Nhớ Về Một Nhơn Sĩ Miền Nam – Cố Tổng Thống Trần Văn Hương – MAI THANH TRUYẾT
Cố Tổng Thống Trần Văn Hương

Cố Tổng Thống Trần Văn Hương

Xuân Xưa
*
Xuân ấy em mười một
Anh cũng độ mười ba
Hai đứa ở gần nhà
Chỉ cách nhau con ngõ
*
Mồng một em áo đỏ
Đầu thắt chiếc nơ xanh
Tung tăng đi tìm anh
Đưa em đi hái lộc
*
Anh dìu em lên dốc
Chùa nhỏ ở trên cao
Anh hái em cành đào
Và cài hoa lên tóc
*
Trong chùa hương ngây ngất
Phật nhìn em mĩm cười
Dâng Phật cành hoa tươi
Cầu xin Ngài phù hộ
*
Bỗng dưng trời mưa đổ
Hai đứa chạy về nhà
Vội vàng em vấp ngã
Rơi mất cánh hoa cài
*
Dỗi hờn em khóc mãi
Anh dỗ dành không thôi
Bắt đền hoa cúc mới
Em lắc đầu không ưa
*
Xuân này nhớ Xuân xưa
Anh nay không còn nữa
Thương nhớ nói sao vừa
Chuyện những ngày thơ ấy…
*
phamphanlang

KHUNG TRỜI ĐẠI HỌC– TháiLan/ nữlan
Thương tặng các bạn cư xá Jeanne d’Arc & Xavier, của một thời vàng son yêu dấu…
&&&&&&
… Trường Đại Học Khoa Học. Năm Dự Bị . Có vài sinh hoạt liên lớp chung, biết được nhiều anh chị em sắp ra trường, hoặc mới vào năm thứ nhất…
-“Thiên An ơi, có thư nè.- Của ai vậy?- Còn ai trong khoai đất này nữa.”
Người bạn cùng lớp đưa tôi một tờ giấy học trò xếp thành cái súng,..Bữa ni thì là cây súng, có bữa thì cái hoa, hình trái tim, hình tam giác…
– “Cám ơn Trực nghe!” Tôi mỉm cười, không biết mình đang nghĩ gì?.. Người viết thư ở cùng phòng cư xá nam với Trực, 3, 4 lần/tuần nhờ chim xanh trao thư cho tôi…Tôi cố không dám nghĩ đến lá thư, vì hình như tôi cũng đã quen với những lời dễ thương trong ấy…câu…
“Anh có thể viết cho bé được không”… – “Bé thích hình nào?..”
Tôi nghiêm chỉnh nghe thầy giảng bài. Hôm nay là giờ học về Tâm lý của Tuổi Trẻ. Đây là một trong những môn quan trọng cho tất cả các sinh viên, làm người “Gõ đầu trẻ” **(1) tương lai, hoặc làm việc ở bất cứ nơi nào, những môn chính của sinh viên. Không thể “lọt danh sách” ở kỳ thi cuối năm được! Từ lớp tiểu học, tôi đã là một học sinh có hạng trong các lớp, nay không vì những chuyện “không nhỏ” ấy làm chi phối việc học tập của mình, Công Cha Nghĩa Mẹ Ơn Thầy thật bao la trời biển..
Sau buổi học, tôi và Lan Thanh, cô bạn thân nhiều năm nay, rảo bước về cư xá nữ sinh do các “sơ (soeurs) quản lý. Hai đứa ở chung phòng với Điểu, một cô bạn học Y Khoa , vì cô nàng giỏi những môn không phải là văn chương nên tính tình bộc trực như con trai. Lan Thanh thì hiền thục đoan trang, tôi thì ở giữa hai nàng, có lúc ngỗ nghịch, có lúc ít phá hơn, chỉ đôi khi trèo tường buổi sáng cùng với vài đứa nữa để chạy ra bờ sông bơi lội rồi về bằng cửa nhỏ mà các sơ để cho giáo dân vào xem lễ ở nhà nguyện nhỏ trong cư xá… đánh vũ cầu dưới sân rồi mới lên phòng sửa soạn đi học…
Ôi cái thời sinh viên thật đáng quý làm sao!
Thời trung học thì không dám đi mô hết, vì rất sợ không cầm được mảnh bằng Tú Tài… Bi chừ thì cũng phải cố gắng , nhưng cũng không đến nỗi lo nhiều như xưa… Với lại bi chừ thì mình cũng… hơi lớn rồi, tim cùng đập loạn xạ khi có đứa bạn khác phái ngồi sau lưng giả bộ mượn tập chép bài vì “Thầy nói nhanh quá, bạn ghi không kịp..” để vẽ bất cứ bức hình gì mà tôi rất thích, mà anh ta vẽ giỏi thiệt, trong vài chục phút mà hoàn thành hình ban nhạc Beatles là thần tượng của bao giới trẻ thời ấy.. hình nhỏ bằng nửa trang vở thôi, nhưng rất giống, rất đẹp, hoặc hình cô gái…kèm theo vài lời dễ thương…”Tại răng mà mắt buồn..?”….”Tại răng mà răng khểnh?”…
Đợi lúc hai cô bạn ra hành lang hóng mát, tôi mở lá thư ra đọc:
” Thiên An ơi, nhớ trả lời cho anh nhé, anh có thể gặp mặt bé chiều mai, sau giờ học, ở phòng khách được không?”…
Tôi ôm lá thư vào lòng, đây là thư thứ 5 rồi, những lần trước anh chỉ viết vài câu…
Tôi phải vội vàng viết mấy chữ trả lời: “Dạ cám ơn anh, nhưng có lẽ để ít lâu nữa được không anh?”
Vì tôi rất sợ đám bạn và các chị em đông đúc trong cư xá, đứng trên lầu tôi đã chứng kiến nhiều màn chọc phá của họ mỗi khi cô sinh viên nào bước xuống , đi dần ra phía phòng khách…
Hẹn lần hoài hoài như rứa,… đến hai tuần sau, tôi cũng phải “gánh chịu” cảnh vừa đi vừa liếc nhìn trên lầu xem nàng nào đang đứng chọc mình… để ra phòng khách tiếp anh … Ngồi nói chuyện, có một sơ đang ngồi làm việc sổ sách cách đó không xa… (Chắc làm bộ làm việc thôi, còn thì chủ yếu là lắng nghe “tụi hắn” nói cái chi…!)
Trước khi nhận lời tiếp chuyện anh, tôi cũng đã viết thư hỏi Ba Me tôi, vì cũng có một anh chàng không quân, rồi một anh dược sĩ…
Tất nhiên Ba Me tôi bảo nên chọn anh dược sĩ, nhưng rồi sao tôi thấy anh Nhật rất hiền hậu – tôi nghe nói các anh lái máy bay thì rất bay bướm, còn những anh “sĩ, sư” thì ít trung thành… Sau buổi nói chuyện, anh Nhật vẫn tiếp tục nhờ Trực mang thư đến lớp cho tôi, có khi kèm theo ô mai là món tôi rất mê (Không hiểu tại sao anh biết món tủ của tôi hè??)…
Anh bảo cho anh gặp vài lần nữa vì hè năm nay ra trường có thể anh sẽ phải nhận nhiệm sở thật xa..- Anh học trên tôi ba lớp -… Gia đình tôi thì ở xứ sương mù, tôi lại phải đi học ở thành phố khác, gặp nhau chắc khó lắm…
Tôi rất quý sự từ tốn, dễ mến của anh… và
“Một người rất gan lì, luôn muốn đứng đầu, làm lãnh tụ, mà chừ phải chịu thua một cô bé học trò trường mẫu giáo Lê Lợi, bé ơi…”
(Anh đã nói như rứa khi em viết cho anh về tháp đèn của trạm phát sóng Truyền hình: “Anh à, nhìn giống như ông khổng lồ hút thuốc quá, phải không anh?” – buổi tối, sau khi học bài xong, nhìn ra bầu trời xám, chỉ có một chóp đỏ trên cao của tháp truyền hình, lúc tắt lúc sáng,…có khi có vài đám mây lơ lửng chung quanh như khói thuốc …, )
…Mà cũng rất nồng nàn:
Tôi hỏi anh tại sao anh xếp hình cái súng, cho con trai mà… Anh trả lời:
Vì trong bài hát “Bang Bang”- “Khi xưa ta bé”… Có câu “Em bắn ngay tim”, em đã bắn trúng tim anh rồi , bé ạ, tim anh từ đó chỉ đập khi có em …
Những tháng ngày sắp đến hè, thi cuối khóa, tôi vừa lo phải cố qua tất cả các môn, vừa buồn vì sắp phải xa anh…
Tôi như ngập chìm trong niềm hạnh phúc, anh bảo tôi phải cố gắng học để “hoàn thành bổn phận với phụ thân đã lo cho bé đến hôm nay”, mơ tưởng rồi sang năm học tới tôi sẽ nhận được những dòng chữ đầy yêu thương của anh, chờ đợi tôi…
“Anh muốn bé là mục đích sau cùng của anh, bé đồng ý nhé?”
Nhưng rồi, cuộc đời ít khi được như lòng người mơ ước, dù đơn giản đến đâu…
Một hôm tôi nghe được rằng có một cô học cùng khóa với tôi nhưng khác ngành đã yêu anh ấy lâu rồi,…
Có thật như thế không? Lạy Đấng Tối Cao…
Tôi đã rất đau khổ khi nghe được tin ấy…
Con phải làm như thế nào đây, Ba ơi, Me ơi…!
Các bạn của tôi, có ai như tôi không…?
Tôi hỏi bạn thân Lan Thanh, và cả Điểu nữa, họ đều nói “Cả trường ai cũng biết là cô ấy thích anh Nhật từ lâu rồi, nhưng ít người biết Nhật đã chọn Thiên An…”
Tôi hỏi ý kiến vài người bạn khác, theo họ thì “Đó là tùy Thiên An và anh ấy thôi, nếu như lâu nay anh ấy viết thư cho An, thì có nghĩa là anh ấy không để ý đến cô kia…”
Tôi là một người hay chịu phần thiệt về mình,… nên đã quyết định… vì tôi rất cứng rắn, tôi chỉ sợ cô kia sẽ có những hành động không tốt đối với anh ấy…? Tôi hy sinh để anh được yên…
Những ngày sau đó… tôi đã không trả lời những tờ thư học trò thương quý của tôi được nữa,.. .tôi đã chọn sự im lặng…
&&&&&&
Ngày tôi lên phi trường về lại xứ sương mù hai tháng hè,… Lúc leo lên thang máy bay, tôi chợt nhìn thấy…anh đứng ở cửa phòng chờ hành khách, nhìn theo, đôi mắt thật buồn… Làm sao anh biết ngày giờ tôi ra đi để phóng xe lên đây…? Ai đã nói cho anh biết?
Trong suốt hai tháng hè, tôi đã thật buồn và chán…Anh đang ở đâu, làm gì, anh có hiểu tại sao chúng mình lại như thế này không, anh Nhật ơi…
Đến ngày phải nhập học , tôi trở lại trường…
Ngạc nhiên và buồn , xúc động, đau đớn…khi nhìn thấy anh đứng ở cổng cư xá…chỉ nhìn vào, vì anh biết có vào hỏi “sơ” (soeur) phòng khách, bạn tôi cũng sẽ trả lời là tôi đi vắng…
Tôi cũng không hiểu làm sao tôi biết được anh đã nhận nhiệm sở ở một thành phố miền Nam…
&&&&&&
Năm 1975… Loạn lạc, không ai biết tin tức của ai nữa..
Trực ơi, bây giờ bạn ở đâu? Gia đình bạn ở đâu, có hạnh phúc không? Trực có biết anh Nhật hiện đang ở nơi nào không?
Nếu Trực có gặp anh ấy, nhắn với anh cho Thiên An gởi vạn lời tạ lỗi, ngày xưa sao An dại quá, và không biết suy nghĩ mình phải hỏi Trực, và hỏi anh ấy sự thật về cô ấy như thế nào, tại sao Thiên An phải hy sinh tình yêu của mình, để rồi cả anh ấy và An đều đau khổ…
Mà nghĩ cho cùng, tại sao An phải hy sinh cơ chứ, phải không Trực? Tại sao ngày ấy bạn không hỏi mình, chắc anh Nhật có tâm sự với bạn chứ?
Anh Nhật ơi, hiện anh đang ở đâu, cho Thiên An nói lời xin lỗi anh,
Giá như.. Giá như…mình có thể nói chuyện với nhau lúc ấy… anh Nhật..
&&&&&&
Nhiều năm qua,…biết được cô gái kia cũng đã có gia đình với người khác,…còn anh tôi không có được tin tức.
Anh đang ở đâu?
Chắc anh chẳng còn nhớ đến con bé học Đại Học mà cứ như còn ở Tiểu học nữa rồi …
Chắc anh đang rất hạnh phúc…
“Trả lại em yêu
KHUNG TRỜI ĐẠI HỌC…
…Ðem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ
Ðem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ…” **(2)
Anh đã trả lại hết cho bé rồi, anh không còn nhớ chút gì nữa sao anh ơi…?
***************
“Giòng lệ tưởng trôi phăng đời niên thiếu
Vẫn còn nguyên vang bóng thuở ban đầu
Hơi tiếng người xưa hồ dễ quên đâu…” – VŨ HOÀNG CHƯƠNG- Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm
******
“Theo mây bay, tìm mãi hướng trăng thề.
Nhắc làm chi? Còn nhắc nữa làm chi…! ” – ĐINH HÙNG- Cánh Chim Dĩ Vãng-
&&&&&&
Dallas, mùa nhập học thật buồn- 2018-TháiLan/ nữlan
===========
Ghi Chú:
1/- Nghề dạy học.
2/- Bài hát “Trả lại em yêu”- Phạm Duy.
*****
MÓN NỢ…CÁI BAND AID
Tựa đề bài viết dựa theo tựa của truyện thật dễ thương ” MÓN NỢ DĨA BỘT CHIÊN” của một huynh đệ Hướng Đạo của tác giả…
==============
– Mau đi cô nàng, hôm nay có giờ của Thầy Hùng, nhớ không nhỏ? Mi mần chi mà cà rề từ nãy giờ?
-Dạ vâng, em đây ạ.
Tôi chạy ra hành lang cư xá, nơi cô bạn hiền đang đứng chờ, chắc hơn mười phút rồi. Ngày nào cũng vậy, không hiểu sao mình chậm ghê luôn. Mình đâu có trang điểm gì- nét đẹp hiện hữu trong sự đơn giản mà! Có lẽ vì cứ lấy áo này ra, nhìn trời, rồi lại chọn áo khác..Lúc xưa phải chạy theo cái đồng hồ để lãnh được bằng Tú Tài, nên đôi khi cái áo không thẳng nếp cũng cứ xỏ vô đại. Bi chừ thì. Mình phải “chải chuốt”một tí chứ!
Cư xá Jeanne d’Arc của các soeurs ở Huế không xa khu Đại học với nhiều phân khoa: Khoa Học, Văn Khoa, Sư Phạm, và ở lớp học bên Văn Khoa, trên lầu – ngày xưa là khách sạn Morin -, có thể nhìn ra cầu Trường Tiền mộng mơ của đất Thần kinh, nên không ít cô cậu giành chiếm chỗ ngồi bên cạnh cửa sổ…
Trường Khoa Học. Hôm nay là giờ cuối của môn”Hóa Vô Cơ” là môn tôi không mê tí nào, vì nó quá phức tạp đi thôi ! Nhưng Thầy Hùng rất giỏi, mỗi năm Thầy cứ bay ra-vô Huế-Saigon, thầy tốt nghiệp Đaị Học Dược Khoa bên Pháp với bằng Tiến Sĩ, nên các trường Đại Học Saigon và Huế đều mời thầy giảng dạy. Cộng thêm với những môn khó nuốt của thầy, thầy lại rất nghiêm khắc, không dễ tí nào, nên sinh viên thường gọi thầy là “Ông Kẹ”- kính Thầy, con xin lỗi Thầy- .
Rồi Thanh và tôi cũng đến giảng đường, và kịp giờ các bạn đang lục đục vô lóp. Giờ học hôm nay tôi lại rất thích thú, có lẽ tôi áp dụng câu “Muốn là được”, mình cố gắng thích môn học này vì nó rất quan trọng! …
Hay là vì tối nay có cuộc họp vui với mọi người bên cư xá bạn? -Có lẽ cả hai. Giờ học cuối; sau vài ngày nghỉ lễ sẽ phải làm bài thi, mà không qua được môn này thì..không được tí nào cả! BaMe…phải chăm chú thôi, Ti Lì ơi!….
Chiều cuối ngày. Cả bọn trong cư xá lao nhao, mặc áo gì, quà cáp để trao đổi đã xong chưa?…Trong phòng ba đứa như ba chị em một nhà
– Nhóc, mi mặc áo khoác ni thì hợp với áo màu đỏ gụ bordeaux nè… – Mi đeo xâu chuỗi này nhé? Hợp với làn da trắng của mi nè – Còn mụ da nâu thì sao? Tôi phụng phịu giận dỗi vì chúng nó cứ lo cho nhau, bọn hắn da dẻ thật sáng, mặc màu nào cũng hợp, còn tôi….!
… Nhưng rồi, cũng xong.
Nguyên một đám sáu đứa trong số 43 của cư xá đồng ý đáp lời mời của cư xá nam láng giềng để dự buổi tiệc cuối năm Dương lịch bên giang sơn của họ. Chúng tôi là những người gần cuối bước vào căn phòng thư viện đã được dọn dẹp bài trí rất gọn gàng dễ thương… Bài diễn văn của anh Chủ tịch, rồi đại diện các cư xá..bài nào cũng thật hay, nhắc nhở bổn phận của mọi người ở xa gia đình nhưng cố chú tâm học hành để khỏi phụ lòng song thân và thầy cô trong kỳ thi cuối khóa, nhất là các anh chị sắp ra trường; và lời chúc may mắn… Ca hát, vui đùa thỏa thích..
Đến giờ ra về, thấy anh Trọng học Y3 (Y Khoa năm thứ 3) dẫn chiếc xe gắn máy nhỏ Caddy mà tôi rất thích, tôi liên hỏi mượn để chạy thử. Vừa đi được một đoạn, loay hoay thế nào, tôi lại té ngã ngay bùng bình trước cư xá. May mà lúc đó cũng hơi khuya, nên đường vắng. Trầy một chút ở cườm tay và đầu gối. Tôi được sơ cứu cẩn thận.
Chiều hôm sau, vài đứa rủ nhau đi chợ để mua quà tặng các soeurs trông coi chúng tôi, vừa về đến phòng, tôi được thông báo là có người đang chờ ở phòng khách. Lại chạy xuống. Đó là người chủ của xe Cady, anh đưa tôi một gói bông băng và nói:
– Chúc Lang nhớ chăm sóc các vết thương, nhất là vết ở đầu gối bị trầy nhiều, kẻo bị làm độc nhé! Anh Trọng xin lỗi Lang vì cái xe làm Lang đau… – Đâu phải tại cái xe đâu, mà tại vì Lang giỏi quá mà! Ủa mà sao kỳ vậy, lúc nãy anh có nhờ sơ (soeur) trao lại cho Lang một gói rồi mà! – Không phải của anh đâu, bây giờ anh mới đến, hôm nay bọn anh phải đi thực tập ở nhà thương mới vừa về.
Tôi trả lời qua loa mấy câu hỏi của anh về vết thương, về việc học…Anh dặn nhớ học kỹ hai môn Hóa Hữu Cơ và Vô Cơ nhe. (lại còn biết tôi không thích hai môn này nữa ta! Sao hay vậy!). Anh về. Tôi lên phòng. Và mở gói kia ra: cũng những lời dặn như anh Trọng, nhưng bên dưới ký tên: Tôn Thất Khôi. Ah! Tôi nhớ ra rồi. Anh Khôi và anh Trọng học cùng lớp, tối hôm qua hai anh đại diện cho một cư xá đến chung vui đây mà. Hôm qua là lần đầu tôi gặp các anh, sao các anh lại biết cư xá của mình vậy ta?
Sau ba ngày nghỉ lễ cuối năm, hôm nay trở lại những ngày học bình thường. Chúng tôi học xong hai giờ đầu, giờ Toán của Thầy Nhơn.
Đến giờ thứ ba là giờ Anh Văn, hôm nay Thầy Ấm phải đi công tác đột xuất nên được nghỉ; vì còn tiết thứ 4 nên không về được, Kim Thanh và tôi bèn rủ nhau qua Hội Quán Sinh Viên ở bên kia đường để xem thử, từ hồi đầu năm đến giờ chưa dám ghé vô, vì nghe nói trong đó có rất nhiều nam sinh viên nên ngại. Thật vậy, quán có vài bàn có vẽ sẵn bàn cờ tướng, nên các anh thường thích vô đây để tỉ thí. Nhưng cũng có hai bàn có nữ sinh viên đang ngồi chuyện trò. Có lẽ các cô từ trường Văn Khoa hay Sư Phạm cũng ngày sát trường Khoa Học đây thôi, họ ghé uống cà phê. Hai đứa tôi vừa uống nước vừa nói chuyện thật thư giãn, làm như ở cư xá không thể tâm sự..Mà thật ra khi về phòng thì đứa nào cũng chúi mũi vào việc học…
Kim Thanh bỗng nhìn vào tay tôi và nói:
– Sao sáng ni mi băng tay không kỹ chi hết, thuốc thấm ra kìa! Tôi đưa tay lên, và thật vậy, cái band aid đã bị nhuốm thuốc đỏ (vết thương này nhẹ nên tôi xem thường, chỉ chú trọng đến vết thương ở đầu gối bị trầy sâu hơn).
Ngay lúc đó, có một anh từ bàn bên cạnh bước qua và đưa cho tôi một cái band aid. Đó là anh Minh, bạn của anh của Kim Thanh. Tôi nói:
– Dạ Lang cám ơn anh, nhưng mà sao anh có sẵn băng hay vậy?
– Vì anh nghe nói có một cô bé hay bị ngã hoặc trầy xước tay nên thủ sẵn trong bóp…!
Anh Minh học Y Khoa, và sắp ra trường. Tôi chỉ gặp anh một lần ở nhà Kim Thanh, khi vào Đà Nẵng thăm gia đình bác tôi, vài tháng trước đây…
Chúng tôi phải trở về trường, để học giờ Lý.
Khi về cư xá, Kim Thanh nói tôi là anh Minh sau khi gặp tôi ở nhà bạn, thường hay hỏi thăm về tôi:
-Thanh ơi, tính tình Chúc Lang như thế nào? Ngoan không? – Khỏi phải nói anh ạ, hắn ngoan lắm, chỉ có tội nghịch phá thôi!
– Ha ha! thiệt vàng sợ chi lửa cô nàng ơi? Nè, mà ta hỏi mi nè: nhìn mắt ta xem, sao “họ” cứ bảo mắt ta buồn hả?
– Chứ còn chi nữa! “Người em sầu mộng muôn đời” mà! *1/- Với lại, mi còn có cái răng khểnh nữa kia!
– Ah! cái con ni! Thiệt không đó? nè, muốn ta bao cái chi thì nói nhe, đừng cho ta lên mây! té đau lắm!. ở cư xá ni và cả Viện Đại Học, bao nhiêu người đẹp nổi tiếng, mình chỉ là con số zero mi à – Cái con khỉ! nhưng mà có lẽ họ thích cái tính chân thật không điệu đà của mi đó nhỏ à -Vậy sao? Cám ơn nhe!
Rồi Thanh còn nói anh Minh hỏi có nhiều người theo Chúc Lang không, Thanh nói thì cũng có thấy họ gởi thơ, họ nói chuyện với cô nàng, nhưng làm sao biết được con tim của hắn…
….
Sao mà khổ ghê! Hai người Sơn Tinh & Thủy Tinh đem băng bông quà cáp cho tôi thì tôi cho là bình thường. Hoặc ai đó cùng lớp làm thơ ướt át rồi tặng mà sao mình không nhớ chi hết. Tại sao cái band aid nhỏ bé kia cứ làm mình suy nghĩ vẫn vơ..
Đến ngày Tất niên. Tết Nguyên Đán. Các trường Đại Học đều tổ chức Đêm Luật Khoa, Đêm Sư Phạm,…v.v..
Vài bạn học và bạn cư xá đi với tôi để dự Đêm Luật Khoa vì giờ tổ chức sớm hơn, rất phù hợp với bọn tôi vốn rất sợ ma.
Đây là buổi trình diễn văn nghệ rất đa dạng do các sinh viên trình bày. Các anh chị/ bạn/ các em thật là đa tài! Có đủ tân cổ giao duyên, kịch là những màn rất tốn thì giờ để diễn tập, so với đơn ca hoặc hợp ca…
Đến sẩm tối- cũng còn một, hai màn nữa, nhưng chúng tôi phải về.
Cả bọn sáu đứa chúng tôi ở hai phòng gần nhau nên rất thân nhau, thường tụ tập ở một phòng sau giờ học bài để nấu mì gói – dùng cái resistance điện để nấu nước sôi, lén các soeurs vì tất nhiên là món này bị cấm…
Vừa ra khỏi giảng đường của trường – được dùng làm “rạp hát”- , thì anh Minh đến, xin phép để tiễn chúng tôi một đoạn. Chúng tôi đi qua Cầu Mới, là cầu mới xây, sau năm 1968 khi cầu Trường Tiền bị người “tốt” giật sập mất một nhịp, khiến người Huế rất phẫn nộ đau buồn… Các bạn biết ý nên để anh và tôi đi phía sau.
Tối hôm đó trời thật trong, ánh trăng lưỡi liềm chiều xuống mặt sông Hương đang gợn sóng li ti thật đẹp và thơ mộng… Anh kể chuyện vu vơ, chuyện học, chuyện ở quê Đà Nẵng của anh, tả những cảnh vật thật nên thơ bình dị…
Đến lúc sắp chia tay, anh nói : – “Chúc Lang cho anh viết thư cho bé nhe”. Tôi không biết phải trả lời như thế nào…
Từ đó đến cuối năm học, tôi thường nhận được thư của anh, lời thơ thật dễ thương hiền hòa như con người của anh.
Rồi mùa hoa phượng đến, hoa nhuộm đỏ thắm đoạn đường trước trường Văn Khoa, nhất là cây phượng ở góc nhìn ra cầu Trường Tiền…Thật là nên thơ, bảo sao thật nhiều vần thơ cho cây phượng này được những tâm hồn lãng mạn luôn trân quý, và thấy lòng mình lâng lâng khi đứng ngắm chúng trong buổi chiều tà…
Anh ra trường, đậu rất cao, tên anh đứng đầu bảng kết quả, nhưng không muốn về gần gia đình mà nhận nhiệm sở thật xa, vì anh nói muốn khám phá miền Nam.
Tôi về Cao nguyên của tôi.
Rồi loạn lạc, bặt tin nhau. Nhiều năm trôi qua.
Mỗi khi bị trầy hoặc đứt tay, dùng band aid, tôi cũng không còn nhớ đến cái band aid năm xưa, vì bị lôi cuốn vào cuộc sống thời đắng cay tủi nhục đau khổ trăm bề…
Nhưng có một năm, khi về thăm lại thành phố thân yêu ấy, thăm trường xưa, cảnh cũ, đến cư xá “của chúng tôi” – bây giờ là một trường cấp hai -, tôi lại chạnh lòng…nhớ đến thời gian đáng yêu ấy, ôi những “người đi qua đời tôi *2/- “…
Đứng trước phòng khách, nhớ đến anh bạn cùng lớp hàng ngày làm chim xanh cho một người cùng phòng đem thư cho tôi,… rồi một buổi chiều thật đau lòng, họ đến mà tôi không tiếp, vì tôi muốn hy sinh tình yêu mình cho người khác (để rồi cả hai đều đau khổ!!!) …nhớ đến “Sơn Tinh & Thủy Tinh” đem quà ô mai, búp bê da màu là món tôi rất mê cho đến bây giờ, mặc dù có bao nhiêu là búp bê thật, lớn nhỏ cứ đeo chân mình hàng ngày…rồi có anh tài xế máy bay ngày nào,…
Những dòng ký ức cứ đua nhau hiện về…
Ra khỏi cư xá là ngôi trường mẫu giáo Lê Lợi, mà ngày ấy người viết thư bảo tôi luôn mãi là học trò của trường này thôi…thật là dễ thương, vì tôi chỉ muốn làm con nít, làm người lớn sao…mệt quá!
Đây rồi con đường Trương Định …đi ngang Hội Quán Sinh Viên, và bỗng nhớ đến cái band aid của người xưa…
Hỡi “người Band aid”, anh đang ở đâu? Có nhớ năm nào không?
Nhưng rồi… thời của tin học…
Một hôm, đang lướt lưới tìm tài liệu cho công việc, tôi chợt thấy hàng chữ “blog của Đại Học Y Khoa Huế “…và rồi …
Sự kỳ diệu của thế giới ảo!
Tôi gởi thư hỏi thăm vài người bạn Y khoa năm xưa ở cùng cư xá… Khi nhìn thấy địa chỉ điện thư của tôi, anh ấy nhận ra ngay vì tên tôi rất đặc biệt, có lẽ chỉ có một tên như vậy thôi… .
Qua chừng đó năm …dù có vài mối tình đến với anh, nhưng anh không thể quên cái “band aid” đã đưa cho một người năm nào…
– “Bé band aid ơi, bé có người giữ sẵn băng trong bóp chưa? Bé có nhớ cái band aid ngày nào không?”
– Chúc Lang bị trầy xước nhiều lần, có khi phải băng nguyên cái băng bự to cơ đấy, nhưng không có ai có sẵn băng trong bóp cả, anh à…
-Chúc Lang có nhớ mình gặp nhau lần đi cứu trợ lũ lụt ở quận Phong Điền, Huế không? Sau khi giúp quý đồng báo ở đó, nhóm sinh viên thiện nguyện đã có một buổi sinh hoạt chung với nhau, ca hát…và khi đứng thành vòng tròn, bé đứng cạnh một nam sinh viên, lúc đó mọi người đang hát bài “Thử Hỏi” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, anh nhìn Lang khi hát “Tay có bằng lòng cho tay nắm lấy?”, và thấy anh ta đang cầm tay bé…anh buồn làm sao! “
– Ah, tôi mỉm cười khi đọc dòng thư điện tử này- tôi nhớ ra anh chàng đó rồi, có lần đi trại cùng với liên lớp Pháp ở biển Thuận An, anh ta rất cảm kích khi thấy trên đường về từ kỳ trại, tôi ngồi xuống nhặt cá tươi từ một gánh cá của chị bán hàng bị đổ xuống đất. Hôm sau anh gởi cho tôi hàng chữ : hình ảnh rất dễ thương mà anh không bao giờ quên, thể hiện lòng nhân ái của Chúc Lang… “Time never waits, they often say/But for Love, who knows, it may” ( Thời gian không bao giờ chờ đợi, họ thường nói như thế/ Nhưng biết đâu, đối với Tình Yêu, điều ấy rất khả thi)..
Đâu có thấy thời gian có thể chờ đợi đâu ta?…
———-
Thư qua tin lại, anh đang sống ở một đất nước rất xa.
Nhưng, cho dù sông có sâu, núi có cao, biển có bao la mấy đi nữa…thì cũng không thể chia cách chúng tôi được nữa …
Đến kỳ họp mặt các cựu sinh viên nhân kỷ niệm 60 năm của Viện Đaị Học Huế, được gặp lại các Thầy Cô kính yêu để dâng lên các vị những lời tri ân sâu sắc… và gặp lại bao nhiêu anh chị em bạn bè ngày xưa thân ái, giờ đây ai cũng con đàn cháu đống. Mừng nhất là gặp được 4 người trong số 6 đứa thân thiết ở cư xá năm nào – lâu nay chúng tôi cũng có liên lạc nhau, cũng nhờ thời điện toán mà tìm ra nhau.
Mọi người đều rất vui mừng khi thấy anh Minh và tôi bây giờ được ở bên nhau.
Tôi nói với các bạn: ” Món nợ band aid bây giờ đã trả được rồi nè các bạn ơi…!”
Nhưng tôi lại thêm:
” Phải chi hôm ấy đừng…đau
Phải chi hôm ấy đừng trao…cho người *3/- “
(cái band aid)
&&&&&&
Một miếng băng dán nhỏ xíu mà dán được cả hai cuộc đời lại với nhau, mầu nhiệm thay!
Tháinữlan, mùa hè 2017, 60 năm Viện Đaị Học Huế-
GHI CHÚ:
1/-Người Em Sầu Mộng– Tác giả: Nhạc Y Vân, thơ Lưu Trọng Lư
“Người em sầu mộng muôn đời”…
2/- Người Đi Qua Đời Tôi -Tác giả: Phạm Đình Chương
” Người đi qua đời tôi trong những chiều đông sầu”…
3/ – Mưa Bong Bóng – Tác giả: Lý Quang Diệu
“Phải chi hôm ấy đừng mưa
Phải chi hôm ấy đừng đưa em về “…
****
MỘT MÙA XUÂN RẤT XA… –
Thương tặng các bạn sinh viên Huế, và các bạn cư xá Jeanne d’Arc & Xavier của thời vàng son dấu yêu-
Một ngày mùa hè …
*
Ba chở tôi đến phi trường Phú Bài, Huế, đón cậu em từ Dalat ra để giúp Ba và tôi trong việc làm ăn của Ba. Me và ba em kia vẫn đi làm đi học ở xứ sở sương mù… Gặp lại em Vũ sau nhiều tháng xa cách, thật mừng rỡ… Lúc xưa cả gia đình Ba Me và sáu người con đều quây quần, rồi chị và anh lớn đi xa để tiếp tục việc học, còn lại bốn chị em rất thân nhau. Ôi bao nhiêu kỷ niệm…
Mới mấy năm nay Ba phải ra Cố đô để làm việc, một mình tôi đổi “cấp độ” từ nhỏ đến lớn, bi chừ là “Học Đại” rồi, nên theo Ba được.
Em Vũ mang theo cây đàn tranh cho tôi. Tôi mới học được vài tuần ở Tỳ Bà Viện. Khệ nệ cầm cây đàn, tôi băng qua phòng chờ ở phi trường, rồi lần ra bên ngoài chỗ để xe…Chợt có hai anh lái tàu bay từ bên phi trường quân sự tiến đến, hỏi chuyện…
Có lẽ vì nhìn thấy một con bé với vẻ mặt chẳng có gì là nghệ sĩ mà lại đi chơi loại đàn xưa và rất khó này rồi hai “ông ” ấy tò mò chăng?
Biết chúng tôi ở xứ ngàn thông, các anh rất thích, họ là người dân xứ biển Nhatrang hiền hòa, và thường bay lên đó, họ rất thích thành phố buồn của chúng tôi…
Vài tuần sau, đến lúc nhập học, em tôi phải trở về Dalat, còn tôi thì vào cư xá “để học cho yên” – Ba bảo như rứa…
Vài ngày sau khi đi học, một anh tài xế máy bay ấy, anh Quang, đã đến cư xá và xin “sơ”(soeur) trông coi phòng khách để gặp tôi.
Tôi chưa gặp anh Quang được, vì tôi chưa thưa chuyện với Ba Me tôi. Anh ấy ra về… Vài ngày sau, tôi nhận được lá thư của anh gởi từ Nhatrang… Tôi đã đưa thư cho Ba đọc, (tự tôi cảm thấy cần cho Ba đọc, vì Ba đâu có cấm cản chi mô?) Ba nói lời thư có vẻ chân thành, nhưng ” chưa biết con ạ, các anh ấy thường rất bay bướm”,…nếu anh ấy muốn gặp con ở cư xá, con có thể nói chuyện (vì Ba biết trong phòng khách, luôn có sơ làm việc giấy tờ), và con có thể trả lời thư…
Nhiều tháng trôi qua… Anh thường có dịp phải bay ra Huế, có lần anh và bạn đều lái trực thăng vòng vòng quanh sân trường của tôi. Trời ơi! Cứ bay vần vũ quanh quanh như rứa…Thầy Cô và bạn bè không hiểu chuyện gì đang xảy ra..! Chỉ có Kim Thoa & Ngọc Quỳnh ở cùng phòng cư xá với tôi biết là ai thôi : “Răng mà anh nớ gan cùng mình ghê luôn”!
Rồi còn đi với bạn để đón tôi lúc tan trường… tôi luôn đi với cô bạn thân Kim Thoa, anh ấy cũng luôn có thêm một người bạn đi cùng…
Muốn độn thổ luôn, trời ạ! Hai ông lính thuộc loại dữ dằn, mặc áo bay, đi kèm với hai con bé “chưa lớn”, làm chúng vừa đi vừa nép vào nhau, che mặt mình không hết, cả trường ào ra như ong vỡ tổ,…ai đi xe ra cũng ngoảnh mặt lại nhìn xem hai “con” nào mà ghê gớm rứa hè..?
Thôi thôi bước đi cho nhanh cho rồi…làm hai ông phải la lên: “Hai cô làm gì mà như bị ma đuổi vậy?”
Tôi phải cằn nhằn: -” Sao anh muốn đến trường mà không nói trước, để bây giờ … làm sao mà trốn đây? Ngày mai vô lớp học thì chịu sao cho thấu?
– Thì Thanh Lan cứ bảo là: ông anh ở Nhatrang đi công tác ra thăm em thôi mà, có gì nghiêm trọng đâu?…”
Sau này tôi mới biết, anh ấy lúc nào cũng vậy, những việc gì nguy hiểm, kinh khủng…tất cả đối với anh đều … nhẹ “như lông hồng”… Có lúc thì tốt, nhưng có khi lại không tốt đâu nhe!
Ngày thường thì chúng tôi vừa rảo bước vừa nhìn ngắm cảnh thơ mộng của kinh đô các “mệ” ngày xưa, nhìn qua con sông với cầu Trường Tiền nên thơ, hàng cây Phượng vỹ đến mùa hè nở đỏ rực cả một góc trời…ở xa kia là núi Ngự Bình,.. Ngắm hoài không chán.. Nhưng hôm nay hai đứa chỉ cúi mặt mà chạy, không dám nhìn ngang ngửa chi hết…
Hai anh chỉ đưa chúng tôi về cư xá, vì chúng tôi không đi ra quán uống nước với các anh, xứ Huế rất cổ kính, và cổ hủ về phong tục, nên chúng tôi rất ngại…
– Thanh Lan, mai tụi anh lại phải bay đi Pleiku rồi, cho anh nói chuyện với Lan một chút nhé? Bạn tôi lên phòng, anh Hoàng, bạn của anh Quang bảo anh ấy ra quán càphê gần đó đợi …Anh Quang vô phòng khách nói chuyện với tôi một chút, anh hỏi thăm tôi về việc học, về các em,.. rồi dặn tôi nhớ trả lời thư cho anh, khi nào mùa hè tôi về xứ sương mù, có dịp anh sẽ bay lên để thăm Me và các em, rồi sang năm học tới anh sẽ ra đây thăm Ba tôi.
Sang hè, khi tôi về Dalat nghỉ vài tuần, anh ấy đến nhà và nói chuyện với Me và các em tôi. Có một hôm, em tôi mới đi lấy hình chụp cả nhà về, và để trên bàn phòng khách, tôi chưa kịp cất, anh ấy đến, và muốn xem. Anh chọn một hình chân dung của tôi, và nói rằng kỳ này các anh sẽ đi Bảo Lộc, sẽ có giờ rảnh, anh muốn vẽ hình tôi…Ít lâu sau tôi nhận được một bức hình vẽ bằng bút chì rất đẹp,..tôi lại biết thêm một tài năng của anh ấy…
Sau này anh vẽ hình các con, chắc là tuyệt lắm nhỉ? (ôi, lại mơ mộng hão huyền nữa rồi, cô bé ạ)
Anh đưa cho tôi tập thơ “Ta Chờ Em Từ Ba Mươi Năm” của thi sĩ Vũ Hoàng Chương…
Không biết lúc đó anh bao nhiêu tuổi nhỉ?
1975…
Vài tháng thư từ, độ này anh không bay ra Huế nữa…
Tháng 3… Người dân Huế vẫn chưa hết đau thương với Mậu Thân 1968, nay lại lảo đảo chồng chất trên những chiếc xe đò lớn nhỏ để vô Đà Nẵng, có xe traction ngày thường chỉ chở được 5 người, nay chất thành 8, 9, 10 người,.. rồi những xe minivans thì nhét như cá hộp…
Vô Đà Nẵng cũng không yên,… lại ùa nhau ra phi trường, ra bến cảng … Tôi cùng gia đình người bác ruột lênh đênh trên biển cả một tuần, (Ba đã đi nước ngoài vì công việc, sắp về lại). Suốt một tuần lễ, lênh đênh cũng mây nước, tôi không biết giờ này Ba Me tôi ở đâu, các anh chị em có được bình an không…Bảy ngày , mà dài như bảy năm, buổi tối dài lê thê, không thể nào chớp mắt với sóng biển dập dềnh, ban ngày thì khô rát, nóng cháy….. rồi anh Quang ơi, gia đình anh có được an toàn không, anh đang ở đâu, cầu mong sao anh làm tròn nhiệm vụ người trai thời loạn, như bậc cha anh, nhe anh,..dù cho có hy sinh cũng không màng, anh ơi,..
Xà lan cặp bến Vũng Tàu… Rồi lên Saigon…
Đến được nhà anh chị tôi, thật mừng rỡ biết bao khi gặp lại gia đình anh chị cùng Ba tôi vừa mới trở về được vài hôm, và Me cùng các em đang đi xe đò từ Dalat xuống đây..
Một buổi trưa, Hòn Ngọc Viễn Đông, trời nóng như thiêu… em Vũ , – lại cũng cậu em “xe tơ” này, – chở tôi đi Honda trên đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận, đến đường ray xe lửa, đèn đỏ…nhìn qua con đường đối diện,… thấy anh Quang!
Ôi, phải chăng đây là ý trời…? Nhiều tuần nay không được tin tức… nay được gặp lại anh…
Buổi tối, cuối tháng 4, anh Quang đến nhà anh tôi ở Quận 5,… gặp BaMe tôi (lúc đó cả gia đình đều về nhà anh Chung của tôi), và xin cho tôi được bay đi đảo Guam, xứ Cờ Hoa, với anh cùng đồng đội. Tôi không chịu, vì đi như vậy, biết có gặp lại Cha Mẹ anh chị em được không, với lại đã cưới hỏi gì đâu…?
Vài tháng sau… Gia đình anh, sau khi ở tạm nhà bà con ở Saigon ít lâu, đã trở về miền Thùy Dương..
Tôi theo Ba về Nhatrang để thăm người Cô ruột, chị của Ba.
Tôi được đi ra biển với anh, một buổi chiều…sóng thật lớn…
Suốt bao nhiêu tháng quen nhau, đây là lần đầu tiên tôi đi ra ngoài với anh..
Tôi luôn yêu thương thành phố biển này, ngày xưa cả gia đình thường được Ba chở đi nghỉ hè, cả mấy chị em tôi đều rất mê biển, cát, và sóng… Cả anh và tôi đùa nghịch với cát, nắm cát vào tay, bỏ vào tay đứa kia, nhưng không giữ được, chúng lại tuôn ra…Đi dạo, rồi chạy đuổi nhau ở mép biển, vừa nước vừa cát,..ôi hạnh phúc làm sao…! Đứng nhìn mặt trời lặn, sao đáng yêu quá, tôi luôn yêu cảnh mặt trời mọc hoặc lặn, nhưng sao hôm nay đẹp lạ thường… “Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ”, nhưng Người vui thì cảnh lại quá thơ mộng…
Hạnh phúc ơi…!
Lúc đưa tôi về nhà Cô tôi, anh đưa tôi một tấm thiệp, hình bầu trời đầy sao, và bên dưới là một cô bé đang nhìn lên …
Bên trong
” Người là vì sao nhỏ bé
Ta mãi ước cho lòng làm bầu trời xanh xanh
Người về lòng ta thương nhớ
Ta khẽ hỏi đưa người hay thầm người đưa ta…” *(1)
Hôm sau, anh đến nhà thăm Cô và Ba tôi… và xin phép đưa tôi đi dạo một vòng..
Những đường phố xứ biển quá đẹp, với từng hàng cây Phượng vỹ, vẫn còn đỏ rực hoa mùa hè muộn, cây trứng cá với trái nhỏ đỏ li ti thật xinh và những hàng dương liễu dọc theo bờ biển, thơ mộng làm sao…
Anh đưa tôi lên tượng Phật Bà thật uy nghi trên đỉnh đồi Trại Thủy, đứng trên đỉnh đồi nhìn xuống thành phố thật đẹp… – đã in trong trí tôi bao nhiêu năm nay, bây giờ mỗi khi ngủ tôi vẫn thường nhớ lại cảnh tượng nên thơ này – Tôi rất thích tìm những cọng hoa mắc cỡ ( Trinh nữ), rồi đụng vào lá cho chúng khép lại, và nói với anh: – “Anh ơi, mai sau anh trồng hoa mắc cỡ phía sau nhà mình để em chơi như thế này nhé anh?” Anh cười, chắc có lẽ chịu thua cái con bé lớn mà chẳng lớn chi hết này!
Sau khi đi một vòng, đến dưới chân bức tượng Phật, anh cầm tay tôi, nhìn vào mắt tôi thật lâu, và nói
– “Bé chờ anh nhé, bé ơi?”
Tôi thật nghẹn ngào, mãi lúc sau mới nói được: -“Em sẽ là Hòn Vọng Phu, nếu anh không trở về…”
………………..
Phút giây hạnh phúc như bóng câu qua cửa sổ..
“Anh vuốt tóc em, một lần cuối, một lần cuối cùng, rồi thôi….
Anh hốt trăng thanh, trên áo em xanh, một lần cuối, như những lần đó xa xôi“….*(2)
Đến ngày Ba và tôi trở về xứ Ngàn Hoa, còn anh thì đi …biền biệt… đến bao giờ?
…………….
Trại tù…
Anh viết : “Mỗi kỳ trăng tròn, anh thường nhìn lên ánh trăng, để tìm ánh mắt em phản chiếu trong đó, Ti ơi…Anh nhớ em quay quắt… nhớ đôi mắt thật buồn của em, bé ơi …”
Thăm nuôi…
“Em ngậm ngùi khóc thương
Thương anh đợi mòn mỏi
Hờn căm ngút đoạn trường– ” *(3)
…………………
…Ngày anh Trở về…Mừng mừng tủi tủi…
Kể làm sao cho xiết…
Rồi ngày được định cư ở bến bờ tự do…
Ba ơi, cái ông tài xế máy bay ni không có bay bướm chi hết, Ba à…
Bao nhiêu mùa Xuân đã đi qua… Anh và em đều mong ước một mùa Xuân được trở về, để đến những nơi chốn của thuở vàng son ấy…
&&&&&&&&&&&&
Đất Mẹ, ngày trở về, để đón mùa Xuân như ước mơ, nhưng chỉ có các con và em … Anh đã ra đi…
Saigon, Dalat, Huế…Và sân bay Phú Bài.
Tất cả đã không còn như xưa… Ngôi trường mến yêu, những con đường thân thương …
Nhưng đối với anh và em, vẫn thật đáng quý, những nơi tràn ngập kỷ niệm dấu yêu, kể cho con nghe… Thương quý nhưng nghẹn ngào làm sao…
Và Nhatrang, sóng biển và cát….
Hôm nay ngày rằm cuối năm, trăng sáng vằng vặc, em lại nhìn lên ánh trăng, tìm đôi mắt của anh, như ngày xưa mắt anh và em nhìn nhau trên đó anh ơi …
Ngày mai em sẽ đưa các con lên đồi Trại Thủy, nơi có tượng Phật Bà, và kể cho con nghe về cái ngày xa xưa yêu dấu ấy, anh ơi…Bây giờ em không thể làm Hòn Vọng Phu để chờ anh được nữa rồi, em còn bổn phận với con cháu..
Anh đang ở đâu hở anh
Anh Quang ơi, từ nơi xa ấy, anh có cùng mẹ con em đi thăm lại những con đường có lá me bay, những đồi thông con suối, không anh…
Một mùa Xuân trọn vẹn của anh và em, sẽ không bao giờ có được…
……………….
Trong phòng của mình, vẫn còn bức chân dung ngày xưa anh đã họa lại hình em đó, Quang ơi… Và chiếc áo bay ngày nào của anh vẫn ở bên em…
Những tưởng yêu thương đến trọn kiếp
Mong sẽ trăm năm cùng bạc đầu
——
Vầng trăng xưa, ngươi có nhớ gì không?-
Vũ Hoàng Chương- Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm
TháiLan/nữlan-Dallas- 2016
———————-
1/– Hai Vì Sao Lạc– Anh Việt Thu
2/- Một Lần Cuối– Hoàng Thi Thơ
3/- Hai Hàng Cây So Đũa -Thơ: Nguyên Huy- Nhạc: Trọng Minh

HẠNH-PHÚC
Từ dạo ấy lòng anh mang mối hận
Bởi không làm thỏa-mãn mọi tình yêu,
Với ý nghĩ: biết bao người oán giận
Mình đong-đưa như gió sớm, mây chiều!
Ðời thắm đẹp nhờ muôn hương vạn sắc;
Một cánh hoa khôn dệt nổi xuân vàng!
Anh biết thế nên lòng anh thắc-mắc
Thương bao cô mắt lệ ướt hai hàng.
Nhưng nghĩ lại: lòng tham vô-giới-hạn,
Túi hẹp nông khôn nhốt hết kho trời!
Anh đã chọn một riêng em làm bạn,
Các cô kia đành lỗi mộng chung đời!
Như thế đó, tình anh như thế đó,
Em biết không? em có hiểu cho không?
Chọn một đóa để buông lìa cả bó
Vì anh tin em sắc thắm, hương nồng.
Em đã thấy vai trò em hệ-trọng:
Một bông hoa đại diện cả mùa hoa ?
Anh sung-sướng, anh tràn-trề hy-vọng;
Em, em ơi, đừng để mộng phai nhòa!
Em hãy quyết cùng anh xây tổ ấm,
Dù chông-gai, dù bão-tố ngang trời;
Xây cho trọn một túp lều hoa gấm
Từ hôm nay cho đến lúc xa đời .
Vì đất nước chỉ thanh-bình thịnh-vượng
Khi dân-nhân xã-hội được vui hòa,
Mà họ-mạc xóm-giềng là viễn-tượng
Của gia đình xây dựng giữa hai ta!
17-01-1955
THANH-THANH
Kính Chuyển Một Bản Tin Sinh Hoạt Cộng Đồng. Chân thành cảm tạ.
Đánh Dấu 28 Năm! Nhóm Mõ Nhân Ái Đem Không Khí Tết Nhâm Dần 2022 Đến Với Khách Không Nhà (Homeless!)
Sáng Thứ Năm, ngày 20 tháng 1/2022, chỉ còn hơn một tuần lễ nữa, là đến Tết Nguyên Đán, một trong những ngày vui nhất, truyền thống trong năm của người Việt.
Thời tiết quang đãng, không một áng mây mờ, pha chút nắng ấm Mùa Xuân. Sau bữa ăn sáng thường lệ, 2 ngày trong tuần, với cà phê, chén súp, dĩa đồ ăn nóng hổi, trước khi nhận bao giấy thực phẩm khô, vật dụng mang về. Khách còn được tham gia một sinh hoạt Xuân, do Anh Lê Văn Hải, trưởng nhóm Mõ Nhân Ái điều động, đón Tết, vui vẻ, đầm ấm tình thương, tình mến, như người trong gia đình.
Đây là một trong những mục đích, chủ trương độc đáo của nhóm. “Của cho, không bằng cách cho!” đem không khí yêu thương ngày lễ, đến với những người khốn khổ, bơ vơ, bị đẩy ra lề xã hội, đang thèm chút tình thương. Đây là một món qùa tinh thần quý báu, mà họ còn trân quý, hân hoan đón nhận, hơn là giúp họ vật chất. (Chính vì lý do, sống trên đời mà không có lấy một người thân này, mà họ đã tủi thân, qua đời nhiều nhất vào những dịp lễ cuối năm. Năm nay, cũng có vài người VN.)
Có lẽ, một điều lạ lùng, dù họ là người Mỹ, đủ loại sắc tộc, mầu da, mà lại nhớ đến Tết Việt Nam, còn hơn cả…nhiều người Việt! Sau khi ăn Tết Tây, họ biết sắp được lại ăn Tết Ta! (Truyền thống sinh hoạt này, kéo dài cả gần chục năm nay, nên họ rất nhớ.) Nhiều người còn biết cả tiếng Việt, khi nhận được bao Lì Xì, biết nói tiếng Việt không dấu “cam on” và “chuc mung nam moi!” rất thân thiện.
Nhất là những người trúng những lô xổ số, họ biết ý nghĩa trò chơi này, nếu họ trúng, sẽ có được sự may mắn cho suốt cả năm! Nên ai trúng, đều nhảy lên, la lớn mừng rỡ. “Tôi là người may mắn nhất!”
Rất nhiều người tâm sự với anh Hải “Cám ơn Nhóm, đã không quên, năm nào cũng nhớ mang không khí tưng bừng ngày Tết của người Việt đến với họ. Thật là vui, lại nhận được phong bao đỏ mừng tuổi, mục mà họ thích nhất!”
Họ còn biết Năm Mới là năm Con Cọp! con vật tượng trưng vô địch về sức khỏe, nhanh nhẹn, dẻo dai, xứng danh “Chúa Sơn Lâm!” Sẽ vồ, xực hết, xơi tái ngon lành các Cô Víc, Cô Vy, Cô Na, Cô Ôm, Cô Míc, Cô Con, cho thế giới được an bình! Niềm mong ước Mùa Xuân năm nay.
Chúc Mừng Năm Mới!


LỜI GỬI MÙA XUÂN
Võ Đại Tôn
Trong lúc chờ Mùa Xuân Dân Tộc
Vĩnh cửu đến cùng Núi Sông.
Xin cho một sợi nắng hồng
Sưởi ấm con tôi ngồi bên bãi rác.
Bụng đói tay run, mắt nhìn ngơ ngác
Tìm chút gì ăn trong đống hôi nồng.
Lũ chuột vây quanh, giòi bọ chạy rông
Đời con tôi còn thua giòi chuột.
Một miếng ăn thừa, “đại gia” không thèm nuốt
Nuôi thân con thêm giọt máu trong người.
Nhưng nào đâu ? hàng triệu kiếp con tôi
Sống không có mùa Xuân trong đời bóng tối !
* * *
Xin cho một sợi nắng hồng
Rọi vào chốn hang cùng ngõ hẻm
Đàn em tôi, kiếp còn thua kém
Món hàng rong rao bán xứ người.
Bọn giàu sang hay tàn tật vui chơi
Ngồi chọn lọc, mua em làm nô lệ.
Từ thuở đàn con theo Cha ra bể
Chưa bao giờ tủi nhục như nay.
Vì miếng cơm em khóc từng ngày
Làm dâu Đại Hàn, Mã Lai, Trung Quốc.
Như cỏ dại, đời em bật gốc
Lê thân tàn, khô máu nghìn đêm.
* * *
Xin cho một sợi nắng hồng
Trên thân mẹ già khô cằn gánh vác
Mồ hôi chảy dài tóc đau sợi bạc,
Một đời lam lũ còng lưng.
Trong bóng đêm, nhìn yến tiệc tưng bừng
Của bao kẻ trị dân bằng sắt thép.
Trên thân cha, mắt mờ qua cửa hẹp
Nhìn khung trời toàn máu đỏ cờ sao.
Tuổi hoàng hôn, giòng lệ sót nghẹn ngào
Thầm mơ ước được một ngày no ấm.
Biết làm sao ? – chung quanh toàn bảng Cấm,
Cấm ước mơ, luôn cả Cấm làm Người !
* * *
Xin cho một sợi nắng hồng
Rọi vào xà lim tăm tối.
Anh-chị-em tôi, những người vô tội
Bị giam cầm vì Yêu Nước, Tự Do.
Vì không muốn tim bị đúc chung lò
Con-người-máy cúi đầu theo lệnh đảng.
Những người đấu tranh không ra ngoài giới hạn
Của Lòng Dân đòi Lẽ Sống, Công Bình.
Chỉ mong nhìn được chút nắng bình minh
Trên quê hương đã chìm sâu đáy vực.
Đảng dùng dối gian, hung tàn bạo lực
Bao năm rồi phá nát cả non sông.
* * *
Xin cho một sợi nắng hồng
Thêm sức sống vào mỗi tim dân Việt
Máu hòa chung, cùng đấu tranh quyết liệt
Đòi lại Quyền Dân, đứng dậy làm Người.
Tiếng khóc không còn giữa nắng hồng tươi
Toàn Dân Tộc viết ngàn trang Sử mới.
Xuân vĩnh cửu từ bao năm mong đợi
Sẽ bừng hoa trên khắp nẻo đường quê.
Tiếng thét Diên Hồng từ lịch sử chung thề
Vang dội lại, quyết tâm gìn giữ Nước.
Đàn em thơ cùng mẹ già chung bước
Bản đồng ca Nhân Bản dậy trời Nam.
* * *
Lời tôi gửi mùa Xuân
Trên hành trình từ bao năm gian khổ
Cùng Toàn Dân máu chung đã đổ
Trong xà lim bóng tối tù lao.
Không phải ngồi và lên tiếng thét gào
Làm gọng kính mạ vàng trong phòng lạnh,
Vỏ chai bia dưới gầm bàn hô đánh
Rồi chờ mong và chỉ có ước mơ.
Tôi gọi Xuân, xin tiếp nắng xây bờ
Chung chiến tuyến vì Hồn Thiêng Tổ Quốc.
Cho chúng tôi song hành cùng Dân Tộc
Thêm lửa tim, thêm một sợi nắng hồng.
Trời đất mênh mông
Không gian chẳng hề cách biệt.
Gọi Xuân về, thêm hoa vàng lá biếc
Cùng chúng tôi đi trọn hành trình.
Một ngày mai Tổ Quốc quang vinh
Trời đất Việt sẽ bừng Xuân vĩnh cửu !.
Võ Đại Tôn. / Hải ngoại,
*
MÙA XUÂN DÂN TỘC
GIỮA HỒN TÔI
Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)
1.
Nửa đêm tôi tỉnh giấc
Tưởng mình còn quê hương.
Bờ Mê hay Bến Thật
Sao sóng dậy trùng dương ?
Bước Xuân về thơm nhẹ gót vương hương
Mà nghe hồn trĩu nặng.
Dòng sông tôi giữa đêm trường hoang vắng
Chảy về Quê tìm lại bến Xuân xưa.
Tóc Em thơm, hương thoảng dầu dừa
Tay giặt áo, lén soi nhìn bóng nước.
Em cúi thẹn, chớp rèm mi nhung mượt
Cả trời Thơ vờn dáng mộng Em Thơ.
Tranh thủy mạc đẹp hơn cả nguồn mơ
Cho tôi sống những giờ đau viễn xứ.
Qua bóng hình Em, tôi yêu giòng Lịch Sử,
Núi sông còn thơm giữ trọn Tình Quê.
Bước chân khô Mẹ về
Rổ nghèo tan phiên chợ.
Từ Động Đình Hồ, sông than núi thở
Một đời Mẹ gánh Trăm Con.
Đường Mẹ đi, chân cứng đá mòn
Dăm củ sắn mà vuông tròn Đạo Lý.
Mẹ ngẩng cao đầu, trống đồng vang ngựa hí,
Nhìn đàn con lẫm liệt giữ Quê Cha.
Bờ Sông Hồng trăng chiếu ánh phù sa,
Hương Giang mộng, chập chờn xuôi Mái Đẩy.
Chín Rồng Thiêng thành Cửu Long sóng quẫy
Nắng hồng Xuân duyên kết lúa Nàng Hương.
Một nghìn năm chống giữ biên cương
Vẫn kiên cường khí phách.
Tám mươi năm, lòng chung huyết mạch
Thu về trọn dải non sông.
Mẹ ôm con, chưa vui thỏa tấc lòng
Bỗng nghe trời Xuân khóc.
Xác triệu con bên vệ đường tang tóc
Đói mòn Ất Dậu năm xưa.
Từng thân khô, trần trụi nắng mưa
Như đống rác giữa tồn sinh nhân loại.
Rồi Mậu Thân, vang tiếng cười lang sói
Nửa đàn con vì chủ thuyết lai căng
Vung cuốc lên, tay sát khí đằng đằng
Chôn tập thể, cạn khô tình Dân Tộc.
2.
Tôi tỉnh giấc, sao còn đây tiếng khóc
Dù đăng trình tôi vẫn quyết tâm đi.
Bao nhiêu năm không mỏi gót chỉ vì
Nghe tiếng trống Hà Hồi vang thúc giục.
Xuân Đống Đa, dù tay nghèo gậy trúc
Cũng lừng danh vạn thuở giống Rồng Tiên.
Tôi sẽ về – tìm dáng mộng trinh nguyên
Tranh thủy mạc ngày xưa – Em xỏa tóc
Bên bờ sông – sắc Xuân vờn châu ngọc
Nụ cười Em nhung mượt một đời Thơ.
Tôi sẽ về – không “vô cảm”, thờ ơ
Vênh váo cười vang trên lầm than Tổ Quốc.
Không đùa vui trên thân em gầy guộc
Chỉ bằng tuổi cháu con !
Tôi sẽ xin – vì lẽ sống còn
Của Dân Tộc – cùng hòa chung nhịp bước.
Tuổi cuối đời chỉ mong tròn nguyện ước
Cùng Toàn Dân đòi lại quyền Người.
Nghe cả trời Xuân vang dậy tiếng cười
Khi quỳ ôm chân Mẹ.
Được hôn lên từng nếp da nứt nẻ
Vì lịch sử oan khiên
Vì nửa đàn con quên cả hịch truyền
Dựng xây Mùa Xuân Dân Tộc.
Tôi thành trẻ thơ nhoài ôm Tổ Quốc
Như con tìm Mẹ, thơm ngủ mơ vàng.
Mẹ dẫn con đi, cuốc lại đồng hoang
Cho lúa mọc lừng hương trời Đông Á.
Bầy em con không còn ai trả giá
Bán buôn nô lệ da vàng.
Cho con khỏi nhục khi nhìn cảnh suy tàn
Vì giống Việt đang cằn khô Đạo Lý.
Bạo lực vùi chôn Nhân Vị
Đường hầm heo hút tương lai.
Đời tạm dung, trong mê-tỉnh đêm dài
Tôi vẫn thấy đẹp trời Xuân Dân Tộc.
Xuân giữa hồn tôi, hồi sinh Tổ Quốc,
Nhạc bừng reo, hoa tỏa ngát hương nồng.
Hồn sông tôi trôi chảy, vẫn xuôi dòng
Len sỏi đá, về Biển Đông tìm Mẹ.
Xin chờ con – dù hành trang gánh nhẹ
Nhưng nặng lòng vì Lẽ Sống Quê Hương.
Em hãy chờ tôi, bóng nước soi gương
Hồng lên má, nụ cười xưa giấu thẹn.
Tôi sẽ về – không quên lời ước hẹn
Giữa triều dâng bừng dậy sắc Xuân sang.
Xuân của đời tôi xin được hưởng Vinh Quang
Toàn Dân Tộc – nắng Xuân hồng phơi phới.
Trời Việt Nam lụa là thay áo mới
Trẩy hội lên đường, vui đón Tự Do.
*
Võ Đại Tôn. (Hoàng Phong Linh)
Hải ngoại.
*
NÀNG THƠ VÀ TẾT ĐÊM TÙ
(Mười Tết trong xà lim biệt giam – Hà Nội –
“Hỏi nơi này ? = Ai cũng nói Việt Nam !”)
Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)
Thân kính tặng Quý Bạn Tù Nhân Lương Tâm.
Từng buồng giam thăm viếng bạn tù chung.
Nghe tâm sự tận đáy lòng đau xót
Của bao người trong kiếp sống lao lung.
Vạn lời Thơ không chép hết bi thương.
Tiếng thở dài cuốn theo trời giông bão
Lời oán than chìm đáy nước trùng dương.
Nhìn tường giam như vách đá mồ chôn.
Bao tâm sự rụng dần theo mái tóc
Bước Thời Gian giẫm nát cả tâm hồn.
Hai bàn tay mười ngón đủ mười năm.
Giữa trần gian sao đây là địa ngục
Đâu thiên đường ? – mờ mịt cõi xa xăm !
Sống lạc loài như lũ trẻ mồ côi.
Nhẫm tên con mà nghe lòng tê tái
Đứa sau cùng đói sữa, khóc trong nôi.
Mơ về thăm từng giấc ngủ con thơ.
Theo gió đưa chuyến tàu khuya còi vẳng
Đường ngược xuôi thương cảm vợ bơ vơ.
Cơn bão về cũng sợ cảnh nhà tan.
Bữa cơm tù nước rau đầy hay cạn
Cũng âm thầm lo ngại giá leo thang.
Mà thân tàn còn lại chút xương da.
Đêm nằm mơ cánh chim trời bay bổng
Về quê xưa tìm lại tháng năm qua.
Tình sinh viên đại học của ngày xưa.
Nhưng giờ đây sách trường quen đã bỏ
Làm công nhân dầu dãi nắng cùng mưa.
Thuở em về tan học nắng dâng hương.
Chỉ cầm tay mà đêm trường không ngủ
Tên người yêu thành luận án đề cương.
Bên mẹ cha cùng em trẻ ngây thơ.
Nhưng còn đâu ? – Nơi đây tràn khổ nhục
Thở bằng hương dĩ vãng, sống bằng mơ.
Chữa cơn đau bằng những tiếng thở dài.
Lời kêu cứu từng gào lên ai oán
Biết gào ai ? – Gió thoảng bỏ ngoài tai.
Ly sữa đầy – nước mắt bỗng trào ra.
Trong tự điển nghĩa “Con Người” in nhỏ
Và từ lâu nét mực đã phai nhòa.
Thách thời gian, không muốn sống bằng mơ.
Vui chấp nhận khúc quanh đời nghiệt ngã
Chí Hùng Tâm đâu có cạn bao giờ !
Nên sầu đau chỉ thoáng thấy trong Thơ.
Tháng ngày qua vẫn bền gan vững chí
Nằm nghĩ suy thêm thế Nước cuộc cờ.
Bao quanh hồn nghìn tảng đá hoa cương.
Mỗi ngày qua – một huy chương nhận đủ
Trao cho Đời – xin chuyển lại Quê Hương.
Mỗi đêm về ghi chép vạn nguồn mơ.
Tìm vần vui nhưng sao toàn thấy lệ
Lao tù này chỉ có máu trong Thơ.
Từng bạn tù trong bóng tối viếng thăm.
Hỏi tên tuổi thì bao người do dự
Hỏi nơi này ? – AI CŨNG NÓI : VIỆT-NAM !!!
*
Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)
(sáng tác qua trí nhớ trong tù biệt giam, nay ghi chép lại, lưu niệm một quảng đời…).

PHIẾM HỔ PHÚ
**
Kìa thấp thoáng không khí xuân về;
Đà râm ran tạch đùng pháo nổ.
Tống tiễn năm Trâu;
Nghinh chào niên Hổ.
Mừng xuân tân kỷ, mạo bàn tếu táo muôn sự thế chuyện đời;
Nhân tết Nhâm Dần, lạm phiếm tào lao về họ miêu nhà Hổ.
Đời lắm tên gọi: Nào Ông Ba Mươi rồi Kễnh – khái – Dần;
Người đặt nhiều danh: Đây Chúa Sơn Lâm hoặc Hùm – cọp – Hổ..
Tộc dòng Mão, nhưng bơi lội thực tài;
Nòi giống mèo, nhưng trèo leo vụng dở.
Dũng mãnh nòi chi sánh Hùm;
Dữ dằn giống nào hơn Hổ.
Lang thang bơi lội quanh đầm nước sông hồ;
Sinh sống rập rình khắp rừng xanh đồng cỏ.
Ông Ba mươi vốn ung dung dạo khắp núi rừng;
Chúa Sơn Lâm ắt uy nghiêm quản riêng lãnh thổ.
Giương oai xua loài beo gấu, hề đoái chi lũ cáo bầy lang;
Khoái khẩu xơi bọn hươu nai, chứ thèm chi đùi gà thịt thỏ.
Vì nỗi tan tành núi đỏ, khiến Hùm – Cọp đau thương lâm cảnh rỗng ruột tiệt nòi;
Bởi người phá nát rừng xanh, nên Kễnh – Dần tức giận về làng tha trâu bắt chó.
Nay chỉ tồn sinh vài chốn rừng sâu;
Giờ đang dẫn đầu trên trang sách đỏ.
Tiệt nòi tiệt giống, hoang vắng trên cõi Đông Dương;
Đông họ đông hàng, thoải mái quanh vùng Ấn Độ .
Là biểu tượng của lắm đoàn quân ;
Là Lo – go của nhiều lãnh thổ.
“Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt”, ông hổ sa cơ quặn nỗi nhớ rừng; (1)
Ôm bao mối muộn sầu chốn thành đô, gã hùm thất thế buông lời than thở.
*
Truyền thuyết rằng:
xưa ngạo chê trâu, cam để lão người khiển,mãi kéo ách bừa xác nhọc mỏi ê; .(2)
Rồi nằm cuộn chão, hòng thấy cái trí khôn, nên hứng lửa thiêu lông thành vằn vọ.
truyện Thủy Hử, chỉ vài thế tuyệt chiêu, đấm vỡ đầu cọp, thật nổi danh tài cự phách là gã Võ Tòng;
Sử nước Nam, với đôi tay dũng mãnh, đòn gãy cổ hùm, kém thua chi sức phi thường có Ngài Như Hổ. (3)
*
Ca dao lắm ngữ luận kim;
Tục ngữ nhiều câu bình cổ:
Duyên cần giữ, “nữ thực như miêu”;
Sức để cầy, “nam xực như Hổ”.
Ba cô đập chột một chàng;
Quần hồ cắn nhừ mãnh hổ.(4)
liều lĩnh “vuốt râu hùm”;
dại dột “sờ dái ngọ”.
“Ky cóp cho Cọp nó xơi”;
Khoe khoang cho trộm nó thó.
Đời chẳng lạ, gan sứa mà múa miệng Hùm;(5)
Đời cũng hay, tài còm lại cong mồm nổ.
“Cọp chết để da”, ngai rồng một mảnh, còn phủ rạng sắc vằn;
“Người chết để tiếng”, bia miệng ngàn năm, mãi truyền trơ nỗi hổ.(6)
Hùm thiêng thất thế cúi hèn; (7)
quân tử sa cơ tất bó .
“Rung cây nhát khỉ”, đòn tâm lý cao thủ giỏi bày;
“Điệu hổ ly sơn”, mưu kế xưa tướng tài khéo trổ.
Chớ vênh kiêu như “cáo đội lốt hùm”;
Rồi khốn nạn như “khỉ ngồi lưng hổ”.
*
Phiếm chuyện Hổ xọ sang chuyện đời:
Có lắm kẻ vênh râu cáo, bởi mượn oai hùm;
Lại nhiều gã hiếp người đời, khi ngồi ngai hổ.
Hùm đói không xơi xác thúi, ấy lắm quan ăn bẩn mới kinh;
“Hổ dữ chẳng ăn thịt con”, vậy mà người phá thai sao nỡ ?
Người có biết leo lên ngôi chẳng xứng, kỳ “dễ tựa tróc Hùm”;
Kẻ có hay thoái lui mạng muốn toàn,lại “nan tuồng phóng Hổ”.
Giữa lúc tranh giành, lắm kẻ vì phần thua miếng thắng, liền giở thói cáo cáo cầy cầy;
Trong cơn kích động, nhiều anh chửa tường lời đúng lẽ sai, vội xử sự hùm hùm hổ hổ.
Hóa hư bột hư đường;
Đâm mẻ đầu mẻ cổ.
*
Chữ xưa rằng:
Biết người biết mặt, chứ làm sao hiểu tận lòng người;
Họa dáng họa bì, rõ nan chi vẽ tường cốt Hổ.(8)
Cọp trong chuồng tựa hồ trong chảo, dễ nấu cao giỏi gì mà khoe;
“Tửu nhập lâm như hổ nhập tâm”, tránh xa bợm cớ chi phải hổ. (9)
Bả lợi danh, chớ tham lam vét phần vơ miếng, kẻo rồi rơi tõm miệng Hùm;
Đường quan lộ, đừng mưu mẹo leo ghế chạy quyền, coi chừng lâm thế cỡi hổ.
*
Tin chẳng mới, đã dăm năm đọc nghe muốn nhàm;
Chuyện không đùa, thật trăm phần đến xem thì rõ:
Nuôi hổ như nuôi mèo;
Sát cọp tuồng sát chó.
chuyên kiếm mối lợi, làng Đô Thành lớn mật nấu cao;
Chẳng gờm di họa, dân Nghệ An to gan dưỡng Hổ.(10)
Đem nấu cốt, món quan ông lắm mộng thòm thèm;
Lột lấy da, thứ đại phú muôn tiền ham hố.
Ai chê kiểu cách sinh kế liều ;
Ai bĩu mô hình kinh tế nhỏ?
Năm mới năm me:
Hình tượng Hổ, tạo uy dũng cánh “Mai Lộc” khoe vàng;
Chậu gốm Hùm, tăng cốt cách gốc “Đào Phai” thắm đỏ.(11)
lên bìa lên lịch, phô tính cách kiêu hùng Chúa Sơn Lâm tỏ vương quyền đế vương;
tràn báo tràn phim, khoe dáng vẻ oai lẫm Ông Ba Mươi không hổ danh nhà Hổ.
Tiễn Sửu Vương thoái vị, mong trời cuốn sạch sành sanh dịch họa tai ương;
Nghinh Hổ Đế đăng quang, vọng đời tràn ẵm ăm ắp phúc tài lộc thọ .
*
Nhắn Hùm Vương:
Ngai tới lượt, phân sao tỏ phường nịnh tôi trung;
Cờ đến cơ, phất sao đặng xứng đầu đáng mỏ.
Tha hết phường tham nhũng quẳng kho;
Vồ sạch bọn quỷ ma ăn cỗ.
Cho xã hội công bằng ;
Để đồng bào đỡ khổ.
Mang cơm no áo ấm, lạc nghiệp muôn nhà;
Trị quốc thái dân an, ấm yên trăm họ.
Năm Sửu năm Ngưu khứ, muôn họa phắn chiều lòng, trăm họ tết an khang;
Niên Dần niên Hổ lai, vạn sự hanh như ý, muôn nhà xuân hạnh ngộ.
Chúc thương gia buôn bán đắt hàng;
Chúc nông gia bội thu đầy khố.
Dân lao động, đều sống thừa dư;
Người công nhân thoát đời nghèo khó.
Nụ cười tươi nở môi người;
Tiếng hát hoan tràn xóm ngõ.
Chúc kẻ kẻ năng động hơn Hùm;
Chúc người người sức cường như Hổ.
đáo hội đáo hè, phiếm linh tinh vớ vẩn, đôi điều nghe lóm đó đây ;
Vui xuân vui tết, bàn tếu táo tào lao,mươi chuyện nhặt gom kim cổ..
*
CAO BỒI GIÀ
25-01-2022
*
**Ghi chú:
(1): Câu đầu trong bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ.
(2): Truyện cổ tích xưa kể rằng: Hổ thấy trâu cứ phục tùng nông dân kéo cầy, nên chê trâu là dại sao lại sợ lão người nhỏ bé kia. Trâu nói rằng người tuy bé nhỏ, nhưng có trí khôn hơn muôn loài. Hổ gặp người và đòi cho xem cái trí khôn, người bảo đang để cái trí khôn ở nhà. Hổ bảo người về lấy cho ta xem. Người nói lỡ ta về mi chạy trốn thì sao. Hổ bảo cứ trói ta lại rồi về lấy, ta làm gì phải trốn. Thế là cọp để người trói mình lại và người nông dân đã đốt lửa thiêu hổ rồi nói đó trí khôn của ta đó. Hổ đau quá vùng vẫy khiến dây đứt rồi chạy vào rừng. Từ đó lông hổ thành vằn vện do lửa chưa bén vào các chỗ thừng trói.
(3): Lê Như Hổ là biệt danh của Lê văn Khôi, người con nuôi của Tả quân Lê văn Duyệt.
(4): Từ câu tục ngữ” mãnh hổ nan địch quần hồ”
(5): Từ câu tục ngữ “gan sứa miệng hùm”.
(6): Từ câu tục ngữ “cọp chết để da, người ta chết để tiếng”.
(7): Từ câu tục ngữ “hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn”
(8): Từ câu: Họa hổ họa bì nan họa cốt/ Tri nhân tri diện bất tri tâm”
(9): Từ câu “Tửu nhập tâm như hổ nhập tâm”
(10) Ở làng Đô Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An dân xây chuồng nuôi hổ như heo để bán thịt da, cao cốt.
(11): Năm nay hoa mai và đào được trưng bày trong các chậu gốm hình Hổ dáng cọp.
Vận động Giải Nobel Hòa Bình 2023 cho Phạm Đoan Trang
(Việc tham dự rất đơn giản. Sau khi đọc hết tài liệu này quý vị xin gừi cho chúng tôi qua email vietmuseumsj@gmail.com cho biết tán thành ghi danh đề nghị giải Nobel hòa bình cho Đoan Trang.Họ và tên, nghề nghiệp, tổ chức hay cơ quan đoàn thể, chức vụ hay đoàn viên. tel email và địa chỉ nhận thư. Chúng tôi sẽ tổng hơp danh sách và thông báo tin tưc )
Quý vị tại vùng San Jose xin mời dự tiếp tân hội Tết Xuân Văn hóa, tết Nhân quyền lúc 12:30 pm thứ bẩy 29 tháng 1-2022 tại Viet Museum số 1650 Senter Rd. San Jose CA. Nói chuyện về Doan Trang và chuyên Nhân quyen tai Viet Nam)
MO DAU “Ủy Ban Giải Nobel Na Uy đã quyết định trao giải Nobel Hòa Bình 2021 cho Maria Ressa và Dmitry Muratov vì những nỗ lực của họ để bảo vệ quyền tự do ngôn luận, một điều kiện tiên quyết cho dân chủ và hòa bình lâu dài”. Cong dong Viet Nam ben Canada dang van dong cho Pham Doan Trang lanh giai nam 2022 nhung co the qua muon vi thoi han cuoi la 31 thang 1 nam 2022. Chung toi de nghi de nghi cong dong Bac CA bat dau van dong cho nam 2023. Chung ta co ca nam dai de lam viec.
VAI HANG VE DOAN TRANG: Co 44 tuoi sinh nam 1978 tai Ha Noi, la nguoi truong thanh trong the gioi cong san tu mien Bac, Doan Trang la nguoi thong minh, hieu hoc da duoc nhan hoc bong du hoc Hoa Ky. Muoi nam truoc sau khi tot nghiep tren duong ve Viet Nam co da ghe lai tham Viet Museum va binh tinh chup hinh voi ngon co vang tai nhieu noi sinh hoat voi cong dong, Duoc hoi co dieu kieu sau khong o lai hoc them va song luon voi nguoi Viet hai ngoai. Co tu choi va cho rang da hoc duoc nhung kien thuc tai My phai ve giup dong bao. Co da tro ve va miệt mài suốt hơn 10 năm trên con đường bảo vệ nhân quyền như vậy, nhà báo Pham Đoan Trang không hề chùn bước ngay cả khi hai chân Cô bị công an đánh gẫy, đầu bị chấn thương, cộng với những vết thương khác trên thân xác và tinh thần. Dù biết trước sẽ hứng chịu những đàn áp dã man như thế nhưng Cô vẫn dửng dưng trước cơ hội ở lại Hoa Kỳ sau một năm học bổng, và dũng cảm trở về Việt Nam để tiếp tục dùng ngòi bút vận động cho tự do và dân chủ.
THANH TICH DAU TRANH:Với mục đích truyền bá kiến thức, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền, Cô và các bạn thành lập Tạp Chí Luật Khoa chuyên về luật, chính trị và nhân quyền năm 2014. Cô đã soạn thảo và phổ biến nhiều sách báo từ vấn đề quyền của giới tính thứ ba, bảo vệ môi trường, bênh vực quyền con người, nhưng có lẽ quyển sách làm nhà nước CSVN hoảng sợ và có những phản ứng hung bạo nhất là quyển sách thứ 9: Chính Trị Bình Dân, xuất bản năm 2017, nhằm phổ biến kiến thức cơ bản về chính trị cho mọi người dân, nhất là giới trẻ. Cô đã bị bắt cóc, đánh đập dã man, đến nỗi phải sống lẩn trốn. Dù vậy, Cô vẫn tiếp tục viết và hoàn thành những cuốn sách giá trị như Chính Trị của Nhà Nước Công An Trị, Phản Kháng Phi Bạo Lực, Cẩm Nang Nuôi Tù, và những quyển viết chung như Cánh Đồng Sênh: Báo Cáo Vụ Tấn Công Đồng Tâm, sách dịch Tội Ác Phải Bị Trừng Phạt. Cuộc tranh đấu bền bỉ của Cô Phạm Đoan Trang qua bao nhiêu bài viết và những quyển sách giá trị được hỗ trợ mạnh mẽ trên thế giới.
CAC GIAI THUONG :Cô được trao các giải thưởng sau đây: –
Năm 2017, giải thưởng Homo Homini của tổ chức nhân quyền People in Need tại Tiệp –
Năm 2019: Press Freedom Prize của Reporters without Borders –
Năm 2020: IPA (International Publishers Association) Prix Voltaire, trao cho Nhà Xuất Bản Tự Do (Liberal Publishing House) do Cô thành lập năm 2019.
Sau hơn 2 năm ẩn trốn, cô bị bắt ngày 6-10-2020. Ngay sau đó, các cơ quan truyền thông quốc tế như The New York Times, CNN, The Guadian, AP, Reuters, Washington Post, Economist, Bloomberg, DW, VOA, BBC, Al Jazeera, Independent, Le Monde, v.v… đưa tin với lời mô tả sự đàn áp nhân quyền tại Việt Nam. Một số các tổ chức nhân quyền chỉ trích việc bắt giam này và yêu cầu chính quyền Việt Nam phải trả tự do lập tức cho Cô như: Amnesty International, Pen International, Reporters without Borders, Human Rights Watch, Committee to Protect Journalists, Front Line Defenders, International Federation for Human Rights, International Federation of Journalists, Institute for War and Peace Reporting, v.v. Sau khi Cô Phạm Đoan Trang bị bắt, Ngoại trưởng Cộng Hòa Tiệp Tomáš Petříček nhắc lại rằng Cô được trao giải thưởng Homini vì lòng dũng cảm và sự đóng góp của Cô trong nỗ lực bảo vệ nhân quyền, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ đặc trách Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, ông Robert A. Destro, lên án chính quyền Việt Nam về việc bắt giữ Cô và kêu gọi trả tự do ngay lập tức cho Cô và xoá bỏ tất cả những tôi phạm mà Cô bị truy tố.
Về phía các chuyên gia về nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, họ ra thông cáo phản đối việc công tố viện Việt Nam kết tội hình sự Cô với chứng cớ là 3 bản tường trình về tai hoạ Formosa cho môi trường biển, bộ luật về tôn giáo năm 2016, và những vấn đề nhân quyền tổng quát tại Việt Nam mà Cô là đồng tác giả.
PHIEN TOA LICH SU; Cô Phạm Đoan Trang bị đưa ra xử ngày 14-12-2021 tại Toà Án Nhân Dân Hà Nội trong một phiên toà được thế giới đặc biệt chú ý với sự hiện diện của đại diện các toà đại sứ Canada (đại diện cho cả Tân Tây Lan, Na Uy, Thuỵ Sĩ), Hoa Kỳ, Liên Hiệp Âu Châu, Anh, Pháp, Đức, Hoà Lan và Tiệp. Bất chấp sự bất bình trên thế giới, Toà Án Nhân Dân Hà Nội kết án Cô 9 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa”.
Hy sinh cả tuổi thanh xuân để tranh đấu cho lý tưởng tự do, Cô Phạm Đoan Trang xứng đáng được đề cử Giải Nobel Hòa Bình để đại diện cho tất cả những nạn nhân đã bị chế độ Cộng Sản Việt Nam bức hại suốt gần 70 năm qua vì đã tranh đấu cho các quyền căn bản của con người.
CONG DONG VIET NAM CANADA VAN DONG
Chúng tôi kêu gọi tất cả các cá nhân, hội đoàn tranh đấu cho nhân quyền tại quốc nội cũng như ở hải ngoại hãy cùng nhau hiệp lực vận đông cho Cô Phạm Đoan Trang được danh dự này bằng cách gấp rút vận động vị Dân Biểu tại địa phương đề nghị Giải Nobel Hoà Bình cho Cô trước ngày hạn chót, 31-1-2022. (Thoi han nay se khong kip. Hay ghi danh cho nam 2023, se con thoi gian dai de van dong)
CAC HOI DOAN DONG KY TEN :
1. Thanh Niên Canada Tranh Đấu cho Nhân Quyền tại Việt Nam (CYHRV, BS Nguyễn Khuê-Tú, Vancouver) 2. Cộng Đồng Người Việt Tự . . Do Ottawa (Nguyễn Thị Hà Quyên, Ottawa) 3. Tổ Chức Văn Hoá Việt Ottawa (Trần Phương Thu, Ottawa)) 4. Canadian Vietnamese . . . . Network (James Nguyễn, Toronto) 5. Hội Người Việt Nova Scotia (Trương Thoại Siêu, Halifax) 6. Voice Canada (Đỗ Kỳ Anh, Toronto) 7. Cộng Đồng Người Việt Tự Do Manitoba (Nguyễn Văn Ba, Winnipeg) 3 8. Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà – Ontario (Đồng Văn Minh, Toronto) 9. Cộng Đồng Người Việt Vùng Greater Vancouver (Mai Phú Hưng, . Vancouver) 10. Hội Yểm Trợ Nhân Quyền Montréal (Hà Tuấn Chương) 11.Swiss Vietnam Committee COSUNAM (Sébastien Desfayes, Genève, Suisse) 12.Hội Cassava – Montréal (Bùi Xuân Mai, Montréal) . . . 13.Hội Hưng Việt (BS Dương Đình Huy, Montréal) 14.Hội Y Sĩ Việt Nam tại Canada (BS Nguyễn Hữu Trâm Anh, Montréal) 15.Hội Bảo Vệ Di Sản Việt Nam (Ngô Anh Võ, Montréal) 16.Hội Bảo Tồn Văn Hoá -Lịch Sử Việt Nam tại Canada (Trần Quốc Tuý, Montréal)
. 17.Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trên Thế Giới (Vũ Văn Thái, Montréal)
. 18.Viện bào tàng Thuyền nhân và VNCH (Dai Ta Vu Van Loc San Jose.CA USA) (còn tiếp)
— Vận động Giải Nobel Hòa Bình 2023 cho Phạm Đoan Trang
(Việc tham dự rất đơn giản. Sau khi đọc hết tài liệu này quý vị xin gừi cho chúng tôi qua email vietmuseumsj@gmail.com cho biết tán thành ghi danh đề nghị giải Nobel hòa bình cho Đoan Trang.Họ và tên, nghề nghiệp, tổ chức hay cơ quan đoàn thể, chức vụ hay đoàn viên. tel email và địa chỉ nhận thư. Chúng tôi sẽ tổng hơp danh sách và thông báo tin tưc )
Quý vị tại vùng San Jose xin mời dự tiếp tân hội Tết Xuân Văn hóa, tết Nhân quyền lúc 12:30 pm thứ bẩy 29 tháng 1-2022 tại Viet Museum số 1650 Senter Rd. San Jose CA. Nói chuyện về Doan Trang và chuyên Nhân quyen tai Viet Nam)
RFA
2022.01.20


Nhà báo Phạm Đoan Trang và bản báo cáo về vụ Đồng Tâm FBNV/ RFA editedViệc nhà báo Phạm Đoan Trang nhận giải nhân quyền “như cái tát vào mặt chính quyền”00:00/00:00
Nhà báo Phạm Đoan Trang, người bị Tòa án Hà Nội tuyên đến 9 năm tù giam, vừa được công bố hôm 19 tháng 1 là một trong ba khôi nguyên của giải Martin Ennals năm 2022, đây được ví như giải Nobel trong lĩnh vực nhân quyền.
Nhà báo nổi tiếng này là người Việt Nam đầu tiên trong số gần 30 nhà hoạt động nhân quyền được trao giải từ năm 1993 đến nay.
Các đề cử và khôi nguyên của giải Martin Ennals được một hội đồng tuyển chọn gồm 10 thành viên của các tổ chức nhân quyền phi chính phủ hàng đầu thế giới. Giải thưởng nhằm bảo vệ và ủng hộ các nhà bảo vệ nhân quyền đang gặp nguy khốn.
Trong bối cảnh người được trao giải năm nay là bà Phạm Đoan Trang đang bị cầm tù, người đại diện của bà là ông Trịnh Hữu Long, Tổng biên tập Luật Khoa Tạp chí, đã thay mặt tham dự lễ công bố giải thưởng.
Trao đổi với Đài Á châu Tự do, ông Long cho biết ý nghĩa của việc giải thưởng được trao cho tù nhân lương tâm này:
“Cái giải thưởng này nó là một sự công nhận của không những các tổ chức nhân quyền quốc tế, mà còn của chính quyền thành phố Geneva (Thụy Sĩ) với những nỗ lực của Đoan Trang, và nó một lần nữa khẳng định những việc Đoan Trang làm là đúng.
Và chúng ta cũng cần bảo vệ những người như Đoan Trang, hơn nữa là tiếp nối những công việc mà Đoan Trang đã từng làm. Và chúng ta cần phải có thêm nhiều Đoan Trang hơn nữa thì chúng ta mới có thể tạo ra những thay đổi tích cực trong cái tình hình nhân quyền của Việt Nam được.”
Nhà báo Phạm Đoan Trang được giới thiệu là “Một nhà báo hàng đầu và nhà đấu tranh cho quyền tự do ngôn luận, bà ấy truyền cảm hứng cho những người khác lên tiếng”. Ảnh chụp màn hình Youtube Martin Ennals Award
Còn nhà hoạt động Phạm Thanh Nghiên thì cho biết rằng, thực tế có rất nhiều người hoạt động ở Việt Nam cũng xứng đáng được vinh danh, dù họ làm việc công khai hay âm thầm, nhưng với việc nhà báo Phạm Đoan Trang được trao giải năm nay thì đó là chuyện đáng vui mừng, bà nói thêm:
“Phải thừa nhận rằng Phạm Đoan Trang là một gương mặt tiêu biểu trong vài năm trở lại đây và giải thưởng dành cho cô ấy rất là xứng đáng. Và tôi nghĩ rằng không riêng gì tôi vui mừng đâu, mà cả gia đình, bạn bè, những người ủng hộ, những người yêu mến Phạm Đoan Trang trong những năm qua đều rất lấy làm vinh dự, và thấy một phần có mình ở đó.
Và đối với những người hoạt động nhân quyền thì tôi nghĩ rằng không có lý gì để mà không vui mừng trước một cái tin đầu năm rất là đẹp đẽ thế này, bên cạnh những chuyện bắt bớ, những phiên tòa bất công vẫn xảy ra trong bối cảnh này.”
Ông Phil Robertson, Phó giám đốc khu vực châu Á của tổ chức Human Rights Watch đồng thời là một thành viên ban giám khảo của giải thưởng nhận xét cho rằng, Phạm Đoan Trang là một người truyền lửa cho rất nhiều nhà hoạt động và nhà báo ở Việt Nam, nơi mà tự do biểu đạt bị xem là mối đe dọa.
Bàn về ý nghĩa của việc một công dân Việt Nam bị nhà nước của mình tuyên án tù nặng nề, nhưng lại được quốc tế vinh danh, bà Nghiên nói:
“Về phía nhà cầm quyền thì mỗi lần có một cái giải thưởng về những nỗ lực vận động cho nhân quyền, cho những quyền tự do dân chủ, thì đối với nhà cầm quyền người ta vẫn nói là như một cái tát đập vào mặt. Tôi nghĩ rằng một cái giải thưởng như thế này thì càng làm cho nhà cầm quyền bẽ mặt thôi.”
Nhà hoạt động này cũng cho rằng có thể chính quyền Việt Nam sẽ phản ứng trước thông tin này theo hai khuynh hướng, hoặc sẽ tỏ ra dè dặt hơn trong việc đối xử với bà Trang trong trại giam, hoặc sẽ trở nên hung hăng hơn.
Bà Nghiên cũng lấy ví dụ về cách mà chính quyền Trung Quốc đối xử với ông Lưu Hiểu Ba, người dành giải Nobel Hòa Bình năm 2010, nhưng đã bị giam cầm trong tù cho đến chết. Nhưng bà cũng hy vọng rằng chính quyền Việt Nam sẽ không hành xử tương tự như cách chính quyền Trung Quốc đã làm.
Giải Martin Ennals là phần thưởng quốc tế mới nhất dành cho bà Phạm Đoan Trang. Mỗi người được giải này sẽ được tặng tiền thưởng từ 20.000-30.000 franc Thụy Sĩ, khoảng từ 500 triệu đến 800 triệu đồng Việt Nam.
Hồi năm 2017, bà được trao giải Homo Homini của tổ chức People In Need. Năm 2018, bà nhận được giải của Mạng Lưới Nhân quyền Việt Nam. Năm 2019, bà được giải hạng mục ‘Tầm Ảnh hưởng’ của tổ chức Phóng viên Không Biên giới.
Nhà báo Phạm Đoan Trang bị bắt vào tháng 10 năm 2020, bà bị giam giữ đến tháng 12 năm 2021 mới được đưa ra xét xử.
Trong phiên tòa sơ thẩm diễn ra vào ngày 14 tháng 12, bà bị buộc tội “tuyên truyền chống nhà nước” theo điều 88 của Bộ luật Hình sự năm 1999, và bị kết án chín năm tù.
Giao Chi San Jose. giaochi12@gmail.com (408) 316 8393

VỀ GỌI MÙA XUÂN . – CAO MỴ NHÂN
*
Em về cuốc núi trồng hoa
Lệ rơi thấm đá, rừng xa xót buồn
Tình anh chan chứa trong hồn
Ngẩng nhìn sương khói bay dồn lũng khơi
*
Đá trong tay, đá thay lời
Vàng hoa sẽ đổi sắc trời quê hương
Mình em hiu quạnh trên đường
Những nơi anh với sa trường dở dang
*
Trưa rồi , mây trắng lang thang
Chiến hào xưa chất ngổn ngang muộn sầu
Em về mang nặng niềm đau
Bâng khuâng anh gởi tuyến đầu nhớ nhung
*
Núi ơi, đá mọc tuyệt cùng
Nguồn thương yêu xẻ thành sông êm đềm
Một rừng mai nở vàng thêm
Mùa xuân trở lại cho em hẹn hò …
*
CAO MỴ NHÂN (HNPD)
*
MỘT LẦN XUÂN GỌI – CAO MỴ NHÂN
*
Cành thay lá mới
Em đổi áo xanh
Rồi ngồi yên đợi
Sương rơi long lanh
*
Mùa xuân chưa tới
Nên anh chưa qua
Áo xanh như lưới
Nhện đang giăng tơ
*
Năm cùng tháng cuối
Tuổi vẫn mộng mơ
Tóc em như suối
Chảy trên dòng thơ
*
Hay là anh gọi
Mùa xuân sớm về
Để em thay áo
Mầu sắc đam mê
*
Em sẽ mời xuân
Nếu anh ở lại
Bên em một lần
Nhớ anh mãi mãi …
*
CAO MỴ NHÂN (HNPD)
*
MÙA XUÂN LỮ THỨ. CAO MỴ NHÂN
*
Có người nói với em
Đã nằm chờ giấc ngủ
Thì đừng nghĩ gì thêm
Về anh, dù thương nhớ
*
Nhưng mùa xuân đến đó
Tình anh vẫn còn đầy
Làm sao em ngủ được
Khi vắng một vòng tay
*
Anh bảo rằng đắm say
Cho em nhiều thi tứ
Thì cứ thả thơ bay
Theo mùa xuân lữ thứ
*
Anh còn mải bâng khuâng
Giữa bao la tình tự
Tặng em những mùa xuân
Vạn đoá hoa rực rỡ
*
Em mang vào giấc ngủ
Một hình ảnh mơ hồ
Trong gối chăn ấp ủ
Nồng nàn xuân vẩn vơ…
*
CAO MỴ NHÂN

Trong HNPD cả net lẫn com của quan Đồ Ngu tức nhà văn Nguyễn Trọng Hoàn của …tôi, tôi hay xí phần lắm, nếu điều gì đó phảng phất có tôi trong đó, có một bài viết về nhà thơ béo xụ, to ù Phạm Thiên Thư, với tuồng tích ” Ngày xưa Hoàng thị…”, có kèm hình ổng mới nhất, tuần trước.
Tôi vốn cũng không xa với nữ sĩ Tuệ Mai, người đưa ông lên đỉnh hoa vàng, xin lỗi tôi không xài danh xưng ” động hoa vàng ” như ai yêu thơ cũng theo dõi và biết phần nào.
Bài này đặc biệt chỉ kể về chuyện ở động hoa vàng thôi .
Ô mà với Phạm Thiên Thư thì có lẽ ” Động hoa vàng” là chính điểm cho bàn dân độc giả thơ mến mộ, chứ dẫu Thi sĩ Phạm Thiên Thư có lối hành văn thơ khá đặc biệt, nghĩa là có ngôn ngữ riêng, như kiểu lời nhạc đặc biệt Trịnh Công Sơn cùng thời, thí dụ:
Đoạn trường sổ gói tên hoa
Xưa là giọt lệ, nay là hạt châu …
( Đoạn trường vô thanh – Phạm Thiên Thư )
Lại cũng biện luận bằng câu: tiểu sử, thành tích, tác phẩm Thi sĩ Phạm Thiên Thư thì đã đầy trong sách báo đương thời, tôi chỉ lướt qua những kỷ niệm rất chân tình, còn nếu nói về mức độ đúng, sai…thì thưa quý vị, nó, kỷ niệm sắp đơn cử ra, thật đến độ quý vị có lòng, phải thẫn thờ buồn mãi …
Theo đề nghị của quý nữ sĩ trong thi đàn Quỳnh Dao, một hội thơ nữ lưu rất danh tiếng về mọi mặt, tôi đã nhận cái việc là sẽ tới lui chăm sóc cho nữ sĩ Tuệ Mai những ngày tháng sau cùng, khi bịnh ung thư của chị đã đến hồi bó tay, chỉ còn xài ” morphine” chế ngự các cơn đau dồn dập tới thôi.
Đó là những tháng cuối năm 1981, qua đầu 1982.
Tuy bịnh nặng như thế, mà cũng còn những khoảnh khắc chị có thể tâm sự với tôi về hành trình viết lách chưa gọi là xong của chị .
Tất nhiên làm sao xong được với một cây bút còn đầy sức sống, chỉ có sức khỏe người cầm bút ấy bị hao hụt dần, nhất là không ai chia xẻ với mình về mặt tâm tư tình cảm đúng đắn , đối với một phụ nữ sắp sáu chục tuổi, đầy mơ mộng .
Tôi có lẽ may mắn là thủa đó, mấy năm đầu thập niên 80 thế kỷ trước, mới xong tù cải tạo và lao động nông trường về, đối với tôi cuộc sống là quý giá lắm, nên tôi thông cảm ngay .
Mỗi ngày, vào buổi trưa, trên căn gác nhỏ ngôi nhà số K8
Đường Nguyễn Chí Thanh, tên mới, tôi không để ý tên cũ là đường gì . Chị vẫn có thể cười nói rằng:
Này Cao Mỵ Nhân, đã gặp Phạm Thiên Thư chưa ?
Tôi lưỡng lự: ” Chưa chính thức gặp, nhưng em có thấy anh ấy ở đâu rồi ”
Nữ sĩ Tuệ Mai cứ lúc khép lúc mở mắt, có lẽ chị đang mơ mộng, với giọng đều đều :
Thư, là thi sĩ Phạm Thiên Thư, chị Tuệ Mai luôn kêu Phạm Thiên Thư là ” Thư ” thôi, khác với nữ văn sĩ Nguyễn Thị Vinh thì bao giờ cũng ” Anh Nhật” tức nhà văn, điêu khác gia Nguyễn Hữu Nhật .
Thư vui lắm em ạ, khi chị khám phá ra Thư là một thiên tài, mình, là nữ sĩ Tuệ Mai, nói Thư phải đưa các tác phẩm xuất sắc đó lên cao hơn, vì giá trị của lời thơ …
Cao Mỵ Nhân đọc hết các sách thơ của Phạm Thiên Thư chưa ?
Sự thực tôi chưa đọc hết, song nhìn chị Tuệ Mai gần đất xa trời quá rồi, tôi gật gật đầu : ” Em có đọc …”
Chị Tuệ Mai tiếp : Cơ duyên đã khiến chị gần Thư, sau khi Thư rời hẳn Chùa ra đời, Thư là con trai duy nhất của cụ bà Thư Lâm, chị đặt cho cụ phương danh này, thì cứ việc sống bình thường trong xã hội Saigon, ở Chùa làm chi, cho dẫu Thư có tâm tu đi nữa.
Thế rồi Thư có ý định thành hôn với chị ( Tuệ Mai ) là lúc chị đã 50 tuổi, còn Thư 32 tuổi, 1972, cùng lượt với nữ sĩ Nguyễn Thị Vinh ( 48 tuổi ) và nhà thơ họa sĩ điêu khắc gia Nguyễn Hữu Nhật ( 30 tuổi ) .
Chị Vinh thì mới mẻ, bạo dạn và lãng mạn hơn chị nhiều, chị Vinh luôn làm chủ cuộc đời chị ấy, chứ chị ( Tuệ Mai ) thì … ngại quá, chị còn cái đại gia đình nặng trĩu phong kiến, cụ thân sinh vẫn đang tại thế, tức thi sĩ quá lão thành Á Nam Trần Tuấn Khải.
Chị còn bầy em gái 5 cô con bà dì, chị có 2 Con gái nuôi là Thanh Nhu có gia đình rồi, đang tá túc với chị trên căn gác ấy, cô con nuôi thứ hai đã đi tản, ở Mỹ , và là người luôn quà cáp về VN cho chị sau này .
Nên, Thư cũng …ngần ngừ, rồi quyết định thưa với cụ thân mẫu Thư, đoạn, Cao Mỵ Nhân biết không, chính bên nhà Thư đã tiến hành cho chị một đám cưới đàng hoàng, bằng chính tiền để dành, em ạ , đập cái hũ vàng ra, để mà lo sính lễ đấy .
Tôi có biết gì về giai thoại này, hơn nữa trước 30-4-1975 tôi còn ở QĐI/QKI của…tôi, 1972 là cái tuyến lửa quân nhân các cấp VNCH đang tái chiếm cổ thành Quảng Trị, tôi đang phờ phạc về công tác xã hội hậu phương, thương binh tử sĩ ở các quân y viện Huế, Đà Nẵng, có thì giờ đâu theo dõi chuyện tình thành phố chứ, tôi ậm ừ: ” Thế ạ ” .
Sau khi cưới nhau chính thức, chị về nhà Thư là ngôi nhà giống như biệt thự, tức là có hoa lá cây cảnh ở con đường XXX bên Gia Định, tức Quận Bình Thạnh.
Nhưng vẫn đi đi về về nhà chị, số K8 đường nêu trên .
Vài năm sau, nữ sĩ Tuệ Mai nghĩ là: Thi sĩ Phạm Thiên Thư có trữ tình , lãng mạn đến mấy, cũng cần có con cháu để nối dõi tông đường, nên chính chị là người hỗ trợ thiết tha việc cưới cho thi sĩ Phạm Thiên Thư đệ nhị ái thê, nguyên là ái nữ của nhà văn Hoàng Ly, người chuyên viết chuyện đường rừng thượng du Bắc Việt xưa.
Buồn cười lắm Cao Mỵ Nhân ạ, bấy giờ chị chưa rời hẳn nhà Thư đâu, bởi vì nơi đó chính là cái động hoa vàng được hình thành, hoa cúc vàng, rồi mùa xuân thì những cành mai vàng nở rộ biết không?
Nữ sĩ Tuệ Mai, tác giả 7 tập thơ trước 1975, đang ấp ủ 2 cuốn truyện dài :
Lưu Bình, Dương Lễ và nàng Châu Long mới,
Huyền Trân Công chúa .
đã ngã bịnh …vô Bịnh viện Bình Dân, để rồi cay đắng biết mình sẽ từ giã cõi đời .
Ngày tôi từ nông trường về thành phố, là chị đã giải phẫu xong khá lâu, nhưng vẫn trong ưu tư không còn cơ hội viết 2 cuốn tiểu thuyết nếu trên .
Chị giao cho nữ sĩ Như Hiên cũng trong Hội thơ Quỳnh Dao viết ” Nàng Châu Long mới “, để làm sao đánh bật cái tư tưởng phụ nữ cao vời, chứ không phải được Quan xưa Dương Lễ ngoắc ra truyền lệnh cho đi nuôi Lưu Bình, vì Châu Long là vợ 3 của Dương Lễ.
Chị có nhã ý giao cho tôi viết tiếp mấy chương để kết thúc cuốn Huyền Trân Công Chúa, với ý đồ là tôi phải làm nổi bật được vai trò công chúa Huyền Trân vốn nhà họ Trần của chị : nữ sĩ Tuệ Mai Trần Thị Gia Mình.
Nhưng tôi bận lo chuyện cơm áo, rồi chuyện ra đi theo diện HO của …tôi sau này, tôi không nhớ mình đã xếp 2 chương bản thảo công chúa Huyền Trân của chị ở chỗ nào nữa .
Một ngày được tin thi sĩ Phạm Thiên Thư sẽ ghé thăm chị Tuệ Mai, chị thản nhiên như bạn tầm phơ, không nghĩ đã một thời chị cùng thi sĩ họ Phạm đó kết nghĩa tào khang.
Tôi loay hoay vì lo cái chuyện cách đó ít lâu, nhà thơ Trụ Vũ đã chở Honda tôi tới tiệm hớt tóc ở Lăng Cha Cả, giới thiệu tôi giả đò là cán bộ văn hoá từ Hanoi vô Saigon, để chờ đi Cote d’ Ivoire công tác . ..muốn làm quen thi sĩ nổi tiếng miền nam, mà nhà thơ Trụ Vũ cảm thấy chỉ có Phạm Thiên Thư là hay không tưởng được .
Dịp đó, Phạm Thiên Thư đã lấy làm hãnh diện, và còn muốn cũng được đi Phi Châu như tôi chứ.
Lý do thi sĩ Phạm Thiên Thư và tôi chưa hề diện kiến nhau, nên Trụ Vũ kêu tôi là ” chị Đỗ Mai A ” .
Nay thi sĩ Phạm Thiên Thư tới thăm nữ sĩ Tuệ Mai, thì thế nào đây ?
Phạm Thiên Thư đã lên thang gác, tôi quýnh quá, trốn ngay vào nhà tắm sát phòng chị Tuệ Mai.
Nhị vị thi sĩ tên tuổi ngó nhau nhiều hơn là phải nói, một lúc thấy lâu, chị Tuệ Mai kêu:
Cao Mỵ Nhân đâu rồi, ra đây chứ, Thư tới này .
Tôi đành phải ra chào, cười hoà hoãn, Thi sĩ Phạm Thiên Thư nhìn tôi, tay chỉ chỉ : ” Trời, dám cùng Trụ Vũ phá tôi hả ? ”
Thi sĩ Phạm Thiên Thư cáo biệt rồi, thấy chị có vẻ buồn xa vắng, tôi kể cho chị Tuệ Mai nghe chuyện nhà thơ Trụ Vũ đùa cợt xem thử Phạm Thiên Thư thế nao, khi Trụ Vũ ” phỏng vấn” Phạm Thiển Thư là : Nam thi sĩ miền nam nổi tiếng là Phạm Thiên Thư rồi, còn nữ thi sĩ nổi tiếng miền nam là ai, anh có thể cho chị Đỗ Mai A đây một ví dụ .
Phạm Thiên Thư cười cười không trả lời, Trụ Vũ hỏi tới luôn:
” Chớ anh nghĩ thế nào về nữ thi sĩ Tuệ Mai ? ”
Thì Phạm Thiên Thư im lặng .
Nhưng tôi không kể chi tiết này ra với chị, vì chị đang đau, mà thái độ của Thi sĩ Phạm Thiên Thư cũng chằng …hào hoa mã thượng gì .
Ít ngày sau, nữ sĩ Tuệ Mai mất. Chúng tôi có thông báo bằng hữu văn chương biết ngày tiễn nữ sĩ Tuệ Mai về cõi vô cùng. Chị mất chiều mùng một tết, đưa ma sáng mùng bốn tết âm lịch năm ấy( 1982) vừa đúng hoa giáp .
Song nhà thơ Phạm Thiên Thư không đến tiễn biệt nữ sĩ Tuệ Mai, người đã đưa ông lên đỉnh hoa vàng, trong lúc khá đông thi văn sĩ Saigon xưa tới chia buồn cùng hương linh chị.
Đáng ngợi ca nhất là nữ văn sĩ Nguyễn Thị Vinh đã xin để tang nữ sĩ Tuệ Mai, viết 4 câu thơ và yêu cầu tôi đốt trước quan tài nữ sĩ Tuệ Mai lúc ở hỏa tháp Thủ Đức.
Nhà văn Nguyễn Thị Vinh nói cho tôi hay rằng: trong nghĩa cử bạn bè văn nghệ, chị phải để tang 4 người, 2 vị kia tôi không quen biết, còn 2 nữ sĩ Quỳ Hương và Tuệ Mai trong hội thơ Quỳnh Dao, tôi là em út thi đàn này, tôi phải biết chuyện đó.
Nhà văn Nguyễn Thị Vinh còn thủ thỉ: ” Em ơi, chính Tuệ Mai giới thiệu anh Nhật cho chị đấy ” .
Tới chiều hôm sau, thi sĩ Phạm Thiên Thư mới ghé lại ngôi nhà có hình ảnh cuối cùng của nữ sĩ Tuệ Mai, ” Gã từ quan ”
ấy mới lấy làm tiếc là không kịp về đưa đám nữ sĩ Tuệ Mai .
Buồn nhỉ, có lẽ nào như thế không ? Hình như câu ”
nghĩa tử là nghĩa tận ” đôi khi không được nhớ đến …
CAO MỴ NHÂN

Tiễn Đưa Ông Táo Về Trời!
Hôm nay tiễn Táo về trời
Gởi bao hy vọng nhờ Người bao dung
Xét theo hoàn cảnh nói chung
Gia đình góp sức chung lưng nên người!
Cuộc đời đôi lúc khóc cười
Nhưng ta đã cố vượt thời vươn lên
Sang năm may mắn gặp hên
Cháu con thành đạt, không quên cội nguồn!
Giữ cho tươi sáng tâm hồn
Lạc quan tiến bước vuông tròn nghĩa nhân
Khó khăn tháo gỡ lần lần
Chắp tay xin Táo góp phần giúp cho!
Bếp núc luôn được ấm no
Bàn tay tần tảo chăm lo hằng ngày
Cảm ơn ông Táo từ rày
Siêng năng lao động việc hay chẳng từ!
Giữ gìn truyền thống cần cù
Việc nhà việc nước giữ cho rạch ròi
Quyết tâm xây dựng giống nòi
Tự Do Dân Chủ dân thời yên vui.
(Phan Hạnh) – Lê Văn Hải (sưu tầm)

Tài liệu sưu tầm. Nguồn: Internet

Mai Thanh Truyết: Một nhà báo, nhà chính trị hay một nhà Khoa Học?
Nói đến Tiến si Mai Thanh Truyết thì đồng bào hải ngoại, nhất là những ai sống ở Nam Cali hẳn không xa lạ. Lại càng không xa lạ đối với những ai hằng quan tâm đến những vấn đề thời sự, khoa học và môi trường v.v…
Nói về những bài viết của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, chúng tôi nhận thấy ông không viết về đề tài nào khác hơn ngoài những vấn đề có liên quan đến khoa học. Ông không viết về một xứ sở nào khác ngoài đất nước Việt Nam cùng với những vấn đề nóng bỏng của nó. Và nếu có đi vào tìm hiểu một số khía cạnh thuộc về môi trường, hoặc phương thức sản xuất của một số nước nào đó thì cung chỉ là cốt để soi sáng cho tình trạng chậm tiến của đất nước Việt Nam. Chúng ta có thể thấy rõ chủ trương (chính trị) của cầm quyền CSVN đã và đang “ăn thông” với CSTQ để làm hại đất nước và người dân về nhiều phương diện. Sự kiện này được thấy rõ qua việc làm vô trách nhiệm cùng thái độ ươn hèn, khuất phục của CSVN đối với sự xâm thực một cách có chiến lược của CSTQ cùng những hiểm hoạ của nó.
Những đề tài mà ông đã nói lên hoặc viết ra thực tình mà nói, trong khuôn khổ một bài nhận định ngắn này, với một kiến thức hạn hẹp của người viết như thế này, không sao kể hết và nói xuể. Sở dĩ như vậy vì các bài viết hoặc nói chuyện của ông vô cùng phong phú và đa dạng. Đại để có thể nói một cách không đắn đo rằng: Dù dưới bất cứ một đề tài nào, ông cũng chứng tỏ một sự vững vàng trong lập luận, chính xác về nguồn tin, rất khoa học khi phân tích và không thể phủ nhận chất hăng hái trong lối trình bày. Nếu bảo rằng ông là một nhà hùng biện thì cũng không đúng, và cũng không đúng hẳn khi nói rằng ông có “khoa ăn nói” như những người có tiếng là nói năng hay. Nhưng ông có một cái độc đáo riêng, “Mai thanh Truyết” là Mai Thanh Truyết. Không thể lầm lẫn với một Phan văn Song hay Nguyễn văn Trần-hai người bạn thân mà trong quá trình hoạt động Cộng Đồng chúng tôi có hân hạnh được biết. Lại càng không giống như Luật sư Trần Thanh Hiệp, một nhà tranh đấu có tiếng từ lâu, và là một trong những người bạn thân cũ của ông.
Điều quan trọng người viết muốn nhấn mạnh ở đây chính là giá trị của những bài viết của ông. Nó phản ảnh rất trung thực con người ông, lời nói cũng như việc làm. Nhất là có một tác dụng đáng kể: vừa chính xác, vừa có tính cách vô vị lợi. Và đó cũng chính là con người của ông. Có thể nói kể ra cũng bằng thừa, những điều ông đã viết, đã lên án, đã vạch trần và đã tố cáo cho mọi người, khắp nơi, trong cũng như ngoài nước biết rõ, biết chính xác về những điều ông thấy, đọc, nghe và nghiên cứu. “Tự giác, giác tha”, ông không chỉ là một nhà khoa học, một ông thầy dạy học, một đảng viên kỳ cưụ của Đại Việt Quốc Dân Đảng, một nhà tranh đấu, và thêm vào đó là một Phật tử chân chính nhưng không câu nệ. Nếu đi sâu vào từng khía cạnh một thì không thể kể hết, nên chỉ còn cách là mời các thức giả vào nghiên cứu những khía cạnh ông viết, nói và chia xẻ.
Những đề tài trong quá trình tranh đấu của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết có thể nói “vô tận”, nghĩa là “không có điểm bắt đầu và cũng không có điểm kết thúc” (lời ông nói trong một cuộc phỏng vấn về vấn đề hâm nóng toàn cầu). Một nhà chính trị không lập thuyết, một nhà khoa học không ngồi trong tháp ngà tư tưởng để chỉ nghiên cứu trên lý thuyết, nói cách khác một nhà hoá học thực nghiệm, Ông không chỉ mãn nguyện và an vị trong phòng thí nghiệm là đủ. “Con người” ông quả có nhiều “nghịch lý”. Là một chuyên viên phụ trách vấn đề phát thải tại Mỹ lại thường xuyên nghiên cứu về môi trường mãi tận Việt Nam. Từ bãi rác Đông Thạnh miền Nam đến vấn đề những dòng sông chết ở miền Bắc. Từ vấn đề Đồng Bằng sông Cửu, đến việc khai thác Bauxite tại Cao nguyên Trung phần Việt Nam. Ông “đi” khắp nơi, và đặc biệt chú trọng đến vấn đề môi trường ô nhiễm theo nghĩa toàn diện (không khí, đất và nước…vốn là những điều kiện cần cho cuộc sinh tồn của nhân sinh).
Đó là việc làm và là con người của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết. Nhưng vượt trên hết là một con người đấu tranh, đấu tranh theo nghĩa thiết thực nhất. Về điểm này có thể nói, ông còn nặng nợ với núi sông; mà hai điểm chính yếu và nổi bật nhất là đất nước và người dân: Nặng lòng với đất nước, quan tâm cho cuộc sống người dân. Phi tâm huyết, một người không thể làm được như vậy. Rõ ràng là ông đa đoan, cho nên:
Lại mang lấy một chữ tình,
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong” (Kiều)
như một nàng Kiều nặng tình với Kim Trọng. Nhưng “tình” đây chính là tình đối với đất nước, thiên nhiên, môi trường thiên nhiên và mối quan tâm đến con người. Và, ông không chịu ngồi yên một chỗ, hết “keo” này, ông bày “keo” khác.
Cho nên khi nói đến việc làm của ông mà không nói đến con nguời thì quả là một điều thiếu sót. Tôi không sống ở Mỹ nhung qua những mẩu đối thoại cá nhân, hoặc những bài nói chuyện với cộng đồng thì có thể biết được ông nghĩ gì và muốn gì… Chưa bao giờ ông đề cập đến con người của ông nhưng qua lối diễn tả, cách tiếp xúc, và lời lẽ đặc biệt “Nam Kỳ“ của ông người ta thấy thể hiện một sự chân chất, không màu mè, kiểu cách. Ông thân thiện với tất cả mọi người, dễ dàng và cởi mở. Quả thực Tiến si MTT có một cái gì làm người ta quý mến và cảm phục. Cảm phục không phải vì “tài năng xuất chúng” nhưng vì sự kiên tâm tranh đấu không mệt mỏi của ông. Đối với cộng đồng chúng tôi thì mối liên hệ với ông Tiến Sĩ họ Mai này lại có phần hơi đặc biệt. Đặc biệt là vì chúng tôi có những ý kiến chia xẻ cùng những nhận định về thời cuộc hay nói chung là về vấn đề liên quan đến Việt Nam. Có thể nói, không “ngoa”, rằng Mai Thanh Truyết là một người có tâm huyết với đất nước, một trong số hiếm những nhà tranh đấu chân chính hiện nay.
Hơn thế nữa, có thể nói khá chính xác rằng hiện nay ở Cali ông là người duy nhất gióng lên tiếng chuông báo động cho đồng bào thường xuyên nhất, tích cực nhất, những điều nóng bỏng nhất và cũng thiết thực nhất . Chỉ nguyên phản ứng của quần chúng đối vấn đề thực phẩm có độc tố, dù là tán thành hay phản đối- mà đa số vì muốn bảo đảm sức khỏe an toàn- đều hưởng ứng khá mạnh mẽ. …cũng đủ thấy việc làm của ông không phải là thừa. Ấy là chưa kể còn nhiều lãnh vực khác mà ông luôn luôn một mình, một ngựa có ông đi hàng đầu”.
Nhưng điều tôi muốn nói ở đây không phải chỉ là vì những hoạt động của ông đối với đất nước trong suốt hai mươi năm qua- Những đóng góp ấy không phải là nhỏ, trái lại rát phong phú và đa dạng. Đa dạng như chính con người của ông – mà là ý nghĩa và cộng đồng chúng tôi được hân hạnh gặp Tiến si Mai Thanh Truyết vào buổi xế chiều một ngày tháng 7 tại một thành phố Miền Tây Canada. Lúc ấy là vào mùa hè nên thời tiết thật đẹp, nắng vàng ấm và không khí trong trẻo. Thời tiết này giúp cho việc tham dự buổi nói chuyện của ông về một đề tài tưởng là khô khan nhưng lại vô cùng hấp dẫn.
Hôm ấy, ông đến với cộng đồng theo lời mời của Hội Ái Hữu Đồng Bằng sông Cửu Long, đồng thời cũng là chỗ anh em thân tình cũ với ông. Chúng tôi đến tham dự buổi nói chuyện của ông về vấn đề “Dioxin và Chất Độc Da Cam” mà ông mới xuất bản không lâu trước đó và đã cho ra mắt, cách đây hai năm. Buổi nói chuyện thật sôi nổi với nhiều câu hỏi sâu sắc được đặt ra. Và ông đã giải đáp thấu đáo với những dẫn chứng cụ thể và chính xác. Thật là cần thiết để đồng bào Việt Nam có thể được nghe chính lời của một nhà hoá học đã chịu bỏ công nghiên cứu kỹ lưỡng; để có thể đưa ra những luận cứ có giá trị, hầu “giải độc” cho mọi người về tất cả những gì mà CSVN đã gây ra, và rêu rao khiến người dân hoang mang.
Nhưng đây chỉ mới là một ví dụ trong nhiều ví dụ về những công việc mà Tiến si Mai thanh Truyết đã và đang theo đuổi. Chỉ trong suốt hai năm qua kể từ ngày đó, ông đã làm không biết bao nhiêu việc. Những thức giả hằng quan tâm đến thời cuộc và theo dõi việc làm của những nhà tranh đấu thì sẽ dễ thấy. Hình như ông không chịu ngồi yên để chỉ “khóc cười theo vận nước nổi trôi” như nhiều người khác, mà ông càng tranh đấu càng hăng say. Ông không chỉ dừng ở địa hạt Dioxin để nói lên cái thực chất của sự giả dối che đậy của nhà nước CSVN khi nhân danh vấn đề nhân đạo để …vòi tiền Mỹ .
Ông còn lưu tâm đến nhiều khía cạnh thiết thực khác như vấn đề ô nhiễm Việt Nam- một sự ô nhiễm toàn diện – và là một vấn đề nóng bỏng hiện nay. Ông đã nêu lên những dẫn chứng thật cụ thể cho việc làm của mình. Ông đã báo động cho mọi người thấy đây là một vấn đề trầm trọng không thể bỏ qua. Như đã nói trên, đây là một vấn đề toàn diện và bao trùm mọi lãnh vực, từ y tế (ô nhiễm dược phẩm), kinh tế (sản xuất hàng loạt thu hoạch lợi nhuận tối đa), cho đến đời sống xã hội (ô nhiễm thực phẩm, môi trường)… Những sự kiện này đã ảnh hưởng nặng nề đến cuộc nhân sinh (vụ nhà máy lọc dầu Dung Quất đã không thực hiện đúng tiêu chuẩn sản xuất nên có khả năng làm hại môi trường, và qua đó ảnh hưởng tai hại cho sức khỏe và cuộc sống người dân nói chung. Mặc dù chẳng bao lâu nhà máy này đã phải đóng cửa vì một số lỗi lầm trong xây cất, ông vẫn thấy có bổn phận phải nêu lên vì còn rất nhiều những công ty sản xuất với tính cách làm ăn tắc trách như vậy .
Hoặc như vụ công ty chế tạo Bột Ngọt Vedan đã mặc sức thải ra lòng sông những chất phế thải mà không hề xót xa cho sự sống của dòng sông. Sự kiện này và nhiều trường hợp tương tự cho thấy các công ty sản xuất tại Việt Nam hầu như chỉ nhắm vào nguồn lợi kinh tế mà không quan tâm đến phẩm chất của việc sản xuất cũng như của những thành phẩm. Và nhất là không hề để ý đến hậu quả của việc làm của họ. Hiện tượng này không những đã làm ô nhiễm môi trường vật lý mà còn ô nhiễm cả cuộc sống người dân v.v… Đứng trước tình cảnh và nông nỗi ấy của đất nước, ông không thể “im lặng là vàng” được.
Là một nhà hoá học, Giám Đốc một cơ quan xử lý chất phế thải (nói nôm na là rác) tại Hoa Kỳ ông đã biết lợi dụng những tiện nghi khoa học, và đem kiến thức gặt hái trong ngành ra ứng dụng vào thực tế để soi rọi vào những gì đang được CSVN thực hiện ngay trên đất nước Việt Nam. Chính cái nhìn “soi mói” cần thiết này đã mang lại tác dụng đôi:
Nói về việc làm của Tiến si Mai Thanh Truyết thì còn nhiều điều để nói. Mối ưu tư toàn diện của ông đối với sự lành mạnh của môi trường là gì nếu không phải xuất phát từ một khối óc hiểu biết và một trái tim sôi sục vì sự tồn vong của đất nước, muốn làm một cái gì ích cho nước, lợi cho dân.
Trên đây, người viết mới chỉ đan cử một vài ví dụ tiêu biểu trong vô số những hoạt động của Tiến si Mai Thanh Truyết mà độc giả có thể thấy trên mạng, trên báo chí, truyền thanh, truyền hình v.v…
Về phương diện chính trị, như đã nói trên, tuy ông không phải là một nhà chính trị thuần túy, hay nhà bình luận thời cuộc vì ông không “sống” vì chính trị, nhưng chính bản thân, ống đã dấn thân vào công cuộc chung. Trong vai trò Đệ Nhất Phó Chủ Tịch của Đại Việt Quốc Dân Đảng Đại Việt, Tiến si Mai Thanh Truyết tin vào sức vươn lên của con người trong nhiều lãnh vực, để tiến tới tương lại. Trong bài viết cũng như trong các mẩu đối thoại, ông chủ trương một thái độ lành mạnh. “Lành” trong chính trị có nghĩa là không chỉ dừng tại chỗ để ca ngợi thành quả đã qua hoặc tiếc thương những gì đã mất. “Mạnh”, vì Ông quả là một con người đa diện, mà “diện” nào cũng dám nói thẳng thắn, không do dự.
Về mặt tôn giáo, ông đã chứng tỏ là một Phật tử sống với chân tâm, không vụ hình thức. Với ông, nhận thức và hành động là một: Ông không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước những gì sai trái. Biết mà không nói, không phải là hiểu biết thật sự. Ông không chỉ bo bo giữ cho riêng mình những kiến thức thâu thập trong cuộc sống, trong xã hội, trên thế giới, nhất là trong địa hạt chuyên môn của mình. Cho nên ông phải truyền bá, phổ biến sau khi đã hấp thụ thấu đáo và tiêu hóa. Công việc này xuất phát từ một đam mê, một khối óc hiểu biết và một tấm lòng đối với đất nước.
Nói như thế, để thấy rằng Tiến sĩ họ Mai mặc dù không có ý định làm chính trị, cũng không phải là nhà lập thuyết về chính trị; nhưng cũng như bao nhiêu người có lòng khác, ông đã dấn thân vào đại cuộc từ lâu. Trong vai trò Đệ Nhất Phó Chủ Tịch của Đại Việt Quốc Dân Đảng, ông luôn chứng tỏ một thái độ năng động – của một người lãnh đạo có tinh thần trách nhiệm cao- trong việc hướng dẫn người trẻ nhận định tình hình và đi theo đúng con đường chính bằng một cái nhìn khai phóng và sáng tạo (website daiviet.us)
Từng giữ chức Trưởng Ban Hoá học tại trường Đại học Sư phạm Sài Gòn, và Giám đốc Học Vụ Viện Đại Học Tây Ninh, nơi ông đã từng giảng dạy vừa điều hành, ông đã đem kinh nghiệm giảng dạy và tổ chức trong quá khứ phối hợp với kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn nước ngoài để tiếp tục dìu dắt đàn em đi tiếp con đường tranh đấu cho dân tộc. Ông đã từng nhắn nhủ họ, trong những buổi nói chuyện, hội thảo, nhìn về tương lai với một niềm tin vững chãi. Vai trò hướng dẫn của một người thầy còn được thể hiện trong việc ông tham gia vào các sinh hoạt giáo dục, đóng góp ý kiến, tìm tòi tài liệu, liên lạc mọi giới. Và mỗi khi có cơ hội là ông bắt tay vào để phổ biến những kiến thức và kinh nghiệm của mình.
Để có thể hiểu thấu đáo việc làm của Tiến sĩ đa dạng họ Mai này, theo thiển ý, cách tốt nhất là xin đi vào “Blog” của ông (maithanhtruye.blogspot.com), hoặc vào trang website của Hội khoa Học kỹ Thuật (vastvietnam.com) hay của Đại Việt Quốc Dân Đảng (daiviet.us).
Vancouver, một ngày Mùa Hạ, 2010
Nguyễn thị Ngọc Dung
Nguyên Chủ tịch Cộng đồng vùng Great Vancouver



Giới Thiệu Một Chương Trình Văn Nghệ Độc Đáo, Ý Nghĩa Nhất Xuân Nhâm Dần 2022. Lê Văn Hải
Chiều Nhạc “Xuân và Người Lính VNCH.”
Lúc 2 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 23 tháng 1 năm 2022. Tại Quán Cà phê Lover, 1855 Aborn Rd, San José.
*Vào cửa, nước giải khát hoàn toàn miễn phí!
*Đây là dịp Hội Ngộ của những Người Lính Năm Xưa, để cùng đón Mừng Năm Mới với nhau, sau thời gian dài không có dịp gặp gỡ.

Lời Mời
Tết là thời gian thiêng liêng nhất trong năm của người Việt. Tết ngầm mang ý nghĩa sum họp, nói tới Tết, là nghĩ đến niềm ao ước đoàn tụ!
Dù ai buôn bán nơi đâu
Nhớ đến ngày Tết, rủ nhau mà về!
(Ca Dao)
Vâng, đó là truyền thống của tất cả gia đình người Việt chúng ta, từ xưa đến nay. Ngày Tết, không có mặt với cha mẹ, anh em, người thân, người yêu, là một điều bất hạnh nhất! buồn thảm nhất! “Xuân đến làm chi, chỉ thêm sầu!” Nhưng với người Lính “Xuân này con không về!” là chuyện rất bình thường. Cả thời gian cầm súng, hầu như Người Lính nào mà có Mùa Xuân?
Hễ mỗi độ Xuân về, khi Mai Đào hé nụ, ai cũng đều ước muốn sum họp với cha mẹ, gia đình, con cái, người yêu và bạn bè quyến thuộc, để cùng chung vui 3 ngày Tết. Hạnh phúc nào bằng! Cho dù suốt năm phải xa gia đình vì nhiều hoàn cảnh bắt buộc. Tuy nhiên, vẫn có những người gánh chịu nhiều thiệt thòi, phải dầm sương, dãi nắng, ngủ ở ven rừng, bờ suối, chung quanh dày đặc quân thù, để trấn thủ biên thùy, năm này qua tháng nọ. Hoặc xông pha trên chiến trường, mù mịt lửa đạn. Hên, thì Họ chỉ hưởng được chút hương vị Tết, qua những món quà ít ỏi do thân nhân gởi đến. Thiếu hẳn cái không khí Tết vui vẻ, mặn nồng tình thân, giống như người ở hậu phương. Thiếu hẳn đồng bánh chưng, mứt ngọt, dưa hấu, múa lân với tiếng trống, tiếng kèn, rộn ràng. Không có cành đào, hoa cúc “nếu Mai không nở, Anh đâu biết Xuân về hay chưa?” Họ thiếu, thiếu tất cả!
Nhưng họ là ai? Họ chính là những người Lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Những người Lính đã một thời anh dũng chiến đấu trong suốt gần 21 năm, để bảo vệ Miền Nam tự do, no ấm. Trong thời gian dài này, hàng trăm ngàn người người Lính đã nằm xuống. Rồi sau 75, một số đã chết trong các trại tù khổ sai, được khoác cho cái mỹ danh là “trại cải tạo”. Rồi rất đông là những người Thương Phế Binh, đói rách, lang thang xin ăn, trên khắp nẻo đường thành phố.
-Để tưởng nhớ và tri ơn Những Người Lính Năm Xưa. Chiều nhạc “Xuân và Người Lính,” nhằm Kính tặng đến tất cả những người Lính VNCH, một thời mặc Bộ Quân Phục, chân mang bốt đờ sô, cầm súng bảo vệ Quê Hương. Cũng như vinh danh sự hy sinh cao cả của Họ, những chiến binh anh dũng năm nào, chiến đấu bảo vệ, để cho chúng ta được sống.
-Chiều Nhạc như thay một lời “Cám Ơn Anh!” Hình ảnh lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm cao đẹp của Họ, sống mãi trong trái tim người Việt yêu chuộng Tự Do. “Tôi viết tên Anh trong trái tim tôi, để còn nhớ thương hoài!”
*Với những giọng ca của nhiều Cựu Quân Nhân một thời Bạc Áo Trận và Nhóm Văn Nghệ Liên Khóa KQ 72-73.
* Không thể bỏ qua, Buổi văn nghệ ý nghĩa nhất, đầy tình Huynh Đệ Chi Binh, một thời chiến đấu, sống chết bên nhau, của Mùa Xuân Nhâm Dẩn năm nay.
Lúc 2 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 23 tháng 1 năm 2022. Tại Quán Cà phê Lover, 1855 Aborn Rd, San José.
*Vào cửa, nước giải khát hoàn toàn miễn phí!
Trân Trọng Kính Mời
Trưởng Ban Tổ Chức
Người Lính Lê Văn Hải


TẾT VĂN HÓA VÀ NHÂN QUYỀN
TẠI SAN JOSE 2022
Xin thông báo hội đồng quản trị và cố vấn IRCC/Viet Museum
và thân hữu hội viên.
Kính mời quý vị tham dự.
1)Hội Tết Văn Hóa và Nhân Quyền do ông Lâm Hữu Đức và cô Hoàng Mộng Thu sẽ tổ chức vào 2 ngày trước tết thứ bảy 29 và chủ nhật 30-1-2022 tại Việt Museum trong History Park góc đường Phelan Ave. và Senter Rd. Vào cửa tự do.
2)Xin quý vị đọc thư mời, tờ quảng bá và sơ đồ tổ chức đính kèm gồm có hơn 30 gian hàng, 3 lều Trung Nam Bắc với trên 40 tiết mục trình diễn trong hai ngày.

3)Sẽ có sự hiện diện của các vị dân cử gồm thị trưởng, thượng nghị sĩ CA và giám sát viên County cùng các viên chức chính quyền
4)Vì trong thời gian chống dịch và thời tiết bất thường xin đồng bào thận trọng mang khẩu trang, chuẩn bị mặc đồ ấm, mang ô dù, áo mưa. Ban tổ chức cũng có chuẩn bị nước rửa tay và khẩu trang phát cho mọi người.
5)Trong một thời gian rất ngắn, gặp nhiều hoàn cảnh khó khăn ban tổ chức đã nỗ lực vượt qua mọi trở ngại với nhiều hy vọng sẽ thành công tốt đẹp.
6)Riêng phần Việt Museum hết sức vui mừng thỏa hiệp với danh hiệu Tết Nhân Quyền lần đầu tiên qua hơn 40 năm tổ chức có được tên gọi thiêng liêng làm ấm lòng các tù nhân lương tâm tại Việt Nam.
7) Để góp phần cụ thể trong tết Nhân Quyền, viện bảo tàng Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa sẽ có chương trình triển lãm hết sức đặc biệt chưa từng có trong cộng đồng hải ngoại. Xin mời quý thân hữu đến thăm.
Trân trọng kính mời.
IRCC/Viet Museum.
Giao Chi San Jose. giaochi12@gmail.com (408) 316 8393


Hồi đó vào khoảng đầu thập niên 80 thế kỷ trước, tôi đã gọi là xong hết mọi việc dính tới chuyện tù cải tạo nên thong dong đi chơi như bạn bè không thuộc nguỵ quân, nguỵ quyền Sài Gòn, tức là họ không phải đi tù tập trung như tôi.
Mỗi buổi sáng, tôi thường rời nhà ở khu nhà thờ Ba Chuông, đi bộ tà tà lên hướng Lăng Cha Cả trên con đường gọi là Trương Minh Ký, nối dài đường Trương Minh Giảng phía trên.
Tới ngã tư đường Thoại Ngọc Hầu thì rẽ phải đi một đoạn ngắn nữa, gặp đường nhỏ Nguyễn Minh Chiếu cắt ngang, rẽ trái đến số nhà 328 (gần cuối đường) bên tay mặt, tôi đứng trước cổng lớn của biệt thự Úc Viên.
Tôi đến chơi với nữ sĩ Mộng Tuyết – Thất Tiểu Muội như cơm bữa vì cũng chẳng có việc chi làm. Một hôm nghe tiếng chuông nhè nhẹ từ ngoài cổng biệt thự Úc Viên vọng vào.
Nữ sĩ Mộng Tuyết ngó đồng hồ rồi nói: Ông Khai Trí đến đó, đúng hẹn quá ha. Bà nói tôi ra mở cửa, đồng thời có định gặp ông Khai Trí thì bà giới thiệu…
Ông Khai Trí ở Sài Gòn trước 30 – 4 – 1975 ai mà không biết… Ông là giám đốc nhà sách Khai Trí ở đường Lê Lợi. Về sau ông vừa làm nhà xuất bản, tổng phát hành nên bộn bề công việc nhưng càng thêm uy tín và thân tình với đông đảo văn nghệ sĩ. Không ai không cảm phục ông về tấm lòng yêu quý sách từ thủa còn đi học.
Những hoạt động mua bán sách và giao tế tuyệt vời của ông với các tác giả cũng như khách hàng mà đa số là sinh viên học sinh thì khỏi nói.
Tôi chỉ đề cập tới một chuyện rất tầm thường nhưng lại… bất thường, chứ không nói tới chữ phi thường vì lớn lao và khôi hài quá!
Số là những ngày ông bị tập trung cải tạo ở Z30C Hàm Tân, cùng trại với anh rể tôi, trong vấn đề phân phối lao động…
Ai đã đi tù chính trị Cộng Sản đều biết cái điều mỗi lần chia tổ lao động, nó đòi hỏi tự nguyện, rồi mới chỉ định.
Thế thì nhà tổng phát hành sách vở, chữ nghĩa cứ thơm phưng phức hàng ngày vui cùng thiên kinh, vạn quyển kia nay tự sung vào cái tổ gánh phân rồi hoà tan thành nước phân bón tưới các rẫy vườn rau, đậu ngoài trại ấy.
Làm như thế thì chỉ phải lao tác nửa ngày, còn nửa ngày cọ rửa cho thân thể sạch sẽ trở lại con người… nhân bản được chút nào hay chút nấy. Khốn nạn cho cái xã hội khốn cùng đó.
Ở ngoài Bắc, dù không đi tù cải tạo người ta vẫn làm cái việc phân bón… thiên nhiên này, đến nỗi cả người lớn lẫn trẻ em đều bị cái bệnh tệ hại nhất thế giới là những cái bụng sán lãi bự chảng, mặt mũi xanh lét.
Ông Khai Trí đã từ ngoài cổng Úc Viên vô tới nửa hành lang, tay dắt xe đạp, trên ghi đông xe đạp còn treo một cái bị cói hơi cũ đựng sách truyện và những thứ cần thiết…
Chẳng biết đường trường kách mệnh của Hồ lão tặc sẽ vượt lên thượng tầng kiến trúc thế nào, chứ cái màn khốn khổ khốn nạn XHCN diễn đi diễn lại khiến cho con người đang từ phong nhã, hào hoa trở thành bần hàn ti tiện làm sao.
Nhưng người lịch thiệp thì cho dẫu đã trở lại bước đường hoa gấm ngày xưa, ông Khai Trí vẫn nhẫn nhịn, hoà nhã, chịu đựng đến độ thành bụt lúc nào không hay.
Cơ ngơi tài sản ông mất nhiều, mất ít thì tôi không rõ, nhưng những năm tháng sau cùng ở Sài Gòn, ông vẫn đi xe đạp, treo giỏ cói ở ghi đông với một nụ cười mà không biết phải diễn tả thế nào mới đúng: hoà đồng, khổ luỵ, buồn thương, chán chường…
Song vẫn đầy nghị lực, vẫn mong ước, chờ đợi một ngân hàng sách, một hệ thống phát hành ở khắp nước Việt Nam để từ đó cái xã hội sách bất khả của họ tự giẫy chết trong nghĩa địa sách mà họ lầm tưởng là có thể để đời…
Tuy nhiên đầu thập niên 90 tiếp theo, ông vẫn đi Hoa Kỳ.
Mộng làm giàu cho sách, chứ không phải sách làm giàu cho ông, vì giai đoạn này các con ông đã nên danh phận và ông đã già (1926 – 2005).
Thế mà có một buổi trưa kia, trên chiếc xe buýt chuyển trạm đường Brookhurst, ông Khai Trí đã khệ nệ bước xuống với mấy bao, giỏ sách thật nặng nề vừa đeo trên vai, vừa ôm trước ngực, vừa… thở hổn hển, mà vẫn tươi cười.
Tôi hỏi sao ông di chuyển sách nặng làm gì khổ thế. Là vì ông phải đi từ Los Angeles xuống ga chuyển Fullerton, rồi từ Fullerton qua buýt khác xuống thủ đô tị nạn Bolsa mà tôi gặp đó, rồi ông sẽ đi một chuyến buýt thứ ba về nhà ông. Thật cực khổ. Năm đó 1993, ông đã gần bảy chục tuổi.
Vài năm sau, ông quyết định về Sài Gòn ở luôn. Sinh hoạt văn chương theo ý ông cùng các văn nghệ sĩ nửa cũ, nửa mới cho tới khi qua đời.
Thời gian ông Khai Trí xây dựng sự nghiệp sách khai phóng và điều hành cái cơ sở đồ sộ những chữ cùng… nghĩa, tôi nghĩ quý vị tác giả biết ông và thân tình với ông nhiều cách khác nhau…
Qua gần 10 năm, sau khi ông đi tù cải tạo về tới trước khi đi Mỹ, tôi được hân hạnh quen biết ông chững chạc hơn, trong giao lưu chưa thật hết văn hoá cũ đã phải tiếp nhận văn hoá mới.
Đó là cái xã hội miền Nam sau 30 – 4 – 1975, ô dề một cách hầm bà lằng…
Sự thực lớp người như ông Khai Trí chẳng… sợ ai gọi là ở chế độ mới. Chưa kể những người từ rừng về mang cảm giác thua kém trước… rừng sách, hay ít nhất một người đủ góc độ nói về văn hoá, văn học, cho nên ông vẫn được số đông người họ Mác, họ Lê, họ Hồ kính nể.
Mặt khác ông vẫn có ý giúp quý văn nghệ sĩ cũ bị kẹt lại hay đi tù cải tạo ra gặp hoàn cảnh khó khăn.
Ngày thi sĩ trung tá Hoàng Ngọc Liên từ tù về, ông Khai Trí đã đeo vào ngón tay cho quan năm thất thế đó chiếc nhẫn một chỉ vàng 24 carat gọi là mừng bạn, chẳng lẽ nói để anh ăn bù thời gian đói khát tù đày vừa qua.
Buồn quá, mỗi lần một người quen mãn phần hay thất lộc thì bâng khuâng rồi, nhưng ông Khai Trí ra đi về cõi vĩnh hằng thì quả là giống như ai đang cầm cuốn sách hiếm quý bị người điên giật lấy rồi xé bỏ trước mặt họ…
CAO MỴ NHÂN