Thư Mời – RMS Kiều Mỹ Duyên




HÀNH TRÌNH CUỘC ĐỜI

CAO MỴ NHÂN 

Nếu quý vị chỉ quen biết nhau có một thời, như là thủa ấu thơ, thiếu niên ở cùng xóm, cùng khu phố . 

Thủa thanh niên, cùng đi học, đi chơi, đi hội đoàn, đi làm hay đi buôn bán vv…

Tới thủa cao niên thì đi thăm hỏi, lễ lạc vv…

Tất cả đều  bình thường, có gặp lại hay không cũng chẳng thành vấn đề …

Song nếu quý vị quen biết nhau suốt hành trình cuộc đời , nghĩa là từ tấm bé đi lên tới cõi già nua, thì thật có lúc buồn ghê lắm, ấy là ta thấy rõ đời nhau, những thăng trầm, không suông sẻ, thậm chí còn đau khổ, thất bại vv…

Và cái điều không tránh khỏi là cả 2 cùng thấy nỗi bâng khuâng, tàn tạ của nhau lúc về già …

Không phải là người ta sợ già, chán già, vì già thì không còn đẹp đẽ, không còn tươi vui, mà người ta kịp nhận ra rằng chẳng còn bao lâu nữa, mọi người sẽ từ từ khuất mặt ở thế gian này vậy thôi. 

Như trên tôi đã trình bầy, thủa thanh thiếu niên, ngoài việc đi học, tôi tham gia rất nhiều hội đoàn …Thoạt thì đi Phật Tử từ tuổi oanh vũ ở Hải Phòng, sau đi Hướng Đạo ở Saigon, rồi vô Caritas, theo đoàn Hội Con Đức Mẹ đi tới các nhà thương chăm sóc bệnh nhân . 

Chót hết là tham gia Quân Đội VNCH, trong ngành Công tác Xã hội …

Chưa kể các nhóm nhỏ, hội lớn vv…tôi đều có mặt . 

Như vậy, cứ nhìn vào sinh hoạt của tôi, quý vị cũng thấy là tôi sống chan hoà thế, thì số lượng bạn bè …đông đảo lắm chứ . 

Do đó, kể từng giai đoạn lui tới bạn bè, hẳn tôi …ôm đồm quá , nên mệt quá, ấy thế mà tôi …thú vị vô cùng trời ạ. 

Và vì thế, tôi mới có dịp chứng kiến những phút giây vinh quang cũng như  tủi nhục của kiếp người, nhất là thời gian tôi sống trong đại tộc KaKi của…tôi. 

Tôi thuộc lòng từng chi tiết một những gì xẩy ra với mỗi cá nhân đặc biệt, hay từng đơn vị nhỏ mà tôi mặc nhiên hiện diện, ở gia đình quân nhân các cấp trong thành phố, ngoài các trại gia binh, hay tới tận cùng núi non, sông biển, đất lở, đồng lụt vv…

Đôi khi không muốn nhớ lại, nhưng những sự việc chưa rời xa lắm, lại hiển hiện trước mắt …cả một quá khứ miên man tiếp nối …cứ khiến mình nhớ thương vời vợi. 

Hình như trong lòng tôi, tôi chưa muốn ai phải từ giã cõi đời, nếu như lý luận của quý cụ bị phiền hà, bực bội, thì mỗi lần tôi tỏ vẻ tiếc thương bạn văn cũng như bạn …võ , quý cụ lại  chép miệng : 

” Chết phải rồi, nếu ai cũng sống, đất đâu mà chứa …” 

Sau khi đi tù cải tạo về, tôi tiếp tục lối sinh hoạt của tôi, chỉ có thay đổi nghề nghiệp cũ, là không còn đại tộc KaKi cho tôi bay nhẩy như thủa phục vụ ở Bộ Tư Lệnh QĐI/ QKI. 

Nhưng tôi vẫn nay thăm nhà này, mai thăm nhà khác, những gia đình quân nhân các cấp mà tôi được hân hạnh quen biết trước cuộc đổi đời 30-4 -1975. 

Đến nỗi tôi chưa cảm thấy đói, lại còn được huynh đệ chi binh hỏi thăm xem tôi đang sống cách nào, mà cứ lạc quan , mặc dầu ông xã tôi qua Mỹ đã ” biệt vô âm tín “. 

Tôi và 4 con tôi không thể kể khổ than nghèo được, khi ai cũng biết : ” nhà đó có chồng ở Mỹ, tụi nhỏ có cha ở Mỹ, thì làm sao thiếu thốn được chứ ” . 

Rồi đào lý bốn phương, chi lan tỷ muội, tức là bạn văn của tôi, cũng luôn chứng tỏ thơ phú tri âm tri kỷ thân tình … 

Tôi than là than theo cái kiểu bình thường, làm lụng nhiều quá thì kêu mệt, tôi khóc là vì bằng hữu hay hỏi thăm những chuyện …bá vơ. 

Thế nên tôi bỗng giận ông Thiên quá, ông không để huynh đệ chi binh, đào lý bốn phương tôi được sống an bình, ít nhất mỗi người đủ 100 năm cho đúng tiêu chuẩn ngài Thiên đã ấn định, ông Thiên lại cứ bớt xén một số tuổi tác, bởi cảnh cơ khổ, hoặc bất trắc vì bịnh hoạn hay tai nạn xẩy ra. 

Khi tôi 40 tuổi thì quý nữ sĩ trong hội thơ Quỳnh Dao đã gấp rưỡi hay gấp đôi số niên tuế của tôi rồi …

Tôi luôn là cây gậy của nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội khi bà còn ở Úc Viên Saigon. Tôi theo bà đi thăm vị này,vị nọ như quý cụ Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, Đông Xuyên, Bàng Bá Lân …vv. 

Tôi không biết thủa ” phương phì ” ( đương thì ) của quý khách Úc Viên xưa thế nào, chứ thực tại hồi đó, quý vị đã là những lão ông, người thì lụm khụm, người còn phi xe đạp tới nhà nhau bình văn thiên hạ . 

Và rồi lần lượt ra đi Tây Trúc khói sương. ..

Nữ sĩ Mộng Tuyết mở album ra,  hình ảnh cũ, có cụ Đông Hồ, và vài vị tên tuổi, vẫn còn phong thái ung dung… đã mãn phần. 

Nơi album của nữ sĩ Vân Nương hồi đám cưới, chú rề là  luật sư Lê Ngọc Chấn tri phủ, sau này làm đại sứ VNCH ở Luân  Đôn và Tunisie, nhị vị phù rể là 2 thi sĩ danh tiếng thời tiền chiến: Huy Cận, Xuân Diệu . 

Tôi kéo thời gian lùi về hiện đại một thế hệ ( 10-15 năm ), tôi bắt gặp một album của anh họ tôi, đại tá Biệt Động Quân Cao Văn Uỷ, thì nhị vị phù rể là 2 nhạc sĩ ; Nguyễn Hiền và Nhật Bằng  tên tuổi ở 2 thời đệ nhất và đệ nhị Cộng Hoà, tới cả khi cùng đi tị nạn ở Hoa Kỳ đầu thập niên 90 thế kỷ trước , anh tôi đại tá Cao Văn Uỷ thì ở Úc .  

Nay thì chẳng còn ai trong số quý vị vừa nêu trên … ở cõi đời này nữa. 

Tất nhiên rồi, làm sao sống mãi được… vì quý vị đã trên tám , chín mươi trở đi. 

Song kể như thế vẫn chưa rõ ý, điều tôi nêu ra, phải có một hình ảnh cụ thể cơ. 

Một người lạ, không quen , chỉ biết thôi, vì nếu không biết thì làm sao kể nhỉ ? 

Chuyện nhà thơ trung tá Hoàng Ngọc Liên, đối với tôi, thì rõ quá rồi, nhưng khi ông 30, tôi còn mấy năm nữa mới 20 . 

Trong suốt thời gian trung niên của thi sĩ Hoàng Ngọc Liên, cùng một loạt văn thi sĩ khác, tôi thấy quý ông hào hoa phong nhã … không kịp thở nữa . 

Quý vị ấy cũng sống bận rộn hết mình kiểu như tôi, nhưng sự kiện khác, như Thế Hoài, Hoàng Ngọc Liên bận rộn nơi đoàn quân Mũ Đỏ, rồi văn nghệ lai rai…

Sau 1975 cộng thêm mỗi người 12 năm tù cải tạo. Khi trở về thành phố, mỗi thi sĩ ” lớn” một xe đạp cao hay mini, tuỳ theo gia đình có xe chi thì xài xe đó, nhị vị tới tìm tôi ở Câu lạc bộ Dưỡng sinh… vì tôi về sớm nên đã kiếm ra việc làm huấn luyện viên Dưỡng Sinh rồi . 

Thế là chúng tôi đi xơi canh bún bình dân ở vệ đường, vậy mà tôi đòi trả tiền, quý vị không cho …2 thi sĩ tá 5 trước mặt tôi đã bị CSVN bóc hết những gì gọi là phong cách cũ …ngó tội  nghiệp lắm . 

Nhưng chúng tôi gặp lại nhau, thì tưởng như người nhà thất lạc đã về, nên niềm vui cứ chan hoà . 

Như tôi trình bầy trên, ông Thiên chẳng có thì giờ ngó ngàng đến 2 vị thi sĩ đàn anh của tôi, thời gian sau thì Thế Hoài thất lộc bên quê nhà, Hoàng Ngọc Liên qua Mỹ theo diện HO . 

Trung tá Hoàng Ngọc Liên lênh đênh trên vài tiểu bang miền đông, rồi qua Sacto lưu lại cũng khá nhiều năm, nay diện bích ở Oregon, với gia đình một trong 2 cô con gái mà ông mang theo được, ông đã bước gần tới cửa thiên đường . 

Chao ơi, viết riêng về nhà thơ trung tá Hoàng Ngọc Liên toàn cảnh cuộc đời thì phải …3 tập, 2 cho nhị vị phu nhân, còn 1 cho tất cả hoa hoa bướm bướm quanh ông, cả lúc đương thời danh vọng lẫn khi thất thế . 

Mỗi lần kể chuyện đào lý chi lan, tôi thường đi lạc, anh Thân Kính của tôi là một hình ảnh tổng hợp nhiều kiếp nhân sinh gộp lại, khiến tôi không muốn để một kẽ hở nào cho việc than trách sự trống vắng hay thiếu sót bóng dáng những nhân vật, đã có dịp thân thiết trong văn chương hay ngoài cuộc đời mình. 

Cuối cùng , tôi có  được vốn liếng về thế thái nhân tình ngày nay, là điều tôi rất vui mừng, hạnh phúc, bởi  tôi .đã chắt chiu tình cảm của anh trong nhiều hoàn cảnh cuộc đời …tôi giữ lại mãi mãi tình thân thương hiếm quý này … 

         CAO MỴ NHÂN 




Dự Phóng Ngập Lụt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long trong Năm Nhâm Dần




ĐỔI CẢ THIÊN-THU TIẾNG MẸ CƯỜI

Hơn mười năm trước, tôi có viết một bài thơ về mẹ, trong đó có hai câu đã trở thành quen thuộc:

Ví mà tôi đổi thời gian được

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ Việt Nam. Giọng của mẹ như vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những dòng chữ, những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đã ấp ủ trong tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này:

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người

Tiếng ai như tiếng lá thu rơi

Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ

Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề

Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê

Mười năm tóc mẹ màu tang trắng

Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn

Bên đời gió tạt với mưa tuôn

Con đi góp lá nghìn phương lại

Đốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào

Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao

Mẹ xa xôi quá làm sao vói

Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ

Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ

Đau thương con viết vào trong lá

Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người

Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi

Ví mà tôi đổi thời gian được

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Bài thơ đơn giản và dễ hiểu, không có gì phải cần bình giải. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi, đã ngoài 60 tuổi và đang sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Hòa Hưng Sài Gòn. Căn nhà nhỏ có giàn hoa giấy đỏ đó là nơi tôi đã sống tám năm.

Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đón xe xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng “Con đi nghe”. Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy trốn. Để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains nhìn về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đã ngoài tầm tay vói của mình. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi, chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội.

Nếu có một quốc gia mà những người dân của quốc gia đó đã phải từ chối chính đất nước mình, từ chối nơi đã chôn nhau cắt rốn của mình, tôi nghĩ, đất nước đó không còn bao nhiêu hy vọng. Việt Nam sau 1975 là một đất nước sống trong tuyệt vọng như thế. Dân tộc Việt Nam những năm sau 1975 là một dân tộc sống trong tâm trạng những kẻ sắp ra đi. Sài Gòn giống như một sân ga. Chào nhau như chào nhau lần cuối và mỗi ngày là một cuộc chia ly. Bắt tay một người quen, ai cũng muốn giữ lâu hơn một chút vì biết có còn dịp bắt tay nhau lần nữa hay không. Gặp người thân nào cũng chỉ để hỏi “Bao giờ anh đi, bao giờ chị đi”, và lời chúc nhau quen thuộc nhất mà chúng thường nghe trong những ngày đó vẫn là “Lên đường bình an nhé.”

Đất nước tuy đã hòa bình rồi, quê hương đã không còn tiếng súng nhưng lòng người còn ly tán hơn cả trong thời chiến tranh. Đêm cuối ở Sài Gòn lòng tôi ngổn ngang khi nghĩ đến ngày mai. Ngày mai sẽ ra sao? Nếu bị bắt tôi sẽ ở tù như lần trước nhưng nếu đi được thì sẽ trôi dạt về đâu?

Suốt sáu năm ở lại Sài Gòn, tôi chỉ nghĩ đến việc duy nhất là ra đi. Khi chiếc ghe nhỏ bị mắc cạn trong một con lạch ở Hải Sơn buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1981, trời đã sáng, nhiều người, kể cả một trong hai người chủ ghe, cũng bỏ ra về nhưng tôi thì không. Tôi phải đi dù đi giữa ban ngày. Tôi phải tìm cho được tự do dù phải bị bắt và ngay cả phải trả giá bằng cái chết. Tự do đầu tiên, biết đâu cũng sẽ là cuối cùng và vĩnh viễn. Nhưng hai ngày sau, khi đứng trên boong tàu Mỹ, tôi biết mình vừa mất một cái gì còn lớn hơn ngay cả mạng sống của mình. Đó là đất nước, quê hương, bè bạn, con đường, tà áo, cơn mưa chiều, cơn nắng sớm, và trên tất cả, hình ảnh mẹ. Không phải những người ra đi là những người quên đất nước hay người ở lại bám lấy quê hương mới chính là người yêu nước. Không. Càng đi xa, càng nhớ thương đất nước, càng thấm thía được ý nghĩa của hai chữ quê hương. Không ai hiểu được tâm trạng người ra đi nếu không chính mình là kẻ ra đi.

Nói như thế không có nghĩa là tôi hối hận cho việc ra đi. Không, tôi phải đi. Nhưng chọn lựa nào mà chẳng kèm theo những hy sinh đau đớn. Bài hát Sài Gòn Vĩnh Biệt, tôi thỉnh thoảng nghe trên đài VOA khi còn ở Việt Nam như những mũi kim đâm sâu vào tâm thức. Bao nhiêu điều hai ngày trước tôi không hề nghĩ đến đã bừng bừng sống dậy. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng đã chìm sâu trong ký ức đã lần lượt trở về. Tự do, vâng, tôi cuối cùng đã tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Những gì tôi đánh mất còn lớn hơn thế nữa.

Nhớ lại đêm thứ hai trên biển, khi biết chiếc ghe chiều dài vỏn vẹn mười mét rưỡi nhưng chứa đến 82 người của chúng tôi vừa cập vào thành tàu chiến của Mỹ thay vì Ba-Lan hay Liên-Xô như mọi người trên ghe lo sợ, ai cũng hân hoan mừng rỡ. Đám bạn tôi, có đứa thậm chí còn hô lớn “USA, USA” và ôm chầm lấy những người lính hải quân Mỹ đang dang tay đỡ từng người bước lên khỏi chiếc cầu dây đang đong đưa trên sóng.

Tôi cũng vui mừng, biết ơn và cảm động nhưng không ôm chầm hay hô lớn. Lòng tôi, trái lại, chợt dâng lên niềm tủi thẹn của một người tỵ nạn. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm, trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương. Tôi nghĩ thầm, cuối cùng, tôi cũng như nhiều người Việt Nam khác, lần lượt bỏ đất nước ra đi mà thôi. Dù biện minh bằng bất cứ lý do gì, tôi cũng là người có lỗi với quê hương.

Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Hòa Hưng vất vả nuôi nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi tình nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé để các em tôi còn được phép ở lại Sài Gòn học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ.

Trong tâm trí tôi, hình ảnh bà mẹ Hòa Hưng, đêm đầu tiên trong căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới, khoảng 20 cây số phía nam thị trấn Đồng Xoài vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội vã này không ai nghĩ một ngày sẽ được gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu Kinh Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà lá mỗi chiều chỉ hơn mười mét do những bàn tay học trò của thanh niên xung phong dựng lên, nối nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang.

Tôi kính yêu me. Mẹ Hòa Hưng là người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đã thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đã mang tôi vào cuộc đời này.

Người mẹ sinh ra tôi đã chết khi tôi còn rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần như không biết mặt mẹ mình. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước còn biết mẹ mình là mây, chiếc lá còn biết mẹ mình là cây, còn tôi thì không. Tôi là đứa bé cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi lớn lên một mình với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên. Đêm đêm nằm nghe cha kể chuyện thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui của đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế Sơn. Những ngày sống trong túp lều tranh dưới hàng tre Nghi Hạ. Và dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng đó, cha mẹ tôi đã gặp nhau, đã chia nhau ly nước vối chua chua thay cho chén rượu tân hôn nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi vải, bên lò ươm tơ, họ đã cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng. Mặt trời rồi sẽ mọc bên kia rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tròn bên kia giòng sông Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực khổ sẽ qua đi nhường bước cho hòa bình sẽ đến.

Nhưng rồi chiến tranh như một định nghiệp, đeo đuổi theo số phận của đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số phận của đời tôi. Năm tôi 13 tuổi, chiến tranh đã cướp đi cha tôi, người thân yêu cuối cùng của tôi. Chiến tranh lan tràn đến làng Mã Châu, đẩy tôi ra khỏi xóm lụa vàng thân quen để làm người du mục trên quê hương đổ nát của mình. Từ đó tôi ra đi. Từ chặng đường đầu tiên trên căn gác hẹp trong con hẻm 220 Hùng Vương Đà Nẵng, đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Hòa Hưng, trại tỵ nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi cách chặng đầu tiên trong hành trình tỵ nạn của tôi hàng vạn dặm.

Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ. Nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Tôi ưu tư về cuộc đời và về thân phận của mình ngay từ thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại sao tôi chỉ có một mình? Tại sao mọi người đều lần lượt bỏ tôi đi? Nếu mai mốt ba tôi cũng đi thì tôi sẽ sống với ai? Lớn lên tôi sẽ làm gì? Tại sao đất nước tôi lại có chiến tranh? Những người du kích bên kia sông là ai? Và ở đó những buổi chiều vàng, bên ngôi mộ nhỏ của mẹ, tôi để lòng tuôn chảy những suy tư, dằn vặt đang bắt đầu tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đã linh cảm cuộc đời tôi sẽ là những ngày đầy biến cố. Tôi đã nghĩ đến chuyện một ngày nào đó tôi sẽ đi xa khỏi rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mã Châu dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ lớn để chứa hết những buồn đau, u uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuỗi ngày ưu tư và chờ đợi một điều gì sắp đến.

Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có ngay cả một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống. Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ dòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ. Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn tuyệt đối.

Tôi về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980 trước ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả người sống cũng không ai chăm nom đừng nói gì chuyện chăm nom cho người đã chết. Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đã từng ngồi trong thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe đoạn đời chìm nổi của mình. Tôi nói với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi nước và hứa sẽ về dù biết nói như thế chỉ để an ủi hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ phò hộ cho đứa con duy nhất của mẹ được bình an trong những ngày sóng gió sắp xảy ra.

Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết

Vẫn nghìn năm le lói ở đầu sông.

Vâng, vầng trăng bên dòng sông Thu Bồn từ đó không còn tròn như trước nữa.

Ai cũng có một cuộc đời để sống. Nỗi bất hạnh nào rồi cũng nguôi ngoai. Vết thương nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh sau bao nhiêu năm dài vẫn còn, đó là bất hạnh của dân tộc Việt Nam. Điều làm tôi đau xót nhiều hơn cả, không phải vì tôi mất mẹ, không phải vì tôi xa mẹ nhưng chính là sự chịu đựng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam triền miên suốt mấy chục năm qua, từ chiến tranh sang đến cả hòa bình.

Trên thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ý cũng thương con như một bà mẹ Việt Nam. Trong lúc tình yêu của một bà mẹ ở quốc gia nào cũng bao la, cũng rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi vẫn tin một bà mẹ Việt Nam thì khác hơn nhiều. Bà mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất cả những nét đẹp của quê hương, đất nước, tình thương, còn là những hình ảnh đầy thương tích, tủi buồn nói lên sự chịu đựng, gian nan, khổ cực không thể nào đo lường hết được. Hình ảnh bà mẹ giăng tấm vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại đang đói khát. Hình ảnh bà mẹ chết đói sau khi ghe của mẹ đi lạc nhiều tuần trên biển. Hình ảnh bà mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng dưới gốc me già trên góc phố Sài Gòn vào một ngày mưa bão. Hình ảnh bà mẹ chết cô đơn trong chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất cả hình ảnh đau thương đó đã trở thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi. Ám ảnh nhiều đến nỗi dù viết về bất cứ chủ đề gì, thể loại gì, văn hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với hình ảnh mẹ. Mỗi bước chân tôi đi trên đường đời mấy chục năm qua vẫn còn nghe vọng lại tiếng khóc của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh, đã khóc trong chiến tranh, khóc trong hòa bình, khóc trong bàn tay hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ người hiu quạnh.

Mơ ước lớn nhất của tôi, vì thế, không phải cho tôi mà cho những người mẹ đang chịu đựng, để các mẹ có cơ hội được sống trong một đất nước không còn hận thù, rẽ chia, ganh ghét, một đất nước chan chứa tình đồng bào, một đất nước thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” trong một ý nghĩa rộng hơn là ước mơ của tôi, của anh chị, của cô chú và của tất cả những ai còn nghĩ đến sinh mệnh của dân tộc, về một ngày đẹp trời cho đất nước mình.

Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống khổ Việt Nam. Mỗi người Việt Nam, hơn bao giờ hết hãy trở về với mẹ như trở về với chính cội nguồn uyên nguyên của dân tộc mình. Trong đêm rằm tháng Bảy này, xin hãy cùng nhau thắp lên những ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng được làm bằng chất liệu dân tộc, nhân bản và khai phóng đã được tổ tiên chúng ta hun đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử.

Đời tôi là những cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mã Châu, mưa trong đêm đầu tiên trong căn gác trên đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa dưới gốc đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi vừa đặt chân đến Sài Gòn lần đầu tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất nước ra đi. Nhưng tôi chưa bao giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy cuộc đời là hố thẳm. Tôi không sống trong hôm qua, trái lại mỗi ngày là một chặng đường mới của đời mình. Tôi bình tĩnh đến độ hồn nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt đến với đời tôi và tôi rất lạc quan trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính mình.

Trong cuộc đời này, tôi đã nhiều lần vấp ngã nhưng nhiều người cũng đã giúp vực tôi dậy, lau khô những vết thương trên thân thể và trong cả tâm hồn. Tôi mang ơn xã hội nhiều đến nỗi biết mình sẽ không bao giờ trả hết. Tôi biết ơn những người đã che chở cho tôi và cũng cám ơn cả những người đã dạy tôi hiểu giá trị của gian lao, thử thách. Cám ơn đất nước đã cho tôi được làm người Việt Nam, cám ơn mẹ Duy Xuyên mang tôi đến thế gian nầy, cám ơn mẹ Hòa Hưng nuôi nấng tôi trong những ngày bà con thân thuộc đã ruồng bỏ tôi, cám ơn cây đa già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa nắng.

Nếu một mai tôi ra đi không kịp viết điều gì, thì đây, những kỷ niệm của một lần ghé lại.

Trần Trung Đạo




CA KHÚC MỚI: EM ĐI – Thơ Mạc Phương Đình – Nhạc Vũ Thu Nguyên – Ca Sĩ Quang Đạt- Video Lê Tuấn




(thơ song ngữ) ĐỔI CẢ THIÊN-THU TIẾNG MẸ CƯỜI

ĐỔI CẢ THIÊN-THU           

TIẾNG MẸ CƯỜI                  

 

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người

Tiếng ai như tiếng lá thu rơi          

Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ    

Chỉ biết âm-thầm thương nhớ thôi        

 

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề

Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê     

Mười năm tóc mẹ màu tang trắng 

Trắng cả lòng con lúc nghĩ về       

 

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn      

Bên đời gió tạt với mưa tuôn 

Con đi góp lá nghìn phương lại             

Đốt lửa cho đời tan khói sương     

 

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn-ngào

Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm-bao

Mẹ xa xôi quá làm sao vói                     

Biết đến bao giờ trông thấy nhau  

 

Đừng khóc mẹ ơi hãy rán chờ

Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ          

Đau thương con viết vào trong lá          

Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

 

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người

Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi  

Ví mà tôi đổi thời-gian được 

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười      

 

            TRẦN TRUNG ĐẠO

 

MY LIFE
FOR MY MOM’S LAUGHTER

Picking up the handset I was stunned with surprise:
Whose voice as light as falling leaves in cold skies?
Isn’t it ten years, ten odd years, dear mother,
Just in silence to miss and long for one another?

I left without any promises or pledges that day:
The old wild horse from its forest-land went astray.
Ten years for Mom’s hair to turn mourning white,
And mourning-like my soul also in such a plight.

You’ve still been sitting there weaving your pain
By an existence of slapping wind and beating rain.
I’ve set off to set up from all directions a pyre
In order to disperse the mist for life lighting a fire.

Your voice was broken off, you choked up, I found;
Mom’s endearing words or mere in-reverie sound?
You are too far, how could I reach out for you?
And when could we meeting again look forward to ?

Do not cry, my dear mother, and continue to await.
All my grief I will hide in the rhymes I create.
Of all my sorrow I will write reams and reams,
And find your warmth my warmth in my dreams.

As I picked up the handset how astounded was I
To hear my mom’s voice sadder than the rainy sky!
Should I be able to give up Man’s time in hereafter,
I would offer mine to recover my mom’s laughter.

 

 

Translation by THANH-THANH

 




Trang NGÀY CỦA MẸ

Ns Võ Tá Hân

ĐỔI CẢ THIÊN THU TIẾNG MẸ CƯỜI

Hơn mười năm trước, tôi có viết một bài thơ về mẹ, trong đó có hai câu đã trở thành quen thuộc:

Ví mà tôi đổi thời gian được

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ Việt Nam. Giọng của mẹ như vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những dòng chữ, những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đã ấp ủ trong tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này:

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người

Tiếng ai như tiếng lá thu rơi

Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ

Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề

Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê

Mười năm tóc mẹ màu tang trắng

Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn

Bên đời gió tạt với mưa tuôn

Con đi góp lá nghìn phương lại

Đốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào

Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao

Mẹ xa xôi quá làm sao vói

Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ

Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ

Đau thương con viết vào trong lá

Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người

Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi

Ví mà tôi đổi thời gian được

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Bài thơ đơn giản và dễ hiểu, không có gì phải cần bình giải. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi, đã ngoài 60 tuổi và đang sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Hòa Hưng Sài Gòn. Căn nhà nhỏ có giàn hoa giấy đỏ đó là nơi tôi đã sống tám năm.

Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đón xe xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng “Con đi nghe”. Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy trốn. Để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains nhìn về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đã ngoài tầm tay vói của mình. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi, chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội.

Nếu có một quốc gia mà những người dân của quốc gia đó đã phải từ chối chính đất nước mình, từ chối nơi đã chôn nhau cắt rốn của mình, tôi nghĩ, đất nước đó không còn bao nhiêu hy vọng. Việt Nam sau 1975 là một đất nước sống trong tuyệt vọng như thế. Dân tộc Việt Nam những năm sau 1975 là một dân tộc sống trong tâm trạng những kẻ sắp ra đi. Sài Gòn giống như một sân ga. Chào nhau như chào nhau lần cuối và mỗi ngày là một cuộc chia ly. Bắt tay một người quen, ai cũng muốn giữ lâu hơn một chút vì biết có còn dịp bắt tay nhau lần nữa hay không. Gặp người thân nào cũng chỉ để hỏi “Bao giờ anh đi, bao giờ chị đi”, và lời chúc nhau quen thuộc nhất mà chúng thường nghe trong những ngày đó vẫn là “Lên đường bình an nhé.”

Đất nước tuy đã hòa bình rồi, quê hương đã không còn tiếng súng nhưng lòng người còn ly tán hơn cả trong thời chiến tranh. Đêm cuối ở Sài Gòn lòng tôi ngổn ngang khi nghĩ đến ngày mai. Ngày mai sẽ ra sao? Nếu bị bắt tôi sẽ ở tù như lần trước nhưng nếu đi được thì sẽ trôi dạt về đâu?

Suốt sáu năm ở lại Sài Gòn, tôi chỉ nghĩ đến việc duy nhất là ra đi. Khi chiếc ghe nhỏ bị mắc cạn trong một con lạch ở Hải Sơn buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1981, trời đã sáng, nhiều người, kể cả một trong hai người chủ ghe, cũng bỏ ra về nhưng tôi thì không. Tôi phải đi dù đi giữa ban ngày. Tôi phải tìm cho được tự do dù phải bị bắt và ngay cả phải trả giá bằng cái chết. Tự do đầu tiên, biết đâu cũng sẽ là cuối cùng và vĩnh viễn. Nhưng hai ngày sau, khi đứng trên boong tàu Mỹ, tôi biết mình vừa mất một cái gì còn lớn hơn ngay cả mạng sống của mình. Đó là đất nước, quê hương, bè bạn, con đường, tà áo, cơn mưa chiều, cơn nắng sớm, và trên tất cả, hình ảnh mẹ. Không phải những người ra đi là những người quên đất nước hay người ở lại bám lấy quê hương mới chính là người yêu nước. Không. Càng đi xa, càng nhớ thương đất nước, càng thấm thía được ý nghĩa của hai chữ quê hương. Không ai hiểu được tâm trạng người ra đi nếu không chính mình là kẻ ra đi.

Nói như thế không có nghĩa là tôi hối hận cho việc ra đi. Không, tôi phải đi. Nhưng chọn lựa nào mà chẳng kèm theo những hy sinh đau đớn. Bài hát Sài Gòn Vĩnh Biệt, tôi thỉnh thoảng nghe trên đài VOA khi còn ở Việt Nam như những mũi kim đâm sâu vào tâm thức. Bao nhiêu điều hai ngày trước tôi không hề nghĩ đến đã bừng bừng sống dậy. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng đã chìm sâu trong ký ức đã lần lượt trở về. Tự do, vâng, tôi cuối cùng đã tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Những gì tôi đánh mất còn lớn hơn thế nữa.

Nhớ lại đêm thứ hai trên biển, khi biết chiếc ghe chiều dài vỏn vẹn mười mét rưỡi nhưng chứa đến 82 người của chúng tôi vừa cập vào thành tàu chiến của Mỹ thay vì Ba-Lan hay Liên-Xô như mọi người trên ghe lo sợ, ai cũng hân hoan mừng rỡ. Đám bạn tôi, có đứa thậm chí còn hô lớn “USA, USA” và ôm chầm lấy những người lính hải quân Mỹ đang dang tay đỡ từng người bước lên khỏi chiếc cầu dây đang đong đưa trên sóng.

Tôi cũng vui mừng, biết ơn và cảm động nhưng không ôm chầm hay hô lớn. Lòng tôi, trái lại, chợt dâng lên niềm tủi thẹn của một người tỵ nạn. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm, trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương. Tôi nghĩ thầm, cuối cùng, tôi cũng như nhiều người Việt Nam khác, lần lượt bỏ đất nước ra đi mà thôi. Dù biện minh bằng bất cứ lý do gì, tôi cũng là người có lỗi với quê hương.

Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Hòa Hưng vất vả nuôi nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi tình nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé để các em tôi còn được phép ở lại Sài Gòn học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ.

Trong tâm trí tôi, hình ảnh bà mẹ Hòa Hưng, đêm đầu tiên trong căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới, khoảng 20 cây số phía nam thị trấn Đồng Xoài vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội vã này không ai nghĩ một ngày sẽ được gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu Kinh Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà lá mỗi chiều chỉ hơn mười mét do những bàn tay học trò của thanh niên xung phong dựng lên, nối nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang.

Tôi kính yêu me. Mẹ Hòa Hưng là người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đã thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đã mang tôi vào cuộc đời này.

Người mẹ sinh ra tôi đã chết khi tôi còn rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần như không biết mặt mẹ mình. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước còn biết mẹ mình là mây, chiếc lá còn biết mẹ mình là cây, còn tôi thì không. Tôi là đứa bé cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi lớn lên một mình với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên. Đêm đêm nằm nghe cha kể chuyện thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui của đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế Sơn. Những ngày sống trong túp lều tranh dưới hàng tre Nghi Hạ. Và dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng đó, cha mẹ tôi đã gặp nhau, đã chia nhau ly nước vối chua chua thay cho chén rượu tân hôn nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi vải, bên lò ươm tơ, họ đã cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng. Mặt trời rồi sẽ mọc bên kia rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tròn bên kia giòng sông Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực khổ sẽ qua đi nhường bước cho hòa bình sẽ đến.

Nhưng rồi chiến tranh như một định nghiệp, đeo đuổi theo số phận của đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số phận của đời tôi. Năm tôi 13 tuổi, chiến tranh đã cướp đi cha tôi, người thân yêu cuối cùng của tôi. Chiến tranh lan tràn đến làng Mã Châu, đẩy tôi ra khỏi xóm lụa vàng thân quen để làm người du mục trên quê hương đổ nát của mình. Từ đó tôi ra đi. Từ chặng đường đầu tiên trên căn gác hẹp trong con hẻm 220 Hùng Vương Đà Nẵng, đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Hòa Hưng, trại tỵ nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi cách chặng đầu tiên trong hành trình tỵ nạn của tôi hàng vạn dặm.

Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ. Nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Tôi ưu tư về cuộc đời và về thân phận của mình ngay từ thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại sao tôi chỉ có một mình? Tại sao mọi người đều lần lượt bỏ tôi đi? Nếu mai mốt ba tôi cũng đi thì tôi sẽ sống với ai? Lớn lên tôi sẽ làm gì? Tại sao đất nước tôi lại có chiến tranh? Những người du kích bên kia sông là ai? Và ở đó những buổi chiều vàng, bên ngôi mộ nhỏ của mẹ, tôi để lòng tuôn chảy những suy tư, dằn vặt đang bắt đầu tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đã linh cảm cuộc đời tôi sẽ là những ngày đầy biến cố. Tôi đã nghĩ đến chuyện một ngày nào đó tôi sẽ đi xa khỏi rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mã Châu dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ lớn để chứa hết những buồn đau, u uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuỗi ngày ưu tư và chờ đợi một điều gì sắp đến.

Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có ngay cả một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống. Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ dòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ. Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn tuyệt đối.

Tôi về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980 trước ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả người sống cũng không ai chăm nom đừng nói gì chuyện chăm nom cho người đã chết. Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đã từng ngồi trong thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe đoạn đời chìm nổi của mình. Tôi nói với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi nước và hứa sẽ về dù biết nói như thế chỉ để an ủi hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ phò hộ cho đứa con duy nhất của mẹ được bình an trong những ngày sóng gió sắp xảy ra.

Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết

Vẫn nghìn năm le lói ở đầu sông.

Vâng, vầng trăng bên dòng sông Thu Bồn từ đó không còn tròn như trước nữa.

Ai cũng có một cuộc đời để sống. Nỗi bất hạnh nào rồi cũng nguôi ngoai. Vết thương nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh sau bao nhiêu năm dài vẫn còn, đó là bất hạnh của dân tộc Việt Nam. Điều làm tôi đau xót nhiều hơn cả, không phải vì tôi mất mẹ, không phải vì tôi xa mẹ nhưng chính là sự chịu đựng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam triền miên suốt mấy chục năm qua, từ chiến tranh sang đến cả hòa bình.

Trên thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ý cũng thương con như một bà mẹ Việt Nam. Trong lúc tình yêu của một bà mẹ ở quốc gia nào cũng bao la, cũng rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi vẫn tin một bà mẹ Việt Nam thì khác hơn nhiều. Bà mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất cả những nét đẹp của quê hương, đất nước, tình thương, còn là những hình ảnh đầy thương tích, tủi buồn nói lên sự chịu đựng, gian nan, khổ cực không thể nào đo lường hết được. Hình ảnh bà mẹ giăng tấm vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại đang đói khát. Hình ảnh bà mẹ chết đói sau khi ghe của mẹ đi lạc nhiều tuần trên biển. Hình ảnh bà mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng dưới gốc me già trên góc phố Sài Gòn vào một ngày mưa bão. Hình ảnh bà mẹ chết cô đơn trong chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất cả hình ảnh đau thương đó đã trở thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi. Ám ảnh nhiều đến nỗi dù viết về bất cứ chủ đề gì, thể loại gì, văn hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với hình ảnh mẹ. Mỗi bước chân tôi đi trên đường đời mấy chục năm qua vẫn còn nghe vọng lại tiếng khóc của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh, đã khóc trong chiến tranh, khóc trong hòa bình, khóc trong bàn tay hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ người hiu quạnh.

Mơ ước lớn nhất của tôi, vì thế, không phải cho tôi mà cho những người mẹ đang chịu đựng, để các mẹ có cơ hội được sống trong một đất nước không còn hận thù, rẽ chia, ganh ghét, một đất nước chan chứa tình đồng bào, một đất nước thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” trong một ý nghĩa rộng hơn là ước mơ của tôi, của anh chị, của cô chú và của tất cả những ai còn nghĩ đến sinh mệnh của dân tộc, về một ngày đẹp trời cho đất nước mình.

Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống khổ Việt Nam. Mỗi người Việt Nam, hơn bao giờ hết hãy trở về với mẹ như trở về với chính cội nguồn uyên nguyên của dân tộc mình. Trong đêm rằm tháng Bảy này, xin hãy cùng nhau thắp lên những ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng được làm bằng chất liệu dân tộc, nhân bản và khai phóng đã được tổ tiên chúng ta hun đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử.

Đời tôi là những cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mã Châu, mưa trong đêm đầu tiên trong căn gác trên đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa dưới gốc đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi vừa đặt chân đến Sài Gòn lần đầu tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất nước ra đi. Nhưng tôi chưa bao giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy cuộc đời là hố thẳm. Tôi không sống trong hôm qua, trái lại mỗi ngày là một chặng đường mới của đời mình. Tôi bình tĩnh đến độ hồn nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt đến với đời tôi và tôi rất lạc quan trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính mình.

Trong cuộc đời này, tôi đã nhiều lần vấp ngã nhưng nhiều người cũng đã giúp vực tôi dậy, lau khô những vết thương trên thân thể và trong cả tâm hồn. Tôi mang ơn xã hội nhiều đến nỗi biết mình sẽ không bao giờ trả hết. Tôi biết ơn những người đã che chở cho tôi và cũng cám ơn cả những người đã dạy tôi hiểu giá trị của gian lao, thử thách. Cám ơn đất nước đã cho tôi được làm người Việt Nam, cám ơn mẹ Duy Xuyên mang tôi đến thế gian nầy, cám ơn mẹ Hòa Hưng nuôi nấng tôi trong những ngày bà con thân thuộc đã ruồng bỏ tôi, cám ơn cây đa già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa nắng.

Nếu một mai tôi ra đi không kịp viết điều gì, thì đây, những kỷ niệm của một lần ghé lại.

Trần Trung Đạo

(thơ song ngữ) ĐỔI CẢ THIÊN-THU TIẾNG MẸ CƯỜI

ĐỔI CẢ THIÊN-THU           

TIẾNG MẸ CƯỜI                  

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người

Tiếng ai như tiếng lá thu rơi          

Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ    

Chỉ biết âm-thầm thương nhớ thôi        

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề

Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê     

Mười năm tóc mẹ màu tang trắng 

Trắng cả lòng con lúc nghĩ về       

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn      

Bên đời gió tạt với mưa tuôn 

Con đi góp lá nghìn phương lại             

Đốt lửa cho đời tan khói sương     

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn-ngào

Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm-bao

Mẹ xa xôi quá làm sao vói                     

Biết đến bao giờ trông thấy nhau  

Đừng khóc mẹ ơi hãy rán chờ

Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ          

Đau thương con viết vào trong lá          

Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người

Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi  

Ví mà tôi đổi thời-gian được 

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười      

            TRẦN TRUNG ĐẠO

MY LIFE
FOR MY MOM’S LAUGHTER

Picking up the handset I was stunned with surprise:
Whose voice as light as falling leaves in cold skies?
Isn’t it ten years, ten odd years, dear mother,
Just in silence to miss and long for one another?

I left without any promises or pledges that day:
The old wild horse from its forest-land went astray.
Ten years for Mom’s hair to turn mourning white,
And mourning-like my soul also in such a plight.

You’ve still been sitting there weaving your pain
By an existence of slapping wind and beating rain.
I’ve set off to set up from all directions a pyre
In order to disperse the mist for life lighting a fire.

Your voice was broken off, you choked up, I found;
Mom’s endearing words or mere in-reverie sound?
You are too far, how could I reach out for you?
And when could we meeting again look forward to ?

Do not cry, my dear mother, and continue to await.
All my grief I will hide in the rhymes I create.
Of all my sorrow I will write reams and reams,
And find your warmth my warmth in my dreams.

As I picked up the handset how astounded was I
To hear my mom’s voice sadder than the rainy sky!
Should I be able to give up Man’s time in hereafter,
I would offer mine to recover my mom’s laughter.

Translation by THANH-THANH

NGÀY CỦA MẸ

(Mother’s Day)

Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình

(Photo credit: giaoduc.edu.vn)

Tài liệu Wikipedia ghi nhận Ngày của Mẹ bắt nguồn từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, nhưng cũng có tài liệu cho rằng Ngày của Mẹ có thể được bắt nguồn từ Vương quốc Anh và được tổ chức vào ngày Chủ Nhật qua nhiều năm trước khi lễ hội này xuất hiện ở Hoa Kỳ.

Theo lịch sử thì Ngày của Mẹ là ngày lễ hội mùa xuân hàng năm mà người Hy Lạp cổ đại dành riêng cho các nữ thần mẫu, họ cũng dùng dịp này để tôn vinh Rhea, vợ của Cronus và là mẹ của nhiều vị thần trong thần thoại Hy Lạp. Người La Mã cổ đại còn gọi lễ hội này là Hilaria để tôn vinh Cybele, một nữ thần Mẹ. Các nghi lễ tôn vinh Cybele đã bắt đầu khoảng 250 năm trước Chúa giáng sinh. Lễ kỷ niệm được thực hiện bằng cách cúng dường trong đền thờ Cybele kéo vào khoảng tháng Ba, những ngày đầu rất quan trọng, thường kéo dài trong ba ngày gồm các cuộc diễu hành, trò chơi và hóa trang. Chính Lễ kỷ niệm này đã khiến những người theo Cybele bị trục xuất khỏi Rome.

Những người theo đạo Thiên Chúa Giáo thời sơ khai đã tổ chức Ngày của Mẹ vào Chủ nhật, thứ tư của Mùa Chay để tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của Chúa Kitô. Sau đó, ngày lễ hội này được mở rộng để chúc mừng tất cả các bà mẹ và ngày này trở thành Ngày của Mẹ. Ngày của Mẹ bắt đầu từ những năm 1600 ở Anh. Tại đây, Ngày của Mẹ được tổ chức hàng năm vào ngày Chủ nhật thứ tư của Mùa Chay (khoảng thời gian 40 ngày trước Lễ Phục sinh) để tôn vinh những người mẹ sau nghi lễ cầu nguyện trong nhà thờ để tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria. Những đứa con thường mang theo những món quà và hoa để tỏ lòng thành kính với mẹ của chúng.

Theo truyền thống, những đứa trẻ mang theo những món quà, những loại bánh trái đặc biệt hoặc bánh ngọt đầy trái cây được gọi là simnel để tặng Mẹ của chúng. Người Nam Tư và người dân ở các quốc gia khác cũng tổ chức Ngày của Mẹ tương tự như vậy. Tuy nhiên phong tục kỷ niệm Ngày Chủ nhật của Mẹ đã gần như hoàn toàn biến mất vào thế kỷ 19 cho đến mãi sau Thế chiến thứ hai Ngày của Mẹ mới được tổ chức lại.

Ngày của Mẹ là thời gian để tôn vinh tình mẫu tử và thể hiện lòng biết ơn của chúng ta đối với tất cả những người mẹ, những người vợ, người chị và bà nội & ngoại đã hy sinh cả cuộc đời cho các con, các cháu. Lịch sử đã phải công nhận rằng, từ trước đến nay người phụ nữ luôn giữ những vai trò thiết yếu trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Điển hình là bà Marie Curie, người phụ nữ đầu tiên từng đoạt giải Nobel cho đến cựu Thẩm phán Tòa án Tối cao Ruth Bader Ginsburg, là những người mẹ đã làm thay đổi thế giới.

Năm 1858, Ann Reeves Jarvis, một người nội trợ vùng Appalachian, đã thành lập “Ngày làm việc” của các bà mẹ trong nội chiến nhằm nỗ lực cải thiện điều kiện vệ sinh cho binh lính và trẻ em. Bà cũng đã giúp thành lập một câu lạc bộ để dạy phụ nữ cách chăm sóc trẻ em. Khi nội chiến bùng nổ ở Hoa Kỳ, Ann Reeves Jarvis đã yêu cầu các thành viên khác của các câu lạc bộ tổ chức và cam kết rằng chiến tranh sẽ không làm ảnh hưởng đến công việc của họ. Họ thề sẽ cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế và hỗ trợ những người bị bệnh hoặc bị thương dù bất kể họ đang chiến đấu ở phe nào. Sau đó, Ann Reeves Jarvis thành lập “Ngày Tình bạn của Mẹ” để thúc đẩy sự hòa giải giữa những người lính của Liên minh và Liên minh.

Năm 1872, Julia Ward Howe, một nhà hoạt động, nhà văn và nhà thơ, bà đã viết bản Tuyên ngôn Ngày của Mẹ để kêu gọi các bà mẹ tham gia trong việc thúc đẩy hòa bình thế giới. Julia Ward Howe là người tiên phong và gợi ý cho việc tổ chức lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ. Là một người yêu tổ quốc, bà đã sáng tác và trở nên nổi tiếng với bài hát nội chiến “Battle Hymn of the Republic“. Julia Ward Howe đề nghị rằng ngày 2 tháng 6 hàng năm nên được tổ chức và đó là Ngày của Mẹ cũng như là ngày dành cho hòa bình. Bà đã viết lời kêu gọi đến tất cả các phụ nữ và nồng nhiệt khuyến khích họ nổi dậy chống lại chiến tranh trong Tuyên ngôn Ngày của Mẹ. Bàn tuyên ngôn này trở nên nổi tiếng và được viết ở Boston, năm 1870.

Julia Ward Howe cũng đã khởi xướng Ngày Hòa bình của các Bà mẹ vào Chủ nhật thứ hai trong tháng Sáu ở Boston. Bà ủng hộ lý do tổ chức lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ và chính thức tuyên bố cho phép mọi người nghỉ lễ vào ngày này. Ý tưởng của Julia Ward Howe đã lan rộng nhưng sau cùng nó đã bị thay thế bởi ngày lễ Ngày của Mẹ, hiện được tổ chức vào tháng Năm. Năm 1873, Julia Ward Howe vận động để thành lập Ngày của mẹ nhằm đạt được hòa bình thế giới và giải quyết xung đột giữa con người với nhau.

Với nguồn cảm hứng từ những công việc của Ann Reeves Jarvis,  Anna Jarvis M. là con gái của Ann Reeves Jarvis tiếp tục tranh đấu cho lễ hội Ngày của Mẹ. Năm 1905, sau khi bà Ann Reeves Jarvis  qua đời, Anna Jarvis M. muốn tạo ra một ngày tưởng niệm và tôn vinh những người mẹ đã qua đời cũng như ghi nhận những hy sinh mà các bà mẹ đã dành cho con cái của họ, Sau cùng, Ngày lễ của Mẹ được công nhận và ngày lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ đầu tiên được tổ chức tại Grafton, phía Tây Virginia tại một nhà thờ địa phương vào ngày 10 tháng 5 năm 1908. Nhờ sự hỗ trợ tài chính của John Wanamaker, một chủ doanh nghiệp ở Philadelphia, Ngày của Mẹ này đã thành công rực rỡ với hàng nghìn người đã đến tham dự. Ngày nay, tại nhà thờ có Đền thờ Ngày của Mẹ Quốc tế.

Để Ngày của Mẹ trở thành ngày lễ quốc gia, Anna Jarvis M. đã viết thư cho các chính trị gia và báo chí trên toàn quốc, yêu cầu họ chấp nhận ngày này để kỷ niệm và ghi ơn công lao của các bà Mẹ. Kết quả, truyền thống báo chí bắt đầu lan rộng ra 45 tiểu bang và một số tiểu bang khác, chính thức tuyên bố đây là ngày lễ Ngày của Mẹ vào năm 1912. Năm 1914, cựu Tổng thống Woodrow Wilson đã tuyên bố tổ chức lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ đầu tiên trên toàn quốc. Ngày nay, Ngày của Mẹ được tổ chức vào Chủ nhật thứ hai trong tháng Năm của mỗi năm.

Ở Vương quốc Anh và một số khu vực ở Châu Âu, ban đầu là đây là một ngày lễ tôn giáo được tổ chức vào Chủ nhật thứ tư của Mùa Chay. Ngày này nhằm mục đích cho các cá nhân tìm đường trở lại “nhà thờ mẹ” của họ. Những người đi nhà thờ cũng sẽ coi đây là cơ hội để đoàn tụ với gia đình sau khi đi công tác xa. Các nhà sử học có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của Ngày Chủ nhật của Mẹ, bao gồm truyền thống phát triển từ việc trẻ em nhặt hoa khi chúng đi bộ đến nhà thờ.

Tại Vương quốc Anh, người dân dành thời gian để tôn vinh những người mẹ, chẳng hạn như mẹ đẻ, bà ngoại, mẹ kế và mẹ chồng. Trong ngày ấy, mọi người sẽ ăn mừng bằng một chiếc bánh Simnel, đó là một chiếc bánh trái cây nhân hạnh nhân và 11 quả bóng để tượng trưng cho 11 môn đồ.

Ở Ethiopia, Ngày của Mẹ được tổ chức hơi khác một chút. Khi mùa mưa kết thúc, các gia đình sẽ tụ tập để tham gia lễ hội Antrosht. Trong khoảng thời gian ba ngày, sẽ có khiêu vũ, ca hát và rất nhiều đồ ăn. Theo phong tục, con gái cung cấp rau và pho mát, trong khi con trai mang thịt.

Thái Lan, Ngày của Mẹ được tổ chức vào ngày 12 tháng 8 để kỷ niệm ngày sinh của Hoàng hậu Sirikit. Các hoạt động trong ngày lễ bao gồm diễu hành và tặng hoa nhài cho các bà mẹ.

Nga, Khi nước Nga còn được gọi là Liên bang Xô Viết, các bà mẹ được tôn vinh vào ngày Quốc tế Phụ nữ ngày 08 tháng 03. Năm 1998, Ngày của Mẹ chính thức được thành lập là Chủ nhật cuối cùng của tháng 11. Tuy nhiên, nhiều người vẫn ăn mừng vào tháng Ba.

Nepal, Ngày của Mẹ được gọi là Mata Tirtha Aunsi, có nghĩa là “Hành hương về trăng non của Mẹ”. Vào ngày này, các cá nhân sẽ trân trọng thời gian ở bên mẹ và tưởng nhớ tất cả những người đã qua đời.

Ngày nay, Ngày của Mẹ được tổ chức ở một số quốc gia gồm Mỹ, Anh, Ấn Độ, Đan Mạch, Phần Lan, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Úc, Mexico, Canada, Trung Quốc, Nhật Bản và Bỉ. Mọi người coi ngày này như một cơ hội để tri ân và cảm ơn những người mẹ của họ cho sự yêu thương và hy sinh của họ với con cái. Trong Ngày của Mẹ, các đường dây điện thoại đạt đến mức quá tải cũng như truyền thống tặng hoa, thiệp và những món quà gửi đến cho Mẹ hoặc mời Mẹ của họ đi chơi, đi ăn sáng, ăn trưa hoặc ăn tối…

Khánh Lan siêu tầm và nghiên cứu from Wikipedia

California, May 2022

MẸ HÔM NAY, MẸ NGÀY MAI, MẸ CỦA MUÔN ĐỜI

ThaiLan

ĐÔI TAY CỦA NGOẠI

ThaiLan

Bó Hồng Tặng Mẹ

 

Con cung kính. Bó hồng riêng tặng mẹ

Cả tình thương sâu thẳm của tâm hồn

Mẹ là suối nguồn, dòng chảy tinh khiết

Nuôi con một đời, đến tuổi lớn khôn.

 

Dâng lên Mẹ ngàn đóa hồng thắm đỏ

Dòng máu hồng Mẹ trao tặng cho con

Ngày lễ Mẹ, bồi hồi thêm nỗi nhớ

Nhớ ơn người, nuôi nấng thuở măng non.

 

Tình yêu mẹ dạt dào như sóng vỗ

Vỗ giấc bình yên chăm sóc đời con

Viết về Mẹ, lời thơ đầy nước mắt

Vào nỗi buồn tuổi xuân đã hao mòn.

 

Công ơn Mẹ, sánh núi cao, biển cả

Thấu trời xanh Thượng Đế phải ngậm ngùi

Mẹ là thảo nguyên bao la bát ngát

Dòng suối nguồn tuôn chảy những ngọt bùi.

 

Mẹ trên cao, như sao sáng trên trời

Mẹ hiền từ ôm con cả một đời

Lời nguyện cầu, con ước mơ về mẹ

Tiếng mẹ dịu dàng nhớ mãi không ngơi.

 

Tình yêu của mẹ bao la biết mấy

Sáng như mặt trời, đẹp như mây bay

Ai! Còn Mẹ đừng làm Mẹ bật khóc

Đừng để buồn giọt lệ ướt trên tay.

 

Xin gửi đến Mẹ ngàn đóa hoa hồng

Thấm sương long lanh, ướt cả nỗi lòng

Lời nghẹn ngào bài thơ ngày lễ mẹ

Buộc vào hoa, gửi mẹ những hoài mong.

 

Lê Tuấn

Bài Thơ Viết Tặng Mẹ

 

Tôi muốn viết bài thơ ngày lễ mẹ
Gom hết loài hoa gửi đến tặng người
Mẹ là hào quang rực rỡ bầu trời
Thiêng liêng nhất là tình yêu của mẹ.

Ngày mới chào đời ngây thơ khờ dại
Chiếc nôi êm huyền thoại ngủ trong mơ
Lời mẹ ru vần ca dao chấp cánh
Hồn Việt Nam vang vọng đến bây giờ.

Công ơn mẹ bao la như biển cả
Đỉnh núi cao dòng suối chảy hiền hoà
Mẹ là ngôi sao tỏa sáng chói lòa
Là đêm trăng tỏ, thơm ngát hương hoa.

Con thương mẹ cả một đời tần tảo
Mưa nắng trên vai gánh vác một đời
Che chở cho con dòng đời vạn biến
Mẹ là bà tiên lộng lẫy tuyệt vời.

Bước gian truân đời thăng trầm sóng gió
Mẹ âm thầm chịu khó vượt chông gai
Nuôi nấng con sớm tối không ngần ngại
Nhìn con vui, mẹ tiếp bước đường dài.

Dâng lên mẹ bài thơ thêm sầu muộn
Mẹ không còn nhưng lòng mẹ quanh đây
Trên Thiên Đàng con tin mẹ nhìn thấy
Mẹ bây giờ chỉ là những bóng mây.

Lê Tuấn
Nhớ về mẹ

 

MỪNG NGÀY LỄ MẸ

NHÓM MỸ HÂN KÍNH MỜI CHIA SẺ VÀI CA KHÚC NHẠC PHỔ THƠ

https://youtu.be/lNb0O9VGdLU
https://youtu.be/s14P7M54QuE

https://youtu.be/FOgSjrhnb6w

Gởi yêu thương về Má nhân ngày Mother’s Day (8/5/2022)           

  GỌI  MÁ

*

Con gọi phone nói cho Má biết

Cây con trồng xanh biếc Má ơi!

Facetime con thấy Má rồi

Con nghe Má nói những lời yêu thương

Chín Bảy tuổi…qua những đoạn đường

Má dành gần hết tuổi đời cho con

Giờ là Ông Lão Bảy Ba

Vẫn còn cần Má, cần nghe giáo điều

Con cần Má biết bao nhiêu…

Má luôn vui khỏe, con yêu Má nhiều!!

*

                                     Hoàng Mai Nhất
                                (Seattle, WA 4/5/2022)

NHỚ MÁ

*

Hôm nay là sinh Nhật Má

Mua quà gì biếu Má, Má ơl

Dầu Xanh với sữa Ensure

Cùng Khăn choàng cổ, Má ơi mua gì…

Mua gì biếu Má Má vui

Gởi về đâu nhỉ! Má ơi con buồn

Gởi về đâu…những món quả

Ai là người nhận, ai là người mang

Đem về đến Má quà con…nhớ nhiều!!

Con là con gái Má yêu

Con ở xa quá, Má đi …con về

Chẵng nghe lời cuối dặn dò

Chẵng cầm tay Má, chẵng hôn giã từ

Hôm nay con nhớ ngày sinh

Con nhớ Má lắm, thương ai giống mình

Cùng chung tưởng nhớ ngày sinh

Cùng thương một Má…chỉ mình Má thôi

                                         Hoàng Mai Nhì

 

2 Sinh Hoạt Mừng Ngày Của Mẹ Tại San Jose

*28 Năm, “Happy Mother’s Day” Với Những Bà Mẹ Không Nhà (Homeless!)

* Gần 100 Phần Quà Tặng Những Bà Mẹ Việt Nam, Trong Buổi Lễ Chào Cờ Đầu Tháng 5, Tại Vườn Truyền Thống Việt.

(San Jose) – Thứ Sáu, ngày 6 tháng 5, trong buổi cơm phục vụ những Khách Không Nhà, sau khi khách dùng cơm sáng xong, khách vui mừng thấy rõ, khi được loan báo, có thêm một chương trình sinh hoạt đặc biệt để Mừng Ngày Lễ Mẹ 2022.

Tất cả những Bà Mẹ hiện diện, được tặng một phần quà, chai rượu vang và tiền mặt!

Những Bà Mẹ, gồm nhiều sắc tộc, khi nhận quà, khuôn mặt lộ vẻ hân hoan cảm động thấy rõ!

Một Bà Mẹ tâm sự: “Cảm tạ Nhóm Mõ Nhân Ái, đã nghĩ đến chúng tôi trong ngày đặc biệt này. Ngày xưa tôi cũng là Mẹ của 2 đứa con, nhưng sau khi ly dị, rồi mắc vào vòng nghiện ngập, chính phủ đã lấy lại, “tịch thu” hai đứa nhỏ! giờ chẳng biết chúng nơi đâu!” Nói rồi bà nhớ con, lau nước mắt.

Sau phần tặng quà cho các Bà Mẹ, là phần Xổ Số và Lì Xì phong bì đỏ chúc mừng, trong đó có chút tiền mặt.

Đặc biệt các Bà Mẹ thiện nguyện trong Nhóm, mỗi người cũng nhận được một phần quà mừng lễ.

Sáng hôm sau, Thứ Bảy, ngày 7 tháng 5, Ban Tổ Chức Lễ Chào Cờ, đã phối hợp với Anh Hải, để trao tặng gần một trăm phần quà đến các Bà Mẹ VN hiện diện.

Trong phần vinh danh, trước khi tặng quà, Anh Hải phát biểu: “…Đến đây, xin được gởi lời Cảm Tạ đến các Bà Mẹ trong thời chinh chiến, trước 75. Không có Bà Mẹ phải chịu đựng đau khổ, gian nan, hơn những người vợ Lính VNCH cả. Nuôi con để chồng đi đánh giặc, ngừng tiếng súng, thì phải nuôi chồng trong các trại tù cải tạo! Có mỗi một đứa con trai, cũng hy sinh trong cuộc chiến! Biết bao nhiêu đau thương khốn khổ, nước mắt, kể không hết! Cuối cùng tan tác, ngậm ngùi bên phe “thua cuộc chiến!” Đầy đọa trong những vùng kinh tế mới, vượt biển, bị hãm hiếp….Nói lời Cảm Tạ chắc chắn không đủ, trong giây phút đặc biệt này!”

MỪNG NGÀY HIỀN MẪU

(Xướng – Bát điệp từ “Mẹ”)


Hoa Kỳ “Lễ Mẹ” tháng Năm đây”

Ngày Mẹ” tám tây, chủ nhựt nầy

Công trọng Mẹ nuôi, cao tựa núi

Nghĩa dày Mẹ dưỡng, rộng dường mây

Gia đình, Mẹ đã tô bồi đắp

Sự nghiệp, Mẹ từng tiếp dựng xây

Thắp nén tâm hương con khấn Mẹ

Mẹ ơi! Nỗi nhớ thật đong đầy…


DUY ANH

Orlando, May 8th 2022

CÁC BÀI HỌA CỦA THI HỮU

KHÓC THƯƠNG MẪU TỪ

*

Hiền Mẫu nhớ ngày lễ trọng đây

Tháng Năm Chủ Nhựt tám tây này

Cù lao chín chữ cao hơn núi

Cúc dục tam sanh lớn quá mây

Cơm áo gạo tiền luôn gánh vác

Cửa nhà bếp núc vẫn lo xây

Nay con tưởng nhớ, thương từ mẫu

Thắp nén tâm nhang mắt lệ đầy…

Mai Xuân Thanh

  May 03, 2022

*

MẸ SỐNG MÃI BÊN CON

*

Nhớ mẹ công lao ghi lại đây

Tình thương nghĩa nặng đủ đông đầy

Ngày nào cặm cụi cây ăn trái

Ngày ấy gian lao vầng gió mây

Hương khói trầm buồn qua lệ ướt

Tàn nhan sâu đắng cuồn cuộn xây

Bàn thờ bóng mẹ như sao sáng

Lúc tỏ lúc mờ nước mắt đầy

Trần Đông Thành

*

MẸ VÀ CON

*

Mùa đang vào hạ, ” mother ‘s day “

Mẹ vẫn bên con, tuổi tác này

Cho dẫu trưởng thành hay ấu trĩ

Càng hay thấp bé tưởng cao mây

Xưa đi trấn thủ, lo mưa chuyển

Nay hết lưu đồn, nhớ khói xây

Bảo bọc gia môn qua chiến nạn

Trời thương mẫu tử nghĩa ân đầy …

Utah  3 – 5 – 2022

CAO MỴ NHÂN

*

MỪNG LỄ MẸ

*

Lễ Mẹ hằng năm sẽ tới đây,

Nhớ ơn từ mẫu kiếp sanh nầy.

Công dày chất ngất cao như núi,

Nghĩa cả phủ tràn rộng tợ mây.

Khốn khó đưa lưng vai gánh vác,

Nhọc nhằn đem sức đắp bồi xây.

Tâm thầm khấn nguyện xin Trời Phật,

Phúc đức ban cho Mẹ hưởng đầy.

HỒ NGUYỄN

  (03-5-2022)

*

NHỚ MẸ

*

Tháng năm ngày tám đến rồi đây,

LỄ MẸ về trên đất nước nầy,

Lòng mẹ bao la hơn biển cả,

Mẫu từ cao vút ngất trời mây.

Mẫu tâm lo trẻ thường thao thức,

Mẫu ý  vì con mãi  đắp xây.

Biền biệt phương trời con ngóng mẹ,

Nửa vòng trái đất nhớ thương đầy !…

Đỗ Chiêu Đức

 05-03-2022

*

MỪNG NGÀY HIỀN MẪU

*

Lễ Mẹ, Hoa Kỳ sắp đến đây

Tám tây, vọng Mẹ ở phương nầy…

Hoài thai Mẹ giữ, ân vờn núi

Dưỡng dục Mẹ gìn, đức cuộn mây

Mẹ gánh sầu bi vì tạo dựng

Mẹ gồng khổ cực bởi bồi xây

Hương lòng tưởng đến công lao Mẹ

Nhớ Mẹ…bờ mi ngấn lệ đầy !

Thanh Song Kim Phú

CA. May/3 rd/2022

*

MẸ ƠI !

*

Mừng Ngày Hiền Mẫu

*

Bạc mùa dầu dãi Mẹ nằm đây

Mộ chí mưa sương thấm đất nầy!

Đáy huyệt âm hồn dầm cát bụi

Trên mồ  dương khí lõa trời mây!

Cù lao báo đáp công Cha đắp

Cúc dục đền bồi nghĩa Mẹ xây

Kính “Lễ Mẫu Hiền”, hồn tưởng vọng

Chất thương chồng nhớ mãi khôn đầy!

       4-5-2022

Nguyễn Huy Khôi

*

MỪNG LỄ MẸ

*

Ngày hiền mẫu đã đến rồi đây

Chủ nhật, vài ba bữa nữa này

Xót mẹ đang tâm rời cố quận

Thương người,nẫu dạ tới chân mây

Áo cơm,tuổi trẻ chăm bồi dưỡng,

Sự nghiệp,thành thân,tiếp dựng xây.

Công nặng ,ơn dầy khôn báo đáp,

Rưng rưng khoé mắt…lệ dâng đầy

Thanh Hoà

04/05/2022

*

MOTHER’S DAY

“Lễ Mẹ” là ngày chủ nhật đây

Tháng năm mồng tám nhớ hôm nầy

Thương con nghĩa rộng tràn sông biển

Quý trẻ tình dày vượt núi mây

Cảnh khó nồi rau trồng cuốc dựng

Quê nghèo bát gạo bán buôn xây

Giờ người đã ngủ yên nghìn giấc

Di ảnh khói hương mắt lệ đầy

  Minh Thuý Thành Nội

Tháng 5/4/2022

MẸ

*

Con vẫn trông chờ ” Mother’s day “

Ngày vui nắng hạ tuổi hoa đầy

Xa xôi tiếng Mẹ khôn làm nũng

Cạnh gối Cha nghiêm khó vén mây

Bế ẵm ru con lời dịu ngọt

Đu đưa võng dỗ giấc mơ xây

Mẹ ơi ! nhớ Mẹ từng hơi thở

Hơn chín mươi năm trái Đất này …!

CHUNG VĂN

    4/5/2022

*

NGÀY NHỚ MẸ

*

Ngày tạ sinh thành sắp đến đây

Mẫu tử tình thâm ở kiếp nầy

Mang nặng đẻ đau lo bảo trọng

Lớn khôn công ấy thấu từng mây

O oe con khóc mẹ lo lắng

Trở gió ấm đầu Người xẩm xây

Biển cả bao la đâu sánh kịp

Bao nhiêu báo đáp biết cho đầy.  ….

Yên Hà

5/5/2022

*

MẸ Ở TRONG LÒNG

*

Sống ở trong lòng,Mẹ vẫn đây

Thân con,máu Mẹ dưỡng sinh nầy

Con nghe Mẹ khóc lần đi biển

Mẹ thấy con cười lúc giỡn mây

Nguồn cội,Mẹ khuyên ra sức giữ

Quê nhà,Mẹ dặn góp công xây

Truyền lưu bếp Mẹ ngời thiêng lửa

Mẹ nhóm tin yêu,hạnh phúc đầy…

Lý Đức Quỳnh

    5/5/2022

*

THƯƠNG NHỚ LỆ ĐẦY

*

Tám tháng năm ngày “Lễ Mẹ” đây,

Vinh danh Hiền Mẫu thế gian này.

Ba niên bú mớm lòng như biển,

Chín tháng nâng niu đẹp tựa mây.

Cơm áo thuốc men nuôi chóng lớn,

Tiền đồ sự nghiệp cố công xây.

Kể sao cho siết bao công đức,

Một nén nhang thương nhớ lệ đầy.

 Mỹ Ngọc.

May 6/2022.

*

NHỚ NGÀY HIỀN MẪU

*

Tiếng MẸ trong tôi đẹp thật đây

Công ơn trời biển thế gian này

Mem cơm mớm cá bao năm tháng

Giấc ngủ ru nôi vút tận mây

Chập chững bước đời tay dẩn giắt

Vỡ lòng chữ nghĩa quyết tâm xây

Giờ đây cát bụi cơn  mưa nắng

Nén hương khẩn lạy kính dâng đầy

NAM GIAO

*

TÌNH MẸ BAO LA

*

Cháu con, dâu rể tụ về đây,

Lễ Mẹ năm nay chủ nhật nầy.

Thân mẫu cưu mang hơn chín tháng,

Công ơn sanh dưỡng tựa trời mây.

Tam đa quy hợp(*) lòng mong ước,

Tứ đại đồng đường(**) nghĩa dựng xây.

Chín chữ cù lao luôn tạc dạ.

Bao la tình mẹ nhớ thương đầy.

Ngô Văn Giai

     Virginia, May 6/2022

(*) Tam đa quy hợp:Ba điều hạnh phúc:Phước,Lộc,Thọ

(**)Tứ đại đồng đường:Bốn đời cùng ở chung một nhà,ý nói gia đình hòa thuận bốn đời:đời cha,đời con,đời cháu,đời chắt.

*

TƯỞNG NHỚ MẸ HIỀN

*

Mừng ngày lễ Mẹ ở nơi đây

Mùng tám tháng năm chủ nhật này

Công đức rộng tràn như bốn biển

Nghĩa tình cao vợi tựa ngàn mây

Tương lai con cái luôn vun vén

Hạnh phúc gia đình mãi đắp xây

Sâu thẳm lòng con luôn nhớ Mẹ

Yêu thương, kính trọng cứ dâng đầy

   Sông Thu

( 07/05/2022 )

*

CẢM XÚC TRONG NGÀY TỪ MẪU

*

Mother’s Day lại đến rồi đây

Lòng chợt buồn ơi, đón Lễ này 

Con trẻ thân côi xa tít tắp 

Mẹ già mộ vắng khuất trời mây

Tục Tiên hai cõi sao tìm thấy

Tình hiếu đôi đàng khó đắp xây 

Xuất giá tòng phu thành lỗi đạo

Từ thân huyệt lạnh nhớ vơi đầy

Phương Hoa – May 4, 2022

*

MẸ

*
Con vẫn trông chờ ” Mother’s day”

Ngày vui nắng hạ tuổi hoa đầy

Xa xôi tiếng Mẹ khôn làm nũng

Cạnh gối Cha nghiêm khó vén mây

 Bế ẵm ru con lời dịu ngọt

Đu đưa võng dỗ giấc mơ xây

Mẹ ơi ! nhớ Mẹ từng hơi thở

Hơn chín mươi năm trái Đất này …!

CHUNG VĂN4/5/2022

*

THƠ XƯỚNG HỌA: MỪNG LỄ MOTHER’S DAY – PHƯƠNG HOA & THI HỮU

MỪNG LỄ  MOTHER’S DAY

(Xướng)

Chúc Lễ Mother’s Day gấm hoa

Tình yêu tỏa sáng rực muôn nhà

Sinh thành ân trọng tày sông lớn

Dưỡng dục nghĩa dày sánh biển xa

Trọn hiếu thức ngon vui dạ Mẹ

Tràn tâm lời ngọt đẹp lòng Bà

Vòng ôm ấm áp truyền năng lượng

Ấy món quà dâng quý ngọc ngà

  Phương Hoa

Mother’s Day 2022

CÁC BÀI HỌA

HAPPY MOTHER’S DAY…!

*

Mother‘s Day tặng Mẹ ngàn hoa

Sáng toả yêu thương khắp cửa nhà

Sinh dưỡng đạo đồng so biển lớn

Cù lao cúc dục sánh non xa

Chăm ngoan cần mẫn vui lòng mẹ

Hiếu thảo siêng năng đẹp dạ bà

Đãi tiệc hàn huyên con cháu chắc

Gia đình đoàn tụ dưới trăng ngà

MAI  XUÂN THANH

     May 8/5/22

*

MƯỢN HOA THAY LỜI

*

Mượn vẻ mặn mà muôn sắc hoa

Làm quà trao gởi đến nhà nhà

Lay ơn, thược dược màu phô thắm

Sen trắng, hồng nhung hương tỏa xa

Âu yếm nâng niu dành tặng Mẹ

Chân thành, quý trọng kính dâng Bà

Bao nhiêu tình cảm thay lời nói

Sáng vượt trân châu, đẹp vượt ngà

Sông Thu

 ( Ngày Hiền Mẫu 2022 )

*

ĐỨC TRỜI & CÔNG BIỂN

*

Tấm lòng của mẹ ngát hương hoa

Bay tỏa lan ra khắp cả nhà

Ấy dẫu bây chừ bu đã vắng

Đây dù hiện tại mợ thời xa

Trời cao lồng lộng khôn so mẹ

Biển rộng mênh mông khó sánh bà

Công đức dưỡng nuôi đàn con dại

Xót nay nắm đất phủ thân ngà..!

Thái Huy

  5/9/22

*

MẸ TÔI

Cấy lúa trồng khoai, chẳng thiết hoa

Mẹ vun quén giữ ấm êm nhà

Quê làng suốt kiếp dìm thân mọn

Phố thị chưa lần biết chốn xa

Cảnh có phiền ưu đời thế tục

Tâm không oán hận cõi ta bà

Chồng con sớm tối vui cùng phận

Tóc bạc quên luôn chiếc lược ngà…

Lý Đức Quỳnh

    9/5/2022

*

BÓ HOA NGÀY LỄ MẸ

*
Tay con ôm một bó hồng hoa

Lễ mẹ tràn lan đến mọi nhà

Chân bước rộn ràng tim đập nhẹ

Lòng vui dào dạt sóng vờn xa

Quỳ dâng âu yếm trao lên mẫu

Kính chúc vời cao gởi tặng bà

Tiếng hát lời ru công dưỡng dục

Thiên thu ngời sáng dưới trăng ngà.

*

 Lê Mỹ Hoàn5/10/2022

CHÚC MỪNG LỄ MẸ

*

Chúc mừng Lễ Mẹ tặng ngàn hoa,

Rạng rỡ vui reo khắp mọi nhà.

Công khó sinh thành sông bến rộng,

Ơn cao nuôi dưỡng biển trùng xa.

Nhọc nhằn chẳng quản bên con cháu,

Vinh hiển yên tâm thỏa phận bà.

Kỉnh dạ Mẫu Từ cao giữ trọng,

Thâm ân hiếu thảo quý hơn ngà.

HỒ NGUYỄN (10-5-2022)

*

CHIẾC ÁO CÀI BÔNG HỒNG

*

Mother’s day trên chiếc áo cài hoa

Có mẹ bên con lúc vắng nhà

Nhớ lắm khi bồng con tắm suối

Sao quên lúc cõng trẻ đi xa

Tới chùa cầu nguyện con vui khỏe

Lạy tổ hộ gia cháu của bà

Hình ảnh mẫu thân luôn sống mãi

Gia đình hủ hỷ trước trăng ngà

Trần Đông Thành

*

CHÚC MẸ MỘT NGÀY VUI

*
Biếu mạ hôm nay một giỏ hoa,

Đến thăm Từ Mẫu, rể, dâu nhà

Sinh thành, nuôi dưỡng: ơn trời rộng

Bảo bọc yêu chiều: đức biển xa

Tạc dạ con  ngoan, thương mẹ, bố.

Ghi tâm cháu thảo, quý ông bà

Cầu mong ngày tháng đừng qua vội,

Giữ mãi me tôi, tóc chẳng ngà!

Thanh Hoà 10/05/2022

*

Mừng “Lễ Mẹ

*

Chuẩn bị hôm này mấy bó hoa 

Mừng chung  “Lễ Mẹ“ họp nơi nhà

Trùng khi lắm buổi luôn rời biệt 

Gặp việc nhiều ngày mãi ở xa

Tiếng ngọt ôm người đùa thỏa mẫu 

Lời êm níu cổ giỡn vui bà 

Quà trao cắt bánh dâng cười rộn 

Hiếu thảo đừng quên quý tợ ngà        

Minh Thuý Thành Nội          

 Tháng 5/10/2022

*

MỪNG LỄ MẸ HIỀN 

*
Cho dù ý Mẹ chẳng cần hoa

Giả bộ vì quên khiến rộn nhà!

Huệ Đỏ, Nhật Quỳnh mua chợ mới 

Cúc Vàng, Hồ Điệp sắm miền xa

Bầy con nghĩa vẹn vâng lời Bố

Đám trẻ tình thâm cảm động Bà 

Hiền Mẫu trưa nầy ngưng nhóm bếp 

Lòng như mở hội đón trăng ngà! 

*
Như Thu 05/10/2022




THƠ XƯỚNG HỌA LỤC CÚ: Khách Giữa Trời –  CAO MỴ NHÂN Và Thi Hữu & THƠ THỔ NGỮ Cao Mỵ Nhân

THƠ LỤC CÚ XƯỚNG HỌA

KHÁCH GIỮA TRỜI

(Xướng)

*

Chim bay sao cánh lại buông lơi
Nghe tự thâm tâm giấu những lời
Tha thiết, thầm thì, thao thức thiệt
Thật thà, thủ thỉ, tưởng tượng thôi
Mây đang lãng đãng về xa thẳm
Ta cũng như đôi khách giữa trời…

CAO MỴ NHÂN

***

CÁC BÀI HỌA

CHIM TRỜI

*

Chim tạo điệu bay tránh lả lơi
Thân hình nhẹ nhõm nói muôn lời
Lượn qua lượn lại trông nhàn nhã
Xuống thấp lên cao thấy thảnh thơi
Bầu bạn không gian luôn khắng khít
Tự do tung cánh khắp bầu trời.

MAI HUYỀN NGA

***

HẸN ƯỚC TRĂNG SAO

*

Ngày ấy, câu hò, giọng lả lơi
Tiếng ca văng vẳng chưa nhiều lời
Bon chen kiếp sống vươn lên nữa
Vất vả đời người tránh thiệt thôi
Đã hẹn gặp nhau nơi góc biển
Mà đi mất biệt chốn phương trời.

TRỊNH CƠ

***

ĐỨNG KÊU TRỜI

*

Hụt hẫng chim về cánh mỏi lơi
Mây ra biển đắm bặt im lời
Bốn phương gió lộng miền tâm tưởng
Một nẻo quê mờ phía núi thôi
Sóng dạt năm châu, thuyền cặp bến
Không chân trụ điện đứng kêu trời.

LÝ ĐỨC QUỲNH

***

PHÚT CHIA LY

(Lục vỹ đồng âm)

*
Đôi chim quạt cánh chập chùng lơi

Đón phút chia ly mới nghẹn lời

Tức tưởi, tình tan, tiều tụy tới

Tái tê, tụ tán, thảm thương thôi       

Gió chia đồng cảm ngừng không thổi

Nắng loé buồn che một góc trời

*
Phương Hoa

THƠ THỔ NGỮ.  –  CAO MỴ NHÂN

 *

Cả nước là thi sĩ

Nên em cũng làm thơ

Có chi mà ngại nhỉ

Chỉ cần chút mộng mơ

 *

Từ thôn quê ra tỉnh

Từ đồng bằng lên non

Tưởng ngôn từ lỉnh kỉnh

Hoá chữ nghĩa dập dồn

 *

Anh bảo rằng thổ ngữ

Đẹp như núi, như sông

Người ở hai thành phố

Đọc thơ nghe mênh mông

 *

Bao nhiêu câu vần điệu

Em đã viết ra lời

Nhưng vẫn còn túng thiếu

Giọng nói, nàng thơ thôi

*

Ông bà xưa la mắng

Bằng ví von ca dao

Dân tộc ta không vắng

Lời hò hẹn xôn xao

 *

Thế nên …toàn thi sĩ

Trong nhà, hay ngoài đường

Dẫu nam nữ già trẻ

Thốt ra đều vấn vương…

 *

CAO MỴ NHÂN (HNPD)




Kiều Mỹ Duyên- Phỏng Vấn Giám Mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp




Phóng Sự HUYỀN THOẠI VỀ ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA VÀ PHẬT GIÁO TÂY TẠNG – Kiều Mỹ Duyên




VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH MỚI: “HAI CHỊ EM” – Tác Giả Ngọc Cường – Chinh Nguyên VTLV, Giới Thiệu Trên 4 Kênh VNA-TV: Bắc Cali, Nam Cali, Las Vegas, Và Texas.




THƠ: MÁI TÓC – Thanh Thanh – LÊ XUÂN NHUẬN

MÁI TÓC

      Cho Vân-Anh

*

Nàng có mái tóc huyền

Đẹp như tranh thủy-mặc;

Đường nét thật dáng duyên,

Thật mặn-mà màu sắc.

*

Tóc như múa nghê-thường;

Sóng đàn như tóc lướt;

Tóc như ướp trầm hương;

Tóc như nhung mịn mướt.

*

Khi nàng về với tôi,

Nàng thay nhiều kiểu chải;

Như mắt, má, và môi:

Vui tươi và trẻ mãi .

*

Tôi vuốt dợn tóc êm,

Tôi hít mùi tóc thuộc.

Nắng biển và sương đêm:

Tóc kiêu hào nhập cuộc.

*

Đời rộng cánh bằng+âu;

Thanh-bần nên sướng chán.

Đôi lứa tưởng còn lâu

Mới bạc đầu, hói trán.

*

Nhưng, chớp bể, mưa nguồn!

Sắt thép kìm xương thịt:

Mắt nàng rát lệ tuôn,

Lưỡi tôi tê mật rịt!…

*

Nàng lặn-lội thăm tôi;

Tóc trùm khăn lấm bụi;

Tôi tránh nhìn mắt, môi;

Cổ nghẹn lời tức tủi .

*

Rồi, một hôm (ngỡ-ngàng!)

Nàng tháo khăn gỡ rối,

Tôi sửng-sốt nhìn nàng:

Tóc điểm màu tiêu-muối!

*

Ôi! Mới một thời-gian

Mà cồn dâu, bãi bể!

Giếng hẹp ếch gào khan;

Bức bần nên khổ thể!

*

Mắt nàng đã quầng thâm;

Môi khô và má hóp.

Nhìn mái tóc hoa-râm,

Tim tôi như nghiến bóp!

*

Tóc hết múa nghê-thường!

Sóng đàn tóc hết lướt!

Tóc hết ướp trầm hương!

Tóc hết nhung mịn mướt!

*

Tôi muốn vuốt tóc nàng,

Mà bị đời ngăn cấm!

Đành đợi giấc mơ-màng

Để sưởi lòng tạm ấm!

*

Nàng thương tôi mặn-nồng,

Vì tôi mà lận đận.

Tóc nàng càng trắng bông,

Lòng tôi càng uất hận!

*

                    THANH-THANH

              (Trong “Cơn Ác-Mộng”)

Lê Xuân Nhuận




ĐỒNG BÀO NAM CALI ĐÓN C GIÁM MỤC NGUYỄN THÁI HỢP – Kiều Mỹ Duyên




THƠ NGƯỜI TRONG NƯỚC: Uất Nghẹn – TRƯƠNG CHI

Hình Trương Chi -Nguồn: Internet

UẤT NGHẸN

Một nhà thơ trẻ, một anh hùng xuất hiện!

Ít nhất quý vị cũng nên đọc 1 lần và phổ biến rộng rãi 

***

1. Tôi sinh ra giữa lòng Cộng Sản

Và lớn lên dưới ảnh Bác Hồ

Bao nhiêu năm viết “Độc lập – Tự do

và Hạnh phúc” nhưng chưa từng thấy thế

*

2. Đất nước tôi có bao người tuổi trẻ

Đều lầm tin vào lịch sử Đảng truyền

Họ nói rằng: Bác là thánh, là tiên

Người đưa Nước thoát khỏi vòng nô lệ

 *

3. Nhưng trong tôi thắp muôn vàn lý lẽ

Cuộc chiến nào mà Đảng thắng – Nước thua?

Dân làm giặc mà Đảng lại làm vua

Trên danh nghĩa “kẻ tôi đòi trung hiếu”

 *

4. Đất nước tôi tất thảy do Đảng liệu

Đảng phân công, quản lý hết cuộc đời

Từ cây kim, sợi chỉ đến chén cơm, manh áo dù rách nát, nhỏ nhoi

Thì tất cả đều nhờ ơn của Đảng

 *

5. “Yêu Tổ quốc” có nghĩa là “yêu Đảng”

“Chống chính quyền” là “phản bội quê hương”

Bao người vì non sông với niềm tin vào ngày mai nước Việt hùng cường

Đều lần lượt chịu tù đày, khổ ải

 *

6. Đất nước tôi có gì không độc hại

Từ thức ăn, nước uống đến không khí ô nhiễm tràn lan

Từ nhu yếu phẩm của đứa trẻ sơ sinh đến cụ già sắp lìa khỏi trần gian

Đều tẩm độc vào xác – hồn nước Việt

 *

7. Có nơi đâu mà người dân thua thiệt

Bằng thiên đường Xã Hội Chủ Nghĩa thế này không?

Máu dân oan đã nhuộm đỏ sông Hồng

Loài hung bạo chiếm hết trời – đất – biển…

 *

8. Đất nước tôi với mọi điều trái ngược

Ngược văn minh, ngược tiến hóa loài người

Những phát ngôn của quan chức nực cười

Ngược đời thế, nhưng “tài tình lãnh đạo”

 *

9. Ươn hèn nhất, bọn bút nô – Tuyên giáo!

Với hàng trăm tờ báo, đài vô tuyến – truyền hình

Ngoài mị dân, ru ngủ, chỉ những tin “cướp – giết – hiếp” hay bản nhạc “đúng quy trình”

Còn nhục nước họa dân thì muôn đời nín lặng

 *

10.. Đất nước tôi với sưu cao thuế nặng

Còn hơn thời phong kiến, thực dân

Những trạm BOT mọc lên khắp tỉnh thành

Cùng hàng vạn “áo vàng” chực rình thu mãi lộ

 *

11. Ôi chân lý mà bao người “giác ngộ”

Làm suy đồi đạo đức mấy ngàn năm

Đưa quốc dân vào chia rẽ – thù hằn

Và kiềm tỏa đường tương lai dân tộc

 *

12. Đất nước tôi mất dần vào Trung Quốc

Mất Hoàng Sa, rồi mất đến Trường Sa

Mất Biển Đông, Bản Giốc, rồi những nơi trọng yếu của nước nhà

Đảng biết rõ, nhưng làm ngơ tất cả

 *

13. Từ có Đảng, biết bao điều tai họa

Như mệnh trời muốn thử thách người Nam

Mà Đảng vẫn huênh hoang nào “thắng lợi vẻ vang”

Nào “thời đại Hồ Chí Minh”, nào “dân giàu nước mạnh”

 *

14. Đảng hào nhoáng với ngai vàng lấp lánh

Còn dân đen thì đói khổ, nghèo nàn

Những ủy ban, hội đồng… đều mang mác “nhân dân”

Chỉ kho bạc là của riêng “nhà nước”

 *

15. “Đổi mới” rồi “kiến tạo” với bao đời Thủ tướng

Bao đời Tổng Bí thư từ Chinh, Duẩn, Linh, Mười…

Bao sai lầm mà Đảng chẳng nên người

Sợi kinh nghiệm rút kiếp nào cho hết

 *

16. Đảng cứ sống và dân thì cứ chết

Cứ chết dần trong mơ ước tàn phai

Trong căn bệnh ung thư hay tai nạn giao thông… rồi sẽ đến một mai

“Chết từ từ” để giết nòi giống Việt

 *

17. Tôi xấu hổ khi nói cùng thứ tiếng

Và viết chung ngôn ngữ với một đảng đê hèn

Hít thở bầu khí quyển màu đen

Bóp nghẹt Tự Do ở dưới triều Cộng Sản

 *

18.. Tôi sinh ra giữa lòng Cộng Sản

Nhưng tôi là một người Việt Tự Do

Trong tim tôi là lý tưởng Quốc Gia

Và chính nghĩa là chủ trương dân tộc

* 

19. Xin cảm ơn những tấm gương bất phục

Và những người yêu Nước của hôm nay

Đã dấn thân vào những chốn đọa đày

Vẫn khí khái cất cao lời tranh đấu

 *

20. “Ghét Cộng Sản” chẳng bao giờ là xấu

Yêu đồng bào” từ giòng máu Việt Nam

Chúng ta là con cháu xứ Văn Lang

Và thề quyết làm sáng danh Hồng – Lạc

 *

21.. Hỡi những người trai, cô gái Việt

Hãy đứng lên vì non nước lầm than

Diệt bá quyền, lật đổ lũ tham tàn

Cho không thẹn với hồn thiêng sông núi

 *

22. Hãy bước đi theo tiếng đời thúc gọi

Triệu tấm lòng vì đất nước – quê hương

Sẽ noi gương anh dũng của Trưng Vương

Mang ý chí Diên Hồng xây đắp nền Cộng Hòa tự chủ.

*

TRƯƠNG CHI




CHÙM TÌNH THƠ Cao Mỵ Nhân & Bài Viết “Ở MỘT GÓC PHỐ”

PHÚT TỪ LY CỦA XÃ ĐOÀI.   CAO MỴ NHÂN 

*

Tôi còn nhớ

Ngày Xã Đoài về phương tây

Có con chim cú mầu hoàng kim rực rỡ

Đậu trên ngọn cây 

Thả rơi tiếng kêu 

Xót thương người tình lỡ 

*

Một bầy quạ mặc áo choàng đen 

Hót lên lời sầu muộn

Sau lễ nửa đêm 

Xã nằm cô đơn nghe chuông cầu nguyện

Không có ai thân quyến

Không có ai bạn bè*

*

Giờ khắc tử sinh

Tôi co mình trong mộng mị

Xã nhớ tôi không nhỉ

Chắc chắn gọi tên ” Mỵ ” 

( Em ở đâu

Sao không đến bên nhau )

*

Ôi, ” mối tình đầu “

Hay giây phút cuối

Lỡ cuộc tình sau

Say mê, đắm đuối 

Xã Đoài về phương tây

Đôi mi khép che nỗi buồn tiếc nuối …

*

Hawthorne  22 – 4 – 2022

         CAO MỴ NHÂN

BẤY NHIÊU THÔI.    CAO MỴ NHÂN 

*

Mới sớm tinh mơ

Bầy chim sẻ ngủ ở đầu hồi đêm qua

chưa thức giấc

Vị sư công phu đã lên đường đi hành khất

Trên bình bát để cuốn pháp ký

” Có bấy nhiêu thôi “

Của Ngài Kim Triệu Khippapanono.

*

Tôi là một Phật Tử tình cờ

Chưa bao giờ tụng hết một cuốn kinh mỏng

Chỉ chúi đầu vào những tập tình thơ

Nên cứ băn khoăn dòng chữ :

” I will go with you ” cả đời tôi đơn lẻ

Làm sao có chuyện đồng hành

Nên chỉ muốn đi bên cạnh anh

*

Đi bên cạnh anh

Nhưng anh đang định đi tu

Thì anh cứ việc đi tu

Cứ suy nghiệm bao lý đạo, tình đời

Anh đã có pháp danh là ” Thích Tuyệt Vời ” 

*

Tôi rời khỏi đường tu

Nơi trồng toàn hoa vô ưu tưởng tượng

Ngắt đọt lá xanh rờn 

dưới tàng cây cao ngất

Nghe lời kệ ” Có bấy nhiêu thôi ” 

Vâng, tôi cũng chỉ viết được 

Có bấy nhiêu thôi …

*

   CAO MỴ NHÂN 

KHI HOA ĐÀM NỞ.    CAO MỴ NHÂN 

*

Bao giờ khói tản đồi mơ

Sương tan dưới lũng, cho thơ mộng về 

Tình rồi cũng hết u mê

Gió tha phương cuốn lời thề lên cao

*

Bấy giờ trăng bỏ muôn sao

Cô đơn trôi giữa chiêm bao đất trời 

Cây trường sinh suốt cuộc đời 

Không hề rụng lá, hoa vời nguyệt tan

*

Thế rồi hồn lịm than van

Thoắt chơi vơi giữa hoang tàn mênh mông 

Sô tang gói chặt phiêu bồng

Đưa chân tri kỷ, tiễn hồng nhan đi

*

Ôi chao tử biệt, sinh ly

Là thôi, trả lại từ bi cho người

Ma ma Phật Phật, nụ cười

Đoá ưu đàm nở trên môi muộn màng …

*

     CAO MỴ NHÂN  

Ở MỘT GÓC PHỐ.    CAO MỴ NHÂN 

Ông với tôi đúng là một cặp chị em không biên giới, bởi vì nếu đem 2 tờ giấy khai sinh ra đo, rõ ràng chúng tôi không cùng cha mẹ, ông họ Nguyễn, tôi họ Lê, tôi tên Lê Thanh Quỳnh Phương, tạm gọi thế. 

Ông nhỏ thua tôi mấy tuổi chả biết, song chẳng cần nhỏ lớn, xã giao thôi, tôi đã giữ vai chị là cái chắc rồi . 

Nhưng ngoài những điều nêu trên, đứng giữa cuộc đời, tôi chẳng thể nào làm chị ông được. 

Chỉ cần nhận định một số việc từ đơn giản đến phức tạp, ông đã chẳng ngang hàng, mà vượt lên cao, có lẽ gấp …nhiều lần tôi lắm, trong tất cả mọi vấn đề . 

Sự kiện không khiến tôi mắc cở, ganh ghét hay vân vân gì khác, mà tôi còn cảm thấy hãnh diện là khác. 

Nếu trong võ lâm cổ điển, tôi sẽ xưng tụng ông là ” hiền đệ ” để xoa dịu tự ái của cả hai “chị em” , nhưng đang trong thế giới văn minh, khoa học thế này, rõ ràng ông đáng bậc thầy tôi về kiến thức và phẩm chất phong thái, tính tình .

Nên nếu đúng ra mà nói ông có tư cách của một người …chủ soái . 

Song đôi khi tôi mến mộ ông quá, lại gây cho ông những phiền toái tầm thường, mới đáng tiếc. 

Và tôi sợ hãi không dám nghĩ thêm, đừng nói viết thêm . 

Tôi đã thực sự mất hút một cánh chim trời viễn mộng lâu năm, tôi bỗng giận tôi ghê gớm. 

Chao ôi hình ảnh con gà nuốt giây thung là tôi, cảm giác tự mình bức hại mình dù vô tình. 

Tôi tìm hũ đậu vàng mà thủa tôi hạnh ngộ nhà báo, bình luận gia tên tuổi lão thành  Như Phong Lê Văn Tiến vừa xong tù cải tạo chính trị ở vncs, qua Hoa Kỳ năm 1994, tặng cho tôi.

Sau khi nhà báo lịch duyệt trên, hỗ trợ tôi một vòng đi nói chuyện về ” Dòng Thơ Trong Tù ” nhân dịp bạn lính Cao Mỵ Nhân ra mắt cuốn tạp ghi ” CHỐN BỤI HỒNG ” vào mùa hạ năm 1994 ở San Jose và San Diego . 

Hũ đậu vàng đơn điệu, mỗi ngày tôi bỏ vô hũ một hột đậu vàng, kiểu 2 hũ đậu trắng, đen mà người xưa khuyên : Mỗi ngày bỏ vô hũ một hột đậu trắng là đã làm được việc tốt, bỏ vô hũ một hột đậu đen là lỡ làm chuyện xấu . 

Cứ ngó vào số đậu trong hũ là rõ mình trắng đen ra sao . 

Nhà báo quá cố đó dặn tôi : Nếu chơi hai mầu đen trắng, vẫn có thể gian dối với mọi người và ngay với chính mình . 

Còn hũ đậu vàng thôi, như là tự chế ngự nếu đầu óc manh nha làm điều không tốt, hoặc hạn chế những điều không tốt ấy , đánh giá theo yếu tố thời gian. 

Như vậy phải bao lâu mới đầy hũ đậu vàng chứ . 

Song le, nào có cần chế ngự vv…đâu, khi được thoải mái tự do, con người ta dễ tha thứ cho mình lắm. 

Tôi đã bỏ quên hũ đậu vàng quá lâu, nên hôm nay tìm thấy, tất cả hũ đậu đã mọt, tôi đổ vô thùng rác . 

Ngồi buồn lại mở báo chí gần xa ra đọc. Không biết ai đã viết vào sổ ghi chép của tôi câu ” Loạn độc thư cao ” . 

Thì đúng rồi thời loạn mà đọc sách thì cao giá trị con người ,

” Vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao ” . 

Chu choa, mọi sự đều thấp kém, chỉ có đọc sách mới cao thượng. 

Ông có cách xử thế bình tĩnh, đầy sức ” thuyết phục “, chẳng có chi làm khó bà chị cả  …

Đó chỉ là công chuyện bình thường, cần và nên thay đổi chút cho sự việc ở đời lúc nào cũng mới mẻ, tân tiến dễ thành công.

Thay vì làm chị thân thương trong đại tộc nào đó, cũng đòi hỏi lòng vị tha, mới có thể em em, chị chị  được chứ . 

Tôi có vẻ không vui lắm, tai bỗng ù lên, loáng thoáng nghe được câu : ” chị nói như dỗi ” . Đúng rồi, rõ ràng tôi ru tôi vào cảnh dỗi hờn vô lý nhất . 

Chẳng có gì lạ, đối với phụ nữ, thiếu nữ thì đã đành, phụ lão có lúc cũng như trẻ con, tôi ngồi thừ khi ” người em ” đã biến dạng trên đường giây đàm thoại. 

Tại sao tôi dở thế ? Không phải dở đâu, mà vì được ưu đãi quá, nay bị hụt hẫng một chút thôi, cứ nghĩ là không vẹn tròn . 

Vài hôm sau tôi bình tĩnh lại, tôi lên một cơn cười thú vị, tôi vui tươi thực sự, bình thản thực lòng , tôi viết thư cho người bạn ở xa tít mù xa . 

Người bạn xa tít mù xa của tôi lúc nào cũng lặng lẽ, nhưng ông ta sẽ xử dụng ” văn chương ” hồi âm tư tưởng hay là suy nghĩ của tôi thì đúng hơn . 

Vị bạn võ lâm trong phong cách tiêu dao đã lần lần kéo tôi ra khỏi đám mù sương, khiến tôi phục quá . 

Có phải chúng ta lớn quá rồi , như trái chín sắp vỡ, hay sắp rụng, chúng ta chỉ còn thì giờ ngắm …thành quả thôi, không nên gọi gió lớn gây mưa bão . 

Tôi sợ quá, sợ thực sự thời gian dồn dập đến, không còn kịp nở nụ cười bầy tỏ lòng thương yêu chân chính, thành thật . 

Nỗi khó không phải ở tha nhân nhìn về, mà khó vô cùng từ chính chúng ta không hiểu rõ chúng ta, rất hồn nhiên, vô tư . 

 Tôi thầm lặng nhớ nhung anh, và thiếp đi trong giấc ngủ vừa kịp tới . 

            CAO MỴ NHÂN 




CA KHÚC: HƯƠNG VỊ TÌNH – THƠ SA CHI LỆ – Nhạc Duy Tuấn – Ca sĩ Ngọc Châu




BẢN THÁNH CA: LỮ KHÁCH BÌNH AN -Văn Duy Tùng  

LỮ KHÁCH BÌNH AN

           Bình an là một ân huệ cao quý mà Thiên Chúa tặng ban cho nhân loại. Vì, bình an vừa là trạng thái hạnh phúc sống động lại vừa mang dấu ấn của Chúa Thánh Linh. Thật vậy, khi Chúa Giêsu phục sinh, Ngài chỉ ban cho các tông đồ một “món quà” duy nhất là  “Bình an cho anh em”. (Ga 20,19.20.26)

Như thế, bình an là cái mà nhân loại luôn luôn khao khát và mong ước đạt đến, thế nhưng nhân loại sẽ không bao giờ đạt được nếu không có Đấng Phục sinh ban bình an. Thánh Luca đã thuật lại : khi Đức Giêsu hiện ra với hai môn đệ trên đường Emmau với dáng vẻ một lữ khách, nhưng rất bình an, bình an đến độ bình thường nên hai môn đệ không nhận ra Ngài. Khi Chúa lên tiếng hỏi họ : « Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ? » (Lc 24,17). Chưa được câu trả lời thì Chúa đã bị trách là người đứng ngoài cuộc : « Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay » (Lc24,18). Vì là khách nên bàng quang, nên không hay biết chuyện gì, chuyện cả thế gian đều biết riêng chỉ có mình ông là không biết… và vì là khách nên hai môn đệ mới mời Đức Giêsu ở lại: « Mời ông ở lại…» (Lc24, 28).

Cũng vậy, Thánh Gioan tường thuật, khi bà Maria Macdala đến mồ Chúa, không thấy Chúa, bà khóc lóc; nhưng khi Chúa đứng trước mặt thì bà lại tưởng là người làm vườn (Ga 20,15). Với Maria, Đức Giêsu chẳng những bình thường mà còn rất tầm thường nữa, bình thường như một người làm vườn và tầm thường như một người lấy cắp xác người chết : « Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về. » (Ga20, 15).

Đức Giêsu, không vì là Đấng ban bình an nên Ngài phải bình an. Nhưng vì Ngài đã yêu đến cùng, yêu đến không còn giữ lại cho riêng mình một khoảng cách, một sự khác biệt nào đó để người khác có thể nhận diện. Ngài trở nên bình thường như một lữ khách, như người làm vườn và tầm thường như một người lấy cắp xác. Tuy nhiên, dung mạo của Đức Giêsu dù là bình thường đến tầm thường đi nữa, nhưng chỉ những ai nhìn ở góc độ tình yêu thì mới có thể nhận ra Ngài. Thật thế, hai môn đệ trên đường Emmau không nhận ra Chúa qua giọng nói, hình dáng, quần áo… mà nhận ra Chúa cầm bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ (Lc24, 30-31). Còn Maria chỉ nghe Chúa gọi “Maria” là đã nhận ra Thầy. Trong tình yêu có những bí mật thật dễ thương là thế. 

Nếu Đức Giêsu được xem là một lữ khách bình an, thì hai môn đệ của Ngài là những lữ khách không bình an. Hai môn đệ trên đường trở về quê hương với sự thất vọng đến chán chường, thất vọng vì cho rằng  những quyết định của mình là sai lầm, có lẽ các ông tiếc nuối vì đã bỏ công lao, sức khỏe, thời gian đã qua để đi theo một con người và hy vọng người ấy sẽ khôi phục Israel, hy vọng mình sẽ có một chỗ đứng trong vương quốc ấy. Maria cũng thế, chắc hẳn tuyệt vọng lắm, vì chỉ còn cái xác của Thầy thôi mà cũng bị lấy cắp. So với các tông đồ; Maria đơn giản hơn nhiều, bà không hy vọng Thầy khôi phục Israel hay trông đợi Thầy làm việc gì lớn lao vĩ đại, bà cũng không tranh giành chỗ ngồi bên hữu và bên tả Thầy như hai anh em con ông Giêbêđê. Đối với Maria; đơn giản chỉ là tình yêu. Tuy nhiên với bà, tình yêu đối với Chúa Giêsu có phần trở nên ích kỷ, có phần như sở hữu Chúa cho riêng mình, đành rằng bà rất yêu Chúa. Vì thế, Chúa trong tâm trí bà là do bà vẽ nên – một hình ảnh có phần chủ quan mà bà đã yêu thương. Hơn thế, bà muốn giữ mãi tình yêu đó, muốn Chúa ở mãi trong cuộc đời bà theo cách thức của bà, theo một khuôn mẫu bà vạch sẵn… Nhưng Chúa Giêsu là con người cho mọi người và tình yêu của Ngài được dành cho tất cả nhân loại chứ không của riêng ai. Vì Chúa Giêsu không như bà nghĩ, cho nên, dung mạo Chúa Phục sinh đứng trước bà vừa thân thương nhưng lại vừa xa lạ là thế.

Thế thì, các tông đồ, mỗi người suy nghĩ và muốn Chúa thực hiện chương trình cứu độ của Cha theo cách riêng của mình, nên khi không được như ý thì các ông lại không bình an. 

Người lữ khách trong bài hát “LỮ KHÁCH BÌNH AN” của tôi là một lữ khách mang dấu ấn của người con được Thiên Chúa yêu thương. Người lữ khách này không đi trên đường về Emmau như hai môn đệ, cũng không trên đường ra mộ Chúa như Maria… mà đang lữ hành trong thân phận làm người, làm con Thiên Chúa của mình, người lữ khách ấy đang lữ hành trên con đường trần gian và đang tiến về miền đất yêu thương vĩnh cửu. 

Khi viết bài hát này, hơn bao giờ hết tôi đã cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa và cảm nghiệm rất sâu sắc thân phận làm người của mình, một người con đã ngụp lặn trong thân phận bất toàn và đã cảm nghiệm hơn bao giờ hết nỗi bất lực ấy. Với những ước muốn rất là con người, rất ư tầm thường mà tôi đã viết lên ca khúc; không chỉ cho chính mình, mà cho cả anh chị em đang sống xung quanh, những người cùng đang chia sẻ thân phận làm người và làm con Thiên Chúa với mình và khao khát “BÌNH AN”.

Cũng như hai môn đệ, Maria và các tông đồ… Người lữ khách ấy là tôi, là anh, là nhân loại đang khắc khoải trong cảm giác không bình an của mình. Không bình an vì nhiều nguyên do; với hai môn đệ và các tông đồ, rào cản cho sự bình an là nỗi thất vọng cho một dự tính nhằm vào vương quốc Israel, nhắm vào quyền hành, vào vị thế… rào cản của Maria là một tình yêu không ban phát. Còn tôi, anh và nhân loại… chắc hẳn mỗi người có một vị thế khác nhau trong xã hội, trong Giáo hội nên chắc chắn mỗi người có những rào cản khác nhau khiến chúng ta không bình an.

Ca khúc thể hiện những cụm từ : tiền tài, danh vọng, kiêu căng, ganh tị và đau khổ… xem ra rất quen thuộc và rất tầm thường ấy nhưng lại là rào cản khó vượt cho những ai khao khát sống bình an. Đặt tâm trạng vào bài hát, sẽ cảm nghiệm những tranh giành ảnh hưởng lên nhau đều bắt nguồn từ mưu lợi; là sức mạnh, là tiếng nói có thế giá của con người, của chế độ. Nó có sức chi phối, thậm chí đè bẹp lên vị thế và nhân phẩm của người khác, khiến Thiên Chúa không còn là nguồn bình an, mà trớ trêu thay, trở thành rào cản cho những toan tính của chúng ta.

Những toan tính ấy chắc chắn sẽ chi phối, sẽ biến thái tình cảm : “ganh ghét, giận hờn, so đo…”, là những ngôn từ thể hiện bản chất rất là con người của lữ khách. Nhưng lữ khách của tôi ý thức được những điều ấy không đẹp lòng Chúa, cũng chẳng hợp lòng nhau. Có thể thành công của người này lại là thất bại của người khác, hạnh phúc của mình có khi là đau khổ của những anh chị em khác. Vì thế, lữ khách của tôi tìm về nguồn xuất phát của sự bình an là Thiên Chúa. Phó thác như Chúa Giêsu đã phó thác vào tay Cha, yêu thương như Chúa Giêsu đã yêu thương, và tha thứ như Chúa Giêsu đã tha thứ… tôi nhận thức rằng, tự bản chất “BÌNH AN” của Thiên Chúa và toan tính của thế nhân sẽ loại trừ nhau. “Bình an” phủ định danh vọng, tiền tài, ganh ghét, giận hờn, kiêu căng hay đau khổ; chúng sẽ không tồn tại bên nhau. Tuy nhiên, vì là con người nên “cỏ lùng và lúa” vẫn phải sống chung trong một ruộng của chủ cho đến ngày tận thế. 

Còn tôi, là một dân đen, tôi không có tham vọng khôi phục “vương quốc” hay đạt được một vị trí nào đó trong xã hội hay trong Giáo hội… Vì thế, rào cản làm cho tôi không bình an chắc hẳn không phải là tiền tài, vì tôi không có nhiều tiền đến nỗi phải chi phối cuộc sống của người khác, cũng không phải là danh vọng, thế giá, vì tôi có “danh” đâu mà “vọng”, cũng chẳng có vị thế để đứng trên “giá”. Có thể, với tôi là một kiến thức giới hạn, vì có kiến thức là có suy tính, đúng sai, khoa học… và rồi trong tình yêu tôi cũng sẽ phán đoán đúng sai, cách khoa học như thế với Thiên Chúa, với anh chị em quanh tôi. Trong khi thước đo tình yêu là con tim mà con tim thì không cần kiểm chứng bằng khoa học, cũng như thể việc bác ái không cần phán đoán đúng hay sai… Điều mà xem ra rất nghịch lý nhưng lại rất hợp lý đối với tình bác ái, với tình yêu thương…

Điều chắc chắn là Chúa không bảo tôi – trong xã hội này, hôm nay – yêu đồng loại mà không cần có kiến thức. Nếu như bình an và tính toán loại trừ nhau, thì kiến thức và con tim tồn tại song song bên nhau. Con tim cần có lý trí để thể hiện tình yêu cách phải lẽ. Tình yêu và lý trí bổ sung cho nhau, dung hoà lẫn nhau để tạo lòng bác ái, và để từ đó những lời nói xoa dịu những vết thương lòng, để từ đó phát sinh nghĩa cử, vì như Thánh Giacôbê đã nói : “Đức tin không hành động là đức tin chết”. 

Xã hội hôm nay có thể nói là một xã hội điện toán, cho nên con người hôm nay là những con người có tính toán; tính như thế nào để có thể tiện lợi, đạt hiệu quả cao nhưng phải rất “nhanh như điện”. Tôi cũng vậy, dù muốn dù không cũng phải sống trong dòng chảy ấy. Và vì thế, trong cuộc sống thay vì tôi phải nằm trong chương trình của Thiên Chúa, phải là công cụ để Chúa điều khiển cho công trình cứu độ của Ngài, phải là người để được Thiên Chúa yêu thương, thì tôi lại đặt Thiên Chúa vào trong chương trình của tôi, vào sự sắp xếp của tôi, tôi chỉ dành riêng cho Chúa một góc trong tâm hồn và một khoảng thời gian giới hạn để gặp gỡ. Nhưng khoảng thời gian gặp gỡ ấy mấy khi được trọn vẹn và ở bên Ngài như ở bên một người xa lạ. 

Bài hát “LỮ KHÁCH BÌNH AN” thấm đẫm tâm hồn tôi, vì những tính toán xem ra rất nhỏ nhoi ấy lại là rào cản rất lớn cho bước chân tôi đến với Chúa, đến với với tha nhân. Lời của ai đó làm tôi nhớ mãi : « Đừng thấy nhỏ nhoi mà tưởng trong nó thứ gì cũng nhỏ ». Thật vậy, tội nhỏ mà tôi thường gọi là tội nhẹ, cũng như những tật xấu cỏn con mà tôi xem thường, thật ra, có sức công phá mãnh liệt, và nếu không lưu tâm sẽ có thể làm tôi quỵ ngã bất cứ lúc nào. 

Lời bài hát như vừa là một lời thầm nguyện cầu, như vừa khắc khoải sâu lắng từ trong cõi thâm sâu của tâm hồn, như vừa là một bài học nhắc nhở tôi luôn ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa là suối nguồn bình an. Nơi ấy, tôi học được bài học phó thác, yêu thương; tôi hiểu được Thiên Chúa sẽ hoàn tất công trình cứu độ của Ngài trên sự yếu đuối, bất toàn của tôi và của anh chị em sống bên tôi.

Xin mời Bạn cùng với tôi, chúng ta hãy bắt đầu nhón gót để làm người “LỮ KHÁCH” bước đi trong “BÌNH AN” cuộc đời. 

Xin mở link youtube dưới đây để nghe bài hát LỮ KHÁCH BÌNH AN qua giọng hát của nam danh ca Phan Đinh Tùng, và diễn ảnh do Trúc Tiên thực hiện : https://youtu.be/8JMb6HTO1lA

 Văn Duy Tùng         




Bữa Ăn Một Mình – Cố Văn Sĩ HUY PHƯƠNG

Nhà văn Huy Phương đã ra đi nhưng còn để lại đời những bài viết rất đồng điệu, thấm thía.
********
Hiện nay tôi đang sống với gia đình cô con gái út. Cháu có một gái đã trưởng thành sống ở tiểu bang khác và một cháu trai đang học năm cuối của trung học. Chồng cháu thỉnh thoảng phải đi làm xa. Hai vợ chồng tôi đã đến tuổi già gần đất xa trời, nên thời khắc biểu của những thành viên trong gia đình rất khác nhau, nên ít khi chúng tôi ngồi lại cạnh nhau cùng ăn chung một bữa cơm. Buổi sáng thức dậy trễ, thì con cái đã đi làm, cháu đã đến trường, vợ thì luẩn quẩn ở sau khu vườn nhỏ, đành ngồi ăn sáng một mình. Buổi tối, thấy cơm canh đã sẵn sàng nhưng chưa thấy ai sẵn sàng cùng ăn với mình. Gọi vợ thì vợ bảo:

“Ông cứ ăn đi, tôi mới ăn củ khoai, còn ngang bụng!” 

Gọi con thì con thưa: “Ba cứ dùng cơm đi, con đang bận tay!” 

Ðứa cháu thì khi hiện khi biến, chẳng mấy khi gặp mặt, có khi ăn ở trong bếp hay đem phần ăn lên phòng riêng để có sự tự do một mình.

Tôi muốn có những bữa ăn đông người, vui vẻ, có tiếng cười nói rộn ràng, nhưng thường là phải ăn những bữa ăn một mình. Bữa ăn một mình thì đâu cần đến mâm bàn dọn ra ngay ngắn, tươm tất, sao cũng cho xong một bữa ăn. Một tô cơm trộn thức ăn, và một cái muỗng, ngồi trước máy computer hay trước máy truyền hình.

Bạn có nghĩ một bữa ăn như thế có dễ tiêu hoá, có lợi cho sức khoẻ hay không? Và một bữa ăn như thế có buồn không?

Tôi không bao giờ quên được những bữa ăn gia đình thời thơ ấu. Tất cả mọi người trong gia đình đều chờ nhau vào mâm cơm một lượt, dù là buổi sáng giờ trưa hay bữa chiều tối. Bữa cơm có cả ông bà nội, cha mẹ, cả anh chị cùng mấy đứa em nhỏ, kể cả thành viên nhỏ bé của đại gia đình là con mèo vàng luẩn quẩn chờ miếng ăn trong lòng bà nội tôi.

Rồi thời gian qua đi, kẻ còn, người mất, gia đình mỗi người một nơi. Tôi lớn lên, tạo lập một gia đình nhỏ, có những bữa ăn sum họp gia đình, nhưng không quên được những người đã đi xa, không còn hiện diện trên cuộc đời này nữa.Rồi chiến tranh, tù đày, xô đẩy con người mỗi người đi mỗi hướng.

Trong một trại tù nào đó, trên cái chõng tre tập thể, hay bữa trưa ngoài bìa rừng, tôi ngồi dùng đũa đếm những hạt ngô bung, xót xa nhớ đến những bữa cơm gia đình. Khi tôi từ nhà tù trở về, thì bữa cơm không còn là bữa cơm nữa. Con tản mát, vợ chạy gạo mỗi ngày, nồi cơm lạnh lẽo trên bếp, ai thấy thì ăn.

Thời Cộng Sản vào nhà, không còn hai chữ “sum họp,” cũng chẳng còn câu “ngồi lại với nhau.”

Ra hải ngoại, thì cái văn hoá “bữa cơm gia đình” cũng đã mờ nhạt. Ly cà phê bữa sáng trên xe, cái hamburger cùng ly coke vào giờ lunch và những buổi tối về nhà trong giờ giấc trước sau không đồng nhất. Phải chờ đến những ngày Lễ Tết, sinh nhật, cha con, anh chị em họa hoằn mới có dịp ngồi lại trong những bữa tiệc cuối tuần.

Các bạn còn trẻ có lẽ chưa cảm nhận được nỗi buồn khi phải ngồi ăn một mình. Thức ăn có ngon đến đâu, bổ dưỡng đến đâu mà không “dịch vị” của tiếng cười, niềm vui, chỉ còn “gia vị” của cô đơn, buồn nản, thì bữa ăn ấy chỉ còn là bổn phận ăn để sống.

Chính các vị y sĩ cũng đã khuyên người già “ăn uống phải có bạn, nên ăn chung với gia đình hay con cháu. Về phần con cháu, cũng không nên để cho cha mẹ mình ăn uống trong cô đơn buồn tẻ, vì khi ăn một mình, sẽ kém vui, và ăn ít đi, không tốt cho sức khoẻ. Sự cô đơn sẽ làm miếng ăn thêm cay đắng.”

Rõ ràng là tâm lý đã tác dụng vào sinh lý. Dù đau yếu, suy kiệt, mòn mỏi nhưng tôi vẫn nghĩ rằng những người sống chung với con cháu, hay còn vợ chồng có khả năng sống lâu hơn là những ông bà cụ già hiện đang sống một mình trong những căn phòng lạnh lẽo của những căn “nursing home.”

Trong nhà dưỡng hưu, tôi đã thấy những bữa cơm gọn gàng trong những cái khay nhỏ do nhà bếp đưa đến tận giường, để cả giờ nguội lạnh mà các ông bà vẫn chưa muốn ăn.

Tôi đã đến thăm nhà thơ Nguyễn Chí Thiện lẻ loi trong căn nhà già ở Santa Ana lúc ông chưa vào bệnh viện. Lúc ấy vào buổi xế trưa, mà từ sáng đến giờ, nồi cơm điện còn nguyên chưa được xới ra trên bếp, thức ăn còn để lạnh ngắt trong tủ lạnh. Ông thú nhận là ông không muốn ăn, mà chỉ ăn vì “nghĩa vụ,” một nghĩa vụ nặng nề! Chung quy cũng vì nỗi buồn cô đơn, thui thủi một mình.

Keith Ferrazzi, tác giả cuốn sách “Ðừng bao giờ đi ăn một mình (Never eat alone) không nói về sự cô đơn mà nói về sự giao tiếp đưa đến sự thành công và hạnh phúc cho cuộc sống.

Chúng ta không bàn đến chuyện “ăn một mình” theo lối này.

Ðã đi hết một chặng đường dài, đã lo toan cho mọi thứ, nhưng cuối cùng tuổi già cô độc bên mâm cơm, lặng lẽ một mình.

Những bậc cha mẹ già không mong con tặng quà, phải chi con ghé nhà thăm, ngồi ăn với cha hay mẹ một bữa cơm, nói cười như thuở ấu thơ.

Huy Phương




SƯU TẦM LỜI HAY Ý ĐẸP -VTLV




Kế Hoạch Ngàn Nhân Tài Của Trung Cộng – GS TS MAI THANH TRUYẾT




Thứ Sáu 22 Tháng 4/2022 – NGÀY TRÁI ĐẤT – LÊ VĂN HẢI

Nhắc nhở: Thứ Sáu tuần này, 22 tháng 4/2022. Ngày Thế Giới chung tay bảo vệ Trái Đất! (Earth Day!)

*Câu truyền tụng trong dân gian: “Chim trời, cá nước, kho thiên nhiên vô tận, Trời ban cho con người, tha hồ xài phung phí, không bao giờ hết!”

*Hơn một nửa thế kỷ qua, các nhà khoa học đã khẩn thiết cảnh báo: “Món quà Trời cho không còn nữa!” Rừng hết! sông cạn, loài vật tuyệt chủng! Vì con người không biết gìn giữ, còn tàn phá, nên tài nguyên thiên nhiên đã cạn kiệt!…đến mức báo động!

*Ngân hà cả tỉ ngôi sao, nhưng độc nhất chỉ có Trái Đất, là có đủ điều kiện để con người sinh sống mà thôi.

*Không ý thức, chung tay bảo vệ “ngôi nhà chung!” Gần 8 tỉ con người, hồn nhiên xả rác ngập trái địa cầu! thì sẽ không còn đất sống! Chưa kể còn điên cuồng, nổi hứng, nhấn nút nổ “Bom Nguyên Tử!” thì đúng là ngày…Tận Thế!

Lịch Sử Ngày Trái Đất (Earth Day, 22/4)

Là ngày vận động mọi người trên thế giới, nâng cao nhận thức và hành động, nhằm chung tay bảo vệ giá trị của môi trường tự nhiên. Mà đến nay cạn kiệt, đến mức nguy hiểm báo động Đỏ!

Ngày Trái Đất do Liên Hiệp Quốc phát động, tổ chức vào ngày 22 tháng 4 hàng năm. Nhằm khuyến khích các quốc gia, các phong trào hoạt động bảo vệ môi trường, tích cực ngăn chặn các thảm họa thiên nhiên đang xảy ra thường xuyên hơn, do biến đổi khí hậu và tàn phá môi trường, do con người gây ra.

Ngày Trái đất được khởi xướng bởi một Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, là ông Gaylord Nelson. Được tổ chức lần đầu tiên vào 22 tháng 4 năm 1970.

Qua hơn nửa thế kỷ, hiện nay, Ngày Trái Đất được hưởng ứng mau chóng, lan rộng tổ chức hằng năm, tại hơn 192 quốc gia trên toàn thế giới! Năm 2009, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tuyên bố chính thức, lấy ngày 22 tháng 4 là ngày Quốc tế Mẹ Trái Đất! (International Mother Earth Day!).

Và Thứ Sáu tới dây, ngày 22 tháng 4 năm 2022, kỷ niệm Ngày Trái Đất lần thứ 52!

Những Hoạt Động Trong Ngày Trái Đất:

“Thực Hiện Giờ Trái Đất!” Được tổ chức bởi WWF, là một phong trào cơ sở toàn cầu đoàn kết bảo vệ hành tinh này. Giờ Trái đất nổi tiếng, làm gương, đi đầu, là một sự kiện “Tắt Hết Đèn Điện!” ở thành phố Sydney, Australia vào năm 2007.

Kể từ đó, nó đã phát triển và thu hút hàng triệu, triệu người ủng hộ, hơn 185 quốc gia đồng loạt tham gia! “Giờ cúp điện chung trên toàn Trái Đất!” thời gian một tiếng, Trái Đất chìm đắm trong bóng tối lạnh lẽo, truyền cảm hứng cho các cá nhân, các tổ chức trên toàn thế giới, hành động cho môi trường. Thúc đẩy những thay đổi lập pháp lớn, bằng cách khai thác sức mạnh ý thức của đám đông, quần chúng. Khi phong trào phát triển, sự kiện tắt đèn kéo dài một giờ, tiếp tục là biểu tượng của một cam kết rộng lớn hơn, đối với thiên nhiên, bảo vệ hành tinh càng ngày càng tốt đẹp của chúng ta và con cái chúng ta.

Trong Ngày Trái đất, người ta cũng thường tổ chức các hoạt động, nhằm mục đích tăng cường hoạt động bảo vệ môi trường, như quảng bá, kêu gọi mọi người ý thức chung sức bảo vệ làm sạch nơi mình sống, tổ chức trồng cây xanh, thu gom rác thải, bảo vệ thiên nhiên. Kiếm cách “Sơn Lại!” Trái Đất nhiều mầu xanh hơn! cho đẹp đẽ và tràn đầy sức sống.

Những câu nói hay về Trái Đất

Trái Đất hay Địa Cầu, là hành tinh thứ ba tính từ Mặt Trời, đồng thời cũng là hành tinh lớn nhất trong các hành tinh đất đá của hệ Mặt Trời. Độc nhất có cây cỏ, súc vật, sông biển, không khí và …con người!

Sau đây một vài câu danh ngôn nói về Ngôi nhà chung của con người sinh sống!

-Quá nguy hiểm! Ôi, con người đã đánh mất khả năng nhìn xa và ngăn chặn. Rồi cuối cùng họ sẽ hủy diệt trái đất này thôi! (Albert Schweitzer)

-Biết cách giữ gìn, Trái Đất ngập tràn mầu xanh, hương thơm, tràn ngập sự sống, như chốn thiên đường! Ngược lại, hôi thối như một …bãi rác! (Elizabeth Barrett Browning)

-Trái đất không thể sinh ra lục địa mới, để tồn tại, nó cần những con người có tư duy mới! (Jules Verne)

-Tôi thấy biết ơn, cảm tạ Trời. Vì có cơ hội được sống trên Trái đất tươi đẹp và kỳ diệu này. Vào mỗi buổi sáng, bình minh đánh thức tôi thức dậy, với cảm giác tràn ngập lòng biết ơn. Mây trời đìu hiu, gió mát, chim hót trên cây. Tôi sẽ nâng niu, bảo vệ món quà quý từ Thượng Đế này! (Earl Nightingale)

-Vì trái đất tròn! nên tôi có niềm tin rằng: Những người thương yêu tử tế thật lòng, cứ đi mãi một vòng, rồi chúng ta sẽ lại về lại bên nhau! (Vô danh)

-Nếu trái đất hình vuông, thì ta sẽ có các góc cạnh để ẩn náu. Nhưng tiếc thay, nó lại hình cầu, nên chúng ta phải đối diện với cuộc đời! (Antoine De Saint Exup)

Mách Bạn những cách đơn giản, chung tay bảo vệ môi trường.

Những cách dưới đây, có thể sẽ rất nhỏ, nhưng sẽ góp công lớn trong việc bảo vệ môi trường và hưởng ứng “Giờ Trái Đất, Ngày Trái Đất 2022!”

1. Tái tạo rác thải hữu cơ thành phân compost

Bạn có thường xuyên nấu ăn cho gia đình không? Gia đình bạn có một góc nho nhỏ để trồng rau, trồng cây không? Nếu có, hãy tận dụng tốt nhất, để chế biến rác thải rau củ, thành phân bón cho sinh hoạt ngay tại nhà bạn nhé!

2. Hạn chế, hay không sử dụng bao nilon

Vì sự tiện lợi, giá thành rẻ, thành thói quen cho việc sử dụng bao nilon một cách “vô tội vạ”. Nhiều quốc gia vẫn còn giữ thói quen tai hại này. Mua sách đựng bằng bao nilon, mua quần áo đựng bằng bao nilon, thức ăn, thức uống đựng bằng bao nilon, hay thậm chí các loại sản phẩm cũng đựng bằng bao nilon,…

Tất cả hoạt động mua bán quanh chúng ta đều sử dụng “Bao Nilon”. Vậy nên hàng ngày bao nilon chiếm tới gần một nửa lượng rác thải ra ngoài môi trường hàng ngày. Nhưng các bạn có biết không? Theo các nhà nghiên cứu khoa học, bao nilon phải mất từ 500 đến 1000 năm để phân hủy trong môi trường tự nhiên!

Bao nilon quả là loại rác thải nguy hiểm nhất cho hành tinh của chúng ta! Chúng có thể gây ảnh hưởng tới sinh vật ở sông, biển, cả trên mặt đất và đặc biệt gây hại tới sức khỏe con người. Vì chúng có thể thải ra một thứ chất độc cực kỳ nguy hiểm, giết chết các sinh vật cả trên đất lẫn dưới nước. Vì vậy hạn chế sử dụng bao nilon là chuyện cấp thiết nhất phải làm.

Thay vì dùng bao nilon, hãy sử dụng bao vải, bao giấy để giảm thiểu tai hại này.

3. Sử dụng đồ đựng đồ ăn, uống, có thể sử dụng lại

Nếu bạn là sinh viên, là một người đang làm trong văn phòng công ty, nhưng không có thời gian nấu ăn và luôn luôn ăn ngoài. Vậy cách để bạn bảo vệ môi trường là làm gì? Hãy tự chuẩn bị cho bản thân những hộp đựng thủy tinh, để đựng những món ăn hàng ngày của bạn. Làm như vậy bạn đã giúp môi trường ít tiếp nhận, những loại rác thải như bao nilon, hộp xốp, ly nhựa rồi đấy!

4. Tiết kiệm điện

Đối với bạn thì việc tiết kiệm điện sẽ có lợi ích rất nhiều. Tiết kiệm điện là tiết kiệm tiền, tăng tuổi thọ của các dụng cụ xài bằng điện. Bạn có biết, khi năng lượng điện được tạo ra, thì lượng khí thải từ các nhà máy điện, gây ô nhiễm môi trường rất lớn. Dẫn đến việc hiệu ứng nhà kính, trái đất nóng lên từ đó, mà khí hậu thay đổi thất thường, là lý do gây nhiều tai họa thiên nhiên. Vì vậy, tiết kiệm điện là tốt cho túi tiền nình, mà còn là giúp ích trong việc bảo vệ môi trường.

5. Tiết kiệm nước

Nước là vô tận vì nước chiếm tới ba phần tư bề mặt trái đất. Nhưng bạn có biết nước ngọt mà chúng ta sinh hoạt hàng ngày, chỉ chiếm hơn 1% có thể dụng ngay. Nên việc tiết kiệm nước là vô cùng quan trọng và đặc biệt trong những năm hạn hán gần đây. Khí hậu thay đổi thất thường, khiến người dân không thể có đủ nước dùng. Nhiều quốc gia đã lên tiếng báo động: “Không có đủ nước sạch để sử dụng!” Vì vậy, việc tiết kiệm và sử dụng hợp lý nước sạch, thật sự rất cần thiết.

6. Hạn chế sử dụng xe chạy bằng xăng, nên đổi xe điện!

Tác nhân lớn tạo ra khí gây ô nhiễm là do phát thải CO và VOC, từ bộ phận trong các xe chạy bằng xăng.

Bạn có thể đi nhờ với một người bạn, đồng nghiệp, hoặc sử dụng các phương tiện công cộng. Hay nếu địa điểm đến rất gần, bạn có thể đi bộ hay dùng xe đạp đến đó. Đây là những cách mà bạn có thể góp phần để bảo vệ môi trường, lại tăng cường sức khỏe.

7. Phân loại rác hợp lý

Hãy tự giác bản thân và nhắc nhở bạn bè của mình, hãy phân loại rác thải. Việc đơn giản nhất mà bạn làm, đã giúp bảo vệ môi trường rất tốt. Bạn cứ nghĩ, nếu bạn luôn vứt chung những loại rác chung với nhau, việc tiêu thụ rác sẽ khó khăn hơn rất nhiều, tốn chi phí hơn nhiều. Nếu bạn phân loại, thì lượng rác thải ra sẽ trở nên ít hơn và một phần rác khác, có thể được tái chế vào các sản phẩm khác dùng sau này.

8. Thu gom pin hỏng

Rất nhiều sản phẩm được sử dụng pin trong cuộc sống hiện đại ngày nay. Vì vậy số lượng pin được tiêu thụ rất lớn. Nhưng bạn đã ý thức được sự nguy hiểm của chúng chưa? Bạn có biết được pin chưa rất nhiều lượng đồng, chì hay thủy ngân không.

Một khi bạn vứt chúng vào rác, mà không phân loại chúng ra, có thể chúng sẽ làm ô nhiễm đất hay nước ở đâu đó rồi. Pin thật sự nguy hiểm và gây ô nhiễm nặng. Vì vậy việc thu gom pin cũ và hỏng thật sự rất quan trọng. Hãy ý thức ngay việc thu gom pin cũ ngay trong gia đình bạn!

9. Sử dụng bánh xà phòng

Bạn sử dụng bánh xà phòng có nghĩa bạn đã bảo vệ môi trường. Vì sao? Những cục bánh xà phòng thường, thì nhà sản xuất sử dụng hộp giấy để đựng. Còn nếu bạn sử dụng chai, một khi hết, bạn sẽ lại thải ra một chai nhựa, cộng thêm một chút hóa chất còn lại đáy chai, có thể gây ô nhiễm ngoài môi trường. Vì vậy hãy nên sử dụng những cục bánh xà phòng, để hạn chế lại việc rác thải là nhựa nhé!

10. Không thả bóng bay!

Tại sao việc thả bóng bay lại ảnh hưởng đến môi trường? Bạn có nghĩ bóng bay có thể bay mãi không? Thường thì khi bạn thả những quả bóng bay, hơn 70% chúng sẽ bay ra các ao hồ, sông hay biển, vì chúng bay theo chiều gió. Và như vậy chúng ta đã vô tình làm ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới các loài sinh vật biển, hồ, sông.

Bởi bong bóng được làm từ nhựa, nên rất khó để phân hủy và đây có lẽ là những cái bẫy gây sinh vật biển chết do mắc phải, hay ăn nhằm quả bóng. Vì vậy việc thả bóng bay trong các ngày lễ là không cần thiết, và các xưởng chế tạo, nên hạn chế việc sản xuất bóng bay ngay nhé!

Kết

*Có rất nhiều cách để bạn có thể bảo vệ môi trường. Vì vậy, chỉ cần khi bạn có ý thức, nhắc nhở với những người chung quanh, truyền bá rộng xã hội, để tiến đến có một môi trường sống thật “xanh, sạch, đẹp”. Giữ Trái Đất trường tồn! Một người thì không thể, nhưng tất cả chúng ta , thì…có thể!

“Nhà sạch thì mát! Bát sạch thì ngon!” cùng nhau bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta! Ngôi nhà duy nhất!

Happy Earth Day 2022!




Tin Vui Rất Lớn: Giáo Hội Công Giáo VN Có Thêm Một Vị Thánh! LÊ VĂN HẢI

Tin vui rất lớn: Giáo Hội Công Giáo VN có thêm một Vị Thánh!

Mùa Hè 2023, tiến trình Phong Thánh cho LM Phanxicô Trương Bửu Diệp vào giai đoạn hoàn tất!

*LM Diệp sau khi tử đạo, đã làm nhiều phép lạ, ban ơn lạ nhiều nhất từ xưa tới nay! Nhiều người cầu xin, toại nguyện và biết đến danh Cha nhất! Hay hơn nữa, người được ơn, lại không phân biệt tôn giáo!

*Sau ngày Cha Diệp tử nạn, 76 năm chờ đợi, giờ đã “Sinh Hoa Kết Trái!” Một trong những niềm vui chung, lớn nhất của Giáo hội Công Giáo VN.

*Việt Nam được xếp vào các Quốc Gia, có nhiều Vị Thánh nhất trong Giáo Hội Thiên Chúa Hoàn Vũ! Minh chứng đã được Thiên Chúa thương yêu cách riêng!

Loan Báo Tin Mừng:

Trong Thánh Lễ long trọng tại Trung Tâm Công Giáo Việt Nam, thuộc Giáo Phận Orange, Santa Ana, Nam California. Thứ Bảy, Ngày12 Tháng Ba, Năm 2022 vừa qua. Gồm trên 500 giáo sĩ và giáo dân tham dự để cầu nguyện, nhân ngày giỗ 76 năm, “Tôi Tớ Chúa” là  Linh Mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, bị Việt Minh sát hại vì đức tin! (Khi chưa tuyên bố mình là Cộng Sản, sợ lộ bộ mặt gian ác, dân sẽ không theo, nên lúc đó, họ hoạt động, lấy tên là Việt Minh! Nên Việt Minh hay Cộng Sản, cũng là một!)

Trong thánh lễ, Linh Mục Dương Hữu Nhân, đã báo một tin vô cùng vui mừng, hoan hỉ với người Công giáo nói riêng, với VN nói chung: “Hội Đồng Sử Gia của Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, tiến trình khó khăn nhất Tuyên Thánh Cha Phanxicô Xaviê đã thông qua! và mọi việc sẽ hoàn tất vào mùa hè 2023!”

Tiếng đồng loạt vỗ tay vang dội như pháo nổ! Bầu khí hân hoan vỡ òa! chan hòa niềm vui sung sướng! Giáo Hội Công Giáo VN lại có thêm một Vị Thánh! Hình ảnh “Ông Thánh Người Việt” sẽ được đặt trên bàn thờ Người Công Giáo khắp nơi trên thế giới, để thờ lạy tôn kính! Niềm hãnh diện vô biên! khó tả!

Tiến Trình Tuyên Thánh

Từ năm 2012, cuộc điều tra phong Thánh cấp thấp nhất từ giáo phận cho Linh mục Trương Bửu Diệp bắt đầu được tiến hành. Ngày 31 tháng 10 năm 2014, Bộ Giáo Lý Đức Tin ra tuyên bố có tên “Nihil obstat” (Không có gì ngăn trở) chấp thuận việc tiến hành hồ sơ tuyên thánh cho Cha Diệp.

Giữa Tháng Mười Hai, 2021, Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ đã minh xác: Linh Mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp bị CS còn gọi là Việt Minh hạ sát vì đức tin, tử vì đạo thay cho đoàn chiên của Ngài vào ngày 12 Tháng Ba, 1946 tại Giáo Xứ Tắc Sậy, Việt Nam.

Đây là kết quả tiến trình xem xét cẩn trọng và độc lập kéo dài mất nhiều thời gian của Hội Đồng Sử Gia Phong Thánh, gồm nhiều chuyên gia nghiên cứu lịch sử của Giáo Hội Công Giáo.

Sau khi tra cứu kỹ lưỡng, xem xét các lời khai từ phép lạ, hình ảnh minh chứng của mọi giới, nhân chứng, vật chứng, đúc kết trong một tập tài liệu điều tra dày trên 400 trang!

Tiếp theo là những cuộc “điều trần” được mở ra, để các chuyên gia lịch sử và cơ chế liên quan đến tiến trình Tuyên Thánh Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, căn cứ theo đó mà điều tra tìm hiểu hư thực.

Và Hội Đồng Sử Gia Giáo Hội đi đến kết luận chung: “Bản văn tái hiện bối cảnh chính trị xã hội chống lại đạo Công Giáo một cách quyết liệt. Qua đó, lịch sử cho mọi người thấy, một linh mục quyết tâm hướng dẫn đàn chiên và những người ngoài đạo về Đức Tin, mang nặng lòng vị tha, quên mình và dũng cảm chịu chết một cách gương mẫu!”

Văn bản đồng thời cũng minh chứng rằng, Linh Mục Diệp đã sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì lợi ích tha nhân, vì tình mến Chúa yêu Người. Nhờ đó, có thể thấy được giá trị cuối cùng, đó là linh mục quyết định noi theo gương Vị Mục Tử là Chúa Nhân Lành, không bỏ đàn chiên trong lúc gian nguy nhất! Chấp nhận để Việt Minh xử tử! chịu nhiều nhát chém, nát bấy thân thể, Ngài đã chết cho niềm tin và yêu thương tha nhân.

Hiện tại, hồ sơ Tuyên Thánh cho Linh Mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp đang được cứu xét ở giai đoạn cuối cùng, nơi chín nhà thần học làm việc độc lập, không ai biết ai. Khi có tuyên bố kết quả, toàn bộ hồ sơ với thẩm định sau cùng sẽ được trình Đức Giáo Hoàng Francis.

Sau khi Đức Thánh Cha đương kim phê chuẩn, thì Linh Mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp được tôn lên bậc Đáng Kính, cùng lúc với danh hiệu Á Thánh! Qua niền tin Công Giáo, qua Dức Giáo Hoàng, những gì được “vinh danh dưới đất, sẽ được vinh danh trên trời. Trái lại, những gì được gỡ bỏ dưới đất, thì cũng được xóa bỏ trên trời!”

Người Công Giáo Chúng ta, hãy tiếp tục gia tăng lời cầu nguyện, cho ước vọng chung cao đẹp này sớm thành hiện thực. Để có ngày huy hoàng, Ngài được tôn kính trên bàn thờ của mọi Kitô hữu, trên toàn thế giới!

Nếu Mùa Xuân năm 1946, giáo dân Giáo Xứ Tắc Sậy đã mang niềm đau, mất vị Mục Tử yêu thương chia sẻ nâng đỡ và bảo vệ mọi người, thì như sự kiện “hạt lúa mì gieo vào lòng đất” đã đến giờ chín vàng, tỏa hương thơm ngào ngạt trên quê hương Việt Nam.

Nay đang trổ sinh hàng triệu hoa trái, làm cho hàng triệu con tim Công Giáo vui mừng, cảm tạ vì những ơn lành Chúa đã tuôn đổ rõ ràng, hiển thị trước mắt, qua những phép lạ được minh chứng, trên đời sống của những ai tin và cầu xin Linh Mục Phanxicô Xaviê đều được đáp ứng!

Tiểu Sử Người Mục Tử Tốt Lành!

Cha phanxicô Trương Bửu Diệp sinh ngày 1 tháng 1 năm 1897 tại làng Tấn Đức, nay thuộc ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới tỉnh An Giang. Thân phụ là ông Micae Trương Văn Đặng (1860-1935), thân mẫu là bà Lucia Lê Thị Thanh. Được linh mục Giuse rửa tội ngày 2 tháng 2 năm 1897 tại họ đạo Cồn Phước, lấy tên thánh là Phanxicô.

Năm 1904, lúc lên bảy tuổi thì mẹ mất, theo cha đến Battambang, campuchia sinh sống bằng nghề thợ mộc. Tại đây, người cha lấy bà Maria Nguyễn Thị Phước, sinh năm 1890, quê quán họ Mỹ Luông, Chợ Mới, An Giang.

Năm 1909, linh mục Phêrô Lê Huỳnh Tiền đưa cậu Trương Bửu Diệp nhập Tiểu Chủng Viện Cù Lao Giêng, xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Mãn tiểu chủng viện, thầy Diệp lên Đại Chủng Viện Nam Vang, Campuchia vì thời ấy, các họ đạo trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long đều trực thuộc Giáo phận Nam Vang.

Năm 1924, sau thời gian tu học, thầy Diệp được thụ phong linh mục tại Nam Vang, thời Giám mục Valentin Herrgott cai quản. Năm 1924-1925, linh mục Phanxicô được bề trên bổ nhiệm làm cha phó họ đạo Hố Trư, một họ đạo của người Việt sinh sống tại Kandal, Campuchia. Năm 1927-1929, ông về làm giáo sư tại Chủng Viện Cù Lao Giêng.

Cha Xứ Họ Đạo Tắc Sậy

Tháng Ba năm 1930, Linh Mục Phanxicô Diệp về nhận nhiệm sở tại họ đạo Tắc Sậy. Trong những năm làm chính xứ, ngài đã liên kết, giúp đỡ để thành lập thêm nhiều họ đạo lân cận như: Bà Đốc, Cam Bô, An Hải, Đầu Sấu, Chủ Chí, Khúc Tréo, Đồng Gò, Rạch Rắn. Năm 1945-1946, chiến tranh loạn lạc, giáo dân phải di tản khắp nơi, linh mục bề trên của giáo phận là Trần Minh Ký ở Bạc Liêu và cả người Pháp cũng khuyên ngài đi lánh nạn, khi nào tình hình yên ổn thì hãy trở về họ đạo, nhưng ngài đã từ chối và cương quyết trả lời: “Phận sự tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết, cũng chết giữa đoàn chiên! Tôi sẽ không đi đâu hết!”

Cuộc Tử Đạo Của Người Mục Tử!

Năm 1945, toàn dân vùng Tây Nam Việt, nổi lên phong trào vùng dậy chống Pháp. Khi đó phần lớn vùng này Việt Minh vừa tiếp quản từ quân Nhật giao lại. Ngày 12 tháng 3 năm 1946, ngài bị Việt Minh bắt cùng với trên 70 giáo dân của họ đạo Tắc Sậy, bị giam chung với con chiên bổn đạo trong lẫm lúa của ông Giáo Sự tại Cây Dừa. Vì bênh vực quyền lợi của giáo dân, cự tuyệt, kháng cự những hành động tàn bạo đàn áp người dân. Nên Ngài đã xin chết thay cho những người bị bắt chung. Dĩ nhiên CS ghét Ngài cay đắng từ lâu, nên đồng ý liền! Và ngài bị Việt Minh giải đi hành quyết, xử tử bằng gươm, chém nhiều nhát trên thân thể!

Đêm đó ngài linh thiêng, hiện về báo mộng và giáo dân tìm đến nơi ngài chỉ, tìm thấy xác ngài dưới một cái ao nhà ông Giáo Sự, với rất nhiều vết chém sau ót, sau lưng, ngang mang tai, bê bết máu. Và tội nghiệp, đau thương, thân xác Ngài trần truồng, không một miếng vải! Có lẽ Việt Minh rất căm thù Ngài, nên cho hình ảnh Ngài chết giống Chúa Kitô trên Thập Giá! Sau đó, thi hài Ngài được chôn cất trong phòng thánh nhà thờ Khúc Tréo. Đến năm 1969, hài cốt được dời về nhà thờ Tắc Sậy, là nơi Ngài làm quản xứ trong 16 năm.

Tiếng Lành… Đồn Xa! Khắp Nơi Kéo Đến Hành Hương Với Lòng Tôn Kính:

Hàng năm, vào những ngày 11 và 12 tháng Ba dương lịch (ngày Cha Trương Bửu Diệp qua đời) là lúc rất nhiều người không kể lương giáo, từ khắp nơi đến họ đạo Tắc Sậy, một họ đạo nhỏ nay thuộc Giáo phận Cần Thơ, nằm trong địa bàn của xã Tân Phong, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, là nơi chôn cất hài cốt và di ảnh của Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp để khấn xin. Hiện nay, cứ vào ngày “Giỗ” của Ngài, quy tụ đông đảo, ít nhất từ 60 đến hằng trăm ngàn người tham dự, đông nghẹt như kiến! Khách sạn, nhà trọ, không đủ chỗ, nhiều người phải đóng lều, trước đó vài ngày, mới có cơ hội chen vào tham dự lễ giỗ này.

Rất nhiều ơn lạ đã nhận được, nhất là những người ngoài Công Giáo. Hình ảnh của Ngài đã được truyền đi khắp thế giới. Chân dung Ngài được treo khắp nơi! Trong nhà, ngoài ngõ, trên xe, ngoài chợ, Ngài trở thành nơi nương tựa tâm linh, an ủi tâm hồn, không phân biệt tôn giáo.

Một Phép Lạ Của Cha Trương Bửu Diệp: Với Dòng Nước Thánh Không Bao Giờ Cạn!

-Hiện nay tại nhà thờ Khúc Tréo nơi an nghỉ đầu tiên của Cha Diệp từ năm 1946 đến năm 1969, rồi di dời Hài Cốt Cha về nhà thờ Tắc Sậy, cách Nhà Thờ Tắc Sậy nơi an nghỉ của Cha khoảng 4 dặm về hướng Cà Mau. Nơi đây đã trở thành “đất thánh!” đón nhận không biết bao nhiêu phép lạ mà Ngài đã làm, nên mới có những niềm tin tuyệt đối như thế.

 -Trong một điềm báo cho một giáo dân của Cha Diệp, vì Cha thấy lương dân rất nhiều người hiện nay đang đau khổ vì bệnh tật, Cha rất xót thương. Nên nơi chôn cất Cha, Cha báo, nhờ ai cào xuống đất khoảng hai gang tay! là sẽ có nước trong sạch phun lên! Ai đến với lòng tin tưởng nguyện xin Thiên Chúa, bệnh tật sẽ thuyên giảm, hay sẽ khỏi hẳn! “Tin thì sẽ được, gõ thì sẽ mở!”

-Điều lạ lùng, không thể tin được, là phần mộ trong phòng thánh nhà thờ cao hơn mặt đất, mà chỉ cần “cào đất xuống hai gang tay là có nước!” Mỗi ngày hàng trăm khách hành hương đến đây, múc hoài uống và mang về, mà mãi không thấy cạn!

-Hàng ngàn nhân chứng đã nhận được ơn lành từ Ngài ban, kể hoài không bao giờ hết. Đặc biệt, không phải trong nước, mà trên các báo chí Hải ngoại, đăng rất nhiều lời Cảm Tạ với Cha Diệp, sau khi đã nhận được Ơn Lành, tuần nào cũng nhận được vài ba mẫu mới là thường!

Lời Thơ Nguyện Cầu:

Cha Trương Bửu Diệp đấng anh minh

Đoàn chiên sói đến Ngài che chở

Mục Tử hy sinh hiến mạng mình

Hiến tế dâng lên muôn của lễ

Toàn thiêu nhỏ xuống nhất trung trinh

 Linh thiêng bảo trợ ai tìm đến

 Khấn nguyện cầu thay đến Thánh Linh.

Kết

Biến cố lớn có tính cách toàn cầu, Phong Thánh cho Cha Trương Bửu Diệp, là một cái tát thẳng vào mặt nhà cầm quyền Cộng Sản VN hiện nay. Chứng minh bản chất vô thần đàn áp tôn giáo từ xưa đến nay, không thay đổi, bằng chứng không thể chối bỏ.

CSVN cũng có nhiều nỗ lực, ngăn cản tiến trình Phong Thánh này, nhưng âm mưu xóa bỏ tội ác giết người tàn bạo, vì lý do đàn áp tôn giáo này đã không thành!

Luật Trời không bao giờ thay đổi, “gieo gì gặt đó” thôi! “Kẻ chơi gươm, sẽ chết vì gươm!” Kẻ CS sát hại, giờ lại được Phong Thánh! Sắp được cả thế giới tôn kính! Bộ mặt thật đàn áp tôn giáo thô bạo, lại một lần nữa, được dịp phơi bày trên toàn thế giới! để mọi người yêu chuộng tự do, cùng phỉ nhổ! (Nhưng chúng có bộ mặt dày như da trâu, da bò! nên nào biết xấu hổ!)

Có lẽ Cha Diệp còn theo lời dạy của Chúa “yêu cả kẻ thù!” nên CS mới sống đến ngày nay! Chứ cứ như người thường, nhìn là muốn…bẻ cổ! chết đi cho…cả nước nhờ! thì CS đã xóa sổ từ lâu!

Xin Chúc Mừng Giáo Hội Công Giáo VN, Với Niềm Vui Thêm Một Vị Thánh!