KIỀU MỸ DUYÊN: DIỄM PHÚC CHO NHỮNG AI CÒN MẸ

DIỄM PHÚC CHO NHỮNG AI CÒN MẸ

LỄ VU LAN 2024
KIỀU MỸ DUYÊN




DỊCH GIẢ THÁI NỮ LAN: PHÍA TÂY, CÓ PHẢI LÀ VƯỜN EDEN*1/- KHÔNG? — Tuyển Tập THƯƠNG QUÁ VIỆT NAM.

PHÍA TÂY, CÓ PHẢI LÀ VƯỜN EDEN*1/- KHÔNG?- Emsie – 1193 chữ –

tháilan dịch

Berlin, ngày 26 tháng 12, 1964

Trước ngày ấy, tôi chưa bao giờ biết sợ. Là nỗi hãi hùng thật sự.
Vào buổi sáng lạnh buốt của tháng mười hai này, trong khi chúng tôi đang chạy xe
lên đường dốc Filderstrasse, nỗi lo sợ thấm vào từng mảng thịt của thân thể tôi,
đã bị bầm tím vì những miếng gạch được cho là để tránh đạn, khi tôi đang co rúm
dưới cái vỏ bọc bằng tôn. Một nỗi lo sợ mạnh hơn cả nỗi buồn vì đã rời xa cha
mẹ, anh tôi, bạn bè tôi, mà không được ôm lấy họ, cũng không thể nói rằng tôi
yêu họ đến chừng nào.
Nói cho họ biết về dự định điên rồ này ư? Đó là điều không thể, họ sẽ tìm bất kỳ
phương cách nào để ngăn cản tôi.
Nỗi lo sợ ấy vượt qua cả tình yêu tôi dành cho Rolf hơn ba năm nay rồi. Nỗi đam
mê choáng ngợp, chuyên nhất, dung hợp, đã chịu đựng sự chia ly không cưỡng
lại được bởi Bức tường đã được xây đúng vào đêm 12 rạng ngày 13 tháng 8,

  1. Chỉ gần một tháng kể từ khi tôi gặp anh chàng xuất sắc kia, hăng máu mà
    cũng hơi gàn, làm lu mờ tất cả những kẻ khác.
    Nhưng khi chúng tôi đã chọn giải pháp bỏ trốn, nỗi lo sợ hầu như đã chiếm hết tất
    cả những việc khác, tôi đã không chịu phần thua và quyết định hồi tưởng lại bằng
    tất cả những tế bào trong cơ thể mình. Bị kẹt cứng trong cái cốp xe hôi hám này,
    tôi hồi tưởng lại từng hình ảnh những lúc bên nhau, lắng nghe lại từng lời nói,
    sống lại từng sự vuốt ve, từng hơi thở, từng nụ hôn, để nỗi kinh hoàng qua một
    bên và chỉ nghĩ đến thời cơ thuận lợi này do định mệnh mang đến.
    Thật vậy, từ một năm nay, những cư dân thành phố Berlin phía Tây được phép
    đến thăm gia đình họ ở khu vực phía Đông vào dịp các lễ lạc cuối năm. Thế nên
    Rolf qua mừng lễ Giáng Sinh với ông bà ngoại của anh, và nhà họ thì gần nhà gia
    đình tôi. Nhờ vậy mà anh và tôi đã quên nhau, khi anh ở lại bên nhà họ. Anh ấy
    hai mươi tuổi, còn tôi thì mười tám. Chúng tôi biết ngay mối liên hệ này sẽ kéo dài
    suốt đời.
    Hai ngày trước, khi anh mới đến, Rolf đã kéo tôi ra riêng để nói rằng anh sẽ tranh
    thủ cơ hội do ý trời xếp đặt này để mang tôi đi xa, ra khỏi thành phố ngục tù của
    tôi.

  • Anh thấy ngày càng thật khổ sở, Anna ạ, anh không thể nào tiếp tục sống như
    thế nữa. Anh rất cần em. Ngay bây giờ.

Kế hoạch của anh ấy thật là hợp lý: anh ấy sẽ giấu tôi phía sau cốp xe Austin-
Healey, một chiếc xe dạng rất thấp mà anh vừa mới mua bên Áo và đã tháo kính

che gió ra. Chúng tôi chỉ cần đi qua bên dưới rào chắn, trong khi mấy tên cảnh sát
nhân dân Vopo*2/ thì bận lo kiểm tra giấy tờ như thường lệ. Rolf đã tính toán

nhiều lần, tính đi tính lại, anh lại còn xì bớt hơi các bánh xe: như thế cái xe sẽ
không vượt quá 90 cms bề cao. Anh chỉ cần cúi đầu xuống, nhấn mạnh vào cần
tăng tốc, thế là chúng tôi sẽ qua bên kia địa phận đất Mỹ! Một “bờ thành” nhỏ làm
bằng gạch sẽ bảo vệ tôi khỏi những lằn đạn có thể xảy ra. Và rồi sau đó là tự do…
Nếu như anh thất vọng khi thấy tôi có vẻ hoài nghi, người yêu của tôi không dễ
dàng bị thua. Anh lặp đi lặp lại phương án của anh trong từng chi tiết thật nhỏ
nhất, cho đến khi tôi chấp nhận thì mới ngừng.

  • Rồi gia đình của em thì sao nào? tôi cầu may anh sẽ đổi ý chăng.
  • Em cứ tin anh đi, anh ấy trấn an tôi. Cái bức tường ấy rồi sẽ không trụ được lâu
    đâu!
    Sự việc đã được quyết định: ngày khởi hành sẽ là ngày kia.
    Dĩ nhiên là tôi hôm trước đó tôi không hề chợp mắt được.
    Kế hoạch quá dễ dàng ấy đáng lý ra phải kích thích sự ngờ vực của tôi chứ. Đằng
    này là không! Tôi dẹp bỏ nghi ngờ và sự lo âu của mình, và lao tới trước. Cũng
    giống như chiếc xe mui trần yêng hùng đang vụt nhanh trên con đường lát đá này,
    rồi bao nhiêu lần xe bị lắc mạnh kêu vang trong cái thân chao đảo của tôi là bấy
    nhiều lần nhắc nhở cảnh cáo: ” Thật là điên rồ! “, “Các bạn sẽ bị chúng hạ sát
    mất thôi!”
    Từ gần mười lăm phút, chiếc xe đang tiến tới một cách kiên quyết đến Điểm Kiểm
    Tra Charlie. Hiện giờ có lẽ chúng tôi đang cách chỗ ấy khoảng chừng vài trăm
    thước, tôi cảm nhận được điều đó khi thấy Rolf hãm bớt vận tốc lại, như thể anh
    cố tập trung toàn bộ sức lực trước cuộc xung phong cuối cùng. Rồi chiếc Austin
    lại chạy với vận tốc bình thường, trước khi ngừng hẳn.
    Thế là xong. Chúng tôi đang ở đây, ở chỗ này, và không còn cách nào để trở lui
    được nữa.
    Từ chỗ đang ẩn nấp, tôi nghe tiếng vù vù của động cơ bị nghẹt và tiếng những
    người đàn ông đang nói. Giọng họ vang âm cao, như truyền lệnh. Mỗi giây trôi
    qua đối với tôi như vô tận. Tại sao chúng tôi không đi tiếp được vậy cà?
    ĐỨNG LẠI!

Bỗng dưng nỗi sợ hãi biến mất, chỉ còn sự sững sờ hoảng loạn, và toàn thân tôi
dấy lên sự đau nhói đang tăng mạnh. Đầu tôi va vào những viên gạch và tôi bị bất
tỉnh nhân sự.
Khi tôi tỉnh lại, tôi đang nằm ở lề đường, bên ngoài không khí thoáng mát. Trên
mình tôi là chiếc áo choàng bằng dạ thô đen Rolf đã cởi ra và đắp cho tôi, còn
anh thì đang nắm tay tôi, đôi mắt đẫm lệ, trong khi nhiều người đàn ông mặc quân
phục bao quanh chúng tôi. Ôi, thì ra đây là thiên đường ư? Đúng rồi, tạm gọi như
thế: chúng tôi đã sang bên kia bức tường. Bình yên vô sự. Anh ấy đã thành công.

Việc trốn thoát của chúng tôi đã khiến nhiều người bàn tán. Mẹ tôi thì nói đến
chuyện ấy trong vô số thư mà bà gởi cho tôi, nhiều tháng sau đó. Còn các con
của tôi thì sau này chúng được biết rằng khi đã đến đất Mỹ rồi *3/, cuối cùng,
ngay khi Rolf thắng xe lại, trên mặt đường còn in dấu bánh xe kéo dài cả hơn sáu
thước!

Emsie – Bài ghi lại từ một câu chuyện thật- tháilan dịch-
GHI CHÚ

*1/- Eden: vườn địa đàng-
*2/- Volkspolizei : Cảnh sát nhân dân, Đông Đức (1945-1990) – Cảnh sát viên có
biệt danh là Vopo.
*3/-Theo Wiki: Checkpoint Charlie
Điểm Kiểm Soát Charlie là một trong những cửa khẩu bắt buộc của Berlin , vào
thời chiến tranh lạnh, để vượt bức tường chia thủ đó của Đức quốc, giữa Đông và
Tây Đức. Điểm checkpoint này nằm trên đường Friedrichstraße (= đường
Frédéric ), giữa quận Mitte ( lĩnh vực Xô viết ) và Kreuzberg ( lĩnh vực của Mỹ)-
Có lẽ vậy nên phần cuối bài nói đến đất Mỹ.

PHÍA TÂY, CÓ PHẢI LÀ VƯỜN EDEN*1/- KHÔNG?

tháilan dịch

Berlin, ngày 26 tháng 12, 1964

Trước ngày ấy, tôi chưa bao giờ biết sợ. Là nỗi hãi hùng thật sự.
Vào buổi sáng lạnh buốt của tháng mười hai này, trong khi chúng tôi đang chạy xe
lên đường dốc Filderstrasse, nỗi lo sợ thấm vào từng mảng thịt của thân thể tôi,
đã bị bầm tím vì những miếng gạch được cho là để tránh đạn, khi tôi đang co rúm
dưới cái vỏ bọc bằng tôn. Một nỗi lo sợ mạnh hơn cả nỗi buồn vì đã rời xa cha
mẹ, anh tôi, bạn bè tôi, mà không được ôm lấy họ, cũng không thể nói rằng tôi
yêu họ đến chừng nào.
Nói cho họ biết về dự định điên rồ này ư? Đó là điều không thể, họ sẽ tìm bất kỳ
phương cách nào để ngăn cản tôi.
Nỗi lo sợ ấy vượt qua cả tình yêu tôi dành cho Rolf hơn ba năm nay rồi. Nỗi đam
mê choáng ngợp, chuyên nhất, dung hợp, đã chịu đựng sự chia ly không cưỡng
lại được bởi Bức tường đã được xây đúng vào đêm 12 rạng ngày 13 tháng 8,

  1. Chỉ gần một tháng kể từ khi tôi gặp anh chàng xuất sắc kia, hăng máu mà
    cũng hơi gàn, làm lu mờ tất cả những kẻ khác.
    Nhưng khi chúng tôi đã chọn giải pháp bỏ trốn, nỗi lo sợ hầu như đã chiếm hết tất
    cả những việc khác, tôi đã không chịu phần thua và quyết định hồi tưởng lại bằng
    tất cả những tế bào trong cơ thể mình. Bị kẹt cứng trong cái cốp xe hôi hám này,
    tôi hồi tưởng lại từng hình ảnh những lúc bên nhau, lắng nghe lại từng lời nói,
    sống lại từng sự vuốt ve, từng hơi thở, từng nụ hôn, để nỗi kinh hoàng qua một
    bên và chỉ nghĩ đến thời cơ thuận lợi này do định mệnh mang đến.
    Thật vậy, từ một năm nay, những cư dân thành phố Berlin phía Tây được phép
    đến thăm gia đình họ ở khu vực phía Đông vào dịp các lễ lạc cuối năm. Thế nên
    Rolf qua mừng lễ Giáng Sinh với ông bà ngoại của anh, và nhà họ thì gần nhà gia
    đình tôi. Nhờ vậy mà anh và tôi đã quên nhau, khi anh ở lại bên nhà họ. Anh ấy
    hai mươi tuổi, còn tôi thì mười tám. Chúng tôi biết ngay mối liên hệ này sẽ kéo dài
    suốt đời.
    Hai ngày trước, khi anh mới đến, Rolf đã kéo tôi ra riêng để nói rằng anh sẽ tranh
    thủ cơ hội do ý trời xếp đặt này để mang tôi đi xa, ra khỏi thành phố ngục tù của
    tôi.

  • Anh thấy ngày càng thật khổ sở, Anna ạ, anh không thể nào tiếp tục sống như
    thế nữa. Anh rất cần em. Ngay bây giờ.

Kế hoạch của anh ấy thật là hợp lý: anh ấy sẽ giấu tôi phía sau cốp xe Austin-
Healey, một chiếc xe dạng rất thấp mà anh vừa mới mua bên Áo và đã tháo kính che gió ra. Chúng tôi chỉ cần đi qua bên dưới rào chắn, trong khi mấy tên cảnh sát nhân dân Vopo*2/ thì bận lo kiểm tra giấy tờ như thường lệ. Rolf đã tính toán nhiều lần, tính đi tính lại, anh lại còn xì bớt hơi các bánh xe: như thế cái xe sẽ không vượt quá 90 cms bề cao. Anh chỉ cần cúi đầu xuống, nhấn mạnh vào cần
tăng tốc, thế là chúng tôi sẽ qua bên kia địa phận đất Mỹ! Một “bờ thành” nhỏ làm
bằng gạch sẽ bảo vệ tôi khỏi những lằn đạn có thể xảy ra. Và rồi sau đó là tự do…
Nếu như anh thất vọng khi thấy tôi có vẻ hoài nghi, người yêu của tôi không dễ
dàng bị thua. Anh lặp đi lặp lại phương án của anh trong từng chi tiết thật nhỏ
nhất, cho đến khi tôi chấp nhận thì mới ngừng.

  • Rồi gia đình của em thì sao nào? tôi cầu may anh sẽ đổi ý chăng.
  • Em cứ tin anh đi, anh ấy trấn an tôi. Cái bức tường ấy rồi sẽ không trụ được lâu
    đâu!
    Sự việc đã được quyết định: ngày khởi hành sẽ là ngày kia.
    Dĩ nhiên là tôi hôm trước đó tôi không hề chợp mắt được.
    Kế hoạch quá dễ dàng ấy đáng lý ra phải kích thích sự ngờ vực của tôi chứ. Đằng
    này là không! Tôi dẹp bỏ nghi ngờ và sự lo âu của mình, và lao tới trước. Cũng
    giống như chiếc xe mui trần yêng hùng đang vụt nhanh trên con đường lát đá này,
    rồi bao nhiêu lần xe bị lắc mạnh kêu vang trong cái thân chao đảo của tôi là bấy
    nhiều lần nhắc nhở cảnh cáo: ” Thật là điên rồ! “, “Các bạn sẽ bị chúng hạ sát
    mất thôi!”
    Từ gần mười lăm phút, chiếc xe đang tiến tới một cách kiên quyết đến Điểm Kiểm
    Tra Charlie. Hiện giờ có lẽ chúng tôi đang cách chỗ ấy khoảng chừng vài trăm
    thước, tôi cảm nhận được điều đó khi thấy Rolf hãm bớt vận tốc lại, như thể anh
    cố tập trung toàn bộ sức lực trước cuộc xung phong cuối cùng. Rồi chiếc Austin
    lại chạy với vận tốc bình thường, trước khi ngừng hẳn.
    Thế là xong. Chúng tôi đang ở đây, ở chỗ này, và không còn cách nào để trở lui
    được nữa.
    Từ chỗ đang ẩn nấp, tôi nghe tiếng vù vù của động cơ bị nghẹt và tiếng những
    người đàn ông đang nói. Giọng họ vang âm cao, như truyền lệnh. Mỗi giây trôi
    qua đối với tôi như vô tận. Tại sao chúng tôi không đi tiếp được vậy cà?
    ĐỨNG LẠI!

Bỗng dưng nỗi sợ hãi biến mất, chỉ còn sự sững sờ hoảng loạn, và toàn thân tôi
dấy lên sự đau nhói đang tăng mạnh. Đầu tôi va vào những viên gạch và tôi bị bất
tỉnh nhân sự.
Khi tôi tỉnh lại, tôi đang nằm ở lề đường, bên ngoài không khí thoáng mát. Trên
mình tôi là chiếc áo choàng bằng dạ thô đen Rolf đã cởi ra và đắp cho tôi, còn
anh thì đang nắm tay tôi, đôi mắt đẫm lệ, trong khi nhiều người đàn ông mặc quân
phục bao quanh chúng tôi. Ôi, thì ra đây là thiên đường ư? Đúng rồi, tạm gọi như
thế: chúng tôi đã sang bên kia bức tường. Bình yên vô sự. Anh ấy đã thành công.

Việc trốn thoát của chúng tôi đã khiến nhiều người bàn tán. Mẹ tôi thì nói đến
chuyện ấy trong vô số thư mà bà gởi cho tôi, nhiều tháng sau đó. Còn các con
của tôi thì sau này chúng được biết rằng khi đã đến đất Mỹ rồi *3/, cuối cùng,
ngay khi Rolf thắng xe lại, trên mặt đường còn in dấu bánh xe kéo dài cả hơn sáu
thước!

Emsie – Bài ghi lại từ một câu chuyện thật- tháilan dịch-
GHI CHÚ

*1/- Eden: vườn địa đàng-
*2/- Volkspolizei : Cảnh sát nhân dân, Đông Đức (1945-1990) – Cảnh sát viên có
biệt danh là Vopo.
*3/-Theo Wiki: Checkpoint Charlie
Điểm Kiểm Soát Charlie là một trong những cửa khẩu bắt buộc của Berlin , vào
thời chiến tranh lạnh, để vượt bức tường chia thủ đó của Đức quốc, giữa Đông và
Tây Đức. Điểm checkpoint này nằm trên đường Friedrichstraße (= đường
Frédéric ), giữa quận Mitte ( lĩnh vực Xô viết ) và Kreuzberg ( lĩnh vực của Mỹ)-
Có lẽ vậy nên phần cuối bài nói đến đất Mỹ.

====================




(Hồi ký) NỮ-SĨ VI KHUÊ – ĐẠI-TÁ NGUYỄN HỮU DUỆ – LÊ XUÂN NHUẬN

NỮ-SĨ VI KHUÊ

TRỤ-SỞ Ðài Phát-Thanh Huế tọa-lạc ngay trên bờ Hữu-Ngạn của Sông Hương, cạnh mé Tây của đầu Cầu Trường-Tiền, đối-diện Đại-Khách-Sạn Morin bên kia Đường Lê-Lợi sát góc Đường Duy-Tân.

Thuở ấy, chưa có các Ðài cấp Tỉnh, Ðài Huế là Tiếng Nói chung của cả Miền Trung, nên máy phát rất mạnh, không thua Ðài Quốc-Gia và Ðài Pháp-Á (Radio France-Asie) của Pháp ở Sài-Gòn, nghe được cả ở Miền Bắc lẫn Miền Nam Việt-Nam.

Cả nước chưa có hệ-thống truyền-hình; cả Miền Trung chỉ có vài ba tờ nhật-báo ở Huế mà thời-sự thì dựa theo tin-tức đọc chậm của Ðài Sài-Gòn. Trong tình-hình đó, Ðài Huế là món ăn tinh-thần hằng ngày của đồng-bào Miền Trung, và của cả những người ở phiá ngoài Tỉnh Thanh-Hoá và ở phiá trong Tỉnh Bình-Thuận mà có gốc-gác hoặc liên-hệ đời sống ở Miền Trung.

Ngoài những tiếng hát của các nam+nữ ca-sĩ mà một số về sau vào Sài-Gòn thì trở thành danh-ca của toàn-dân, giọng bình và ngâm thơ của các thi+kịch-sĩ tên-tuổi một thời, tiếng hát của các danh-ca quốc-tế trong các chương-trình nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, và giọng đọc xì-xồ của mấy người Pháp trong chương-trình vô-tuyến của Service d’Information, những ai đã từng nghe Ðài Huế cũng đều xác-nhận rằng người nữ-xướng-ngôn chính của Ðài này có một giọng đọc truyền-cảm vô-cùng. Giọng đọc của người con gái Huế ấy chẳng những dịu-dàng, ngọt-ngào, ấm-cúng, hấp-dẫn, mà còn trí-thức, vì không bao giờ vấp phạm lỗi-lầm khiến thính-giả khó chịu hoặc làm sai lạc ý-nghiã của câu văn.

Những người hiếu-kỳ đi ngang qua Ðài Huế thường để ý thấy có một thiếu-nữ be-bé xinh-xinh, cư-ngụ trong một căn phòng khiêm-tốn ở tầng trên của một buồng-kho bên hông trụ-sở Ðài. Một cầu thang nhiều bậc xi-măng từ mặt đất bắc lên cửa phòng làm cho căn phòng có vẻ cao hơn, khiến các thanh-niên ái-mộ đặt cho người-đẹp và căn phòng ấy cái mỹ-danh “nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu”.  

Ðó chính là cô xướng-ngôn nói trên.

Sau ngày hồi-cư vào đầu năm 1947, tôi thường đến Ðài Huế để góp phần vào các chương-trình kịch vô-tuyến hằng tuần, kể cả việc trình-bày một số kịch thơ dã-sử và xã-hội của tôi, trong đó nhạc-sĩ Trịnh Văn Ngân là một trong những cây ngâm tuyệt-vời.

Do đó, tôi quen biết “nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu”. Tên nàng là Trần Trinh Thuận, tức nữ-sĩ Vi Khuê, một biên-tập-viên chính-ngạch có giọng nói trời cho nên kiêm luôn phần-vụ xướng-ngôn.

Tuy Vi-Khuê làm việc ở một cơ-quan thông-tin tuyên-truyền đậm màu chính-trị, nhưng những bài thơ của nàng hồi đó chỉ là tâm-tình của bạn gái ở lứa tuổi hai mươi, dễ thương như “con nai vàng ngơ-ngác, đạp trên lá vàng khô”.

*

Tôi thì lăn xả vào giữa tình-hình rối-ren cuả Quê Hương.

Dù đã từng bị giặc Pháp tù đày, tôi vẫn giao-du tuy không đồng-ý với Hồng Quang, chủ-nhiệm báo “Ý Dân”, là người chỉ chọn vũ-lực để chống chủ-nghiã thực-dân; và vẫn cộng-tác tuy không thuận-tình với Phạm Bá Nguyên, chủ-nhiệm báo “Công Lý,” là kẻ nhận Ðệ-Tứ thay cho Ðệ-Tam. Tôi lui+tới với Duy Sinh nhưng chưa yên tâm vì huyền-thoại văn-hoá điệp-báo của Nguyễn Bách Khoa. Tôi rất đau lòng vì đồng-bào đói khổ, nhưng chỉ hiệu-chính giùm thi-pháp chứ không tán-thành nội-dung khích-động giai-cấp đấu-tranh trong thi-tập “Tiếng Nói của Dân Nghèo” cuả Vân Sơn PMT (Phan Mỹ Trúc). Tôi thân+thương Trụ Vũ và Quách Thoại nhưng không hợp tính với họ vì lối sống phóng-túng của hai nghệ-sĩ thân-nhân ấy của Vi Khuê. Tôi tiếp-xúc với tác-giả nhưng không khép mình trong triết-thuyết bi-quan trong “Con Thuyền Không Bến” cuả Nguyễn Vũ Ban. Tôi thả hồn lên cõi siêu-nhiên nhưng không bước vào nương nhờ Cửa Thiền trong “Không Bến Hạn” cuả Huyền Không.

Tôi ủng-hộ cả hai đường-lối phục-hồi độc-lập quốc-gia: công-nghiệp kháng-chiến vũ-trang chân-chính của người dân, và nỗ-lực ngoại-vận ôn-hoà của các chính-trị-gia không-cộng-sản trong lòng Thế-Giới Tự-Do.

Riêng ở phiá bên này lằn ranh, tôi nhận thấy Cựu-Hoàng Bảo Ðại thì quá yếu mềm mà Đế-Quốc Pháp thì còn luyến tiếc giấc mơ đô-hộ Việt Nam, nên viết cuốn truyện dã-sử “Trai Thời Loạn” để gửi gắm ý mình, và kết-quả là tôi bị cơ-quan An-Ninh Quốc-Gia bắt giam; sau nhờ có chính-khách Cao Văn Chiểu, Giám-Đốc Thông-Tin Lê Tảo, cùng nhiều nhân-sĩ khác, can-thiệp với Thủ-Hiến Phan Văn Giáo, tôi mới được thả ra.

Ðể tạo một thế đứng vững-vàng hơn, tôi thành-lập Thi+Văn Ðoàn “Xây-Dựng”, xuất-bản các tác-phẩm của mình và của các bạn từ Bắc chí Nam. Mới bắt đầu thì Nhất Hiên (Phan Nhật Hiến) bỏ theo Việt Minh, và nửa chừng thì Như Trị (Bùi Chánh Thời) cũng nhảy lên chiến-khu.

Tôi hướng về nền dân-chủ và lòng hào-hiệp cuả Hoa Kỳ như tia sáng ở cuối đường hầm.

*

Tháng 4 năm 1954, tôi vào phục-vụ tại Phòng 5 Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu với tư-cách văn-nghệ-sĩ & ký-giả bị/được động-viên chuyên-môn. Lê Ðình Thạch và Huy Vân thì kỳ-cựu, Tô Kiều Ngân gốc Nha Thông-Tin cũng đã thành quân-nhân. Tchya (Ðái Ðức Tuấn) và Nhất Lang thì được đồng-hoá sĩ-quan.

Ngoài việc viết bài cho báo “Tiếng Kèn”, cho các đơn-vị Võ-Trang Tuyên-Truyền ở tuyến đầu, và cho chính tôi đi vận-động trong dân-nhân, tôi còn là phóng-viên chiến-tranh và biên-tập-viên chính cuả Ðài “Tiếng Nói Quân Ðội” tại Miền Trung.

Do chương-trình phát-thanh này, mà tôi là giám-đốc, tôi mới đặt phòng-giấy ngay tại trụ-sở của Ðài Phát-Thanh Huế, và gặp mặt Vi Khuê thường-xuyên.

Thay chỗ nhạc-sĩ Anh Chương, tôi cử Lâm Tuyền làm Trưởng Ban Tân-Nhạc; nhưng rồi tôi làm lơ cho Lâm Tuyền đào-ngũ vì anh quá chán chuyện đời.

Tôi đưa Văn Giảng lên thay.

Hà Thanh mới bắt đầu vào nghề.

Những lần xe Jeep bị hư, tôi đạp xe-đạp qua chở Kim Tước từ cư-xá Nha Thông-Tin ở bên kia cầu Trường Tiền. Cặp Châu-Kỳ−Mộc-Lan của giới ca-nhạc, cũng như cặp Hoàng-Pha−Phương-Khanh của giới văn+thơ, cũng đã từng ở đây.

*

Rồi Thoả-Ước Geneva ra đời.

Trong hội-nghị quốc-tế ấy, có ba nhân-vật Việt-Nam đã được thế-giới chú ý hàng đầu: Cô Thiên-Hương, con gái của nhà văn Hồ Hữu Tường, là nữ ký-giả duy-nhất, nói được nhiều ngoại-ngữ và trẻ đẹp nhất trong giới truyền thông; Cụ Võ-Thành-Minh, một lão-thi-sĩ, từ Huế đến, đã bí-mật vượt hàng rào Cảnh-Sát Thụy-Sĩ vào cắm trại trên Bờ Hồ Leman trước hội-đường, tuyệt-thực thổi sáo nói lên nỗi lòng của người dân Việt-Nam mong-muốn Thống-Nhất và khao-khát Tự-Do; và Ông Nguyễn-Quốc-Ðịnh, Ngoại-Trưởng cầm đầu Phái-Ðoàn Quốc-Gia Việt-Nam của chính-phủ Bảo Ðại, đã từ-chức để khỏi ký tên vào văn-bản thừa-nhận việc đất nước bị qua-phân.

Thủ-Tướng Ngô Ðình Diệm cử Ông Trần-Văn-Ðỗ đến thay. Pháp và Việt-Minh thoả-thuận ngưng bắn, lấy vĩ-tuyến 17 ngang sông Bến Hai làm ranh-giới Bắc–Nam.

*

Ðại-Tá Trương Văn Xương, Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, thuộc cánh Tổng-Tham-Mưu-Trưởng là Trung-Tướng Nguyễn Văn Hinh (con của cựu Thủ-Tướng Nguyễn Văn Tâm, thân-Pháp), mở một chiến-dịch đưa quân từ Huế vào tiếp-thu các Tỉnh phiá trong. Theo chương-trình chính-thức thì Thủ-Tướng Diệm sẽ từ Sài-Gòn ra chủ-toạ lễ thiết-lập Chính-Quyền Quốc-Gia tại vùng đất mới lấy lại này. Theo kế-hoạch riêng của cặp Hinh+Xương thì Diệm, trên đường đi từ Huế vào Quảng-Ngãi, sẽ bị lính và dân dàn chào bằng tiếng hô “Đả Đảo” cùng với trứng thối và cà chua. Câu hỏi nổi bật là “Mười vé phi-cơ cho gia-đình họ Ngô, hay là mạng sống cuả cả trăm ngàn binh sĩ Quốc-Gia?” Các bức tường vẽ khẩu-hiệu đã được xây lên; và biểu-ngữ, bích-chương, cùng truyền-đơn liên-hệ đã được chuẩn-bị sẵn dọc đường rồi.

Phòng 5 Quân-Khu đương-nhiên đảm-trách công-tác tác-động tinh-thần này.

Thành-Phố Huế ngẫu-nhiên được chia thành hai trận-tuyến. Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu thì đóng trong Ðại-Nội, phiá Bắc của Sông Hương; nhà Ông Ngô-Ðình-Cẩn, trung-tâm quy-tụ cuả gia-đình họ Ngô, thì nằm trên Xóm Phú-Cam, phiá Nam của Sông Hương. Bộ-phận “Tiếng Nói Quân-Ðội” của tôi lại đặt trụ-sở tại Ðài Huế, trên bờ phiá Nam. Ðể biểu-dương lực-lượng, Quân-Khu phái đến hai chiếc xe-tăng, án-ngữ hai bên sân, trước Ðài Phát-Thanh. Các chương-trình vô-tuyến dân-chính chỉ có nội-dung lập-lờ, thông-tin hàng-hai.

Ở Quảng-Ngãi, cán-bộ Việt Minh gài lại xúi giục dân-chúng phản-kháng lực-lượng tiếp-thu, vì thấy vẫn có Cố-Vấn Pháp trong hàng-ngũ Quốc-Gia; súng nổ, người chết; Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát xen vào.

Ðảng Cần-Lao, qua nhạc-sĩ Ngọc Linh, móc nối tôi.

Tôi không theo đảng-phái nào hết, nhưng quyết-định ủng-hộ Thủ-Tướng Diệm, với chủ-trương “Ðả Thực, Bài Phong, Diệt Cộng”, để được sự giúp-đỡ cuả Hoa-Kỳ. Quốc-gia giàu mạnh nhất thế-giới này đã dìu-dắt Tây-Ðức, nâng-nhấc Nhật-Bản, và cứu-vớt Ðại-Hàn. Trung-Tá Nguyễn Văn Bông, Tư-Lệnh Mặt Trận Nam–Ngãi, đã phát-biểu với Trung-Tá Nguyễn Văn Tố, Phó Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, trong khi ổng lái xe ra đón Tố vào:

– Mình cộng-tác với thằng giàu thì hẳn sướng hơn phục-vụ cho thằng nghèo!

Tôi thảo truyền-đơn, tài-liệu, viết bài tuyên-truyền cho chí-sĩ họ Ngô.

Bộ Tham-Mưu của Xương không tin-tưởng ở tôi. Họ lập hẳn một Ðài Phát-Thanh riêng, trong Thành-Nội― dân-chúng gọi là “Đài bí-mật”để tự mình phổ-biến lập-trường chống-Diệm và hô-hào dân-chúng nổi lên.

Không còn bị Cấp Trên ràng buộc, tôi công-khai dùng “Tiếng Nói Quân Ðội” để hậu-thuẫn cho Diệm và Hoa-Kỳ.

Hồi ấy, chỉ có một số trong giới Nho-học lớn-tuổi nghe danh Ông Ngô-Ðình-Khả, còn đa-số dân-chúng nói chung thì ít ai biết tên Ông Ngô-Ðình-Diệm, ngoại-trừ một nhóm trong giới Kitô-Giáo có đọc tờ báo “Tinh Thần” thời-gian gần đó.

Chương-trình phát-thanh của tôi có ảnh-hưởng rất lớn trong quần-chúng, vì làn sóng của Ðài Huế phát đi rất mạnh và xa, trong lúc “Ðài bí-mật” thì nhỏ và yếu, chỉ lẩn-quẩn vùng gần, lại khi-có khi-không.

Tôi đã lèo-lái để người dân xứ Huế, nghe Đài “của tôi” và trông thấy hai chiếc xe-tăng trấn đóng trước Ðài mà tưởng và tin là phe mạnh nhất trong Quân-Lực đã đứng hẳn qua phía Diệm, nên biệt-phái chiến-xa đến cho tôi để bảo-vệ Tiếng Nói của mình, chống lại phe yếu thế Hinh–Xương.

Toàn-quốc, nhất là Sài-Gòn, hướng về xứ Huế, gốc-gác của họ Ngô, lấy đó làm chỉ-dấu mà lên tinh-thần.

Từ đó, các phần-tử thân-Diệm mới dám đứng ra khỏi vòng giới-hạn của mình mà hoạt-động rộng-rãi trước mắt mọi người.

*

Trong những tháng ngày gay-cấn ấy, cứ mỗi lần từ các cuộc hành-quân hoặc từ các hoạt-vực bên ngoài trở về với phòng-giấy tại Ðài, tôi lại cảm thấy nhẹ-nhõm cả người, khi gặp mặt lại những nữ-nghệ-sĩ trẻ đẹp tươi vui, như bướm, như hoa, tô thắm cuộc đời. Trong vườn thanh+sắc ấy, Vi Khuê của giới thi+văn vẫn gần-gũi với tôi hơn các bạn bên giới cầm+ca. Nhưng “nàng bồ-câu” vẫn vô-tư-lự như mọi ngày, đâu biết đầu-óc tôi đã bỏng-rát những tính-toán mưu-mô, thân-xác tôi đã bầm-dập những gian-nan nguy-khốn, và chỉ trở về văn-phòng để thư-giãn cho những căng-thẳng thần-kinh.

*

Thủ-Tướng Ngô Đình Diệm thắng phe Hinh+Xương.

Hoa-Kỳ mở Phòng Thông-Tin tại Đại-Khách-Sạn Morin. Giám-Ðốc Thompson A. Grunwald là viên-chức dân-sự Mỹ đầu tiên đặt chân đến Miền Trung. Tôi tổ-chức dạy tiếng Anh trên Ðài, có Tôn Thất Ðát phụ-lực; tham-gia thường xuyên là Thompson, và bất-thường là bất-cứ người ngoại-quốc nào nói tiếng Anh mà tôi gặp được, bắt đầu từ Đại-Tá Richardson, Trưởng Phái-Ðoàn quân-sự Hoa-Kỳ T.R.I.M.

Lớp dạy tiếng Anh của tôi là lớp đầu tiên trong lịch-sử dạy tiếng Anh qua làn sóng truyền-thanh cho thính-giả Việt-Nam.

Radio Hue.jpg

Nguyễn Cửu Tú (Phó Giám-Đốc Đài), Thompson và Nhuận

Ðại-Tá Nguyễn Quang Hoành lên thay Trương Văn Xương, rồi vì bất-đồng chính-kiến nên lại nhường chỗ cho Thiếu-Tướng Lê Văn Nghiêm.

Ðại-Úy Ngô Văn Hùng thay thế nhạc-sĩ Ngọc Linh, làm Trưởng Phòng 5. Văn Giảng ra đi, tôi cử Lê Trọng Nguyễn lên thay. Nguyễn vừa dịch tài-liệu vừa sáng-tác nhạc; bên cạnh giai-phẩm “Nắng Chiều” là “Hoan-Hô Lê Thiếu-Tướng” theo lệnh của Hùng  (bắt chước “Hoan Hô Ngô Thủ-Tướng”). Ðể giúp Tôn Thất Ðậu chọn nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, tôi liên-lạc với hàng chục Toà Ðại-Sứ ở Sài-Gòn, viết lời mở đầu về nền âm-nhạc của mỗi nước, và đặc-tính của mỗi bản nhạc, để giới-thiệu trước khi trình-bày. Giáo-Sư Lê Hữu Mục có đến chơi đàn; nữ-sĩ Như Thu đến góp bài; thi-sĩ Hồ Ðình Phương đến ngâm thơ. Trình-bày “Mục Thi-Ca” của tôi là Trần Anh Tuấn, Ðinh Lợi, Lan Hương, và Tâm Thanh (Tôn Nữ Kim Ninh).

*

Ở các Tỉnh Cao-Nguyên và miền núi Tỉnh Quảng-Ngãi, phong-trào đòi tự-trị của người Thượng nổi lên. 

Chính-Quyền Diệm gom các phần-tử chủ chốt “Thượng Tự-Trị” về tập-trung ở đầu Cầu Nam-Giao. Một Nha Chiến-Tranh Tâm-Lý được lập nên, đặt trụ-sở ở đầu Cầu Phú-Cam. Đại-Úy Hùng kiêm-nhiệm Nha này. Tôi cũng kiêm thêm một số phần-vụ ở cơ-quan này, nên dời bàn-giấy đến đây.

Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu dời tổng-hành-dinh qua Hữu-Ngạn sông Hương.

Nước Việt-Nam Cộng-Hoà, với sự hậu-thuẫn của Hiệp-Chủng Quốc Hoa-Kỳ,  được Thế-Giới Tự-Do nhìn-nhận.

*

Trong những năm trẻ-trung của Nền Ðệ-Nhất Cộng-Hòa ấy, Liên-Xô, Hoa-Cộng và Cộng-Sản Bắc-Việt, là những bên chủ-trương chia đôi đất nước Việt-Nam, chưa sẵn-sàng thực-hiện vũ-trang xâm-lược Miền Nam, mà Hoa-Kỳ thì viện-trợ tối-đa cả tinh-thần lẫn vật-chất cho con bài của mình và cái tiền-đồn mới lập này của họ ở Ðông Nam Á, nên tình-hình an-ninh khả-quan, chế-độ bắt đầu vững-vàng.

Thế là nhiều người liền tranh nhau mưu-quyền thủ-lợi riêng. Hầu hết chiến-công giữ nước, cũng như thành-tích dựng nước, được dùng để dâng lên Ngô Tổng-Thống, chỉ là những cử-chỉ qụy-lụy, những lời-lẽ tâng-bốc, những thái-độ tôn-thờ, dành cho toàn-thể gia-đình họ Ngô, được các tay chân thân-tín của Cụ xét thấy êm tai đẹp mắt nên tường-trình lên mà thôi.

Ông Ngô-Ðình-Khôi, bào-huynh của Diệm, từ-trần đâu cả chục năm trước kia, không ai biết đến; nay dời mộ-phần thì có cả tá cấp-cao chức-lớn gây lộn nhau để giành làm Trưởng Nam danh-dự hầu-cận bên quan-tài; nhiều năm về sau, hễ nhắc đến ông, nhiều kẻ còn khóc-lóc thảm-thương. Ông Ngô-Ðình-Luyện làm đại-sứ tận bên nước Anh, người dân không hề thấy mặt, thế mà khi nhắc đến ổng thì ai nấy đều vẽ-vời ra vô-vàn tài-cao đức-trọng, để ngợi-ca cho vừa lòng thế-gia. Huống chi các “Cố Vấn” hùng-cứ trong nước mà uy-quyền có khi lấn át cả ông anh. Dù không muốn nhập-cuộc, đa-số vẫn phải nhắc đi nhai lại, để được yên thân, những sáo-ngữ đã thành công-thức chót lưỡi đầu môi: “Nhờ ơn Ngô Tổng-Thống và các bào-huynh, bào-đệ cuả Người!” Thế là lắm kẻ được đặc-cách tiến-chức thăng-quan.

Trung-Tướng Thái Quang Hoàng thay thế Lê Văn Nghiêm.

Nhà văn Bùi Tuân trở thành Dân-Biểu, không còn viết thuê xã-luận cho Ðài của tôi, mà diện lễ-phục lái xe-hơi di diễu khắp phố-phường. Nhạc-sĩ Ngô Ganh không còn lập-dị, mặc bộ com-lê may bằng dạ chăn đi dưới nắng hè, bên trong là chiếc áo ngủ cổ kiềng mà mỗi lần đi đâu thì chỉ cần gài thêm vào đó một cái cổ áo trắng có đính sẵn ca-vát là khỏi phải tốn thêm nguyên cả chiếc áo sơ-mi; bây giờ ảnh làm Quản-Ðốc Ðài, kiêm Ðại-Diện Nhân-Dân Miền Trung, ngồi chung dãy ghế danh-dự với Ðại-Biểu Chính-Phủ, Tư-Lệnh Quân-Khu, v.v… trong những buổi lễ công-cộng trên khán-đài Phu Văn Lâu.

Trong lúc đó, tôi bị cơ quan An-Ninh Quân-Ðội thẩm-vấn tới, điều-tra lui. Họ vin vào cớ tôi đã là Trưởng Ðài Quân-Ðội từ khi còn Hinh+Xương.

Một hôm, Tổng-Thống Diệm ra Huế và ở lại đêm. Sáng sau, tôi nghe hàng-xóm kháo chuyện với nhau: “May mà bắt được, chứ không thì quân khủng-bố đã ám-hại Tổng Thống đêm qua rồi!” Ðến sở, tôi hỏi Đại-Úy Ngô Văn Hùng thực/hư thế nào; ổng liền gọi điện-thoại cho An-Ninh Quân-Đội, và cơ-quan này đến bắt tôi. Truy-cứu mới biết: chính-quyền sở-tại và thân-tộc có tổ-chức nhiều vòng đai an-ninh xung quanh nhà-thờ Phú Cam, nơi Diệm đến tiếp-xúc với giáo-dân; có một nhân-viên chìm, thuộc vòng-đai trong, vì đến trễ nên bị chận soát ở vòng-đai ngoài; thấy y có vũ-khí giấu trong người, đồng-bào tưởng lầm là Việt Minh. Chỉ có thế thôi, nhưng vì Diệm đã được thần-thánh-hoá, nên câu hỏi của tôi, dù là để phối-kiểm với mục-đích dùng Đài Quân-Đội mà trấn-an dư-luận đồng-bào, cũng đã bị xem là một sự xúc-phạm tày trời.

Ngày xưa, phần lớn văn-nghệ-sĩ đều phục-vụ trong ngành truyền-thông, nên tôi đã từng mong được chuyển nghề qua làm việc trong cơ-quan Thông Tin, để được quần-chúng độc-giả khán+thính-giả trọng-vọng hơn. Bây giờ đã ở trong ngành Tác Ðộng Tinh Thần, dù của Quân Lực nhưng cũng là thông-tin tuyên-truyền, tôi mới thấy mặt trái của tấm huy-chương.

Lần đó, nhà bác-học Bửu Hội, thân-thích của Cựu-Hoàng Bảo Đại, nhân dịp từ Pháp về thăm nhà, đến nói chuyện về y-học với đồng-bào Huế tại Rạp Chiếu Bóng Morin. Một số văn+thi-sĩ tùng-sự tại Nha Thông-Tin Trung-Phần đã nêu lên nhiều câu hỏi về thời-sự, mục-đích là để gài Hội phải phát-ngôn ủng-hộ Diệm, hoặc ngược lại thì có bằng-chứng để dễ ra tay. Mặc dù Hội đã nhấn mạnh rằng ông không về Việt Nam với mục-đích chính-trị, và xin miễn đề-cập đến các vấn-đề ngoài phạm-vi y-học, đồng-thời số đông trong cử-tọa cũng đã huýt gió phản-đối những câu hỏi lạc-đề, nhưng nhà văn Ðỗ Tấn vẫn trơ-tráo đứng dậy đặt thêm cho được vài câu hỏi nữa.

Bác-Sĩ Trần Văn Thọ, Tổng Giám-Ðốc Thông-Tin, mà còn tranh tài với Bác-Sĩ Trần Kim Tuyến, Giám-Ðốc Nha Nghiên-Cứu (tức cơ-quan Tình-Báo) thuộc Phủ Tổng-Thống; thảo nào mà nhà-văn này cũng không chịu lép vế các nhà-văn khác trong thành-tích bao vây những ai bị nghi là, bị cho là có thể đối-kháng chế-độ đương-quyền.

Một số nhà-thơ giành nhau chức-vụ lãnh-đạo ngành Thông-Tin, khởi đầu bằng địa-vị Chủ-Tịch Hội Văn-Nghệ-Sĩ & Ký-Giả Miền Trung.

Nhà-thơ Đỗ Tấn Xuân nhai lại cái bã Tố Hữu tán-tụng Staline, in hẳn cả một tập thơnhan đề “Mùa Hoa Sim Nở”trong đó có câu “Tiếng đầu lòng con gọi: Cụ Ngô!”

Họ sợ vướng tôi nên tìm cách loại tôi, lùng thu thi-tập “Ánh Trời Mai” của tôi, v.v…

Thế nhưng hầu hết các nam+nữ tân+cổ+nhạc thi+ca+kịch-sĩ cộng-tác với tôi thì chỉ thấy tôi là một nhà thơ trẻ trai, hiền-lành, hòa-đồng với họ trong từng bộ-môn, chứ không biết gì về những khó-khăn của tôi.

Họ cũng không quan-tâm gì đến mục-đích chính-trị của Ðài, mà lại đinh-ninh rằng trọng-tâm hoạt-động và lý-do cùng ý-nghĩa của sự hiện-diện của Ðài chỉ là phần diễn-ngâm ca-tấu giải-trí văn-nghệ mà họ cống-hiến cho số thính-giả gần xa ái-mộ họ mà thôi.

Vi Khuê thì trầm-lặng hơn họ và có một thế đứng riêng. Nàng không ca hát nhưng số khán+thính-giả địa-phương hằng ngày háo-hức đến xúm dán mũi vào cửa kính để xem tận mắt các nữ-danh-ca hát thật cũng như dượt bài, đều không bỏ lỡ cơ hội nhìn ngắm cô biên-tập-viên duyên-dáng của Ðài. Các người-đẹp trình-diễn thì chỉ xuất-hiện vào giờ có chương-trình liên-quan, còn Vi Khuê thì có mặt ở đó suốt ngày, để những lúc trở về Ðài tôi nhìn thấy nàng mà dịu-vợi ưu-tư…

*

Thế rồi tôi giã-từ quân-ngũ, rời khỏi Ðài, ra ngoài hoạt-động văn-nghệ nhiều hơn trong một môi-trường rộng-lớn và khoảng-khoát hơn.

Ngoài các nỗ-lực tích-cực trong Quân-Ðội và sau đó là trong ngành Cảnh-Sát Công-An, tôi còn hăng say dùng hoạt-động văn-nghệ riêng tư để góp phần xây-dựng và củng-cố chế-độ Ðệ-Nhất Cộng-Hoà, thí-dụ: viết báo, đi thuyết-trình trong Cảnh-Sát & Công-An và ngoài dân-chúng; sáng-tác và trình-diễn khắp nhiều Tỉnh vở kịch thơ “Gươm Chính-Nghiã” của tôi đề-cao Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm, kêu gọi sĩ-phu khắp nơi, đặc-biệt từ Miền Bắc, về với Chính-Nghiã Miền Nam; sáng-tác và xuất-bản tập thơ “Tuần Trăng Mật” vinh-danh tình yêu vợ+chồng, phù-hợp với nguồn cảm-hứng từ Luật Gia-Ðình của Bà Ngô-Ðình Nhu…

Tôi giữ Mục “Vườn Thơ” trên tuần-báo “Rạng Ðông” của Lê Hữu Mục, họp làm đặc-san với Tôn Thất Dương Tiềm, xuất-bản thơ của các bạn gần xa và của chính mình, kết-thân với các nhóm như Hồ Mộng Thiệp, Thanh Phượng, Anh Ðộ, Tô Như, Quốc Dân… ở Ðà-Nẵng; đồng nhóm Xây-Dựng là Xuân Huyền, Tường Vi, Huyền Chi, Hoài Minh, Bàng Bá Lân, v.v… ở Sài-Gòn. Trong đó, tôi giữ mục “Hội Thơ” (do Hồ Đình Phương trung-gian) trên tuần-báo Văn-Nghệ Tiền-Phong của Hồ Anh, và có nhạc-sĩ Lê Mộng Bảo giúp phần ấn-loát phát-hành sách và đặc-san.

Tôi tái-tổ-chức họp bạn hằng tuần; ngày xưa thì có Nhân Hậu, Vĩnh Thao, Hạnh Lang, Trúc Lang, Võ Ngọc Trác, Xuân Dưỡng, Giang Tuyền, Kiêm Minh, Lê Mộng Hoà, Nhân Nam, v.v…; bây giờ thì có Hoàng Hương Trang, Tuyết Lộc, Kim Lan, Nguyên Xuân Tứ, Hữu Ðỗ, Khang Lang, Hoài Tâm, Hương Thu, Xuân Nghị, Thanh Thuyền, Thế Viên, v.v…; có lần có cả Trần Minh Phú từ Hàng Me đến, Diên Nghị từ đơn-vị về, Hồ Ðình Phương từ Long-An ra…

Ðại-Hội Văn-Hoá Toàn-Quốc dưới thời Ðệ-Nhất Cộng-Hoà (khai-mạc ngày 11 tháng 1 năm 1957) đã đem lại cho tôi một phần thưởng tinh-thần: “Xây-Dựng” cuả tôi được nhìn-nhận là một cành của Cây Ða Văn-Hiến Việt-Nam.

Trong thời-gian đó, Vi Khuê lên xe hoa. Và đôi uyên-ương đưa nhau lên xây tổ ấm trên đồi núi Ðà-Lạt sương mù, bỏ lại “chuồng bồ câu” trống lạnh như nỗi thiếu vắng trong lòng của những ai ai…

*

Sau khi bản-thân tôi gặp nhiều khó-khăn vì không chịu cải-đạo; sau khi người ta giết chết cả hai vợ+chồng thầu-khoán Nguyễn Văn Yến; sau khi người ta dùng ngay phòng họp là nơi tôi hướng-dẫn học-tập “Ðạo-Ðức của Ngô Tổng-Thống” cho các cấp chỉ-huy Cảnh-Sát Huế trong các buổi học-tập Chính-Trị và Công-Dân Giáo-Dục hằng tuần, để làm nơi tra khảo và giết chết thầu-khoán Nguyễn Ðắc Phương rồi ném xác xuống sân tri-hô là Phương nhảy lầu tự tử; sau khi nhận được vô-số bài-vở của anh+chị+em Cảnh-Sát Công-An gửi về tôi để xin đăng lên tờ nội-san “Phục Vụ” do tôi chủ-biên, nội-dung tố-cáo nhiều, quá nhiều, hành-động tham-lam, tàn-bạo, kể cả giết người, dựa quyền cuả ông Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn; v.v…

Do đó, tôi đã liều-lĩnh công-khai nêu lên một số khuyết-điểm của chế-độ họ Ngô, trong một buổi học-tập tại cơ-quan vào ngày Lễ Hai Bà Trưng (3-3-1960).

Biến-cố này đã gây chấn-động cả Miền Trung.

Kết-qủa là tôi bị quản-thúc điều-tra ba tháng, gây tranh-cãi giữa hai ông Cố-Vấn Cẩn và Nhu…

Rồi tôi bị đày lên Cao Nguyên “vùng nước độc và nguy-hiểm” với bụi đỏ mù trời.

Đời sống chính-trị tạo thi-hứng cho tôi sáng-tác và đăng báo rời-rạc các bài thơ mà sau Cách-Mạng 1-11-1963 mới được gom lại ấn-hành thành tập “Với Thượng-Ðế”, tập thơ thứ bảy cuả mình.

*

Qua đến Ðệ-Nhị Cộng-Hoà, tôi cũng lại gặp rắc-rối, vì tôi công-khai phản-đối những sai trái, nhất là chiều-hướng quân-phiệt trong chế-độ Nguyễn Văn Thiệu, bằng một  bức thư trần-tình gửi lên Cấp Trên**.

Sau cùng tôi được (hay bị?) đưa về lại Miền Trung để giải-quyết giùm (và tôi đã giải-quyết được) những khó-khăn nội-bộ tại vùng đất này mà trước đó Trung-Ương hầu như bó tay…

Giờ đây, tôi trở về Huế lại.

Ngồi trên ghế đá công-viên trước Ðài Phát-Thanh Huế, tôi nhắm mắt mường-tượng những gì đã xảy ra tại đây vào buổi tối 8-5-1963phản-ứng của giới Phật-Tử bị cấm treo cờ Phật-Giáo vào ngày lễ Phật, Phật-Giáo-Đồ tập-trung, chất nổ, người chết, sức mạnh quần-chúng…

Rồi lịch-sử đã sang trang…

Lắc đầu xua đi những ảnh-hình thế-sự, tôi thả hồn sống lại quãng đời thơ trẻ đã qua.

Những khuôn mặt cuả Huế một thời, mà tôi nhớ thêm: các nhà văn Bửu Kế, Phan Khoang…; các nhà thơ Phan Văn Dật, Nguyễn Anh, Tô Kiều Ngân…; nhà khảo-cứu Bửu Cầm; hoạ-sĩ Phi Hùng; nhà dựng kịch Lê Hữu Khải; các kịch-sĩ Vũ Ðức Duy, Vĩnh Phan, Minh Mão, Hà Nguyên Chi…; các nhạc-sĩ Nguyễn Hữu Ba, Lê Quang Nhạc, Ưng Lang, Hoàng Thi Thơ, Lê Tất Vịnh, Hoàng Nguyên…; các ca-sĩ Minh Trang, Thanh Nhạn, Tôn Thất Niệm, Ngọc Cẩm–Nguyễn Hữu Thiết, Bạch Yến, Thiện Nhân, Hương Việt, Diệu Hương…

Tôi không gặp lại Phương Như, Bằng Trình của Huế, Anh-Ðộ Ðỗ Cẩm Khê của Ðà-Nẵng, và mất liên-lạc với Huyền-Chi từ sau khi nàng lấy chồng. Trước đó, bóng người áo trắng Kiều-Ngọc đã vuột khỏi tầm tay tôi.

Nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ buổi hoàng-hôn ấy tôi lái xe Lambretta-2-bánh chở Trần Dạ Từ từ khách-sạn Khê-Ký lên Bến-Ngự để anh gặp Nhã Ca, và buổi sáng chủ-nhật kia Hy Văn Mộng đến nhà tôi chơi bị cháu nhỏ tè ướt cả quần khi anh bế nó lên hôn.

Có những bạn thân không còn, hoặc còn nhưng phai thân…

Nhưng Vi-Khuê thì vẫn còn là một người bạn thân. Cuả vợ+chồng chúng tôi.

Trong cuốn lưu-bút “Kỷ-Niệm Vàng” mà tôi giữ kỹ, bây giờ vẫn còn tờ giấy bạc “anh gánh dưa” một đồng mới toanh mà Vi-Khuê đã ký tặng mừng tuổi tôi vào dịp Tết năm nào.

Hình-ảnh ấy càng đậm nét khi nàng đưa Vân-Anh, cả hai phất-phơ tà áo màu qua cánh đồng An-Cựu vàng rực mùa lúa gie, đến thăm tôi vào thuở ban đầu, để rồi sau đó thì nàng làm chứng-nhân cho cuộc lễ thành-hôn của tôi với người bạn thân ấy của nàng.

*

Giờ đây Thành-Phố Huế đã bị giáng bậc xuống làm
Thị-Xã, tước mấtngoại-trừ về phần văn-hóa và lịch-sử cái địa-vị thủ-phủ của Miền Trung; hoa-khôi Ðồng Khánh ngày càng hiếm-hoi; Ðài Huế xuống cấp làm Ðài Tỉnh nhỏ; các xướng-ngôn-viên và ca-sĩ chỉ gợi tiếc những giọng oanh vàng và hương sắc ngày xưa…

Ðệ-Nhất Cộng-Hoà thế kia, Ðệ-Nhị Cộng-Hoà thế này. Mỗi chế-độ có những vấn-đề khác nhau, nhưng đều giống nhau ở vận nước chông-chênh.

Liệu những biến-thiên của cuộc đời sẽ còn đem lại những đổi thay nào khác nữa cho Đồng-Bào, cho Quê-Hương?

Huế vẫn còn đây, Ðài Huế vẫn còn đây, và tôi trở về ngồi đây.

Nhưng tôi không còn tìm thấy lại được, sau mỗi chặng đườngcũng vẫn gian-nan một mình chống-chọi với ma-quỷ còn sót lại trong thời buổi mớisự thanh-thản, dù trong chốc-lát, cho tâm-hồn mình, như những ngày nào xa xôi…

LÊ XUÂN NHUẬN 

=====================

ĐẠI-TÁ NGUYỄN HỮU DUỆ

TÔI đã phát-biểu với Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia, có cả Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương, cùng nghe, rằng nếu tôi còn đảm-trách an-ninh & phản-gián Vùng I ngày nào thì ngày đó tôi còn ngăn-chận được mọi cuộc biến-loạn, cho Vùng ấy, và, do đó, cho cả Miền Nam*.

Tôi nói như thế liền sau khi tôi đề-nghị bổ-nhiệm hai sĩ-quan tín-đồ Kitô-Giáo làm Tỉnh/Thị-Trưởng và Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh/Thị, là hai chức-vụ quan-trọng nhất trong chính-quyền tại Tỉnh Thừa-Thiên và Thị-Xã Huế. Như thế nghĩa là sau khi thay-đổi hai quan-chức ấy, mà nếu tình-hình ngoài đó vẫn còn bất-an, thì chính tôi mới là người có thể dẹp yên các mưu-đồ quấy rối nội-chính tại Huế và Thừa-Thiên.

Đề-nghị của tôi đã được Trung-Ương chuẩn-y ngay.

Thế rồi, mới dự lễ giao+nhận chức-vụ Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh/Thị giữa Thiếu-Tá Liên Thành và Trung-Tá Hoàng Thế Khanh ở Huế xong, tôi đã phải ra ngoài đó lại để chủ-toạ lễ giao+nhận chức-vụ Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh/Thị: Trương Công Đảm thay-thế Trương Công Ân.

*

Nhớ hôm Trung-Tá Hoàng Thế Khanh nhậm-chức, ngay sau buổi lễ tôi đã đi vào một số văn-phòng thuộc Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực cũng như thuộc Sở Đặc-Cảnh Tỉnh/Thị sở-tại, để quan-sát và nghe-ngóng tình-hình chung. Ngoại-trừ số đông lâu nay vốn có thiện-cảm với tôi, có một số ít viên-chức sắc-phục cũng như dân-phục mà qua ánh mắt của họ nhìn nhau trước, trong và sau khi họ nói chuyện với tôi, tôi cảm thấy rõ-ràng rằng, dù Ngành Công-Lực ở cố-đô có do cá-nhân hay phe-nhóm nào đứng đầu đi nữa, thì bây giờ, đối với thiểu-số ấy, tôi vẫn chỉ là một người khách lạ, một người dưng, đáng nghi, đáng phòng.

Trước kia, Liên Thành tưởng tôi ăn-ý với Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng I, là Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, vốn có khuynh-hướng Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng, để chống phe-phái Đại-Việt Cách-Mạng-Đảng mà trong đó anh cùng Trương Công Ân là đảng-viên cấp cao.

Giờ đây, cánh ấy lại tưởng tôi thoả-hiệp với lớp mới là những phần-tử cực-đoan của dư-Đảng Cần-Lao để chống phá Phật-Giáo.

Trong lúc đó, chính Hoàng Thế Khanh cũng lo đề-phòng tôi, vì tôi nguyên là nhân-vật đầu tiên công-khai đơn-độc chống chế-độ độc-tài nhà Ngô, bị mật-vụ triều Ngô gán cho là thành-viên quá-khích của Đảng Đại-Việt để phát-vãng tôi ra khỏi Miền Trung vào năm 1960…

Tôi thì xưa nay vẫn là một người độc-lập. Tôi coi nhẹ các cấp lãnh-đạo nhất-thời; tôi chỉ chú-trọng quảng-đại quần-chúng miên-viễn ngoài đời và đa-số công-chức & quân-nhân trung-chính trong Chính-Quyền mà thôi.

Tôi tách mình riêng ra khỏi các bộ-phận đón-tiếp và tháp-tùng, để tiện tiếp-xúc với một số cá-nhân bộc-trực, trong số này có Đại-Uý Trần Vĩnh Thuận tức “Thuận Xù”*. (*Xem “Ông Đồn Lợi”). Anh có một bộ tóc bù-xù nên bạn-bè đặt cho anh cái tên như trên.

Thuận là một trong số các bạn thân của tôi ngày xưa, nhất là giai-đoạn liền trước biến-cố 1960, là năm chúng tôi xa nhau. Bây giờ anh là Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực một Quận ngoại-ô trong Tỉnh Thừa-Thiên. 

Được tôi kéo ra để chuyện-trò riêng với nhau, câu nói đầu tiên của anh là trách-móc tôi:

– Tôi tưởng anh đã quên hết dĩ-vãng và bạn-bè!

Tôi chưa kịp nói gì thì Thuận đã nói tiếp, như để tăng phần khuấy-động tình-cảm trong lòng tôi:

– Anh Đặng Hữu Lợi đã chết, anh Trần Văn Cư đã mất, anh Phan Văn Trực đã qua đời, anh Lê Tấn Lực đã đi xa, anh Nguyễn Mầm đã thành phế-nhân, anh Nguyễn Duy Hát đã ra khỏi Ngành…

Những việc ấy, và cả nhiều việc khác nữa, tôi đã biết từ bao lâu rồi; nhưng khi nghe “Thuận Xù” nhắc lại tự-nhiên lòng tôi bỗng nhói đau như mới lần đầu tiên nhận được tin buồn về những người thân thương.

Chưa hết, “Thuận Xù” còn oái-oăm thò tay vào trong cổ áo tôi, nắn tìm xem tôi có mang một sợi dây chuyền nào không. Khi không thấy gì, anh mới ôm chầm lấy tôi mà hôn.

Ngày xưa, khi Ông Ngô-Đình Diệm mới về nước chấp-chánh, tôi là người đã ủng-hộ ông tận-tình, đơn-độc, liều-lĩnh ly-khai khỏi BTL Đệ-Nhị Quân-Khu, tức chống lại nhóm Hinh+Xương, dùng phương-tiện của Quân-Đội Quốc-Gia lúc ấy đang chống Diệm để phát-triển ảnh-hưởng ban sơ đang còn mong-manh của họ Ngô, mở đường cho thế-lực nền Đệ-Nhất Cộng-Hoà sớm vững mạnh bắt đầu từ Miền Trung.

Do đó, sau khi chính-quyền Diệm đã ổn-định, giới-chức hữu-trách trong Quân-Đội đã đề-nghị Trung-Ương ban thưởng “Quân-Công Bội-Tinh” cho tôi. Các sĩ-quan lãnh-đạo Ngành Chiến-Tranh Tâm-Lý tại Đệ-Nhị Quân-Khu, lúc đó toàn là những phần-tử thân-tín của Cố-Vấn Ngô Đình Cẩn, đã tặng tôi một sợi dây chuyền có treo một thập-tự-giá bằng vàng để làm kỷ-niệm khi quân-nhiệm của tôi đã mãn hạn-kỳ.

Thủa ấy, có nhiều công-chức và quân-nhân bỏ đạo của mình để theo Đạo Kitô. Số người cả trong lẫn ngoài chính-quyền tuy không phải là con chiên của Chúa mà cũng đeo thập-tự-giá dưới cổ thì khá đông. Không rõ do ai kể lại mà Thuận biết tôi cũng có một cái, nên anh cứ dòm chừng tôi, xem tôi có đeo hay không.

Ngày nay, “Thuận Xù” cố ý nhắc tôi nhớ lại cái vật trang-sức ấy, cái ý-nghĩa tượng-trưng của một phản-ứng người, trước một bối-cảnh đời.

Chỉ vừa mới thay-đổi cấp lãnh-đạo chính-viện Tỉnh có mấy hôm, và đến hôm nay thì mới thay-đổi cấp chỉ-huy Ngành An-Ninh (chưa động đến Ngành Phản-Gián) sở-quan, mà màu-sắc tín-ngưỡng của cá-nhân họ đã tác-động sâu-đậm lên tâm-lý của số đông viên-chức địa-phương như thế này sao?

Tôi cũng đã có linh-tính và ước-tính là sẽ có một cái gì đó xảy ra, nhưng tôi đã cắt đứt chiều-hướng xung-khắc của nhóm Linh-Mục Nguyễn Kim Bính ở Phú Cam đối với Chính-Quyền Tỉnh/Thị dưới thời Đại-Tá Tôn Thất Khiên rồi. Thế mà đường-lối đối-nghịch của họ lại nhắm sâu vào cả các chính-đảng và tôn-giáo khác, nhất là Phật-Giáo, mà tổ-chức quần-chúng là “Lực-Lượng Hoà-Hợp Hoà-Giải Dân-Tộc” thì cũng đang cùng đương-đầu với Chính-Quyền Trung-Ương.

Trong trường-hợp Đại-Việt Cách-Mạng-Đảng bất-hòa với Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng, chắc “Thuận Xù” không cần nhắc-nhở gì tôi. Chỉ có trường-hợp Kitô-Giáo chèn ép Phật-Giáo, mới khiến anh phải bày-tỏ thái-độ như thế với tôi.

Thế mới biết, làm một người trung-lập không phải là việc dễ. Hầu như mọi người, nhất là trong Chính-Quyền, trong các giáo-hội và trong các chính-đảng, đều đinh-ninh rằng, người nào cũng phải là đảng-viên của một đảng nào đó, tín-đồ của một đạo nào đó, hay ít nhất cũng là đồ-đệ của một nhân-vật nào đó. Điều tệ-hại nhất là khi người ấy không thuộc cùng một cánh với mình thì người ta coi người ấy như kẻ phản-động, như kẻ thù.

Đáng lẽ tôi nói cho “Thuận Xù” biết về lập-trường của tôi; nhưng tôi lại ngại là anh sẽ kể lại với người khác, và người khác ấy lại tưởng rằng tôi cốt thanh-minh để mong cầu một chút ân-huệ gì của họ chăng.

Năm 1954, nếu tôi vượt qua những thủ-tục thông-thường trong các cơ-quan quân-sự và hành-chánh, nhất là vượt qua lòng tự-trọng của chính mình, như lắm kẻ đã làm, đến kể công với Cố-Vấn Ngô Đình Cẩn, hoặc Cố-Vấn Ngô Đình Nhu, hoặc chính Thủ-Tướng Ngô Đình Diệm, thì chắc-chắn là tôi đã được ban cho nhiều đặc-quyền đặc-lợi rồi. Năm 1967, nếu tôi kể công với Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu rằng tôi đã bí-mật nhúng tay phá vỡ âm-mưu đảo-chính của Thiếu-Tướng Nguyễn Cao Kỳ để bảo-toàn kết-quả cuộc bầu-cử đem lại thắng-lợi cho ông ngồi vững trên ghế Nguyên-Thủ Quốc-Gia, thì cũng chắc-chắn là tôi đã được trọng-thưởng nhiều rồi.

Vì tự-trọng và tự-ái, tôi chấp-nhận im-lặng, chỉ mình tự biết lấy mình.

Và mình đã nghĩ đúng, nói phải, làm hay, là đủ rồi.

Tuy nhiên, về vấn-đề đối-nghịch giữa Kitô-Giáo với Phật-Giáo thì tôi phải nói, vì tôi là một chứng-nhân.

Xét chung thì chế-độ Ngô Đình Diệm đã tạo hoàn-cảnh cho một số tín-đồ Kitô-Giáo, và cả một số không phải là con chiên của Chúa, xúc-phạm đến các tôn-giáo khác, nhất là Phật-Giáo mà tổng-số tín-đồ lên đến trên chín mươi phần trăm dân-số, nên các lãnh-tụ Phật-Giáo phải đứng lên tranh-đấu đưa đến cuộc Cách-Mạng 1-11-1963.

Ngày xưa, dưới thời Pháp-thuộc, các quan cai-trị thực-dân Pháp và triều-đình Huế tay-sai đều nằm trong vòng ảnh-hưởng của các cha-cố thuộc Toà Thánh Vatican, nhưng việc lấn-át chỉ xảy ra trong một số lãnh-vực và nhắm vào một số đối-tượng nhất-định, chứ không chèn-ép tràn lan người dân nô-lệ Việt-Nam vốn đại-đa-số là đệ-tử Cửa Thiền.

Liền trước thời Diệm, khi đế-quốc Pháp trở lại với súng đạn viễn-chinh thì cụ Trần Văn Lý lên chấp-chánh ở Miền Trung. Dù là một nhân-sĩ Kitô-Giáo, được Pháp và giáo-hội hậu-thuẫn và nể-vì, nhưng cụ có ỷ vào chức quyền để rẻ-rúng người nào không cùng tín-ngưỡng với mình đâu.

Dù sao, nếu cho rằng mọi tín-đồ Đạo Kitô dưới thời Diệm đều muốn đè bẹp Đạo Phật thì cũng không hoàn-toàn đúng.

Năm 1960, tôi bị đày lên xứ Thượng và bị “mật theo-dõi hành-vi chính-trị”, nghĩa là tôi thuộc thành-phần “phản-loạn” (dưới chế-độ Diệm không có “đối-lập”). Trớ-trêu thay, tôi được Giám-Đốc Cảnh-Sát Công-An trên này cử làm Trưởng Ban Điều-Tra Đặc-Biệt của Nha, bất-chấp lệnh cấm của Tổng-Nha. Nhiệm-vụ và quyền-hạn của tôi là bắt giữ, thẩm-vấn và lập hồ-sơ truy-tố các vụ vi-phạm, cả hình-sự lẫn chính-trị, khắp các Tỉnh ở cựu-Hoàng-Triều Cương-Thổ này.

Tại thủ-phủ của Cao-Nguyên, tôi đã đối-diện với nhiều tín-đồ Kitô-Giáo, vừa là thanh-niên học-thức, vừa là chấp-sự thân-cận của các Cha Xứ ở các Địa-Điểm Dinh Điền và Khu Trù Mật nổi tiếng thịnh-vượng và an-ninh của đồng-bào Miền Bắc di-cư, như Châu Sơn, Kim Châu Phát, Khuê Ngọc Điền, v.v…

Về mặt chính-trị nội-bộ, các thành-viên Kitô-Giáo bị báo-cáo là có ngôn-ngữ và thái-độ chống-đối Chính-Quyền, mà tôi lần-lượt mời đến hỏi cung, đều mạnh-dạn vạch rõ sai-lầm của chế-độ Diệm trong vấn-đề tôn-giáo, và khẳng-định rằng họ phản-đối mọi âm-mưu và hành-động của những kẻ đàn-áp Phật-Giáo. Chính Linh-Mục Nguyễn Viết Khai, là cha đỡ-đầu của Diệm, mà cũng chống Diệm về vấn-đề này. Theo họ, Thánh-Kinh tức là Lời Chúa, có khuyến-khích con chiên mở rộng Hội Thánh, nhưng bằng rao-giảng chứ không phải bằng bạo-lực hay mồi-bả vật-chất của thế-gian.

Biên-Tập-Viên Nguyễn Hữu Liêm và Thẩm-Sát-Viên Nguyễn Giang, ngồi cùng phòng với tôi, vừa làm việc vừa liếc nhìn tôi mà cười. Mà buồn cười thật, chính tôi cũng tự cười mình: một viên-chức an-ninh bị chế-độ trừng-phạt vì chống-đối chế-độ mà lại nhân-danh chế-độ đứng ra bắt lỗi những phần-tử cũng chống-đối chế-độ như mình!

Không lâu trước ngày tôi bắt đầu điều-tra các đối-tượng này, ở Ban Mê Thuột đã xảy ra một cái chết gây sôi-nổi dư-luận gần xa. Nguyên dưới quyền của Biên-Tập-Viên Liêm có một Đội Biệt-Kích Công-An, chuyên đi lùng diệt Việt-Cộng tại khắp các tỉnh Cao-Nguyên. Một hôm, có một đội-viên tên Nguyễn Văn Nam, cùng với đồng-đội mới đi công-tác về, bị mót đại-tiện nên vừa từ trên xe nhảy xuống là đã vội-vàng chạy tuốt vào trong nhà tiêu. Vì gấp-rút và không có gì khác hơn nên anh đã dùng một mảnh giấy báo mà lau hậu-môn. Ngẫu-nhiên có một đội-viên khác, cũng vào cầu-tiêu, trông thấy mảnh giấy báo của Nam có in ảnh của Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, nên lưu-ý anh về việc này. Người bị bắt gặp quả-tang “phạm-thượng” đã rút súng tự bắn vào đầu chết ngay tại chỗAnh sợ bị đưa ra “phê-bình” trong các buổi “Học-Tập Chính-Trị và Công-Dân Giáo-Dục”, và sau đó là những hậu-quả khôn lường.

Một số trong các tín-đồ Kitô-Giáo nói trên, trong lúc khai-cung, đã đề-cập với tôi về vụ đó, và một người đã chất-vấn tôi:

– Dưới thời Nho-Giáo cực-thịnh, mọi người đều phải tôn-trọng ngay cả bất-cứ một mảnh giấy nào trên đó có Chữ Nho, vì Chữ Nho là biểu-tượng của Đạo Nho, của Đức Khổng-Tử. Tuy thế, nếu có kẻ dùng sách giấy có Chữ Nho, hình-ảnh Đức Khổng-Tử, mà lau hậu-môn, thì kẻ ấy chỉ bị quở mắng, hoặc bị đánh đòn, một lần rồi thôi, chứ có ai vì cái lỗi ấy mà bị hành-hạ tàn-nhẫn đến độ thà tự-tử chết còn hơn để bị bắt giam? Qua cái chết của anh ấy, cũng là đồng-nghiệp Công-An với các anh, các anh nghĩ sao về chế-độ này?

Các anh Liêm và Giang đã đồng-ý với tôi, dẹp bỏ biên-bản chấp-cung, để cho các phần-tử “Công-Giáo công-chính” ấy tự tay viết các lời khai theo ý họ, xong để họ ra về tự-do, rồi đệ-trình hồ-sơ lên Cấp Trên “để tuỳ-nghi thẩm-định” với cái đề-nghị đã trở thành công-thức là “tiếp-tục mật theo-dõi hành-vi chính-trị” của các đương-nhân.

Tôi nhấn mạnh với “Thuận Xù” điều đó, và nhắc thêm về biến-cố 1960: cùng bị đày ra khỏi Huế và các tỉnh thành lớn, lên miền lam-sơn chướng-khí một lần với tôi, còn có các anh Trần Văn Liệu và Trần Tòng; họ cũng là tín-đồ Kitô-Giáo, cũng là dân Phú-Cam, trung-tâm ảnh-hưởng của gia-đình họ Ngô. Trước đó, nhân-sĩ Trần Điền mà tôi quen thân hồi ông còn làm Giám-Đốc Nha Thông-Tin và hầu hết đồng-bào gần xa đều biết tiếng, là thủ-lãnh Hướng-Đạo Việt-Nam, là một nhà trí-thức Kitô-Giáo lừng danh, mà cũng chống-đối Diệm và bị Diệm kết án tử-hình…

Thế thì đâu có phải là đồng-bào Kitô-Giáo nào cũng dễ-dàng đồng-minh với Quỷ Satan?

Thế mà hiện nay vẫn còn có một số thuộc cả hai bên chưa chịu làm lành với nhau.

Ở Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia, người ta kháo chuyện với nhau về một chuyến đi thanh-tra Thừa-Thiên/Huế vừa rồi của Trung-Tá Trần Văn Hương.

Các cấp chỉ-huy ở đây bố-trí cho Hương ngủ ở khách-sạn, ăn ở nhà-hàng, và chi-tiêu linh-tinh gì đó. Khi anh về Trung-Ương rồi, Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực ngoài này, dưới thời Thiếu-Tá Liên Thành, liền gửi một xấp hoá-đơn vào Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia, nơi đã phái Hương đi công-tác, để xin thanh-toán tiền phòng, tiền ăn, v.v… cho Hương!

Ngoài việc Hương bị xem như đã có đòi-hỏi địa-phương cung-phụng này kia, các viên-chức khác từ đó về sau đều ngán Miền Trung, nếu phải ra Huế là lo giữ mình đủ điều.

Nguyên-do là Hương nguyên là Cảnh-Sát-Trưởng ở Huế, dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Hoà, và là tín-đồ Đạo Kitô.

Vấn-đề tôi đặt ra với anh+em, không phải chỉ là cá-nhân Trần Văn Hương thật ra là một người tương-đối không quá xấu, không đáng để bị chơi khăm cách đó, nhưng mà là đối với bất-cứ ai, dù trong quá-khứ đã làm việc gì không hay, mà sau đó tình-trạng đã được giải-quyết rồi, và trong hiện-tại họ là người mới, không phạm lỗi gì, thì mình không nên tiếp-tục oán thù vì chuyện đã qua.

Chúng ta ai nấy đều có rất nhiều bạn thân, kể cả thân-nhân, không cùng tôn-giáo với mình. Đừng để sự khác-biệt tín-ngưỡng xen vào làm sứt-mẻ mối gắn-bó trong đời sống giữa những con người với nhau.

*

Trong nội-bộ Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên, có hai Phòng quan-trọng, là Nghiên+Kế và Tác-Vụ; mà hai Chủ-Sự Phòng thì không hợp nhau vì tín-ngưỡng khác nhau.

Trước kia, tôi được cho biết là Trung-Uý Dương Đại Chung báo-cáo tình-hình chính-trị quốc-nội cho Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, ngay cả trước khi lập công-điện hay công-văn trình lên Cấp Trên. Đây là một vấn-đề phức-tạp và tế-nhị vô cùng. Đúng ra, trên nguyên-tắc thì công-chức và quân-nhân không được tham-gia hoạt-động cho một đảng-phái chính-trị nào; nhưng trên thực-tế thì, dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Hoà, Đảng Cần-Lao Nhân-Vị đã rập khuôn đảng cộng-sản mà đặt nền-móng bên trong các cơ-quan chính-quyền và đơn-vị quân-lực; và, dưới thời Đệ-Nhị Cộng-Hoà, Đảng Dân-Chủ tuy ra đời sau nhưng cũng đã lan tràn bên trong các công-sở và quân-doanh; cho nên không ai nhớ đến cái nguyên-tắc ấy nữa. Trong lúc đó, không có văn-bản nào cấm các tín-đồ tiết-lộ việc công và việc quân cho các vị “lãnh-đạo tinh-thần”. Có thể là người ta tin rằng việc ấy sẽ không xảy ra; hoặc có thể là người ta cố ý tránh né vì sợ làm mếch lòng các giáo-phái; mà cũng có thể là người ta mặc-nhiên chấp-nhận và cho phép việc làm này? Và, lẽ tất-nhiên, một khi các chính-trị-gia đã có tai+mắt trong các công-đường và binh-trại rồi, thì các tu-sĩ cũng chẳng chịu thua-kém gì ai. Cho nên tôi không trách phạt gì Chung, vì thật ra có một số viên-chức thuộc các giáo-hội khác, các chính-đảng khác, ở khắp nơi, sau này cũng có bắt chước hành-động như Chung, mặc dù không nhất-loạt và tích-cực bằng. Bù lại, lần nào ra Huế tôi cũng tiếp-xúc với anh, để xoá cho anh cái mặc-cảm bị lạc-lõng vì khác phe, và để tận-dụng trong anh cái tinh-thần phục-vụ vốn tiềm-tàng của mỗi người.

Tôi đã lập lại cái thế thăng-bằng trong quan-hệ đối-nhân, và thấy được kết-quả tốt. Ít nhất thì anh cũng đã góp phần gỡ bí chung, khi Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây trực-tiếp gọi máy hỏi tôi về cuộc mít-tinh đang diễn ra. Buổi sáng củ-mật ấy, Linh-Mục Nguyễn Kim Bính triệu-tập giáo-dân trước sân và xung quanh nhà thờ Phú-Cam, chuẩn-bị khí-thế cho một cuộc xuống-đường mới, dự-trù hùng-hậu và quyết-liệt hơn lần rồi.

Tôi đã ra Huế, có mặt tại chỗ, nhưng phải nhờ đến Chung, là người trong cuộc, mới biết đủ những gì khuất kín bên trong giáo-đường, vì các nhân-viên khác tín-ngưỡng khó lòng mà len-lỏi vào được trong cái tập-thể chọn-lọc và có cảnh-giác cao ấy, để chụp ảnh, ghi-âm, nhận-diện thành-phần cực-đoan, thu-thập hành-tung những kẻ khả-nghi, và định-vị cái đài vô-tuyến phát-thanh mà nhà thờ này được phép sử-dụng từ thời Đệ-Nhất Cộng-Hoàngày xưa là để giúp các tín-đồ già-yếu bệnh-tật, không đến giáo-đường nổi, cũng có thể ở nhà mà nghe giáo-lễ do đồng-đạo cử-hành; ngày nay là để phổ-biến đến khắp ngõ hẻm hang cùng những lời hô-hào chính-trị phát-động các cuộc mít-tinh, xuống đường chống chính-quyền.

Ngày nay, có Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ và Trung-Tá Hoàng Thế Khanh, Chung và các bạn của anh đương-nhiên thoả-thích hơn.

Ngược lại, Trung-Uý Dương Văn Sỏ, Trưởng Phòng Tác-Vụ, trước các cấp chỉ-huy đều mới, thì không khỏi giao-động tinh-thần, vì không ai đoán được chữ ngờ.

Thượng-Sĩ Lê Văn Y, một Trưởng Lưới Tình-Báo xuất-sắc của Đặc-Cảnh Quận Ba, Đà-Nẵng, mà vì Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực địa-phương không ưa nên đã phải đổi vùng. Thiếu-Uý Nguyễn Ba, một điệp-trưởng hữu-công của Tỉnh Thừa-Thiên, lại là người của Đảng Đại-Việt lúc đương-quyền, mà vì không được lòng các cấp chỉ-huy cùng Đảng nên cũng đã bị đẩy đi xa. Thiếu-Uý Trương Quang Thanh năng-động của Tỉnh Quảng-Nghĩa, phải sống xa quê vì tuy là đảng-viên Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng mà không cùng hệ-phái với các cấp chỉ-huy.

Huống gì gốc-gác của Trung-Uý Sỏ thì rõ-ràng xa-cách với thế-lực cầm quyền hiện giờ.

Do đó, tôi phải duy-trì chỗ đứng của Sỏ, vì đó vừa là tai+mắt vừa là tay+chân của Ngành, không thể để lọt vào người khác phe, khi mà vấn-đề phe-phái đã được chính Trung-Tá Hoàng Thế Khanh không ngần-ngại công-khai nêu lên với Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc và tôi.

Một mặt, tôi giao-tiếp với Sỏ nhiều hơn, để tỏ là đã có tôi đích-thân chăm-sóc khả-năng phục-vụ của anh; mặt khác, tôi đề-cao hai viên-chức khác, chủ ý là nếu phải thay-thế Sỏ thì hẳn là Khanh sẽ phải chấp-nhận một trong hai người này mà thôi. Tôi làm như thế là để vẫn giữ cái thế thăng-bằng trong nội-bộ cơ-quan; nếu không thì một mình Chánh Sở Đặc-Cảnh Trương Công Đảm bị kẹt ở giữa khó lòng mà hoàn-thành trách-vụ của mình.

*

Cũng như ở các Tỉnh khác, ngoài các viên-chức Đặc-Cảnh địa-phương, tôi đã có một số bạn-bè thân-tín, thuộc nhiều giới, ở Thị-Xã Huế và Tỉnh Thừa-Thiên.

Dù không phải là kẻ đa-nghi, song kinh-nghiệm bản-thân không cho phép tôi làm kẻ dễ tin. Thỉnh-thoảng tôi vẫn phải xét lại một vài vấn-đề, dù là bề ngoài không có gì bất-thường.

Tôi tin vào các cộng-sự-viên của mình; nhưng nếu chính các đương-nhân thật tình không nắm vững tình-hình hoặc bị đánh lừa, thì lẽ nào tôi chịu để cho mình cũng cùng bị thiếu-sót hay sai-lầm sao? Nhiều khi gặp phải những bài toán khó giải, tôi đã nhờ vào linh-tính, trực-giác hay “giác-quan thứ sáu”, nhất là thái-độ vô-tư của mình. Nhưng xác-thực nhất bao giờ cũng là tin-tức, tài-liệu, và sự hiểu-biết của các thân-tình-viên nói trên; nhờ họ, tôi đã nhiều lần biết được, và cả biết trước, những mưu-đồ ám-muội của một số nhân-vật này, phe-phái kia…

*

Sau cuộc họp báo của Ngành Đặc-Cảnh chúng tôi tố-cáo Tổng-Hội Sinh-Viên Huế và cả “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”, qua Linh-Mục Nguyễn Kim Bính tại Phú-Cam, đều đã bị Việt-Cộng xâm-nhập và lợi-dụng, thì tình-hình nội-an ở Huế, và cả toàn-quốc, đã lắng dịu đi rất nhiều.

Sinh-viên ở Huế trở lại sinh-hoạt bình-thường, chăm lo trau dồi kiến-thức văn-hóa, không còn bung xung hò hét ồn-ào như thời-gian qua.

Sinh-viên ở Sài-Gòn, mà cái Tổng-Hội trong đó vốn cũng đã bị Cảnh-Lực Quốc-Gia tố-cáo là bị cộng-sản giật dây, nay thêm sáng mắtchỉ trừ số ít phần-tử cơ-sở Việt-Cộng và thân-Cộng mà thôi.

Về phần “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”, thì Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, Cha Xứ Phú-Cam, đã bị khựng lại, nên ngưng xuống đường; và Linh-Mục Trần Hữu Thanh trong Nam thì cũng, do đó, ngưng các mưu-tính biểu-tình.

Như thế là chúng tôi đã thành-công trong việc ngăn-chận và dập tắt các nỗ-lực xúi-giục toàn-quốc đồng-loạt tuần-hành, gây xáo-trộn trật-tự công-cộng, làm mất an-ninh chung trong mọi giới dân-nhân, tạo hoàn-cảnh và cơ-hội cho kẻ địch lèo-lái mà biến thành xung-đột đẫm máu, kể cả cơ nguy bị đối-phương xâm-chiếm từng cơ-quan, đơn-vị, hay khu-vực ly-khai hay tự-trị ngay trong nội-địa lãnh-thổ Quốc-Gia, mà ảnh-hưởng dây chuyền có thể là mất hẳn cả Miền Nam.

(Tuy nhiên, về mặt tinh-thần, “Phong Trào Chống Tham Nhũng” vẫn còn cố-thủ, tiếp-tục và gia-tăng các nỗ-lực sách-động cũ, trong các nhà thờ, trong các họ đạo, và cả trong giới giáo-dân quân-nhân, thậm chí kêu gọi làm binh-biến, dùng bạo-lực lật đổ Tổng-Thống Thiệutức là tuy không mở cổng cho địch vào đồn, mà lại mở lòng, mở ý, sẵn-sàng đón mời “đồng-minh”, vì cùng là kẻ thù của tổng-thống Việt-Nam Cộng-Hòa!)

Mục-đích của nhóm tu-sĩ Kitô-Giáo quá-khích không phải chỉ là lật đổ Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu, mà là tái-lập một chế-độ kiểu Ngô Đình Diệm, nghĩa là dù cho sẽ không có một Tổng-Thống tín-đồ Đạo Chúa với một mạng lưới khủng-bố kiểu Đảng Cần-Laovì vào thời đó không có một nhân-vật nào có thể có đủ điều-kiện là một ứng-viên kiểu đó vào chức-vụ đóthì họ cũng sẽ tìm đủ mọi cách đưa vào Chính-Quyền những nhân-vật và những chính-sách hoàn-toàn do họ giật dây, mục-đích là đàn-áp các giáo-hội khác, để phát-triển Đạo Kitô.

Bây giờ, kế-hoạch thứ nhấttoàn-quốc xuống đường xáo trộn an-ninh, tạo sức ép lớn cả trong lẫn ngoài đủ để lật Thiệuvì tôi mà đã bất-thành, thì họ xoay qua kế-hoạch thứ hai.

Tôi đã cài-cấy tay-trong trong mọi tổ-chức, dù là chính-trị, kinh-tế, văn-hóa, xã-hội, kể cả tín-ngưỡng. Đặc-biệt trong vấn-đề này tôi càng theo sát ý-đồ và đường-lối của các mục-tiêu, bắt đầu từ Huế, từ xóm Phú-Cam mà ra.

Kế-hoạch thứ hai của họ là triệt-hạ dần các phần-tử nguyên là thành-viên hoặc có cảm-tình, hoặc bị nghi là liên-hệ gần+xa với phe “Phật-Tử Tranh-Đấu” vốn đã góp phần lật đổ Nền Đệ-Nhất Cộng-Hòa. Đối-tượng của họ nằm ở mọi nơi, dân cũng như quân, ở cả ba ngành lập-pháp, hành-pháp và tư-pháp trong Chính-Quyền Đệ-Nhị Cộng-Hòa.

Và họ bắt đầu ra tay.

Một hôm, không lâu trước ngày Thừa-Thiên triệt-thoái rồi Vùng I lui quân, một số đơn-vị Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa đi hành-quân trong hoạt-vực của Chi-Khu Phong-Điền, thuộc Tỉnh/Tiểu-Khu Thừa-Thiên, đã phá vỡ được một căn-cứ của Việt-Cộng, và tịch-thu được của chúng nhiều chiến-lợi-phẩm, trong đó có một số tài-liệu quan-trọng, kể cả một Nghị-Quyết của Đảng-Ủy Liên-Khu IV về Tỉnh Thừa-Thiên/Thị-Xã Huế. Nghị-Quyết này đề-cập đến tình-hình các mặt của Việt-Nam Cộng-Hòa tại Tỉnh liên-quan, nhiệm-vụ của chúng, và kế-hoạch cho một cuộc tấn-công mới, nhằm chiếm-giữ thành-phố Huế lâu dài hơn, rút kinh-nghiệm từ cuộc tổng-công-kích vào mùa xuân năm 1968Tết Mậu-Thân.

Nguồn (tài-liệu VC): https://thuathienhue.gov.vn/vi-vn/Thong-tin-du-dia-chi/tid/Tu-nam-1945-den-nam-1975/newsid/271876D3-36BE-4461-B109-206D14ED1596/cid/FFD5F879-74BC-4D55-AEB6-E0C0332427ACTrong đó có đoạn:{Ngày 10-2-1975: Quân ủy Trung ương xác định kế hoạch năm 1975 cho Trị – Thiên và nhấn mạnh phải “tích cực sáng tạo thời cơ và sẵn sàng chớp thời cơ tiến lên giành thắng lợi lớn, kể cả giải phóng Huế”}. 

Như đã nói trên, nhiều tu-sĩ Kitô-Giáo đã tổ-chức cho tín-đồ mà là nhân-viên an-ninh & tình-báo của các cơ-quan & đơn-vị khắp nơi báo-cáo tình-hình, tin-tức mới nhất cho các linh-mục, ngay cả trước khi thực-hiện công-điện công-văn trình lên Cấp Trên của mình. Kết-quả hành-quân lần này cũng không ra ngoài lệ thường.

Cho nên người ta đọc thấy đoạn kết của bản Nghị-Quyết Việt-Cộng ghi rõ: sau khi chiếm được Thành-Phố Huế, dứt điểm Tỉnh Thừa-Thiên, chúng sẽ dựng lên một chính-quyền mới, gồm toàn những “đồng-chí nằm vùng công-khai hợp-pháp” của chúng, đó là sáu Nghị-Viên đương-kim của guồng máy dân-cử sở-tại của Việt-Nam Cộng-Hòa, mà đứng đầu danh-sách là Ông Nguyễn-Khoa-Phẩm, Chủ-Tịch Hội-Đồng Tỉnh Thừa-Thiên, và Ông Nguyễn-Khắc-Thiệu, Chủ-Tịch Hội-Đồng Thị-Xã Huế, v.v…

Bộ Chỉ-Huy Tiểu-Khu Thừa-Thiên đã làm báo-cáo kèm với bản chụp sao các trang tài-liệu đánh máy của Đảng-Ủy Việt-Cộng nói trên, trình lên Bộ Tư-Lệnh Quân-Đoàn I và Quân-Khu I, Bộ Tổng-Tham-Mưu, v.v…

Chánh Sở Đặc-Cảnh Thừa-Thiên/Huế trình lên tôi, tôi trình lên Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, rồi Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia (kiêm Đặc-Ủy-Trưởng Trung-Ương Tình-Báo) trình lên Tổng-Thống.

Kết-quả trông thấy trước mắt là các ông Nguyễn Khoa Phẩm, Nguyễn Khắc Thiệu, cùng bốn nhân-vật dân-cử nói trên, sẽ bị giải-nhiệm tức-thời.

Giải-nhiệm các Nghị-Viên Hội-Đồng Tỉnh+Thị-Xã không phải là một việc khó.

Trước đây, có một số Nghị-Viên Hội-Đồng Tỉnh Quảng-Nghĩa đã hành-sử tư-cách dân-cử của mình, xin Bộ Chỉ-Huy Tiểu-Khu sở-tại cấp phương-tiện phi-cơ trực-thăng cho họ chở thực-phẩm, thuốc-men, và nông-cụ lâm-cụ lên các Quận miền núi để cấp-phát cho đồng-bào vùng đó đang gặp khó-khăn. Đa-số các vật-phẩm ấy đã lọt vào tay những kẻ buôn lậu và tiếp-tế cho Việt-Cộng, thay vì đến tay người dân khó-nghèo. Thiếu-tá Đặc-Cảnh Hồ Anh Triết đã điều-tra ra sự thật, và kết-quả là Trung-Ương đã giải-nhiệm các Nghị-Viên liên-can.

Nhưng trong trường-hợp trên, các Nghị-Viên ấy chỉ phạm tội buôn lậu, chỉ bị biện-pháp hành-chánh hoặc bị phạt tiền. Đằng này, theo tài-liệu kể trên, thì nhóm Nguyễn Khoa Phẩm rõ-ràng là tay-sai của Việt-Cộng nằm vùng, lâu nay đã hoạt-động cho địch đắc-lực đến độ được chúng tín-nhiệm chọn cử cầm đầu bộ máy chính-quyền mà chúng sẽ dựng lên nay mai. Với bằng-chứng đó, các đương-nhân sẽ không những chỉ bị giải-nhiệm, mà chắc-chắn là sẽ còn bị câu-lưu truy-tố về tội phá rối trị-an, ở tù, và có vết-tích xấu về mặt chính-trị trong hồ-sơ lý-lịch cá-nhân, mất hết mọi cơ-hội để ra tham-gia chính-sự dù ở bên dân-cử hay bên công-quyền.

*

Ngay sau khi tài-liệu Việt-Cộng nói trên được Tiểu-Khu và chính-quyền Tỉnh Thừa-Thiên và Thị-Xã Huế làm bản sao gửi đi các nơi, tôi được nguồn tin tín-cẩn báo riêng cho biết: đoạn kết trong bản Nghị-Quyết Việt-Cộng ấy là do một nhóm dư-đảng Cần-Lao quá-khích thông-đồng với nhau mà ngụy-tạo thêm.

Ông Nguyễn Khoa Phẩm, ông Nguyễn Khắc Thiệu, và tất cả các Nghị-Viên có tên trong đoạn kết của bản Nghị-Quyết Việt-Cộng ấy, đều là tín-đồ Phật-Giáo, có quan-hệ chặt-chẽ với Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất; họ đồng-thời cũng là đảng-viên quan-trọng của Đại-Việt Cách-Mạng-Đảng.

Đạo Phật và Đảng Đại-Việt, cùng các giáo-phái và chính-đảng khác, đã bị chế-độ Ngô Đình Diệm đàn-áp, và đã góp phần tích-cực vào việc lật đổ chế-độ ấy.

Hiện nay, Đại-Việt và Phật-Giáo đang ngăn-chận dư-đảng Cần-Lao, là một nhóm tín-đồ Kitô-Giáo và giáo-phái khác mà quyền-lợi vật-chất hoặc tinh-thần đã quá gắn-bó với chế-độ Diệm, không để cho họ tái-lập quyền sinh-sát để trả thù cho gia-đình họ Ngô.

Từ nhiều năm qua, hầu như mọi quyền hành-pháp và lập-quy tại Tỉnh Thừa-Thiên/Thị-Xã Huế đều nằm trong tay Đảng Đại-Việt, và hầu như lần bầu-cử nào các liên-danh Phật-Giáo cũng thắng phiếu vào Hội-Đồng Tỉnh và Thị-Xã địa-phương.

Bây giờ thì nhóm cựu Cần-Lao ấy, cái thiểu-số tác-yêu tác-quái đã là tác-nhân tác-hại cho chính cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm và các anh+em của ông phải mất mạng, và cho Đảng ấy phải tự xóa tên của mình, nhóm ấy đã lại nắm được vị-thế cầm đầu cả quyền hành-pháp lẫn ngành công-lực của toàn Tỉnh & Thị rồi.

Theo kế-hoạch thứ hai của các Linh-Mục Trần Hữu Thanh và Nguyễn Kim Bính, họ muốn gấp-rút thanh-toán các phần-tử đối-nghịch hiện còn cầm đầu cơ-quan dân-cử của Tỉnh+Thị nầy.

*

Đồng-thời với tin-tức mật riêng của tôi, đích-thân Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên/Thị-Xã Huế, Trương Công Đảm, trình-bày với tôi là thuộc-viên của anh bị giao-phó công-tác thực-hiện việc giả-mạo đoạn văn vu-khống các Nghị-Viên kia.

Anh là bạn thân của Trung-Tá Hoàng Thế Khanh, hiện là cấp chỉ-huy tại chỗ của anh; nhưng việc này là “một tệ-nạn rất nguy-hiểm, vì nó là mầm-mống gây thù-nghịch ngay trong hàng-ngũ của những người đang đứng chung cùng một chiến-tuyến”. Do đó, vì “trung-thực”, vì “chính-tâm”, anh đã chọn đặt chính-nghĩa lên trên tình-cảm hay quyền-lợi cá-nhân, nên anh liền báo-cáo Sự Thật lên tôi.

Tài-liệu ngụy-tạo của Nguyễn Hữu Duệ thì chỉ đi theo hệ-thống báo-cáo tình-hình, chứ không thông-qua kỹ-thuật kiểm-tra; vả lại vấn-đề Việt-Cộng chủ-trương tái-diễn biến-cố Tết Mậu-Thân ở Huế là điều hầu như mọi người đinh-ninh là chuyện đương-nhiên; nghĩa là các cấp nhận được báo-cáo đều đã tin chắc nội-dung là đúng 100%.

Tôi liền lấy bản chụp sao của Nghị-Quyết ấy ra xem lại, chú ý nhìn kỹ thì thấy, dù bằng mắt thường, quả thật đoạn cuối đã được đánh máy bằng một máy đánh chữ khác, khác hẳn với các trang trước và với đoạn trước cùng trang.

Tôi lặng người đi một lát, rồi nhắm mắt lại ôn lại lời dạy của Đức Phật Thích-Ca: “Oán-cừu nên cởi, không nên buộc!” Năm trăm năm sau, Đức Giê-Su cũng rao-giảng như trên: “Hãy hết sức mình sống hòa-thuận với mọi người… Đừng tự mình trả thù ai… Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện mà thắng điều ác!” (Romans 12:18,21). Tôi lại lật lui, đọc thêm trong sách Proverbs 10:12: “Tính ghen-ghét phát-sinh tranh-chấp; chỉ có lòng thương yêu mới lấp hết tội-khiên”. Trước hết, và trên tất cả là “Mười Điều Răn” đã có từ xưa, trong sách Exodus 20:16: “Các con không được làm chứng gian để hại người xung quanh!”…

Kể từ biến-cố 1-11-1963, đã mười hai năm trôi qua, Đệ-Nhất Cộng-Hòa không còn, mà một nhóm nhỏ phần-tử thân-Diệm còn rơi-rớt lại vẫn còn hiểm-độc như thế. Họ mới gặp dịp chó-ngáp-phải-ruồi ngóc đầu lên được một chút mà đã gian-manh bày mưu thâm, tính kế hiểm vu-oan giá-họa để hãm-hại người khác tín-ngưỡng ngay, huống gì khi cái chế-độ độc-tài độc-tôn bạo-ác ấy đang còn phủ trùm lên khắp quê-hương, mà họ lại nắm chính-quyền trong tay, thì họ đã tác-yêu tác-quái đến mức nào.

Nếu vụ ngụy-tạo tài-liệu Việt-Cộng ở Huế mà đạt kết-quả do họ mong muốn, rồi các nơi khác cũng sẽ noi theogiống như kế-hoạch biểu-tình, Huế mà làm xong là các nơi khác cũng sẽ làm theokhông cần Tỉnh-Trưởng, Tư-Lệnh Hành-Quân; chỉ cần bất-cứ một cá-nhân nào có thể báo-cáo tin-tức, chuyển trình tài-liệu, là đã có thể thêm-thắt theo ý của nhóm chủ-trương: hậu-quả sẽ như thế nào trên khắp vùng đất gọi là Miền Nam Tự-Do?

Tôi không là người của bất-cứ một chính-đảng hay giáo-hội nào; mà Trương Công Đảm thì cũng không nặng tình đậm nghĩa với ai đến độ mù-quáng lý-trí và thui-chột lương-tâm mà bao che cho lũ gian-manh. Huống gì anh đã thấy rõ là chúng sẽ còn lợi-dụng anh thêm trong nhiều âm-mưu tiếp theo.

Trong vụ giả-mạo tài-liệu này, điều bí-mật đã được báo-cáo lên tôi cũng rất có thể sẽ được tiết-lộ cho người khác biết, và hậu-quả tất-nhiên sẽ là một phản-ứng mạnh của giới Phật-Tử, với mối liên-kết có sẵn với nhiều tổ-chức khác, thí-dụ Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng và Đại-Việt Cách-Mạng-Đảng, mà ngoài Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc ra thì riêng Đại-Việt cũng đã là một chính-đảng có khối lượng đảng-viên đông nhất và mạnh nhất trên toàn cõi Việt-Nam Cộng-Hòa.

Việc làm bất-lương của vài ba con chiên ghẻ, làm chứng dối như thế, rất có thể sẽ châm ngòi cho một cuộc nội-chiến khốc-liệt giữa hai giới Phật-Tử và cựu Cần-Lao cực-đoan, sớm đẩy Việt-Nam Quốc-Gia đến bờ vực thẳm tương-tàn.

*

Hôm qua, tài-liệu bắt được của Việt-Cộng mà Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên/Thị-Xã Huế trình lên thì tôi đã giao cho Sở Nghiên+Kế Khu I làm Phiếu Chuyển đệ-trình lên Bộ Tư-Lệnh CSQG/Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương theo lệ thường rồi.

Nhưng hôm nay, về vấn-đề ngụy-tạo đoạn kết, có tầm quan-trọng lớn-lao đối với tình-hình an-ninh và nội-chính của Quốc-Gia, thì tôi đã tức-tốc vào báo-cáo riêng với Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng I, và tự tay đánh máy một Phiếu Trình mật, gửi riêng cho Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, bản sao gửi Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia, và cử đại-diện thân-tín mang thẳng đến văn-phòng của hai vị ấy ở Sài-Gòn.

Tôi cũng báo-cáo thẳng lên Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư-Lệnh QĐI&QKI, tức Đại-Biểu Chính-Phủ tại Vùng I, theo đúng tinh-thần của Sắc-Lệnh của Chính-Phủ đã quy-định cho trách-vụ của tôi.

Tất-nhiên tôi đã nêu tên nguồn tin và giải-thích rõ trường-hợp nhận tin, đặc-biệt là Trương Công Đảm, để giúp Cấp Trên kiểm-chứng dễ-dàng. Ngoài ra, tôi còn tuyệt-đối giữ kín vụ này tại địa-phương mình, để tránh náo-loạn trong khi chờ-đợi quyết-định của Trung-Ương.

Nguồn tin của tôi nói rõ rằng chính Đại-Tá Nguyễn Hũu Duệ, Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Trưởng Thị-Xã Huế, là nhân-vật chủ-chốt trong việc thi-hành thủ-đoạn này, việc mà, nếu ông mà từ-chốinhân-danh dân Chúa, làm theo lời Chúa hơn là lời Chathì hẳn chưa biết chờ đến bao giờ Linh-Mục Nguyễn Kim Bính mới kiếm ra cho được một con chiên ngoan đạo kiểu đó theo ý của mình.

Đại-tá Duệ mà lên làm Tỉnh-Trưởng ngoài đó là do đề-nghị đặc-biệt có tính-toán của tôi, chứ không phải là do “tài” hay “đức” gì của ổng.

Nhưng ổng đã để lộ ra “tài đức” thật-sự của ổng.

Ổng đã nuôi lòng trả thù từ ngót mười hai năm nay, đúng theo lời trối của cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm (“Tôi chết thì trả thù cho tôi!), lạm-dụng Trung-Tá Hoàng Thế Khanhtôi nghĩ là Khanh ở thế bị-động, vì Khanh bản-chất chính-trựchiện là Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh/Thị ở dưới quyền mình, hành-động theo kế-hoạch của nhóm “lãnh-đạo tinh-thần” cực-đoan của mìnhđứng đầu Miền Trung là Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, Cha Xứ Phú-Camtrong chương-trình chung là bứng-tỉa các nhân-sự mà họ cho là kẻ thù của phe Kitô-Giáo quá-khích và cựu-Cần-Lao ác-ôn, mà bước khởi đầu là ngụy-tạo đoạn kết vu-oan giá-họa tha-nhân trong bản Nghị-Quyết của Việt-Cộng nói trên.

Phóng-ảnh đoạn trích thư của Ô. Trương Công Đảm,

cựu Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế:

image.png

 Trương Công Đảm hiện ở Thành-Phố Denver, Colorado, USA.

*

        Sau Quốc-Biến 30-4-1975, ra Hải-Ngoại, cựu Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ xuất-bản cuốn hồi-kí “Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng-Thống Ngô Đình Diệm”, được mời đi nhiều nơi thuyết-trình về “ước mơ chưa đạt” của dòng họ Ngô Đình.

        Tôi gửi thư trực-tiếp hỏi vài điều để thấy trình-độ và khả-năng của đương-nhân “trả thù cho lãnh-tụ anh-minh”.

Phóng-ảnh thủ-bút của cựu Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ:

image.png

“Tôi đổi ra Huế năm 1973* làm Tỉnh Trưởng Thừa Thiên và Thị Trưởng Huế – Tôi không nhớ rõ ngày tháng chỉ nhớ là thời gian rất ngắn khi rút lui khỏi Huế*.

Ngoài ra tôi chưa hề phục vụ ở Huế bao giờ.

Xin kính chúc ông và gia quyến an khang.

Kính thư,

(Chữ ký)

Xin cáo lỗi vì già nên tay run khi viết thư.”

——-

*Làm Tỉnh/Thị-Trưởng Thừa-Thiên/Huế “năm 1973” rồi “rút lui khỏi Huế” vào tháng 3-1975 mà bảo [1973-75] là “thời-gian rất ngắn”!

Viết thư là có thì-giờ tra-cứu, chứ không phải là trả lời tức-thì trên máy điện-thoại, mà còn nhớ sai ngày làm Tỉnh-Trưởng (thực-sự là nhậm-chức vào tháng 11 năm 1974), thì làm sao mà viết nổi sách hồi-ký lịch-sử (cuốn “Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm”)?




Dân Sinh Media Sinh Hoạt Tháng 7-2024 (Bản thảo) – BÀI VIẾT: Đời Huấn Nhục – Giao Chỉ, San Jose.

Dân Sinh Media Sinh Hoạt Tháng 7-2024

Xin thông báo bà con

Dân Sinh Media sinh hoạt tháng 7-2024 lúc 1 giờ chiều ngày thứ bẩy 27 tháng 7-2024. Tại hội trường Santa Clara County. Chúng tôi chiếu cuốn phim trên nửa thế kỷ đợi chờ. Từ Sài Gòn đến Điện Biên Phủ. Vào cua tư do. Xin xem phim giới thiệu ở dưới. Vai chính tài tử Kiều Chinh có mặt. Ý Lan đại diện bố Lê Quỳnh. Phim của hãng Mỹ Vân do anh Phi Hà làm giám đốc hải ngoại. Phạm Phú Nam bảo trợ. Vo cưàCó mời các vị dân cử  thân hữu 40 năm hiện diện. Có 1 phút tưởng niệm cuộc di cư tháng 7-1954. Có giây phút Chúng ta không quên Phạm Phú Nam. Có 1 bài ca bất hủ Người ơi nước Nam của người Việt Nam. Vì đâu oán tranh để lòng nát tan. Đây Bến Hải là nơi ngăn cắt đôi tình. Đứng lên tìm chốn yên vui thanh bình.Người về đây sống vui đời thắm tươi. Miền tự do đắp xây cho muôn đời. Nhịp cầu mến thương gieo vương ngàn nơi. Xuân thanh bình rộn ràng muôn lòng trai

Về đây anh..

– Including poster và trailer: https://www.youtube.com/watch?v=f9ItPL0jULo

unnamed.jpg

unnamed-1.jpg

On Tue, Jul 9, 2024 at 8:21 AM IRCC <giaochi12@gmail.com> wrote:

Dân Sinh Media sinh hoạt tháng 7-2024 lúc 2 giờ chiều ngày thứ bẩy 27 tháng 7-2024. Tại hội trường County Trưởng ban tổ chức Phi Hà. MC Mỹ Linh. Minh Lê

Sau đây là các dự thảo do bác Lộc soạn. Sẽ còn nhiều chi tiết. Cháu Phi bổ túc. Soạn gấp thư mời sau khi ok….

1)Nhớ về cuộc di cư 1954. Lễ nghi khai mạc. Chào mừng quan khách Kiều Chinh.(Anh ngữ) Một bài ca đứt ruột. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền và Nhật Bằng viết bản Về Đây Anh với nét nhạc dịu , lời ca đằm thắm:

 Người ơi nước Nam của người Việt Nam. Vì đâu oán tranh để lòng nát tan. Đây Bến Hải là nơi ngăn cắt đôi tình. Đứng lên tìm chốn yên vui thanh bình.

Người về đây sống vui đời thắm tươi. Miền tự do đắp xây cho muôn đời. Nhịp cầu mến thương gieo vương ngàn nơi. Xuân thanh bình rộn ràng muôn lòng trai

Về đây anh.. Đồng Thảo.

3)40 năm tình nghĩa.(Anh Ngữ)Zoe Lofgren, Dave Cortese, Cindy Chaver,Peter McHugh. Mike Honda

4)Chúng tôi không quên anh : Phạm Phú Nam .Thái Hà, Mỹ linh, Ý Lan

5)Báo cáo chương trình hợp tác đại học San Francisco. Chi phí 40 ngàn, 200 tình nguyện viên tham dự. 6 tháng làm việc. Đi hỏi toàn thể đồng bào 100 câu hỏi về chuyện y tế và xã hội. Phi (anh ngu)Ms. Mai Phạm.

6)Cảm ơn

7)Chiếu phim. Từ Sài Gòn đến Điện biên Phủ. Kiều Chinh,……

 Tất cả các phần trên sẽ làm rất nghiêm trang nhưng vắn tắt và hấp dẫn trong 1 giờ. Chiếu phim 1h30

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393

=======================================

Nửa đời huấn nhục

Giao Chỉ, San Jose.

Đêm 29 tháng tư 1975 những con tàu của giang đoàn quân vận chúng tôi ra khơi theo Hải Quân. Tàu của Tiếp vận chỉ chạy ven biển không theo được chiến hạm. Radio loan tin đầu hàng, có tàu quay lại gánh nỗi đoạn trường với cả đời vào huấn nhục. Chúng tôi ra đi nếu đầu óc còn biết nghĩ đã mang theo nỗi nhục nhỏ. Riêng phần tôi đi vào con đường nửa đời chịu khóa huấn nhục. Vì nghênh ngang đứng giữa đường nên luôn luôn bị ném đá. Xin xem 2 bản tổng kết 35 năm công tác cộng đồng để biết rõ làm chuyện gì cũng bị chửi. Xin nhắc l ại trận tấn công kinh hoàng của anh em ta. Giữa mùa giông bão giáng sinh hàng trăm người bỗng nổi điên biểu tình chống cơ quan IRCC. Sáu nhân vật vô danh tuyên bố tuyệt thức cho đến chết. Lý do hết sức vô duyên là phản đối ông giám đốc chống các anh hùng dân tộc. Sau nhiều tháng làm cảnh sát mệt mỏi đòi chứng cớ đấu tranh. Biểu tình cho biết cứ tiếp tục s ẽ ra chứng cớ. Rồi chuyện cũng qua đi.  Nhân chứng xin lỗi, phát thanh đóng cửa v à tan hàng.                                               Qua thế kỷ 20 nhờ duyên Trời chúng tôi đã tìm thấy con đường thành lập Museum. Cá nhân tôi chuyển qua công tác xây đền để làm ông Từ giữ lửa. Duyên may kỳ lạ đã đưa Viet Museum vào khu lịch sử San Jose dù lịch sử của di dân Việt Nam chưa từng tham dự vào lịch sử thành phố điện tử vốn là đất nhà nông có mặt từ 300 năm trước  

Ngày nay, mình sống hết nửa đời người chắc chắn đã tốt nghiệp khóa 49 năm huấn nhục hải ngoại. Ông Từ trông nom đền thánh của các chiến binh tử sĩ và thuyền nhân bạc mệnh xin trình nội vụ để quý vị quan tâm. Xin xem các bản văn về lý do và con đường của Museum có hợp lý không. Có cần sửa chữa gì không. Dù quý vị ở góc bể chân trời xin quan tâm, xin thăm viếng, xin đóng góp tinh thần và vật chất. Một di vật trong tù, một tờ giấy ra trại, một tác phẩm và ghi danh hội viên. Nếu cư ngụ tại vùng San Jose xin ghi danh đến tình nguyện làm việc. Chúng tôi có tất cả mọi nhu cầu. Trong 20 năm qua cá nhân tôi có mặt mỗi ngày. Museum cần được nuôi dưỡng bằng sự quan tâm,bằng tình thương và bằng tấm lòng tưởng niệm. Viet Museum hiện là phòng tuyến duy nhất sẽ tồn tại chống chế độ cộng sản Việt Nam ngay khi kẻ viết và người đọc những dòng này không còn nữa. Hãy liên lạc với chúng tôi. Việt Museum cần quý vị. Xin xem những đoạn văn dài dòng sau đây và đáp ứng. Nếu gọi là đáp lời sông núi thì sông núi có chúng tôi đây. Đặc biệt tại V Museum đã có chỗ dành cho ông Từ khi nằm xuống. Còn h ình ảnh xin qu ý vị vào Google t ìm Viet Museum San Jose. Image sẽ thấy rất nhiều.

 Trân trọng.

Bản công bố 3 đoạn này sẽ được nhật tu và sẽ phổ biến ngày 10 tháng 8-2024 ghi dấu kỷ niệm ngày người Việt ty nạn chính thức thành lập IRCC. 

 Tuyên Ngôn Bảo Tàng

1)      Viet Museum tức Viện Bảo tàng Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa do Cơ Quan định cư IRCC thành lập năm 1990 tại văn phòng dường Park San Jose. Chính thức tiếp nhận phương tiện nhà Victorira tọa lạc trong San Jose History Kelley Park năm 2004

2)      Dân tộc Việt Nam xây dựng đất nước ngàn năm tại Đông Nam Á ven biển Thái Bình Dương. Trải qua 3 lần Bắc Thuộc và 80 năm Pháp quốc đô hộ nhưng vẫn kiên quyết một lòng đoàn kết bảo vệ quê hương

3)      Ngay sau đệ nhị thế chiến 1945 thế giới hòa bình thì Việt Nam rơi vào hoàn cảnh chiến tranh Quốc Cộng kéo dài đến hiệp định Geneve 1954 với 1 triệu dân di cư từ Bắc Vào Nam.

4)      Cuộc chiến Nam Bắc tiếp tục. Cộng sản Nga và Tàu yểm trợ miền Bắc tấn công miền Nam do Mỹ yểm trợ. Hiệp định Paris 1973, Hoa Kỳ rút quân và năm 1975 miền Nam thất thủ

5)      Từ 1975 đến 2020 trải qua gần nửa thế kỷ người Việt bỏ nước ra đi trên 2 triệu người

6)      Viet Museum hình thành để ghi lại tất cả mọi di sản, chứng tích của chiến tranh và công cuộc xây dựng hòa bình suốt chiều dài của lịch sử từ để nhị thế chiến cho đến nay

7)      Đặc biệt ghi lại thành quả định cư của người Việt trên quê hương mới và không quên hoàn cảnh của dân Việt dưới sự cai trị cộng sản trong suốt 45 năm qua.

8)      Mọi biến chuyện của lịch sử ghi nhận tại Việt Museum phải hoàn toàn xác thực và công bình dành cho thế hệ tương lai tham khảo.

9)      Việt Museum cũng là nơi ghi nhận tất cả nỗi niềm đau thương mà người dân 2 miền phải trải qua từ 1945 đến 1975 và đặc biệt trong thời hậu chiến với 300 ngàn thuyền nhân tử nạn trên đường tìm tự do và toàn dân sống trong đất nước ngục tù cộng sản.

Lịch sử hình thành                   và sứ mạng Việt Museum

Lấy tro tàn lịch sử, ta xây dựng Bảo Tàng.                                                            Đem quá khứ huy hoàng, gửi tương lai vĩnh cửu.    

A-LỊCH SỬ: Viện Bảo tàng Thuyền nhân và Việt Nam Cộng hòa với tên gọi là Việt Museum do cơ quan IRCC thành lập năm 1990 tại văn phòng đường Park, San Jose nhằm bảo tồn,và triển lãm thường trực các di sản lịch sử tài liệu về thuyền nhân và VNCH. Di sản gồm có hình ảnh, tác phẩm điêu khắc, họa phẩm, di tích, hiện vật và sách báo lịch sử dưới mọi hình thức. Đây là một bảo tàng nhân văn ghi nhận các di tích lịch sử của các thành phần quốc gia Việt Nam chống cộng sản kể từ năm 1945 qua cuộc di cư 1954 tiếp đến cuộc di tản ty nạn từ 1975. Sau cùng là công cuộc định cư và xây dựng cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ. Năm 2004 Viet Museum có cơ hội tiếp nhận ngôi nhà bỏ hoang  Greenawalt House rất cũ, tọa lạc tại Công viên lịch sử San Jose. Từ khu triển lãm tạm thời trên đường Park, Việt Museum dọn vào San Jose History Park đã chính thức trở thành viện bảo tàng đầu tiên và duy nhất trên thế giới của di dân Việt Nam. Cơ quan IRCC đã gây quỹ sửa chữa toàn diện ngôi nhà Victoria và khu vực chung quanh. Việt Museum đã trở thành một bảo tàng của toàn khu lịch sử San Jose với hàng ngàn khách thăm viếng mỗi năm. Điều quan trọng của bảo tàng không phải chỉ sưu tầm mà phải sáng tạo tác phẩm. Bảo tàng không phải là văn khố.

B-TỔ CHỨC IRCC: Viet Museum tuy đóng vai trò quan trọng nhưng không phải là một cơ quan thiện nguyện độc lập. Tổ chức thiện nguyện Immigrand Resettlement and Cultural Center (IRCC) với thành tích nửa thế kỷ công tác di dân do ông Vũ văn Lộc làm giám đốc đã thành lập Viet Museum. IRCC là fiscal agent chính thức quản trị Việt Museum. Mặt khác IRCC ngoài công tác chính là di dân và xã hội cũng thành lập Dân Sinh Media do ông Phạm Phú Nam làm giám đốc đóng góp 30 năm tại San Jose và yểm trợ truyền thông cho Việt Museum. Cơ quan IRCC đã hiện diện v à đóng góp nửa thế kỷ xây dựng cộng đồng vịnh Cựu Kim Sơn. L ịch sử IRCC đã góp phần vào giai đoạn tài liệu định cư và hội nhập.                                                                  C-MỤC TIÊU BẢO TÀNG: Việt Museum là bảo tàng Nhân văn thành lập với mục đích ghi nhận các di sản và chứng tích lịch sử sau đây:                                                                                                       (1)Chiến tranh Việt Nam. 1950-1954. Hiệp định Geneve. Cuộc di cư 54. Chiến tranh 1962-1993. Hiệp định Paris và cuộc chiến sau cùng 1993-1995                                                                                                                               (2) Lịch sử tìm Tự Do. Di t ản, thuyền nh ân, ODP, HO,Con Lai và đoàn tụ.                                                                        (3) Định cư và Hội nhập. Nửa thế kỷ xây dựng cộng đồng. Dân sinh, văn hóa, chính trị.                                                                                   4) Căn cước tỵ nạn: Tuyệt đối chống chủ nghĩa cộng sản. Di sản bảo tàng là quốc k ỳ và qu ốc ca VNCH. Tưởng niệm và tôn thờ quân dân chính đã hy sinh vì Tự Do.                                                                                                (5)Không quên quê hương. Nhân quyền cho Việt Nam. Quê hương bỏ lại. Đất nước mang theo. Yêu nước không phải là yêu xã hội chủ nghĩa. Chống Cộng không phải là chống cả quê huơng. .  

  Biết tỏ cùng ai

Trong lãnh vực sáng tạo IRCC /Museum/ Dân Sinh đã phổ biến hàng ngàn bài tham luận Giao Chỉ liên quan đến Mục tiêu bảo tàng. Hai tác phẩm quan trọng xin phác họa sẽ ấn hành hàng năm. Lịch bảo tàng song ngữ, song văn hóa, song lịch sử. Tạp chí song  ngữ thường niên Nhân Văn Giai Phẩm hải ngoại. Lịch sử Chiến tranh Việt Nam song ngữ bằng hình ảnh. Trong lãnh vực hội nhập IRCC sẽ phát hành các tuyển tập song ngữ. Người Việt tại Santa Clara County, tại San Jose, v v

Tác giả Giao Chỉ Vũ văn Lộc 91 tuổi đã giãi bầy tất cả. Xin toàn thể bằng hữu và độc giả xa gần thông cảm và yểm trợ. Bạn thân cũng đi gần hết, kẻ thù hận vô duyên cũng chẳng còn ai. Xin nói chuyện sau cùng. Trong chiến tranh Việt Nam, giặc từ Bắc vào Nam như quân Rợ hung nô vào cung điện xứ văn minh. Nhà nào cũng chiếm, trại nào cũng đóng. Lính tầu bay lấy trại Không quân. Ngành y tế vào lấy nhà thương. Chỉ có một nơi đơn vị mai táng công sản không vào chiếm Nghĩa Trang quân đội Biên Hòa. Ngày nay dù hoang phế nhưng được gia đình và chiến hữu quan tâm nên sẽ còn tồn tại muôn đời.  Tại hải ngoại chúng ta có Việt Museum. Việt bảo tàng duy nhất trên thế giới có hàng ngàn trẻ em Mỹ thăm viếng hàng năm.  Chúng ta đến với nhau qua bao nhiêu lần sinh hoạt. Rất quan trọng, rất cần thiết nhưng rồi cũng phải qua đi. Từng thế hệ sẽ qua đi. Việt Museum sẽ ở lại. Museum của những người đã chết cho chúng ta sống. Trên đất công Hoa Kỳ được gọi là khu lịch sử San Jose. Có hàng rào chung quanh. Không có chuyện tiền nhà tiền điện tiền nước. Ranger canh gác ngày đêm. Ngày Việt Museum khánh thành các tác phẩm sáng tác và sưu tầm để ngoài sân nắng. Bên trong trống trơn. Không cần lễ nghi khai mạc. Không có diễn văn. Hơn 10 ông bà dân cử quan trọng từ thị trưởng đến giám sát đều có mặt. Hơn 30 năm ân tình quen biết không phải nhẹ. Ông Giao Chỉ yêu cầu các quan khách danh dự mỗi người vác một tác phẩm bê vào tòa nhà. Rồi ăn một bánh bao. Chấm hết. Từ ngày đó Việt Museum trở thành tiền đồn quốc gia VNCH duy nhất trên đất công sản Hoa Kỳ. Một bên thờ quân dân chính hy sinh, một bên thờ thuyền nhân mệnh bạc. Lời sau cùng. Xin đọc lại bản công bố kể trên và góp ý góp tình góp di sản góp mặt với chúng tôi ngay tại ngôi đền thánh chết vì tự do. giaochi12@gmail .com

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393

=========




Nhìn Thấy Một Tương Lai Việt Nam Rực Rỡ




MINH THÚY THÀNH NỘI – Khánh Thành Tượng Đài Việt Mỹ 

Khánh Thành Tượng Đài Việt Mỹ 

*

Thứ Bảy mừng vui ngày đại lễ 

Khánh thành tượng lính Bắc Cali 

Công lao người Việt từ lâu đã

Tranh đấu cùng nhau thỏa mãn kỳ 

*

Nhớ bạn đồng minh đà chiến đấu 

Hy sinh tham chiến chốn sa trường

Thân nhân người Mỹ buồn đau xé 

Cám cảnh mẹ già thật quý thương 

*

Anh lính miền Nam vì chính nghĩa 

Bao nhiêu thương phế nhuốm điêu tàn 

Bùi ngùi cảm xúc nhìn pho tượng 

Chiến sĩ can trường chịu khổ mang 

*

Tạc tượng ơn sâu tình bạn hữu 

Lưu danh đôi bạn đẹp vô ngần 

Bên nhau sát cánh vì non nước 

Đứng giữa mây trời chí khí dâng

*

Đại lễ khánh thành mang biểu tưởng 

Mừng vui hãnh diện mãn công trình 

Biết ơn những tấm lòng chung hợp 

Đẹp tượng muôn người đến đón nghinh

         Minh Thúy Thành Nội 
            Tháng 7/13/2024

IMG_1663.jpeg
IMG_1672.jpeg
IMG_1763.jpeg
IMG_1768.jpeg
IMG_1777.jpeg
IMG_1801.jpeg
IMG_1827.jpeg
IMG_1800.jpeg
IMG_1893.jpeg
IMG_1899.jpeg
IMG_1907.jpeg
IMG_1839.jpeg

IMG_1806.jpegIMG_1834.jpegIMG_1886.jpegIMG_1936.jpegIMG_1946.jpegIMG_1950.jpeg

Sent from my iPhone




SƯƠNG LAM Chuyển Tiếp: Youtube “Lời Phật Dạy”

Kính chuyển tiếp Youtube “Lời Phật Dạy” do anh Tiến TS thực hiện.🙏 Youtube ngắn gọn, rất hay để tu tập các hạnh lành.🙏 Anh Tiến là người bạn văn nghệ có tâm lành và hay giúp đỡ bạn hữu. 👍SL có thiện duyên được quen biết anh Tiến TS☺️🙏 Kính Chúc  anh Tiến TS  và quý bạn hữu sức khỏe và an lạc.

Sương Lam




THƠ CAO MỴ NHÂN: LỜI NGỢI CA HIỀN HOÀ

LỜI NGỢI CA HIỀN HOÀ .    CAO MỴ NHÂN

Nữ sĩ Tuệ Nga cười vui

Thương Cao Mỵ Nhân ngậm ngùi 

Toàn làm thơ tình ảo mộng

Từ bao nhiêu năm nay rồi

*

Chị với em trong Quỳnh Dao

Hơn nửa thế kỷ nao nao

Sáu mươi tư xuân ngà ngọc

Hai không hai bốn đẹp sao

*

Chúng mình không ở cạnh nhau

Chị là con Phật đã lâu

Còn em ta bà mộ đạo

Thượng Đế cao vời xưa sau

*

Chị hiền như bà Quan Âm

Chan hoà  chân như thiện tâm

Em nặng lòng tin Đức Mẹ

Thủa này tới mãi xa xăm

*

Thời nào mình cũng yêu thơ

Những lời tình ảo mộng mơ

Đưa em tới gần cảm luỵ

Chị ơi, bát ngát mong chờ …

*

Hawthorne  13 – 7 – 2024

         CAO MỴ NHÂN




SINH-VIÊN HOÀNG KIM KHÁNH

            Hoàng Kim Khánh là sinh-viên trường đại-học Luật-Khoa thuộc Viện Đại-Học Huế.  Anh-ta là phần-tử có lý-lịch tốt: không có quyến-thuộc là cộng-sản mà chỉ có thân-nhân tham-gia chính-quyền Quốc-Gia; bản-thân anh-ta cũng chưa hề làm gì về phương-diện chính-trị cũng như hình-sự đáng để cơ-quan an-ninh lưu-tâm.  Thế mà bây giờ anh-ta bị Ngành Đặc-Cảnh điều-tra.

            Trong thực-tế, không có vấn-đề Chính-Quyền dò xét hành-tung của sinh-viên, ngoại-trừ trường-hợp cá-nhân nào có hành-vi bất-hợp-pháp, tỷ như trộm cướp, buôn bán cần-sa ma-túy, trốn quân-nhiệm, v.v…  và, lẽ tất-nhiên, dính-líu tới tổ-chức hay hoạt-động của giặc thù.  Khánh thuộc loại sau cùng.

            Thành-phố Huế, cố-đô của Việt-Nam, và thủ-phủ của Miền Trung, sau bao nhiêu biến-cố và biến-thiên, vẫn còn sôi-sục những chống-đối, tranh-chấp, vì bất-mãn, tị-hiềm; và cộng-sản bao giờ cũng là kẻ thừa nước đục thả câu.

            Tổng-Hội Sinh-Viên Huế liên-tiếp qua chục năm nay làm cái công việc gọi là “tranh-đấu chống chính-quyền”, trong một hoàn-cảnh thuận-lợi vô cùng.  Chính-quyền gọi họ là tương-lai của dân-tộc, là rường-cột của quốc-gia.  Họ là những người tự-hào có học, ít nhất thì cũng cao hơn trung-học; nếu vào quân-ngũ thì cầm chắc cấp-bậc sĩ-quan trong tay; và khi học xong thì họ sẽ là trí-thức, một giới được mọi người kính-trọng nể-vì.  Họ được gia-đình nuôi ăn, có người được hưởng học-bổng, để tiếp-tục học-hành.  Và họ sử-dụng trường-ốc cùng các tiện-nghi có sẵn trong trụ-sở Viện Đại-Học của chính-quyền để chống lại chính-quyền.

            Viện Đại-Học Huế, hay nói đúng hơn là Tổng-Hội Sinh-Viên Huế, một tổ-chức mà chính-quyền cần có nhưng không kiểm-soát được, đã đào-tạo ra một số “lãnh-tụ sinh-viên tranh-đấu” được một số đông sinh-viên bầu vào các Ban Đại-Diện của tập-thể mình, và được hầu hết báo-chí, phương-tiện truyền-thông nằm trong tay tư-nhân hậu-thuẫn hết mình.

            Lâu nay họ chỉ hội họp, hội-thảo, lập kiến-nghị, đưa yêu-sách, chống đối điều này, đòi-hỏi điều kia; cao lắm là treo biểu-ngữ, dán bích-chương trước cổng trường và trên đường phố, chiếm-cứ giảng-đường làm nơi cố-thủ, họp báo, tuyệt-thực, tố-cáo tham-nhũng, phản đối bắt-bớ, tẩy-chay Chương-Trình Huấn-Luyện Quân-Sự Học-Đường, kêu gọi thả tù chính-trị, hô-hào chấm dứt chiến-tranh, v.v…  Sau Hiệp-Định Paris, một số “lãnh-tụ sinh-viên Huế” tương-đối có tên-tuổi đã rời môi-trường đại-học, vì lý-do này hay lý-do kia; số còn lại tuy vẫn có thể nuôi-dưỡng phong-trào, nhưng dân-chúng và ngay cả đa-số sinh-viên bạn cũng đã ý-thức được vấn-đề bị cộng-sản lồng người vào, giật dây, hoặc lợi-dụng, nhất là sau vụ Huỳnh Tấn Mẫm của Tổng-Hội Sinh-Viên Saigon bị Đặc-Cảnh trưng-dẫn bằng-chứng tố-cáo y là cơ-sở hoạt-động cho Việt-Cộng, nên các “lãnh-tụ” tay sai của địch tự cảm thấy bị hạn-chế cả trong phạm-vi địa-bàn sách-động lẫn trong nội-dung các đề-tài nêu lên.  Họ bèn tìm cách để thoát ra khỏi ngõ bí; và khi có một sáng-kiến tuy bên trong ấn-giấu âm-mưu xảo-quyệt nhưng bên ngoài lộ vẻ chính-đáng vô-tư thì hầu như số đông liền chấp-nhận dễ-dàng.

            Chỉ là một sự trùng-hợp ngẫu-nhiên, song “vụ sinh-viên Hoàng Kim Khánh” xảy ra vào thời-gian tôi mới đến Vùng I, từ cuối 1973, đã có ý-nghĩa như là một thách-đố đối với riêng tôi.

            Một chiến-dịch rỉ tai đã được tung ra rằng tập-thể sinh-viên nên chọn bầu một cá-nhân không có thân-nhân dù gần dù xa là người ở phía cộng-sản, làm người đại-diện cho mình, để phía Quốc-Gia không có lý-do mà nghi-ngờ là dễ bị cộng-sản móc-nối hoặc thiên về bên kia.  Khánh được nhiều sinh-viên đã có thành-tích “tranh-đấu” của Khoa mình cũng như các Khoa khác nhiệt-liệt ủng-hộ.  Do đó, khi Khánh được giới-thiệu ứng-cử vào vai trò Chủ-Tịch Ban Đại-Diện trường Luật thì anh-ta chiếm được đa-số tuyệt-đối phiếu của Khoa mình.  Liên-tiếp nhiều lần hội-họp trong nội-bộ Khoa cũng như trong hội-đồng Tổng-Hội, Khánh phát-biểu mạnh-dạn, được các sinh-viên có tiếng-nói ảnh-hưởng gợi ý là anh-ta xứng-đáng được đắc-cử, trong nhiệm-kỳ sắp tới, vào cương-vị Chủ-Tịch Tổng-Hội bao trùm mọi Khoa.

            Đùng một cái, Khánh mất tích.  Cứ theo những quyết-nghị, kiến-nghị, kháng-thư, biểu-ngữ, bích-chương, truyền-đơn, bài đăng báo, lời tuyên-bố, v.v… của Tổng-Hội Sinh-Viên Huế, liên-tiếp họp bất-thường nhiều ngày, nhiều đêm, thì chắc-chắn là anh-ta đã bị cơ-quan an-ninh tình-báo của Việt-Nam Cộng-Hòa bắt cóc.  Vì thế, chủ-đề tranh-đấu là yêu-cầu Chính-Quyền trả tự-do ngay cho Hoàng Kim Khánh, và trong thời-gian chờ-đợi thì đổ cho Chính-Quyền chịu trách-nhiệm hoàn-toàn về tính-mệnh của sinh-viên này.

            Tôi đã huy-động mọi nỗ-lực của Ngành Đặc-Cảnh toàn Vùng I, cũng như phối-hợp với tất cả các cơ-quan & đơn-vị an-ninh tình-báo bạn tại địa-phương, và báo-cáo lên Trung-Ương đồng-thời thông-báo các Vùng khác, để cùng lùng tìm tung-tích của Khánh.  Suốt một tuần-lễ, tình-hình căng-thẳng tột cùng.  Một bên thì phe sinh-viên gia-tăng cường-độ chống-đối Chính-Quyền; hơn nữa, trong mấy ngày sau thì lại có một giáo-gia trung-học “mất tích”, khiến một số đông giáo-gia và nam+nữ học-sinh trung-học tại Huế cũng cùng đứng lên sát cánh với sinh-viên Huế trong cuộc tranh-đấu có mục-tiêu gần-gũi và cụ-thể này.  Một bên thì Chính-Quyền, mà đại-diện là các cơ-quan & đơn-vị an-ninh tình-báo Quốc-Gia, nhất là Ngành Đặc-Cảnh, bị dư-luận nghi-ngờ mà không làm sao thanh-minh được, vì công-chúng dễ-dàng tin theo tin đồn.

            Thật-sự thì không có ai bắt Khánh.  Nhưng tôi chỉ biết xác-nhận với Cấp Trên như thế trong nội-bộ mà thôi; chứ Chính-Quyền, từ Phủ Tổng-Thống, Phủ Thủ-Tướng, Bộ Nội-Vụ, Bộ Thông-Tin, xuống đến các “cơ-quan chính-quyền Tỉnh” – một danh-xưng con đẻ của cái gọi là “Cuộc Cách-Mạng Hành-Chánh của Việt-Nam Cộng-Hòa” – nhất là Tỉnh Thừa-Thiên trong đó có Thị-Xã Huế, thì không có nơi nào lên tiếng phủ-nhận lời rêu-rao của sinh-viên; hoặc giả đã có thông-cáo nhưng không thấy báo nào đăng, vì báo-chí hầu hết đứng về phía đối-lập với Chính-Quyền.

            Một tuần-lễ sau, cuộc “tranh-đấu” ấy của Sinh-Viên Huế đã đạt đến kết-quả cao-độ của nó.  Cũng vào một buổi sáng chủ-nhật, trong lúc sinh-viên các Khoa đang họp bàn sôi-nổi thì Hoàng Kim Khánh chạy xộc vào hội-đường, với bộ mặt hốc-hác, đầu tóc bù-xù, áo quần nhăn-nheo; bề ngoài cho thấy rõ-ràng là anh-ta vừa mới thoát ra từ một chốn giam-cầm khắt-khe.

            Sau mấy phút reo mừng ôm hôn náo-nhiệt, Khánh được mời ngay lên máy vi-âm tường-thuật những gì đã xảy ra cho anh-ta trong những ngày qua.

            Theo lời Khánh thì, vào sáng chủ-nhật tuần trước, Khánh rời nhà ở trong Thành-Nội để đi qua Viện Đại-Học Văn-Khoa dự họp như lệ thường lâu nay; lúc chưa ra đến Cửa Đông-Ba thì anh-ta bị hai người đàn-ông mặc dân-phục chận lại, chĩa súng lục vào người, bảo leo lên một chiếc xe Jeep sơn màu trắng-xám đậu sẵn bên đường.  Anh-ta bị chở đến Trung-Tâm Thẩm-Vấn thuộc Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên, dọa-nạt, đánh-đập, liên-tiếp hai ngày hai đêm.  Sau đó, anh-ta được giao cho hai người đàn-ông, cùng mặc dân-phục, chở bằng xe Jeep sơn màu trắng-vôi đến trụ-sở của Đội Quân-Báo Đặc-Biệt ở đường Trưng-Trắc, Huế; tại đây anh-ta cũng bị hăm-he, hành-hạ, một ngày một đêm.  Tiếp theo, anh-ta được giao cho một người đàn-ông, cũng mặc dân-phục; người này còng tay, bịt mắt, nhét khăn vào miệng anh-ta, chở bằng xe-hơi dân-sự từ Huế vào Đà-Nẵng, vào khoảng hai ba giờ sáng, nhốt ở trụ-sở của Đội Khảo-Cứu Địa-Lý thuộc Phủ Đặc-Ủy Tình-Báo Trung-Ương, trên đường Trần Cao Vân; ở đây anh-ta cũng bị khủng-bố, ngược-đãi.  Kế đến, anh-ta bị đưa đến giam ở một ngôi nhà bí-mật trên đường Lý Thường Kiệt, thuộc Sở Tác-Vụ của Ngành Đặc-Cảnh Vùng I (của tôi), hai ngày sau cùng; cơ-quan này cũng hù-nạt, trấn-áp anh-ta, cuối cùng đã dùng xe Jeep sơn màu trắng-xám chở anh-ta từ Đà-Nẵng ra Huế lại, thả anh-ta xuống ở đường Triệu-Ẩu sáng nay.  Anh-ta liền chạy thẳng đến với Tổng-Hội Sinh-Viên, đúng lúc Ban Đại-Diện các Khoa đang hội-họp tại hội-đường này của Trường Đại-Học Văn-Khoa.

            Cũng theo lời của Hoàng Kim Khánh thì mục-đích của việc Chính-Quyền bắt cóc anh-ta như thế là để trực-tiếp cảnh-cáo anh-ta đừng tham-gia hoạt-động với các phần-tử “tranh-đấu” đang cầm đầu Tổng-Hội Sinh-Viên Huế.  Vì anh-ta là con+cháu của một số viên-chức khả-tín trong hàng-ngũ Quốc-Gia, tiếng nói của anh-ta sẽ có sức mạnh lớn hơn so với các “lãnh-tụ” sinh-viên đương-thời mà hoạt-động có hại cho an-ninh trật-tự chung.  Mục-đích cũng là gián-tiếp báo trước cho các phần-tử “tranh-đấu” khác biết là họ cũng có thể bị bắt cóc, thậm-chí thủ-tiêu, bất-cứ lúc nào.  Khánh kể lại là anh-ta đã xác-nhận với các giới-chức hữu-quyền rằng anh-ta chỉ đứng trên căn-bản của các nguyên-tắc tự-do, dân-chủ và nhân-quyền, cũng như Hiệp-Định Paris, để tranh-đấu, chứ không thiên về cộng-sản; và vì các cơ-quan an-ninh & tình-báo liên-hệ không thuyết-phục được anh-ta, mà cũng không tìm thấy bằng-chứng hoặc yếu-tố nào để buộc tội anh-ta, nên đành phải thả anh-ta ra mà thôi.

            Sự tái-xuất-hiện cùng với câu chuyện kể lại của Khánh như trên, là một bình xăng ném vào đống lửa củi khô đã cháy sẵn.  Tổng-Hội Sinh-Viên Huế, với sự hậu-thuẫn của Tổng-Hội Sinh-Viên Sài-Gòn và báo-chí trong nước, đã xuống đường, tuyệt-thực, gửi tối-hậu-thư đòi Chính-Quyền Việt-Nam Cộng-Hòa phải công-khai nhận lỗi, chịu bồi-thường thiệt-hại cho Khánh, và cam-kết từ nay chấm dứt mọi việc làm ám-muội tương-tự vụ này.

            Tôi thật rối trí trước tình-hình gay-cấn tột cùng.  Tôi đã phối-kiểm với các cơ-quan & đơn-vị bạn, đồng-thời soát-xét các bộ-phận hành-sự thuộc quyền mình, thì, lạ-lùng thay, từ màu sơn của các cảnh-xa, quân-xa mang bảng số ẩn-tế dân-sự, các địa-chỉ tọa-lạc của các Trung-Tâm, Đội, Nhà An-Toàn, cho đến hình-dáng, phục-sức, của một số viên-chức và sĩ-quan thuộc cả bốn tổ-chức – Đặc-Cảnh, Tình-Báo Trung-Ương, Quân-Báo, và Quân-An  ở cả hai Thành-Phố, Huế và Đà-Nẵng, mà Hoàng Kim Khành mô-tả lại, đều đúng với sự thật được che-giấu ngoài đời.  Riêng việc bắt Khánh thì cả bốn ngành kể trên đều khẳng-định là không hề xảy ra.  Tuy nhiên, Chính-Quyền thì đã bị tai-tiếng rõ-ràng.  Biến-cố này ảnh-hưởng mạnh đến tinh-thần phục-vụ hăng say của Ngành Đặc-Cảnh, trong bối-cảnh Việt-Cộng đánh ngoài phá trong, hằng chục đoàn-thể dân-chúng lớn+nhỏ – từ các chính-hội, giáo-hội, hữu-hội, đến các Lực-Lượng, Mặt-Trận, Phong-Trào, Liên-Hiệp, Liên-Minh – đều dồn-dập nổi lên đả-kích Chính-Quyền, cùng với một số nhân-vật dân-cử như Thượng-Nghị-Sĩ, Dân-Biểu, hội-viên Hội-Đồng Tỉnh, Thành-Phố, cũng đối-lập kịch-liệt với Chính-Quyền, tạo nên một bầu không-khí sôi-sục, ngột-ngạt vô cùng.

            Tôi họp bàn riêng với Thiếu-Tá Trương Công Ân, Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên, để tìm cách đối-phó, cứu-vãn tình-hình.  Chúng tôi nhận định: câu chuyện “Hoàng Kim Khánh bị bắt cóc” là một câu chuyện hư-cấu ấu-trĩ, bởi lẽ chưa bao giờ có sự hợp-tác chặt-chẽ của bốn ngành hoạt-động nói trên, nhất là trong một âm-mưu bất-chính mà chỉ nhắm vào một cá-nhân chưa hề là đối-tượng chú ý đáng kể của riêng một ngành nào; hơn nữa, nếu muốn bắt cóc thật-sự thì chắc-chắn là không có ai khờ-khạo để lộ gốc-gác, hành-tung của mình cho đối-phương nhận biết dễ-dàng như trên.  Nói chung, dư-luận đã bị đầu-độc, công-chúng không cần phán-đoán vô-tư, và Chính-Quyền đã bị chơi khăm một vố khá đau, trong đó Ngành Đặc-Cảnh bị thua oan-uổng một nước cờ gian.  Do đó, Ngành Đặc-Cảnh phải chứng-minh, để tự biện-minh cho mình.

            Tôi tính chỉ cần làm thế nào để Hoàng Kim Khánh nói cho chúng tôi biết sự thật về câu chuyện bịa-đặt kể trên, thì chúng tôi mới hành-động đúng cách được.  Nhưng, chúng tôi không tiện bắt Khánh, mà cũng không tiện mời anh-ta đến công-đường, vì bây giờ thì không riêng gì giới sinh-viên mà có thể nói là mọi người xung quanh đều canh chừng giùm cho anh-ta, hễ nghe tin Đặc-Cảnh hỏi-han gì anh-ta là họ phản-ứng rùm-beng liền, chỉ có hại thêm cho chúng tôi mà thôi.  

    Và tôi đã chọn một phương-thức bắt-đắc-dĩ: dùng gậy ông đập lưng ông.  Tôi thảo-luận kỹ-càng với Ân, để Ân trình-bày lại với Liên Thành (thiếu-tá, Chỉ-Huy-Trưởng CSQG Thừa-Thiên & Huế, và được Thành đồng-thuận) theo nguyên-tắc, rồi giao-phó và cho phép Ân đích-thân thi-hành kế-hoạch, một kế-hoạch mà nếu thất-bại thì cả hai chúng tôi sẽ thân-bại danh-liệt tức-thời: bắt cóc Khánh, bắt cóc thật-sự.

            Vì Tổ-Quốc, vì Danh-Dự, vì Trách-Nhiệm, Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên đã hoàn-tất tốt đẹp cái công-tác không-tiền khoáng-hậu nói trên.  Vào một đêm khuya kia, nhân lúc Khánh một mình ra vườn, do chúng tôi tạo động-cơ thúc-đẩy, trong lúc người nhà và hàng xóm đều đang ngủ say, chúng tôi đã chớp-nhoáng tê-liệt-hóa anh-ta và lặng-lẽ chở anh-ta về một căn phòng đặc-biệt, có bố-trí kín máy quay phim, máy ghi-âm, kính-một-chiều để bên trong anh-ta tưởng là gương soi mặt nhưng bên ngoài một số viên-chức có uy-tín được mời đến quan-sát thì thấy rõ, để phòng nếu cần thì sẽ làm chứng về sau.  Khánh được cho xem những tài-liệu của Việt-Cộng, về tổ-chức và hoạt-động của Mũi Trí-Vận, Thành-Đoàn Thanh-Niên Sinh-Viên Học-Sinh, hồ-sơ các vụ Huỳnh Tấn Mẫm cùng Lê Văn Nuôi trong Nam và Hoàng Phủ Ngọc Tường cùng Nguyễn Đắc Xuân ở Huế, v.v… cùng những tin-tức về kế-hoạch giật dây phong-trào tranh-đấu của Sinh-Viên Huế, và viễn-ảnh một cuộc tổng-nổi-dậy theo kiểu tổng-tấn-công ở Huế vào dịp Tết Mậu-Thân trong đó Việt-Cộng tàn-sát tập-thể nhiều nghìn người.  Trong cuộc đấu trí, câu hỏi được đặt ra là trong trường-hợp đó liệu thân-nhân của Khánh có thoát khỏi bàn tay phi-nhân của cộng-sản hay không; và, là một thanh-niên có học-thức, Khánh nghĩ thế nào về chính-sách giết người tay không dã-man như thế.

            Kết-hợp tác-động tâm-lý chính-trị với kỹ-thuật moi tin, Đặc-Cảnh đã đạt được kết-quả là Khánh thú-nhận đã bị sinh-viên Trần Văn Hội của Trường Đại-Học Y-Khoa tổ-chức, huấn-luyện, đạo-diễn, cốt để đưa Khánh lên làm Chủ-Tịch Tổng-Hội Sinh-Viên toàn Viện Đại-Học Huế.

            Trong tuần-lễ vắng mặt, Khánh chỉ nằm lì trong buồng ngủ của Hội, được y bày-vẽ mọi lời ngụy-tạo để vu-cáo các cơ-quan an-ninh tình-báo Quốc-Gia.  Khánh biết rõ Hội là cơ-sở nằm vùng của Việt-Cộng; có lần có một cán-bộ đến tiếp-xúc với Hội và thò đầu vào cửa buồng ngủ vừa quan-sát vừa cười chào như để khuyến-khích Khánh tiếp-tục làm con cừu ngoan.

            Rốt cục, Khánh đã vui lòng ký tên vào tờ cam-kết cộng-tác với Ngành Đặc-Cảnh, chụp ảnh chung với sĩ-quan Biệt-Tác để lưu hồ-sơ, và được chỉ-dẫn về lề-lối thu-thập, báo-cáo tin-tức, cùng ngụy-thức, ám-hiệu tiếp-xúc với Trưởng Lưới của mình, v.v…  Tất cả chỉ diễn ra trong vòng ba tiếng đồng-hồ.  Khoảng bốn giờ sáng là anh-ta đã được đưa trở lại tiếp-tục nằm ngủ ở nhà rồi.

            Từ đó, Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên có thêm hai Mũi Biệt-Tác biệt-lập: một điệp-vụ của Hoàng Kim Khánh, và một thám-vụ nhắm vào Trần Văn Hội.  Trước kia, Hội chỉ là một trong số những sinh-viên mà Đặc-Cảnh biết là thân-Cộng, nhưng chưa nắm được bằng-chứng về việc y tiếp-xúc, nhận lệnh của đối-phương.  Nay thì Đặc-Cảnh đã nhờ Khánh mà giám-sát, theo-dõi sít-sao, và đã khám-phá ra được đường dây bí-mật của bọn y.

            Có Hoàng Kim Khánh, tôi đã có thể rút về những nhân-viên lâu nay đội lốt sinh-viên, tiết-kiệm được một phần nhân-lực, thì-giờ và tiền-bạc vì tung lưới rộng hơn phạm-vi thật-sự cần.  Bây giờ thì Khánh đã được toàn-thể sinh-viên tín-nhiệm, vì vụ “bị bắt-cóc ma” là một hào-quang sáng chói bao quanh anh-ta trước mắt và trong trí mọi phần-tử quá-khích đương-thời.  Nhưng vụ “bị bắt-cóc thật” là một khởi-điểm để anh-ta tìm hiểu và báo-cáo cho Đặc-Cảnh mọi ý-đồ, hoạt-động, và đối-tượng liên-quan trong đường dây do Trần Văn Hội cầm đầu.

            Cao hơn Hội, trước đó Đặc-Cảnh đã bí-mật phăng dò ra một số cán-bộ Việt-Cộng nằm vùng cũng như từ mật-khu về liên-lạc với cơ-sở nội-thành.  Tổng-Hội Sinh-Viên Huế có làm gì đi nữa thì cũng chỉ thừa-hành chỉ-thị của Việt-Cộng, mà kế-hoạch của địch sử-dụng tập-thể sinh-viên như thế nào thì Đặc-Cảnh đã biết trước và liệu trước, chỉ cho phép chúng đạt được kết-quả ở một giới-hạn nào đó mà thôi, để nuôi-dưỡng tổ-chức và hoạt-động của địch, hầu kết-quả công-tác của Đặc-Cảnh đạt được phải to lớn gấp nhiều lần hơn.

            Khi cần phá vỡ, bao giờ một điệp-vụ của Đặc-Cảnh cũng phải vô-hiệu-hóa cho được ít nhất là trọn một cơ-quan hay đơn-vị đầu-não của địch ở cấp cao hơn các nội-tuyến-viên trong đường dây liên-quan…

                                                       LÊ XUÂN NHUẬN

                                                                                     Biến-Loạn Miền Trung




VỀ VÙNG CHIẾN-TUYẾN

        Tôi bước vào phòng giấy của Chuẩn-Tướng* Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương, với phong-thái điềm-nhiên nhưng tâm-trạng bồn-chồn.

*Chuẩn-tướng: tướng một sao.

        Tôi đang làm việc ở Ngành Đặc-Biệt Vùng II, mà trụ-sở đóng tại Thành-Phố Nha-Trang, thì nhận được một cú điện-thoại từ Văn-Phòng Trưởng Ngành, bảo tôi về gặp Chuẩn-Tướng Tây ngay.

        Trong phạm-vi công-tác chuyên-môn, Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương trực-tiếp tiếp-xúc với tôi là một chuyện thường; nhưng, trong lĩnh-vực quản-trị nhân-viên, việc Trưởng Ngành gọi tôi, lúc ấy là một Phó Giám-Đốc cấp Vùng, mà ở Trung-Ương thì không qua Nha Tiếp-Trợ, và ở địa-phương thì không qua Trưởng Cơ-Quan, là một chuyện bất-thường.  Dạo đó, nội-bộ Cảnh-Sát Quốc-Gia đang bị xáo-trộn vì nhiều đợt liên-tiếp thay bậc đổi ngôi, nên chuyện xuống chó hay lên voi, dù không xảy đến cho mình, cũng khiến mọi người bàn-tán xôn-xao.  Từ lúc tôi nhận được lệnh ấy cho đến trước khi tôi bước vào phòng làm việc của Tướng Tây, nhiều người đã phỏng-đoán với tôi về mục-đích của cuộc gặp-gỡ này; tuy tất cả đều trấn-an tôi rằng đây là một việc vui, nhưng hầu hết đều không dám chắc rằng đây không phải là một điều xui.

        Tôi đã thầm tự kiểm-điểm sinh-hoạt của mình trong thời-gian qua, xem thử có gì sai trái, hầu chuẩn-bị tinh-thần mà đón nhận, nếu có, mọi sự chẳng lành.

Chính-Sách Quân-Cách-Hóa*

        Năm 1971, Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia của Việt-Nam Cộng-Hòa lại được cải-tổ; lần này rõ-ràng là để chuẩn-bị cho tình-hình hậu-chiến Việt-Nam.

*Không phải quân-sự-hóa hay quân-nhân-hóa.

        Thêm nhiều sĩ-quan Quân-Lực được biệt-phái qua nắm giữ các chức-vụ chỉ-huy quan-trọng trong Ngành Áp-Pháp.  Trừ một thiểu-số có khả-năng, còn thì đa-số đã không thạo việc mà không chịu học lại còn lợi-dụng cương-vị mới — có quyền-hành trực-tiếp đối với dân-nhân — để làm lợi riêng cho bản-thân, do đó, làm hại chung cho hoạt-động của cơ-quan trọng-yếu này của Chính-Quyền.  Tôi thấy trước hậu-quả bất-lợi cho chế-độ nói chung, nhất là qua chính-sách quân-cách-hóa guồng máy này, nên đã gửi lên Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương, hồi đó là Trung-Tá Nguyễn Mâu, một bức thư điều-trần quan-điểm của mình.

        Sự-việc xảy ra thì Trung-Ương cử trung-tá quân-nhân Nguyễn Văn Long đến Vùng II giữ chức-vụ Giám-Đốc Ngành Đặc-Biệt thay-thế tôi, và giáng-chức tôi từ Trưởng xuống Phó. .

        Trung-Tá Nguyễn Mâu phải phái Đại-Tá Đặng Văn Minh, Phó Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương, ra Vùng II triệu-tập một cuộc họp nội-bộ các cấp chỉ-huy, để xoa dịu tình-hình.

        Sau ngày Hiệp-Định Paris 27-1-1973 được ký-kết và có hiệu-lực, chiến-tranh Việt-Nam chấm dứt, đáng lẽ Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia phải là công-cụ đắc-lực cho chính-quyền và dân-chúng Miền Nam trong công-cuộc đấu-tranh chính-trị trực-diện với cộng-sản ở thời bình, thì Hành-Pháp Trung-Ương, trong tay các cấp nhà-binh, đã chỉ xây-đắp Cảnh-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa thành một “con cọp… lười”.

        Tính đến nay, số lượng quân-nhân biệt-phái từ đại-tá xuống đến binh-nhì đã tràn ngập từ Trung-Ương xuống đến Xã Phường, nâng tổng-số nhân-số Cảnh-Lực Quốc-Gia từ mấy chục ngàn người lên đến khoảng mười tám vạn người.  Thời-gian sau cùng, Thiếu-Tướng* Nguyễn Khắc Bình, Đặc-Ủy-Trưởng Tình-Báo Trung-Ương, đã qua kiêm-nhiệm Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia, đem theo thêm nhiều sĩ-quan cao-cấp Quân-Lực thay-thế hầu hết các viên-chức Cảnh-Sát cao-cấp chuyên-ngành.

*Thiếu-tướng: tướng hai sao.

        Giai-đoạn đầu của chiến-lược Việt-Nam-Hóa đã qua một cách giả-tạo, và giai-đoạn nhì đã đến trong tình-thế bấp-bênh.

        Mỗi ngành nghề đều có những đặc-tính và quy-luật hoạt-động riêng của mình.  Nhưng Cảnh-Lực mà tổ-chức sao y theo Quân-Lực thì dư phòng-giấy, thừa cạo-giấy, và thiếu việc-làm; và điều-hành rập khuôn theo Quân-Lực thì mất thì-giờ, tốn nhân-lực, và phí hiệu-năng.  Các bộ-phận phụ-dịch thì lấn át chính-nghiệp.  Guồng máy Áp-Pháp đã không bắt nguồn mà cũng không bám rễ trong dân-nhân.

        Tội tự thấy mình có nhận-thức đúng, như đã từng có nhận-thức đúng về các biến-cố lịch-sử trước đây; và tôi đã biểu-lộ bằng cả lời nói lẫn việc làm công-khai, trong khuôn-khổ trách-nhiệm và quyền-hạn có sẵn, cái nhận-thức “cấp-tiến” và “quá-khích” ấy của mình.

        Hồ-sơ nội-vụ còn nằm ít nhất là trong văn-phòng của Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương.  Có thể là tôi sắp bị trừng-trị vì sự chống-đối kể trên?

Kế-Hoạch “Cảnh-Sát-Hóa”

        Có một điều lạ, là hầu như ít ai biết đến cái-gọi-là “Kế-Hoạch Cảnh-Sát-Hóa”, vốn là một món quà hậu-Việt-Nam-Hóa mà người Mỹ thân tặng cho Việt-Nam Cộng-Hòa để làm “quốc-sách” sau-chiến-tranh.

        Các nhà lãnh-đạo Miền Nam chỉ miễn-cưỡng cho thi-hành Kế-Hoạch ấy một cách qua-loa, tại một số Tỉnh, trong một thời-gian ngắn, rồi dẹp bỏ luôn.

        Tôi đã tự mình kiếm được bản chính của Kế-Hoạch ấy bằng chữ Anh, đọc kỹ để có ý-niệm chính-xác về ý-nghĩa và mục-đích chiến-lược của nó, hầu có căn-bản lý-thuyết mà đối-chiếu với thực-tế thực-hành.

        Tôi là người duy-nhất đã đến các Tỉnh như Ninh-Thuận, Bình-Thuận, v.v… thuộc Vùng II, quan-sát và nghiên-cứu tại chỗ việc thi-hành Kế-Hoạch Cảnh-Sát-Hóa tại Vùng này, sau khi Kế-Hoạch ấy đã được thử-nghiệm có kết-quả tốt tại Tỉnh Gò-Công thuộc Vùng IV, và một số Tỉnh khác của Miền Nam.

        Tại Trung-Ương, không có một bộ-phận đầu-não xứng-đáng, để đảm-trách nó.

        Kế-Hoạch “Phụng-Hoàng”, vốn là một giai-đoạn của Kế-Hoạch “Cảnh-Sát-Hóa”, không được hiểu đúng, nên các Trung-Tâm Thường-Trực, những khi không có người Mỹ nhúng tay vào, chỉ là những văn-phòng ngoại-vi, tập-trung tin-tức tình-báo đã nguội, và báo-cáo kết-quả hành-quân đã lạnh.

        Những vấn-đề chiến-thuật nhất-thời, như: Trại Giam, mà dư-luận trong nước cũng như ngoài nước chỉ-trích nặng-nề, vì chứa quá nhiều người và thiếu tiện-nghi; Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát Và Giám-Sát Ngưng Bắn (ICCS), mà trong đó có hai thành-viên cộng-sản Đông-Âu là Hung-Gia-Lợi và Ba-Lan; các Ban Liên-Hợp Quân-Sự 4-Bên và 2-Bên, mà trong đó có các thành-viên cộng-sản Việt-Nam (Cộng-Sản Bắc-Việt Xâm-Lược và Cộng-Phỉ Miền Nam); v.v… đều thuộc phạm-vi chính-trị và phản-gián, thì bị tách rời ra khỏi Ngành Đặc-Biệt là trung-tâm chuyên-môn về các lĩnh-vực này.

        Hơn nữa, các bộ-phận chủ-trì biệt-lập kia ở trung-ương thì không có cấp dưới trực-hệ để chấp-hành chỉ-thị của mình tại các địa-phương.

        Tôi không chịu nổi cảnh bế-tắc ấy trong công-vụ — sứ-mệnh đa-diện của Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia đối với Quốc-Dân, chứ không phải chức-năng phiến-diện của các cá-nhân nắm giữ chức-vụ chỉ-huy trên mặt giấy-tờ.  Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương thì không biết hết các nhiệm-vụ mà cấp dưới đảm-trách ở các địa-phương; Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực Vùng thì hễ thấy gì có dính-dáng đến cộng-sản và chính-trị là giao khoán ngay cho Ngành Đặc-Biệt tự lo.

        Vì thế nên tôi quyết-định làm liều.

        Tôi đã tự ý tổ-chức các đại-hội, tại các Tỉnh lớn và Thành-Phố quan-trọng, như: Bình-Định, Phú-Yên, Khánh-Hòa/Nha-Trang, Cam-Ranh, Ninh-Thuận, Bình-Thuận, Kontum, Pleiku, Darlac, Tuyên-Đức/Đà-Lạt; mời tất cả các cố-vấn Hoa-Kỳ thuộc 4 địa-hạt là Phụng-Hoàng (Phoenix), Cảnh-Sát Sắc-Phục (PSD tức Public Safety Division=An-Ninh Công-Cộng), Tình-Báo (PSB tức Police Special Branch=Ngành Đặc-Biệt, và PRU tức Province Reconnaissance Unit=Thám-Sát Tỉnh), và Cảnh-Sát Dã-Chiến (NPFF tức National Police Field Force), cùng dự với tất cả các đại-diện của các cơ-quan quân-sự và các Bộ khác, các cấp chỉ-huy Cảnh-Sát, từ cấp Vùng xuống đến cấp Quận khắp Vùng II; để tôi thuyết-trình quan-điểm của mình về các vấn-đề sau-chiến-tranh.

        Tôi cũng tự-nguyện đảm-trách một số giờ giảng-dạy tại Trung-Tâm Huấn-Luyện Phụng-Hoàng Quân-Khu II, dành cho các sĩ-quan Quân-Lực (Phòng 2, An-Ninh Quân-Đội, Chiến-Tranh Chính-Trị…), viên-chức các Bộ khác (Thông-Tin, Chiêu-Hồi, Dân-Ý-Vụ, Xây-Dựng Nông-Thôn…), và các cấp cảnh-nhân (Đặc-Cảnh, Cảnh-Sát Sắc-Phục, Cảnh-Sát Dã-Chiến, Thám-Sát Tỉnh…), cũng với các đề-tài nói trên.

        Ngoài ra, tôi còn nắm lấy nhiều cơ-hội khác để phổ-biến nhận-thức của mình, thí-dụ: tại Trung-Tâm Tu-Huấn Tình-Báo Sơ-Cấp Vùng II trực-thuộc quyền tôi; tại Trung-Tâm Huấn-Luyện Cảnh-Sát Căn-Bản Vùng II; tại các Khóa Đào-Tạo Trưởng Cuộc CSQG cấp Xã/Phường, dành cho từng đợt sĩ-quan Quân-Lực biệt-phái qua; v.v… là những nơi mà chương-trình giảng-huấn có dành cho tôi nhiều giờ.

        Trước năm 1972 thì tôi tham-gia công-tác Phụng-Hoàng với tư-cách Ủy-Viên; từ năm 1972, Giám-Đốc Ngành Đặc-Biệt cấp Vùng không còn là Ủy-Viên Ủy-Ban Phụng-Hoàng cấp Quân-Khu nữa; nhưng vì tôi muốn lợi-dụng tổ-chức này để làm lợi cho công-cuộc chống-Cộng về sau, nên tôi dựa vào uy-tín cá-nhân của mình để vẫn tiếp-tục giảng-dạy tại Trung-Tâm Huấn-Luyện của Ủy-Ban Phụng-Hoàng Quân-Khu II, với tư-cách “chuyên-viên” là một tư-cách do tôi tự-phong và được mọi người hữu-quan cả Việt lẫn Mỹ mặc-nhiên nhìn-nhận.

        Tôi lại biên-soạn và ấn-hành nhiều bài tham-luận, xung quanh chủ-đề đã được nêu ra, gửi khắp các cấp, các nơi trên toàn-quốc, cả Việt-Nam lẫn Hoa-Kỳ.  Việc này xảy ra sau khi đã có chỉ-thị của Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia dưới thời Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình cấm-chỉ mọi hình-thức báo-chí, tạp-chí, đặc-san, nội-san, báo tường, thư tin, v.v…, ngoại-trừ tờ báo “Bạn Dân” của Trung-Ương.

        Nói chung thì tôi đã kiên-trì nuôi-dưỡng, quảng-bá và thực-thi ý-niệm của mình, rằng tất cả các Chương-Trình, Kế-Hoạch riêng-lẻ, tuy có tính-cách chiến-thuật giai-đoạn nhưng đều tương-quan với nhau và có mục-đích chiến-lược trường-kỳ, nhằm chuẩn-bị đối-phó với tình-hình sau-chiến-tranh.  Kết-luận của tôi là phải kiện-toàn Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia, nhất là Ngành Đặc-Biệt, để có đủ sức đảm-nhận vai trò lĩnh-đạo và tiền-phong trong trách-vụ ổn-định tình-hình an-ninh đối-nội và đối ngoại của Quốc-Dân, đúng với tinh-thần và đường-hướng của Kế-Hoạch Cảnh-Sát-Hóa — là một “quốc-sách” đã bị giết non.

        Nhưng, Chính-Quyền Trung-Ương thì quyết bảo-thủ tình-trạng hiện-thời.

        Có thể nói là tôi sắp bị trừng-phạt vì những ý-kiến phát-biểu ra ngoài chính-sách của Trung-Ương?

Cộng-Sản Trên Đường Phố VNCH

        Theo Hiệp-Định Paris thì lĩnh-thổ Việt-Nam Cộng-Hòa được chia ra thành nhiều Khu-Vực, mỗi Khu-Vực có một Tiểu-Ban Quốc-Tế Kiểm-Soát Và Giám-Sát Ngưng Bắn; dưới mỗi Tiểu-Ban có một số Tổ, mỗi Tổ phụ-trách một số Tỉnh.

        Các Ban Liên-Hợp Quân-Sự 4-Bên và 2-Bên cũng được tổ-chức tương-tự.

        Trụ-sở Khu-Vực II đóng tại Pleiku.  Tôi đã đến phi-trường Cù-Hanh ở đây, để chứng-kiến lúc phái-đoàn Cộng-Sản Bắc-Việt bước ra từ một chiếc phi-cơ C-130 do phi-công Không-Quân VNCH và Hoa-Kỳ lái, từ Tân Sơn Nhất lên.

        Tôi đã nhìn thấy những bộ mặt khắc-khổ quắt-queo, những bộ quân-phục nhăn nhúm lụng-thụng, những bàn tay luớ-quớ sờ-soạng không biết mở cửa xe-hơi cách nào, và những cái ngoẹo đầu nheo mắt của chính các “đồng-chí” cộng-sản Đông-Âu ngỡ-ngàng nhìn ngó dáng-dấp thô-lậu và điệu-bộ quê-kệch của các sĩ-quan cao-cấp bộ-đội Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa.  Nhưng điều quan-trọng nhất là tôi đã ghi nhận được đầy-đủ các đặc-điểm nhận-diện của mỗi phái-đoàn trong bốn nước tham-gia Ủy-Hội Quốc-Tế, và của cộng-sản Bắc-Việt (Việt-Cộng không đến), nhất là màu cờ, kiểu-cách đồng-phục, quân-hàm, phù-hiệu của họ, là những điều mà đáng lẽ mỗi cảnh-nhân đã được Trung-Ương phổ-biến và phải thuộc lòng.

        Một thời-gian sau, Chuẩn-Tường Huỳnh Thới Tây gọi điện-thoại ra tôi, cấm toàn-thể nhân-viên CSQG/CSĐB không được tiếp-xúc với cộng-sản Hung-Gia-Lợi và Ba-Lan cũng như CSBV và VC.  Tôi nhận lệnh xong, hỏi lại Tướng Tây: Nếu họ ra phố, hỏi Cảnh-Sát về đường đi chẳng hạn, thì Cảnh-Sát có được phép trả lời, tức là nói chuyện với họ, hay không?  Chuẩn-Tướng Tây đáp rằng ông chỉ nhận được lệnh của Thiếu-Tướng Bình như thế mà thôi.

        Sau ngày Hiệp-Định Paris ra đời hơn nửa năm, có một phái-đoàn của Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia đến Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực Vùng II để giải-thích về văn-kiện nói trên.

        Sau khi đại-diện Trung-Ương nói xong, tôi nhắc lại với các Chỉ-Huy-Trưởng và phái-đoàn đại-diện Cảnh-Lực của 13 Tỉnh và Thành khắp Vùng II, những điều tôi đã thông-tri cho Ngành Đặc-Biệt nhưng có một số bộ-phận Sắc-Phục chưa rành, về kiểu-thức và màu-sắc quân-phục, cấp-hiệu, đặc-điểm của các phần-tử cộng-sản khác nhau.  Tôi cũng nêu lên giả-dụ, nếu cộng-sản hỏi những chuyện thông-thường, thì nhân-viên Cảnh-Sát phải lịch-sự trả lời, như Cảnh-Sát Paris trong thời-gian có Hội-Nghị Quốc-Tế về chiến-tranh Việt-Nam.  Phái-đoàn các địa-phương mừng-rỡ tập-trung sự chú-ý về tôi, vì những tin-tức cụ-thể như thế đã đáp-ứng nhu-cầu tìm hiểu thực-tế trước mắt của mọi người.  Nhưng, có một viên-chức sở-tại là Đại-Úy Nguyễn Khắc Nghị, đã phát-biểu: “Phái-đoàn Trung-Ương không đề-cập gì đến vấn-đề đó; không ai được phép nói rộng ra ngoài giới-hạn nội-dung đã được thuyết-trình!”

        Chắc-chắn chuyện đó không bị bỏ sót trong bản tường-trình về chuyến đi công-tác này của phái-đoàn.

        Có thể là tôi sắp bị trừng-phạt về việc ấy, vì đã vượt quyền Cấp Trên?

Một Vở Kịch-Thơ Bị Cấm Xuất-Bản

        Suốt mười năm nay, tôi đam-mê công-vụ đến nỗi không còn đầu-óc và thì-giờ để sáng-tác và liên-lạc với các bạn văn thơ.

        Nghĩ rằng mình cần trở lại với giới tao-nhân, tôi bèn chuẩn-bị ấn-hành một số tác-phẩm, hoặc đã đăng báo, hoặc còn là bản thảo; và tôi bắt đầu với vở kịch-thơ xã-hội “Lão Ăn Mày”.  Kịch viết đã lâu, đã được công-diễn tại sân-khấu “Hội Quảng-Tri” ở Huế, trước năm 1960 là năm tôi bị lưu-đày từ cố-đô lên Cao-Nguyên.  Để kỷ-niệm thời-gian sinh-sống và sinh-hoạt văn-nghệ sôi-động ở thủ-phủ của Miền Trung, tôi đã kèm theo phần chính cuốn sách, gửi Bộ Thông-Tin để xin kiểm-duyệt, một phần phụ-lục trong đó có một bức thư của tôi gửi các bạn thân ở Sài-Gòn như nhạc-sĩ Lê Mộng Bảo, thi-sĩ Xuân-Huyền, nữ-sĩ Huyền-Chi, v.v…, tường-thuật vụ trình-diễn vở kịch thơ “Hồ Quý Ly” của tôi tại Huế vào cuối thập-niên 1940.

            Thuở đó, Hội-Đồng Kiểm-Duyệt Trung-Việt là một cơ-quan biệt-lập, do cụ Hồ Đắc Định, một nhân-vật trí-thức thức-thời, làm Chủ-Tịch, và nghệ-sĩ Vũ Đức Duy, một kịch-tác-gia kiêm đạo-diễn kiêm diễn-viên tài-danh, làm Tổng-Thư-Ký.  Hai vị chủ-chốt này đã ký cấp giấy phép cho tôi công-diễn và xuất-bản vở kịch kia.  Thế nhưng ngay đêm đầu tiên, đang diễn dở chừng thì viên Tỉnh-Trưởng địa-phương, là người được mời đến xem trong hàng quan-khách danh-dự, đã ra lệnh ngưng diễn và cấm tiếp-tục, viện lý-do rằng vở kịch ấy đề-cao nhân-vật lịch-sử Hồ Quý Ly đề-kháng Trung-Hoa xâm-lăng, gợi lên liên-tưởng đến Hồ Chí Minh cũng đang chống Pháp ngoại-xâm (quân-đội viễn-chinh Pháp đã đổ bộ lên các Thành Thị lớn từ đầu năm 1947).  Hội-Đồng Kiểm-Duyệt, cũng cùng có mặt tại chỗ, liền bác-bỏ quyết-định của Tỉnh-Trưởng, cho rằng đây là một vấn-đề văn-nghệ thuộc quyền-hạn của Hội-Đồng.  Các Giám-Đốc Thông-Tin, Công-An, v.v… đều là nhân-vật Quốc-Gia, chống-Cộng nhưng cũng chống Pháp – chống Pháp bằng chính-trị và ngoại-giao – nên tán-thành quyết-định của Hội-Đồng Kiểm-Duyệt.  Rốt cuộc vở kịch của tôi đã tạo nên dư-luận sôi-nổi và đã được trình-diễn liên-tiếp nhiều lần…

        Chắc Bộ Thông-Tin, vào năm 1973, hốt-hoảng liên-kết vở kịch “Lão Ăn Mày” ngày nay với vở kịch “Hồ Quý Ly” ngày xưa, nên đã đóng vào tập bản thảo của tôi 3 chữ “CẤM XUẤT BẢN” to-tướng.

        Tôi đã có nhiều kinh-nghiệm bản-thân về sự phối-hợp giữa Ngành Thông-Tin với Ngành Công-An.  Có thể là tôi sắp bị trừng-phạt vì có tác-phẩm như trên?

Nỗ-Lực Cuối-Cùng Của Giới Cao-Cấp Cảnh-Sát Nguyên-Ngành

            Ngoài Chuẩn-Tướng Bùi Văn Nhu, được giữ lại với danh-nghĩa Phó Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia, các cấp chỉ-huy cao-cấp chính gốc Cảnh-Sát đều bị cất chức, hoặc chuyển qua Bộ Nội-Vụ, hoặc giao cho những phần-vụ thặng thừa.

        Trước khi bị tước hết quyền-hành và đẩy ra xa, số nhân-vật ấy đã làm một việc, xem như nỗ-lực cuối-cùng của tập-đoàn lĩnh-đạo cũ, là đề-nghị Tư-Lệnh sử-dụng tôi vào một trách-vụ xứng-đáng hơn.  Những tên-tuổi vang-bóng một thời như Bùi Văn Nhu, Trần Vĩnh Đắt, Đàm Trung Mộc, Lê Khắc Duyệt, Lê Sơn Thanh, Bảo Trọng, Nguyễn Bính, Nguyễn Phúc, Cao Xuân Hồng, v.v…  Họ muốn thấy tôi qua làm ít nhất cũng là Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực một Tỉnh quan-trọng, một chức-vụ mà tôi đã từng đảm-trách và hoàn-thành xuất-chúng từ mười năm xưa.

        Hôm Chuẩn-Tướng Tây ra Nha-Trang, Đại-Tá Cao Xuân Hồng, lúc ấy là Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng II, cũng đã gợi ý với ông là nên dùng tôi để thay-thế Nguyễn Văn Long (quân-lai).

        Tôi mà được giới-thiệu nồng-nhiệt như thế thì có khác gì hơn là bị vạch mặt chỉ tên rằng tôi là một con gà-nòi của phe kia!  Hơn nữa, tôi đã nghe kể về tính tự-ái của Tướng Tây.  Một hôm, Thiếu-Tá Nguyễn Văn Độ, Chánh Sở Đặc-Biệt Tỉnh Khánh-Hòa, bị Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương gọi về, vì đã tuân theo một lệnh nào đó của Tỉnh-Trưởng Tỉnh địa-phương.  Tướng Tây hỏi: Giữa Trưởng Tỉnh và tôi, anh chọn ai?  Độ đáp: Tôi chọn Thiếu-Tướng.  Hỏi: Vì sao?  Đáp: Vì nếu Trưởng Tỉnh nơi này mà không bằng-lòng về tôi thì tôi còn có thể đến với Trưởng Tỉnh nơi khác; nhưng nếu Thiếu-Tướng mà không vừa-ý về tôi thì tôi không còn đất sống!  Thế là Độ được cho về, bình-an.

        Bây giờ thì đến phiên tôi.  Có thể là tôi bị xem như đã chạy-chọt với giới ngoài Ngành, trong lúc Ngành Đặc-Biệt có tư-cách chuyên-môn, biệt-lập, tự-quản về mặt nhân-viên.  Tôi sắp bị khiển-trách về vấn-đề này?…

*

        Tôi nghĩ đến những hình-phạt; có thể là khiển-trách ghi hồ-sơ, cất chức, đình thăng-thưởng, thuyên-chuyển, sa-thải, và cao hơn hết là… bỏ tù.  Nhưng, tôi thì đã nhiều lần nếm đủ các loại hình-phạt kể trên.

        Điều duy-nhất khiến tôi lo-ngại chính là đổi vùng.  Mỗi lần thay đổi chỗ ở là một lần cuộc sống đảo-điên: lương tiền ít-oi, vật-giá leo thang; Cảnh-Sát không có cư-xá, Tư-Lệnh Cảnh-Lực cấp Vùng mà còn phải ở nhà thuê…

*

*    *

        Gặp tôi, Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây chỉ nói một câu ngắn gọn:

        — Tôi cho anh về Miền Trung, làm Trưởng Cơ-Quan cấp Vùng.  Anh có 3 ngày để trả lời tôi.

        Nhìn nét mặt ông, tôi biết là tôi không thể trình-bày ý-kiến ngay lúc đó, dù chỉ là một phản-ứng tức-thời.

        Tôi đứng dậy chào, đón nhận bàn tay xiết chặt của viên chỉ-huy cao nhất trong Ngành.

        Tôi còn gì nữa mà “về Miền Trung”?  Miền Trung đối với tôi trước hết là xứ Huế thân-yêu, nơi đã để lại trong tôi biết bao kỷ-niệm vui buồn của một thời trai-trẻ khôn quên.  Tôi đã nhẫn-nại kêu xin nhiều năm mong được trở về ngoài đó, nhưng nguyện-vọng đã không thành.  Ước-muốn chôn vùi từ mười ba năm về trước, trải qua bao nhiêu tang-thương, đến giai-đoạn này mới được ngó-ngàng.  Bây giờ thì ông+bà ngoại tôi, là những người đã nuôi-nấng tôi từ nhỏ, đã mất từ lâu; mẹ tôi đã từ-trần; dì tôi đã ra đi; thân-nhân không còn; bạn-bè kẻ chết, kẻ tha-phương; cảnh-vật đổi khác; tôi có trở về thì cũng chỉ làm một khách viễn-phương.  Hơn nữa, tôi cần tiếp-tục ở lại Nha-Trang để giữ cho gia-đình khỏi bị đổ vỡ vì một rạn-nứt đã thành-hình…

        Sáng sớm hôm sau, tôi vào gặp Chuẩn-Tướng Tây.

        Ông lắng nghe tôi, nhưng không chấp-nhận những gì tôi nói.  Viên Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương ôn-tồn bảo tôi:

        — Chúng tôi muốn dùng người đúng với kiến-thức, kinh-nghiệm, thiện-chí và tác-phong của mỗi người.  Toàn-quốc chỉ có bốn Vùng; Vùng I là Vùng quan-trọng đặc-biệt.  Hiện nay thì tôi không thiếu sĩ-quan, kể cả một số cao-cấp hơn anh.  Nhưng tôi chọn anh…

        Tôi cảm-động vì lời nói ấy.  Đó là sự thật.

            Nhưng tôi thấy rõ, Vùng I là “Vùng Chiến-Tuyến”.  Ngay tại Đà-Nẵng, thủ-phủ mới của Miền Trung, đặc-công cộng-sản vẫn có thể bất-thần ra tay bất-cứ lúc nào.  Đại-Tá Nguyễn Văn Thiện, Thị-Trưởng mà cũng bị mất tích; Trung-Tá Nguyễn Đức Am, Chỉ-Huy Cảnh-Lực Thị-Xã mà cũng bị hạ-sát; Đại-Úy Lê Diệp, Trưởng Phòng Đặc-Nhiệm của Ngành Đặc-Biệt toàn Vùng I mà cũng bị gài mìn tử-thương.

            Chuẩn-tướng Tây trấn-an tôi:

        —  Ngoài đó đã có Trung-Tướng* Ngô Quang Trưởng, Tư-Lệnh Quân-Đoàn I và Quân-Khu I.  Cộng-sản không phải là vấn-đề đáng lo!

*Trung-tướng: tướng ba sao.

        Tôi đâu có lo về vấn-đề cộng-sản.  Cả ở núi, rừng, cũng như ở Xã, Thôn, tôi đã chạm trán, chạm súng với chúng nhiều lần.  Tôi lo là lo về nội-tình Quốc-Gia với nhau.  Thấy tôi vẫn chưa dứt-khoát nhận lời, Tướng Tây thuyết thêm:

        — Các anh phải nhận lấy trách-nhiệm của mình.  Chúng tôi chỉ qua đây một thời-gian ngắn, để giúp các anh củng-cố, phát-triển; rồi một ngày kia chúng tôi sẽ trở về lại với đời quân-nhân…

        Thế là rõ-ràng.  Chuẩn-Tướng Tây nhắc đến thái-độ chống-đối của tôi, vừa để chứng-tỏ là mình không kỳ-thị gì, vừa để ngụ-ý là mình chưa hẳn đã bỏ qua.  Tuy thế, ông không dồn tôi vào chân tường.  Ông đứng dậy, đưa tay ra bắt tay tôi, nói giọng trách-móc một cách thân-tình:

        — Tôi cho anh ba ngày cơ mà!  Anh đã hội-ý với các Giám-Đốc ở Bộ Tư-Lệnh chưa?  Anh đã dò-hỏi tình-hình ở Vùng I chưa?  Anh cần những phương-tiện gì thì gặp Trung-Tá Huỳnh Kiêm Thanh…

        Tôi không dò hỏi gì nhiều.  Tôi chỉ loanh-quanh tìm gặp vài ba nhân-vật cố-tri am-thạo tình-hình là đủ.

        Trung-Tá Ưng Du, một sĩ-quan lão-thành xuất-thân từ thời Quân-Đội Quốc-Gia chưa ra đời, bảo tôi: “Anh được cất nhắc lên chức-vụ cao là một dịp may.”  Trung-Tá cảnh-nhân Nguyễn Văn Thuận, người từng chứng-kiến nhiều lần đổi nhóm thay phe tại Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia, khuyên tôi: “Anh nên nhận lời, vì Tư-Lệnh có thể đưa anh đi một Tỉnh xa, cũng phải dời đổi chỗ ở, và cương-vị lại có thể thấp hơn, mà còn khiến ông phật lòng.”

        Đại-tá Lê Tấn Phước, một người bà-con của tôi, hỏi tôi: “Anh muốn ở yên chỗ cũ, vậy anh có sẵn một triệu đồng không?”

        Vài ba bạn khác nửa thật, nửa đùa: “Coi chừng cái tính liêm-khiết của anh.  Phải khéo-léo với bọn tham-nhũng: theo chúng thì chúng sẽ che-chở anh, vì sợ rút dây động rừng; chống chúng thì chúng có cả tập-đoàn để tiêu-diệt anh…”

        Ngay chiều hôm ấy, tôi vào gặp lại viên Tư-Lệnh của tôi.  Tôi định chỉ nói ngắn gọn, nhưng mới mở lời “Thưa Thiếu-Tướng…” thì Tướng Tây đã cười, hỏi chận: “Chịu đi rồi hả?”

        Bây giờ thì Tướng Tây vui-vẻ nhưng nghiêm-nghị vào đề:

        — Miền Trung xưa nay thì anh đã biết rành rồi.  Phong-trào “Phật-Giáo Tranh-Đấu” khởi đầu từ Miền Trung; quân-đội nổi dậy, chính-quyền địa-phương ly-khai chính-quyền trung-ương, chỉ xảy ra ở Miền Trung; các giáo-phái đụng-độ nhau cũng chỉ có ở Miền Trung.  Bây giờ thì tình-hình rối-reng hơn: đảng-phái lung-tung, nội-bộ chính-quyền chia-rẽ.  Mỗi ngày Trung-Ương nhận được không biết bao nhiêu đơn-từ tố-cáo lẫn nhau; thậm-chí báo-cáo của các cơ-quan đã trái-ngược nhau, mà mỗi cơ-quan có khi lại tự mâu-thuẫn với chính mình.  Người dân ngoài đó hầu như ăn rồi chỉ biết có việc thưa-kiện, khiếu-nại lẫn nhau.  Nhiệm-vụ của anh là phải ổn-định tình-hình chính-trị nội-bộ, từ trong Cảnh-Sát Quốc-Gia mà ra, đến các cơ-quan chính-quyền, đoàn-thể dân-nhân.  Ngoài đó có yên thì trong này mới rảnh tay…

        Chuẩn-Tướng Tây đổi giọng, nói về tình-trạng cá-nhân của tôi:

        — Cấp-số ở chức-vụ ấy là đại-tá.  Trung-Ương sẽ yểm-trợ mọi mặt cho anh.  Về nhà-cửa thì tôi sẽ giúp anh mỗi tháng hai chục ngàn đồng.  Nếu gia-đình còn ở Nha-Trang, tôi sẽ cho anh vào thăm mỗi tháng một lần.  Bao giờ thì anh sẵn-sàng?

        — Ngày mai tôi ra Nha-Trang; ngày kia tôi ra Đà-Nẵng, nhận việc ngay trong ngày.

        — Tốt!  Ngày kia là ngày 26-9-1973.  Chúc anh thành-công!

        Tôi chưa ra khỏi phòng thì đã nghe Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương bấm máy nội-đàm bảo Trung-Tá Huỳnh Kiêm Thanh, Giám-Đốc Nha Tiếp-Trợ, làm lệnh cho tôi về “Vùng Chiến-Tuyến”, tức Quân-Khu I, tên mới của Miền Trung.

LÊ XUÂN NHUẬN 




Kỷ Vật

Truyện Ngắn – Phong Châu

Bà Mai ngồi lặng lẽ trong căn phòng nhỏ và đóng cửa lại để khỏi nghe những tiếng cười nói ồn ào của những người đến dự đám giỗ chồng bà. Năm mươi năm rồi sao? Hình như chỉ mới đây thôi mà! Bà nghĩ vẩn vơ như vậy. Không! Đúng năm mươi năm! Anh ấy tử trận ngày 19 tháng sáu năm 1974 sau khi hiệp định đình chiến được ký kết hơn một năm trước đó. Những tưởng sau hiệp định Ba Lê 1973 cuộc chiến sẽ chấm dứt để các bên hòa đàm đem lại hòa bình cho dân chúng đôi miền. Nhưng không! Bà nhớ chỉ vài giờ sau khi lệnh đình chiến có hiệu lực thì cộng quân đã tràn vào những vùng xôi đậu vùng nông thôn trước đây để cắm cờ chiếm đất. Cờ của “mặt trận giải phóng miền nam” ngụy trang cho lá cờ máu sao vàng của bắc việt. Rồi cuộc chiến bùng phát dữ dội. Quân bắc việt liên tục được đưa vào miền Nam đông như kiến và các trận đánh diễn ra khắp nơi vô cùng ác liệt. Chẳng những thế Hà Nội còn mời Trung cộng mang quân đánh chiếm đảo Hoàng Sa và hình như có sự đồng tình của đồng minh Hoa Kỳ – sau này bà đọc nhiều bài viết trên mạng nói về sự kiện Hoàng Sa tháng giêng 1974 bà mới biết thêm như vậy.                                                                                                                                            Bà Mai đang miên man nghĩ về quãng thời gian của hơn nửa thế kỷ trước thì cửa phòng sực mở. Con gái bà và hai đứa cháu ngoại xuất hiện. Khi cánh cửa vừa mở ra, hai đứa cháu, một trai một gái vội chạy đến ôm chằm lấy bà. Bà xúc động vì đây là lần đầu tiên bà được gặp hai đứa cháu. Chúng được sinh ra ở bên Mỹ và cả hai vừa mới được nghỉ hè sau năm học dài, con gái bà là Thanh dắt chúng về Việt Nam dự đám giỗ ông ngoại và nhân dịp cho hai con biết quê hương cội nguồn của chúng.

Sau khi nhận hai gói quà từ hai đứa cháu ngoại và đặt ở chiếc bàn nhỏ gần giường ngủ, bà Mai mở cửa bước ra phòng khách và thấy người thân và mấy người bạn đã ra về hết, chỉ còn lại cậu em trai là Tuấn đang ngồi uống bia một mình. Bà quay vào phòng ra dấu cho con gái và hai cháu ngoại trở ra phòng khách. Bà bảo Thanh – con gái của bà và hai cháu ngoại ngồi bên cạnh cậu Tuấn. Bà kéo một chiếc ghế và đặt ngồi đối diện. Bên ngoài có cơn mưa đang đổ xuống, bà đứng dậy đến kéo mấy tấm màn che cửa sổ và khóa chốt cửa chính ra vào. Sau khi thận trọng xem lại các màn cửa đã kéo kín, bà tắt bớt hai ngọn đèn, chỉ giữ lại một ngọn cho vừa đủ sáng nơi có cậu Tuấn và con cháu của bà đang ngồi.

Bà trở lại ghế ngồi. Không nói một lời nào. Không gian im ắng và thời gian hình như cũng không chuyển động. Cậu Tuấn và Thanh nhìn nhau biểu đồng tình “không biết bà Mai làm gì, nói gì?            sao có vẻ như có một chuyện gì quan trọng mà bà sắp thông báo cho mọi người cùng biết”. Một lát sau bà  Mai đứng dậy và bước tới phía trước bàn thờ đốt ba cây hương cắm vào bát nhang thờ Phật, rồi bà lại đốt thêm ba cây hương khác cắm vào bát nhang đặt trước bài vị và di ảnh của chồng bà. Xong đâu đó bà trở lại ghế ngồi. Cậu Tuấn và Thanh đang chờ bà nói một điều gì đó. Sau vài lần chớp mắt thì cậu Tuấn lẫn Thanh thấy đôi mắt bà đỏ hoe, hình như những giọt nước mắt đâu đó đang chực chờ để chảy xuống đôi gò má nhăn nheo lốm đốm năm bảy vết nám của thời gian. Dằn cơn xúc động, bà Mai nhìn cậu Tuấn, rồi nhìn Thanh và hai đưa cháu đang ngồi trước mặt nói với giọng run run:                                  

– Hôm nay tôi muốn nói với cậu Tuấn và cháu Thanh một chuyện mà suốt mấy chục năm qua tôi chưa hề tiết lộ, chỉ là chuyện trong gia đình mình thôi.

Tuấn và Thanh hơi bàng hoàng, không biết có chuyện gì xảy ra mà bà Mai lại nói như thế. Cả hai gần như nín thở để nghe. Sau khoảnh khắc im lặng bà Mai nói tiếp:                                                                                                                         

– Chuyện là thế này – bà nhìn thẳng vào mặt cậu em rồi nhìn con gái – mấy chục năm về trước, chắc cũng phải ngoài ba chục năm, cháu Thanh có hỏi tôi về một chiếc hộp đặt trên bàn thờ, phía sau di ảnh của ba cháu và muốn biết thứ gì ở bên trong chiếc hộp đó. Tôi chỉ nói bên trong hộp đựng tờ “phái quy y” của tôi chứ chẳng có gì bên trong ấy nữa. Thưc sự thì không phải như thế.

Bà Mai ngưng nói và đưa mắt nhìn lên bàn thờ. Mùi hương thơm đã lan tỏa cùng khắp căn phòng. Bà đứng dậy bước đến cửa sổ vén màn nhìn ra bên ngoài. Trời vẫn còn mưa và đường phố hình như chẳng còn ai qua lại vì mưa càng lúc càng lớn. Ánh đèn đường hiu hắt phả vào màn mưa mờ đục nhạt nhòa. Bà quay lại, đến trước bàn thờ vái ba vái rồi với cử chỉ nhẹ nhàng, kính cẩn đưa tay ra phía sau tấm di ảnh của chồng để nâng nhẹ chiếc hộp bằng gỗ màu đen, xong đem đặt chiếc hộp ngay giữa bàn trong khi cậu Tuấn và con gái ngơ ngác theo dõi từng cử chỉ của bà. Không một tiếng động. Bà ngồi xuống ghế đưa mắt nhìn cậu Tuấn và con gái cùng hai đứa cháu im lặng tò mò theo dõi. Hai đứa cháu chốc chốc đưa mắt nhìn nhau và hình như ngầm bảo “chẳng hiểu gì”. Chúng nghe những lời của bà Mai vừa nói và loáng thoáng hiểu một vài chữ nhưng nội dung của câu chuyện như thế nào thì chúng hoàn toàn không rõ.

Chiếc hộp màu đen đặt trên bàn là điểm chú ý của mọi người, bà Mai, cậu Tuấn, Thanh và hai đứa cháu. Bà Mai cố nén cơn xúc động và sau vài lần ngập ngừng, bà đưa tay cầm lấy chiếc hộp lên và mở nắp hộp để xuống bàn, chiếc hộp sau đó cũng được bà đặt lại chỗ cũ. Cậu Tuấn, Thanh và hai đứa cháu đưa mắt nhìn vào chiếc hộp đã mở nắp. Có một vật gì đó nằm bên dưới một tờ báo cũ được gấp lại. Thoáng nhìn cậu Tuấn và Thanh đọc được mấy chữ in đậm nét trên một góc của tờ báo “Trận đánh khốc liệt tại Mộc Hóa, Kiến Phong ngày 18 -19 tháng 6 – 1974”. Đó là tờ nhật báo Tiền Tuyến bà Mai còn giữ lạicó ghi rõngày 20 tháng sáu năm 1974, sau khi chồng bà tử trận một ngày. Mộc Hóa là trận địa nơi chồng bà đã chỉ huy một đại đội bộ binh đánh nhau với quân việt cộng suốt hai ngày hai đêm. Đại úy Lê Duy Hà – chồng bà đã anh dũng hy sinh.

Thi thể của chồng bà được ban hậu sự đơn vị đưa về tận nhà và sau tang lễ bà đã giữ lại lá cờ vàng đã được phủ trên nắp quan tài cùng chiếc áo trận bị nhiều vết đạn xuyên thủng. Bà Mai trịnh trọng đặt lá cờ và chiếc áo trận trên bàn thờ, trước di ảnh của chồng. Chỉ trong vòng một năm chiến sự càng ngày càng khốc liệt và những cuộc di tản diễn ra từ cao nguyên và liên tiếp các tỉnh miền Trung rơi vào tay cộng quân. Bà Mai lo âu kèm theo nỗi thất vọng ê chề. Một thân một mình và bụng mang dạ chửa nên bà Mai chỉ biết tụng kinh niệm Phật cầu nguyện. Bà thấy một số gia đình đã mang những thứ có liên quan tới những người lính trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa như giấy tờ, áo quần, giày…ra đốt hoặc mang đi liệng, ngay cả những lá cờ họ cũng dùng dao kéo cắt ra nhiều mảnh để hủy. Nhìn thấy cảnh này bà Mai hết sức đau lòng. Riêng bà, bà đã cuộn nhỏ lá cờ và bọc trong một miếng vải màu trắng, bên ngoài bọc thêm một lớp giấy báo cũ. Chiếc áo trận của chồng cùng lá cờ được bà cho vào một hộp gỗ đặt trên bàn thờ và cứ đến ngày giỗ của chồng, bà – một mình tự tay mở chiếc hộp ra để nhìn chiếc áo trận và lá cờ màu vàng ba sọc đỏ…

Biết cậu Tuấn và Thanh đang chăm chú nhìn bà và đợi một điều gì bà sắp nói nên bà vội vàng lấy gói đồ từ trong chiếc hộp, tháo lớp giấy báo bên ngoài. Bà ôm chiếc áo trận của chồng vào ngực và nước mắt đã chảy thành dòng xuống đôi má nhăn nheo. Bà xúc động không nói được nên lời. Cậu Tuấn và Thanh cũng xúc động và họ đã hiểu chuyện gì xảy ra. Thanh cũng không ngăn được nước mắt. Cậu Tuấn vẫn ngồi bất động. Hai đứa cháu ngơ ngác nhìn bà ngoại, ông cậu rồi mẹ của chúng. Chúng chẳng hiểu chuyện gì xảy ra. Thấy vậy Thanh ra dấu cho hai dứa con rời chỗ ngồi.

Nén cơn xúc động, bà Mai nhìn con gái. Bà nói:                                           “Chiếc áo trận này mẹ đã giữ năm mươi năm rồi. Nay mẹ muốn con mang theo về bên ấy và cũng đặt trên bàn thờ để tưởng nhớ đến người cha đã hy sinh bảo vệ đất nước đến hơi thở cuối cùng, nay mẹ đã già yếu, không biết ra đi ngày nào…con hãy giữ lấy…”

            Hình như bà Mai muốn nói thêm điều gì nữa nhưng bà đã nghẹn lời. Thanh đưa hai tay cầm chiếc áo và gục đầu vào chiếc áo khóc nức nở…

            Bà Mai đứng dậy và bước đến phía sau lưng con gái, hai tay đặt vào hai bờ vai của con. Cậu Tuấn vẫn ngồi yên lặng.

Phong Châu




TÁC GIẢ CHINH NGUYÊN RA MẮT SÁCH

Thứ bảy, ngày 10 tháng 8/2024

KIỀU MỸ DUYÊN

Chinh Nguyên là một tác giả đa tài, ông viết văn, làm thơ và viết báo. Dù ở lãnh vực nào, tác giả Chinh Nguyên đều có năng lực thiên phú. Thơ Chinh Nguyên được các nhạc sĩ Luynh Phương, Hoàng Khiêm, Khôi Nguyên, Phan Ni Tấn phổ nhạc.

          Nỗi niềm của tác giả Chinh Nguyên nơi xứ lạ vẫn dõi về quê nhà:   

“Ba mấy năm trời nơi xứ lạ

Tóc mầu tuyêt trắng điểm sương pha

Tơ lòng vẫn rối tình như bão

Nghiêng ngả đôi vai nợ nghiệp nhà.”

“Quê hương hỡi! Biển xâu ngăn cách trở

Sao lòng ngươi sâu thẳm lắm nghiệt oan

Đẩy tôi đi mỗi ngày thêm xa mãi

Cho mẹ buồn đêm trắng tủi khóc than.”

(Niềm riêng- Chinh Nguyên)

Tác giả CHINH NGUYÊN

Ra Mắt Sách

Từ 1pm đến 4pm

          Tại Thư Viện Việt Nam, 10872 Westminster Ave, Suites 214 & 215, Garden Grove, CA 92843

          Tác giả Chinh Nguyên sẽ đặc biệt giới thiệu về 4 quyển sách:

1/ THORN IN THE HEART: Xuất bản 2018. Truyện dài bằng tiếng Anh, gồm 12 chương, 525 trang.

” War made life short. Also, the youth give their souls to one another for remembering, and nothing is more important than love while they struggle to live and rush their life for a short time.” (page 11)

” Vietnamese youths on both sides had been dying away in the poor living, the threat of war flame, and unjust. They died on the battlefield for the spirit of the loving country.” (page 28)

” Capitalists pushed the young men going to the war to be the killers or die on the battlefield for the new markets as Vietnam, and their ambitions of the model colonialism, which will dominate the whole world in the future. They do not love the people, but they love the dirty smell of the money and power which they can use to control the people softly until dying without a struggle.” (page 29)

” What did you think of the soldiers’ conditions on both sides? They and we were the chessmen in the dirty games of the dishonest politicians and the foreign policies of interference! (page 509)

Tác giả sử dụng từ ngữ dễ hiểu, kể lại sự thật về cuộc sống của những thanh niên Việt Nam thời chiến tranh. Cuộc sống ngắn ngủi, không có ngày mai. Sự thật trần trụi và khốc liệt lôi cuốn độc giả đọc đến trang cuối để nhận ra được rằng những người trẻ trong chiến tranh chỉ là những quân cờ trong ván cờ bẩn thỉu của những chính trị gia bất lương và những chính sách đối ngoại can thiệp! (trang 509).

2/ PLEASE COME IN ( “VÀO ĐI TÌNH ƠI”): Truyện dài song ngữ- xuất bản 2023, 510 trang. Từ đầu đến trang 268, tác giả trình bày bằng tiếng Anh. Từ trang 281 đến trang 510, được viết bằng tiếng Việt.

          “Trời đất có lẽ phải mất nhiều triệu tỷ năm để nắn nót, gọt đẽo, đắp thành ngọn đồi mê hoặc ấy, ngọn đồi trên mặt đất địa cầu này chẳng có nơi đâu lại đẹp và lạ lùng đến thế, hoàn chỉnh trong giây phút lạc thần đến như thế. Không gian khô hạn, cỏ vẫn mịn màng chưa có một thứ nhung lụa nào của con người tạo nên được, …” (trang 284)

          Tác giả viết văn tả cảnh mà như đang làm thơ với những từ ngữ trau chuốt, tượng hình. Ở nơi tiên cảnh bồng lai đó, cuộc gặp gỡ tình cờ giữa ông lão cô đơn (nhân vật chính) và cô gái rửa chân dưới suối (trang 294).       

          “Cô gái mặt bầu bầu với cặp mắt to ánh nhìn vừa êm, vừa hết sức tinh anh nhanh nhẹn, có vẻ cô vất vả nhiều và già đi trước tuổi, vóc dáng cô bé nhỏ trong bộ quần áo lính thùng thình.” (trang 297)

          “Cô gái lặng lẽ đến ngồi bên cạnh ông, khung cửa hẹp khiến hai người phải ngồi sát vào nhau.” (trang 303)

          “Từ ngày cô gái tự nhiên đến ở trong nhà ông, cuộc sống làm cho ông nhiều lúc như được cơ hội để nói, để giải tỏa những suy nghĩ, những câm lặng không có lối thoát …” (trang 304).

          “Trăng lại chợt bừng sáng, bàn tay ông thật nhẹ, thật nhẹ đặt lên mái tóc cô, vùng mây óng ả chảy dài xuống, ông cảm thấy vùng mây ấy vương vấn cả vào chân ông …” (trang 328). Ông hành động theo đam mê, thôi thúc hay với bản năng thú rừng chiếm hữu? (trang 329)

          “Tình yêu không có tuổi tác, không có không gian, không có thời gian. Nếu chỉ có tình yêu thôi thì có gì phải sợ, tình yêu là tất cả, ngay cả đến oán thù cũng bỏ đi được cả, thế thì còn gì tôi phải sợ ông nữa?” (trang 362)

3/ ANTI-AUTHORITARIAN HANDBOOK (CẨM NANG CHỐNG ĐỘC TÀI): Những truyện ngắn song ngữ viết cùng Phạm Đoan Trang. Xuất bản 2023, dày 320 trang.

          Phạm Đoan Trang là nhà hoạt động dân chủ, nhà báo, bị chính quyền Việt Nam bắt giữ ngày 6/10/2020, đẩy cô vào thế đối mặt với bản án 20 năm tù.




Thăng Hoa Cuộc Đời – Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

Khi Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ khởi binh từ Quy Nhơn ra Thăng Long tiêu trừ chúa Trịnh ngang qua vùng núi Nghệ an, Hà tĩnh nghe đại danh của một nhân vật đặc biệt đang ẩn cư trên núi Thiên nhẫn sau khi từ quan, người đó lại là một trung thần đầy đức độ từng can gián chúa Trịnh không được tiếm ngôi vua Lê, một nhân vật thuộc dòng dõi vọng tộc, con cháu Lưu Quận Công nhưng sớm liễu đạo muốn xa lánh mùi trần tục lụy. Người đó chính là La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp; vì thế mà Nguyễn Huệ rất cảm kích muốn thân hành tới nơi am thất để cầu hiền, thỉnh ý bậc thức giả đem tài trí hộ quốc an dân.

Lần thứ nhất khi đoàn binh đi vòng qua chân núi Thiên Nhẫn, Nguyễn Huệ cho dừng quân và thân hành theo mép rừng tiến về thiền thất nơi có những hàng liễu quanh năm rũ lá chơ vơ. Sau khi diện kiến và tâm sự những trăn trở của nước non, Nguyễn Huệ tha thiết mời tiên sinh hợp tác. Dù quý trọng sự nghiệp hưng binh của Bắc Bình Vương nhưng La Sơn nhất định từ chối vì tự cho là mình chính là thần tử của nhà Lê. Dù vậy khi nhìn tướng pháp của Nguyễn Huệ, trong lòng La Sơn phu tử đã thấy khác lạ của một bậc xuất chúng, vớiđặc điểm nổi trội nhất là tóc quăn, tiếng nói sang sảng như chuông ngân, cặp mắt sáng như chớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối là những thân tướng hiếm hoi của bậc phi phàm.                                                                                                             

Lần thứ nhì khi rút quân về lại Phú Xuân thì Nguyễn Huệ cũng thân hành lên vấn an tiên sinh tại thảo lư vào buổi xế chiều. Đôi bên tương đắc kể cho nhau nghe những ưu tư về tiền đồ dân tộc, và rồi Nguyễn Huệ cũng mong được La Sơn phu tử hợp tác cho viên ngọc minh châu được dịp bừng sáng nhưng cũng bị sự khước từ.

-Đã hai lần diện kiến đối ẩm mà tiên sinh nhất mực chối từ việc khẩn khoản này, phải chăng ngài cho chúng tôi bình dân không đủ khả năng mưu đồ quốc gia đại nghiệp, dẹp loạn yên dân? Nguyễn Huệ khiêm cung hỏi.

La Sơn phu tử chậm chạp đáp:

-Bỉ nhân đâu lẽ nhận thức sai lầm đến thế. Xưa kia Lưu Bang Hán Cao tổ là người bình dân, Lưu Huyền Đức là người thợ giày, Bình Định vương Lê Lợi là nông dân áo vải đất Lam sơn mà đem lại thái bình cho trăm họ thì ngày nay tài đức và độ lượng của đại vương cũng sáng chói một phương. Ngặt nổi hiện thời bỉ nhân vốn thờ vua Lê nên đạo làm người khiến không đi hai hàng một lượt.

Ngậm ngùi chia tay vì không vời được Nguyễn Thiếp vào Phú Xuân giúp nuớc, Nguyễn Huệ cầm tay La Sơn phu tử ân cần chúc phúc, uớc mong có duyên tao ngộ để cùng nhau đem tài trí hưng bang tế thế, giải cứu sơn hà. Nắng chiều vàng nhạt xuyên qua tàng lá đưa từng sợi tà dương in thành mảng cô liêu trên suốt dặm đường. Tiên sinh cũng cảm nhận được cái chí khai thiên phá thạch của con người nông dân áo vải này, nhưng cung cách nhà Nho vốn tôi trung chẳng thờ hai chúa, vì vậy mà dù tâm phục tới đâu cũng khó cho La Sơn phu tử, con nguời của cửa Khổng sân Trình dễ gì lay động được tâm can một khi người đã quyết.

*

Đại quân Tây Sơn đầy khí thế với một lòng quyết bảo vệ non sông, nhân dân nghe tin đoàn hùng binh tiến ra Bắc tiêu diệt bè lũ xâm lăng, bán nước nên ai nấy đều tự nguyện đóng góp lương thực, thuốc men và khuyến khích trai làng tòng quân giết giặc.

Tờ mờ sáng đầu tháng chạp năm Mậu Thân, đại binh đóng quân ở núi Bàn Sơn để lập kế hoạch hành quân thì bỗng nhiên có một lão ông  trông hình thái tiên phong đạo cốt chống gậy đòi gặp cho được Bắc Bình Vương.

Nghe quân báo, Nguyễn Huệ biết có hiền tài giúp sức nên vội vã y áo chỉnh tề bước ra nghênh tiếp. Ai ngờ, vừa thoáng thấy tiên sinh, vương vui mừng quên cả giữ lễ nên tiến gần cầm tay lão trượng, hoan hỷ cất lời chào mừng:

-Ối chà, thế nào ta cũng ghé thăm tiên sinh khi ngang qua Nghệ Tĩnh, ai ngờ chưa đến Thiên Nhẫn mà người tri kỷ đã chống gậy đến đây, hay quá! hay quá!

Nét mặt còn dính bụi đường, La Sơn phu tử đáp lễ bằng sự nghiêm trang, chậm rãi:

-Hai lần trước, sở dĩ tôi từ khước lời Ngài vì vua Lê còn đó. Nay Lê Chiêu Thống rước voi về giày mả tổ là hành động của tên phản quốc thì bỉ nhân nhất định theo ngài để hưng quốc an dân, giúp ngài tiêu trừ giặc Mãn Thanh, đem an lạc cho cơ đồ dân Việt.

Nguyễn Huệ quá đỗi vui mừng liền mời tiên sinh ngồi vào ghế quân sư chẳng khác nào Lưu Bị đời hậu Hán mời được Khổng Minh Gia Cát Lượng (Gia Cát Lượng (181234) là quân sư, đại thần của nước Thục thời hậu Hán. Ông là một chính trị gia, nhà quân sự, học giả. Ong đã tạo ra các chiến thuật như: Bát trận đồ, Liên nỏ, Mộc ngưu lưu mã, chế ra đèn trời [Khổng Minh đăng] và món bánh bao. Gia Cát Lượng được biết tới nhiều qua tác phẩm Tam Quốc Diễn Nghĩa). Tiếp đó, La Sơn phu tử bày mưu:

-Cổ nhân có nói: “sư xuất vô danh, sự cố bất thành” nghĩa là xuất quân không có chính danh nên đại sự không thành; nay đại vương thân hành ra đất Bắc để đánh giặc Mãn Thanh cứu nước, vì thế để muôn dân quy về một mối thì đại vương phải hành động như một Hoàng đế danh chánh ngôn thuận, nhất hô bá ứng thì trăm họ mới hết lòng phò tá mà cùng nhau đuổi giặc, trừ nguy.

Mùa đông, sáng sớm và ban đêm đều có sương mù mờ mịt, mưa nhè nhẹ nhưng dai dẳng suốt ngày, cái lạnh pha chút ẩm thấp làm cho người ta thích tìm sự bình an, ấm áp nghỉ ngơi; nhưng ngày Mười hai Tháng Chạp năm Mậu Thân thì khác hẳn, vì đại sự cứu nguy dân tộc khỏi nạn xâm lăng, Nguyễn Huệ cho lập đàn ở núi Bàn Sơn tế cáo trời đất lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Quang Trung thống lĩnh tất cả thủy bộ đại binh tiến nhanh ra Bắc.

Kế hoạch của quân sư đưa ra là đại binh phải “hành quân thần tốc” để kịp thời gian không cho địch trở tay. La Phu tử nghe báo cáo quân địch lên đến hai mươi vạn hùng hậu thì liền tâu với vua rằng:                                                                    -Đại  quân của Hoàng đế kéo từ Phú Xuân ra đây chưa đủ túc số để chống lại Mãn Thanh, giờ này về lại đàng trong chiêu binh thì mất đi thời gian tính, vậy ngay tức khắc xin Hoàng đế tuyển mộ trai tráng ở đất Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh vì nơi đây anh hùng hảo hớn cũng nhiều mà đất thượng võ xưa nay từng nổi tiếng. Thuở vua Trần đánh quân Nguyên Mông đã mộ binh chốn này nên có câu “hoan diễn do tồn thập vạn binh” (Năm 1285  Hưng Đạo Vương vâng mệnh điều quân dân các lộ Hải Đông, Vân Trà để đánh quân Nguyên. Người theo rất đông. Vua khen qua câu thơ: Cối kê cựu sự quân tu ký, Hoan Diễn do tồn thập vạn binh là Cối Kê chuyện cũ người nên nhớ, Hoan Diễn  còn kia chục vạn quân)  là vậy.                                      

             Nghe vậy, vua Quang Trung truyền ba quân nghỉ ngơi nửa tháng tại Nghệ An để tuyển mộ thêm binh sĩ và đúc bánh đa làm lương khô chuẩn bị chuyển quân. Khi trai tráng trong các xứ tuyển mộ khá dồi dào, La Sơn phu tử trình bày thêm chiến lược và chiến thuật hành quân như sau:

-Hai mươi vạn quân Thanh kéo sang nước ta quá dễ dàng, chúng đang kiêu căng, khinh địch và ngạo mạng, doanh trại chưa thiết lập xong, phong thủy đông giá trở trời cũng tác động đến cơ thể từng tên giặc. Vậy chiến lược và chiến thuật của ta là tốc chiến quyết tốc thắng.

Binh thư đã dạy: “Dĩ dật đãi lao giả thắng” ( Lấy khỏe để thắng mệt),  do thế mà ta phải “công kỳ vô bị, xuất kỳ bất ý giả tất thắng” (Tấn công kẻ thù lúc chúng không phòng bị, hành động khi chúng không ngờ tới). Xưa nay chiến lược đánh phủ đầu cần phải “tiên phát giả chế nhân, hậu phát giả chế ư nhân” (Trước ra tay đánh gục kẻ thù. Sau đột nhập được vào trong thì có thể kiến cơ hành sự tiến hành đại kế).

Vua Quang Trung gật đầu cho là chí lý, bèn hỏi tiên sinh cách nào nhanh nhất để tiến quân ra Thăng Long thành.

La Sơn phu tử ngẫm nghĩ giây lát rồi chậm rãi đáp:      

-Tâu hoàng đế, theo dự liệu của giặc Mãn Thanh và bọn bán nước cầu vinh thì ít nhất đầu tháng Hai quân ta mới đến đất Bắc, hãy tạo bất ngờ cho chúng chẳng kịp trở tay, chỉ có chạy thật mau không ngừng nghỉ, hai người khiêng một thay đổi hàng giờ mà bảo đảm tốc độ liên hoàn không dừng lại.

Tuyệt vời! vua Quang Trung lần nữa gật đầu tán thưởng, liền đó Ngài cho binh lính chia mỗi tổ thành ba người, lấy tre bện thành những chiếc võng để hai người khiêng một đặng giảm đi sự mệt nhọc mà liên tục tiến quân ra Thăng Long.

Riêng tượng binh và kỵ binh thì vua Quang Trung phái nữ tướng Bùi Thị Xuân điều động một trăm thớt voi, hai trăm con chiến mã theo đường núi tiến ra Bắc suốt ngày đêm không nghỉ, bảo đảm rằng nữ tướng Bùi Thị Xuân cùng tượng binh đến được phía nam thành Thăng Long trước vài ngày đón chờ bộ binh đặng hợp lực cùng nhau phá thành.

Khí thế toàn dân đang chờ đợi một minh quân lãnh đạo non sông, vua Quang Trung bèn ban huấn dụ cho bá gia bá tánh cùng hưởng ứng chống ngoại xâm, đồng thời nhờ thế mà mộ được hơn mười vạn trai tráng tòng quân; cờ Tây Sơn phất phới hiên ngang theo đại lộ đến đèo Ba Dọi núi Tam Điệp là địa điểm giữa tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình thì gặp Đại tư đồ Ngô Văn Sở và Vũ Văn Nhậm cung đón.

Nh́n thấy nét lo âu trên khuôn mặt của các vị đại thần, vua Quang Trung bước tới khen Vũ Văn Nhậm là người đầy mưu trí, bảo tồn được tính mạng của binh sĩ, phải nhịn để tránh sức mạnh ban đầu của chúng, chỉnh đốn hàng ngũ rút về nơi hiểm yếu, trong thì nâng lòng quân kích thích, ngoài thì khiến lũ giặc kiêu căng. Nhân gần đến ngày nguyên đán năm Kỷ Dậu, hoàng đế cho quân binh ăn tết trước, căn dặn binh sĩ cùng bá quan rằng:

-“Chúng nó sang phen nầy là mua lấy cái chết đấy thôi, ta ra đi chuyến nầy, thân coi việc quân, đánh giữ đã có định mẹo rồi, đuổi quân giặc về Tàu chẳng qua mười ngày là xong việc”.

 Đoạn, ngài xoay qua phía Vũ Văn Nhậm và các quan văn, tướng võ vua nói tiếp.

-Chúng là nước lớn gấp mười lần nước ta, sau khi thua, thế nào cũng xấu hổ mà tìm cách báo thù, như thế thì đánh nhau mãi mãi không thôi, dân chúng lầm than ta đâu nỡ thế. Vậy đánh xong trận nầy ta phải cậy tài của tiên sinh Ngô Thời Nhậm dùng ngòi bút để đình chỉ việc chiến tranh. Đợi mười năm nữa nước Việt trở nên phú cường rồi, thì ta không cần phải kiêng dè chúng nó nữa!”

Nói xong, vua Quang Trung bố trí chiến thuật, chia quân ra làm năm đạo như sau:

– Đạo quân thứ nhất do đô đốc Nguyễn Văn Tuyết thống lĩnh thủy quân với ba trăm chiến thuyền đi cánh hữu tiến vào sông Lục đầu đánh tan quân Lê Chiêu Thống đóng tại Hải Dương và hỗ trợ cho bộ binh đánh thẳng vào phía đông thành Thăng Long.

– Đạo quân thứ hai do đô đốc Nguyễn Văn Lộc dẫn bộ binh phía hữu tiếp ứng đội quân thứ nhất kiêm thống lĩnh hai trăm chiến thuyền vào sông Lục Nam rẽ ngược lên Phượng nhãn, Long giang qua Yên thế chận đường rút lui của giặc để thu khí giới, quân lương và giữ hướng bắc không cho địch tiếp tế.

-Đạo quân thứ ba do Đô đốc Nguyễn Văn Bảo chỉ huy đội tượng binh và kỵ binh hỗ trợ cho đạo quân chủ lực đánh thốc vào hướng tây nam đồn Ngọc Hồi, kế đó tiến binh theo đường Sơn Minh đánh bọc hậu dứt điểm đồn Ngọc Hồi tại làng Đại Áng , huyện Thanh Trì.

-Đạo quân thứ tư do Đô Đốc Nguyễn Khắc Long chỉ đạo theo cánh tả trực chỉ hướng tây bắc qua Chương Đắc đánh thẳng vào quân Điền Châu của Sầm Nghi Đống đang đóng tại gò Đống Đa mở đường tấn công Thăng Long thành.

– Đạo quân thứ năm là chủ lực quân do chính vua Quang Trung điều khiển có Đại tư mã Ngô Văn Sở và Nội hầu Phan Văn Lân làm tiên phong đánh hướng nam thành Thăng Long là mặt phòng thủ chính yếu của quân Mãn Thanh.

Sau khi phân bố các đạo quân xong, vua Quang Trung truyền hịch xuất binh:

“Quân Thanh kéo sang xâm lấn, các ngươi đã nghe tin ấy chăng? Trong vòng trời đất chia theo phận sao Dực, Chẩn; nam bắc vẫn riêng một non sông. Người nước Bắc không phải nòi giống ta thì tất phải khác dạ. Từ đời Hán về sau họ cướp đất đai ta, tịch thu cá thịt, vơ vét của cải, nông nổi ấy không sao chịu được; người nước Nam quyết nghĩ cách đánh đuổi chúng đi.

Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ vì không chịu bó tay ngồi nhìn quân xâm lăng tàn bạo nên phải thuận lòng người, dấy nghĩa quân đánh thắng rồi đuổi chúng về. Sau khi đó thì nam, bắc rõ lại phân ranh, bờ cõi yên ổn, vận nước lâu dài, nên từ nhà Đinh tới nay chúng ta không phải chịu cái khổ Bắc thuộc; việc chung muôn dân có lợi lộc, được thua chuyện cũ rành rành ra đó.

Nay nhà Thanh không coi gương Tống, Nguyên, Minh lại âm mưu chiếm nước Nam ta đặt làm quận huyện, vậy ta phải vùng lên mà khử trừ đi!”

Ba quân tuớng sĩ đồng thanh hô vang lừng:

-Quyết chiến! Quyết chiến.

================

Thăng Hoa Cuộc ĐờiNhư Ninh Nguyễn Hồng Dũng

Vua Quang Trung hạ lịnh xuất binh vào đêm trừ tịch, nổi trống, đốt lửa khí thế hào hùng, tiến binh ào ạt. Lợi thế của tổ ba người thì kẻ nằm trên võng đọc to khẩu quyết võ công cho hai anh khiêng học theo khỏi mệt, nhờ thế mà chặng đường hành quân, các tân binh hiểu được các thế võ công cần thiết vừa thủ cho mình mà cũng có công năng diệt được quân Thanh mau chóng. Thấy khí thế hừng hừng rực cháy, vua Quang Trung phủ dụ quân sĩ rằng: “ngày mùng Bảy tết Kỷ Dậu chúng ta sẽ vào thành Thăng Long ăn tết.”

Sau ba ngày đêm theo đường bộ đến Giản thủy, quân Tây Sơn gặp quân lính của Lê Chiêu Thống và tiền binh Mãn Thanh đóng tại đồn Gián Khẩu cản trở, quân Tây Sơn thần tốc, táo bạo đánh một trận tan vỡ và đích thân vua Quang Trung gióng trống cho ba quân đuổi theo đến huyện Phú Xuyên thì bắt sống hết thảy chẳng sót một tên. Do đó, không có quân địch nào khả thể chạy về báo cho Mãn Thanh đang đóng ở Hà Hồi và Ngọc Hồi biết được.

Nửa đêm ngày mùng Ba tết năm Kỷ Dậu, quân Tây Sơn vây kín đồn Hà Hồi rồi dùng chiến thuật phủ dụ, dùng loa kêu gọi giặc Thanh đầu hàng. Vì tiếng hò la pha lẫn tiếng trống trận, phèn la làm cho địch quân khiếp đảm phải mở cửa thành xin hàng, giao tất cả quân lương, vũ khí khiến ngày xuân nở hoa tại Hà Hồi không rơi một giọt máu.

Giờ Dần ngày mùng Năm, quân Tây Sơn đã tiến đến Ngọc Hồi thì bị quân Thanh bắn súng đại bát như mưa. Sau khi bao vây bốn hướng, vua Quang Trung duyệt xét tình hình chiến sự bèn sai ba người lính làm một tấm ván có bện thêm rơm rạ và nước tránh lửa rồi xung phong tiến vào theo sau là hai chục người cầm binh khí, giắt dao nhọn tiến theo. Thân hành vua Quang Trung lên bành voi, cho đánh trống thúc chiến liên hồi khiến ba quân hăng máu ào ạt như thát lũ tiến đến cửa đồn rồi ngả ván tràn vào xáp chiến. Quân Mãn Thanh tan vỡ, đạp lên nhau chạy trốn, xác nằm ngổn ngang, máu chảy lênh láng; đến giờ ngọ thì quân Tây Sơn chiếm được Ngọc Hồi.

Theo kế hoạch đã định, đô đốc Nguyễn Khắc Long đánh úp vào Khương Thượng ở đồn Đống Đa tiêu diệt đội quân của tri phủ Điền Châu là Sầm Nghi Đống khiến viên tri phủ nầy không biết làm sao hơn là phải treo cổ tự tử.

Đề đốc Hứa Thế Hanh, tiên phong Trương Sĩ Long, tả dực Thường Duy Thăng và một số tướng Mãn Thanh bị chém chết ngay tại doanh trại hoặc tự sát tại các đồn khi quân Tây Sơn bao bọc tứ phương.

Điều trớ trêu vô cùng tủi nhục là khi hay  tin Tôn Sĩ Nghị đem binh vào Thăng Long,  thì ở Nam hà  Nguyễn Phúc Ánh mừng rỡ vô cùng liền cho tướng Phạm Văn Trọng và Lâm Đề mang thư sang triều đình Mãn Thanh tỏ lòng hoan nghênh thần phục, lại đem năm mươi vạn cân gạo giúp quân Thanh lưu trú Bắc hà, nhưng hởi ôi! thuyền ra đến cửa biển thì bị bão tố hoành hành làm đắm toàn bộ giấc mộng nô lệ của Nguyễn Phúc Ánh.

Trong khi đó, cung thành Thăng Long đèn hoa rực rỡ, Tôn Sĩ Nghị đang uống rượu thưởng xuân với đào non gái đẹp, ngày đêm bắt kỹ nữ múa hát âm vang, rượu bồ đào mỹ tửu hâm nóng hết bầu nọ, hủ kia và trâu bò cứ xẻ thịt nướng lên làm đại yến; Lê Chiêu Thống thì ra sức trả thù như trường hợp của Hoàng đệ Lê Duy Lưu và phò mã Dương Hành bị chặt chân quăng giữa chợ vì có liên hệ đến Tây Sơn. Từ các đời tiên đế chưa có một mùa xuân nào ô nhục, điêu tàn mà hương khói các đền đài cũng âm u lạnh lẽo.

Đêm mùng Năm tết Kỷ Dậu, ánh trăng lưỡi liềm nhỏ xíu không đủ tỏa ánh sáng huyền hoặc xuống nhân gian, nhưng chị Hằng vẫn lờ mờ chiếu rọi đủ đưa bước chân đoàn nghĩa quân Tây Sơn tiến đúng lộ trình để vây hãm kinh thành.

Nửa đêm hôm đó Tổng đốc lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị vẫn còn ngà ngà say, vị nồng của rượu, vị mặn của thực phẩm cùng với men tình choáng váng đã khiến cho thần trí của bổn quan xâm lược quay cuồng; hung tin báo về đồn Hà Hồi thất thủ, đồn Ngọc Hồi bị đại quân Tây Sơn tàn sát, Sầm Nghi Đống treo cổ tự tử, Hứa Thế Hanh và các tùy tướng bị giết không còn manh giáp khiến Tôn Sĩ Nghị khiếp đảm tinh thần, tay chân run rẩy, đại tiểu tiện bầy nhầy, không kịp thắng yên cương, chẳng còn giờ mặc giáp bào, bỏ quên cả ấn tín và mật chỉ của vua Càn Long, ôm lưng ngựa cùng vài tên kỵ sĩ chạy thoát thân qua sông Hồng Hà.

Quân Mãn Thanh nghe tin chủ soái bỏ trốn bèn vội vã tranh nhau vượt cầu phao bắc ngang hai bên bờ sông Hồng, quá tải nên cầu bị sập đổ, khiến hàng ngàn quân Thanh sụp xuống dòng nước đang cuồn cuộn trôi, số bị chết đuối, số còn lại bị bắt tính không kể xiết.

Hai đạo quân Vân Nam, Quí Châu của Mãn Thanh đóng tại Sơn Tây nghe hung tin về chủ soái Tôn Sĩ Nghị tháo chạy, các đại tướng đều tử trận nên vội vàng rút quân tháo lui. Không dễ dàng như vậy, Vua Quang Trung đã cho Đô đốc Nguyễn Văn Lộc phục kích hai bên đường rút binh, khi hai đạo quân xâm luợc hớt hãi tháo lui thì bị Tây Sơn đón đánh một trận tơi bời hoa lá làm cho hàng chục ngàn tên xâm lược đưa tay đầu thú, số còn lại lén núp trên rừng rồi mò về biên giới mà vẫn chưa hết sợ. Riêng Tôn Sĩ Nghị trốn chạy tới Quảng Tây mà vẫn còn hồn phi phách tán, chưa biết quân Tây Sơn tài tình ra sao và dùng lối thần tốc thế nào đánh một trận kinh thiên động địa như vậy?

Lê Chiêu Thống cũng bám sát Tôn Sĩ Nghị chạy theo về Tàu rồi phải sống cuộc đời ô nhục vì triều đình Mãn Thanh buộc phải ăn mặc theo phong tục Bắc phương, bị khinh rẻ vì nhu nhược và ngu muội nên ôm nỗi thống khổ nhục nhã mà băng hà ở Quế Lâm vào trung tuần tháng Mười năm Quí Sửu (1793) hưởng dương 28 tuổi.

Áo bào của vua Quang Trung đen cháy vì thuốc đạn, giày vớ đều bị rách tươm và cổ họng đắng chát bởi gào thét thúc ba quân hăng say tiến chiếm mục tiêu; các đại tướng Tây Sơn đang kiểm xem binh sĩ, băng bó nghĩa quân, thu hoạch chiến công chuẩn bị tập hợp toàn quân tiến vào nội thành Thăng Long  kịp chính Ngọ ngày mùng Năm tết Kỷ Dậu đặng mở tiệc khao quân, ca khúc khải hoàn, phủ dụ toàn quân ăn mừng tết chiến thắng.

Dân chúng Hà thành vui mừng không kể xiết, đặt bàn hương án cung kính đón chào; từ ngày Lê Chiêu Thống rước giặc vào nhà thì dân lành đau nhói, cầu trời khẩn Phật ngày đêm cho có một Phù Đổng Thiên Vương xuất hiện. Giấc mơ đó đã thành hiện thực đang xảy ra với bao niềm hân hoan, ái mộ.

Đoàn quân vừa ngang qua cung điện Kính Thiên, những cành đào đỏ chói vẫn vô tình hé nhụy như chứng kiến cuộc rút chạy nhục nhã của vua Lê cùng bọn tùy tùng đuổi theo vó ngựa của kẻ xâm lăng, vua Quang Trung rút gươm chặt đứt một nhánh đào ươm nụ thật đẹp giao cho đô đốc Nguyễn Văn Tuyết cấp tốc mang về thành Phú Xuân trao tận tay Ngọc Hân công chúa để báo tin thắng trận huy hoàng.

Ngọc Hân công chúa nhận được cành đào còn chưa nở lộc đươm xuân liền reo mừng báo tin cùng bá quan trong thành niềm tự hào cảm động vô biên. Tin chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa loan truyền mau lẹ làm cho bá tánh Đại Việt cảm kích và hoan hỷ như chưa từng có niềm vui nào sánh bằng.

Dân chúng đất Thăng Long trở lại cảnh thanh bình, không còn một tên xâm lược cũng như bè lũ bán nước của Lê Chiêu Thống lẩn quẩn đâu đây. Trời đang độ ngày xuân nhưng tiết lạnh vẫn còn nhức nhối, binh sĩ hai bên thương tật khá nhiều mà gò Đống đa thì xương quân lính Mãn Thanh chất cao như núi, vua Quang Trung nghẹn ngào cho cuộc chiến xâm lăng bèn truyền lịnh sai quan Thị Lễ lo tổ chức đàn tràng kỳ siêu bạt độ các vong linh chết trận vừa rồi. Tiếng trống trầm hùng cùng hồi chuông gọi hồn dân tộc vang vọng cả bầu trời mới vừa giải phóng, nghi thức tế cáo chiêu hồn được tổ chức hết sức trang nghiêm dưới trướng điện Kính Thiên vào giờ Ngọ ngày mùng Năm, đích thân vua Quang Trung đọc bài văn tế để an ủi linh hồn của bao chiến sĩ vì chủ soái của mình mà hy sinh trận mạc, lời văn đầy cảm khái, ý đạo tràn nghĩa tình khiến lòng thành của bao quan quân sĩ tứ ngập niềm cảm xúc, bi ai.

Hoàng đế Quang Trung rảo bước trên những con đường đất đỏ Thăng Long không còn thâm u trầm mặc như xưa, nhà vua cảm nhận được sinh khí nhộn nhịp ngựa xe, chân người, và cây cối hữu tình dù bây giờ chỉ là khoảnh khắc lặng thinh. Không gian bao la và cao rộng mà tổ tiên Đại Việt đã đổ biết bao máu xương gầy dựng cơ nghiệp này. Niềm biết ơn dâng lên ngùn ngụt vì trong từng ngọn cỏ, cành cây, giọt nước sương mai hay âm ba vang động đều mang dáng dấp của bao triều đại đi qua mà sự lao tâm khổ nhọc của tiền nhân để phấn đấu từng phút giây gìn giữ quê hương là một chiến tích hào hùng in đậm nét trong mỗi hạt bụi, cành hoa. Vua Quang Trung đang nghĩ đến Lê triều đôi ba trăm năm rồi thương cho thân phận một vị vua chỉ vì quyền lợi cá nhân hay gia đình nhỏ nhặt mà quên đi cái di hại ngàn đời của dân tộc lớn lao.         

Hoàng đế không ung dung bước vào Thăng Long như Lê Chiêu Thống mà phải hy sinh hàng vạn binh hùng tướng mạnh mới tự tại rảo bước chung quanh, quả thật một chiến công nào cũng xây trên xương máu hàng vạn lương dân, hành xử không khéo là mối nguy cho sơn hà xã tắc.

Hoàng đế còn đang thả hồn về nguồn cội các vua Hùng mở nước thì phía sau nghe tiếng hò hét của quân binh đang tuốt kiếm dẫn đoàn tù binh Mãn Thanh về nơi tập kết; nhìn vào đôi mắt thâm quầng và gương mặt lấm lét, khiếp sợ của đám quân xâm lăng trong những bộ áo quần lem luốt, vua Quang Trung chỉ thị cho đội cận vệ phải đối xử tử tế, xuất kho lấy áo quần tươm tất cho mặc, nhà bếp nấu cơm cho đám tàn quân ăn uống no đủ đặng chờ ngày dùng làm “địch vận” thả về cố quốc. Nhân đó vua cho loan truyền những lời phủ dụ đến các tầng lớp nhân dân để bớt sự hoang mang, đồng thời kêu gọi những binh sĩ Mãn Thanh còn trốn tránh đó đây nhớ mau mau ra hàng để được hưởng khoan hồng mà triều đình nước Nam sẽ đưa xuống thuyền hồi quy bổn quốc.                                                  

Lịnh truyền đã xong và quân Tây Sơn phục mệnh thi hành, nhà vua bước vào thư phòng, nhìn trên bàn giấy có vô số mật thư, ấn soái của Tôn Sĩ Nghị và một tờ mật dụ của vua Càn Long nhà Thanh viết cho Tôn Sĩ Nghị như sau:

“Nghe lời tâu của khanh, trẩm cho phép đem binh mã ra cửa ải nhưng phải từ từ đừng vội vã; trước phải truyền hịch ra oai, rồi cho các quan nhà Lê về nước để chiêu tập lực lượng và tìm ra Duy Kỳ đương đầu với Nguyễn Huệ. Theo dõi họ chọi nhau mà đoán chừng những phương cách để đối phó.

Nếu dân Nam còn mến vua Lê thì Nguyễn Huệ ắt phải thua và lui binh, bấy giờ cho Duy Kỳ tiến quân đuổi bắt còn khanh thì kéo quân theo sau hỗ trợ, thế là không khó nhọc mà lại sớm thành công.

Nhược bằng nước Nam nửa theo phe nầy, nửa vọng phía kia thì Nguyễn Huệ chắc không chịu lui thì Khanh nên đưa thư chỉ bảo họa phúc để xem Huệ xoay trở thế nào?

Khi nào thủy quân của ta từ Phúc Kiến và lưỡng Quảng kéo ra biển khơi, Khanh cứ đánh lấy Thuận hoá, Quảng ngãi trước rồi thúc quân tiến lên khiến Nguyễn Huệ thọ địch ở cả sau lưng lẫn trước bụng ắt phải đầu hàng. Lúc đó ta cứ nuôi sống cả hai; từ Thuận hóa vào nam thì cắt chia cho Huệ, còn từ Nghệ an ra Bắc thì chia cho Lê tự tôn. Ta đóng đại binh ở giữa, cai quản cả hai rồi sẽ tính kế về sau.”

Đọc xong tờ mật dụ, vua Quang Trung mỉm cười rồi quay sang Ngô Thời Nhiệm nói rằng:

 “-Trẫm xem tờ chiếu Càn Long chẳng qua lấy cớ để chiếm nước ta. Nay đã bị đánh tan một trận tất phải xấu hổ, chẳng chịu yên thân. Trẫm nghĩ giá như hai nước cứ đánh nhau thì chỉ khổ cho muôn dân; vậy khanh nên dùng lời nói khéo để khiến cho can qua hết nạn binh đao. Việc nầy không có tay khanh thì chắc khó thành!”

Ngô Thời Nhiệm dâng kế nên dùng lối địch vận bằng cách trả tù binh Mãn Thanh về nước để gây uy thế cho Đại Việt và làm nhụt chí những quân sĩ muốn qua xâm lăng Đại Việt.

Do đó, vua Quang Trung liền cho tập hợp các hàng binh của Mãn Thanh và phủ dụ rằng:

“Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị của các ngươi, tài đong đấu rá, nghề mọn thêu may, không biết phép chủ yếu trong việc dùng binh, vô cớ đem ba mươi vạn quân ra ngoài quan ải, vượt núi, leo đèo, chui sâu hiểm địa, xô dân vô tội đưa các ngươi vào mũi tên, ngọn giáo, thảy đều là tội tên Tổng đốc của các ngươi. Trẫm một phen cờ lệnh vẫy lên, quét sạch lũ ngươi như quét đàn kiến, lũ ngươi thua tan, chết hại hàng vạn; những kẻ bị bắt tại trận buộc thế bức bách phải hàng; lẽ ra chiếu quân luật phải đem chém cả để răn đe phường bạo ngược. Thể đức hiếu sinh của trời đất, ta bao dung che chở, tha chết cho các ngươi!”

Bọn hàng binh này là khối lượng nhân chứng lớn để khi về nước sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực hoặc chủ hòa một khi binh Thanh có ý phục thù.

Vua Quang Trung đã đoán ý không sai tí nào, khi hay tin Tôn Sĩ Nghị bỏ cả ấn tín chạy về đến Quảng Tây và toàn bộ đại binh tan rã, các đại tướng phần thì chết, phần thì tự sát nên vua Càn Long nổi giận lôi đình vì thua trận một cách nhục nhã, bèn cử ngay Phúc Khang An làm Lưỡng Quảng Tổng Ðốc, định đem 500 ngàn quân vào Đại Việt đánh trả thù.

Phúc Khang An nghe bọn tàn binh về tâu lại rằng uy vũ vua Quang Trung như vầng nhật nguyệt, chỉ huy ba quân như lấy trứng trong áo, giọng nói như sư tử hống, võ nghệ siêu quần quả là bậc anh hùng kiệt liệt.

Hoảng sợ uy danh của vua Quang Trung, lại nghe tàn binh diễn tả làm Phúc Khang An sợ hãi vô cùng, lòng không muốn cử binh trả thù rửa nhục nên tìm cách can ngăn Càn Long bải binh. Phúc Khang An qua đến Quảng Tây nghe tiếng quân Nam thế mạnh, nên sợ và có ý muốn hòa, bèn sai người đưa thư sang nói việc lợi hại và bảo phải làm biểu tạ tội để cho yên việc binh đao.

===========

Dân tộc Đại Việt có một nền văn hóa từ thuở vua Hùng, trải qua nhiều triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến đời
hậu Lê này là một tổng hợp về văn học và nghệ thuật được thoát thai từ dòng tri thức bao gồm cả phong tục, tập quán, đạo đức, pháp luật, tín ngưỡng và thói quen do công sức của từng cá nhân thu đạt được trong đời sống hàng ngày và lan dần ra xã hội. Nền văn hóa Việt tộc có một chiều sâu đủ chứng minh được rằng đất nước này có một lịch sử lâu đời, không phải chỉ quanh quẩn trong một dãi đất có một biên cương hình chữ S mà nó còn lan rộng và ảnh hưởng đến cả các dân tộc láng giềng như Chân Lạp, Chiêm Thành và Tàu nữa. Nền văn hóa này được kết tinh trong một chuỗi dài lịch sử biến động, phát triển tuần tự theo thời gian và diễn biến không ngừng…

Chính nền văn hóa đó đã khiến vua Quang Trung không dùng cái kiêu hãnh của kẻ chiến thắng mà sử dụng sự khiêm cung, hòa ái cốt tạo nên chốn thái bình, an lạc cho muôn dân. Vua Quang Trung ý thức rõ từng nỗi đau của binh sĩ đến nỗi nhục của vua Càn Long bèn sai Ngô Thời Nhậm thảo bức thư như bản án hạch tội Tôn Sĩ Nghị quá tàn ác với dân Nam và vuốt cái giận sỉ nhục của nước lớn mà hình ảnh Càn Long bị chế diễu như quân cướp nước xâm lăng tiểu quốc. Ngô Thời Nhậm vốn là bậc thức giả đất Bắc hà không cần đắng đo liền mài mực, đốt lò hương trầm thơm ngát rồi chấp bút viết một mạch như sau:

“…Những mong Sĩ Nghị nghĩ lại, họa may có thể lấy ngọc lụa thay nạn can qua, xoay binh xa làm hội xiêm
áo. Không ngờ Sĩ Nghị nhắm mắt tiến binh nhưng vừa xảy ra giao tranh đã tan hàng rã ngũ, xô đè lẫn nhau mà chết.
Binh đao là chuyện bất đắc dĩ của thánh nhân…những chuyện phạm đến cương thường, Tôn Sĩ Nghị không tâu rõ từng việc một. Hắn che lấp tai mắt nhà vua đến nổi làm cho sự việc rối ren đến thế!”.
Ngoài những bức thư vừa hùng tráng, vừa trách móc, vừa nói cái đức của thánh nhân kết hợp với vận dụng bá quan trong triều đình Mãn Thanh can ngăn Càn Long bỏ ý định tiến binh; đồng thời Phúc Khang An cũng không dám động binh nên viết sớ tâu trình lên vua Càn Long để bãi chiến:

“Nam Bắc bớt được nạn can qua, rõ là phúc lớn cho sinh linh và cũng là vận may cho kẻ biên thần.”
Rồi các quan Mãn Thanh đúc kết lịch sử tiền nhân nên quả quyết “-Từ xưa đến giờ, Trung Quốc chưa bao
giờ đắc chí ở cõi nam phương. Chính các triều đại Tống, Nguyên, Minh rút cuộc cũng đều thua hỏng, gương ấy không xa, hãy còn trờ trờ ra đó nên dù Phúc Khang An có đem vài muôn binh sang Đại Việt cũng dễ tan tành manh giáp.”

Vua Càn Long nghe xong, lòng cũng rã rời, không ngờ đất Nam kia có kẻ siêu phàm nhập thánh đến như
vậy? lại nữa, các quan nghị bàn nên hòa tốt hơn là chiến nên vua Càn Long đi đến quyết định bãi binh, lá cờ “Cửu Tỉnh Binh Mã” được hủy bỏ và Tôn Sĩ Nghị bị giáng chức làm thường dân.
Sau khi dùng lối ngoại giao tuyệt kỹ để giảm tối đa khả năng đem binh qua Đại Việt, kết quả triều đình Mãn Thanh phải ngậm đắng, ôm hận chua cay trong mộng ước thôn tính phương nam.
Mọi việc tạm ổn, vua Quang Trung giao lại đất Bắc hà cho Tư đồ Ngô Văn Sở, Phạm Văn Lân cử cắt việc
binh và Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích lo chu toàn ngoại giao với phương bắc đặng giữ bờ cõi khỏi nạn can qua.

*

Từ ngàn năm nay nước Đại Việt dù có chiến thắng oanh liệt những đội quân hùng hậu bắc phương thì vẫn giữ cách khiêm tốn để cho người Tàu khỏi động lòng tham mà đem binh tràn qua biên ải. Các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến hậu Lê thảy đều coi Trung Hoa như một cơn ác mộng, nhưng cũng ép mình cho khỏi xảy đao binh bằng cách xin phong vương và triều cống đặng Đại Việt được quốc thái dân an.
Phát xuất từ ý niệm tích cực ấy nên vua Quang Trung chợt nghĩ đến chuyện bá tánh Đại Việt gánh chịu nạn đao binh triền miên, bèn tìm cách cho quốc gia thịnh trị khỏi nạn can qua nên sai Ngô Thời Nhậm làm ngoại giao để Thanh triều công nhận vua Quang Trung là Hoàng đế nước Đại Việt.

Trước hết, Ngô Thời Nhậm quan hệ mật thiết với Phúc Khang An đang làm Tổng đốc lưỡng Quảng và dùng vị tướng Tàu này cho mục đích hóa giải mộng báo thù của vua Càn Long, đồng thời tìm cách cho bọn Lê Chiêu Thống cùng đám tùy tùng bỏ đi mộng khôi phục ngai vàng Lê triều. Nguyễn Quang Hiển là cháu của vua Quang Trung đại diện nước Nam bàn chuyện hơn thiệt với Phúc Khang An về việc phong vương cho vua Quang Trung.
Khang An viện các lý lẽ hiện thực để chứng minh rằng nước Nam là đất của người Nam, phương bắc không nên đụng đến làm chi; cuối cùng vua Càn Long phải nuốt giận mà thuận cho vua Quang Trung làm An Nam quốc vương, nhưng để giữ cái thể diện nhục nhã trong trận xâm lược vừa rồi, vua nhà Thanh đưa ra hai điều kiện:

Thứ nhất là lập đền thờ Đề đốc Hứa Thế Hanh tại nước Đại Việt để thờ cúng.
Thứ hai là vua Quang Trung phải thân hành sang triều cống để được phong vương vào năm tới nhân dịp bát tuần khánh thọ của vua Càn Long.
Dĩ nhiên nước Đại Việt phải tạm chấp nhận nhưng Ngô Thời Nhậm lại dùng mưu buộc Càn Long phải
phong vương cho vua Quang Trung trước khi ngài qua chúc thọ bát tuần của thánh hoàng.
“Quốc trưởng Quang Trung chưa được nhận phong mà sang năm cùng với Quốc trưởng các nước khác
nhất tề cùng vào chúc mừng đại Hoàng đế thì không khỏi bất tiện.”
Lời lẽ như vậy thì không cách nào chối từ nên vua Càn Long chịu lếp vế ban chỉ dụ phong vương cho
Quang Trung hoàng đế rồi tự tay viết bảy chữ trong chiếc áo cẩm bào để dâng tặng ngài. Chiếc áo cẩm bào thật đẹp
với dòng chữ “Xa tâm triết trục, đa điền thử” (Trục xe bị gãy, ngoài ruộng nhiều chuột đồng). Vua Càn Long đặc phái
hai vị đại thần mang tờ sắc đến nước Nam tuyên phong.
Vua Quang Trung thật lòng không cần vương tước của Thanh triều làm gì nhưng cốt để yên dân nên bèn
cho con thứ là Nguyễn Quang Thùy ra Thăng Long nhận sắc phong vương.
Tinh thần độc lâp, khí khái, kiêu hãnh của vua Quang Trung đã làm cho thần dân Đại Việt hãnh diện, bá
quan văn võ kính nể tôn phò. Các quan triều đình có nhắc đến chuyện lập đền thờ Hứa Thế Hanh cho có chuyện rồi cũng lờ chuyện đó, vì Hứa tướng quân là kẻ xâm lăng Đại Việt không xứng đáng thờ phượng tại đất Nam.
Đến mùa xuân năm Canh tuất là dịp bát tuần khánh thọ vua Càn Long, các Quốc trưởng được Thanh triều
phong vương đều đến Trung Quốc để làm lễ chúc thọ.
Lẽ ra vua Quang Trung phải thân chính đến tận triều đình Mãn Thanh theo nghi thức khánh chúc trường thọ nhưng ngài lại khước từ vì sĩ diện Đại Việt bèn dùng kế “du long chuyển phượng” (trộm rồng thay phượng, ý là thay đổi đối tượng) thực hiện việc ngoại giao nầy.
Ngô Thời Nhậm ra sức tìm được một người có gương mặt đoan chính hao hao giống vua Quang Trung tên là Phạm Công Trị, cháu phía ngoại gọi Quang Trung bằng cậu. Sau khi huấn luyện nghi thức triều gia khá thuần thục, Phạm Công Trị thân hành cùng đoàn tùy tùng trên một trăm người gồm Hoàng tử Nguyễn Quang Thùy, Ngô Văn Sở, Đặng Văn Chân, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn và một đoàn nhạc vũ công biểu diễn mười tiết mục độc đáo làm quà chúc thọ Càn Long theo phong tục dân Nam. Ngoài ra, phái đoàn còn mang theo hai thớt voi, một số quý vật và hải sản hiếm hoi để làm vui lòng Càn Long đặng kéo dài thời gian không cho ý nguyện phục thù của đám con cháu Hứa Thế Hanh, Sầm Nghi Đống xía vào trong những kỳ luyện binh rèn kiếm.

Sở dĩ hai thớt voi được mang đi triều cống là chủ ý của vua Quang Trung muốn phái đoàn vừa đi chậm rãi theo voi, vừa vẽ các mục tiêu, bản đồ, đồn trại của hai tỉnh giáp giới nước Đại Việt để sau này tiến hành công cuộc Bắc phạt một khi cơ hội chín muồi trong khoảng vài năm sắp đến.

Giả vương Phạm Công Trị được Phan Huy Ích soạn thảo văn thư thác danh Quang Trung gởi về cho thế tử
Quang Toản căn dặn việc nước. Chính những văn từ không niêm theo lệ nhà Thanh đọc trước này đã làm cho Càn Long cùng triều đình Mãn Thanh khâm phục vô cùng.

Sự kính nể của triều đình Mãn Thanh khiến vua Càn Long tưởng lầm rằng Quang Thùy là con trưởng nên
sắc phong Thế tử và tặng hà bào hương khí là loại đồ thơm gói ướp hương cùng lụa là gấm vóc thượng hạng. Khi giả vương cho biết là Quang Thùy chỉ là thứ nam, Thái tử Nguyễn Quang Toản mới là trưởng bối nên Càn Long thêm một phen tặng ngọc quý và phong cho Quang Toản là “An Nam Quốc Vương Thế tử”.
Tài danh Phan Huy Ích dùng văn thơ đối đáp với Càn Long thật tuyệt vời, chữ viết như rồng bay mà ý tứ cao xa đầy huyền vi thâm diệu; do đó mà chuyến đi chúc thọ đạt được sự chí thành khiến Hoàng đế Thanh triều hứng chí tự tay rót rượu mời các quan Đại Việt cùng uống, bắt đội nhạc công Trung Quốc ăn mặc theo lối Đại Việt và học ngôn ngữ Việt để làm hài lòng phái bộ quan Nam, vì mến mộ như vậy nên vua Mãn Thanh ban tặng bao quà cáp để ghi nhớ cuộc tao phùng với người mộ điệu, thật là xưa nay chưa có một cuộc chúc thọ nào hưng phấn, trọng vọng, trí thức cho Càn Long bằng phái bộ Đại Việt đầy thông minh, tinh xảo.

Dù phái đoàn giả vương đã làm cho triều đình Mãn Thanh nể phục nhưng vua Quang Trung vẫn điềm nhiên toạ thị ở tại thành Phú Xuân đương kim hành xử của một vị Hoàng đế mưu lược, lập Ngọc Hân công chúa làm Bắc Cung Hoàng hậu, phong Quang Toản làm thái tử, lấy thành Nghệ An là nơi quê hương tổ phụ đặt làm kinh đô đại điện hay còn gọi là Phượng Hoàng Trung Đô vì ở giữa Thăng Long và Bắc thành, ngày đêm lo việc củng cố lực lượng, mở mang học thuật văn hóa, dùng chữ Nôm làm quốc ngữ, sắp đặt lại xã hội đương thời, khuyến khích chăn nuôi, canh nông trồng trọt và nhất là chiêu hiền đãi sĩ để chọn anh tài đứng ra giúp đời, giúp nước. Vua Quang Trung không mệt mỏi trong công tác tập luyện quân binh chuẩn bị một ngày tốt đẹp đem đại quân tràn qua biên giới phía bắc đặng tấn công lưỡng Quảng hầu sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt lớn hơn, rộng hơn.
Đương lúc Quang Trung Hoàng đế lo việc mở rộng đất nước, khuyến khích canh tác cho trù phú, khai dụng học thật văn chương đến mọi giai tầng xã hội thì tại phía nam, Nguyễn Phúc Ánh đem binh tấn công Gia Định thành để lập lại triều nghi cơ ngơi nhà chúa.
Số là sau khi vụ việc bất hòa giữa hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ kéo dài mấy tháng đi đến xung khắc kịch liệt ở Quy Nhơn, nhưng rồi cũng đã được giải quyết xong, Chính Bình Vương phải trở lại Phú Xuân trấn giữ và không có cơ hội vào nam vì thế kẹt bởi Trung Ương Hoàng đế Nguyễn Nhạc án ngữ ở giữa.
Nguyễn Lữ là Đông Định Vương giữ đất Gia Định cùng với quan Thái phó Phạm Văn Tham ổn định nội trị,
kiến thiết ngoại thành. Khi Nguyễn Ánh mộ được binh mã kéo về đánh thành Gia Định thì thế lực vô cùng hùng mạnh bởi sự trợ lực từ ngoại bang với vũ khí tinh xảo, Nguyễn Lữ phải lui về Lạng Phụ đất Biên Hòa trấn thủ để cho Thái phó Phạm Văn Tham cố thủ giữ thành.
Nguyễn Phúc Ánh bèn dùng kế ly gián, giả bức thư của Hoàng đế Nguyễn Nhạc truyền lệnh cho Nguyễn Lữ phải tìm cách sát hại Phạm Văn Tham. Thơ lại đến tay Thái phó nên Phạm văn Tham kinh hãi liền kéo quân ra Lạng Phụ để giải bày lý lẽ thiệt hơn.

Nguyễn Lữ vốn ngại Nguyễn Phúc Ánh vì nhiều mưu mô lại được Linh mục Tây là Bá Đa Lộc ngày đêm
giúp sức, liệu bề thắng không xong mà thấy Thái phó kéo quân binh có cờ trắng dẫn đầu tiến về phía mình, Đông Định Vương tưởng là Thái phó họ Phạm đã đầu hàng với Nguyễn Phúc Ánh, đem quân chống lại Tây Sơn nên Nguyễn Lữ vội bỏ thành Biên Hòa, xuống thuyền căng buồm chạy về Quy Nhơn.
Thuở thiếu thời Nguyễn Lữ theo anh là Nguyễn Huệ thụ giáo với võ sư Nguyễn Văn Hiến, nhưng Nguyễn Lữ thể trạng mỏng manh nên được thầy Hiến chân truyền cho môn Miên quyền. Nhân dịp quan sát dân chúng thường đá gà giải trí nên Nguyễn Lữ đã nghiền ngẫm và sáng tạo ra Hùng Kê quyền từ gốc Miên quyền (Yếu có thể đánh mạnh, Thấp có thể đánh cao, Nhỏ có thể đánh lớn, Ít có thể đánh nhiều), một bài võ áp dụng việc đá gà như lấy yếu có thể đánh mạnh, lấy thấp có thể đánh cao, lấy nhỏ có thể đánh lớn và lấy ít có thể đánh nhiều, chủ yếu sử dụng cho phù hợp với thể tạng cũng như vừa vặn với thân hình bé nhỏ của người Việt.

Ngay sau khi sáng tạo Hùng Kê quyền lập tức được các nghĩa quân Tây Sơn tập luyện và ứng dụng rộng rãi bởi tính hiệu năng của nó. Vào trận, trường quyền như giông như bão liên tục phủ xuống nhưng Hùng Kê quyền vẫn cứ ung dung xuyên qua xuyên lại tựa chú gà con lanh lẹ trước một chàng gà tồ to lớn hung dữ nhưng chậm chạp, để rồi khi đối thủ lộ sơ hở thì chỉ cần một chiêu của Hùng Kê quyền đá gục đối phương. Đông Định vương Nguyễn Lữ xuống thuyền trở lại Quy Nhơn giữa mùa Vu Lan năm Đinh Mùi (1787) để chịu tội cùng anh, rồi lên ngựa trở về Kiên Mỹ thăm lại cố hương. Qua tiết Trung thu năm ấy, hai anh em Tây Sơn vương cúng giỗ tiên hiền rồi chia tay nhau, Hoàng đế Nguyễn Nhạc theo nghiệp bá để bành trướng thế lực đất Quy Nhơn, riêng Nguyễn Lữ một thân một ngựa ra đi nơi mây ngàn hạc nội, rồi mười năm sau đó một dịp tình cờ chuyển quân ngang qua đèo Hải Vân, Nguyễn Văn Dũng gặp được một thiền sư chống gậy trúc khoang thai du hành trên đỉnh non cao hao hao giống Đông Định Vương thuở nào; quân binh thừa hưởng bài võ Hùng Kê quyền truyền thụ từ vị tổ sư Nguyễn Lữ như di sản quý giá giúp Tây Sơn bao phen chiến thắng ngoại xâm cùng nhau nghiêng mình kính cẩn tiễn chân vị thiền sư bước vào chốn thanh tịnh chân như, rũ bỏ chuyện tranh bá đồ vương, hơn thua, được mất.

Như Ninh – Nguyễn Hồng Dũng

===========

Thăng Hoa Cuộc Đời – Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

Thái phó Phạm Văn Tham vào thành Biên Hòa thì vở lẽ mình bị xí gạt liền quay ngược, kéo binh đánh thốc vào bản doanh Nguyễn Phúc Ánh, dù mấy lần đại thắng nhưng không đủ quân lương, phần thì Đông Định Vương hồi quy bổn địa nên không đủ sức giữ lại Gia Định thành. Hơn nữa Nguyễn Phúc Ánh lại được nhiều tướng Tàu ra giúp đỡ, vì vậy đất Gia Định không bao lâu lại lọt vào tay Nguyễn Phúc Ánh, vương bèn lo chỉnh đốn lại thuế khoá, khuyến khích nông nghiệp, lập ra luật pháp rồi chuẩn bị binh mã tiến đánh Tây Sơn.

Thành Quy Nhơn tức Hoàng Đế thành do Trung Ương Hoàng đế Nguyễn Nhạc cai quản cũng chỉ lấy việc thủ thành làm căn bản. Sau những chuyện bất hòa giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ được giải quyết xong thì đất Quy Nhơn đã không còn là nơi quy tụ nhân tài mà các anh hùng kiệt hiệt thì hầu hết đến với vua Quang Trung, hoặc vào Nam hợp tác với Nguyễn Phúc Ánh.

Nhạc càng ngày càng già và không có nhiều sáng kiến sửa đổi về phương diện quân binh, hành chánh, kinh tế, quốc phòng…trái lại hay có tính nhỏ nhen, tị hiềm cá nhân nên tự cô lập bản thân và triều thần. Sự cố thủ để hưởng nhàn tại thành Quy Nhơn đã giúp cho Nguyễn Phúc Ánh đem quân tấn công mấy lần khiến cho Đông Định Vương phải chạy về Hoàng Đế thành mà Nguyễn Nhạc cũng không tìm cách liệu bề chống đỡ.

Vua Quang Trung biết sự lợi hại ở Nam hà và Nguyễn Phúc Ánh đã khôn khéo lợi dụng ngoại bang để giành lại ngai vàng nên Vua đang chuẩn bị kế hoạch hợp tác ngoại giao với Lào và Chân Lạp để khỏi bị Nguyễn Phúc Ánh liên kết chống lại Đại Việt, mặc khác Vua còn cho chuyển quân bằng đường thủy từ Phú Xuân bọc ra cửa bể tiến vào Sài Gòn, Biên Hòa giúp Đông Định Vương chống lại Nguyễn Phúc Ánh, sự cấu kết giữa các nước phương tây với kỷ thuật khoa học ngoại bang mưu giúp Nguyễn Phúc Ánh lấy lại ngai vàng hòng trao đổi một phần lãnh thổ hoặc tự do truyền đạo Ki Tô khiến ngoại lai xả thân bằng mọi cách để đối chọi với Tây Sơn.

Chính những nỗi khắc khoải ưu tư cho cơ đồ Đại Việt, vua Quang Trung quyết ra sức tổ chức một đội quân hùng mạnh không những để đối phó với Nguyễn Phúc Ánh đàng trong, mà còn huấn luyện binh mã thật tinh nhuệ để tiến binh đánh chiếm Quảng Đông, Quảng Tây làm nền tảng độc lập, hùng cường, bất cần những sự phong vương định tuớc của triều đình Mãn Thanh, hẳn nhiên chính Đại Việt sẽ ngang hàng với các cường quốc lâng bang trong đó có Trung Hoa.

Vua Quang Trung đặc biệt chú trọng đến vấn đề tổ chức binh đội để dễ luyện tập, kiểm soát và sử dụng đúng chức năng từng toán, từng tổ. Ngài chia quân đội ra làm nhiều đạo quân như tiền hậu quân, tả quân, hữu quân, trung quân. Mỗi đạo quân gồm nhiều cơ, mỗi cơ chia làm nhiều đội với hàng ngũ chỉnh tề, kỷ luật hết sức nghiêm túc trong khi tập luyện hoặc xuất binh đánh giặc cũng vậy.

Vua Quang Trung đốc thúc các tướng luyện tập binh đội theo kinh nghiệm thực tiển dựa trên các trận đánh với Nguyễn Phúc Ánh hoặc với Mãn Thanh trong trận Đống Đa để lấy sở trường của từng đạo quân. Lối đánh thần tốc trong các trận địa mà chính vua Quang Trung chỉ huy đã áp dụng đều thành công và chiến thắng vinh quang.

Lối đánh theo pháp thủy quân được luyện tập cho những đạo quân chính quy nên tạo được uy thế cho vua Quang Trung mỗi lần xuất binh. Đặc biệt những lần kéo quân vào Nam hà diệt Nguyễn vương, vua Quang Trung đều dùng thủy binh tấn công một cách chớp nhoáng; vang dội chiến công đó khiến các nước lâng bang e ngại và kiêng nể uy danh vua và triều thần nước Đại Việt.

Lối đánh du kích cũng được vua Quang Trung nghiên cứu kỹ luỡng và tận dụng trong các địa thế hiểm hóc như trận tuyến Rạch Gầm, Xoài Mút, Đống Đa…nên đội quân đặc nhiệm này được huấn luyện xuất quỷ nhập thần về lối dàn dựng cách phục binh du kích đã góp phần không nhỏ trong sự chiến thuật đẩy lùi ngoại xâm, đem độc lập thật sụ cho non sông.

Ngoài ra tượng binh và kỵ binh là những đội hình được huấn luyện gay go, kiên nhẫn và linh hoạt nên đại sự hoàn thành và vinh quang vô cùng to lớn cho Quang Trung Hoàng đế đã là kết quả của những khổ nhọc tập luyện không ngừng dù mưa to gió lớn. Linh hồn của các đội kỵ và tượng binh chính là  nữ tướng Bùi Thị Xuân, vị nữ tướng kiệt hiệt hùng anh đã dày công uốn nắn hàng trăm thớt voi và hàng vạn quân binh trong công tác chiến đấu phá công thành không mệt mỏi.

Pháp luật nghiêm minh trong quân ngũ đã giúp cho vua Quang Trung thành công to lớn trong bất cứ trận đánh nào, Việc quân lương lại là bộ phận tối cần thiết được vua Quang Trung luôn nhắc nhở như là sự quyết định của thắng bại trong chiến đấu, do đó, hỏa lực Tây Sơn được dồn vào đạo quân công phá các kho lương của địch để làm hậu thuẩn khi các đạo quân khác tấn công phá thành. Về khí cụ quân nhu, vũ khí đều do sự sáng kiến tân trang bởi các loại cổ truyền như gươm, đao, giáo, mác đến những cổ súng đại bát thần công và các loại thuốc súng tự chế hoặc tịch thu từ ngoại bang đang ủng hộ cho Nguyễn Phúc Ánh.

Thật ra, hỏa lực, vũ khí của Nguyễn Phúc Ánh hơn hẳn quân đội Tây Sơn nhờ sự giúp đỡ của Pháp, nhưng những lần xáp chiến thì quân Nguyễn vương đều thua chạy bởi sự khéo léo dụng binh của chư tướng soái Tây Sơn đầy can trường và tinh thần độc lập vì chính nghĩa của nhân dân hơn là sở cậy ngoại bang.

Mưu lược lỗi lạc và tính toán đúng chiến thuật của vua Quang Trung là yếu tố quyết định trong tất cả các trận chiến dẫn đến thành công lớn, một phần do các tướng chỉ huy Tây Sơn luyện tập võ nghệ phi thường, huấn luyện binh mã suốt những thời gian không chiến tranh, trau dồi tính kiên nhẫn, gan dạ cho ba quân tướng sĩ dưới điều kiện thời tiết khắc nghiệt và phong thủy của núi rừng ngăn trở từ Hoành Sơn chạy vào Quy Nhơn; phần còn lại và quan trọng hơn tất cả là yếu tố lòng dân qua sự vận chuyển lương thực trong nhiều trận đánh đã được toàn dân ủng hộ. Điểm son chói lòa của Nguyễn Huệ không chỉ là chuyện quân sự điều binh đánh giặc mà còn vận dụng khả năng chính trị, tâm lý và đạo đức để toàn dân tham gia đại cuộc.

Trong khoảng thời gian rất ngắn từ khi lên ngôi Hoàng đế, vua Quang Trung đã thiết lập được một xã hội trật tự, thống nhất và phú cường mà trước kia vốn là một xã hội thiếu tôn ti, ỷ lại, lợi dụng quyền uy của một nhóm người bất lương để buôn dân bán nước.

Ngai vàng mục nát của các trào vua Lê là cái cớ của bao nhiêu đám sứ quân trương cờ phù Lê mà hại dân hại nước. Đàng ngoài thì chúa Trịnh nắm toàn bộ quyền bính trong tay, thậm chí có quyền phế vua hay bức tử Hoàng đế; còn đàng trong các chúa Nguyễn cũng lợi dụng chiêu bài phò Lê mà kéo dài cuộc chiến trên mấy trăm năm. Các nhóm “sứ quân” khác cũng y như thế mà hùng bá một cõi khiến giang sơn đất tổ bao phen chấn động binh đao.

Vua Quang Trung lên ngôi Hoàng đế có nghĩa là cái ngai vàng Lê triều kia đã phải thu bóng để thời gian lặng lẽ trôi đi, vì chính nó là mấu chốt của sự cục bộ, tham lam, ngu ngốc và ích kỷ.

Nét nghệ thuật dưới sự lèo lái của vua Quang Trung là một thời kỳ vàng son cho văn học độc lập, vua Quang Trung bắt buộc toàn dân học chữ Nôm, một thứ chữ riêng của người Đại Việt, Các áng văn, thơ, thi, phú, sắc phong đến việc thi cử, học hành, quan kiện đều lấy chữ Nôm làm gốc.

Những bài hịch kể tội quân xâm lăng hoặc kêu gọi toàn dân tham gia đánh giặc là những áng văn Nôm biểu lộ ý chí bất khuất, độc lập của dân tộc Đại Việt, cũng trong quãng thời gian ngắn ngủi, đại đế Quang Trung đã đốc thúc xây dựng những công trình văn hóa khác như Phượng Hoàng, Trung Đô ở Nghệ An để biểu lộ sức sáng tạo thật sự của triều đại Tây Sơn. Sự kiện tập trung các đền miếu chùa chiền trong làng thành những tu viện lớn trong quận huyện cũng là sự cố gắng cải cách tôn giáo có ý nghĩa, để kiến tạo một xã hội lấy tín ngưỡng hướng thiện làm chỉ nam đạo đức nhân bản, không bị mê tín tà linh và lệ thuộc lối suy tư từ phương bắc là biểu trưng nét độc đáo thuần khiết của Đại Việt dưới triều đại Tây Sơn qua hình thái tôn giáo trong lòng dân tộc.

Đại đế Quang Trung xuất thân từ vị anh hùng áo vải đất Tây Sơn, tay trắng lập nên sự nghiệp lẫy lừng, đánh tan hai đầu quân xâm lược…tất cả công lao ấy là do sự tài tình trong nghệ thuật lãnh đạo anh minh vì mục đích tối hậu cho tổ quốc. Nhưng phần chính yếu là vua biết lấy nền tảng dân tộc làm trụ cột cho cuộc đấu tranh; do đó, vua Quang Trung lãnh đạo toàn dân chống ngoại xâm điển hình qua trận Xoài Mút đuổi Xiêm La và trận Đống Đa tiêu diệt Mãn Thanh, cả hai sự chiến thắng oanh liệt này quyết định vận mạng tồn vong của quốc gia do toàn dân quyết tâm chiến đấu và định hình sự độc lập bất khả phân.

Để đưa nước nhà đến chỗ hùng cường và trọn vẹn lãnh thổ không những về phía nam mà hướng bắc cũng cần phải phát triển. Do đó kế hoạch Bắc phạt đã xuất hiện rất sớm trong đầu vị anh hùng áo vải Tây Sơn từ khi vua Lê còn đang chễm chệ trên ngai vàng mục nát.

Trải qua bao triều đại thịnh suy giữa một giải giang sơn cẩm tú, nước Đại Việt luôn là mục tiêu mà nước Tàu thường xuyên đem binh đánh chiếm, những chứng tích lịch sử rành rành rằng triều đại các vương tộc thường thường thủ thế để giữ nước, bảo vệ chủ quyền hơn là phản công qua tận đất Trung Hoa hạch tội, ngoại trừ anh hùng Lý Thường Kiệt đời Lý đã làm cho nhà Tống thất điên bát đảo khi Ngài đem binh tấn chiếm các tỉnh phía nam Trung Hoa. Với tinh thần đó, vua Quang Trung không muốn Đại Việt bị xem thường do bởi thành kiến từ những triều đại trước kia mà Bắc phương thường đem binh lấn áp, ngay từ những buổi giao thời vua chịu tạm thời chấp nhận cho Càn Long phong vương để thăm dò lực lượng đối phương, kéo dài thời gian nghiên cứu địa hình và củng cố binh lực, khi yếu tố phục thù đầy đủ và lòng dân đã bao phen ủng hộ thì vua Quang Trung quyết định đánh chiếm lưỡng Quảng đặng mở mang bờ cõi.

Bá quan văn võ thấy vị Hoàng đế của mình có sáng kiến uy vũ đại nghiệp cho dân tộc nên hết lòng phò tá, bộ Lại xem xét số dân đinh đích thực để trong ba người dân chọn lấy một người lính, với cách vận dụng phép nhập ngũ thế này thì quân binh Tây Sơn đã lên đến mấy muôn chiến sĩ.

Triều đình cấp phát loại thẻ chứng minh thư tục gọi là “Thiên Hạ Đại Tín”(một loại căn cước với lý lịch rõ ràng ) ghi rõ tên tuổi, quê quán từng người để dễ kiểm soát một cách chính xác hầu chọn lựa dân quân luyện tập võ nghệ cho kế hoạch đánh Tàu. Các đạo quân được tuyển thì ngày đêm rèn luyện kiếm cung, người nông dân lo canh tác lúa gạo lương thực, kẻ già yếu ở nhà thì vót cung tên, tầm vông, cọc nhọn; ai nấy đều nao nức chuẩn bị cho một cuộc Bắc tiến hầu tỏa ánh sáng kiêu hùng làm rạng rỡ quốc dân Đại Việt.

Kế sách chuẩn bị trước khi chính thức tuyên chiến, vua Quang Trung khuyến dụ các doanh gia bành trướng thị trường đến Quảng Tây, Lạng Sơn rồi cho dân Đại Việt qua đường biên giới vào sâu nội địa nước Tàu buôn bán, hành nghề. Khi vua Quang Trung viết thư nhờ Phúc Khang An chuyển biểu đòi lại bảy châu trong đất lưỡng Quảng, buộc vua Càn Long phải chấp nhận lời biểu ghi rõ: “Chỉ vì phần đất cõi nam đang làm phên dậu, bốn bề giáp ranh với vùng đất mà sử sách đã minh định” đến một bước kế tiếp là “xin đất lưỡng Quảng làm kinh đô nước Nam”, cả hai đề nghị trên đều được Thanh triều chuẩn y thuận chấp.

Để thăm dò thêm sự phản ứng của vua Càn Long nhà Thanh, Hoàng đế Quang Trung đặc cử Tướng quân Võ Văn Dũng đi sứ cầu hôn công chúa đương triều để tìm hiểu ý nghĩ vua Mãn Thanh đồng thời đòi lại những đất đai đã mất dưới đời Lê Mạc, bãi việc cống người vàng là một quốc hận đáng kể cho dân Việt từ đời vua Lê Lợi…không ngờ sứ đoàn của Đại Việt đến kinh đô Trường An đã được vua Càn Long ân cần tiếp đãi trọng hậu và thuận y đề nghị hôn nhân chọn ngày lành gả công chúa Thanh triều cho An Nam Quốc vương đồng thời cắt đất Quảng Tây để làm kinh đô Đại Việt như sự đề nghị của Hoàng đế nước Nam.

Như Ninh – Nguyễn Hồng Dũng

================




KHÔNG QUÂN: KHÔNG BỎ ANH EM, KHÔNG BỎ BẠN BÈ – KIỀU MỸ DUYÊN




LÊ XUÂN NHUẬN: (Hồi kí Mùa Tháng 6) TH.TG. NGUYỄN KHẮC BÌNH VS  – BIẾN-LOẠN MIỀN TRUNG

(Hồi kí Mùa Tháng 6) TH.TG. NG.KHẮC BÌNH VS 

BIẾN-LOẠN MIỀN TRUNGTHIẾU-TƯỚNG NGUYỄN KHẮC BÌNH

Lê Xuân Nhuận và cựu Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình

         VÀO một ngày không lâu sau Lễ Quốc-Khánh 1-11-1974, tôi lại nhận được lệnh khẩn vào gặp Đại-Tá (về sau là Chuẩn-Tướng) Huỳnh Thới Tây, Phụ-Tá Tư-Lệnh CSQG đặc-trách Ngành Ðặc-Biệt Trung-Ương, mà không được biết lý-do hay mục-đích gì, cũng y như lần gọi tôi vào trình-diện, cuối tháng 9 năm 1973, để đưa tôi về Miền Trung. 

        Tôi vừa bước vào văn-phòng là Đại-Tá Tây dẫn tôi đi ngay với ông, lên xe, qua bên tòa lầu của Chuẩn-Tướng (về sau là Thiếu-Tướng) Nguyễn Khắc Bình, Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia. 

        Lên tầng trên rồi, ông mới nói nhỏ với tôi:

        −  Chuẩn-Tướng Tư-Lệnh muốn gặp riêng anh. 

*

        Lúc đó, ngồi tại phòng-chờ ngay trước phòng-giấy của Tư-Lệnh CSQG đã có ba viên đại-tá đang bàn-cãi gì đó với nhau.

        Đó là các Đại-Tá (về sau là Chuẩn-Tướng) Nguyễn Văn Giàu, Phụ-Tá An-Ninh của Tư-Lệnh, và Trương Bảy, Phụ Tá Điều-Hành của Tư-Lệnh; cùng Đại-Tá Phạm Kim Quy, Trưởng Khối Tư-Pháp.

        Đại-Tá Giàu nổi tiếng trong giới viên-chức dân-sự tại Bộ Tư-Lệnh CSQG là một sĩ-quan quân-sự rất “dữ”.  Nhưng tôi thấy ông là một vị tướng… không quân.  Ông đảm-trách Kế-Hoạch  “Cảnh-Sát-Hóa”, an-ninh tổng-quát, các việc bắt giam và các loại trại giam của CSQG trên toàn-quốc, v.v… song chỉ ngồi ở Trung-Ương, chứ không có một hệ-thống tổ-chức nào đi xuống địa-phương, nên không có phần-vụ hay nhân-viên nào đặc-trách để chấp-hành mệnh-lệnh của ông từ cấp Vùng trở xuống cấp Tỉnh+Thị, nói chi đến cấp Xã+Phường.  Chỉ có riêng tôi ở Vùng II trước kia, và ở Vùng I hiện nay, là tự-nguyện thực-hiện (bên ngoài nhiệm-vụ Cảnh-Sát Đặc-Biệt của tôi) và làm trung-gian xuống các cấp dưới để thực-thi các chỉ-thị của ông.  Trực-diện thì tôi đã có gặp ông trước rồi.  Hồi mới từ Phủ Đặc-Ủy Trung-Ương Tình-Báo qua Cảnh-Sát Quốc-Gia, ra công-tác ở Vùng II, từ trên phi-cơ bước xuống sân-bay là ông liền bị xâm-xoàng; tôi, là người ra đón ông − hầu như lần nào có việc gì liên-quan đến Quân-Lực hay quân-nhân là cấp chỉ-huy CSQG tại Vùng II đều cử tôi đại-diện đi dự họp, tiếp-xúc, v.v… − tôi đã giúp đưa ông vào một phòng-ngủ trong khách-sạn Nha-Trang để ông nằm tạm nghỉ-ngơi.

        Đại-Tá Tây giới-thiệu tôi với họ:

        − Đây là Thiếu-Tá Lê Xuân Nhuận, Phụ-Tá Đặc-Biệt Khu I.

        Sau khi các ông bắt tay tôi xong, Đại-Tá Bảy tóm-tắt cho Đại-Tá Tây biết sự hiện-diện của họ tại đây, đại-ý là họ phải vào báo-cáo ngay cho Tư-Lệnh biết về cái Thông-Tư Liên-Bộ quy-định thể-thức giải-tán biểu-tình, vì Tư-Lệnh muốn đọc cho biết nội-dung, trong lúc cần phải có quyết-định gấp về trường-hợp của Thiếu-Tá Liên Thành, Chỉ-Huy-Trưởng CSQG Thừa-Thiên‒Huế, là người vừa mới đàn-áp một cuộc xuống đường do chính Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, Chánh Xứ Phú-Cam (Huế), dẫn đầu.

        Đại-Tá Quy nói rằng mình mới nhậm-chức, nên không biết về cái Thông-Tư ấy, bảo các phần-hành tìm thì tìm không ra.

        Đại-Tá Giàu nói là vấn-đề cần phải được giải-quyết ngay, vì phía Hội-Đồng Giám-MụcTòa Tổng-Giám-Mục, nhất là “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”, thì đang gây áp-lực nặng-nề lên Chính-Quyền. 

        Các vấn-đề tín-ngưỡng/giáo-hội (cũng như chính-trị/đảng-phái, v.v…) đều thuộc quyền kiểm-soát của Ngành Đặc-Biệt, và các biến-cố/tình-huống liên-hệ ở Thừa-Thiên/Huế đều do tôi ở Vùng I thay mặt Trung-Ương theo-dõi/điều-tra.  Cho nên tin-tức của tôi có giá-trị bổ-túc cho tài-liệu của Bộ Tư-Lệnh CSQG. 

        Nhân cơ-hội này, tôi thấy cần-thiết nên đã nói với Đại-Tá Giàu:

        − Thưa đại-tá, trong vụ vừa rồi ở Huế, Thiếu-Tá Liên Thành đã làm đúng thủ-tục quy-định trong Thông-Tư Liên-Bộ.

        Đại-Tá Giàu nhìn các Đại-Tá Bảy, Quy và Tây, nhún vai.  Tôi cảm thấy, dù có làm đúng hay không làm đúng thì Thiếu-Tá Liên Thành cũng khó lòng vượt qua vụ này.

        Tôi quay qua nói với Đại-Tá Tây rằng bức Thông-Tư Liên-Bộ ấy (Bộ Nội-Vụ, Bộ Tư-Pháp, và Bộ Quốc-Phòng) hiện có tại Ngành Đặc-Biệt của mình.  Ông hỏi lại tôi có chắc hay không, ở đâu; tôi đáp là tại E2 (Nha Phản-Tình-Báo/Nội-Chính) của Trung-Tá Phạm Văn Ca; vì tại cấp Vùng tôi đã nhận được một bản sao từ nơi đó gửi ra.

        Đại-Tá Giàu liền nhờ Đại-Tá Tây đi lấy giùm.

        Đại-Tá Tây bảo tôi ngồi chờ, rồi cả bốn ông cùng rời phòng-chờ, xuống lầu…

*

        Ngồi một mình, tôi vẩn-vơ suy-nghĩ xem những gì có thể sẽ xảy ra cho tôi.

        Chuẩn-Tướng Nguyễn Khắc Bình là một người rất “khó”, có thể nói là “độc-tài”.

        Trước khi ông qua Cảnh-Sát Quốc-Gia, Trung-Ương cũng như các Địa-Phương đều được tự-do báo-chí.

        Nhiều cấp Vùng, Tỉnh, đã có ấn-hành những đặc-sannội-santhư tin, v.v…  Nhưng ông ra lệnh từ nay cấm hết.

        Tại Bộ Tư-Lệnh CSQG có tờ báo “Bạn Dân”, ra đời từ thời Đệ-Nhất Cộng-Hòa.  Dưới thời Đại-Tá Tổng-Giám-Đốc Nguyễn Văn Y, Chánh Văn Phòng [thay vì Phó Tổng-Giám-Đốc] Nguyễn Văn Hay, chính tôi cũng đã có nhiều bài được nhận đăng trên đó, kể cả mấy bài có vẻ… chướng tai.  Bây giờ thì “Bạn Dân” là tờ báo duy-nhất được tồn-tại, nhưng số đặc-biệt Xuân 1973 thì mãi đến Xuân 1974 mới được phát-hành.

        Các vị soạn-thảo bản văn cải-tổ Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia, hẳn không rành về nguyên-tắc hành-chánh, nên trong Sắc-Lệnh số 17A/TT/SL ngày 1-3-1971, biến Tổng-Nha CSQG thành một Bộ Tư-Lệnh, ngang hàng các Bộ khác trong Nội-Các, tức là tách rời khỏi Bộ Nội-Vụ, nhưng đã không có một khoản nào nói về ngân-sách, cho nên ngân-sách của Bộ Tư-Lệnh CSQG vẫn còn nằm trong ngân-sách của Bộ Nội-Vụ.  Tết năm 1974, các vị bên Bộ Nội-Vụ giở lý, bắt bí, đòi phía CSQG phải nhượng bớt cho họ một phần, nếu không thì họ không chịu ký chuẩn-chi cho.  Các cấp liên-hệ bên CSQG thì sợ, không dám trình nội-vụ lên Tư-Lệnh Nguyễn Khắc Bình.  Báo hại, suốt cả tháng trời Cảnh-Sát Quốc-Gia cấp dưới không có xăng cho xe chạy; các Bộ Chỉ-Huy địa-phương phải dàn-xếp với các nhà thầu để mua chịu xăng cho cảnh-xa…

        Ông ở trên cao, có những sự việc cấp dưới không dám trình lên nên ông đâu hay… .

*

        Khi ba viên đại-tá ấy từ văn-phòng Tư-Lệnh bước ra, Đại-Tá Tây ra hiệu cho tôi cùng đứng dậy để chuẩn-bị đến phiên mình vào.

        Đại-Tá Bảy chỉ vào cái cặp hồ-sơ đang cầm trên tay (tôi đoán là vụ Thiếu-Tá Liên Thành đàn-áp cuộc biểu-tình của “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” của LM Trần Hữu Thanh do LM Nguyễn Kim Bính dẫn đầu ở Huế vừa rồi), nhìn Đại-Tá Tây, lắc đầu… .

        Ngưng một lát, Chuẩn-Tướng Nguyễn Khắc Bình chuyển sang vấn-đề khác:

        – Anh nói tóm-tắt tình-hình ở Huế hiện nay ra sao?

        Tình-hình ở Huế nói riêng, và những nơi khác liên-quan đến Huế nói chung, thì tôi đã có báo-cáo lên đầy-đủ rồi.

        Tôi chỉ nhấn mạnh vài điểm nổi bật mà thôi:

        – Về phần cộng-sản thì quả trước đây chúng đã nắm được đa-số các tay “lãnh-tụ” tập-thể sinh-viên, nhất là qua vụ vu-khống “Chính-Quyền bắt cóc Sinh-Viên” vừa rồi, chúng đã tạo được ảnh-hưởng trong giới phụ-huynh sinh-viên & học-sinh, giáo-chức, và cả quần-chúng nói chung.

        “Nhưng tôi đã lập kế-hoạch, đích-thân chỉ-đạo và yểm-trợ cho Sở Đặc-Cảnh Thừa-Thiên/Huế sử-dụng một số biện-pháp tình-báo chuyên-môn để lật ngược lại thế cờ, làm chủ tình-hình.  Hiện nay, chúng ta đã chiếm được thế thượng-phong đối với cộng-sản trong giới giáo-chức, sinh-viên & học-sinh ở nội-thành rồi”*.

        ——-

        *Xem các trang 269 và 279.

        – Về phần nội-chính?

        – Tuy không có những tổ-chức nhỏ và nhiều như từ Đà-Nẵng trở vào, nhưng hai tổ-chức lớn thì rất đáng được Chính-Quyền quan-tâm:  đó là “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc” và “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng và Kiến-Tạo Hòa-Bình”, mà cấp-thiết nhất là “Phong-Trào” này.

        – Anh nói về Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc trước.

        – “Lực-Lượng” ấy quy-tụ được hầu hết Phật-Tử là thành-phần đại-đa-số trong dân-chúng, kể cả công-chức và quân-nhân.  Ngoài Khối Ấn-Quang xuất-phát từ Miền Trung và kiểm-soát hầu hết Phật-Giáo-Đồ khắp nơi, Đại-Tướng Dương Văn Minh đã thu-phục được hầu hết giới tín-đồ Phật-Giáo gốc Miền Nam, và Giáo-Sư Vũ Văn Mẫu đã lôi-cuốn được hầu hết khối tín-đồ Phật-Giáo gốc Miền Bắc di-cư.  Đối với quốc-tế thì đó là thành-phần thứ ba; đối với quốc-nội thì đó là tập-hợp dân-sự lớn mạnh nhất, bao gồm nhiều chính-đảng nhất; các cấp lãnh-đạo lại là nhân-vật dân-cử có quyền bất-khả xâm-phạm.

        “Điều đáng nói là cộng-sản đã len-lỏi vào, và chính-quyền địa-phương thì không dám dòm-ngó đến, phó mặc cho Trung-Ương lo.

        “Tuy thế, tôi đã có người bên trong, cho nên biết trước chương-trình & nội-dung sinh-hoạt của họ, khắp Vùng.

        “Trên hết, chính tôi đã gặp, trực-tiếp nói chuyện với Thượng-Nghị-Sĩ Vũ Văn Mẫu, Giáo-Sư Võ Đình Cường, và các tay cầm đầu, nên biết ý-đồ của họ, và tôi đã có trình lên thiếu-tướng rồi.”

        – Anh có chắc-chắn là không có gì đáng lo?

        – Vâng, nếu họ vẫn cứ tổ-chức mít-tinh tại các sân chùa, chứ không xuống đường gây xáo-trộn trật-tự chung, như họ đã cam-kết với tôi, và nếu họ không xúi-giục quân-đội gây binh-n gì, mà chỉ chờ-đợi đến ngày bầu-cử Tổng-Thống, vào cuối năm tới, như họ đã nói rõ với tôi.  Tính đến hôm nay, và riêng Miền Trung thì thế; còn về tương-lai, và các nơi khác thì tôi không dám đoán trước…

        – Còn về “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”?

        Tôi tin là Thiếu-Tướng Bình, tuy là tín-đồ Đạo Chúa, nhưng ông “sống đời công-chính theo lời Chúa dạy”, sẽ “rất công-bình chứ không thiên-vị Đạo nào”, không bao che cho người nào, nên tôi nói thẳng cảm+nghĩ của tôi:

        – Chủ-đề chống tham-nhũng thì hấp-dẫn đối với mọi người, kể cả một số người mà bản-thân cũng không trong-sạch gì; nhưng tham-gia vào “Phong-Trào” thì hầu như là chỉ có tín-đồ Kitô-Giáo*; còn xuống đường thì là những phần-tử mà quyền-lợi vật-chất hoặc tinh-thần đã quá gắn liền với cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm và gia-đình.

        ——-

        *Một số nhân-vật chính-đảng và tổ-chức khác có tham-gia vào, nhưng không đáng kể so với đại-khối hơn 301 linh-mục.

        “Dù sao, cuộc biểu-tình của họ mà bị Cảnh-Sát [do Thiếu-Tá Liên Thành chỉ-huy] đàn-áp vừa rồi cũng đã gây được một tiếng vang, có lợi cho “Phong-Trào”, tức là có hại cho Chính-Quyền.  Đó là một bước dò đường.  Tin-tức mới nhất cho biết là “Phong-Trào” sẽ tổ-chức xuống đường khắp nước.  Từ Huế, Quảng-Trị vào các Tỉnh Vùng II thì do Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, cha xứ Phú Cam ở Huế khởi-xướng.

        “Tại Thủ-Đô Sài-Gòn và các Tỉnh Vùng III, Vùng IV thì do Linh-Mục Trần Hữu Thanh phát-động.

        “Khi đó thì tình-hình khắp nước sẽ rối beng; Chính-Quyền khó kiểm-soát được dân-chúng, ngay cả các Ban Tổ-Chức biểu-tình cũng không nắm vững thành-phần tham-gia.  Và không ai đối-phó nổi với phản-ứng của các thành-phần bị họ chống, trong khi các phương-tiện truyền-thông trong và ngoài nước tha-hồ đổ thêm dầu vào.

        “Tóm lại, ‘Phong-Trào’ không chờ đến ngày bầu-cử sang năm; họ muốn Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ-chức ngay; họ muốn có một Tổng-Thống là tín-đồ Đạo Kitô.”

        Chuẩn-Tướng Bình nhắc tôi:

        – Tổng-Thống [Nguyễn Văn Thiệu] cũng là…

        Tôi thấy ông có vẻ thực tình muốn biết Sự Thật nên tôi trình-bày:

        – Nhưng có một số phần-tử phân-biệt “đạo dòng” với “đạo theo”*.  Vả lại, vấn-đề không ngừng ở đó, mà là nhắm vào vai trò giáo-dân của người lãnh-đạo quốc-gia.  Họ muốn có một Tổng-Thống rập khuôn cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm.  Tống-Thống hiện nay không hề đối-xử phân-biệt với các tín-đồ đạo khác, không chịu lợi-dụng Chính-Quyền để tạo ưu-thế cho Đạo Kitô – tỷ như gia-tăng tín-đồ – mà lại lập một đảng riêng là Đảng Dân-Chủ, nên họ bất-mãn.  Họ đồn miệng rằng Đức Tổng-Giám-Mục Nguyễn Văn Bình đã “cảnh-cáo” Tổng-Thống về khoản này. 

        ——-

        *Trong quan-điểm đó, mãi đến thế-kỷ 21, nhà văn Nguyễn Văn Lục còn phát-biểu về Cựu-Hoàng Bảo-Đại như sau:

        “Bản thân Bảo Đại là người gốc Phật giáo, cái nhãn hiệu Thiên Chúa giáo bất quá chỉ là ‘đạo theo’ cho có lệ, và chính thức ông chưa hề bao giờ là người Thiên Chúa giáo.”

        “Nổi bật nhất là nội-dung những lời thuyết-giáo của Linh-Mục Nguyễn Kim Bính tại nhà thờ Phú-Cam, Huế, mà tôi đã cho thu băng gửi trình thiếu-tướng, trong đó đã có hai đoạn tiêu-biểu cho hai phương-diện của một vấn-đề:  một đoạn Linh-Mục Bính hằn-học khích-động đồng-đạo, đại-ý “người ta đã ám-hại một tổng-thống anh-minh…”, và một đoạn ông cay-đắng phân bua, đại-ý “như tôi là một Cha Xứ ở Phú Cam này, có ai mà không biết tôi; thế mà cái “ngài” Đại-Tá Tôn Thất Khiên ấy, cái “đấng” Tỉnh-Trưởng Tôn Thất Khiên ấy, đến nhậm-chức ở đây đã bao lâu rồi, mà vẫn chưa hề đến thăm hỏi tôi lấy một lần…”

        Chuẩn-Tướng Nguyễn Khắc Bình gật đầu:

        – Tôi đã có nghe cuốn băng ấy rồi.

        Ông hỏi tiếp tôi:

        – Theo anh thì những việc gì cụ-thể có thể xảy ra trong tương-lai gần, hậu-quả thế nào?

        – Cộng-sản Bắc-Việt ồ-ạt chuyển quân và chiến-cụ vào.  Quân-Lực của ta thì bị bó tay vì bản Hiệp-Định Paris; nếu có đụng-độ quân-sự thì điều đó thuộc thẩm-quyền của cấp Trung-Ương.  Riêng về phương-diện chính-trị nội-bộ thì tình-hình chung ngày càng xấu thêm:  các cấp Chính-Quyền địa-phương không biết thu-phục dân-tâm; nhất là ở vùng ven-ô, nói chi ở vùng tranh-chấp.  Đồng-bào chán ghét tham-nhũng, mà lại khao-khát hòa-bình.  Tổ-chức của nhóm các Linh-Mục Trần Hữu Thanh và Nguyễn Kim Bính là “Phong Trào Nhân Dân Chống Tham Nhũng để Cứu Nước và Kiến Tạo Hòa Bình”.  Một số tín-đồ Kitô-Giáo sẽ đồng-loạt xuống đường khắp nơi.  Nếu không ngăn-chận thì có thể có bạo-động.  Giả-dụ một số quá-khích (Việt-Cộng xúi-giục) tấn-công những người mà họ cho là đã tham-gia tích-cực vào cuộc Cách-Mạng 1-11-1963 lật đổ chế-độ Đệ-Nhất Cộng-Hòa, mà những người ấy thì nằm bên phía “Lực-Lượng”, và tất-nhiên là những phần-tử này sẽ phải tự-vệ, biến thành xung-đột tôn-giáo, ít nhất cũng như biến-cố Thanh-Bồ Đức-Lợi tại Đà-Nẵng trước đây.  “Phong-Trào” mà “làm mạnh” được thì phía “Lực-Lượng” hẳn cũng sẽ không chịu thua.  Ngăn-chận thì bị gán cho là đàn-áp tôn-giáo; giả-dụ có kẻ bắt chước nữ-Dân-Biểu Kiều-Mộng-Thu, nằm lăn giữa đường để cho phóng-viên chụp ảnh, quay phim, dùng làm bằng-chứng là ả đã bị cảnh-sát bạo-hành, xong kéo đồng-bọn vào nhà-hàng lớn ăn khao, trong lúc phản-ứng của dư-luận chung, cả trong nước lẫn ngoài nước, nhất là tại Hoa-Kỳ, chỉ nhìn vào tấm ảnh “dân-biểu mà cũng còn bị đánh ngã giữa đường” thì rất bất-lợi cho ta.

        “Hơn nữa, làm sao có đủ lực-lượng để giúp vãn-hồi an-ninh:  kinh-nghiệm các vụ lộn-xộn ở Quận Hoài-Nhơn của Tỉnh Bình-Định*, Thị-Xã Tuy-Hòa của Tỉnh Phú-Yên*, vừa qua, cho thấy là Chính-Quyền Tỉnh bất-lực khi chính Cảnh-Sát của địa-phương mình bị đám lộng-hành bao vây, tấn-công.  Trung-Ương cũng khó tiếp tay:  chỉ nội một vụ ở Chùa Linh-Sơn, Đà-Lạt, mà phải cần có phi-cơ quân-sự di-chuyển Cảnh-Sát Dã-Chiến từ Sài-Gòn lên; nếu có biến-động nhiều nơi một lần thì làm sao mà giải-nguy?

        ——-

        *Xem sách “Cảnh-Sát-Hóa…” của Lê Xuân Nhuận.

        “Quan-trọng hơn hết là bọn Việt-Cộng đã xâm-nhập vào “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng và Kiến-Tạo Hòa-Bình”.  Chúng đã hiểu rõ là tổ-chức này thù-hận chế-độ hiện-thời hơn hết (vì Sư-Đoàn của Tổng-Thống là lực-lượng chủ-yếu tấn-công Dinh Gia-Long), nên chúng lợi-dụng để có thêm những đồng-minh chung sức chống phá Việt-Nam Cộng-Hòa.

        “Trong lúc đó, ‘Phong-Trào’ đã bắt đầu lôi kéo thêm các tổ-chức khác nữa, từ bên ngoài Kitô-Giáo – thí-dụ Đảng Đại-Việt – để cùng hưởng-ứng ‘Phong-Trào’.

        “Việt-Cộng thấy rõ ‘Phong-Trào’ là hình-thức đối-lập hợp-pháp, nấp được vào đó là hoạt-động dễ vô cùng.

        “Chúng sẽ có thể trà-trộn xúi-giục chiếm giữ công-sở, đột-nhập đồn bót, khủng-bố, phá-hoại, ít nhất là cũng thành-công về mặt chính-trị, thông-tin tuyên-truyền…”

        – Theo anh thì Chính-Quyền nên đối-phó cách nào?

        Tôi nghĩ đến mối ác-cảm của Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, Cha Xứ Phú-Cam, đối với Đại-Tá Tỉnh/Thị-Trưởng Tôn Thất Khiên, vì đã “chưa hề đến thăm hỏi” ông lần nào, và mối căm-thù của ông đối với Thiếu-Tá Liên Thành, Chỉ-Huy-Trưởng CSQG địa-phương, vì đã “đàn áp cuộc xuống đường” do chính ông dẫn đầu, và chương-trình hành-sự của tôi.

        – Tôi xin đề-nghị Trung-Ương tạm-thời nhượng-bộ “Phong-Trào” một bước đầu tiên, để tiện cấp-thời vô-hiệu-hóa mọi kế-hoạch hoạt-động của họ hiện nay, bằng cách cử hai tín-đồ Kitô-Giáo, gốc-gác Đệ-Nhất Cộng-Hòa và thân-cận với giới cựu Cần-Lao, ra làm Tỉnh-Trưởng và Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Sát Quốc-Gia tại Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế…

        Thiếu-tướng Bình và Đại-Tá Tây nhìn nhau.

        Tôi nói tiếp liền:

        – Như thế là chỉ mới giải-quyết được bước đầu, chứ chưa xong trọn vấn-đề.

        “Nếu tôi còn ở Vùng I thì tôi, chính tôi, sẽ ngăn-chận được mọi sự xáo-trộn tiếp theo, cho Vùng I, và do đó, cho toàn Miền Nam…” (Xem thêm)

*

        Chuẩn-Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư-Lệnh Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia Việt-Nam Cộng-Hòa, đứng dậy, đưa tay bắt tay cám ơn tôi, và kết-thúc cuộc tiếp-xúc bằng lời khuyến-khích tôi và hứa-hẹn sẽ thăng cấp cho tôi vào “Ngày Cảnh-Lực” 1-6-1975.

        Tôi cùng Đại-Tá Hùynh Thới Tây trở về văn-phòng Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, lần này thì cùng đi bộ.

        Tôi muốn nói lên một lời cám ơn ông đã đề-bạt tôi, đã dành cho tôi rất nhiều đặc-quyền, đặc-ân, mà các viên-chức khác, ngang tôi, kể cả cao cấp hơn tôi, cũng không có được – đương-nhiên là trong công-vụ mà thôi.  Ít nhất thì ông cũng đã bắt cả các cấp Giám-Đốc phụ-tá của ông tại Trung-Ương phải đích-thân đáp-ứng ngay mọi đề-nghị của tôi; và, thay vì, như với nhiều giới-chức khác – cấp dưới dâng nạp quà cáp lên cho cấp trên – thì ông ngược lại đã cho riêng tôi mỗi tháng 20,000 đồng, tương-đương gần nửa tháng lương của tôi, để thuê nhà ở, vì tôi phải rời gia-đình mà ra Miền Trung – tất-nhiên với sự tán-đồng của Chuẩn-Tướng Nguyễn Khắc Bình.

        Nhưng tôi không nói ra được lời cám ơn đó, vì nó có vẻ nịnh-hót thế nào ấy – một việc mà tôi không bao giờ làm, cho nên đã bị thiệt-thòi từ hai mươi bảy năm nay.

        Chúng tôi lặng-lẽ bước bên cạnh nhau, trước những cặp mắt ngạc-nhiên của nhiều sĩ-quan gặp trên đường đi.  

        Cuối cùng, như để đánh tan bầu không-khí lạt-lẽo ấy, và lấy lại thế chủ-động, Đại-Tá Tây nói với tôi:

        – Qua Sắc-Phục thì có tiền…

        Câu nói ngắn-ngủi mà tôi nghe như nói lên tâm-tư của một số đông viên-chức chỉ-huy Ngành Đặc-Cảnh thời bấy giờ.

        Sau đó, ông không quên trao tiền thuê nhà cho tôi, và nhắc tôi cần gì thì giải-quyết gấp với các Giám-Đốc hữu-quan, để còn rời Sài-Gòn sớm mà ghé thăm gia-đình hiện ở Nha-Trang… .

*

        Tôi vừa về đến Nha-Trang thì nhận được tin Trung-Ương đã cử hai nhân-vật khác đến thay Đại-Tá Tôn Thất Khiên và Thiếu-Tá Liên Thành trong chức-vụ Tỉnh/Thị-Trưởng và Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế.

        Tân Tỉnh/Thị-Trưởng là Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ.

        Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng I, nhắn tôi ra Đà-Nẵng gấp, để cùng ông ra Huế chủ-tọa lễ giao-nhận chức-vụ Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế, giữa Thiếu-Tá Liên-Thành và Trung-Tá Hoàng Thế Khanh.*

        ——-

        *Xem “Trung-Tá Hoàng Thế Khanh”, trang 367.

        Những lần trước, tôi có thể ở lại với gia-đình vài ngày; vì tuy ở xa nhiệm-sở, dù ở Tỉnh/Thị/Quận nào khác, kể cả những ngày ở Sài-Gòn và ở Nha-Trang, nhưng qua một hệ-thống liên-lạc đặc-biệt mà tôi đã tự mình sắp-xếp và đặt trong tình-trạng thường-trực 24/7, tôi vẫn liên-tục trực-tiếp điều-khiển và giải-quyết mọi việc ở cơ-quan.

        Lần nầy thì tôi phải gọi Hãng Hàng-Không Air Vietnam yêu-cầu dành chỗ ưu-tiên để sáng hôm sau tôi ra Đà-Nẵng ngay**.

        ——-

        **Bản gốc Chương này đã được in trong cuốn hồi-ký “Về Vùng Chiến-Tuyến” do Nhà “Văn Nghệ” ở Nam CaliforniaUSA, xuất-bản năm 1996, nay được in lại, giữ nguyên tất cả các sự-kiện và nội-dung cốt-yếu – chỉ thêm vào một số hiệu-đính, phụ-chú, giải-thích cho đầy-đủ và rõ-ràng hơn mà thôi.

LÊ XUÂN NHUẬN

Biến-Loạn Miền Trung

==============================

Về NHÂN-THÂN LÊ XUÂN NHUẬN

        Đại-Tá Huỳnh Thới Tây đưa tôi vào gặp Chuẩn-Tướng Nguyễn Khắc Bình.

        Trong cuộc gặp mặt này, Đại-Tá Tây chỉ đóng vai trò dự-thính và quan-sát-viên, từ đầu đến cuối không hề nói một tiếng nào.

        Sau khi bắt tay, mời ngồi, hỏi qua về sức khỏe và gia-đình tôi, xong Tướng Bình nói:

       – Tôi định đưa anh ra làm Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Sát Quốc-Gia Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế [thay Thiếu-Tá Liên Thành], anh nghĩ sao?

        Tôi không nghĩ sao hết.

        Trong một thời-buổi mà giấc mơ của không biết bao nhiêu sĩ-quan cấp tá, dù là đã được biệt-phái từ Quân-Lực qua Cảnh-Lực rồi, hay là vẫn còn ở bên quân-ngũ, là được cử làm Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực một Tỉnh, một Thị-Xã, hoặc một Quận ở Thủ-Đô Sài-Gòn, thì tôi đã thấy chán ngán từ lâu cái chức-vụ mà giá-trị công-chính của nó đã bị nhiều người dẹp bỏ, để chỉ mong đợi cái hệ-quả tư-tà của nó mà thôi.  Có thể nói đó là một cương-vị để làm tiền; trừ một số ít chỉ tự bằng lòng với những lợi-lộc vừa-phải tự-nhiên-mà-có, còn thì đua nhau đổi trắng thay đen vơ-vét cho đầy túi tham, mà điều tệ-hại hơn hết là do đó mà dung-dưỡng tệ-nạn xã-hội, làm suy-yếu đội-ngũ Quốc-Gia, tạo kẽ hở cho đối-phương xông lên.

        Tôi nghĩ đến bản-thân tôi, mà gia-đình còn ở Nha-Trang: nếu làm việc ở Đà-Nẵng như hiện nay thì tôi còn có thể ít nhất mỗi tháng một lần về Trung-Ương và nhân đó ghé thăm gia-đình, chứ đi làm việc ở các Tỉnh khác thì khó mà về Nha-Trang vì trái ngả đường; còn nếu đưa vợ+con theo thì cứ mỗi lần dời-đổi chỗ ở là một lần hao-tốn, xáo-trộn, mà đã chắc gì ở được tại một Tỉnh nào lâu đâu.

        Riêng đối với Huế, sau mười lăm năm dâu-bể − kể từ ngày tôi bị đày đi khỏi nó, vì chống độc-tài Nhà Ngô, vào năm 1960 − bộ mặt đã khác hẳn rồi, tấm lòng cũng chẳng còn nguyên; bây giờ nếu tôi vẫn ở xa Huế mà giúp-đỡ Huế thì dễ, chứ ở ngay Huế thì e tôi sẽ khó lòng mà tự giúp-đỡ được ngay chính mình.

        Tôi thấy rõ là các cấp chỉ-huy của tôi hiện nay, Chuẩn-Tướng Bình và Đại-Tá Tây, đã dành cho tôi một lòng ưu-ái đặc-biệt, cả một đặc-ân lớn-lao.  Đáng lẽ tôi nên nói một câu gì khéo-léo, để vừa chối-từ vừa tỏ lòng cám ơn.

        Biết bao nhiêu lần tôi đã nghe rõ các người xung quanh, dù là ở cấp Xã Ấp, ở cấp Toán Tổ, nói đến “cất-nhắc”, nói đến “chức-phận”, nào là “tri-ân”, nào là “trung-thành”.  Nhưng tôi không thể sử-dụng miệng lưỡi mình trong trường-hợp này, mặc dù biết rằng một lời nói ngọt sẽ gây được nhiều thiện-cảm nơi người nghe hơn.

        Tôi đáp:

        – Xin thiếu-tướng cho tôi ở lại Đà-Nẵng.

        Cả Chuẩn-Tướng Bình lẫn Đại-Tá Tây đều giữ vẻ mặt điềm-nhiên, nhưng tôi nghĩ là họ hẳn không khỏi ngạc-nhiên.

        Tướng Bình hỏi tôi:

        – Tại sao anh không thích ra Huế?

        Tôi nghĩ ngay đến trách-vụ ổn-định tình-hình nội-chính ở Miền Trung mà Trung-Ương đã giao cho tôi, nhất là ở Huế, mà cụ-thể là chồng đơn/hồ-sơ khiếu+tố dày thịch từ Huế mà tôi đã tế-nhị xin giao qua cho phía An-Ninh Cảnh-Lực nhận-hành năm ngoái (nhưng thực ra các vụ-việc vẫn chưa được ai giải-quyết trôi tròn – mà nếu giải-quyết thì kẻ chủ-trách sẽ bị danh-bại thân-liệt tức-thời) .

        Tôi thực tình trả lời Chuẩn-Tướng Bình:

        – Vì tôi bị đổi đi xa, nay được trở về; gặp những kẻ đáng bị trừng-trị mà dung-thứ thì không được, nhưng ra tay thì sẽ bị xem là trả thù hoặc trở mặt, e không trọn tiếng với đời…  

image.png

        Phóng-ảnh trang 229 “Về Vùng Chiến-Tuyến” (1996)

        Tướng Bình hỏi tiếp:

        – Anh thấy nếu ở nơi khác thì dễ làm việc hơn ở Huế sao?

        Tôi sợ là ông hiểu lầm rằng tôi tránh né những nơi khó-khăn.  Tôi không tránh né khó-khăn mà tôi chỉ muốn tránh né những nơi mà mình có thể bị dùng làm vật hy-sinh.  Tự-nhiên tôi thấy muốn nói, công-khai và trực-diện, vì đây quả là cơ-hội hiếm có, rằng:  “Các ông đừng đánh giá tôi ngang hàng với đa-số cùng mang cấp-bậc và/hoặc cùng giữ chức-vụ như tôi!” – ý tôi định nói là vì tôi không gặp thời, chứ thực ra thì…  Tôi bỗng kịp tự kiềm-chế, và chỉ trình-bày một cách mà tôi cho là… khiêm-tốn:

        – Tôi có khả-năng làm Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực tại bất-cứ một Tỉnh nào trên toàn-quốc, mà không thua kém bất-cứ một người nào.

        Nói xong, tôi tự thấy là mình đã lỡ lời.

        Nhưng Tướng Bình gật đầu.  Hẳn ông hiểu rõ là tôi nói thật.

        Nhưng có lẽ ông tưởng tôi muốn xin đi làm Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực tại một Tỉnh nào không có người cũ quen tôi, để dễ trừng-trị những kẻ phạm-pháp hơn chăng, nên ông hỏi tôi:

        – Anh nghĩ thế nào về Tỉnh Quảng-Nam?

        Thừa-Thiên là quê mẹ tôi; tôi đã lớn lên ở đó, tôi có ở đó rất nhiều kỷ-niệm trọn đời khôn quên, thế mà tôi đã chối-từ, huống gì Quảng-Nam.  Tôi thấy thật khó nói lên ý-kiến của mình.  Tuy thế, nhìn thấy nét mặt của tôi là ông biết ngay tôi không nhận lời.       

        Ông liền nói tiếp:  

        – Tôi cho anh chọn Tỉnh nào anh thích.

        Đến tận nước này thì thật quá lắm.  Một vị Tư-Lệnh Lực-Lượng Cảnh-Sát toàn-quốc, đồng-thời cũng là Đặc-Ủy-Trưởng Phủ Đặc-Ủy Trung-Ương Tình-Báo, thứ-bậc gấp đôi Bộ-Trưởng, hiện có đầy-đủ quyền-hành cũng như dư-thừa thuộc-viên thân-tín để chọn bổ-nhiệm vào các chức-vụ chỉ-huy, từ ở Trung-Ương xuống đến Xã Phường, mà lại chấp-nhận cho tôi tự chọn địa-phương công-tác theo ý muốn riêng của mình!  

        Tôi thật xúc-động trước thái-độ đó, cùng lúc cảm thấy thỏa-mãn, vì tự-ái được vuốt-ve.

        Phải chăng Cấp Trên cần tôi tập-trung nỗ-lực đảm-trách an-ninh trật-tự riêng cho một Tỉnh quan-trọng, như Tỉnh Thừa-Thiên, mà tỉnh-lỵ là Thị-Xã Huế, nơi xuất-phát liên-tục của những phong-trào chống-đối Chính-Quyền Trung-Ương, và hiện nay vẫn là nơi sôi-sục chính-tình, nên cần có tôi có mặt thường-trực tại chỗ để chuyên-chú lo ổn-định nội-an; hoặc Tỉnh Quảng-Nam, là nơi bám trụ của các cơ-quan đầu-não của cả Đảng-Ủy Liên-Khu V lẫn Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu V của đối-phương, cũng là hậu-cứ tiếp-nhận lực-lượng cộng-sản từ Bắc-Việt xâm-nhập vào, bàn-đạp để chúng vừa cầm chân Quân-Đoàn I của ta, vừa tiến sâu hơn vào các tỉnh ở phía Nam, kể từ vùng đất địa-đầu chiến-lược này bên trong phòng-tuyến A-Sau và Đèo Hải-Vân, nên cần có tôi chú-tâm bảo-vệ số đông đồng-bào bị kẹt tại các Xã Ấp thuộc vùng tranh-chấp ở giữa hai bên?  Nếu thế thì tại sao ông lại bảo tôi chọn Tỉnh nào khác hơn?  Hay là ông định đưa người nào khác đến thay-thế tôi ở trách-vụ và hoạt-hạt hiện-thời?  Trong trường-hợp đó, tôi nên chọn một Tỉnh nào tiện đường cho tôi để dễ đi+về chăm-sóc gia-đình hiện ở Nha-Trang. 

        Tôi bèn hỏi lại:

        – Thưa thiếu-tướng, bất-cứ ở Vùng nào?

        Tướng Bình mỉm cười, nhận thấy tôi đã lợi-dụng câu nói của ông, trả lời:

        – Cứ tạm chọn ở Vùng I trước đã!

        Quảng-Trị, Quảng-Tín, Quảng-Ngãi, đều càng bất-tiện hơn Thừa-Thiên và Quảng-Nam.  Tôi suy-nghĩ nhanh trong đầu: nếu lại từ-chối thì có thể làm cấp trên bực mình, nên tôi dựa theo câu nói của ông mà trả lời ông, vì tôi biết chắc là sẽ bị từ-chối ngay:

        – Nếu thiếu-tướng cho tôi đảm-trách Thị-Xã Đà-Nẵng…

        Và, để mở một lối thoát cho cả ông lẫn tôi, hầu chấm dứt vụ cử-nhiệm này, tôi nói thêm:

        – Tôi có thể kiêm-nhiệm cả Đặc-Cảnh Vùng I lẫn Cảnh-Lực Thị-Xã Đà-Nẵng, để nâng phía Sắc-Phục ở đó lên… .

*

        Chuẩn-Tướng Bình im-lặng một lát rồi chuyển câu chuyện qua đề-tài khác.  Ông hỏi tôi:

        – Anh có tham-gia đảng-phái nào không?

        Tôi đáp:

        – Tôi là người không đảng-phái.

        Có lẽ ông muốn hỏi xem, ngoài các đảng-phái chính-trị ra, còn có hội-đoàn, phe-nhóm hoặc nhân-vật hữu-danh hữu-quyền nào khác đỡ đầu cho tôi hay không, nên ông khéo-léo:

        – Hồi đó, ai giới-thiệu anh qua Phủ Đặc-Ủy?

        Sự-việc thật là đơn-giản, nhưng ông không nghĩ đơn-giản, và tôi cũng khó trình-bày đơn-giản. 

        Cả một quá-trình chuyển-biến của Ngành Cảnh-Sát Công-An Quốc-Gia qua suốt gần ba thập-niên hiện lên trong đầu-óc tôi; nhưng các viên-chức dù cao cấp nhất, dù lớn chức nhất, và già nghề nhất, cũng có mấy ai nắm vững vấn-đề? 

        Tôi đành trả lời ngắn gọn:

        – Tôi được chỉ-định dự thi khả-năng chuyên-môn, trắc-nghiệm bằng máy polygraph dò-sự-nói-dối, học Khóa đầu tiên Tình-Báo Đặc-Biệt Cao-Cấp của Mỹ, rồi được biệt-phái qua Phủ Đặc-Ủy, chứ không do sự giới-thiệu của một nhân-vật hay đoàn-thể nào.

        Tướng Bình lại đổi đề-tài.  Ông hỏi tôi:

        – Anh với Lê Văn Hảo liên-hệ thế nào?

        Thì ra Cấp Trên vẫn chưa biết rõ sự liên-hệ ấy. 

        Tôi đáp:

        – Lê Văn Hảo là em-khác-mẹ của vợ tôi.

        Ông hỏi thêm:

        – Sau vụ cộng-sản tổng-tấn-công Tết Mậu-Thân 1968 thì sao?

        Tôi trình-bày:

        – Hảo theo Việt-Cộng; tôi có báo-cáo lên Trung-Tá Nguyễn Mâu, hồi đó là Phụ-Tá Tư-Lệnh/Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương; Trung-Tá Mâu nói rằng:  “Trong một gia-đình, có thể có người này bên này, kẻ kia bên kia; nếu anh không dính-dáng gì với y thì thôi!”  Đương-nhiên Trung-Tá Mâu và CSĐB Trung-Ương đã cho mật theo-dõi vụ này.  Thực-tế, tôi, và vợ tôi, không hề liên-lạc với anh-ta.

        Tôi rất ngạc-nhiên tại sao mãi đến giờ này Chuẩn-Tướng Tư-Lệnh Cảnh-Lực mới nêu vấn-đề đó ra với tôi.

        Phải chăng Trung-Ương không biết chuyện đó trước khi cử tôi ra Miền Trung?

        Còn nếu có biết và có nghi tôi thì đâu có bổ-nhiệm tôi?

        Ngược lại, tuy biết mà vẫn tin tôi thì còn nhắc lại làm gì?

        Hay là mãi đến gần đây mới biết?

        Tôi nhớ, trước đó không lâu, trong một buổi họp tại phòng-giấy của Thiếu-Tướng Hoàng Văn Lạc, Phó Tư-Lệnh Quân-Khu I, nhân khi Đại-Tá Lê Quang Nhơn, Chánh-Sở I An-Ninh Quân-Đội, thuyết-trình về công-tác theo-dõi các quân-nhân có liên-hệ gia-đình với Việt-Cộng – các quân-nhân này có tên trong một loại hồ-sơ đặc-biệt gọi là “Hồ-Sơ Z”; cách phân-loại này về sau cũng được áp-dụng đối với cảnh-nhân –Đại-Tá Nhơn đã nói:  “Ngay trong năm anh+em chúng tôi ngồi họp ở đây, cũng có người có hồ-sơ Z”.

        Năm người hiện-diện là Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng I; Đại-Tá Phạm Văn Phô, Trưởng Phòng 2 Quân-Đoàn và Quân-Khu I; Trung-Tá Phạm Xuân Bách, Phụ-Tá Trung-Tâm-Trưởng Phụng-Hoàng Vùng I; Đại-Tá Nhơn, và tôi.

        Họ có ám-chỉ gì tôi hay không?

        Hẳn là Tướng Bình có được “Người Bạn Đồng-Minh” [tên gọi mới của cố-vấn CIA] cho biết, vì chính tôi đã đích-thân kể rõ mối liên-hệ ấy với “Người Bạn Đồng-Minh” của tôi ― rồi NBĐM Vùng I báo-cáo lên NBĐM Trung-Ương, rồi vị này báo lại cho Tướng Bình, nên ông đích-thân hỏi tôi để ông trực-tiếp nghe cho rõ hơn?

        Nguyên Bộ Tư-Lệnh CSQG/Ngành Ðặc-Biệt Trung-Ương có khám-phá ra được một Cụm Tình-Báo Chiến-Lược của Cộng-Sản Bắc-Việt hoạt-động tại Miền Nam.  Cũng như Vũ Ngọc Nhạ của cố Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm, Huỳnh Văn Trọng, là Phụ-Tá của Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu, bị lột mặt nạ là cán-bộ nội-tuyến của đối-phương.  Trong việc lùng bắt đồng-bọn tại địa-phương, Trưởng Ngành Ðặc-Cảnh hồi đó tại Vùng I là Chủ-Sự Phòng Cảnh-Sát Đặc-Biệt Lê Đình Khôi – nguyên là một cán-bộ VC hồi-chánh – vì đã “sơ-xuất để cho cán-bộ của địch tại địa-phương lọt lưới” nên bị nghi là Việt-Cộng nằm vùng.  Khôi bị Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia cất chức, tạm giữ để điều-tra suốt nhiều tháng, xong cho trở về tiếp-tục làm việc tại cơ-quan cũ, là Ngành Đặc-Biệt Vùng I, bây giờ ở dưới quyền tôi*.

         ——-

        *Sự Thật là Lê Đình Khôi phải trả tự-do cho một nữ cán-bộ VC theo lệnh của cấp chỉ-huy trực-tiếp, hồi đó là Kiểm-Tra Võ Lương, Giám-Đốc Nha CSQG Vùng I (mà theo dư-luận thì ông này đã có quan-hệ riêng-tư với ả-ta).  Sau vụ đó thì chính Ô. Võ-Lương cũng đã rời khỏi Vùng I, về Sài-Gòn.

        Lê Đình Khôi hồi đó tạm-trú tại nhà của Ô. Lê-Văn Tập, một phú-gia tên-tuổi của Thành-Phố Ðà-Nẵng, bạn thân của thân-phụ Khôi.  Ô. Tập, có ba bà vợ, có mấy người con-gái trẻ tuổi cùng ở tại đây.  Do đó, nhân-viên điều-tra tưởng rằng Khôi là con-rể trong nhà này.  Nay tôi mới đến, vì chưa có chỗ ở, nên cũng tạm-trú tại đó, là nhà của nhạc-phụ tôi.  Vì thế, khi Người Bạn Ðồng-Minh muốn tìm hiểu tôi, mà cách hay nhất là nhờ chính các nhân-viên Đặc-Cảnh bí-mật điều-tra giùm, thì kết-quả là tôi trở thành anh-em-cột-chèo với Khôi, người đang bị theo-dõi vì bị nghi là nội-tuyến của đối-phương.

        Tôi được thân-tình-viên trong nội-bộ cơ-quan CIA và Tòa Tổng-Lãnh-Sự Hoa-Kỳ tại Đà-Nẵng cho biết, rằng Người Bạn Đồng-Minh Vùng I của tôi, là Đại-Tá Kenneth Ferguson, cũng có giao cho Người Bạn Đồng-Minh Tỉnh Thừa-Thiên/Thị-Xã Huế đảm-trách việc điều-tra này, vì ngại nhân-viên Đặc-Cảnh trong này [Đà-Nẵng] thiên-vị về tôi, và vì trước kia tôi và vợ tôi ở Huế, mà gia-đình Ô. Lê Văn Tập cũng như Lê Đình Khôi cũng đều gốc Huế.

        Người Bạn Đồng-Minh ngoài đó đương-nhiên phải nhờ Ngành Đặc-Biệt đồng-cấp [cấp tỉnh/thị] của mình; như thế thì hẳn nhân-viên của Sở Đặc-Cảnh Thừa-Thiên/Huế đã vào Đà-Nẵng mò-mẫm dò-la.

        Tôi biết được điều đó, nên đặt thẳng vấn-đề với Ferguson.

        Các cô em của vợ tôi hồi đó còn đi học, mà nhà Ô. Lê-Văn Tập là nhà lớn, có lầu, có sân, ở giữa thành-phố, nên vào buổi chiều, nhất là vào các ngày cuối tuần, có khá nhiều bạn học đến chơi, người ngoài không phân-biệt được ai là con, ai là bạn của con ông.  Lê Đình Khôi – là con của Ô. Hường [Hồng Lô Tự Khanh] Loan (bạn của Ô. Tập) – đã cưới một cô trong số các cô nữ-sinh ấy, không phải là con của Ô. Tập, nên Khôi không phải là rể của Ô. Tập, tức Khôi không phải là anh-em-cột-chèo của tôi.

        Tôi cho Ferguson xem hồ-sơ của Khôi, với giấy giá-thú, tờ khai lý-lịch, chứng-minh là vợ đương-nhân không có họ-hàng gì với gia-đình vợ tôi.  Ferguson vừa mừng-rỡ cám ơn tôi, vừa luống-cuống ghi-chép những điểm cần; tôi đoán là anh đang lựa lời để biện-minh cho việc-làm của mình, mà suýt nữa là phạm phải lỗi-lầm.  Cuối-cùng, không thể dối lòng, anh thú-nhận:

        – Tôi tưởng là anh lọt vào lưới tôi, nhưng chính là tôi lọt vào lưới anh!

        Ðó là câu nói chống-chế xã-giao, nhưng nó bộc-lộ đức-tính sòng-phẳng của Người Bạn Đồng-Minh của tôi.

        Tiếp theo, tôi cho Ferguson biết thêm về một mối liên-hệ khác trong gia-đình vợ tôi, quan-trọng hơn cái mẩu tin dởm về anh-em-cột-chèo.

        Ô. Lê Văn Tập, cha của vợ tôi (đã qua đời vào năm 1968), là thân-phụ của Tiến-Sĩ Lê Văn Hảo, Chủ-Tịch “Ủy-Ban Nhân-Dân Cách-Mạng Tỉnh Thừa-Thiên / Thành-Phố Huế” vào vụ Tết Mậu-Thân.

        Vợ tôi là chị-khác-mẹ của Hảo, chứ không phải là một trong số các cô em.

        Lê Văn Hảo đi du-học Pháp từ nhỏ, tốt-nghiệp năm 1965, về nước dạy tại các Viện Ðại-Học Sài-Gòn, Đà-Lạt, và Huế, rồi vào trước vụ VC tổng-công-kích Tết Mậu-Thân 1968 tại Huế thì vào rừng với đối-phương.

        Trước kia, vợ tôi ở với mẹ ruột tại Huế, còn Hảo thì ở Châu Âu.

        Sau ngày Lê Văn Hảo* hồi-hương thì Hảo chỉ ở Sài-Gòn và Huế, còn tôi [cùng với vợ tôi] thì bị cầm chân trên Cao-Nguyên (Darlac, Quảng-Đức, Pleiku) từ năm 1960.

        ——-

        *Đã bỏ VC qua tị-nạn chính-trị tại Pháp từ năm 1989 và đã chết rồi.          

        Tóm lại, vì biết em mình hoạt-động cho VC nên vợ tôi không liên-lạc hỏi-han gì, còn tôi thì chưa hề gặp mặt Hảo cho đến tận ngày hôm nay.

        Ðó là tin-tức sốt dẻo – anh-rể thật-sự của một nhân-vật cộng-sản quan-trọng hiện-thời – có giá-trị gấp bội phần so với trường-hợp của Lê Đình Khôi – chỉ là một viên-chức bị nghi, mà mấy tên gà-mờ gán cho là “anh-em-cột-chèo” với tôi.

        Tất-nhiên Ferguson đã cho tái-kiểm-chứng, và đã có được sự thật một cách đơn-giản, nhanh-chóng, dễ-dàng.

        Từ đó, anh cởi-mở và tận-tụy với tôi hơn bao giờ.

        Nhưng cũng từ đó tôi phải khổ nhọc với công-vụ hơn bao giờ, vì phải đương-đầu nhiều hơn với cả khách ngoài ngành cũng như bạn trong nghề, trong lúc còn phải đối-phó với quân thù cả đằng trước mặt lẫn đằng sau lưng*.

        ——-

        *Sự-việc này đã được kể lại trong cuốn “Về Vùng Chiến-Tuyến” do Nhà “Văn Nghệ” ở miền nam California xuất-bản năm 1996 (trang 302-03).  

        Bỗng-nhiên, trên diễn-đàn vô-tuyến “PalTalk” vào ngày 23-8-2010, cựu Thiếu-Tá Liên Thành, cựu CHT/CSQG Thừa-Thiên




KIỀU MỸ DUYÊN: TÁC GIẢ CHINH NGUYÊN RA MẮT SÁCH

TÁC GIẢ CHINH NGUYÊN RA MẮT SÁCH

Thứ bảy, ngày 10 tháng 8/2024

KIỀU MỸ DUYÊN




TRẦN CÔNG/LÃO MÃ SƠN Sưu Tầm: “Thật không Ngờ Chữ “Đức” Lại Bao Hàm Thiên Cơ Lớn Đến Như Vậy!”  Tác giả: Trạch Lâm.

Đức là gì, Đạo đức là gì? Người xưa và người nay hiểu về Đức khác nhau như thế nào?

Trạch Lâm

Chữ “德” (Đức) được tạo thành từ các bộ: “彳” (bộ Xích) , “十” (bộ Thập), “目” (bộ Mục), “一” (bộ Nhất), và “心” (bộ Tâm). Trong cuốn “Thuyết văn giải tự” giải thích rằng: “Đức, thăng dã. Tùng xích thanh” (Tạm dịch là: “Đức, là cảnh giới thăng hoa”. Do đó, “Đức” có thể được hiểu là đạo đức, là sự thăng hoa của “tâm tính” con người. Chữ “Đức” mang ý nghĩa là vươn lên tầng cao hơn, cũng là chỉ sự tinh tấn của người tu luyện, nên chữ “Đức” có mang theo bộ “彳” (bộ Xích).

Theo “Thuyết văn giải tự”: “Xích, tiểu bộ dã, tượng nhân hĩnh tam chúc tương liên dã”, tạm dịch là: Xích, là bước nhỏ, giống như ba phần liên kết của chân người.

Bộ Xích giống như ba khớp của chân người, có ý nghĩa là bước một bước nhỏ. Tuy nhiên bước nhỏ của chữ “Đức” này không phải là chạy, nhảy hay đi bộ trên mặt đất phẳng, cũng không phải là dậm chân tại chỗ, mà là từng bước một vươn lên cao.

Đối với một người bình thường, “Đức” nhiều hay sẽ quyết định năng lực của người đó lớn hay nhỏ, mức độ hạnh phúc cũng như tầng thứ và hướng đi trong luân hồi. Vì vậy, muốn “có được” (Đắc) thì phải có “Đức”, muốn “có được” (Đắc) thì phải “mất đi” (Thất), muốn “có được” (Đắc) thì phải “xả bỏ” (Xả), muốn “có được” thì phải nỗ lực.

Đối với người tu luyện, “Đức” nhiều hay ít sẽ quyết định mức độ khó khăn khi tu luyện, sự cao thấp của “Công” cũng như tầng thứ và quả vị có thể đạt đến.

Bên phải chữ “Đức” là “十目一心” (thập mục nhất tâm).

Trước hết, chúng ta hãy nói về chữ “一” (Nhất). Hiện tại chúng ta đều cho rằng “一” (Nhất) đơn giản chỉ là một con số. Thế nhưng thực ra, con số này rất phức tạp. Trong “Thuyết văn giải tự” có rất nhiều cách giải thích về chữ này. Nội hàm của chữ “一” này là gì?

“Duy sơ thái cực, Đạo lập ư nhất, tạo phân thiên địa, hóa thành vạn vật” (Tạm dịch là: Thái cực, Đạo tối nguyên sơ là được sinh ta từ “nhất”, sau đó tạo nên trời đất, sinh thành vạn vật).

Vì vậy, chữ “一” là tổ của vạn vật, là tổ tiên và nguồn gốc của tất cả mọi thứ. Từ “一” sinh ra âm dương, sinh ra trời đất. Nét ngang trong chữ này đã chia ra trời và đất. Ở phía trên là trời, phía dưới là đất.

Còn chữ “十” (Thập) ở đây có nghĩa là “thập phương thế giới, tứ diện bát phương” (mười phương thế giới, bốn phương tám hướng).

Thế nên mọi người sẽ thấy chữ “Đức” này rất thú vị. Trên chữ “一” là “十目” chính là chỉ rằng khắp trời đều là con mắt. Chữ tâm dưới chữ “一” là chỉ lòng người. Vì vậy mắt của Ông Trời đang nhìn vào lòng người.

Trước đây còn có những câu như: “Trên đầu ba thước có Thần linh”, “Làm chuyện trái với lương tâm ở trong phòng tối, mắt Thần lại thấy rõ như ánh điện”

Nghĩa là mắt của Ông Trời ở khắp mọi nơi, những con mắt đầy trời đang nhìn xuống mặt đất. Điều này cho thấy người xưa hiểu “Đức” là gì. Đó chính là dù có ai nhìn thấy hay bạn hay không, bạn có bị pháp luật truy xét hay không, thì hành vi của bạn đều phải tuân theo Thiên lý mới thực sự là “Đức”.

Lão Tử viết rằng: “Vạn vật mạc bất tôn Đạo nhi quý Đức“ (Tạm dịch là: muôn vật đều tôn trọng Đạo, quý trọng Đức).

Vạn vật nếu không có Đạo thì không thể sinh ra, nếu không có Đức thì không thể thành được. Vì vậy vạn sự vạn vật, trời đất và con người có thể tồn tại, phát triển đều nhờ với sự nuôi dưỡng của Đạo Đức.

Đức là một loại vật chất cao năng lượng, không nhìn thấy, không sờ được nhưng lại thực sự tồn tại. Có thể nói rằng chữ “Đức” quyết định tất cả mọi thứ của con người. Đức hạnh nhiều ít sâu cạn sẽ quyết định phúc phận và vận mệnh của con người, giống như người xưa nói rằng: “Hữu đức giả đắc” (Người có đức thì có được); “Thất đức giả thất” (Người không có đức thì mất đi).

Phúc hay họa của con người đều có liên quan mật thiết đến đức. Có đức là có phúc, không có đức thì sẽ gặp họa. Đó chính ý nghĩa thực sự của câu “Thiên đạo vô thân, thường dữ thiện nhân” (Tạm dịch là: Trời không thiên vị, thường giúp người lành).

Trong sách cổ “Thượng thư – Cao đào mô” có miêu tả có tổng cộng chín loại đức, cũng là chín tiêu chuẩn về hành vi:

“Khoan nhi lật, nhu nhi lập, nguyện nhi cung, loạn nhi kính, nhiễu nhi nghị, trực nhi ôn, giản nhi liêm, cương nhi tắc, cường nhi nghĩa”.

Tạm dịch là: Khoan dung đại lượng nhưng cũng nghiêm túc cung kính, tính tình ôn hòa nhưng lại có chủ kiến, cẩn thận tỉ mỉ nhưng cũng trang trọng nghiêm túc, có tài trị quốc nhưng cũng thận trọng, giỏi lắng nghe ý kiến của người khác nhưng cũng cương nghị quyết đoán, hành vi chính trực nhưng thái độ ôn hòa, khoáng đạt giản dị nhưng cũng chú trọng cả những việc nhỏ, cương trực nhưng cũng vẹn toàn, kiên cường dũng cảm nhưng cũng phù hợp đạo nghĩa.

Trong sách “Thượng thư – Hồng phạm” có nói về ba loại đức khác: “Nhất viết chính trực, nhị viết cương khắc, tam viết nhu khắc”.

Tạm dịch: Một là cương trực thẳng thắn, hai là lấy cứng rắn giành thắng lợi, ba là lấy mềm dẻo giành thắng lợi.

Trong quyển “Chu Lễ – Địa Quan” lại có giảng về sáu loại đức: “Tri, nhân, thánh, nghĩa, trung, hòa”.

Tri: tri thức, hiểu biết; nhân: nhân nghĩa; thánh: sáng suốt: nghĩa: chính nghĩa; trung: chính trực; hòa: khiêm hòa.

Trong sách “Luận ngữ”, Khổng Tử đã giảng đến năm loại đức: “Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”.

Người xưa rất kính trọng trời đất và Thần linh, có thể tuân theo Đạo và giữ gìn đức nên có đức hạnh tốt, có nhiều phúc phận.

Nhiều người hiện nay thường xem đạo đức là hư vô, nhìn nhận một cách nông cạn, cho rằng đạo đức chỉ là lý thuyết suông, chứ không có nội hàm thực sự, chỉ nói đạo đức trên miệng, chứ không thực tâm tin tưởng, không biết được nội hàm sâu sắc của đạo đức cũng như năng lượng vật chất và tinh thần to lớn của đạo đức. Do đó, người thời nay đã rời xa đạo đức, ít đức, phúc phần cũng nông cạn, gặp phải nhiều tai họa.

Đức Nhân biên dịch




 (Memoir of the June Season) MIC OF THE I CORPS AND THE I MILITARY REGION by LE XUAN NHUAN)

HEADQUARTERS –MILITARY REGION I AND MILITARY REGION I

SINCE the abolition of the Regional Government Representative Courts (an administrative organization under the “First Republic” of President Ngo Dinh Diem, replacing the Prime Minister’s Offices) /General of the Part/State level under the “Vietnamese Nation” of State Chief Bao-Dai), the “Region Generals” (Commanders of Corps and Tactical Regions) have obviously become The Prime Minister or Representative of the Government in his/her Region.

After abolishing the position of Administrative Assistant next to the Commander of the Tactical Region, the “Region Generals (now Military Region)” have even more authority over agencies. Regional (Regional) level civil service whose tasks are considered the main efforts of the Pacification & Development Program, through the Standing Center of the Regional Council for Pacification & Development, belongs to the Military Region Command, whose staff are all military personnel, under the command of the Deputy Commander of the Military Region.

As for the Police Force, it operates closer to the Military Force, so the Commander of the Regional/Area Police Force, as Head of an Agency under the Military Region, directly receives instructions. from the Military Region Commander.

In general, it is the Police Force, but in reality, only the Special Police have the majority of responsibilities related to the Military Forces, through the two branches of Military Intelligence (Second Department) and Military Security (Second Department). Military Security). In addition, the Special Scene is also responsible for implementing one of the main goals of the Binh Dinh & Development Program: rural security.

According to the Government Decree reforming the Special Police into a Special Branch in 1970, one year before the reform of the Special Police, my position was classified as a The Director of a Department has many Departments, and is responsible for directly reporting the situation to the Military Region Commander, which means I am also a Military Region-level Agency Head.

After the seminar that I organized at the National Police Command of Region I, and after my inspections in each Province+Town and District in the Region, I realized that the Special Landscape of Region I has a great potential. – has great potential and needs to be exploited to the fullest.

However, in the context of war and with the military’s obvious superiority, I first need to gain the affection and trust of the military.

In that spirit, to start the Sector’s foreign affairs activities, I must soon come and introduce myself to the leaders and executives of the Military Region here.

Lieutenant-General Ngo Quang Truong

In Military Region I, I rarely met Lieutenant General Ngo Quang Truong , compared to Lieutenant Generals Vinh Loc , Lu Lan , Ngo Du, and Nguyen Van Toan, like when I was still working. in Military Region II. General Truong spent most of his time on outside inspections, rarely in the office.

However, in my mind I feel that I meet and get close to him often. That lieutenant general, as I heard many people praise in Saigon as well as in Region II, is truly an ideal physical figure of contemporary society. The status of a soldier has been raised to the top of the four worlds  Military, Public, Officer, Government  and that soldier is at the pinnacle of his position (“Regional General” is “leader of the Region”. -lord” of the Region). He was promoted to a higher position at the Central Government but he refused and volunteered to stay and guard this dangerous area of ​​the Homeland; who devoted all his mind, effort and time to the anti-Communist work right at the front, rarely enjoying himself in the city; who was invited by the Southeast Asia Inter-Occupation Organization (SEATO= South East Asia Treaty Organization) to come to Thailand every month to give presentations on Vietnam’s efforts and battlefield experiences; He has no political ambitions, so he is trusted and loved by President Nguyen Van Thieu, assured that he will never break away from the Central Committee as planned by former Lieutenant General Nguyen Chanh Thi in the past. …

One day, while waiting to gather documents and bring them to the first meeting with the I Corps at the office of Colonel Hoang Manh Dang, Chief of Staff of the Corps and Military Region, some A high-ranking officer happened to mention to me about Lieutenant General Truong: that he had severely punished a General of the Division Commander for being jointly responsible for the case of a single-command. who is in charge of driving the people’s cows; that he punished a colonel Head of the Agency for corruption in the Rural Development budget; He used helicopters to fly throughout the Military Region, personally controlling the situation in all aspects and places, including supervising the disciplinary behavior of soldiers along the way as well as at stations. remote camps, on the most unexpected days and hours; What’s more, he only wore a battle uniform with armor and helmet, ready to go into battle at any time… Public opinion also rumored that he once slapped the ear of a proud Minister at the airport. -school…

General Truong’s countless exemplary deeds were recounted to me with words and attitudes full of admiration, causing a strong emotion and deep impression in me, so much so that later, when I Halfway up the stairs leading to his office and that of Colonel Dang, I suddenly saw him coming down and I suddenly stopped. Standing tall before me was the great image of a “hero” wearing armor and a helmet, realistic yet as mythical as in ancient legends. He asked me what I came for. I was speechless, causing Colonel Le Quang Nhon, Chief of Department I of Military Security, who was accompanying me, to answer for me.

So I have a trustworthy anti-Communist leader for this entire boiling War Zone .

Major-General Hoang Van Lac

Lieutenant General Ngo Quang Truong has agreed to let us  as Commander of National Police Region I, Head of Division 2 of Army Corps I & Military Region I, Chief of Department I of Military Security – The team, and I, the Director of Special Sector I, and my ” Allied Friend ” MEET weekly at the office of Colonel Hoang Manh Dang, his Chief of Staff.

That is an effort to coordinate intelligence and operations.

As for territorial security/internal affairs, we met at the office of Major General Hoang Van Lac, Deputy Commander of the Military Region.

Attending here were the Assistant Commander/National Police of Region I in charge of Phung Hoang, that is, the Assistant General Secretary of the Standing Center of the ” Phung Hoang ” Committee of Military Region I, but there is no “Ally”.

Right in the meeting that included me for the first time, General Lac emphasized the general security situation, especially in and around Da Nang Town, where Army Corps I and Military Region I were headquartered. -headquarters, where is now the capital of the Central region.

Typical issues raised:

The largest gas depot of Military Region I in Lien-Chieu, next to the foot of Hai-Van Pass, was attacked several times by the Viet Cong; Other important gasoline reserve tanks in the inner city of Da Nang were also half-cut by Viet Cong special forces with barbed wire fences (last year, bombs were set to destroy a large amount of gasoline); Trains from Hue, entering the Hai-Van Pass tunnel, were mined regularly by the Viet Cong; Especially in the south of Ngu Hanh Son Mountain, Lieutenant General Ngo Quang Truong ‘s helicopters were often shot by snipers from the Viet Cong, so he had to avoid that area by flying away…

I don’t need to wonder why the Commands of Army Corps I & Military Region I and the National Police Command of Region I are located there, but the agencies/units of the Army and Police Department are located there. – because these chronic ulcers have not been eliminated.

I immediately volunteered to take on the responsibility of restoring and ensuring long-term security for the above mentioned places.

I also propose that the Police Force in general and the Special Branch in particular, with me personally participating, take on the leading role in both covert and surface operations to eliminate communists. -produce and maintain territorial security, in any land where civilians reside and live, starting from towns and district capitals, throughout the Military Region.

I only ask for a signature from the Commander of the Army Corps and the Military Region, to notify this to all military agencies and units throughout the Region for compliance.

Lieutenant General Ngo Quang Truong , Commander of Army Corps I and Military Region I, approved my proposal.

Second Department and Military Security

In general, military people do not like police people; In particular, in the field of intelligence, there is disagreement, if not a struggle for influence, between Military Intelligence, Military Security, and the National Police [Special Forces]. -Scene]. Although in later times, there were a large number of military personnel at all levels seconded to the Police Force, and hybrid military officers held the majority of command positions in the French Army, so the Communication between the two sides at high levels and on the surface has improved quite a lot; But in daily interactions, even in work coordination, the inferior part is often reserved for the human side.

Everyone knows that in the field of military intelligence, military experts are naturally more proficient; What’s more, in wartime, Military Intelligence is equipped with state-of-the-art machinery, tools and techniques through military aid which is the main budget of the United States; supported by the sky; given priority in exploiting documents captured on the battlefield; Priority is given to interrogate all sources of information, including police officers, criminals and prisoners of war captured by the Special Police. The Special Police’s weakness is that it also collects military information, but lacks confirmation circumstances and is wary of being blamed, so any information it receives is forwarded to the Second Division. ; In the end, there are many reports from high levels that have only low value, or even no value at all. (The Special Police leaders at the Central level hardly pay attention to this.)

For me, the issue is more clear-cut. It’s even better if the Special Canh is also knowledgeable about the military. For example, to achieve that, for many years, I have fasted every day without breakfast to attend early morning presentations at II Corps Command, when I was still stationed in Pleiku. , and the Military Region II Command, moved to Nha Trang, to closely follow the situation and grasp military issues throughout the Region, mingling with the commanders of the regions. In the military world, when involved in an incident, one is respected and therefore public affairs are sincerely coordinated.

However, each agency has its own function and each part has its own responsibility. Security and intelligence are not just limited to the military, even though the country is in a state of war.

Communism is not just military units or armed forces that ambush or attack. If there are no regular forces to create storms, the enemy’s political and civil organizations will still be hidden nests and cradles for termites and pests. the power to hollow out, erode, and collapse the foundation of the Nation.

That is the People’s Revolutionary Party (Labour Party in disguise); National Liberation Front; Provisional Government of the Southern Republic; people’s associations such as Trade Unions, Agricultural Associations, Women’s, Youth, Students, and Pupils; with Party Committees, Front Committees, state agencies, association branches, from the central government down to communes and villages; espionage, special operations, propaganda, enemy operations, intelligence operations, religious operations, finance, supply, communications…

All are objects of Special Scenes; but they are enemies that transcend borders and are omnipresent.

Agreeing with that perception of mine, Colonel Pham Van Pho, Head of Division 2, Army Corps I and Military Region I, agreed to inform and transfer to me all the information. and any documents related to the politics and civil affairs of the Viet Cong that the Military Newspaper has.

As for me, I only provide the Second Department with information and documents that I have personally selected, verified, and are of high value.

Up to now, all intelligence agencies as well as military units across the country have relied on the document ” The Viet Cong Battle ” drafted by the Second Division, as a set of documents. – a comprehensive dictionary of the enemy’s organization and personnel, to search for, detect, and determine the background and position of each communist element found before or during hand.

However, realizing that on the political and civil side, my Special Police Branch has more complete data, so I proposed that the Command of Army Corps I and Military Region I approved, from now on, the ” Viet Cong Battle ” is divided into two parts: the Second Department only sets up the Military Battle, and the Political Battle, I am responsible for the Special Police Department of the Department. I implemented, were circulated and used throughout the Military Region, as well as disseminated to the Central Committee (General Staff, Central Intelligence Special Committee Office, Ministry of Intelligence). Hoi, National Police Command, etc.) and into Military Region II which is border territory, so that all agencies and units can refer to it for all things related to Vietnam. -Communist in the Central region.

During the time of Major General Nguyen Cao Ky as Chairman of the Central Law Enforcement Committee, Colonel (later Major General) Nguyen Ngoc Loan , Director of Military Security, was appointed concurrently. The Director General of the National Police has ordered the Police to provide all information and documents to the Military Security. From then on, it became a routine…

But I refuse to limit the coordination between the two branches to such a simple level as above. For example, for a long time, the Military Police only needed to rely on the results of the Police’s archive collection to approve the political activities of Vietnamese candidates. Apply to work at US offices, military bases, and private companies. I have noticed that in the Police Archives (Sac-Fitness) departments, there are always quite a few personal files on communist activities stagnant, not yet tabulated and classified for inclusion. storage system for use in retrieval. In addition, there are soldiers seconded to administrative agencies; soldiers elected to elected positions; and even soldiers who are not always in barracks: they enjoy military status, outside the jurisdiction of the Police, but at the same time they are beyond the reach of control. by Quan-An.

I raised the issue with Colonel Le Quang Nhon, Chief of Department I of Military Security, and he agreed with my opinion and submitted his favorable opinion to the Superiors, so that the two branches could coordinate. with each other more closely and widely, both in terms of supervision and monitoring, as well as in investigation and handling, including detention and interrogation, especially is in terms of counter-intelligence, against the enemy’s in-line elements and hidden bases in the military ranks…

Binh-Dinh Standing Center and Military Development Zone I

If a Government has to do both jobs at once, preserving the country and building the country, then the Council for Pacification and Development is the organization that builds the country.

Although the Program has a goal of “neutralizing the Viet Cong’s infrastructure and restoring security to rural Hamlets”, that task has been contracted out. , in name, for the Royal Service Commission, and in reality, for the Armed Forces and the National Police, whose means of operation were originally supplied from abroad. It’s Central. There are other remaining goals, such as helping farmers increase rice production, fighting illiteracy and improving the education level of rural people, examining and treating diseases and protecting people. health for the people, building bridges and roads to meet transportation needs, expanding the information network to disseminate current and official news infrastructure. The Government’s rules and regulations, etc. are accompanied by a budget to buy fertilizers, build more schools, clinics, bridges, roads, information stations, etc., so they are attractive to investors. contractors and attract officials at all levels to call for tenders and bid more.

The first time I came to the Binh Dinh Standing and Development Center of Military Region I, I met the Ministry of Trade and Industry and the Command of Military Region I to consider a problem. A number of overseas Chinese merchants applied to exploit cinnamon in Que Son District (Quang Tin Province) which is a semi-secure area.

Cinnamon is a great source of profit, the Viet Cong also took it.

Before that, Major-General (later Lieutenant-General) Nguyen Van Toan “took advantage” in such a way that the press dubbed him “Que Tuong Cong”. I stand on the security, intelligence, political, economic and civil aspects, and give my opinions to the Center, because we are afraid that military leaders are having to deal with the minds of the people. tycoon of the wealthy business class. I propose that Colonel Nguyen Xuan Loc, Commander of the Police Region I, join the Military Region delegation to study the site thoroughly.

Suddenly there was an order banning Colonel Loc from entering Quang Tin Province.

I persuaded Loc, and he listened to me: just go, because it is your right; I go about my business. I’m going with you.

I once discovered that the Center for Binh-Dinh and Military Development of Region I used two policemen, a captain and a sergeant, who were distinguished by the Region I Police Command. -sent to “coordinate work”, to boil water for tea, and serve the officers and non-commissioned officers serving at this Center!

I reported this matter to Colonel Loc and he withdrew the other staff members.

Coordination of Activities Between

Security & Political & Military Counter-Intelligence in the Central Region

Some time later, after establishing closeness, trust and mutual respect between the National Police (Special Branch), Second Division, and Military Security agencies -The team, at the Military Region/Region level, I have gone further, proposed, and received approval from Lieutenant General Ngo Quang Truong, for the Military Region I Command to organize a meeting between the Commanders of the National Police and the Heads of Military Security Departments/Departments of the Provinces/Towns and with the Heads of the Second Departments of Sub/Special Zones throughout the Central Region, to formalize and concretize the coordination of work between the three branches of security, intelligence, counter-intelligence and the military mentioned above, at the provincial/municipal level.

That special meeting took place at the meeting hall of the Command of Army Corps I & Military Region I, under the chairmanship of Major General Hoang Van Lac, Deputy Commander of Military Region I, General -representing Lieutenant General Ngo Quang Truong, Commander of the Army Corps & Military Region.

Because the Headquarters of the I Corps Command & I Military Region strictly control entry/exit, I personally guided the convoy of the National Police Commanders. Province/Town in Zone I from the Regional Police Command to the Camp gate, all the way to the Military Zone’s synagogue.

Just like in other cases, I both initiated, organized, and acted as a commander and executive officer.

*

In addition, Lieutenant General Ngo Quang Truong also approved for me to use a Special Police officer, even if only a non-commissioned officer, to play the role of Army captain to join the Army Detachment. -The work of the Republic of Vietnam, in the 4-Party Joint Military Commission (later there were only 2 Parties), to carry out espionage work targeting the two communist groups of Poland and Hungary. Gia-Loi , planning to hide as secretary of Lieutenant Colonel Vinh, Deputy Head of the Delegation of the Republic of Vietnam in Military Region I  that is, Region II according to the 1973 Paris Agreement.

(The installation of Special Police officers in the Military Delegation of the Republic of Vietnam was proposed by me when I was still in control of the Special Police Branch in Region II, typically with the case of Major Tran Van Tha, Chief of the Special Police Department of Binh Thuan Province [with the support of Provincial Governor and Sub-Region Chief Ngo Tan Nghia], brought in a Special Police sergeant to pretend to be a colonel. Lieutenant of the Army of the Republic of Vietnam to approach a target as a member of the “Provisional Revolutionary Government of South Vietnam” in the “Four-Party Joint Military Commission” stationed in Phan -Thiet.)

Department I of Military Security has also permanently seconded a major to lead 5 officers and non-commissioned officers to work with the ” Thach Ma ” Team (supervisor & follow-up). following the members of the Polish and Hungarian Communist Delegations in the above-mentioned International Committee) of my Special Sector I.

The Second Division of Army Corps I also permanently seconded a lieutenant, to accompany my local police officer to operate day/night in Quang Nghia Province, next to the Sub-Region Command. , the Regiment Commands, the Branch Commands, the Chieu Hoi Department, the Social Department, the Health Department, etc. so that the Military Region level can coordinate with localities in time. -time to exploit news & access all sources of information on the spot (VCs were killed, captured, returned to justice; civilians in distress, refugees, liberated by us; etc. .), for the purpose of recruiting, building and using as intelligence agents to infiltrate, or within-line, within the enemy’s ranks  because Quang-Nghia is where there are the most opportunities to search for these clues…

*

These initiatives and efforts of mine, aimed at tightening the relationship and coordination of activities between the above-mentioned agencies, have created a more favorable atmosphere and circumstances for work of the National Police/Special Police levels throughout Region/ Military Region I from then on.

LE XUAN NHUAN




KIỀU MỸ DUYÊN – ĐẠI HỘI ĐOÀN KẾT VÕ BỊ TOÀN CẦU 2024 – DỰNG LẠI NIỀM TIN

DỰNG LẠI NIỀM TIN
KIỀU MỸ DUYÊN




Chúc Mừng Đại Hội Liên Khóa Không Quân 72-73 Kỳ 9. VTLV LÊ VĂN HẢI và THI THÂN HỮU

Chúc Mừng Đại Hội Liên Khóa Không Quân 72-73 Kỳ 9, Thành Công Trên Cả Mong Đợi! Hàng Trăm Cánh Chim Khắp Nơi Trên Thế Giới, Vui Chơi Gặp Gỡ Nhau Trên 3 Ngày Tại San Jose.

hhy8hiohhihiohio.jpg

Hôm qua là buổi tiệc “Chánh Phi” mở rộng cho các Hội Đoàn Quân Đội khác tham dự, khách chật kín đầy cả nhà hàng! Buổi tiệc huy hoàng, với nhiều tiết mục ý nghĩa, hay lạ. Nói chung, ít có tiệc nào, thành công như thế! Cuộc chiến đã qua gần nửa thế kỷ, qua hơn 50 năm kể từ ngày nhập ngũ, mà vẫn tìm đến nhau, chỉ có KQ “không bỏ anh em, không bỏ bạn bè!” Chúng mừng BTC.

uhy898hhh.jpg

 image.png

Nhân ngày sinh nhật Không Quân VNCH 1-7, thân kính mời quý thân hữu thưởng lãm bài thơ xướng họa sau:

Screen_161024_195400.jpg
 

LÝ TƯỞNG KHÔNG GIAN

-Thân tặng quý chiến hữu KQVNCH

Lý tưởng Không Gian thật tuyệt vời!

Chúc mừng sinh nhật khắp muôn nơi

Á, Âu náo nức mừng khai hội

Mỹ, Úc hân hoan chúc thiệp mời

Ta ở bên này thương chiến hữu

Bạn nơi chốn cũ nhớ mây trời

Bao nhiêu kỷ niệm thời chinh chiến

Hoài niệm đong đầy vương vấn thôi !!!

Lâm Hoài Vũ

Ngày 01-7-2024

 4aaadbacd6590351d0a8ce78fc47f543--cessna-aviation-art.jpg

Họa

Sinh Nhật Không Quân VNCH

Tháng bảy ngày đầu khắp các nơi

Không Quân đại hội họp vui vời

Đồng môn tay bắt thương cùng hỡi

Chiến hữu mặt mừng quý quá ơi

Thủa ấy hiên ngang bay núi biển

Khi xưa dũng cảm lượn bầu trời

Mình ôn kỷ niệm đùa thần tử

Sinh nhật hàng năm tổ chức mời

Minh Thúy Thành Nội

Tháng 7/1/2024

 0419442aacf1a3ba4fd585125bade92b.jpg

Quý thân hữu thân kính !

Ngày 01/7 /1955, là ngày thành lập Không Quân VNCH .

Thân kính mời quý thân hữu thưởng lãm những bài thơ xướng họa sau:

d4b22425100fd01afb8af470adb8862d.jpg

KHÔNG QUÂN VIỆT NAM UY DŨNG

– Kỷ niệm 54 năm nhập ngũ .

-Thân tặng quý chiến hữu KQ/VNCH .

Thu về nhớ lại tháng năm qua .

Quá khứ vàng son thuở ngọc ngà .

Từ giã thư sinh theo tiếng gọi .

Đăng trình quân chủng thỏa đời ta .

Không Gian Tổ Quốc dân vi quý .

Chiến Thuật Bốn Vùng chính khí ca .

Lịch sử hào hùng danh tỏa khắp .

Việt Nam lừng lẫy ngát hương xa .

Lâm Hoài Vũ

Sept 18 , 2023

+

 d77e9eb5f0825988024f53e7c9cd41af.jpg

Họa 1 – Không Quân VNCH

Gợi giấc mơ đầy tháng bảy qua

Không quân một thủa đẹp trăng ngà

Thư sinh xếp bút miền nam Việt

Lính tráng lên đường tổ quốc ta

Phóng vút tầng mây lòng dũng cảm

Dâng chèn núi biển chí hùng ca

Tinh thần bất khuất cùng đồng đội

Nghĩa vụ theo tầm chiến lược xa.

 Minh Thúy Thành Nội

 June 24, 2024

Hôm Nay Kỷ Niệm Ngày Không Lực VNCH 2024

(KQ LVH)

 1b0126736f9c97f4754b7772aa360160.jpg

-Ngày 1 tháng 7, 1955, lá cờ Tam Tài của nước Pháp bị hạ xuống và thượng cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của VN, phất phới bay trên kỳ đài tại căn cứ Không Quân Nha Trang. Thì từ ngày đó, được đánh dấu là Ngày Không Lực VNCH.

Từ giây phút lịch sử hào hùng đó, KQ VNCH hơn 20 năm, ca vang hành khúc: “Giờ từng đoàn người vượt qua biên giới quyết chiến thắng / Đi không ai tìm xác rơi / Lúc đất nước muốn / Bao người con thân yêu ra đi, hối tiếc tấm thân làm chi!…”

Không Quân VNCH, là một binh chủng được thành lập từ ngày 25 tháng 6, 1951, thời Vua Bảo Đại. Lúc đầu chỉ có một Bộ Chỉ Huy, một Tiểu Đoàn Không Quân với quân số 40 sĩ quan, 120 Hạ Sĩ Quan và 500 binh sĩ. Đến ngày 1 tháng 7, 1955, lá cờ Tam Tài của nước Pháp bị hạ xuống và để thượng cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của VN lên kỳ đài tại căn cứ Không Quân Nha Trang. Thì từ ngày đó, được coi là Ngày Li6ch Sử! Ngày Không Lực VNCH!

 hhijjopjkkpkpp.jpg

Trong cuộc chiến Quốc Cộng trước 75, Quân chủng Không Quân phát triển rất nhanh, lớn mạnh như… “Phù Đổng Thiên Vương!” Chỉ sau 19 năm, Không Quân VNCH đã có 2071 phi cơ đủ loại, có 6 Phi Đoàn KQ đặt căn cứ tại Đà Nẵng (SĐ.1), tại Nha Trang (SĐ 2), tại Biên Hòa (SĐ 3) tại Bình Thủy Cần Thơ (SĐ 4) tại Tân Sơn Nhất (SĐ 5) và tại Pleiku (SĐ 6) với hàng trăm phi công được huấn luyện tại Hoa Kỳ và VN có thể điều khiển các loại phi cơ phản lực tối tân được trang bị trong cuộc chiến. Các phi công VNCH từng được các nước trên thế giới nể phục, về tài ba và sự can đảm, cũng như tinh thần yêu nước quên mình, đặc biệt, trong các quân chủng QLVNCH, thì KQ là quân chủng lạ lùng, có nhiều sĩ quan hy sinh nhất! Lính thì lại an toàn hơn!

 Helicopters_Painting_Art_Sunrises_and_sunsets_535113_1280x360.jpg

Ngoài các phi công gan dạ, Quân chủng KQ/VNCH, còn có hàng ngàn chuyên viên được đào tạo tại các trường huấn luyện kỹ thuật, để bảo trì và sửa chữa các phi cơ, cũng như các thiết bị quân đội. Tất cả các Chiến Hữu Không Quân dù hoạt động trên trời hay dưới đất, đều mang một phù hiệu chung: “Tổ Quốc – Không Gian”. Bảo vệ bầu trời Quê Hương Miền Nam tự do dân chủ trên 20 năm!

 d90093a08ff253f5be0642cb0fbd09d1.jpg

Kỷ niệm Ngày Không Lực VNCH 2024, xin dành một phút tưởng niệm hàng trăm cánh chim đã bay vĩnh viễn tan vào bầu trời Quê Mẹ, bảo vệ trời xanh, mây trắng, của một thời chiến chinh. Mãi mãi Tổ Quốc Ghi Ơn!

 kooppj9pjopjopgfggg.jpg

Nguồn gốc và truyền thống Lễ Độc lập Mỹ: Những điều cần biếtimage.png

Pháo hoa nhân ngày Lễ Độc lập Hoa Kỳ tại Washington.

-Người Mỹ ăn mừng Lễ Độc lập Hoa Kỳ ngày 4 tháng 7 với các cuộc diễu hành, nấu ăn ngoài trời, uống bia lạnh, và tất nhiên là phải có pháo hoa.

Pháo hoa cũng khiến cho ngày lễ này trở thành một ngày lễ đặc biệt nguy hiểm, thường dẫn đến hơn 10.000 chuyến cấp cứu. Tuy nhiên, pháo hoa vẫn là trung tâm của Ngày Độc lập, một ngày lễ đã hình thành 247 năm.

Nguồn gốc của Ngày Độc lập

Ngày này kỷ niệm việc Quốc hội Lục địa thứ Hai nhất trí thông qua Tuyên ngôn Độc lập hôm 4 tháng 7 năm 1776, một văn bản tuyên bố tách các thuộc địa ra khỏi Vương quốc Anh.

Một năm sau, theo Thư viện Quốc hội, một lễ kỷ niệm tự phát ở Philadelphia đánh dấu kỷ niệm ngày độc lập của Hoa Kỳ.

Nhưng trên khắp quốc gia, việc tôn trọng ngày này không trở nên phổ biến cho đến sau Chiến tranh năm 1812. Nó nhanh chóng lan rộng: Thư viện Quốc hội lưu ý rằng các sự kiện lịch sử quan trọng trong thế kỷ 19, chẳng hạn như lễ khởi công xây dựng Kênh đào Erie và Baltimore và Đường sắt Ohio, đã được lên kế hoạch trùng với lễ hội ngày 4 tháng 7.

Làm thế nào mà pháo hoa trở thành một truyền thống trong ngày 4/7?

Màn trình diễn pháo hoa đã là một phần quan trọng của Ngày Độc lập ngay từ đầu. Tổ phụ sáng lập John Adams đã thấy trước điều đó.

Lễ kỷ niệm nền độc lập của Hoa Kỳ “nên được tổ chức long trọng với Sự lộng lẫy và Diễn hành, với Các màn trình diễn, Trò chơi, Thể thao, Súng, Chuông, Lửa trại và Treo đèn Kết hoa từ đầu này của lục địa tới đầu kia của lục địa, từ nay cho tới mãi mãi về sau,” ông Adams viết trong một lá thư cho vợ, bà Abigail, ngày 3 tháng 7 năm 1776.

Pháo hoa đã có từ nhiều thế kỷ trước khi Mỹ trở thành một quốc gia. Hiệp hội Pháo hoa Hoa Kỳ cho biết nhiều nhà sử học tin rằng pháo hoa được phát triển lần đầu tiên vào thế kỷ thứ hai trước Công nguyên ở Trung Quốc cổ đại bằng cách ném thân tre vào lửa, gây tiếng nổ khi các túi khí rỗng bị nóng quá độ.

Đến thế kỷ 15, pháo hoa được sử dụng rộng rãi cho các lễ hội tôn giáo và các sự kiện giải trí công cộng ở châu Âu và những người định cư đầu tiên ở Hoa Kỳ đã tiếp tục những truyền thống đó, Hiệp hội cho biết.

Có tổng thống nào không chịu ăn mừng ngày 4/7?

Các tổng thống từ George Washington đến Joe Biden đã tổ chức lễ kỷ niệm ngày sinh của quốc gia vào ngày 4 tháng 7, với một ngoại lệ: Tổng thống Adams.

hiohiohiohihihihihi.jpg

Ông Adams từ chối tổ chức ngày lễ vào ngày 4 tháng 7 vì ông cảm thấy ngày 2 tháng 7 mới là Ngày Độc lập thực sự. Tại sao? Ngày 2 tháng 7 năm 1776, Quốc hội Lục địa đã bỏ phiếu ủng hộ nghị quyết giành độc lập, mặc dù Tuyên ngôn Độc lập mãi hai ngày sau mới chính thức được thông qua.

Ông Adams kiên quyết đến mức từ chối lời mời tham dự các lễ hội và các sự kiện khác, ngay cả khi đang giữ chức vụ tổng thống thứ nhì của quốc gia. Cả ông Adams và ông Thomas Jefferson, tác giả chính của Tuyên ngôn Độc lập, đều qua đời vào ngày kỷ niệm 50 năm ngày văn kiện này chính thức được thông qua, ngày 4 tháng 7 năm 1826.

Pháo hoa phổ biến ra sao?

Doanh số bán pháo hoa đã tăng nhanh trong hai thập niên qua.

Thống kê từ Hiệp hội Pháo hoa Hoa Kỳ cho thấy trong năm 2000, người tiêu dùng Mỹ đã chi 407 triệu đô la cho pháo hoa. Đến năm 2022, con số đó tăng lên 2,3 tỷ đô la. Bước nhảy vọt lớn nhất diễn ra trong đại dịch COVID, khi các màn bắn pháo hoa công cộng bị ngừng hoạt động. Doanh số tiêu dùng đã tăng từ 1 tỷ đô la năm 2019 lên thành 1,9 tỷ đô la vào năm 2020.

Bà Julie Heckman, giám đốc điều hành của Hiệp hội Pháo hoa Hoa Kỳ, nói: “Mọi người mua sắm pháo bông từ lễ Chiến sĩ Trận vong [tức cuối tháng 5].”

“Họ đã bắn pháo hoa suốt cả năm 2020.”

Hiệp hội cho biết doanh thu dự kiến sẽ tăng thêm 100 triệu đô la trong năm nay. Thật hữu ích khi ngày 4 tháng 7 năm nay rơi vào thứ Ba, về cơ bản tạo ra một cuối tuần kéo dài bốn hôm.image.png

Pháo hoa có nguy hiểm không?

Bất chấp những nỗ lực giáo dục rộng rãi, hàng ngàn người Mỹ bị thương nặng do pháo hoa mỗi năm. Ủy ban An toàn Sản phẩm Tiêu dùng Hoa Kỳ báo cáo rằng vào năm 2022, có 10.200 người được điều trị tại các phòng cấp cứu và 11 người chết được cho là do pháo hoa. Khoảng 3/4 số vụ thương tích xảy ra vào khoảng ngày 4 tháng 7.

Khoảng một phần ba các vết thương là ở đầu, mặt, tai hoặc mắt. Các vết thương ở ngón tay, bàn tay và chân cũng rất phổ biến.

Tiến sĩ Tiffany Osborn, bác sĩ phòng cấp cứu tại Bệnh viện Barnes-Jewish ở St. Louis, nói: “Tôi đã từng chứng kiến những người bị đứt lìa ngón tay.” “Tôi đã thấy những người bị mù mắt. Tôi đã thấy những người bị thương nặng trên mặt.”

Trẻ em dưới 15 tuổi chiếm gần 1/3 số người bị thương do pháo hoa. Người ta cho rằng pháo sáng thường gây bỏng cho trẻ em dưới 5 tuổi.

Đối với những người dự định bắn pháo hoa, bà Heckman khuyến khích tìm một bề mặt bằng phẳng, cứng, cách xa các công trình và những thứ khác có thể bắt lửa. Người chịu trách nhiệm về pháo hoa nên tránh uống rượu. Trẻ em không bao giờ nên đốt pháo hoa.

Bác sĩ Osborn khuyến khích có một cái xô hoặc vòi nước gần đó trong trường hợp cháy hoặc nổ. Bà nói, bắn từng quả một và nhanh chóng bỏ đi sau khi đốt, và không bao giờ châm lại hoặc xử lý pháo hoa bị hỏng. Khi hoàn tất, xúc xác pháo rồi ngâm nước trước khi đổ bỏ.

 (Theo AP)


mung le doc lap hai aaaaaa.jpg




Chúc Mừng Đại Hội Không Quân bằng thơ xướng họa

Quý thân hữu thân kính !

Ngày 01/7 /1955   là ngày thành lập Không Quân VNCH .

Thân kính mời quý thân hữu thưởng lãm những bài thơ xướng họa sau :

KHÔNG QUÂN VIỆT NAM UY DŨNG

– Kỷ niệm 54 năm nhập ngũ .

-Thân tặng quý chiến hữu KQ/VNCH .

Thu về nhớ lại tháng năm qua .

Quá khứ vàng son thuở ngọc ngà .

Từ giã thư sinh theo tiếng gọi .

Đăng trình quân chủng thỏa đời ta .

Không Gian Tổ Quốc dân vi quý .

Chiến Thuật Bốn Vùng chính khí ca .

Lịch sử hào hùng danh tỏa khắp .

Việt Nam lừng lẫy ngát hương xa .

Lâm Hoài Vũ

Sept 18 , 2023

+

Họa 1 – Không Quân VNCH

Gợi giấc mơ đầy tháng bảy qua

Không quân một thủa đẹp trăng ngà 

Thư sinh xếp bút miền nam Việt 

Lính tráng lên đường tổ quốc ta

Phóng vút tầng mây lòng dũng cảm 

Dâng chèn núi biển chí hùng ca

Tinh thần bất khuất cùng đồng đội 

Nghĩa vụ theo tầm chiến lược xa. 

 Minh Thúy Thành Nội 

 June 24 , 2024

      ………………………

Thân kính mời quý thân hữu thưởng lãm bài thơ xướng họa sau:

       LÍNH KHÔNG QUÂN VNCH

Nghe tiếng rền vang chim thép bay

Bồi hồi nhớ lại biết bao ngày

Kề vai với bạn thân thương quá !

Sát cánh bên nàng hạnh phúc thay !

Đêm tối lao mình truy lũ giặc

Hỏa châu tỏa ánh chiếu hình hài

Bốn vùng chiến thuật đoàn phi vụ

Tô điểm sơn hà chính khí say.

Lâm Hoài Vũ

( Trích thi tập GIẤC MƠ HOA)

Họa 

MT họa theo 

Không Quân VNCH ( hoán vận và 4 vần )

Mây trời rộng lớn trực thăng bay

Nhiệm vụ nào quên tuổi trẻ ngày

Bóng núi bao trùm mờ trước mặt 

Làn sương phủ bọc tối lưng mày  

Phi hành lực hợp lòng trung giữ

Chiến đấu tâm đồng nghĩa chính say

Được phép dăm chiều thêu lối mộng 

Bên nàng dạo phố đẹp tình thay  

              Minh Thúy Thành Nội 

                Tháng 6/29/2024

……………………………………………………………

  • Kể Chuyện Tháng Sáu

            Tháng sáu mùa tươi vui của khung cảnh hạ, không còn những cơn mưa và khí hậu lạnh rét run nữa. Trời trong sáng, nắng rực rỡ sắc hồng, cây cối xanh tươi, các loài hoa thi nhau khoe đủ sắc màu, nhất là những đóa quỳnh hồng, vàng nở tuyệt đẹp.

           Từ đầu tháng đến giờ tôi đi dự lần lượt: trước tiên là “Mừng Ngày Truyền Thống Cảnh Sát Quốc Gia 1 tháng 6”, kế tiếp “Đại Hội Thiết Giáp QLVNCH”, “Lễ Father’s Day” (hội phụ nữ Bắc Cali tổ chức phối hợp cùng các anh lính Thủ Đức trong nhóm “Cà Phê Lính”.

            Tiếp theo chiều nhạc “Khúc Tình Ca Của Lính” do ca sĩ Đồng Thảo cũng là xướng ngôn viên của đài radio Quê Hương tổ chức, điều hợp cùng MC Hoàng Tuấn, với sự góp mặt của  “Nhóm Hát Cho Giấc Mơ Việt Nam”. Đây là buổi chiều cho tôi nhiều hạnh phúc được quay về quá khứ, được nhập vai những nhân vật trong bản nhạc, ru tôi êm ái giấc mơ ngày nào …

          Hát về lính với những ca từ trong bản nhạc đã đưa tâm hồn mọi người trở về, sống lại những năm tháng trước 75, say mê nhưng cũng đầy luyến tiếc. Muôn đời tôi yêu trời tự do của miền Nam ngày ấy, dẫu năm tháng có phôi pha nhạt nhoà, dòng mê vẫn cuồn cuộn chảy ào về miền quá khứ của khung trời thơ mộng…

            Còn gì lãng mạn bằng tình yêu trong thời chiến, anh trở về thăm em trong khung chiều ngây ngất mùi hương hoa Soan phảng phất bên thềm thêu màu nắng nhạt, anh thì thầm… (Tuấn Khanh “Hoa Soan Bên Thềm Cũ”)

            Cảm xúc vô bờ bến của một thời lòng dân quý mến người lính Việt Nam Cộng Hoà. Quý mến bằng tấm lòng cảm thông, đã viết tên “trên gấm nhung, trên trán, trên tay, trong gió, trong mây, trong lòng biển lớn sông dài”. Hiểu nỗi niềm “Lớp trai chiến đấu oai hùng ngoài biên thuỳ xa, nơi chiến trường đẫm máu đem tự do cho đời.” “Lo lắng lúc trời gió mưa, lúc nhìn hạt nắng lưa thưa, lúc gối ánh trăng thanh.” (Hoàng Thi Thơ “Tôi Nhớ Tên Anh”)

          Bồi hồi, sợ hãi lo âu theo người yêu là lính, đêm đêm nàng mất ngủ tự hỏi, nhớ đến các địa danh “Quang Trung nắng cháy da người. Dục Mỹ hay Lam Sơn? Đồng Đế nắng mưa thao trường”. Pleiku gió núi biên thuỳ? Miền Trung hỏa tuyến địa đầu? Miền Tây tiếng sét U Minh rừng. Tây Ninh tiếp ứng biên thành? Giặc tan trên đất Hạ Lào? Trại Hoàng Hoa tung gió cánh hoa dù?” Nhớ với tâm trạng hồi hộp về người lính chiến đang đùa giỡn với tử thần trong lửa đạn mịt mù.      (Khánh Băng “Giờ Này Anh Ở Đâu?”) 

            Trầm lắng se thắt con tim nghĩ đến những người chiến sĩ thầm lặng chiến đấu cho lý tưởng tự do, lòng dũng cảm hy sinh bỏ lại thân xác trên đồi núi rừng sâu âm u. Bao nhiêu anh linh, hồn thiêng sông núi hoà trong tiếng gió hú nghẹn ngào (Phạm Duy “Chiến Sĩ Vô Danh”)  

            Say sưa theo lời ca tiếng nhạc, trong khi chiều dần buông ánh nắng bên ngoài , ánh nắng nhạt nhoà như phủ màu sương khói xa xăm chập chờn trong trí nhớ không những về Đại uý Nguyễn Văn Đương, vẫn còn những anh hùng như trung tá Nguyễn đình Bảo, Đại uý Trần Thế Vinh, Trung tá Phạm phú Quốc, Trung Tá Ngụy Văn Thà ..v..v…hay những chiến sĩ vô danh đã nằm xuống, nhưng họ vẫn sống mãi trong lòng người dân niềm kính ngưỡng. (Trần Thiện Thanh “Anh Không Chết Đâu Anh”) 

            Một buổi thưởng thức, thả hồn theo lyric của những nhạc sĩ tài danh, được ca sĩ diễn tả đặt hết tâm hồn vào lời ca tiếng nhạc thật hay, khiến người nghe thấm niềm rung động. Còn nhiều bản nhạc hay nữa đã đề cao tinh thần chiến đấu của người lính khiến tôi miên man sống lại hình ảnh trong ký ức rõ ràng. Cám ơn những nhạc sĩ đã sáng tác tự do, sáng tác theo cảm xúc chứ không như những bản nhạc miền Bắc bị gò bó. Cám ơn cô Đồng Thảo đã tổ chức chiều nhạc về lính đầy ý nghĩa, cám ơn các ca sĩ, MC Hoàng Tuấn cùng tất cả khán giả đã cùng sống lại ký ức đẹp với sự biết ơn sâu dày về người lính VNCH.

            Tôi quý mến và suy nghĩ về người lính VNCH rất đáng thương. Dẫu Nam Bắc đã thỏa hiệp ký kết chia đôi hai miền, người dân miền Nam chỉ muốn sống trong yên lành tự do, nhưng miền Bắc đầy tham vọng cứ xâm lấn. Dù ngày ấy tuổi mới lớn nhưng tôi đã chứng kiến cảnh họ hung hiểm tàn bạo pháo kích vào nhà dân khắp nơi, thảm trạng chôn sống Tết Mậu Thân ở Huế còn dấu tích. Trong khi anh lính miền Nam chỉ chiến đấu phòng thủ, chỉ muốn bảo vệ người dân sống an bình. 

            Còn nỗi buồn gì hơn khi các thanh niên, sinh viên, thầy giáo phải rời ghế nhà trường lên đường tòng quân nhập ngũ. Súng đạn ngoài chiến trường nào biết tránh ai, nhưng tinh thần họ sẵn sàng chiến đấu vì chính nghĩa. Các anh đánh đổi cuộc sống chăn êm nệm ấm bằng những đêm lội suối băng rừng, những buổi nằm gai nếm mật, sự chết trong từng gang tấc như đang đem sinh mạng đùa giỡn với tử thần. Có người vùi thây trong cát bụi biển lửa. Có người thương phế mất đôi chân, mất cánh tay. Có người bình an trở về. Chiến tranh! nhắc đến hai từ này mà hãi hùng khiếp sợ. Những mối tình, những người thiếu phụ trong thời chiến phải chịu cảnh ly tan goá bụa. Hình ảnh chưa thể xoá mờ trong ký ức của tôi khi trên đường phố rất nhiều vành khăn tang quấn trên đầu những khuôn mặt còn rất trẻ vào tuổi thanh xuân.

            Nghĩ đến cuộc chiến đấu bằng tham vọng, không có chính nghĩa là tôi cằm ghét thù hận như quân Nga muốn chiếm Ukraine hiện nay, nó khiến tôi liên tưởng vết đau miền Nam ngày trước. Vận nước nổi trôi ai ngờ được, khi tinh thần chiến đấu các anh còn hăng say đầy nhiệt huyết thì ván bài đen trắng lật ngửa, những con mắt miền Nam đều ngơ ngác nghẹn ngào. Phải chi họ đưa được nước VN tự do no ấm thì chẳng nói, đọc tin tức khắp nơi thấy tệ trạng nhiều mặt, dân còn đói khổ lầm than. Hình ảnh các em lội nước qua sông đến trường học, trong khi người giàu quá cỡ. Chống Mỹ chê Mỹ nhưng rồi kẻ có tiền đều tìm cách cho con du học xưa này, con tìm người yêu kết hôn ở lại. Có số còn tính toán kiểu du lịch mang bầu và sinh con tại Mỹ rồi mới về lại VN. Nếu không có tôi chu cấp thì anh chị tôi cũng không biết lấy gì sinh sống, cháu tốt nghiệp đại học, đi làm nhiều nơi chỉ thời gian sau là công ty mắc nợ tiền lương vì không có trả. Càng nghĩ thì càng buồn thôi ….

            Mỗi lần dự lễ, trước bàn thờ các vị tướng tá đã tuẫn tiết trong ngày 30 tháng 4, lòng dân không khỏi bùi ngùi đau xót, đồng thời cũng đầy sự hãnh diện về tinh thần bất khuất của những vị anh hùng đã vị quốc vong thân. 

            Sau 75 bao nhiêu cảnh tang thương, sĩ quan đi tù tội rừng sâu, lớp bệnh hoạn chết trong tù, lớp trở về thân tàn ma dại. Có những anh vẻ mặt đau khổ than vãn với gia đình “nhục quá chẳng muốn sống nữa”. Có số tìm đường bộ hay đường biển liều thân trốn thoát. Rồi số phận các anh được đền bù qua Mỹ theo diện HO, họ đem theo hoài bão tốt đẹp cho tương lai đất nước, nặng lòng về quê hương yêu dấu.

            Trên xứ người, các anh luôn tranh đấu, vận động để những lá cờ vàng được tung bay trên thế giới, lá cờ mang ý nghĩa của tự do dân chủ. Sống lưu vong tỵ nạn với niềm hy vọng về tương lai, giữ gìn lá cờ vàng thân yêu. Hàng năm vào tháng tư đen tổ chức ngày Quốc Hận, tháng sáu ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

            Ngày tháng đi qua trên nỗi buồn của kẻ mất nước sống đời lưu vong, chiếc bóng thời gian không ngừng nghỉ hằn lên mái tóc họ bạc trắng, thể chất bị lão hoá và tinh thần cũng mòn mỏi. Họ yêu bộ quân phục của lính, họ có quá nhiều ký ức vui buồn đời lính, ký ức trong trại tù. Họ tổ chức họp mặt bạn bè, đồng môn để có cơ hội tâm sự, ôn lại quá khứ.

            Vì lòng kính mến và thương cảm đời lính, tôi thường đi dự các buổi tiệc. Có nhiều hôm đến sớm, tôi chứng kiến cảnh người già chung nhau khiêng chiếc thang dựng lên, trèo cao treo banner và trang trí vài nơi. Nhìn vóc dáng gầy gò của tuổi lão gắng sức, lòng tôi đầy ngậm ngùi suy nghĩ: tuổi trẻ bây giờ quá bận rộn công việc không thể tham gia phụ giúp?  hay là không thèm chơi với tầng lớp già, như các chị thường nói mỗi lúc đến đâu “tụi nhỏ bây giờ đâu thèm chơi với mình nữa, chỉ già chơi với nhau thôi” khi bạn bè hỏi “tụi nhỏ đâu không đi chung tới”.

            Tiệc nào cũng thấy đa số mặc quân phục. Tuy cũng có các anh quan niệm khác nhau

            – Mất nước rồi mặc lại thêm buồn tủi

            – Một thời không quên, mặc để ôn lại kỷ niệm

            – Bộ quân phục là hơi thở, là sự sống, là niềm yêu thương hãnh diện thời trai trẻ. Có cơ hội thì mình cứ mặc dẫu trong hoàn cảnh nào.

            Tôi thích được nhìn lại bộ quân phục của lính, để sống lại thời chinh chiến điêu linh mà họ đã phải hy sinh chiến đấu. Nhìn để tưởng niệm những người đã nằm xuống, những người đã hy sinh một phần thân thể máu xương, để nhắc nhở mình có trách nhiệm góp phần giúp đỡ dù nhỏ nhoi, cũng an ủi các anh Thương Phế Binh bên quê nhà phần nào. 

            Giờ đây tuổi các anh đã bước qua giai đoạn lão và chết dần dần. Thời gian còn quá ngắn, họ họp mặt để an ủi, mừng rỡ, ôn lại kỷ niệm năm xưa, mặc bộ quân phục ngày nào trong sự ấp ủ yêu thương, đó là hạnh phúc của người lính đang lưu lạc trên xứ người. 

                                                             ***

            Hôm nay Chủ Nhật là Lễ Cha (16/6) và cũng là ngày Lễ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (19/6) được tổ chức nơi tiền đình quận hạt Santa Clara, địa điểm 70 W- Hedding ST- San Jose CA 95110. Đây là nơi các hội đoàn thường tổ chức lễ chào cờ ngày Tết, 30 tháng 4, hay những buổi ca nhạc trình diễn trong hội trường mà hầu hết đều được các vị dân cử thành phố như nghị viên, giám sát viên quận hạt bảo trợ và đến tham dự.

            Sáng nắng rực tươi sáng, lái xe gần tới địa điểm đã thấy cờ vàng treo hàng dài trên đường, lòng bồi hồi xúc động cảm tưởng như quê hương VN được dựng lên trên xứ người. Đến nơi cả rừng người mặc bộ quân phục, tôi dấy lên niềm cảm xúc vô biên.

            Buổi diễn hành thật oai hùng và đẹp mắt theo từng binh chủng, tim tôi như nén thở mơ mơ màng màng nửa tỉnh nửa mê của ngày xưa và hôm nay. Nhưng rồi phút mặc niệm đánh thức đầu óc tôi tỉnh táo nghe lời đọc của người MC: Tưởng niệm các vị tướng đã vị quốc vong thân “Anh Hùng tử, Khí Hùng bất tử”. Tưởng niệm các anh linh đã hy sinh chiến đấu vì lý tưởng tự do của miền Nam.Tưởng niệm hơn 58 ngàn lính Mỹ đã chết trong trận chiến Việt Nam. Tưởng niệm đồng bào trốn thoát tìm đường vượt biên đã bỏ mình trên biển cả…Ôi tiếng đàn buồn réo rắc, nước mắt chực rơi, cúi mặt lắng nghe và chỉ biết nguyện cầu các vong linh được siêu thoát, sau đó đến thắp hương dâng lời kính cẩn qua màn khói, tinh thần cảm thấy ấm áp dễ chịu sau buổi dự lễ. 

            Chương trình tiếp theo ông Lê văn Hải (hội trưởng hội Văn Thơ Lạc Việt, Báo Chí và chủ nhiệm báo Thần Mõ) tổ chức ngày “Lễ Cha” và chương trình ca nhạc “Tình Cha, Tình Lính” do đoàn Du Ca Bắc Cali và các nghệ sĩ khác đảm trách. Tôi rất tiếc có hẹn bạn Việt Nam sang chơi, cùng về Sacramento thăm bà hiệu trưởng trường trung học năm xưa nên không tham dự được. Nhưng tôi không lạ gì với cách sống đầy tình nghĩa của người lính Không Quân Lê văn Hải. Ông luôn thực hiện những điều Chúa dạy như làm việc thiện, tổ chức những buổi phát lương thực cho Homeless nhiều lần trong năm, thân thiết tham dự tiệc của các đồng môn khác binh chủng, chung tay dựng đài thuyền nhân, xây tượng lính VNCH nơi vùng Bắc Cali. Ông sống trong tinh thần đoàn kết hài hòa, đó là điểm son nổi bật mà hầu như nơi miền Bắc Cali này ai ai cũng biết và mến mộ ông, đúng là “hữu xạ tự nhiên hương”. 

            Tuy nhiên tôi cũng có nhiều suy tư về những sự việc xảy ra bên này: Rằng một thời gian trước đây hộp thư tôi nhận rất nhiều bài viết chống nhau. Ban đầu tôi cũng tò mò đọc xem, nhưng càng lúc càng thấy những người lính chụp mũ lẫn nhau, ai cũng bị mang “nón cối Việt Cộng” làm tôi hoang mang chẳng biết hư thực ra sao. Sau thì tôi cảm thấy sợ hãi và xoá liền không dám đọc. Bạn bè cũng có tâm trạng như tôi trong trạng thái thất vọng chán nản. Nhóm “ếch ngồi đáy giếng” chúng tôi cũng bày tỏ chút bình loạn “Bên này nếu mất sự đoàn kết, nghi ngờ nhau thì chắc VC giờ này đang ngồi uống trà rung đùi thích thú, vì chiến dịch “đâm bì thóc, thọc bị gạo” của họ đã thành công.

            Mọi lần nhận thư mời từ các hội đoàn tổ chức nhiều nơi dự lễ “Tháng Tư Đen”. Tôi vẫn chọn nơi đường Hedding, vì ở đó có parking đậu xe rộng nhất, thoải mái địa điểm, phục vụ phương tiện vệ sinh đầy đủ. Tôi từng mơ ước những hội đoàn chung tay tổ chức một địa điểm, các dân cử hội đồng thành phố khỏi mất thì giờ tham dự nhiều nơi. Họ sẽ chứng kiến người VN tập trung một chốn thật đông đảo, trong tinh thần đoàn kết của người dân VN tỵ nạn Cộng Sản thật đẹp mắt. Mơ lắm thay…

            Ngồi nhìn ra khoảng sân sau, nắng chiều nhẹ nhàng hôn lên những khóm hoa là đà theo gió. Trước mặt tôi là hai tấm vé dự tiệc hội ngộ của binh chủng Không Quân ngày cuối tháng. Xem như những sinh hoạt tháng sáu trong cộng đồng VN tôi đã kể xong 

            Tháng sáu của người Cha đã qua đời, tưởng nhớ với nỗi buồn sâu lắng. Tháng sáu của những người lính Cộng Hoà được ưu ái tổ chức nhiều chương trình mang ý nghĩa kính mến và biết ơn.

                                                                                                 Minh Thúy Thành Nội 

                                                                                                 Tháng 6/2024

*** Trong bài viết xin mạn phép mượn những từ ngữ của bản nhạc




Lối Cũ Vẫn Trong Tim | Thơ Yên Sơn