tự vẫn vì từ chối ra tòa. Năm 1966 ông chính thức trở lại chính trường và liên tiếp thành công trong các chức vụ phát triển quốc gia bao gồm cả ngoại giao, xã hội và văn hóa. Từ 1975 đến nay không có các nhà lãnh đạo VNCH viết hồi ký. Các vị tổng thống và phó tổng thống cho đến các thủ tướng cũng không hề viết dù là đôi dòng tâm sự dành cho hậu thế. Bây giờ chỉ còn cuốn sách của bác sĩ phó thủ tướng sau khi ông ra đi vào tháng 3 năm 2004 tại Tampa, Florida. Chúng tôi cũng cần ghi thêm rằng trong số các vị lãnh đạo quốc gia và tướng lãnh VNCH, bác sĩ Đán là phó thủ tướng đã có người con trai thứ là phi công khu trục đã hy sinh tại trận Quảng Trị năm 1972. Người con trưởng trước 75 là trung úy ngành tư pháp và hiện nay nguyên là thẩm phán tòa di trú SF Phan Quang Tuệ được thân phụ giao cho tác phẩm này. Ông giữ mãi hơn 40 năm qua…
Trang sách với tình yêu và mối Nhục mất nước. Tác phẩm này ngoài 588 trang lại có thêm phần mở đầu trên 30 trang có hình tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, quốc kỳ, quốc ca VNCH, hình tác giả, lời nói đầu v v. Tôi chú ý đến trang sách mở đầu có chữ viết tay của bác sĩ Đán,
Ông viết: Thân tặng con Tuệ, dưới ký tên Cậu. Đán . Chúng tôi hiểu gia đình này gọi cha mẹ là cậu mợ. Cũng trong trang sách này có 3 đoạn ghi những ý kiến về quan điểm sống, sự liên hệ giữa đất và người. Giữa con người với nhau và với môi trường sống. Không có chiến tranh và không có chính trị. Chúng tôi không biết rõ đây là di cảo của tác giả hay ông ghi lại những tư tưởng này từ tác phẩm nào. Xin chép lại nguyên văn 3 đoạn và tạm dịch ra Việt Ngữ. Là độc giả của tác phẩm, chúng tôi chia xẻ với tâm sự của tác giả. Bác sĩ Đán là nhà khoa bảng trí thức. Đỗ 3 bằng bác sĩ Việt Pháp Mỹ rồi về nước mở phòng khám bệnh cho dân nghèo. Nhưng y khoa không giữ chân ông. Dòng máu cách mạng xứ Nghệ đưa ông vào con đường chính trị. Ông chống đệ nhất cộng hòa chấp nhận đi tù và sau đó nhập cuộc xây dựng đệ nhị cộng hòa. Ông nhìn về tương lai trông cậy vào 2 người con trai. Sự hy sinh của riêng ông chưa đủ, đất nước lấy đi thêm người con trai 26 tuổi. Tháng tư 1975 cha con ông phó thủ tướng phải di tản. Dân sinh Media của anh Phạm Phú Nam hỏi ông Phan Quang Tuệ lúc ra đi trên máy bay Mỹ bao gồm gần như cả nội các VNCH cảm tưởng ra sao. Ông trung úy công pháp họ Phan ngoài 30 tuổi đã thẳng thắn trả lời: Nhục. Là độc giả của cuốn sách VNCH với Sài Gòn thân yêu, năm 75 tôi là đại tá ngoài 40 tuổi nhưng hoàn toàn chia sẻ với ông trung úy 30. Dù các ông đi tầu bay Mỹ. Chúng tôi đi tầu quân vận của Army ta, tôi cũng thấy Nhục như cụ Đán và ông Tuệ. Nửa thế kỷ tiếp tục chiến đấu một mình, nếu có niềm hãnh diện nhỏ bé là vì tôi vẫn còn mang mối Nhục đến ngày hôm nay. Giao Chỉ, San Jose.
Ghi chú của bác sĩ Phan Quang Đán:
If time is to be considered the fourth dimension. geography would be history in space and history would be geography in time. They complete one another and their combined disciplines help reach a better understanding of man and his environment through the diversities of nations and ages.
Nếu thời gian được coi là chiều thứ tư, địa lý sẽ là lịch sử trong không gian và lịch sử sẽ là địa lý trong thời gian. Chúng hoàn thiện lẫn nhau và sự kết hợp trật tự này giúp ta hiểu rõ hơn về con người và môi trường của chúng ta thông qua sự đa dạng của các quốc gia và thời đại
The ruthless but efficient nature’s equilibrium which has preserved life on our planet should be gradually replaced by a rational and well planned harmony between man and his environment. There is little room for presumptuous and selfish feelings in this essential endeavor which could best succeed if inspired with a deep sense of humility and human solidarity
Sự cân bằng tàn nhẫn nhưng hiệu quả của thiên nhiên đã bảo tồn sự sống trên hành tinh của chúng ta nên dần dần được thay thế bằng sự hòa hợp hợp lý và có kế hoạch giữa con người và môi trường của anh ta. Có rất ít chỗ dành cho những cảm giác tự phụ và ích kỷ trong nỗ lực thiết yếu này có thể thành công tốt nhất nếu được truyền cảm hứng với ý thức sâu sắc về sự khiêm tốn và tình đoàn kết của con người
The distinction between people and their environment is mainly academic . They are both integrant parts of the same nature .They are closely related and react continually to each other. Economic development, health. Education and social welfare should aim in a concerted effort at improving man and his environment, achieving their equilibrium and harmony and enhancing the quality of life with special attention for children and youth who obviously represent and hold the future of mankind
Sự khác biệt giữa con người và môi trường của họ chủ yếu là học thuật. Chúng đều là những bộ phận tích hợp có cùng bản chất, chúng liên quan chặt chẽ với nhau và phản ứng liên tục với nhau. Phát triển kinh tế, y tế. giáo dục và phúc lợi xã hội cần hướng tới một nỗ lực phối hợp nhằm cải thiện con người và môi trường của họ, đạt được trạng thái cân bằng hài hòa và nâng cao chất lượng cuộc sống với sự quan tâm đặc biệt đối với trẻ em và thanh thiếu niên, những người rõ ràng đại diện và nắm giữ tương lai của nhân loại
Giao Chi San Jose. giaochi12@gmail.com (408) 316 8393



THÁNG CHÍN RỒI…
*
Tháng Chín rồi, Năm cũ sắp qua,
Như tên bay, mệt khách đường xa…
Cổ lai hi tuổi, mơ chi nữa?
Mấy lượt mài gươm, nguyệt cũng già?
*
Sức yếu, may không lo bệnh trọng,
Thân còm, gắng chống đỡ tà ma!
Cháu con cứ bận…làm sao khỏi?
Bè bạn dần thưa, dễ hiểu mà !
*
Mới tiễn Vũ quân về với Chúa,
Lại nghe Lương muội hội cùng Cha !
Chuyện Đời thay đỗi trong hơi thở,
Sinh Tử. Mất Còn: một sát na !
1/9/17 Dương Huệ Anh
***
CỨ VUI
*
Lửa nóng Sa Bà, ta cứ vui,
Lên voi, xuống chó, gắng yêu đời!
Bởi ta có cái người không có,
Sức mạnh, Bi tâm, những nụ cười!
*
Tuổi trẻ, xe lăn, ngồi, chẳng thiếu,
Bạn già, chống gậy, cũng thường thôi!
Phi Châu, dân đói, vô cùng khổ,
Bệnh quỉ, Sida, cả triệu người!
*
Do Thái, Muslim thù khó giải,
Thánh Thần, rồi Chúa cũng buông xuôi!
Năm châu quấy động*, niềm tin mất,
Bởi quá tham, điên đảo cuộc chơi!
* Khủng hoảng tiền tệ, ngân hàng, địa ốc.
20/01/09 – #24/09
***
BI TÂM HOA NỞ
*
Ba mươi, Tết đến, hỏi buồn, vui?
Thực sự buồn, vui tí chút thôi!
Sức ngựa còn, thơ còn phóng túng,
Cuối năm bệnh, bệnh cứ lai dai !
*
Bạn thơ đột quị, nằm chờ bạn,*
Tri kỷ cuồng mê, khó giữ lời !
Thế giới đắm chìm trong khủng hoảng,
Chiến tranh tàn phá, phải trò chơi!
*
Sinh, già, bệnh, tử… thương thân phận,
Thành, trụ, hoại, không …, nhớ luật đời!
Tự tại, an nhiên, theo chính đạo,
Bi tâm hoa nở triệu vành môi !!
*Trần Việt Yên – 25/01/09
***
LẠI GIÁNG SINH
*
Ngày tháng trôi mau, lại Giáng Sinh,
Trời mưa, trời gió, lạnh run mình.
Tám mươi hơn, tuổi, thơ còn mặn,
Sáu chục tròn, cân, bạn dám khinh?
*
37 năm, buồn thân tị nạn,
Tháng mươi lần, dạo bước* điêu linh!
Ngày ba bữa, giữ cho bền sức,
Đêm mấy phen đi…khổ thật tình!
*
Răng cửa lung lay, chừng muốn rụng,
Tóc trần trụi lùi, ngó mà kinh!
Ngáp dài, thích ngủ quay trên thảm,
Quên hết, ưu tư với bất bình!!
* Đi bộ – 24/12/12 – #41/12
***
CUỐI NĂM MƯA GIÓ
*
Cuối năm mưa, gió, lạnh ê da,
Trời vẫn âm u, dễ chán a!
Uốn cái lưng còng, lo chống đỡ,
Thẳng đôi chân sậy, gắng xông pha!
*
Mắt mờ, sớm, tối lên thăm mạng (net),
Tai lãng, – con, em…- khó tặng quà!
Ba bữa rau dưa, mong giữ sức,
Một lòng tu tập, khởi từ ta!
*
Vui trong hiện hữu, quên năm tháng,
Tịnh độ không gần, cũng chẳng xa!
Dương Huệ Anh
29/12/12 – #42/12
***
THẾ LÀ LẠI HẾT NĂM
*
Thế là lại hết năm Tây,*
2012- Lạnh.
Gió ngày, mưa đêm…
Chiến tranh, khủng bố, triền miên,
Thày tu ngậm máu, Đức Tin xuống đường!
Phi Châu, dân đói thảm thương,
Vô lương, tài phiệt một phường lưu manh,
Gian thương nào nghĩ nhân tình,
Đầu cơ, lũng đoạn,
Giàu, thành giàu thêm!
Độc tài ngoan cố, giữ quyền,
Tự do, hạnh phúc hão huyền, dân mơ!
Xứ này, Mỹ, thích tự do,
Tha hồ mua súng, tha hồ giết nhau!
Trẻ thơ vô tội, ngờ đâu,
Chết trong lớp học,
thêm sầu Giáng Sinh!
*Dương Huệ Anh
31/12/12 – #44/12
***
PHÁP DIỆT KHỔ
*
Sinh ra ở cõi Ta Bà,
Lo tranh đấu, sống, khổ mà phải vui!
Gian lao từng bước, ngược xuôi,
Bao nhiêu thách đố, mấy người ưa ta!
Hơn thì ghét, kém thì xa,
Chấp thân giả hợp vốn là vô minh!
Tham danh,cầu lợi …coi khinh
Kẻ nghèo hèn,
đảng phe mình… nâng cao …
Chiến tranh giết hại người, sao
không lo
khi bệnh già,
nào ai thương?
…Pháp linh diệt khổ, là đường,
Từ Bi cứu độ, tựa nương Phật Đài…
Sen vàng Ba Cõi đẹp tươi,
Thực hành “lục độ“, một đời trì tu!!
*Dương Huệ Anh
03/02/13 – #10/13
***
LÂU NGÀY, GẶP BẠN
*
Lâu ngày, gặp bạn, mừng a,
Hỏi thăm địa chỉ?
– Hơi xa!
– Ngại gì!
Thôi cho số điện thoại đi,
Khi nào rảnh ghé…
nhâm nhi …chuyện đời…
Tay ghi hàng số, miệng cười,
“Quan Âm Thiền Viện” ít người biết, anh!
Nhớ thêm đạo hiệu Tâm Minh,
Vào Google Search cũng nhanh, mấy hồi!
… Hai lần phone, – chẳng trả lời,
Cuối tuần, xe phóng…tìm hoài, thấy đâu?!
Quan Âm Bồ Tát, khẩn cầu,
Ngất ngư, lội bộ, trước, sau, hỏi đường…
Bỗng…xa thoáng bóng áo vàng,
Ai đưa lối,
Hẳn đạo tràng không xa!
…Cờ bay, vui cõi Ta Bà
Tháng 4, mồng 8, Phật Đà đản sinh…
Dương Huệ Anh
18/5/2013 – #36/13
***
ĐI BỘ
*
Về chiều, thả bộ, khỏe mà vui,
Thêm được nhìn phong cảnh đất trời.
Sẵn dịp, ghé mua hàng hạ giá,
SafeWay, SaveMart…nửa giờ thôi !
*
Nắng vàng, gió mát dịu hồn ta,
Thoáng…đến đầu đường Berryessa…
Chợt nhớ Hà, Hàn, Bùi… mấy bạn
Quế Đào, Liên Bích…ở đâu xa?*
*
Thiên Đường, lạc cảnh mấy tầng cao,
Thanh tịnh, thơm hương suối, động đào…
Ngọc nữ, tiên đồng trì nguyện độ
Muôn loài, ngạ quỉ sớm tiêu dao…
*
Ta Bà tranh chiến, lửa tràn lan,
Đường Lưỡi Bò, Trung quốc nhận càn…
Irak, Afgan…còn tử đạo,
Đối đầu nguyên tử, Bắc, Nam Hàn…
*
Phi Châu nghèo đói cũng can qua,
Do Thái, Iran dữ lắm mà!
Dân Chủ, Độc Tài sao hợp tác?
Cường quyền, – nhược tiểu – dễ gì tha?!
* Hà Thượng Nhân, Hàn Nhân, Bùi Huy Hải, Đào Thanh Quế, Nguyễn Bích Liên đã khuất.
DƯƠNG HUỆ ANH
13/6/2013 – #43/13
***
CUỐI ĐỜI, NHÌN LẠI ?
*
Cuối Đời, nhìn lại?
Buồn, Vui?
Vui hay Buồn, cũng thế thôi,
Phận mình ?!
Tùy Duyên,
một kiếp phù sinh,
Ơn đền, oán trả…lênh đênh, con thuyền…
Gắng thôi, nợ trả…
An nhiên,
Ăn no, ngủ kỹ…là tiên trên đời !?
Luật Trời, thay đổi, đổi rời,
Gieo Nhân, hái Quả,
tùy Thời với Duyên?!
Bồ Đề Tâm mở, ơn Trên,
Độ mình, độ chúng…
Vui thêm,…cõi này !!?
12/02/21 Dương Huệ Anh