Liên Đoàn Kiểm Báo KQ-VNCH

Trần Đình Giao 

Liên Đoàn Kiểm Báo.png

TỔNG QUÁT:

Là một trong 7 đơn vị Trung Ương KQ:
– Bộ Chỉ Huy Hành Quân KQ 
– Bộ Chỉ Huy Kỹ-Thuật & Tiếp Vận KQ 
– Trung Tâm Huấn-Luyện KQ 
– Liên-Đoàn Kiểm Báo 
– Trung Tâm Y Khoa KQ 
– Khu Tạo Tác Tân Sơn Nhất 
– Sở Hành Chánh Tài Chánh KQ), trực thuộc Bộ Tư Lệnh KQ,
Liên-đoàn Kiểm-Báo bao gồm hệ thống radar của KQ gồm có 2 Trung-Tâm và 3 Đài Kiểm Báo.

1. Sự Hình Thành và Phát Triển: 

Từ đầu thập niên 60, KQVN bắt đầu xúc tiến việc đào tạo các chuyên viên Hành-Quân và Kỹ-Thuật cần thiết qua các đợt huấn luyện liên tiếp tại các quân trường của KQ Hoa Kỳ. Mặt khác việc xây cất cơ sở và việc thành lập các đơn vị radar cũng lần lượt được thực hiện.
Hệ thống radar được hình thành và phát triển qua những giai đoạn chuyển tiếp sau:

A) Giai đoạn trắc nghiệm và huấn-luyện: 
Một số chuyên viên sau các khóa huấn luyện đầu tiên được bổ nhiệm ở Trung Đội Radar Tân Sơn Nhất, đơn vị radar đầu tiên do KQVN thành lập. Thiết bị điện tử của đơn vị kém hiện đại và cũ nên hoạt động của đơn vị phần lớn chỉ giới hạn trong việc trắc nghiệm và huấn luyện. Việc hỗ trợ không-hành (navigation aid) chỉ được thực hiện theo tình trạng khả dụng của phương tiện điện-tử hay khi cần thiết. Nhiệm vụ của đơn vị nầy chấm dứt sau một thời gian hoạt động ngắn.
B) Giai đoạn điều hành chuyển tiếp: 
Liên-Đoàn Truyền-Tin Điện-Tử được thành lập khoảng năm 1961 với trách nhiệm chỉ huy, điều hành các đơn vị radar đang lần lượt hình thành với số nhân viên được phối trí song song với các thành phần đối nhiệm (counterparts) của KQ Hoa-Kỳ tại cấp đơn vị ở Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Ban Mê Thuột, PleiKu, CầnThơ. Hoạt động của các đơn vị radar được cải tiến dần dần theo nhịp độ bổ sung quân số và công tác huấn luyện tại đơn vị. Nhiệm vụ của Liên-Đoàn Truyền-Tin Điện-Tử chấm dứt khoảng năm 1963.
C) Giai đoạn trực thuộc các Không-Đoàn và Căn cứ KQ (1963- 1965): 
Trong giai đoạn nầy, các đơn vị radar được sát nhập vào tổ chức của Bộ Chỉ Huy Không Chiến, rồi tới các Không-Đoàn và Căn-Cứ KQ. Danh hiệu và danh số đơn vị được chính thức qui định trong bảng cấp-số của Không Quân. Do đó, khoảng năm 1964 danh từ Kiểm Báo (KB) bắt đầu được xử dụng trên giấy tờ cũng như trên thực tế. Các đơn vị Kiểm Báo có danh số của các Không Đoàn và Căn Cứ KQ nơi các đơn vị ấy đồn trú hoặc ở gần nhất. 

Có 2 trung-Tâm và 3 Đài Kiểm Báo:
* Trung-Tâm KB 33 đồn trú trong Không-Đoàn 33 ở Tân Sơn Nhất.
*Trung-Tâm KB 41 ở bên ngoài Không-Đoàn 41 Đà Nẵng.
* Đài KB 741 đồn trú trong Không-Đoàn 74 ở Cần Thơ (con số sau cùng là mã số riêng của đơn vị)
* Đài KB 621 có Không-Đoàn gần nhất là KĐ 62 ở Nha trang.
* Đài KB 921 đồn trú trong Căn-Cứ KQ 92 ở PleiKu.
Trong giai đoạn 63- 65, việc chỉ huy và điều hành hệ thống kiểm báo khá phức tạp. Tùy theo vấn đề, việc theo dõi và kiểm soát điều hành được thực hiện bởi nhiều cấp bộ khác nhau: Bộ Tư-Lệnh KQ, Bộ Chỉ-Huy Không-Chiến, Không-Đoàn, Căn-Cứ.

Khoảng cuối năm 1964, hệ thống Kiểm Báo được chính thức xác nhận. Do Huấn-Thị của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, quy định tổ chức Điều-Kiểm Chiến-Thuật (Tactical Control System) gồm các phần hành thuộc Lục-Quân và Không Quân. Về phía KQ, hệ thống Kiểm Báo được tổ chức song hành với hệ thống Hành-Quân của KQ, bao gồm các Trung Tâm HQ Không trợ (ASOC=Air Support Operation Center, sau cải danh là DASC=Direct Air Support Center) đặt tại mỗi Quân-Đoàn và trực thuộc Bộ Chỉ-Huy Hành-Quân KQ (AOC=Air Operation Center, sau cải danh là TACC=Tactical Air Control Center). Hệ thống Kiểm Báo là phương tiện chủ yếu (tai mắt) trong công tác Điều-Kiểm Chiến-Thuật của Không Quân.
Để cải tiến việc thống nhất chỉ huy và điều hành hệ thống, LIÊN ĐOÀN KIỂM BÁO được thành lập đầu năm 1965, thời điểm mà hoạt động kiểm báo gia tăng đáng kể theo nỗ lực và nhu cầu hành quân của Không Quân Việt Nam.
Bộ Chỉ-Huy Liên-Đoàn Kiểm-Báo đồn trú trong Căn Cứ Tân Sơn Nhất cạnh Bộ Chỉ Huy của Liên-Đoàn Kiểm-Soát Chiến-Thuật 505 (505th Tactical Control Group) của Không Quân Hoa Kỳ (USAF)
Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Liên-Đoàn Kiểm-Báo là Trung Tá Hoàng-Ngọc-Bào, nguyên Chỉ Huy Trưởng Trung-Tâm KB 33 TSN, từ 1961.

2. Nhiệm Vụ:

Chỉ huy và điều hành hệ thống Kiểm Báo để hoàn thành các nhiệm vụ cơ bản của hệ thống về các mặt:

PHÒNG KHÔNG:

Kiểm soát toàn bộ không phận VNCH, chống lại mọi sự xâm nhập bất hợp pháp của các phi cơ lạ hay của địch.
Hướng dẫn phi cơ nghênh cản (Interceptors) lên ngăn chặn và áp dụng mọi biện pháp cần thiết theo tiêu-lệnh hay chỉ thị của tổ chức Phòng-Không Trung-Ương thông qua Trung-Tâm Phòng-không Vùng (1 đặt tại BCH/HQKQ ở TSN cho Vùng Nam và 1 ở Trung-Tâm KB ở Đà Nẵng cho Vùng Bắc).
Trong cuộc chiến ở VN, KQVN và KQHK đă phối hợp rất chặt chẽ trong nhiệm vụ phòng-không. KQHK dùng phi cơ F-102 và về sau thay thế bằng F-4E. KQVN xử dụng phi cơ F-5E, và tùy theo nhu cầu hay tình trạng báo động, các phi cơ nghênh cản này được đặt túc trực cho hai Vùng Phòng Không Nam và Bắc tại các phi trường Biên Hòa, Phan Rang và Đà Nẵng.

ĐIỀU KIỂM CHIẾN THUẬT:

Theo dõi tất cả các phi vụ Hành Quân Chiến-Thuật KQ bằng các đoản-lệnh (frag order) từ Bộ Chỉ Huy Hành-Quân KQ (TACC) và các Trung-Tâm HQ Không-Trợ (DASC) gửi đến bằng viễn-ấn (teletype).
Đầu thập niên 70, do nhu cầu chiến-thuật, KQVN được trang bị thêm phương tiện hướng dẫn oanh tạc ở cao độ (BOBS=Beacon Only Bombing System). Các đài Hướng-Dẫn được thành lập để hướng dẫn các phi vụ oanh tạc và thả dù chính xác vật liệu ở độ cao của KQ.

HUẤN LUYỆN:

Ngoài việc xúc tiến và kiểm soát điều hành các công tác huấn luyện thường xuyên để duy trì khả năng của đơn vị, Liên-Đoàn KB phối hợp với Liên-Đoàn 505 (USAF) thực thi và hoàn thành Kế-hoạch Tự-Lực (Self Sufficiency Plan) của hệ thống kiểm Báo của KQVN theo kế hoạch chung của KQ Việt-Mỹ.

TRÁCH NHIỆM ĐẶC BIỆT VỀ PHÒNG THỦ CỦA CÁC ĐƠN VỊ KIỂM BÁO ĐỒN TRÚ BIỆT LẬP.

Trách nhiệm này rất quan trọng đối với các đơn vị KB ở ngoài phạm vi hay ở xa nơi đồn trú các đơn vị lớn của KQ (Sư Đoàn, Căn Cứ KQ) như trường hợp TT2KB ở Đà Nẵng và Đ12KB ở Ban Mê Thuột. Các đơn vị KB này cùng với các đơn vị hay thành phần phòng thủ biệt phái, trên thực tế được tổ chức thành các Yếu-Khu trực thuộc các Tiểu Khu địa phương về mặt phòng thủ. Vì đơn vị KB là đơn vị lớn nhất trong Yếu-Khu, nên trách nhiệm chỉ huy phòng thủ yếu khu được giao cho Chỉ Huy Trưởng đơn vị KB kiêm nhiệm.

Có 2 yếu khu liên quan đến công tác phòng thủ cơ sở Kiểm Báo:

Yếu Khu “Sơn Chà” thuộc Tiểu Khu Tiên Sa (Hải Quân) ở Đà Nẵng, có phạm vi phòng thủ bao gồm TT2KB Đà Nẵng.
Yếu Khu 3 của Ban Mê Thuột thuộc Tiểu Khu Darlac, có phạm vi phòng thủ bao gồm Đ12KB ở Ban Mê Thuột và phi trường L-19 trong thành phố BMT.

3. Tổ Chức:

Từ năm 1965, KQVN phát triển mạnh mẽ với sự thành lập các Sư-Đoàn KQ, với tổ chức mới bao gồm thêm các Không-Đoàn, Phi-Đoàn, hoạt động của KQ gia tăng theo nhu cầu hành quân. Hệ thống Điều-Kiểm Chiến-Thuật đã đi vào lề lối hoạt động theo dự trù. Liên-Đoàn Kiểm-Báo sau khi thành lập, đã được tổ chức như sau:

– Bộ Chỉ-Huy Liên-Đoàn
– 2 Trung-Tâm Kiểm Báo: 
. TT1KB ở Tân Sơn Nhất (danh hiệu PARIS CONTROL). 
. TT2KB ở Đà Nẵng (danh hiệu PANAMA CONTROL)
– 3 Đài Kiểm Báo: 
. Đ11KB ở Bình Thủy, Cần Thơ (danh hiệu PADDY CONTROL),
. Đ12KB ở Ban Mê Thuột (danh hiệu PYRAMID CONTROL), và 
. Đ21KB ở PleiKu (danh hiệu PEACOCK CONTROL)
– 3 Đài Hướng Dẫn (BOBS) ở Biên Hòa, Đà Nẵng và PleiKu.

Quân số: 

Quân số cơ hữu Liên-Đoàn Kiểm-Báo gồm khoảng 1000 người (80% so với bảng cấp số) không kể các thành phần biệt phái theo nhu cầu phòng thủ và tổng vụ cho các đơn vị KB đồn trú ở ngoài hay ở xa các Căn Cứ, Sư Đoàn KQ.
– Quân số của Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn gồm 60 người.
– Quân số của Trung Tâm Kiểm Báo theo bảng cấp số gồm từ 250 đến 300 người.
– Quân số mỗi Đài Kiểm Báo từ 150 đến 250 người (chưa kể các thành phần phòng thủ hay tổng vụ biệt phái từ Sư-Đoàn KQ, hay Tiểu-Khu tăng cường cho các đơn vị KB ở xa hoặc ở ngoài phạm vi các Sư-Đoàn KQ gần nhất như trường hợp TT1KB ở Đà Nẵng và Đ12KB ở Ban Mê Thuột.
– Quân số các Đài Hướng Dẫn (BOBS) gồm 21 người mỗi đài.

BỘ CHỈ HUY LIÊN ĐOÀN KIỂM BÁO:

* Đồn trú ở Căn Cứ Tân Sơn Nhất trong lãnh thổ của Sư Đoàn 5 KQ. Ngoài ban Văn Thư Bộ Chỉ Huy, có 5 phòng:

PHÒNG HÀNH QUÂN: Có trách vụ tham mưu và theo dõi hàng ngày các hoạt động hành quân của các đơn vị Kiểm báo qua ban trực HQ bằng phương tiện liên lạc trực tiếp (hot line) với các đơn vị.

PHÒNG KỸ THUẬT: Trách vụ tương tự như Phòng HQ, nhưng về mặt kỹ thuật, qua Ban Kiểm Soát Bảo Trì và Tiếp Liệu, liên lạc trực tiếp với các đơn vị và với Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật Tiếp Vận KQ để theo rõi, kiểm soát điều hành các công tác bảo trì và tiếp liệu ở các đơn vị kiểm báo.

PHÒNG KẾ HOẠCH VÀ NHU CẦU: Theo rõi việc thực thi kế hoạch Tự Lực của LĐKB và các kế hoạch nội bộ của Liên Đoàn.

PHÒNG NHÂN HUẤN: (Personel&Training) Khi thành lập Liên Đoàn có hai phòng Nhân Viên và Huấn Luyện riêng biệt, nhưng sau tổ chức thay đổi, hai phòng được sát nhập làm một và trở thành phòng Nhân Huấn. Phòng NH có trách nhiệm quản trị nhân viên, đảm bảo việc phối trí chuyên viên nhanh chóng tới các đơn vị theo dự trù hay nhu cầu. Theo dõi việc huấn luyện chuyên viên hành quân và kỹ thuật ở cấp đơn vị theo đúng tiêu chuẩn và kế hoạch huấn luyện của Liên Đoàn.

PHÒNG CHIẾN TRANH CHÍNH TRỊ: Theo dõi việc thực thi công tác CTCT tại các đơn vị theo đúng chỉ thị hay tiêu chuẩn của Bộ Tư Lệnh KQ, qua các toán CTCT hướng dẫn học tập, công tác Tâm Lý Chiến và Xã Hội ở cấp đơn vị.
* Công việc của các phòng đều được thuyết trình cho Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn vào mỗi buổi sáng với sự tham dự của các Trưởng phòng.

CÁC ĐƠN VỊ TRƯỞNG TRONG HỆ THỐNG KIỂM BÁO:

Các cấp chỉ huy của Hệ-thống kiểm-báo có nhiệm kỳ tới khi cuộc chiến chấm dứt:
– Chỉ Huy Trưởng LĐKB : Đại Tá Phạm-Duy-Thân 
– TT1KB /Tân Sơn Nhất : Trung Tá Cung-Đinh-Mộc
– TT2KB /Đà Nẵng : Trung Tá Nguyễn-Cầu
– Đ11KB /Cần Thơ : Thiếu Tá Nguyễn-Bửu-Lộc
– Đ12KB /Ban Mê Thuột : Thiếu Tá Hoàng-Bá-Mỹ
– Đ21KB /PleiKu : Thiếu Tá Trần-Quốc-Ban
– Đài Hướng dẫn (BOBS) Biên Hòa : Đại Úy Võ-Văn-Thông
– Đài Hướng dẫn (BOBS) Đ� Nẵng : Đại Úy Trần-Văn-Han
– Đài Hướng dẫn (BOBS) PleiKu : Đại Úy Đào-Đức-Vinh

CÁC ĐƠN VỊ KIỂM BÁO:

Hệ thống kiểm báo bao gồm 2 Trung-Tâm Kiểm-báo, 3 Đài Kiểm-báo và 3 Đài Hướng Dẫn (Bobs).

Trung Tâm và Đài Kiểm báo: Nhiệm vụ chung của các Trung Tâm và Đài Kiểm báo là kiểm soát không phận (Air Surveillance) và vùng phòng không xác đoán được giao phó (ADIZ=Air Defence Identification Zone), yểm trợ, hướng dẫn những phi vụ chiến thuật, (Tactical Air Control) liên lạc chặt chẽ với các Trung Tâm HQ không Trợ (Quân Đoàn), kiểm soát và yểm trợ không hành (Air Radar Control) cho các phi cơ quân sự và dân sự bay trong vùng không phận trách nhiệm.
Tổ chức: các trung-Tâm và Đài Kiểm báo có tổ chức tương tự như nhau, chỉ khác biệt về quân số và máy móc trang bị. Mỗi Trung Tâm hay Đài Kiểm báo đều có :
– Bộ Chỉ Huy và Ban Văn-thư
– phòng hành quân gồm Tổ chức phòng tối (Dark Room) và Ban Huấn Luyện và Duy trì khả năng.
– phòng tối : gồm 3 toán hành quân A, B, C, mỗi toán hướng dẫn bởi một sĩ quan Chỉ Đạo Trưởng(cấp bậc Đại-Úy) và một sĩ quan Phụ tá kiêm sĩ quan Nghênh cản phòng không (Đại-Úy). Ba toán hành quân A, B, C, luân phiên làm việc 24/24 giờ trong phòng Tối. Mỗi toán HQ trong phòng Tối được phân chia theo các ban:

+ Ban Hoạt động và Xác đoán: (M&I=Movement & Identification) theo dõi các phiếu kiểm soát không-lưu (flight strip) của các phi cơ bay vào vùng cũng như bay ra khỏi vùng không phận trách nhiệm.
+ Ban không cảnh (Plotter& Scope reading) quan sát các dấu vết phi cơ trong vùng trên máy radar scope (UPA-35).
+ Ban không Kiểm (Tactical Air Control) xử dụng hệ thống và tuyến viễn liên trên tần số VHF và UHF để liên lạc, hướng dẫn những phi vụ yểm trợ chiến trường bằng máy Radar và giữ liên lạc chặt chẽ với Trung Tâm HQ không Trợ (DASC).
+ Ban Kiểm soát không Hành (Air Radar Control) theo dõi tất cả các phi cơ quân và dân sự bay trong vùng kiểm soát.
+ Ban phòng không Nghênh Cản có nhiệm vụ hướng dẫn phi cơ nghênh cản (F5E) cất cánh nhận dạng (ID) những phi cơ lạ (unknown tracks) và áp dụng mọi biện pháp cần thiết đối với những phi cơ lạ theo tiêu lệnh căn bản về phòng không và chỉ thị của Bộ Chỉ Huy phòng không qua trung gian các Trung Tâm phòng không vùng.
+ Ban Huấn Luyện và Duy Trì khả năng : Theo dõi khả năng chuyên môn của các chuyên viên trong mọi vị trí và trách vụ trong phòng Tối và huấn luyện các chuyên viên HQ và KT theo tiêu chuẩn và kế hoạch của LĐKB.

– phòng Kỹ Thuật gồm Ban Bảo trì Radar và Ban Tiếp Liệu.
Ban Bảo Trì Radar có nhiệm vụ bảo toàn hiệu năng tối đa của các máy điện tử như máy dò phương hướng (Direction finder), máy đo cao độ (Height Finder), các Radar scope và hệ thống truyền tin viễn liên VHF, UHF, Hot Line, Tacan, Beacon v.v…
Ban Tiếp Liệu phụ trách việc liên lạc với phòng Kỹ Thuật LĐKB và Bộ Chỉ Huy KTTV KQ xin bổ xung, dự trữ các bộ phận thay thế cho các máy radar điện tử. Ngoài ra còn một tiểu ban Tiếp liệu tổng quát liên lạc với các Căn cứ hay Sư Đoàn KQ để lo về quân trang, vũ khí, quân xa, xăng nhớt cho Trung Tâm hay Đài Kiểm báo.

ĐÀI HƯỚNG DẪN (BOBS)

các Đài Hướng Dẫn BOBS được thành lập từ đầu thập niên 70 do nhu cầu yểm trợ hành quân của KQ trong giai đoạn chót của cuộc chiến. Về tổ chức, các Đài nầy đều trực thuộc Trung-Tâm hay Đài KB liên hệ nhưng cò cơ sở điều hành riêng biệt. Có 3 Đài hướng dẫn:
– Đài Hướng dẫn Biên Hòa, đồn trú trong căn cứ của SĐ3KQ ở Biên Hòa, trực thuộc TT1KB Tân Sơn Nhất.
– Đài Hướng dẫn PleiKu ở ngoài căn cứ SĐ6KQ ở PleiKu, trực thuộc Đài21KB.
– Đài Hướng dẫn Đà Nẵng, ở kế cận và trực thuộc TT2KB trên đỉnh núi Sơn Chà Đà nẵng.

4. Hoạt Động hành quân và thành Tích công tác:

Là một đơn vị Yểm Trợ hành quân góp mặt khắp 4 vùng Chiến Thuật, Liên Đoàn Kiểm báo với các Trung Tâm và Đài Kiểm báo, đã làm tròn trách vụ được không quân giao phó : kiểm soát không phận 24/24, yểm trợ không hành 24/24 cho các phi cơ quân sự cũng như dân sự, ngoài ra còn phối hợp chặt chẽ với Bộ Chỉ Huy hành quân KQ và các Trung Tâm hành quân không Trợ, theo rõi, yểm trợ, hướng dẫn những phi vụ chiến thuật trên khắp các chiến trường trong nhiệm vụ bảo vệ Miền Nam Tự Do.
TrungTâm Kiểm báo 41 Đà nẵng năm 1965 dưới sự chỉ huy của Đại úy Đặng Văn Tiếp đã hướng dẫn những phi vụ Bắc phạt của không Lực Việt Nam mở đầu là phi vụ ngày 5 tháng 2- 1965 do Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ Tư Lệnh KQ hướng dẫn 8 phi tuần khu trục A1H oanh tạc Vĩnh Linh phía Bắc vỹ tuyến 17. Các mục tiêu địch bị tiêu hủy, tất cả phi cơ trở về căn cứ vô sự.
Trong phi vụ ngày 28- 2- 65, TTKB 41 đã hướng dẫn chiếc A1H do Trung Tá Dương Thiệu Hùng Tư Lệnh KĐ 41 lái bị trúng đạn phòng không của địch tại Đồng Hới bay về tới vịnh Đà Nẵng nhảy dù xuống biển an toàn và được trực thăng cứu cấp đưa về Tổng Y Viện Duy Tân.
Trong phi vụ ngày 19- 4- 65, hướng dẫn phi vụ oanh tạc căn cứ tiếp liệu của cộng sản Bắc Việt tại Hà Tĩnh do Trung Tá Tư Lệnh KĐ 23 CT Phạm Phú Quốc chỉ huy đã đạt được kết quả như dự trù nhưng phi cơ Tr/Tá Quốc lái bị trúng đạn phòng không của địch đã đâm xuống gần mục tiêu. TTKB 41 đã phối hợp chặt chẽ với TACC/North Sector của USAF, US Navy 7th Fleet, ASOC 1, hướng dẫn các phi cơ rescue cố cứu Tr/Tá Quốc nhưng vì thời tiết xấu (giông báo) nên phải bỏ cuộc. Trung Tá Phạm Phú Quốc được ghi nhận là mất tích.
Đài Hướng Dẫn (BOBS) Pleiku thuộc Đài Kiểm báo 921 trong chiến dịch Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, đã hướng dẫn nhiều phi tuần A37 thuộc Căn Cứ 60 CT Phù Cát (SĐ 6KQ) và Căn cứ 20 CT Phan Rang (SĐ 2KQ) đánh tập thể và chính xác vào vị trí của một trung Đoàn quân CSBV làm chúng thiệt hại nặng, la hoảng trên Đài phát thanh Hà Nội là Mỹ đã cho B52 oanh tạc trở lại. 
Đài BOBS Pleiku cũng hướng dẫn phi cơ A37 đánh sập cầu Duyên Bình trên Quốc lộ 14 ngăn chặn xe tăng T54 của CSBV từ Campuchia tiến sang uy hiếp quân Đoàn II, đã được Tư Lệnh vùng 2 CT (Tr/Tướng N.V. Toàn) tặng thưởng 200 ngàn đồng.
Trung Tâm Kiểm Báo 41 trong trận hải chiến ngoài quần đảo Hoàng Sa tháng 4 năm 1974 giữa Hải quân VNCH do Hải quân Đại Tá Hồ Văn Ngạc chỉ huy và Hải quân Trung Cộng, đã hướng dẫn phi cơ F5E của KQVN nghênh cản phi cơ MIG 21 của cộng sản Tầu định tấn công các chiến hạm của ta trên đường rút về Đà nẵng.
Đài BOBS Sơn Chà thuộc TTKB 41 đầu năm 1975 đã hướng dẫn 9 chiếc C130 của SĐ 5KQ đánh một trận hỏa công thật đẹp ở Thu Bồn, tiêu diệt một Trung Đoàn Việt Cộng đang âm mưu xâm nhập thị xã Đà nẵng.
Đài Kiểm báo 621 Ban Mê Thuột là đơn vị Kiểm báo đầu tiên được tuyên dương công trạng trước quân-Đoàn II. Trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 của Cộng sản Bắc Việt và mặt trận GPMN, Đài Kiểm báo 621 dưới sự chỉ huy của Đại úy Trần-Đình-Giao đã tử thủ chống trả mãnh liệt nhiều đợt tấn công của quân VC, bảo vệ được cơ sở không bị địch xâm chiếm. Đại úy Giao đã được Trung Tướng Tư Lệnh quân-Đoàn II (Tr/Tg Vĩnh Lộc) thăng cấp Thiếu Tá tại mặt trận và ân thưởng Anh Dũng Bội-Tinh với ngôi sao vàng.
Đài 12 Kiểm báo Ban Mê Thuột, một lần nữa đã chứng tỏ tinh thần chiến đấu anh dũng quyết Tâm bảo vệ cơ sở. ngày 10 tháng 3 năm 1975, dưới sự chỉ huy của Thiếu Tá Hoàng Bá Mỹ, 310 anh em SQ, HSQ, BS thuộc Đài 12 Kiểm báo cùng với thành phần phòng thủ biệt phái, đã chiến đấu chống trả mãnh liệt trước sức tấn công của Trung Đoàn 25 VC và Tiểu Đoàn Đặc công 401 với chiến xa T54 hỗ trợ, cho đến khi bắn hết viên đạn cuối công và bị quân địch tràn ngập. 

– CHT Đài là Thiếu Tá Hoàng-Bá-Mỹ bị thương và bị địch bắt.
– CHP Đài là Thiếu Tá Nguyễn-Văn-Phước cũng bị địch bắt.

các Anh hùng Kiểm báo đã anh dũng đền nợ nước trong trận nầy gồm:
– Đại úy Trần Văn Điệp, SQ Phụ tá phòng hành quân
– Thiếu úy Nguyễn Thế Minh, Trưởng ban Truyền Tin
– Thiếu úy Trần Hữu Thanh, SQ Chiến Tranh Chính Trị.

các Hạ sĩ quan: Thượng Sĩ Phạm Văn Hoa, Th/Sĩ Nguyễn Văn Phước, Th/Sĩ Nguyễn Văn Mẹo, Trung Sĩ I Hoàng Trung Chánh, Tr/Sĩ Nguyễn Văn Mẹo, Th/Sĩ Đào Huy Bích (HQ), Th/Sĩ Đỗ Dự, Th/Sĩ Hàn Bố Quang (TL), Th/Sĩ Trần Văn Khương (BT Radar), Th/Sĩ Trần Quang Tri (Ban VT), Th/Sĩ Y-Braham, Th/Sĩ Y-Wong (phòng vệ) và một số binh sĩ.
Tổ Quốc ghi ơn các anh !

Chú thích: 
Tài liệu nầy được soạn thảo và trình bày do sự đóng góp của cựu Đại Tá Phạm-Duy-Thân (CHT/LĐKB), cựu Trung Tá Nguyễn-Cầu (CHT/TT2KB Đà Nẵng) và cựu Trung Tá Trần-Đình-Giao (cựu CHT/ĐKB Ban Mê Thuột 1965- 1969)
Hoàn tất ngày 5- 5- 2003

HQPD chân thành cám ơn quý Niên Trưởng và xin mạn phép đăng lại bài viết nầy từ http://khongquan-ucchau.cjb.net/, cũng xin gởi đến CB Sĩ Quan Kiểm Báo thuộc khóa 72E đã may mắn thóat chết trong trận đánh Ban Mê Thuộc 1975 nầy với tất cả sự ngưỡng mộ.

Nguyễn-Anh




THƠ THIỀN XƯỚNG HỌA – Lê Tuấn & Phương Hoa

THIỀN LÀ GÌ?

Thiền là vầng trăng sáng

Đưa người đến tình thương

Khi tâm đang nhiễu loạn

Thiền chỉ lối đưa đường

*

Nếu thiền gặp ma cảnh

Tâm sẽ phản bội người

Đem ta vào tà mị

Lạc mất hướng vào đời.

*

Thiền ở trong thánh địa

Nằm tận đáy tâm hồn

Chỉ khi tâm gạn đục

Sẽ nhận được nguồn ơn.

*

Thiền như người chiến sĩ

Xông pha giữa chiến trường

Phá tan cơn mộng dữ

Đem người đến tình thương.

*

Thiền là dòng sông chảy

Vào tận đáy cội nguồn

Thiền là hoa sen nở

Rực rỡ trong tâm hồn.

Lê Tuấn

Một cảm nghĩ buổi sáng uống trà

Đi vào giấc thiền quán chiếu,

Để trả lời câu hỏi Thiền là gì?

***

TÂM THIỀN

(Kính họa bài Thiền Là Gì của thầy Lê Tuấn)

Tâm Thiền luôn tỏa sáng

Nở rạng hoa yêu thương

Xả buông lòng thanh thản

Ý thiện bước ngay đường

*

Tâm Thiền tâm không cảnh

Bác ái trải cho người

Ngoài mưa trong vẫn tạnh

Sân hận chẳng xâm đời

*

Tâm Thiền nơi cấm địa

Tạp niệm khó len hồn

Sống một đời nhân nghĩa

Rồi nhận được Thánh ơn

*

Tâm Thiền thôi mộng mị

Đoạn bỏ việc đời thường

Định thần trong hoan hỉ

Sân hận chuyển yêu thương

*

Tâm Thiền như dòng chảy

Đưa linh tánh về nguồn

Giúp sống đời tự tại

An lạc giữa càn khôn

Phương Hoa – July 1st 2021

Phương Hoa – July 1st 2021




VTLV GIỚI THIỆU RA MẮT SÁCH- Tâm Hồn Cao Thượng của cố Dịch Giả HÀ MAI ANH – Lê Văn Hải

Sau cơn đại dịch! “Cho xin sống lại!”

Văn Thơ Lạc Việt Hân Hạnh Giới Thiệu Và Bảo Trợ Một Sinh Hoạt Văn Học Nghệ Thuật Của Mùa Hè 2021:

Buổi RMS “Tâm Hồn Cao Thượng” của Cố Dịch giả, Giáo sư Hà Mai Anh.

Từ 11 giờ trưa tới 2 giờ chiều, ngày Thứ Bảy, 3 tháng 7 năm 2021, tại Viet Museum.tam hon cao thuong final.jpg((Nhãn trên chai rượu kỷ niệm)

(Sau đây là Lời mời của Cố vấn VTLV, Nhà văn Giao Chỉ)

Đất nước hồi sinh. San Jose lại ra mắt sách!

Ngày của cha, đại tá thiết giáp Hà Mai Việt giới thiệu tác phẩm Tâm Hồn Cao Thượng của thân phụ Hà Mai Anh.

Viet Museum xin hân hạnh kính mời toàn thể quý vị đến tham dự buổi RMS đầu tiên năm 2021 tại San Jose từ 11 giờ trưa cho đến 2 giờ chiều ngày thứ bẩy 3 tháng 7 năm 2021 tại Việt Museum. Xin đi lối Phelan góc đường Senter. Đậu xe phía trước và đi bộ vào Việt Museum. Đây là buổi ra mắt sách hết sức đặc biệt. Không có văn nghệ giúp vui, không có diễn văn khai mạc. Không có diễn giả nói riêng về tác giả. Không có diễn giả nói chuyện về tác phẩm. Cuốn sách danh tiếng nhất về giáo dục từ nước Ý, qua nước Pháp sang nước Việt. Bản Việt văn giờ đây biếu không cho các thầy cô giáo và những người Việt yêu thương tiếng Việt. Tâm Hồn Cao Thượng là tác phẩm về giáo dục ra đời 100 năm trước vang danh Âu Châu giữa đệ nhị thế chiến. Cụ Hà Mai Anh nhà giáo nổi danh là dịch giả đã nhận huân chương Giáo Dục Bội Tinh và giải nhất dịch thuật từ hơn 80 năm qua. Cả một thế hệ người Việt trưởng thành trong chiến tranh Việt nam đều đã từng là độc giả của cuốn sách viết về những trái tim vĩ đại. 

Trân trọng kính mời các đồng hương Quảng Trị đến nhận sách tự tay vị tỉnh trưởng của một thời binh lửa mùa hè 1972. Xin mời các chiến hữu thiết giáp đến bắt tay đại tá mũ đen trải qua 20 năm trong binh chủng kỵ binh. Xin mời tất cả quý vị đồng hương cùng đến nhận sách và gặp con trai của tác giả Hà Mai Anh, chắc chắn là lần cuối. Ông Hà Mai Việt 88 tuổi từ TX bay qua, muốn đi 1 vòng cuối gặp anh chị em với tấm thịnh tình của tâm hồn cao thượng trong tay.

Sách chỉ biếu và sách không bán. Chúng tôi sẽ phát hành và phổ biến những tác phẩm không bán.

Trân trọng kính mời.

Viet Museum.

*Văn Thơ Lạc Việt hân hạnh cung cấp nước uống và thực phẩm nhẹ, chưa kể mỗi Quý khách tham dự, sẽ được tặng một chai rượu vang, mang tên Tác phẩm và Tác giả, do VTLV thực hiện bảo trợ.

tac pham.jpg

Đôi Nét Về “Tâm Hồn Cao Thượng”

Tác phẩm rất nổi tiếng thế giới. Là một loại sách “giáo dục bằng tình cảm” có sức cảm hoá, hấp dẫn lạ thường, nên đã được dịch ra bằng 14 ngôn ngữ và được giới thiệu đến những thanh niên học sinh muốn theo lý tưởng, trau luyện tâm hồn vươn cao và ham học hỏi.

Đây là một thiên ký sự, mô tả đời sống học sinh 11 tuổi, ở trong gia đình, trong học đường và ngoài xã hội. Qua những trang ký sự này, người ta nhận thấy nào tình yêu chan chứa, hy sinh không bờ bến của cha mẹ, lòng hiếu thảo của con cái, nào sự tận tụy kiên trì của người thầy, người cô, tình thân ái của bạn bè, rất thành thực và bao la.  Ngoài ra, nhiều tiểu truyện, lại còn gợi lòng ái quốc một cách thiết tha và nêu những gương hy sinh rất cao cả về tình nhân loại.

Truyện không cầu kỳ mà rất thực tế trong đời sống, tình tuy chất phác, đơn sơ, nhưng rất chân thành. Lời lẽ cảm xúc rung động đến tận đáy tim, cử chỉ đầy tình nhân ái, bao la, hào hiệp. Nên ảnh hưởng lớn, đến những tuổi thơ. Dễ khiến cho những bạn đọc qua sách này, có cuộc sống thêm cao quý và tâm hồn thêm cao thượng hơn.

Một trong những quyển sách được chấm hạng nhất về giáo dục.

(VTLV tóm ý của Dịch giả Giáo sư Hà Mai Anh)buoi ra mat.jpg




MẮT LỆ CHO NGƯỜI – Bích Huyền

MẮT LỆ CHO NGƯỜI

Bích Huyền biên soạn và thực hiện trong Chương trình Thơ Nhạc VOA thập niên 1990′

***

Khoảng từ vài năm đầu thập niên 1980, đời sống dân chúng Sàigòn còn vô cùng thiếu thốn, đói khổ. Có nhiều đợt tù nhân chính trị được thả về. Họ là những người sĩ quan trẻ nhưng bị bệnh tật vì thiếu thuốc men hay vì “lý lịch khá trong sáng ”, không có “nhiều nợ máu với nhân dân”. Những người tù binh trở về ấy đã được dân Sàigon rỉ tai loan tin nhau, ra bến xe, ra ga đón tiếp một cách âm thầm (như mang quà bánh, nước ngọt, trái cây, quần áo và tiền để tặng, những người phu xe xích lô chở về nhà không lấy tiền …v v…).

Năm 1990, tôi được sang định cư tại Mỹ, theo chương trình HO 1. một trong những tình cảm đẹp trong hành trang tôi mang theo là tình thương yêu ấy của đồng bào hai miền Nam Bắc dành cho những người trẻ tuổi anh hùng thất thế ấy- mà nhà cầm quyền CS gọi là “ngụy quân ngụy quyền”.

Năm 1992, tôi được cộng tác với đài VOA, tiếng nói chính thức của chính phủ Hoa Kỳ phát thanh về Việt Nam. Tôi không bao giờ quên những người ở lại, khi đó vẫn còn đang trầm luân đói rách. Thế cho nên, trong những bài tường thuật gửi qua làn sóng VOA, những sinh hoạt Cộng đồng người Việt, những tấm lòng nhân ái tại nơi xứ người hướng về người ở lại. Những bản tin như thế, mang niềm hy vọng cho người miền Nam, nhất là những người tù, người vợ, người mẹ, người con Tù nhân Chính trị.

Ngay cả đến chương trình Câu ChuyệnThơ Nhạc mỗi tốithứ sáu của đài VOA, tôi cũng vẫn có những bài dành cho những người bất hạnh nhất trong một đất nước đã hết chiến tranh. Vâng, cho dù chiến tranh đã tàn nhưng khói của nó vẫn làm cho ta cay mắt.

Tôi nhớ có một chương trình nói về một câu chuyện bắt nguồn từ một cảm xúc về bài thơ mà tôi đã giới thiệu trên đài. Bài thơ ấy như sau:

Một chiều qua bến đò ngang

tình cờ nghe bài hát cũ

người hành khất mù và cô gái nhỏ

cây guitar lạc phím tự bao giờ

Cô gái hát

nỗi đau mênh mông của người tình phụ

chiều bay mưa hiu hắt dòng sông

khách qua đò cuối năm lưa thưa

có người dừng lại

xót xa trong lòng nhưng túi rỗng không

Mấy mươi năm rồi người con gái qua sông

tôi viết lời ca sao buồn quá vậy?

những câu hát cho lòng tôi thuở ấy

ai biết bây giờ

người hành khất hát để ăn xin…

Yêu bài thơ ấy của Đynh Trầm Ca, tôi đã biên soạn một ch/trình Thơ Nhạc “Nhớ người thương binh” và sau bài thơ là ca khúc Mắt Lệ Cho Người của Từ Công Phụng.

Thời gian sau đó, tôi nhận được một lá thư thính giả từ trong nước. (khi đó chưa có email nên phong thư giấy rất thô sơ, vàng úa vì loại giấy dùng rồi phải nấu lại vài ba lần, tem thư cước phí rất đắt do nhiều người chung góp).

Trong thư kể rằng, cũng từ cảm xúc của bài thơ ấy, những người tù xưa đã kể lại một câu chuyện tình ly biệt.

“Có hai người bạn ở trong tù, rất thân nhau. Họ là hai người bạn thời trung học. Lớn lên mỗi người một nơi, cho tới ngày gặp lại nhau thì buồn thay, lại ở trong một trại tù của người Cộng sản.

Sau năm năm trong nhà tù, họ lại chia tay nhau. Một người được thả về mang theo chiếc vòng của người bạn còn ở lại, nhờ trao đến tay một người con gái ở quê nhà. Chiếc vòng đeo tay làm bằng vỏ đạn có khắc bông hoa điên điển. Nhưng tiếc thay, khi tìm được đến nơi thì người con gái ấy đã không còn ở địa chỉ đó nữa…” Phần cuối câu chuyện không có kết thúc, cho nên nó đã để lại cho người đọc một niềm ray rứt thương cảm khôn nguôi.

Nhưng sau đó tôi lại nhận được thư vị thính giả khác. Ông cho biết về một người bạn cùng ở một tiểu bang, người đã nhận mang chiếc vòng của người bạn đồng tù. Người ấy có về lại tìm người bạn xưa. Còn nỗi đau nào bằng khi gặp lại người bạn học thân thiết thời thanh bình cũ, giờ đây trong một hoàn cảnh rất bất ngờ, đầy thương tâm. Người bạn xưa ấy sau khi ra tù bị mù đôi mắt, đang là một hành khất hát rong trên một bến đò… Hai người bạn cũ gặp lại nhau trong một buổi chiều cuối năm trời mưa bay rất nhẹ. Khung cảnh buồn hiu hắt cả lòng…

Được nghe kể rằng người yêu xưa có tìm gặp nhưng người hành khất đã chối từ: “Tôi không phải là người cô muốn tìm lại, chắc người giống người mà thôi”. Khi người đàn bà ấy buồn bã qua cầu, văng vẳng từ phía sau tiếng ghi ta và tiếng hát như đuổi theo…

“Mưa theo dấu chân em qua cầu

Theo những cánh rong trôi trên niềm đau

Đời em đã khép đi vội vàng

Tình ta cũng lấp lối thiên đàng

Như cánh chim khuất ngàn

Còn mong còn ngóng chi ngày yêu dấu

Mưa… soi dấu chân em qua cầu

Theo những cánh rong trôi trên niềm đau

Thời nào yêu hết trái tim buồn

Lời nào yêu hết trái tim buồn

Xin giữ trong mắt lệ

Nhòa theo từng gót chân người trông vời

Mưa âm thầm buổi chiều thổn thức,

Sẽ nhạt nhòa từ ngàn năm nữa như em khóc hồn nhiên

Nỗi muộn phiền ngày tàn hơi thở

Em thấy không cõi đời vô vọng…

Xin em hãy cho tôi tạ tình,

Khi em đã đi qua quãng đời tôi

Dù một khoảnh khắc sớm phai tàn,

Và lệ em rớt trên môi nhạt

Đôi mắt em rất buồn,

Đôi chúng ta rất buồn,

Vàng câu tình cũ

Xin gửi cho đời…

Trong đời sống, chia ly là chuyện bình thường. Nhưng có lẽ không có cuộc chia ly nào mà không có nhiều nước mắt đớn đau kể từ năm 1975. Bao nhiêu gia đình tan nát. Hai vợ chồng đôi ngả chia xa, hai người yêu nhau muôn đời cách biệt. Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng dù thời gian có xóa nhoà đi tất cả, dù không gian có cách xa, họ vẫn mãi nhớ nhau. Rồi có một phút giây nào đó gặp lại, họ nói với nhau lời tạ từ, nghẹn ngào trong hạnh phúc đắng cay, nhạt nhòa mắt lệ…

Tháng 6/2012

Bích Huyền




Vài Cảm Nghĩ Khi Đọc “Tuyển Tập KIỀU MỸ DUYÊN – HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG” – Phương Hoa

Thú thực, khi anh Chinh Nguyên Chủ Tịch Văn Thơ Lạc Việt, ngỏ ý nhờ Ban Biên Tập & In Ấn Văn Thơ Lạc Việt mà tôi cũng là một thành viên, giúp layout tuyển tập cho nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên, tôi chỉ chăm chú làm việc theo những gì mà trưởng Ban Biên Tập & In Ấn Văn Thơ Lạc Việt Thái Phạm dặn tôi làm, theo cái kiểu “sai đâu đánh đó” vì tôi quá bận nên không chú ý nhiều đến nội dung những bài viết trong bản thảo. 

          Ban đầu, chị Kiều Mỹ Duyênchỉ gửi cho chúng tôi đâu chừng mười mấy bài viết, cũ có, mới có. Tôi được phân công phần giàn trang, làm xong thì thấy tổng cộng chưa tới hai trăm trang. Ôi sướng thật, khỏe thật, vì sách mỏng nên hoàn thành quá nhanh. Tôi mừng thầm. Nhưng tôi đã lầm. Số bài đó chỉ mới là một phần trong số các bài viết của nữ ký giả chiến trường Kiều Mỹ Duyên. Tôi còn đang loay hoay thay tới đổi lui cách trình bày, chỉnh sửa hình ảnh, thì chị Kiều Mỹ Duyên liên tục gửi bài đến, hầu như mỗi tuần một bài, rồi đến vài ngày một bài, có ngày chị gửi đến những hai bài! Vì nhận quá nhiều bài, nhiều hình ảnh, đến nỗi tôi quáng cả mắt, ù cả tai, gần như là bị “tẩu hỏa nhập ma.” Tôi bèn cầu cứu trưởng ban Thái Phạm, nhờ giúp “take over” cái tuyển tập dày cộm nầy. Nhờ vậy tôi mới có thời gian đọc kỹ lại các bài viết của chị Kiều Mỹ Duyên.  Càng đọc, tôi càng khâm phục chị. Tôi thật sự ngã nón trước sức viết “như vũ bão” của vị nữ ký giả kỳ cựu này. Cho tới khi sang sinh sống ở Mỹ, chị vẫn còn giữ được cái phong độ viết mạnh mẽ như khi làm phóng viên chiến trường thời Việt Nam Cộng Hòa mà tôi đã từng đọc và biết về chị.

          Có thể nói tác giả Kiều Mỹ Duyên là một người rất giàu tình cảm, luôn quan tâm đến người khác. Tuy bận rộn, nhưng chị đã bỏ ra nhiều thì giờ quý báu để đọc hết ba tập truyện tôi mới xuất bản năm vừa rồi, và còn cho tôi những lời ủng hộ thật chân tình. Những lời khen của bậc đàn chị đã giúp tôi lên tinh thần và cố gắng tiếp tục viết. Cho nên, khi chị tỏ ý muốn tôi viết cảm nghĩ về “Tuyển Tập KIỀU MỸ DUYÊN – HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG,” dù biết mình chỉ là hàng hậu bối, tôi cũng phải mạo muội ghi vài hàng mộc mạc theo cái cảm xúc “nghĩ sao viết vậy” tự đáy lòng mình, chứ không hề dám nghĩ là điểm sách hay phê bình cho chị. Tôi đã đọc hết hơn bốn trăm năm chục trang sách, và trong tôi có rất nhiều cảm xúc về tuyển tập mà tôi muốn ghi lại nơi đây.

          Còn nhớ có lần chị Kiều Mỹ Duyên đã nói với tôi, “Chị là nhà báo nên viết khô khan lắm, không ướt át đâu em ơi!”  Khi ấy tôi cũng đã tin như vậy. Thường thì độc giả dễ bị hấp dẫn hơn đối với những sách truyện dưới dạng tiểu thuyết trữ tình… lâm ly bi đát, và nhiều người cho là những câu chuyện viết theo kiểu thông tin báo chí thì quá khô khan. Ngày trước khi còn đi học, cô bạn Mỹ ngồi cùng lớp sáng tác (Creative Writing) với tôi đã than là “quá chán” khi viết chuyện thật (non-fiction) vì cô không thể sáng tạo, thêm thắt cho hấp dẫn hơn được. Nhưng, như đại văn hào Ernest Hemingway từng có một câu nói nổi tiếng dành cho giới viết văn, là hãy “Viết những gì bạn biết” (Write What You Know) sẽ giúp bạn thành công. Và nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên đã làm được điều này. Tập sách của chị quá hấp dẫn, lôi cuốn, tất cả các bài viết đều là những câu chuyện thật chị biết, gặp, hay chứng kiến, được chị diễn tả rất sống động, mạch lạc, kèm theo nhiều hình ảnh thật và cảm động vô cùng.

          Nội dung Tuyển Tập HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG rất đa dạng, phong phú.  Ngoài việc những nhân vật có tiếng tăm viết giới thiệu tác giả Kiều Mỹ Duyên, như nhà văn Huy Phương, văn thi sĩ Chinh Nguyên, nhà báo Mặc Lâm, và nhà báo Nguyễn Lệ Uyên, tuyển tập thể hiện một sự bao gồm rộng lớn, sự quan tâm đối với xã hội về mọi mặt, mọi vấn đề, của đất nước Hoa Kỳ, và thế giới, những bài phỏng vấn nóng hôi hổi quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, từ quý Hòa Thượng, Thượng Tọa, đến quý Đức Cha, Đức Hồng Y, … và kể cả nhiều vị Tổng Thống, Mỹ, Nga, … cộng thêm nhiều bài viết chia sẻ, những băn khoăn, trăn trở, buồn đau, của tác giả mỗi chuyến đi làm từ thiện, hay khi nghe tin người quen, bạn bè xa lìa cõi thế.

          Tôi thật thích thú lẫn ngưỡng mộ, khi đọc những bài nữ ký giả viết tường thuật về các chuyến đi phỏng vấn những nhân vật quan trọng. Hãy nghe chị kể lại, “Nhờ làm nghề truyền thông mà tôi được nhiều cơ hội gặp mọi người, từ anh lính đến Đại Tướng, từ người dân đến Tổng Thống, từ một người giáo dân đến Đức Cha chủ tịch Hội Đồng giám mục Hoa Kỳ, Đức Cha chủ tịch Hội Đồng giám mục Việt Nam….Tôi phỏng vấn nhiều nhân vật quan trọng trên thế giới và tôi được cử làm phóng sự, thuyết trình, gồm có: Tổng Thống Gerald Rudolph Ford, bộ trưởng Elizabeth Dole, Tổng Thống Nga Mikhail Sergeyevich Gorbachev. Tổng Thống Nga nói sở dĩ nước Nga có tự do, nhờ ông và Tổng Thống George W. Bush làm việc ròng rã suốt 10 năm…” (TT KMD, tr.84-85)

          Tôi tâm đắc nhất là cái câu chị Kiều Mỹ Duyênhỏi tống thống Nga Gorbachev, và câu trả lời của ông, “- Thưa Tổng Thống, bao giờ Việt Nam có Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền thật sự?” Và “Tổng Thống Nga trả lời: – Bao giờ Trung Quốc có Tự Do thì Việt Nam có tự do.” (TT KMD, tr.87). Đúng là tổng thống Nga Gorbachev đã “đi guốc” trong bụng chính phủ Việt Nam hiện tại. Biết đến bao giờ đất nước mình mới “thoát Trung” được như người dân hằng mong ước đây?

          Tôi cũng thích những bài phỏng vấn của nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên; tôi cảm động khi đọc bài “Hội Nghị Copenhagen, Đan Mạch: Vì Nhân Quyền Việt Nam”; tôi xúc động khi đọc các bài tường thuật về những buổi đi làm từ thiện của tác giả, như, “Một Chuyến Đi Ngậm Ngùi”; và tôi rơi lệ vì những bài chị viết để tưởng niệm những người quá vãn có công lớn với cộng đồng, như  “Người Đã Đi Nhưng Người Vẫn Ở Bên Ta: Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn…”. Và còn nhiều, nhiều lắm, những bài viết xúc động khác.

          Vài bài viết ở cuối Tuyển Tập càng khiến cho người đọc cảm nhận được cái tâm lành, cái tư chất thiện lương của nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên. Trong “Hãy Cho Nhau Tiếng Cười,” tác giả đã trải lòng mình cùng với vạn vật, với nhân sinh. Kính mời quý vị hãy cùng tôi đọc một đoạn sau đây để hiểu được tâm tư vị tác giả đầy lòng nhân ái, “Hãy cho nhau nụ cười, cho nhau tiếng cười…. Yêu người, yêu đời qua tiếng cười. Hãy yêu thương, lòng rộng mở, tiếng cười của mình sẽ hồn nhiên hơn, giòn giã hơn. Tôi yêu tiếng cười của trẻ thơ khắp nơi, nhất là các em trong viện mồ côi. Hãy ôm chặt các em trong tay với trái tim nồng nàn, chúng ta sẽ tìm thấy tình người trong vòng tay ấm áp của mình. Hãy nắm chặt tay người già trong viện dưỡng lão, chúng ta sẽ cảm nhận được người cần người dù trong chốc lát…” (TT KMD, tr. 434)

          Và cái thông điệp tác giả Kiều Mỹ Duyên chuyển tải đến độc giả trong bài viết cuối cùng, “Lạc Quan, Yêu Người, Yêu Đời Mà Sống” đã khiến cho lòng tôi thật thanh thản, nhẹ nhàng sau khi đọc những câu chuyện về sự mất mát, sự ra đi của những người tác giả thân quen. “Sống lạc quan, đời sống sẽ đẹp hơn. Hãy yêu thương, yêu người, yêu đời, yêu thiên nhiên, yêu tiếng chim hót líu lo trong vườn buối sáng, yêu những cành đào, cành mai rung rinh trong gió thì lòng mình sẽ thanh thản hơn, nhẹ nhàng hơn. Đâu phải giàu có mới hạnh phúc.” (TT KMD, tr. 459)

          Tóm lại, “Tuyển Tập KIỀU MỸ DUYÊN – HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG” của nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên là một tác phẩm có thể gọi là “để đời” cho chính tác giả, và để “lưu cho hậu thế” đối với những thế hệ nối tiếp con cháu người Việt Nam chúng ta nơi hải ngoại. Không thể nào diễn tả hết ý nghĩa của tác phẩm độc đáo đầy giá trị này trong chỉ vài trang ngắn ngủi. Phải đọc hết, mới thấy hết, mới cảm hết.

          Xin kính trân trọng giới thiệu Tuyển Tập KIỀU MỸ DUYÊN đến với độc giả gần xa.

California, Tháng Tư, 2021

Phương Hoa




Văn: ĐẸP NHƯ SUỐI MƠ – Thơ Xướng Họa: XỎA TÓC GỌI THƠ – Cao Mỵ Nhân & Phương Hoa

ĐẸP NHƯ SUỐI MƠ

Có lẽ quý vị gốc Huế thuần thành chả bao giờ muốn rời cố đô đi mô hết. Bởi vì đất Thần Kinh có thung thổ đặc biệt, là đi xa hay ở gần, vẫn nhớ Huế mới lạ.

Như thế cũng có nghĩa là nếu đúng Huế chính tông, thì chẳng thể nào dứt bỏ một mảy may, một tích tắc chất Huế, nỗi Huế được.

Tôi hay kể chuyện Huế một cách …loanh quanh thôi. “Chớ răng tui có thể bước vô cái vòng Huế kiên cố, thâm cung đó được. Là ri, tui có sinh trưởng ở Huế mô, người ngoài đạo Huế mờ”.

Song tôi lại ở Huế tới mấy chục năm, quen thuộc cảnh vật, người ta, và những điều rị mọ suốt ngày, tôi cũng biến thành dân …lai Huế chút chút, chỉ dở một cái, là không bắt chước được giọng Huế.

Nên, cách nào tôi cũng là người xa lạ, có ưa thích Huế tới mấy, thiên hạ Huế cũng dửng dưng với tôi.

Nói thế chứ tôi “tiền hô hậu ủng” toàn bạn Huế đấy, quý vị khỏi cần thương hại tôi nha.

Trong khi tôi cứ mong nói được giọng Huế, thì bà mẹ chồng tôi lại nói toàn tiếng Bắc với tôi.

Có lẽ bà sợ tôi không hiểu bà nói chuyện gì, bà dùng ngôn ngữ bắc để khỏi phải nhắc lại việc bà vừa sai hay nhờ tôi làm, cho đúng và mau chóng.

Một hôm, mẹ chồng tôi dặn trước khi bà đi công việc gì đó, rằng tôi lấy gói bồ kết để trên nóc trạn, khui bếp tro ủ lửa suốt đêm ngày kia, thổi cho đỏ mấy miếng than, rồi nướng bồ kết.

Nướng bồ kết cháy vừa đủ thơm thôi, đập sơ cho rơi bụi than cháy ra. Xong bẻ những quả bồ kết đó vụn rồi bỏ chúng, những mảnh bồ kết mới nướng đó, vô một chậu nước lã, bưng chậu ra sân đang nắng phơi cho nóng lên, để gội đầu.

Tôi làm trong nháy mắt, là vì tôi đã thấy các bà, các cô thủa tôi còn bé, gội đầu bồ kết thế nào rồi.

Chậu nước bồ kết đó nóng vừa ấm tay, sủi bọt thơm dìu dịu, quý bà, quý cô muốn pha thêm nước nóng cũng được, rồi gội đầu bình thường, tóc chảy thật mướt xuống chậu hứng phía dưới, đẹp như …suối mơ.

Có khi khách gội còn vắt những nửa quả chanh bóp trên tóc, cho thơm thêm nữa.

…Mạ ơi, ông Chánh đòi hầu

    Mua chanh, bồ kết, gội đầu cho thơm…

             (ca dao )

Tôi không biết “ông Chánh” nào mà sướng thế chứ.

 Kêu người ta tới hầu chi chả biết. Và chắc ổng phải hào hoa, phong nhã lắm, mới được kẻ hầu ưng ý, đến nỗi phải mua chanh, bồ kết để gội đầu cho thiệt thơm tho, kẻo ông Chánh chê, mai mốt không chiếu cố nữa, thì lại tức.

Mấy lần nói chuyện xưa tích cũ, tôi định hỏi anh là thời anh ở Huế, anh có biết “ông Chánh” nớ không, thời đó thì anh còn nhỏ quá, mần răng biết được thế giới của ” ông Chánh ” trong ca dao Huế chớ.

Nhưng chưa hỏi, mình đã biết câu trả lời của anh rồi: “Thì tui là một… ông Chánh đây nì, hỏi chi xa rứa. Lâu ni, không thấy tui rất …ông Chánh, có điều ông chánh nì không cần đòi ai hầu, mà có người cứ tình nguyện tới đó tề”.

Ố ô, anh thì nguỵ rồi, rất tự tin, song tự trọng ghê hồn, lỡ ai vô phước nói hớ, hay tỏ vẻ không biết tới bản ngã đặc biệt của anh, là thôi, coi như đời sau cũng không gặp lại, chớ đừng nói kiếp ni nghe.

Hôm tê, mấy bà o ở Bên sông, phía Ngự Bình điện thoại viễn liên cho tôi, các o bảo: “Chớ răng mi, là tôi đó, chưa chịu về thăm tụi tau vậy ? Ít năm nữa cái lớp tau chết đi, không còn ai Huế thiệt nữa mô, không tin, mi về thử đi, toàn Huế…giả, ở mô chui ra lắm nợ…”

Tôi cũng đã nghe một phần như vậy lâu rồi.

Dẫu tôi không là con dân Huế, nhưng tôi cũng biết phân biệt Huế xưa đã dần dần đi khỏi thành phố cũ, nơi mà đàn bà con gái suốt ngày mượt áo dài, dù đi chân đất.

Mớ tóc thề thả ngang lưng dù gánh hàng quà rong trên đường mưa bụi bay.

Bỗng dưng tôi nhớ bài hát hồi mới có thành phần bên kia sông Bến Hải tràn vô, bài hát của một ” nữ cán bộ làm trưởng ban văn nghệ đài phát thanh thành Hồ ” bà ta viết nội dung là tất cả chỉ ở Huế, không nơi nào có được, đại khái thế.

Tới người cộng sản chủ trương san bằng giai cấp, mà cũng phải chào Huế mộng mơ, vẻ đẹp mà không đâu có được vậy.

Huế thật hay giả, vẫn hiển hiện sông Hương núi Ngự, có dập khuôn nhân dáng Huế, có tô vẽ dung nhan Huế, vẫn chỉ là Huế bên ngoài thôi.

Nói như anh nhận xét về thổ ngơi, thổ ngữ, thì giọng Huế rất khó đồng hoá, người giả bộ nói thế nào cũng lòi ra các lỗi vụng về, mà không phải họ không luyện kỹ hay tập chệu chạo dăm ba câu giả hò, giả hẹn cũng lộ liễu ngay.

Thế nhưng, có điều lạ là chính Huế, thì lại giả Hà Nội, Saigon in hệt.

Và để kết thúc bài này, tôi xin lỗi dẫn chứng chưa đúng, khiến anh sẽ cho điểm dưới trung bình, ấy là “ông Chảnh” chớ không phải ông chánh kiểu bắc kỳ quốc đâu.

Nói “ông chảnh” (dấu hỏi) phải hiểu chính là “ông chánh” (dấu sắc), ông chánh để ám chỉ những ngôi thứ nhất vừa thực tế, vừa mơ hồ.

Đồng thời ” ông chảnh “, cũng có nghĩa là ông ” chảnh ” với suy nghĩ ” bình dân học vụ ” của tôi, đừng giận nha quý ông …chánh thứ thiệt .

               Cao Mỵ Nhân