THƠ: XOÁ HẾT QUAN SAN – CHỦ NHẬT- KIẾP NÀY – MÙA NÀY – Cao Mỵ Nhân
XOÁ HẾT QUAN SAN. CAO MỴ NHÂN
*
Cuối tuần, em đi tìm anh
Không gian mở rộng, trời xanh, mây vàng
Tháng ngày tình tự mơ màng
Bước chân trên những lỡ làng, lẻ loi
*
Bao la trước mặt núi đồi
Mênh mông biển nghiệp luân hồi sau lưng
Chuông vang âm vọng ngập ngừng
Cánh chim bay chậm, thả từng tiếng rơi
*
Trái tim đập nhịp tuyệt vời
Tìm anh tận cuối phương trời này sao
Nhưng thơ chưa viết nghẹn ngào
Thì anh đã tới, lời chào đắm say
*
Cuối tuần vui trọn hôm nay
Hoa nhung nhớ nở trên tay chưa tàn
Anh cười xoá hết quan san
Trao em tất cả muộn màng yêu thương…
*
CAO MỴ NHÂN
*
CHỦ NHẬT. CAO MỴ NHÂN
*
Anh hỏi một câu nghe rất lạ
” Thăm em, Chủ Nhật, có nên không ? “
Đường đi chắc hẳn chưa xa quá
Thì chớ hồ nghi khách má hồng
*
Tuần trước, tại em cho lỡ hẹn
Tuần này anh giữ vẻ phân vân
Tuỳ anh, muốn đến hay không đến
Hay muốn từ đây thành cố nhân
*
Cũng được, bởi vì em đã nói
” Nếu không thích nữa, sẽ chia xa ”
Có chi ràng buộc mà anh ngại
Chủ nhật này, em lại vắng nhà …
*
CAO MỴ NHÂN
**
KIẾP NÀY. CAO MỴ NHÂN
*
Anh nói với em :
” Cho xong một kiếp người ”
Vâng, cho xong đi nhé
Đời sau mình rong chơi
*
Em đã khóc nấc lên
Đời này chưa tròn vẹn
Kiếp khác làm sao quên
Anh ngập ngừng gọi khẽ : ” Em ”
*
Dặn dò rồi như thế
Hẹn hò có chi hơn
Vẫn thở dài, nước mắt
Vẫn u sầu, van lơn
*
” Anh đừng nói gì trơn
Em quê mùa, dốt nát …”
Em không cần đời khác
Kiếp này thôi, yêu em …
*
CAO MỴ NHÂN
**
MÙA NÀY. CAO MỴ NHÂN
*
Mùa này trời sáng lâu
Không phải mùa lâu sáng
Anh bây giờ ở đâu
Đầy trời mây lãng đãng
*
Em ngó về phương nam
Đan Hồ vương khói biếc
Thấy cánh chim lang thang
Bay ngang rừng hoa tím
*
Nhưng thu còn ở xa
Đợi người tình không đến
Lá chưa vàng bao la
Rơi trên đường đưa tiễn
*
Mùa này trước bình minh
Bầy quạ đen thức giấc
Chúng kêu lên rối tinh
Họp đàn rồi bay mất
*
Mùa này anh và em
Mỗi người một thiếu thất
Cùng chờ mặt trời lên
Cùng cô đơn chất ngất …
*
CAO MỴ NHÂN
**
CÁNH HOA ĐÀO YÊU – Nhạc Và Lời: Giang Thiên Tường – Tiếng Hát Thanh Thúy
BẢN THÁNH CA: LÒNG TRỜI – VĂN DUY TÙNG
Thưa Quý Vị và Các Bạn,
Nếu sinh hoạt trong âm nhạc, có lẽ chúng ta ai cũng biết đến một ca khúc rất cổ của nước Á Nhĩ Lan. Bài hát mang tên Londonderry Air, hay được gọi là “Danny Boy”.
Sau khi được trình bày, ca khúc này đã được đón nhận khắp nơi trên thế giới, và đến bây giờ vẫn là ca khúc được chọn hàng đầu trong những dịp trình diễn về âm nhạc, những buổi hòa nhạc giao hưởng, thậm chí các ban nhạc Orchestra trong các trường trung học hay đại học của Hoa Kỳ, cũng không thiếu bài này cho những dịp nói trên. Thế nên ca khúc này không còn sở hữu cho một riêng ai, hay riêng cho một quốc gia sương mù Ireland.
Cũng dễ hiểu thôi, vì ca khúc quá tuyệt vời và ý nghĩa; giai điệu đẹp, hay và quá ngọt ngào – dễ “xâm nhập” vào lòng người một cách êm ái và nhẹ nhàng, để lại trong lòng giới thưởng mộ khó phai nhạt. Tuy nhiên, đây không phải là mục đích tôi muốn giới thiệu ca khúc này nếu không được Linh mục Vũ Khởi Phụng viết lời Việt. Chính những lời Việt này đã cho tôi cảm nghiệm thêm về tình yêu của Thiên Chúa, về Lòng Trời : Ngài đến thế gian – tìm đến mỗi chúng ta – sống và cứu rỗi – cuối cùng chết vì tội lỗi chúng ta.
Vậy, cha Vũ Khởi Phụng đã viết gì thêm trong ca khúc này nữa không ?
Thưa Quý Vị và Các Bạn, tôi lấy làm tiếc vì cha Vũ Khởi Phụng đã không còn trên cõi đời này nữa. Ngài cũng vừa được Chúa gọi về cách đây không lâu. Tuy nhiên, tôi chợt nghĩ có một vị có thể chia sẻ thấu đáo về cha Vũ Khởi Phụng và những liên quan trong ca khúc này. Thế rồi tôi đã gửi email mời Linh mục Quang Uy, xin ngài chia sẻ tâm tình của chính mình qua bài hát, cũng như quá trình cha Vũ Khởi Phụng viết lời Việt.
Như là một bài suy niệm về Lòng Chúa Thương Xót qua bài Lòng Trời trong Tuần Thánh này, kính mời Quý Vị và Các Bạn lắng nghe chia sẻ của Cha Quang Uy sau đây :
“Năm 1980, khi sinh hoạt trong Nhóm Mai Khôi, hát Lễ chiều ngày thường của cha cố Mai Văn Hùng ở Nhà Nguyện Mai Khôi bé nhỏ đường Tú Xương, tôi được tập và hát bài Lòng Trời. Tôi nhớ ra giai điệu từng được ba ở nhà cho nghe nhạc cổ điển bài O Danny Boy, bây giờ đọc ghi chú trên đầu trang bài Thánh Ca mới biết gốc tích là một cổ ca của người Ireland, lại thấy ghi lời Việt: VKP, tôi cũng không chú ý tìm hiểu thêm VKP là tác giả nào, ở đâu…
Rồi khoảng nửa năm sau, giữa tháng 8 thì vị Linh Hướng của Nhóm MK, cha Tiến Lộc bị bắt đi tù Chí Hòa lần thứ hai, Nhóm MK ngơ ngác bơ vơ không người dẫn dắt, mấy anh em đứng đầu Nhóm chúng tôi ngồi họp với nhau, bàn xem phải chạy đi gõ cửa xin cha nào giúp đây. Bạn trưởng Nhóm vừa kịp nghĩ ra tên cha Phụng, thì cũng đúng lúc ấy, chuông nhà vang lên, chạy ra mở cửa thì không ngờ là chính cha Vũ Khởi Phụng, DCCT. Ngài hỏi: Có phải đây là các bạn Nhóm MK không ? Cha Tiến Lộc trước khi đi “tĩnh tâm dài hạn” có nhờ tôi đi tìm giúp Nhóm MK thay ngài…
“Trời ơi, cầu được ước thấy, chúng tôi mừng rỡ vô cùng mời cha Phụng vào nhà, cũng là vào với Nhóm, cũng là vào với cuộc đời chúng tôi. Khi ấy cha Phụng 40, chúng tôi hơn kém 20 tuổi đời giữa bối cảnh một đất nước tan hoang xám đen vì bắt bớ, vì Kinh Tế Mới, bán chợ trời, nghĩa vụ quân sự, trại cải tạo, vượt biên, và ăn độn bo bo với rau muống !
Cũng phải ít lâu sau chính tôi mới vỡ lẽ tên viết tắt trên góc hàng loạt bài Thánh Ca 4 bè chúng tôi thường hát: VKP là… Vũ Khởi Phụng ! Loáng một cái đã gần 40 năm, hôm nay tôi 60 tuổi, ngồi xe lăn gõ computer những giòng hồi ức riêng cho bài LÒNG TRỜI, thì anh em DCCT chúng tôi cũng vừa giỗ cha Phụng mãn tang 3 năm. Tôi bồi hồi xúc động, cảm nhận một niềm biết ơn với cha Tiến Lộc, với cha Khởi Phụng. Một vị đã cho cánh trẻ chúng tôi chiều xa, chiều rộng để dấn thân vào đời, yêu cho ra yêu; một vị lại cho chúng tôi chiều cao và chiều sâu để xác tín vào Thiên Chúa và Hội Thánh, sống cho ra sống.
Mở lại clip bài LÒNG TRỜI, lần đầu tiên tôi chú ý đến những điển tích Kinh Thánh Tin Mừng cha Phụng đã vận dụng để diễn tả được LÒNG TRỜI đối với con người, đối với chính chúng ta.
Xin mời cứ dõi theo từng phiên khúc của bài hát. Hai câu cuối của mỗi phiên khúc luôn luôn là một lời ngỏ với nhau hoặc là một lời nguyện với Chúa.
Đầu tiên là dụ ngôn “Con chiên đi lạc” của Tin Mừng theo Luca chương 15. Câu chuyện quá đỗi quen thuộc lại được cha Phụng phác họa thành một bức tranh có sắc màu chuyển dịch tài tình: mở đầu là trần gian u tối đã sáng dần lên, vui hẳn lên với một happy ending Thiên Đàng dâng cao niềm vui; mở đầu là con chiên đi lạc đã thoát xác thành tội nhận biết hoán cải trở về. Câu chuyện lại được điểm xuyết bởi những từ ngữ thuần Việt giàu cảm xúc: các động từ long đong, kiếm tìm, dõi theo, nệ hà, ẵm… và các trạng từ chan hòa, mênh mang, xôn xao…
Trần gian u tối, vì đâu Chúa long đong kiếm tìm,
Tựa người chăn chiên dõi theo chiên lạc đã xa,
Vượt miền hoang vắng, dù gian khó cũng không nệ hà,
Chỉ mong tìm thấy, ẵm chiên vui mừng chan hòa.
Một người tội lỗi, nếu biết thoát ly xiềng xích tham tàn,
Niềm vui dâng cao, mênh mang xôn xao Thiên Đàng.
Như một hạnh ngộ, cha Phụng bật thốt lên: “Lòng Trời là thế !”
Xin lan man thêm một chút: Sau dụ ngôn “Con chiên đi lạc” là dụ ngôn “Đồng bạc bị mất”, mức độ đầu tư Lòng Thương Xót của Thiên Chúa đã từ 1% tăng vọt lên 10%. Rồi thấy chuyện chỉ mới loanh quanh ở ví dụ về con vật và đồ vật, Chúa Giêsu đẩy cao lên với chuyện con người ở dụ ngôn “Người con đã chết mà nay được sống”, Lòng thương xót bây giờ đã cao ngất ngưởng, lên tới mức 50%.
Cuối cùng, nói mãi, kể mãi, dạy mãi mà hình như con người ta vẫn chưa chịu hiểu ra LÒNG TRỜI là thế nào, Thiên Chúa đành phải bộc bạch tất cả, vét sạch trọn vẹn tấm lòng của mình để mặc khải một tình thương không gì so sánh nổi: “yêu đến nỗi ban chính Con Một của mình để những ai tin vào Người thì không phải chết, nhưng được sống muôn đời” ( Ga 3, 16 ). Mức đầu tư đụng trần, không thể cao hơn được nữa: 100% !
Chúng ta hãy được tại sao cha Phụng không cầm được niềm vui hân hoan, đã hô to lên, đã la vang lên cho mọi người: thôi đừng giả điếc làm ngơ nữa, hãy chạy ùa thật nhanh về bên Chúa Giêsu…
Lòng Trời là thế, anh em ta ơi hãy mau quay về,
Tạ ơn Thiên Chúa, dẫu tháng năm qua vẫn chờ đợi ta…
Sang đến phiên khúc thứ nhì, cha Phụng dẫn chúng ta vào vào với Bữa Ăn Cuối Cùng (The Last Supper, không phải bữa Tiệc Ly như thường dịch sai, nói sai ). Chúng ta được ngồi xen vào giữa các Tông Đồ, hay có thể nói là điền luôn vào cái chỗ trống Giuđa đã bỏ uổng. Và chúng ta như được thấy tận mắt, được nghe tận tai, được cảm nhận Thầy Giêsu của mình tâm sự, dặn dò, trăn trối trước khi ra đi vác thập giá lên đồi.
Đến đây, cha Phụng đẩy thật nhanh câu chuyện, vượt qua cái chết đến với vinh quang phục sinh, cha dùng đến một dụ ngôn thấm thía: “Hạt lúa gieo vào lòng đất”, dụ ngôn của Tân Ước nhưng đã được báo trước từ Cựu Ước với “mùa về đơm bông, thơm hương nương đồng” của Thánh Vịnh 125.
Ngôn từ của phân đoạn thứ hai này vẫn thuần Việt, bóng bẩy, nuột nà, gợi thanh, gợi ảnh, gợi cảm xúc như: trông mong, bồi hồi, chứa chan, xao xuyến, vô vàn, ngất cao, mỡ mầu, đơm bông, thơm hương, nương đồng…
Dọc đường dương thế, nhiều phen Chúa trông mong bồi hồi,
Ngày nào dâng hiến, máu tươi thanh tẩy chứa chan,
Và giờ đã đến, giờ xao xuyến đau thương vô vàn,
Một cây thập giá ngất cao thay cờ khải hoàn.
Tựa như hạt lúa ai đem gieo trong lòng đất mỡ màu,
Mùa về đơm bông, thơm hương vui sao nương đồng.
Cuối của phiên khúc vẫn là một lời ngỏ với chính mình, với nhau, với cả muôn dân gần xa: còn chần chờ chi nữa, đã có một Đấng chết thay cho ta được sống, phải lũ lượt trẩy hội quay về với cội nguồn Tình Yêu ấy thôi !Vì Người đã chết cho ta biết đường sống tuyệt vời,
Đoàn con Thiên Chúa khắp nơi phương xa quay về nguồn vui…Phiên khúc cuối cùng, không còn là dụ ngôn, mà là một cuộc đối thoại lạ lùng tuyệt vời, thật an tĩnh giữa bao nhiêu những náo động, chửi bới, miệt thị, những kêu la gào thét xen giữa những khóc lóc nức nở ( Lc 23, 42 – 43 ).
Cha Phụng thủ cả hai vai đạo diễn và cameraman, cho hai con người tội nghiệp quay nhìn vào mắt nhau thật ân cần trân trọng. Một bên không hề kêu oan, van xin được tha thứ chi cả, chỉ xin một chuyện rất khiêm tốn, rất nhỏ hèn, đó là “nhớ đến tôi” ( remember me – souviens-toi de moi ); một bên mỉm cười nhẹ nhàng hứa: “anh sẽ được ở cùng tôi ( shalt thou be with me – tu seras avec moi ).
Ở trên thập giá, kế bên Chúa có anh gian tà,
Một đời tan hoang, thốt lên đôi lời thiết tha:
“Ngày nào, lạy Chúa, Ngài đến giữa uy linh huy hoàng,
Thì xin thương đoái, xót con ngu dại hoang đàng…”
Lời xin chưa dứt, Chúa đã ban cho lời hứa diệu kỳ,
“Ngày hôm nay đây, Ta đưa ngươi lên Thiên Đàng.”
Cuối phân đoạn ba cũng là lời kết cho toàn bộ câu chuyện LÒNG TRỜI, lần này là một lời nguyện da diết kêu lên với Chúa Giêsu của tất cả những người đang “gian nan lưu lạc trần ai”, những nạn nhân của gia đình đổ vỡ, của xã hội bất công, của đất nước ly loạn, của thế giới nhiễu nhương…Này Ngài đã đến, vinh quang uy hùng khắp đất trời,
Thì xin thương xót chúng con gian nan lưu lạc trần ai.
Lòng đời độc ác, Lòng người ngơ ngác… thì đúng lúc ấy, LÒNG TRỜI mở ra để rửa sạch cuộc đời, để chữa lành con người. LÒNG TRỜI vì thế còn có tên gọi khác là Lòng Chúa Xót Thương.
Vâng, ngày xưa, chúng tôi còn trẻ, chúng tôi đã ứa nước mắt khi hát những lời như thế, giai điệu cổ của Ireland có xa chúng tôi bao nhiêu thế kỷ về thời gian, có cách biệt chúng tôi bao nhiêu đặc nét về văn hóa, mặc kệ, không thành vấn đề, đây vẫn là câu chuyện chính Chúa Giêsu kể cho chúng tôi về LÒNG TRỜI, về chính Ngài.
Rồi hôm nay, ngồi viết những dòng bộc bạch này, chúng tôi trên dưới 60 tuổi, nhiều người đã hết hơi, không hát được đúng bè của mình như trước, nhưng click vào link trên Youtube nghe lại, chúng tôi vẫn ứa nước mắt.
Cám ơn cha Vũ Khởi Phụng đã nguệch ngoạc rất nhanh mà viết được lời Việt như thế này thì phải hiểu chính cha đã nghiệm sinh sâu xa ra sao. Ắt hẳn lúc sắp sinh thì ở Hà Nội, cha cũng đã kịp thủ thỉ thì thầm xin với Chúa Giêsu: “Remember me when you come into Your Kingdom”. Và…”
Thưa Quý Vị và Các Bạn,
Cha Quang Uy đã gửi bài viết này cho tôi đúng vào ngày Chúa Nhật Lễ Lá 14.4.2019. Ngài nói : “Tôi đang bị viêm khớp nặng, đau nhứcvô cùng, đi đứng khó khăn nên phải ngồi xe lăn”.
Tôi nghĩ cha Quang Uy hết sức “can đảm” cố gắng viết chia sẻ cho chúng ta, vì khi đau đớn về thể xác, thậm chí cả tinh thần, con người thường luôn thụ động, tìm nghỉ ngơi, an nhàn… Cha Quang Uy ngược lại, ngài cao rao tình Chúa bất cứ lúc nào, thậm chí trên chiếc xe lăn, trên đôi nạng gỗ, trên những bước đi khó khăn và đau nhức ấy.
Nhiều khi trong đời sống, chúng ta đánh mất sự CAN ĐẢM để đối diện hay chịu đựng với những khó khăn hoặc đau khổ trước mặt, để rồi cũng có người đi tìm cái chết bằng cách tự tử (!) Điều này làm tôi chợt nghĩ ngay đến cái chết tự thắt cổ trên cành cây chết treo thòng lòng của ông Giuđa trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh này. Vì lòng thương xót vô bờ bến “Bảy mươi lần bảy” của LÒNG TRỜI, biết đâu Giuđa cũng được tha nếu trước khi buông tay, ông ấy chỉ cần một lời ĂN NĂN !
Xin cám ơn Cha Quang Uy thật nhiều đã chia sẻ “dòng tâm sự” về ca khúc Lòng Trời, cùng những kỷ niệm trân quý với cha cố Vũ Khởi Phụng.
Kỷ niệm lần gặp gỡ cha Vũ khởi Phụng
Mỗi mùa hè, tôi thường về Hà Nội hướng dẫn các khóa âm nhạc và ca trưởng. Dù đã có dự định ghé thăm cha Vũ Khởi Phụng nhiều lần, nhưng chưa lần nào tôi sắp xếp được. Mãi đến năm 2008, tôi mới có thời gian ghé thăm ngài tại giáo xứ Thái Hà. Phải nói ngay chính vì yêu thích những bài hát thánh ca do ngài viết và chuyển lời Việt, nên đó là động cơ để tôi tìm đến mặc dù trong lúc này; Thái Hà là điểm nóng vì đang có nhiều biến động cướp đất đai của Nhà Dòng Chúa Cứu Thế, nên công an cũng như chính quyền Hà Nội luôn theo dõi, dòm ngó ngày đêm và gây khó khăn mọi mặt.
Lần đầu tiên gặp nhau, thường thì ai cũng e dè và dò dẫm, nhưng tôi đã mạnh dạn đi bước trước sau khi thăm hỏi vài câu xã giao. Tôi vào đề ngay : “Thưa Cha, con rất yêu thích những bài Thánh ca mà cha viết lời Việt”.
Với nét mặt kham khổ (Nét mặt của những người cho biết họ lao động về trí tuệ quá mức) và cặp kính cận thật dày, miệng điểm nụ cười rất trìu mến, ngài trả lời :
– Thế à ! Anh thích bài gì ?
Thay vì trả lời tên bài hát, tôi xướng lên câu điệp khúc của bài Lòng Trời : “Lòng Trời là thế, anh em ta ơi hãy quay về. Tạ ơn Thiên Chúa dẫu tháng năm qua vẫn chờ đợi ta…” Cha Vũ Khởi Phụng cũng nhập cuộc và cùng hát sau khi tôi xướng lên. Như một phép màu, chúng tôi thấy thân thiện và gần gũi mà không còn một khoảng cách. Nếu “Âm nhạc là con đường ngắn nhất đi vào lòng người” , thì tôi xin khẳng định (affirmed) rằng : Thánh Ca làm con người dễ kết hợp, thân thiện, và nhanh chóng được cảm hóa… Cũng xin chia sẻ một góc rất riêng tư trong suy nghĩ của tôi, rằng : nếu hay giả sử nhân loại không còn một niềm tin nào nữa, thì âm nhạc và thi ca sẽ là “tôn giáo” cuối cùng trên tinh cầu này để họ chọn và đeo đuổi. Nhưng điều đó sẽ không bao giờ hiện thực và xảy ra, vì chúng ta mãi mãi có một niềm tin vào Đức Kitô – Đó là Lòng Trời – Một tôn giáo được lập từ Trời mà không phải dưới thế gian – Tình Yêu cao vời và tuyệt đối như Thánh Gioan đã xác định : “GOD IS LOVE – THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU”.
Ngài mời RỒI dẫn tôi vào phòng khách, thăm hỏi và nói chuyện… Chúng tôi đã có một buổi chiều hát Thánh ca qua những bài mà ngài viết lời Việt. Tôi luôn xướng lên những bài hát từ những bài Lòng Trời, Mong Chờ Giêsu, Xác Thân Làm Bánh, Tantum Ergo, V,v… Đây là những bài nổi tiếng của nhà soạn nhạc cổ điển tây phương : Johann Sebastian Bach mà cha Vũ Khởi Phụng chọn và viết lời Việt.
Tưởng cũng nên biết chút ít về Johann Sebastian Bach (J.S. Bach).
Là nhà soạn nhạc nổi tiếng người Đức ở cuối thế kỷ 16 (khoảng những năm 1686). Ông đã cống hiến cuộc đời của mình cho nhà thờ và soạn trên 1,000 tác phẩm. Những tác phẩm của ông luôn nổi bật cho phong cầm (organ), đại hợp xướng (choir), hòa tấu thính phòng (chamber ensemble), và dàn nhạc giao hưởng (orchestra)… Điều đáng nói là tất cả những tác phẩm của J.S. Bach luôn có âm hưởng của thánh đường, và đấy là những tác phẩm âm nhạc kinh điển qua bao thời đại, nhất là về hòa âm, đối âm. Do đó và có lẽ cha Vũ Khởi Phụng chọn những tác phẩm của ông để viết lời Việt chăng ?
Giáo triều Rôma đã chọn bài Xác Thân Làm Bánh (Ave Sanctum Viaticum) để hát trong lễ đám tang của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II – nay là một vị Thánh của chúng ta.
Cá nhân tôi cũng thế, luôn trân trọng những tác phẩm hay, những bài thánh ca thánh thiêng – có sức thay đổi lòng mình từ giai điệu đến ý nghĩa của lời ca, cho ta nhiều cảm xúc với những hình ảnh tượng hình tượng vật mà lời ca miêu tả. Do đó, tôi đã chọn bài Lòng Trời, làm nhạc và tự thu âm, mặc dù tôi biết giọng ca rất giới hạn của mình.
Trong Tuần Thánh này, tôi trân trọng và xin được chia sẻ ca khúc Lòng Trời theo link youtube ở trên. Quý Vị và Các Bạn cũng có thể mở ở đây : https://www.youtube.com/watch?v=Ge4lQOrt1OYVideo và diễn ảnh do Minh Dương thực hiện.
Xin cám ơn Cha khả kính đã viết lời Việt, và xin mọi người cầu nguyện cho linh hồn Cha Cố Mathew Vũ Khởi Phụng sớm hưởng phúc thiên đàng.
Trân trọng,
Văn Duy Tùng
TIẾNG KÊU CỨU của một nữ viện trưởng đại học Mỹ gốc Việt bị trù dập! Nguyễn Xuân Nam – Báo Cali Today
THÁO GIÀY – Quyên Di

T H Á O G I À Y
(Bài này không liên quan gì đến chuyện “thầy giáo… tháo giày” và “giáo chức… dức cháo.”)
Tôi nhớ lại một truyện rất lý thú về sự tích đôi giày.
Truyện kể rằng ngày xưa có một ông vua sống rất xa xỉ. Mỗi khi đến đâu, ông bắt dân chúng nơi ấy phải trải thảm nhung trên tất cả những con đường ông đi qua. Càng được đón tiếp long trọng, ông càng thích đi; và ông càng đi, người ta càng phải trải nhiều thảm nhung cho ông bước lên.
Cho đến một ngày, người ta không kịp sản xuất nhung để lót đường cho ông vua. Điều này làm ông tức giận và ra lệnh rằng ông đến đâu mà không có thảm nhung lót đường, cả dân vùng ấy sẽ bị giết chết hết.
Thế nhưng đã có một người đến xin yết kiến vua, ông ta cam đoan rằng nếu vua theo ý ông, vua đi đâu thảm nhung cũng có sẵn mà không phải huy động một ai cả. Vua bằng lòng, và ông nọ dùng hai mảnh nhung nho nhỏ, khâu thành một đôi giày nhung rồi mời vua xỏ chân vào.
Thế là từ đó, vua đi đâu “thảm nhung” đi theo đến đấy.
Kỹ nghệ làm giày từ đó dần dần thành hình và phát triển.
Truyện này khiến tôi suy nghĩ và cảm thấy có liên hệ tới tính chất của những đôi giày. Đôi giày tượng trưng cho sự giàu có, hay ít ra cũng là đủ ăn đủ mặc, đôi giày làm cho người ta trở nên chững chạc, lịch sự. Đi đến nơi nào có vẻ quan trọng một chút, người ta xỏ chân vào đôi giày, tự nhiên trông có vẻ tươm tất ngay. Bà phu nhân của cố tổng thống Phi Luật Tân Marcos có tới vài trăm đôi giày đắt giá (1).
Tôi không biết có ai trong chúng ta có tới vài trăm đôi giày như vậy không, nhưng chừng vài chục đôi thì tôi cũng đã biết có người. Có những người ham thích mua giày, dư tiền một chút, họ đi sắm giày. Những đôi kiểu mới, họ mang thử vào chân, ngắm nghía rồi mua đem về, dù rằng những đôi cũ còn rất tốt, lại có những đôi họ chưa xỏ chân vào lần thứ hai.
Chính vì có nhiều người ham thích mua giày, đóng giày mà kỹ nghệ sản xuất giày phát triển rất mạnh, với nhiều hãng giày nổi tiếng. Có những đôi giày trị giá mấy trăm Mỹ kim (2), trong khi một đôi dép dùng hằng ngày trong nhà có thể chỉ phải mua với giá hai, ba đồng.
Đôi giày làm thành ranh giới của người no đủ và người nghèo đói. Đôi giày cũng làm thành ranh giới của người tự do và người nô lệ. Ngày xưa, trong một số xã hội nào đó, chỉ những người tự do mới được quyền đi giày, còn người nô lệ phải đi đất. Nhưng đôi giày cũng là vật tượng trưng cho sự gò bó. Đôi giày trở nên nỗi cực hình đối với những ai thích cho đôi chân mình được thoải mái. Tôi vốn thích đi dép hoặc xăng đan “cho nó mát.”
Ngày đầu tiên đi dạy học, tôi cũng định lê đôi dép vào trong lớp, nhưng mẹ tôi đã đe: “Nếu con không chịu mua giày và không chịu đi giày, mẹ không cho con tới trường dạy học.” Tôi hoảng quá, đành phải đi sắm giày mà trong lòng lấy làm đau khổ vô cùng. Bây giờ, tôi vẫn có thói quen đi dép hay đi xăng đan. Và đang khi có đôi chân thoải mái như thế, tôi nhìn những người bạn phải đi giày suốt từ sáng đến tối mà thương cho họ. Nhất là những cô phải xỏ chân vào đôi giày cao gót và để đôi giày ấy đeo cứng chân mình, dù đi, dù đứng, dù ngồi; chắc là bí bức, gò bó lắm. Nhưng nói vậy thôi, có nhiều người sẵn sàng chịu sự gò bó để cảm thấy mình đẹp và được khen là đẹp.
Tuy nhiên, tôi cũng thấy có nhiều người, nhất là những người trẻ, bước đi trên đường phố bằng những đôi chân trần không giày dép. Những người trẻ này có lẽ không thích sự gò bó, dù là sự gò bó của đôi giày hay sự gò bó của những luật lệ, định chế xã hội.Có một khoa nhìn giày để đoán ra tính nết người đi đôi giày đó. Người ta nhìn đôi giày mòn ở mũi hay ở đế, mòn phía trong nhiều hay mòn phía ngoài nhiều, rồi từ đó đoán ra người đi đôi giày ấy tính hướng nội hay hướng ngoại, bình tĩnh hay hấp tấp, cương quyết hay e dè v.v…
Tôi không biết những điều ước đoán ấy đúng, sai ra sao, nhưng từ lâu tôi vốn thích ngắm những đôi giày mòn vẹt hơn là nhìn những đôi giày bóng loáng chưa đụng đất trong tiệm bán giày. Giày đẹp mấy mà chưa dùng đến thì cũng chưa đem lại chút lợi ích gì cho con người. Giày càng mòn, càng vẹt bao nhiêu, càng chứng tỏ nó đã giúp cho con người đi chuyển nhiều bấy nhiêu. Đẹp mà không giúp ích cho đời, cũng không quý bằng dù tàn tạ nhưng đã đem lại ích lợi cho đời sống con người.
Ai từng đi giày cũng có một đôi giày mình ưng ý nhất, đôi giày ấy đi vào vừa vặn, bước đi thật êm, nó không cọ xát khiến đôi chân đau bỏng, nó không bó đôi chân lại khiến chân bị tê buốt, nó cũng không lỏng lẻo khiến cho đôi chân muốn tuột ra ngoài. Khi có một đôi giày ưng ý rồi, ta không thích đi đôi giày khác, nhất là không thích dùng giày của người khác. Đôi giày khi đó trở thành vật biểu tượng cho sở thích, cho bản tính của mình.
Có lẽ chính vì thế mà lâu nay người ta có thành ngữ “đi giày nhiều người’.” Thành ngữ này có nghĩa là khi làm việc, ta phải chiều theo tính nết của quá nhiều người thì việc mới thành tựu được. Phải “đi giày nhiều người” là một tình trạng rất khổ tâm của những người muốn hoạt động hữu hiệu cho một mục tiêu cao đẹp, mà cứ phải chiều ý hết người này tới ngườii khác. Mặt khác, “đi giày nhiều người” cũng là câu chê bai dành cho những ai không dám tự quyết, không dám can đảm dấn thân, bất chấp những nhân sự “cản mũi kỳ đà,” mà cứ luôn luôn phải làm theo ý người này, người nọ.
Tôi đã có lần được “tháo giày” một cách hết sức thoải mái.
Chuyện “tháo giày” của tôi không liên quan gì đến nghi lễ tối thứ Năm Tuần Thánh, các viên chức đóng vai mười hai tông đồ, tháo giày ra cho vị linh mục chủ tế, bắt chước Chúa Giê-su, rửa chân cho mình. Chuyện “tháo giày” của tôi hoàn toàn khác. Tôi được gọi đến dự một cuộc tĩnh tâm của giới trẻ. Sau những nghi thức và những bài giảng, đêm đã về khuya. Đây là thời điểm thuận tiện nhất để những người trẻ ngồi lại với nhau, tâm sự về những thao thức, những ước vọng, những suy tư của mình.
Để tạo bầu không khí thân mật, người phụ trách kêu gọi mọi người ngồi xuống đất bên nhau thành vòng tròn, thay vì ngồi trên ghế. Muốn ai cũng có thể ngồi thoải mái, người phụ trách xin mọi người tháo giày ra trước khi ngồi. Khi được lệnh “tháo giày,” tôi là người sung sướng nhất. Lúc nào tôi cũng mong đợi chân mình được tự do! Vừa tháo giày, tôi vừa quan sát những người trẻ chung quanh. Một số tháo giày ra ngay; một số khác còn ngần ngừ, như còn e dè, nuối tiếc gì đó. Nhưng rồi cuối cùng ai cũng tháo giày ra hết. Với đôi chân thoải mái, mọi người ngồi xuống đất, vòng tròn thu hẹp dần, thu hẹp dần, cho đến khi vai người này có thể chạm được vai người khác, đầu người nọ có thể chụm vào đầu người kia. Và họ bắt đầu chia sẻ với nhau về những ưu tư, khát vọng, mơ ước, hạnh phúc, đau khổ của mình.
Đúng lúc ấy tôi nghĩ tới đôi giày mọi người vừa tháo khỏi chân. Đôi giày, nhìn dưới một khía cạnh nào đó, chính là bản chất riêng của mỗi người. Để có thể ngồi sát bên nhau, vai chạm vai, đầu chụm đầu, nghe được nơi nhau những lời chia sẻ thân tình, chúng tôi phải tháo đôi giày, phải cởi bỏ bản chất riêng của mình trước đã, rồi mới có thể hoà đồng trong một bầu khí chung, một tâm tình chung. Những giọt lệ nơi khoé mắt tôi ứa ra một cách kín đáo.
Tôi ước mong trong cuộc sống, tôi và các bạn tôi biết nhận thức rằng: rất nhiều lúc, chúng tôi phải tập “tháo giày,” tập cởi bỏ bản chất riêng để cùng nhau theo đuổi một mục đích chung. Cùng nhau đi chân trần trên đường hướng về lý tưởng, có lẽ thích thú hơn lộp cộp với đôi giày để bước những bước độc hành.Viết riêng cho anh chị em Ki-tô hữu:Dụ ngôn “đứa con hoang đàng” trong Phúc Âm cũng có hình ảnh của đôi giày. Khi đứa con hoang trở về, nghèo đói, rách rưới quỳ xuống chân cha nói lời tạ tội và chỉ mong cha cho trở về, nhận làm kẻ hầu người hạ trong nhà chứ không dám mơ được nhận làm con như trước; người cha nhân lành đã đỡ con dậy, gọi gia nhân đem áo cho mặc, nhẫn cho đeo, giày cho đi. Đôi giày ấy thay cho lời người cha, nói với người con rằng: “Con là con cha, là người tự do, con không phải là kẻ ăn người ở, không phải là hạng nô lệ trong nhà này.”
Có người rất quý trọng đôi giày mòn, vẹt của mình. Người ta kể rằng một tu viện nọ tổ chức một cuộc tĩnh tâm. Cuối ngày, cha tu viện trưởng nói với mọi người để lên bàn vật mình cho là quý nhất. Các tu sĩ lần lượt để lên bàn những báu vật của mình. Người thì đặt lên một cây thánh giá bằng vàng, người khác là một cuốn thánh kinh đóng bìa da công phu, người khác nữa là một cỗ tràng hạt bằng bạc… Đến lần vị tu sĩ kia, ông thản nhiên cúi xuống tháo đôi giày cũ kỹ, mòn vẹt của ông và trịnh trọng đặt lên bàn. Mọi người ồn ào, bất mãn, người ta cho rằng vị tu sĩ kia ngạo mạn và bất kính đối với người khác và đối với những báu vật của họ. Tu viện trưởng ra lệnh cho vị tu sĩ kia giải thích tại sao lại cho đôi giày cũ kỹ bụi bặm kia là vật quý nhất, vị tu sĩ trả lời:
“Vì chính nhờ nó, con đã đem được Tin Mừng của Chúa Ki-tô đến biết bao con người ở những miền đất xa xôi.”
Câu chuyện này khiến tôi liên tưởng đến lời của tiên tri Isaia: “Đẹp thay bước chân người đi gieo rắc Tin Mừng.”Chúng ta học được gì qua hai hình ảnh trên?
QUYÊN DI
(Trích “Nhìn Xuống Cuộc Đời,” 1995)____________________________(1) Bây giờ tôi biết bà Marcos không phải chỉ có vài trăm đôi giày, số giày của bà lên tới con số hàng ngàn.
(2) Tôi thật nhà quê! Giày giá mấy trăm Mỹ kim đã là gì. Có người sẵn sàng bỏ tiền ra mua những đôi giày giá mấy chục ngàn Mỹ kim
Con Tim Biết Nói – Sa Chi Lệ Viết Và Diễn Ngâm
BÀI VIẾT: Tinh Thần Ollin & Sự Hâm Nóng Toàn Cầu – GS TS MAI THANH TRUYẾT
LƯU Ý: XIN BẤM VÀO GÓC TRÁI (DƯỚI) CỦA BÀI ĐỂ LẬT TRANG.
Mừng Lễ Phục Sinh 2022! (Happy Easter!) LÊ VĂN HẢI – VAI NẶNG TÌNH ĐỜI . Thơ: CAO MỴ NHÂN – Lê Tuấn


Chủ Nhật Tuần Này: Mừng Lễ Phục Sinh 2022! (Happy Easter!)
Niềm Tin Phục Sinh Công Giáo:
Giáo Hội Công Giáo, Chủ Nhật tuần này, là (Easter Sunday!) tất cả Con Chiên của Chúa khắp nơi trên toàn trái địa cầu, hân hoan cử hành Mầu nhiệm Phục Sinh. Phép lạ Phục Sinh của Đức Kitô là Tín Lý, nền tảng và cao cả nhất của Đức Tin người Kitô Hữu. Nếu Chúa không Phục Sinh, tất cả niềm tin khác trở thành vô nghĩa.
Đối với tất cả con người trần thế, thì ngôi mộ là điểm tận cùng của một kiếp người. “Tro bụi sẽ trở về bụi tro!” Nơi đây, dưới ba tất đất, vua cũng như dân, bậc anh hùng cũng như kẻ cướp, người hiền cũng như người ác, quyền quý cũng như kẻ nghèo khó, tất cả đều phải vùi mình xuống, mục nát thối đi và trở về với đất! Thần chết sẽ là vua tất cả!
Nhưng người Công Giáo tin rằng: Bằng cuộc Vượt Qua của chính mình, Chúa Giêsu đã bật tung cửa mồ sống lại! Người độc nhất, đẩy lùi quyền lực sự chết đã và đang bao trùm thế giới.
Người biến ngôi mộ là điểm cuối của đời người, trở thành cửa ngõ dẫn vào cõi trường sinh! Biến đau thương của sự chết, thành niềm hoan lạc của ngày Phục Sinh! Để khi chấm dứt đời sống trên trần thế, cùng “hẹn nhau trên nước Trời!” Biến ngày cuối của kiếp sống trần gian, trở thành ngày thứ nhất hưởng niềm hoan lạc trong đời sống mới.
Như vậy, để có được sự sống mới, chúng ta phải dứt khoát từ bỏ con người tội lỗi cũ, để trở thành (phục sinh) con người mới với tâm hồn thanh sạch thực thụ. Muốn thế, phải “bỏ hết mọi sự, vác Thánh giá mà theo Ta!” Có như vậy mới xứng đáng là Môn Đệ của Người.
Người Công Giáo mừng Đại lễ Phục Sinh hôm nay, để cùng dâng lên Thiên Chúa lời chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ vì tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Ngài là Vua của Tình Yêu, đã ban cho con người Đứa Con duy nhất Chí Ái của Ngài, chịu chết, đóng đinh trên cây Thập Giá để cứu độ trần gian.
Đồng thời, xin Thiên Chúa củng cố đức tin con cái Chúa trong đêm Canh thức Vượt Qua, để mọi người nhận ra sự đau khổ ở đời này, có giá trị thanh luyện và chuẩn bị cho đời sống vĩnh cửu với Ngài mai sau.


Trong niềm tin “xin thì sẽ được, gõ thì sẽ mở!” những người con của Chúa cầu xin:
-Đức Kitô sống lại đã chứng tỏ tình yêu mạnh hơn sự chết. Nơi nào có tình yêu, nơi đó có Thiên Chúa! Đại lễ Phục Sinh như một lời nhắc nhở con người chúng ta hãy vững tin vào quyền năng của Thiên Chúa. Nhất là trong hoàn cảnh hiện nay, khi nhân loại đang phải đối mặt với cơn đại dịch toàn cầu, chiến tranh có nguy cơ bùng nổ tàn phá khắp nơi. Đời sống văn minh, khoa học tân tiến, đòi thay quyền tạo hóa, bóp chết sự sống (phá thai), đang làm nhiều người quên hẳn hình ảnh Ngài. Gạt Ngài ra khỏi đời sống, chối bỏ Ngài!
-Nhưng con cái của Chúa tin rằng, tai ương dịch bệnh, thảm họa thiên tai, chiến tranh chết chóc, đau thương khốn khổ, những thứ đó giúp con người nhận ra giá trị cao quý của tình yêu tha nhân, là hình ảnh của Thiên Chúa.
Xin Chúa ban ơn lòng ngay, thiện tâm, luôn có lòng nhân từ, quảng đại, sẵn sàng chia sẻ cơm áo và đóng góp một phần trách nhiệm giúp tha nhân trong lúc khó khăn hoạn nạn, nhất là những nạn nhân chiến tranh Ukraine trong những ngày gần đây.
Để Mùa Phục Sinh năm nay trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Như giới răn ngài dạy: “Kính Chúa, Yêu Người!” Thật ra chỉ là một! Đó mới chính là ơn cứu độ, ý nghĩa trong Ngày Lễ Phục Sinh 2022!


Nhóm Mõ Nhân Ái Và Đoàn Du Ca Bắc Cali Mang Không Khí Mừng Lễ Phục Sinh 2022 Đến Với Khách Không Nhà! (Homeless!)
Tuần này, Chủ Nhật, ngày 17 tháng 4, là Ngày Lễ Phục Sinh. Lễ này của người Công Giáo, tưởng niệm Chúa chịu chết và mừng Chúa sống lại. Nhưng nay lễ này, đã được mở rộng, ra khỏi phạm vi tôn giáo, ai cũng có thể mừng. Giống như ngày Lễ Giáng Sinh.
Trong tinh thần coi những người Không Nhà như người trong Gia Đình. Thực hiện lời của Chúa: “Phúc thay cho những ai, Ta đói đã cho Ta ăn! Ta khát đã cho Ta uống, Ta trần truồng đã cho áo mặc!” Sáng Thứ Sáu vừa qua, ngày 8 tháng 4 năm 2022. Trong bữa cơm phục vụ 2 ngày trong tuần. Sau khi Khách đã thưởng thức dĩa cơm kho gà cà rị nóng hổi, với ly trà, ly cà phê ấm buổi sáng xong. Người Homeless còn được hưởng không khí một sinh hoạt vui chơi độc đáo mừng Lễ Phục Sinh! Mang nặng ý nghĩa Bác Ái “thương người như chính thân mình!” như lời Chúa dậy.
Khách không nhà lộ vẻ vui mừng thấy rõ trên từng khuôn mặt, khi nhìn thấy không khí sửa soạn bữa cơm khác với những ngày thường. Khăn bàn bày thức ăn, hôm nay được phủ mầu đỏ vui tươi. Trong khi dùng bữa, khách còn được thưởng thức những bài ca rộn ràng, vui tươi đầy tình người. Do các Anh Chị trong Đoàn Du Ca Bắc Cali giúp vui. Hàng chục Anh Chị mặc đồng phục trang trọng, tiếng đàn tiếng hát, rạo rực lòng người! Rất nhiều Khách lộ vẻ ngạc nhiên: “Tôi chưa bao giờ nghe những bài hợp ca hay như thế! Ban hợp ca tuyệt vời quá!”
Sau bữa ăn, Khách đứng thành hàng dài, để lãnh thực phẩm khô và ít vật dụng mang về, ai cũng được các Anh Chị trong đoàn Du Ca tặng thêm 4 trái trứng Phục Sinh! tượng trưng cho ngày lễ. Biết trong mỗi trái trứng có tiền mặt, ai cũng vui mừng!
Không khí trở lên sôi động thấy rõ, với 10 phần thưởng, cho tiết mục Xổ Số lấy hên. Vì mục này chơi nhiều lần, ai cũng biết người trúng, ngoài phần quà, còn có kèm theo một số tiền mặt khá lớn! Nên ai cũng háo hức, cầu mong mình là người may mắn.
Một người trúng số, đã ôm anh Hải, trưởng nhóm, tâm sự: “Chỉ có Nhóm Mõ Nhân Ái mới thương những người Homeless chúng tôi như thế. Không có nhóm nào có những tình cảm thân thiện, đầy tình người như vậy cả. Mang cho chúng tôi, không bao giờ thiếu không khí vui mừng an ủi bất cứ ngày Lễ đặc biệt nào trong năm. Mà đâu phải một năm không thôi, kéo dài biết bao nhiêu năm nay. Chúng tôi rất vui sướng hạnh phúc khi có các Anh Chị luôn luôn ở bên. Happy Easter Day!”
Được biết, Nhóm Mõ Nhân Ái, là Nhóm vui buồn, sống chết với người Homeless bền bỉ nhất trong vùng San jose. Trong tinh thần chỉ biết hăng say phụng sự, năm nay đánh dấu năm thứ 28! Điều đặc biệt hơn nữa, Nhóm không nhận bất cứ một cắc nào tài trợ từ chính phủ. Tất cả đoạn đường 28 năm, đi được là nhờ từ những tấm lòng giúp đỡ của Quý Ân Nhân và Quý Hội Đòan trong vùng tiếp tay mà thôi.
“Bình an dưới thế cho người thiện tâm!” Chính vị mục đích vô vị lợi, “chia cơm, sẻ áo” với những người xấu số! bất kể sắc tộc, mầu da! Nên đã được rất nhiều Quý Ân Nhân ẩn danh giúp quỹ, nên không bao giờ thiếu tài chánh phục vụ cả! Cứ hết thì…lại có! Mà đâu phải một năm, mà kéo dài đến…mấy chục năm nay!
Đây cũng là một phép lạ! (Như phép lạ, 5 cái bánh và 3 con cá, mà Chúa chúa đã làm) Không ai nghĩ là có thể thực hiện được và kéo dài như thế!
Nhân Lễ Phục Sinh, kính chúc Quý Ân Nhân đã góp tay quý báu, để chương trình giúp đỡ Homeless trường tồn. Được mọi Ơn Lành từ Trời Cao. Thượng Đế sẽ không quên những hành động cao đẹp của Quý Vị, giúp đỡ những mảnh đời khốn khổ, không may. Như Người đã hứa “dù tặng một cốc nước cho những người đói khổ hèn mọn, thì cũng đã được ghi công!”
Thay mặt những người Homeless được giúp đỡ, Xin chắp tay Chân Thành Cảm Tạ.
Chúc Mừng Lễ Phục Sinh 2022!

VAI NẶNG TÌNH ĐỜI. CAO MỴ NHÂN
*
Mặt trời ngày Phục Sinh
Mầu hoàng kim rực rỡ
Cuộc tình đang hồi sinh
Giữa mây vàng bỡ ngỡ
*
Chúa về gọi yêu thương
Khi hồn em tan nát
Lá cọ hoang tơ vương
Từng sợi sầu bát ngát
*
Mặt trời vút lên cao
Nửa kiếp người chìm khuất
Núi mùa xuân xôn xao
Dấu chân này sẽ mất
*
Vai mang nặng tình đời
Bước theo Đường Thánh Giá
Thôi em bỏ cuộc chơi
Thành xưa khô lệ đá …
*
CAO MỴ NHÂN (HNPD)


*
Tin mừng Chúa đã phục sinh
Tay chân đinh đóng, nhục hình vượt qua
Trời rực sáng ngày thứ ba
Hang sâu mộ địa chan hoà nắng xuân.
*
Chúa bước ra khỏi mộ phần
Hào quang rực rỡ trong thân xác người
Thiên Chúa nở một nụ cười
Phước cho ai không thấy người mà tin.
*
Hãy đón nhận đức thánh linh
Chúa tha thứ hết tội tình thế gian
Muôn người hưởng phúc bình an
Tình yêu Thiên Chúa ngập tràn hương hoa.
*
Lê Tuấn
Mừng Thiên Chúa Phục Sinh
Sunday 04-17-2022
Khép lại dấu yêu
ĐỢI EM | Thơ: Sa Chi Lệ
CA KHÚC “Lòng Chúa Xót Thương” Thiên Phương, Long Vũ – CA ĐOÀN SAO MAI
CHÙM THƠ CAO MỴ NHÂN & Các Bài Viết: “Từng Mảnh Chiều Rơi”-“NÂNG NIU TÌNH BUỒN”
THÁNH CA. CAO MỴ NHÂN
*
Tôi có niềm vui hát Thánh Ca
Tâm tư bay bổng tới Ngân Hà
Hình như đôi cánh Thiên thần mở
Cứ mỗi năm buồn một xót xa
*
San sẻ cô đơn với tuyệt cùng
Nhìn ra bát ngát, thấu không trung
Hình như bóng Chúa mơ hồ đó
Vừa thoáng đâu đây, đã mịt mùng
*
Thánh nhạc mênh mang, theo gió bay
Vượt trần gian, lên vút trời mây
Chúa ơi, nước mắt như mưa nhẹ
Chúa ở trong tim, cảm xúc đầy
*
Khúc hát lênh đênh, lãng đãng trôi
Chơi vơi, thanh thoát, Chúa muôn đời
Trước, sau, mãi mãi nguồn vô tận
Nhân ái, thương yêu, ấm nụ cười…
*
CAO MỴ NHÂN
VAI DIỄN. CAO MỴ NHÂN
*
Thưa anh, mưa nắng qua rồi
Gió mùa đại dịch chưa thôi loạn cuồng
Bây giờ giữ mảnh hồn suông
Để năm tháng đóng hết tuồng thế nhân
*
Kịch đời nào cũng phù vân
Phân vai em, Thượng Đế cần hỏi anh
Rằng sao lệ tủi long lanh
Bởi em chỉ muốn trở thành người yêu
*
Đã đành vai được nuông chiều
Nữ lưu kiều mị với nhiều kiêu sa
Nhưng em lại vẫn xót xa
Vì anh vẫn cạnh người ta xum vầy
*
Gió mưa chưa hết kiếp này
Kịch đời chưa dứt tháng ngày khổ đau
Trên cao, Thượng Đế buồn rầu
Phân vai em, đợi đời sau đẹp tình …
*
CAO MỴ NHÂN
THỨ SÁU. CAO MỴ NHÂN
*
Thứ sáu, ngày Chúa vong thân
Đã không bén mảng tới sân Nhà Thờ
Lại còn hò hẹn người thơ
Là hôm nay rảnh, tha hồ ghé chơi
*
Thưa rằng: Có chuyện gì vui
Đem Kinh ra đọc, hay ngồi nghe Thơ
Tại sao không đến nhà thờ
Xin Cha: xưng tội bây giờ mới yêu
*
Thì thôi mai sớm trưa chiều
Tóc em buông thả những điều nhớ nhung
Cúi mình tạ khắp không trung
Đôi tay Chúa đã giải mông mênh tình
*
Phép Trời vạn sự hồi sinh
Niềm tin vĩnh cửu thượng đình cao xa
Chúa từ bát ngát, bao la
Về bên cạnh mỗi chúng ta nguyện cầu…
*
CAO MỴ NHÂN
NẾU ANH. CAO MỴ NHÂN
*
Nếu anh nói nhỏ một lời
Rằng khuya nay sẽ tới mời em …vui
Thì em đã chẳng ngậm ngùi
Là không gặp Đấng Thánh Trời ghé qua
*
Nếu anh biết được anh xa
( Nhưng em vẫn tưởng anh đà quanh đây )
Đúng rồi, anh vẫn quanh đây
Trong thơ sầu mộng, em say đắm tình
*
Hôm qua lễ trọng Phục Sinh
Sao em lại ngủ khi mình buồn đau
Nếu anh biết được tình sau
Của em, là chính tình đầu đó thôi
*
Bây giờ thức giấc đơn côi
Thiếu anh, trống vắng đêm rồi ngày sang
Sáng nay em giận thời gian
Nếu anh đến sớm, em càng yêu hơn …
*
CAO MỴ NHÂN
VAI NẶNG TÌNH ĐỜI. CAO MỴ NHÂN
*
Mặt trời ngày Phục Sinh
Mầu hoàng kim rực rỡ
Cuộc tình đang hồi sinh
Giữa mây vàng bỡ ngỡ
*
Chúa về gọi yêu thương
Khi hồn em tan nát
Lá cọ hoang tơ vương
Từng sợi sầu bát ngát
*
Mặt trời vút lên cao
Nửa kiếp người chìm khuất
Núi mùa xuân xôn xao
Dấu chân này sẽ mất
*
Đôi vai nặng tình đời
Vác theo Đường Thánh Giá
Thôi em bỏ cuộc chơi
Thành xưa khô lệ đá…
*
CAO MỴ NHÂN

Từng Mảnh Chiều Rơi -CAO MỴ NHÂN
Tôi đang ngồi trong căn phòng quen thuộc, ngắm hình ca sĩ Thái Thanh, người có giọng hát vượt thời gian như nhà văn Mai Thảo nhận xét, thì chiều đổ ập xuống…
Có phải chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn không mà âm hưởng bài thơ Cảnh chiều hôm của Bà Huyện Thanh Quan khi đi võng qua đèo Ngang để vô kinh thành Huế dạy con vua cháu chúa triều Nguyễn cũng khiến mình vương chút sầu tư…
Ca sĩ Thái Thanh đang ở viện dưỡng lão X quận Cam, Nam Cali. Bà nhìn sâu vào không gian trước mặt, giờ này, cũng một buổi chiều, để thấm ý hai câu kết bài thơ Cảnh chiều hôm:
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn…
(Bà Huyện Thanh Quan, 1805 – 1848)
Cứ xem như tư gia của ca sĩ Thái Thanh là chốn Chương Đài, còn ca sĩ đang là người lữ thứ ở viện dưỡng lão X, con cháu bận rộn công ăn việc làm không thể thường xuyên thăm viếng nên nỗi hàn ôn phải tâm tình cùng bạn viện thôi.
Văn nghệ sĩ Việt Nam lưu vong cũng đã như một nếp gấp văn hoá địa phương lâu rồi… Tôi chỉ kể về quý vị mà tôi hoặc quen hoặc biết, theo thứ tự thời gian:
Nhà văn quân đội Phạm Huấn, nhà thơ Hoàng Anh Tuấn. Nhị vị ở viện dưỡng lão Z trên San Jose và đã qua đời ở viện cũng đã lâu rồi.
Nhà văn Linh Bảo, hiền tỷ của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, ca sĩ Thái Thanh, hiền mẫu của danh ca Ý Lan. Nhị vị đang bình thường tại viện dưỡng lão X, Nam Cali.
Buổi chiều thì ở đâu cũng buồn, nhưng ở viện dưỡng lão hay nhà thương thì càng buồn hơn.
Không biết có khi nào ca sĩ Thái Thanh một mình nằm hay ngồi trong viện X nghe lại chính giọng ca của mình…
Giọng hát đã băng qua cả một bề dày năm tháng…
Thủa nữ nghệ sĩ diễn ngâm Hồ Điệp còn tại thế, trước khi mất tích trên đường vượt biên năm 1987, bà cùng ái nữ cư ngụ tại biệt thự Mả Đá trong khuôn viên tư thất cụ thi sĩ Văn Giai nhượng lại một phần.
Biệt thự Mả Đá toạ lạc tại đường Phan Xích Long, trước cửa nhà máy điện quận Phú Nhuận, Sài Gòn.
Mỗi buổi sáng nơi bộ bàn ghế cẩn xà cừ kê ở hàng hiên biệt thự lại có ba vị tao nhân, mặc khách đàm đạo thi ca gồm quý cụ thi sĩ Văn Giai chủ nhân, thi sĩ Trần Lữ Vũ mới từ trại tù cải tạo ra và nghệ sĩ danh ngâm Hồ Điệp hội ẩm.
Cả ba vị tao nhân, mặc khách đều lặng lẽ nghe giọng ngâm Hồ Điệp từ băng thơ Hồ Điệp vẳng lên chơi vơi, mênh mông…
Thỉnh thoảng có dịp tìm thăm chị, cánh bướm của trời thơ trữ tình, lãng mạn, tôi lại gặp ba vị nêu trên ngồi thả hồn theo tiếng sáo Tô Kiều Ngân, tiếng đàn mệ Bửu Lộc, giọng Hồ Điệp ngâm nga trong những cuốn băng thơ bồng bềnh, dư âm vang xa vời vợi tình buồn…
Sự kiện khiến tôi liên tưởng tới hoàn cảnh văn nghệ của những ai lỡ mang tâm hồn mẫn cảm sau này…
Tôi cũng có những kỷ niệm hết sức âm thầm nhưng vô cùng mê đắm, tưởng như một phần đời mình đã đóng băng kiên cố trong tình nghĩa huynh đệ chi binh hiện nay ở sân chơi dành cho lính mà tôi thường thấm ý khoe với bạn bè về nơi vườn tình ấm áp ở phương Nam…
Tất nhiên thời gian không biệt lệ cho ai, dẫu có là vua thần thoại trong cổ tích Mỗi ngày một chuyện đi nữa, và dù có cố gắng tưởng tượng thêm nhiều tình tiết cho thật kỳ ảo, tôi vẫn phải ngồi lặng lẽ ngó từng mảnh chiều rơi trước mắt những khách tình si ưa thả lỏng tâm tư theo tơ vương thần thoại…
Buổi chiều… sao trong lòng hạnh phúc thế mà vẫn không thoát được nỗi buồn nhỉ?
Đó là chuỗi thở dài của tháng năm bất tuyệt…
Anh có chiều chuộng mình như nâng niu trứng mỏng, mình vẫn chan hoà nước mắt khóc… tình thơ!
Ô hay, tình thơ lưu ly như ngàn vạn hạt kim cương lấp lánh, chiếu rực rỡ những trái tim tha thiết luyến thương nhau…
Ở đây không ai trong chúng ta phải ở chốn Chương Đài, cũng không khiến người nào giữa huynh đệ phải lang thang nơi lữ thứ, vì chúng ta đang trong hạnh ngộ tình thương…
Cho tới thời gian nào chúng ta buộc phải nhìn nhau qua ký ức, ấy là chuyện kể trăm năm đã hết…
Đó là dấu tích kỷ niệm muôn đời vẫn mãi còn nếu muốn đi tìm hình ảnh hôm nay… từng mảnh chiều rơi bên những người tình muộn.
CAO MỴ NHÂN
NÂNG NIU TÌNH BUỒN. CAO MỴ NHÂN
Đã mệt mỏi quá rồi, tôi đi tìm cái nghĩa vẹn toàn của cuộc sống.
Chỉ cần là lý tưởng, chỉ cần là học thuyết, và mãi mãi là trừu tượng thôi, nào muốn gì hơn.
Không nói là tràn đầy, là dư thừa, chỉ mong được anh chia sẻ cho một chút tin yêu cuộc sống, cho đời mình vui vẻ bình thường…
Anh cũng biết vậy, nhưng anh im lặng, anh xa cách, anh trầm thống theo ý anh, cái bản chất cố đô vương giả, không muốn dứt niềm đau ra khỏi cuộc đời mình.
Một trăm chuyện tình nghệ sĩ, gần như đủ một trăm nỗi ưu tư, sầu tủi được đẩy qua người mang tâm hồn khốn khổ vì yêu thương kẻ đối diện, chứ có bao giờ khách được hay bị yêu phải khổ đâu.
Là tôi đang quan sát tình đời thôi. Và cũng chẳng để làm gì, khi thời gian không còn đủ cho mình say đắm chan hoà ân nghĩa xót thương nhau.
Nhưng lạ, con người có thể là một Thánh Gióng, thần Herculs, thần Antee, lực sĩ Tarzan, Thạch Sanh vv…mà vẫn bất chợt mềm nhũn như loài sâu bé nhỏ, chỉ vì niềm tin bị khủng hoảng, mất mát.
Anh là tất cả, đúng, nên không có anh, mặt trời sẽ chẳng mọc, to chuyện quá, mấy chục năm nay mình đã chứng kiến cái điều thiên hạ cho là vớ vẩn, viển vông, không thực tế…này.
Khi ngày nào ánh sáng thái dương cũng soi rọi thế gian, một hạt cát trên sa mạc cũng mong đợi ngày lên, để nhìn thấy những hạt cát khác, cho dẫu cái cao nguyên rộng bát ngát, luôn mịt mù gió bụi.
Cả thế giới mày râu phải là những thần, những thánh cho chúng ta người già, phụ nữ, trẻ em…được vin vào lẽ sống, để tiếp tục sinh tồn.
Có phải tôi đánh giá quý ông, trong đó có anh, và rất có anh, là một ảnh hình chân như, lương thiện, hoàn mỹ, hầu xây dựng những cái tổ phượng hoàng nơi tột đỉnh phù sinh, trước khi ” mặt trời tắt hẳn trên môi em…” không ?
Câu thơ mình viết tặng anh từ phút giây hạnh ngộ, dù anh khẳng định là trừu tượng thôi, mãi mãi trừu tượng…đã phần nào đúng đấy .
Tôi bật cười, lẽ nào tôi không đủ ngôn từ, chữ nghĩa để viết hộ thư tình dùm ai muốn chớp nhoáng gởi đi, khi có cả chục tập thơ tình buồn kiểu tình dang dở của nhà thơ lai 2 dòng máu Việt Hoa:
Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở
Đời hết vui khi đã vẹn câu thề …
( Hồ Dzếnh )
Lạm bàn về tình ái, tình yêu ở đời, thì ai cũng có thể thuyết minh hùng hồn, lý do rất đơn giản, là yếu tố tự phát từ trái tim mỗi người tuy khác nhau, song vẫn là giống nhau, bởi lẽ Thượng Đế cho loài người ai cũng có một trái tim làm vốn liếng để sống ở đời…
Anh từng bảo thế này: ” Thôi nhé, bớt …hành hạ trái tim nghe, để cho lòng hồn nhiên, thanh thản yêu đời…”
Chẳng cần anh dặn, mình cũng biết điều khổ tâm này, cái khổ tâm của tiểu ni Thị Kính bị ma nữ Thị Mầu yêu đến chết bỏ.
Song le, anh là anh với đầy đủ nhân dáng, sắc diện, linh hồn đấng nam nhi, nên nếu có bị yêu cũng là một thiên chức, lại ngoạ ngôn, ngạ quỷ xâm nhập đó thôi.
Đi tìm cái nghĩa vẹn toàn của cuộc sống, mình biết chắc anh ái mộ đạo Phật bởi chân lý, không thù hận, không oán giận, không chê bai, không trách cứ vv…mà anh nhẫn nại đợi chờ …duyên nghiệp đến.
Nếu là nghiệp duyên, thì đành nhận, mà nếu là nghiệp …nợ, thì cũng đành nhận thôi, chẳng lẽ đưa tay gạt đánh ầm một cái duyên nghiệp xuống đáy đại vực Grand Canyon à .
Anh sẽ nghiêm mặt: ” Tại sao…am tường thế, mà ngay từ đầu không tránh đi, như thi sĩ Luân Hoán chủ trương trong đời thi nghiệp của ông, ông loại ngay tức khắc cái danh xưng: chị, em, cháu gái văn nghệ, để khỏi rắc rối về sau “.
Còn như chàng nhạc sĩ ôn nhu, dĩ hoà vi quý Vũ Thành An, đứng trước giai nhân kêu gọi tình người nở hoa nhân ái, rằng: ” Hãy cố quên đi mà sống “.
Nhưng người tình lắc đầu quầy quậy không chịu, thưa là muốn quên đi lắm, mà không được, vậy còn cách nào hơn điều quên đó, thì đành ôm thân phận ” nhược tiểu ” vậy, tức là :
Xin em đôi môi thật thà
Thật thà chịu nhiều xót xa…
( Bài không tên số 5 Vũ Thành An )
Nhưng được hay mất “cuộc tình này “, vẫn chỉ có nỗi
” Nâng niu cô đơn từng ngày… ”
Thành ra cuối cùng được Thượng Đế vỗ về, nhạc sĩ đã tìm ra ánh sáng rực rỡ từ cửa thiên đường chiếu xuống, mời gọi Vũ Thành An bước vô cõi đạo Trời , ông có được niềm vui khi tuổi không còn rung động trước một hình ảnh người nữ
“quấn quýt vân vê tà áo ” nữa .
Anh mỉm cười, nửa chế nhạo, nửa vị tha, ngó tôi thức trắng đêm qua vì buồn. Chắc anh không ngờ tôi dễ xúc động đến thế.
Anh có thể không cần nói thật. Nhưng anh có biết 100 người đàn bà, thì chỉ có 10 người chịu nghe nói thật, để họ quyết định cái đời độc lập của họ.
Còn 90 người kia, không muốn nghe cái sự thật mất lòng, không thành vấn đề, mà sự thật làm sững vững con người.
Thí dụ: ông chồng có bồ, ai ở đời cũng biết điều đó, và thường khi bà vợ biết, là đã vỡ bét tự sự truyện rồi.
Song le, chẳng phải là thế, những nhân vật nữ chỉ muốn nghe điều không thật của chồng họ, trái lại đàn ông lại đòi hỏi sự thật từ người vợ, phải được tôn trọng.
Ông chồng Huế của tôi thủa sinh thời, ông nói với tôi: “M nên mừng là anh còn nói dối M, vì khi anh nói thật ra, có nghĩa là M không còn quan trọng với anh nữa “.
Tôi đã khóc nức nở vì sự thật vốn vậy.
Thế có phải bây giờ bạn thích tôi nói dối phải không? Anh đâu cần nghĩ vậy, vì anh quá thông minh nơi chốn sa trường, cũng như ở tình trường.
Anh được điểm A+ nhiều lần thử thách, nhưng lại chính bộ mặt tình yêu mộc mạc, rất lính của anh, nó khiến anh vượt lên tất cả. Chao ôi, người tình Huế nào cũng có cái ưu điểm rực rỡ ấy .
Thôi tôi cũng đã khô nước mắt rồi, vì xưa nay tôi là người không đòi hỏi một thử thách nào.
Tôi đang xuống những bậc tam cấp, rời khỏi Thiên Mụ hay Linh Mụ gì đó, chùa đẹp, chùa buồn, có gọi hằng trăm tên, cũng vẫn có chữ Mụ, khiến tôi mụ mị cả người.
Đã đứng sát bờ sông Hương, đã soi bóng nơi dòng nước thơm rong rêu tuyệt hảo đó rồi, thì bao âm điệu ngọc châu, bao hình ảnh dát vàng, nạm bạc trên con sông quyền quý, huyền hoặc đó, cũng ám ảnh tôi suốt đời …
Đó cũng là một trong những nét vẹn toàn tôi đi tìm kiếm ở cuộc sống phiêu du, lênh đênh này, mà tình người chính là những âm vang của dòng sông đang chảy xiết đó…
Hãy nâng niu tình buồn …
CAO MỴ NHÂN
NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG Ra Mắt Sách – KIỀU MỸ DUYÊN
MẤT DẤU THỜI SỰ: Mạn Đàm GIAO CHỈ VŨ VĂN LÔC & PHẠM PHÚ NAM
Ca Khúc TIẾNG LÒNG – Thơ Trúc Tiên – Nhạc Văn Duy Tùng – Ca sĩ Tuyết Mai
Quý Vị và Các Bạn thân mến,
Đã là “Tiếng lòng” thì làm sao ta nghe được, phải không. Tuy nhiên chúng ta tin rằng, đó là tiếng nói trung thật nhất từ trong sâu thẳm của con người.
Nghệ sĩ Trúc Tiên đã nói thay cho nhiều phụ nữ qua bài thơ Tiếng Lòng dưới đây mà cô đã trăn trở mạnh dạn viết lên. Đó là những tiếng than thở của những người vợ, những người tình, những người con gái bao năm bên cạnh người chồng, người yêu bằng một ngôn ngữ thầm lặng, âm ỉ kéo dài bao năm tháng. Ngôn ngữ ấy chỉ thốt lên một mình trong đêm khuya vắng lặng, những lúc cô đơn trống trải, những lúc hờn giận xót xa…, và cuối cùng chỉ biết chấp nhận, tủi thân cho thân phận liễu yếu đào tơ. Vì thật ra không phải phụ nữ nào khi lấy chồng cũng hạnh phúc ấm êm, cũng trên thuận dưới hòa, cũng giàu sang phú quý, nhà cao cửa rộng, cũng quyền quý cao sang hay mệnh phụ phu nhân…
Biết bao cảnh đời trái ngang mà người phụ nữ hứng chịu mà ta biết được trong cuộc sống của đời thường. Thế nhưng, họ an phận chấp nhận hy sinh qua năm tháng..
Hãy đọc một vài câu trích đoạn trong bài thơ Tiếng Lòng sau đây :
Đâu có khóc mà sao nước mắt rơiNửa đời người vẫn còn khóc như trẻ thơ
Đâu có nhớ mà sao tim mong đợiĐêm đã về nhưng hình như còn thiếuNgày đã qua nhưng ngày vẫn chưa đầy.V,v…
Quả vậy. Nỗi đau của con người cao độ nhất là chính khi biết mình không còn cảm giác đau ! Không còn cảm giác đau, nhưng tim thì lại rỉ máu. Rỉ máu để rồi âm ỉ cứa vào tâm thức theo từng ngày tháng. Có những cặp vợ chồng cùng chung mái nhà, cùng một lối đi, nhưng không cùng một hướng, mỗi người một cõi riêng. Lòng băng giá, hồn tái tê… Đồng sàng thì có, nhưng lại dị mộng. Tuy cùng giường, cùng chăn chiếu, nhưng con tim thì trật nhịp. Cũng không thiếu nhiều người vì bộ mặt, vì địa vị, vì sĩ diện… nên họ cố đóng cho trọn một vai kịch của một cuốn phim, hay rán bước cho hết một đoạn đường.
Đâu có vỡ mà như thấy nát tanĐâu có mất mà sao tìm không gặpÂn ái xưa thầm kín lạc nơi nàoTình ở đâu, sao tình mãi âm thầm
Xót thương thân phận bọt bèo của người con gái nên các cụ xưa kia là những người luôn đi bước trước; bởi các cụ đã thấu suốt cái chung cuộc nơi cuộc đời của họ. Như là lời an ủi cho thân phận người con gái, các cụ mới có câu nói ẩn dụ mà nay đã trở thành câu thành ngữ của người VN để ví người con gái, rằng : “Con gái 12 bến nước…”
Thưa bạn, Có phũ phàng quá khi ví như thế không ? Truyền thống và văn hóa người VN hôm nay có còn duy trì tư tưởng này chăng ?
Ví rằng : “Con gái 12 bến nước” nghĩa là làm Thân con gái như chiếc đò; khi thì gặp bến nước trong, lúc mắc…. kẹt bến nước đục. Hôm nay đưa người tốt, mai người xấu, và cuối cùng an phận rồi …, nhắm mắt đưa chân… may nhờ rủi chịu.
Ôi, thật xót xa cho thân phận người con gái Việt Nam da vàng !
Tôi chợt nghĩ nếu văn hóa VN vẫn cho đây là câu thành ngữ chuẩn mực, thì hỡi các cô gái chưa chồng, hãy nghe lời tôi khuyên và khuyến khích sau đây : là các cô hãy mạnh dạn ngóng trông thêm bến nước thứ 13 nữa đi. Vì biết đâu bến 13 này khấm khá hơn chăng. (Thảo nào hôm nay nhiều con gái VN đua nhau kết hôn người ngoại quốc nhỉ !)
Bài thơ “TIẾNG LÒNG” của Nghệ sĩ Trúc Tiên đã cho tôi “Nghe” và “Cảm” được dù rất giới hạn trong”Cõi lòng” vô tận ấy. Ngoài người nghệ sĩ này, thì âm nhạc có thể… than thở thay cho bài thơ “Tiếng Lòng” mà tôi đề cập ở trên.
Kính mời Quý Vị và Các Bạn lắng nghe ca khúc Tiếng Lòng để cùng đồng cảm theo Youtube sau đây : https://youtu.be/1IQ4DVM4qoU
Phụ nữ nào có cùng tâm sự và muốn cất cao “Tiếng lòng” của mình cho ông ấy nghe, thì đây là bản Karaoke : https://youtu.be/eUGHy7WnIts
Thơ : Trúc TiênNhạc : Văn Duy TùngTrình bày : Cs. Tuyết Mai
Trân trọng và xin giới thiệu ca khúc mới,
Văn Duy Tùng
GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG


LÊ VĂN HẢI
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ Mồng Mười Tháng Ba!”
Hầu như người Việt Nam nào, ai cũng thuộc câu ca dao này, câu này được học từ nhỏ, thời tiểu học.
Hàng năm, cứ đến ngày 10 tháng 3 Âm lịch (năm nay ngày Tây, rơi đúng vào Chủ nhật tuần này! ngày 10 tháng 4 năm 2022)
Ngày này, con dân đất Việt ở khắp mọi nơi, đều hướng lòng về Quốc Tổ Hùng Vương, nhất là về đất Tổ Phú Thọ, nơi có đền thờ và bia tưởng niệm các vua Hùng. Để nhớ về nguồn cội, cảm tạ các Tiền Nhân đã có công lập quốc, giữ nước, thành một dân tộc Việt, với những trang sử oai hùng chống ngoại xâm, để lại cho con cháu một dải giang sơn gấm vóc, trường tồn trên 4 ngàn năm! Không một tấc đất nào về tay ngoại bang!
(Càng tự hào truyền thống Cha Ông bao nhiêu, càng căm thù CSVN bấy nhiêu, hết nhường đất biên giới, biển đảo, đặc khu…còn nuôi âm mưu bán nước cho Tầu Cộng, chỉ cần đạt mục đích “còn đảng còn mình!” Mà CS làm gì có Tổ! chúng đã công nhận tổ của chúng từ Nga, từ Tầu!)
Thời VNCH, trước 75, đây là Ngày Lễ Quốc Gia! ăn mừng rất lớn. Hành động VNCH giữ nước dũng cảm, với trận chiến “Hoàng Sa, Trường Sa!” Thà chết, chứ không để một tấc đất nào lọt vào tay giặc!
Ra hải ngoại, cộng đồng người Việt khắp nơi, cũng giữ được truyền thống “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” tốt đẹp này, nên luôn luôn có những sinh hoạt, để nhớ về Tổ Tiên dòng giống Lạc Hồng.
Chút Lịch Sử Đời Hùng
Theo truyền thuyết, triều đại Hùng Vương có 18 đời vua. Hùng Vương thứ nhất lên ngôi vào năm 2879 trước Công nguyên, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước làm 15 bộ, truyền đời đến năm 258 trước Công nguyên, thì mất ngôi vào tay Thục Phán An Dương Vương.
Như vậy, triều Hùng trải qua trong khoảng 2.600 năm, nếu chia trung bình cho 18 đời vua thì mỗi đời vua xấp xỉ 150 năm.
Giải thích điều hơi khó hiểu này, một số học giả cho rằng thực chất 18 đời vua Hùng không phải là 18 cá nhân cụ thể, mà là 18 chi, mỗi chi này có nhiều vị vua, thay phiên nhau trị vì, và dùng chung vương hiệu. Ngay cả con số 18 cũng chỉ mang tính tượng trưng, ước lệ, vì 18 cộng lại là 9, con số thiêng đối với người Việt.
Như vậy, theo một số tài liệu lịch sử ghi lại, ngày giỗ tổ đã có từ cách đây 2.000 năm. Dưới thời Thục Phán An Dương Vương. Bằng chứng đã tìm thấy cột đá thề, được dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, ghi rõ: “Nguyện có đất trời lồng lộng chứng giám, nước Nam được trường tồn lưu ở miếu Tổ Hùng Vương. Xin hứa đời đời trông nom lăng miếu họ Hùng và gìn giữ giang sơn mà Quốc Tổ trao lại. Nếu thất hẹn, sai lời thề, sẽ bị gió giăng, búa dập, tan thây!”.
Các đời vua khác sau này cũng luôn ghi nhớ, khẳng định vai trò các vua Hùng trong việc xây dựng giang sơn Đất Việt. Chính vì thế mà hàng năm, người Việt dành riêng một ngày để mừng, tưởng nhớ những người đã lập và xây dựng nên đất nước. Trong tinh thần nhớ về Cội Nguồn “Cây có gốc, chim có tổ, người có tông!”

THÁNG BA XUÂN
(Điệp tự)
Tháng Ba Âm Lịch, tháng Ba mừng
Giỗ Tổ Hùng Vương, giỗ Tổ Ân
Mười tám đời Vua, mười tám Đế
Bốn nghìn năm sử, bốn nghìn Xuân
Văn Lang nối gót, Văn Lang tiến
Việt Tộc theo đà, Việt Tộc nâng
Danh tiếng nhà Nam, danh tiếng rạng
Kính tiền Quốc Tổ, kính tiền nhân
*
Phương Hoa – Tháng Ba Ngày Giỗ Tổ

LE VĂN HẢI
Tại Sao Lăng Vua Hùng Lại Ở Phú Thọ?
Theo Ngọc phả Hùng Vương chép thời Hồng Đức hậu Lê, thì từ thời nhà Tiền Lê, nhà Lý, nhà Trần rồi đến Hậu Lê, các vua và người dân địa phương, đều đến lễ bái các vua Hùng. Vua đã giao thẳng quản lý Đền Hùng cho cư dân tại đó rông nom, sửa chữa, cúng bái. Và có bổn phận tổ chức ngày giỗ 18 đời Hùng Vương, vào ngày 10 tháng 3 âm lịch mỗi năm.
Để đền bù công lao gìn giữ, tổ chức, dân địa phương được triều đình miễn cho những khoản thuế ruộng, nhiều quyền lợi khác. Như thanh niên, có thể miễn đi lính trong thời chiến, nếu có nhiệm vụ trông coi, hương khói cho Đền Vua.
Sang thế kỷ 20, năm 1917, triều vua Khải Định. Bộ Lễ chính thức gửi công văn đến tỉnh Phú Thọ, chính thức lấy ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch, cử hành “quốc lễ” hàng năm.
Ngày Giỗ này, nếu điều kiện cho phép, vua và các quan phải mặc phẩm phục, lên đền Hùng cúng tế tổ tiên rất trang trọng.
https://www.facebook.com/ted.nguyen.14418/videos/362650918960247
LÊ VĂN HẢI
Truyền Thuyết Con Rồng Cháu Tiên
Hay còn gọi sự tích Trăm Trứng Trăm Con, nhằm giải thích về nguồn gốc dân tộc, cũng như đề cao lòng tự hào và tinh thần truyền thống đoàn kết của Người Việt Nam.
Câu chuyện “dã sử” có tính cách “thần tiên” như sau:
Ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, cứ như bây giờ là Miền Bắc nước ta, có một vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân. Thần mình rồng, thường ở dưới nước, thỉnh thoảng lên sống trên cạn, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ.
Thần giúp nhân dân diệt trừ Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh, là những loài yêu quái, bấy lâu nay tung hoành, làm hại dân lành. Thần dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi, cả cách sống, đạo đức, lẽ phải. Xong việc, thần thường về thủy cung, khi có việc cần, thần mới hiện lên.
Bấy giờ, ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. Nghe tiếng vùng đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, tò mò bèn tìm đến thăm.
Nhân duyên tiền định, Âu Cơ và Lạc Long Quân gặp nhau, đem lòng yêu thương. Rồi trở thành vợ chồng, cùng nhau chung sống trên cạn ở điện Long Tráng.
Ít lâu sau, Âu Cơ có mang (bầu), đến kỳ sinh nở. Chuyện thật lạ, nàng sinh ra một cái bọc trăm trứng! nở ra một trăm con! Con nào con ấy hồng hào, đẹp đẽ lạ thường. Hay hơn nữa, đàn con không cần bú mớm, mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khỏe mạnh như thần! đẹp như tiên!
Thế rồi một hôm, Lạc Long Quân vốn quen sống ở nước, cảm thấy mình không thể sống mãi trên cạn được. Đành từ biệt Âu Cơ và đàn con, để trở về thủy cung. Âu Cơ ở lại một mình nuôi đàn con, tháng ngày chờ mong, buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi chồng lên và than thở.
– Sao chàng bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi đàn con nhỏ?
Lạc Long Quân nói:
– Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là giòng tiên ở chốn non cao. Kẻ ở cạn, người ở nước, tính tình tập quán khác nhau, khó mà ăn ở cùng nhau một nơi, lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì thì giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn.
Âu Cơ nghe theo chồng, rồi cùng nhau chia tay nhau lên đường.
Người con trưởng được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở đất Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang.
Triều đình có tướng văn, tướng võ, con trai vua gọi là quan lang, con gái vua gọi là mỵ nương, khi cha chết thì được truyền ngôi cho con trưởng, gần 29 đời truyền nối ngôi vua, đều lấy danh hiệu Hùng Vương, không hề thay đổi.
Cũng bởi sự tích này mà về sau, người Việt Nam chúng ta đều là con cháu vua Hùng. Đều từ một bọc trứng mà sinh ra, Cùng gọi nhau là “Đồng Bào!” (từ một bào thai) và đến bây giờ, hơn 4 ngàn năm, vẫn tự hào mình là Con Rồng Cháu Tiên!
Người Việt Hải Ngoại Sinh Hoạt Giỗ Tổ Hùng Vương Năm 2022
-Tại Bắc Cali:
Được Tổ Chức, Vào Ngày Chủ Nật 10 Tháng 4 Năm 2022, Lúc10:00 Sáng
Tại Vườn Truyền Thống Việt
1499 Roberts Ave San Jose Ca 95122
-Tại Seattle:
Lúc 10 giờ sáng Chủ Nhật, ngày 10 tháng 4 năm 2022
Tại Tổ Đình Việt Nam
2234 SW. Orchard St, Seattle, WA. 98106
Phone (206) 779-6875
NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG
*
Ngày Giỗ HÙNG VƯƠNG nhớ Tổ Tông
Tự hào dân Việt giống Tiên-Rồng
Chinh Nam ngạo nghễ hưng bờ cõi
Chiến Bắc oai hùng vững núi sông
Xã tắc, tiền nhân gìn nhọc sức
Giang san, hậu thế giữ dày công
Nay bầy Cộng Sản ôm tà thuyết
Bán nước mọp Tàu, nhục mặt không??
*
DUY ANH
Mồng Mười, tháng Ba, Nhâm Dần04/10/2022

Chiến Tranh Ai Hưởng Lợi?
Để đọc trang kế tiếp, di chuyển Mouse xuống dưới trang, phía trái và bấm vào đầu mũi tên.
PHIM DAM MỸ- Trịnh Bình An

Tại sao Bắc Kinh cấm phim đam mỹ?
Trịnh Bình An
Đầu tháng Giêng 2022, nhà cầm quyền Hoa Lục đã ra lệnh chính thức cấm chiếu các phim thể loại “đam mỹ“.
Phim đam mỹ là loại phim phiêu lưu, tình cảm, không chứa đựng những tư tưởng cải cách, đấu tranh, đòi tự do, dân chủ…, tức là những điều tối kỵ đối với Đảng Cộng Sản, vậy vì lý do gì khiến Bắc Kinh lại ra tay ngăn cấm dù biết rằng sẽ thất thu bạc tỉ tiền thuế từ những bộ phim này?
Nhưng trước khi tìm hiểu thêm, xin được nhắc tới đôi điều về thể loại phim đam mỹ.
“Đam” nghĩa là mê đắm (như trong đam mê), “Mỹ” là đẹp đẽ (như trong mỹ lệ). Nhưng khi dùng cho tiểu thuyết, phim ảnh, hai chữ “đam mỹ” hàm ý tình yêu giữa người nam và người nam. (Tiếng Anh là “Danmei“: The male same-sex romance genre of “boys’ love“)
Trong năm 2021, hãng phim Netflix của Hoa Kỳ đã cùng một lúc phổ biến 4 bộ phim đam mỹ: Trần Tình Lệnh (The Untamed), Sơn Hà Lệnh (Word of Honor), Âm Dương Sư: Tình Nhã Tập (The Yin-Yang Master: Dream of Eternity), và Thiên Bảo Phục Yêu Lục (The Legend of Exorcism).
Những bộ phim này đều có chung một số ưu điểm: Kịch bản hấp dẫn, cảnh quan lộng lẫy, dàn diễn viên trẻ, đẹp, giỏi diễn xuất (riêng Thiên Bảo Phục Yêu Lục là phim hoạt họa). Nội dung cả 4 bộ phim đều xoay quanh mối tình lãng mạn giữa hai nhân vật nam chính.
Nhưng tại sao chỉ là “lãng mạn“?
Bởi vì trong phim hoàn toàn không có những cảnh ướt át, mùi mẫn như hôn hít, vuốt ve, làm tình… điều vẫn thấy nhan nhản trong các phim đồng tính nam. Ở đây, tình yêu chỉ được thể hiện qua ánh mắt tha thiết, lời nói ân cần. Yêu là quan tâm lẫn nhau, thông cảm với nhau, hy sinh mạng sống cho nhau. Những cảnh thân mật nhất chỉ có: nắm tay khi trị thương, đỡ nhau khi bất tỉnh, choàng vai khi… khinh công.
Nhưng nếu đã “thụ thụ bất thân” (1) đến như thế, tại sao Bắc Kinh phải nhảy dựng lên?
Trước khi trả lời câu hỏi này, tưởng cũng nên nhắc lại quan niệm “Tri Kỷ” trong văn hóa Trung Hoa.
Hai chữ tri kỷ dùng để chỉ một người bạn rất thân, thân đến mức có thể thông cảm và hết lòng với mình. Những đôi tri kỷ trong sử Tàu được nhắc tới nhiều nhất là Bá Nha-Tử Kỳ và Quản Trọng-Bảo Thúc Nha. Còn bộ ba anh em kết nghĩa Lưu Bị-Quan Vũ-Trương Phi là tình “huynh đệ-chiến hữu“, chiến đấu bên nhau, sống chết cùng nhau. Thế nhưng những cặp tri kỷ ấy, ai nấy đều có gia đình riêng, có vợ con, thậm chí còn có nhiều vợ.
Còn khi hai người nam yêu nhau tới mức trở thành tình nhân thì không gọi “Tri Kỷ” nữa mà là “Đoạn Tụ“.
“Đoạn” là chặt đứt, “Tụ” là tay áo. Hai chữ ấy có nguồn gốc từ điển tích “Chặt tay áo“: Đổng Hiền được vua Hán Ai Đế yêu thương, nằm gối vào tay áo vua mà ngủ. Khi vua dậy trước, không nỡ đánh thức, bèn cắt luôn tay áo mà đứng lên.
Văn hóa Trung Hoa ca ngợi tình tri kỷ như thứ tình cao quý giữa người và người, nếu là nam và nữ thì nữ là “hồng nhan tri kỷ” của nam. Tri kỷ cũng có nguyên tắc của tri kỷ. Một trong những nguyên tắc chính yếu là phải “đạm“, tức không bày tỏ lộ liễu, như câu “Quân tử chi giao đạm nhược thủy” (2). Tình của của người quân tử lạt như nước, nước nhờ lạt mà không ngán.
Một câu khác (tương truyền của thừa tướng Gia Cát Lượng) còn nói rõ thêm: “Ôn bất phiền hoa – Hàn bất cải diệp” – Ấm không nở hoa, lạnh không thay lá – Ý nói trong giao tình nên giữ thái độ bình thản, không vồ vập khi thích nhau nhưng cũng không hắt hủi khi hết thích nhau.
Nước Việt ta truyền tụng tình bạn tri kỷ giữa hai thi hào Nguyễn Khuyến và Dương Khuê. Khi cụ Nghè Dương ra đi, cụ Tam Nguyên Yên Đổ viết bài thơ khóc bạn, khóc thương người đi nhưng cũng khóc thương chính mình, vì mất tri kỷ đồng nghĩa mất đi người có thể chia sẻ với ta những điều tinh tế nhất.
Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua không phải không tiền không mua.
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết
Viết đưa ai, ai biết mà đưa.
Giường kia treo những hững hờ
Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.
Tình tri kỷ còn là thứ tình bạn chỉ có được ở những bậc hào hoa nhất, phong lưu nhất, những con người không màng tiền tài, danh lợi. Bài hát “Si Tình Mộ“, trong phim Âm Dương Sư, đề cao tình cảm cao quý ấy với hai câu thơ: “Bất cầu anh hùng vạn thế danh – Đãn cầu tri kỷ đồng lộ hành” (3)- Cần chi danh tiếng anh hùng, những mong tri kỷ đi chung một đường.
Người đàn ông phương Tây cũng cảm nhận những tình bạn sâu sắc giữa họ với nhau, nhất là trên chiến trường. Tác phẩm “All Quiet on The Western Front” (Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh) của Erich M. Remarque có đoạn miêu tả thứ cảm tình lạ lùng mà thâm trọng ấy.
“Now I hear muffled voices. To judge by the tone that might be Kat talking…These voices, these quiet words, these footsteps in the trench behind me recall me at a bound from the terrible loneliness and fear of death by which I had been almost destroyed. They are more to me than life, these voices, they are more than motherliness and more than fear; they are the strongest, most comforting thing there is anywhere: they are the voices of my comrades. I am no longer a shuddering speck of existence, alone in the darkness – I belong to them and they to me; we all share the same fear and the same life, we are nearer than lovers, in a simpler, a harder way; I could bury my face in them, in these voices, these words that have saved me and will stand by me.“
(Tôi chợt nghe thấy tiếng ai đó nói nho nhỏ. Nghe ra như giọng của Kat… Những tiếng nói, những lời nho nhỏ, những bước chân trong chiến hào ở sau lưng, đã kéo giật tôi ra khỏi nỗi cô đơn và nỗi sợ chết kinh hoàng suýt nữa quất tôi đổ sụm. Những tiếng nói ấy, với tôi, còn hơn cả sự sống, hơn cả tình mẫu tử, hơn cả nỗi sợ hãi; Chúng là thứ mạnh mẽ nhất, ủi an nhất: Chúng là tiếng đồng đội của tôi. Tôi không còn là một một đốm sáng thoi thóp lập lòe, lẻ loi trong bóng tối – tôi thuộc về họ và họ thuộc về tôi. Tất cả chúng tôi đều có chung nỗi sợ hãi và có chung cuộc sống. Chúng tôi gần gụi nhau hơn cả tình nhân, thật dễ dàng mà cũng thật khó khăn. Tôi có thể vùi mặt vào họ, vào những tiếng nói của họ, những tiếng nói ấy đã cứu lấy tôi và sẽ đứng bên tôi.)
Tình “huynh đệ chi binh” cũng khiến độc giả chúng ta say mê theo dõi từng bước chân của bốn chàng lính Ngự Lâm của Alexandre Dumas. Dù xuất thân rất khác, tính tình cũng rất khác, Athos, Porthos, Aramis và d’Artagnan vẫn gắn bó với nhau trong những điệp vụ gian nan, kéo dài từ tác phẩm”Les Trois Mousquetaires” (Ba Chàng Ngự Lâm Quân) tới tác phẩm “Vingt Ans Après” (Hai Mươi Năm Sau).
Và nếu không dựa vào tình tri kỷ thì Conan Doyle sẽ khó lòng viết nên những trang trinh thám mãi mãi mê hoặc lòng người giữa chàng thám tử tài hoa Sherlock Holmes và người bạn của anh – Dr. Watson. Khi Watson bị trúng đạn, chứng kiến biểu cảm của Holmes, lòng ông tràn đầy xúc động:
It was worth a wound; it was worth many wounds; to know the depth of loyalty and love which lay behind that cold mask. The clear, hard eyes were dimmed for a moment, and the firm lips were shaking. For the one and only time I caught a glimpse of a great heart as well as of a great brain. All my years of humble but single-minded service culminated in that moment of revelation.
(Vết thương thật đáng giá; cho dù nhiều vết thương hơn nữa vẫn thật đáng giá. Nhờ nó, mới thấy ẩn sau lớp mặt nạ lạnh lùng kia là thăm thẳm tình thâm nghĩa trọng. Chỉ một thoáng qua thôi, nhưng tôi thấy đôi mắt vốn dửng dưng kia bỗng chợt tối lại, đôi môi nghiêm nghị kia chợt khẽ run lên. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất tôi được thấy một trái tim vĩ đại và một khối óc vĩ đại. Tất cả những năm tháng âm thầm tận tụy của tôi, cuối cùng, cũng đã viên mãn chỉ trong cái khoảnh khắc diệu kỳ ấy.)
Trên đây, là một vài ví dụ cho tình tri kỷ của những thời trước kia. Dù Đông hay Tây, phái nam thường thích tụ họp, quây quần với nhau. Đó có thể là vết tích của người tiền sử chăng, khi đàn ông giữ nhiệm vụ săn bắt, họ phải cùng nhau đối đầu với những loài dã thú to khỏe và hung dữ.
Và bây giờ, xin được trở về với chủ đề phim đam mỹ.
Hai bộ phim truyền hình nhiều tập Trần Tình Lệnh và Sơn Hà Lệnh đều được chuyển thể từ tiểu thuyết kiếm hiệp đam mỹ. Hai nhân vật nam chính trong truyện đều thuộc loại “đoạn tụ“, tiếng Anh là “gay man“, tiếng Việt là “đàn ông cong“, trái với “đàn ông thẳng – straight man“. Thế nhưng, để qua được kiểm duyệt, phim được sửa đổi để chỉ còn là tình tri kỷ, các cặp tình nhân nam-nam đều bị đặt trong cái thế “tình trong như đã mặt ngoài còn e” (4).
Thế mà Bắc Kinh vẫn lo sợ! Nói cho ngay, có lý do để lo sợ. Ít nhất vì 3 lý do sau đây:
Thứ Nhất, cho tới nay, Trung Cộng vẫn giữ thái đồ lình xình với giới đồng tính: “Không cấm đoán cũng không cho phép“. Sự thành công vượt bực của Trần Tình Lệnh và Sơn Hà Lệnh kéo theo cả một chuỗi những bộ phim đam mỹ khác đang rục rịch ra lò. Điều đó sẽ khiến xã hội có thiện cảm nhiều hơn với giới đồng tính. Và đó chính là bệ phóng cho những đòi hỏi mạnh mẽ hơn về quyền đồng tính. Thế nhưng, Đảng Cộng Sản vốn rất ghét bị áp lực bởi người dân. Không nên quên Bắc Kinh đã sẵn sàng nã súng vào chính đồng bào mình trong biến cố đẫm máu Thiên An Môn 1989, dù đó chỉ là một đoàn thanh niên sinh viên tay không tấc sắt, biểu tình ôn hòa.
Thứ Hai, các phim đam mỹ góp phần làm thay đổi “gu” thẩm mỹ về nam giới của giới trẻ Hoa Lục ngày nay. Từ thời Mao Trạch Đông, các tranh cổ động Trung Cộng đều mô tả “Con người Xã Hội Chủ Nghĩa” qua hình ảnh những nông dân, công nhân to khỏe vạm vỡ với nét mặt rạng rỡ tươi vui. Thế nhưng, khi Hoa Lục “mèo trắng, mèo đen“(5) mở cửa, các tư tưởng bên ngoài đã tràn vào và làm lung lay các giáo điều cộng sản.
Bắt đầu từ những cuốn truyện tranh Nhật Bản (6).
Có lẽ vì người châu Á vốn thấp lùn, mũi tẹt, mắt hí, nên các nhân vật truyện tranh thường được vẽ với thân hình dong dỏng cao, sóng mũi thẳng và cặp mắt to, ngay cả người nam cũng xinh đẹp một cách thanh tú. Thế nhưng, ước mơ thoát khỏi kiếp “em sinh ra trời bắt xấu” chỉ thành sự thật khi giải phẫu thẩm mỹ trở nên tân tiến hơn, rẻ tiền hơn. Thanh thiếu niên Hàn Quốc đua nhau đi cắt mắt, sửa mũi, gọt cằm… tới mức các nam, nữ diễn viên người nào người nấy đều trông hao hao giống nhau, ai cũng mắt to, cũng cằm nhọn V-line, tới mức nhìn cứ ngỡ tất cả đều là anh chị em!
Xứ sở tỷ dân nào chịu thua kém xứ sở kim chi. Để theo kịp “đợt sống mới“, các diễn viên màn bạc cũng được tuyển chọn theo tiêu chuẩn mới. Các nam anh hùng không còn mang dáng “đường đường một đấng anh hào” mà nay phải “chân dài, ngực mỏng, da trắng, mặt gầy, môi nhỏ“. Thế nhưng, các “nam thần, soái ca” mảnh mai, ẻo lả ấy không hề làm giảm sút khí chất, phong độ của các nhân vật trong truyện và phim, thậm chí họ còn làm nổi bật hơn tài mạo siêu việt bởi vì ai nấy đều sở hữu “võ công cái thế, nội lực kinh người“.
Thế nhưng, đứng ở góc nhìn trần trụi của giới cầm quyền cộng sản, những chàng “trai đẹp” ấy làm sao có thể cầm súng ra trận theo “tiếng gọi tổ quốc“. Chưa kể, rất nhiều người trong số họ lại là con trai độc nhất trong gia đình, từ nhỏ đã được cưng chiều rất mực. Liệu Bắc Kinh sẽ có được một đoàn quân hùng hậu với những “cậu ấm“? Trào lưu “mỹ nhân hóa” nam thanh niên trở thành mối nguy cơ làm mất đi sức mạnh cơ bắp của quân đội. Quân đội mà yếu thì Trung Cộng còn hung hăng đe dọa được ai?
Và lý do Thứ Ba, cũng tiềm ẩn nguy cơ không kém hai lý do trên, đó là các hội kín. Cộng đồng LGBT (Lesbian, Gay, Bisexual, và Transgender) ở Hoa Lục vốn đã có những tụ điểm ở một số thành phố tương đối cởi mở. Trên thực tế, không dễ dàng phân biệt ai là đồng tính. Một người đàn ông vai u thịt bắp vẫn có thể là “nữ” trong mối tư tình. Những câu lạc bộ, hội kín ấy biết đâu chừng cũng là những “ổ chứa phản động“? Không nên quên Pháp Luân Công chỉ là một giáo phái tu học “chân, thiện, nhẫn” vậy mà đã khiến cho Bắc Kinh lo sợ tới mức phải dùng mọi cách “đuổi tận, giết tuyệt” vô cùng tàn độc.
Những hội đoàn có tính chất “nghĩa huynh – nghĩa đệ” khiến Bắc Kinh liên tưởng tới “108 Hảo Hán Lương Sơn Bạc” đã từng làm rung chuyển triều đình phong kiến. Nhóm huynh đệ ấy đã thất bại ở Thủy Hử, nhưng tại thế kỷ 21 này – khi Tự Do là ngọn gió bất khả đảo chiều, những con người ấy rất có khả năng sẽ làm tiêu ma chế độ “phong kiến đỏ“, dù cho nó có giảo quyệt và tàn nhẫn hơn những triều đại xưa gấp chục lần hơn.
Với 3 lý do vừa kể trên, không khó để hiểu tại sao nhà cầm quyền Trung Cộng đã hạ lệnh ngăn cấm vô thời hạn những bộ phim điện ảnh thể loại “đồng tính nam” cho dù đó chỉ là tình tri kỷ hay tình huynh đệ.
Về thị trường điện ảnh châu Á mà nói, khi khán giả đã chán ngấy các thể loại ngôn tình sướt mướt, cung đấu trí trá, tiên hiệp viển vông… việc họ quay ra say mê tình bạn tri kỷ ấm áp “sống chết có nhau, không rời không bỏ ” là điều dễ hiểu.
Câu hỏi đặt ra là: Liệu giới điện ảnh Hoa Lục có bó tay chịu thua hay không?
Kịch bản cho một mối giao tình nam-nam không thể bỏ qua 2 yếu tố: thiện tâm và dũng khí.
Bởi, dù vẻ ngoài mềm mỏng, những nhân vật chính đều vẫn là những anh hùng, tình yêu của họ không thể chỉ nhìn vào mắt nhau mà phải cùng nhìn về một hướng: trừ gian, diệt ác. Mà, chỉ anh hùng mới có tri kỷ, không có tình bạn giữa kẻ cướp.
Và, đó có thể là lý do Thứ Tư khiến Bắc Kinh căm ghét các chàng trai vừa trẻ, vừa đẹp, lại còn tự do, phóng khoáng… trong các phim “đam mỹ“. Bởi, Đảng Cộng Sản không cần tới anh hùng, vì Đảng Cộng Sản chỉ là một bọn cướp.
Trịnh Bình An
***
Ghi chú:
(1) “Nam nữ thụ thụ bất thân“: Nam nữ không được tiếp xúc thân thiết. Câu này được trích trong sách “Li Lậu Thượng” của Mạnh Tử. Vốn có hai vế, nhưng vế thứ hai thường bị bỏ sót. Nguyên văn: “Nam nữ thụ thụ bất thân, lễ dã; Tẩu nịch viên chi dĩ thủ, quyền dã” (Giữa nam và nữ không nên trực tiếp trao nhận vật phẩm bằng tay, đó là lễ nghi; Nhưng nếu chị dâu rơi xuống sông thì (em chồng) dùng tay để cứu, đó lại là thích ứng). Chữ “Quyền“, bộ Mộc, chỉ sự thích ứng, tuy trái với đạo thường nhưng hợp với lẽ phải. Bài viết dùng thành ngữ này để chỉ sự cứng nhắc trong văn hóa Trung Hoa.
(2) Nguyên câu văn trong “Trang Tử Nam Hoa Kinh“: “Quân tử chi giao đạm nhược thủy, tiểu nhân chi giao cam nhược lễ” (Quân tử đối xử với nhau nhạt như nước lã, tiểu nhân thì lại ngọt như rượu nếp).
(3) Nguyên đoạn là: “Bất cầu anh hùng vạn thế danh. Đãn cầu tri kỷ đồng lộ hành. Tâm như băng tuyết khiên như điệp. Thị phi đối thác vô bằng tá“. (Chẳng cần được tiếng anh hùng ngàn năm. Chỉ mong có tri kỷ đi cùng đường. Trái tim như băng tuyết, đôi vai như cánh bướm (lạnh với các ham muốn, nhẹ với các mưu cầu). Thị phi đúng sai không can dự vào).
(4) “Người quốc sắc kẻ thiên tài – Tình trong như đã mặt ngoài còn e“. Tả dáng vẻ thẹn thùng của Kim Trọng và Thúy Kiều khi gặp gỡ lần đầu tiên. Trích “Đoạn Trường Tân Thanh” của Nguyễn Du.
(5) Nguyên văn câu nói của Đặng Tiểu Bình: “Bất quản hắc miêu bạch miêu, năng tróc lão thử đích tựu thị hảo miêu” (Bất kể là mèo trắng hay mèo đen, miễn bắt được chuột thì đều là mèo tốt). Từng bị Mao Trạch Đông coi là tư tưởng “gió nghịch chiều“, dẫn đường đến chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, câu này có xuất xứ từ bộ tiểu thuyết “Liêu Trai Chí Dị” – Truyện “Khu Quái” – của Bồ Tùng Linh. Đời nhà Thanh, tú tài họ Từ không muốn phục vụ triều đình, bèn bỏ đi học đạo thuật để giúp người trừ ma quỷ. Có một đại quan triều đình mời ông ta đến trừ ma quỷ, hầu hạ đãi đằng cơm ngon rượu ngon nhưng tuyệt không mở miệng nói gì đến chuyện trừ ma quỷ. Đến tối có một con quái vật đầu người mình thú hiện đến ăn cơm thừa canh cặn. Từ tú tài sợ mất hồn hét loạn lên làm con quái thú cũng hoảng hồn chạy mất, từ sau không xuất hiện nữa. Người đời cảm thán rằng: “Hoàng ly hắc ly đắc thử giả hùng” (Dù chồn vàng hay chồn đen, cứ bắt được chuột là thành anh hùng).
(6) Nhật Bản gọi truyện tranh là Manga. Hàn Quốc là Manhwa. Trung Hoa là Manhua. Cả ba loại truyện đều có phong cách vẽ tương tự như nhau.
<<<<<<<<<<< FOR REFERENCE ONLY – DO NOT USE >>>>>>>>>>
Văn học nghệ thuật không phải là một mớ thuyết giảng đạo đức mà là cả một thế giới thấm đẫm tình người, có khả năng đánh thức, lay động nhân tính, gây nên những xúc động thẩm mỹ, đeo bám, ám ảnh, thôi thúc con người tự hoàn thiện không ngừng.
Người LGBT ở Việt Nam bao gồm những người đồng tính luyến ái, song tính luyến ái và người chuyển giới. LGBT là cụm từ viết tắt các chữ cái đầu gồm Lesbian, Gay, Bisexual, và Transgender/transsexual people (những người đồng tính nữ, người đồng tính nam, người song tính và người chuyển giới trong tiếng Anh)
- “Nam nữ thụ thụ bất thân”: Nam nữ không được tiếp xúc thân thiết. Câu này được trích trong sách Li Lậu Thượng 離婁上của Mạnh Tử. Vốn có hai vế, nhưng vế hai thường bị bỏ sót. Nguyên văn: “Nam nữ thụ thụ bất thân, lễ dã; Tẩu nịch viên chi dĩ thủ, quyền dã” 男女授受不親, 禮也; 嫂溺援之以手, 權也 (“Giữa nam và nữ không nên trực tiếp trao nhận vật phẩm bằng tay, đó là lễ nghi; Nhưng nếu chị dâu rơi xuống sông thì (em chồng) dùng tay để cứu, đó lại là thích ứng”). Chữ “Quyền” bộ Mộc 權, là sự thích ứng, tuy trái với đạo thường nhưng hợp với lẽ phải.
- Như trong các câu ngạn ngữ “Chấp kinh tòng quyền“: Tuy giữ đạo thường nhưng cũng có lúc phải theo hoàn cảnh mà biến đổi đi; “Ngộ biến tòng quyền“: Gặp cảnh biến phải theo đạo “quyền” (không thể giữ nguyên đạo “kinh” như lúc bình thường).
Xưa nay trong đạo đàn bà,
Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường,
Có khi biến có khi thường,
Có quyền nào phải một đường chấp kinh .
(Kiều)
Nguyên văn của Đặng Tiểu Bình : “Bất kể mèo vàng hay mèo đen, phương pháp nào có lợi cho khôi phục sản xuất thì áp dụng phương pháp đó. Tôi tán thành việc nghiêm túc nghiên cứu khoán sản lượng đến từng hộ gia đình”. Từng bị Mao Trạch Đông coi là tư tưởng “gió nghịch chiều”, dẫn đường đến chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, câu này có xuất xứ từ bộ tiểu thuyết “Liêu Trai Chí Dị” của Bồ Tùng Linh. Tại quyển 3, cuối thiên Khu Quái (Trừ Tà) có câu: “Dị sử thị viết: hoàng li hắc li, đắc thử giả hùng”. (Mèo vàng mèo đen, chỉ cần bắt được chuột thì đều là mèo tốt).
Baike Baidu (Bách Khoa Bách Độ)
黃狸黑狸,得鼠者雄,成語出處異史氏曰:‘黃狸黑狸,得鼠者雄。’此非空言也。 清·蒲松齡《聊齋志異·驅怪》。
清朝時期,徐秀才不願為清廷服務,就改學道術為人驅鬼。
一個朝廷大員請他驅鬼,好酒好菜侍侯,閉口不談驅鬼事情。晚上一頭獸頭人身的怪物來舔食剩菜剩飯。徐秀才嚇得拼命狂叫嚇跑了那怪物,後來再也沒發現了,人們感嘆:“黃狸黑狸,得鼠者雄”。
“Hoàng ly hắc ly đắc thử giả hùng”. Thành ngữ xuất xứ: Dị Sử Thị viết: “Hoàng ly hắc ly đắc thử giả hùng, thử phi không ngôn dã”. (Thanh Bồ Tùng Linh: Liêu Trai Chí Dị – Khu Quái). Thanh triều thời kỳ, Từ tú tài bất nguyện vi Thanh đình phục vụ, tựu cải học đạo thuật vị nhân khu quỷ. Nhất cá triều đình đại viên thỉnh tha khu quỷ, hảo tửu hảo thái thị hầu, bế khẩu bất đàm khu quỷ sự tình. Vãn thượng nhất đầu thú đầu nhân nhân đích quái vật lai thiểm thực thặng thái thặng phạn. Từ tú tài hách đắc bính mệnh cuồng khiếu hách bào liễu na quái vật, hậu lai tái dã một phát hiện liễu. Nhân môn cảm thán: Hoàng ly hắc ly đắc thử giả hùng.
* DỊCH TIẾNG VIỆT: Xuất xứ thành ngữ này từ lời bàn của Dị Sử Thị: “Hoàng ly hắc ly đắc thử giả hùng, chẳng phải là lời nói suông”. (Truyện Khu Quái trong Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh). Đời nhà Thanh, tú tài họ Từ không muốn phục vụ triều đình, bèn bỏ đi học đạo thuật để giúp người trừ ma quỷ. Có một đại quan triều đình mời ông ta đến trừ ma quỷ, hầu hạ đãi đằng cơm ngon rượu ngon nhưng tuyệt không mở miệng nói gì đến chuyện trừ ma quỷ. Đến tối có một con quái vật hiện đến ăn cơm thừa canh cặn. Từ tú tài sợ mất hồn hét loạn lên làm con quái vật cũng hoảng hồn chạy mất, từ sau không xuất hiện nữa. Người đời cảm thán rằng: Dù chồn vàng hay chồn đen, cứ bắt được chuột là thành anh hùng.
1. Ly 狸 là con chồn.
2. Câu nói của Đặng Tiểu Bình hơi khác: “Bất quản hắc miêu bạch miêu, năng tróc lão thử đích tựu thị hảo miêu” (不管黑貓白貓,能捉老鼠的就是好貓).
1 trang mạng của Tàu về “đam mỹ điện ảnh” (danmei movies):
Good-looking Danmei English movies recommendations (2015)
(Hảo khán đích đam mỹ Anh văn điện ảnh suy tiến 好看的耽美英文电影推荐)
Hảo khán = nice, beautiful. Google dịch là good-looking.
Nguyên câu văn trong Trang Tử Nam Hoa Kinh: “Quân tử chi giao đạm nhược thủy, tiểu nhân chi giao cam nhược lễ” 君子之交淡若水小人之交甘若醴. (Cam nhược lễ = ngọt như rượu nếp).
Ca Khúc “NGƯỜI NHẶT SAO RƠI”- Thơ: Sa Chi Lệ | Nhạc: Duy Tuấn | Hòa âm: Bá Khôi || Ca sĩ: Duy Nam
KIỀU MỸ DUYÊN – Người Di Tản Buồn – Phỏng vấn Nữ Ký Giả Kiều Mỹ Duyên – Hương Thơ- Saigon TV
Phỏng vấn Nữ Ky Giả Kiều Mỹ Duyên Về Người Di Tản Buồn của Hương Thơ- Saigon TV
VĂN: Hương Xưa, Ngày Tháng Cũ – ĐỖ DUNG
Hương Xưa, Ngày Tháng Cũ.
Những Kỷ Niệm Thời Trưng Vương
Đỗ Dung
Các bạn đồng khoá chúng tôi, TV 58-65, muốn cùng nhau thực hiện một cuốn Đặc San đặc biệt ngày năm mươi năm dời trường. Hạn chót nộp bài là cuối tháng January. Hôm nay, 14/1/2015. Tôi biết viết gì đây?Bạn? Bè? Bạn một đời? Bạn một thời? Có những người tưởng như bạn một đời, có những người tưởng chỉ là bạn một thời… Những khuôn mặt từ từ hiện lên, những kỷ niệm cũ uà về. Bẩy năm Trung Học, mấy năm lên Đại Học, rồi tan tác, chia lià, rồi lại đoàn viên. Những Đại Hội trùng phùng cảm động, bùi ngùi nhận ra nhau, hay biết thêm về nhau nhiều hơn để tiếp tục gắn bó.
Những hỗn danh Chính Tốn, Châu Sình, Ngân Le, Dung Lu, Tí Ti, Bé Bự… đưa tôi về khoảng thời gian vui vẻ nên thơ nhất của đời người, bẩy năm Trung Học. Bẩy năm aó trắng tung tăng, mấy năm cuối với những mộng mơ, những rung động nhẹ nhàng của một thời con gái.
Một buổi sáng muà hè năm 1958, mẹ tôi chất bốn chị em chúng tôi, đứa lớn nhất 11 tuổi, đứa bé nhất mới lên 5, cùng ngồi với mẹ trên một chiếc xe xích lô máy đến trường Trưng Vương xem kết quả thi vào Đệ Thất. Chả hiểu sao khi tôi đem bản nháp bài thi về cho cha tôi xem thì ông đoán như đinh đóng cột là “Con bố phải đỗ”, dù là trường chỉ chọn ba trăm học sinh trong số gần ba ngàn thí sinh từ các trường Tiểu Học khắp nơi dự thi. Mẹ tôi không dám tin chắc nhưng vì tiện xe và trường gần Thảo Cầm Viên nên cho các em tôi đi chơi một thể. Thật may mắn, loa phóng thanh mới phát ra một lúc đã thấy đọc đến tên tôi. Mấy chị em tôi đã rú lên mừng rỡ. Để cho chắc chắn mẹ tôi bắt đợi khi nhà trường đọc hết danh sách, đến dò tên ở bảng dán trên tường với số báo danh rõ ràng mới yên chí. Mấy chủ xe đưa đón học sinh xúm xít vây quanh những phụ huynh có con trúng tuyển để quảng cáo lấy khách. Mẹ tôi nói địa chỉ nhà, họ chuyển sang cô Năm-chú Sáu, hai vợ chồng chủ xe chạy lộ trình này. Mẹ trả tiền xe cho cô Năm và cô hẹn ngày khai trường sẽ đến tận nhà đón.
Ngày khai trường đến, tôi xúng xính trong chiếc áo dài ngồi đợi, hồi hộp, lo âu trong sung sướng mình đã là nữ sinh Trưng Vương. Trên xe có hai nhỏ TV ngồi sẵn, Phùng Thị Chính, Lan Phương. Đi đến gần đầu đường thêm nhỏ Thu Hà với Kim Loan. Thì ra nguyên một khúc Thành Thái này đã có bốn TV be bé. Nhà Chính ở chợ An Đông. Xe cô Năm-chú Sáu đưa rước hai trường, Trưng Vương và thêm một trường Tiểu Học Tầu trong Chợ Lớn. Mỗi ngày khi xe đưa học trò nhỏ trường Tầu về là đón TV đi học. Sau đường Trần Hưng Đạo thì trên xe chỉ còn có TV. Bích Liễu ở khu Nancy, có biệt danh là Chuột Chù Phan Văn Trị, không biết ai đặt, có lẽ tại cô nàng tuổi Tí. Xe đón Bích Liễu là đón luôn chị Bạch Lan. Lê Thị Bảo ở Cô Bắc. Tôi còn nhớ ngoài TV 58-65 còn các TV lớp lớn hơn như Kim Chung, Bạch Lan, Tuyết Phương, Hồng Nhung, Hạnh, Hiếu… Năm sau có thêm Bích Từ, Trần Thị Phương, Tuyết Như rồi kế tiếp là Thục Văn, Kim Tâm và mấy chị em nhà hàng len ở Lê Thánh Tôn…
Những ngày đi xe trường có nhiều chuyện thật vui. Tôi hay giành ngồi ngay đối diện cô Năm ở phía sau cùng để phụ cô làm lơ xe. Mỗi khi xe ghé đón hay thả học trò thì la lên “Cho xe ghé dzô đi” một cách khoái trá. Xúm lại chọc sao Cô Năm mà lại Chú Sáu, vậy là cô Năm lớn hơn chú Sáu… hahaha! Những ngày nghỉ thỉnh thoảng tôi đi chợ An Đông, leo lên lầu nhà Chính rồi hai đứa chui vào một xó chuyện trò. Ngày họp ĐH ở nhà hàng Paracel, sau mấy chục năm không gặp, tưởng Chính đã quên nhưng tự nó đến vỗ vai tôi mà nói, hồi đó bà cụ tao gọi mày là “Cái Tròn”. Cụ có nhắc đến mày đấy.
Những năm đệ nhất cấp chúng tôi học buổi chiều. Ngày đầu tiên bước vào ngôi trường thân yêu ấy, chúng tôi xếp hàng theo từng lớp dưới sân trường, chào cờ, nghe huấn từ của bà Hiệu Trưởng Tăng Xuân An; lời chỉ dạy của bà Giám Học Nguyễn Thị Phú về chương trình giáo dục; cô Tổng Giám Thị Nguyệt Minh nhắc nhở về hạnh kiểm, công dung ngôn hạnh, những nết na của người con gái và nói về những kỷ luật của nhà trường. Trong mắt tôi lúc đó, ba bà trong Ban Giám Hiệu thật đẹp và oai nghi. Nhất là cô Tổng Giám Thị.
Giáo sư chính lớp tôi là bà An Thị Kỷ, bà Giám Thị Trí và đặc biệt tôi nhớ hai chị tuỳ phái, chị Ngọ tóc vấn khăn để trần. Chị Nụ ngoài khăn vấn quấn tròn trên đầu còn phủ thêm chiếc khăn vuông màu đen gấp chéo buộc lại phiá sau thành khăn mỏ quạ. Nhìn hai chị, tôi nhớ vú Hạnh, chị Dần nhà tôi ngoài Hà Nội, quần áo tiêu biểu chính cống Bắc Kỳ xưa.
Chúng tôi quen dần với bạn mới. Mấy em bé bé dãy bàn đầu có Tạ Bạch Mai Hương, Đan Hà, Nguyễn thị Hợp, Nguyễn Thị Minh Hà, Mai Oanh, Bích Trâm, Vân Bằng, Vân Anh, Bùi Nga, Đinh Thị Bạch Tuyết, Cấn Thị Hạnh Viên, Bùi Kim Liên… Dãy bàn nhì với Kim Khánh, Hoàng Kim Liên, Trương Kim Lan, Nguyễn Thị Hà, Phan Song Hà, Đào Dung, Đoàn Dung, Đỗ Dung. Bích Liễu hình như ngồi góc phía bên kia với Phùng Thị Chính, Kim Chinh và Trịnh Thị Thảo. Mấy dẫy bàn phía sau có Nguyễn Hoàng Vân Hương, Đỗ Thị Hạnh, Trần thị Hương, Phạm Thị Triệu, Phạm Xuân Mai, Nguyễn thị Lan, Lê thị Ánh, Đỗ thị Anh Thư, Nguyễn thị Kim Dung, Trần Thị Nhạc Lưu, Nguyễn Lệ Hải, Nguyễn thị Kim Lan, Nguyễn Thị Thư, Nguyễn Thị Lê, Phạm Thị Chúc, Hồ Thị Nhan, Trần Thị Liên, Nhẫn, Đạo, Duyên, Phạm Minh Đường, chị em Phương Khanh, Phương Thảo, Nguyễn Cung Thị Sính, Vũ Thị Minh Hà, Lê Thị Bảo… Chuyện gần sáu chục năm nên trí óc cũng cùn đi, tôi nhớ là sĩ số gần sáu mươi mà cố cũng không thể nhớ nổi hết.
Tết năm đó lớp chúng tôi tập múa bài Tiếng Sáo Thiên Thai. Mới đầu Trịnh Thị Thảo là cô nàng tiên chính, đứng giữa; cuối cùng chẳng hiểu sao Vân Hương phải thay thế, cô nàng phải miễn cưỡng thế mạng phút chót nên mặt bí xị không được vui. Tôi chỉ nhớ hai cô tiên bé Tạ Bạch Mai Hương và Phạm Vân Bằng thật là xinh. Đến ngày lễ Hai Bà, thày Nguyễn Cường thiết kế xe hoa hình con công với những dải lụa dài đằng sau, một bầy nữ sinh cầm lụa múa như đuôi công. Lớp tôi cũng có vài người được tuyển chọn vào nhóm múa này.
Năm đó còn có một kỷ niệm khó quên. Lớp học trên lầu ba, một ngày, sau khi sắp hàng và được lệnh vào lớp, chúng tôi chạy rầm rập lên cầu thang, khốn nỗi cầu thang gỗ và nhiều đứa còn đi guốc nên cứ nện thoải mái. Bà Giáo Sư chính An Thị Kỷ cho ngay cả lớp đi cấm túc ngày Chủ Nhật vì tội “Chạy ầm ầm ở cầu thang”. Từ đó chúng tôi phải mang giày, dép cao su, nếu đi guốc phải đóng đế.
Những năm đệ nhất cấp từ từ trôi, sau ba tháng nghỉ hè, ngày tựu trường gặp lại, nhìn nhau như lớn phổng hẳn lên. Có một TV đã nói rằng rung động đầu đời của nữ sinh TV là yêu cô giáo. Những “cây si” thập thò ngoài cửa lớp có cô để ngắm cô. Giờ tan trường rủ nhau theo đuôi cô như đám rước. Những cô giáo Trưng Vương thật là đáng yêu. Gần như mỗi đứa có một thần tượng cho riêng mình và nghỉ hè xa cô cũng nhớ nhung, xin địa chỉ để đến nhà cô ngồi chầu cho đỡ nhớ. Các cô có nhiều học trò mê như cô Tố Lan, cô Kim Thi, cô Hồng Diệp, cô Lệ Khanh, cô Mộng Ngọc, cô Thuý Nga, cô Ngọc Quỳnh, cô Ninh, cô Trâm, cô Vinh, cô Thái, cô Hồng, cô Lưu Kim Dung… Còn với tôi, cô Xuân Sanh yêu quý của tôi là nhất.
Có hai giai thoại mà mỗi khi nghĩ đến tôi lại bật cười. Những lần có quốc khách hay những ngày lễ lớn chúng tôi phải thức dậy thật sớm để xếp hàng đi đón hoặc đi tham dự. Những ngày đó chúng tôi phải mặc đồng phục với quần trắng. Có người thắc mắc: “Thưa cô, nhỡ “bị” có được nghỉ không ạ?” Cô giáo đã mắng ngay: “Con gái… bị thì phải biết chuẩn bị!”. Nhưng mặc dù đã chuẩn bị kỹ càng, vậy mà một bạn tôi đã “kẹt” làm tụi tôi phải vây xung quanh để che cảnh “mặt trời mọc”. Và… một năm, ngày lễ Hai Bà, hai nữ sinh Gia Long và Trưng Vương được hân hạnh đóng vai Hai Bà Trưng ngồi oai nghi trên lưng voi, làm lễ xong còn phải đi diễn hành. Các chị phải đến trường từ tờ mờ sáng, ngồi phơi nắng đến xế trưa, vừa mệt vừa phải ngồi lâu quá trên thớt voi, không giải tỏa được “bầu tâm sự”, vừa xong buổi diễn hành tự nhiên một trong hai bà Trưng ngất xỉu, phải bế xuống và “voi đã đổ mồ hôi”!
Lên đệ nhị cấp chúng tôi chuyển sang học buổi sáng. Khu nhà tôi không có xe trường, chúng tôi phải tự túc. Thường buổi sáng tôi đón xe buýt Cây Mai-Cây Gõ ngay góc Thành Thái – Trần Bình Trọng hoặc xe lam lên bến xe trung tâm tại chợ Bến Thành rồi chuyển sang chuyến xe khác lên đường Thống Nhất ngay trước cổng sở thú rồi từ từ thả bộ tới trường. Mãi đến năm Đệ Nhất tôi mới được thừa hưởng chiếc velo solex của anh tôi đi du học để lại.Năm Đệ Tam đã có những lúc bước chân vướng vít vạt aó dài, mặt nóng bừng khi đi qua quán Hẹn hoặc đi ngang La Pagode trong lúc rủ nhau đi bộ về chợ Bến Thành mới lên xe buýt về nhà.
Từ Đệ Tam chúng tôi đã phải chọn ban thích hợp với nghề nghiệp sau này. Lớp Tam A1 chúng tôi có một số bạn cùng học từ lớp dưới, một số từ lớp khác và vài bạn từ trường ngoài. Đã lớn hơn một chút, chúng tôi thân nhau hơn. Ngày nghỉ đã ra dáng người lớn, không chơi rải ranh hay đánh chuyền nữa mà bắt đầu đến nhà nhau để nướng bánh kẹp, đổ bánh xèo, chiên bánh tôm, tráng bánh cuốn hay tập trang hoàng bánh kem. Đã có những lúc ngồi bên nhau tâm sự vụn. Đã biết rủ nhau đi dạo phố hay lên sân thượng để ngồi ngắm trăng.Năm Đệ Nhị nhiều biến động chính trị (1963), chúng tôi có những dao động mạnh. Những buổi đến trường nhưng xuống đường, bãi khóa không vào lớp học mà ùa xuống sân trường để rồi bị cảnh sát lùa như vịt, hốt hết đi. Mặc dù sau đó được thả ra nhưng cũng bị một phen hoảng sợ. Hãi hùng hơn nữa khi nghe tin những bạn bị xe bít bùng đêm đến nhà bắt đưa đi.
Tú Tài Một đã qua, Tú Tài Hai lại tới. Năm Đệ Nhất để lại trong tôi nhiều kỷ niệm. Tuổi 17 đến 20, các bạn tôi đã trở thành những thiếu nữ xinh đẹp, tan trường đã có những chàng “Anh theo Ngọ về, đường mưa nho nhỏ”. Chàng Xuân Hạnh đã chống vespa ở cửa trường đón nàng Vũ Kim Liên.Lớp A1 của tôi có nhiều người đẹp, Vượng, Hảo, Trịnh Thị Thảo, Trần Thị Ngọc, Mộng Hoa, Ngọc Hoa, Lê Thị Vân, Phạm Kim Thể, Đặng Thị Hoà, Dương Thị Mai, Nguyễn Thị Hà, Dậu, Chép… Bây giờ nhìn lại thấy ai cũng đẹp, như Lệ, Liễu, Kim Chinh, Tú Khanh, Vũ Kim Liên, Minh Thu, Đỗ Thị Hạnh. Tuổi trẻ tha thướt, mộng mơ, tuổi của mắt sáng, môi hồng, má thắm. Tuổi trẻ trong sáng, xinh tươi như những bông hoa đang độ của vườn xuân trong nắng sớm. Lớp chúng tôi cũng có hai nữ sinh xuất sắc là Hoa Tâm và Năm. Sau Tú Tài cả hai đều được học bổng du học, Năm đi Úc, Hoa Tâm sang Canada.
Năm cuối cùng chúng tôi đã có những nỗi buồn vu vơ, cảm giác sắp phải xa lià bạn bè, trường lớp; những lúc bâng khuâng, nao nao, ngồi bên nhau muốn khóc. Có những lúc lại xúm nhau phá phách, chọc ghẹo bạn bè, thầy cô như muốn níu kéo lại thời gian. Đến cuối năm chúng tôi mới lo học rút, tập trung gạo bài để đi thi. Khi chúng tôi có kết quả, cả nhóm cùng đỗ Tú Tài phần hai, cha mẹ tôi mừng lắm, cho phép tổ chức ăn khao tại nhà, mời các giáo sư như Cô Ninh, Cô Mộng Ngọc, Thầy Diễn, Thầy Giảng , Thầy Tẩm, Thầy Lộc, thêm Thầy Lưu và Thầy Thọ, hai thầy không dạy TV nhưng đã coi điểm thi hộ chúng tôi. Nhóm A1 gồm Phương Ngân, Thanh Hoà, Minh Thu, Mộng Hoa, Ngọc, Nhị, Cẩm Tú, Mai Oanh, Dương Mai, Bích Liễu, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thị Năm. Bữa tiệc thật vui và sau đó như bầy chim non dời tổ, những cô nữ sinh chia tay, mỗi đứa một ngã rẽ, chập chững, dọ dẫm bước vào đời.
Các bạn của tôi ơi,Những cánh hoa sao xoay tít trên không, bầu trời trong xanh của con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm với hai hàng cây cao vời vợi đang hiện về. Hình ảnh chúng mình đi trong lòng đường trước cổng trường. Những lúc giỡn hớt bông đùa. Những giờ thể thao vui nhộn. Những khi ăn vụng trong lớp và vòi vĩnh thầy cô để xin tiền ăn bò biá, bò khô. Những miếng xoài xanh, những cục ô mai chuyền vội nhau dưới gầm bàn. Oái oăm lại còn chơi trò ăn vụng mà bóc quít thơm lừng, cười ra nước mắt và những miếng khoai mì nuốt chửng muốn nghẹn vì thầy đang đứng viết trên bảng, bất thình lình quay lưng nhìn xuống… Những khuôn mặt bạn bè thời trẻ dại đang rõ nét trong tôi. Bạn ơi, nhớ ơi là nhớ…
Đỗ Dung