NGỌC HUYỀN (SỎI NGỌC) – CA KHÚC Niềm Đau Dĩ Vãng




BẢO TRÂM: CẢM NHẬN VỀ MINH THÚY THÀNH NỘI




VTLV: THÀNH KÍNH TIỄN ĐƯA – Vĩnh Biệt Chiến Hữu – Nhà Văn, Cựu Thiếu Tá QLVNCH LÊ PHI Ô.

==

CA KHUC TIỄN TÌNH VÀO MIÊN VIỄN – THƠ NGUYỄN PHAN NGỌC AN – Nhạc & Viedeo: Phương Hoa – Hòa Âm & hát: Suno AI

==

TIỄN TÌNH VÀO MIÊN VIỄN

Em quỳ xuống và âm thầm cầu nguyện

Nhờ Phật Trời mầu nhiệm cứu tha nhân

Dìu dắt người yêu đã lánh cõi trần

Vào miên viễn, cho em lần vĩnh biệt !!!

.

Đôi mắt anh đâu nhìn em tha thiết

Mà ngậm ngùi khép chặt đến thiên thu

Nụ hôn xưa tan rã tựa sương mù

Vòng tay ấm chỉ còn …là băng lạnh

Anh nằm đó…ôi một đời bất hạnh

Đã lặng im vào thế giới vô hình

Em gọi tên, anh cứ mãi lặng thinh

Lời mật ngọt theo anh về cát bụi !

.

Anh ra đi lòng còn mang hận tủi

Một kiếp người  vương lắm nợ phong sương

Vẫn hoài mong ngày trở lại quê hương

Nay đã gửi xương tàn nơi đất lạ…

.

Xót xa nhìn anh đi trong vội vã

Chẳng một lời từ tạ phút chia ly

Đau thương kia em nói được điều gì ?

Chỉ cầu nguyện hồn linh về với Phật

.

Hãy theo gió theo mây trời phiêu bạt

Dệt vần thơ giữa trời rộng thênh thang

Quên hết đi chuyện nhân thế phũ phàng

Để tìm chút an nhàn…nơi cõi tịch

.

Đêm hoang vu…đêm buồn mờ mịt

Trăng nhớ người…và em nhớ anh…

.

nguyễn phan ngọc an – đêm buồn tháng 7 – 2026

==

Vĩnh Biệt Chiến Hữu – Nhà Văn Lê Phi Ô

Người Lính Vừa Giã Từ Ngòi Bút Và Vũ Khí!

Trong niềm tiếc thương vô hạn, chúng tôi đau buồn kính báo cùng quý Niên huynh trưởng, quý chiến hữu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, quý thân hữu và bạn bè khắp nơi:

Thiếu Tá LÊ PHI Ô

-Cựu Sinh viên Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, Khóa 15

-Cựu Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 344 Địa Phương Quân, Tiểu Khu Bình Tuy

-Nhà văn, nhà thơ, người lính can trường của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

đã thanh thản từ trần lúc 1:00 giờ sáng nay, ngày 15 tháng 7 năm 2026, tại Regional Hospital, San Jose, California, sau thời gian điều trị bệnh.

Sự ra đi của anh là một mất mát lớn đối với gia đình, chiến hữu, văn hữu và cộng đồng người Việt tự do.

Theo các chiến hữu thân cận cho biết, vào ngày 14 tháng 7, hôm qua, nhiều anh em đã đến thăm anh lần cuối. Trong những giờ phút sau cùng, anh được quý thầy đến tụng kinh cầu nguyện, và các chiến hữu đã đọc lời kinh bên giường bệnh, tiễn đưa anh trong bầu không khí bình an, thanh thản và đầy nghĩa tình đồng đội.

Trong quân ngũ, Thiếu Tá Lê Phi Ô là một vị chỉ huy quả cảm. Trên chiến trường Bình Tuy, đặc biệt trong cuộc tử thủ kéo dài 33 ngày đêm tại Võ Đắc, anh đã chỉ huy Tiểu Đoàn 344 Địa Phương Quân chiến đấu kiên cường giữa vòng vây khốc liệt. Tinh thần chiến đấu bất khuất của anh từng khiến đối phương xem là một trong những chỉ huy đáng gờm nhất tại chiến trường này.

Rời quân ngũ, nơi đất khách quê người, anh vẫn giữ trọn khí phách của người lính Việt Nam Cộng Hòa. Bên cạnh đó, anh còn là một cây bút được nhiều người yêu mến. Những bài thơ và những trang văn của anh chan chứa tình yêu quê hương, tình đồng đội và thân phận người lính sau cuộc chiến, để lại nhiều xúc động trong lòng độc giả.

Đối với cá nhân tôi, anh Lê Phi Ô là một người anh rất đặc biệt.

Hơn 20 năm nay, chúng tôi đến với nhau bằng hai mối duyên: vừa là tình chiến hữu, vừa là tình văn chương chữ nghĩa!

Anh hiền hòa, chân thành, khiêm nhường, luôn chan chứa nghĩa tình đồng đội. Chính nhờ đọc những trang viết của anh, tôi càng hiểu hơn sự hy sinh âm thầm và cô đơn của những người lính Địa Phương Quân, đã chiến đấu đến những ngày cuối cùng vì miền Nam tự do.

Hôm nay, người lính ấy đã buông vũ khí cuối cùng, cũng khép lại ngòi bút đã từng viết nên biết bao kỷ niệm của một đời chinh chiến.

Xin nghiêng mình kính tiễn anh.

Xin thành kính phân ưu cùng tang quyến.

Nguyện cầu hương linh Thiếu Tá Lê Phi Ô sớm về cõi vĩnh hằng thanh thản.

Vĩnh biệt anh – người chiến hữu, người thi sĩ, người lính Việt Nam Cộng Hòa.

Tình chiến hữu sẽ còn mãi.

Kính báo cùng quý chiến hữu và bạn bè khắp nơi.

Người Lính Lê Văn Hải




THÁI NỮ LAN – MỘT MÙA XUÂN RẤT XA… 

==

MỘT MÙA XUÂN RẤT XA…   THÁI NỮ LAN

Thương tặng các bạn sinh viên Huế, và các bạn cư xá Jeanne d’Arc & Xavier của thời vàng son dấu yêu-

Một ngày mùa hè …

 Ba chở tôi đến phi trường Phú Bài, Huế, đón cậu em từ Đà Lạt ra để giúp Ba và tôi trong việc làm ăn của Ba. Me và ba em kia vẫn đi làm đi học ở xứ sở sương mù… Gặp lại em Vũ sau nhiều tháng xa cách, thật mừng rỡ… Lúc xưa cả gia đình Ba Me và sáu người con đều quây quần, rồi chị và anh lớn đi xa để tiếp tục việc học, còn lại bốn chị em rất thân nhau. Ôi bao nhiêu kỷ niệm…

Mới mấy năm nay Ba phải ra Cố đô để làm việc, một mình tôi đổi “cấp độ” từ nhỏ đến lớn, bi chừ là “Học Đại” rồi, nên theo Ba được.  

Em Vũ  mang theo cây đàn tranh cho tôi. Tôi mới học được vài tuần ở Tỳ Bà Viện. Khệ nệ cầm cây đàn, tôi băng qua phòng chờ ở phi trường, rồi lần ra bên ngoài chỗ để xe… Chợt có hai anh lái tàu bay từ bên phi trường quân sự tiến đến, hỏi chuyện…

Có lẽ vì nhìn thấy một con bé với vẻ mặt chẳng có gì là nghệ sĩ mà lại đi chơi loại đàn xưa và rất khó này rồi hai “ông ” ấy tò mò chăng?

 Biết chúng tôi ở xứ ngàn thông, các anh rất thích, họ là người dân xứ biển Nha Trang hiền hòa, và thường bay lên đó, họ rất thích thành phố buồn của chúng tôi…

Vài tuần sau, đến lúc nhập học, em tôi phải trở về Đà Lạt, còn tôi thì vào cư xá “để học cho yên” – Ba bảo như rứa…

Vài ngày sau khi đi học, một anh tài xế máy bay ấy, anh Quang, đã đến cư xá và xin “sơ”(soeur) trông coi phòng khách để gặp tôi.

Tôi chưa gặp anh Quang được, vì tôi chưa thưa chuyện với Ba Me tôi. Anh ấy ra về… Vài ngày sau, tôi nhận được lá thư của anh gởi từ Nha Trang… Tôi đã đưa thư cho Ba đọc, (tự tôi cảm thấy cần cho Ba đọc, vì Ba đâu có cấm cản chi mô?) Ba nói lời thư có vẻ chân thành, nhưng “chưa biết con ạ, các anh ấy thường rất bay bướm”,… nếu anh ấy muốn gặp con ở cư xá, con có thể nói chuyện (vì Ba biết trong phòng khách, luôn có sơ làm việc giấy tờ), và con có thể trả lời thư…

 Nhiều tháng trôi qua… Anh thường có dịp phải bay ra Huế, có lần anh và bạn đều lái trực thăng vòng vòng quanh sân trường của tôi. Trời ơi! Cứ bay vần vũ quanh quanh như rứa… Thầy Cô và bạn bè không hiểu chuyện gì đang xảy ra..! Chỉ có Kim Thoa & Ngọc Quỳnh ở cùng phòng cư xá với tôi biết là ai thôi:  “Răng mà anh nớ gan cùng mình ghê luôn”!

 Rồi còn đi với bạn để đón tôi lúc tan trường… tôi luôn đi với cô bạn thân Kim Thoa, anh ấy cũng luôn có thêm một người bạn đi cùng…

Muốn độn thổ luôn, trời ạ! Hai ông lính thuộc loại dữ dằn, mặc áo bay, đi kèm với hai con bé “chưa lớn”, làm chúng vừa đi vừa nép vào nhau, che mặt mình không hết, cả trường ào ra như ong vỡ tổ,… ai đi xe ra cũng ngoảnh mặt lại nhìn xem hai “con” nào mà ghê gớm rứa hè..?

Thôi thôi bước đi cho nhanh cho rồi… làm hai ông phải la lên:  “Hai cô làm gì mà như bị ma đuổi vậy?”

Tôi phải cằn nhằn: -” Sao anh muốn đến trường mà không nói trước, để bây giờ … làm sao mà trốn đây? Ngày mai vô lớp học thì chịu sao cho thấu?

– Thì Thanh Lan cứ bảo là: ông anh ở Nha Trang đi công tác ra thăm em thôi mà, có gì nghiêm trọng đâu?…”

Sau này tôi mới biết, anh ấy lúc nào cũng vậy, những việc gì nguy hiểm, kinh khủng… tất cả đối với anh đều … nhẹ “như lông hồng”… Có lúc thì tốt, nhưng có khi lại không tốt đâu nhe!

Ngày thường thì chúng tôi vừa rảo bước vừa nhìn ngắm cảnh thơ mộng của kinh đô các “mệ” ngày xưa,  nhìn qua con sông với cầu Trường Tiền nên thơ, hàng cây Phượng vỹ đến mùa hè nở đỏ rực cả một góc trời… ở xa kia là núi Ngự Bình,.. Ngắm hoài không chán.. Nhưng hôm nay hai đứa chỉ cúi mặt mà chạy, không dám nhìn ngang ngửa chi hết…

 Hai anh chỉ đưa chúng tôi về cư xá, vì chúng tôi không đi ra quán uống nước với các anh, xứ Huế rất cổ kính, và cổ hủ về phong tục, nên chúng tôi rất ngại…

 – Thanh Lan, mai tụi anh lại phải bay đi Pleiku rồi, cho anh nói chuyện với Lan một chút nhé? Bạn tôi lên phòng, anh Hoàng, bạn của anh Quang bảo anh ấy ra quán càphê gần đó đợi … Anh Quang vô phòng khách nói chuyện với tôi một chút, anh hỏi thăm tôi về việc học, về các em,.. rồi dặn tôi nhớ trả lời thư cho anh, khi nào mùa hè tôi về xứ sương mù, có dịp anh sẽ bay lên để thăm Me và các em, rồi sang năm học tới anh sẽ ra đây thăm Ba tôi.

Sang hè, khi tôi về Đà Lạt nghỉ vài tuần, anh ấy  đến nhà và nói chuyện với  Me và các em tôi. Có một hôm, em tôi mới đi lấy hình chụp cả nhà về, và để trên bàn phòng khách, tôi chưa kịp cất, anh ấy đến, và muốn xem. Anh chọn một hình chân dung của tôi, và nói rằng kỳ này các anh sẽ đi Bảo Lộc, sẽ có giờ rảnh, anh muốn vẽ hình tôi.. .Ít lâu sau tôi nhận được một bức hình vẽ bằng bút chì rất đẹp,.. tôi lại biết thêm một tài năng của anh ấy…

Sau này anh vẽ hình các con, chắc là tuyệt lắm nhỉ?  (ôi, lại mơ mộng hão huyền nữa rồi, cô bé ạ)

Anh đưa cho tôi tập thơ “Ta Chờ Em Từ Ba Mươi Năm” của thi sĩ Vũ Hoàng Chương…

Không biết lúc đó anh bao nhiêu tuổi nhỉ?

1975…

Vài tháng thư từ, độ này anh không bay ra Huế nữa…

Tháng 3… Người dân Huế vẫn chưa hết đau thương với Mậu Thân 1968, nay lại lảo đảo chồng chất trên những chiếc xe đò lớn nhỏ để vô Đà Nẵng, có xe traction ngày thường chỉ chở được 5 người, nay chất thành 8, 9, 10 người,.. rồi những xe minivans thì nhét như cá hộp…

 Vô Đà Nẵng cũng không yên,… lại ùa nhau ra phi trường, ra bến cảng … Tôi cùng gia đình người bác ruột lênh đênh trên biển cả một tuần,  (Ba đã đi nước ngoài vì công việc, sắp về lại). Suốt một tuần lễ, lênh đênh cũng mây nước, tôi không biết giờ này Ba Me tôi ở đâu, các anh chị em có được bình an không… Bảy ngày , mà dài như bảy năm, buổi tối dài lê thê, không thể nào chớp mắt với sóng biển dập dềnh, ban ngày thì khô rát, nóng cháy….. rồi anh Quang ơi, gia đình anh có được an toàn không, anh đang ở đâu, cầu mong sao anh làm tròn nhiệm vụ người trai thời loạn, như bậc cha anh, nhe anh,.. dù cho có hy sinh cũng không màng, anh ơi,..

Xà lan cặp bến Vũng Tàu… Rồi lên Saigon…

Đến được nhà anh chị tôi, thật mừng rỡ biết bao khi gặp lại gia đình anh chị cùng Ba tôi vừa mới trở về được vài hôm, và Me cùng các em đang đi xe đò từ Đà Lạt xuống đây..

Một buổi trưa, Hòn Ngọc Viễn Đông, trời nóng như thiêu… em Vũ, – lại cũng cậu em “xe tơ” này, – chở tôi đi Honda trên đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận, đến đường ray xe lửa, đèn đỏ… nhìn qua con đường đối diện,… thấy anh Quang!

 Ôi, phải chăng đây là ý trời…? Nhiều tuần nay không được tin tức… nay được gặp lại anh…

Buổi tối, cuối tháng 4, anh Quang đến nhà anh tôi ở Quận 5,… gặp Ba Me tôi (lúc đó cả gia đình đều về nhà anh Chung của tôi), và xin cho tôi được bay đi đảo Guam, xứ Cờ Hoa, với anh cùng đồng đội. Tôi không chịu, vì đi như vậy, biết có gặp lại Cha Mẹ anh chị em được không, với lại đã cưới hỏi gì đâu…?

Vài tháng sau… Gia đình anh, sau khi ở tạm nhà bà con ở Saigon ít lâu, đã trở về miền Thùy Dương..

Tôi theo Ba về Nha Trang để thăm người Cô ruột, chị của Ba.

Tôi được đi ra biển với anh, một buổi chiều… sóng thật lớn…

Suốt bao nhiêu tháng quen nhau, đây là lần đầu tiên tôi đi ra ngoài với anh..

Tôi luôn yêu thương thành phố biển này, ngày xưa cả gia đình thường được Ba chở đi nghỉ hè, cả mấy chị em tôi đều rất mê biển, cát, và sóng… Cả anh và tôi đùa nghịch với cát, nắm cát vào tay, bỏ vào tay đứa kia, nhưng không giữ được, chúng lại tuôn ra… Đi dạo, rồi chạy đuổi nhau ở mép biển, vừa nước vừa cát,.. ôi hạnh phúc làm sao…! Đứng nhìn mặt trời lặn, sao đáng yêu quá, tôi luôn yêu cảnh mặt trời mọc hoặc lặn, nhưng sao hôm nay đẹp lạ thường…  “Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ”, nhưng Người vui thì cảnh lại quá thơ mộng…

Hạnh phúc ơi…!

Lúc đưa tôi về nhà Cô tôi, anh đưa tôi một tấm thiệp, hình bầu trời đầy sao, và bên dưới là một cô bé đang nhìn  lên  …  

Bên trong

” Người là vì sao nhỏ bé

Ta mãi ước cho lòng làm bầu trời xanh xanh

Người về lòng ta thương nhớ

Ta khẽ hỏi đưa người hay thầm người đưa ta…”  *(1)

Hôm sau, anh đến nhà thăm Cô và Ba tôi… và xin phép đưa tôi đi dạo một vòng..

Những đường phố xứ biển quá đẹp, với từng hàng cây Phượng vỹ, vẫn còn đỏ rực hoa mùa hè muộn, cây trứng cá với trái nhỏ đỏ li ti thật  xinh  và những hàng  dương liễu dọc theo bờ biển, thơ mộng làm sao…  

Anh đưa tôi lên tượng Phật Bà thật uy nghi trên đỉnh đồi Trại Thủy, đứng trên đỉnh đồi nhìn xuống thành phố thật đẹp… – đã in trong trí tôi bao nhiêu năm nay, bây giờ mỗi khi ngủ tôi vẫn thường nhớ lại cảnh tượng nên thơ này – Tôi rất thích tìm những cọng hoa mắc  cỡ (Trinh nữ), rồi đụng vào lá cho chúng khép lại, và nói với anh: – “Anh ơi, mai sau anh trồng hoa mắc cỡ phía sau nhà mình để em chơi như thế này nhé anh?” Anh cười, chắc có lẽ chịu thua cái con bé lớn mà chẳng lớn chi hết này!

Sau khi đi một vòng, đến dưới chân bức tượng Phật, anh cầm tay tôi, nhìn vào mắt tôi thật lâu, và nói

– “Bé chờ anh nhé, bé ơi?”

Tôi thật nghẹn ngào, mãi lúc sau mới nói được: -“Em sẽ là Hòn Vọng Phu, nếu anh không trở về…”

………………..

Phút giây hạnh phúc như bóng câu qua cửa sổ..

Anh vuốt tóc em,  một lần cuối, một lần cuối cùng, rồi thôi….

Anh hốt trăng thanh, trên áo em xanh, một lần cuối, như những lần đó xa xôi“….*(2) 

Đến ngày Ba và tôi trở về xứ Ngàn Hoa, còn anh thì đi …biền biệt… đến bao giờ?

…………….

Trại tù… 

Anh viết : “Mỗi kỳ trăng tròn, anh thường nhìn lên ánh trăng, để tìm ánh mắt em phản chiếu trong đó, Ti ơi… Anh nhớ em quay quắt… nhớ đôi mắt thật buồn của em, bé ơi  …”

Thăm nuôi…

 “Em ngậm ngùi khóc thương

Thương anh đợi mòn mỏi

Hờn căm ngút đoạn trường– ” *(3)

…………………

…Ngày anh Trở về… Mừng mừng tủi tủi…

Kể làm sao cho xiết…

Rồi ngày được định cư ở bến bờ tự do…

Ba ơi, cái ông tài xế máy bay ni không có bay bướm chi hết, Ba à…

Bao nhiêu mùa Xuân đã đi qua… Anh và em đều mong ước một mùa Xuân  được trở về, để đến  những nơi chốn của thuở vàng son ấy…

&&&&&&&&&&&&

Đất Mẹ, ngày trở về, để đón mùa Xuân như ước mơ, nhưng  chỉ có các con và em … Anh đã ra đi…

Saigon, Đà Lạt, Huế…Và sân bay Phú Bài.

Tất cả đã không còn như xưa… Ngôi trường mến yêu, những con đường thân thương …

Nhưng đối với anh và em, vẫn thật đáng quý, những nơi tràn ngập kỷ niệm dấu yêu, kể cho con nghe… Thương quý nhưng nghẹn ngào làm sao…

Và Nha Trang, sóng biển và cát….

Hôm nay ngày rằm cuối năm, trăng sáng vằng vặc, em lại nhìn lên ánh trăng, tìm đôi mắt của anh, như ngày xưa mắt anh và em nhìn nhau trên đó  anh ơi …

Ngày mai em sẽ đưa các con lên đồi Trại Thủy, nơi có tượng Phật Bà, và kể cho con nghe về cái ngày xa xưa yêu dấu ấy, anh ơi… Bây giờ em không thể làm Hòn Vọng Phu để chờ anh được nữa rồi, em còn bổn phận với con cháu..

Anh đang ở đâu hở anh

Anh Quang ơi, từ nơi xa ấy, anh có cùng mẹ con em đi thăm lại những con đường có lá me bay, những đồi thông con suối, không anh…

Một mùa Xuân trọn vẹn của anh và em, sẽ không bao giờ có được…

……………….

Trong phòng của mình, vẫn còn bức chân dung ngày xưa anh đã họa lại hình em đó, Quang ơi… Và chiếc áo bay ngày nào của anh vẫn ở bên em…

Những tưởng yêu thương đến trọn kiếp

Mong sẽ trăm năm cùng bạc đầu

——

Vầng trăng xưa, ngươi có nhớ gì không?- 

Vũ Hoàng Chương- Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm

TháiLan/NLan-Dallas




LÊ XUÂN MỸ: TIẾNG VỌNG ÂN TÌNH – CÁM ƠN ANH NGƯỜI THƯƠNG BINH VNCH




LẠP CHÚC NGUYỄN HUY: CÂU LẠC BỘ VĂN HÓA Montreal

==

         Chúng ta là ai ở Montreal?

Chúng ta là người Việt tỵ nạn cộng sản nhưng lại mang 3 hình ảnh với nhiều danh xưng do người khác gọi hoặc do chính chúng ta tự đặt : Apatride, tỵ nạn chinh trị, boat people, việt kiều, tỵ nạn cộng sản, người Việt quốc gia, người quebecois gốc Việt …

Ba hình ảnh

Hình ảnh gốc của chúng ta là hình ảnh người Việt chạy nạn cộng sản nên danh tính chúng ta làApatride trên giấy tờ Liên Hiệp Quốc, refugié politique trên giấy tờ Canada và boat people trên báo chí thế giới.

Từ hình ảnh gốc là người tỵ nạn cộng sản, chúng ta cùng với Cộng Đồng muốn phóng ra hình ảnh thứ hai làtỵ nạn cộng sản, người Việt quốc gia, người quebecois gốc Việt …

Hình ảnh thứ ba là hình ảnh người immigrant thuộc minorité visible trong cái nhìn của người bản xứ.

Danh xưng

Vì có nhiều danh xưng chỉ người Việt tỵ nạn cộng sản tại Montreal nên có nhiều câu trả lời câu hỏi chúng ta là ai? Vì vậy mà câu lạc bộ Văn Hóa Montreal đưa ra các giải thích về danh xưng dưới đây.

1.    Apatride hay vô tổ quốc pháp lý là danh từ trên giấy tờ HCR của Liên Hiệp Quốc chỉ chúng ta người Việt tỵ nạn cộng sản trong các trại tỵ nạn tại ĐNÁ

2.    Boat people là danh từ của báo chí thế giới dùng để chỉ hàng triệu người Việt trốn nạn cộng sản bằng đường biển.

3.    Tỵ nạn:  Tỵ  : lánh xa ra chỗ khác, Nạn  tai hoạ, tai nạn, tai ương

4.    Tỵ nạn chinh trị, danh từ trên giấy tờ của chính quyền Canada khi nhận người Việt tỵ nạn cộng sản đến định cư tai Montreal, có nghĩa người Việt chạy xa quyền lực tai ương cộng sản.

5.    Tỵ nạn cộng sản, danh từ của người Việt quốc gia thường dùng để chỉ rõ thân phận chúng ta là người Việt xa lánh tai họa cộng sản ở Việt Nam. Đây là danh xưng bị giặc ghét cay ghét đắng nhất nên hiện tại dưới áp lực chính trị của nhà Nước Việt Nam, tên những người mang danh xưng tỵ nạn cộng sản có thể bị đục bỏ trên tượng đài Ottawa Memorial to victims of communism tại Ottawa (do Ông Lê Duy Cấn, cựu TTK Liên Hội báo tin).

6.    Việt kiều :  Kiều  chỉ người ở nhờ nước khác. Hiện nay, giặc cờ đỏ dùng danh từ Việt kiều để chỉ người Việt ở hải ngoại và là danh xưng của nhóm sinh viên phản bội VNCH như Việt kiều yêu nước, Việt kiều đòan kết để phân biệt với các hội đoàn người Việt quốc gia tỵ nạn cộng sản.

7.    Người Việt quốc gia, danh xưng mang màu sắc chính trị có nghĩa người Việt tỵ nạn cộng sản tiếp tục bảo tồn chánh nghĩa quốc gia, không chấp nhận giặc cờ đỏ , kỷ niệm ngày lễ của VNCH treo cờ vàng và dựng tượng đài (Chiến sĩ quốc gia, Ngô đình Diệm , thuyền nhân, văn hóa). Chinh trị nên hiểu như thế nào ? Chinh  việc của nhà nước chính quyền, trị , cai trị, quản lí , chính trị là toàn bộ các hoạt động liên quan đến việc giành, giữ và thực thi quyền lực của nhà nước và ở hải ngoại của ban lãnh đạo Cộng Đồng.

Cách người Việt quốc gia biểu lộ danh xưng:

Của cộng đồng như CĐNVQGVM : treo cờ vàng,

Của cá nhân : Hình cờ vàng trên mũ, cà vạt, khăn quàng, áo dài …

Hình cờ vàng biểu lộ kín đáo trên hộp thơ (trước nhà thi sĩ Luân Hoán), một lá cờ vàng treo bên trong cửa sổ trước nhà của tôi …

8.    Người quebecois gốc Việt, danh xưng của AVQ (Association des Vietnamiens Quebecois) của nhóm người Việt trẻ tại Chợ Đêm Montreal. Từ năm 2023, với tài trợ của Canada, sanh hoạt chính của AVQ tại Montreal là tổ chức Chợ Đêm tại Bassin Peel và Marché de Noël Vietnamien tại Supernat ngày 1/12/2024. Tại Chợ Đêm, các em dùng yếu tố ethnoculturel (văn hóa chủng tộc) để xác định mình là gốc người Việt qua ẩm thực, y phục, văn hóa sau :

Ẩm thực Việt: chả giò, gỏi cuốn …

Y phục : Áo dài (Fashion Show)

    -Văn hóa : Ban nhạc dân tộc Montreal, Les belles tonkinoises band, Phuong Ca Montreal, Vovinam, múa hát Gia Đình Quan Âm, Hội trống Văn Lang …

Phả Ký Việt Montreal.

Có thể mấy trăm năm sau, con cháu chúng ta cũng có thể hỏi chúng ta là ai ở Montreal. Vì vậy mà câu lạc bộ Văn Hóa Montreal đã và đang soạn Phả Ký Việt Montreal (Phả  : chép thứ tự người trong nhà họ; ký  : sách ghi chép).

Câu lạc bộ sẽ giới thiệu với đồng hương các cuốn sách có tình cách phả ký sau :

1.    Cuốn sách VĂN NHÂN VIỆT MONTREAL. Nhân Ảnh XB, 2025, 208 trang giới thiệu các văn nhân của Montreal (bán trên site Amazon.ca).

2.    Cuốn sách song ngữ Y SĨ VIỆT NAM TẠI MONTREAL VÀ CANADA, Medecins vietnamiens à Montreal et au Canada, Nhân Ảnh XB ,năm 2026, 212 trang (bán trên site Amazon.ca).

3.    Cuốn sách song ngữ:Người Việt công giáo tại Montreal

4.    Cuốn sách song ngữ Montréal, l’épopée des réfugiés vietnamiens anticommunistes, Edition bilingue vietnamienne française

 Montréal, Bản hùng ca của người Việt quốc gia  để vinh danh các Văn Vật Việt tại Montreal.

  Kỳ tới, tiếp theo bài này là câu lạc bộ Văn Hóa Montreal giới thiệu cờ vàng. Xin quý đồng hương góp ý và bổ túc những danh xưng còn thiếu. Xin tránh phê phán và bắt người khác phải giống mình nhất là trong tinh thần chống giặc cờ đỏ .

CLB Văn Hóa Montreal mong đón nhận ý kiến, phê bình và bài viết của đồng hương.

Lạp Chúc Nguyễn Huy


[1] Theo tài liệu cua AVQ : ‘’La 2e édition de Chợ Đêm au Bassin Peel a été un grand succès avec 25 000 festivaliers, plus de 40 performances artistiques et plus de 40 kiosques!’’




Truyện ngắn: Chiếc Ghế Trống Bên Hồ Lake Cunningham

Lê V Hải

Tháng Bảy, giữa mùa hè, San Jose rực nắng.

Mặt hồ Lake Cunningham lấp lánh như dát vàng dưới ánh nắng mặt trời. Những cơn gió nhẹ khẽ lay hàng liễu, để từng cành cây mềm mại nghiêng mình soi bóng xuống mặt nước. Tiếng trẻ con cười đùa vang lên khắp công viên, hòa cùng tiếng nhạc và hương thơm từ những bếp thịt nướng, tạo nên bầu không khí ấm áp của Ngày Hè Của Lính.

Những người lính năm xưa lại gặp nhau.

Có người chống gậy.

Có người mái tóc đã bạc trắng.

Có người bước đi chậm chạp vì đôi chân vẫn còn mang dấu tích của những mảnh đạn năm xưa.

Thế nhưng, khi nhìn thấy nhau, ai cũng nở một nụ cười.

Bởi họ đều hiểu rằng, sau hơn nửa thế kỷ, mỗi lần còn có thể gặp lại nhau đều là một ân phước của cuộc đời.

Ông Hùng đến rất sớm.

Như suốt hơn mười năm qua, ông lặng lẽ mang theo hai chiếc ghế xếp cũ kỹ. Một chiếc dành cho mình. Chiếc còn lại được đặt ngay bên cạnh, vẫn để trống.

Không ai được ngồi vào chiếc ghế ấy.

Một cựu quân nhân trẻ hơn ông vài tuổi mỉm cười hỏi:

— Niên trưởng Hùng, hôm nay cũng chừa ghế cho ai vậy?

Ông nhìn chiếc ghế trống một lúc rồi khẽ đáp:

— Cho một người bạn… tên Dũng.

Cả nhóm bỗng im lặng.

Ai cũng biết cái tên ấy.

Đó là người bạn đã cứu mạng ông hơn nửa thế kỷ trước.

Mùa xuân năm ấy.

Giữa chiến trường miền Trung, mùa hè đỏ lửa phủ kín núi rừng.

Đơn vị của hai người bị bao vây.

Đạn từ bốn phía trút xuống như mưa.

Một mảnh pháo xé ngang vai khiến ông Hùng ngã gục. Máu nhanh chóng thấm đỏ cả vạt áo. Trong cơn choáng váng, ông chỉ còn nghe tiếng Dũng gọi thật lớn:

— Cố lên, Hùng! Đừng bỏ cuộc! Tao đưa mày ra!

Ông cố mở mắt, thều thào:

— Mày chạy đi…

Dũng lắc đầu.

— Không! Người lính Việt Nam Cộng Hòa không bỏ anh em. Không bỏ đồng đội.

Nói rồi, anh lao tới, cúi xuống cõng Hùng trên lưng.

Từng bước…

Từng bước…

Anh gắng gượng tiến lên giữa làn đạn dày đặc. Chỉ còn vài chục mét nữa là tới được giao thông hào.

Bất ngờ, một loạt đạn nổ chát chúa.

Dũng khựng lại.

Máu từ sau lưng anh loang đỏ cả chiếc áo trận.

Dồn chút sức lực cuối cùng, anh vẫn cố đẩy Hùng xuống giao thông hào an toàn. Trên môi thoáng hiện một nụ cười, anh thì thầm:

— Ráng sống… nghe mày…

Đó là những lời cuối cùng.

Dũng ngã xuống.

Anh không bao giờ đứng dậy nữa.

Ông Hùng được cứu.

Còn người đã cứu ông thì vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường.

Không tìm thấy thi thể.

Không một nấm mồ.

Cũng không một tấm bia ghi tên.

Ngày đất nước đổi thay.

Ông Hùng trải qua nhiều năm trong lao tù.

Đến khi được sang Hoa Kỳ theo diện HO, trước lúc rời Việt Nam, việc đầu tiên ông làm là tìm đến căn nhà nhỏ của Dũng.

Người vợ trẻ ra mở cửa.

Một cậu bé khoảng sáu tuổi lặng lẽ nép sau lưng mẹ.

Đôi mắt của cậu giống hệt cha mình.

Ông Hùng đứng lặng.

Ông lấy tất cả số tiền ít ỏi còn trong túi, nhẹ nhàng đặt lên bàn.

— Đây không phải là tiền đền đáp.

Ông ngừng lại một lúc rồi nói tiếp:

— Đây là món nợ ân tình mà suốt đời tôi không bao giờ trả hết. Nếu ngày ấy Dũng không đẩy tôi xuống giao thông hào… thì người nằm lại chiến trường đã là tôi.

Người vợ đưa hai tay ôm mặt, bật khóc.

Cậu bé Vinh vẫn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Đôi mắt trong veo của cậu chỉ lặng lẽ nhìn người cựu quân nhân đứng trước mặt.

Trước khi rời đi, ông Hùng cúi xuống xoa đầu Vinh.

— Con hãy lớn lên, sống cho thật tử tế. Đó cũng là điều ba con hằng mong.

Sang Hoa Kỳ.

Cuộc sống của một người mới định cư chưa bao giờ dễ dàng.

Ban ngày, ông rửa chén.

Ban đêm, ông đi lau hãng.

Cuối tuần, ông giao báo.

Có những ngày, ông chỉ ngủ ba, bốn tiếng.

Đồng lương kiếm được chẳng bao nhiêu.

Ông chỉ giữ lại vừa đủ để gia đình trang trải cuộc sống.

Phần còn lại…

Tháng nào ông cũng lặng lẽ gửi về Việt Nam cho vợ con của Dũng.

Không thiếu một tháng.

Có người hỏi:

— Sao ông phải cực khổ như vậy?

Ông chỉ mỉm cười.

— Tôi đang trả một món nợ sinh mạng.

Năm tháng lặng lẽ trôi qua.

Vinh lớn lên, ngoan ngoãn và chăm chỉ học hành.

Suốt những năm ấy, ông Hùng vẫn âm thầm gửi tiền về giúp mẹ con anh.

Đến ngày nhận được học bổng sang Hoa Kỳ du học, người đầu tiên Vinh muốn tìm để nói lời cảm ơn chính là ông Hùng.

Thế nhưng…

Ông đã dọn đi nơi khác.

Mọi liên lạc đều bặt vô âm tín.

Sau khi tốt nghiệp đại học, Vinh được một tập đoàn công nghệ lớn tuyển dụng và ở lại Hoa Kỳ làm việc.

Ít năm sau, mẹ anh cũng qua đời.

Trước lúc nhắm mắt, bà trao cho con trai chiếc ví cũ của chồng.

Bên trong là một tấm ảnh đã ngả màu theo năm tháng.

Trong ảnh, hai người lính trẻ đứng sát bên nhau, tay cầm súng, ánh mắt rạng ngời.

Một người là cha anh.

Người còn lại…

là ông Hùng.

Bà nắm chặt tay con trai, giọng yếu dần:

— Con hãy tìm cho được bác Hùng.

Bà khẽ dừng lại, rồi nói tiếp:

— Đối với gia đình mình… bác ấy chính là người thân cuối cùng của ba con.

Suốt gần bốn năm, Vinh miệt mài dò hỏi tin tức về ông Hùng.

Anh tìm đến các hội đoàn cựu quân nhân, từ Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến đến Nhảy Dù. Anh có mặt trong những buổi chào cờ, những ngày tưởng niệm và hầu như không bỏ lỡ một dịp hội ngộ nào của cộng đồng cựu quân nhân.

Nhưng tất cả đều vô vọng.

Cho đến một ngày…

Một người mỉm cười hỏi:

— Cậu muốn tìm ông Hùng phải không?

Vinh gật đầu.

Người ấy chậm rãi đáp:

— Chủ nhật tới, cứ ra Ngày Hè Của Lính bên hồ Lake Cunningham. Hơn mười năm nay, năm nào ông ấy cũng có mặt.

Sáng hôm ấy, ông Hùng vẫn lặng lẽ ngồi bên hai chiếc ghế quen thuộc.

Chiếc bên cạnh vẫn để trống.

Một người thanh niên chậm rãi bước đến.

Giọng anh run lên:

— Bác… có phải bác Hùng không?

Ông ngẩng đầu nhìn.

— Phải…

Người thanh niên nghẹn ngào:

— Cháu là Vinh… con trai của ba Dũng.

Chiếc ly cà phê trên tay ông Hùng tuột khỏi tay, rơi xuống đất.

Ông đứng sững.

Đôi mắt như không tin vào người đang đứng trước mặt.

Rồi bất chợt, ông bước tới ôm chầm lấy Vinh.

Một người tóc đã bạc.

Một người vừa bước vào tuổi trưởng thành.

Hai người ôm nhau thật chặt.

Không ai nói thêm một lời.

Chỉ có những giọt nước mắt lặng lẽ rơi.

Sau hơn nửa thế kỷ, người ở lại và người con của người đã khuất cuối cùng cũng tìm được nhau.

Vinh khẽ lấy từ túi áo ra một tấm ảnh cũ.

Tấm ảnh đã được ép nhựa cẩn thận, như thể ai đó đã gìn giữ nó suốt cả một đời.

Anh nhẹ nhàng trao cho ông Hùng.

— Cháu tìm thấy tấm hình này trong chiếc ví của ba. Ba luôn mang theo đến những ngày cuối đời.

Đôi bàn tay ông Hùng run run đón lấy.

Trong tấm ảnh, hai chàng lính trẻ đứng vai kề vai, nở nụ cười rạng rỡ giữa một khoảng trời bình yên hiếm hoi của chiến tranh.

Không ai có thể ngờ…

Chỉ ít lâu sau, một người sẽ vĩnh viễn nằm lại trên chiến trường.

Đôi mắt ông Hùng nhòa đi.

Những giọt nước mắt lặng lẽ lăn trên khuôn mặt đã hằn sâu dấu vết của thời gian.

Ông đưa bàn tay gầy guộc khẽ vuốt lên gương mặt người bạn trong ảnh.

Đôi môi run run.

— Dũng ơi…

Ông nghẹn lại.

— Mày vẫn còn đây.

Từ hôm ấy, Vinh thường xuyên đến thăm gia đình ông Hùng.

Anh trìu mến gọi ông là Ba Hùng.

Ông cũng xem Vinh như con ruột.

Ngôi nhà vốn lặng lẽ bỗng rộn rã tiếng cười và hơi ấm của một gia đình.

Con gái ông Hùng là Trâm, nhỏ hơn Vinh hai tuổi.

Hiền lành, chân thành và giản dị.

Họ quen nhau qua những bữa cơm gia đình, những lần cùng đi lễ và những buổi sinh hoạt của cộng đồng.

Tình yêu đến nhẹ nhàng, tự lúc nào không hay.

Ngày cưới, trên bàn thờ gia tiên, bên cạnh di ảnh của cha mẹ hai bên, có một tấm ảnh được đặt ở vị trí trang trọng nhất.

Đó là tấm ảnh của hai người lính trẻ.

Đứng cạnh nhau.

Vai kề vai.

Vẫn nở nụ cười như ngày nào.

Chiều hôm ấy.

Sau khi khách khứa đã ra về, ông Hùng đứng lặng thật lâu trước di ảnh của Dũng.

Ông mỉm cười.

Đó có lẽ là nụ cười bình yên nhất trong suốt cuộc đời mình.

Ông khẽ nói:

— Dũng à…

Ông ngừng lại, như để lắng nghe người bạn năm xưa.

— Mày đã cứu tao một lần.

Hôm nay…

Con trai mày đã trở thành con rể tao.

Từ nay…

Hai gia đình mình đã thật sự là một.

Tao tin…

Ở một nơi rất xa…

Mày đang mỉm cười.

Ngoài sân, gió từ hồ Lake Cunningham lại miên man thổi về.

Nhẹ như một cái bắt tay của người chiến hữu sau hơn nửa thế kỷ xa cách.

Chiếc ghế trống vẫn còn đó.

Nhưng lần đầu tiên sau hơn năm mươi năm, ông Hùng không còn thấy chiếc ghế ấy cô đơn nữa.

Ông hiểu rằng Dũng chưa bao giờ rời xa mình.

Anh vẫn hiện diện trong lời hứa năm nào, trong nghĩa tình của những người còn sống và trong hạnh phúc của các con hôm nay.

Có những người lính tuy đã nằm xuống, nhưng chưa bao giờ rời khỏi hàng ngũ.

Họ vẫn tiếp tục bước đi trong ký ức của đồng đội, trong lòng biết ơn của những người ở lại và trong những thế hệ được tiếp nối bằng tình yêu thương.

Bởi lời thề của người lính Việt Nam Cộng Hòa chưa bao giờ cũ:

“Không bỏ anh em. Không bỏ đồng đội.”

Và như lời nguyện của bao người lính năm xưa:

“Xin cho tôi một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi.”

San Jose, ngày 18 tháng 7 năm 2026
Người Lính LVH




Truyện Ngắn: “Tấm Chi Phiếu Không Có Tên Người Cho!”

Tôi tên là Thiên Nga, một thiện nguyện viên của Hội Tương Trợ Thương Binh VNCH. Gần mười năm nay, năm nào tôi cũng có mặt trong chương trình này. Không phải vì trách nhiệm, mà vì một lời hứa với cha.

Cha tôi là một sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Trước khi qua đời, ông nắm chặt tay tôi và chậm rãi dặn:

— Nga à, ba còn được lành lặn đến ngày hôm nay không phải vì ba may mắn hơn ai. Trên suốt chặng đường binh nghiệp, biết bao chiến hữu và những người lính dưới quyền đã ngã xuống, có người mất một phần thân thể để ba còn được sống. Sau này, nếu có thể, con hãy thay ba giúp đỡ những thương binh ấy. Đó là món nợ ân tình mà ba suốt đời không trả hết.

Lời dặn ấy theo tôi suốt bao năm qua. Vì thế, sáng nay, tôi lại có mặt nơi đây.

Dù đã tham gia Ban Tổ chức gần mười năm, cứ mỗi khi đại nhạc hội đến gần, chúng tôi lại không khỏi thấp thỏm. Điều khiến mọi người lo lắng không phải là ca sĩ, cũng không phải chuyện bán vé, mà là liệu năm nay có quyên góp đủ tài chánh để tiếp tục giúp đỡ các chú thương phế binh còn kẹt lại quê nhà hay không.

Thế nhưng, suốt gần mười năm qua, có một điều kỳ lạ đã trở thành niềm hy vọng của Ban Tổ chức. Mỗi mùa đại nhạc hội, chúng tôi đều nhận được một phong bì màu vàng. Không có tên người gửi, không có địa chỉ, cũng chẳng có một lời nhắn. Bên trong chỉ có một tấm chi phiếu trị giá 50.000 đô la. Năm nào cũng vậy, chưa bao giờ đến trễ và cũng chưa bao giờ vắng mặt.

Ở cuối tấm chi phiếu chỉ có một dòng chữ ngắn ngủi:

“Một Người Mang Ơn.”

Không ai trong Ban Tổ chức biết ân nhân ấy là ai. Nhưng chính những tấm chi phiếu vô danh đó đã giúp duy trì biết bao chương trình, trong những năm tưởng chừng phải hủy bỏ vì thiếu ngân quỹ.

Đối với chúng tôi, người ân nhân ấy đã trao tặng nhiều hơn cả tiền bạc. Ông còn tiếp thêm niềm tin để chúng tôi tiếp tục con đường tri ân những người lính đã hy sinh một phần thân thể vì miền Nam Việt Nam.

Năm nay, điều mà Ban Tổ chức đã chờ đợi suốt bao năm cuối cùng cũng đã xảy ra. Người ký những tấm chi phiếu vô danh đã đồng ý gặp chúng tôi.

Đúng giờ hẹn, một người đàn ông khoảng ngoài năm mươi tuổi bước vào cùng một cụ ông chừng bảy mươi tuổi. Cả hai đều ăn mặc rất giản dị.

Sau vài câu chào hỏi, người đàn ông lớn tuổi mỉm cười giới thiệu:

— Đây là con trai tôi. Chính nó là người đã ký những tấm chi phiếu với dòng chữ: “Một Người Mang Ơn”.

Cả Ban Tổ Chức đều sững sờ. Cuối cùng, người phụ trách chương trình không giấu được sự xúc động, nhẹ nhàng hỏi:

— Thưa bác, vậy chắc ngày trước bác là một quân nhân của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa?

Cụ ông mỉm cười.

— Là lính thì đúng…

Ông khẽ lắc đầu rồi nói tiếp:

— Nhưng nó không phải con ruột của tôi. Nó là con nuôi.

Mọi người bỗng im phăng phắc. Không ai hỏi thêm một lời nào.

Cụ ông chậm rãi quay nhìn lên sân khấu, nơi treo bức ảnh người lính Việt Nam Cộng Hòa. Đôi mắt ông đỏ hoe. Sau một hồi im lặng, ông cất giọng kể…

“Sau khi rời trại cải tạo được năm năm, tôi trở về với hai bàn tay trắng. Thân thể gầy gò vì những năm tháng tù đày, tôi mưu sinh bằng nghề chạy xe ôm. Mỗi buổi sáng, số tiền kiếm được chỉ đủ cho một ly cà phê đen, rồi lại bắt đầu một ngày dài len lỏi khắp phố phường tìm khách.

Tôi thường ghé một quán cơm bình dân ở đầu xóm để nghỉ chân. Chính nơi đó, ngày nào tôi cũng gặp một cậu bé chừng mười tuổi, gầy gò như que củi, lặng lẽ đứng nép ở một góc với chiếc lon sữa bò cũ trên tay. Nó không xin tiền, cũng chẳng xin ăn. Nó chỉ kiên nhẫn chờ khách dùng cơm xong. Ai còn thừa chút cơm hay miếng cá, nó mới rụt rè xin bỏ vào chiếc lon mang theo.

Cảnh ấy lặp đi lặp lại suốt hơn một năm, ngày nào cũng như ngày nào.

Một buổi chiều mưa, nhìn thằng bé đứng co ro trước hiên quán, tôi không cầm lòng được. Tôi gọi nó lại ngồi cùng bàn rồi hỏi:

— Con tên gì?

Nó lí nhí đáp:

— Dạ… Tuấn.

Tôi nhìn chiếc lon trên tay nó rồi hỏi tiếp:

— Con xin thức ăn về cho ai vậy?

Thằng bé trả lời ngay, như thể đã chuẩn bị sẵn câu trả lời ấy từ lâu:

— Dạ… nuôi heo.

Nói xong, nó cúi gằm mặt xuống đất. Không dám nhìn tôi.

Chỉ cần nhìn vào mắt nó, tôi biết ngay nó đang nói dối. Chiều hôm ấy, tôi lặng lẽ đi theo nó về nhà. Thật ra, đó chỉ là một căn chòi tồi tàn, dựng bằng những tấm tôn chắp vá; chung quanh hoàn toàn không có chuồng heo nào cả. Khi bước vào bên trong căn chòi, tôi thấy một người đàn ông mặc chiếc áo lính trận đã bạc màu, trên ngực vẫn còn huy hiệu hình con cọp mờ theo năm tháng, lặng lẽ ngồi trên chiếc xe lăn cũ kỹ. Nhìn kỹ mới thấy, ông chỉ còn một cánh tay, còn cả hai chân đều đã mất sau chiến tranh.

Dưới chân ông, một người phụ nữ gầy gò, xanh xao vì bệnh tật, đang nằm co quắp trên chiếc giường xếp cũ. Thấy thằng bé mang cơm về, bà cố gượng ngồi dậy. Hai vợ chồng lặng lẽ ăn những phần cơm thừa mà nó mang về.

Tôi đứng chết lặng.

Người đàn ông ngẩng đầu nhìn tôi rồi khẽ mỉm cười. Ông nói nhỏ:

— Xin lỗi anh. Vợ chồng tôi đều bị liệt, không thể đi lại được. Nhà nghèo quá, nên thằng nhỏ phải vất vả mưu sinh từng ngày.

Tôi quay mặt đi. Là một người đàn ông, vậy mà tôi không sao cầm được nước mắt.

Từ hôm đó, tôi mới hiểu rằng thằng bé không hề đi xin ăn. Nó lặng lẽ nhặt nhạnh từng hạt cơm, từng miếng bánh người ta bỏ lại để nuôi người cha thương phế binh và người mẹ bệnh tật. Mới mười tuổi đầu, nó đã phải gánh trên vai cả một gia đình.

Ít lâu sau, tôi được sang Mỹ theo diện HO. Ngày bước lên máy bay, lòng tôi vẫn day dứt và áy náy vì phải bỏ lại thằng bé cùng gia đình nó phía sau. Cuối cùng, tôi quyết định làm hồ sơ nhận Tuấn làm con nuôi.

Phải mất nhiều năm chờ đợi, Tuấn mới được sang Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ. Dù đã bỏ học từ lâu, nó học rất giỏi. Ban ngày đi học, ban đêm đi làm, dành dụm được đồng nào, nó đều gửi về Việt Nam phụng dưỡng cha mẹ.

Ra trường, Tuấn trở thành kỹ sư. Vài năm sau, nó thành lập công ty riêng. Công việc phát triển nhanh đến mức ngay cả tôi cũng không ngờ tới.

Nhưng giữa bao thành công ấy, điều đầu tiên Tuấn nghĩ đến vẫn là người cha thương phế binh và người mẹ bệnh tật ở quê nhà. Nó đều đặn gửi tiền về chăm lo cho cha mẹ cho đến ngày cả hai ông bà lần lượt qua đời.”

Ông lão quay sang nhìn người đàn ông trung niên, nở một nụ cười hiền.

— Điều làm tôi vui nhất là… đến bây giờ nó vẫn chưa bao giờ quên chiếc lon sữa bò cũ năm nào.

Người đàn ông trung niên cúi đầu. Giọng anh nghẹn lại.

— Thưa cô Nga… nếu ngày ấy cha nuôi tôi không lặng lẽ đi theo tôi về căn chòi nhỏ ấy… có lẽ cuộc đời tôi đã rẽ sang một hướng khác, vẫn chìm trong những tháng ngày tăm tối.

Anh dừng lại một lúc rồi nói tiếp:

— Tôi biết những tấm chi phiếu của mình không thể giúp được tất cả các chú thương phế binh. Nhưng ít ra, tôi còn có cơ hội thay cha nuôi trả lại món nợ ân tình mà ông luôn mang trong lòng.

Anh nhìn về phía những chiếc thùng quyên góp đặt trước sân khấu.

— Hôm nay, nếu cô cho phép… tôi muốn được cầm một chiếc thùng để đi xin tình thương cho các chú.

Tôi khẽ gật đầu rồi hỏi:

— Nhưng… sao anh biết tên tôi?

Anh mỉm cười.

— Vì suốt bao năm qua, tôi vẫn âm thầm đến dự hầu như tất cả những kỳ đại nhạc hội có cô tham gia.

Tôi chợt thấy mặt mình nóng bừng. Dù trong lòng đã có câu trả lời, tôi vẫn khẽ hỏi:

— Vậy… những tấm chi phiếu năm mươi ngàn đô-la suốt bao năm qua… đều là của anh sao?

Anh lắc đầu.

— Không…

Anh mỉm cười, ánh mắt xa xăm.

— Đó là của… một thằng bé từng đi xin cơm thừa để nuôi người cha thương phế binh và người mẹ bệnh tật.

Rồi anh nhìn sang người cha nuôi đang ngồi bên cạnh.

— Hôm nay, nó chỉ thay cha mình tiếp tục trả món nợ ân tình ấy mà thôi.

Đại nhạc hội bắt đầu.

Khán phòng chật kín người. Tiếng hát cất lên:

“… Cám ơn anh, người thương binh năm cũ…”

Cả khán phòng đồng loạt đứng dậy vỗ tay.

Không ai biết…

Ở hàng ghế cuối, có một ông lão tóc bạc đang lặng lẽ lau nước mắt.

Ngồi bên cạnh là người con nuôi năm nào.

Hai cha con nắm chặt tay nhau.

Không ai nói một lời.

Trên sân khấu, ánh đèn vẫn rực sáng.

Dưới khán phòng, biết bao trái tim lặng lẽ rung lên.

Có người đã hy sinh một phần thân thể cho Tổ quốc.

Có người đã hy sinh cả tuổi thơ để cứu gia đình mình.

Và cũng có những người âm thầm trả món nợ ân tình bằng cả cuộc đời, chẳng cần ai biết đến.

Cuối chương trình, Ban Tổ Chức mở phong bì quyên góp đặc biệt.

Bên trong là tấm chi phiếu trị giá 100.000 đô-la.

Kèm theo chỉ một mảnh giấy nhỏ:

“Em một nửa, anh một nửa.”

Ở phía dưới vẫn là dòng chữ quen thuộc:

“Một Người Mang Ơn.”

Thiên Nga mỉm cười.

Cô hiểu rằng, từ hôm nay, người mang ơn không còn chỉ có một.

Món nợ ân tình ấy… đang được tiếp nối.

Bởi có những nghĩa tình không bao giờ trả hết.

Chúng chỉ được truyền từ trái tim này sang trái tim khác.

Như một ngọn lửa.

Tiếp tục trao yêu thương cho người khác nhé, người bạn quý mến của tôi!

Hận thù chỉ mang đến chia ly và tàn phá. Chỉ có tình thương mới có thể biến thế giới này thành một thiên đàng mà thôi.

San Jose, ngày 20 tháng 7 năm 2026
(LVH)




KIỀU MỸ DUYÊN – NHÀ VĂN VƯƠNG KỲ SƠN VÀ TRẦN CÔNG TIẾN RA MẮT SÁCH Ở LITTLE SAIGON -LẤY LẠI TÊN SÀI GÒN – CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA- 7/8/2026

==

Lấy Lại Tên Sài Gòn 

==




THỦY NHƯ – TRUYỆN ĐỌC: “Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Thanh-Người Chắp Cánh Cho Nhiều Bài Thánh Nhạc Việt Nam” | Diễn Đọc: Thảo Mi — “Thuở Làm Thơ Yêu Em” – Linh Ân Đọc — Truyện Ngắn: “Anh Có Nghe Mùa Thu Mây Giăng Lá Đổ” – Linh Ân Đọc — English Story: “The First Test of My Life” Read by M. King

==

==

==




Thơ TRẦN VẤN LỆ: TUỔI TÀN MƯA BÓNG MÂY

==

TUỔI TÀN MƯA BÓNG MÂY

Có ai mua Thơ hông?”.  Ôi tiếng rao nhẹ hổng / một buổi tối trăng hồng… mà nghe lòng bạc phếch!

Thơ của những người chết!  Tản Đà và Nguyễn Du!  Nguyễn Du buồn Thiên Thu:  Đoạn Trường Tân Thanh nhé!  Tản Đà thì biển lệ tràn núi Tản sông Đà…

Một thời Nước Non Ta đêm đêm trào nước mắt!  Tổ Quốc ơi còn, mất?  Tiếng rao Thơ thê lương!

Hình như gió sông Hương đang thổi qua Mang Cá?  Hình như người Thanh Hóa đang nhớ người Nguyệt Biều…

“Ba Vì Tây Lĩnh non xanh ngắt.  Một dải Thu Giang nước vẫn đầy!”.  Nước… cũng là… nước mắt?  Người đi không thấy về!

Hoài Khanh, bài Cà Ty, như vầy – nghe nha bạn:  “Một dòng xanh mấy niềm sâu, chợt nghe gió lạnh từ đâu thổi về… Giật mình sương rụng trên đê:  Người Đi Rồi Chẳng Thấy Về, Chao Ôi!”.

Nhắc thôi!  Chừng đó thôi… một thời Thơ tê tái… Tôi yêu người con gái một thời tóc gió thơm…

Tôi cũng nhớ Liên Khương – phi trường máy bay đậu.  Đà Lạt tôi nương náu… xa ngút ngàn chân mây!

Tôi biệt xứ đến nay:  52 năm!  Vĩnh Biệt!  Lời chào trước khi chết… tuổi tàn… mưa bóng mây!

Trần Vấn Lệ




Phóng Sự Phạm Phan Lang – SÀI GÒN VẪN MÃI LÀ SÀI GÒN

==

Năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày tên Sài Gòn thân yêu bị xóa bỏ bằng một quyết định chính trị. Nhưng có những tên gọi đã đi vào lịch sử, thấm sâu trong ký ức và nằm mãi trong trái tim của một dân tộc — thì không một quyền lực nào có thể xóa đi.

Với tôi, và có lẽ với hàng triệu người Việt xa quê, Sài Gòn vẫn mãi là Sài Gòn — thành phố của một thời tuổi trẻ, của bao kỷ niệm vui buồn, và cũng là nơi tôi đã rời quê hương trong đêm cuối cùng của Tháng Tư năm 1975, để bắt đầu cuộc đời lưu lạc nơi xứ người.

Tham dự buổi lễ, lắng nghe những lời phát biểu đầy tâm huyết, đặc biệt là bài nói chuyện mạnh mẽ của Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, tôi vô cùng xúc động và càng thấm thía lời Ngài nhắn gửi:

“Thể chế chính trị nào rồi cũng sẽ qua đi, triều đại nào rồi cũng sẽ sụp đổ, chỉ có dân tộc là trường tồn.”

==

Xin được chia sẻ cùng Thầy Cô và quý thân hữu video Đại Lễ, bài nói chuyện của Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, cùng những hình ảnh tôi ghi lại trong buổi lễ — như một chút tấm lòng gửi về Sài Gòn thân yêu.

==

Phamphanlang

Video Đại Lễ “Ngày Sài Gòn 2026”:
https://www.youtube.com/watch?v=0D0CLanIbZQ

📷 Album hình ảnh Đại Lễ do PL ghi nhận:
https://photos.app.goo.gl/41MQAkdt7HkgiWvZ7




Tsu A CẦU – KHÍ CHẤT NGANG TÀNG VÀ TUYÊN NGÔN CHÍNH NGHĨA.

LỜI NGỎ
Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,
Hôm qua, đúng 4 giờ sáng, tôi thi hành lệnh “hành quân”, trình diện tại điểm tập hợp “QD
Venue”. Đến nơi thì thấy… vắng hoe! Ở cái tuổi già sức yếu, chân đi cà nhắc, tôi đâm lo mình
nhớ nhầm ngày nên vội gọi điện thoại “double check” với Trung tâm Trưởng Bùi Đẹp. Không
thấy bắt máy, nhưng ngay sau đó có một chiếc xe truck rà tới, hóa ra chính là “hắn”.
Hai ông già, một ông thì mắt lem nhèm, ông kia chắc còn ngái ngủ, nên cứ rà hoài mà không
đúng mật mã, ổ khóa nhất quyết không chịu mở ra. Sau màn dạo đầu lúng túng thì mọi việc cũng
trơn tru, hai thằng già cười xòa rồi kéo nhau vào sàn khiêu vũ “Quốc Dương Dancing Club” để
bắt đầu lo phần trang trí cho ngày Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 22. Lác đác sau đó, anh em
Tập thể Chiến sĩ Trung tâm Tây Nam cũng tụ họp đông đủ. Anh Hải đến sau cùng, phân bua:
“Tôi đã vặn đồng hồ báo thức lúc 3 giờ mà sao không nghe gì hết?” Không biết hai ông bà làm
gì tối hôm qua mà ngủ say đến độ không nghe chuông báo, để lát nữa tôi phải hỏi lại người đẹp
Loan Anh mới rõ!
Thành phần tích cực đáng tuyên dương trong buổi sáng hôm đó gồm có: Cầu, Đẹp, Đức, Hải,
Hiệp, Truật, Phước, và Dinh. Phái đoàn của hai anh Minh và Hùng cũng đã đến kịp thời, nhộn
nhịp thiết lập hệ thống thu hình và âm thanh. Đây là những anh em thầm lặng có công mà ít ai
biết đến nên tôi xin ghi lại đôi dòng, còn diễn biến chi tiết sau đó xin kính mời quý vị xem video
Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 22 sẽ được phổ biến online.
Trong sinh hoạt hôm qua, tôi bị vài người quen chặn lại hỏi thăm. Tôi đành lên tiếng xin lỗi vì
thực sự không nhận ra “chàng hay nàng là ai”. Họ cười bảo: “Tôi thấy anh nói trên TV, tôi đọc
bài anh viết trên mạng thì tôi biết anh, chứ anh làm sao biết tôi được!” Té ra đều là khán, thính
giả và độc giả của mình cả. Ha ha ha, vậy là mình đã “nổi tiếng” rồi sao? Nhưng ngẫm lại, cái
“tài” thường đi liền với cái “tai”, một vần thôi, mà nặng lắm!
Ngay tại bãi đậu xe, một Niên trưởng đàn anh gọi tôi ra nói chuyện riêng: “Bài của chú, anh đọc
hết rồi. Nhiều bài rất tốt, rất hay, nhưng cũng có nhiều bài, anh sẽ viết phản biện đấy, chờ nhé!”
Lời nhắn nhủ khiến tôi suy nghĩ lung lắm. Thân mình “múa rìu qua mắt thợ” bấy lâu nay, sơ sẩy
một chút là “ăn đạn” như chơi! Nhớ lại gần mười năm trước, trong Đại Hội Võ Bị Toàn Cầu, khi
được đề cử và tín nhiệm vào chức vụ Tổng Hội Trưởng, tôi cũng hí hửng như bây giờ, để rồi sau
đó bị đưa ra làm “bia xạ trường” suốt hai năm liền. Nhờ những thử thách đó mới có một “cái tôi
đáng ghét” của ngày hôm nay. Đúng là thời thế tạo anh hùng… rơm”, mà một độc giả thân mến
của tôi còn ưu ái gọi bằng danh xưng “nhà văn quân đội”! Tôi vui vẻ kính mời Niên trưởng ấy
viết bài góp ý để anh em chúng ta cùng bàn thảo, tranh luận trên tinh thần xây dựng, chứ nhất
quyết không tranh cãi.
Một niềm hân hạnh khác là tôi được gặp lại anh Châu Thụy, Giám đốc Viện Bảo Tàng Di Sản
Người Việt (Vietnamese Heritage Museum – VHM), cũng đến yểm trợ Đại Nhạc Hội. Hai anh
em đã tâm sự và bàn thảo về một công tác trong tương lai gần của VHM. Cá nhân tôi không
muốn thấy những nhân sự không thích hợp làm ảnh hưởng đến các quyết định chung của công
tác cộng đồng, nên đã nhận lời góp ý, nếu được yêu cầu. Hy vọng rằng các cựu quân nhân khác cũng sẽ tích cực tham gia ngay từ đầu để khỏi bị rơi vào thế “ngạc nhiên” trước những sự việc đã
rồi như từng xảy ra trước đây.
Sau loạt bài phân tích về kiệt tác High Noon, có độc giả thắc mắc tại sao tôi không viết về một
bộ “phim chiến tranh Việt Nam” đúng nghĩa. May thay sáng nay, tôi nhận được một gợi ý từ tin
nhắn của Bác sĩ Nguyễn Hoàng Quân cho biết ông Richard Botkin — nhà sản xuất cuốn phim
giải ảo lịch sử Ride the Thunder — sẽ tham gia ủng hộ buổi gây quỹ truyền hình sắp tới nhằm an
vị “Tượng Đài Tái Chiếm Cổ Thành Quảng Trị” tại Nam California.
Để đáp lại lời đề nghị ý nghĩa này, tôi xin trân trọng giới thiệu bài tham luận chính luận: “Khí
Chất Ngang Tàng Và Tuyên Ngôn Chính Nghĩa”.
Kính mời quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu cùng quý Thân Hữu cùng đọc, thảo luận và phổ biến
rộng rãi bài viết này.
Trân trọng,
Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)
Huntington Beach, California, ngày 13 tháng 7 năm 2026.
+++

KHÍ CHẤT NGANG TÀNG VÀ TUYÊN NGÔN CHÍNH NGHĨA
Đặt Phim Giải Ảo “Ride the Thunder” Ngang Tầm Kiệt Tác Điện Ảnh “High Noon”

Tsu A Cầu

Một trong những đặc tính cốt lõi giúp Hoa Kỳ đạt được những kỳ tích vô tiền khoáng hậu trong
250 năm qua chính là tinh thần khai phóng, mạo hiểm, tự lập và dám liều lĩnh. Trong dòng chảy
văn hóa ấy, điện ảnh không chỉ đóng vai trò giải trí mà còn là lăng kính phản chiếu những thử
thách đạo đức nghiệt ngã của kiếp nhân sinh. Nếu kiệt tác kinh điển High Noon (1952) của
Hollywood được xem là đỉnh cao triết học xã hội về sự cô độc của người giữ lý tưởng, thì tác
phẩm truyện phim tài liệu Ride the Thunder (2015) của cựu Sĩ quan Thủy quân Lục chiến Mỹ
Richard Botkin chính là một phát súng lệnh giải ảo lịch sử đương đại. Khi đặt hai tác phẩm này
lên bàn cân chính luận, chúng ta sẽ nhìn thấy hai hành động đối nghịch mang tính biểu tượng tối
thượng: “Vứt bỏ chiếc phù hiệu cảnh sát” và “Dương cao ngọn cờ Việt Nam Cộng Hòa”.
I. Bi Kịch Của Sự Thỏa Hiệp Và Giới Hạn Của Hành Động “Vứt Bỏ”
Trong High Noon, biên kịch Carl Foreman đã mượn bối cảnh viễn tây để ẩn dụ về chính nỗi đau
bị đồng nghiệp quay lưng trong thời kỳ thanh trừng của chủ nghĩa McCarthy năm 1951. Cảnh sát
trưởng Will Kane, vì nguyên tắc đạo đức tối thượng, đã chọn ở lại chiến đấu độc hành chống lại
băng đảng bạo chúa Frank Miller, bất chấp sự hèn nhát, trốn tránh của cả thị trấn Hadleyville.
Phân cảnh kết thúc phim đã trở thành kinh điển: Sau khi hạ gục kẻ thù, Will Kane tháo chiếc phù
hiệu Sheriff ném thẳng xuống vũng bùn trước sự chứng kiến của đám đông thực dụng vừa chui
ra khỏi nơi ẩn nấp. Hành động vứt bỏ ấy chứng tỏ sự khinh bỉ tột cùng của một người đàn ông
chính trực đối với những kẻ vô ơn, chỉ biết hưởng thụ an bình nhưng lại trốn chạy cái giá của tự
do. Will Kane ném phù hiệu vì ông không muốn danh dự của mình tiếp tục bị ràng buộc hay lợi
dụng bởi một tập thể không còn xứng đáng được bảo vệ.
Tuy nhiên, xét ở góc độ lập thuyết chính luận, hành động “vứt bỏ” của Will Kane dù khí phách
nhưng vẫn mang sắc thái của một bi kịch bất lực. Đó là sự dứt khoát đoạn tuyệt với thời cuộc,
một sự thoái lui trong cô độc khi cá nhân nhận ra mình không thể thay đổi được sự băng hoại đạo
đức của số đông. Will Kane chọn cách quay lưng với thị trấn, khép lại chương sách trách nhiệm
của mình trong sự im lặng cay đắng.
II. Khúc Ca Bi Tráng “Ride the Thunder” Và Dũng Khí Ngạo Nghễ Của Hành Động
“Dương Cao Ngọn Cờ”
Đối nghịch hoàn toàn với thế trận độc hành và sự buông bỏ của Will Kane, Ride the Thunder của
Richard Botkin đưa người xem bước vào một chiều không gian lịch sử thực tế oai hùng hơn rất
nhiều: Cuộc chiến chống lại làn sóng toàn trị cộng sản của người lính Thủy quân Lục chiến Việt
Nam Cộng Hòa trong Mùa hè Đỏ lửa 1972.

Trọng tâm của cuốn phim khắc họa tình đồng minh giữa Trung tá Lê Bá Bình (Tiểu đoàn
trưởng Tiểu đoàn 3 Sói Biển) và Đại úy John Ripley (Cố vấn Cao cấp Tiểu đoàn 3 TQLC
VNCH) khi họ bò dưới làn mưa đạn để giật sập cầu Đông Hà vào ngày 2 tháng 4 năm 1972.
Chiến tích huyền thoại này chính là tiền đề quyết định để quân ta củng cố lực lượng, mở cuộc đại
phản công oanh liệt tiến về tái chiếm toàn bộ vùng đất Quảng Trị bị tàn phá bởi bom đạn oan
nghiệt.
Vào ngày 15 tháng 9 năm 1972, giữa đống gạch vụn nhuốm máu của Cổ thành, những người lính
Thủy quân Lục chiến VNCH đã quyết tử dựng ngọn cờ quốc gia vút cao lên bầu trời. Nếu đặt hai
hình ảnh này cạnh nhau, chúng ta sẽ thấy: Hành động “vứt bỏ” chiếc phù hiệu của Will Kane
dứt khoát không thể oai hùng và ngạo nghễ bằng hành động “dương cao” ngọn cờ chính
nghĩa của người lính miền Nam.
Dương cao ngọn cờ giữa làn mưa pháo không phải là một hành động mang tính nghi thức hình
thức, mà là dũng khí ngạo nghễ của kẻ chiến thắng tinh thần. Đó là lời tuyên ngôn đanh thép với
thế giới rằng: Dẫu hậu phương chính trị có lập lờ, dẫu đồng minh có toan tính tháo chạy, thì tư
cách và lý tưởng “Tổ Quốc — Danh Dự — Trách Nhiệm” của người lính vẫn hiên ngang đứng
trên đỉnh cao lịch sử. Hành động “vứt bỏ” của Will Kane là sự khinh bỉ đối với những kẻ vô ơn;
còn hành động “dương cao ngọn cờ” của người lính TQLC tại Cổ thành là một hành vi cao
thượng, dùng xương máu để khẳng định và tái xác định giá trị Tự do cho một dân tộc. Họ không
thoái lui, họ không từ bỏ, họ đứng vững ở vị trí của mình để làm ngọn hải đăng tư tưởng.
Và lịch sử đã trả lại sự sòng phẳng muộn màng nhưng xứng đáng.
Ngày 18 tháng 6 năm 2026 — đúng vào dịp kỷ niệm 250 năm lập quốc Hoa Kỳ — Tổng thống
Donald J. Trump đã chủ trì lễ truy tặng Huân chương Danh dự (Medal of Honor), huân
chương cao quý nhất của quân đội Mỹ, cho Đại tá John W. Ripley tại Phòng Đông Nhà Trắng.
Đứng nhận huân chương thay ông là người con trai Thomas Ripley, cùng các thành viên gia đình
— 54 năm sau ngày cha họ treo mình dưới gầm cầu Đông Hà trong làn mưa đạn.
Trong bài phát biểu tại buổi lễ, Tổng thống Trump nhắc lại lời cầu nguyện mà Đại úy Ripley đã
thầm đọc trong suốt năm tiếng đồng hồ đặt thuốc nổ dưới làn đạn: “Chúa Giêsu, Đức Mẹ, dẫn
con đến đó, chỉ cần dẫn con đến đó.” Rồi kết luận: “Khi John kích nổ, cây cầu sụp xuống sông,
đập tan cuộc tiến công và cứu lấy hy vọng của một Việt Nam tự do trong buổi sáng Phục Sinh
đó.”
Ngày hôm sau, tên Đại tá Ripley được khắc vào Đại sảnh Danh dự của Ngũ Giác Đài. Tướng
Eric Smith, Tư lệnh Thủy quân Lục chiến, tuyên bố hành động phá cầu Đông Hà “sẽ vang vọng
mãi đến vĩnh hằng.”
54 năm — đó là khoảng thời gian mà sự thật phải chờ đợi để được công nhận chính thức bằng
huân chương cao nhất. Nhưng sự thật không cần huân chương để tồn tại. Hành động của Đại tá
Ripley bên cạnh Trung tá Lê Bá Bình và Tiểu đoàn 3 Sói Biển ngày 2 tháng 4 năm 1972 đã tự
khắc mình vào lịch sử từ phút giây ấy — không cần bất kỳ sự phê chuẩn nào từ Washington.
III. Nhận Định Và Phê Bình Điện Ảnh: Sức Mạnh Của Sự Thật Giải Ảo

Cuốn phim Ride the Thunder xứng đáng được nâng tầm ngang hàng với các kiệt tác chính luận
thế giới như High Noon vì ý nghĩa cao đẹp và dũng khí giải ảo của nó. Trong khi Hollywood
suốt nhiều thập kỷ luôn lập lờ, bóp méo hình ảnh người lính miền Nam qua các bộ phim mang
tính định kiến cánh tả, thì tác phẩm của Richard Botkin — một cựu Sĩ quan Thủy quân Lục chiến
Mỹ — đã trả lại sự sòng phẳng tuyệt đối cho lịch sử.
Bằng cách đan cài khéo léo giữa ngôn ngữ điện ảnh chân thực và những cuộc phỏng vấn nhân
chứng sống, Ride the Thunder chứng minh một chân lý: Người lính Việt Nam Cộng Hòa không
hề thua trên mặt trận quân sự. Sự sụp đổ của một thực thể tự do vào ngày 30 tháng 4 năm 1975
không xuất phát từ tinh thần của người chiến sĩ, mà từ sự phản bội của các chính trị gia sa-lông
tại Washington khi cắt đứt nguồn viện trợ.
Sự tương quan giữa hai bộ phim nằm ở chỗ: Cả Will Kane và người lính VNCH đều bị bức tử
bởi sự ích kỷ, hèn nhát của hậu phương. Nhưng người lính miền Nam đã vượt lên trên bi kịch
của Will Kane. Kane chỉ phải đối diện với nghịch cảnh trong một buổi trưa tròn 85 phút; còn
người lính Việt Nam Cộng Hòa phải chịu đựng một hành trình dài hơn nửa thế kỷ để giữ gìn
danh dự và trách nhiệm, ngay cả khi chiếc “badge” phù hiệu trên tay đã bị tước đoạt một cách tàn
nhẫn bởi mệnh lệnh bắt buộc đầu hàng.
IV. Đối Diện Phản Biện Sòng Phẳng Của Lịch Sử
Đến đây, một độc giả khách quan có quyền đặt ra những câu hỏi gai góc: Nếu tinh thần chiến
đấu và năng lực quân sự của VNCH mạnh mẽ như những gì “Ride the Thunder” mô tả, tại sao
các vị lại thất bại vào năm 1975? Phải chăng có những yếu tố nội tại đổ vỡ từ bên trong chứ
không đơn thuần chỉ là lỗi của đồng minh quay lưng? Và Hollywood thật sự bóp méo, hay họ chỉ
phản ánh một góc nhìn chiến tranh mang tính phản chiến của xã hội Mỹ thời bấy giờ?
Là người trong cuộc, là người lính bước ra từ cuộc chiến, tôi xin trả lời một cách sòng phẳng dựa
trên những số liệu lịch sử không thể chối cãi:

  1. Về câu hỏi “Vì sao thất bại? Yếu tố nội tại là gì?”:
    Chúng tôi dũng cảm nhìn nhận VNCH có những khiếm khuyết nội tại nghiêm trọng. Đó là tình
    trạng tham nhũng ở một vài cấp thượng tầng chính trị, sự bất ổn của các phong trào dân sự bị
    thâm nhập ở hậu phương, và một nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào viện trợ bang giao.
    Thế nhưng, điểm gãy quyết định đẩy VNCH vào vực thẳm năm 1975 không phải là sức mạnh ý
    chí chiến đấu, mà là bài toán tiếp vận nghiệt ngã từ Hiệp định Paris 1973. Theo các tài liệu
    giải mật của Ngũ Giác Đài, sau năm 1973, trong khi khối Cộng sản quốc tế (Liên Xô và Trung
    Quốc) ồ ạt tăng viện trợ quân sự cho Bắc Việt gấp nhiều lần, thì Quốc hội khóa 93 của Hoa Kỳ
    đã cắt giảm viện trợ cho VNCH một cách tàn nhẫn: từ 2,1 tỷ USD năm 1973 xuống còn 700 triệu
    USD năm 1974.
    Vào giai đoạn cuối, người lính VNCH phải ra trận trong tình trạng thiếu hụt đạn dược trầm
    trọng: mỗi khẩu pháo chỉ được bắn tối đa 1 đến 2 viên một ngày, băng cứu thương phải giặt lại
    để dùng lại, và xe tăng không có xăng để di chuyển. Người lính VNCH bị trói tay, tước đoạt vũ
  2. khí trên bàn hội nghị trước một đối phương được trang bị đầy đủ. Sự sụp đổ năm 1975 là một bi
  3. kịch của sự bất đối xứng về mặt hậu cần chiến lược, chứ không phải sự đầu hàng của dũng khí.
  4. Về câu hỏi “Hollywood bóp méo hay chỉ phản ánh góc nhìn khác?”:
    Nhiều nhà phê bình phương Tây biện hộ rằng các bộ phim như Platoon (1986) hay Apocalypse
    Now (1979) chỉ đơn giản phản ánh chấn thương tâm lý của người lính Mỹ. Điều đó đúng một
    nửa. Nhưng cái sai của Hollywood, và cũng là sự “bóp méo” nguy hiểm nhất, chính là sự xóa
    nhòa căn cước và tiếng nói của người lính VNCH.
    Trong phần lớn các tác phẩm đó, người lính miền Nam — những người trực tiếp gánh chịu cuộc
    chiến bảo vệ quê hương mình — hoàn toàn biến mất hoặc chỉ xuất hiện như những cái bóng
    mờ nhạt, hèn nhát, làm nền cho bi kịch nội tâm của người Mỹ. Đó không phải là “góc nhìn
    khác”, đó là sự bất công của việc độc quyền lịch sử thông qua truyền thông. Ride the Thunder
    ra đời để sửa chữa lỗ hổng đó, đặt người lính VNCH về đúng vị trí trung tâm của một thực
    thể chiến đấu có tư cách và danh dự.
    V. Sứ Mệnh Đồng Hành Vì Một Tương Lai Sòng Phẳng
    Lịch sử 250 năm của Hoa Kỳ là minh chứng hùng hồn: Một quốc gia chỉ có thể thịnh vượng khi
    biết giải phóng con người dựa trên nguyên lý tối thượng là Tự do cá nhân và Quyền tư hữu. Sứ
    mệnh của thế hệ đi trước—những người lính và người trí thức miền Nam cũ—là phải gọi đúng
    tên chính và tà, công và tội, sòng phẳng với lịch sử để truyền lại ngọn lửa tư tưởng cho thế hệ
    mai sau.
    Chúng ta cần và vinh danh những người đồng hành như ông Richard Botkin. Sự dấn thân của
    ông khi thực hiện cuốn phim này chứng tỏ tinh thần thượng tôn sự thật của một sĩ quan TQLC
    Mỹ. Nó là chiếc cầu nối tinh thần đưa thế hệ trẻ hải ngoại thoát khỏi những ảo tưởng lý thuyết
    màu hồng trong giảng đường đại học để hiểu rằng: “Thiếu tự do là thiếu tất cả.”
    Người lính Việt Nam Cộng Hòa giữ vững lý tưởng, bởi vì họ không thể sống khác đi. Họ không
    chọn cách “vứt bỏ” để quay lưng với lịch sử, mà chọn cách giữ vẹn nguyên ngọn cờ vàng trong
    tâm tưởng. Đó là tư cách sống của những người đàn ông ngạo nghễ, quyết không bao giờ để
    mình phải cúi đầu trước bóng hình của một kẻ hèn mỗi khi soi gương nhìn lại cuộc đời!
    Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)
    Huntington Beach, California, ngày 13 tháng 7 năm 2026.



LÊ XUÂN MỸ – TIẾNG VỌNG ÂN TÌNH

Càng đến gần ngày 26 tháng 7, lòng tôi càng trĩu nặng một niềm bồi hồi khó tả. Đó không
phải là sự háo hức của một buổi họp mặt đồng hương, cũng chẳng đơn thuần là niềm vui gặp lại
những người bạn cũ. Đó là một khoảng lặng đầy thao thức. Cứ mỗi lần nhìn thấy dòng chữ “Đại
Hội Cám Ơn Anh”, lồng ngực tôi lại thắt lại.

Ba chữ đơn sơ ấy thôi mà nặng trĩu những giọt nước mắt, chứa đựng cả một trời kỷ niệm và hơn nửa thế kỷ ân tình của những người con ly hương dành cho các thương phế binh năm xưa, những người đã gửi lại một phần thân thể nơi chiến trường, và giờ đây đang lặng lẽ đi qua nốt những ngày xế chiều gian khó trên quê hương.

Hơn năm mươi năm đã trôi qua kể từ biến cố tháng Tư năm 1975. Thời gian đủ dài để những
mái đầu xanh ngày nào giờ đã bạc trắng như sương, đủ dài để một thế hệ cứ thưa vắng dần sau
những lần đưa tiễn.

Nhưng thời gian ấy vẫn chưa bao giờ đủ để xóa nhòa ký ức của một cuộc chiến đầy máu và nước mắt. Đối với những người Việt trên đất Mỹ, cuộc chiến ấy chưa bao giờ là những trang sử đã khép lại. Nó vẫn hiển hiện mồn một trong những câu chuyện kể nghẹn ngào của cha anh, trong những giấc mơ chập chờn thức giấc giữa đêm muộn của người lính già, và trong nỗi day dứt khôn nguôi dành cho những đồng đội còn ở lại quê nhà.

Ngày ấy, họ cũng là những chàng trai đôi mươi đầy hoài bão. Có người vừa xếp lại chiếc áo
thư sinh, gác lại giảng đường đại học, có người chỉ vừa kịp trao chiếc nhẫn cưới cho người
thương. Họ khoác lên mình bộ quân phục màu áo trận không phải để kiếm tìm vinh quang, mà
bởi tiếng gọi thiêng liêng của hai chữ “Tổ Quốc”. Rồi cuộc chiến đi qua, có người mãi mãi nằm
lại dưới lòng đất lạnh. Nhưng cũng có những người trở về mà không còn nguyên vẹn, một cánh
tay gửi lại đâu đó trên ruộng đồng, một đôi chân gửi lại bờ kinh, hay những mảnh đạn nhức nhối
găm sâu vào da thịt mỗi khi trái gió trở trời. Những vết thương ấy đâu chỉ làm đau thân xác, nó là
nỗi đau gặm nhấm tâm can suốt cả một đời người.

Thế nhưng, điều nghiệt ngã nhất lại ập đến khi tiếng súng đã ngừng vang. Bước ra khỏi cuộc
chiến, những người thương phế binh ấy mất đi cả tương lai. Không còn quân ngũ, không còn chế
độ bảo trợ, họ trở thành những cái bóng bên lề xã hội, phải gồng gánh mưu sinh bằng chính thân
hình tàn phế của mình. Nhắm mắt lại, tôi như thấy hình ảnh người lính năm xưa bước thấp bước
cao trên đôi nạng gỗ, chìa từng tờ vé số giữa trưa nắng cháy, thấy người ngồi vá xe bên lề đường
bụi bặm, hay nằm liệt giường mòn mỏi trong góc tối căn nhà dột nát. Và điều làm tôi thắt lòng
nhất, suốt bao năm tháng dâu bể ấy, họ chọn cách im lặng. Họ gánh chịu số phận bằng lòng tự
trọng kiêu hãnh cuối cùng của một người lính.

Năm 1998, tôi đặt chân đến nước Mỹ với hai bàn tay trắng, mang theo hành trang duy nhất là
thân phận của một kẻ tị nạn. Nước Mỹ bao dung đã mở rộng vòng tay, cho tôi và gia đình một
cuộc đời mới, một tương lai tự do. Mỗi sáng nhìn lá cờ hoa tung bay trong gió, tôi lại tự hỏi,  nếu
ngày ấy, những người lính không chấp nhận đứng nơi đầu sóng ngọn gió, nếu họ không lấy máu
xương để kìm giữ bước chân thù, liệu có bao nhiêu người trong chúng ta kịp bước chân lên con
tàu tự do? Câu hỏi ấy là một vết cứa sắc nhọn vào trái tim, nhắc nhở tôi rằng mình đang mang
một món nợ ân tình lớn đến mức cả đời này cũng không cách nào trả hết.

Là con của một người sĩ quan đã vĩnh viễn nằm lại trong trại tù Vĩnh Phú năm 1979, tôi thấu
cảm đến tận cùng nỗi đau của người ở lại. Tôi biết thế nào là một căn nhà vắng bóng cha, thế nào
là tiếng thở dài thâu đêm của mẹ, và thế nào cái cảm giác nghẹn ngào của những đứa trẻ phải lớn
lên khi chỗ dựa của gia đình đã mất. Vì vậy, mỗi lần nhìn vào hình ảnh các anh thương phế binh,
tôi không chỉ thấy những người lính năm xưa. Tôi thấy cha tôi. Tôi thấy những người bạn của
cha. Tôi thấy cả một thế hệ đã đi qua một khúc quanh lịch sử quá nhiều nghiệt ngã.

Có lẽ vì thế mà mỗi năm, tôi đều cố gắng tìm về với Đại hội Cám Ơn Anh. Với tôi, đây không
phải là một chương trình giải trí thông thường, mà là nơi để lương tâm của người Việt ly hương
lên tiếng. Mỗi tấm vé, mỗi phong bì quyên góp đều mang theo một lời hứa thủy chung từ nửa
vòng trái đất: “Các anh ơi, xin đừng tuyệt vọng, các anh không bị lãng quên.”

Đến với đại hội, điều chạm vào góc sâu thẳm nhất trong tim tôi chính là những hình ảnh đầy
xúc động. Là những mái đầu bạc phơ, lưng đã còng nhưng vẫn trang trọng khoác lên mình bộ
quân phục thời Việt Nam Cộng Hoà, đứng nghiêm trang chào lá quốc kỳ. Là những giọt nước
mắt lặng lẽ lăn dài trên gò má nhăn nheo khi giai điệu chinh chiến ngày cũ vang lên. Và ấm lòng
biết bao khi tôi bắt gặp ánh mắt những người trẻ sinh ra và lớn lên trên đất Mỹ. Các em may mắn
được sống trong thanh bình, không biết đến mùi thuốc súng, nhưng tại đây, nhìn thấy giọt nước
mắt của người đi trước, các em đã biết cúi đầu trước sự hy sinh của thế hệ ông cha. Sự tiếp nối
ấy là minh chứng hùng hồn nhất rằng tự do không bao giờ có sẵng, và lòng tri ân sẽ không bao
giờ bị chôn vùi.

Các anh thương phế binh ở quê nhà giờ đều đã như đèn treo trước gió. Phần lớn đã bước qua
tuổi tám mươi, cái tuổi gối mỏi chân chồn, bệnh tật bủa vây. Mỗi một năm qua đi, danh sách ấy
lại càng ngắn lại. Thời gian tàn nhẫn lắm, không đợi một ai. Nếu hôm nay chúng ta còn có thể
gửi cho các anh một lời thăm hỏi, một chút quà sưởi ấm lòng, thì xin đừng chần chừ thêm nữa.
Đừng để đến một ngày, khi tất cả chỉ còn là những tấm di ảnh khói hương nghi ngút, ta mới giật
mình tự trách: “Giá như ngày ấy mình làm nhiều hơn…”

Món quà lớn nhất mà chúng ta gửi về bên kia đại dương, có lẽ không phải là những tờ dollar
lạnh lùng, mà là tấm lòng của tình đồng bào. Để ở một góc khuất nào đó tại quê nhà, giữa những
chật vật của cuộc sống, các anh biết rằng sau nửa thế kỷ trôi qua, giữa một nước Mỹ phồn thịnh,
vẫn có hàng triệu trái tim người Việt luôn nhớ về các anh. Chừng nào người Việt còn yêu tự do,
chừng đó các anh vẫn sống mãi trong lòng dân tộc.

Nếu có một phép màu để gửi một lời đến thế giới bên kia, tôi chỉ muốn nói với cha rằng:
“Cha ơi, con chưa bao giờ quên. Những gì cha và thế hệ của cha đã trải qua vẫn luôn nguyên vẹn
trong tâm khảm của con. Hôm nay, con đến đây để thay cha nói lời cảm ơn đến những người
đồng đội của cha, đến các chú, các bác đã mất hay đang là thương phế binh đã kiên cường chịu
đựng suốt bao năm qua.”

Đại hội Cám Ơn Anh năm 2026 rồi sẽ khép lại. Sân khấu trước Grand Century Mall sẽ được
tháo gỡ, khoảng sân rộng trước cổng vào sẽ được trả về nguyên vẹn, mọi người sẽ quay lại với
những lo toan thường nhật. Nhưng dư âm của ngày hôm ấy sẽ hóa thành dòng máu chạy trong
tim mỗi người. Bởi vì có những ngày không chỉ được ghi trên tờ lịch, mà đã được khắc sâu vào
tâm khảm. Và với riêng tôi, ngày 26 tháng 7 này sẽ là ngày tôi hoàn thành tâm nguyện lớn nhất
của đời mình, được thay cha nói lên lời tri ân mà tôi đã ấp ủ suốt bao nhiêu năm dài viễn xứ,
Cám Ơn Anh.

Lê Xuân Mỹ

San Jose Tháng 6/2026




KIỀU MỸ DUYÊN – NHỮNG MỐI TÌNH TUYỆT VỜI GIỮA HỌC SINH TRƯNG VƯƠNG VÀ HỌC SINH CHU VĂN AN.




Minh Thúy: HAPPY 4TH OF JULY – Phương Hoa: LỄ ĐỘC LẬP – ALAMEDA – Hòn Đảo Nhỏ Mang Trái Tim Nước Mỹ.

==

HAPPY 4TH OF JULY

.

Lễ Độc Lập Hoa Kỳ

Diễn hành oai hùng đi

Trống kèn hòa nhịp điệu

Lá cờ vẫy uy nghi

.

Kỷ niệm ngày khai sinh

Hai trăm rưỡi năm nhìn

Thành lập trang lịch sử

Chặng đường dài hiển vinh

.

1776 tranh

Tuyên ngôn Độc Lập giành

Ra đời Hợp Chủng Quốc

Biểu tượng Tự Do thành

.

Từng giai đoạn khó khăn

13 thuộc địa hằng

Đấu tranh nền dân chủ

Gian khổ phải hiểu rằng

.

Cộng đồng người Việt Nam

Tri ân ý nghĩa hàm

Mỹ mở vòng tay đón

Khởi công bắt tay làm

.

Dự lễ mừng lắm thay

Cờ Mỹ, cờ vàng bay

Cùng đoàn kết dân tộc

4 tháng 7 vui ngày

.

Nơi nơi tiệc rộn ràng

Khui rượu hát hòa vang

Mừng Cờ Hoa vững chải

Thế hệ sau xếp hàng

.

Đêm nghe pháo đì đùng

Trên trời tỏa sáng khung

Xanh đỏ vàng rực rỡ

Niềm cảm xúc hoà chung

.

Minh Thúy Thành Nội

Tháng 7/4/2026

==

Lễ Độc lập _ Mừng Nước Mỹ 250 Năm

Năm nay nước Mỹ mừng 250 năm ngày Độc Lập, và cũng vừa mở hội World Cup 2026
ngay trên đất Mỹ.

Từ ngày 11 tháng 6 tới 19 tháng 7, cờ Mỹ treo khắp nơi, người ta hát quốc ca trước mỗi
trận. Gia đình nhà chồng tôi cũng rộn ràng hai thế hệ. Cô chú em ông xã, người mua vé xem tận
bên Seattle, người mua vé về Santa Clara. Các cháu cũng vậy. Vợ chồng tôi thuộc thế hệ lão niên,
chỉ có ông xã tôi ngày đêm dán mắt vào tivi theo dõi từng trận. Kể cũng tội cho ông, “rượu ngon
không có bạn hiền cùng uống”. Vì tôi chẳng biết gì về bóng đá, chỉ xem khi đội Mỹ ra sân, nghe
dân reo hò. Thấy lá Cờ Sao Sọc bay giữa sân Levi’s ở Santa Clara, sân Seattle, sân Los Angeles,
tự nhiên thấy vui, thấy ấm lòng. Đất nước đã cưu mang mình, nay đứng ra đón cả thế giới.

Qua lời kể của ông xã tôi: Đội Mỹ năm nay đá khá lắm. Mở màn gặp Paraguay ở Los
Angeles, thắng 4-1. Tội nghiệp đội bạn, tự đá vào lưới nhà một trái, còn lại thì cậu Folarin Balogun
ghi hai bàn, cuối trận cậu Gio Reyna sút thêm một trái cho đủ 4-1. Thắng trận đầu ngay trên sân
nhà, cả nước reo. Rồi gặp Úc ở Seattle, Mỹ lại thắng 2-0, giữ sạch lưới. Tới trận gặp Thổ Nhĩ Kỳ
ở Los Angeles thì Mỹ thua 3-2, nhưng đá cũng hay. Vô vòng 32 đội, Mỹ gặp Bosnia and
Herzegovina ngay sân Santa Clara gần nhà. Con cháu chở cha mẹ đi xem, đường kẹt xe, người
đông nghẹt. Mỹ thắng 2-0, Balogun mở tỉ số, rồi cậu Malik Tillman đá phạt đẹp lắm ấn định chiến
thắng. Nghe nói đây là lần đầu sau 24 năm Mỹ mới thắng được một trận loại trực tiếp ở World
Cup, từ hồi thắng Mexico năm 2002. Thắng xong Mỹ vào gặp Bỉ ở vòng 16 đội. Ngồi nhà coi TV,
thấy cầu thủ Mỹ đủ màu da, gốc gác tứ xứ, mà mặc chung một áo, hát chung một bài quốc ca.
Ngẫm cũng như mình hồi xưa, chân ướt chân ráo tới xứ này từ sau 1975.

Năm nay nước Mỹ mừng 250 năm ngày Độc Lập. Thời gian chỉ vừa trải qua ba hoặc
bốn thế hệ để người Mỹ lập nên một quốc giaa hùng mạnh nhất hành tinh.
Tôi còn nhớ một phần lịch sử được học hồi mới qua. Năm 1776, mười ba thuộc địa đồng
lòng đứng lên nói với nước Anh rằng: “Chúng tôi muốn tự do”. Rồi trải qua chiến tranh giành độc
lập, , rồi viết lên bản Tuyên Ngôn Độc lLập…rồi gian khổ trong nội chiến để bỏ đi chuyện buôn
người, chống phân biệt chủng tộc… rồi thịnh vượng. Tham gia vào hai trận Thế chiến để cứu cả
thế giới

Từng bước một, nước Mỹ đi lên từ tay trắng, từ những người di dân tứ xứ góp lại. Thành
ra hôm nay mới có một nước Mỹ bao dung, đón nhận kẻ tỵ nạn như chúng tôi. Là kẻ tỵ nạn, chân
ướt chân ráo tới xứ này từ những ngày sau 1975. Tay xách vài túi quần áo, tiếng Anh ú ớ, trong
tay không có mấy đồng. Vậy mà nước Mỹ mở vòng tay đón…

Nhìn ra khoảng sân sau, bụi hoa giấy đỏ thắm tươi dưới nắng hồng rực rỡ, cây phượng
vàng che mát khoảng sân, cành lá xanh mượt, những chùm phượng xum xuê nở rộ, ẻo lả đong đưa
trước làn gió nhẹ. Mùa hè truyền cảm giác mạnh mẽ, đầy sức sống. Mặc ông chồng đang xem bóng
đá, tôi ngắm khu vườn, thả dòng tư tưởng đi qua vùng ký ức.

Ngày đầu gia đình nhà chồng tôi qua trước, gồm 11 người con sống cùng cha mẹ trong
ngôi nhà 4 phòng ngủ, 2 phòng tắm. Chỉ có anh chị Cả ở riêng vì qua năm 75. Vợ chồng tôi và gia
đình chú em, 4 người, ở garage sửa lại thành 2 phòng. Cả gia đình chỉ có hai chiếc xe cũ mua lại
để dùng, số còn lại đi xe bus. Thời gian cứ thế trôi qua, cho đến bây giờ con cháu đỗ đạt thành
công. Tính đến nay đã có gần 20 căn nhà, có người hai cái, người ba cái. Xe gần 40 chiếc kể cả
con cháu dâu rể.

Xứ Mỹ đã cho chúng tôi cái nhà để ở, cho con cháu trường để học, cho mình công việc để
làm lại từ đầu. Từ một người mất hết, mình thành công dân, con cái nên người.

Nhớ mấy năm trước, chân còn khỏe, tôi cũng đi trong đoàn diễn hành ở thành phố Fremont.
Lúc đó tôi và ông xã là bạn một hội viên của ABC Club, một tổ chức có tính cách giáo dục, hướng
dẫn tuổi trẻ tập dạn dĩ, phải phát biểu ý kiến trước đám đông, tập nói ngắn gọn dễ hiểu để sau này
có thể trở thành người lãnh đạo, hay trong mọi lãnh vực khác. Chương trình này đã sinh hoạt gần
trăm năm trên nước Mỹ, tên là ABC Toastmasters. Gần 15 năm trở lại đây đã mở rộng trên thế
giới. ABC Toastmasters thường họp vào mỗi thứ bảy lúc 10 giờ sáng tại Unitek College, nằm trên
đường Auto Mall Parkway. Trong buổi họp, bất cứ ai cũng có thể lên thực tập, nói một đề tài nào
đó. Các diễn giả lắng nghe và nhận xét phong cách diễn đạt, rồi đúc kết những khiếm khuyết như
nói dài dòng, thế đứng chưa tự tin, giọng nói còn run. ABC Toastmasters đã tham gia diễn hành
vài năm qua và được xếp hạng nhì năm ngoái. Lúc đó chúng tôi mặc quần jean xanh, áo đỏ và đội
mũ trắng, cầm cờ nhỏ, đi giữa phố người ta vỗ tay vui lắm. Nay già rồi, chân chậm, bạn bè cùng
nhóm cũng có người đau yếu, có người bận việc gia đình, nên hết tập họp được nữa. Nghĩ cũng
buồn. Nhưng thôi, mỗi thời mỗi khác.

Vừa qua tôi nhận được email của ông hội trưởng Văn Thơ Lạc Việt, ông Lê Văn Hải, cũng
như tin nhắn của các em, bạn bè, về lời mời đúng ngày Lễ Độc Lập 4 tháng 7 năm 2026: Mời cộng
đồng tỵ nạn Việt Nam đến tham dự Lễ Thượng Kỳ đầu tháng và chương trình “Mừng 250 Năm
Quốc Khánh Hoa Kỳ”, được tổ chức tại Vườn Truyền Thống Việt, 1499 Roberts Avenue, San Jose,
CA 95122. Trước là lễ chào cờ, sau là chương trình văn nghệ, sinh hoạt cộng đồng, do Ủy Ban
Thúc Đẩy Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt – Mỹ San Jose góp phần tổ chức. Lời mời chân tình
của ông Lê Văn Hải thật tha thiết:

Năm 2026, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ long trọng kỷ niệm 250 năm ngày khai sinh quốc
gia, 1776–2026, một cột mốc lịch sử vô cùng đặc biệt, hiếm có đối với bất cứ ai đang sinh sống
trên đất nước tự do này. Đây không chỉ là dịp để nhìn lại chặng đường hai thế kỷ rưỡi của một
quốc gia được xây dựng trên nền tảng Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, mà còn là dịp để tri ân
những thế hệ đã góp phần tạo dựng nên một nước Mỹ hùng mạnh, thịnh vượng và là quê hương
thứ hai của hàng triệu người nhập cư, trong đó có cộng đồng người Việt tỵ nạn. Ngày 4 tháng 7,
Independence Day, bắt nguồn từ việc Tuyên ngôn Độc lập được chính thức thông qua ngày
4/7/1776, đánh dấu sự ra đời của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Từ đó đến nay, ngày lễ này luôn là
biểu tượng của khát vọng tự do và tinh thần đoàn kết dân tộc. Đối với cộng đồng người Việt San
Jose tỵ nạn cộng sản, Quốc Khánh Hoa Kỳ còn mang một ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là ngày tri ânđất nước đã rộng mở vòng tay đón nhận chúng ta, cho chúng ta cơ hội làm lại cuộc đời trong tự
do, an toàn và nhân phẩm. Nên trân trọng kính mời Quý Đồng Hương tham dự buổi sinh hoạt ý
nghĩa nhất. Trong đời người, rất ít ai có cơ hội được chứng kiến lễ kỷ niệm 250 năm lập quốc của
Hoa Kỳ. Đây là một dấu mốc lịch sử đặc biệt, đáng nhớ và đầy ý nghĩa đối với mọi thế hệ. Kính
mời Quý Đồng Hương cùng gia đình dành chút thời gian đến tham dự, cùng nhau kéo lá đại kỳ
Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa tung bay trong gió, cùng cất cao tiếng hát, gặp gỡ thân hữu, chia
sẻ niềm vui và bày tỏ lòng tri ân đối với đất nước đã cưu mang cộng đồng người Việt suốt hơn nửa
thế kỷ qua. Sự hiện diện của Quý Vị sẽ góp phần làm cho ngày Mừng Lễ 250 Năm Quốc Khánh
Hoa Kỳ thêm trang trọng, đông vui và đầy ý nghĩa
.”

Ngày đó chúng tôi cũng thật bận rộn, nhưng qua lời nhắc nhở của ông Lê Văn Hải về “cái
ơn” to lớn của nước Mỹ, hai thân già bệnh hoạn này cũng sẽ ráng tới tham dự, tuy nhiên mất phần
xem diễn hành nơi vùng địa phương. Sau trưa sẽ lên nhà cháu gái ở Palo Alto, sum họp đại gia
đình ăn mừng Lễ Độc Lập.

Tuổi già sức yếu, chồng tôi đang ngồi hò hét một mình theo các cầu thủ, dù âm thanh không
còn mạnh mẽ như những năm trước. Có lần trong giấc ngủ ông đã nằm mơ và hét lên “sút, sút”,
rồi nhào đầu húc vào tường mạnh, ngày sau bầm sưng tím cả mắt và vùng thịt chung quanh. Còn
tôi thì đang ngắm vùng trời xanh, áng mây trắng nhẹ nhàng trôi. Những bông hoa làm dịu mắt, tôi
mơ màng ôn lại khoảng đời từ ngày bước chân lên đất Mỹ, mỉm cười thỏa mãn và tìm niềm vui gõ
chữ ghi lại cảm xúc.

Bây giờ cũng có những niềm vui khác. Và điều cố định là sự sum họp ăn mừng Lễ Độc
Lập của đại gia đình chồng, thay phiên nhau mỗi năm, lúc tổ chức nhà này, khi nhà kia. Con cháu
bên chồng đông lắm, đều ăn học thành tài, đi làm xa. Vậy mà tới lễ là các cháu thu xếp về hết. Cả
nhà sum họp, làm tiệc lớn ngoài sân sau. Người nướng thịt, người làm gỏi, con nít chạy chơi. Tối
đến cả nhà kéo nhau ra coi pháo bông. Đứa nào cũng mặc áo, đội mũ màu xanh, đỏ, trắng, màu cờ
Mỹ. Nhìn một nhà ba thế hệ, tóc bạc có, tóc xanh có, nói tiếng Anh tiếng Việt lộn xộn, lòng thương
lắm. Nhìn vậy là cảm nhận niềm hạnh phúc, nước Mỹ đã cho mình phước báu sum vầy. Ơn này
lớn quá. Nhớ lại những ngày còn ở quê hương, ăn bo bo, mặc áo cũ, rồi nhìn lại cuộc sống bây
giờ, nhìn con cháu nên người, tự nhiên nỗi cảm xúc dâng trào. Chúng tôi mang ơn đất nước này
đã cưu mang. Mang ơn lá cờ có năm mươi ngôi sao đã che cho đại gia đình hơn 50 người suốt mấy
chục năm qua.

Mừng nước Mỹ 250 tuổi, mình không có gì lớn lao để đền đáp. Chỉ có tấm lòng biết ơn.
Biết ơn vì được sống tự do, được thờ cúng tổ tiên, được nói tiếng mẹ đẻ trong nhà mình. Biết ơn
vì ngày lễ, con cháu còn biết mặc áo dài, còn biết cúi đầu trước bàn thờ. Chúng tôi là người Việt,
nhưng cũng là người Mỹ. Hai quê hương trong một trái tim. Ngày Độc Lập, người ta đốt pháo
bông ăn mừng. Đêm khuya tôi cũng thắp nén nhang. Vừa tạ ơn nước Mỹ đã đi 250 năm để có ngày
hôm nay cưu mang chúng tôi, vừa xin ông bà phù hộ cho con cháu đừng quên cội nguồn.

250 năm, nước Mỹ vẫn trẻ trung, đầy sức sống của thời đại mới.Chúng tôi, kẻ tỵ nạn năm
xưa, nay đã lên lão. Chỉ mong trước khi nhắm mắt, con cháu mình hiểu một điều: Tự do không phải tự nhiên mà có. Phải có người ngã xuống từ năm 1776, có người cưu mang mình sau năm
1975, có người biết nhớ ơn mà giữ gìn.

Cám ơn nước Mỹ đã cho chúng tôi một đời thứ hai .

Minh ThúyThành Nội
Lễ Độc Lập Hoa Kỳ/2026

==

==

==

==

Sáng ngày 4 tháng 7.

Alameda nơi tôi sống không phải là thành phố lớn. Chỉ là một hòn đảo nhỏ nằm an bình giữa vịnh San Francisco.  Thành phố được thành lập năm 1853, hiện có khoảng tám mươi ngàn cư dân. Thế nhưng, nơi đây lại sở hữu một niềm hảnh diện khôn cùng, vì thành phố mỗi năm đều có cuộc diễn hành ngày Quốc Khánh, Lễ Độc Lập 4th July, dài nhất nước Mỹ, kéo dài hơn 3,3 dặm (5,3 km), quy tụ hàng trăm đoàn diễn hành và mỗi năm thu hút khoảng 60.000 người tới từ khắp nơi.

Năm nay lại càng đặc biệt hơn, vì là kỷ niệm 250 năm ngày Độc Lập của đất nước Hoa Kỳ. Từ rất sớm, con đường Park Street, từ đoạn Lincoln Avenue vượt qua Central Avenue về hướng downtown đã rợp sắc Cờ Hoa. Ghế xếp phủ kín hai bên lề đường. Người già, trẻ nhỏ, cựu chiến binh, gia đình nhiều thế hệ… tất cả cùng những lá cờ Mỹ phất phơ truớc gió chờ đợi đoàn diễn hành với một bầu không khí vừa náo nức vừa thiêng liêng.

Điều bất ngờ là, trong khi Hoa Kỳ kỷ niệm 250 năm Tuyên Ngôn Độc Lập (1776–2026), thì Sở Cứu Hỏa Alameda cũng vừa tròn 150 năm phục vụ cộng đồng.  Thật là kỳ diệu và thú vị vô cùng, hai điểm lịch sử hòa làm một cùng tiếng nhạc quân hành, cùng rừng Cờ Hoa sắc xanh trắng đỏ, và cùng những tràng pháo tay không dứt của người dân đứng ngồi đông nghẹt hai bên vệ đường. 

Xe hoa nối tiếp xe hoa.  Những chiếc bánh kem khổng lồ chạy xoay vòng vòng ngộ nghĩnh giữa lòng phố thị; những chú ngựa oai phong gõ vó lộp cộp đều đều trên mặt đường; những chiếc xe cổ bóng loáng, những ban nhạc, những đoàn thiếu nhi, các hội đoàn thiện nguyện, cựu chiến binh, cảnh sát, cứu hỏa… tất cả hòa nhập dệt thành một bức tranh đường phố, di chuyển ngoằn ngoèo rất sinh động, và đầy màu sắc như để minh chứng về sự hùng mạnh của nước Mỹ ngày hôm nay.

Cầm lấy cây cờ Mỹ từ tay một người lính cứu hỏa trên chiếc xe hoa chồm ra đưa khi thấy tôi chạy lại gần để chụp hình, tôi hào hứng đưa lên vẫy lia lịa.  Nhìn xung quanh tôi, người dân cũng cùng nhau vẫy cờ Hoa Kỳ, cùng reo hò vang dội mỗi khi một đoàn diễn hành, một chiếc xe hoa chạy ngang qua.  Niềm vui và hạnh phúc hiện rõ trên khuôn mặt mỗi người.  Tại thành phố của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ này, không ai hỏi bạn đến từ đâu, cũng không ai phân biệt ngôn ngữ, chỉ có những bàn tay đủ màu da, trắng, đen, vàng, đỏ… cùng vẫy lá Cờ Hoa.  Và đó mới chính là nhân tố làm nên vẻ đẹp của nước Mỹ.

==

==

Ngày Độc Lập đã được viết trong bản Tuyên Ngôn năm 1776.  Nhưng ngày Lễ Độc Lập hiện giờ đang bừng sáng vì sự ngưỡng mộ của những đứa trẻ, trong ánh mắt của toàn dân, cùng tiếng vó ngựa vang lên giữa phố, và quan trọng hơn hết, là trong quyền tự do được đứng bên nhau để mừng ngày sinh nhật của Tổ Quốc có 50 Tiểu Bang này.

Giữa biển người hôm ấy, tôi chợt hiểu vì sao cuộc diễn hành của Alameda đã tồn tại non thế kỷ.  Bởi vì nó là một lễ hội đầy ắp những nụ cười, những tiếng vỗ tay, và niềm hảnh diện của những con người bình dị từ bài học lịch sử sống động nhất.

Đã nhiều thập niên sống trên đất Mỹ, tôi đã dự Lễ Độc Lập nhiều vô số kể. Nhưng ngày hôm nay, giữa bầu trời xanh thẳm của Alameda, nhìn hàng vạn người dân đủ mọi sắc tộc cùng vẫy cờ Hoa Kỳ, tôi chợt cảm nhận rất rõ một điều.  Sức mạnh của nước Mỹ nằm ở kinh tế, quân sự, nhưng quan trọng nhất là khả năng gắn kết những con người khác nhau bằng một lý tưởng chung. Đó là hai chữ Tự Do.

*

Và rồi đêm pháo hoa. Ban ngày là ngày hội của Cờ Hoa, của tiếng nhạc quân hành, và những đoàn diễn hành bất tận, rồi khi màn đêm buông xuống, Alameda lại khoác lên mình một vẻ đẹp hùng vĩ lung linh khác.

Sau 7 giờ tối, từ trong phố ra đến bến cảng Alameda, hàng ngàn người lặng lẽ đổ về phía biển gần mép nước. Người mang theo ghế xếp, người trải tấm chăn trên bờ cát, trẻ em ôm từng dây pháo bông chạy tung tăng, rồi dừng lại đốt lên cháy sáng rực cả một góc trời.  Những người già ngồi sát bên nhau, khoác áo len mắt hướng về phía mặt vịnh mênh mông, người trẻ thì ăn uống vui cười, mở nhạc om sòm vừa ôm nhau lắc lư thật nhộn nhịp.  Nhưng tất cả đều hướng mắt về phía cầu tàu bên biển Berkeley, chờ pháo bông nở rộ.

Xa xa là cây cầu Bay Bridge của San Fransisco sáng rực ánh đèn nối liền đôi bờ vịnh. Những chiếc phà lặng lẽ lướt xa xa, hình như trên đó mang theo nhiều du khách đang chờ chứng kiến giây phút lịch sử của nước Mỹ tròn 250 năm tuổi.

Rồi…Một tiếng nổ đầu tiên xé tan màn đêm, phụt lên trời sáng lóe. Tiếp theo là tiếng reo hò vang dậy.  Rồi từng chùm pháo hoa đỏ, trắng, xanh, ba màu của lá Cờ Hoa, đồng loạt bùng nở trên bầu trời, phản chiếu xuống mặt nước lung linh như hàng ngàn viên kim cương đang nhảy múa.  Cả vịnh biển như bừng tỉnh. Tiếng pháo dội vào không gian. Tiếng sóng vỗ dập dềnh vào bến làm vỡ vụn những ánh sao trên bầu trời vừa rơi xuống nước. Tiếng vỗ tay vang dội hòa cùng tiếng trẻ thơ reo cười rộn vang trên bến.

Lúc này mọi hoạt động ăn uống như dừng hẳn lại.  Mọi ánh mắt đều hướng sang phía Berkeley Marina, nơi những chùm pháo hoa liên tiếp bừng nở trên nền trời. Từ bên kia vịnh, từng đóa hoa lửa đủ màu phản chiếu xuống mặt nước lấp lánh, khiến cả không gian như chìm trong một biển ánh sáng. Tiếng reo hò, tiếng vỗ tay tiếp tục hòa cùng tiếng sóng vỗ bờ tạo nên một bản hợp xướng tuyệt đẹp của đêm Quốc Khánh. Dù pháo hoa được bắn từ phía Berkeley, nhưng niềm hân hoan thì lan tỏa khắp mặt biển, nối liền hai bờ bằng niềm vui chung dành cho nước Mỹ.

Tôi đứng giữa biển người đông nghẹt nơi bến cảng, lặng nhìn những đóa hoa lửa nở rồi tan trên nền trời đêm, lòng bâng khuâng suy nghĩ, thương cho những đất nước nào trên trái đất mà người dân chưa bao giờ có cơ hội hiểu hết ý nghĩa của hai chữ Tự Do.

Rời bờ biển Alameda khi trời đã về khuya, nghe như tiếng nhạc vẫn còn vang vọng đâu đây. Những chùm pháo hoa bên kia vịnh đã tắt, nhưng trong tôi vẫn còn rực sáng một niềm tin. Hai trăm năm mươi năm vốn chỉ là một dấu ấn của lịch sử. Điều còn lại mãi mãi là tinh thần của một dân tộc biết trân trọng tự do, biết gìn giữ độc lập, và biết truyền ngọn lửa ấy từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ Hoa Kỳ ra khắp năm châu.

Có lẽ vì vậy mà hàng năm trong ngày Lễ Độc Lập, người ta đến Alameda để xem cuộc diễn hành dài nhất nước, và để được sống lại một phần tâm hồn của nước Mỹ tự do.  Đã đi qua biết bao mùa Quốc khánh trên quê hương thứ hai này, nhưng mỗi lần lá cờ Hoa Kỳ tung bay trong nắng tháng Bảy, lòng tôi vẫn dâng lên một niềm xúc động vô biên.  Bất giác nghĩ rằng… Đêm đã qua, pháo hoa đã tắt, nhưng ánh sáng của ngày Độc Lập sẽ còn ở lại trong trái tim của hàng vạn con người đang có mặt nơi đây.

250 năm, một dân tộc, một lá cờ, và một nền Tự Do bất diệt.

Happy Birthday, America!

Phương Hoa – Lễ Độc Lập Hoa Kỳ

==



BÀI TỪ THÂN HỮU Tsu A Cầu:  “KỲ TÍCH 250 NĂM HOA KỲ: Bốn Trụ Cột Của Một Nền Văn Minh Tự Do.”

LỜI NGỎ

Tsu A Cầu

Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,

Sau một tuần nghỉ lễ Độc Lập Hoa Kỳ, tôi có dịp quây quần cùng con cháu tại Legoland. Trong những ngày tưởng chừng chỉ để vui chơi ấy, tôi lại nhận ra một điều khá thú vị: đôi khi sống như trẻ nhỏ — hồn nhiên, vui vẻ, vô tư — lại mang đến sự thoải mái nhiều hơn là quanh quẩn “hang around” với mấy ông bạn già suốt ngày.

Tuy vậy, niềm vui ấy cũng đi kèm một chút chạnh lòng. Nhìn lũ trẻ chạy nhảy không biết mệt, tôi lại thấy mình chậm lại — chân đau, đi ít hơn, ngồi nhiều hơn. Chợt nhớ lần đi Yellowstone National Park trước đây, một anh hướng dẫn viên nhìn tôi ái ngại rồi buông một câu nửa đùa nửa thật: “Lần này anh còn đi được, có lẽ lần sau hẹn gặp anh trên cruise ship!” Nghe qua tưởng vui, nhưng càng ngẫm càng thấm cái quy luật tự nhiên của tuổi tác. Và cũng từ đó, càng thêm tiếc nuối những ngày còn sung sức, những ngày “xa thân ái” đã dần lùi vào ký ức.

Trong thời gian nghỉ lễ, thế giới cũng không ngừng chuyển động. Không khí của FIFA World Cup 2026, những tranh luận xoay quanh các phát biểu chính trị, cùng nhiều sự kiện đáng chú ý khác đã thu hút sự quan tâm rộng rãi. Tuy nhiên, điều làm tôi suy nghĩ nhiều hơn cả vẫn là những bài tường trình và phân tích về chặng đường 250 năm hình thành và phát triển của Hoa Kỳ — một hành trình mà tôi gọi là “kỳ tích” của một quốc gia non trẻ.

Từ góc nhìn cá nhân, tôi cho rằng đây không chỉ là câu chuyện riêng của nước Mỹ, mà còn là một đề tài đáng để nhiều quốc gia — đặc biệt là những quốc gia đang tìm kiếm con đường phát triển — suy ngẫm và học hỏi.

Nhân dịp này, kính mời quý vị theo dõi bài viết: “KỲ TÍCH 250 NĂM HOA KỲ: Bốn Trụ Cột Của Một Nền Văn Minh Tự Do.”

Đây là những cảm nhận mang tính cá nhân, nhưng tôi hy vọng có thể gợi mở thêm góc nhìn để chúng ta cùng tìm hiểu, đối chiếu và rút ra những nhận định hữu ích.

Kính mong quý vị đón nhận, suy ngẫm, và nếu thấy có giá trị, xin vui lòng chia sẻ rộng rãi.

Trân trọng,

Tsu A Cầu K29
Huntington Beach, California
Ngày 7 tháng 7 năm 2026

+++

KỲ TÍCH 250 NĂM HOA KỲ

Bốn Trụ Cột Của Một Nền Văn Minh Tự Do

Tsu A Cầu

Trong vòng chưa đầy ba thế kỷ, Hoa Kỳ đã vươn lên từ một dải thuộc địa non trẻ thành siêu cường toàn cầu toàn diện. Kỳ tích 250 năm này không đến từ sự may mắn về địa lý hay tài nguyên, mà cốt lõi nằm ở một thể chế chính trị đặt tự do cá nhân làm nguyên lý vận hành trung tâm.

Thiếu tự do là thiếu tất cả.

Tự do không phải là khẩu hiệu suông, mà là điều kiện không thể thiếu để giải phóng trí tuệ, sức sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của con người. Là những chứng nhân lịch sử đã từng đi qua khói lửa chiến tranh và hiểu rõ lằn ranh sinh tử giữa độc tài và tự do, chúng ta thấy rõ nội lực Hoa Kỳ được xây dựng vững chắc bằng bốn trụ cột chính:

  • Bản Hiến pháp kiệt tác: Thiết kế thể chế phân quyền tinh vi nhằm kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa độc tài và bảo vệ quyền cá nhân.
  • Sự nhân văn sau Nội chiến: Thay vì trả thù, bên thắng cuộc tôn trọng nhân phẩm bên thua cuộc để cùng tái thiết quốc gia.
  • Ý chí tiên phong tự lực (Pioneering): Khuyến khích người dân chủ động dấn thân, mạo hiểm, tự quản và từ chối sự bao cấp.
  • Nam châm thu hút chất xám: Tạo môi trường tự do học thuật và kinh doanh sòng phẳng để nhân tài toàn cầu tự nguyện tìm đến.

Bốn trụ cột này không chỉ là bài học riêng của người Mỹ. Chúng là tấm gương mà bất kỳ quốc gia nào — dù có nghìn năm lịch sử hay chỉ mới lập quốc — đều có thể soi vào để tự hỏi: điều gì tạo ra sự thịnh vượng bền vững, và điều gì kìm hãm nó?

Câu trả lời mà lịch sử 250 năm của Hoa Kỳ chứng minh một cách không thể chối cãi: thể chế tự do luôn tạo ra kết quả vượt trội, dù nhân loại ở bất kỳ nơi đâu cũng đều mang chung khát vọng được sống tự do và quyền tư hữu.


1. Hiến Pháp Hoa Kỳ: Kiệt Tác Thiết Kế Chính Trị

Nền móng giúp biến 13 thuộc địa rời rạc thành một siêu cường thống nhất và ổn định suốt hai thế kỷ rưỡi qua chính là bản Hiến pháp Hoa Kỳ. Văn kiện ưu việt này được xây dựng trên một triết lý thực tế và tỉnh táo: sự hoài nghi tuyệt đối đối với quyền lực tập trung. Các nhà lập quốc hiểu rằng con người không phải thánh nhân — bất kỳ cá nhân hay phe phái nào khi nắm quyền lực tuyệt đối đều có xu hướng tha hóa. Vì vậy, họ thiết kế thể chế kiểm soát quyền lực dựa trên ba nguyên lý cốt lõi:

  • Phân quyền (Separation of powers): Tách biệt hoàn toàn ba nhánh Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp để triệt tiêu độc quyền.
  • Kiểm soát và Cân bằng (Checks and balances): Tạo cơ chế giám sát chéo và phủ quyết giữa các nhánh, kết hợp giới hạn nhiệm kỳ (Tu Chính Án 22 năm 1951) để không ai có thể nắm quyền lực suốt đời.
  • Thượng tôn pháp luật (Rule of law): Ràng buộc quyền lực chính quyền dưới luật pháp, bảo vệ quyền cá nhân tối thượng.

Sự tỉnh táo trong thiết kế thể chế này mang lại ba giá trị thực tế: mọi quyết sách phải tuân thủ quy trình pháp lý thay vì ý chí cá nhân; công dân được giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào bất kỳ nhóm cầm quyền nào; và mọi xung đột xã hội được phân xử văn minh bằng luật pháp thay vì bạo lực.

Trong lịch sử nhân loại, các thể chế chọn con đường ngược lại — tập trung quyền lực, hứa hẹn “thiên đường” nhưng tước đoạt tự do cá nhân — đều không tránh khỏi sự trì trệ, bất công và cuối cùng là sụp đổ. Hiến pháp Mỹ, với tư cách là bộ khung thượng tầng bất biến suốt 250 năm, là bằng chứng sống động nhất cho tính ưu việt của mô hình ngược lại.


2. Sự Nhân Văn Sau Nội Chiến: Bài Học Sòng Phẳng Về Hòa Hợp Đích Thực

Cuộc Nội chiến Mỹ kết thúc tại Appomattox năm 1865 đã để lại một bài học văn minh nhân loại về cách đối xử giữa bên thắng cuộc và bên thua cuộc.

Tướng thắng cuộc Ulysses S. Grant từ chối làm nhục Tướng Robert E. Lee. Ông cho phép binh sĩ miền Nam giữ lại gia súc để về canh tác, cấp 25.000 khẩu phần lương thực cứu đói quân đầu hàng, và lập tức ra lệnh ngừng bắn đại bác ăn mừng với lời giải thích đơn giản mà sâu sắc: “Chiến tranh đã kết thúc; quân phiến loạn nay là đồng bào của chúng ta; và dấu hiệu tốt nhất để ăn mừng chiến thắng là không có bất kỳ biểu dương nào ngoài chiến trường.”

Không có phiên tòa đấu tố. Không có trại giam tập trung. Không truy xét lý lịch đời sau. Nước Mỹ đạt được hòa hợp quốc gia thực sự vì họ biết tôn trọng nhân phẩm của bên thua cuộc — trao cho họ danh dự để trở lại làm công dân hợp pháp, cùng nhau tái thiết đất nước.

Sự thành công tột bực của hệ thống Mỹ còn nằm ở khả năng tự điều chỉnh để sửa sai và tiến hóa qua ba cơ chế:

  • Thừa nhận sai lầm: Sẵn sàng nhìn thẳng vào những góc khuất lịch sử thay vì bôi xóa hay tô hồng.
  • Cải cách thể chế: Dùng luật pháp và các Tu Chính Án để vá lỗ hổng hệ thống một cách văn minh.
  • Tiến hóa theo thời gian: Thay đổi cấu trúc để thích nghi với những đòi hỏi mới của văn minh nhân loại.

Một quốc gia có thể phạm sai lầm — điều đó là không tránh khỏi trong lịch sử của bất kỳ dân tộc nào. Nhưng nếu có cơ chế sửa sai từ trong bản chất thể chế, nó vẫn sẽ tiến lên. Ngược lại, một hệ thống tự nhận mình “vô sai lầm” và không có cơ chế phản biện từ bên trong sẽ chỉ tích tụ bất công cho đến khi khủng hoảng bùng phát không thể kiểm soát.


3. Tự Do Và Tinh Thần “Pioneering”: Gene Di Truyền Tự Lực Cánh Sinh

Sức mạnh nội sinh giúp Hoa Kỳ liên tục bứt phá nằm ở tinh thần “Pioneering” — ý chí tiên phong khai hoang và sẵn sàng chấp nhận rủi ro. Tinh thần ấy thúc đẩy người dân sống tự lập, tự quản, có quyền tự do tư duy và phản biện mà không sợ bị trù dập. Từ những đoàn xe ngựa nghèo khổ khai phá miền Tây cho đến các phòng thí nghiệm tạo ra Internet, GPS và trí tuệ nhân tạo AI— thể chế Mỹ luôn bảo đảm một nguyên tắc bất biến: ai có lòng can đảm và sức sáng tạo thì thành quả và quyền tư hữu sẽ thuộc về họ, tuyệt đối không cần sự “ban phát” từ chính quyền.

Tinh thần tiên phong này được nuôi dưỡng bởi ba phẩm chất xã hội:

  • Sự chủ động: Tự định đoạt hướng đi cuộc đời thay vì chờ nhà nước sắp đặt.
  • Chấp nhận rủi ro: Dám dấn thân vào dự án mới dù tỷ lệ thất bại cao.
  • Tự chịu trách nhiệm: Nhận thức thành bại do chính mình, không ỷ lại cơ chế.

Và môi trường Mỹ tạo điều kiện cho tinh thần đó bằng ba nền tảng: thất bại không bị trừng phạt về mặt xã hội mà được coi là bài học; thành công không bị hạn chế bởi xuất thân hay lý lịch cha ông; và cơ hội luôn mở rộng thông qua luật pháp bảo vệ quyền tư hữu tuyệt đối.

Lịch sử cho thấy một quy luật phổ quát: khi được thử và sai trong không gian tự do, con người sẽ tạo ra đột phá thay đổi thế giới. Khi bị kiểm soát và thuần hóa thành sinh vật quen sống bám bao cấp, họ chỉ có thể chọn cách tuân phục để sinh tồn — và quốc gia đó sẽ mãi là kẻ đi sau.


4. Nam Châm Thu Hút Chất Xám: Sức Mạnh Đổi Mới Không Ngừng

Hơn cả một quốc gia mở cửa nhận người di cư, Hoa Kỳ sở hữu cơ chế vận hành như một thỏi nam châm khổng lồ thu hút và dung nạp chất xám từ mọi nơi trên thế giới. Từ Albert Einstein trốn chạy phát xít Đức cho đến hàng triệu học giả, kỹ sư tinh hoa qua nhiều thế hệ — tất cả đều chọn Mỹ làm bến đỗ thay vì Trung Cộng hay Nga Sô. Không phải vì người Mỹ thuyết phục họ, mà vì thể chế tự do tự nó có sức hút không thể cưỡng lại.

Mỹ trở thành điểm hội tụ của trí tuệ quốc tế nhờ ba trụ cột:

  • Tự do học thuật: Người nghiên cứu được quyền tìm tòi và phản biện mọi vấn đề mà không bị giới hạn bởi các cấm kỵ chính trị hay giáo điều.
  • Môi trường sáng tạo phóng khoáng: Hệ sinh thái tôn trọng sự khác biệt, bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ và quyền tư hữu tuyệt đối, biến ý tưởng thành giá trị vật chất một cách sòng phẳng.
  • Thăng tiến dựa trên thực lực: Sân chơi bình đẳng công nhận năng lực cá nhân, vượt qua mọi rào cản về chủng tộc hay lý lịch xuất thân.

Đây là lý do vì sao bất kể ai — dù sinh ra ở đâu, dù từng được giáo dục theo hệ thống tư tưởng nào — khi cần phát triển tài năng và bảo vệ thành quả của mình một cách thực chất, họ đều chọn môi trường tự do. Hành động đó, tự nó, là bằng chứng hùng hồn nhất về sức mạnh của tự do — không cần thêm bất kỳ lời bình luận nào.

Trong một thế giới mà một số nền kinh tế lớn vẫn kiểm soát tư tưởng và hạn chế quyền tư hữu — như trường hợp tỷ phú Jack Ma bị thanh trừng ngay tại đỉnh cao sự nghiệp là minh chứng cụ thể — nước Mỹ tiếp tục là không gian khai phóng duy nhất cho những bộ óc kiệt xuất nhất của nhân loại.


Lời Kết: Tự Do — Nền Tảng Không Thể Thay Thế

Bốn trụ cột làm nên kỳ tích 250 năm của Hoa Kỳ không tồn tại độc lập mà liên kết chặt chẽ qua một nguyên lý duy nhất: tự do cá nhân được bảo vệ bởi luật pháp. Tự do không phải là sự hỗn loạn, mà là một hệ điều hành tối ưu giúp giải phóng sức sáng tạo, buộc quyền lực phải chịu trách nhiệm và tạo điều kiện cho xã hội tự sửa sai.

Lịch sử 250 năm của Hoa Kỳ chứng minh một chân lý không thể chối cãi: một quốc gia nghèo tài nguyên vẫn có thể thịnh vượng nếu giải phóng con người. Ngược lại, một đất nước giàu tiềm năng và lịch sử lâu đời vẫn có thể trì trệ nếu bóp nghẹt tự do — bởi vì không có tài nguyên thiên nhiên nào quý giá hơn năng lượng sáng tạo của con người được tự do phát huy.

“Thiếu tự do là thiếu tất cả.”

Đây không phải là tuyên ngôn của riêng người Mỹ. Đây là bài học chung của nhân loại — một bài học mà lịch sử đã viết đi viết lại bằng nhiều ngôn ngữ, trên nhiều lục địa, qua nhiều thế kỷ. Hiểu được bài học đó và dũng cảm áp dụng nó, dù trong hoàn cảnh nào, chính là con đường duy nhất dẫn đến sự thịnh vượng lâu dài và phẩm giá đích thực của một dân tộc.

Những người Việt Nam đã trải qua khói lửa, đã hiểu tận cùng ý nghĩa của hai chữ tự do bằng cái giá mà không ai muốn phải trả, sau 30/4/1975— họ hơn ai hết hiểu rõ giá trị của những gì Hoa Kỳ đã xây dựng trong 250 năm qua. Và chính sự hiểu biết đó là di sản quý giá nhất cần được gìn giữ và truyền lại cho thế hệ sau.

Tsu A Cầu, Khóa 29 TVBQGVN

Huntington Beach, California, ngày 7 tháng 7 năm 2026




NGỌC HUYỀN (SỎI NGỌC) Trình Bày Ca Khúc Xóm Đêm




KIỀU MỸ DUYÊN – ĐẠI HỘI BIỆT ĐỘNG QUÂN KỶ NIỆM 66 NĂM THÀNH LẬP BINH CHỦNG BIỆT ĐỘNG QUÂN.




Ca Khúc GIÁ TRỊ TỰ DO – Nhạc & Lời: NGUYỄN VĂN THÀNH – Trình bày: An Minh & M. – HÁT VANG “TỰ DO” – Nguyễn Văn Thành – An Minh




CAO MỴ NHÂN – CHÙM THƠ JULY 4TH, 2026

==




ĐỖ DUNG – NHƯ MỘT THOÁNG MÂY BAY – (FLIPBOOK)