Lời Mời Tham Dự: Tiệc Đánh Dấu Hội Truyền Thông Báo Chí Bắc Cali, 30 Năm Hoạt Động!
Thư Mời
Hội Truyền Thông Báo Chí Bắc Cali
Trân trọng kính mời:
-Quý Đồng Nghiệp, Thành Viên và Gia Đình
-Quý Cộng Đồng Đoàn Thể
-Quý Khách Hàng Quảng Cáo
-Quý Văn Thi Hữu, Thân Hữu
-Và Toàn Thể Quý Khách
Vui lòng bớt chút thời giờ tham dự:
Tiệc ra mắt Tân Ban Chấp Hành và Kỷ Niệm 30 Năm Hoạt Động.
Thời gian: 11 giờ 30 sáng Chủ Nhật, ngày 26 tháng 6 năm 2022.
Địa điểm: Nhà hàng Phú Lâm
3082 Story Rd, San Jose, Ca 95117
Sự có mặt của Quý Vị là niềm vinh hạnh đầy khích lệ, quý báu cho Hội, cũng là sự quan tâm của Quý Vị về Tiếng Nói của Người Việt Hải Ngoại.
Rất mong được đón tiếp.
Thừa ủy nhiệm Chủ Tịch Hội Truyền Thông Báo Chí Bắc Cali.
Tổng thư ký
Lê Văn Hải
*Xin góp 60 đô la cho mỗi phần ăn
Xin liên lạc những số điện thoại sau đây, để giữ chỗ, trước ngày 20 tháng 6/2022.
1. Lê Bình. (408) 628-8758
2. Duy Văn (408) 759-9339
3. Nghê Lữ (408) 677-1482
4. Hoàng Thưởng (408) 219-4334
5. Cao Ly Sâm (408) 680-9348
6. Vân Hằng (408) 609-8607
Kỷ Niệm 30 Năm Hội Truyền Thông Báo Chí Bắc Cali
Hội Truyền Thông, cũng từ Câu Lạc Bộ TT, đã có mặt tại Bắc CA từ năm 1992, thành lập tại tại nhà hàng Kiên Giang, trên đường Monterey. Ngày đó có tên là Ban Liên Lạc Truyền Thông, gồm có 3 người: Lê Văn Hải, Lê Văn Hướng, Lê Bình được đề cử làm đại diện. Sau đó, đổi tên là Hiệp Hội Truyền Thông Bắc Cali và có những cuộc họp mặt tại Nhà hàng Kobe, sau đó là tại GI Forum, (đây là tiệc lớn, cả trên 600 người tham dự). Đến năm 2011, đổi tên là CLB Báo Chí, thường họp mặt tại Phú Lâm, tiệc nào cũng có tất cả các đoàn thể, hội đoàn, thân hữu tham dự.
Những năm gần đây, giữ truyền thống “Đồng Nghiệp ăn Tết với nhau!” Thường xuyên Mừng Tất Niên mỗi năm rất vui vẻ, tại Grand Fortune.
Năm nay, đánh dấu, Hội có mặt với Cộng Đồng, đánh dấu hoạt động 30 năm! với tên: Hội Truyền Thông Báo Chí Bắc Cali và Tân Ban Chấp Hành.
Với 2 lý do đặc biệt nêu trên, Tiệc Ngày 26 tháng 6 năm 2022, lúc 11 giờ 30 sáng, tại Nhà hàng Phú Lâm tới đây, sẽ được mở rộng để mời các hội đoàn, tổ chức, thân chủ, thân hữu cùng tham dự.
Nên rất mong được tất cả Quý Khách Hàng, Cộng Đồng, Hội Đoàn, Thân Hữu tham gia, chúng vui với Anh Chị Em Truyền Thông Bắc Cali chúng tôi.
Rất vui được hân hạnh đón tiếp tất cả Quý Vị.
Hội Truyền Thông Báo Chí Bắc Cali Trân Trọng Kính Mời.
CHÙM THƠ & VĂN: CAO MỴ NHÂN
LỜI KHUYA. CAO MỴ NHÂN
*
Phải khuya mới rõ lòng người
Hạ tuần mới rõ trăng cười mê hoang
Sương mờ phá sóng không gian
Con tàu định mệnh chở hoàng hôn xa
Phải khuya mới nhớ mái nhà
Bập bềnh trên bến phù sa mịt mù
Bên này sông nước thiên thu
Bên kia còn lại lời ru não nề
Phải khuya mới thấy ê chề
Kiếp lưu vong chán lối về dửng dưng
Làm sao cản bước trăng dừng
Hạ tuần diễu cợt mây đừng che xuân
Phải khuya trăng mới bâng khuâng
Thương ai đếm suốt trăm năm chung tình
Anh chờ tan lễ Phục Sinh
Đưa em qua khỏi hành trình thương đau…
CAO MỴ NHÂN
***
NGỦ GIẤC NGÀY. CAO MỴ NHÂN
*
Tôi đang muốn ngủ giấc ngày
Để quên tất cả nơi này, chốn kia
Để quên tình tự phân chia
Để không thấy cảnh biệt lìa xót xa
Sáng trời, không thấy người ta
Tiếng chim đơn độc vô ra tổ chờ
Không nhìn hoa bướm mộng mơ
Không cầm bút viết bài thơ cuối cùng
Hoang liêu trải rộng mịt mùng
Mầu xanh thiên lý, sắc hồng lửa hương
Đã như phai nhạt nửa đường
Cô đơn, mỏi mệt gọi thương nhớ về
Đêm qua mộng mị lê thê
Tôi thôi kéo nỗi đam mê về gần
Đất trời tiễn biệt mùa xuân
Đưa tay tôi xoá trăm năm cuộc tình …
CAO MỴ NHÂN
LỜI XÂM. CAO MỴ NHÂN
*
Một mình ngồi buồn xin xâm
Quẻ ra sấp ngửa, nỗi thầm lặng rơi
Đoán trong tâm tưởng, bao lời
Cầu xin anh ở bên trời luôn vui
Hình như có chút ngậm ngùi
Cho riêng mình thiếu vắng hồi bơ vơ
Xâm không hối hả đợi chờ
Đồng xu sấp ngửa lững lờ được, thua
Từ lâu quên đến cửa chùa
Lắng nghe chuông mõ gỡ bùa tỉnh, mê
Bốn phương mù mịt nẻo về
Chân mây nào cũng lê thê muộn phiền
Tình sầu tình lại cuồng điên
Làm sao biết được thủa tiền định kia
Mộ tình thơ vẽ trên bia
Hương tan, lửa tắt, cách chia kiếp này …
CAO MỴ NHÂN
***
VẮNG BÓNG. CAO MỴ NHÂN
Trên nhiều tầng cao vút
Mây trắng xây lâu đài
Thắp tình nơi chót vót
Không thấy một bóng ai
Bay lên đôi cánh vàng
Chốn đó là thiên thai
Hay là mây hoang đàng
Không có một bóng ai
Thì đừng đăng cao nữa
Trên nhiều tầng mây bay
Lâu đài tình trống rỗng
Không gặp một bóng ai
Trở về nghìn trùng xa
Anh hay mái ấm nhà
Ô, chỉ là vạt khói
Thế gian còn đợi ta
Không thấy một bóng ai
Còn ai đâu tìm bóng
Cho hình ảnh thiên thai
Bạc trời mây nổi sóng …
CAO MỴ NHÂN
SUỐT THÁNG NĂM. CAO MỴ NHÂN
*
Trái đất không ngừng quay
Mây trời không ngừng bay
Nhưng tình yêu dừng lại
Trong cõi nhớ thương này
Anh nói đang mùa xuân
Thì đừng vội bâng khuâng
Anh luôn luôn ở cạnh
Bên em suốt tháng năm
Vậy thời gian ngưng trôi
Hoa nở khắp nơi nơi
Sao anh chưa thầm gọi
Tên em, một lần thôi
Chao ôi, anh tịnh ngôn
Mây cứ bay chập chờn
Trái đất chờ tan vỡ
Em giữ mãi nụ hôn …
CAO MỴ NHÂN
ĐOM ĐÓM DƯỚI TRĂNG. CAO MỴ NHÂN
*
Sân trăng một lúc si cuồng
Theo con đom đóm tìm nguồn nguyệt tan
Không gian chuyển tiết hoang tàn
Những con đom đóm gọi đàn quỷ ma
*
Nửa khuya, trăng bỗng nghiêng tà
Nguyệt mang lửa ngọn hằng nga về trần
Hằng nga ngần ngại gian truân
Sợ con đom đóm tới gần đắm mê
*
Cung thương giọt thả lê thê
Lưu Thần, Nguyễn Triệu tái tê đêm dài
Giật mình hồn đã Liêu Trai
Mái xưa tình tự đơn sai hẹn hò
*
Con đom đóm lạnh co ro
Nửa vầng nguyệt lãng đắn đo lượn vòng
Từ đi ngày tháng lưu vong
Đêm nay nguyệt thực đừng trông lửa vàng …
*
CAO MỴ NHÂN
CHIẾC BÓNG MỜ. CAO MỴ NHÂN
*
Bỗng một ngày không thấy
Người quen đi ngang nhà
Nơi sân vườn nắng xấy
Khô cả vạt sương hoa
*
Chắc mùa xuân ấm áp
Người quen bỏ về xa
Nửa vòng tròn trái đất
Che kín cuộc tình ta
*
Người về xa tít tắp
Đôi bàn tay mở ra
Hứng từng giọt nươc mắt
Đêm không ngủ bơ vơ
*
Ta xếp mau hồn mộng
Xuống đáy lòng hoang sơ
Thời gian như chiếc bóng
Còn lại trong hồn thơ …
*
CAO MỴ NHÂN
VÃNG LAI. CAO MỴ NHÂN
*
Sáng chủ nhật
Vô nghĩa trang ” Đồi Hồng ”
Để đọc lại tấm bia lạ lùng :
” Nơi an nghỉ của một người
chết trong tuyệt vọng …”
*
Tấm bia dựng từ cách đây 60 năm
Tên người bạc phận bị mờ phai
Vì sóng gió hay vì ai đục mất
Chắc vì hồn thiêng lẩn khuất
Khiến người bị chết lần thứ hai…
*
Khách đứng trầm ngâm nhìn dòng chữ
Như có câu thơ viết trong nỗi nhớ
” Nơi đây sương ủ hình hài
Em đi về nẻo Thiên Thai xa mờ
Trọn đời sống với mộng mơ …”
*
Trước mặt, sau lưng, chung quanh mộ thơ
Nụ hồng nhỏ xíu
Hoa hồng nở to
” Em đi vào cõi hư vô
60 năm có một giờ vãng lai…”
*
CAO MỴ NHÂN
BÊN THỀM ĐỜI . CAO MỴ NHÂN.
*
Anh ta bây giờ đã ngoài bảy chục tuổi, nên tôi phải gọi ảnh bằng ” ông ” cho có vẻ trân trọng và nhất là …đứng đắn .
Ố ô, rứa chẳng lẽ kêu ” anh” là không …đứng đắn hay sao ?
Số là anh ta, ý quên ổng ta sắp tới ngày sinh nhật đó nờ , 19/6 dương lịch, một ngày kỷ niệm trọng đại, mà cả đại tộc KaKi chúng tôi, đều nhớ, bởi tính chất …lịch sử của sự kiện , Ngày Quân Lực VNCH trời ạ .
19/6 Ngày Quân Lực VNCH hình như mỗi lúc mỗi phôi pha đi hay sao ấy, ông ta đã cười nụ một mình tự nhủ :
” Điều gì rồi cũng lạt phai, làm sao tươi thắm mãi được …”
Ông xuất thân từ quân trường danh tiếng X Khoá K, tôi gọi thế, đầy phẩm cách dũng cảm mà vẫn trẻ trung .
Ôi chao, có Khoá học nào, sinh viên sĩ quan Võ Bị nào không hội đủ 2 yếu tố ấy : anh hùng mã thượng, mà vẫn hào hoa phong nhã chứ .
Thôi đi, ” bà ” mê lính quá, lúc nào cũng thần tượng những chàng trai anh dũng, xuân tình .
Ông nhìn vọng ra xa, thật xa … cả một quá khứ hiện về .
Tôi bấm chuông ở cửa nhà ông lâu quá, đã bắt đầu đổ giận .
Ông làm cái gì trỏng mà không ra mở cửa chớ ?
Đã hẹn từ tuần trước, lại mới điện thoại hôm qua, cả hai thời hẹn, ông đều khẳng định rằng :
” Chừ tui không đi mô hết, ở nhà chờ cô thôi .”
Tôi cười hỏi đùa : ” Cô nào ? Chả lẽ tôi à ? Tôi bây chừ
Lão bà bà, chứ cô cái nỗi gì nữa ? ”
Thì với tôi, ông nói, cô lúc nào cũng là ” cô “, đơn giản, tôi đang sống lại kiếp trước của mình mà . Sao, có gì lạ muốn nói với tôi ?
Cũng có, tôi chậm rãi trả lời : ” Mấy ông xưa nhờ tôi mời ông bà đi ăn ” cơm tù ” một bữa đấy ” .
Cơm tù? Sao lại cơm tù chớ, ai lo chuyện này vậy, “mục đích yêu cầu ” dở hơi vậy ?
Chúng ta đang tự do như bướm, lại nhớ tù với tội là cái quái gì, chưa chắc tôi nhận lời ạ .
Thì tuỳ ông thôi, chúng tôi muốn thông báo cho ông hay, chớ chẳng vì sao, chẳng tại răng cả .
Ông gật gù : ” Để coi hôm đó tôi có trở ngại gì không đã, cô cứ nói với quý vị ấy là tôi nhận lời trên nguyên tắc hạ hồi phân giải nha ” .
Sao cũng được, miễn ông đi thôi .
Chuyện ” chung ” đã xong, giờ tới chuyện ” riêng ” .
Là không phải chuyện riêng tư tình cảm gì đâu, mà là chuyện không dính dáng tới ” bữa cơm tù ” vừa nêu.
À ra thế .
Chúng tôi vừa đi dự một cái ” lễ vàng “, ông nói .
Tôi mắc lo ra trả lời ừ hữ , không mấy hứng cảm.
Ông đó cũng khoá K với tôi. Cha đám cưới năm 1969 biết không, ở Huế đó .
Tôi vẫn chưa bắt nhịp được cái bản nhạc tình ông đang bắt đầu chờ dạo .
Ông nhìn tôi : ” Răng cô không hứng thú nghe tui kể chuyện vậy ? ”
Rồi, ” lễ vàng ” làm sao ?
Tôi thấy ” tình trường lão ta chẳng có gì đặc biệt, mà vàng với bạc làm chi cho mệt chứ …”
Nhưng nhà ông đó có mệt không về việc làm ” lễ vàng “, chứ chỉ nghe ông mệt thôi.
À , tôi nhìn thấy cái mệt trong chuyện ” lễ vàng ” của họ .
Họ đang sung sướng về việc làm đó, kỷ niệm 50 năm đám cưới, còn ông ở ngoài mà than là sao nhỉ ?
Ông cười xoà : ” Thì ở không nên lắm chuyện ấy mà . ”
Nghe tôi nói nè, cuộc đời thật là phức tạp quá chứ .
Như thế nào ?
Lão cùng đi tù với tôi về. Vợ lão chắc trẻ quá, thêm chút hoàn cảnh gia đình, tự ý không đợi chờ …
Thôi tôi không muốn nghe đâu, mai mốt gặp lại ở ” Bữa cơm tù ” nhé, tôi xin phép về .
Nhưng cô phải nghe đoạn này : Biết vậy, lão cũng trả thù đời, là tự ý lấy vợ hai, ngay sau ngày ” ra trại “.
Thì có gì đâu, đó là nguyên tắc tương đối thôi.
Nhưng khi đi HO qua đây, lão lại mang cái bà đầu có giấy tờ hợp lệ đi, bởi vì cái bà sau không chịu đi .
Thì là lẽ tương đối tiếp theo.
Rồi lão lại ly dị bà vợ đầu này, vì không quên giai đoạn hậu tù cải tạo của lão .
Và cũng để có dịp biểu lộ với phòng nhì, là lão vẫn dành cho bà hai này những yếu tố khách quan rằng đã lấy chồng thì cũng có dịp ” võng anh đi trước, võng nàng theo sau ” .
Chao ôi, tôi phụ hoạ: lại cũng là luật chơi tương đối, chẳng ai bị thiệt ở đời vậy .
Biết rồi, song le, cuộc đời vẫn có những phút giây cuối cùng như một bản cáo trạng của trời đất, dành cho loài người mà Chúa đã tạo ra .
Bà vợ sau của lão được hưởng hết cái hạnh phúc bất ngờ khi một người tù phá sản tình cảm vốn có sẵn tràn trề, kèm sự tức bực cho là bị phản bội, đồng thời lão vẫn thèm khát thứ hạnh phúc nguyên vẹn, lão đã dành tất cả mọi ưu ái cho đệ nhị phu nhân ấy.
Nhưng chỉ 10 năm sau, lão đã lên đường quy Mã .
Tới khi bà vợ sau của lão được lão lo cho đủ điều kiện ra đi đoàn tụ với lão, cũng là lúc bịnh trầm kha của bà ta, tiễn bà ta vĩnh viễn rời bỏ cuộc đời vốn hư huyễn này.
Tôi bâng khuâng: ” Chẳng lẽ cũng lại là điều tương đối nữa sao ? ”
Lão trở về trạng thái ban đầu, nhưng không rõ nét hạnh phúc .
Đó là đang ở chung một thành phố với bà vợ trước đã ly dị, trên thiên đường nơi hạ giới này . Nhưng vẫn mơ màng nhớ bà vợ sau đã yên thân nơi huyệt mộ bên cố xứ quê xa…
Tôi bắt đầu nghe ù cả tai, nhưng, chưa muốn về , vì muồn biết hồi kết của câu chuyện ” Lễ vàng ” .
Ông cười khẩy : ” Có phải cô muốn biết đoạn kết của cái lễ vàng đó không ? “
Thế này, bà vợ đầu ức lòng vì bị ly dị sau khi chỉ có 5 năm sống với lão, trước thời lão đi tù cải tạo đó .
Lão có yêu thương gì vợ trước cũng không bằng lão đi ban phát tình yêu cho bà vợ sau .
Nên bây giờ bà vợ trước đó, buộc lão trở về hoàn cảnh đầu tiên, tức là hồi 2 ông bà mới thành hôn, dù khi cả hai bà ta và lão đã lấm lem cuộc đời thời gian lão chia đôi cho mỗi người vợ một nửa số con bằng nhau.
Bằng một cái ” lễ vàng ” là chỉ có hình thức để có vẻ yêu đời hết xẩy, không có gì quan trọng , nếu xét qua các tiết mục, thì chẳng có mục nào thể hiện đúng cái ý nghĩa của nó cả .
Vâng, cám ơn ông, tôi cũng như ông, nghe chuyện tà la đã mệt rồi .
Ưng thay là người trong cuộc, thì buồn chán tới đâu ấy chứ .
Có lẽ cuộc đời ” nó ” vậy .
Thôi , tôi xin phép về nha. Cám ơn ông đã cho nghe chuyện đầy mầu sắc tương đối vừa qua.
CAO MỴ NHÂN
( CHỐN BỤI HỒNG )
MỘT NGÀY HÈ. CAO MỴ NHÂN
Quý vị tu sĩ mang tất cả tấm chân tình trải trước lòng dạ người dân lành …vô tội . Tôi cứ nghĩ mãi khi đặt bút viết câu này, mở đầu bài ” luận văn ” tự nguyện, gởi đến một bậc chân tu .
Nhưng khi bậc chân tu ấy hỏi rằng có biết gì về tấm chân tình của quý ngài, thì thật quả tôi bị lúng túng trong giải thích …rất đạo, là sự dâng hiến cả đời ngài cho Đấng tối cao, rao truyền chân lý sống ở đời để làm gì, theo ý Chúa.
Đó là những năm hậu tù cải tạo, tôi đã về lại thành phố Saigon, khoảng đầu thập niên 80 thế kỷ trước .
Người nhà kể rằng: gia đình chú tài xế của tôi xưa, hiện lập nghiệp ở đồng rẫy Trảng Bom, đã đến nhà chị tôi nhắn: nếu tôi đi tù về, chưa có việc làm, thì hãy lên chợ Trảng Bom kiếm nhà chú ấy .
Tôi không biết chú tài xế gốc hạ sĩ nhất QL. VNCH cùng gia đình đang sinh sống thế nào sau cuộc đổi đời 1975, vì trước đó, chú lái xe cho Phòng Xã Hội của tôi ở Bộ Tư Lệnh QĐI/QKI ngoài Đà Nẵng .
Xem ra hoạt cảnh cũng nhuốm vẻ khôi hài, chẳng lẽ chú ta là VC nằm vùng, giờ lộ mặt phất lên, có cơ ngơi chính trị, muốn giúp lại tôi chăng ?
Hay trời cho, chú trúng số độc đắc, đã có điền sản sau 5 năm rời giáo xứ Thanh Bồ Đà Nẵng, đã ổn định cuộc sống …mới ?
Bấy giờ nhà văn Thế Phong đang làm ” nhân viên chấp pháp” cho hãng xe bus, kiêm ” lơ xe ” bus tuyến đường Saigon Thủ Đức .
Ông ta đã bốn mươi mấy tuổi, nhưng rất khoẻ mạnh, lạc quan, tháo vát một cách lao động chuyên chính luôn, ông đề nghị tôi nên đi coi ” sự nghiệp ” sau 30-4-1975 của người tài xế như thế nào .
Chúng tôi đi xe lam từ sớm. Thế Phong trong phong cách ” lơ xe ” chuyên nghiệp, ngồi nghênh ngang chặn cửa xe, cứ nói một mình những điều gì đó một cách ” coi trời bằng vung “, vì sự thực ông ấy có sợ ai bao giờ đâu.
Điều đó khiến tôi yên tâm sau cái nhãn ” sĩ quan cải tạo ” về, hồn nhiên đón nhận những luồng gió mát mẻ của một buổi sớm mùa hè ở miền Nam .
Rồi 40 cây số cũng trôi qua, chợ Trảng Bom hiện ra trước mắt, với những mái tranh nghèo đúng nghĩa, nhưng hàng quán lại đông đảo .
Trong khi ăn sáng bằng tô phở, quanh cái xe phở, mà chỉ những ai đã từng thưởng thức món phở đặc trưng Bắc kỳ cũ, mới thấy nó …phở như thế nào .
Chúng tôi nhanh chóng hỏi thăm nhà chú tài xế tên Nguyễn Trọng Bảo, mới nhập cư mấy năm, thì có một người gật đầu, nói sẽ dẫn đường đến tận nhà chú Bảo ngay .
Nếu trước 1975, chúng tôi, Phòng xã hội QĐI/QKI đã từng mỗi năm một dịp tới nhà chú, ở Khu công giáo Thanh Bồ dự tiệc Nửa Đêm sau khi mừng Chúa Cứu Thế đến, dư dả thế nào, thì nay nhà chú vẫn giữ nguyên mầu sắc cũ .
Trong lúc cách đó mới mấy năm, chính tôi đưa vợ con chú di tản từ Đà Nẵng vô Saigon, chú ở lại với cái xác nhà và y nguyên đồ đạc cùng bầy heo cả chục con, bầy gà vịt cả trăm con …vv, kể như đã bỏ hết.
Sao nay đầy đủ, dư thừa thế ?
Tấm ảnh ” Bữa tiệc cuối cùng ” với cả bức tượng hình Chúa Jesus gắn trên vách lớn căn nhà, cụ bà mẹ chú, chú và toàn bộ gia đình, không thiếu một ai …quây quần nơi xóm đạo mới .
Cả nhà vui vẻ ra gọi là ” chào đón ” chúng tôi, cầu xin cho cá nhân tôi và gia đình sớm được bình an trong ơn Chúa .
Bữa ăn trưa với đầy đủ gà vịt nấu như ăn cỗ, đặc biệt là không phải một liễn nhỏ, mà một thúng rượu nếp làm theo kiểu Bắc kỳ xưa, gạo nếp sụng tức say, thơm ngát, được bới ra mỗi người một chén để tráng miệng, mới …giang hồ khí cốt chứ .
Qua cỗ bàn rồi, giờ đi vào thực tế, cựu hạ sĩ I Bảo ngập ngừng nói là, nếu gia đình tôi không quản ngại …lầm than một chút, thì xin mời chị cùng các cháu tạm nhờ Cha, nhận một khoảnh đất trong vùng, rồi canh tác, chăn nuôi, không lâu, sẽ có một cơ ngơi tương đối, bằng hoặc có khi hơn nhà chú ấy nữa.
Thoáng thấy nhà văn Thế Phong mỉm cười vẻ hơi châm biếm, có lẽ ông nghĩ tới sự đổi thay 180 độ đối với tôi, đã mất hết nhà cửa, tiền tài, địa vị, giờ còn chút thể diện nhân thân cũng lu mờ …
Nhưng tôi vốn từng trải công tác xã hội quá rồi, chạnh nghĩ mình cũng có là quái gì mà chê bai hoàn cảnh trước mặt, nên tôi vui vẻ trả lời :
” Mới ra khỏi trại cải tạo thôi , hãy để nghỉ ngơi một chút, mai mốt nếu cần, sẽ lên nhờ chú dẫn đi gặp Cha .
Trên đường về, chúng tôi tự động đi gặp Cha ở nhà thờ X. Trảng Bom .
Cha hân hoan ghi nhận điều thăm hỏi, và đồng thời khuyến khích tôi nên xây dựng Đức tin vững vàng, để cùng con cái được hưởng ân sủng Thiên Chúa ban cho .
Cha nói nội khu rẫy Trảng Bom có tới 3 nhà thờ vì mỗi khu làng tân lập đông đúc dân chúa, chưa có Cha khác về thêm, nên Cha phải đi làm Lễ cho cả 3 nhà thờ, thay phiên giờ, bằng xe đạp …mỗi sáng Chúa Nhật .
Trong câu chuyện,có một điều tôi nhớ nhất,
là khi tôi hỏi thăm Cha :
“Thưa Cha, có thoải mái trong sinh hoạt mới không ? Chế độ rao giảng không như ngày xưa”.
Cha ngẫm nghĩ:” Chế độ rao giảng sao lại thay đổi, tất cả mọi chuyện đều là phương tiện thôi, cứu cánh ấy là Chúa Trời mà”.
Nên, đôi khi tôn giáo phải bao trùm tất cả, chính trị chỉ là một phần …nghiệp tu, những bậc chân tu không cần phải đề phòng, mà vâng lời Chúa trong mọi hoàn cảnh …
Tôi ngập ngừng : Thưa Cha , kể cả …
Cha cười hồn nhiên , nhưng quả cảm …kể cả sự chết .
CAO MỴ NHÂN
KỶ NIỆM 50 NĂM CHIẾN THẮNG BÌNH LONG – AN LỘC – KIỀU MỸ DUYÊN
TRANG CHÀO MỪNG NGÀY PHẬT ĐẢN – RẰM THÁNG TƯ – NHÂM DẦN, 2022 – Phật Lịch 2566.
HỒNG TRẦN
*
Thế gian nhiều biến đổi
Ta chỉ một dạng thôi
Theo tháng năm tàn lụi
Mấy ai chẳng ngậm ngùi
*
Cõi hồng trần sinh ly tử biệt
Kiếp nhân sinh nọ ai mãi miết
Rồi một ngày tay ng buông xuôi
Về chốn không tranh danh đoạt lời
Chết sống nào cũng là trả nghiệp
Chỉ sớm muộn nợ vay tiền kiếp
*
Mong tái sinh đừng vương lụy
Tâm yên bình thoát hiểm nguy
Vốn dĩ lời chân nguyên Phật
Để muôn người đạt phúc duyên
*
Hoàng Mai Nhất
KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN
*
Tháng Tư ĐỨC PHẬT hạ phàm trần
Đem ánh Đạo Vàng cứu thế nhân
THÁI TỬ ly gia rời tục lụy
ĐẠT TA cắt ái biệt tình thân
Tam Quy điều dạy, thay tai kiếp
Ngũ Giới lời khuyên, nhận phước phần
Phật Lịch hai nghìn năm sáu sáu(2566)
Nguyện cầu khắp chốn rạng ngời xuân.
Phương Hoa – MAY 17, 2022
Hoa Sen Bảy Bước
Đi bảy bước hoa sen chớm nở Gót hồng trần lan tỏa niềm mơ Cội bồ đề, chánh kiến thiền định Giác ngộ từ tâm, chuyển hoá cơ.
Phật pháp kinh thư đã chuyển vần Năm châu, bốn biển độ nhân quần Thập phương, ý nguyện luân hồi chuyển Phật tánh Di Đà, quán tịnh thân.
Tế Luân
KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN 2022
*
Mừng Phật Đản, muôn phương thiết lễ
Cúng dường ngày Nhập Thế Thích Ca
Thấm nhuần giáo lý Phật Đà
Tâm bình, thế giới an hòa sống vui
*
Mừng Phật Đản hãy nuôi mầm thiện
Phật xuống đời thị hiện chúng sanh
Nhân gian mừng đón Cha lành
Tháng Tư rằm đến, tâm thành dâng sen
*
Mừng Phật Đản, ghét ghen buông bỏ
Ánh đạo vàng sáng tỏa trần gian
Tại gia thắp nén hương nhang
Trên cao Phật chiếu hào quang sáng lòng
*
Mừng Phật Đản, sen hồng hương ngát
Tiếng Nam Mô lấn át sân si
Hồi chuông cửa Phật từ bi
Âm vơi nghiệp chướng, xua đi hung tàn
*
Mừng Phật Đản, dâng ngàn lời nguyện
Phật từ bi, Pháp chuyển Trí minh
Khiến cho kẻ ác lui binh
Tan đi sân hận, Hòa Bình Thế Gian…
*
DUY ANH
Đại Lễ VESAK 2022
Chủ Nhật Tuần Này: Kính Mừng Đại Lễ Phật Đản PL 2566. ĐL 2022
Lời Chúc Mừng
Một Mùa Lễ Vesak nữa lại về trên trần gian, Phật Đản mang lại bao niềm hân hoan, vui sướng trong lòng những người con Phật và những ai tin vào giáo pháp cứu thoát của Ngài.
Kính chúc tất cả Quý Vị và Gia Quyến một Mùa Phật Đản: Vạn Sự An Lành, Hạnh Phúc Vui Tươi, Muôn Chuyện Hạnh Thông.
Thắp sáng ánh đèn trí tuệ trong tâm, noi theo đường Đấng Chí Tôn, để có:
-Tâm hài hòa, mỉm cười trước sóng gió cuộc đời.
-Tâm minh tuệ, ứng phó với những biến chuyển thời gian.
-Tâm siêu nhiên, đối mặt với: Sinh, Bệnh, Lão, Tử!
-Tâm bình an, vượt qua khỏi mọi khó khăn, trở ngại trong cuộc sống, để có hạnh phúc ngay tại trần gian này.
Có Tâm là có tất cả! Tâm bình, thế giới bình!
Ý nghĩa ngày Phật Đản
Phật Đản còn gọi là Quán Phật Hội (hội tắm Phật), Giáng Đản hội (hội giáng sinh) đó là nghi thức tắm Phật. Ngày Phật Đản tức là ngày Đức Phật Thích Ca ra đời.
Mùa Phật Đản năm nay lại về trong niềm vui của mọi người dân Việt, từ Tháng Tư Đen 75, 47 năm, đang sống lưu vong nơi đất khách quê người, cách xa quê nhà cả nửa vòng trái đất. Hơn ba triệu người Việt hiện ở tạm dung trên các nước thuộc Âu Châu, Úc Châu, Mỹ Châu, đang nỗ lực tổ chức ngày “Đại Lễ Phật Đản, Phật lịch năm 2566” để hòa nhịp với niềm vui chung của nhân loại, trong mùa Phật Đản năm 2022.
Nhân dịp ngày Đại Lễ, xin ghi lại chút “Lịch Sử cuộc đời Đức Phật” để cống hiến quý đồng hương Phật Tử bốn phương, cùng tìm hiểu về “Chân lý và nguồn gốc ngày Đản Sinh của Đức Phật, hầu lưu lại cho các thế hệ mai sau, nối gót các bậc tiền nhân, duy trì và phát huy Đạo lý cao siêu của Đức Thế Tôn, trong ánh đạo vàng đến với mọi người trên thế gian.
Ngày Phật Đản hay ngày Giáng sanh của Đức Phật, tiếng Pali gọi là Vesak. Vesak là tên của một tháng, thường trùng vào tháng năm dương lịch. Vesak cũng là tên của một ngày có ý nghĩa trọng đại nhất đối với hàng Phật tử khắp thế giới. Đức Phật sinh nhằm ngày rằm, tháng Vesak, vào buổi sáng, trong thành Kapilavatthu (Ca-ty-la-vệ) gần biên thùy giữa đông bắc Ấn Độ và Népan. Ấy là Thái tử Siddatha Gotama. Cha của ngài là Hoàng Đế Tịnh Phạn (Cuddhodana) họ Cồ Đàm (Gotama), và mẹ của Ngài là hoàng hậu Ma Gia (Mayadevi) Ngài tên là Siddhartha Gautama. Ngài mất mẹ rất sớm. Sau khi hạ sanh Hoàng Tử được 7 ngày thì hoàng hậu thăng hà.
Thái tử sanh ra là một đại hạnh, đại phúc, ơn lành cho tất cả chúng sanh. Dĩ nhiên, đã là Hoàng tử, Ngài sống một cuộc đời vô cùng sung sướng trong cung điện nguy nga, nào biết gì đến cảnh thực ngoài đời. Nhưng ngày qua tháng lại, lần lần trong tâm Ngài tự phát giác sự thật.
Khi Ngài giác ngộ được rằng vạn vật là vô thường, có rồi không, thành rồi bại, có sinh có tử, có gìa có bệnh. Rằng bao nhiêu vinh hoa, phú qúy, khoái lạc vật chất dẫy đầy trước mắt, chẳng qua là một bã hư vô. Ngài mới nhất định xuất gia, bỏ hẳn thế sự, để đi tìm đâu là sự thật, đâu là tịnh lạc. Năm ấy được 29 tuổi, Ngài từ bỏ cung điện nguy nga và những sa hoa vật chất của một vị Hoàng tử, không phải vì thắc mắc băn khoăn riêng cho Ngài, mà chính vì cảnh đau khổ trầm luân của chúng sinh.
Lần từ biệt ra đi của Ngài đã giũ sạch nợ trần, để đi tìm một con đường giải thoát cho nhân loại. Suốt sáu năm trời, Ngài hãm thân vào cuộc đời khổ hạnh, hy sinh, chịu đựng muôn ngàn đau khổ với một tấm lòng sắt đá, kiên trì, với một niềm tin vô biên và luôn luôn xả thân để phụng sự. Đây là cuộc đời phấn đấu mà sức người phàm khó lòng chịu nổi.
Rồi một hôm tinh toạ trên mớ cỏ khô dưới cội bồ đề, tại Bồ Đề Đạo Tràng (Buddhagaya), Ngài tự nguyện: “Dù ràng thịt ta phải nát, xương phải tan, hơi phải mòn, máu phải cạn, ta quyết ngồi nơi này đến khi được hoàn toàn đắc quả vô thượng!” Vào ngày rằm, tháng Vesak, Ngài đắc quả Chánh Đẳng, Chánh Giác. Quả này là kết tinh cuối cùng của một lòng tự tin, tự lực, tự giác, chớ không phải nhờ ở một quyền lực siêu nhiên nào giúp đỡ. Ngài đã diệt được bao điều chi phối của ngoại cảnh đối với thân tâm, để trở thành thanh tịnh chứng pháp, lãnh hội rõ ràng chân tánh của một sự vật: Ngài đã là Toàn Giác, Ngài đã thành Phật. Lúc bấy giờ Ngài 35 tuổi. Từ đây người ta gọi Ngài là Đức Phật Cồ Đàm (Gotama), một vị Phật trong trường chi vô lượng Phật quá khứ và vị lai.
Như vậy thì lễ Visak không những là kỷ niệm ngày giáng sinh, mà cũng là ngày đắc đạo của Đức Phật. Khi đã được hoàn toàn sáng suốt và đăc quả Chánh Đảng, Chánh Giác rồi, Ngài gia tâm đi hoằng hoá pháp mầu để rọi sáng dẫn dắt kẻ khác. Được hoàn toàn giải thoát, Ngài gia tâm giải thoát chúng sanh bằng một lối đường Trung Đạo. “Mở rộng cửa chân lý cho những ai muốn tìm chân lý, rót thẳng niềm tin tưởng vào tai những ai muốn tìm tin tưởng.” Đó là câu bất hủ mà ngài đã thốt ra lần đầu tiên, khi bắt đầu sứ mạng hoằng dương đạo pháp của Ngài.
Đầu tiên Ngài lập ra Giáo Hội Tăng Già chỉ gồm có năm vị Thanh Tịnh Pháp Sư, đó là 5 anh em Kiều Trần Như. Đây là hột giống đầu tiên hết sức nhỏ bé mà Ngài đã gieo, để rồi về sau này nở muôn ngàn đầy khắp bốn phương: Là Giáo Hội Tăng Già ngày nay, khắp thế giới, một hệ thống tổ chức thật sự dân chủ xưa nhất trong lịch sử nhân loại. Khi rải các đệ tử đi hoằng hoá Giáo Pháp trong thiên hạ, Ngài gửi lời khuyên nhủ chư tăng như sau: “Hỡi chư Tỳ Kheo, các con hãy mạnh dạn ra đi, đi vì ích lợi cho chúng sanh, đi vì hạnh phúc an vui cho nhân quần, xã hội, đi vì thương xót nhân loại. Các con hãy đi khắp chốn, ban bố giảng dậy Pháp này là diệu Pháp hoàn toàn. Các con hãy nêu cao đời sống Thánh Đức khiết thanh, luôn luôn hoàn toàn và trong sạch.”
Riêng phần Ngài, là hoá thân của Đức Độ cao siêu, trí tuệ luôn luôn sáng suốt, đầy lòng nhân đạo, từ bi, bác ái, hy sinh không bờ bến, đêm nghỉ chỉ một giờ. Trong năm mười hai tháng, hết tám tháng Ngài dãi dầu phong sương khắp chốn, không quản gì thân. Ngài tế độ chúng sanh như vậy suốt bốn mươi lăm năm trường.
Một hôm, khi cảm thấy sức đã kiệt, ngày lâm chung săp đến, Ngài gọi tất cả đệ-tử về và nói: “Kiếp sống thật là ngắn ngủi, Thầy nay tuổi đã già. Thầy sắp xa lìa các con! Từ lâu vẫn nương tựa nơi Thầy. Các con hãy cố gắng chuyên cần tinh tấn, hãy kỹ càng thận trọng và luôn luôn giữ một lòng đạo đức cao cả, với những tư tưởng trong sạch siêu mẫn, các con hãy giữ gìn bản tâm cho chu đáo. Nhờ tôn chỉ và kỷ luật này, với một đời sống tích cực hoạt động đạo đức, các con sẽ được thoát khỏi vòng sinh tử, tử sanh và chấm dứt được phiền não, đau khổ. Vạn vật cấu tạo là nhứt dán, là vô thường. Các con hãy cố gắng lên!
Năm ấy Đức Phật tám mươi tuổi thọ. Ngài trở về Kusinara, là một làng nhỏ bé xa xôi, nơi đây êm ái và an tịnh. Ngài tịch diệt, thân nằm êm giữa hai cây long thọ (Sala), hôm ấy đúng ngày rằm vào tháng Vesak. Như thế Vesak là ngày kỷ niệm gồm ba sự kiện: Giáng sanh, Thành Đạo, và Tịch Diệt của Đức Phật. Ngày nay Phật tử khắp hòan cầu cử hành cuộc lễ gồm ba sự tích ấy, với một niềm tin tuyệt vời và một đạo tâm chơn thành.
Ngày nay khoa học và văn minh càng tiến bộ, thì Đạo Phật càng được phát triển, vì hầu hết những khám phá trong khoa học hiện nay, thì Đức Thế Tôn đã nói ra cách đây từ 2566 năm về trước! các kinh sách của Đức Phật đã để lại cho nhân loại một kho tàng quý báu. Tất cả đều dựa trên cái Tâm và Trí của thực thể con người, không ảo tưởng, không thần thoại, cũng không có cái gì là siêu hình, mê tín. Nên nhiều người nhận định, Phật Giáo là đạo sát với khoa học nhất, thì cũng đúng.
H.G. Wells, là một học giả người Anh đã viết: “Đức Phật là một nhân vật vô cùng giản dị, có Tâm Đạo nhiệt thành, tự lực một mình phấn đâu cho ánh sáng tươi đẹp, một con người sống, chứ không phải là một nhân vật của thần thoại, huyền bí. Bên sau cái bề ngoài hơi ly kỳ thần thoại, mà người đời hay gán cho ngài, chỉ thấy rõ một con người như bao nhiêu vị Giáo Chủ khác. Ngài cũng truyền lại một tuyên ngôn, một hệ thống giáo lý rộng rãi khả dĩ thích hợp cho khắp loài người. Bao nhiêu ý niệm văn minh của ta ngày nay, cũng hòa hợp được với giáo lý ấy. Ngài dậy rằng tất cả cái bất hạnh và phiền não của ta là do lòng ích kỷ mà ra, Ngài đã nhất định không sống riêng cho Ngài, mà phải sống cho kẻ khác, từ đó Ngài sống một cuộc đời siêu nhân trên tất cả mọi người. Xuyên qua trăm, ngàn ngôn ngữ khác nhau.
Đức Phật đã dậy đức từ bi, hỷ xả gần 600 năm trước Chúa Giêsu ra đời. Đứng về một phương diện nào đó mà nói, ta có thể cho rằng, Chúa với Đức Phật có nhiều chỗ giống nhau vậy. Đối với đời sống thực tại của ta, cũng như đối với vấn đề trường tồn bất hoại của kiếp ta, Đức Phật đã tỏ ra biết trước.
Thực vậy, Đức Phật đã nói:
Ta là Phật đã thành,
Các ngươi là Phật sẽ thành.
Vậy mọi người trên thế gian này, nếu có tâm đạo, có ý chí quyết tâm, tu thân, tích đức, loại trừ cái tham, sân, si mà đi theo con đường Đức Phật đã vạch ra, thì cũng sẽ thành Phật, không phải như các huyền thoại khác, lấy tôn giáo để mê hoặc con người, đi tìm một ảo tưởng vô hình. Đức Phật nói đúng, vì chính Phật cũng là một người như ta, nhưng Ngài đã vượt ra ngoài cái khuôn khổ của loài người. để đi tìm lấy một chân lý tối thượng, hầu truyền lại cho con người đi theo con đường Chân, Thiện, Mỹ. Để tiêu diệt cái “Tâm độc ác, cái Trí ngu muội”, trên trần gian. Đem đến cho mọi người được thân tâm an lạc, thanh bình, thịnh vượng, hạnh phúc và có trí sáng tạo.
Ông Bertrand Russell, một học giả triết gia hiện nay người Anh có nói: “Đức Phật rõ là một nhân vật chủ trương thuyết phi thiên cách cao thâm nhất từ cổ chí kim vậy”. Dựa theo giáo lý cuả Đức Phật, Ông Thomas Paine, một học giả uyên thâm khác đã viết theo lời Phật dậy: “Thế giới là nhà ta, nhân loại là anh em ruột thịt ta, và vi thiện là đạo ta”. Từ hơn hai ngàn năm trăm năm về trước, Đức Phật há chẳng nói: “Chớ nên làm ác, hãy làm lành, cố gắng lên, cố gắng làm cho tâm ngày càng trong sạch”. Đó là điều mà Đức Phật dạy chúng ta phải làm, chỉ có bấy nhiêu. Và chỉ nhờ có bấy nhiêu mà ta sẽ diệt đươc ba nạn là: Tham ái, sân hận, và si mê.
Để kỷ niệm ngày Đức Phật giáng trần và cũng là ngày Đắc Đạo sau sáu năm khổ hạnh và 49 ngày tịnh toạ trên mớ cỏ khô dưới cội Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng (Buddagaya). Hàng năm cứ gần đến ngày rằm tháng tư âm lịch, là toàn thể các tín đồ Phật giáo thuộc các giáo hội trên khắp thế giới, nao nức hân hoan tổ chức kỷ niệm ngày đản sanh. Để nhắc nhở người con Phật, ôn lại những răn dậy tinh hoa của Đức Thế Tôn, làm kim chỉ nam cho đời sống hiện tại cho mỗi người trên trần gian.
Mặt khác, tưởng cũng nên nhìn lại lịch sử thế giới, ta thấy bao nhiêu bạo lực độc ác của các đế quốc tàn bạo để nô lệ hóa con người, như gần đây nhất, Nga xâm chiếm Ukraine, Trung cộng đòi chiếm Biển Đông, nhưng tất cả, đã và sẽ lần lượt tiêu tan theo thời gian ngắn ngủi! Chỉ có giáo lý cuả Đức Phật là còn tồn tại mãi mãi, bất diệt nơi tâm hồn của hàng triệu, hàng tỉ người Phật Tử nói riêng và nhân loại nói chung. Mỗi ngày một phát triển trên khắp năm châu. Lạ một điều, giáo lý của Đức Thế Tôn đang được phát triển tột đỉnh, rộng rãi trong lòng các dân tộc văn minh Tây Phương! chứ không phải ở Phương Đông!
Mừng Đại Lễ Phật Đản Trên Toàn Thế Giới
Phật Đản là ngày nghỉ lễ quốc gia tại nhiều quốc gia châu Á như Thái Lan, Nepal, Sri Lanka, Malaysia, Miến Điện, Singapore, Indonesia, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Campuchia,…
* Đại Lễ Phật Đản Sri Lanka
Tại Sri Lanka, hai ngày được dành cho việc cử hành Vesākha, việc bán rượu và thịt thường bị cấm và tất cả các cửa hàng rượu, bia và lò giết mổ phải đóng cửa do nghị định của chính phủ. Chim, côn trùng và thú vật được phóng sinh như là một “hành động mang tính biểu tượng của sự giải thoát”, của sự trả tự do cho những người bị giam cầm, bị bỏ tù, bị tra tấn trái với ý muốn của họ.
* Đại Lễ Phật Đản Ấn Độ
Tại Ấn Độ, Nepal, người dân thường mặc áo trắng khi lên các tịnh xá và ăn chay. Tại hầu hết các quốc gia châu Á đều có diễn hành xe hoa và nghi lễ tụng niệm.
* Đại Lễ Phật Đản Hàn Quốc
Tại Hàn Quốc có lễ hội đèn hoa sen (Yeondeunghoe) rất lớn. Còn gọi (Bucheonim osin nal) có nghĩa là “ngày Đức Phật đến”, bây giờ đã phát triển thành một trong những lễ hội văn hóa lớn nhất của quốc gia. Lễ hội Phật đản diễn ra tại nhiều nơi công cộng, và trên những đường phố. Trưng bày và diễn hành lồng đèn là một trong những chương trình tưng bừng và gây nhiều xúc cảm nhất.
* Đại Lễ Phật Đản Miến Điện
Tại Myanmar, ngày Vesak cũng gọi là ngày của Kason. Kason là tháng thứ 2 trong 12 tháng theo lịch Myanmar. Đây là tháng nóng nhất trong năm. Nên trong khuôn khổ lễ hội Vesak, người dân nơi đây, với lòng thành kính, đặt những chậu nước tinh khiết trên đầu đội đến những tự viện tưới xuống cây Bồ đề. Họ tưới cây Bồ đề để cảm ơn giống cây này đã che chở đức Thế Tôn, trong những ngày thiền định trước khi chứng đạo và ước nguyện năng lực giải thoát luôn trưởng dưỡng trong họ.
* Đại Lễ Phật Đản Thái Lan
Thái Lan là quốc gia Phật giáo đã 5 lần tổ chức Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc. Khí trời nóng bức và không mưa, người ta thường bắn pháo hoa với ước nguyện sẽ có mưa.
* Đại Lễ Phật Đản Trung Quốc
Tại Trung Quốc, Phật giáo đã có mặt gần 2000 năm. Phật giáo từng là tư tưởng dẫn đường chính cho chính quyền và người dân trong một số triều đại xưa. Lễ Phật đản được tổ chức từ thời Tam Quốc, đã ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội qua nhiều giai đoạn lịch sử. Nhưng ngày nay Phật giáo không còn ảnh hưởng nhiều trong xã hội Trung Quốc, từ khi theo xã hội chủ nghĩa. Người dân chỉ còn biết đến Phật giáo như là một tôn giáo lo ma chay, cúng kiếng, võ thuật… Lễ Phật đản chỉ có thể được tổ chức trong khuôn viên chùa, tu viện và ít được xã hội quan tâm.
* Đại Lễ Phật Đản Đài Loan
Phật giáo Đài Loan có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống thường nhật của người dân tại lãnh thổ Đài Loan. Từ năm 1999, ngày Phật Đản đã là một ngày nghỉ lễ quốc gia ở Đài Loan, được tổ chức hàng năm vào ngày chủ nhật thứ hai của tháng 5 và trùng với Ngày của Mẹ. Nghi lễ thường bắt đầu với điệu nhảy truyền thống và hát ca khúc Phật giáo. Một bức tượng của Đức Phật kèm theo âm nhạc, được rước vào địa điểm và buổi lễ bắt đầu với phần dâng cúng năm vật là hoa, trái cây, hương, thực phẩm và đèn cho Đức Phật
* Đại Lễ Phật Đản Nhật Bản
Tại Nhật Bản, Phật giáo truyền đến từ cuối thế kỷ thứ VI và là tôn giáo chính trong giai đoạn trung và đầu cận đại. Ngày nay, vai trò của tôn giáo ít ảnh hưởng mạnh đến đời sống thường ngày ở Nhật Bản. Lễ Phật đản thường gắn liền với Lễ hội Hoa Anh đào, cũng chỉ giới hạn trong phạm vi tu viện và trong quần chúng Phật tử.
* Đại Lễ Phật Đản Việt Nam
Gần 90% dân số VN theo Phật Giáo, nên Lễ Phật đản được công nhận là một ngày nghỉ lễ (quốc lễ) chính thức tại miền Nam Việt Nam, bắt đầu từ năm 1958, do chính phủ Đệ Nhất Cộng hòa của chính thể Việt Nam Cộng hòa thông qua.
Vào ngày này, người dân tự do tưng bừng tổ chức rất nhiều sinh hoạt, đời cũng như đạo. Cúng lễ tại các chùa, kèm theo nhiều chương trình văn nghệ. Ngoài đường phố, hàng đoàn xe hoa nhiều mầu sắc diễn hành. Cờ Phật Giáo, nhạc Phật vang lừng khắp nơi. CS đã lợi dụng sự tự do này, xúi dục tổ chức nhiều cuộc biểu tình, nhằm làm mất an ninh tình hình hậu phương, cũng nhằm bôi xấu “chính thể VNCH đàn áp tôn giáo” trước dư luận quốc tế.
Sau khi chấm dứt chiến tranh Việt Nam năm 1975, cộng sản chủ trương vô thần, nên mọi hoạt động tôn giáo đều bị cấm. CS còn tuyên truyền “VN ta có “Bác Hồ” không thờ, thờ chi những Ông Ấn Độ, Do Thái!” Thì ngày này không còn là ngày lễ quốc gia nữa! Mọi hoạt động tôn giáo đều phải có giấy phép! Mặc dù có giấy phép, vẫn bị công an quấy nhiễu. Đàn áp nhiều nhất, vẫn là các sinh hoạt của Phật Giáo Hòa Hảo.
Tuy nhiên, những những năm gần đây, ngày Phật Đản được coi là một ngày lễ hội quan trọng, thu hút sự tham gia không chỉ của Phật tử, mà còn là của người dân trên mọi miền của Việt Nam.
Thấy tình hình, dư luận người dân ngả theo như thế, nên ngày này, cũng nhận nhiều sự quan tâm của nhà cầm quyền CS, thường cử các phái đoàn tham dự các buổi lễ, phát bằng khen.
Nhiều chùa “Quốc Doanh” trên bàn thờ Phật, còn có tượng HCM! Sư giảng Phật Pháp, còn chen vào những bài giảng chính trị.
Còn thực tế bình thường, thì mọi buổi lễ Phật đản chung của các huyện, đều có sự tham gia của chủ tịch huyện và các chuyến thăm của chủ tịch mặt trận Tổ quốc, Nếu chùa nào trong hệ thống quốc doanh, còn nhận được sự hỗ trợ kinh phí trong công tác tổ chức Phật đản.
Ngoài ra vào ngày này, các tổ chức từ thiện của Phật giáo, thường tổ chức các hoạt động thăm hỏi, những người khó khăn, trẻ em mồ côi tại các nhà tình thương, những người già neo đơn không nơi nương tựa. Đây chính là điều quan trọng nhất của Đạo Phật, trong việc xây dựng Đạo của sự Từ Bi.
Danh ngôn Phật Pháp
*Về chân lý cuộc đời
Sau đây là những câu danh ngôn Phật pháp và đời sống giáo huấn con người nhận ra chân lý, lẽ phải, để biết cách sống tốt hơn, đẹp hơn:
– Người Phật tử hãy nên nhớ, sở dĩ con người ta đau khổ chính vì mãi đeo đuổi những thứ sai lầm, do không tin sâu nhân quả và tin chính mình là chủ nhân của bao điều họa phúc.
– Nếu chúng ta không muốn rước phiền não vào mình, thì người khác cũng không thể làm cho ta phiền muộn khổ đau, vì ta đã có cây kiếm trí tuệ, nhờ nghe và biết chiêm nghiệm, để rồi tu sửa và làm chủ bản thân.
– Chúng ta hãy luôn cám ơn nghịch cảnh, vì chính khó khăn đó đã giúp cho ta có cơ hội quay lại chính mình. Nhờ vậy tâm ta an tĩnh, sáng suốt mà tìm ra phương hướng để khắc phục.
– Khi ta vui, ta biết mình đang vui và luôn tâm niệm rằng niềm vui này không phải là vĩnh hằng. Khi ta đau khổ do một hoàn cảnh bức bách nào đó, ta nên biết nỗi khổ này cũng không thể lâu dài, vì ta biết buông xả.
– Sự chấp trước của ta ngày hôm nay, sẽ là niềm hối hận cho mai sau, bởi vì ta đã làm tổn thương đến nhiều người, dù có ăn năn hối lỗi, trái tim ta vẫn rỉ máu.
– Bất mãn là thái độ thiếu khôn ngoan và sáng suốt, người trí càng nỗ lực tu học và dấn thân đóng góp nhiều hơn nữa, khi mọi việc chưa được tốt đẹp, để không bị rơi vào trạng thái tiêu cực.
*An lạc trong cuộc sống
Chìa khóa của sự an lạc trong cuộc sống, chính là biết buông bỏ đúng lúc, những gì không thuộc về mình và trân trọng những gì hiện có. Sau đây là những danh ngôn Phật pháp giúp ta biết cách sống an nhiên, tự tại hơn:
– Chúng ta nên nhớ khi con người có quyền và tiền trong tay, thì hạnh phúc tinh thần sẽ mất đi. Vì lo sợ mất mát, sợ người chiếm đoạt và sợ kẻ thù, những thứ không thuộc về mình, mà cố nắm giữ, chỉ gây thêm phiền muộn khổ đau.
– Người Phật tử hãy cho qua hết việc buồn đau, được mất, hơn thua, không gieo oán giận thù hằn, để tâm an ổn, mà sống đời hạnh phúc, ngay tại đây và bây giờ.
– Con người sống không thể không có niềm tin, nhưng niềm tin đó phải là chánh tín nhân quả, được xây dựng trên cơ sở có chánh kiến, chánh tư duy, bằng sự thấy biết chân chính nhờ biết từ bi hỷ xả.
– Người Phật tử chân chính hãy cho qua hết mọi đam mê có hại đến người và vật, biết phát huy tinh thần giúp đỡ sẻ chia, bằng tình người trong cuộc sống.
– Chúng ta nên biết, không tranh thì an ổn, không giết không hại người vật, thì an nhiên tự tại trong mọi hoàn cảnh. Người hay giúp đỡ sẻ chia, thì tâm từ bi rộng lớn mà sống đời an vui, hạnh phúc.
– Người biết đủ, là người giàu có hạnh phúc nhất, vì không thấy thiếu thốn, người tham lam ích kỷ, hà tiện keo kiệt, dù có nhiều tiền vẫn là người nghèo nhất thiên hạ, vì tâm toan tính sợ mất mát.
Danh ngôn về giá trị cuộc sống
Những câu danh ngôn Phật giáo với những giá trị sâu sắc dạy ta hiểu hơn về quy luật sống của thế gian. Hoa nở hoa rơi rồi hoa tàn, tiền tài địa vị cũng sẽ tan, cao sang danh vọng rồi cũng tàn.
– Chúng ta sống phải có niềm tin chân chính về nhân quả thiện ác, do chính mình tạo ra, niềm tin này không phải là tin vào một đấng thượng đế, có khả năng ban phước giáng họa, hay tin vào một điều gì mà mình không hiểu, không biết.
– Người Phật tử phải có hiểu biết, có yêu thương, có trí tuệ, có từ bi và làm lợi ích cho nhiều người, mà không bao giờ tính toán, so đo, nhờ vậy ta sẽ sống bình yên và hạnh phúc.
– Chúng ta phải biết buông bỏ những kiến chấp sai lầm và các tạp niệm xấu ác. Nhờ vậy cuộc sống lúc nào bình yên hạnh phúc, trong từng phút giây.
– Mọi người không nên tiếc nuối về quá khứ tốt xấu, đúng sai mà đánh mất chính mình trong hiện tại, vì ta đang sống hạnh phúc trong từng phút giây của thương yêu và hiểu biết.
– Người Phật tử khi đến chùa đọc kinh nghe pháp, khi hiểu rõ lời Phật dạy, sau đó mới đem áp dụng vào cuộc sống của mình, để có được hạnh phúc cho bản thân, và đem lại lợi lạc cho gia đình xã hội.
– Một niềm tin thiếu hiểu biết gây tác hại, ảnh hưởng xấu, làm trở ngại cho sự phát triển, tiến bộ của xã hội, gieo bất an, khổ não cho nhiều người, thì đó không phải là niềm tin đúng đắn, chúng ta cần loại bỏ.
*Danh ngôn về triết lý nhân quả
Những câu danh ngôn Phật pháp về luật nhân quả, răn dạy chúng sanh phải biết tạo nghiệp tốt, để nhận được quả ngọt:
– Hiểu và ứng dụng lý nhân quả vào trong đời sống hằng ngày, chúng ta sẽ không đổ thừa do số mệnh định sẵn, hay có sự an bài của đấng tạo hóa nào đó, mà không vươn lên làm mới lại chính mình, thay đổi hoàn cảnh cuộc sống.
– Đối với thức ăn vật chất, Đức Phật dạy không nên ăn nhiều, chỉ ăn vừa đủ giúp cơ thể khỏe mạnh, không nên ăn những gì không thích hợp với cơ thể. Đó là cách ăn của chư vị Tổ sư đã thể nghiệm, nên đưa ra pháp tu tương ứng, nhằm duy trì mạng sống chúng Tăng được khỏe mạnh.
– Chúng ta đừng để tâm chạy theo những mối ưu tư của nó, giống như những người bình thường, chưa biết quán sát hơi thở là gì. Một khi ta đã có chỗ an trú, để giữ con khỉ tâm thức, thì nó ngày càng bớt ngang ngạnh và từ từ bớt rong rủi chạy tìm.
– Chúng ta chỉ làm một việc duy nhất, là đơn thuần theo dõi và nhận biết hơi thở rõ ràng, thở vô mình biết mình đang thở vô, thở ra mình biết mình đang thở ra. Hơi thở dài hay ngắn là tùy theo khả năng của mỗi người.
– Ngu dốt là sự không hiểu biết của con người, nên ngu dốt cũng đem tới nhiều tai hại cho bản thân, gia đình và xã hội. Có thể nói, ngu dốt là không có kiến thức, không tin sâu nhân quả, không hiểu biết chân chính về mối tương quan trong thế giới mình đang sống.
Mong rằng với những câu danh ngôn Phật pháp trên sẽ giúp cho Quý Vị tìm ra được giá trị cuộc sống và tâm hồn sẽ trở nên an yên, thanh thản.
LÊ VĂN HẢI
Ba Bài Thơ Mừng Khánh Đản:
Chùa làng
Chùa làng soi bóng hồ sen
Tháng Ba đom đóm rước đèn hoa đăng
Rủ nhau đi cấy sáng trăng
Thoảng mơ tiếng mõ đêm rằm nhặt khoan…
Giọt chuông thánh thót tam quan
Nhành mai gọi chú bướm vàng vờn hoa
Sân chùa tiểu quét lá đa
Khói nhang trầm mặc, la đà câu kinh…
Sương vương hồng đóa môi xinh
Gót tiên đội nắng bình minh lên chùa
Thềm nào rụng quả táo chua?
Thị Màu rình rập bỏ bùa áo nâu…
Về làng hồn tựa vào đâu?
Mái chùa cong vút xanh màu rêu phong
Lại đi cấy giữa sáng trăng
Lại nghe tiếng mõ đêm rằm… nhặt… khoan…
Hoàng Anh Tuấn
*
Trầm Hương Khánh Đản
*
Sớm nay trời ửng nắng hồng
Lời chim hót, tiếng ca trong ngọt ngào
Hải triều âm dậy dạt dào
Hỏi ra mới biết Phật vào cõi hương
Sớm nay nhân thế triều dương
Tin vui truyền khắp mười phương đất trời
Vinh quang hạnh phúc cõi người
Ca tì la vệ rạng ngời pháp thân
Rằng nghe Linh thoại ngàn năm
Ưu đàm hoa nở trăng rằm tỏa hương
Viên thành diệu sử một chương
Đản sinh Văn Phật ơi hương ơi trầm
Trời xanh hiện cát tường vân
Trần gian xuân sắc thanh tân diệu kỳ
Mười phương một niệm Tam quy
Chân như hiện bóng từ bi cát tường.
Hạnh Phương
*
Mừng Phật đản
1.
Hai nghìn năm kinh sử truyền ghi
Một sáng tháng Tư đẹp diệu kỳ
Khắp cõi nhơn thiên bừng tỏ rạng
Đón mừng Phật đản, đấng Từ bi.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
Ra đời mở cửa huyền vi nhiệm mầu
Cứu muôn loài thoát khổ đau
Đến bờ an lạc dạt dào yêu thương.
2.
Hôm ấy Tỳ Ni bỗng lạ thường
Vô ưu nở rộ ngạt ngào hương
Líu lo chim hót, hoa khoe sắc
Thiên nhạc ngân vang mọi nẻo đường.
Hân hoan nô nức muôn phương
Mừng bậc xuất thế phi thường giáng sinh
Ba ngàn thế giới chuyển mình
Ca Tỳ mở hội cung nghinh thân vàng.
3.
Thắp nén hương lòng con kính dâng
Mừng ngày Phật đản, niệm hồng ân
Nguyện cùng muôn loại đồng khai ngộ
Thông điệp Từ bi chiếu rỡ ràng.
Lưu truyền khắp cõi nhơn gian
Đạo mầu tỏa ánh từ quang rạng ngời
Chúng sanh thoát cảnh lầm mê
Nương nhờ pháp lạc, lối về thong dong.
Tâm Chơn
Chúc Mừng Đại Lễ Phật Đản PL 2566. DL 2022
CA KHÚC: “LINH LAN”.Thơ PhamPhanLang – Nhạc Mai Hoài Thu – Ca sĩ Vân Khánh
Linh Lan
*
Ngày xưa Mẹ tôi yêu hoa chuông trắng, Đẹp dịu dàng, hoa bé tí xinh xinh, Mẹ xin hoa ở trước cổng sân đình, Ba bảo Mẹ, để Ba trồng cho nhé?
Ba trồng hoa, sau hè và trước ngõ, Mỗi buổi chiều Mẹ tưới nước chắt chiu, Mong sao hoa tươi thắm, nở thật nhiều, Ba cắt nhánh chưng trong phòng ngủ Mẹ
Một ngày kia, khi thu vàng chớm hé, Tôi ra đời trong tiếng khóc vỡ òa, Mẹ bảo Ba con đẹp tựa đóa hoa, Hoa chuông trắng, đẹp băng trinh ngoài ngõ.
Và hôm đó, Linh Lan, hoa chuông trắng, Tên của tôi, đứa bé gái họ Phan, Hôm sau, Nội từ Giã vào Nha Trang, Thăm cháu gái đầu tiên của dòng họ.
Ôm cháu bé, Nội ầu ơ nựng nịu, Bỗng nhíu mày, Nội nghiêm mặt bảo Ba, Đổi tên ngay, không thể đặt tên hoa, Cho con gái để đời sau vất vả.
Không dám cãi, Mẹ Ba dù buồn bã, Đổi tên con như lời Nội giãi bày, Đặt tên Lang, như thế vậy mà hay, Đời con sẽ, ngọt bùi và no ấm.
Tôi lớn lên với tên mình xấu xí, Bị bạn trêu chọc ghẹo thật tủi thân, Rất lắm khi giận Nội, tôi bỏ ăn, Nằm khóc mãi, con bắt đền Nội đó!
Thời gian trôi… tôi xa nhà, biệt xứ, Chốn quê nhà, Nội mỏi dạ chờ mong, Phút lâm chung, Nội nước mắt lưng tròng, Khoai lang Nội, bây giờ con đâu hỡi?
PhamPhanLang
18/1/2013
“Yêu Em Trời Mọc Trổ Bông” | Dòng Thơ Lưu Dung | Sa Chi Lệ Viết & Diễn Ngâm
https://www.youtube.com/watch?v=II_m9yYPUb8
CA KHÚC “THÀNH PHỐ GIÓ” Thơ Nguyễn Thị Thanh Dương – Nhạc Trần Đại Bản – Ca Sĩ Ngọc Mỹ.
Thư Mời – RMS Kiều Mỹ Duyên
HÀNH TRÌNH CUỘC ĐỜI
CAO MỴ NHÂN
Nếu quý vị chỉ quen biết nhau có một thời, như là thủa ấu thơ, thiếu niên ở cùng xóm, cùng khu phố .
Thủa thanh niên, cùng đi học, đi chơi, đi hội đoàn, đi làm hay đi buôn bán vv…
Tới thủa cao niên thì đi thăm hỏi, lễ lạc vv…
Tất cả đều bình thường, có gặp lại hay không cũng chẳng thành vấn đề …
Song nếu quý vị quen biết nhau suốt hành trình cuộc đời , nghĩa là từ tấm bé đi lên tới cõi già nua, thì thật có lúc buồn ghê lắm, ấy là ta thấy rõ đời nhau, những thăng trầm, không suông sẻ, thậm chí còn đau khổ, thất bại vv…
Và cái điều không tránh khỏi là cả 2 cùng thấy nỗi bâng khuâng, tàn tạ của nhau lúc về già …
Không phải là người ta sợ già, chán già, vì già thì không còn đẹp đẽ, không còn tươi vui, mà người ta kịp nhận ra rằng chẳng còn bao lâu nữa, mọi người sẽ từ từ khuất mặt ở thế gian này vậy thôi.
Như trên tôi đã trình bầy, thủa thanh thiếu niên, ngoài việc đi học, tôi tham gia rất nhiều hội đoàn …Thoạt thì đi Phật Tử từ tuổi oanh vũ ở Hải Phòng, sau đi Hướng Đạo ở Saigon, rồi vô Caritas, theo đoàn Hội Con Đức Mẹ đi tới các nhà thương chăm sóc bệnh nhân .
Chót hết là tham gia Quân Đội VNCH, trong ngành Công tác Xã hội …
Chưa kể các nhóm nhỏ, hội lớn vv…tôi đều có mặt .
Như vậy, cứ nhìn vào sinh hoạt của tôi, quý vị cũng thấy là tôi sống chan hoà thế, thì số lượng bạn bè …đông đảo lắm chứ .
Do đó, kể từng giai đoạn lui tới bạn bè, hẳn tôi …ôm đồm quá , nên mệt quá, ấy thế mà tôi …thú vị vô cùng trời ạ.
Và vì thế, tôi mới có dịp chứng kiến những phút giây vinh quang cũng như tủi nhục của kiếp người, nhất là thời gian tôi sống trong đại tộc KaKi của…tôi.
Tôi thuộc lòng từng chi tiết một những gì xẩy ra với mỗi cá nhân đặc biệt, hay từng đơn vị nhỏ mà tôi mặc nhiên hiện diện, ở gia đình quân nhân các cấp trong thành phố, ngoài các trại gia binh, hay tới tận cùng núi non, sông biển, đất lở, đồng lụt vv…
Đôi khi không muốn nhớ lại, nhưng những sự việc chưa rời xa lắm, lại hiển hiện trước mắt …cả một quá khứ miên man tiếp nối …cứ khiến mình nhớ thương vời vợi.
Hình như trong lòng tôi, tôi chưa muốn ai phải từ giã cõi đời, nếu như lý luận của quý cụ bị phiền hà, bực bội, thì mỗi lần tôi tỏ vẻ tiếc thương bạn văn cũng như bạn …võ , quý cụ lại chép miệng :
” Chết phải rồi, nếu ai cũng sống, đất đâu mà chứa …”
Sau khi đi tù cải tạo về, tôi tiếp tục lối sinh hoạt của tôi, chỉ có thay đổi nghề nghiệp cũ, là không còn đại tộc KaKi cho tôi bay nhẩy như thủa phục vụ ở Bộ Tư Lệnh QĐI/ QKI.
Nhưng tôi vẫn nay thăm nhà này, mai thăm nhà khác, những gia đình quân nhân các cấp mà tôi được hân hạnh quen biết trước cuộc đổi đời 30-4 -1975.
Đến nỗi tôi chưa cảm thấy đói, lại còn được huynh đệ chi binh hỏi thăm xem tôi đang sống cách nào, mà cứ lạc quan , mặc dầu ông xã tôi qua Mỹ đã ” biệt vô âm tín “.
Tôi và 4 con tôi không thể kể khổ than nghèo được, khi ai cũng biết : ” nhà đó có chồng ở Mỹ, tụi nhỏ có cha ở Mỹ, thì làm sao thiếu thốn được chứ ” .
Rồi đào lý bốn phương, chi lan tỷ muội, tức là bạn văn của tôi, cũng luôn chứng tỏ thơ phú tri âm tri kỷ thân tình …
Tôi than là than theo cái kiểu bình thường, làm lụng nhiều quá thì kêu mệt, tôi khóc là vì bằng hữu hay hỏi thăm những chuyện …bá vơ.
Thế nên tôi bỗng giận ông Thiên quá, ông không để huynh đệ chi binh, đào lý bốn phương tôi được sống an bình, ít nhất mỗi người đủ 100 năm cho đúng tiêu chuẩn ngài Thiên đã ấn định, ông Thiên lại cứ bớt xén một số tuổi tác, bởi cảnh cơ khổ, hoặc bất trắc vì bịnh hoạn hay tai nạn xẩy ra.
Khi tôi 40 tuổi thì quý nữ sĩ trong hội thơ Quỳnh Dao đã gấp rưỡi hay gấp đôi số niên tuế của tôi rồi …
Tôi luôn là cây gậy của nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội khi bà còn ở Úc Viên Saigon. Tôi theo bà đi thăm vị này,vị nọ như quý cụ Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, Đông Xuyên, Bàng Bá Lân …vv.
Tôi không biết thủa ” phương phì ” ( đương thì ) của quý khách Úc Viên xưa thế nào, chứ thực tại hồi đó, quý vị đã là những lão ông, người thì lụm khụm, người còn phi xe đạp tới nhà nhau bình văn thiên hạ .
Và rồi lần lượt ra đi Tây Trúc khói sương. ..
Nữ sĩ Mộng Tuyết mở album ra, hình ảnh cũ, có cụ Đông Hồ, và vài vị tên tuổi, vẫn còn phong thái ung dung… đã mãn phần.
Nơi album của nữ sĩ Vân Nương hồi đám cưới, chú rề là luật sư Lê Ngọc Chấn tri phủ, sau này làm đại sứ VNCH ở Luân Đôn và Tunisie, nhị vị phù rể là 2 thi sĩ danh tiếng thời tiền chiến: Huy Cận, Xuân Diệu .
Tôi kéo thời gian lùi về hiện đại một thế hệ ( 10-15 năm ), tôi bắt gặp một album của anh họ tôi, đại tá Biệt Động Quân Cao Văn Uỷ, thì nhị vị phù rể là 2 nhạc sĩ ; Nguyễn Hiền và Nhật Bằng tên tuổi ở 2 thời đệ nhất và đệ nhị Cộng Hoà, tới cả khi cùng đi tị nạn ở Hoa Kỳ đầu thập niên 90 thế kỷ trước , anh tôi đại tá Cao Văn Uỷ thì ở Úc .
Nay thì chẳng còn ai trong số quý vị vừa nêu trên … ở cõi đời này nữa.
Tất nhiên rồi, làm sao sống mãi được… vì quý vị đã trên tám , chín mươi trở đi.
Song kể như thế vẫn chưa rõ ý, điều tôi nêu ra, phải có một hình ảnh cụ thể cơ.
Một người lạ, không quen , chỉ biết thôi, vì nếu không biết thì làm sao kể nhỉ ?
Chuyện nhà thơ trung tá Hoàng Ngọc Liên, đối với tôi, thì rõ quá rồi, nhưng khi ông 30, tôi còn mấy năm nữa mới 20 .
Trong suốt thời gian trung niên của thi sĩ Hoàng Ngọc Liên, cùng một loạt văn thi sĩ khác, tôi thấy quý ông hào hoa phong nhã … không kịp thở nữa .
Quý vị ấy cũng sống bận rộn hết mình kiểu như tôi, nhưng sự kiện khác, như Thế Hoài, Hoàng Ngọc Liên bận rộn nơi đoàn quân Mũ Đỏ, rồi văn nghệ lai rai…
Sau 1975 cộng thêm mỗi người 12 năm tù cải tạo. Khi trở về thành phố, mỗi thi sĩ ” lớn” một xe đạp cao hay mini, tuỳ theo gia đình có xe chi thì xài xe đó, nhị vị tới tìm tôi ở Câu lạc bộ Dưỡng sinh… vì tôi về sớm nên đã kiếm ra việc làm huấn luyện viên Dưỡng Sinh rồi .
Thế là chúng tôi đi xơi canh bún bình dân ở vệ đường, vậy mà tôi đòi trả tiền, quý vị không cho …2 thi sĩ tá 5 trước mặt tôi đã bị CSVN bóc hết những gì gọi là phong cách cũ …ngó tội nghiệp lắm .
Nhưng chúng tôi gặp lại nhau, thì tưởng như người nhà thất lạc đã về, nên niềm vui cứ chan hoà .
Như tôi trình bầy trên, ông Thiên chẳng có thì giờ ngó ngàng đến 2 vị thi sĩ đàn anh của tôi, thời gian sau thì Thế Hoài thất lộc bên quê nhà, Hoàng Ngọc Liên qua Mỹ theo diện HO .
Trung tá Hoàng Ngọc Liên lênh đênh trên vài tiểu bang miền đông, rồi qua Sacto lưu lại cũng khá nhiều năm, nay diện bích ở Oregon, với gia đình một trong 2 cô con gái mà ông mang theo được, ông đã bước gần tới cửa thiên đường .
Chao ơi, viết riêng về nhà thơ trung tá Hoàng Ngọc Liên toàn cảnh cuộc đời thì phải …3 tập, 2 cho nhị vị phu nhân, còn 1 cho tất cả hoa hoa bướm bướm quanh ông, cả lúc đương thời danh vọng lẫn khi thất thế .
Mỗi lần kể chuyện đào lý chi lan, tôi thường đi lạc, anh Thân Kính của tôi là một hình ảnh tổng hợp nhiều kiếp nhân sinh gộp lại, khiến tôi không muốn để một kẽ hở nào cho việc than trách sự trống vắng hay thiếu sót bóng dáng những nhân vật, đã có dịp thân thiết trong văn chương hay ngoài cuộc đời mình.
Cuối cùng , tôi có được vốn liếng về thế thái nhân tình ngày nay, là điều tôi rất vui mừng, hạnh phúc, bởi tôi .đã chắt chiu tình cảm của anh trong nhiều hoàn cảnh cuộc đời …tôi giữ lại mãi mãi tình thân thương hiếm quý này …
CAO MỴ NHÂN
Dự Phóng Ngập Lụt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long trong Năm Nhâm Dần
ĐỔI CẢ THIÊN-THU TIẾNG MẸ CƯỜI
Hơn mười năm trước, tôi có viết một bài thơ về mẹ, trong đó có hai câu đã trở thành quen thuộc:
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.
Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ Việt Nam. Giọng của mẹ như vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những dòng chữ, những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đã ấp ủ trong tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này:
Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi
Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về
Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương
Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau
Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ
Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.
Bài thơ đơn giản và dễ hiểu, không có gì phải cần bình giải. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi, đã ngoài 60 tuổi và đang sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Hòa Hưng Sài Gòn. Căn nhà nhỏ có giàn hoa giấy đỏ đó là nơi tôi đã sống tám năm.
Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đón xe xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng “Con đi nghe”. Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy trốn. Để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains nhìn về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đã ngoài tầm tay vói của mình. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi, chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội.
Nếu có một quốc gia mà những người dân của quốc gia đó đã phải từ chối chính đất nước mình, từ chối nơi đã chôn nhau cắt rốn của mình, tôi nghĩ, đất nước đó không còn bao nhiêu hy vọng. Việt Nam sau 1975 là một đất nước sống trong tuyệt vọng như thế. Dân tộc Việt Nam những năm sau 1975 là một dân tộc sống trong tâm trạng những kẻ sắp ra đi. Sài Gòn giống như một sân ga. Chào nhau như chào nhau lần cuối và mỗi ngày là một cuộc chia ly. Bắt tay một người quen, ai cũng muốn giữ lâu hơn một chút vì biết có còn dịp bắt tay nhau lần nữa hay không. Gặp người thân nào cũng chỉ để hỏi “Bao giờ anh đi, bao giờ chị đi”, và lời chúc nhau quen thuộc nhất mà chúng thường nghe trong những ngày đó vẫn là “Lên đường bình an nhé.”
Đất nước tuy đã hòa bình rồi, quê hương đã không còn tiếng súng nhưng lòng người còn ly tán hơn cả trong thời chiến tranh. Đêm cuối ở Sài Gòn lòng tôi ngổn ngang khi nghĩ đến ngày mai. Ngày mai sẽ ra sao? Nếu bị bắt tôi sẽ ở tù như lần trước nhưng nếu đi được thì sẽ trôi dạt về đâu?
Suốt sáu năm ở lại Sài Gòn, tôi chỉ nghĩ đến việc duy nhất là ra đi. Khi chiếc ghe nhỏ bị mắc cạn trong một con lạch ở Hải Sơn buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1981, trời đã sáng, nhiều người, kể cả một trong hai người chủ ghe, cũng bỏ ra về nhưng tôi thì không. Tôi phải đi dù đi giữa ban ngày. Tôi phải tìm cho được tự do dù phải bị bắt và ngay cả phải trả giá bằng cái chết. Tự do đầu tiên, biết đâu cũng sẽ là cuối cùng và vĩnh viễn. Nhưng hai ngày sau, khi đứng trên boong tàu Mỹ, tôi biết mình vừa mất một cái gì còn lớn hơn ngay cả mạng sống của mình. Đó là đất nước, quê hương, bè bạn, con đường, tà áo, cơn mưa chiều, cơn nắng sớm, và trên tất cả, hình ảnh mẹ. Không phải những người ra đi là những người quên đất nước hay người ở lại bám lấy quê hương mới chính là người yêu nước. Không. Càng đi xa, càng nhớ thương đất nước, càng thấm thía được ý nghĩa của hai chữ quê hương. Không ai hiểu được tâm trạng người ra đi nếu không chính mình là kẻ ra đi.
Nói như thế không có nghĩa là tôi hối hận cho việc ra đi. Không, tôi phải đi. Nhưng chọn lựa nào mà chẳng kèm theo những hy sinh đau đớn. Bài hát Sài Gòn Vĩnh Biệt, tôi thỉnh thoảng nghe trên đài VOA khi còn ở Việt Nam như những mũi kim đâm sâu vào tâm thức. Bao nhiêu điều hai ngày trước tôi không hề nghĩ đến đã bừng bừng sống dậy. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng đã chìm sâu trong ký ức đã lần lượt trở về. Tự do, vâng, tôi cuối cùng đã tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Những gì tôi đánh mất còn lớn hơn thế nữa.
Nhớ lại đêm thứ hai trên biển, khi biết chiếc ghe chiều dài vỏn vẹn mười mét rưỡi nhưng chứa đến 82 người của chúng tôi vừa cập vào thành tàu chiến của Mỹ thay vì Ba-Lan hay Liên-Xô như mọi người trên ghe lo sợ, ai cũng hân hoan mừng rỡ. Đám bạn tôi, có đứa thậm chí còn hô lớn “USA, USA” và ôm chầm lấy những người lính hải quân Mỹ đang dang tay đỡ từng người bước lên khỏi chiếc cầu dây đang đong đưa trên sóng.
Tôi cũng vui mừng, biết ơn và cảm động nhưng không ôm chầm hay hô lớn. Lòng tôi, trái lại, chợt dâng lên niềm tủi thẹn của một người tỵ nạn. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm, trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương. Tôi nghĩ thầm, cuối cùng, tôi cũng như nhiều người Việt Nam khác, lần lượt bỏ đất nước ra đi mà thôi. Dù biện minh bằng bất cứ lý do gì, tôi cũng là người có lỗi với quê hương.
Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Hòa Hưng vất vả nuôi nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi tình nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé để các em tôi còn được phép ở lại Sài Gòn học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ.
Trong tâm trí tôi, hình ảnh bà mẹ Hòa Hưng, đêm đầu tiên trong căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới, khoảng 20 cây số phía nam thị trấn Đồng Xoài vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội vã này không ai nghĩ một ngày sẽ được gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu Kinh Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà lá mỗi chiều chỉ hơn mười mét do những bàn tay học trò của thanh niên xung phong dựng lên, nối nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang.
Tôi kính yêu me. Mẹ Hòa Hưng là người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đã thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đã mang tôi vào cuộc đời này.
Người mẹ sinh ra tôi đã chết khi tôi còn rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần như không biết mặt mẹ mình. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước còn biết mẹ mình là mây, chiếc lá còn biết mẹ mình là cây, còn tôi thì không. Tôi là đứa bé cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi lớn lên một mình với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên. Đêm đêm nằm nghe cha kể chuyện thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui của đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế Sơn. Những ngày sống trong túp lều tranh dưới hàng tre Nghi Hạ. Và dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng đó, cha mẹ tôi đã gặp nhau, đã chia nhau ly nước vối chua chua thay cho chén rượu tân hôn nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi vải, bên lò ươm tơ, họ đã cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng. Mặt trời rồi sẽ mọc bên kia rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tròn bên kia giòng sông Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực khổ sẽ qua đi nhường bước cho hòa bình sẽ đến.
Nhưng rồi chiến tranh như một định nghiệp, đeo đuổi theo số phận của đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số phận của đời tôi. Năm tôi 13 tuổi, chiến tranh đã cướp đi cha tôi, người thân yêu cuối cùng của tôi. Chiến tranh lan tràn đến làng Mã Châu, đẩy tôi ra khỏi xóm lụa vàng thân quen để làm người du mục trên quê hương đổ nát của mình. Từ đó tôi ra đi. Từ chặng đường đầu tiên trên căn gác hẹp trong con hẻm 220 Hùng Vương Đà Nẵng, đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Hòa Hưng, trại tỵ nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi cách chặng đầu tiên trong hành trình tỵ nạn của tôi hàng vạn dặm.
Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ. Nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Tôi ưu tư về cuộc đời và về thân phận của mình ngay từ thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại sao tôi chỉ có một mình? Tại sao mọi người đều lần lượt bỏ tôi đi? Nếu mai mốt ba tôi cũng đi thì tôi sẽ sống với ai? Lớn lên tôi sẽ làm gì? Tại sao đất nước tôi lại có chiến tranh? Những người du kích bên kia sông là ai? Và ở đó những buổi chiều vàng, bên ngôi mộ nhỏ của mẹ, tôi để lòng tuôn chảy những suy tư, dằn vặt đang bắt đầu tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đã linh cảm cuộc đời tôi sẽ là những ngày đầy biến cố. Tôi đã nghĩ đến chuyện một ngày nào đó tôi sẽ đi xa khỏi rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mã Châu dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ lớn để chứa hết những buồn đau, u uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuỗi ngày ưu tư và chờ đợi một điều gì sắp đến.
Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có ngay cả một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống. Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ dòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ. Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn tuyệt đối.
Tôi về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980 trước ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả người sống cũng không ai chăm nom đừng nói gì chuyện chăm nom cho người đã chết. Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đã từng ngồi trong thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe đoạn đời chìm nổi của mình. Tôi nói với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi nước và hứa sẽ về dù biết nói như thế chỉ để an ủi hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ phò hộ cho đứa con duy nhất của mẹ được bình an trong những ngày sóng gió sắp xảy ra.
Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết
Vẫn nghìn năm le lói ở đầu sông.
Vâng, vầng trăng bên dòng sông Thu Bồn từ đó không còn tròn như trước nữa.
Ai cũng có một cuộc đời để sống. Nỗi bất hạnh nào rồi cũng nguôi ngoai. Vết thương nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh sau bao nhiêu năm dài vẫn còn, đó là bất hạnh của dân tộc Việt Nam. Điều làm tôi đau xót nhiều hơn cả, không phải vì tôi mất mẹ, không phải vì tôi xa mẹ nhưng chính là sự chịu đựng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam triền miên suốt mấy chục năm qua, từ chiến tranh sang đến cả hòa bình.
Trên thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ý cũng thương con như một bà mẹ Việt Nam. Trong lúc tình yêu của một bà mẹ ở quốc gia nào cũng bao la, cũng rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi vẫn tin một bà mẹ Việt Nam thì khác hơn nhiều. Bà mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất cả những nét đẹp của quê hương, đất nước, tình thương, còn là những hình ảnh đầy thương tích, tủi buồn nói lên sự chịu đựng, gian nan, khổ cực không thể nào đo lường hết được. Hình ảnh bà mẹ giăng tấm vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại đang đói khát. Hình ảnh bà mẹ chết đói sau khi ghe của mẹ đi lạc nhiều tuần trên biển. Hình ảnh bà mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng dưới gốc me già trên góc phố Sài Gòn vào một ngày mưa bão. Hình ảnh bà mẹ chết cô đơn trong chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất cả hình ảnh đau thương đó đã trở thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi. Ám ảnh nhiều đến nỗi dù viết về bất cứ chủ đề gì, thể loại gì, văn hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với hình ảnh mẹ. Mỗi bước chân tôi đi trên đường đời mấy chục năm qua vẫn còn nghe vọng lại tiếng khóc của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh, đã khóc trong chiến tranh, khóc trong hòa bình, khóc trong bàn tay hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ người hiu quạnh.
Mơ ước lớn nhất của tôi, vì thế, không phải cho tôi mà cho những người mẹ đang chịu đựng, để các mẹ có cơ hội được sống trong một đất nước không còn hận thù, rẽ chia, ganh ghét, một đất nước chan chứa tình đồng bào, một đất nước thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” trong một ý nghĩa rộng hơn là ước mơ của tôi, của anh chị, của cô chú và của tất cả những ai còn nghĩ đến sinh mệnh của dân tộc, về một ngày đẹp trời cho đất nước mình.
Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống khổ Việt Nam. Mỗi người Việt Nam, hơn bao giờ hết hãy trở về với mẹ như trở về với chính cội nguồn uyên nguyên của dân tộc mình. Trong đêm rằm tháng Bảy này, xin hãy cùng nhau thắp lên những ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng được làm bằng chất liệu dân tộc, nhân bản và khai phóng đã được tổ tiên chúng ta hun đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử.
Đời tôi là những cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mã Châu, mưa trong đêm đầu tiên trong căn gác trên đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa dưới gốc đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi vừa đặt chân đến Sài Gòn lần đầu tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất nước ra đi. Nhưng tôi chưa bao giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy cuộc đời là hố thẳm. Tôi không sống trong hôm qua, trái lại mỗi ngày là một chặng đường mới của đời mình. Tôi bình tĩnh đến độ hồn nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt đến với đời tôi và tôi rất lạc quan trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính mình.
Trong cuộc đời này, tôi đã nhiều lần vấp ngã nhưng nhiều người cũng đã giúp vực tôi dậy, lau khô những vết thương trên thân thể và trong cả tâm hồn. Tôi mang ơn xã hội nhiều đến nỗi biết mình sẽ không bao giờ trả hết. Tôi biết ơn những người đã che chở cho tôi và cũng cám ơn cả những người đã dạy tôi hiểu giá trị của gian lao, thử thách. Cám ơn đất nước đã cho tôi được làm người Việt Nam, cám ơn mẹ Duy Xuyên mang tôi đến thế gian nầy, cám ơn mẹ Hòa Hưng nuôi nấng tôi trong những ngày bà con thân thuộc đã ruồng bỏ tôi, cám ơn cây đa già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa nắng.
Nếu một mai tôi ra đi không kịp viết điều gì, thì đây, những kỷ niệm của một lần ghé lại.
Trần Trung Đạo
CA KHÚC MỚI: EM ĐI – Thơ Mạc Phương Đình – Nhạc Vũ Thu Nguyên – Ca Sĩ Quang Đạt- Video Lê Tuấn
(thơ song ngữ) ĐỔI CẢ THIÊN-THU TIẾNG MẸ CƯỜI
ĐỔI CẢ THIÊN-THU
TIẾNG MẸ CƯỜI
Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm-thầm thương nhớ thôi
Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về
Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương
Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn-ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm-bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau
Đừng khóc mẹ ơi hãy rán chờ
Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ
Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời-gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười
TRẦN TRUNG ĐẠO
MY LIFE FOR MY MOM’S LAUGHTER
Picking up the handset I was stunned with surprise: Whose voice as light as falling leaves in cold skies? Isn’t it ten years, ten odd years, dear mother, Just in silence to miss and long for one another?
I left without any promises or pledges that day: The old wild horse from its forest-land went astray. Ten years for Mom’s hair to turn mourning white, And mourning-like my soul also in such a plight.
You’ve still been sitting there weaving your pain By an existence of slapping wind and beating rain. I’ve set off to set up from all directions a pyre In order to disperse the mist for life lighting a fire.
Your voice was broken off, you choked up, I found; Mom’s endearing words or mere in-reverie sound? You are too far, how could I reach out for you? And when could we meeting again look forward to ?
Do not cry, my dear mother, and continue to await. All my grief I will hide in the rhymes I create. Of all my sorrow I will write reams and reams, And find your warmth my warmth in my dreams.
As I picked up the handset how astounded was I To hear my mom’s voice sadder than the rainy sky! Should I be able to give up Man’s time in hereafter, I would offer mine to recover my mom’s laughter.
Hơn mười năm trước, tôi có viết một bài thơ về mẹ, trong đó có hai câu đã trở thành quen thuộc:
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.
Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ Việt Nam. Giọng của mẹ như vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những dòng chữ, những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đã ấp ủ trong tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này:
Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi
Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về
Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương
Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau
Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ
Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.
Bài thơ đơn giản và dễ hiểu, không có gì phải cần bình giải. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi, đã ngoài 60 tuổi và đang sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Hòa Hưng Sài Gòn. Căn nhà nhỏ có giàn hoa giấy đỏ đó là nơi tôi đã sống tám năm.
Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đón xe xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng “Con đi nghe”. Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy trốn. Để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains nhìn về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đã ngoài tầm tay vói của mình. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi, chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội.
Nếu có một quốc gia mà những người dân của quốc gia đó đã phải từ chối chính đất nước mình, từ chối nơi đã chôn nhau cắt rốn của mình, tôi nghĩ, đất nước đó không còn bao nhiêu hy vọng. Việt Nam sau 1975 là một đất nước sống trong tuyệt vọng như thế. Dân tộc Việt Nam những năm sau 1975 là một dân tộc sống trong tâm trạng những kẻ sắp ra đi. Sài Gòn giống như một sân ga. Chào nhau như chào nhau lần cuối và mỗi ngày là một cuộc chia ly. Bắt tay một người quen, ai cũng muốn giữ lâu hơn một chút vì biết có còn dịp bắt tay nhau lần nữa hay không. Gặp người thân nào cũng chỉ để hỏi “Bao giờ anh đi, bao giờ chị đi”, và lời chúc nhau quen thuộc nhất mà chúng thường nghe trong những ngày đó vẫn là “Lên đường bình an nhé.”
Đất nước tuy đã hòa bình rồi, quê hương đã không còn tiếng súng nhưng lòng người còn ly tán hơn cả trong thời chiến tranh. Đêm cuối ở Sài Gòn lòng tôi ngổn ngang khi nghĩ đến ngày mai. Ngày mai sẽ ra sao? Nếu bị bắt tôi sẽ ở tù như lần trước nhưng nếu đi được thì sẽ trôi dạt về đâu?
Suốt sáu năm ở lại Sài Gòn, tôi chỉ nghĩ đến việc duy nhất là ra đi. Khi chiếc ghe nhỏ bị mắc cạn trong một con lạch ở Hải Sơn buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1981, trời đã sáng, nhiều người, kể cả một trong hai người chủ ghe, cũng bỏ ra về nhưng tôi thì không. Tôi phải đi dù đi giữa ban ngày. Tôi phải tìm cho được tự do dù phải bị bắt và ngay cả phải trả giá bằng cái chết. Tự do đầu tiên, biết đâu cũng sẽ là cuối cùng và vĩnh viễn. Nhưng hai ngày sau, khi đứng trên boong tàu Mỹ, tôi biết mình vừa mất một cái gì còn lớn hơn ngay cả mạng sống của mình. Đó là đất nước, quê hương, bè bạn, con đường, tà áo, cơn mưa chiều, cơn nắng sớm, và trên tất cả, hình ảnh mẹ. Không phải những người ra đi là những người quên đất nước hay người ở lại bám lấy quê hương mới chính là người yêu nước. Không. Càng đi xa, càng nhớ thương đất nước, càng thấm thía được ý nghĩa của hai chữ quê hương. Không ai hiểu được tâm trạng người ra đi nếu không chính mình là kẻ ra đi.
Nói như thế không có nghĩa là tôi hối hận cho việc ra đi. Không, tôi phải đi. Nhưng chọn lựa nào mà chẳng kèm theo những hy sinh đau đớn. Bài hát Sài Gòn Vĩnh Biệt, tôi thỉnh thoảng nghe trên đài VOA khi còn ở Việt Nam như những mũi kim đâm sâu vào tâm thức. Bao nhiêu điều hai ngày trước tôi không hề nghĩ đến đã bừng bừng sống dậy. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng đã chìm sâu trong ký ức đã lần lượt trở về. Tự do, vâng, tôi cuối cùng đã tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Những gì tôi đánh mất còn lớn hơn thế nữa.
Nhớ lại đêm thứ hai trên biển, khi biết chiếc ghe chiều dài vỏn vẹn mười mét rưỡi nhưng chứa đến 82 người của chúng tôi vừa cập vào thành tàu chiến của Mỹ thay vì Ba-Lan hay Liên-Xô như mọi người trên ghe lo sợ, ai cũng hân hoan mừng rỡ. Đám bạn tôi, có đứa thậm chí còn hô lớn “USA, USA” và ôm chầm lấy những người lính hải quân Mỹ đang dang tay đỡ từng người bước lên khỏi chiếc cầu dây đang đong đưa trên sóng.
Tôi cũng vui mừng, biết ơn và cảm động nhưng không ôm chầm hay hô lớn. Lòng tôi, trái lại, chợt dâng lên niềm tủi thẹn của một người tỵ nạn. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm, trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương. Tôi nghĩ thầm, cuối cùng, tôi cũng như nhiều người Việt Nam khác, lần lượt bỏ đất nước ra đi mà thôi. Dù biện minh bằng bất cứ lý do gì, tôi cũng là người có lỗi với quê hương.
Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Hòa Hưng vất vả nuôi nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi tình nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé để các em tôi còn được phép ở lại Sài Gòn học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ.
Trong tâm trí tôi, hình ảnh bà mẹ Hòa Hưng, đêm đầu tiên trong căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới, khoảng 20 cây số phía nam thị trấn Đồng Xoài vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội vã này không ai nghĩ một ngày sẽ được gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu Kinh Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà lá mỗi chiều chỉ hơn mười mét do những bàn tay học trò của thanh niên xung phong dựng lên, nối nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang.
Tôi kính yêu me. Mẹ Hòa Hưng là người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đã thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đã mang tôi vào cuộc đời này.
Người mẹ sinh ra tôi đã chết khi tôi còn rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần như không biết mặt mẹ mình. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước còn biết mẹ mình là mây, chiếc lá còn biết mẹ mình là cây, còn tôi thì không. Tôi là đứa bé cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi lớn lên một mình với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên. Đêm đêm nằm nghe cha kể chuyện thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui của đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế Sơn. Những ngày sống trong túp lều tranh dưới hàng tre Nghi Hạ. Và dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng đó, cha mẹ tôi đã gặp nhau, đã chia nhau ly nước vối chua chua thay cho chén rượu tân hôn nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi vải, bên lò ươm tơ, họ đã cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng. Mặt trời rồi sẽ mọc bên kia rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tròn bên kia giòng sông Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực khổ sẽ qua đi nhường bước cho hòa bình sẽ đến.
Nhưng rồi chiến tranh như một định nghiệp, đeo đuổi theo số phận của đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số phận của đời tôi. Năm tôi 13 tuổi, chiến tranh đã cướp đi cha tôi, người thân yêu cuối cùng của tôi. Chiến tranh lan tràn đến làng Mã Châu, đẩy tôi ra khỏi xóm lụa vàng thân quen để làm người du mục trên quê hương đổ nát của mình. Từ đó tôi ra đi. Từ chặng đường đầu tiên trên căn gác hẹp trong con hẻm 220 Hùng Vương Đà Nẵng, đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Hòa Hưng, trại tỵ nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi cách chặng đầu tiên trong hành trình tỵ nạn của tôi hàng vạn dặm.
Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ. Nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Tôi ưu tư về cuộc đời và về thân phận của mình ngay từ thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại sao tôi chỉ có một mình? Tại sao mọi người đều lần lượt bỏ tôi đi? Nếu mai mốt ba tôi cũng đi thì tôi sẽ sống với ai? Lớn lên tôi sẽ làm gì? Tại sao đất nước tôi lại có chiến tranh? Những người du kích bên kia sông là ai? Và ở đó những buổi chiều vàng, bên ngôi mộ nhỏ của mẹ, tôi để lòng tuôn chảy những suy tư, dằn vặt đang bắt đầu tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đã linh cảm cuộc đời tôi sẽ là những ngày đầy biến cố. Tôi đã nghĩ đến chuyện một ngày nào đó tôi sẽ đi xa khỏi rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mã Châu dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ lớn để chứa hết những buồn đau, u uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuỗi ngày ưu tư và chờ đợi một điều gì sắp đến.
Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có ngay cả một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống. Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ dòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ. Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn tuyệt đối.
Tôi về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980 trước ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả người sống cũng không ai chăm nom đừng nói gì chuyện chăm nom cho người đã chết. Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đã từng ngồi trong thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe đoạn đời chìm nổi của mình. Tôi nói với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi nước và hứa sẽ về dù biết nói như thế chỉ để an ủi hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ phò hộ cho đứa con duy nhất của mẹ được bình an trong những ngày sóng gió sắp xảy ra.
Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết
Vẫn nghìn năm le lói ở đầu sông.
Vâng, vầng trăng bên dòng sông Thu Bồn từ đó không còn tròn như trước nữa.
Ai cũng có một cuộc đời để sống. Nỗi bất hạnh nào rồi cũng nguôi ngoai. Vết thương nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh sau bao nhiêu năm dài vẫn còn, đó là bất hạnh của dân tộc Việt Nam. Điều làm tôi đau xót nhiều hơn cả, không phải vì tôi mất mẹ, không phải vì tôi xa mẹ nhưng chính là sự chịu đựng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam triền miên suốt mấy chục năm qua, từ chiến tranh sang đến cả hòa bình.
Trên thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ý cũng thương con như một bà mẹ Việt Nam. Trong lúc tình yêu của một bà mẹ ở quốc gia nào cũng bao la, cũng rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi vẫn tin một bà mẹ Việt Nam thì khác hơn nhiều. Bà mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất cả những nét đẹp của quê hương, đất nước, tình thương, còn là những hình ảnh đầy thương tích, tủi buồn nói lên sự chịu đựng, gian nan, khổ cực không thể nào đo lường hết được. Hình ảnh bà mẹ giăng tấm vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại đang đói khát. Hình ảnh bà mẹ chết đói sau khi ghe của mẹ đi lạc nhiều tuần trên biển. Hình ảnh bà mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng dưới gốc me già trên góc phố Sài Gòn vào một ngày mưa bão. Hình ảnh bà mẹ chết cô đơn trong chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất cả hình ảnh đau thương đó đã trở thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi. Ám ảnh nhiều đến nỗi dù viết về bất cứ chủ đề gì, thể loại gì, văn hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với hình ảnh mẹ. Mỗi bước chân tôi đi trên đường đời mấy chục năm qua vẫn còn nghe vọng lại tiếng khóc của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh, đã khóc trong chiến tranh, khóc trong hòa bình, khóc trong bàn tay hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ người hiu quạnh.
Mơ ước lớn nhất của tôi, vì thế, không phải cho tôi mà cho những người mẹ đang chịu đựng, để các mẹ có cơ hội được sống trong một đất nước không còn hận thù, rẽ chia, ganh ghét, một đất nước chan chứa tình đồng bào, một đất nước thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” trong một ý nghĩa rộng hơn là ước mơ của tôi, của anh chị, của cô chú và của tất cả những ai còn nghĩ đến sinh mệnh của dân tộc, về một ngày đẹp trời cho đất nước mình.
Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống khổ Việt Nam. Mỗi người Việt Nam, hơn bao giờ hết hãy trở về với mẹ như trở về với chính cội nguồn uyên nguyên của dân tộc mình. Trong đêm rằm tháng Bảy này, xin hãy cùng nhau thắp lên những ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng được làm bằng chất liệu dân tộc, nhân bản và khai phóng đã được tổ tiên chúng ta hun đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử.
Đời tôi là những cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mã Châu, mưa trong đêm đầu tiên trong căn gác trên đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa dưới gốc đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi vừa đặt chân đến Sài Gòn lần đầu tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất nước ra đi. Nhưng tôi chưa bao giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy cuộc đời là hố thẳm. Tôi không sống trong hôm qua, trái lại mỗi ngày là một chặng đường mới của đời mình. Tôi bình tĩnh đến độ hồn nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt đến với đời tôi và tôi rất lạc quan trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính mình.
Trong cuộc đời này, tôi đã nhiều lần vấp ngã nhưng nhiều người cũng đã giúp vực tôi dậy, lau khô những vết thương trên thân thể và trong cả tâm hồn. Tôi mang ơn xã hội nhiều đến nỗi biết mình sẽ không bao giờ trả hết. Tôi biết ơn những người đã che chở cho tôi và cũng cám ơn cả những người đã dạy tôi hiểu giá trị của gian lao, thử thách. Cám ơn đất nước đã cho tôi được làm người Việt Nam, cám ơn mẹ Duy Xuyên mang tôi đến thế gian nầy, cám ơn mẹ Hòa Hưng nuôi nấng tôi trong những ngày bà con thân thuộc đã ruồng bỏ tôi, cám ơn cây đa già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa nắng.
Nếu một mai tôi ra đi không kịp viết điều gì, thì đây, những kỷ niệm của một lần ghé lại.
Trần Trung Đạo
(thơ song ngữ) ĐỔI CẢ THIÊN-THU TIẾNG MẸ CƯỜI
ĐỔI CẢ THIÊN-THU
TIẾNG MẸ CƯỜI
Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm-thầm thương nhớ thôi
Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về
Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương
Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn-ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm-bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau
Đừng khóc mẹ ơi hãy rán chờ
Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ
Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời-gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười
TRẦN TRUNG ĐẠO
MY LIFE FOR MY MOM’S LAUGHTER
Picking up the handset I was stunned with surprise: Whose voice as light as falling leaves in cold skies? Isn’t it ten years, ten odd years, dear mother, Just in silence to miss and long for one another?
I left without any promises or pledges that day: The old wild horse from its forest-land went astray. Ten years for Mom’s hair to turn mourning white, And mourning-like my soul also in such a plight.
You’ve still been sitting there weaving your pain By an existence of slapping wind and beating rain. I’ve set off to set up from all directions a pyre In order to disperse the mist for life lighting a fire.
Your voice was broken off, you choked up, I found; Mom’s endearing words or mere in-reverie sound? You are too far, how could I reach out for you? And when could we meeting again look forward to ?
Do not cry, my dear mother, and continue to await. All my grief I will hide in the rhymes I create. Of all my sorrow I will write reams and reams, And find your warmth my warmth in my dreams.
As I picked up the handset how astounded was I To hear my mom’s voice sadder than the rainy sky! Should I be able to give up Man’s time in hereafter, I would offer mine to recover my mom’s laughter.
Tài liệu Wikipedia ghi nhận Ngày của Mẹ bắt nguồn từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, nhưng cũng có tài liệu cho rằng Ngày của Mẹ có thể được bắt nguồn từ Vương quốc Anh và được tổ chức vào ngày Chủ Nhật qua nhiều năm trước khi lễ hội này xuất hiện ở Hoa Kỳ.
Theo lịch sử thì Ngày của Mẹ là ngày lễ hội mùa xuân hàng năm mà người Hy Lạp cổ đại dành riêng cho các nữ thần mẫu, họ cũng dùng dịp này để tôn vinh Rhea, vợ của Cronus và là mẹ của nhiều vị thần trong thần thoại Hy Lạp. Người La Mã cổ đại còn gọi lễ hội này là Hilaria để tôn vinh Cybele, một nữ thần Mẹ. Các nghi lễ tôn vinh Cybele đã bắt đầu khoảng 250 năm trước Chúa giáng sinh. Lễ kỷ niệm được thực hiện bằng cách cúng dường trong đền thờ Cybele kéo vào khoảng tháng Ba, những ngày đầu rất quan trọng, thường kéo dài trong ba ngày gồm các cuộc diễu hành, trò chơi và hóa trang. Chính Lễ kỷ niệm này đã khiến những người theo Cybele bị trục xuất khỏi Rome.
Những người theo đạo Thiên Chúa Giáo thời sơ khai đã tổ chức Ngày của Mẹ vào Chủ nhật, thứ tư của Mùa Chay để tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của Chúa Kitô. Sau đó, ngày lễ hội này được mở rộng để chúc mừng tất cả các bà mẹ và ngày này trở thành Ngày của Mẹ. Ngày của Mẹ bắt đầu từ những năm 1600 ở Anh. Tại đây, Ngày của Mẹ được tổ chức hàng năm vào ngày Chủ nhật thứ tư của Mùa Chay (khoảng thời gian 40 ngày trước Lễ Phục sinh) để tôn vinh những người mẹ sau nghi lễ cầu nguyện trong nhà thờ để tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria. Những đứa con thường mang theo những món quà và hoa để tỏ lòng thành kính với mẹ của chúng.
Theo truyền thống, những đứa trẻ mang theo những món quà, những loại bánh trái đặc biệt hoặc bánh ngọt đầy trái cây được gọi là simnel để tặng Mẹ của chúng. Người Nam Tư và người dân ở các quốc gia khác cũng tổ chức Ngày của Mẹ tương tự như vậy. Tuy nhiên phong tục kỷ niệm Ngày Chủ nhật của Mẹ đã gần như hoàn toàn biến mất vào thế kỷ 19 cho đến mãi sau Thế chiến thứ hai Ngày của Mẹ mới được tổ chức lại.
Ngày của Mẹ là thời gian để tôn vinh tình mẫu tử và thể hiện lòng biết ơn của chúng ta đối với tất cả những người mẹ, những người vợ, người chị và bà nội & ngoại đã hy sinh cả cuộc đời cho các con, các cháu. Lịch sử đã phải công nhận rằng, từ trước đến nay người phụ nữ luôn giữ những vai trò thiết yếu trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Điển hình là bà Marie Curie, người phụ nữ đầu tiên từng đoạt giải Nobel cho đến cựu Thẩm phán Tòa án Tối cao Ruth Bader Ginsburg, là những người mẹ đã làm thay đổi thế giới.
Năm 1858, Ann Reeves Jarvis, một người nội trợ vùng Appalachian, đã thành lập “Ngày làm việc” của các bà mẹ trong nội chiến nhằm nỗ lực cải thiện điều kiện vệ sinh cho binh lính và trẻ em. Bà cũng đã giúp thành lập một câu lạc bộ để dạy phụ nữ cách chăm sóc trẻ em. Khi nội chiến bùng nổ ở Hoa Kỳ, Ann Reeves Jarvis đã yêu cầu các thành viên khác của các câu lạc bộ tổ chức và cam kết rằng chiến tranh sẽ không làm ảnh hưởng đến công việc của họ. Họ thề sẽ cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế và hỗ trợ những người bị bệnh hoặc bị thương dù bất kể họ đang chiến đấu ở phe nào. Sau đó, Ann Reeves Jarvis thành lập “Ngày Tình bạn của Mẹ” để thúc đẩy sự hòa giải giữa những người lính của Liên minh và Liên minh.
Năm 1872, Julia Ward Howe, một nhà hoạt động, nhà văn và nhà thơ, bà đã viết bản Tuyên ngôn Ngày của Mẹ để kêu gọi các bà mẹ tham gia trong việc thúc đẩy hòa bình thế giới. Julia Ward Howe là người tiên phong và gợi ý cho việc tổ chức lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ. Là một người yêu tổ quốc, bà đã sáng tác và trở nên nổi tiếng với bài hát nội chiến “Battle Hymn of the Republic“. Julia Ward Howe đề nghị rằng ngày 2 tháng 6 hàng năm nên được tổ chức và đó là Ngày của Mẹ cũng như là ngày dành cho hòa bình. Bà đã viết lời kêu gọi đến tất cả các phụ nữ và nồng nhiệt khuyến khích họ nổi dậy chống lại chiến tranh trong Tuyên ngôn Ngày của Mẹ. Bàn tuyên ngôn này trở nên nổi tiếng và được viết ở Boston, năm 1870.
Julia Ward Howe cũng đã khởi xướng Ngày Hòa bình của các Bà mẹ vào Chủ nhật thứ hai trong tháng Sáu ở Boston. Bà ủng hộ lý do tổ chức lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ và chính thức tuyên bố cho phép mọi người nghỉ lễ vào ngày này. Ý tưởng của Julia Ward Howe đã lan rộng nhưng sau cùng nó đã bị thay thế bởi ngày lễ Ngày của Mẹ, hiện được tổ chức vào tháng Năm. Năm 1873, Julia Ward Howe vận động để thành lập Ngày của mẹ nhằm đạt được hòa bình thế giới và giải quyết xung đột giữa con người với nhau.
Với nguồn cảm hứng từ những công việc của Ann Reeves Jarvis, Anna Jarvis M. là con gái của Ann Reeves Jarvis tiếp tục tranh đấu cho lễ hội Ngày của Mẹ. Năm 1905, sau khi bà Ann Reeves Jarvis qua đời, Anna Jarvis M. muốn tạo ra một ngày tưởng niệm và tôn vinh những người mẹ đã qua đời cũng như ghi nhận những hy sinh mà các bà mẹ đã dành cho con cái của họ, Sau cùng, Ngày lễ của Mẹ được công nhận và ngày lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ đầu tiên được tổ chức tại Grafton, phía Tây Virginia tại một nhà thờ địa phương vào ngày 10 tháng 5 năm 1908. Nhờ sự hỗ trợ tài chính của John Wanamaker, một chủ doanh nghiệp ở Philadelphia, Ngày của Mẹ này đã thành công rực rỡ với hàng nghìn người đã đến tham dự. Ngày nay, tại nhà thờ có Đền thờ Ngày của Mẹ Quốc tế.
Để Ngày của Mẹ trở thành ngày lễ quốc gia, Anna Jarvis M. đã viết thư cho các chính trị gia và báo chí trên toàn quốc, yêu cầu họ chấp nhận ngày này để kỷ niệm và ghi ơn công lao của các bà Mẹ. Kết quả, truyền thống báo chí bắt đầu lan rộng ra 45 tiểu bang và một số tiểu bang khác, chính thức tuyên bố đây là ngày lễ Ngày của Mẹ vào năm 1912. Năm 1914, cựu Tổng thống Woodrow Wilson đã tuyên bố tổ chức lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ đầu tiên trên toàn quốc. Ngày nay, Ngày của Mẹ được tổ chức vào Chủ nhật thứ hai trong tháng Năm của mỗi năm.
Ở Vương quốc Anh và một số khu vực ở Châu Âu, ban đầu là đây là một ngày lễ tôn giáo được tổ chức vào Chủ nhật thứ tư của Mùa Chay. Ngày này nhằm mục đích cho các cá nhân tìm đường trở lại “nhà thờ mẹ” của họ. Những người đi nhà thờ cũng sẽ coi đây là cơ hội để đoàn tụ với gia đình sau khi đi công tác xa. Các nhà sử học có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của Ngày Chủ nhật của Mẹ, bao gồm truyền thống phát triển từ việc trẻ em nhặt hoa khi chúng đi bộ đến nhà thờ.
Tại Vương quốc Anh, người dân dành thời gian để tôn vinh những người mẹ, chẳng hạn như mẹ đẻ, bà ngoại, mẹ kế và mẹ chồng. Trong ngày ấy, mọi người sẽ ăn mừng bằng một chiếc bánh Simnel, đó là một chiếc bánh trái cây nhân hạnh nhân và 11 quả bóng để tượng trưng cho 11 môn đồ.
Ở Ethiopia, Ngày của Mẹ được tổ chức hơi khác một chút. Khi mùa mưa kết thúc, các gia đình sẽ tụ tập để tham gia lễ hội Antrosht. Trong khoảng thời gian ba ngày, sẽ có khiêu vũ, ca hát và rất nhiều đồ ăn. Theo phong tục, con gái cung cấp rau và pho mát, trong khi con trai mang thịt.
Thái Lan, Ngày của Mẹ được tổ chức vào ngày 12 tháng 8 để kỷ niệm ngày sinh của Hoàng hậu Sirikit. Các hoạt động trong ngày lễ bao gồm diễu hành và tặng hoa nhài cho các bà mẹ.
Nga, Khi nước Nga còn được gọi là Liên bang Xô Viết, các bà mẹ được tôn vinh vào ngày Quốc tế Phụ nữ ngày 08 tháng 03. Năm 1998, Ngày của Mẹ chính thức được thành lập là Chủ nhật cuối cùng của tháng 11. Tuy nhiên, nhiều người vẫn ăn mừng vào tháng Ba.
Nepal, Ngày của Mẹ được gọi là Mata Tirtha Aunsi, có nghĩa là “Hành hương về trăng non của Mẹ”. Vào ngày này, các cá nhân sẽ trân trọng thời gian ở bên mẹ và tưởng nhớ tất cả những người đã qua đời.
Ngày nay, Ngày của Mẹ được tổ chức ở một số quốc gia gồm Mỹ, Anh, Ấn Độ, Đan Mạch, Phần Lan, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Úc, Mexico, Canada, Trung Quốc, Nhật Bản và Bỉ. Mọi người coi ngày này như một cơ hội để tri ân và cảm ơn những người mẹ của họ cho sự yêu thương và hy sinh của họ với con cái. Trong Ngày của Mẹ, các đường dây điện thoại đạt đến mức quá tải cũng như truyền thống tặng hoa, thiệp và những món quà gửi đến cho Mẹ hoặc mời Mẹ của họ đi chơi, đi ăn sáng, ăn trưa hoặc ăn tối…
Khánh Lan siêu tầm và nghiên cứu from Wikipedia
California, May 2022
MẸ HÔM NAY, MẸ NGÀY MAI, MẸ CỦA MUÔN ĐỜI
ThaiLan
ĐÔI TAY CỦA NGOẠI
ThaiLan
Bó Hồng Tặng Mẹ
Con cung kính. Bó hồng riêng tặng mẹ
Cả tình thương sâu thẳm của tâm hồn
Mẹ là suối nguồn, dòng chảy tinh khiết
Nuôi con một đời, đến tuổi lớn khôn.
Dâng lên Mẹ ngàn đóa hồng thắm đỏ
Dòng máu hồng Mẹ trao tặng cho con
Ngày lễ Mẹ, bồi hồi thêm nỗi nhớ
Nhớ ơn người, nuôi nấng thuở măng non.
Tình yêu mẹ dạt dào như sóng vỗ
Vỗ giấc bình yên chăm sóc đời con
Viết về Mẹ, lời thơ đầy nước mắt
Vào nỗi buồn tuổi xuân đã hao mòn.
Công ơn Mẹ, sánh núi cao, biển cả
Thấu trời xanh Thượng Đế phải ngậm ngùi
Mẹ là thảo nguyên bao la bát ngát
Dòng suối nguồn tuôn chảy những ngọt bùi.
Mẹ trên cao, như sao sáng trên trời
Mẹ hiền từ ôm con cả một đời
Lời nguyện cầu, con ước mơ về mẹ
Tiếng mẹ dịu dàng nhớ mãi không ngơi.
Tình yêu của mẹ bao la biết mấy
Sáng như mặt trời, đẹp như mây bay
Ai! Còn Mẹ đừng làm Mẹ bật khóc
Đừng để buồn giọt lệ ướt trên tay.
Xin gửi đến Mẹ ngàn đóa hoa hồng
Thấm sương long lanh, ướt cả nỗi lòng
Lời nghẹn ngào bài thơ ngày lễ mẹ
Buộc vào hoa, gửi mẹ những hoài mong.
Lê Tuấn
Bài Thơ Viết Tặng Mẹ
Tôi muốn viết bài thơ ngày lễ mẹ Gom hết loài hoa gửi đến tặng người Mẹ là hào quang rực rỡ bầu trời Thiêng liêng nhất là tình yêu của mẹ.
Ngày mới chào đời ngây thơ khờ dại Chiếc nôi êm huyền thoại ngủ trong mơ Lời mẹ ru vần ca dao chấp cánh Hồn Việt Nam vang vọng đến bây giờ.
Công ơn mẹ bao la như biển cả Đỉnh núi cao dòng suối chảy hiền hoà Mẹ là ngôi sao tỏa sáng chói lòa Là đêm trăng tỏ, thơm ngát hương hoa.
Con thương mẹ cả một đời tần tảo Mưa nắng trên vai gánh vác một đời Che chở cho con dòng đời vạn biến Mẹ là bà tiên lộng lẫy tuyệt vời.
Bước gian truân đời thăng trầm sóng gió Mẹ âm thầm chịu khó vượt chông gai Nuôi nấng con sớm tối không ngần ngại Nhìn con vui, mẹ tiếp bước đường dài.
Dâng lên mẹ bài thơ thêm sầu muộn Mẹ không còn nhưng lòng mẹ quanh đây Trên Thiên Đàng con tin mẹ nhìn thấy Mẹ bây giờ chỉ là những bóng mây.
Gởi yêu thương về Má nhân ngày Mother’s Day (8/5/2022)
GỌI MÁ
*
Con gọi phone nói cho Má biết
Cây con trồng xanh biếc Má ơi!
Facetime con thấy Má rồi
Con nghe Má nói những lời yêu thương
Chín Bảy tuổi…qua những đoạn đường
Má dành gần hết tuổi đời cho con
Giờ là Ông Lão Bảy Ba
Vẫn còn cần Má, cần nghe giáo điều
Con cần Má biết bao nhiêu…
Má luôn vui khỏe, con yêu Má nhiều!!
*
Hoàng Mai Nhất (Seattle, WA 4/5/2022)
NHỚ MÁ
*
Hôm nay là sinh Nhật Má
Mua quà gì biếu Má, Má ơl
Dầu Xanh với sữa Ensure
Cùng Khăn choàng cổ, Má ơi mua gì…
Mua gì biếu Má Má vui
Gởi về đâu nhỉ! Má ơi con buồn
Gởi về đâu…những món quả
Ai là người nhận, ai là người mang
Đem về đến Má quà con…nhớ nhiều!!
Con là con gái Má yêu
Con ở xa quá, Má đi …con về
Chẵng nghe lời cuối dặn dò
Chẵng cầm tay Má, chẵng hôn giã từ
Hôm nay con nhớ ngày sinh
Con nhớ Má lắm, thương ai giống mình
Cùng chung tưởng nhớ ngày sinh
Cùng thương một Má…chỉ mình Má thôi
Hoàng Mai Nhì
2 Sinh Hoạt Mừng Ngày Của Mẹ Tại San Jose
*28 Năm, “Happy Mother’s Day” Với Những Bà Mẹ Không Nhà (Homeless!)
* Gần 100 Phần Quà Tặng Những Bà Mẹ Việt Nam, Trong Buổi Lễ Chào Cờ Đầu Tháng 5, Tại Vườn Truyền Thống Việt.
(San Jose) – Thứ Sáu, ngày 6 tháng 5, trong buổi cơm phục vụ những Khách Không Nhà, sau khi khách dùng cơm sáng xong, khách vui mừng thấy rõ, khi được loan báo, có thêm một chương trình sinh hoạt đặc biệt để Mừng Ngày Lễ Mẹ 2022.
Tất cả những Bà Mẹ hiện diện, được tặng một phần quà, chai rượu vang và tiền mặt!
Những Bà Mẹ, gồm nhiều sắc tộc, khi nhận quà, khuôn mặt lộ vẻ hân hoan cảm động thấy rõ!
Một Bà Mẹ tâm sự: “Cảm tạ Nhóm Mõ Nhân Ái, đã nghĩ đến chúng tôi trong ngày đặc biệt này. Ngày xưa tôi cũng là Mẹ của 2 đứa con, nhưng sau khi ly dị, rồi mắc vào vòng nghiện ngập, chính phủ đã lấy lại, “tịch thu” hai đứa nhỏ! giờ chẳng biết chúng nơi đâu!” Nói rồi bà nhớ con, lau nước mắt.
Sau phần tặng quà cho các Bà Mẹ, là phần Xổ Số và Lì Xì phong bì đỏ chúc mừng, trong đó có chút tiền mặt.
Đặc biệt các Bà Mẹ thiện nguyện trong Nhóm, mỗi người cũng nhận được một phần quà mừng lễ.
Sáng hôm sau, Thứ Bảy, ngày 7 tháng 5, Ban Tổ Chức Lễ Chào Cờ, đã phối hợp với Anh Hải, để trao tặng gần một trăm phần quà đến các Bà Mẹ VN hiện diện.
Trong phần vinh danh, trước khi tặng quà, Anh Hải phát biểu: “…Đến đây, xin được gởi lời Cảm Tạ đến các Bà Mẹ trong thời chinh chiến, trước 75. Không có Bà Mẹ phải chịu đựng đau khổ, gian nan, hơn những người vợ Lính VNCH cả. Nuôi con để chồng đi đánh giặc, ngừng tiếng súng, thì phải nuôi chồng trong các trại tù cải tạo! Có mỗi một đứa con trai, cũng hy sinh trong cuộc chiến! Biết bao nhiêu đau thương khốn khổ, nước mắt, kể không hết! Cuối cùng tan tác, ngậm ngùi bên phe “thua cuộc chiến!” Đầy đọa trong những vùng kinh tế mới, vượt biển, bị hãm hiếp….Nói lời Cảm Tạ chắc chắn không đủ, trong giây phút đặc biệt này!”
MỪNG NGÀY HIỀN MẪU
(Xướng – Bát điệp từ “Mẹ”)
Hoa Kỳ “Lễ Mẹ” tháng Năm đây”
Ngày Mẹ” tám tây, chủ nhựt nầy
Công trọng Mẹ nuôi, cao tựa núi
Nghĩa dày Mẹ dưỡng, rộng dường mây
Gia đình, Mẹ đã tô bồi đắp
Sự nghiệp, Mẹ từng tiếp dựng xây
Thắp nén tâm hương con khấn Mẹ
Mẹ ơi! Nỗi nhớ thật đong đầy…
DUY ANH
Orlando, May 8th 2022
CÁC BÀI HỌA CỦA THI HỮU
KHÓC THƯƠNG MẪU TỪ
*
Hiền Mẫu nhớ ngày lễ trọng đây
Tháng Năm Chủ Nhựt tám tây này
Cù lao chín chữ cao hơn núi
Cúc dục tam sanh lớn quá mây
Cơm áo gạo tiền luôn gánh vác
Cửa nhà bếp núc vẫn lo xây
Nay con tưởng nhớ, thương từ mẫu
Thắp nén tâm nhang mắt lệ đầy…
Mai Xuân Thanh
May 03, 2022
*
MẸ SỐNG MÃI BÊN CON
*
Nhớ mẹ công lao ghi lại đây
Tình thương nghĩa nặng đủ đông đầy
Ngày nào cặm cụi cây ăn trái
Ngày ấy gian lao vầng gió mây
Hương khói trầm buồn qua lệ ướt
Tàn nhan sâu đắng cuồn cuộn xây
Bàn thờ bóng mẹ như sao sáng
Lúc tỏ lúc mờ nước mắt đầy
Trần Đông Thành
*
MẸ VÀ CON
*
Mùa đang vào hạ, ” mother ‘s day “
Mẹ vẫn bên con, tuổi tác này
Cho dẫu trưởng thành hay ấu trĩ
Càng hay thấp bé tưởng cao mây
Xưa đi trấn thủ, lo mưa chuyển
Nay hết lưu đồn, nhớ khói xây
Bảo bọc gia môn qua chiến nạn
Trời thương mẫu tử nghĩa ân đầy …
Utah 3 – 5 – 2022
CAO MỴ NHÂN
*
MỪNG LỄ MẸ
*
Lễ Mẹ hằng năm sẽ tới đây,
Nhớ ơn từ mẫu kiếp sanh nầy.
Công dày chất ngất cao như núi,
Nghĩa cả phủ tràn rộng tợ mây.
Khốn khó đưa lưng vai gánh vác,
Nhọc nhằn đem sức đắp bồi xây.
Tâm thầm khấn nguyện xin Trời Phật,
Phúc đức ban cho Mẹ hưởng đầy.
HỒ NGUYỄN
(03-5-2022)
*
NHỚ MẸ
*
Tháng năm ngày tám đến rồi đây,
LỄ MẸ về trên đất nước nầy,
Lòng mẹ bao la hơn biển cả,
Mẫu từ cao vút ngất trời mây.
Mẫu tâm lo trẻ thường thao thức,
Mẫu ý vì con mãi đắp xây.
Biền biệt phương trời con ngóng mẹ,
Nửa vòng trái đất nhớ thương đầy !…
Đỗ Chiêu Đức
05-03-2022
*
MỪNG NGÀY HIỀN MẪU
*
Lễ Mẹ, Hoa Kỳ sắp đến đây
Tám tây, vọng Mẹ ở phương nầy…
Hoài thai Mẹ giữ, ân vờn núi
Dưỡng dục Mẹ gìn, đức cuộn mây
Mẹ gánh sầu bi vì tạo dựng
Mẹ gồng khổ cực bởi bồi xây
Hương lòng tưởng đến công lao Mẹ
Nhớ Mẹ…bờ mi ngấn lệ đầy !
Thanh Song Kim Phú
CA. May/3 rd/2022
*
MẸ ƠI !
*
Mừng Ngày Hiền Mẫu
*
Bạc mùa dầu dãi Mẹ nằm đây
Mộ chí mưa sương thấm đất nầy!
Đáy huyệt âm hồn dầm cát bụi
Trên mồ dương khí lõa trời mây!
Cù lao báo đáp công Cha đắp
Cúc dục đền bồi nghĩa Mẹ xây
Kính “Lễ Mẫu Hiền”, hồn tưởng vọng
Chất thương chồng nhớ mãi khôn đầy!
4-5-2022
Nguyễn Huy Khôi
*
MỪNG LỄ MẸ
*
Ngày hiền mẫu đã đến rồi đây
Chủ nhật, vài ba bữa nữa này
Xót mẹ đang tâm rời cố quận
Thương người,nẫu dạ tới chân mây
Áo cơm,tuổi trẻ chăm bồi dưỡng,
Sự nghiệp,thành thân,tiếp dựng xây.
Công nặng ,ơn dầy khôn báo đáp,
Rưng rưng khoé mắt…lệ dâng đầy
Thanh Hoà
04/05/2022
*
MOTHER’S DAY
“Lễ Mẹ” là ngày chủ nhật đây
Tháng năm mồng tám nhớ hôm nầy
Thương con nghĩa rộng tràn sông biển
Quý trẻ tình dày vượt núi mây
Cảnh khó nồi rau trồng cuốc dựng
Quê nghèo bát gạo bán buôn xây
Giờ người đã ngủ yên nghìn giấc
Di ảnh khói hương mắt lệ đầy
Minh Thuý Thành Nội
Tháng 5/4/2022
MẸ
*
Con vẫn trông chờ ” Mother’s day “
Ngày vui nắng hạ tuổi hoa đầy
Xa xôi tiếng Mẹ khôn làm nũng
Cạnh gối Cha nghiêm khó vén mây
Bế ẵm ru con lời dịu ngọt
Đu đưa võng dỗ giấc mơ xây
Mẹ ơi ! nhớ Mẹ từng hơi thở
Hơn chín mươi năm trái Đất này …!
CHUNG VĂN
4/5/2022
*
NGÀY NHỚ MẸ
*
Ngày tạ sinh thành sắp đến đây
Mẫu tử tình thâm ở kiếp nầy
Mang nặng đẻ đau lo bảo trọng
Lớn khôn công ấy thấu từng mây
O oe con khóc mẹ lo lắng
Trở gió ấm đầu Người xẩm xây
Biển cả bao la đâu sánh kịp
Bao nhiêu báo đáp biết cho đầy. ….
Yên Hà
5/5/2022
*
MẸ Ở TRONG LÒNG
*
Sống ở trong lòng,Mẹ vẫn đây
Thân con,máu Mẹ dưỡng sinh nầy
Con nghe Mẹ khóc lần đi biển
Mẹ thấy con cười lúc giỡn mây
Nguồn cội,Mẹ khuyên ra sức giữ
Quê nhà,Mẹ dặn góp công xây
Truyền lưu bếp Mẹ ngời thiêng lửa
Mẹ nhóm tin yêu,hạnh phúc đầy…
Lý Đức Quỳnh
5/5/2022
*
THƯƠNG NHỚ LỆ ĐẦY
*
Tám tháng năm ngày “Lễ Mẹ” đây,
Vinh danh Hiền Mẫu thế gian này.
Ba niên bú mớm lòng như biển,
Chín tháng nâng niu đẹp tựa mây.
Cơm áo thuốc men nuôi chóng lớn,
Tiền đồ sự nghiệp cố công xây.
Kể sao cho siết bao công đức,
Một nén nhang thương nhớ lệ đầy.
Mỹ Ngọc.
May 6/2022.
*
NHỚ NGÀY HIỀN MẪU
*
Tiếng MẸ trong tôi đẹp thật đây
Công ơn trời biển thế gian này
Mem cơm mớm cá bao năm tháng
Giấc ngủ ru nôi vút tận mây
Chập chững bước đời tay dẩn giắt
Vỡ lòng chữ nghĩa quyết tâm xây
Giờ đây cát bụi cơn mưa nắng
Nén hương khẩn lạy kính dâng đầy
NAM GIAO
*
TÌNH MẸ BAO LA
*
Cháu con, dâu rể tụ về đây,
Lễ Mẹ năm nay chủ nhật nầy.
Thân mẫu cưu mang hơn chín tháng,
Công ơn sanh dưỡng tựa trời mây.
Tam đa quy hợp(*) lòng mong ước,
Tứ đại đồng đường(**) nghĩa dựng xây.
Chín chữ cù lao luôn tạc dạ.
Bao la tình mẹ nhớ thương đầy.
Ngô Văn Giai
Virginia, May 6/2022
(*) Tam đa quy hợp:Ba điều hạnh phúc:Phước,Lộc,Thọ
(**)Tứ đại đồng đường:Bốn đời cùng ở chung một nhà,ý nói gia đình hòa thuận bốn đời:đời cha,đời con,đời cháu,đời chắt.
*
TƯỞNG NHỚ MẸ HIỀN
*
Mừng ngày lễ Mẹ ở nơi đây
Mùng tám tháng năm chủ nhật này
Công đức rộng tràn như bốn biển
Nghĩa tình cao vợi tựa ngàn mây
Tương lai con cái luôn vun vén
Hạnh phúc gia đình mãi đắp xây
Sâu thẳm lòng con luôn nhớ Mẹ
Yêu thương, kính trọng cứ dâng đầy
Sông Thu
( 07/05/2022 )
*
CẢM XÚC TRONG NGÀY TỪ MẪU
*
Mother’s Day lại đến rồi đây
Lòng chợt buồn ơi, đón Lễ này
Con trẻ thân côi xa tít tắp
Mẹ già mộ vắng khuất trời mây
Tục Tiên hai cõi sao tìm thấy
Tình hiếu đôi đàng khó đắp xây
Xuất giá tòng phu thành lỗi đạo
Từ thân huyệt lạnh nhớ vơi đầy
Phương Hoa – May 4, 2022
*
MẸ
* Con vẫn trông chờ ” Mother’s day”
Ngày vui nắng hạ tuổi hoa đầy
Xa xôi tiếng Mẹ khôn làm nũng
Cạnh gối Cha nghiêm khó vén mây
Bế ẵm ru con lời dịu ngọt
Đu đưa võng dỗ giấc mơ xây
Mẹ ơi ! nhớ Mẹ từng hơi thở
Hơn chín mươi năm trái Đất này …!
CHUNG VĂN4/5/2022
*
THƠ XƯỚNG HỌA: MỪNG LỄ MOTHER’S DAY – PHƯƠNG HOA & THI HỮU
MỪNG LỄ MOTHER’S DAY
(Xướng)
Chúc Lễ Mother’s Day gấm hoa
Tình yêu tỏa sáng rực muôn nhà
Sinh thành ân trọng tày sông lớn
Dưỡng dục nghĩa dày sánh biển xa
Trọn hiếu thức ngon vui dạ Mẹ
Tràn tâm lời ngọt đẹp lòng Bà
Vòng ôm ấm áp truyền năng lượng
Ấy món quà dâng quý ngọc ngà
Phương Hoa
Mother’s Day 2022
CÁC BÀI HỌA
HAPPY MOTHER’S DAY…!
*
Mother‘s Day tặng Mẹ ngàn hoa
Sáng toả yêu thương khắp cửa nhà
Sinh dưỡng đạo đồng so biển lớn
Cù lao cúc dục sánh non xa
Chăm ngoan cần mẫn vui lòng mẹ
Hiếu thảo siêng năng đẹp dạ bà
Đãi tiệc hàn huyên con cháu chắc
Gia đình đoàn tụ dưới trăng ngà
MAI XUÂN THANH
May 8/5/22
*
MƯỢN HOA THAY LỜI
*
Mượn vẻ mặn mà muôn sắc hoa
Làm quà trao gởi đến nhà nhà
Lay ơn, thược dược màu phô thắm
Sen trắng, hồng nhung hương tỏa xa
Âu yếm nâng niu dành tặng Mẹ
Chân thành, quý trọng kính dâng Bà
Bao nhiêu tình cảm thay lời nói
Sáng vượt trân châu, đẹp vượt ngà
Sông Thu
( Ngày Hiền Mẫu 2022 )
*
ĐỨC TRỜI & CÔNG BIỂN
*
Tấm lòng của mẹ ngát hương hoa
Bay tỏa lan ra khắp cả nhà
Ấy dẫu bây chừ bu đã vắng
Đây dù hiện tại mợ thời xa
Trời cao lồng lộng khôn so mẹ
Biển rộng mênh mông khó sánh bà
Công đức dưỡng nuôi đàn con dại
Xót nay nắm đất phủ thân ngà..!
Thái Huy
5/9/22
*
MẸ TÔI
Cấy lúa trồng khoai, chẳng thiết hoa
Mẹ vun quén giữ ấm êm nhà
Quê làng suốt kiếp dìm thân mọn
Phố thị chưa lần biết chốn xa
Cảnh có phiền ưu đời thế tục
Tâm không oán hận cõi ta bà
Chồng con sớm tối vui cùng phận
Tóc bạc quên luôn chiếc lược ngà…
Lý Đức Quỳnh
9/5/2022
*
BÓ HOA NGÀY LỄ MẸ
* Tay con ôm một bó hồng hoa
Lễ mẹ tràn lan đến mọi nhà
Chân bước rộn ràng tim đập nhẹ
Lòng vui dào dạt sóng vờn xa
Quỳ dâng âu yếm trao lên mẫu
Kính chúc vời cao gởi tặng bà
Tiếng hát lời ru công dưỡng dục
Thiên thu ngời sáng dưới trăng ngà.
*
Lê Mỹ Hoàn5/10/2022
CHÚC MỪNG LỄ MẸ
*
Chúc mừng Lễ Mẹ tặng ngàn hoa,
Rạng rỡ vui reo khắp mọi nhà.
Công khó sinh thành sông bến rộng,
Ơn cao nuôi dưỡng biển trùng xa.
Nhọc nhằn chẳng quản bên con cháu,
Vinh hiển yên tâm thỏa phận bà.
Kỉnh dạ Mẫu Từ cao giữ trọng,
Thâm ân hiếu thảo quý hơn ngà.
HỒ NGUYỄN (10-5-2022)
*
CHIẾC ÁO CÀI BÔNG HỒNG
*
Mother’s day trên chiếc áo cài hoa
Có mẹ bên con lúc vắng nhà
Nhớ lắm khi bồng con tắm suối
Sao quên lúc cõng trẻ đi xa
Tới chùa cầu nguyện con vui khỏe
Lạy tổ hộ gia cháu của bà
Hình ảnh mẫu thân luôn sống mãi
Gia đình hủ hỷ trước trăng ngà
Trần Đông Thành
*
CHÚC MẸ MỘT NGÀY VUI
* Biếu mạ hôm nay một giỏ hoa,
Đến thăm Từ Mẫu, rể, dâu nhà
Sinh thành, nuôi dưỡng: ơn trời rộng
Bảo bọc yêu chiều: đức biển xa
Tạc dạ con ngoan, thương mẹ, bố.
Ghi tâm cháu thảo, quý ông bà
Cầu mong ngày tháng đừng qua vội,
Giữ mãi me tôi, tóc chẳng ngà!
Thanh Hoà 10/05/2022
*
Mừng “Lễ Mẹ“
*
Chuẩn bị hôm này mấy bó hoa
Mừng chung “Lễ Mẹ“ họp nơi nhà
Trùng khi lắm buổi luôn rời biệt
Gặp việc nhiều ngày mãi ở xa
Tiếng ngọt ôm người đùa thỏa mẫu
Lời êm níu cổ giỡn vui bà
Quà trao cắt bánh dâng cười rộn
Hiếu thảo đừng quên quý tợ ngà
Minh Thuý Thành Nội
Tháng 5/10/2022
*
MỪNG LỄ MẸ HIỀN
* Cho dù ý Mẹ chẳng cần hoa
Giả bộ vì quên khiến rộn nhà!
Huệ Đỏ, Nhật Quỳnh mua chợ mới
Cúc Vàng, Hồ Điệp sắm miền xa
Bầy con nghĩa vẹn vâng lời Bố
Đám trẻ tình thâm cảm động Bà
Hiền Mẫu trưa nầy ngưng nhóm bếp
Lòng như mở hội đón trăng ngà!
* Như Thu 05/10/2022
THƠ XƯỚNG HỌA LỤC CÚ: Khách Giữa Trời – CAO MỴ NHÂN Và Thi Hữu & THƠ THỔ NGỮ Cao Mỵ Nhân
THƠ LỤC CÚ XƯỚNG HỌA
KHÁCH GIỮA TRỜI
(Xướng)
*
Chim bay sao cánh lại buông lơi Nghe tự thâm tâm giấu những lời Tha thiết, thầm thì, thao thức thiệt Thật thà, thủ thỉ, tưởng tượng thôi Mây đang lãng đãng về xa thẳm Ta cũng như đôi khách giữa trời…
CAO MỴ NHÂN
***
CÁC BÀI HỌA
CHIM TRỜI
*
Chim tạo điệu bay tránh lả lơi Thân hình nhẹ nhõm nói muôn lời Lượn qua lượn lại trông nhàn nhã Xuống thấp lên cao thấy thảnh thơi Bầu bạn không gian luôn khắng khít Tự do tung cánh khắp bầu trời.
MAI HUYỀN NGA
***
HẸN ƯỚC TRĂNG SAO
*
Ngày ấy, câu hò, giọng lả lơi Tiếng ca văng vẳng chưa nhiều lời Bon chen kiếp sống vươn lên nữa Vất vả đời người tránh thiệt thôi Đã hẹn gặp nhau nơi góc biển Mà đi mất biệt chốn phương trời.
TRỊNH CƠ
***
ĐỨNG KÊU TRỜI
*
Hụt hẫng chim về cánh mỏi lơi Mây ra biển đắm bặt im lời Bốn phương gió lộng miền tâm tưởng Một nẻo quê mờ phía núi thôi Sóng dạt năm châu, thuyền cặp bến Không chân trụ điện đứng kêu trời.
Phóng Sự HUYỀN THOẠI VỀ ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA VÀ PHẬT GIÁO TÂY TẠNG – Kiều Mỹ Duyên
VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH MỚI: “HAI CHỊ EM” – Tác Giả Ngọc Cường – Chinh Nguyên VTLV, Giới Thiệu Trên 4 Kênh VNA-TV: Bắc Cali, Nam Cali, Las Vegas, Và Texas.
THƠ: MÁI TÓC – Thanh Thanh – LÊ XUÂN NHUẬN
MÁI TÓC
Cho Vân-Anh
*
Nàng có mái tóc huyền
Đẹp như tranh thủy-mặc;
Đường nét thật dáng duyên,
Thật mặn-mà màu sắc.
*
Tóc như múa nghê-thường;
Sóng đàn như tóc lướt;
Tóc như ướp trầm hương;
Tóc như nhung mịn mướt.
*
Khi nàng về với tôi,
Nàng thay nhiều kiểu chải;
Như mắt, má, và môi:
Vui tươi và trẻ mãi .
*
Tôi vuốt dợn tóc êm,
Tôi hít mùi tóc thuộc.
Nắng biển và sương đêm:
Tóc kiêu hào nhập cuộc.
*
Đời rộng cánh bằng+âu;
Thanh-bần nên sướng chán.
Đôi lứa tưởng còn lâu
Mới bạc đầu, hói trán.
*
Nhưng, chớp bể, mưa nguồn!
Sắt thép kìm xương thịt:
Mắt nàng rát lệ tuôn,
Lưỡi tôi tê mật rịt!…
*
Nàng lặn-lội thăm tôi;
Tóc trùm khăn lấm bụi;
Tôi tránh nhìn mắt, môi;
Cổ nghẹn lời tức tủi .
*
Rồi, một hôm (ngỡ-ngàng!)
Nàng tháo khăn gỡ rối,
Tôi sửng-sốt nhìn nàng:
Tóc điểm màu tiêu-muối!
*
Ôi! Mới một thời-gian
Mà cồn dâu, bãi bể!
Giếng hẹp ếch gào khan;
Bức bần nên khổ thể!
*
Mắt nàng đã quầng thâm;
Môi khô và má hóp.
Nhìn mái tóc hoa-râm,
Tim tôi như nghiến bóp!
*
Tóc hết múa nghê-thường!
Sóng đàn tóc hết lướt!
Tóc hết ướp trầm hương!
Tóc hết nhung mịn mướt!
*
Tôi muốn vuốt tóc nàng,
Mà bị đời ngăn cấm!
Đành đợi giấc mơ-màng
Để sưởi lòng tạm ấm!
*
Nàng thương tôi mặn-nồng,
Vì tôi mà lận đận.
Tóc nàng càng trắng bông,
Lòng tôi càng uất hận!
*
THANH-THANH
(Trong “Cơn Ác-Mộng”)
Lê Xuân Nhuận
ĐỒNG BÀO NAM CALI ĐÓN C GIÁM MỤC NGUYỄN THÁI HỢP – Kiều Mỹ Duyên
THƠ NGƯỜI TRONG NƯỚC: Uất Nghẹn – TRƯƠNG CHI
Hình Trương Chi -Nguồn: Internet
UẤT NGHẸN
Một nhà thơ trẻ, một anh hùng xuất hiện!
Ít nhất quý vị cũng nên đọc 1 lần và phổ biến rộng rãi
***
1. Tôi sinh ra giữa lòng Cộng Sản
Và lớn lên dưới ảnh Bác Hồ
Bao nhiêu năm viết “Độc lập – Tự do
và Hạnh phúc” nhưng chưa từng thấy thế
*
2. Đất nước tôi có bao người tuổi trẻ
Đều lầm tin vào lịch sử Đảng truyền
Họ nói rằng: Bác là thánh, là tiên
Người đưa Nước thoát khỏi vòng nô lệ
*
3. Nhưng trong tôi thắp muôn vàn lý lẽ
Cuộc chiến nào mà Đảng thắng – Nước thua?
Dân làm giặc mà Đảng lại làm vua
Trên danh nghĩa “kẻ tôi đòi trung hiếu”
*
4. Đất nước tôi tất thảy do Đảng liệu
Đảng phân công, quản lý hết cuộc đời
Từ cây kim, sợi chỉ đến chén cơm, manh áo dù rách nát, nhỏ nhoi
Thì tất cả đều nhờ ơn của Đảng
*
5. “Yêu Tổ quốc” có nghĩa là “yêu Đảng”
“Chống chính quyền” là “phản bội quê hương”
Bao người vì non sông với niềm tin vào ngày mai nước Việt hùng cường
Đều lần lượt chịu tù đày, khổ ải
*
6. Đất nước tôi có gì không độc hại
Từ thức ăn, nước uống đến không khí ô nhiễm tràn lan
Từ nhu yếu phẩm của đứa trẻ sơ sinh đến cụ già sắp lìa khỏi trần gian
Đều tẩm độc vào xác – hồn nước Việt
*
7. Có nơi đâu mà người dân thua thiệt
Bằng thiên đường Xã Hội Chủ Nghĩa thế này không?
Máu dân oan đã nhuộm đỏ sông Hồng
Loài hung bạo chiếm hết trời – đất – biển…
*
8. Đất nước tôi với mọi điều trái ngược
Ngược văn minh, ngược tiến hóa loài người
Những phát ngôn của quan chức nực cười
Ngược đời thế, nhưng “tài tình lãnh đạo”
*
9. Ươn hèn nhất, bọn bút nô – Tuyên giáo!
Với hàng trăm tờ báo, đài vô tuyến – truyền hình
Ngoài mị dân, ru ngủ, chỉ những tin “cướp – giết – hiếp” hay bản nhạc “đúng quy trình”
Còn nhục nước họa dân thì muôn đời nín lặng
*
10.. Đất nước tôi với sưu cao thuế nặng
Còn hơn thời phong kiến, thực dân
Những trạm BOT mọc lên khắp tỉnh thành
Cùng hàng vạn “áo vàng” chực rình thu mãi lộ
*
11. Ôi chân lý mà bao người “giác ngộ”
Làm suy đồi đạo đức mấy ngàn năm
Đưa quốc dân vào chia rẽ – thù hằn
Và kiềm tỏa đường tương lai dân tộc
*
12. Đất nước tôi mất dần vào Trung Quốc
Mất Hoàng Sa, rồi mất đến Trường Sa
Mất Biển Đông, Bản Giốc, rồi những nơi trọng yếu của nước nhà
Đảng biết rõ, nhưng làm ngơ tất cả
*
13. Từ có Đảng, biết bao điều tai họa
Như mệnh trời muốn thử thách người Nam
Mà Đảng vẫn huênh hoang nào “thắng lợi vẻ vang”
Nào “thời đại Hồ Chí Minh”, nào “dân giàu nước mạnh”
*
14. Đảng hào nhoáng với ngai vàng lấp lánh
Còn dân đen thì đói khổ, nghèo nàn
Những ủy ban, hội đồng… đều mang mác “nhân dân”
Chỉ kho bạc là của riêng “nhà nước”
*
15. “Đổi mới” rồi “kiến tạo” với bao đời Thủ tướng
Bao đời Tổng Bí thư từ Chinh, Duẩn, Linh, Mười…
Bao sai lầm mà Đảng chẳng nên người
Sợi kinh nghiệm rút kiếp nào cho hết
*
16. Đảng cứ sống và dân thì cứ chết
Cứ chết dần trong mơ ước tàn phai
Trong căn bệnh ung thư hay tai nạn giao thông… rồi sẽ đến một mai
“Chết từ từ” để giết nòi giống Việt
*
17. Tôi xấu hổ khi nói cùng thứ tiếng
Và viết chung ngôn ngữ với một đảng đê hèn
Hít thở bầu khí quyển màu đen
Bóp nghẹt Tự Do ở dưới triều Cộng Sản
*
18.. Tôi sinh ra giữa lòng Cộng Sản
Nhưng tôi là một người Việt Tự Do
Trong tim tôi là lý tưởng Quốc Gia
Và chính nghĩa là chủ trương dân tộc
*
19. Xin cảm ơn những tấm gương bất phục
Và những người yêu Nước của hôm nay
Đã dấn thân vào những chốn đọa đày
Vẫn khí khái cất cao lời tranh đấu
*
20. “Ghét Cộng Sản” chẳng bao giờ là xấu
Yêu đồng bào” từ giòng máu Việt Nam
Chúng ta là con cháu xứ Văn Lang
Và thề quyết làm sáng danh Hồng – Lạc
*
21.. Hỡi những người trai, cô gái Việt
Hãy đứng lên vì non nước lầm than
Diệt bá quyền, lật đổ lũ tham tàn
Cho không thẹn với hồn thiêng sông núi
*
22. Hãy bước đi theo tiếng đời thúc gọi
Triệu tấm lòng vì đất nước – quê hương
Sẽ noi gương anh dũng của Trưng Vương
Mang ý chí Diên Hồng xây đắp nền Cộng Hòa tự chủ.
*
TRƯƠNG CHI
CHÙM TÌNH THƠ Cao Mỵ Nhân & Bài Viết “Ở MỘT GÓC PHỐ”
PHÚT TỪ LY CỦA XÃ ĐOÀI. CAO MỴ NHÂN
*
Tôi còn nhớ
Ngày Xã Đoài về phương tây
Có con chim cú mầu hoàng kim rực rỡ
Đậu trên ngọn cây
Thả rơi tiếng kêu
Xót thương người tình lỡ
*
Một bầy quạ mặc áo choàng đen
Hót lên lời sầu muộn
Sau lễ nửa đêm
Xã nằm cô đơn nghe chuông cầu nguyện
Không có ai thân quyến
Không có ai bạn bè*
*
Giờ khắc tử sinh
Tôi co mình trong mộng mị
Xã nhớ tôi không nhỉ
Chắc chắn gọi tên ” Mỵ ”
( Em ở đâu
Sao không đến bên nhau )
*
Ôi, ” mối tình đầu “
Hay giây phút cuối
Lỡ cuộc tình sau
Say mê, đắm đuối
Xã Đoài về phương tây
Đôi mi khép che nỗi buồn tiếc nuối …
*
Hawthorne 22 – 4 – 2022
CAO MỴ NHÂN
BẤY NHIÊU THÔI. CAO MỴ NHÂN
*
Mới sớm tinh mơ
Bầy chim sẻ ngủ ở đầu hồi đêm qua
chưa thức giấc
Vị sư công phu đã lên đường đi hành khất
Trên bình bát để cuốn pháp ký
” Có bấy nhiêu thôi “
Của Ngài Kim Triệu Khippapanono.
*
Tôi là một Phật Tử tình cờ
Chưa bao giờ tụng hết một cuốn kinh mỏng
Chỉ chúi đầu vào những tập tình thơ
Nên cứ băn khoăn dòng chữ :
” I will go with you ” cả đời tôi đơn lẻ
Làm sao có chuyện đồng hành
Nên chỉ muốn đi bên cạnh anh
*
Đi bên cạnh anh
Nhưng anh đang định đi tu
Thì anh cứ việc đi tu
Cứ suy nghiệm bao lý đạo, tình đời
Anh đã có pháp danh là ” Thích Tuyệt Vời ”
*
Tôi rời khỏi đường tu
Nơi trồng toàn hoa vô ưu tưởng tượng
Ngắt đọt lá xanh rờn
dưới tàng cây cao ngất
Nghe lời kệ ” Có bấy nhiêu thôi ”
Vâng, tôi cũng chỉ viết được
Có bấy nhiêu thôi …
*
CAO MỴ NHÂN
KHI HOA ĐÀM NỞ. CAO MỴ NHÂN
*
Bao giờ khói tản đồi mơ
Sương tan dưới lũng, cho thơ mộng về
Tình rồi cũng hết u mê
Gió tha phương cuốn lời thề lên cao
*
Bấy giờ trăng bỏ muôn sao
Cô đơn trôi giữa chiêm bao đất trời
Cây trường sinh suốt cuộc đời
Không hề rụng lá, hoa vời nguyệt tan
*
Thế rồi hồn lịm than van
Thoắt chơi vơi giữa hoang tàn mênh mông
Sô tang gói chặt phiêu bồng
Đưa chân tri kỷ, tiễn hồng nhan đi
*
Ôi chao tử biệt, sinh ly
Là thôi, trả lại từ bi cho người
Ma ma Phật Phật, nụ cười
Đoá ưu đàm nở trên môi muộn màng …
*
CAO MỴ NHÂN
Ở MỘT GÓC PHỐ. CAO MỴ NHÂN
Ông với tôi đúng là một cặp chị em không biên giới, bởi vì nếu đem 2 tờ giấy khai sinh ra đo, rõ ràng chúng tôi không cùng cha mẹ, ông họ Nguyễn, tôi họ Lê, tôi tên Lê Thanh Quỳnh Phương, tạm gọi thế.
Ông nhỏ thua tôi mấy tuổi chả biết, song chẳng cần nhỏ lớn, xã giao thôi, tôi đã giữ vai chị là cái chắc rồi .
Nhưng ngoài những điều nêu trên, đứng giữa cuộc đời, tôi chẳng thể nào làm chị ông được.
Chỉ cần nhận định một số việc từ đơn giản đến phức tạp, ông đã chẳng ngang hàng, mà vượt lên cao, có lẽ gấp …nhiều lần tôi lắm, trong tất cả mọi vấn đề .
Sự kiện không khiến tôi mắc cở, ganh ghét hay vân vân gì khác, mà tôi còn cảm thấy hãnh diện là khác.
Nếu trong võ lâm cổ điển, tôi sẽ xưng tụng ông là ” hiền đệ ” để xoa dịu tự ái của cả hai “chị em” , nhưng đang trong thế giới văn minh, khoa học thế này, rõ ràng ông đáng bậc thầy tôi về kiến thức và phẩm chất phong thái, tính tình .
Nên nếu đúng ra mà nói ông có tư cách của một người …chủ soái .
Song đôi khi tôi mến mộ ông quá, lại gây cho ông những phiền toái tầm thường, mới đáng tiếc.
Và tôi sợ hãi không dám nghĩ thêm, đừng nói viết thêm .
Tôi đã thực sự mất hút một cánh chim trời viễn mộng lâu năm, tôi bỗng giận tôi ghê gớm.
Chao ôi hình ảnh con gà nuốt giây thung là tôi, cảm giác tự mình bức hại mình dù vô tình.
Tôi tìm hũ đậu vàng mà thủa tôi hạnh ngộ nhà báo, bình luận gia tên tuổi lão thành Như Phong Lê Văn Tiến vừa xong tù cải tạo chính trị ở vncs, qua Hoa Kỳ năm 1994, tặng cho tôi.
Sau khi nhà báo lịch duyệt trên, hỗ trợ tôi một vòng đi nói chuyện về ” Dòng Thơ Trong Tù ” nhân dịp bạn lính Cao Mỵ Nhân ra mắt cuốn tạp ghi ” CHỐN BỤI HỒNG ” vào mùa hạ năm 1994 ở San Jose và San Diego .
Hũ đậu vàng đơn điệu, mỗi ngày tôi bỏ vô hũ một hột đậu vàng, kiểu 2 hũ đậu trắng, đen mà người xưa khuyên : Mỗi ngày bỏ vô hũ một hột đậu trắng là đã làm được việc tốt, bỏ vô hũ một hột đậu đen là lỡ làm chuyện xấu .
Cứ ngó vào số đậu trong hũ là rõ mình trắng đen ra sao .
Nhà báo quá cố đó dặn tôi : Nếu chơi hai mầu đen trắng, vẫn có thể gian dối với mọi người và ngay với chính mình .
Còn hũ đậu vàng thôi, như là tự chế ngự nếu đầu óc manh nha làm điều không tốt, hoặc hạn chế những điều không tốt ấy , đánh giá theo yếu tố thời gian.
Như vậy phải bao lâu mới đầy hũ đậu vàng chứ .
Song le, nào có cần chế ngự vv…đâu, khi được thoải mái tự do, con người ta dễ tha thứ cho mình lắm.
Tôi đã bỏ quên hũ đậu vàng quá lâu, nên hôm nay tìm thấy, tất cả hũ đậu đã mọt, tôi đổ vô thùng rác .
Ngồi buồn lại mở báo chí gần xa ra đọc. Không biết ai đã viết vào sổ ghi chép của tôi câu ” Loạn độc thư cao ” .
Thì đúng rồi thời loạn mà đọc sách thì cao giá trị con người ,
” Vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao ” .
Chu choa, mọi sự đều thấp kém, chỉ có đọc sách mới cao thượng.
Ông có cách xử thế bình tĩnh, đầy sức ” thuyết phục “, chẳng có chi làm khó bà chị cả …
Đó chỉ là công chuyện bình thường, cần và nên thay đổi chút cho sự việc ở đời lúc nào cũng mới mẻ, tân tiến dễ thành công.
Thay vì làm chị thân thương trong đại tộc nào đó, cũng đòi hỏi lòng vị tha, mới có thể em em, chị chị được chứ .
Tôi có vẻ không vui lắm, tai bỗng ù lên, loáng thoáng nghe được câu : ” chị nói như dỗi ” . Đúng rồi, rõ ràng tôi ru tôi vào cảnh dỗi hờn vô lý nhất .
Chẳng có gì lạ, đối với phụ nữ, thiếu nữ thì đã đành, phụ lão có lúc cũng như trẻ con, tôi ngồi thừ khi ” người em ” đã biến dạng trên đường giây đàm thoại.
Tại sao tôi dở thế ? Không phải dở đâu, mà vì được ưu đãi quá, nay bị hụt hẫng một chút thôi, cứ nghĩ là không vẹn tròn .
Vài hôm sau tôi bình tĩnh lại, tôi lên một cơn cười thú vị, tôi vui tươi thực sự, bình thản thực lòng , tôi viết thư cho người bạn ở xa tít mù xa .
Người bạn xa tít mù xa của tôi lúc nào cũng lặng lẽ, nhưng ông ta sẽ xử dụng ” văn chương ” hồi âm tư tưởng hay là suy nghĩ của tôi thì đúng hơn .
Vị bạn võ lâm trong phong cách tiêu dao đã lần lần kéo tôi ra khỏi đám mù sương, khiến tôi phục quá .
Có phải chúng ta lớn quá rồi , như trái chín sắp vỡ, hay sắp rụng, chúng ta chỉ còn thì giờ ngắm …thành quả thôi, không nên gọi gió lớn gây mưa bão .
Tôi sợ quá, sợ thực sự thời gian dồn dập đến, không còn kịp nở nụ cười bầy tỏ lòng thương yêu chân chính, thành thật .
Nỗi khó không phải ở tha nhân nhìn về, mà khó vô cùng từ chính chúng ta không hiểu rõ chúng ta, rất hồn nhiên, vô tư .
Tôi thầm lặng nhớ nhung anh, và thiếp đi trong giấc ngủ vừa kịp tới .