SỎI NGỌC: MÓN QUÀ LỠ DỊP

Chiếc hộp quà còn trong gói giấy hoa bất thình lình rơi xuống dưới chân từ trên cao, khi tôi kiễng chân kéo chiếc giỏ lớn xếp tuốt trên đầu tủ, những đồ đạc ít khi dùng đến, chiếc hộp quà chưa mở còn được gói trang trọng bằng giấy hoa đầy những trái tim nhỏ li ti, làm tôi hết sức ngạc nhiên! Tôi cúi xuống, nhặt lên, từ từ mở ra. Chiếc vòng cổ bằng hạt ngọc trai! Tôi thử ướm lên cổ, rất vừa vặn vòng tròn cổ, màu ngọc trai sáng bóng long lanh như những giọt nước nhỏ, làm tôn vinh thêm chiếc cổ cao thon của tôi. Ủa mà món quà bất ngờ này ai đã tặng cho tôi? Hồi nào, mà sao giờ này tôi mới thấy trong chiếc túi xách cũ xưa được nhét trên nóc tủ? Tôi đã chưa hề mở ra từ bao nhiêu năm nay! Một tờ giấy nhỏ ngả vàng gấp đôi được đặt dưới đáy chiếc hộp vuông nhỏ, dưới chiếc vòng ấy: “Think of me in the times to come” BC, Feb 1990.

Ký ức dắt tôi về những ngày còn đi làm trong ngân hàng ở quê hương thứ hai lạnh giá. Năm 2005 tôi mới được đổi về ngân hàng có chi nhánh trong nhà thương lớn chuyên về trẻ em ở Vancouver, BC, rất gần biên giới Mỹ.

Vào tháng Sáu, nhà thương tổ chức một ngày cho các bệnh nhân nhỏ dưới 15 tuổi rời phòng bệnh tầng thứ năm, tham quan những hoạt động dưới nhà, chụp hình với những nghệ nhân giả làm bạch tuyết, chú lùn trong film hoạt hình Walt Disney… Các em cũng được nhận quà từ những mạnh thường quân đến thăm ngày hôm đó. Bổn phận của những nhân viên trong nhà thương là nói chuyện, làm cho các em lên tinh thần, tiếp tục trị liệu, nếu có thể tốt hơn nữa là làm người hỗ trợ tinh thần cho các em, người này sẽ như người thân trong gia đình của em.

Chúng tôi dừng mọi hoạt động với khách hàng trong một tiếng đồng hồ để đón tiếp, hàn huyên và giúp các em di chuyển nếu gặp khó khăn vì các em “ngao du” với những dây nhợ chằng chịt trên tay, đầu cổ, kéo theo bình thở, bình thuốc truyền tĩnh mạch, có em vừa mổ xong, mình mẩy còn quấn băng trắng xóa, vẫn háo hức xuống gặp gỡ mọi người.

Khi các em xuất hiện ở đầu hành lang, những ánh mắt ái ngại của chúng tôi chạm nhau, ráng kềm giữ cho những giọt nước mắt đừng lăn tràn xuống má; các em còn nhỏ quá, những cặp mắt ngây thơ, hồn nhiên đến tội nghiệp dáo dác nhìn, có những em dưới 10 tuổi, ngồi xe lăn bị động kinh; có một em đầu quẹo xéo sang một bên, mắt liếc sang bên ngược lại, tay chân dài khẳng khiu quơ quào không theo ý mình, miệng chảy dãi nhớt, vẫn cười tươi khi gặp chúng tôi. Em muốn chụp hình chung với nàng Bạch Tuyết đứng cách đó không xa, tôi giúp đẩy xe em lại gần để chụp và lấy hình liền, em sung sướng nhoẻn cười, dãi nhớt chảy không ngớt, miệng muốn hét la hạnh phúc nhưng âm thanh bị kìm hãm, chỉ những tiếng ú ớ thốt ra.

Cô y tá chuyên môn coi sóc các bé ở lầu năm lại gần tôi nói:

– Chị đừng làm em này xúc động nhé, khi em chảy dãi nhớt nhiều như vậy không tốt đâu, sẽ làm em khó ngủ một chút nữa, và bị động kinh thường xuyên, hãy cứ giữ yên lặng đi bên em mà thôi.

– Ồ tôi xin lỗi, tưởng làm cho em vui thì tinh thần thoải mái chứ, ai ngờ lại làm cho em mệt thêm nữa, vậy để tôi đẩy em ra chỗ nắng ấm nhé!

– Cũng không được luôn, em này tình trạng còn yếu lắm, chỉ xuống đi một vòng cho thay đổi không khí rồi đi lên thôi.

Tôi ái ngại rời chiếc xe đẩy của em, trao cho cô y tá đẩy em trở lại phòng, bên tai vẫn còn văng vẳng tiếng ú ớ của em như muốn ở lại “chơi” thêm nữa với những nhân vật hoạt hình.

Từ đàng xa một bé gái chừng 9-10 tuổi ngồi yên trên xe lăn, đôi mắt nhìn vào một nơi xa xôi, em không để ý mọi thứ diễn ra trước mắt, khuôn mặt với nước da xanh xao, chai truyền dịch còn đầy nước treo lủng lẳng bên thành xe, mấy chú lùn nghệ nhân chạy xung quanh múa may chọc em cười nhưng em vẫn không nhìn họ, đôi mắt mệt mỏi của em bỗng ngừng lại ở tôi, đang đứng trước cửa ngân hàng, nơi hành lang vắng, tôi nhoẻn cười, vẫy em. Em lăn chiếc xe chạy nhanh lại bên tôi:

– Cô ơi, cháu muốn có một quyển vở và một cây bút để viết…

– Cháu đợi cô ở đây nhé, cô sẽ đi lấy cho cháu.

Khi tôi đem ra, hỏi:

– Cháu muốn viết gì trong này?

– Cháu muốn viết… nhật ký!

-Nhật ký ư? Cháu có nhiều điều để kể lắm phải không?

– Cô… có muốn share với cháu không?

– Tức là sao?

– Cháu muốn có ai đó viết cùng với cháu, như hồi cháu còn nhỏ ở nhà mẹ rất hay viết cùng với cháu, mỗi lần cháu muốn điều gì, cháu hay viết vào đây, mẹ cháu sẽ giải thích và trả lời lại cho cháu khi mẹ rảnh, cháu vẫn giữ quyển đó, bây giờ mẹ không còn ở với cháu nữa, mẹ đã bỏ thế giới này rồi, ba nói mẹ ngủ không dậy nữa…

– Vậy ba có vào thăm cháu không?

– Ba cháu bận lắm, ba phải đi làm rất xa. Ba hay gởi cháu cho bà Manon cạnh nhà, bà ấy đông con lắm không thể bỏ nhà đi thăm cháu được đâu.

Tôi xoa đầu cô bé, mái tóc vàng hoe rối tung chưa chải, thương cảm:

– Ngoài viết nhật ký ra, cháu có muốn cô sẽ lên thăm cháu mỗi ngày vào giờ cơm trưa của cô không?

Tia mắt hạnh phúc ngước lên nhìn tôi:

– … Cô nói thật chứ? Cô lên thăm cháu vào mỗi buổi trưa sao?

– Đúng rồi, cô sẽ ăn trưa 15 phút thôi, còn lại cô sẽ lên thăm cháu; à mà cháu tên gì cô chưa biết?

– Cháu là Jennifer, hãy gọi cháu là Jenny cho tiện ạ.

Tôi cầm hai bàn tay bé xíu trong lòng tay mình:

– Cô sẽ lên thăm cháu Jenny bắt đầu ngày mai nhé.

– Ngày mai cháu sẽ đưa cô quyển nhật ký của cháu để cô viết luôn nhe. Cháu thích lắm!

– Đến giờ rồi, cháu về phòng cẩn thận, nhớ ăn uống đầy đủ! Bye cháu!

– Bye cô! Cám ơn cô!

Năm ấy tôi đã lập gia đình được ba năm, mẹ chồng đã thúc giục tôi nên có con để khi bà còn khỏe sẽ giúp tôi canh cháu, thế nhưng chúng tôi vẫn chưa có duyên với đứa con nào cả; tôi rất yêu con nít, mỗi lần nghe tiếng khóc của một sinh linh trào đời ở tầng ba, trái tim tôi hẫng một nhịp đập.

*

Nhật ký của Jenny:

“Montreal, tháng 6-2005

Mẹ ơi,

Con được viết nhật ký với cô LyLy, cô làm ngân hàng ở dưới nhà, không biết tại sao con lại chọn cô ấy làm người hỗ trợ tinh thần nữa, chắc chỉ có mình cô ấy để ý đến con thôi.

Mẹ ơi, hôm qua con lại bị sốt cao, con mệt lắm, không biết ba có về kịp để thăm con, con sợ sẽ không bao giờ nhìn thấy ba như mẹ đã ngủ quên mà chưa gặp được ba…

Mẹ có nhớ hôm đó mẹ phải gởi con cho bà trên lầu để đi vào bệnh viện không? Bây giờ con cũng thế, con đang nằm ở bệnh viện giành cho trẻ em, buồn lắm, chỉ thấy bốn bức tường vàng, đến giờ được gọi dậy ăn cơm, thế thôi; đứa nằm bên cạnh giường, thằng Stephan nó chờ thay gan, đứa nằm bên trái, con Kate bị sốt hoài như con, nhưng nó may mắn có cha mẹ vào thăm luôn, còn con thì không ai vào thăm hết, con nhớ mẹ lắm, nhớ cả ba, bây giờ… chỉ chờ quả thận, chờ một năm nay rồi, con có cầu Chúa mỗi tối, con mong ngài sẽ cho con thêm sức mạnh…để tiếp tục chờ…

Jenny.

Nước mắt tôi chẩy ràn rụa khi đọc những lời tâm sự ngắn ngủi của Jenny, cô bé 10 tuổi, cái tuổi lẽ ra phải hạnh phúc bên gia đình đầy đủ cả cha lẫn mẹ, phải được vui sướng chạy nhảy tung tăng, sao cháu khổ thế này. Tôi được biết mạng sống cháu chỉ còn sáu tháng, tình trạng trầm trọng lắm, phải tìm cho ra người hiến thận!

Chờ mong một đứa con thành hình trong bụng đã khó rồi, sanh con ra, chẳng may con bệnh hoạn, tật nguyền, thật là một sự đau khổ triền miên cho cha mẹ và bản thân đứa bé.  Lúc đó tôi thật hoảng sợ, ý nghĩ có con từ từ rời khỏi trí não của tôi!

Tôi viết lại cho Jenny vào một buổi tối:
“Chúa sẽ cho cháu được thật nhiều sức khỏe, sống bù lại cuộc sống của mẹ, cháu hãy ráng ăn uống, nghỉ ngơi để có sức vượt qua những phẫu thuật sau này nhé. Cô tặng cháu con chó bông trắng này, nó sẽ là thần hộ mệnh, bảo vệ cháu, hãy nói chuyện với nó khi cháu buồn!”

Ngày hôm sau, vào giờ cơm trưa tôi lên thăm Jenny, cô y tá kể con bé đã không ngừng sốt tối hôm qua, ói rất nhiều, hôm nay bé rất mệt, ngủ từ sáng đến giờ cơm trưa vẫn chưa thấy dậy.

Tôi đặt quyển nhật ký và con chó bông trắng bên cạnh chiếc gối ngủ, quay sang thăm các em nhỏ ở những giường bên cạnh, cháu nào cũng mệt mỏi, mắt lờ đờ nhìn tôi vẻ chịu đựng. Những ngày tiếp theo, nét chữ Jenny trở nên yếu dần và nghuệch ngoạc, cô bé chỉ viết “con mệt, con nằm mơ thấy mẹ đêm qua, con mong sẽ được đi cùng mẹ để không bị nằm đây cô đơn nữa, nhưng con vẫn muốn gặp ba một lần”

“Con cám ơn cô cho con con chó bông trắng, con gọi nó là Lana, con rất yêu nó, con kể cho nó nghe về mẹ, về ba, những kỷ niệm xa xưa, rất ít còn lại trong óc”

Vào cuối tháng 9, 2005 bệnh tình của Jenny trở nên nặng hơn, cháu mê sảng, những bác sĩ, y tá, phụ huynh thăm nuôi các em nhỏ ở phòng bên cạnh đều nói về tình trạng không ổn định của bé cho chúng tôi nghe, ai cũng ái ngại cho cháu chỉ có một mình, ba cháu đi lính xa nhà, sáu tháng mới về một lần. Có người mếu máo kể với tôi:

-Sợ rằng khi ba con bé về đến đây, không biết có còn kịp thấy mặt con không!

Lúc đó, cảm thấy mạng sống của Jenny như ngàn cân treo sợi tóc, tất cả nhân viên trong ngân hàng chúng tôi đã quyết định chung tay cùng nhà thương gây quỹ 120k cho cháu bé để tiến hành việc thay thận mới cho cháu. Riêng ngân hàng tôi đã đóng góp 40k. Thông tin gởi đi gấp gáp đến toàn thể các bệnh viện của tiểu bang BC, như một báo động đỏ.

Từng ngày trôi qua, chúng tôi sống trong phập phồng, không biết Jenny có ráng trụ lại với thế giới này nổi thêm ngày nào nữa không, ai cũng nước mắt rưng rưng bờ mi mỗi lần gặp nhau ở ngoài hành lang, hỏi thăm tình trạng của bé; chả lẽ nhìn cô bé ra đi như vậy sao? Chả lẽ tất cả mọi người đành bó tay sao? Phải hành động thế nào chứ! Khi ba của bé làm nhiệm vụ cho tổ quốc về thì con gái duy nhất của ông ấy không còn trên đời này nữa sao! Không thể bất công như thế được!

Một buổi sáng thứ hai, Jenny vẫn chờ đợi thoi thóp trên giường bệnh. Bỗng chúng tôi nghe tiếng còi xe ambulance-paramedic hú vang, rồi tiếng chân thình thịch chạy vội vàng của những bác sĩ và y tá, gấp rút vào phòng mổ; một bé cùng trạc tuổi với Jenny vừa lìa đời ở một nhà thương khác, cháu ấy bị tai nạn xe cộ cùng với mẹ, người mẹ chỉ bị thương nhẹ, nhưng đứa con gái vì mất máu quá nhiều đã không cứu kịp khi đem đến bệnh viện. Như một duyên may, bà bằng lòng hiến quả thận còn rất tốt của con mình cho Jenny!

Họ đã trải qua cả ngày trời căng thẳng trong phòng mổ, chúng tôi chỉ biết thầm cầu khẩn Chúa, Phật cho việc giải phẫu được thành công, tay làm việc, nhưng đầu óc và trái tim để cả trong phòng mổ với các bác sĩ. Khi cánh cửa phòng mổ vừa mở ra, chúng tôi được tin từ cô y tá, xúc động lắp bắp:

– Thành công rồi! Cháu đã tai qua nạn khỏi, cháu sẽ có thể đi học lại, có thể chờ đợi người cha đang làm nhiệm vụ từ xa… Con cám ơn Chúa, cám ơn Trời Phật!

Tất cả mọi người xung quanh xúc động, nước mắt ràn rụa, vỗ tay ồ ạt.

*

Mỗi buổi trưa lên thăm cháu Jenny, tôi đều gặp bà Helen Cromp, mẹ của cô bé đã hiến thận ngồi bên cạnh Jenny, xúc từng muỗng soup cho con bé, chăm lo như chính đứa con ruột của mình. Gặp tôi bà ứa nước mắt tâm sự:

– Ông Trời lấy đi của tôi đứa con gái yêu thương, quý giá nhất, nhưng ngược lại cho tôi đứa con gái khác, nó đang mang trong người một bộ phận của đứa con tội nghiệp của tôi, tôi muốn nhận Jenny làm con nuôi, chăm lo cuộc sống sinh hoạt cho cháu sau này, vì hoàn cảnh của cháu cũng bơ vơ xót xa quá, tôi sẽ bớt cô đơn khi có cháu. Tôi sẽ nói chuyện với ba của cháu khi ông về đây.

Jenny khuôn mặt hồng hào, cặp mắt tinh anh tràn đầy sức sống, nó nắm lấy cánh tay tôi, khẽ khàng bỏ vào ví tôi một chiếc hộp nhỏ, thì thào:

– Cái này của mẹ con hồi xưa, món quà này của ba đã tặng cho mẹ, nhưng mẹ chưa có dịp nào để dùng đến cả, con muốn cô giữ lấy để nhớ về con… Con cám ơn cô và tất cả mọi người trong ngân hàng của cô đã giúp cho con có đủ chi phí ghép thận…. Con thật may mắn quá…

Tôi nghẹn ngào xoa đầu cô bé, những lọn tóc vàng óng ả mềm mại rơi xuống trán, làm tăng thêm sinh khí:

– Con giỏi lắm, đã rất can đảm! Cô thật hãnh diện về con.

– Cô nhớ đến thăm con sau này nhé…

– Ừm, con phải sống khỏe, ngoan để làm vui lòng mẹ Helen nhe.

Đến giờ làm việc, tôi tất bật chạy xuống dưới nhà, gặp khách. Lu bu công chuyện, trong đầu chỉ nghĩ đến niềm vui của bé Jenny từ đây trở đi cuộc đời của cháu sẽ suông sẻ, tất cả mọi thứ sẽ đều mới mẻ: quả thận mới, gia đình mới, có “người mẹ mới” tân tình chăm sóc yêu thương.

Nhẹ nỗi lo, về nhà tiện tay, cất chiếc túi xách khổ lớn này lên đầu tủ, vì chỉ dùng khi có họp hành, đựng nhiều hồ sơ giấy tờ, quên luôn chiếc hộp quà xinh xắn đầy kỷ niệm và ý nghĩa trong ấy.

Vậy mà đã 20 năm trôi qua!Sỏi Ngọc – Montreal, Feb’26




Thơ DONRY NGUYỄN: CẢM ĐỀ KHI KHOÁC LẠI MÀU ÁO KAKI –

CẢM ĐỀ
KHI KHOÁC LẠI MÀU ÁO KAKI

Người vốn chẳng ngang tàng như Phạm Thái,
“Lòng không mềm bằng kiếm*” khóc Quỳnh Như.
Khoác chinh y giữa thời Xuân Thu Việt,
Dù không vay cũng vướng nợ oan cừu.

*

Lưng đã hứng những roi đòn nghiệt ngã,
Ngửa mặt cười kha khả với non sông.
Đêm gối kiếm một thân nằm đất lạ,
Niềm cô đơn như lửa đốt thiêu lòng.

*

Sóng phế hưng rộn ràng cơn dâu bể,
Áo cơm đời thôi nghĩ việc đao binh.
Ai còn nhắc một thời trang sử cũ,
Chuyện trăm năm lưu thủ chút ân tình.

*

Bến sông xưa người có về kịp lúc,
Trút oan khiên mặt đất hé môi chào.
Khi ngoảnh lại áo khinh cừu đã bạc,
Thấy cuộc đời như một giấc chiêm bao…

-Donry Nguyễn-
(Hình tự chụp có nhờ AI chỉnh sửa phông nền phía sau)
*Câu này của Nguyễn Đình Toàn trong bài Phạm Thái, nguyên văn:
“Ta tráng sĩ hề, lòng không mềm bằng kiếm
.”




KIỀU MỸ DUYÊN – CHƯƠNG TRÌNH CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA Và Những Thông Tin Từ Thiện Quý Giá




Văn nhân và THÙNG THƠ

Câu lạc bộ Văn Hóa Montreal

Giới thiệu văn nhân và văn vật của Montreal

Luân Hoán

Câu lạc bộ Văn Hóa Montreal sẽ giới thiệu hàng tuần :

1.    Sách văn hóa , bài viết của độc giả và hội viên CLB

2.    Mỗi sáng thứ bảy, các văn nhân và văn vật sống tại Montreal theo danh sách dưới đây.

Văn nhân文人. Văn hóa là linh hồn của một dân tộc do chính con người của dân tộc đó sáng tạo, con người đó được gọi là văn nhân (văn thi sĩ, nhạc sĩ, nhiếp ảnh gia, nhà biên khảo …).

 Văn vật 文物 . Văn文 là vẻ đẹp, vật 物  chỉ người. Văn vật chỉ những người tài giỏi hoặc người bỏ công sức, thiện chí ra tô điểm Cộng Đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại Montreal. Những văn vật của Montreal, cũng giống như những văn vật xưa kia đã tô điểm Thăng Long (Thăng Long ngàn năm văn vật[1]), đã làm rạng danh người Việt tỵ nạn cộng sản tại Montreal.  

Câu lạc bộ Văn Hóa Montreal sẽ giới thiệu các văn nhân và văn vật sống tại Montreal theo danh sách dưới đây.

Văn/thi sĩ : Song Thao,  Luân Hoán, Trang Châu, Hoàng Xuân Sơn, Lưu Nguyễn, Hải Bình, Nguyễn Bá Dĩnh, Tôn Thất Tuệ,, Hoài Hương, Nguyễn Hữu Hiệp, Phương Hoài Nam, Lê Bạch Lựu, Võ Kỳ Điền, Hồ Đình Nghiêm,Tiểu Thu,Hải Phong, Kim Thúy, Sỏi Ngọc

Biên Khảo : Phạm Hoàng Hộ, Lê Hữu Mục, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Khắc Ngữ, Thái Công Tụng,  Lạp Chúc Nguyễn Huy, Nguyễn Văn Lục, Khiếu Đức Long, Nguyễn Kiến Thiết, Lâm Văn Bé, Lê Quốc, Thái Việt, Từ Uyên, Nguyễn Bá Hoa, Nguyễn Thanh Bạch, Cả Ngố họ Trịnh

Kết từ : Huy chương và giải thưởng của Trang Châu, Thái Công Tụng, Lê Quang Xuân. Lâm văn Bé, Nhiếp ảnh gia Lê Quang Xuân

văn vật Di chứng[2] trên đất Montreal :  Tượng đài Tưởng Niệm Tử Sĩ QLVNCH và TT Ngô Đình Diệm., Ngô Anh Võ, Trần Quốc Túy, Dương đình Huy&Cấn Thị Bích Ngọc,Tượng đài văn hóa Montreal

 Văn vật Quebec-Canada

 văn vật đại học

Raymond Lê văn Mão

Bùi Tiến Rũng

Lê Văn Ngàn

Trương Công Hiếu, Ngô Thanh Hải

 văn vật y khoa

Caroline Quách Thanh

Tăng An

Huy Ong

Cẩm-Tú Émilie Nguyễn

Trần Thái Hòa

Nguyễn Lương Tuyền

Luân Hoán

Trần thị Nguyệt Mai

Khi đến thăm Anh, vài điều đập ngay vào mắt :

-Thùng thơ trước cửa sơn cờ vàng ba sọc đỏ ,

-Bắt tay Anh mà biết rằng Anh đã để lại chiếc chân trái tại mặt trận Mộ Ðức, Quảng Ngải vào cuối năm 1969.

-Trong nhà là những chồng tác phẩm văn thơ “quá nhiều và quá hay” của Anh.

Tiểu sử

Nhà thơ Luân Hoán : Tên thật Lê Ngọc Châu, bút hiệu khác: Châu Hải Châu, Cự Hải, Lý Phước Ninh, Trần Gia Nam, Lê Bảo Hoàng, Hà Khánh Quân… Sinh ngày 10 tháng 1 năm 1941 tại thị xã Hội An, Quảng Nam. 

Tốt nghiệp khóa 24 Sĩ quan Trừ Bị Thủ Ðức, giải ngũ năm 1969,  Nghề tay phải: tham sự ngân hàng VNTT, Ðà Nẵng.

Sau 1975, sống nhiều tháng trong trại học tập cải tạo

Từ 02.02.1985, định cư Montreal theo chương trình O.D.P, 

Thành lập nhà xuất bản Nhân Ảnh tại Canada, 

Hiện Chủ biên Tạp chí Ngôn Ngữ tại Hoa Kỳ từ 2019.

Trang chủ website Vuông Chiếu từ ngày 19-3-1999 đến 02 tháng 8 năm 2024 

Tác phẩm trước 1975 thuộc văn hóa Sài Gòn

Về Trời, NXB Văn Học, Sài Gòn, 1964; Trôi Sông, NXB Văn Học, Sài Gòn, 1966; Chết Trong Lòng Người,NXB Ngưỡng Cửa, 1967; Viên Ðạn Cho Người Yêu Dấu,NXB Thơ, 1969, tái bản, 1995; Hòa Bình Ơi Hãy Ðến,1970;  Nén Hương Cho Bàn Chân Trái, 1970, với nhiều bạn văn; Thơ Tình (in cùng Khắc Minh), NXB Thơ, 1970; Ca Dao Tình Yêu, NXB Thơ, 1970; Lục Bát Ca (in cùng Khắc Minh), NXB Thơ, 1970; Rượu Hồng Ðã Rót (cùng Lê Vĩnh Thọ, nhạc Vĩnh Ðiện), NXB Thơ, 1974; tái bản, 1995.

Tác phẩm thơ văn nối dài văn hóa Sài Gòn tại Montreal

Thơ

Hơi Thở Việt Nam,NXB Sông Thu, Hoa Kỳ, 1986; Ngơ Ngác Cõi Người ,NXB Nhân Văn, Hoa Kỳ, 1989; Ðưa Nhau Về Ðến Ðâu, NXB Sông Thu, 1989; Cảm Ơn Ðất Ðá Trổ Thơ Lòng Ta Hạt Bụi Vu Vơ Bám Hoài, NXB Kinh Ðô, Hoa Kỳ, 1991; Mời Em Lên Ngựa, NXB Sông Thu, Hoa Kỳ, 1994; Nuôi Thơm Chùm Kỷ Niệm Xanh, NXB Thơ, Canada, 1995; Cỏ Hoa Gối Ðầu NXB Sóng Văn, Hoa Kỳ, 1997; Sông Núi Cùng Người Thơm Ngát Thơ, NXB Thơ, Canada, 2002); Ổ Tình Lận Lưng (600 trang, NXB Nhân Ảnh, 2007; Em Từ Lục Bát Bước Ra, trường ca, NXB Nhân Ảnh, 2008; Thanh Thi NXB Thư Ấn Quán, 2011; Thơ Thơm Từ Gốc Rễ Tình,NXB Nhân Ảnh, 2014; Khói Cuối Nguồn Hương,NXB Nhân Ảnh, 2016. 568 trang; Ngao Du Cùng Vũ Khí NXB Nhân Ảnh, 2016; Liên Hoa Thi,NXB Nhân Ảnh, 2019; Ba Hoa Huê Tình,NXB Nhân Ảnh, 2020; Tâm Chân Dung, NXB Nhân Ảnh 2021; Hương Ảo Cõi Hương, NXB Nhân Ảnh, 2021, 435 trang; Nhánh Tình Thời Chưa Mê Gái, NXB Nhân Ảnh, 2022; Tay Chạm Vai Gần, NXB Nhân Ảnh 2024; Nỗi Nhớ Nhà Từ Montréal, NXB Nhân Ảnh, 2024.

Văn

 Quá Khứ Trước Mặt (hồi ký), NXB Nhân Ảnh, 2006; Dựa Hơi Bè Bạn 1, NXB Nhân Ảnh, 2006; Dựa Hơi Bè Bạn 2, NXB Nhân Ảnh, 2007; Theo Gót Thơ 1, NXB Nhân Ảnh, 2010; Tác Giả Việt Nam (sưu tập, dùng bút danh Lê Bảo Hoàng) NXB Sóng Văn, Hoa Kỳ, 2005 (Nhân Ảnh tái bản 2006, 2017, 2020); Theo Gót Thơ 2 (dùng bút hiệu Hà Khánh Quân), NXB Nhân Ảnh, 2017; Đường Chữ Sau Lưng (hồi ký), NXB Nhân Ảnh, 2020.

Sách viết về Luân Hoán:

Chân Dung Thơ Luân Hoán (nhiều tác giả), NXB Kinh Ðô, Hoa Kỳ, 1991 : Luân Hoán, Một Ðời Thơ (nhiều tác giả), NXB Sông Thu, 2005; Đọc Nhịp Thở Luân Hoán (nhiều tác giả), NXB Nhân Ảnh, 2014; Gặp Luân Hoán Trong Đời Sống Thơ (nhiều tác giả), NXB Nhân Ảnh, 2022.

Thực hiện” Các Tuyển tập, Tác phẩm: Cùng Khánh Trường, Nguyễn Vy Khanh thực hiện bộ Văn Học Việt Nam Hải Ngoại 1975 – 2019 (gồm 7 cuốn). Cùng Lê Hân… thực hiện các tuyển tập: Thơ Việt Đầu Thế Kỷ 21 (thơ, 155 tác giả, 820 trang), NXB Nhân Ảnh, 2018; Tình Nghĩa Mẹ Cha (thơ, 167 tác giả, 532 trang), NXB Nhân Ảnh, 2020; Tình Thơ Mủa Thu, (118 tác giả, 624 trang) NXB Nhân Ảnh 2020; Tình Thơ Mùa Xuân (149 tác giả,614 trang) NXB Nhân Ảnh, 2022; Tình Thơ Quê Hương (133 tác giả 634 trang), NXB Nhân Ảnh, 2023, Tuyển tập Truyện Ngắn Chọn Lọc (75 tác giả, 608 trang) NXB Nhân Ảnh 2023[3].

Bút pháp

Bút pháp của anh vững vàng, nhuần nhuyễn, thong dong, xuôi suốt ở thế 7, 8 chữ mềm mại, nhẹ nhàng ở thể lục bát cô đọng, tự nhiên ở 5 chữ. Thơ của anh dồi dào hình ảnh, màu sắc với giọng giản dị đôn hậu, hay đưa tục ngữ vào thơ, đánh thức được xúc cảm của người đọc. 

Cảm nhận thơ Luân Hoán.

Thơ Luân Hoán viết về nhiều đề tài, nổi bật hơn cả là đất nước, chiến tranh, tuổi mới lớn, tình yêu và bằng hữu thân phận con người và tình yêu quê hương, đặc biệt là tình yêu đôi lứa. Và có một nỗi đớn đau bàng bạc đằng sau những dòng thơ về người lính, về chiến tranh ngày xưa và đời sống tha hương bây giờ.

Nhà thơ Ðỗ Qúy Toàn: thơ Luân Hoán là những khắc khoải, ưu tư của ông trong cuộc đời lưu cư … ông cảm thấy lạc lõng giữa cõi sống trắng đem vàng lẫn lộn, vội vã đời ngược xuôi.

Thái Tú Hạp:  Thơ của ông, ngay cả những bài thơ tình rất ít ỏi, luôn luôn là một tiếng thơ buồn, uất nghẹn, là những ấm ức, những phẩn nộ, những đắng cay và những kinh hoàng của một nhân chứng lịch sử đen tối nhất của thời đại 

Nhà thơ Phan Xuân Sinh: “Ta có cảm tưởng anh làm thơ dễ dàng như lấy đồ trong túi… anh đùa với thơ ở bất cứ hoàn cảnh nào.”

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thơ: “Thơ anh không trau chuốt, gọt giũa nhưng lại đầy sức sống, truyền cho người xem nhiều rung cảm… Nhờ tính chất chân phương này nên thơ Luân Hoán mang rất nhiều nhạc tính (musicalité).”

  Hai mảnh quê hương   Mảnh quê hương được cộng sản gieo rắc là: -Thù hận, là “đập đá núi lấp cho đầy trí não, xây thành cao bằng ánh mắt căm hờn”  – Cơ cực, là ” một hạt cơm cõng mấy hạt bo bo, nước rau muống có làm em đỡ ngẹn, đời đang vui sao nét mặt buồn xo?”  – Nỗi đau đớn của một kẻ lạ mặt ngay trên chính xứ sở mình “giữa quê nhà sao nghe sao nghe quá bơ vơ?”  – Không còn bình an cho những người đã chết: …” mẹ có biết con về đào mã mẹ theo chủ trương, đúng chính sách đề ra, ruộng đất hẹp, đời đang cần hoa quả, hỡi qủi thần trả lại bãi tha ma …”  
    Mảnh quê hương của nỗi nhớ thương trong lòng Ông

Tập thơ Nỗi Nhớ Quê Nhà Từ Montreal là những trang hồi ký nỗi buồn đau của Luân Hoán và của cả những thân phận lưu đày như chúng tôi. Nhà thơ, trong cái nhớ da diết về quê nhà, không chỉ hồi tưởng về những địa danh thân thương mà còn soi chiếu vào chính tâm can mình, nhận ra sự mong manh của đời người và sự bền bỉ vô thủy vô chung của tình yêu quê hương, dù cách trở muôn trùng.

Nhớ gì về thơ của Ông?

Gần bảy mươi năm cầm bút, số lượng tác phẩm giá trị về cả nội dung lẫn nghệ thuật của Ông là một viên gạch thơ kéo dài nhất trong phần nối dài văn hóa Sài Gòn tại Montreal.

Nhớ đến Ông là nhớ đến những vần thơ quá hay như:

Cám ơn đất đá trổ thơ

Lòng ta hạt bụi bơ vơ bám hoài

Người tôi yêu ở tứ tung

Nhưng sao chẳng thấy một người yêu tôi.

” mỗi lần sắp sửa yêu ai
tự nhiên mặt mũi tóc tai lạ lùng
tưởng như có triệu vi trùng
ngo ngoe đòi được nhớ nhung với mình “
                     (Triệu Chứng – ÐNVÐÐ)

Một thời văn hóa Montreal

Vào thời gian 1980-1995, văn nghê Montral rất khởi sắc chỉ đứng sau Little Sài Gòn. Đỗ Quý Toàn, Trang Châu, Nguyễn Đông Ngạc, Hồ Đình Nguyên, Hoàng Xuân Sơn, Lưu Nguyễn, Bắc Phong, Luân Hoán … thường xuyên gặp nhau ăn nhậu, ra mắt sách thơ đều đều nhờ độc giả rất nhiệt tình, trí thức, lịch thiệp. Bài viết xuất hiện thường xuyên trên tạp chí văn nghệ Cali như Văn, Văn học, Hợp Lưu, Thế kỷ 21. Montreal đón tiếp nhiều văn nghệ sĩ phương xa như Du Tử Lê, Nguyễn Ngọc Ngạn, Kiệt Tấn.

Từ trái: Phan Ni Tấn, Hoàng Chiều Nhân, Song Thao, Trương Vũ, Võ Kỳ Điền, Hồ Đình Nghiêm, Luân Hoán. (Montréal, 11/2012)


[1] Văn文là vẻ đẹp, vật 物  chỉ người. Khi nói « Thăng Long ngàn năm  văn vật » ý muốn nói từ ngàn năm nay, Thăng Long là nơi tụ hội nhiều người tài giỏi vua quan, tao nhân mặc khách cũng như các nghệ sĩ điêu khắc cung điện … tô thắm cho non sông đất nước

[2]  Di 移 có nghĩa chuyển đi; chứng  証 : bằng cứ. Di chứng : bằng cư  chuyển đời này sang đới khác

[3] ghi chú: các tác giả trong nước và cư ngụ trên nhiều quốc gia góp mặt, sách in bìa cứng và bìa mềm, có trên thư viện Hoa Kỳ,




Vũ Hoàng Chương – Tố Hữu

Lạp Chúc Nguyễn Huy

Hôm nay 30-4-2026, CÂU LẠC BỘ VĂN HÓA Montrealgiới thiệu hai thi sĩ tiêu biểu của hai chế độ Nam-Bắc: Vũ Hoàng Chương – Tố Hữu

Vũ Hoàng Chương: Nàng thơ                               Tố Hữu: Chàng thơ

Hai thi nhân Vũ Hoàng Chương và Tố Hữu được “truyền khẩu” rất nhiều là  nhờ mỗi người có 2 câu thơ để đời về nàng thơ và chàng thơ nên được vinh danh là hai đệ nhất thi nhân của hai miền Nam Bắc.

Nàng thơ của Vũ Hoàng Chương.

“…Em ơi lửa tắt bình khô rượu
             Đời vắng em rồi say với ai”

Chàng thơ Stalin của Tố Hữu.

« Thương cha thương mẹ, thương chồng,

Thương mình thương một, thương ông (Stalin) thương mười

 Tố Hữu của miền Bắc XHCN đươc tôn vinh là “nhà thơ của cách mạng”, “nhà thơ của nhân dân”, “ngọn cờ chiến đấu của thơ ca cách mạng Việt Nam”, “người có công đầu xây dựng nền thơ ca cách mạng Việt Nam”, “nhà thơ của chủ nghĩa nhân văn cách mạng”. Ông từng là Ủy viên trung ương đảng lao động Việt Nam, Phó thủ tướng và giữ vai trò  người “đầu tầu” xây dựng văn hóa XHCN, cụ thể là Ông phụ trách về công tác văn hóa văn nghệ, tuyên truyền được coi là người kiên quyết đàn áp văn nghệ tự do của nhóm Nhân văn – Giai Phẩm.

Vũ Hoàng Chương ca tụng Nàng Thơ, còn Tố Hữu thì ca tụng Chàng Thơ thí dụ như chàng thơ Staline là vì trong văn hóa XHCN, nhà thơ“có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến” nên trong thơ cũng phải có hương vị kháng chiến, có “chàng thơ (thép)” chứ không thể có “nàng thơ” ủy mị, trữ tình. Giới văn nghệ sĩ phải nghe lời chỉ đạo sáng tác của Hồ Chí Minh và Trường Chinh qua hai bài thơ mẫu dưới đây. 

Nay ở trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

(Hồ Chí Minh)

Là thi sĩ

Dùng bút làm đòn chuyển xoay chế độ

Mỗi vần thơ: bom đạn phá cường quyền.

(Trường Chinh)

Vũ Hoàng Chương của Việt Nam Cộng Hòa, được vinh danh là “Thi bá”, “Đệ nhất thi sĩ miền Nam tự do”. Năm 1959 ông đoạt Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc của Việt Nam Cộng hòa với tập thơ Hoa đăng. Thời gian 1969-1973 Vũ Hoàng Chương là Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam. Năm 1972 ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc lần thứ hai.

Đụng độ giữa NÀNG THƠ và CHÀNG THƠ   

                 (tức    giữa văn hóa XHCN và văn hóa Sài Gòn)

Sau ngày 30/4/1975, những người văn nghệ sĩ Sài Gòn bị gọi đến Toà Đại Sứ Đại Hàn (đường Nguyễn Du) đăng ký tên tuổi, địa chỉ. Sau khi có danh sách đầy đủ của văn nghệ sĩ thì chiến dịch bắt bớ văn nghệ sĩ khởi sự từ đêm 2-4-1976 đến đêm 8-4-1976, rồi ngừng lại. Mãi đến 28-4 mới bắt thêm một số nữa đi tù dưới hình thức đi cải tạo[1]. Trong số các văn nghệ sĩ bị bắt giam thì có câu chuyện “chí dị” nổi bật nhất liên quan đến sự đối diện giữa “Đệ nhất thi sĩ miền Nam” Vũ Hoàng Chương và “Đệ nhất thi sĩ cách mạng của miền Bắc” Tố Hữu.

Khoảng đầu tháng 4 năm 1976, Thanh Nghị tổ chức ” Đêm Họp Mặt Văn Nghệ ” với sự tham dự của nhiều nhà thơ miền Bắc như Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Đình Liên, Hoài Thanh… Phía Sài Gòn có Vũ Hoàng Chương… được mời. Đề tài thảo luận là 2 câu thơ để đời của Tố Hữu :

« Thương cha thương mẹ, thương chồng,

Thương mình thương một, thương ông thương mười »

 Trong bài thơ « Khóc Stalin » chết năm 1953 dưới đây[2] :

Áo Ông trắng giữa mây hồng

Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười

 …………………………..

Yêu biết mấy, nghe con tập nói,

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin.

Ông Stalin ơi, ông Stalin ơi.

Hỡi ơi ông mất đất trời có không?

« Thương cha, thương mẹ, thương chồng,

Thương mình thương một, thương ông thương mười »

             Các nhà thơ miền Bắc như Thanh Nghị, Huy Cận, Vũ Đình Liên…lên phát biểu, xưng tụng thơ của“nhà thơ của cách mạng” Tố Hữu.  Để có tiếng nói của các nhà thơ miền Nam, Hoài Thanh đã tha thiết mời « Thi Bá » Vũ Hoàng Chương góp ý. Mặc dù từ chối nhiều lần, sau cùng với tư cách đại diện cho giới thi sĩ miền Nam Ông đã phát biểu để tỏ chí khí của thi sĩ miền Nam tự do: « Uy vũ bất năng khuất ».  

                 Dưới đây là lời phát biểu của Vũ Hoàng Chương (Theo tác giả Sông Lô) :
“Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.
               Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được ‘đóng khung’ tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố-Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên, đạt đến một mức độ điêu luyện cao. Lời thẩm định của Thanh-Nghị thật xác đáng, tôi chịu. Nhưng thơ không phải chỉ có thế. Xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt; tức chưa phải là hay. Thơ hay cần phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép. Vấn đề của thơ, nói cho đến nơi, là ở đây, có nghiã là thơ phải thực.

Tố-Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ Việtnam, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ Việtnam yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca; nhưng trước hết phải biết bà mẹ Việtnam có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?
Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài ‘Đời đời nhớ Ông’ Tố-Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:

” Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin “

             Chắc chắn là không có một bà mẹ Việtnam nào, kể cả Bà Tố-Hữu, mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. Cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu sau ta đang mổ xẻ.

          Một tình tự không chân thực, dù đươc luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay, mà chỉ là thơ khéo làm; đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thợ thơ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi một tuyên truyền nào đó. Tố-Hữu nếu khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Nhưng bà mẹ Việtnam trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm ».

              Cũng theo tác giả Sông Lô, qua sự phân tích và lý giải của Vũ Hoàng Chương, khán thính gỉa miền Bắc bàn luận rất sôi nổi. Có người muốn phản bác lập luận của Ông, nhưng thấy không có chỗ hở, họ bèn đề nghị Vũ Hoàng Chương nói về ” Thi ca ” mong có kẽ hở để phê bình bắt bẻ, Ông đã diễn đạt như sau : “Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại thơ tình tự hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo; nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy ».

 [“Tôi xin nhắc ; sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca; vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lý cuộc sống »].

Tiếng hót thiên nga

Trong văn chương, tiếng hót thiên nga sắp chết (Le chant du cygne mourant ) ẩn dụ tác phẩm cuối cùng của văn nghệ sĩ sắp lìa sân khấu hay sắp lìa đời.

Thiên nga Vũ Hoàng Chương

Mấy ngày sau ” Đêm Họp Mặt Văn Nghệ “, nàng thơ miền Nam tự do của Vũ Hoàng Chương bị chàng thơ của Tố Hữu miền Bắc XHCN đưa vào tù khám lớn Chí Hoà. Bệnh nặng, đưa về nhà được 5 ngày thì “nàng thơ” mất ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sài Gòn.

 Nhưng « đã là thi sĩ », với tâm Liêm sỉ và tính Khí phách« Uy vũ bất năng khuất” của một « Thi bá » đại diên cho giới thi sĩ miền Nam tự do nên Ông nên tiếng hót thiên nga của Vũ Hoàng Chương trong Khám Chí Hòa vào năm 1976:

Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn,

Lông hồng gieo xuống nhẹ như non.

Một manh chiếu nát, thân tơi tả,

Nửa bát cơm hôi, xác mỏi mòn.

Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ,

Đêm về giấc ngủ lại thương con.

Dẫu bao nước chảy qua cầu nữa,

Hồ dễ gì phai được tấc son!

Thiên nga Tố Hữu

Sau sự sụp đổ của Liên Xô tiếp theo là “Chàng thơ Stalin” bị lên án khắp Đông Âu nên trước khi mất ngày 9 tháng 12 năm 2002, Tố Hữu để lại “Chant du cygne”  xót xa sau khi nhìn thấy tượng “Chàng thơ Stalin” bị kéo sập đổ khắp Đông Âu.

Cả đàn sói chồm lên,

cắn vào lịch sử

Cào chiến công,

xé cả xác anh hùng.

Ôi! Nỗi đau này là nỗi đau chung

Lương tâm hỡi, lẽ nào ta tự sát”.

Xin tạm biệt đời yêu quý nhất

Còn mấy vần thơ, một nắm tro

Thơ gửi bạn đường, tro bón đất

Sống là cho và chết cũng là cho[3].

Xin tạm biệt đời yêu quý nhất

Còn mấy vần thơ, một nắm tro

Thơ gửi bạn đường, tro bón đất

Sống là cho và chết cũng là cho.

Lạp Chúc Nguyễn Huy


[1] Chết trong tù như thi sĩ Vũ Hoàng Chương, nhà văn Nguyễn Mạnh Côn; bị tù như nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, văn sĩ Dương Nghiễm Mậu, Duyên Anh…  

[2] Đời đời nhớ Ông: Bữa trước mẹ cho con xem ảnh/Ông Stalin bên cạnh nhi đồng/Áo Ông trắng giữa mây hồng/Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười/Stalin! Stalin!/Yêu biết mấy, nghe con tập nói/Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!/Hôm qua loa gọi ngoài đồng/Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao/Làng trên xóm dưới xôn xao/Làm sao, Ông đã…làm sao, mất rồi!/Ông Stalin ơi, Ông Stalin ơi!/Hỡi ơi, Ông mất! Đất trời còn không?/Thương cha, thương mẹ, thương chồng/Thương mình thương một, thương Ông thương mười!

[3] Người đời sau thêm dấu sắc vào chữ cho




Ba Mươi Lăm Năm Văn Thơ Lạc Việt

Minh Thúy

Nhìn lại 35 năm Hội Văn Thơ Lạc Việt, tôi nhớ đến các bậc tiền bối đã đặt viên gạch đầu tiên: nhà thơ Hoàng Anh Tuấn, Hà Thượng Nhân, Dương Huệ Anh, Thượng Quan và Chu Toàn Chung.

Cùng với ban cố vấn: nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, nhà văn Vũ Văn Lộc, nhà bình luận Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, nhà thơ Ngô Đình Chương và nữ sĩ Trùng Quang.

Ba mươi  lăm năm! Hội đã trải qua bốn thời kỳ với bốn vị chủ tịch: nhà văn Dương Huệ Anh 1992–2000, nhà thơ Đông Anh 2001–2008, nhà văn Chinh Nguyên 2009–2019, và nhà báo Lê Văn Hải 2020 đến nay. Xin trích đoạn trong bài viết trước đây. 

“Tôi gia nhập Hội từ năm 2016 cùng lúc với chị Phương Hoa, đúng vào thời anh Chinh Nguyên làm chủ tịch. Thời đó Hội quy tụ rất nhiều nhân tài: tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng phó ban ngoại vụ, nhà báo Lê Văn Hải phó ban nội vụ, thầy Phạm Thái lo kỹ thuật in ấn, nhà thơ Lê Tuấn trưởng ban Media, anh Đom Đóm chụp hình, nhà thơ Mạc Phương Đình làm phóng sự với trang Mây Bốn Phương. Cô Thanh Xuân tổng thư ký tổ chức sinh nhật mỗi quý cho hội viên. Chị Thúy Nga trưởng ban văn nghệ. Anh Hoàng Thường lo nghi lễ chào cờ. Cô Tina vận động tài chánh.

            Nhắc đến thầy Nguyễn Hồng Dũng, ăn chay trường, tâm Phật nên lời nói luôn hòa nhã. Bên cạnh đó có cô MC Hạnh Thảo tươi đẹp duyên dáng. Hiện tại có thêm cô Thanh Loan xuất chúng về tài MC hổ trợ thêm.

            Hội trưởng Chinh Nguyên có nét mặt rất hiền hậu. Tôi không quên được những đêm mùa đông, anh nhờ thầy Thái mở lớp dạy computer cho hội viên. Trời giá lạnh, thầy Thái đi dạy nhiều nơi mệt nhọc, đến giờ cơm tối vẫn chưa về nhà, nhưng vẫn cố gắng đến chỉ vẽ cách làm sách. 9 giờ tối tan lớp, anh Chinh Nguyên mời thầy đi ăn vì lo thầy đang đói. Thầy xua tay và cả hai cùng cười.

            Rồi anh Thái NC và chị Thanh, phu nhân anh Chinh Nguyên, đi đưa đón các bác tiền bối lớn tuổi như bác Trương Giang, bác Dương Huệ Anh, bác Diệu Tần. Ban xã hội chị Lê Diễm thì lo vòng hoa, thăm người bệnh. Anh Chinh Nguyên còn xin được giờ trên đài VNA – Vietnamese America TV, thứ Ba thứ Bảy 9 giờ tối, để đưa hình ảnh Văn Thơ Lạc Việt đến cộng đồng. Rồi lập nhóm “Tuổi Trẻ Hải Ngoại” để dạy tiếng Việt cho các cháu do cô Thanh Loan, tuổi trẻ sinh hoạt năng nổ đầy tài năng.

Đầu năm 2021, nhà báo Lê Văn Hải lên làm hội trưởng vì anh Chinh Nguyên bệnh nặng. Dù đã lái con thuyền gần 10 năm, anh Chinh Nguyên vẫn cố vấn giúp đỡ phía sau.”

Anh Lê Văn Hải là cựu sĩ quan Không quân QLVNCH, chủ nhiệm báo Thần Mõ. Anh lập nhóm Mõ Nhân Ái phát cơm cho người vô gia cư mỗi tháng. Lễ Noel, Tết còn thuê ban nhạc đến hát cho họ. Với Hội, anh tổ chức sinh nhật mỗi quý tại cà phê Lover, và các chiều nhạc “Anh Cho Em Mùa Xuân”, “Tưởng Niệm 30/4”, “Lễ Father’s Day & Ngày Của Lính”, “Em Không Nghe Mùa Thu”,  “Lễ Tạ Ơn & Noel”.

Về văn thơ, sau này chị Phương Hoa và thầy Thái đảm nhận Ban Biên Tập. Chị Phương Hoa khéo léo mời bạn thơ văn góp bài, kéo được cả hội Cô Gái Việt gia nhập. Nhờ vậy Website Văn Thơ Lạc Việt đã có trên 3 triệu lượt độc giả vào xem. Mỗi năm Hội vẫn in Đặc San Xuân rất đẹp, nội dung phong phú.

Từng mùa đi qua, suối thơ văn vẫn có những đề tài: nàng Xuân tươi vui, Hạ nắng rực rỡ, Thu dịu dàng, Đông khôn nguôi. Những bài khảo cứu về lịch sử, nỗi đau tháng Tư đen. Mùa Phật Đản, mùa Giáng Sinh dâng điều tôn kính. Những bài thơ Đường Luật xướng họa chia sẻ phúng điếu, chúc thọ, sinh nhật… Tất cả để nuôi chữ nghĩa Việt Nam.

Nhớ lại ngày đó, tôi được giải nhì với bài “Cây Khế Quê Hương”, chị Phương Hoa đoạt giải nhất bài “Nợ Còn Vương”. Tôi mừng, nhưng mừng hơn nữa là được làm hội viên. Từ đó, tôi biết ở Mỹ mình không mất quê hương vì còn có Hội. Hội duy trì lịch sử, nền văn hóa nước nhà bằng những ngòi bút, giữ gìn ngôn ngữ Việt cho thế hệ mai sau.

Mười năm trước, hội trưởng Chinh Nguyên đã tuyên bố khi tôi và chị Phương Hoa được giải: “Các cô giờ đây đã là thành viên của VTLV.” Câu đó ngắn mà nặng, vì nó cho tôi một mái nhà chữ nghĩa quê hương giữa xứ người.

35 năm! Ngày vui đã đến. Ngày kỷ niệm ăn mừng chặng đường dài sinh hoạt của Văn Thơ Lạc Việt bền bỉ, được tổ chức tại 70 W Hedding St _San Jose ca 95110.

MC Nguyễn Hồng Dũng và MC Thanh Loan giới thiệu màn mở đầu vinh danh những tiền bối. Bàn thờ được lập với hình ảnh Tiền bối: Dương Huệ Anh, Đông Anh, Chính Nguyên. Các phu nhân được trang trọng mời lên thắp hương, khói hương đưa hồn các Tiền bối về chứng giám cuộc vui này.

Màn văn nghệ kế tiếp là đoàn Tiếng Vọng Quê Hương đàn tranh, màn cải lương, màn Tuổi Trẻ Hải Ngoại ca múa. Hội trưởng Lê Văn Hải còn bày màn Loto xổ số, tặng hoa và quà cho giới phụ nữ vì ngày mai là Lễ Mother’s Day. Anh Hải là vậy đó, luôn muốn đem niềm vui đến mọi người. Thấy anh xuất hiện là thấy vác bao quà khổng lồ và bao lì xì đỏ từng cọc. Hình như hạnh phúc của anh là phát quà thì phải, từ trong hội ra ngoài những buổi sinh hoạt của cộng đồng.

35 năm! Tôi chỉ mong từng thế hệ vẫn tiếp tục giữ lửa, giữ tiếng mẹ đẻ, giữ tập tục văn hóa quê hương qua ngòi bút và ngoài đời sống.

Ước gì 35 năm nữa, có những đứa cháu mở tập Đặc San Văn Thơ Lạc Việt, thấy tên các bà nó như: Minh Thúy Thành Nội. Cháu đánh vần được, vậy là tôi không chết.

                                Văn Thơ Lạc Việt Mừng Sinh Nhật 35 Tuổi

                                     Ba lăm năm đẹp vườn thi phú

                                     Tiền bối bao mùa đã dựng xây

                                     Tiếng Mẹ nâng niu hồn quốc ngữ

                                     Văn Thơ Lạc Việt tỏa hương đầy

                                     Giao hòa chữ nghĩa tràn nghiên bút

                                     Trang web đường hoa nở rộn ràng

                                     Sử học, quê hương gầy tuyệt phẩm

                                     Vui mừng cả hội hợp ca vang

                                  Minh Thúy Thành Nội

                                  May 9/2026