KIỀU MỸ DUYÊN – SỰ THÀNH CÔNG CỦA NGƯỜI VIỆT TỊ NẠN




THƠ: Hóa Thân – NGUYỄN VĂN LẬP




Happy Presidents’Day – LÊ VĂN HẢI

Mừng Ngày “Presidents’ Day!”

Hôm nay, Thứ Hai 21/2, Mừng Ngày Tổng Thống Hoa Kỳ (Presidents’ Day)

Dân chúng Hoa Kỳ hôm nay, kỷ niệm ngày Lễ Presidents’ Day. Các cơ quan Chính phủ liên bang, tiểu bang và thành phố, cùng các trường học, ngân hàng, các dịch vụ tiện ích, để mừng ngày lễ này, đều đóng cửa!

Theo lịch sử Hoa Kỳ, vào năm 1968, đạo luật HR 15951 được ban hành tại Thủ đô Washington D.C, đã ảnh hưởng đến nhiều ngày lễ của liên bang. Một trong những ngày lễ này là Sinh nhật của Tổng Thống  Washington, mà việc mừng lễ, đã được chuyển qua ngày thứ Hai của tuần lễ thứ ba/tháng hai mỗi năm.

Đạo luật này được TT Nixon ký và ban hành vào năm 1971, nhằm đơn giản hóa các ngày lễ hàng năm, và tạo dịp cho nhân viên liên bang, được hưởng tiêu chuẩn kéo dài 3 ngày nghỉ cuối tuần. Đặc biệt năm nay, Presidents’ Day rơi vào ngày 21/2/2022.

Trong khi ngày lễ vào tháng Hai, vẫn còn chính thức được coi là Sinh nhật của “Cha Già Đất Nước” Washington. Nhưng dần dần đã được phổ biến trong dân chúng, là Ngày của Tổng Thống (Presidents’ Day). Điều này đã làm cho ngày thứ Hai của tuần lễ thứ ba trong tháng Hai, là một ngày dành để vinh danh không những cho Washington và Lincoln, mà còn vinh danh tất cả những người đã từng làm Tổng thống Hoa Kỳ.

Ý nghĩa này, chính là ý nghĩa đích thực của Ngày Presidents’ Day hiện nay.

Hoa Kỳ là một quốc gia non trẻ, nhưng lại có nền sinh hoạt chính trị, tự do dân chủ nhất thế giới.

Đất nước văn minh, giầu có này, được “Thượng Đế” thương yêu cách riêng! “Good bless America!”

Đất nước đã mở vòng tay đón nhận, ước tính tới thời điểm này, khoảng trên 3 triệu Người Việt Tị Nạn Cộng Sản, đã nhận nơi này là Quê Hương Thứ Hai!

Cảm tạ Thượng Đế, Cảm tạ Nước Mỹ. Đất Nước của trái tim Tình Người!




CHÙM THƠ CAO MỴ NHÂN

3:00 GIỜ SÁNG

*

Ba giờ sáng, nghe đêm buồn thủ thỉ

Như nằn nì em thức dậy làm thơ

Cả đại dương tối tăm, hồn bơ vơ

Giọng thì thào nỗi sầu tư óng chuốt

*

Đợi làm chi, u tình dài lướt thướt

Có hay không, anh vẫn ở trên đời

Đêm hoang liêu gió gọi thiết tha mời

Cô quạnh đến cho em hờn mộng mị

*

Ôi trái đất chưa vỡ đôi thế nhỉ

Dẫu nổ tung lời tuyệt vọng thánh thần

3:00 am sáng sao rụng đợi hoá thân

Em đã thức, suốt cuộc tình thiếu ngủ…

*

    Hawthorne  20 – 2 – 2022

              CAO MỴ NHÂN

KHÔNG CÒN ANH HỨNG CHỊU

*

Lời cãi vã sau cùng

Không còn anh hứng chịu

Em sỉ vả điên cuồng

Khiến anh buồn điêu đứng

*

Anh chưa thật yêu em

Mới lững lờ, ngại ngùng

Đợi thời gian tăng thêm

Tình sẽ đẹp lạ lùng

*

Tại sao không chan hoà

Khi cuộc tình sôi nổi

Anh thương em mù loà

Trong đắm say hẹn cuối

*

Anh thôi … đón mùa xuân

Cho em mừng năm mới

Anh chẳng đợi nghênh tân

Khép mi rồi, anh hỡi …

*

      CAO MỴ NHÂN

LÚC TAN SƯƠNG.   CAO MỴ NHÂN

*

Một thoáng sương bay lạc trước thềm

Giật mình, anh gõ cửa nhà em

Bầy ô hốt hoảng tìm cây đậu

Vạt cỏ mơ màng đợi nắng lên

Bốn  mấy xuân xưa, e đã nản

Trăm năm tình cũ, vẫn chưa yên

Ngày đi, cuộc chiến còn dang dở

Đến hẹn, cơn sầu phá bóng đêm …

           CAO MỴ NHÂN

 NHƯNG.    CAO MỴ NHÂN 

Chữ nhưng đặt giữa chúng mình

Làm cho rối loạn cuộc tình mộng mơ

Để rồi không dám làm thơ

Nhưng em ra ngẩn vào ngơ buồn phiền

Hôm qua vừa tỏ nỗi niềm

Chữ nhưng đã nhắc nhở em xa rời

Cả không gian tím mây trời 

Khói hoàng hôn cũng tím lời thiết tha

Chữ nhưng hiện giữa bao la

Tiếng anh gọi khẽ sơn hà chuyển giông

Ngoài nhà tuyết phủ mùa đông

Bão cuồng băng giá vào trong tâm hồn

Chữ nhưng nào khiến bồn chồn 

Bởi từng hứa vội hay còn hẹn mau

Chữ nhưng để tránh lòng đau

Anh cười: nhưng vẫn có nhau kiếp này …

       CAO MỴ NHÂN 

CHƯA.    CAO MỴ NHÂN 

Thủa đó anh còn trẻ

Em  chưa thể là già

Mới vừa mười mấy tuổi

Bây giờ thì đã …tra

Tối qua em ngủ sớm

Chưa đêm đã mê man

Thấy anh trong tiềm thức

Tuổi thiếu niên vội vàng

Tại sao không yêu nhỉ

Hay là chưa biết yêu

Đúng rồi, anh còn trẻ

Em lại đùa rỡn nhiều

Nửa trăm năm gặp lại 

Ngắm nghía nét già nua

Hỏi anh người…cũ tới 

Có thật tình yêu chưa 

         CAO MỴ NHÂN 




Ngày lễ mẹ | Thơ: Sa Chi Lệ | Nhạc: Duy Tuấn || Ca sĩ: Minh Đạt

https://www.youtube.com/watch?v=lNb0O9VGdLU



KIỀU MỸ DUYÊN: VALENTINE, NGÀY CỦA TÌNH YÊU

VALENTINE, NGÀY CỦA TÌNH YÊU

KIỀU MỸ DUYÊN




VĂN: Một Quảng Đời Đã Qua – Nguyễn Phúc Vĩnh Đương

Một Quảng Đời Đã Qua

Nguyễn Phúc Vĩnh Đương

Sau khi đưa tờ giấy hẹn gặp Counselor cho người thư ký tại Văn phòng, tôi chọn một chỗ ngồi cuối dãy hành lang chờ đợi tên mình được gọi. Mấy hàng ghế đầu là một tốp sinh viên trẻ đang líu lo trò chuyện về việc chọn môn học cho mùa Fall này. Tôi nghĩ đến những môn mà tôi đã ghi danh để theo học không giống ai cả như lớp Máy lạnh xe hơi (Air Conditioning) lớp Chụp hình căn bản (Photo basic) lớp Pháp Văn căn bản (French 180). lớp ESL 1…Sở dĩ tôi chọn những môn học này đều không phải bỏ nhiều thì giờ để làm bài hoặc học bài, vì tôi phải còn đi làm để kiếm tiền nuôi gia đình nữa. Về môn tiếng Pháp thì tôi ghi cho có lớp, chứ trước kia tôi đã học chương trình Pháp và đã đậu bằng Trung học Pháp (Brevet) rồi. Dù cho học hết các lớp của môn này đối với tôi cũng không khó khăn gì. Còn môn Anh Văn thì tôi cũng đã từng đi dạy ở các Trung Tâm ở Sài gòn hơn mười mấy năm sau khi đi tù cải tạo về.

Tôi đang lo không biết ăn nói làm sao với Counselor  đây khi cô ta hỏi “Major” của tôi trong việc chọn lựa môn học cho mùa Fall này. Tôi ghi danh học không phải để tiến thân hoặc lấy cấp bằng mà mục đích duy nhất là lấy tiền trợ cấp (Financial Aid).

Đang suy nghĩ miên man thì bà thư ký gọi tên, và chỉ tôi vào cái phòng trước bàn giấy của bà ta. Tôi gõ cửa bước vào, hơi mát của phòng máy lạnh làm tôi cảm thấy thoải mái dễ chịu. Counselor của tôi, cho đến lúc này, tôi mới biết là người Việt, vì trong giấy hẹn gặp Counselor, tôi chỉ biết rằng hôm nay, giờ này, tôi phải có mặt tại trường để gặp Ms.Vanessa.

Tôi chưa kịp chào cô ta thì cô ta đã làm cho tôi thật ngỡ ngàng khi đứng lên nói :

“ Chào thầy ! Thầy còn nhớ em không?”

Tôi cố hết sức để nhớ lại, nhưng thật sự tôi không còn nhớ nỗi nữa, chỉ thấy quen quen…

Sau những năm tháng trong các trại cải tạo, sau những ngày cơ cực, vật lộn với cuộc sống đã làm cho trí nhớ của tôi cùn đi, không còn được như xưa nữa. Có thể cô ta là một học sinh của tôi trước đây, mà học sinh trước hay sau 1975. Trước 75 trong thời gian dạy tại trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam tại Đà lạt tôi cũng từng dạy nhiều trường tư như Trí Đức, Việt Anh, Văn Học, Quang Trung, còn sau khi đi tù cài tạo về, ngoài những trường công lập ở Sài gòn, tôi còn dạy cho các trung tâm Anh Văn của Hội Trí Thức Yêu Nước, của Trung Tâm Nghiên Cứu Dịch Thuật.

Học trò có thể nhớ thầy, nhưng thầy thì không thể nhớ hết học trò của mình trong suốt mấy chục năm đứng trên bục giảng với phấn trắng bảng đen.

Để đánh tan sư ngạc nhiên và bối rối của tôi, cô ta nói tiếp :

“Em là Vân Huyền học trò thầy ở lớp 12 trường Văn Học ở Đà lạt.”

Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, tôi nghĩ rằng có thể nào cô học trò trước năm 75 đã một lần đi chơi với tổ hợp lâm sản và đã gặp tôi ở Nha Trang ngày nào, nay lại là Counselor của tôi ? Huyền đã khác xưa nhiều lắm, từ phong cách cho đến thể hình và cách ăn mặc, nên tôi không nhận ra, duy chỉ có đôi mắt đen, to và ươn ướt như hồi còn đi học.

-“Chắc thầy ngạc nhiên lắm khi gặp lại em ở đây. Chuyện còn dài em sẽ kể cho thầy nghe sau.”

Huyền nói tiếp :

-“Khi bà thư ký đưa giấy hẹn của thầy, em thấy tên thầy, em nghĩ không biết có phải  là thầy hay không, cái tên hai chữ của thầy làm thế nào em quên được, cho nên em đã đi ra để nhận diện mà thầy không hay biết. Đúng là thầy ! Thầy già đi nhiều, không còn phong độ và đẹp trai như ngày xưa nữa.”

Tôi mỉm cười :

– “Già rồi ! mấy chục năm rồi còn gì !”

Huyền nói :

– “Thôi, bây giờ thầy và em ra ngoài này nói chuyện.”

Huyền dẫn tôi ra khỏi phòng, đến ngay bàn bà thư ký, giới thiệu với bà ta, tôi là thầy cũ của Huyền ở Việt Nam. Bà ta bắt tay chào hỏi tôi một cách thân mật, rồi Huyền và bà ta trao đổi với nhau một vài câu gì đó mà tôi không nghe rõ. Huyền đưa tôi ra một tiệm McDonald’s phía bên kia đường. Vừa đi Huyền vừa hỏi về đời sống của tôi hiện tại :

-“Thầy qua đây đã lâu chưa ? Hiện giờ thầy làm gì ? Em biết thầy đi học chỉ để lấy tiền ‘Financial Aid’ mà thôi. Ai qua đây, mới đầu cũng vậy hết. Thầy dạy Anh Văn mà lại ghi học ESL1”

Tôi tình thiệt nói với Huyền là tôi đang làm Assembler cho một hãng điện tử, cái nghề tay chân, không cần bằng cấp và tay nghề, mà phần đông những người mới qua làm để kiếm tiền trong những ngày đầu định cư tại Mỹ, trong khi chờ kiếm được một công việc khá hơn. Lương tiền không đủ để trả tiền thuê apartment nên tôi phải ghi danh đi học vào những giờ nghỉ hay buổi tối để được tiền Financial Aid.

Vào đến tiệm, Huyền chọn một cái bàn trong góc, mời tôi ngồi rồi đi ngay đến quầy hàng…                                                                  

Những hoài niệm cũ ngày xưa phút chốc trở về…tràn ngập trong trí nhớ của tôi. Ngày đó, thời gian đó là những tháng năm nhàn nhã và đẹp nhất của tôi ở Đà lạt. Ngoài hai giờ dạy môn Luật và Kinh tế cho SVSQ trường VBQGVN mỗi ngày, thời gian còn lại chỉ đi uống cà phê, uống rượu, lang thang khu Hoà Bình. Đêm nào không ứng chiến hay trực  lại đánh bài, xoa mạt chược…có khi thức trắng hai đêm liền. Để bớt rong chơi và kiếm thêm thu nhập một số Sĩ Quan Giáo Sư đã xin phép để được đi dạy thêm ở các trường tư thục. Huyền lúc đó là học sinh của tôi ở lớp 12 trường Văn Học, một trường tư nổi tiếng ở Đà lạt. Tôi còn nhớ rất rõ Huyền ngồi ở bàn cuối lớp. Huyền có đôi mắt đen, to và ươn ướt, lúc nào cũng như muốn khóc, ít nói và trầm buồn… Huyền không đẹp lắm nhưng nhờ có mái tóc dài nên có nét quyến rũ liêu trai.

Hằng ngày tôi đi dạy bằng chiếc xe jeep cũ mà tôi đã mua từ Nha Trang, nhưng đến năm 72 khi Hiệp Định Paris được ký kết, quân Mỹ rút khỏi Việt Nam, vật giá bắt đầu gia tăng, nhất là nhiên liệu. Giá xăng lên vùn vụt, tôi không thể dùng xe đó để làm phương tiện di chuyển nữa. Khi một tổ hợp lâm sản có ý định thuê lại, tôi bằng lòng ngay. Hàng tháng họ trả tiền cho tôi sòng phẳng, ngoài ra họ thường rủ tôi đi ăn nhậu hoặc đi chơi xa trong những ngày cuối tuần hay những ngày nghỉ lễ.

Một buổi sáng Thứ Bảy, từ trường Võ Bị ra, tôi gặp Sơn, tổ trưởng tổ lâm sản, rủ tôi ra Nha Trang tắm biển, chiều Chủ Nhật về. Tôi nhận lời ngay, vì muốn thay đổi không khí và không muốn hai ngày nghỉ lại ngồi xoa mạt chược nữa.

Chiều hôm đó Sơn đến đón tôi tại khách sạn Thủy Tiên 2, cư xá giáo sư độc thân của trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam .

Chúng tôi đến Nha Trang sau 4 giờ lái xe. Sơn đã đặt sẵn phòng cho tôi ở khách sạn Grand Hotel nằm trên đường Trần Quí Cáp. 

Tối hôm đó Sơn đã đẩy Huyền vào phòng tôi. Vừa nhận ra tôi Huyền biến sắc tôi thấy ngay sự bối rối và tình huống khó xử của Huyền, lanh trí tôi trấn an Huyền trước :

-“Em cũng quen anh Sơn à ? Em ra đây lúc nào vậy ?” Huyền như vớ được phao, lí nhí trả lời :

-“Em ra đây với mấy người bạn của anh Sơn vào buổi sáng.”…

Suốt đêm hôm đó Huyền đã thành thật kể cho tôi nghe hết những gì xảy ra cho Huyền trong những năm qua. Huyền cho tôi biết cha của Huyền cũng là một Sĩ Quan, xuất thân từ trường Bộ Binh Thủ Đức và đã hy sinh trong một cuộc giao tranh ác liệt khi Huyền mới 10 tuổi. Từ đó Huyền được bà Nội đem về nuôi dưỡng, để cho mẹ rảnh tay đi buôn bán kiếm sống qua ngày. Bốn năm sau, bà nội mất và mẹ của Huyền cũng tái giá với một thương gia người Hoa giàu có, Huyền lại về sống với mẹ. Người dượng ghẻ là một tay thu mua gạo ở các tỉnh miền Tây, ông ta xin cho mẹ Huyền một môn bài bán gạo ở chợ Bình Tây trong Chợ Lớn. Ông ta thường đi đây, đi đó, ít khi về nhà.

Huyền kể: “Năm em 16 tuổi, một hôm mẹ phải đi nhận gạo ở tỉnh,  ông ta bất ngờ trở về nhà lúc nửa đêm và đã dùng vũ lực để cưỡng bức  em…Ấn tượng đó trong đời em không bao giờ có thể quên được. Em đã nói hết cho mẹ em nghe, mẹ em sợ tai tiếng nên không làm lớn chuyện, cắn răng chịu đựng, âm thầm đau khổ. Đến bây giờ em mới thấm thía khi nghe những lời người ta thường ru con ngủ:

Trời mưa bong bóng phập phồng

Mẹ đi lấy chồng con ở với ai

Con đói thì con ăn khoai

  Đừng ở với dượng điếc tai láng giềng…

Sau đó mẹ em gửi em lên Đà lạt ở với người dì, không chồng con, bán rau quả ở chợ để tiếp tục đi học lớp 10. Hàng tháng mẹ gửi tiền ăn học cho em. Nhưng một năm sau đó, trong một cuộc gây lộn kịch liệt với ông dượng quý hóa kia, và cũng vì bệnh cao áp huyết, thêm buồn phiền về chuyện của em, mẹ em đã bị tai biến mạch máu não rồi mất sau hai ngày hôn mê ở bệnh viện.

Mẹ em mất không để lại gì, từ đó Dì em chỉ lo đủ cho em cơm ngày hai bữa, tiền học thì tháng có tháng không, nhiều lúc em phải tự xoay xở lấy. Lúc đó em đang theo học lớp 11, em tự nhủ là phải lấy cho bằng được bằng Tú Tài để đi tìm việc nuôi thân. Em tỏ ra bất cần đời, buông xuôi mọi thứ. Thỉnh thoảng em đi chơi xa với nhóm anh Sơn mà thôi…”

Tôi cũng kể cho Huyền nghe về cuộc đời cơ cực, trôi nổi và tự lập của tôi từ nhỏ để an ủi và thông cảm với Huyền. Tôi khuyên Huyền cố học để thi cho đậu, nếu gặp khó khăn trong vấn đề học hành hay tài chánh thì cho tôi biết, tôi sẽ giúp Huyền trong khả năng của tôi.

                                            *****

Tuần lễ kế tiếp, vào lớp dạy, tôi không thấy Huyền đi học. Tôi muốn hỏi hai nữ sinh ngồi cạnh Huyền, nhưng ái ngại. Sau khi viết đề bài lên bảng cho học sinh làm, tôi mở sổ điểm danh và sổ điểm để xem Huyền không đi học giờ của tôi hay tất cả các môn khác nữa. Huyền đã nghỉ học 2 ngày rồi.

Chiều hôm đó, trong lúc lang thang trên khu phố Hòa Bình, tôi thấy Huyền từ dưới chợ đi lên. Gặp tôi quá bất ngờ Huyền không thể tránh được, miễn cưỡng gật đầu chào. Tôi nhìn thẳng mặt Huyền và hỏi ngay:

 -“Tại sao em nghỉ học ? chỉ còn 2 tháng nữa thôi em sẽ phải thi rồi, không thể bỏ ngang xương như vậy được. Trong mọi hoàn cảnh chứng tỏ khả năng. Hãy quên đi mọi chuyện, để nghĩ đến tương lai. Lời khuyên cuối cùng của tôi đó.”

Huyền không dám nhìn thẳng mặt tôi, cúi đầu nói :

-“Mấy hôm nay dì của em bệnh, em phải ở nhà để giúp cho dì, ngày mai em sẽ đi học lại. Cám ơn thầy đã khuyên bảo em.” rồi xin phép đi.

Tôi biết Huyền nói dối vì chiều hôm qua tôi và một người bạn ghé sạp của dì Huyền mua một bắp sú để về xào trứng cho buổi ăn tối. Nhưng thôi, tôi biết Huyền đang bị khủng hoảng tinh thần, và mặc cảm vì người biết rõ chuyện thầm kín của Huyền chính là tôi. Hôm sau Huyền đi học lại, vào lớp Huyền cũng như tôi không còn được tự nhiên như trước. Tôi tránh  nhìn Huyền và Huyền cũng vậy.

                                            *****

 Hai tuần sau kỳ thi Tú Tài, Huyền đã đến tìm tôi tại cư xá Thủy Tiên 2, báo cho tôi biết Huyền thi đậu và mời tôi đi ăn cơm tối. Thực sự tôi đã biết trước khi thầy Hiệu Trưởng lấy danh sách học sinh của trường thi đậu đem về, Huyền là một trong 3 học sinh của trường đậu hạng Bình thứ. Trường Văn Học có tỷ lệ đậu khá cao trong niên học này. Thầy Hiệu Trưởng có vẻ hài lòng, tỏ ra vui vẻ với giáo sư hơn các ngày thường.

Huyền và tôi đi bộ xuống Chic Shangai, một tiệm ăn khá thanh lịch, ngay dưới dốc cư xá, cạnh khu phố Hòa Bình. Trong bữa ăn, Huyền cho tôi biết ý định muốn về Sài gòn tìm việc làm, và nếu có phương tiện, thì sẽ học thêm Anh ngữ. Huyền còn nói nhiều về “Thủy Tiên 2” cư xá của những Sĩ Quan Giáo Sư Văn Hóa Vụ, đối diện Ký Túc Xá của nữ sinh viên Viện Đại Học Đà lạt. Tôi thật không ngờ Huyền biết tên của nhiều người bạn của tôi ở cùng khách sạn và cả tên ông bạn già của tôi nữa. Thường đã cùng tôi đi mua Lan mỗi buổi sáng do người thượng đem ra bán ở khu Hòa Bình). Không những Huyền biết tên mà còn biết cả biệt danh (nickname) của từng người nữa.

 Huyền nói :

 -“Em biết các bạn thường gọi thầy là ‘Râu hay Nhím’ có đúng không vậy? ” Tôi mỉm cười hỏi lại :

– “Sao em biết ?” Huyền không trả lời câu hỏi của tôi mà nói tiếp :

-“Em có con bạn nó mết thầy lắm, nó khen thầy đẹp trai. Nó thích nhất là khi thầy mặc bộ Jaspé, bộ quân phục dạo phố mùa Đông mà vào lớp dạy, những lúc đó trông thầy giống Robert Taylor trong phim La valse dans l’ombre (Điệu Vũ Trong Bóng Mờ). Hôm ấy trông Huyền vui vẻ và nói hơi nhiều…

Sau bữa cơm, trước khi từ giã Huyền, với những kinh nghiệm của riêng trong cuộc sống, tôi chân thành khuyên Huyền cố gắng quên đi những buồn phiền, những gì không tốt đẹp trong một quảng đời đã qua, để vươn lên. Tôi nói :

-“Không ai thương mình bằng chính mình. Trong mọi hoàn cảnh chứng tỏ khả năng. Cuộc đời là một chuỗi ngày tháng tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân mình, trên con đường dài ấy có mấy ai chưa từng vấp ngã. Giá trị của con người không nằm trên sự vinh hiển thuận buồm xuôi gió, mà ở chỗ có vượt qua được những tai ương bất hạnh hay không. Nếu em muốn thành công , em sẽ thành công.” Huyền có vẻ bùi ngùi, trước khi về Huyền nắm chặt tay tôi. Rồi từ  đó tôi không gặp lại Huyền nữa.

Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt, quân Bắc Việt đã chiếm hầu hết các tỉnh miền Trung, và khi nghe Đà Nẵng thất thủ, tôi và nhiều SVSQ đã khóc. Vận nước nổi trôi, cái ngày đau thương nhất của Miền Nam Việt Nam đã đến -ngày 30 tháng 4 năm 1975- Tôi cùng với hàng trăm ngàn Quân, Cán, Chính khác đã khăn gói vào trại tập trung.

Sau hơn 3 năm trong các trại cải tạo Trảng Lớn, Đồng Bang, Kà Tum, Bùi Gia Mập, Phước Long, tôi đã được thả. Về địa phương trình diện, chính quyền không cho tôi tạm trú mà chỉ định cho tôi vào một nông trường tận mãi Cà Mau. Hằng ngày phải ngâm mình trong các mương rạch để đốn cây đước đem về cất nhà cho cán bộ. Tôi quyết định trốn về Sài gòn, trong thâm tâm tôi nghĩ rằng nếu có bị bắt lại, đưa vào trại cải tạo một lần nữa vẫn còn dễ thở hơn ở đây.

Về Sài gòn tôi không dám về nhà vì sợ liên lụy đến gia đình bên vợ, tôi lang thang đi xin việc làm tại một tổ hợp đóng thùng gỗ của một tư nhân trong Chợ Lớn cùng với một người bạn dạy Võ Bị vừa mới ra trại, và anh đã chết một năm sau đó. Ban đêm, với một tấm vải nhựa, có khi tôi ngủ tại nhà ga xe lửa ở đường Phạm Ngũ Lão (khi nhà ga chưa dời qua Bình Triệu), khi thì ngủ dưới mái hiên của những tiệm buôn dọc theo đường Lê Lợi, khi thì về tá túc nhà bạn thân (Khoa Nhân Văn) ở Phú Nhuận. Thỉnh thoảng tôi đến đưa mấy đứa con của một người bạn cùng Khoa Luật và Lãnh Đạo (đã chết vì đói trong trại cải tạo ở miền Bắc) đi sở thú. Tôi đã sống như vậy trong hơn hai năm trời…

Cho mãi đến khi Thành Ủy ra quyết định những người có văn bằng Đại Học được ở lại thành phố, tôi ra trình diện và được chấp thuận cho tạm trú, sau hơn một giờ xét hỏi văn bằng, giấy tờ, hạch hỏi và đe dọa. Mấy ngày sau tôi ghi danh vào Hội “Trí Thức Yêu Nước” mà chúng tôi thường đùa khi thêm một chữ Ngoài sau chữ Nước, vì chính giáo sư Hội Trưởng Lê Văn Thới cũng đã vượt biên mà không lọt.

Tôi được cho theo học một lớp “Bồi Dưỡng Trí Thức” để được đi dạy lại.

Trong thời gian này tôi vừa đi học vừa đi bán rượu lậu để sinh sống. Ngày nào cũng vậy, tôi đi học với hai thùng rượu nếp than 40 lít sau xe đạp, học xong là “tranh thủ” đi bỏ mối ngay. Để được ra cổng bất cứ lúc nào tôi cũng phải “hối lộ” cho bảo vệ mỗi tuần một lít.

Chỉ còn 2 tháng nữa thì mãn khóa học, một người bạn của tôi cũng là giáo sư Văn Hóa Vụ vừa được ra trại đến thăm và rủ tôi vượt biên bằng đường bộ khi nghe người bạn cùng khoá  với tôi là anh TĐH làm trưởng khoa Thể Chất của trường đi trót lọt. Không may tôi bị bắt và bị giam tại Campuchia. Hai tháng sau được đưa về khám Chí Hòa, tôi đã nghĩ tình trạng xấu nhất sẽ đến với tôi nên yên chí với số phận hẩm hiu của mình.

Trong khi đó, ở lớp học bồi dưỡng, một người bạn thân cùng học không những điểm danh‘có mặt’cho tôi hàng ngày,mà còn làm bài thi cuối khóa cho tôi nữa! (Tôi thành thật biết ơn bạn Trần Đình Ph, một Sĩ Quan Không Quân hiện cư ngụ tại San José, vì tình bạn đã làm công việc táo bạo này. (A friend in need is a friend indeed)

Tôi được bố trí dạy Anh Văn cho một trường Trung Học tại Quận 1, trong khi tôi còn đang nằm trong tù. May mắn thay, sáu tháng sau tôi được thả ra, có lẽ nhờ khai man lý lịch…

Cầm quyết định bổ nhiệm của Sở Giáo Dục, tôi đến trình diện trường để nhận nhiệm sở. Nhờ có 3 tháng nghỉ Hè nên tôi chỉ trễ một tháng. Tôi lấy lý do bị bệnh thương hàn phải nằm bệnh viện, để chứng minh tôi lấy mũ ra cho ông Hiệu Trưởng thấy cái đầu vừa mới mọc tóc của tôi (thật sự tôi đã bị cạo trọc khi ngồi tù)

Trong thời gian dạy ở trường công, lương giáo viên không đủ sống, tôi đầu quân vào Trung Tâm Nghiên Cứu Dịch Thuật và Hội Trí Thức Yêu Nước để dạy các lớp luyện dịch ở Hội, trường Cao Đẳng Sư Phạm. Nói về khả năng Anh ngữ, tôi không thể so sánh được với các anh trong Khoa Anh Văn của TVBQGVN như anh NVS, TVT, và các giáo sư khác, nhưng các lớp luyện dịch của tôi học viên rất đông. Sở dĩ được như vậy vì học viên của tôi đậu khá nhiều trong các kỳ thi tuyển vào Đại Học, nhờ tôi đã dùng giáo trình của Bộ Giáo Dục Xã Hội Chủ Nghĩa.

Tôi đã giúp học viên dịch thật nhiều đề tài thời sự nóng bỏng, liên quan đến chính trị, kinh tế, các bài diễn văn, lời phát biểu của các Tổng Bí Thư. của ‘Bác Hồ’ đúng vào trọng điểm lúc bấy giờ, với lối dịch và dùng từ khá đặc biệt của nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa. Như muốn dịch “Đảng Cộng Sản Việt Nam” thay vì “The Vietnamese Communist Party” thì phải dịch “The Communist Party of Viet Nam”. Theo họ nước ta là một nước lớn, không được dùng tên nước làm tỉnh tự (adjective). Như câu “Việt Nam là một nước nhỏ nằm bên bờ Thái Bình Dương” thì chữ NHỎ phải dịch “đất không rộng, người không đông” chứ không được dùng chữ NHỎ.

Một hôm, trong lớp luyện dịch 6 của tôi, khi học về “possessive case” dùng với “reciprocal pronouns” tôi đã viết một câu : “Những hoàn cảnh khắc nghiệt đã xô đẩy tôi vào tay người này đến tay người khác” lên bảng cho cả lớp dịch. Khi học viên đang chăm chú dịch, nhìn xuống lớp, tôi bắt gặp một đôi mắt nhìn tôi có vẻ trách móc, tôi nhận ra ngay chính là Huyền. Tôi đâu có ngờ gặp lại Huyền trong lớp của tôi 10 năm sau. Câu tôi cho học viên dịch không nhằm ám chỉ ai cả, và nếu biết có Huyền trong lớp thì tôi không bao giờ cho dịch một câu như vậy. Giờ giải lao, Huyền đến chào tôi nói chuyện, tôi xin lỗi Huyền vô tình đã khơi lại một quảng đời đã qua. Huyền cho tôi biết đã lấy chồng và đang làm việc cho một xí nghiệp nhà nước.

Chồng của Huyền là con của một thương gia giàu có trước kia. Gia đình chồng phần đông đều ở Mỹ. Vợ chồng Huyền đang chờ đi theo diện bảo lãnh, trong thời gian chờ đợi cả hai vợ chồng đi học thêm Anh Văn. Huyền đang theo học một lớp đàm thoại và một lớp luyện dịch tại đây. Đó là lần thứ hai tôi gặp lại Huyền và mãi cho đến ngày tôi được qua Mỹ theo diện HO gặp lại Huyền trong một bối cảnh khác. Huyền nay là Counselor của tôi…Ngày xưa Huyền được đẩy vào phòng tôi tại khách sạn, hôm nay tôi lại phải trình diện Huyền tại một văn phòng cố vấn của một trường Đại Học Mỹ. Tôi nhớ đến mấy câu trong bài thơ “Nghe Em Vào Đại Học”của Giang Nam :

Ngày xưa anh dạy em học chữ

Bây giờ anh về, em lại dạy chữ cho anh

Không phải bằng than đen vẽ gạch thềm đình

Không phải phập phồng giữa vòng đai giặc                                          

Trở lại bàn với hai khay thức ăn, Huyền nói :

-“Em order trứng và chả lụa cho thầy, nhưng tiệm Mỹ không có chả nên thế bằng bacon, thầy dùng tạm vậy. Em biết thầy hay ăn món này vì hồi ở Đà lạt, em biết đêm nào đánh bài ăn là sáng hôm sau thầy và các bạn thường ra quán chị Sáu, ở dưới bến xe uống cà phê và ăn món này.”

Tôi không hiểu sao mà Huyền biết được những chuyện như vậy. Trong buổi ăn sáng, Huyền nhắc lại những kỷ niệm ngày xưa ở Đà lạt, thành phố đối với Huyền có rất nhiều sầu, nhiều luyến thương, thành phố với buổi sáng, buổi chiều mây bay sương phủ. Huyền cho biết một tháng sau khi gặp lại tôi trong lớp luyện dịch, hai vợ chồng Huyền đã nhận được giấy đi Mỹ. Vì gia đình chồng tương đối khá nên cả hai đã được đi học lại. Huyền đã lấy văn bằng Master về Counseling, còn chồng là một kỹ sư điện tử, đang làm cho một hãng computer. Vợ chồng đã có hai con, một trai một gái.

Huyền nói :

-“Em luôn nhớ lời khuyên và sự khích lệ của thầy để thực hiện những gì em muốn. Sự quả cảm đã giúp em ngẩng đầu cao để đối diện khó khăn và bất hạnh.”

Huyền rút trong ví ra một danh thiếp đưa cho tôi và nói tiếp :

-“Đây là địa chỉ của em, khi nào rảnh mời thầy đến nhà cho biết, thầy cho em số phone của thầy luôn. Em sẽ tìm cho thầy một việc thích hợp với khả năng của thầy hơn”

Ăn xong Huyền đưa tôi đến bãi đậu xe của nhà trường, trước khi tôi vào xe, Huyền còn nhắc lại lời bài hát “Tạ Ơn Đời” của Phạm Duy : “…biết bao nhiêu lần gian dối, biết bao eo sèo nhân thế, đời vẫn ban cho ngọt bùi, thầy ạ !”

Tôi phụ theo :

-“Em nói đúng, nhưng điều đáng khâm phục nhất của đời người là biết vươn lên sau khi ngã”

Huyền mỉm cười, nhìn tôi, cảm thông và đồng tình với ý tưởng tôi vừa nói.

Một tuần sau Huyền gọi điện thoại hẹn tôi đến trường để đi xin việc với Huyền. Huyền đã xin được cho tôi làm “Teacher Aid” tại một trường Juvenile High School, trường quản chế những thanh thiếu niên phạm pháp (từ 12 đến 18 tuổi) của Tòa Án trên đường Yale ở thành phố Santa Ana.

Tôi đến để bà Hiệu Trưởng interview, lương $10.75 một giờ (gấp 2 lần lương của tôi lúc bấy giờ) và đầy đủ benefit. Sau hơn 30 phút khảo sát, bà Hiệu Trưởng nhận tôi ngay, nhất là khi bà ta biết tôi trước đây đã dạy lính ( SVSQ/TVBQGVN)  Tôi cám ơn Huyền về sự quan tâm tìm việc cho tôi.

Ngay tuần sau đó tôi nhận lớp, thành thật mà nói tôi đã dạy một trường có kỷ cương như trường VBQGVN nay phải đứng trước một lũ học trò “đầu trộm, đuôi cướp” thì tôi không chịu nổi, nên sau khi lãnh cái paycheck đầu tiên cũng là lúc tôi đưa đơn xin nghỉ việc.

Một quảng đời đã đi qua, thành công hay thất bại đều do chính mình. Huyền cũng như tôi đều lấy câu của Dale Carnegie làm châm ngôn cho cuộc sống “Believe that you will succeed and you will”.

Nguyễn Phúc Vĩnh Đương (K.17)                            

(Cali mùa của Trời gửi tình cho Đất)




CA KHÚC ÁO TRẮNG SÀI GÒN – THƠ Nhật Thụy Vi – NHẠC Lê Ngọc Châu




SEN NGƯỜI SEN TA – GS TS MAI THANH TRUYẾT




CAO MỴ NHÂN – ĐOẠN ĐƯỜNG MÒN

ĐOẠN ĐƯỜNG MÒN.    CAO MỴ NHÂN     

Cuộc sống phải thế nào mới có ý nghĩa ? Buổi đó tôi đi bộ một mình trên bờ sông Rạch Bắp, đoạn đường ngắn độ 1 Km thôi …chạy ngang yếu khu tam giác sắt , mà quý quan với quân lên đường, đều đã tới tham chiến, hành quân , hay nghe đồn thủa binh đao trước 30 – 4 – 1975. 

Tôi phải dừng lại ở chỗ đợi đò, mà quen miệng dân quanh đó gọi là ” Bến đò “, để chờ đò ngang chở qua bên kia sông, vô địa phận Quận Củ Chi. 

Cái đoạn đường 1 Km  đó, trong 2 năm trời tôi thường tới lui thật vắng vẻ, nếu nói đúng ra là hoang vu dễ sợ . 

Một bên là sông có viền cỏ dại, cao tới gần đầu người , một bên là cây rừng nhiệt đới, tức cây cối tự mọc lên vô tổ chức, chằng chịt vào nhau.

Lối mòn từ khá lâu năm, mới biến thành lối đi trơn bóng đất đỏ mầu hổ phách, không một sợi cỏ chằng qua …

Đó là đường trong,sát bờ sông …

Còn đường ngoài chạy song song với nó, đường trong, mặt trải nhựa cũng từ lâu rồi, nên lỗ chỗ ổ gà . Đường ngoài này có xe hơi cọc cạch, chỉ bộ máy bằng sắt thép, còn toàn bộ thùng xe bằng gỗ .  

Xe chạy từ Bình Dương lên Rạch Bắp, một chuyến duy nhất trong ngày, nên ai có việc, hay không việc, hoặc rảnh việc, đều có thể chọn con đường nhỏ này tới bến qua sông …

Đoạn đường 1 cây số ấy, không gây cho bất cứ ai sự lo lắng, nỗi phiền buồn gì …

Ngoài những con cuốn chiếu rừng, mầu đen nhẫy , có độ dài khoảng 20 phân tây, chúng đủng đỉnh bò từ bìa rừng bên này…băng qua  lối mòn, tới mép sông bên kia …thì không còn sinh vật nào khác nữa …

Thoạt đầu tôi sợ rắn rít lắm, kế tới sợ người ta, biết đâu mà lần, bất trắc là lẽ dĩ nhiên …

Nhưng sau chả thấy gì, chỉ có cái bóng mình in trên lối mòn đó, bâng khuâng, bơ vơ chi lạ …

Một cây  bằng lăng trổ hoa mầu tím, sao tôi thấy lúc nào cũng như có hoa trên vòm lá thấp đó .

Đứng bên thân cây bằng lăng nhiều lần để đợi đò, tôi vẫn chưa trả lời được thế nào cuộc đời mới có ý nghĩa cho riêng mỗi con người . 

Cũng chẳng tự hỏi mình là: Sẽ ở nơi buồn bã đó tới bao lâu mới rời hẳn đi …

Đoạn đường 1 Km ngây ngô, vô tư hay đã thực sự vô cảm với người đời …Nó, đoạn đường đau khổ, tuyệt vọng vì ai, vì đâu . 

Nó thực sự vô tư, vô cảm trước hành trình tôi sắp bỏ về xa …tôi phải về sống dưới mái nhà ấm áp của tôi, chứ sao lại ở mãi trong ngôi nhà trên lưng chừng đồi với 7 người của 7 gia đình khác nhau, họ có là 7 chú lùn đâu mà tôi trở thành cô Bạch Tuyết .

Buổi đó là ngày cuối cùng tôi thấp thoáng trên đoạn đường 1Km, lối mòn kỷ niệm rồi …

Đứng ở Bến đò một lúc, ngó lại vạt đồi chênh vênh như cuộc đời của mình …mấy mái tranh buồn nhớ …người, đúng là một phần tâm trạng bài ” Quê Nghèo ” của Phạm Duy 

Tôi đã thực sự sống như vậy 2 năm ở nông trường Tây Nam, Rạch Bắp, để trồng cây xuất khẩu ”  Hạt Điều ” do chỉ định hậu cải tạo, không phải là nằm mơ…

Nếu có nằm mơ cũng chỉ là giấc mơ bình thường của những người nghèo khổ, bất lực, bế tắc bởi nỗi khó khăn của xã hội gọi là ” Xã hội Chủ nghĩa.” 

Chiếc đò nhỏ tức xuồng ba lá cập Bến, bà lái đò cất giọng nói lớn vì nghĩ chỗ trống vắng loãng khí  trời, tôi không nghe được chăng …

Tôi lầm lũi xuống chỗ đất lài, rồi lên đò …

Lại cũng chỉ có mình tôi qua đò …như trước đó mình tôi đi bộ trên lối mòn đoạn đường 1 Km . 

Bà lái đò hỏi thăm: ”  sao hôm nay cô đi một chắc dzậy , mấy người kia đâu rồi  ? ” .

Tôi ngó mặt sông, nước đang dâng đầy, sóng gợn thầm thì như tiếng thở dài xót xa…

…Ồ , mấy người kia mắc công việc nông trường, tôi về thành phố để mua thức ăn cho họ. 

Bà đò hỏi tiếp : chiều hay mai lên ? 

Tôi định trả lời không bao giờ lên nữa, nhưng sợ bà đò hỏi tiếp, tôi nói : ” chưa biết ” . 

Quả là tôi không lên Rạch Bắp nữa, cho tới bây giờ lại càng xem như chuyện dở hơi nếu tôi trở lại đoạn đường mòn 1 Km ấy . 

Có lẽ ở trên đời , còn rất nhiều đoạn đường mòn, ngắn hay dài tuỳ theo nơi cư trú của mình, nhớ hay quên tuỳ theo nỗi buồn vui của mình…

Kể cả những con người dẫu có ở cạnh nhau, hay suốt kiếp chưa hề biết mặt nhau …vẫn phải chấp nhận sự chia tay vĩnh  viễn …vì thời gian tưởng là dài thê thiết , có đâu ngờ chớp mắt đã trăm năm …

Qua sông rồi, là mênh mông bãi hố bom xếp lên nhau chồng chất, năm đó 1980, năm năm chưa đủ san bằng một nghịch cảnh bi thương của lịch sử …

Đi qua cánh đồng hố bom này, còn đầy bất trắc, nguy hiểm hơn đoạn đường mòn 1 Km trên bờ sông vừa mới đi qua …

Bởi vì, bom rơi, đạn bắn … từ hồi đó, lúc chiến tranh, chưa kịp nổ, hoặc giả nó không nổ nổi tại sao đó, ai đâu mà hỏi, ngoại trừ quý ông làm ra nó, xử dụng nó, bom đạn không đủ độ sát thế nhân chẳng hạn . 

Bao nhiêu mộng mơ biến sạch, chỉ còn sự chết nếu sơ ý, hay tới hồi sui tận mạng, một ngòi nổ nào tự tháo gỡ , nổ tung lên …thế là xong, là hết …

Tôi không dám để cho tim thổn thức vì ai , vì đâu, những cánh chim bay soải cánh  mịt mù sông nước …

Mà , mắt phải dán chặt vào con đường gập ghềnh trước mặt để kịp thời tránh né hiểm nguy…dù vẫn biết chiến tranh là vậy, tất cả đều bình thường, chỉ có một điều bất thường, không thường …đó là sự xếp đặt của Thượng Đế mà loài người phải biết …để cầu nguyện thôi…

       CAO MỴ NHÂN 




(thơ Thanh-Thanh) CHIỀU

Thanh-Thanh.com




**Cập Nhật Lần 8: TRANG TƯỞNG NIỆM & THÀNH KÍNH PHÂN ƯU: Văn Thi Sĩ DƯƠNG HUỆ ANH, Cố Vấn Của VTLV & Thành Viên Văn Bút VNHN & Văn Bút Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, Vừa Tạ Thế.

Tôi xin mạn phép thay mặt Ban Truyền Thông Văn Thơ Lạc Việt. Thực hiện Cáo Phó Văn Thi Sĩ Dương Huệ Anh. Để kính thông báo cùng quý vị.

Một chút lòng thành kính dâng lên tiền bối Văn Thi Sĩ Dương Huệ Anh. Cúi xin Trời Phật đón nhận hương linh cụ ông Dương Huê Anh Sớm yên nghỉ trên cõi Niết Bàn.

Thành Kính Phân Ưu

Lê Tuấn

Lời Mời tham dự:

Chiều Tụng Kinh Cầu Siêu Cho Thi Sĩ Tiền Bối Dương Huệ Anh, Sáng Lập Và Cố Vấn Văn Thơ Lạc Việt.

Tại Chùa An Lạc, Lúc 6 Giờ 30 Chiều, Thứ Sáu Tuần Này! Ngày 25 Tháng 2 Năm 2022.

Thưa Quý Niên Trưởng và Quý Anh Chị Em,

Ngày 17 tháng 2/2022 vừa qua, VTLV của chúng ta mất đi một người “Anh Cả” thương yêu, dễ mến, cũng là Vị Sáng Lập và Cố Vấn của Hội.

Đó là Văn Thi Sĩ Dương Huệ Anh. Tên thật là Phạm Ngọc Tường. Mất tại san Jose. Hưởng đại thọ 97 tuổi.

 “Nghĩa tử là nghĩa tận” Trong niềm tri ân tưởng nhớ. Hải đã mạo muội thay mặt VTLV, đứng ra xin Sư Bà một Buổi Tụng Kinh Cầu Siêu, cho Hương Linh Thi Sĩ Quá Cố đầy tình thương, tình mến của chúng ta, chóng được siêu thoát.

Lúc 6 giờ 30 chiều, Thứ Sáu tuần này, ngày 25 tháng 2 năm 2022. Tại Chùa An Lạc. Số 1647 E. San Fernando St, San Jose Ca 95116.

Mong  Quý Niên Trưởng, Quý Anh Chị Em, bớt chút thời giờ, tham dự đông đủ, buổi Cầu Kinh đặc biệt này. Cùng nhau Hợp lực, thắp nén nhang tưởng nhớ, tụng chung câu kinh, hy vọng Hương Linh người Anh Cả của chúng ta, cũng ấm lòng, thanh thản về Cõi Cực Lạc.

Xong buổi cầu kinh, nhà Chùa có thiết đãi ly trà nóng và tô bún chay.

Rất Hân Hạnh và Trân Trọng Kính Mời.

Lê Văn Hải

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Tin buồn đưa đến quả lòng đau

LẠC VIỆT VĂN THƠ quá nghẹn ngào

CỐ VẤN thi đàn đi chẳng giã

HUỆ ANH thi sĩ biệt không chào

Bao năm tại thế ôi thương quý!

Chớp mắt về Trời thật tiếc sao!

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU CÙNG QUYẾN THUỘC

Chúc người cõi Phật bước nhanh vào

Thay mặt

Ban Biên Tập Văn Thơ Lạc Việt

Phương Hoa – FEB 19th 2022

**

TÂM THI

 (Họa 4 vận cùng Phương Hoa)

Tiền bối ly từ,… dạ nhói đau!

Tinh hoa văn nghiệp quyện hương ngào!

Khôn cầm  tương ngộ đôi lời giã

Chẳng kịp tri ân một tiếng chào!

Thư nhã ngao du hòa cảnh sắc

Thanh nhàn phiêu ngoạn giỡn trăng sao!

Rượu bầu,thơ túi tràn phong lãng…

Nhân nghĩa lưu thơm mãi nhiệm mầu.

                                  21-2-2022    Nguyễn Huy Khôi

**

KÍNH  TIỄN  BIỆT


Nhói đau tin đến thật thình lình

Bác Huệ Anh về chốn lặng thinh

Cách biệt từ nay thôi chẳng gặp

Chia ly xa hẳn hết tâm tình

Cuộc đời là thế đành như thế

Phân ngả đôi bờ chuyện tử sinh

Lạc Việt Thơ Văn đồng tiễn biệt

Tiếc thương Tiền Bối kính nghiêng mình                                       

 Hoàng Mai Nhất (Seattle, WA, 20/2/2022)

CHIA BUỒN TỪ VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI VÙNG ĐÔNG BẮC HOA KỲ & VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI:

Hồng Thủy (Chủ Tịch VBVNHN VĐBHK) xin thông báo một tin rất đau buồn cho tất cả chúng ta và VBVNHNVĐBHK nói riêng, VBVNHN nói chung:

Anh BA DƯƠNG HUỆ ANH của chúng ta đã bỏ chúng ta đi rồi (HT được Nhà Văn CHINH NGUYÊN của VTLV thông báo). Chưa biết nguyên nhân anh ra đi nhanh chóng, đột ngột như vậy. HT SẼ XIN THÔNG BÁO KHI ĐƯỢC BIẾT THÊM CHI TIẾT. Chúng ta đã mất một người anh đáng kính, hiền hòa. VBVĐBHK và VBHN đã mất một Thi Sĩ kỳ cưu tài đức song toàn. Xin tất cả các anh chị cùng cầu nguyện cho ông anh đáng kính, đáng quí của chúng ta được siêu thoát về miền vĩnh cửu.

Thân mến

Hồng Thủy

*****

VĂN THI SĨ LÊ TUẤN (VTLV &VBVNHN VĐBHK):

Nhận được tin Văn Thi Sĩ tiền bồi Dương Huệ Anh đã xa rời chúng ta, ông lặng lẽ ra đi vào ngày 17 tháng 2 năm 2022. Khi câu thơ của ông còn văng vẳng đề lại, như một lời tiên tri về sự ra đi của chính mình.
“Thoáng rồi…đã cuối tháng Hai.
Nắng, mưa cũng hết, buồn vui… có còn?”
Dương Huệ Anh.

Tôi nhớ lại mới đây VTLV tổ chức mừng sinh nhật Thi Sĩ Dương Huệ Anh còn viết bài thơ chúc mừng
…Tháng ngày như ngựa chạy, tên bay,
Chín chục hơn, bừng tỉnh giấc say…
Bè bạn vắng dần, tình vẫn nặng,
Cháu con đầy đó, số còn may?
Già rồi yếu, thịt kiêng. mong đậu,
Vui lại buồn, đàn họa thiếu gì dây…
Sinh nhật, chúc nhau thêm tuổi thọ
Hòa Bình thế giới, nối vòng tay…
“Thương yêu, Tha thứ”, theo lời Chúa,
Hỉ, Xả, Từ, Bi…nhớ đức Thầy…
Tinh Độ: Ta Bà trong hiện hữu,
Nỗi đau đòi, nhẹ bớt, mong thay!!!
Dương Huệ Anh

Đó chỉ là những vần thơ trao đổi gần đây nhất mà ông đã post trên email, đủ thấy được tấm lòng của thi nhân đối với anh chị em trong nhóm VTLV. 
Tôi đã viết tặng ông 4 câu thơ.
Dương Huệ Anh
Ông già chín chục tuổi xuân
Vẫn còn nặng nợ nhân quần làm thơ
Cõi lòng trải rộng đôi bờ
Văn Thơ Lạc Việt, dựng cờ vinh quy
Lê Tuấn
Kính tặng. Tiền bối nhà thơ Dương Huê Anh

Vậy mà ông đã lặng lẽ cưỡi hạc bay theo mây trắng về trời, bỏ lại trần gian những tác phẩm văn chương, những vần thơ hay, bỏ lại niềm thương nhớ, tiếc thương một nhân tài.
Nhà tôi ở gần nhà ông, có lần tôi ghé thăm, tặng ông vài quyển sách, ông có nhờ tôi xem giúp computer của ông bị trở ngại, thú thật là cái computer của ông quá cũ và rất chậm, nếu đụng vào thì sẽ thay đổi hết trật tự vốn có trong máy mà ông đã quen sử dụng, thôi thì tôi đành bó tay. Tôi rất kính phục ông, mặc dù tuổi đời đã cao nhưng lúc nào ông cũng muốn học hỏi thêm.
Gần đây nhất là trung tuần tháng 1 năm nay 2022. Ông gọi phone cho tôi và khoe, có đứa cháu cho ông một cái computer cũ, nhưng mới với ông, ông ngỏ ý nhờ tôi hướng dẫn cách layout book. Ông muốn tự mình hoàn tất một tác phẩm, mà không cần nhờ ai. Thú thật là tôi cũng rất bận và tôi biết sức khỏe của ông không cho phép ông ngồi lâu và hơn nữa người già thì hay quên, rất khó layout một quyển sách.
Đây cũng là lần cuối cùng tôi thưa chuyện với ông qua điện thoại. Thôi thì viết tặng ông bài thơ ngắn. 
Ngày ông cưỡi hạc về trời cũng là ngày Nguyên Tiêu, trăng rằm vẫn còn hiện diện.

Trời sai hạc xuống theo mây trắng
Trăng sáng Nguyên Tiêu soi bóng cây
Tử sinh trong cõi vô hình ấy
Hương hồn thi sĩ ở quanh đây.
Lê Tuấn

Bây giờ tôi phải viết một bài thơ lục bát, để kính tặng một Văn Thi Sĩ đáng kính trong diễn đàn Văn Thơ Lạc Việt.

***

Dương Huệ Anh Vì Sao Vừa Chợt Tắt

Có một vì sao chợt tắt
Muôn ngàn vì sao cúi mặt xót thương
Tiễn đưa về cõi vô thường
Thi nhân tao nhã vấn vương một thời.

Câu thơ thay cả vạn lời
Gửi theo mây gió, cuối trời tiễn đưa
Mắt buồn đọng ướt cơn mưa
Khơi dòng ký ức ngày xưa trở về.
Dương Huệ Anh vọng lời thề
Nhìn về cố quốc, bộn bề núi sông
Tha phương một khối tình không
Bảo tồn tiếng Việt, điểm hồng văn chương.

Lịch sử có lật từng chương
Thì xin cắm một nén hương lòng thành
Gửi thi sĩ Dương Huệ Anh
Niết bàn, nơi chốn vãng sanh yên bình.

Lê Tuấn
Thành Kính phân ưu
Thi sĩ  Dương Huệ Anh

***

 Nguyễn Diệm + Bích Liên, Phó Chủ Tịch & Điều Hành Website VBVNHN VDDBHK xin thành kính phân ưu cùng tang quyến.  Đời sống này vô thường quá!  
Xin Vĩnh Biệt Bác Dương Huệ Anh! 

VĨNH BIỆT BÁC DƯƠNG HUỆ ANH

Buồn ơi ! nhận được hung tin

Chủ tịch khả kính buông mình rời xa

Trải qua Sinh, Lão, Bệnh già 

Thi nhân yên nghỉ mộ tà dương sâu 

Văn Thơ Lạc Việt bước đầu 

Là cây cổ thụ che lâu vững vàng

 Màu Xuân rực rỡ chưa tan

Mùa Xuân đã khóc vội vàng tiễn đưa

Mắt mờ như bám hạt mưa 

Rơi dòng ký ức mộng xưa trở về 

Dương Huệ Anh đảm muôn bề 

Một thời gánh vác hẹn thề non sông 

Tha phương gầy dựng bỏ công 

Giữ gìn tiếng Việt gom lồng văn chương 

Hội viên quy tụ bốn phương 

Phú thi trải rộng yêu thương một nhà 

Bóng thời gian khó níu là 

Mái đầu sương bạc dần dà nghỉ ngơi 

Thơ Xuân bác gởi mấy lời 

Bài thơ để lại người rời thế gian

 Lãng du hưởng gió mây ngàn

 Âm dương cách biệt muôn vàn vấn vương 

Trang đời ghi lại những chương 

Góp chung lời nguyện nén hương lòng thành 

Cầu về Tịnh Độ vãn sanh 

Phương Tây Cực Lạc Huệ Anh hưởng đầy

   Minh Thuý Thành Nội                

 Tháng 2/19/2022

Thư Khanh cũng xin cầu cho Hương Linh Thi Sĩ Dương Huệ Anh mau được về Nơi Cõi an Lành.

SANH GIÀ BỆNH TỬ 

Trẻ Già ai cũng đến lần thôi

Kẻ trước sau mãi thế rồi

Luật Trời muôn thuở âu là thế

Cầu xin Thi Sĩ được Về Trời

THƯ KHANH – 2/19/ 2022

Thành Kính Phân Ưu Cùng Tang Quyến

Nguyện cầu Hương Linh nhà văn Dương Huệ Anh sớm về Cõi Phật

Lê Thị Nhị – VBVNHN

Thành kính chia buồn cùng tang quyến thi sĩ Dương Huệ Anh.

Xin hiệp lời cầu nguyện hương linh bác Dương Huệ Anh yên nghỉ chốn vĩnh hằng.

Ngọc Thúy – VBVNHN VĐBHK

Thành Kính Phân Ưu với gia đình nhà thơ Dương Huệ Anh.

Nguyện hương linh thanh thản

Nguyện ra đi an nhàn

Nguyện vong hồn siêu thoát

Nơi cõi trời thênh thang.

Nguyễn thị Thêm 

**

Thưa quý anh chị,

Buồn quá, anh Ba là người khiêm nhường tế nhị.

Trong tuyển tập VB anh đã nhắc đến nhiều người trong chúng ta đấy ạ.

Sao Khuê

Tôi sững sờ và hết sức đau buồn nhận được hung tin nầy. 

Tôi rất ngưỡng mộ thi hữu Dương Huệ Anh.

Tôi xin chia buồn cùng tang quyến

Và cầu chúc hương linh người quá cố được an vui miền Cực Lạc.

Trần Công /Lão Mã Sơn

Em cảm ơn chị Hồng thuỷ báo cho biết.

Em thật là bàng hoàng với tin buồn này.

Cũng may là tuy em chưa gặp anh Ba VB VĐNHK, nhưng em thường đăng tác phẩm anh Ba trên trang VietPEN.

Em biết anh đọc và vui nên hay gửi tác phẩm cho em đăng.

Chỉ có chút an ủi này để nguôi ngoai thôi.

Cung Thị Lan (Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại)

**

Thật là bất ngờ vì trong thơ từ qua lại chưa từng thấy anh Ba than phiền về sức khỏe. 

Xin thành kính chia buồn cùng gia đình anh Ba trước sự mất mát to lớn này. 

Nguyện cầu vong linh anh Ba, Dương Huệ Anh sớm tiêu diêu miền cực lạc.

Thành Kính Phân Ưu,

Dương Vũ

Cám ơn chị Hồng Thủy

Nhìn hình chân dung anh Ba trông anh rất hiền, dễ mến…

Chưa được gặp mặt anh mà anh đã vội ra đi…

Những câu thơ của anh thật dễ thương, sâu lắng…
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU CÙNG GIA QUYẾNCẦU XIN LINH HỒN ANH DƯƠNG HUỆ ANH SỚM ĐƯỢC VỀ MIỀN CỰC LẠC
𝓽hái 𝓷ữ 𝓵an

Được tin buồn

Anh Ba Dương Huệ Anh vừa mới bỏ mọi người ra đi rất đột ngột,

thật là tiếc thương.

Xin thành kính chia buồn cùng gia đình anh Ba,

nguyện cầu hương linh anh Ba được tiêu diêu nơi cõi Vĩnh Hằng. 

Mỹ Hoàn 

Tin rất buồn Thi Sĩ DƯƠNG HUỆ ANH đã mệnh chung hôm nay 19 -2 – 2022 tại Thung Lũng Hoa Vàng San Jose.

 Xin kính lời phân ưu cùng tang quyến Nhà Thơ lão thành.

Cầu nguyện hương linh cụ sớm Phiêu diêu miền Vĩnh Cửu.    

Kính bái.  

Cao Mỵ Nhân. 

THƠ ĐIẾU THI SĨ DƯƠNG HUỆ ANH.

Cụ bảo rằng không bỏ bóng xuân 

Sao hôm nay lại biệt dương trần 

Xưa từng xướng hoạ lời chân thiện 

Giờ đã phiêu linh cõi thánh thần

Hội ngộ văn đàn từ sáng lập 

Chia ly thi hữu chẳng gieo vần

Vô cùng thương tiếc Dương Thi Sĩ 

Hoa “Huệ Anh Đường” nở vạn năm … 

 

Los Angeles  19 – 2 – 2022         

CAO MỴ NHÂN 

*

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Tin buồn đưa đến quả lòng đau

VĂN BÚT VÙNG ĐÔNG BẮC nghẹn ngào

Thi bối đi rồi, đi chẳng giã 

HUỆ ANH đã biệt, biệt không chào

Mấy trăng nhập hội thân nhiều lắm!

Chớp mắt về Trời tiếc xiết bao!

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU CÙNG QUYẾN THUỘC

Chúc người cõi  Phật bước nhanh vào

Phương Hoa – FEB 19th 2022

Thật là bất ngờ và đau buồn!

Thuy Messegee

*

Vô cùng  ngạc nhiên hay tin thi sĩ Dương Huệ Anh mãi mãi ra đi về chốn vĩnh hằng.

 Xin chia buồn với tang quyến và đại gia đình Văn Bút Hải Ngoại, Văn Thơ Lac Việt.

Cầu nguyện hương linh nhà thơ Dương Huệ Anh được an nhàn nơi cõi phúc 

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU   

Ngọc Hạnh

*

* Xin Chân Thành Kính Nguyện Cầu Linh Hồn Lão Tiền Bối

Thi Sĩ Đa Tài Hoa Thật Cao Quý DƯƠNG HUỆ ANH Sớm Được Siêu Thoát Về Cõi Vĩnh Hằng*

*Xin Chân Thành Kính Phân Ưu Cùng Tang Quyến*

**Xin Chân Thành Kính Bái

LuânTâm

*

Chị Hồng Thủy kính mến.

Em cám ơn chị báo tin, em thật sự bàng hoàng khi biết anh Ba đã ra đi.

Tuy em chưa biết anh Dương Huệ Anh, nhưng em cũng được hân hạnh đăng bài của anh.

Em vô cùng thương tiếc, xin hiệp lời cầu nguyện cho Hương Linh anh Dương Huệ Anh sớm yên nghỉ nơi miền Cực Lạc.

Thành kính phân ưu cùng gia đình và tang quyến trong nỗi đau mất mát này.

Kính nguyện.

KIM OANH

*

Xin được thành kính phân ưu cùng tang quyến của nhà thơ Dương Huệ Anh và hội VBVNVĐBHK

Nguyện cầu hương linh người quá cố được thanh thản nơi miên viễn.

Thành kính phân ưu

Nguyễn hữu Mỹ Nga

*

Cháu xin chân thành được chia buồn với gia quyến chú Dương Huệ Anh

và cầu nguyện cho hương linh chú sớm yên nghỉ nơi vùng Cực Lạc

Trân trọng

Kim Vũ

Tin Rất Buồn!

Dù biết Thi Sĩ Lão Thành Dương Huệ Anh đã có tuổi và thời gian sau này, sức khỏe không được khả quan cho lắm. Nhưng tin Ông qua đời, vẫn là tin bất ngờ, bàng hoàng đau xót với tất cả Anh Chi Em trong VTLV.

Thi Sĩ  Đương Huệ Anh, là Thành Viên Sáng Lập Văn Thơ Lạc Việt từ năm 1992. Với nhiều Thi Sĩ khác, như có Cụ Hà Thượng Nhân, Hoàng Anh Tuấn….Tên gọi ban đầu là Thi Đàn Lạc Việt, sau đổi thành Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt.

Tính tình hiền lành, dễ mến, sống chan hòa tình nghĩa với mọi người.

Cả đời say mê với chữ nghĩa văn thơ. Đã có những tác phẩm xuất bản trước 75. Cây viết Dương Huệ Anh, là một văn nghệ sĩ đa năng, có mặt trong nhiều bộ môn: Thơ, Văn, Nghiên Cứu, Nhạc, Truyện, Ký. Ông được biết là một người có số lượng thơ sáng tác rất nhiều ở Hải ngoại.

Sau đây một chút tiểu sử của: Thi Sĩ DƯƠNG HUỆ ANH & TÁC PHẨM

Bút hiệu khác: Y Lương, Triều Ðông, Thái Uyển, Huyền Sương.

Sinh quán: Hải Phòng, Bắc Việt Nam .

Nghề nghiệp: Trước 1975: Công chức hành chính.

Sau 1975: Công, tư chức, các ngành xã hội, kinh doanh, bảo hiểm, tài trợ và địa ốc, khảo cứu Ðông Y.

Tác phẩm đã xuất bản.

Trước 75:

-Thơ Xanh

-Tâm Lý Phụ Nữ Qua Ca Dao Tục Ngữ

Tại Mỹ:

– Huyền Ca, Diễm Ảnh

– Quê Hương Vĩnh Cửu Tình Yêu

– Ðường Nào Có Hoa Ðào

-Tha Hương Mười Tám Năm, Sầu Có Ai.

– Ðông Y Lược Giải

-Những Cánh Thư Hồng

-Thơ Việt Hải Ngoại

-Thiên Niên Kỷ Mới

– DVD 12 Bến Nước

-Chân Dung & Giá Trị Truyện

-Những Bước Đường Đã Qua

-40 Năm Tị Nạn Buồn Vui

Một Vài Bài Thơ của Thĩ Sĩ Dương Huệ Anh

CỨ VUI

Lửa nóng Sa Bà, ta cứ vui,

Lên voi, xuống chó, gắng yêu đời!

Bởi ta có cái người không có,

Sức mạnh, Bi tâm, những nụ cười!

Tuổi trẻ, xe lăn, ngồi, chẳng thiếu,

Bạn già, chống gậy, cũng thường thôi!

Phi Châu, dân đói, vô cùng khổ,

Bệnh quỉ, Sida, cả triệu người!

Do Thái, Muslim thù khó giải,

Thánh Thần, rồi Chúa cũng buông xuôi!

Năm châu quấy động*, niềm tin mất,

Bởi quá tham, điên đảo cuộc chơi!

* Khủng hoảng tiền tệ, ngân hàng, địa ốc.

20/01/09

LẠI GIÁNG SINH

Ngày tháng trôi mau, lại Giáng Sinh,

Trời mưa, trời gió, lạnh run mình.

Tám mươi hơn, tuổi, thơ còn mặn,

Sáu chục tròn, cân, bạn dám khinh?

37 năm, buồn thân tị nạn,

Tháng mươi lần, dạo bước* điêu linh!

Ngày ba bữa, giữ cho bền sức,

Đêm mấy phen đi…khổ thật tình!

Răng cửa lung lay, chừng muốn rụng,

Tóc trần trụi lùi, ngó mà kinh!

Ngáp dài, thích ngủ quay trên thảm,

Quên hết, ưu tư với bất bình!!

* Đi bộ

24/12/12

CUỐI NĂM MƯA GIÓ

Cuối năm mưa, gió, lạnh ê da,

Trời vẫn âm u, dễ chán a!

Uốn cái lưng còng, lo chống đỡ,

Thẳng đôi chân sậy, gắng xông pha!

Mắt mờ, sớm, tối lên thăm mạng (net),

Tai lãng, – con, em…- khó tặng quà!

Ba bữa rau dưa, mong giữ sức,

Một lòng tu tập, khởi từ ta!

Vui trong hiện hữu, quên năm tháng,

Tịnh độ không gần, cũng chẳng xa!

29/12/12

THẾ LÀ LẠI HẾT NĂM

Thế là lại hết năm Tây,*

2012- Lạnh. Gió ngày, mưa đêm…

Chiến tranh, khủng bố, triền miên,

Thày tu ngậm máu, Đức Tin xuống đường!

Phi Châu, dân đói thảm thương,

Vô lương, tài phiệt một phường lưu manh,

Gian thương nào nghĩ nhân tình,

Đầu cơ, lũng đoạn, Giàu, thành giàu thêm!

Độc tài ngoan cố, giữ quyền,

Tự do, hạnh phúc hão huyền, dân mơ!

Xứ này, Mỹ, thích tự do,

Tha hồ mua súng, tha hồ giết nhau!

Trẻ thơ vô tội, ngờ đâu,

Chết trong lớp học,

thêm sầu Giáng Sinh!

31/12/12

LÂU NGÀY, GẶP BẠN

Lâu ngày, gặp bạn, mừng a,

Hỏi thăm địa chỉ?

– Hơi xa!

– Ngại gì!

Thôi cho số điện thoại đi,

Khi nào rảnh ghé…

nhâm nhi …chuyện đời…

Tay ghi hàng số, miệng cười,

“Quan Âm Thiền Viện” ít người biết, anh!

Nhớ thêm đạo hiệu Tâm Minh,

Vào Google Search cũng nhanh, mấy hồi!

… Hai lần phone, – chẳng trả lời,

Cuối tuần, xe phóng…tìm hoài, thấy đâu?!

Quan Âm Bồ Tát, khẩn cầu,

Ngất ngư, lội bộ, trước, sau, hỏi đường…

Bỗng…xa thoáng bóng áo vàng,

Ai đưa lối,

Hẳn đạo tràng không xa!

…Cờ bay, vui cõi Ta Bà

Tháng 4, mồng 8, Phật Đà đản sinh…

18/5/2013

ĐI BỘ

Về chiều, thả bộ, khỏe mà vui,

Thêm được nhìn phong cảnh đất trời.

Sẵn dịp, ghé mua hàng hạ giá,

SafeWay, SaveMart…nửa giờ thôi !

Nắng vàng, gió mát dịu hồn ta,

Thoáng…đến đầu đường Berryessa…

Chợt nhớ Hà, Hàn, Búi… mấy bạn

Quế Đào, Liên Bích…ở đâu xa?*

Thiên Đường, lạc cảnh mấy tầng cao,

Thanh tịnh, thơm hương suối, động đào…

Ngọc nữ, tiên đồng trì nguyện độ

Muôn loài, ngạ quỉ sớm tiêu dao…

Ta Bà tranh chiến, lửa tràn lan,

Đường Lưỡi Bò, Trung quốc nhận càn…

Irak, Afgan…còn tử đạo,

Đối đầu nguyên tử, Bắc, Nam Hàn…

Phi Châu nghèo đói cũng can qua,

Do Thái, Iran dữ lắm mà!

Dân Chủ, Độc Tài sao hợp tác?

Cường quyền, – nhược tiểu – dễ gì tha?!

* Hà Thượng Nhân, Hàn Nhân, Đào Thanh Quế, Nguyễn Bích Liên đã khuất.

13/6/2013

Sự ra đi của Thi Sĩ Dương Huệ Anh là một mất mát lớn với VTLV. Hình ảnh Ông sẽ sống mãi trong tim những Bạn Bè thương mến.

Nguyện cầu Hương Linh Người Thi Sĩ Quá Cố vui hưởng cõi Vĩnh Hằng.

Thành Kính Phân Ưu.

Lê Văn Hải

THAY LỜI PHÂN ƯU

 Phụng kính hương linh Thi Nhân Dương Huệ Anh!

*

Thi đàn Lạc Việt tiễn thi nhân

TÀI đức toàn song ấm phước phần!

“Diễm ảnh”…* trường tồn cùng vạn lộc

“Huyền ca”…* còn mãi với muôn xuân.

“Lưng còng, chân sậy”…** tiềm tuệ trí

“Tai lãng, mắt mờ”…** rạn tấm thân!?

Chữ thắm “Thơ Xanh”…* tràn mẫn cảm

Lợi danh nhẹ tễnh cõi dương trần!?

                              21-2-2022

                      Nguyễn Huy Khôi

*  Tiêu đề các tác phẩm của trưởng thượng Dương Huệ Anh.

** Chữ dùng của TT Dương Huệ Anh.

Nghe tin nhà thơ lão thành Dương Huệ Anh vừa qua đời, chúng tôi, Trần Sung Phước thuộc đám con cháu của bác,

Xin thành kính phân ưu cùng gia quyến của bác và nhóm Văn Thơ Lạc Việt.

SỰ ra đi của Bác là một mất mát lớn của  Văn thơ hải ngoại.

Luôn tiện xin ban tổ chức cho chúng tôi biết ngày và giờ mất của bác để chúng tôi tụng kinh cầu siêu cho bác theo nghi lễ Phật giáo.

XIn cám ơn và gủi lời chúc bình an , mạnh khỏe cả thể chất và tinh thần, sáng tác mạnh đến toàn ban.

KÍnh,

Trần Sung Phước

Phan Lang rất xúc động khi nhận được tin bất ngờ thi sĩ Dương Huệ Anh đã từ giã chúng ta về miền miên viễn. 

Tuy chưa một lần được gặp mặt nhưng PL rất quý trọng và ngưỡng mộ tư cách cũng như tài thi phú của anh trên các văn đàn.  Xin cám ơn Ns Lynh Phương đã sáng tác và trình bày ca khúc Niệm Khúc Cuối thật tuyệt vời, nghe mà lòng bồi hồi, cảm xúc dâng đầy.  PL cũng xin cám ơn quý văn thi sĩ Phương Hoa, Hồng Thúy, Cao Mỵ Nhân, Kiều Mỹ Duyên, Lê Tuấn… đã cho thưởng thức những áng thơ, văn tưởng niệm cố thi sĩ Dương Huệ Anh. 

Rất tiếc PL ở xa không thể về tham dự Buổi Tụng Kinh Cầu Siêu cho nhà thơ lão thành, nguyện cầu hương linh người quá cố sớm được siêu sinh tịnh độ.  Xin cám ơn anh Hải đã đứng ra tổ chức bổi cầu siêu ý nghĩa này.     

Kính chúc sức khỏe và bình an đến với tất cả quý anh chị VTLV.Kính mến,

Phạm PhanLang

Phương Thúy (Trang Chủ Diễn Đàn Cô gái Việt) xin phân ưu với gia đình cố Thi sĩ Dương Huệ Anh và VTLV.

Tuy chưa được hân hạnh gặp Thi sĩ lúc sinh tiền nhưng đã có lòng mến phục người đã tự nguyện vác cái ngà voi khổng lồ, sáng lập nên Cơ sở VTLV từ năm 1992.

Rất thương tiếc Thi sĩ, người có kiến thức, có tâm, và có tầm nhìn xa cho tương lai chữ Quốc ngữ. 

Kính bái vong hổn Thi sĩ!

Phương Thúy

SYDNEY – AUSTRALIA – 24.2.2022

XIN CHÂN THÀNH CẢM TẠ ĐÃ CHO BIẾT BUỔI TỤNG KINH CẦU SIÊU CHO THI SĨ TIỀN BỐI DƯƠNG HUỆ ANH.

TỪ NƠI XA XÔI NÀY, TÔI KHÔNG THỂ THAM DỰ ĐƯỢC, CHỈ XIN DÂNG LỜI CẦU NGUYỆN CHO HƯƠNG LINH THI SĨ TIẾN BỐI SIÊU THOÁT VÀO CÕI VĨNH HẰNG

VÀ XIN CHIA BUỒN CÙNG TANG QUYẾN VÀ QUÝ THÂN HỮU VTLV

HOÀNG PHONG LINH – SYDNEY.

NHÀ VĂN HÓA DƯƠNG HUỆ ANH – PARIS, MẠN ĐÀM VĂN HỌC&NGHỆ THUẬT – Đỗ Bình

Để tưởng niệm một nghệ sĩ lão thành, một nhà văn hóa vừa bỏ trần gian về cõi vĩnh hằng, tôi xin trích một đoạn văn của cố Nhà văn Hồ trường An viết đôi dòng cảm nhận về nhà thơ Dương huệ Anh : « Năm 2003, tức là năm thứ ba của tân thiên kỷ, mảnh vườn hồng của Dương Huệ Anh là một cõi ngự uyển thịnh phóng rất nhiều bông hoa. Với 291 bài thơ được sáng tác đều đặn và cần mẫn trong vòng 12 tháng, tiên sinh có thể dùng làm một hiến lễ mùa thơ rất đẹp, rất đáng trân quý cho khách yêu thơ. Ở hải ngoại, những thi nhân có mạch sáng tác dòi dào nhất phải kể: Tuệ Nga, Cao Mỵ Nhân, Huệ Thu, Sương Mai, Ngô Minh Hằng, Hà Huyền Chi, Dương Huệ Anh, Du Tử Lê, Phương Triều… Có lẽ tiên sinh đứng hàng đầu về lượng. Còn về phẩm thì mỗi người có một sở trường riêng, một nét độc đáo riêng.<!> Tuy nhiên, Dương Huệ Anh vẫn là một tiếng thơ thời thế . Nếu ngày xưa, qua tiếng thơ thời thế, thi hào Victor Hugo đã được giới yêu thi ca tặng cho ông ta là L’écho du siècle (tiếng đồng vọng của thế kỷ). Vậy thì hôm nay, trên thi đàn(Việt Nam) ở hải ngoại, Dương Huệ Anh cũng có thể nhận lãnh cái danh dự ấy lắm chứ.»(Hồ Trường An-Paris, 04/02/2004)

Xin kể lại một câu chuyện văn học ở Paris mà ngày đó nhà thơ Dương Huệ Anh đã được các bằng hữu trong giới văn nghệ đón tiếp rất trân trọng và chân tình do Câu Lạc Bộ Văn Hóa VN Paris tổ chức trong đó có buổi Thảo luận về văn học & nghệ thuật giới thiệu Tác phẩm và Tác giả.Tác giả Dương Huệ Anh rất đa tài, nhưng tôi quen gọi ông là Nhà Thơ. Từ ngàn xưa người đời vẫn quan niệm:«Nhà thơ là một danh hiệu cao quý cho người làm thơ, khi mà thơ ca của người đó phục vụ cho chânthiệnmỹ, cho ánh sáng xua tan bóng tối, cho lương tâmtrí tuệ và tiến bộ cũng như hạnh phúc của con người. »Nhà thơ Dương Huệ Anh sáng tác từ lúc còn trẻ, thuở ấy hồn thơ ông lai láng và xanh mướt, thơm ngát như hoa xuân. Nhưng vì những tác động ngoại cảnh, những biến động thăng trần của thời thế đã ảnh hưởng đến đời sống và sự sáng tác của ông, làm hụt hẫng nguồn cảm hứng, từ đó duyên tình thơ bị ông bỏ rơi vào quên lãng! Đến khi ra hải ngoại, sự đời đã lắng, ông không còn lo việc mưu sinh thì hồn thơ ẩn sâu trong tâm hồn thi nhân bỗng trỗi dậy dạt dào. Nhà thơ đã tìm lại được nguồn cảm hứng sáng tác vì biết mình vẫn còn nặng nợ với duyên thơ tình bạn mà bấy lâu đã hờ hững với nàng thơ. Thơ là nguồn sống của thi nhân nào có phụ người, chỉ có thi nhân đã bỏ thơ không còn đam mê Chân Thiện Mỹ, thiết tha với ý nghĩa cuộc sống thì nguồn thơ sẽ tàn úa và hồn thơ cũng bay mất! Thời gian như mây bay, gió thoảng, tâm hồn và suy nghĩ của thi nhân cũng như con nước chảy trên dòng sông và trôi theo dòng thời gian nên có nhiều thay đổi. 

Cũng một vầng trăng huyền ảo, cảm súc của thi sĩ lúc trẻ nhìn trăng khác với tuổi xế chiều, nhà thơ không cảm thấy sự mơ màng ảo mộng trong ánh trăng, không còn đắm say thả hồn bay theo mây gió tìm hình tướng độ khuyết tròn của vần trăng, mà chỉ nhìn thấy màu kỷ niệm và bóng thời gian. Nơi phương trời Mỹ, nhà thơ Dương Huệ Anh đã bước vào tuổi xế chiều, ở đây có những nỗi buồn tha hương luôn ẩn trong tâm hồn người xa xứ, đó cũng là chất liệu, nguồn cảm hứng cho thi nhân. Dù mang nỗi sầu tha hương nhưng nhà thơ vẫn yêu đời nên hồn thơ lại dâng trào nguồn cảm xúc, ông đã sáng tác theo dòng cảm xúc và sáng tác rất mạnh với nhiều đề tài khác nhau. Nhờ kiến thức sâu rộng tác giả đã có những sáng tác giá trị về lãnh vực thi ca, văn chương và biên khảo. Tuy nhiên chất thơ đã không còn hồn nhiên màu sắc xanh hồng, óng ả như hoa mùa xuân thuở đôi mươi, cho dù hình ảnh trong ngôn ngữ thơ có mới hơn, cấu trúc thơ vẫn giữ những niêm luật mang tính luân lý đầy triết lý nhân sinh và tôn giáo. Thơ của ông hay và sâu sắc như những nhánh lúa hạt vàng, ngoài mùi hương thơm của lúa, giá trị thực tế của gạo là thực phẩm rất cần thiết để nuôi sống con người, lúa còn mang ý nghĩa cao cả hơn là sự hy vọng, nguồn sống.

Xin sơ lược về tiểu sử và tác phẩm của ông: Nhà thơ Dương Huệ Anh, tên thật : Trần Quang Tương, sinh quán: Hải Phòng.Bút hiệu khác: Triều Đông , Thụy Cầm. Thái Uyển, Y Lương.Nghề nghiệp trước 1975, Công Chức.
Sáng lập và là chủ tịch Thi Đàn Lạc Việt miền Bắc Cali.năm 1992 .Năm 1993 thành lập thêm Cơ Sở Văn Học Nghệ Thuật. (đóng góp cho văn học về phương diện thơ đã xuất được 8 tập).

Tác Phẩm:Thơ Xanh.(1955). Biên khảo:Tâm Lý Phụ Nữ Qua Phong Dao. Năm 1958 Huyền Ca, Diễm Ảo tập 1,2. Năm 1991(Mỹ): Quê Hương Vĩnh Cửu Tình Yêu ; Đường Nào Có Hoa Đào; Tha Hương 18 Năm Sầu Có Ai ? Đông Y Lược Giải (tập 1) ;1994 Thơ Dương Huệ Anh, Tổng Tập I (gồm 6 thi tập), Những Khúc Buồn Vui, (Thơ Nhạc) ;1998, Những Cánh Thư Hồng 1,2: Truyện dài ; Thơ Việt Hải Ngoại, Một Góc Nhìn (2001) ; Thơ Việt Thế Kỷ 20(1) ; 2002 Ba Mươi Năm, Ngàn Kỷ Niệm (Thơ Nhạc) 2004 ; Độc Hành Ta Vui (Thơ, 2004) ; Dịch Và Bói Dịch(sơ giải, 2005). Tìm Hiểu Về Phật Giáo, Những Vần Thơ Đạo 2006, DVD Thương Về 12 Bến Nước (Thơ, Nhạc).»

Tao Ngộ Thi Nhân
Năm 1998 tôi hân hạnh được hội Thơ ở Sacramento mời sang để nói chuyện về đề tài Tính Nhạc Trong Thơ do các nhà thơ Nguyễn Phúc Sông Hương, Nhà thơ Hoàng Thanh và nhà thơ Như Hoa Lê Quang Sinh tổ chức. Ngày đó quy tụ nhiều nhà thơ ở khắp nơi đến tham dự, trong số người đến có nhà thơ Dương Huệ Anh, Nhà thơ Hà Thượng Nhân, Nhà thơ Diên Nghị, Nhà thơ Song Nhị, Nhà thơ Lê Nguyễn, Nhà thơ Vũ Hối, Nhà thơ Phan khâm, Nhà thơ Hà Trung Yên, Nhà thơ Mạc Phương Đình, Nhà thơ Hà Ly Mạc, Nh à th ơ Huệ Thu, Nhà thơ Yên Bình, Nhà thơ Nguyễn Phan Ngọc An, Nhà thơ Sương Mai, Nhà văn Nhật Thịnh, Nhà văn Khuê Dung, GS, Trần Kiêm Đoàn, Nhà báo Tô Ngọc, Nhà báo Đỗ Hữu… thời gian này tôi còn được các hội đoàn sinh hoạt văn hóa ở San Jose như Văn Bút Bắc Cali, Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn, Thi Đàn Lạc Việt cùng một số bằng hữu văn nghệ đã tiếp đón trao đổi văn nghệ rất chân tình…
Đến năm 2005 tôi sang Bắc Cali giới thiệu cuốn biên khảo Thơ: Khung Trời Hướng Vọng của GS, Nhà thơ Nguyễn Thùy và cuốn Dạy Con của GS Trần Minh Xuân ở Sacramento do các Hội đoàn ở đó tổ chức, trong số người tham dự vẫn có nhà thơ Dương Huệ Anh đến từ San Jose…. Sau đó tôi và giáo sư Nguyễn Thùy được Hội Văn Bút ở Nam Cali mời nói chuyện về đề tài văn học, do nhà thơ Nguyễn Duy Trại tổ chức. Ở đây tôi cũng thấy có sự tham dự của nhà thơ Dương Huệ Anh, Học giả, BS Nguyễn Hy Vọng, Nhà biên khảo Mạc Đông Pha, nhà thơ Thái Tú Hạp và phu nhân nhà thơ Ái Cầm…

Sự hiện diện của nhà thơ Dương Huệ Anh trong những buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật mà tôi tham dự làm tôi khích lệ và xúc động, đối với một hậu bối như tôi quả là một món quà chân tình cao đẹp mà ông dành tặng tôi. Sau này trong số tác phẩm biên khảo, thơ văn của ông, thơ của tôi được ông đưua vào sách. Khi ông sang thăm Paris, chúng tôi đã tổ chức nhiều nơi để đón tiếp ông và đưa ông đi gặp những khuôn mặt văn hóa đặc biệt ở Paris. Ông đã đi thăm thăm nữ sĩnh Minh Châu và xem tranh của Bà. Ông được mời đến xưởng vẽ và tượng điêu khắc của nữ điêu khắc gia Anh Trần, ở đây có một phòng hội tiếp tân, ông đã gặp gỡ nhiều người bạn măn xưa rời Hải Phòng, Hà Nội qua Pháp du học từ thập niên 40, 50, tất cả mọi người hiện diện hôm đó đều trân trọng ông. Họ chia nhau mời ông và đưa ông đi thăm những di tích lịch sử và thắng cảnh đẹp ở Paris.

Trong cuốn sách: Những Khuôn Mặt Văn Hóa Việt Nam Hải Ngoại sẽ ra mắt vào năm 2022, các anh chị trong ban biên tập đưa Tiểu Sử của ôngvào sách để vinh danh một Nhà văn Hóa. Họ chọn ông Không phải ông đã sáng tác nhiều thơ, ra nhiều tác phẩm, mà vì những việc làm tận tụy của ông đối với việc bảo tồn văn hóa ở hải ngoại trong thời gian ông sinh hoạt trong Thi Đàn Lạc Việt.Để minh họa con người của ông, tôi xin trích lời tâm tình ông viết trong cuốn:Dương Huệ Anh ThơThơ…& Những Giao Cảm Ngọc Ngà » ( trang 3,4,5)

« Thơ! Thơ! LạiThơ!Gần một năm trước,- còn thiếu vài ngày !- vào dịp ra mắt tuyển tập » 50 Năm Thơ &Người Thơ » ở địa phương, một số thân hữu đùa hỏi: « Thế nào ông còn định sáng tác nữa hay không ? », vì theo niên kỷ đã thấy quá tuổi cổ lai hy rồi.Câu trả lời thành thật là: Cũng tùy (theo sức khỏe) thôi!Kể từ ngày tập tành theo bước các đàn anh trong Nhóm Tự Lực Văn Đoàn, Tiểu Thuyết Thứ Bảy…cóp, dán (copy, paste) từng câu, từng chữ thành vần điệu….để khoe với các bạn khác phái, cũng đã hơn nửa thế kỷ. Thơ mình làm ra có lẽ cũng khá nhiều, – riêng thời gian từ thập niên 1990 đến nay đã được vài ngàn bài, có một số nghe tạm được, nhưng tựu trung vẫn nghĩ là mình nói chưa hết những điều muốn nói, viết chưa đủ những lời cần viết. Ấy chỉ vì chuyện Đời bao la quá , phức táp quá, như là vô thủy vô chung! Nghĩ sâu thì có phải là vũ trụ, nhân sinh…luôn biến động, vô thường?Hồi tưởng lại, những ngôi sao trong làng thơ thập niên 1940 là: Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên…rồi là Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng…Bên cạnh, là những Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân, J. Leiba, Lưu trọng Lư, Bích Khê…Câu chuyện TTKH sau này mới được làm nóng lại, chứ thời gian ấy chưa ai lưu ý mấy đền nhữgng vần thơ « Hoa Ti Gôn ».Số người làm thơ những năm thập niên 1940-1950 chỉ tính hàng trăm, chú không Đông đảo như hiện thời. Tập Thi nhân Việt Nam của hai ông Hoài Thanh, Hoài Chân ấn hành năm 1941, chọn lựa không chặt chẽ lắm mà cũng gom được 40 nhà thơ ba miền Trung, Nam, Bắc.So với hiện thời, số người làm thơ có thể lên đến hàng vạn, báo nào, tạp chí, đặc san nào cũng có một số bài thơ mới…hiện tượng này đáng mừng hay chăng,là tùy quan điểm nhận xét của từng bạn đọc ; người viết không tiện nêu ra ý kiến riêng. Mới đầu, người viết lấy cảm hứng từ những mối tình trong trắng, hồn nhiên của tuổi học trò: từ cô Thái/Thủy họ Bùi (sau là ca sĩ đài Phát thanh Việt nam-Hà Nội), qua Nam Hải (Tây Thi) (con một đại thương gia ở cảng Hải Phòng)…sau đến những nàng thôn nữ bạn, học trò còn đôi tám…Dù ở đâu hay thời điểm nào, rung cảm chính trong thơ mình cũng bắt nguồn từ những hình ảnh người nữ thuộc mọi giai tầng, khởi đi từ tâm, dựa vào triết lý Đại Bi của Phật giáo. Bên cạnh nó là những trăn trở, góp ý thực tiễn tìm một giải pháp diệt khổ: chấp nhận hiện hữu, biến khổ thành vui…Từ đôi mươi, trong thời kháng Pháp cũng như khi trưởng thành, đi làm để mưu sinh, soạn giả đã gặp nhiều mối duyên kỳ ngọ nhưng đa số dang dở – và tất cả đã được ghi lại trong tập Thơ Xanh ( 1955) và Huyền Ca Diễm Ảnh1, 2 (1991). Rất tiếc đa số những sáng tác trong loạn ly, khói lửa đã bị thất lạc, tiêu hủy qua nhiều cuộc di cư, tị nạn, lưu vong, chính biến… Có vài tác giả thắc mắc về sự vắng mặt của tác giả trên văn đàn suốt thời gián dài, – từ 1955-1991- như cCo Mỵ Nhân, Hà Huyền Chi… lý do đơn giản của «vấn đề » là trong suốt thời gian ấy, soạn giả đã phải vận dụng «nội lực và tinh thần, liên tục, kiên trì phấn đấu để sinh tồn, xây dựng hạnh phúc cho một gia đình đông con nhỏ, và luôn gặp những biến thiên trọng đại, bất ngờ.

Kể từ thập niên 1990, tương đối rảnh rỗi, – sau khi bày nhỏ, nói chung đã an cư lạc nghiệp soạn giả mới nghĩ đến việc sắp xếp lại và in ấn những sáng tác trong mất chục năm qua: Năm 1992 pjhoổ biến thi tập » Quê Hương, Vĩnh Cửu Tình Yêu », năm 1993 trình lành hai tập «Đường Nào Có Hoa Đào» và « Tha hương, Mười Tám Năm, Sầu Có Ai ?»Đây cũng là thời gian soạn giả, cũng vài văn thi hữu- đứng ra vận động Thi Đàn Lạc Việt, và sau đó là Hội Trao Đổi Văn Học Nghệ Thuật, để tập hợp những nhà văn, thơ yêu mến và muốn góp phần nhỏ mọn bảo tồn văn hóa nước nhà. Hơn mười năm hoạt động, cơ sở đã tổ chức được hai cuộc Thi Thơ toàn quốc, có gần 150 nhà thơ tham dự trong những năm 1994 và 1996.Mặt khác, cơ sở đã ấn hành được 5 Tuyển tập Một Phía Trời Thơ 1,2,3,4,5 ; hai tiuển tập 4 Biển Thơ Chung Nối Nhịp Cầu ;3 tuyển tập Thơ Văn Xuân Thu 1,2,3 (chưa kể mấy số tam nguyệt san Xuân Thu), với nội dung thuần túy văn nghệ.

Năm 1997 cơ sở bát đầu chuyển hướng đi vào phần vụ nghiên cứu, biên khảo, xuất bản: tổ chức nhiều buổi nói chuyện trao đổi về thơ văn như Ca Dao Việt Nam, Viết truyện ngắn, Ngâm Thơ, Mệnh Số học, Truyện Kiều, Hồ Xuân Hương, Thiền, Nhạc.. và năm 2000 tổ chức Ngày Kỷ niệm Thi hào Nguyễn Du, khá thành công.Giữ năm 1997 soạn giả cho ra mắt Tổng tập I Thơ Dương Huệ Anh gờm 6 thi tập: Thương Cả Trăm Hoa ; Gót Ngọc Quan Âm ; Tho Xanh ( tái bản)….. »
Câu Chuyện Sinh Hoạt Văn Hóa:
Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam Paris là một hội được thành lập từ luật 1901. Mục đích nhằm Bảo tồn và phát huy Văn Hóa Việt Nam ở hải ngoại. Điều lệ của hội rất đơn giản vì nặng tính thân hữu, k hông gò bó người tham gia và cũng không ràng buộc người khi rời CLB. Đa số hội viên thuộc giới trí thức văn thi sĩ, mà trong đó có những thành viên Ba Lê Thi Xã. Nhà thơ Phương Du BS Nguyễn Bá Hậu phát biểu về Ba Lê Thi Xã:

«Ba Lê Thi Xã, một hội thơ có khuynh huớng Đường Thi do hai cố thi sĩ Hương Bình GS Cao Văn Chiểu và Hàm Thạch GS Nguyễn Xuân Nhẫn sáng lập. Thời gian sau, Nữ sĩ Minh Châu GS Thái Hạc Oanh cùng với nhà thơ Phương Du là những cột trụ của Ba Lê Thi Xã. Hội quy tụ nhiều trí thức khoa bảng, như giáo su đại học, bác sĩ, luật gia, học giả, dịch giả…vv…nhưng có tâm hồn thơ, nên có nhiều nguời đã thành danh trong làng thơ truớc 75 và hiện nay. Thời gian trôi đi, nhiều nguời trong nhóm đã khuất như: nhà thơ Đào Trọng Đủ, nhà thơ Hương Bình Cao Văn Chiểu, nhà thơ Hàm Thạch Nguyễn Xuân Nhẫn, nhà thơ Bằng Vân Trần Văn Bảng, nhà thơ Đàn Đức Nhân, nhà thơ Huỳnh Khắc Dụng, nhà thơ Luong Giang Phạm Trọng Nhân, nhà thơ Phuợng Linh Đỗ Quang Trị, nhà thơ Nguyễn Thuờng Xuân, nhà thơ Việt Hoài, nữ sĩ Liên Trang Phạm Thị Ngoạn (Ái nữ cụ Phạm Quỳnh), nữ sĩ Thanh Liên. Những nguời còn sống như: Nhà thơ Song Thái Phạm Công Huyền (ngoài cửu tuần), nữ sĩ Minh Châu Thái Hạc Oanh, nữ sĩ Quỳnh Liên Công Tằng Tôn Nữ Quỳnh Liên, nữ sĩ Phạm Thị Nhung, nhà thơ Vân Uyên Nguyễn Văn Ái, nhà thơ Khuê Trai Vũ Quốc Thúc, nhà thơ Phuong Du Nguyễn Bá Hậu, nhà thơ Huong Giang Thái Văn Kiểm, nhà thơ Hoài Việt Nguyễn Văn Hướng, nhà thơ Hồ Trọng Khôi, nhà thơ Đỗ Bình …vv… Nhà thơ Đỗ Bình là nguời trẻ tuổi nhất đã bỏ ra nhều công sức giúp ích rất đắc lực cho Ba Lê Thi Xã quy tụ những nhà văn nhà thơ hải ngoại».(Những nhà thơ đã tạ thế: Nhà thơ Hồ Trọng Khôi, Nhà thơ Song Thái Phạm Công Huyền, hưởng thọ 101 tuổi. Nhà thơ Khuê Trai Vũ Quốc Thúc, hưởng thọ 101 tuổi. Nhà thơ Vân Uyên Nguyễn Văn Ái, hưởng thọ 95 tuổi. Nhà thơ Phương Du Nguyễn Bá Hậu, hưởng thọ 95 tuổi. Nhà thơ Hương Giang Thái Văn Kiểm, hưởng thọ 93 tuổi.)

Nhà Thơ Dương Huệ Anh Gặp gỡ Bằng Hữu Paris:
Vào ngày 25 03 2003, một buổi sinh hoạt văn học nghệ những người hiện diện: Nhà thơ Dương Huệ Anh từ miền Cali nắng ấm đến Paris, nhà văn Hồ Trường An từ Troyes lên, nhà văn Võ Đức Trung từ Lille đến, cùng các văn thi hũu Paris: Học giả Võ Thu Tịnh, nhà thần học Nguyễn Tấn Phước, nhà thơ Vân Uyên GS Nguyễn Văn Ái, nhà thơ Phương Du BS Nguyễn Bá Hậu, GS Phạm Đình Liên, GS Nguyễn Thị Minh Cầm, Nữ sĩ Minh Châu GS Thái Hạc Oanh, nữ sĩ Quỳnh Liên, nhà thơ nữ Thụy Khanh, nhà thơ nữ Hà Lan Phương, nhà văn Trần Đại Sỹ, nhạc sĩ Xuân Lôi, nhạc sĩ, GS Lê Mộng Nguyên, nhạc sĩ Trịnh Hưng, nhạc sĩ Trong Lễ ,họa sĩ René, Họa sĩ Nguyễn Đức Tăng, nhà báo, GS Nguyễn Bảo Hưng, nhà báo Song Nguyễn GS Nguyễn Ngọc Chân, Nữ điêu khắc gia Đặng Vũ Anh Trần, nữ điêu khắc gia Vương Thu Thủy, đạo diễn Trần Song Thu, dịch giả Liều Phong, BS Thân Trọng Kỳ, BS Nguyễn Bá Linh, Nhà thơ Đỗ Bình, nghệ sĩ Linh Chi, Nghệ sĩ Thúy Hằng….VV……..

Mở đầu chương trình, Nhà thơ Đỗ Bình giới thiệu vài nét về nhà thơ Dương Huệ Anh:«Cụ Dương Huệ Anh là một con người đa tài. Ông tốt nghiệp trường Đại Học Quốc Gia Hành Chánh và là cựu công chức cao cấp của Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Vì tâm hồn đa cảm ông thích thơ văn, âm nhạc và nghiên cứu văn học hơn là sự phấn đấu tiến thân trong sự nghiệp quan trường. Ông là Nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo, nhà soạn nhạc. Từng là cựu Chủ tịch Thi Đàn Lạc Việt ở San Jose, miền Bắc Cali nơi quy tụ rất nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng mà chúng ta đã từng đón tiếp những vị đó khi sang thăm Paris, như nhà thơ Yên Bình, nhà thơ nữ Nguyễn Phan Ngọc An, nhà thơ nữ Hoàng Xuyên Anh, nhà thơ nữ Ngọc Bích, nhà thơ nữ Sương Mai. Trong thi đàn Lạc Việt có những vị liên lạc trao đổi thơ với chúng ta như Nữ sĩ Trùng Quang ,(Hội thơ Trúc Liên, Quỳnh Dao ), nữ sĩ Đinh Thị Việt Liên( Hội thơ Thi Lâm Hợp Thái,Thi Đàn Quỳnh Dao 1962 – 1975), thi sĩ Hà Thượng Nhân, thi sĩ Trình Xuyên , thi sĩ Hàn Nhân… .

Nhà thơ Dương Huệ Anh:
“ Kính thưa qúy vị, cảm ơn qúy vị đã không quản thì giờ, đường xa cho chúng tôi gặp mặt ngày hôm nay. Thú thật, đối với qúy vị về văn thơ tôi là người đi sau mặc dầu tuổi tác thì có thể nhiều hơn một số người. Tôi xin đề nghị xin đừng gọi chữ cụ nghe nó già quá mà chính tôi cũng không muốn già, vì già khó làm thơ lắm không còn thơ thẩn được ! Do đó xin đề nghị mình cứ coi nhau như văn thi hữu anh em nó sảng khoái tự do hơn. Xin phép được giới thiệu về sinh hoạt của chúng tôi:Thi Đàn Lạc Việt được thành lập năm 1992 với hình thức hết sức khiêm tốn khởi đi từ nhóm thơ, chủ trương: Bảo tồn và phát huy văn học nghệ thuật VN ở hải ngoại. Qua 1993 thành lập thành Thi Đàn bên cạnh đó chúng tôi thành lập thêm Cơ Sở Văn Học Nghệ Thuật vì quan miệm rằng thơ phải có bộ môn diễn ngâm đi theo dù rằng tự thơ nó có nhạc rồi nhưng để chuyên chở đi xa cần có bộ môn nhạc. Mặc dù có những hạn chế về sức khỏe, phương tiện nhưng chúng tôi cũng cố gắng đóng góp cho văn học về phương diện thơ cơ sở đã xuất được 8 tập, trung bình mỗi năm là một tuyển tập. Ngoài ra chúng tôi còn xuất bản một tuyển tập văn Xuân Thu không định kỳ, khi nào có tiền thì chúng tôi ra. Đây là một tuyển tập được chăm sóc kỹ, nhưng sau khi ra được hai số phải đổi thành tam cá nguyệt nhưng cũng không liên tục vì nhiều khó khăn tài chánh. Sự tự lực của chúng tôi không đủ nuôi dưỡng tuyển tập, do đó cuối cùng đành phải ra định kỳ vài năm ra một bản !Nói về phương diện cá nhân thì có nhiều anh chị em có nhiều sáng tác rất đáng kể. Xin cho phép tôi được trình bày những đóng góp của cá nhân : Năm 1955 in tác phẩm Thơ Xanh rồi ngưng dù vẫn sáng tác, mãi đến năm 1990 bắt đầu lại và đã xuất bản khoảng 10 tập thơ. Sau những thi tập đó tôi sản xuất khá nhiều nên gom 4,5 tập vào nhau. Vì thế năm 1997 in 6 tập vào nhau lấy tên Tổng Tập 1 gồm 6 thi tập: Gót Ngọc Quan Âm Lấm Bụi Trần ,(thơ đạo), Thương Cả Trăm Hoa, Hai Mươi Năm Lưu Vong, Ba Mươi Năm trước, Thơ Hồng.”

Nhà thơ Vân Uyên, GS Nguyễn Văn Ái bỗng hỏi:“ Bao giờ thì có thơ Tím ?”Nhà thơ, nhà văn Dương Huệ Anh:“ Sắp có rồi, tôi chỉ không có thơ màu đỏ thôi, trong tương lai chúng tôi sẽ có đủ các thứ màu.”Dương Huệ Anh nói tiếp:“Sau đó tôi chuyển sang văn vì ai cũng khuyên là thơ nhiều quá rồi không có ai đọc đâu!”Hồ Trường An:“Ai Nói Vậy? ”Dương Huệ Anh:“ Một nữ sĩ ở Cali nói với tôi: Ông in Thơ dày quá không ai đọc!”Dương Huệ Anh:“Tôi in thế này tước hết để cho tôi đáp ứng được phần tài chánh của tôi. Sau đó tôi chuển qua văn, Truyện ký thì đúng hơn vì dựa vào chuyện có phần tôi trong đó. Tôi tôi đặt tên là Những Cánh Thư Hồng dày khoảng 500 trang. Như qúy vị đã biết biển văn học nó mênh mông lắm nên tôi chuyển sang giới thiệu tác giả giới thiệu các nhà thơ khoảng 100 nhà thơ in năm 2001”Đỗ Bình:“Xin các bậc trưởng thượng cho biết, thế nào là một tác phẩm hay, tác phẩm đó dựa theo tiêu chuẩn nào để đánh giá ?”Dương Huệ Anh:“Nói là giới thiệu tác giả, tôi không làm công việc phê bình mà chỉ viết theo lối tản mạn về văn học, bởi vì nói ngbiêm túc quá ít người đọc, mà có lẽ mìnhcũng không đủ sức chưa đủ thì giờ chưa đủ khả năng nên tôi chọn thể loại này. Nhưng khi ra sách cũng có nhiều người phê bình lắm vì họ cho rằng đây là một biên khảo văn học. Anh em không hiểu, lhông đọc kỹ lời trần tình của mình ban đầu! Nên họ cho là biên khảo văn học có lẽ đối với họ là đứng , nhưng đối với tác giả hơi oan vì mình không chủ trương như vậy mà chỉ là tản mạn văn học!”GS Lê Mộng Nguyên:“Cuốn phê bình văn học Thi Nhân VN của Hoài Thanh Hoài Chân chẳng hạn ? ”Nhà thơ Dương Huệ Anh:“Vâng, đúng thế. Chúng tôi rất thành thật xin qúy vị chỉ giáo, tôi nghĩ rằng mình không thể biết hết được dù mình sống tới trăm tuổi. Xin qúy vị chỉ những khuyết điểm chúng tôi xin sẵn sàng thụ lãnh. Xong cuốn này anh em phê bình dữ lắm nhưng cũng có nhiều người khem và vài người ta không tán thành ! Sau cái này chúng tôi nghỉ và chuyển qua một cái khác, tôi hơi tham vọng mà cái tham vọng đó không phải là cái xấu không đáng kết án, nó không phải là cái tội. Tôi nghĩ có nhiều khía cạnh quá cái nào mình cũng muốn đi sâu vào xem mới biết mới hiểu được. Sau đó tôi viết cuốn : Vài Nhà Thơ Việt Thế Kỷ Hai Mươi, trong tập chúng tôi viết không phân biệt trong nước ngoài nước, Bắc Nam, tuy nhiên mình phải tránh những gì gây xúc động với độc giả. Nhưng khi đem in gặp nhiều khó khăn vì phải tự lực cánh sinh ! Tôi xin phép được dừng ở đây nếi qúy vị có muốn sáng tỏ điều gì tôi xin thưa . xin cảm ơn qúy vị.”Đỗ Bình:“Theo tôi, viết về những tâm hồn phụng sự cái đẹp của người nào đó đã lao tâm lao trí trên con đường văn học nghệ thuật là việc làm đáng khen. Trong lãnh vực phê bình văn học ở hải ngoại hiện nay còn hiếm vì rất ít người chịu dấn thân làm công việc này, người am tường văn học thì già yếu, dần dần ra đi; còn lớp trẻ dù có bằng cấp cao nhưng lại am tường văn hóa xứ người! Do đó người làm công việc phê bình rất qúy vì nhờ họ đã khám phá ra những điều ẩn chứa trong tác phẩm để giới thiệu đến công chúng những chân dung của những người sáng tác. Đánh giá một tác phẩm tùy theo trình độ của người đọc và còn phải đợi thời gian, nhưng hiện tại vẫn cần những người điểm sách, giới thiệu khái quát về nội dung lẫn hình thức để giúp bạn đọc đi vào trọng tâm đỡ mất thời gian.”Và sau đây tôi xin trân trọng giới thiệu đến qúy vị nhà văn Hồ Trường An : Tác giả gần 50 đầu sách về trường thiên tiểu thuyết, tiểu thuyết,và biên khảo, phê bình.”

Nhà văn Hồ Trường An:“Thưa các bậc niên trưởng, và qúy văn hữu:Tôi làm văn nghệ tùy vào cảm hứng vui đâu chuốc đó chứ không nhất định cái gì, nếu cảm thấy hứng là làm. Cần phê bình là phê bình, khi tôi viết về biên khảo không phải là viết toàn sự nghiệp văn học của tác giả nào, mà viết từng cuốn chứ không dám ôm đồm. Nếu có cảm hứng làm thơ thì làm những bài thơ Đường, vui đâu chuốc đó. Tôi có một đức tính: Nếu ai khen thì cũng mừng, còn ai chê thì cũng rán chịu trận chứ không một lời nào đính chính trên báo hết. Bởi càng đính chính thì càng làm cho người ta làm dữ !…. Do đó ai chê tôi thì chê ; ai khen thì mừng tôi không có một phản ứng, thật ra tôi không có buồn, mình làm một món ngon người này ăn thì khen người kia ăn thì chê, kẻ thích mì người thích hủ tíu, còn có người ăn mì ăn hủ tíu nhiều quá lại thích ăn bún riêu. Qúy vị đã đọc qua cuốn biên khảo Thập Thúy Tầm Phương thì cuốn biên khảo thứ tư Tôi đang viết cuốn:Tập Diễn Ngưng Huy trong đó có hai người hiện diện ở đây là anh Võ Đức trung và chị Thụy Khanh: Tôi xin giải thích cái tựa sách: Tập: kết tập, Diễm là đẹp, Ngưng là ngưng lại, Huy là ánh sáng, ánh sáng ngưng đọnglại tôi rút ra từ Hồng Lâu Mộng chứ không phải do tôi đặt. Tóm lại tôi không có chủ trương gì lớn lao, tôi không có tham vọng. Xin dứt lời.”

Đỗ Bình giới thiệu vài nét về nhà văn Võ Đức Trung: “Tác giả nhiều tập truyện, biên khảo. Là một người khiêm tốn giữ được phẩm chất của một cựu giáo chức. Là người chủ xướng thực hiện cuốn Một Phần Tư Thế Kỷ Thi Ca VN Hải Ngoại gồm những bài thơ đắc ý của nhiều tác giả có chung một hoàn cảnh ly hương trong số các nhà thơ hải ngoại. Thời gian chúng tôi chuẩn bị cho thi tập mất 2 năm, khi đua ra thảo luận tại nhà tôi lúc đó gồm: Nữ sĩ Nguyễn Thị Vinh, nhà văn Nguyễn Hũu Nhật, nhà văn Võ Đức Trung và tôi, trong thảo luận thì được biết cái Tựa sách này đã được các nhà thơ Diên Nghị, Song Nhị , Duy Năng ở Cali đã chọn từ lâu và sắp in, họ muốn thực hiện một tập văn học ghi dấu một giai đoạn đời 25 năm xa xứ. Sau đó tôi đã liên lạc với các nhà thơ trên để giải thích sự việc của chúng tôi và đề nghị họ chọn một cái tựa khác. Khoảng một tuần sau họ trả lời là đồng ý, và đã chọn cái tựa khác cho tuyển tập là : Lưu Dân Thi Thoại, hay25 Năm Bút Luận do Cội Nguồn xuất bản.Nhà văn Võ Đức Trung phát biểu:“ Nhận được phôn của anh Đỗ Bình mời tôi nghĩ là lên Paris họp bạn văn nghệ như mọi khi, nhưng khi xem lại thư mời tôi thấy quan trọng quá nên lấy làm ái ngại ! Tôi ở tỉnh lẻ, thỉnh thoảng mới về Paris sinh hoạt sợ phát biểu sẽ trở ngại , hơn nữa như anh Đỗ Bình và Hồ Trường An biết; tôi viết văn về đồng quê mộc mạc nếu có gì sơ xuất mong các anh chị thứ lỗi cho. Tôi xin tâm tình tại sao tôi lại có ý định thực hiện cuốn Một PhầnTtưThế Kkỷ Thi Ca Hải Ngoại. Kể từ sau biến cố năm 1975 mọi người ồ ạt bỏ nước ra đi, dòng thi ca lúc đầu gần như tan tác, cho đến đầu thập niên 80 thì khởi sắc vì số ít nhà thơ vượt thoát ra ngoài được đã bắt đầu viết, hồn thơ còn nhiều tâm tư cảm xúc, nhưng đến cuối thập niên 80 thì bắt đầu có chiều hướng đi xuống vì đa số phải hội nhập với cuộc sống mới! May mắn thay là qua thập niên 90 có một số nhà thơ trong diện anh em H.O khi vừa đặt chân đến ơi định cư họ đã cầm bút lại, dòng thi ca lại dâng cao qua những bài thơ tố cáo sự đàn áp và nhà tù trongchế độ CS, chúng tôi muốn bảo tồn và lưu trữ những sự kiện đó qua thi ca nhưng khi bắt tay vào thực hiện mới biết muôn vàn khó khăn! Chúng tôi tiếp xúc 350 tác giả nhưng phải chọn lựa như thế nào khi cuốn sách chuẩn bị in chỉ giới thiệu có 24 tác giả mà không kêu sự đóng góp ? Cuốn 1 đã phát hành vào tháng 2 vừa rồi, chúng tôi nhận được thư, điện thư, và phôn đến chúc mừng và khích lệ, điều đó là một món quà tinh thần đối với chúng tôi trong công việc bảo tồn văn hóa VN nơi xứ người.”

Nhà thơ Đỗ Bình phát biểu:«Có một nữ sĩ bảo nên thận trọng khi đề cập đến lãnh vực tế nhị tác phẩm và tác giả. Nếu bài giới thiệu không đưa ra những điểm mạnh, độc đáo, thì bài viết đó chỉ là bài khen nhau có tính tâng bốc mà không phải là bài nhận xét, phê bình văn học nghệ thuật! Theo tôi, viết về một người nào, là viết về những tâm hồn của người đó đã bỏ bao tâm trí phụng sự Chân Thiên Mỹ trên con đường văn học nghệ thuật. Đó là việc làm đáng khen, mặc dù đánh giá một tác phẩm rất khó !Sự nhận xét còn tùy theo trình độ, khuynh hướng cảm quan của mỗi người viết, hơn nữa trình độ người đọc hôm nay rất cao. Tuy nhiên thời gian sẽ là thước đo, gạn lọc những điều không phải nghệ thuật, để chỉ còn lại chân gía trị đích thực của một tác phẩm đọng lại trong lòng người.. Nhưng dầu sao, bộ môn văn học & nghệ thuật luôn cần những người giới thiệu khái quát về nội dung lẫn hình thức một tác phẩm để giúp bạn đọc đi vào trọng tâm đỡ mất thời gian.”

Nữ sĩ Minh Châu Thái Hạc Oanh trước năm 1975 là giáo sư trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn, Bà còn là một họa sĩ có tranh triển lãm quốc tế. Tác giả nhiều thi tập và biên khảo:Nữ sĩ Minh Châu:« Có người bảo viết để khen nhau là tâng bốc mà không phải là phê bình văn học nghệ thuật ?»

Đỗ Bình:“Từ bao lâu nay người ta tranh cãi về những chuẩn mực trong văn học nghệ thuật giữa cái hay và cái dở. Trong khi đó thích hay không thích chỉ là chủ quan của người đọc. Tôi thấy hôm nay người làm thơ ngày càng nhiều, đó là điều đáng mừng vì tâm hồn thơ sẽ giúp cho đời thêm hoa, bớt đi sự cay đắng. Nhưng tiếc thay có những bài thơ đạt được cả tứ thơ lẫn cấu trúc thì không nổi tiếng, nhưng có bài chẳng phải là thơ lại được quảng cáo rầm rộ !”

Nữ sĩ Minh Châu:“Tại sao không phải là thơ, văn xuôi khác thơ ở điểm nào?”Đỗ Bình:“Một bài viết cẩu thả, viết cho lấy có, chỉ dựa vào thể tự do để gọi là “thơ” thì chưa chắc đã là một bài thơ, và cũng không thể gọi là văn xuôi? Thơ hiện đại và tự do rất gần gũi với văn xuôi, nhưng làm một bài thơ tự do, hay một bài thơ hiện đại rất khó ! Nhưng khi đã thành thơ thì bài đó sẽ đặc sắc và độc đáo. Theo tôi, một bài thơ hay phải bao gồm mỹ học và ý thơ.”Nhà báo, GS Nguyễn Bảo Hưng:“Văn xuôi là ngôn ngữ thực dụng của kinh nghiệm diễn giải bằng lý trí để mô tả hoặc giải thích một sự vật hay một ý niệm, thơ là một cảm xúc của tâm hồn được diễn tả bằng nghệ thuật.”

Trong lãnh vực phê bình văn học& nghệ thuật ở hải ngoại hiện nay còn hiếm những nhà lý luận phê bình văn học& nghệ thuật, vì rất ít người chịu dấn thân làm công việc này, người am tường văn học thì già yếu, dần dần ra đi; còn lớp trẻ dù có kiến thức rộng, bằng cấp cao nhưng lại am tường văn hóa xứ người! Do đó người làm công việc phê bình rất qúy vì nhờ họ đã khám phá ra những điều ẩn chứa trong tác phẩm để giới thiệu đến công chúng những chân dung của những người sáng tác. Đối với những nhà phê bình văn học, chức năng của họ là khám phá những cái hay cái đẹp và độc đáo trong tác phẩm. Nếu nhà phê bình không khách quan và đi ngoài các khuynh hướng chính trị, tôn giáo thì lời phê đó rất ảnh hưởng cho một tác giả và tác phẩm. Nhà phê bình Văn học với tinh thần khách quan lúc nhận xét một tác phẩm luôn đi tìm để khai phá cái hay, cái đẹp, cái sâu sắc của tác phẩm cùng cái sâu thẳm nơi tâm hồn tác giả, không phải để làm vừa lòng tác giả mà cốt để người đương thời cùng lịch sử văn học sau nầy thẩm định được nếp sống, nếp nghĩ của một thời. Do đó, người làm công viêc phê bình ít nhiều đều chịu trách nhiệm với lịch sử sau nầy. Vì thế, nhà phê bình văn học đứng đắn không khen hão, không chê bừa, không tâng bốc, cũng không cố tình hạ giá tác phẩm cùng tác giả do chủ quan của mình hay do tình cảm thân sơ, yêu ghét đối với tác giả. Công việc phê bình không là công việc dễ dàng vì có nhiều tác phẩm cùng tác giả vô cùng sâu sắc mà đọc không kỹ, khó tìm ra cái đẹp, cái nội dung sâu sắc đó. Do đó, người làm công việc phê bình luôn phải thận trọng, nghiền ngẫm, khám phá ra những nét đẹp ẩn tàng nơi tác phẩm vì đây không phải là công việc làm chơi, làm lấy có mà phải chịu trách nhiệm với lịch sử Văn học, Nghệ thuật. Thường thì tác giả nào cũng muốn được khen, được đề cao giá trị tác phẩm mình mà không để ý đến trách nhiệm lịch sử của nhà phê bình đối với Văn học, Nghệ thuật nên hoặc hân hoan với những lời khen «bốc đồng», vội vã hoặc buồn trách nhà phê bình không «tán dương» tác phẩm mình. Nhà phê bình còn có trách nhiệm khác nữa là khuyến khích, gây tin tưởng cho những tài năng ngày càng được phong phú để có những tác phẩm hay đẹp hơn trước. Khá nhiều trường hợp một tác giả lúc đầu chỉ sáng tác đôi tác phẩm bình thường nhưng do các nhà phê bình đúng đắn mà có được những sáng tác phẩm trổi vượt hơn trước rất nhiều. Vì chính những phê bình dù khen hay chê đã khiến tác giả chăm chút tác phẩm mình, học hỏi, đào sâu tâm thức và nghệ thuật để từ đó có những trước tác nổi bật so với trước. Dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa những nhà lý luận, phê bình dù có kiến thức uyên thâm, lý luận sắc bén, khám phá được cái hay cái đẹp, cái độc đáo trong tác phẩm nhưng lệch đường lối của đảng cũng không dám viết ra; mà chỉ dám viết những điều đảng đã chỉ đạo cho phép! Đối với những tác giả ngoài đảng, có những tác phẩm phản ánh xã hội mang tính phê phán, gây bất lợi cho đảng sẽ bị các «nhà văn hóa đảng» làm nhiệm vụ nhà phê bình, cực lực lên án trù dập tác giả và tác phẩm. Họ tìm những điểm tiêu cực, hoặc những điểm sơ xuất trong tác phẩm rồi phê phán gay gắt, nhằm hướng dẫn dư luận hiểu theo quan niệm của họ. Kết quả là số phận các văn nghệ sĩ cùng tác phẩm của họ bị ghép tội phản động ! Điển hình là vụ án thời Nhân Văn Giai Phẩm, và vụ Văn Hóa Đồi Trụy, thời kỳ sau năm 1975.

Nhạc sĩ Trịnh Hưng, tác giả những nhạc phẩm nổi tiếng một thời: Lối Về Xóm Nhỏ, Tôi Yêu…. :“Thưa Các Bậc trưởng thượng và qúy Anh Chị, cách nay vài tháng chúng ta có làm buổi Kỷ niệm 65 năm sinh hoạt văn học nghệ thuật của nhạc sĩ Xuân Lôi và cũng mừng lễ thượng thọ 85 tuổi để vinh danh người nghệ sĩ lão thành. Hôm đó thật đông, đầy đủ các khuôn mặt văn nghệ sĩ, điều đó nói lên được cái tình nghệ sĩ là chúng ta biết thương yêu và trân trọng nhau thì có khác nào những bài viết khen.”

Nhạc sĩ Xuân Lôi:(giải thưởng Quốc Gia với những ca khúc Tiếng Hát Quê Hương, Bài Hát Của Người Tự Do 1960 ở Miền Nam. Ca khúc nổi tiếng Nhạt nắng: “ xin chào các qúy vị tôi xin độc tấu Hạ Uy Cầm nhạc phẩm Xa Quê Hương điệu valse lente nhạc của Xuân Tiên, lời Đan Thọ viết ngày 28 05 1956.”

GS TS âm nhạc Quỳnh Hạnh (GS trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài gòn. Huy chuơng vàng Giải nhất giải Văn Học Nghệ Thuật toàn quốc do Phủ tổng thống VNCH trao tặng, Sài gòn 1974):“ Âm nhạc, ngoài sự thưởng ngoạn ra còn có giá tri về khoa học. Đó là Musicothérapie hay Phương Pháp Trị Bệnh Bằng Âm Nhạc. Thực vậy, bô môn trị bệnh này có từ thời Hy lạp cổ xưa, phối hợp với trị bệnh bằng suối nước nóng, mục đích làm êm dịu thần kinh và xua đuổi đi những sự lo âu, phiền nảo… Ở Châu Á cũng có cụ Khổng Phu Tử có nói trong Lễ Nhạc : Nhạc là để giáo hóa lòng người…Ngày nay qua những bài thuyết trình tại Đại Hoc Sorbonne, Đai Học Y Khoa de Paris, các Phân khoa Tâm Lý Học cũng gây được chú ý của người nghe, nhất là giới trẻ quá nhiều lo âu trong cuộc sống hằng ngày và củng để xả Stress..”

Nhà văn Trần Đại Sỹ, tác giả nhiều bộ trường thiên tiểu thuyết Dã Sử :“thật là một hân hạnh cho tôi được gặp qúy vị, nhất là một người tôi biết rằng hôm nay tôi sẽ gặp, là người mà tôi mắc nợ ngay từ lúc tôi học 6ième mà bây giờ tôi được đến để trả nợ đó là ông Lê Mộng Nguyên. Thưa qúy vị lúc đầu tiên tôi học nhạc là thày Hùng Lân đã đem bản Trăng Mờ Bên Suối dạy tôi. Hễ cứ nói đến ông Lê Mộng Nguyên dù ông có làm cả ngàn bản nhạc thì tôi cũng chỉ biết có Trăng Mờ Bên Suối. Hôm nay tôi có chút quà văn nghệ xin tặng lại hai bộ cuối cùng tiuểu thuyết lịch sử là bộ Nam Quốc Sơn Hà thuật lại chiến công Lý Thường Kiệt đánh sang Tống, Anh Hùng Đông A Dựng Cờ Bình Mông tức là giai đoạn 1đánh quân Mông Cổ lần thứ nhất, còn đánh Mông Cổ lần thứ hai chưa in xin tặng giáo sư.”

GS Lê Mộng Nguyên:“Xin cảm ơn anh Trần Đại Sỹ , tôi rất cxảm động không nói gì được.”

Nhà văn Võ Đức Trung:

“ Riêng về anh Lê Mộng Nguyên cái bài Trăng Mờ Bên Suối hay quá hay! Nói thiệt anh, cho dù anh có làm hằng trăm bài khác hay như vậy cũng không rung động được tôi nữa, là bởi vì bài Trăng Mờ Bên Suối khi tôi nghe lên là tôi nhớ đến thuở còn trẻ của tôi khi đi ngang nhũng dòng suối có nước chảy róc rách có những tảng đá tôi băng qua, lại thêm những vần trăng ở quê hương không thể nào quên được những thứ đó nó ngấm vào tâm hồn của tôi nên nghe bài hát có thể chảy nước mắt. ”Vài Nét Về Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên:Lê Mộng Nguyên sinh ngày 5 tháng 5 năm 1930, tại Phú XuânHuế. Lê Mộng Nguyên dùng tên thật cho hầu hết các sáng tác, đôi khi ông dùng một bút danh khác là Yên Hà hoặc Lan Đào. Ông là con trai áp út của một gia đình nho giáo, điền chủ ở tỉnh Thừa Thiên. Cha ông tên Lê Viết Mưu, mẹ là bà Hồ Thị Ngô. Ông bà có bảy người con, trong đó Lê Mộng Hoàng, anh của Lê Mộng Nguyên là một đạo diễn điện ảnh nổi tiếng.Lúc nhỏ, Lê Mộng Nguyên bắt đầu đi học ở trường làng Phú Xuân, rồi vào học trường Tiểu học (École Primaire) Chaigneau ở Huế. Sau đó ông thi tuyển vào trường trung học Khải Định và là một trong ba người đỗ đầu, được Chính phủ cấp học bổng. Ông học ở đó từ 1943 đến khi thi Tú tài năm 1950. Lê Mộng Nguyên làm thơ, nhạc và viết văn từ thuở nhỏ, lúc 9 tuổi khởi sự làm thơ và có nhiều bài được đăng trong nội san của trường trung học Khải Định với bút danh Yên Hà.Năm 15 tuổi, trong một cuộc thi Văn chương Học sinh trường Trung học, ông viết một bài về Phan Đình Phùng và đạt giải thưởng Hoàng Đế Bảo Đại, năm đó ông cũng sáng tác ca khúc đầu tay “Xuân Tươi” (dưới bút hiệu Lan Đào), được báo ‘’Quốc Gia’’ đăng trong ‘’Đặc San Mùa Xuân’’.

Năm 18 tuổi Lê Mộng Nguyên đã được cấp thẻ nhà báo, cộng tác cùng nhiều tờ báo khi đó: Phật Giáo Văn Tập, Quốc Gia, Việt Nam Tân Báo, Đường Mới. Năm 1950, sau khi tốt nghiệp Tú tài toàn phần tại Việt Nam, Lê Mộng Nguyên sang Pháp du học, được ông Nguyễn Khoa Nam bảo lãnh tại Paris[1]. Ban đầu ông muốn theo học hòa âm tại Trường âm nhạc Paris nhưng sau đó bỏ ý định, quay sang học luật tại Khoa luật và Khoa học Kinh tế Đại học Paris 1 Panthéon Sorbonne (Faculté de Droit et de Sciences Economiques).Năm 1954, Lê Mộng Nguyên tốt nghiệp Cử nhânLuật. Từ năm 1955 tới năm 1958, ông được mời làm tùy viên kinh tế và xã hội cạnh Tòa đại sứ Việt Nam tại Paris (Attaché économique et social près l’Ambassade du Vietnam à Paris) dưới quyền của đại sứ Việt Nam Phạm Duy Khiêm. Sau đó ông quay lại trường đại học và thi đậu cuộc thi để được hành nghề luật sư. Năm 1962, ông đậu Tiến sĩ quốc gia (Doctorat d’État) với ba bằng cao học về Droit public, Droit privé và Sciences Politiques. Sau khi thôi hành nghề luật sư, năm 1967, Lê Mộng Nguyên dạy luật Hiến pháp (Droit constitutionnel) và Khoa học Chính trị (Sciences politiques) tại trường Đại học thành phố Besançon, miền Đông nước Pháp. Năm 1985 ông quay lại Paris và giảng dạy tại Đại học Paris 8 Saint Denis đến khi về hưu năm 1997. Trong thời gian đó, ông cũng sáng tác nhiều ca khúc, nhưng không phổ biến. Tuy ít tham gia vào sinh hoạt của cộng đồng người Việt tại Pháp, nhưng ông cũng đã ký tên ủng hộ việc cứu trợ nạn thuyền nhânvượt biển. Sau khi về hưu, ông cộng tác với vài báo chí Việt tại hải ngoại, trong đó có nguyệt san Nghệ Thuật của nhạc sĩ Lê Dinh và Hồn Việt của ký giả Vương Huyền.Lê Mộng Nguyên thành hôn với Nicole Moulin, một phụ nữ người Pháp vào ngày 8 tháng 1 năm 1959. Trước đó hai năm, họ gặp nhau sau một cuộc biểu tình tại quận La Tinh Paris. Hai người không có con. Ông cũng chưa từng về lại Việt Nam từ khi đi du học năm 1950.Ngày 5 tháng 12 năm 1997, Lê Mộng Nguyên được bầu vào Hàn lâm Viện Khoa học Hải ngoại (Académie des Sciences d’Outre-Mer) của Pháp, thay thế cho Cựu Hoàng Bảo Đại. Người được bầu vào Hàn Lâm Viện này phải có những tác phẩm được xuất bản, những công trình nghiên cứu đáp ứng đường lối của hàn lâm viện trong công cuộc phát triển văn hóa, khoa học, kinh tế, kỹ thuật hay nhân loại của những quốc gia hải ngoại trong khối Pháp. Lê Mộng Nguyên là người Pháp gốc Việt đầu tiên được bầu làm hội viên chánh thức (membre titulaire), có thể được bầu làm chủ tịch Hàn Lâm Viện này và có quyền bầu để chọn người vào làm hội viên. Trước đó, đã có một số người Việt làm hội viên liên lạc (membre correspondant) như Phạm QuỳnhPhạm Duy Khiêm, Nguyễn Tiến Lãng; hội viên cộng tác (membre associé) Thái Văn Kiểm. Cựu Hoàng Bảo Đại cũng là hội viên chánh thức tự do (membre titulaire libre), có nghĩa là hội viên thực thụ không thuộc ban (section) nào cả nhưng có quyền bỏ phiếu hay tranh cử bất cứ chức vụ nào của Hàn Lâm Viện.
Nhà văn Trần Đại Sỹ:“Tôi xin trả nợ nguời đàn anh nhưng cũng ít gặp, tôi qúy ông lắm đó là ông GS,BS Nguyễn Văn Ái, đây là bộ Giảng Huấn Khoa Tình Dục bằng Y Học Trung Quốc (sexologie médicale Chinoise) bây giờ tôi viết sang tiếng việt, bản tiếng Tây thì chưa xong, bản tiếng Anh và Trung Hoa thì ra rồi. Đây gồm 3 quyển, thưa qúy vị: “Người ta cứ bảo sách “dâm thư”, nhưng đây là sách giáo khoa, xin tặng đàn anh, đáng lẽ tôi phải tặng ông Phương Du BS Nguyễn Bá Hậu nhưng ông Phương Du tu rồi sắp sửa thành linh mục đến nơi rồi. Thưa qúy vị mục đích của sách này là làm sao giữ được sức khỏe tăng tiến tuổi thọ, nhiệm vụ nó quan trọng như vậy, xin kính biếu đàn anh.”…..

Ở Pháp không nhiều nhà văn Việt Nam, nhưng lại có 3 nhà văn sáng tác trong hoàn cảnh đặc biệt rất khó khăn khi cầm bút, nhưng một đời yêu văn chương nên vẫn miệt mài viết. Người thứ nhất là: Cố Nhà văn An Khê, tên thật là Nguyễn Bính Thinh sinh 01.09.1923 tại làng Tân An, tỉnh Sa Đéc ; nhưng trưởng thành ở Rạch Giá Kiên Giang). Ông là một cây bút lâu năm trong nghề, gia nhập vào làng báo VN từ đầu năm 1950 cho đến ngày 30. 04. 1975, với các bút hiệu : Nguyễn Bính Long viết về gián điệp, Trương Thanh Vân viết về trinh thám. Năm 1952 ông vào quân đội và năm 1954 ông bị thương ở đèo An Khê hỏng cánh tay mặt. Từ đó ông lấy bút hiệu An Khê và gõ máy một tay để viết tiểu thuyết Dã Sử VN. Ông viết rất khỏe, viết tiểu thuyết đăng các báo hàng ngày cho các nhựt báo ở thủ đô. Năm 1966 ông là chủ nhiệm nhụt báo Miền Tây, là tờ báo đầu tiên của vùng. Sau biến cố năm Mậu Thân tờ báo đình bản. Trước năm 1975 ông cộng tác với các tạp chí : Đời Mới, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Tiếng Chuông, Buổi sáng, Công Nhân, Dân Tiến, Vận Hội mới, Tin Sớm, Tia Sáng, Quyết Tiến, Thời Báo, Cấp Tiến, Dân Chúng, Dân Nguyện, Tiến,… Đã viết khoảng 250 quyển tiểu thuyết, và đã in thành sách ở VN được 22 bộ. Ra hải ngoại vì tuổi tác và sức khỏe kém, nhất là cánh tay bị đau nhức nên ông chỉ viết được ít truyện ngắn cộng tác với một số báo ở hải ngoại như : Làng Văn, Tiểu Thuyết Nguyệt San, Văn Nghệ Tiền Phong, Viên Giác Ái Hữu và Ngày Mai. Năm 1993 Cơ sở Làng Văn (Canada) có giúp ông hoàn thành tác phẩm cuối đời cuốn hồi ký ngắn : Từ Khám Lớn Đến Côn Đảo.

Người thứ nhì là Cố nhà văn Duyên Anh phải viết bằng tay trái sau khi bị tai nạn! Nhà văn Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long, những bút hiệu khác là Thương Sinh, Mõ Báo…Ông sinh ngày 16 tháng 8 năm 1935 tại làng Tường An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Di cư vào Nam năm 1954, ông từng làm đủ nghề : dạy kèm, dạy nhạc..vv. Năm 1960, được sự nâng đỡ tận tình của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh bắt đầu sự nghiệp văn chương và nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay Hoa Thiên Lý. Tiếp theo đó là một loạt Thằng Côn, Thằng Vũ, Con Thúy…. ở thể loại lãng mạn đầy hoài niệm về thời kỳ ấu thơ tại quê hương miền Bắc. Sau đó ông trở thành một ký giảchủ bút, chủ báo, giám đốcnhà xuất bản. Duyên Anh đã cộng tác với hầu hết những tờ báo lớn ở miền Nam trước năm 1975 như: Xây Dựng, Sống, Chính Luận, Công Luận, Con Ong, Tuổi Ngọc…Những tác hẩm của Duyên Anh trước năm 1975 thường mang tính hiện thục xã hội, diễn tả những mảnh đời sống trong một góc khuất ở những con hẻm, những ngõ cùng nơi đô thị. Ngoài ra, ông cũng viết nhiều truyện ngắn và truyện dài cho thiếu nhi. Sau biến cố 30 tháng 4, 1975, cùng với Doãn Quốc SĩDương Nghiễm MậuNhã CaPhan Nhật NamThanh Tâm Tuyền…vv. Duyên Anh bị liệt danh là một trong 10 nghệ sĩ nêu danh là “Những Tên Biệt Kích của Chủ Nghĩa Thực Dân Mới Trên Mặt Trận Văn Hóa – Tư Tưởng” và tác phẩm bị cấm lưu hành. Duyên Anh bị bắt đi tù cải tạo Trong Chiến dịch bắt văn nghệ sĩ miền Nam tháng 4, 1976 của nhà cầm quyền CS ban hành, Duyên Anh cùng chung số phận với các văn nghệ sĩ khác đều bị bắt vào tù . Ông được ra tù tháng 11 năm 1981, sau đó ông vượt biên. Tháng 10 năm 1983 Duyên Anh sang định cư tại Pháp. Một số tác phẩm ông viết ở Hải ngoại mang tính phê phán chế độ độc tài CS VN, sách ông được dịch ra tiếng nước ngoài và dựng thành phim, như Đồi FanTa, Một Người Nga ở Sài Gòn. Thời gian này, ông còn làm thơ và soạn nhạc. Năm 1985, ông bắt đầu cộng tác với tờ Ngày Nay và trở thành một trong những cây bút trụ cột của báo này. Ngày 6 tháng 2 năm 1997, ông mất vì bệnh xơ gan tại ParisPháp, để lại hơn 100 tác phẩm.Người thứ ba là Nhà văn Hồ Trường An : Tác giả 80 đầu sách về trường thiên tiểu thuyết, tiểu thuyết,và biên khảo, phê bình. HồTrường An tên thật là Nguyễn Viết Quang, sinh năm 1938 ở Vĩnh Long. Tốt nghiệp khóa 26 trường Sĩ Quan Thủ Đức. Phục vụ tại Ban Thông Tin Báo Chí Quân Đoàn 2&3 cho tới tháng 4 năm 1975. Ông gia nhập làng báo từ thời còn là sinh viên trường Dược qua ngòi bút phóng viên kịch trường từ giũa thế kỷ trước. Thuở đó ông đã làm thơ nhưng khi vào quân đội ông chuyên về báo chí. Sau năm 1975 ra hải ngoại ông cộng tác với nhiều tạp chí, từng làm Tổng Thơ Ký các tập san Quê Mẹ, tập san Làng Văn. Sau khi rời Paris về cư ngụ ở tỉnh Troyes năm 1982, ông đã dành thì giờ chuyên về tiểu thuyết. Văn phong của ông mang chất miệt vườn Miền Nam, sâu sắc, thắm đầy tình người và tự quê hương.

Từ cuốn truyện dài Phấn Bướm ấn hành 1986 đến nay ông đã xuất bản được gần 80 tác phẩm thuộc nhiều thể loại gồm 22 truyện dài, 12 tập truyện ngắn, 22 tập biên khảo và 2 tập thơ : Thiên Đường Tìm Lại (2002), và Vườn Cau quê Ngoại (2003). N ăm 2009 ông bị tai biến mạch máu não nặng, toàn thân bất động, lúc đầu không nói được, và trí nhớ cũng quên! Sau một thời gian điều trị trí nhớ của ông được khôi phục và đã dần dần nói được dù rất khó khăn. Chưa lúc nào nhà văn Hồ trường An ham sống hơn lúc này, vì ông còn thiết tha đến văn chương, nặng nợ chữ nghĩa, vì có những mộng ước hoàn thành ! Do đó ông đã cố tập luyện để khắc phục bệnh tật, nhờ quá yêu văn học nghị lực đã giúp ông vượt qua những khó khăn để thực hiện được hai tác phẩm biên khảo chỉ gõ máy bằng một ngón tay, đó là cuốn Núi cao Vực Thẩm, viết về 9 vóc dáng văn học VN của Thế Kỷ 20, và cuốn : Ảnh Trường Kịch Giới, ký ức về điện ảnh VN. Mới đây chúng tôi đến thăm nhà văn Hồ Trường An. Anh Hồ Trường An vừa in xong thêm một tác phẩm thể loại phê bình văn học : «Trên Nẻo Đường Nắng Tới » Gío Văn xuất bản 2013, hiện nay anh có 60 tác phẩm. Mặc dù tuổi đã cao lại bệnh tật và ăn chay trường nên ốm hơn trước, nhưng tinh thần của anh rất sáng suốt. Anh ngồi trên xe lăn trước mặt lúc nào cũng là computeur, anh cặm cụi viết sách, như muốn chạy đua với thời gian. Anh gõ máy bằng một ngón tay còn xử dụng được , thế mà cũng thực hiện được 4 tác phẩm kể từ khi bị đột qụy. Mỗi cuốn khoảng 500 trang, thật là phi thường.

Ông giã từ cõi đời một cách đột ngột ngày 27 tháng 1 năm 2020 tại thành phố Troyes để thả hồn vào một giấc ngủ say. Ông đã rũ bỏ những buồn phiền nhân thế, những nỗi buồn nhớ quê mà suốt đời lưu vong ông chưa một lần trở lại. Giã từ chiếc xe lăn theo áng mây bồng bềnh bay về cõi miên viễn.

Đỗ BìnhParis 24 tháng 2 năm 2022

MẠC PHƯƠNG ĐÌNH:

Vào buổi chiều tối hôm qua, Thứ Sáu 25/2/2021, Lễ Cầu Siêu cho ông Dương Huệ Anh, một văn thi sĩ kỳ cựu của Văn học Hải ngoại vừa qua đời trong tuần trước tại tư gia thuộc thành phố San Jose, đã được tổ chức tại chùa An Lạc, toạ lạc trên đường San Fernando, San Jose CA 95133, với sự hiện diện tham dự của một số thành viên trong Hôi Văn thơ Lạc Việt- một cơ sở Văn học do chính ông Dương Huệ Anh sáng lập trước đây vài mươi năm – cùng một số thân hữu.
Sau đây là một vài hình ảnh chúng tôi đã ghi lại, xin được gửi đến Quý Vi, cùng Các Bạn Xa Gần như thay một lời Phân ưu đến Tang quyến,mà Quý Bạn chưa kịp chia xẻ

LỜI TRI ÂN CỦA NGHỆ SĨ KHÁNH HÀ:

Trước tiên tôi xin có lời cảm ơn đến hai người bạn trong văn nghệ lâu đời. Đó là thi sĩ Song linh và nhạc sĩ Lynh Phương đã báo tin cho tôi biết về sự ra đi của thi sĩ lão thành Dương Huệ Anh là người sáng lập Thi Văn Đàn Lạc Việt bây giờ là Văn Thơ Lạc Việt và tôi cũng xin chân thành cảm ơn ông Lê Văn Hải đã tổ chức buổi lễ cầu siêu cho bác Dương Huệ Anh tại chùa An Lạc để tôi có dịp góp lời cầu nguyện và chia buồn cùng tang quyến.

Sự ra đi của bác là sự mất mát lớn lao của thi đàn, là con chim đầu đàn trong giới văn học thi văn.  Một buổi lễ trang nghiêm với đông đảo thi văn hữu và người thân yêu của Bác, những lời đọc kinh cầu nguyện vang lên trong chánh điện nghe ngậm ngồi thương tiếc.  Đặc biệt trong buổi lễ này ông Lê Văn Hải người Chủ Tịch tiếp nối của Thi Đàn đã phát biểu lời cảm tưởng thương tiếc và hát bài “Kiếp Nhân Sinh” của ông rất cảm động, ông nói lý thuyết của Phật Giáo về sự hợp tâm hợp lực cầu nguyện của nhiều người, cầu siêu thoát cho người mất cũng sẽ được năng lượng hỗ trợ nghe kinh mà tĩnh tâm sáng suốt niệm Phật, hồn người mất sẽ đi theo về cảnh giới tốt hơn qua nghiệp lực của mình. Tôi rất kính nể ông Lê Văn Hải không phân biệt tôn giáo, ông là người Công Giáo mà hiểu thâm thúy về thuyết giáo của Đạo Phật như người Phật Tử thuần thành vậy.  Nhờ đến đây tôi được gặp lại các anh bạn Phạm Thái quen biết ngay ngày xưa đã hàng mấy chục năm không gặp và gặp các anh Luynh Phương, Nguyên Phương, Thi Cầm, Mạc Phương Đình, v.v… những người bạn lâu năm không gặp vì nạn dịch Covid.

Và cũng nhờ đến đây tôi mới biết Thi Văn Đàn Lạc Việt đã đổi mới, những cuộc tổ chức cộng đồng như ra mắt sách, trao giải thưởng hằng năm, những buổi họp văn nghệ, và tổ chức sinh nhật tập thể cho các anh chị em trong đoàn, ông Chủ Tịch Lê Văn Hải rất có tâm và vô cùng xứng đáng trong chức vụ của mình.

Hai thành viên trong ban biên tập Phương Hoa, Phạm Thái rất năng nổ, sốt sắng trong việc in ấn, và đăng tải bài vở rất nhanh, trình bày đẹp. Nhiều năm về trước Bác Dương Huệ Anh lúc ông còn là Chủ Tịch Thi Văn Đàn Lạc Việt cũng đã nhiều lần tâm sự, “Bác rất mong lớp trẻ tiếp tay để sự nghiệp thơ văn được mãi mãi trường tồn, bác rất cần sự giúp sức của giới trẻ trong công việc in ấn…” Giờ đây chắc bác vô cùng mãn nguyện, tâm thanh thản ra đi một cách rất bình yên, thơ thới, nhẹ nhàng.

Lời sau cùng con kính nguyện cầu hương hồn Bác Dương Huệ Anh sớm được siêu sinh về nơi cõi Phật và xin kính chia buồn cùng tang quyến, cũng không quên chúc mừng ông Chủ Tịch và các thành viên trong Văn Thơ Lạc Việt.  

Xin kính chúc sức khỏe an khang đến mọi người, các thi văn hữu xa gần, các nghệ sĩ, và các độc giả luôn an bình hạnh phúc.

Khánh Hà JS.




NỮ-SĨ VI KHUÊ – Lê Xuân Nhuận

NỮ-SĨ VI KHUÊ

TRỤ-SỞ Ðài Phát-Thanh Huế tọa-lạc ngay trên bờ Hữu-Ngạn của Sông Hương, cạnh mé Tây của đầu Cầu Trường-Tiền, đối-diện Đại-Khách-Sạn Morin bên kia Đường Lê-Lợi sát góc Đường Duy-Tân.

Thuở ấy, chưa có các Ðài cấp Tỉnh, Ðài Huế là Tiếng Nói chung của cả Miền Trung, nên máy phát rất mạnh (không thua Ðài Quốc-Gia và Ðài Pháp-Á [Radio France-Asie] của Pháp ở Sài-Gòn), nghe được cả ở Miền Bắc lẫn Miền Nam Việt-Nam.

Cả nước chưa có hệ-thống truyền-hình; cả Miền Trung chỉ có vài ba tờ nhật-báo ở Huế mà thời-sự thì dựa theo tin-tức-đọc-chậm của Ðài Sài-Gòn. Trong tình-hình đó, Ðài Huế là món ăn tinh-thần hằng ngày của đồng-bào Miền Trung, và của cả những người ở phiá Ngozi Tỉnh Thanh-Hoá và ở phiá trong Tỉnh Bình-Thuận mà có gốc-gác hoặc liên-hệ đời sống ở Miền Trung.

Ngoài những tiếng hát của các nam+nữ ca-sĩ mà một số về sau vào Sài-Gòn thì trở thành danh-ca của toàn-dân, giọng bình và ngâm thơ của các thi+kịch-sĩ tên-tuổi một thời, tiếng hát của các danh-ca quốc-tế trong các chương-trình nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, và giọng đọc xì-xồ của mấy người Pháp trong chương-trình vô-tuyến của Service d’Information, những ai đã từng nghe Ðài Huế cũng đều xác-nhận rằng người nữ-xướng-ngôn chính của Ðài này có một giọng đọc truyền-cảm vô-cùng. Giọng đọc của người con gái Huế ấy chẳng những dịu-dàng, ngọt-ngào, ấm-cúng, hấp-dẫn, mà còn trí-thức (vì không bao giờ vấp phạm lỗi-lầm khiến thính-giả khó chịu hoặc làm sai lạc ý-nghiã của câu văn).

Những người hiếu-kỳ đi ngang qua Ðài Huế thường để ý thấy có một thiếu-nữ be-bé xinh-xinh, cư-ngụ trong một căn phòng khiêm-tốn ở tầng trên của một buồng-kho bên hông trụ-sở Ðài. Một cầu thang nhiều bậc xi-măng từ mặt đất bắc lên cửa phòng làm cho căn phòng có vẻ cao hơn, khiến các thanh-niên ái-mộ đặt cho người-đẹp và căn phòng ấy cái mỹ-danh “nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu”.  

Ðó chính là cô xướng-ngôn nói trên.

Sau ngày hồi-cư vào đầu năm 1947, tôi thường đến Ðài Huế để góp phần vào các chương-trình kịch vô-tuyến hằng tuần, kể cả việc trình-bày một số kịch thơ dã-sử và xã-hội của tôi, trong đó nhạc-sĩ Trịnh Văn Ngân là một trong những cây ngâm tuyệt-vời.

Do đó, tôi quen biết “nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu”. Tên nàng là Trần Trinh Thuận, tức nữ-sĩ Vi Khuê, một biên-tập-viên chính-ngạch có giọng-nói-trời-cho nên kiêm luôn phần-vụ xướng-ngôn.

Tuy Vi-Khuê làm việc ở một cơ-quan thông-tin tuyên-truyền đậm màu chính-trị, nhưng những bài thơ của nàng hồi đó chỉ là tâm-tình của bạn gái ở lứa tuổi hai mươi, dễ thương như “con nai vàng ngơ-ngác, đạp trên lá vàng khô”.

*

Tôi thì lăn xả vào giữa tình-hình rối-ren cuả Quê Hương.

Dù đã từng bị giặc Pháp tù đày, tôi vẫn giao-du tuy không đồng-ý với Hồng Quang, chủ-nhiệm báo “Ý Dân”, là người chỉ chọn vũ-lực để chống chủ-nghiã thực-dân; và vẫn cộng-tác tuy không thuận-tình với Phạm Bá Nguyên, chủ-nhiệm báo “Công Lý,” là kẻ nhận Ðệ-Tứ thay cho Ðệ-Tam. Tôi lui+tới với Duy Sinh nhưng chưa yên tâm vì huyền-thoại văn-hoá điệp-báo của Nguyễn Bách Khoa. Tôi rất đau lòng vì đồng-bào đói khổ, nhưng chỉ hiệu-chính giùm thi-pháp chứ không tán-thành nội-dung khích-động giai-cấp đấu-tranh trong thi-tập “Tiếng Nói của Dân Nghèo” cuả Vân Sơn PMT [Phan Mỹ Trúc]. Tôi thân+thương Trụ Vũ và Quách Thoại nhưng không hợp tính với họ vì lối sống phóng-túng của hai nghệ-sĩ thân-nhân ấy của Vi Khuê. Tôi tiếp-xúc với tác-giả nhưng không khép mình trong triết-thuyết bi-quan trong “Con Thuyền Không Bến” cuả Nguyễn Vũ Ban. Tôi thả hồn lên cõi siêu-nhiên nhưng không bước vào nương nhờ Cửa Thiền trong “Không Bến Hạn” cuả Huyền Không.

Tôi ủng-hộ cả hai đường-lối phục-hồi độc-lập quốc-gia: công-nghiệp kháng-chiến vũ-trang chân-chính của người dân, và nỗ-lực ngoại-vận ôn-hoà của các chính-trị-gia không-cộng-sản trong lòng Thế-Giới Tự-Do.

Riêng ở phiá bên này lằn ranh, tôi nhận thấy Cựu-Hoàng Bảo Ðại thì quá yếu mềm mà Đế-Quốc Pháp thì còn luyến tiếc giấc mơ đô-hộ Việt Nam, nên viết cuốn truyện dã-sử “Trai Thời Loạn” để gửi gắm ý mình, và kết-quả là tôi bị cơ-quan An-Ninh Quốc-Gia bắt giam; sau nhờ có chính-khách Cao Văn Chiểu, Giám-Đốc Thông-Tin Lê Tảo, cùng nhiều nhân-sĩ khác, can-thiệp với Thủ-Hiến Phan Văn Giáo, tôi mới được thả ra.

Ðể tạo một thế đứng vững-vàng hơn, tôi thành-lập Thi+Văn Ðoàn “Xây-Dựng”, xuất-bản các tác-phẩm của mình và của các bạn từ Bắc chí Nam. Mới bắt đầu thì Nhất Hiên [Phan Nhật Hiến] bỏ theo Việt Minh, và nửa chừng thì Như Trị [Bùi Chánh Thời] cũng nhảy lên chiến-khu.

Tôi hướng về nền dân-chủ và lòng hào-hiệp cuả Hoa Kỳ như tia sáng ở cuối đường hầm.

*

Tháng 4 năm 1954, tôi vào phục-vụ tại Phòng 5 Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu với tư-cách văn-nghệ-sĩ & ký-giả bị/được động-viên chuyên-môn. Lê Ðình Thạch và Huy Vân thì kỳ-cựu, Tô Kiều Ngân gốc Nha Thông-Tin cũng đã thành quân-nhân. Tchya [Ðái Ðức Tuấn] và Nhất Lang thì được đồng-hoá sĩ-quan.

Ngoài việc viết bài cho báo “Tiếng Kèn”, cho các đơn-vị Võ-Trang Tuyên-Truyền ở tuyến đầu, và cho chính tôi đi vận-động trong dân-nhân, tôi còn là phóng-viên chiến-tranh và biên-tập-viên chính cuả Ðài “Tiếng Nói Quân Ðội” tại Miền Trung.

Do chương-trình phát-thanh này, mà tôi là giám-đốc, tôi mới đặt phòng-giấy ngay tại trụ-sở của Ðài Phát-Thanh Huế, và gặp mặt Vi Khuê thường-xuyên.

Thay chỗ nhạc-sĩ Anh Chương, tôi cử Lâm Tuyền làm Trưởng Ban Tân-Nhạc; nhưng rồi tôi làm lơ cho Lâm Tuyền đào-ngũ vì anh quá chán chuyện đời.

Tôi đưa Văn Giảng lên thay.

Hà Thanh mới bắt đầu vào nghề.

Những lần xe Jeep bị hư, tôi đạp xe-đạp qua chở Kim Tước từ cư-xá Nha Thông-Tin ở bên kia Cầu Trường-Tiền. Cặp Châu-Kỳ−Mộc-Lan của giới ca-nhạc, cũng như cặp Hoàng-Pha−Phương-Khanh của giới văn+thơ, cũng đã từng ở đây.

*

Rồi Thoả-Ước Geneva ra đời.

Trong hội-nghị quốc-tế ấy, có ba nhân-vật Việt-Nam đã được thế-giới chú ý hàng đầu: Cô Thiên-Hương, con gái của nhà văn Hồ Hữu Tường, là nữ ký-giả duy-nhất, nói được nhiều ngoại-ngữ và trẻ đẹp nhất trong giới truyền thông; Cụ Võ-Thành-Minh, một lão-thi-sĩ, từ Huế đến, đã bí-mật vượt hàng rào Cảnh-Sát Thụy-Sĩ vào cắm trại trên Bờ Hồ Leman trước hội-đường, tuyệt-thực thổi sáo nói lên nỗi lòng của người dân Việt-Nam mong-muốn Thống-Nhất và khao-khát Tự-Do; và Ông Nguyễn-Quốc-Ðịnh, Ngoại-Trưởng cầm đầu Phái-Ðoàn Quốc-Gia Việt-Nam của chính-phủ Bảo Ðại, đã từ-chức để khỏi ký tên vào văn-bản thừa-nhận việc đất nước bị qua-phân.

Thủ-Tướng Ngô Ðình Diệm cử Ông Trần-Văn-Ðỗ đến thay. Pháp và Việt-Minh thoả-thuận ngưng bắn, lấy vĩ-tuyến 17 ngang sông Bến Hai làm ranh-giới Bắc–Nam.

*

Ðại-Tá Trương Văn Xương, Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, thuộc cánh Tổng-Tham-Mưu-Trưởng là Trung-Tướng Nguyễn Văn Hinh [con của cựu Thủ-Tướng Nguyễn Văn Tâm, thân-Pháp], mở một chiến-dịch đưa quân từ Huế vào tiếp-thu các Tỉnh phiá trong. Theo chương-trình chính-thức thì Thủ-Tướng Diệm sẽ từ Sài-Gòn ra chủ-toạ lễ thiết-lập Chính-Quyền Quốc-Gia tại vùng đất mới lấy lại này. Theo kế-hoạch riêng của cặp Hinh+Xương thì Diệm, trên đường đi từ Huế vào Quảng-Ngãi, sẽ bị lính và dân dàn chào bằng tiếng hô “Đả Đảo” cùng với trứng thối và cà chua. Câu hỏi nổi bật là “Mười vé phi-cơ cho gia-đình họ Ngô, hay là mạng sống cuả cả trăm ngàn binh sĩ Quốc-Gia?” Các bức tường vẽ khẩu-hiệu đã được xây lên; và biểu-ngữ, bích-chương, cùng truyền-đơn liên-hệ đã được chuẩn-bị sẵn dọc đường rồi.

Phòng 5 Quân-Khu đương-nhiên đảm-trách công-tác Tác-Động Tinh-Thần này.

Thành-Phố Huế ngẫu-nhiên được chia thành hai trận-tuyến. Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu thì đóng trong Ðại-Nội, phiá Bắc của Sông Hương; nhà Ông Ngô-Ðình-Cẩn, trung-tâm quy-tụ cuả gia-đình Họ Ngô, thì nằm trên Xóm Phú-Cam, phiá Nam của Sông Hương. Bộ-phận “Tiếng Nói Quân-Ðội” của tôi lại đặt trụ-sở tại Ðài Huế, trên bờ phiá Nam. Ðể biểu-dương lực-lượng, Quân-Khu phái đến hai chiếc xe-tăng, án-ngữ hai bên sân, trước Ðài Phát-Thanh. Các chương-trình vô-tuyến dân-chính chỉ có nội-dung lập-lờ, thông-tin hàng-hai.

Ở Quảng-Ngãi, cán-bộ Việt Minh gài lại xúi giục dân-chúng phản-kháng lực-lượng tiếp-thu, vì thấy vẫn có Cố-Vấn Pháp trong hàng-ngũ Quốc-Gia; súng nổ, người chết; Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát xen vào.

Ðảng Cần-Lao, qua nhạc-sĩ Ngọc Linh, móc nối tôi.

Tôi không theo đảng-phái nào hết, nhưng quyết-định ủng-hộ Thủ-Tướng Diệm, với chủ-trương “Ðả Thực, Bài Phong, Diệt Cộng”, để được sự giúp-đỡ cuả Hoa-Kỳ. Quốc-gia giàu mạnh nhất thế-giới này đã dìu-dắt Tây-Ðức, nâng-nhấc Nhật-Bản, và cứu-vớt Ðại-Hàn. Trung-Tá Nguyễn Văn Bông, Tư-Lệnh Mặt Trận Nam–Ngãi, đã phát-biểu với Trung-Tá Nguyễn Văn Tố, Phó Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, trong khi Bông lái xe ra đón Tố vào:

– Mình cộng-tác với thằng giàu thì hẳn sướng hơn phục-vụ cho thằng nghèo!

Tôi thảo truyền-đơn, tài-liệu, viết bài tuyên-truyền cho chí-sĩ họ Ngô.

Bộ Tham-Mưu của Xương không tin-tưởng ở tôi. Họ lập hẳn một Ðài Phát-Thanh riêng, trong Thành-Nội― dân-chúng gọi là “Đài bí-mật”để tự mình phổ-biến lập-trường chống-Diệm và hô-hào dân-chúng nổi lên.

Không còn bị Cấp Trên ràng buộc, tôi công-khai dùng “Tiếng Nói Quân Ðội” để hậu-thuẫn cho Diệm và Hoa-Kỳ.

Hồi ấy, chỉ có một số trong giới Nho-học lớn-tuổi nghe danh Ông Ngô-Ðình-Khả, còn đa-số dân-chúng nói chung thì ít ai biết tên Ông Ngô-Ðình-Diệm, ngoại-trừ một nhóm trong giới Kitô-Giáo có đọc tờ báo “Tinh Thần” thời-gian gần đó.

Chương-trình phát-thanh của tôi có ảnh-hưởng rất lớn trong quần-chúng, vì làn sóng của Ðài Huế phát đi rất mạnh và xa, trong lúc “Ðài bí-mật” thì nhỏ và yếu, chỉ lẩn-quẩn vùng gần, lại khi-có khi-không.

Tôi đã lèo-lái để người dân xứ Huế, nghe Đài “của tôi” và trông thấy hai chiếc xe-tăng trấn đóng trước Ðài mà tưởng và tin là phe mạnh nhất trong Quân-Lực đã đứng hẳn qua phía Diệm, nên biệt-phái chiến-xa đến cho tôi để bảo-vệ Tiếng Nói của mình, chống lại phe yếu thế Hinh–Xương.

Toàn-quốc, nhất là Sài-Gòn, hướng về xứ Huế, gốc-gác của họ Ngô, lấy đó làm chỉ-dấu mà lên tinh-thần.

Từ đó, các phần-tử thân-Diệm mới dám đứng ra khỏi vòng giới-hạn của mình mà hoạt-động rộng-rãi trước mắt mọi người.

*

Trong những tháng ngày gay-cấn ấy, cứ mỗi lần từ các cuộc hành-quân hoặc từ các hoạt-vực bên ngoài trở về với phòng-giấy tại Ðài, tôi lại cảm thấy nhẹ-nhõm cả người, khi gặp mặt lại những nữ-nghệ-sĩ trẻ đẹp tươi vui, như bướm, như hoa, tô thắm cuộc đời. Trong vườn thanh+sắc ấy, Vi Khuê của giới thi+văn vẫn gần-gũi với tôi hơn các bạn bên giới cầm+ca. Nhưng “nàng bồ-câu” vẫn vô-tư-lự như mọi ngày, đâu biết đầu-óc tôi đã bỏng-rát những tính-toán mưu-mô, thân-xác tôi đã bầm-dập những gian-nan nguy-khốn, và chỉ trở về văn-phòng để thư-giãn cho những căng-thẳng thần-kinh.

*

Thủ-Tướng Ngô Đình Diệm thắng phe Hinh+Xương.

Hoa-Kỳ mở Phòng Thông-Tin tại Đại-Khách-Sạn Morin. Giám-Ðốc Thompson A. Grunwald là viên-chức dân-sự Mỹ đầu tiên đặt chân đến Miền Trung. Tôi tổ-chức dạy tiếng Anh trên Ðài, có Tôn Thất Ðát phụ-lực; tham-gia thường xuyên là Thompson, và bất-thường là bất-cứ người ngoại-quốc nào nói tiếng Anh mà tôi gặp được, bắt đầu từ Đại-Tá Richardson, Trưởng Phái-Ðoàn quân-sự Hoa-Kỳ T.R.I.M.

Lớp dạy tiếng Anh của tôi là lớp đầu tiên trong lịch-sử dạy tiếng Anh qua làn sóng truyền-thanh cho thính-giả Việt-Nam.

A picture containing text, indoor, person
Description automatically generated

Nguyễn Cửu Tú (Phó Giám-Đốc Đài), Thompson và Nhuận

Ðại-Tá Nguyễn Quang Hoành lên thay Trương Văn Xương, rồi vì bất-đồng chính-kiến nên lại nhường chỗ cho Thiếu-Tướng Lê Văn Nghiêm.

Ðại-Úy Ngô Văn Hùng thay thế nhạc-sĩ Ngọc Linh, làm Trưởng Phòng 5. Văn Giảng ra đi, tôi cử Lê Trọng Nguyễn lên thay. Nguyễn vừa dịch tài-liệu vừa sáng-tác nhạc; bên cạnh giai-phẩm “Nắng Chiều” là “Hoan-Hô Lê Thiếu-Tướng” theo lệnh của Hùng  (bắt chước “Hoan Hô Ngô Thủ-Tướng”). Ðể giúp Tôn Thất Ðậu chọn nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, tôi liên-lạc với hàng chục Toà Ðại-Sứ ở Sài-Gòn, viết lời mở đầu về nền âm-nhạc của mỗi nước, và đặc-tính của mỗi bản nhạc, để giới-thiệu trước khi trình-bày. Giáo-Sư Lê Hữu Mục có đến chơi đàn; nữ-sĩ Như Thu đến góp bài; thi-sĩ Hồ Ðình Phương đến ngâm thơ. Trình-bày “Mục Thi-Ca” của tôi là Trần Anh Tuấn, Ðinh Lợi, Lan Hương, và Tâm Thanh [Tôn Nữ Kim Ninh].

*

Ở các Tỉnh Cao-Nguyên và miền núi Tỉnh Quảng-Ngãi, phong-trào đòi tự-trị của người Thượng nổi lên. 

Chính-Quyền Diệm gom các phần-tử chủ chốt “Thượng Tự-Trị” về tập-trung ở đầu Cầu Nam-Giao. Một Nha Chiến-Tranh Tâm-Lý được lập nên, đặt trụ-sở ở đầu Cầu Phú-Cam. Đại-Úy Hùng kiêm-nhiệm Nha này. Tôi cũng kiêm thêm một số phần-vụ ở cơ-quan này, nên dời bàn-giấy đến đây.

Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu dời tổng-hành-dinh qua Hữu-Ngạn sông Hương.

Nước Việt-Nam Cộng-Hoà, với sự hậu-thuẫn của Hiệp-Chủng Quốc Hoa-Kỳ,  được Thế-Giới Tự-Do nhìn-nhận.

*

Trong những năm trẻ-trung của Nền Ðệ-Nhất Cộng-Hòa ấy, Liên-Xô, Hoa-Cộng, và Cộng-Sản Bắc-Việt, là những bên chủ-trương chia đôi đất nước Việt-Nam, chưa sẵn-sàng thực-hiện vũ-trang xâm-lược Miền Nam, mà Hoa-Kỳ thì viện-trợ tối-đa cả tinh-thần lẫn vật-chất cho con bài của mình và cái tiền-đồn mới lập này của họ ở Ðông Nam Á, nên tình-hình an-ninh khả-quan, chế-độ bắt đầu vững-vàng.

Thế là nhiều người liền tranh nhau mưu-quyền thủ-lợi riêng. Hầu hết chiến-công giữ nước, cũng như thành-tích dựng nước, được dùng để dâng lên Ngô Tổng-Thống, chỉ là những cử-chỉ qụy-lụy, những lời-lẽ tâng-bốc, những thái-độ tôn-thờ, dành cho toàn-thể gia-đình họ Ngô, được các tay+chân thân-tín của Cụ xét thấy êm tai đẹp mắt nên tường-trình lên mà thôi.

Ông Ngô-Ðình-Khôi, bào-huynh của Diệm, từ-trần đâu cả chục năm trước kia, không ai biết đến; nay dời mộ-phần thì có cả tá cấp-cao chức-lớn gây lộn nhau để giành làm Trưởng Nam danh-dự hầu-cận bên quan-tài; nhiều năm về sau, hễ nhắc đến ông, nhiều kẻ còn khóc-lóc thảm-thương. Ông Ngô-Ðình-Luyện làm đại-sứ tận bên nước Anh, người dân không hề thấy mặt, thế mà khi nhắc đến ổng thì ai nấy đều vẽ-vời ra vô-vàn tài-cao đức-trọng, để ngợi-ca cho vừa lòng thế-gia. Huống chi các “Cố Vấn” hùng-cứ trong nước mà uy-quyền có khi lấn át cả ông anh. Dù không muốn nhập-cuộc, đa-số vẫn phải nhắc đi nhai lại, để được yên thân, những sáo-ngữ đã thành công-thức chót lưỡi đầu môi: “Nhờ ơn Ngô Tổng-Thống và các bào-huynh, bào-đệ cuả Người!” Thế là lắm kẻ được đặc-cách tiến-chức thăng-quan.

Trung-Tướng Thái Quang Hoàng thay thế Thiếu-Tướng Lê Văn Nghiêm.

Nhà văn Bùi Tuân trở thành Dân-Biểu, không còn viết thuê xã-luận cho Ðài của tôi, mà diện lễ-phục lái xe-hơi di diễu khắp phố-phường. Nhạc-sĩ Ngô Ganh không còn lập-dị, mặc bộ com-lê may bằng dạ chăn đi dưới nắng hè, bên trong là chiếc áo ngủ cổ kiềng mà mỗi lần đi đâu thì chỉ cần gài thêm vào đó một cái cổ áo trắng có đính sẵn ca-vát là khỏi phải tốn thêm nguyên cả chiếc áo sơ-mi; bây giờ ảnh làm Quản-Ðốc Ðài, kiêm Ðại-Diện Nhân-Dân Miền Trung, ngồi chung dãy ghế danh-dự với Ðại-Biểu Chính-Phủ, Tư-Lệnh Quân-Khu, v.v… trong những buổi lễ công-cộng trên khán-đài Phu Văn Lâu.

Trong lúc đó, tôi bị cơ quan An-Ninh Quân-Ðội thẩm-vấn tới, điều-tra lui. Họ vin vào cớ tôi đã là Trưởng Ðài Quân-Ðội từ khi còn Hinh+Xương.

Một hôm, Tổng-Thống Diệm ra Huế và ở lại đêm. Sáng sau, tôi nghe hàng-xóm kháo chuyện với nhau: “May mà bắt được, chứ không thì quân khủng-bố đã ám-hại Tổng Thống đêm qua rồi!” Ðến sở, tôi hỏi Đại-Úy Ngô Văn Hùng thực/hư thế nào; ổng liền gọi điện-thoại cho An-Ninh Quân-Đội, và cơ-quan này đến bắt tôi. Truy-cứu mới biết: chính-quyền sở-tại và thân-tộc có tổ-chức nhiều vòng đai an-ninh xung quanh nhà-thờ Phú Cam, nơi Diệm đến tiếp-xúc với giáo-dân; có một nhân-viên chìm, thuộc vòng-đai trong, vì đến trễ nên bị chận soát ở vòng-đai ngoài; thấy y có vũ-khí giấu trong người, đồng-bào tưởng lầm là Việt Minh. Chỉ có thế thôi, nhưng vì Diệm đã được thần-thánh-hoá, nên câu hỏi của tôi, dù là để phối-kiểm với mục-đích dùng Đài Quân-Đội mà trấn-an dư-luận đồng-bào, cũng đã bị xem là một sự xúc-phạm tày trời.

Ngày xưa, phần lớn văn-nghệ-sĩ đều phục-vụ trong ngành truyền-thông, nên tôi đã từng mong được chuyển nghề qua làm việc trong cơ-quan Thông Tin, để được quần-chúng độc-giả khán+thính-giả trọng-vọng hơn. Bây giờ đã ở trong ngành Tác Ðộng Tinh Thần, dù của Quân Lực nhưng cũng là thông-tin tuyên-truyền, tôi mới thấy mặt trái của tấm huy-chương.

Lần đó, nhà bác-học Bửu Hội, thân-thích của Cựu-Hoàng Bảo Đại, nhân dịp từ Pháp về thăm nhà, đến nói chuyện về y-học với đồng-bào Huế tại Rạp Chiếu Bóng Morin. Một số văn+thi-sĩ tùng-sự tại Nha Thông-Tin Trung-Phần đã nêu lên nhiều câu hỏi về thời-sự, mục-đích là để gài Hội phải phát-ngôn ủng-hộ Diệm, hoặc ngược lại thì có bằng-chứng để dễ ra tay. Mặc dù Hội đã nhấn mạnh rằng ông không về Việt Nam với mục-đích chính-trị, và xin miễn đề-cập đến các vấn-đề ngoài phạm-vi y-học, đồng-thời số đông trong cử-tọa cũng đã huýt gió phản-đối những câu hỏi lạc-đề, nhưng nhà văn Ðỗ Tấn [Đỗ Tấn Xuân] vẫn trơ-tráo đứng dậy đặt thêm cho được vài câu hỏi nữa.

Bác-Sĩ Trần Văn Thọ, Tổng Giám-Ðốc Thông-Tin, mà còn tranh tài với Bác-Sĩ Trần Kim Tuyến (Giám-Ðốc Nha Nghiên-Cứu [tức cơ-quan Tình-Báo] thuộc Phủ Tổng-Thống), thảo nào mà nhà-văn này cũng không chịu lép vế các nhà-văn khác trong thành-tích bao vây những ai bị nghi là, bị cho là có thể đối-kháng chế-độ đương-quyền.

Một số nhà-thơ giành nhau chức-vụ lãnh-đạo ngành Thông-Tin, khởi đầu bằng địa-vị Chủ-Tịch Hội Văn-Nghệ-Sĩ & Ký-Giả Miền Trung.

Nhà-thơ Đỗ Tấn Xuân nhai lại cái bã Tố Hữu tán-tụng Staline, in hẳn cả một tập thơnhan đề “Mùa Hoa Sim Nở”trong đó có câu “Tiếng đầu lòng con gọi: Cụ Ngô!”

Họ sợ vướng tôi nên tìm cách loại tôi, lùng thu thi-tập “Ánh Trời Mai” của tôi, v.v…

Thế nhưng hầu hết các nam+nữ tân+cổ+nhạc thi+ca+kịch-sĩ cộng-tác với tôi thì chỉ thấy tôi là một nhà thơ trẻ trai, hiền-lành, hòa-đồng với họ trong từng bộ-môn, chứ không biết gì về những khó-khăn của tôi.

Họ cũng không quan-tâm gì đến mục-đích chính-trị của Ðài, mà lại đinh-ninh rằng trọng-tâm hoạt-động và lý-do cùng ý-nghĩa của sự hiện-diện của Ðài chỉ là phần diễn-ngâm ca-tấu giải-trí văn-nghệ mà họ cống-hiến cho số thính-giả gần xa ái-mộ họ mà thôi.

Vi Khuê thì trầm-lặng hơn họ và có một thế đứng riêng. Nàng không ca hát nhưng số khán+thính-giả địa-phương hằng ngày háo-hức đến xúm dán mũi vào cửa kính để xem tận mắt các nữ-danh-ca hát thật cũng như dượt bài, đều không bỏ lỡ cơ hội nhìn ngắm cô biên-tập-viên duyên-dáng của Ðài. Các người-đẹp trình-diễn thì chỉ xuất-hiện vào giờ có chương-trình liên-quan, còn Vi Khuê thì có mặt ở đó suốt ngày, để những lúc trở về Ðài tôi nhìn thấy nàng mà dịu-vợi ưu-tư…

*

Thế rồi tôi giã-từ quân-ngũ, rời khỏi Ðài, ra ngoài hoạt-động văn-nghệ nhiều hơn trong một môi-trường rộng-lớn và khoảng-khoát hơn.

Ngoài các nỗ-lực tích-cực trong Quân-Ðội và sau đó là trong ngành Cảnh-Sát Công-An, tôi còn hăng say dùng hoạt-động văn-nghệ riêng tư để góp phần xây-dựng và củng-cố chế-độ Ðệ-Nhất Cộng-Hoà, thí-dụ: viết báo, đi thuyết-trình trong Cảnh-Sát & Công-An và ngoài dân-chúng; sáng-tác và trình-diễn khắp nhiều Tỉnh vở kịch thơ “Gươm Chính-Nghiã” của tôi đề-cao Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm, kêu gọi sĩ-phu khắp nơi, đặc-biệt từ Miền Bắc, về với Chính-Nghiã Miền Nam; sáng-tác và xuất-bản tập thơ “Tuần Trăng Mật” vinh-danh tình yêu vợ+chồng, mà nguồn cảm-hứng sáng-tạo thì đi trước và sau đó lại phù-hợp với tinh-thần canh-tân trong Luật Gia-Ðình của Bà Ngô-Ðình Nhu…

Tôi giữ Mục “Vườn Thơ” trên tuần-báo “Rạng Ðông” của Lê Hữu Mục, họp làm đặc-san với Tôn Thất Dương Tiềm, xuất-bản thơ của các bạn gần+xa và của chính mình, kết-thân với các nhóm như Hồ Mộng Thiệp, Thanh Phượng, Anh Ðộ, Tô Như, và Quốc Dân… ở Ðà-Nẵng; đồng nhóm Xây-Dựng là Xuân Huyền, Tường Vi, Huyền Chi, Hoài Minh, Bàng Bá Lân, v.v… ở Sài-Gòn. Trong đó, tôi giữ mục “Hội Thơ” (do Hồ Đình Phương trung-gian) trên tuần-báo Văn-Nghệ Tiền-Phong của Hồ Anh, và có nhạc-sĩ Lê Mộng Bảo giúp phần ấn-loát & phát-hành sách và đặc-san.

Tôi tái-tổ-chức họp bạn hằng tuần; ngày xưa thì có Nhân Hậu, Vĩnh Thao, Hạnh Lang, Trúc Lang, Võ Ngọc Trác, Xuân Dưỡng, Giang Tuyền, Kiêm Minh, Lê Mộng Hoà, Nhân Nam, v.v…; bây giờ thì có Hoàng Hương Trang, Tuyết Lộc, Kim Lan, Nguyên Xuân Tứ, Hữu Ðỗ, Khang Lang, Hoài Tâm, Hương Thu, Xuân Nghị, Thanh Thuyền, Thế Viên, v.v…; có lần có cả Trần Minh Phú từ Hàng Me đến, Diên Nghị từ đơn-vị về, Hồ Ðình Phương từ Long-An ra…

Ðại-Hội Văn-Hoá Toàn-Quốc dưới thời Ðệ-Nhất Cộng-Hoà (khai-mạc ngày 11 tháng 1 năm 1957) đã đem lại cho tôi một phần thưởng tinh-thần: “Xây-Dựng” cuả tôi được nhìn-nhận là một cành của Cây Ða Văn-Hiến Việt-Nam.

Text
Description automatically generated

Trong thời-gian đó, Vi Khuê lên xe hoa. Và đôi uyên-ương đưa nhau lên xây tổ ấm trên đồi núi Ðà-Lạt sương mù, bỏ lại “chuồng bồ câu” trống lạnh như nỗi thiếu vắng trong lòng của những ai ai…

*

Sau khi bản-thân tôi gặp nhiều khó-khăn vì không chịu cải-đạo; sau khi người ta giết chết cả hai vợ+chồng thầu-khoán Nguyễn Văn Yến; sau khi người ta dùng ngay phòng họp là nơi tôi hướng-dẫn học-tập “Ðạo-Ðức của Ngô Tổng-Thống” cho các cấp chỉ-huy Cảnh-Sát Huế trong các buổi “học-tập Chính-Trị và Công-Dân Giáo-Dục” hằng tuần, để làm nơi tra khảo và giết chết thầu-khoán Nguyễn Ðắc Phương rồi ném xác xuống sân tri-hô là Phương nhảy lầu tự tử; sau khi nhận được vô-số bài-vở của anh+chị+em Cảnh-Sát Công-An gửi về tôi để xin đăng lên tờ nội-san “Phục Vụ” do tôi chủ-biên, nội-dung tố-cáo nhiều, quá nhiều, hành-động tham-lam, tàn-bạo, kể cả giết người, dựa quyền cuả ông Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn; v.v…

Do đó, tôi đã liều-lĩnh đứng lên công-khai nêu ra một số khuyết-điểm của chế-độ họ Ngô, trong một buổi học-tập tại cơ-quan vào ngày Lễ Hai Bà Trưng (3-3-1960).

Biến-cố này đã gây chấn-động cả Miền Trung.

Kết-qủa là tôi bị quản-thúc điều-tra ba tháng, gây tranh-cãi giữa hai ông Cố-Vấn Cẩn và Nhu…

Rồi tôi bị đày lên Cao Nguyên “vùng nước độc và nguy-hiểm” với bụi đỏ mù trời.

Đời sống chính-trị tạo thi-hứng cho tôi sáng-tác và đăng báo rời-rạc các bài thơ mà sau Cách-Mạng 1-11-1963 mới được gom lại ấn-hành thành tập “Với Thượng-Ðế”, tập thơ thứ bảy cuả mình.

*

Qua đến Ðệ-Nhị Cộng-Hoà, tôi cũng lại gặp rắc-rối, vì tôi công-khai phản-đối những sai trái, nhất là chiều-hướng quân-phiệt trong chế-độ Nguyễn Văn Thiệu, bằng một bức thư trần-tình gửi lên Cấp Trên**.

Sau cùng tôi được (hay bị?) đưa về lại Miền Trung để giải-quyết giùm (và tôi đã giải-quyết được) những khó-khăn nội-bộ tại vùng đất này mà trước đó Trung-Ương hầu như bó tay…

Giờ đây, tôi trở về Huế lại.

Ngồi trên ghế đá công-viên trước Ðài Phát-Thanh Huế, tôi nhắm mắt mường-tượng những gì đã xảy ra tại đây vào buổi tối 8-5-1963phản-ứng của giới Phật-Tử bị cấm treo cờ Phật-Giáo vào ngày lễ Phật, Phật-Giáo-Đồ tập-trung, chất nổ, người chết, sức mạnh quần-chúng…

Rồi lịch-sử đã sang trang…

Lắc đầu xua đi những ảnh-hình thế-sự, tôi thả hồn sống lại quãng đời thơ trẻ đã qua.

Những khuôn mặt cuả Huế một thời, mà tôi nhớ thêm: các nhà văn Bửu Kế, Phan Khoang…; các nhà thơ Phan Văn Dật, Nguyễn Anh, Tô Kiều Ngân…; nhà khảo-cứu Bửu Cầm; hoạ-sĩ Phi Hùng; nhà dựng kịch Lê Hữu Khải; các kịch-sĩ Vũ Ðức Duy, Vĩnh Phan, Minh Mão, Hà Nguyên Chi…; các nhạc-sĩ Nguyễn Hữu Ba, Lê Quang Nhạc, Ưng Lang, Hoàng Thi Thơ, Lê Tất Vịnh, Hoàng Nguyên…; các ca-sĩ Minh Trang, Thanh Nhạn, Tôn Thất Niệm, Ngọc Cẩm–Nguyễn Hữu Thiết, Bạch Yến, Thiện Nhân, Hương Việt, Diệu Hương…

Tôi không gặp lại Phương Như, Bằng Trình của Huế, Anh-Ðộ [Ðỗ Cẩm Khê] của Ðà-Nẵng, và mất liên-lạc với Huyền-Chi từ sau khi nàng lấy chồng. Trước đó, bóng người áo trắng Kiều-Ngọc đã vuột khỏi tầm tay tôi.

Nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ buổi hoàng-hôn ấy tôi lái xe Lambretta-2-bánh chở Trần Dạ Từ từ khách-sạn Khê-Ký lên Bến-Ngự để anh gặp Nhã Ca; và buổi sáng chủ-nhật kia Hy Văn Mộng đến nhà tôi chơi bị cháu nhỏ tè ướt cả quần khi anh bế nó lên hôn.

Có những bạn thân không còn, hoặc còn nhưng phai thân…

Nhưng Vi-Khuê thì vẫn còn là một người bạn thân. Cuả vợ+chồng chúng tôi.

Trong cuốn lưu-bút “Kỷ-Niệm Vàng” mà tôi giữ kỹ, bây giờ vẫn còn tờ giấy bạc “anh gánh dưa” một đồng mới toanh mà Vi-Khuê đã ký tặng mừng tuổi tôi vào dịp Tết năm nào.

Hình-ảnh ấy càng đậm nét khi nàng đưa Vân-Anh, cả hai phất-phơ tà áo màu qua cánh đồng An-Cựu vàng rực mùa lúa gie, đến thăm tôi vào thuở ban đầu, để rồi sau đó thì nàng làm chứng-nhân cho cuộc lễ thành-hôn của tôi với người bạn thân ấy của nàng.

*

Giờ đây Thành-Phố Huế đã bị giáng bậc xuống làm Thị-Xã, tước mấtngoại-trừ về phần văn-hóa và lịch-sử cái địa-vị thủ-phủ của Miền Trung; hoa-khôi Ðồng Khánh ngày càng hiếm-hoi; Ðài Huế xuống cấp làm Ðài Tỉnh nhỏ; các xướng-ngôn-viên và ca-sĩ chỉ gợi tiếc những giọng oanh vàng và hương sắc ngày xưa…

Ðệ-Nhất Cộng-Hoà thế kia, Ðệ-Nhị Cộng-Hoà thế này. Mỗi chế-độ có những vấn-đề khác nhau, nhưng đều giống nhau ở vận nước chông-chênh.

Liệu những biến-thiên của cuộc đời sẽ còn đem lại những đổi thay nào khác nữa cho Đồng-Bào, cho Quê-Hương?

Huế vẫn còn đây, Ðài Huế vẫn còn đây, và tôi trở về ngồi đây.

Nhưng tôi không còn tìm thấy lại được, sau mỗi chặng đườngcũng vẫn gian-nan một mình chống-chọi với ma-quỷ còn sót lại trong thời buổi mớisự thanh-thản, dù trong chốc-lát, cho tâm-hồn mình, như những ngày nào xa xôi…

LÊ XUÂN NHUẬN  




Xuân Khai

A vector frame featuring North American flowers: lilac, black eyed susan, mayflowers, mountain laurel and dogwood.




NÓI VỘI

NÓI VỘI
 
Anh đọc một bài thơ
Giữa đêm khuya thanh vắng 
Có chiếc lá huyền mơ 
Bay vào vùng quên lãng 
 
Nửa đời xa bè bạn
Anh hỏi gió heo may
Nửa đời xưa bom đạn 
Không nhớ hết tháng ngày
 
Em viết lời nhắc nhở 
Âm hưởng của tình yêu 
Đã đang rời quá khứ 
Mang đắm say đi theo
 
Nỗi mê si biền biệt 
Tan loãng sóng thời gian 
Ôi tình em bất diệt 
Muôn thu chẳng phai tàn …

CAO MỴ NHÂN (HNPD)




VĂN TẾ TƯỞNG NIỆM HAI BÀ TRƯNG

Hôm nay, nhân ngày Tưởng Niệm Nhị Vị Trưng Vương,

Chúng con xin Thành Tâm Kính Lạy :

ANH LINH NHỊ VỊ TRƯNG NỮ VƯƠNG

CÙNG CÁC DANH THẦN, DƯƠNG TƯỚNG,

LIỆT NỮ, ANH HÙNG THẾ HỆ NHỊ TRƯNG

HIỂN LINH CHỨNG GIÁM

Đạo Sống ngàn đời còn sáng tỏ

Muôn Dân vạn thuở tạc công ơn.

Nhị Trưng vì Nước quên thân ngọc

Một dạ sắt son cùng núi sông.

Đất Nước Trời Nam, kết tụ tinh hoa hiển lộ Anh Thư, ngàn năm vằng vặc gương Liệt Nữ,

Non Sông Hồng Lạc, hun đúc gan vàng lẫy lừng Nhi Nữ, muôn đời sáng chói đức Trưng Vương.

Uy linh còn thắm đượm

Danh tiếng vẫn ngát hương.

Vượt thời gian, ân đức thấm nhuần đến cành cây ngọn cỏ

Ngoài vòng định lượng, công ơn ghi tạc cùng sử sách lưu phương.

Nhớ xưa NHỊ VỊ ĐẠI VƯƠNG

Sinh trưởng chốn nho phong nền nếp, vốn dòng lương tướng,

Chuyên nghề canh cửi nông trang, dáng ngọc thiên hương.

Nhưng không may gặp buổi

Đất nước lâm cơn quốc nạn

Đồng bào thảm họa tai ương.

Phường xâm lược chủ trương hưng Hán diệt Di, ưa đồng ghét dị,

Giặc Bắc phương bày nhiều quỷ kế mưu sâu, thủ đoạn khôn lường.

Khát máu tanh lòng, túi tham không đáy, chúng vơ vét sạch sành sơn trạch,

Lòng lang dạ sói, mạnh được yếu thua, giặc san bằng lãnh thổ biên cương.

Bắt cống nạp sừng tê đá quý

Bày dâng hiến trai ngọc đinh hương.

Hãm hại nhân tài anh kiệt

Dập vùi ân đức hiền lương.

Tàn mạt đến côn trùng cây cỏ

Đảo lộn cả luân lý cương thường.

Căm giặc nước, sôi gan tím mật,

Hận thù nhà, lòng quặn đau thương.

Bởi vậy cho nên NHỊ VỊ phải

Liễu yếu đào tơ ra oai tỳ hổ, giục toàn dân giải thù cho Nước,

Khăn tang mài kiếm tỏ dạ kiên trinh, Chị cùng Em rửa hận cho chồng.

Chiêng trống vang rền, giục giã quân dân tướng sĩ quyết vùng lên trừ bạo,

Tuốt gươm vung dáo, quản bao máu lửa hiểm nguy thề tận diệt bạo cường.

Nhi Nữ mà yên cương rong ruổi, tỏ lộ gan vàng dạ sắt,

Anh Thư song gươm dáo xông pha, phô bày chí khí phi thường.

Sáu mươi ngả tiến quân, đánh tan tành giặc Hán,

Trăm nẻo đường vây kín, hãm thái thú họ Tô.

Trời PHONG CHÂU phất phới ngọn cờ tự chủ

Thành MÊ LINH rạng ngời nền bá nghiệp vương.

Ba năm GIAO CHÂU thịnh trị

Ngàn đời ÂU LẠC lưu phương.

Nào ngờ nước Nam chưa qua vận bể dâu

Giặc Hán chưa buông tham vọng

MÃ VIỆN vội vã lên đường.

Móng nền tự chủ còn non yếu

Khó ngăn bầy lang sói điên cuồng.

Tự cổ kim thịnh suy mấy độ

Trường đấu tranh thắng bại lẽ thường.

Tận trung với Nước, dòng SÔNG HÁT sóng gào, thương tiếc Anh Thư tuẩn tiết,

Hết dạ thương Dân, đất MÊ LINH rung chuyển, thấm ơn Liệt Nữ TRƯNG VƯƠNG.

Hơn một ngàn năm Ngài hằng linh hiển cứu Dân độ Nước,

Trải muôn vạn đời, toàn dân thành kính hương khói miếu đường.

Cột Đồng MÃ VIỆN tịch mịch, vùi sâu trong cát bụi,

Sóng xanh SÔNG HÁT uy linh, tỏa sáng khắp muôn phương.

Nước biếc non xanh phơi phới ân sâu nghĩa nặng,

Trời cao đất rộng lồng lộng uy đức Anh Hùng.

Chúng Con nay

Nhân ngày Thánh hóa

Dâng nén Tâm Hương

Hướng lòng tưởng niệm.

Ghi tạc Công Ơn

Cúi xin phù trợ

Cho Con Dân thoát đọa đày tan tác

Cho Đất Nước sớm Dân Chủ Phú Cường !

Uống nước nhớ nguồn

Nhân ngày Giỗ Thánh

Chúng con kính cẩn

Dâng tấc lòng thành.

THƯỢNG HƯỞNG !

********

                        (Võ Đại Tôn cúi đầu chấp bút)




TRUNG-TÁ HỒ ĐỨC NHỊ




Chùm Thơ Cao Mỵ Nhân

QUÊN BẴNG TÌNH NHAU

 

Anh đừng đợi em thứ sáu 

Cửa nhà thờ vắng chiên ngoan

Cha đang nghe nhạc hoà tấu 

Tập bài thánh ca mê hoang

 

Em nghe giọng mình mê đắm 

Lời tình thơ thật thanh cao

Lệ rơi cơ hồ ướt đẫm 

Khiến đôi gò má xanh xao

 

Chúa quên em đang sầu khổ

Buồn thương đôi mắt hững hờ 

Thánh kinh sao không nhắc nhở

Em đành thổ lộ vào thơ

 

Trang thơ cất trong Kinh thánh 

Kiếp này quên tới đời sau

Giọt sầu lung linh, lấp lánh 

Chúng mình quên bẵng tình nhau…

 

ĐI TRÊN BỜ MÊ

 

Em tỉnh giấc ba lần 

Đêm cuối mùa trời khô

Nhưng sao người ướt sũng 

Mồ hôi và lệ thơ

 

Giấc mơ dài liên tục

Thấy người chị qua đời 

Đã hai năm tiếng khóc 

Nín lặng nỗi buồn vơi

 

Đi trên một bờ sông

Bấp bênh viền đá tảng

Dòng nước chảy mịt mùng

Lỡ sa chân, rớt thẳm

 

Mơ rồi tỉnh lại mơ

Chị cùng em đi tiếp

Đoạn cuối hồn lửng lơ

Trên bờ mê khủng khiếp

 

Khi thức hẳn mê hoang

Chị rời xa cõi thế

Đầy lòng sợ kinh hoàng 

Mất hút trong mơ tan…

      CAO MỴ NHÂN 

 

BÊN BỜ SÔNG

 

Riverside

Thương nhớ hoài

Đôi bờ vắng

Ngày hẹn sai

 

Trên dòng sông

Sắc cầu vồng

Phai mầu áo

Giữa thinh không

 

Anh ở đâu

Tiếng chim sầu

Vừa rớt xuống

Đáy lòng sâu

 

Nơi hồn mưa

Năm tháng thừa

Thơ ướt át

Giấc tình trưa  …

 

CAO MỴ NHÂN

 

SÓNG DỘI CHÂN TƯỜNG

 

Người về cuối biển, đầu sông

Để tôi ở lại với mông mênh buồn 

Mùa xuân cũng bỏ đi luôn

Vội chi người hỡi, thả hồn lênh đênh

 

Mây đang cuộn khói bồng bềnh

Vòng tay tôi rỗng bóng hình lặng câm

Đầu sông, cuối biển trăm năm

Biết rồi , đừng nói thêm lần nữa nghe

 

Trùng dương sóng dội cận kề 

Chân tường vẳng vọng, thầm thì đắm say

Tình yêu không dừng nơi này 

Chúng mình không có một ngày bên nhau

 

Người về, hò hẹn kiếp sau

Thời gian dằng dặc, hơi đâu mà chờ 

Bao la biển gọi sông hồ 

Mình tôi ôm ấp hồn thơ não nề …

.

    CAO MỴ NHÂN 

 




ĐOẢN CA

CAO MỴ NHÂN 

Mới ra giêng có nửa tháng, mà sao đất trời cũ như đã cuối  năm. Mình ngồi sưởi nắng ở vườn sau, cái khuôn viên ” xơ xác điêu tàn vì ai ” của mình nó bỗng lạt phai như lâu lắm rồi không có ai chăm sóc cây cảnh. 

Mình thèm một chuyến đi chơi xa, hay là xa nhà, xem thử lòng dạ thế nào …

Ô hay, có ai động tới lòng dạ mình đâu mà muốn xem thử chứ, vẫn mông mênh thanh bình, tĩnh lặng…

Chỉ có một cách viết thư hay làm thơ tình là thú vị nhất, với một tác giả chuyên dệt mộng đan mơ như mình . 

Bèn bắt chước những bài thơ ngắn, đúng ra là những bài thơ nhỏ như người ta hay nói về thơ 3 câu của Nhật Bản, nào Hài cú hay Haiku, còn gọi Đoản ca tanku, số chữ và số câu ít thôi, nhưng phải đầy đủ ý nghĩa. 

Viết ngay đề tài Lạt Phai cho dễ ” lý luận ” .

Ta sẽ lạt phai nhau

Như hoa rơi sân trước

Hay lá rụng vườn sau

Anh sẽ lạt phai em 

Khi mùa xuân xa vắng 

 Em càng nhớ nhung thêm 

Thơ sẽ lạt phai anh

Em đâu còn hiện diện 

Cuộc tình đã mong manh 

Tới đoạn này thì chắc chắn anh lắc đầu rồi, đầu năm mà viết những lời thơ ” gở”, làm thơ cũng như những câu chúc tụng đầu năm, mới …khá được. 

Thí dụ : Chúc mừng năm mới, vạn sự tốt lành, thăng tiến mọi mặt … chẳng hạn . 

Thì có gì đâu, thơ cũng có thể đổi trắng thay đen như lòng dạ con người vậy.

Vì thơ là những câu nói gọn, được trau truốt văn hoa để tránh huỵch toẹt, nôm na thôi. 

Các nhà phê bình văn học, hay không cần ” nhà ” cho to chuyện, quý vị ” người ” nhặt cỏ cho vườn thơ sẽ bảo : 

Chỉ cần tác động làm sao cho ” đi vào lòng người ” trong đó bao gồm cả ý lẫn lời . 

Vậy tư tưởng ” lạt phai ” hinh thức đơn giản, đừng nặng phần trình diễn khuôn dáng bài thơ mang vẻ Haiku VN.

Trời sẽ lạt phai mây 

Nắng không vương nơi hẹn 

Trống rỗng một vòng tay 

Tưởng thế là đủ rồi, kết thúc bài haiku tập toạng của tôi được  rồi, bài thơ lấy bối cảnh nơi hẹn không có nhau nên nghĩ lạt phai, bài hoàn tất OK, dù phạm sai chính tả dùng ” lạt phai ” làm động từ gián tiếp, chứ chữ “sẽ” trợ động từ là chính, cũng đạt tầm xoàng, vui vẻ . 

Song, như trên tôi đã trình bày, mới ra Tết, tôi cũng hơi cữ tiếng ” lạt phai “, cần chút mầu sắc đậm đà cho hên chứ. 

Tất cả lạt phai thôi 

Riêng trái tim vĩnh cửu 

Tươi thắm mầu son bôi …

Bài đã 5 đoạn bình thường như các bài thơ đã thể hiện lâu nay, với mình chỉ 4,5 ” khổ thơ” tức đoạn, đã tạm thấy dài .

Bởi vì ngoại trừ danh tác “Đoạn Trường Tân Thanh ” của thi hào Nguyễn Du ra, gọi là dài nhất, mấy ngàn câu. 

Kế tới ” Đoạn Trường Vô Thanh ” của Thi sĩ một thời là thiền sư, thủa trước 1975 .

Thì thời nay, hiện tại ở hải ngoại này, có một dật sĩ tên Võ Thạnh Văn, đã viết xong ấn bản ” Kinh Vô Thường ” với 10,000 câu ( mười ngàn câu ) lục bát bay bướm hết biết . 

Tôi trộm nghĩ chắc chắn tôi chẳng bao giờ viết nổi 100 câu, chớ đừng nói tới 10 ngàn câu đến nỗi phải phân giai đoạn ra là: quyển thượng và quyển hạ.

Hay là 10 tập nhỏ gọi 10 tập Cát Bụi, mỗi tập 1000 câu ( một ngàn câu), chu choa mệt khẳm . 

Biết mình không có sở trường vậy, tôi đành chấp nhận thực tế, tức là chỉ giới hạn mình viết trong phạm vi vừa đủ sức mình thôi. 

Vả chăng, ” Đoạn Trường Tân Thanh ” cụ Nguyễn Du bày tỏ lập trường xã hội nhà Minh bên Tàu, để ám chỉ, gởi gấm tâm tư tình cảm cụ ” hoài Lê” trong đó. 

Thi sĩ Phạm Thiên Thư với “Đoạn Trường Vô Thanh ” không phản bác tình trạng xã hội thời ông lớn lên, trưởng thành nơi đạo tràng Pháp Hoa Saigon.

Ý nhà thơ họ Phạm muốn chứng tỏ lớp hậu sinh sau cụ Nguyễn, vẫn có thể viết lục bát hàng ngàn câu.

Nội dung tập thơ nêu trên, cũng vẫn xài các nhân vật của cụ Nguyễn Du, nhưng biến diễn thành xã hội VN kiểu Bắc kỳ quốc : các vai nữ mặc váy lĩnh, áo tứ thân, khăn mỏ quạ …

Đặc biệt hàng thần Từ Hải không còn là một anh hùng thảo khấu nữa, mà trở thành thiền sư nông dân. 

Cuối cùng, đang nơi cuộc sống này, ” Kinh Vô Thường ” của Võ Thạnh Văn lại vô hình, vô dạng, vô ngôn các nhân vật, chỉ có giọng nói mơ hồ của người dẫn truyện, tác giả độc thoại ngôn ngữ kinh, hoá cho nên khách viễn du cứ việc tán thưởng theo ý mình, khoảng khoát …

Trở lại tâm hồn lang bạt trong bát ngát không gian, tôi ngẫm nghĩ: e chỉ còn chút tình người lởn vởn, lan man giữa cát bụi mịt mờ…

Nhưng sao cái tình người ấy lại cứ còn vương vấn đó đây ? 

Lý do cái tình người vô hình, vô dạng, vô thanh nhưng không khi nào vô cảm cả. 

Không thể dùng vật dụng, vật chất nào đập vỡ nó được, nó, tình người cứ vĩnh cửu trong tâm tư…khiến chỉ còn cách cho nó phát ra ngôn ngữ, là các bộ môn văn học nghệ thuật, trong đó có thơ ngàn xưa, hôm nay và mãi mãi …

           CAO MỴ NHÂN 




Xin Hãy Yêu Anh




Mưa, Em Về | Phải Chi




Nhóm Mõ Nhân Ái Mang Không Khí Lễ Tình Yêu 2022 Đến Với Khách Không Nhà! (Homeless!)

Thứ Hai tới, ngày 14 tháng 2, là Ngày Lễ Tình Yêu. Lễ này ý nghĩa đã mở rộng, không chỉ dành riêng cho các đôi lứa đang yêu nhau, mà dành chung cho tất cả những người, mà mình thương mến.

Trong tinh thần coi những người Không Nhà như người trong Gia Đình. Sáng Thứ Năm vừa qua, trong bữa cơm phục vụ 2 ngày trong tuần. Sau khi Khách đã thưởng thức dĩa cơm cá, gà chiên nóng hổi, tô súp rau quả đầy chất lượng, ly trà, ly cà phê nóng buổi sáng xong. Người Homeless còn được hưởng không khí một sinh hoạt vui chơi độc đáo, mang nặng ý nghĩa tình tương thân tương ái, giữa con người với nhau của ngày lễ Valentine’s Day!

Khách không nhà lộ vẻ vui mừng thấy rõ trên từng khuôn mặt. Trước khi lãnh thực phẩm khô mang về, ai cũng được tặng thêm hộp kẹo Chocolate hình Trái Tim mầu đỏ! Biểu hiệu cho Tình Thương Mến Thương con người ngày Lễ. Vẫn chưa hết, vì vẫn còn trong không khí Xuân, nên ai cũng được lì xì thêm phong bì đỏ mừng tuổi ngày Tết. Nhiều Khách khi nhận lì xì, còn biết nói tiếng Việt không dấu “Chút mưng nam mơi!” rất thân thiện dễ thương.

Không khí trở lên sôi động thấy rõ, với 10 phần thưởng, cho tiết mục Xổ Số lấy hên. Vì mục này chơi nhiều lần, ai cũng biết người trúng, ngoài phần quà, còn có kèm theo một số tiền mặt! Nên ai cũng háo hức, cầu mong mình là người may mắn.

Một người trúng số, đã ôm anh Hải, tâm sự: “Chỉ có Nhóm Mõ Nhân Ái mới thương những người Homeless chúng tôi như thế. Không có nhóm nào có những tình cảm thân thiện như vậy cả. Mang cho chúng tôi, không bao giờ thiếu không khí vui mừng an ủi bất cứ ngày Lễ đặc biệt nào trong năm. Mà đâu phải một năm không thôi, kéo dài biết bao nhiêu năm nay. Chúng tôi rất vui sướng hạnh phúc. Thanks! Happy Valentine’s Day!”

Được biết, Nhóm Mõ Nhân Ái, là Nhóm vui buồn, sống chết với người Homeless bền bỉ nhất trong vùng. Trong tinh thần chỉ biết hăng say phụng sự, năm nay đánh dấu năm thứ 28! Điều đặc biệt hơn nữa, Nhóm không nhận bất cứ một cắc nào tài trợ từ chính phủ. Tất cả đoạn đường 28 năm, đi được là nhờ từ những tấm lòng giúp đỡ của Quý Ân Nhân. Có cái nhìn: “Máu của ai cũng có sắc đỏ, nên xoa dịu sự đau khổ, thì không phân biệt mầu da!”