Đôi chim có bạn líu lo, ca hát đêm ngày vui buồn cùng ai.
Một cô gái dễ thương, chủ nhiệm một tờ báo về Orange County dự đại hội kể với tôi rằng có người nói với cô:
– Tôi cho em một hòn đảo nếu em để tôi chăm sóc em trọn đời.
Em trả lời:
– Em yêu người chứ em không yêu hòn đảo, vì hòn đảo không có tiếng nói.
Tôi nhìn vào mắt cô gái với sự ngưỡng mộ và thích thú.
Một chàng trai trung niên đến thăm tôi cùng với một cô gái trung niên nói:
– Cô ơi, em có 5 bất động sản, đã trả hết nợ rồi. Cô làm ơn cho tên của cô này vào với em.
Nói xong chàng trai đưa tay chỉ vào cô gái cùng đến thăm tôi.
Chàng trai đưa cho tôi địa chỉ của 5 bất động sản. Tôi đưa cho cô nhân viên tìm ra chủ quyền của 5 bất động sản này.
Khi cô gái vừa bước ra ngoài để tìm báo đọc, tôi nói với chàng trai:
– Em có biết khi em cho tên cô gái vào chủ quyền thì cô gái có phân nửa chủ quyền tài sản của em không?
Chàng trai vừa cười vừa nói:
– Cái mạng của em, em còn cho cô ấy huống chi bất động sản hay tiền bạc?
Tôi nhủ thầm với chính mình tình yêu ơi, tình yêu sao mà dễ thương. Con người sống vì tình yêu, chết vì tình yêu. Tình yêu không thể giải nghĩa được tại sao mình thương yêu người này mà không thương yêu người khác, tình yêu nhẹ như cơn gió thoảng.
Đưa người ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Bóng chiều không thắm, không vàng vọt, Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
(Tống Biệt Hành- Thâm Tâm)
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…
(Vì sao- Xuân Diệu)
Tôi được tham dự một tiệc cưới ở Bolsa, chú rể 80 tuổi, là một người nổi tiếng trong cộng đồng vì hoạt động xã hội, cô dâu gần 76 tuổi. 5 thế hệ trong gia đình tham dự tiệc cưới, nhưng 1 năm sau tôi đi thăm và cầu nguyện cho người vừa qua đời, cũng 5 thế hệ đội khăn tang. Tình yêu ơi, tình yêu, họ sống với nhau một năm, một năm hạnh phúc còn gì quý báu hơn? Tình yêu ơi, tình yêu ơi, tình yêu cất cánh cho hai tâm hồn hòa điệu. Tôi nghe chuyện tình của người trẻ, tôi nghe chuyện tình của người già, trái tim có tiếng nói của nó, không cần hỏi tại sao tôi yêu?
Nếu tôi viết chuyện tình của người tôi quen viết hoài không hết. Tôi sợ nhìn những khuôn mặt với nước mắt, tôi thích nhìn nụ cười với những khuôn mặt đang yêu và được yêu rực rỡ thế nào! Tôi thích nghe tiếng cười giòn tan của những người cho trái tim của mình cho người khác. Ôi tình yêu sao mà đẹp quá?
Có người nói thần tượng của tôi phải có tiếng nói, nghe tôi cười, nghe tiếng tôi khóc, khi tôi có việc khẩn cấp như Thần Chết thấp thoáng bên cạnh tôi thì thần tượng hiện hữu bên tôi, thần tượng của tôi không ngồi trên bàn thờ.
Tình yêu vui thật, ngàn màu sắc khác nhau như thơ, lãng mạn, vui tươi, tình yêu không tính toán, khi yêu là yêu không cân nhắc, không phân biệt một thứ gì, không có sự ngăn cách.
Tình yêu, tình yêu ơi, sao mà đẹp thế?
Nếu không có tình yêu người ta sẽ không mặc đẹp, không có tình yêu người ta cũng sẽ không nghe nhạc. Tình yêu ơi sao mà mầu nhiệm? Những cô gái trẻ tâm sự với tôi, con mua áo đẹp để ra đường lọt vào mắt xanh của hoàng tử trong mộng, chàng trai ăn mặc đẹp để lọt vào mắt xanh của công chúa. Tình yêu sao mà tuyệt vời! Nếu không có tình yêu chàng trai sẽ không dành dụm tiền mua nhà rước nàng về dinh. Nếu không có tình yêu, không lập gia đình, không có những đứa trẻ thiên thần thì mua nhà có đất rộng để làm chi? Có vườn rộng rãi, có tiếng cười của trẻ thơ, tình yêu ơi sao mà tuyệt vời?
Tình yêu ơi là tình yêu, có xe đẹp, có nhà đẹp, có tiền dành dụm để cùng người yêu đi du lịch vòng quanh thế giới thăm những kỳ quan trong chuyện cổ tích, tình yêu ơi sao mà đẹp quá?
Nếu mọi người đều yêu thương nhau thì không có chiến tranh, không có nhà tù, không có chém giết lẫn nhau.
Tình yêu ơi, tình yêu sao mà mầu nhiệm? Khi yêu đời sống rất đẹp, đẹp lắm người ơi và tình yêu làm cho người ta lạc quan hơn, yêu đời hơn, thấy gì cũng đẹp, nhìn đời bằng mắt màu hồng. Những người đang yêu hay đang có tình yêu nhìn vào đôi mắt của họ là biết ngay. Đôi mắt rực rỡ, nụ cười thật tươi, vui ơi là vui, tiếng cười nói trong trẻo, reo vui hơn. Tôi mong thế giới đầy tình yêu, người yêu người, Thượng Đế yêu người, chính quyền thương dân lo cho dân, cha mẹ thương con, ông bà đùm bọc con cháu của mình. Ôi tình yêu tuyệt vời, người yêu người, chỉ thấy việc tốt của người xung quanh, và người yêu người đời sống sẽ phong phú hơn, tuyệt vời quá.
Mọi người yêu thương nhau, đầu óc không căng thẳng, không có mưu mô thủ đoạn lường gạt lẫn nhau. Tình yêu lên tiếng gọi, tình yêu ơi! Hãy nghe tiếng chim hót ngoài vườn buổi sáng, hãy nhìn những cánh hoa rực rỡ rung rinh trong gió, nghe mùi hoa lý hương thơm ngát trước sân nhà mà nghĩ đến người mình thương yêu nhất.
Tình yêu ơi, hỡi tình yêu, con người thì đến lúc nào đó phải ra đi nhưng tình yêu vĩnh viễn vẫn còn ở đây, ở trong trái tim của những người thương yêu mình.
Tình yêu sao mà tuyệt vời, tình yêu sao dễ thương và tình yêu vĩnh cửu.
Orange County, 12/07/2021
KIỀU MỸ DUYÊN
(kieumyduyen1@yahoo.com)
Giới Thiệu Tuyển Tập “HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG”- Giáo Sư Nguyễn Tường Tuấn
GS Nguyễn Tường Tuấn
(Giáo sư Nguyễn Tường Tuấn, đồng sáng lập tổ chức Forgotten People Foundation – NGO, Western Oregon University, 2005-2006, cùng Tiến sĩ Jerry Braza. Giáo sư Tuấn Nguyễn, một cựu tù nhân chính trị và đã từng là một thuyền nhân, rất quan tâm đến cuộc sống của người dân Việt Nam. Tổ chức Forgotten People Foundation giúp đỡ trẻ em mồ côi, khuyết tật ở miền Bắc Việt Nam.)
Thế hệ chúng tôi may mắn sinh ra và lớn lên nơi miền Nam tươi sáng. Trong cái hạnh phúc, là công dân của đất nước tự do, chúng tôi cũng phải gánh chịu nỗi bất hạnh của một quốc gia “nồi da xáo thịt“. Anh chị em miền Bắc, chưa bao giờ được hưởng cái không khí an lành của “Hòn ngọc viễn đông” một nửa hình chữ S đã từng là giấc mơ của cố Thủ tướng Tân Gia Ba, Lý Quang Diệu. Họ bị tẩy não ngay từ tấm bé, bằng lời thơ nô bộc “Yêu biết mấy nghe con tập nói – Tiếng đầu lòng con gọi Stalin – Thương cha, thương mẹ, thương chồng – Thương mình thương một, thương ông thương mười“. Chiến tranh xẩy ra vì thế, một nửa đất nước bị đầu độc, dù muốn hay không, thế hệ trẻ miền Bắc phải cầm súng lên đường, họ từ giã cha mẹ, vợ chồng, con cái, người yêu, để hy sinh cho bác và đảng, thực hiện giấc mơ “Sinh Bắc Tử Nam“.
Thanh thiếu niên miền Nam cầm súng ra trận, không vì thằng bác khốn nạn, hay bè lũ đảng lưu manh. Chúng tôi chiến đấu để bảo vệ xóm làng, thành phố bình an. Cho dù phải hy sinh, thân xác phủ cờ vàng, người nằm xuống sẽ muôn đời được “Tổ Quốc ghi ơn”.
Chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đã hiên ngang tái chiếm Cổ thành Quảng trị, anh dũng bảo vệ An Lộc, và kiêu hùng trên khắp mọi chiến trường. Trong từng thước đất của tổ quốc, chiếm lại bằng xương máu, người dân miền Nam Việt Nam không thể nào quên tên tuổi một nữ phóng viên chiến trường: Kiều Mỹ Duyên.
Kiều Mỹ Duyên không ngồi tại văn phòng tiện nghi ở Sài Gòn để viết phóng sự. Chị mặc áo giáp, theo từng chuyến bay ra mặt trận, những bài tường thuật của chị là nhân chứng hào hùng cho tuổi trẻ chúng tôi, trong trận chiến bi thương, tàn khốc và bất công.
Vâng, người lính Việt Nam Cộng Hòa đã hứng chịu mọi bất công nhất của thế giới tự do. Họ chiến đấu chống lại một chủ nghĩa cộng sản độc ác mà cả thế giới xa lánh. Tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower từng vinh danh Việt Nam Cộng Hòa là thành trì chống cộng của thế giới tự do. Nhưng đám phóng viên, báo chí, truyền thông Mỹ không như thế. Họ ngồi trong phòng lạnh khách sạn Caravell, Majestic, cà phê La Pagode, Givral, Brodard tại Sài Gòn để viết phóng sự chiến tranh. Nếu có chăng, họ đi theo một vài đơn vị chiến đấu của Hoa Kỳ … Quân đội Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu, hy sinh trên 4 vùng Chiến thuật bị bỏ rơi trên báo chí Mỹ. Mậu Thân 1968, chúng tôi đẩy lùi cuộc tổng tấn công lịch sử của Bắc Quân trên khắp các thành phố miền Nam. Charlie, địa danh đi vào lịch sử với tên tuổi cố Đại tá Nguyễn Đình Bảo, báo chí Hoa Kỳ không hề biết.
Trong nỗi cô đơn tội nghiệp đó, người nữ phóng viên chiến trường Kiều Mỹ Duyên đã trở thành “Tiếng nói, cho những người không tiếng nói“. Không những tại Việt Nam, khi đến Hoa Kỳ vào những ngày đầu tiên của thập niên 75, chị như cánh Chim ưng đã thay lông, đổi cánh, tung bay trên bầu trời bao la. Chị theo phi cơ của Cảnh sát Hoa Kỳ để tường thuật săn đuổi tội phạm. Chị vào thăm và làm việc trong nhà tù Mỹ, tham dự không mệt mỏi các hoạt động từ thiện qua tổ chức Y.M.C.A hoạt động tại nhiều quốc gia thứ ba trên thế giới. Kiều Mỹ Duyên là một Barbara Walter của người Việt không những tại Hoa Kỳ mà còn trên nhiều quốc gia khác. Chị phỏng vấn các vị chức sắc cao cấp Công giáo Hoa Kỳ, và Việt Nam; chị cũng có mặt trong những chương trình phỏng vấn những vị Hòa thượng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Về quốc tế, chị đã hỏi cựu Tổng thống Nga Gorbachev, một câu mà tất cả người Việt chúng ta cần nghe: Bao giờ đất nước Việt Nam thoát khỏi ách cộng sản? “Khi nào Trung Hoa cộng sản sụp đổ” đó là câu trả lời ngắn gọn của ông Gorbachev.
Xin mời bạn cùng đọc “Hoa cỏ bên đường” để biết thêm về tầm vóc của chị Kiều Mỹ Duyên, một chiến sĩ tự do chưa hề buông súng.
Giáo sư Nguyễn Tường Tuấn
(Forgotten People Foundation – www.forgottenpeople.net – 2850 S.W Cedar Hills Blvd, Suite 131 | Beaverton, OR 97005)
Một Niềm Đau
Sáng tác: Thiên Phương | Ca sĩ: Ngọc Quý
NGƯỜI GIỮ LỬA – Phương Hoa
Thứ Bảy vừa rồi là ngày Ra Mắt Sách của Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm, tại thành phố San Jose, Bắc California. Đi cùng tôi là người bạn văn thơ Minh Thúy, từng đoạt giải nhì Văn cùng năm với tôi trong cuộc thi sáng tác Văn Thơ Lạc Việt 2016. Cô bạn gốc Huế này nhờ nhà ở gần San Jose hơn, lại thường hăng hái tham gia các sinh hoạt của cộng đồng Việt Nam ở đây, nên dù nhà tôi khá xa cũng có cơ hội dự buổi ra mắt sách của GS Sâm nhờ chạy đến nhà rồi bỏ xe đó đi theo xe với bạn.
Hôm ấy chúng tôi đến hơi sớm. Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt (VTLV) Chinh Nguyên đang bận trang trí cho buổi lễ vội vã dừng tay chào đón. Là người luôn nhiệt tình với các chương trình văn hóa Việt, ông chủ tịch Chinh Nguyên đã bỏ thời gian, tâm huyết, và nhiều công sức điều hành rất thành công cơ sở VTLV, tổ chức giải Văn Thơ LV hàng năm, xuất bản Tuyển Tập VTLV thường niên, và liên tục giúp tổ chức ra mắt sách cho rất nhiều tác giả đồng hương Việt.
Từ trái qua: GS Nguyễn Văn Sâm, Chủ Tịch VTLV Chinh Nguyên, Phương Hoa, Minh Thúy
GS Nguyễn Văn Sâm là nhà văn tiền bối mà tôi kính trọng, cũng là một trong các vị giám khảo của cuộc thi VTLV mà tôi đã thắng giải Văn năm trước, nên dù ở khá xa tôi cũng cố gắng đến để ủng hộ người.
Thấy GS Sâm xong việc đến ngồi chỗ bàn ký sách, tôi kéo Minh Thúy lại chào. Thật vui được nói chuyện trực tiếp với vị Giáo Sư mà từ khi quen biết đến giờ tôi chỉ trao đổi qua email và điện thoại. Chúng tôi phải chờ rất lâu mới chụp cùng GS được vài tấm hình kỷ niệm, vì ông bận ký sách liền tay.
Buổi lễ vừa bắt đầu khách đã ngồi kín các dãy ghế trong Câu Lạc Bộ Mây Bốn Phương. Một số người của Ban Tổ Chức và Ban Chấp Hành VTLV phải ra ngồi phía sau hậu trường. Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng hướng dẫn các thủ tục chào cờ Mỹ và chào cờ VNCH xong, thì MC Bác Sĩ Trần Văn Nam lên giới thiệu quan khách.
BS Nam quả là người có máu hài hước. Nhân đề cập đến chuyện chữ nghĩa theo thời gian bị “tam sao thất bổn”, ông đã “lẩy” câu Kiều thứ 57 của cụ Tiên Điền Nguyễn Du, “Sờ sờ nắm đất bên đàng…” bị ông làm cho “thất bổn” thành ra, “Xè xè nắm đất…” và đùa, ông đã nói vậy với bịnh nhân tiểu đường của ông, kêu họ phải chú ý tìm… mấy con kiến, làm mọi người cười ồ.
Diễn giả kế tiếp là nhà báo kỳ cựu Lê Văn Hải. Vẫn với giọng Bắc chậm rãi hiền từ như mọi khi, ông bày tỏ những nhận xét thật sâu sắc về tác giả và tác phẩm “Chuyện Đời Xưa” của GS Nguyễn Văn Sâm, và ông cũng ca ngợi nhà ngôn ngữ học Trương Vĩnh Ký là người có công lớn tưới bón cho tiếng Việt. Ông Hải còn cho biết, giới nhà báo như ông đã tôn Pétrus Ký là “Thánh Tổ” của báo Việt Ngữ, vì cụ là người đầu tiên lập ra tờ báo quốc ngữ của nước An Nam ngày ấy, lấy tên là “Gia Định Báo.”
Xen kẽ với quý vị diễn giả, các ca sĩ trong ban văn nghệ, Nguyệt Thanh, Thùy Nga, Khôi Nguyên, Hồng Hạnh… đã trình diễn những bài hát trữ tình rất hay và nhận được những tràng pháo tay vang dội cả hội trường.
Tiếp theo chương trình, TS Nguyễn Hồng Dũng lên giới thiệu tác phẩm “Chuyện Đời Xưa.” TS Dũng thao thao bất tuyệt điểm những câu, những chữ đặc biệt trong quyển sách của cụ Trương Vĩnh Ký mà GS Sâm đã chú thích rõ ràng. Ông còn nêu ra các thông điệp, bài học đạo đức trong cuộc sống mà tác giả muốn nhắn gửi trong nhiều câu chuyện, kèm theo chủ ý của GS Nguyễn Văn Sâm khi chú giải cho quyển sách này.
Đến lượt Chủ Tịch Văn Thơ Lạc Việt Chinh Nguyên giới thiệu về tác giả. GS Nguyễn Văn Sâm gốc Sài Gòn, thời VNCH dạy tại trường Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho, Pétrus Ký Sài Gòn, giảng sư Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Cao Đài Tây Ninh, và nhiều trường đại học khác. Ông cũng nhắc qua về những tác phẩm GS Nguyễn Văn Sâm xuất bản thời VNCH như “Văn Học Nam Hà,” “Văn Chương Nam Bộ…,” và ở hải ngoại đã in “Miền Thượng Uyển Xưa,” Câu Hò Vân Tiên,” cùng nhiều cuốn sách giá trị khác…
Sau đó GS Nguyễn Văn Sâm được mời lên trình bày về tác phẩm của mình. Ông cho biết, quyển “Chuyện Đời Xưa” của Trương Vĩnh Ký là tác phẩm bán chạy nhất và đi vào lòng người nhiều nhất trong số hàng trăm quyển sách khác của cụ Trương ngày ấy. Sách hấp dẫn người đọc vì chứa đựng những câu chuyện vui về giáo dục luân lý, bài học làm người, và cách ứng xử những khi hữu sự. Thêm vào đó, “Chuyện Đời Xưa” được học giả Pétrus Ký viết hơn trăm năm trước, dùng văn nói thường nhật của người miền cực Nam, nên nó có giá trị lịch sử về ngôn ngữ Việt Nam. Và do đó ông mới chọn quyển sách này để in lại và chú thích thật rõ ràng hầu lưu lại cho các thế hệ con cháu Việt đời sau.
Sau đó, nhân thấy GS Sâm có chút thời gian rảnh tôi bước lại xin phép được hỏi ông vài chuyện. Trả lời câu hỏi điều gì đã khiến ông nghĩ đến việc in lại và chú giải quyển “Chuyện Đời Xưa” thay vì quyển sách khác. Giáo Sư cho biết, ông nhận thấy quyển “Truyện Đời Xưa” của Trương Vĩnh Ký bản sớm nhứt in năm 1873 không ai còn tìm thấy, chỉ duy nhứt ấn bản 1914 còn tại thế là nhờ sự lưu giữ của cụ Vương Hồng Sển, vậy thì cần phải nhân bản nó để cho nhiều người có được. Từ sự suy nghĩ nếu in lại thì cũng nên làm chuyện gì có ích lợi cho người đọc, GS Sâm đã nẩy ra ý tưởng chú giải quyển sách.
Khi được hỏi là một nhà văn tiền bối, ông có lời khuyên gì cho những cây viết non trẻ của các thế hệ sau, GS Sâm trả lời khiêm nhường, nhưng là những lời khuyên vàng ngọc rất hữu ích:
– Tôi không dám có lời khuyên đến thế hệ đi sau, nhưng nguyên tắc cầm bút của tôi là tìm vui trong việc viết lách và nghiên cứu, cũng như sử dụng tối đa giờ giấc cho việc nầy. Cố đi với văn chương của mình suốt đời, không nửa chừng bỏ ngang vì bất cứ lý do gì, kể cả sự nghèo khổ bịnh tật, hay sự đánh phá của người khác. Quan trọng nhất, là tìm hướng viết đứng đắn, viết lách cẩn trọng, không viết vì tiền, vì thị hiếu của người nào, hay vì muốn có tiếng tăm, và sự đặt hàng mà mình thấy không hợp.
Giáo Sư Sâm còn tâm sự, trong gần 40 năm cầm bút ở hải ngoại, ông viết truyện bằng văn phong Nam Kỳ lục tỉnh, và đề tài ông chọn thường là đời sống bi đát của người trong nước hoặc hải ngoại, nhưng ông thường nhắm vào mặt tâm hồn hơn là bề ngoài. Hiện tại, ông đã phiên âm rất nhiều tuồng hát bội chữ Nôm, khoảng 100 hồi tuồng Tây Du Ký và 120 hồi tuồng Tam Quốc, nhưng ngại thời nay không còn nhiều người lưu tâm đến nên ông chưa cho trình làng. Hát Bội cũng là một nét văn hoá độc đáo của Việt Nam không thua gì nghệ thuật Cải Lương, hy vọng Giáo Sư sẽ đưa ra sớm để các đoàn hát có cơ hội ra mắt bà con. Sắp tới, trước cuối năm nay ông sẽ cho in tập truyện ngắn thứ 6 “Giọt Nước Nghiêng Mình”.
Chiều đến, nhân tiện đang còn ở San Jose, Minh Thúy muốn kéo tôi qua dự lễ Vu Lan ở chùa Hồng Danh, nên dù chương trình văn nghệ vẫn còn tiếp tục trong buổi RMS, chúng tôi chào GS Sâm và CT Chinh Nguyên rồi len lén rút êm, sợ làm kinh động mọi người mãi mê xem ca nhạc.
Ra đến cửa, tôi gặp GS Lưu Khôn, người từng là Hiệu Trưởng trường Phan Thanh Giản trước 75, cũng là bạn đồng nghiệp của GS Sâm ở đại học Văn Khoa. Tôi mừng quá chụp hỏi thầy mấy câu về GS Sâm để bổ sung cho bài viết, vì khi nãy tôi nghe GS Sâm nói hai người là bạn cũ, còn BS Nam cũng đã giới thiệu GS Sâm là “sư” chữ Nôm và GS Lưu Khôn là “thầy” về Hán tự.
GS Lưu Khôn vui vẻ kể, ngày xưa ông và GS Nguyễn Văn Sâm là bạn cùng dạy ở đại học Văn Khoa và nhiều trường nữa. Ông nói hồi đó ông rất mê Hán Văn còn GS Sâm thì chuộng chữ Nôm. Sau qua Mỹ hai người đều bận rộn nên ít liên lạc với nhau. Lần ra mắt sách này nhờ ông nghe qua truyền thông nên biết GS Sâm sắp ra mắt sách ở Jan Jose và tự đến để ủng hộ bạn.
– Ông ấy thích chữ Nôm và rất chịu khó. GS Khôn nói. – Cả đời ông đi sưu tầm các sách truyện chữ Nôm cổ xưa. Mỗi lần đi đâu ông Sâm đều mang theo tiền mặt, kể cả khi về thăm quê bên Việt Nam, hễ gặp sách cổ là mua liền.
Khi GS Khôn kể ông dịch xong quyển “Bát Thập Tự Tự” của Lâm Ngữ Đường ra Việt Ngữ lúc ông “vừa tròn 80,” tôi thật sự…hết hồn, vì bây giờ trông ông cũng khoảng chừng đó là cùng, chắc nhờ làm việc nhiều bằng trí óc nên người ông cụ trông rất là linh hoạt và minh mẫn. Thấy tôi tròn mắt ngạc nhiên và nói bác đã vượt ngưỡng cửa 80 mà trông còn trẻ lắm, ông cụ cho biết chỉ vài năm nữa là sẽ mừng thọ cửu thập niên! Càng nói chuyện, tôi càng khâm phục ý chí của GS Khôn, một người bị bịnh mắt kém bẩm sinh từ nhỏ mà cố gắng học hành tới nơi tới chốn, giờ gần qua tuổi đại thọ rồi vẫn còn ngồi dịch, biên khảo hàng trăm trang sách bằng cách viết tay, vì không thể nhìn thấy chữ trên máy vi tính.
Thời VNCH, GS Lưu Khôn đã xuất bản nhiều tác phẩm giá trị, “Hán Văn Tự Học” Khai Trí xuất bản, “Phê Bình Văn Học Việt Nam”, và dịch nhiều truyện chữ Hán như “Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa”, ở hải ngoại ông dịch Quỳnh Dao, “Tam Độ Mai” “Cho Trọn Cuộc Tình”…
Sau đó GS Khôn hỏi tôi có biết em học sinh, sinh viên nào nhận đánh máy thuê để ông nhờ đánh máy dùm tập bản thảo cho “Thư Mục Phan Thanh Giản” mà ông sắp hoàn thành. “Soạn để lại nhằm sau này có ai muốn tham khảo về cụ Phan Thanh Giản sẽ có tài liệu khỏi mất công họ đi tìm tòi,” ông nói.
– Nào giờ tôi toàn viết “hú họa” trên giấy, liệu chừng mà viết chứ không có theo hàng lối gì hết cô ơi, vì mắt tôi đâu có thấy hàng kẽ! Cho nên người đánh máy cũng sẽ rất vất vả.
Tôi nghe mà xúc động đến nghẹn lời. Một ông cụ gần chín chục, mắt không nhìn thấy cả đường kẽ hàng, mà còn ráng sưu tầm rồi ngồi mò mẫm viết tay những tác phẩm văn học để lại cho đời. Có thể nói GS Lưu Khôn cũng là một trong những “người giữ lửa” rất quan trọng cho tiếng Việt thân yêu. Ước gì tôi có thời gian để đánh máy giúp ông. Giã từ vị cựu giáo sư uyên bác mà lòng tôi áy náy khôn cùng.
Hôm thứ Bảy là một ngày may mắn cho tôi, được gặp tận mặt, nghe tận tai những lời hay ý đẹp của các diễn giả trí thức, và chuyện trò cũng những vị giáo sư khả kính mà ngày xưa còn nhỏ ở trong nước dù có tình cờ diện kiến quý thầy, “con nhãi” như tôi cũng phải…xanh mặt khép nép cúi đầu né qua một bên, chưa dám nhìn thẳng mặt hay cả gan đụng vào vạt áo của quý thầy, chứ đừng nói chuyện dám tay bắt mặt mừng, chụp hình chung để dành làm kỷ niệm như bây giờ…
*
Là người Việt Nam ai cũng biết, tiếng Việt và văn chương Việt vô cùng phong phú. Nhưng sau khi chúng ta mất miền Nam tự do, nền văn hóa đẹp đẽ và tiếng Việt nguyên thủy đã bị làm sai lạc cả ý nghĩa. Nhờ tấm lòng thủy chung của cộng đồng Việt hải ngoại cùng nhau giữ lửa, nên tiếng Việt và nền văn hóa Việt vẫn được bảo tồn, ít nhất cho đến bây giờ. Công lao này là của rất nhiều người, gồm các nhà giáo dục, quý vị dân cử, nhà văn, nhà báo, các cơ sở truyền thông, và các tổ chức cộng đồng, đặc biệt là các hoạt động văn hóa Việt Nam, điển hình là Văn Thơ Lạc Việt.
Nhiều người lo không biết rồi đây các thế hệ tiếp nối còn được bao người có lòng với quê hương đất nước mà tiếp tục giữ gìn tiếng mẹ đẻ như thế hệ hiện tại? Câu trả lời là, chúng ta vẫn còn hy vọng. Hiện tại các trường học dòng chính Hoa Kỳ, đặc biệt là ở Nam Cali, đã được đưa vào dạy song ngữ Anh-Việt toàn thời gian bắt đầu từ bậc Tiểu Học, và trường đại học Cal State Fullerton cũng đã có chương trình tốt nghiệp bằng Cử Nhân Việt Học. Những kết quả này đều là nhờ sự đấu tranh không mệt mỏi của các nhà giáo dục, các vị dân cử gốc Việt, và cộng đồng Việt Nam chúng ta.
Năm 1873 khi viết quyển “Chuyện Đời Xưa,” cụ Petrus Ký được cho là người giữ lửa cho ngôn ngữ của dân tộc Việt. Hiện tại, 144 năm sau, GS Nguyễn Văn Sâm là người tiếp nối đã bỏ tâm huyết để chú giải rõ ràng rành mạch theo tiếng Việt miền Nam ngày nay và in lại tác phẩm văn học cổ này. Như vậy GS Sâm cũng là một trong những “người giữ lửa” của thời đại chúng ta, cùng chung tay giữ gìn để ngôn ngữ Việt không bị mai một.
Xin trân trọng giới thiệu với quý độc giả tác phẩm “Chuyện Đời Xưa Của Trương Vĩnh Ký – Những Điều Thú Vị” của GS Nguyễn Văn Sâm, vừa ra mắt tại San Jose, miền Bắc Cali, hôm thứ Bảy tuần rồi, và sẽ ra mắt lần thứ hai ở Nam California vào Chúa Nhật 24 tháng 9 do Nha-Văn-Nhạc-Sĩ Cao Minh Hưng tổ chức, với sự góp mặt giúp vui của các thành viên Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, tại Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu Westminster, Hoa Kỳ
Quý độc giả muốn mua quyển sách rất có giá trị Văn Học Việt Nam này xin mời liên lạc tác giả:
samnguyen20002002@yahoo.com
Phương Hoa
THÀNH NGỮ VIỆT NAM
Phan Lục
Trong kho tàng văn học Việt Nam có những thể loại như dân ca, cách ngôn, ngạn ngữ, ca dao, tục ngữ, đặc ngữ, thành ngữ v.v… là những câu, những ý hoặc những lời nói ngắn gọn được lưu truyền trong dân gian rất lâu ngày quen miệng để trở thành những mảng văn học.
Thành ngữ là tập hợp những từ cố định quen dùng, có nghĩa, gọi tên sự vật, hiện tượng, tính chất, hành động v.v… mà thường không thể suy ra từ nghĩa của từng từ riêng biệt. Trong mọi thứ tiếng của các nước trên thế giới cũng đều có thành ngữ mà ta thường không thể cắt nghĩa riêng từng từ được. Ví dụ, trong tiếng Anh có thành ngữ “buckle down” nghĩa là “dùng nhiều sức lực hơn” chứ không phải là “hãy mở khóa ra” trái nghĩa với “buclkle up’ là “hãy thắt chặt khóa lại”. Trong tiếng Việt có thành ngữ “chó cậy gần nhà” nghĩa là “ỷ thế, nhờ cậy vào thế thuận lợi mà tỏ ra hung hăng, dọa nạt, bắt chẹt hay làm tình, làm tội người khác” chứ không có ý gọi ai đó là “chó”. Hoặc thành ngữ “gái đĩ già mồm” nghĩa là “đã sai rành rành mà còn to tiếng cãi vã, chửi rủa ầm ĩ để lấp liếm” chứ không có ý mạt sát “mày là con đĩ” v.v…
Vì vậy, khi đọc tiếng Việt cũng như khi dạy con cháu chúng ta học tiếng Việt thì cần phải tra cứu để hiểu rõ nghĩa của các từ ngữ Hán-Việt, nhất là các thành ngữ, để tránh những hiểu lầm đáng tiếc. Là người Việt, bất cứ định cư ở nơi nào, ta cũng cần phải nói và hiểu tiếng Việt một cách chính xác để lưu truyền cho con cháu chúng ta gìn giữ tinh hoa của nền văn hóa dân tộc.
Sau đây, xin nêu định nghĩa của một số ít thành ngữ tiếng Việt (khác nhau từng địa phương):
Ác báo ác lai: Làm điều ác cho người thì điều ác ấy sẽ đến với mình.
Bã chà bợt chợt: Có lời nói, cử chỉ lẳng lơ.
Cá mè một lứa: Đồng loạt, cùng một giuộc với nhau cả, coi ngang hàng nhau, không phân biệt đối xử cho hợp lẽ.
Cả vú lấp miệng em: Dùng quyền lực, thế mạnh của mình để chèn ép, lấn át người khác.
Cha chung không ai khóc: Những việc chung liên quan đến nhiều người mà không có người nào chịu trách nhiệm chính nên thường bị bỏ mặc, bê trễ, không ai lo liệu.
Chó cùng dứt giậu: Liều lĩnh, làm xằng bậy một cách thiếu cân nhắc, tính toán do bị đẩy vào bước đường cùng.
Chó nhảy bàn độc: Bất tài, dốt nát, thiếu năng lực, kém cỏi nhưng gặp cơ hội nên chiếm được địa vị cao sang rồi cứ bám mãi,
Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng: Chưa chi đã vội hợm hĩnh, lên mặt với người khác.
Chưa học bò đã lo học chạy: Hấp tấp làm những việc quá khả năng nên khó bề thực hiện được.
Đội váy nát mẹ: Hợm hĩnh, tinh ranh, ra vẻ ta đây để lòe bịp, dọa dẫm người từng trải và hiểu biết hơn mình.
Gieo gió gặt bão: Gây ra điều ác thì phải chuốc lấy hậu quả to lớn của hành động độc ác ấy.
Khẩu tâm bất nhất: Nói lời tốt đẹp nhưng nghĩ và làm những việc xấu xa, vô đạo đức.
Miệng quan trôn trẻ: Tùy tiện, đúng sai bất chấp, thường hay tráo trở không đáng tin cậy trong lời nói của bọn có quyền thế.
Mồm loa mép giải: Lắm lời, đanh đá, nói lấy được bất chấp đúng sai.
Nát giỏ còn tre: Dù mất mát nhưng vẫn còn vốn liếng, còn khắc phục được.
Nát đá phai vàng: Không giữ được lòng chung thủy và phản lại tình cảm đã có.
Ngậm máu phun người: Đặt điều gièm pha, vu khống một cách độc ác, đê tiện nhằm làm hại, gieo tai vạ cho người khác.
Ngư long biến hóa: Đỗ đạt, thành đạt trong học hành, thi cử.
Ngư thủy duyên hài: Hợp nhau, dễ gắn bó với nhau, dễ nên duyên vợ chồng.
Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã: Những kẻ xấu tìm đến với nhau để thực hiện những mưu đồ xấu xa, đồi bại của chúng.
Quân sư quạt mo: Người bày mưu kế, mách nước tồi, kém.
Quấy hôi bôi nhọ: Làm những việc không hay, không tốt gây tiếng xấu.
Râu ông nọ cắm cằm bà kia: Chắp vá, lẫn lộn một cách tùy tiện nên trở thành khập khiễng không ăn khớp, không phù hợp với nhau.
Sông sâu sóng cả: Khó khăn, gian truân, nguy hiểm phải trải qua.
Sống chết mặc bay: Thái độ ích kỷ, thờ ơ, vô trách nhiệm, bỏ mặc, không để ý, không quan tâm đến ai, chỉ lo cho riêng mình.
Sờ chẳng ra, rà chẳng thấy: Túng thiếu quá đến mức chẳng có tí gì hoặc chẳng biết lần tìm ở đâu để mà sống.
Sứa vượt qua đăng: Làm một việc vượt quá khả năng của mình.
Sưng mày sưng mặt: Có vẻ bực bội, tức giận, tỏ ra bất đắc dĩ phải chấp nhận làm một việc gì.
Tép lặn tép lội: Lắm mồm, hay nói điêu ngoa.
Tiền có đồng, cá có con: Rõ ràng, minh bạch, không mập mờ được.
Thần hồn nát thần tính: Hoảng sợ, tự huyễn hoặc, gây cho mình nỗi sợ hãi do non gan, yếu bóng vía, không tự chủ được mình.
Thế thần bịch thóc: Nhờ có của cải mà tỏ rõ uy lực, quyền thế.
Tránh hùm mắc hổ: Rủi ro, không thoát khỏi tai họa.
Trâu lấm vẩy càn: Người có khuyết điểm, có tội lỗi mà cứ đổ vấy cho người khác.
Trên đe dưới búa: Ở vào tình thế bị kìm kẹp, thúc ép từ nhiều phía, khó bề đối xử và giải quyết cho hợp lý.
Trên răng dưới dái: Trắng tay, nghèo khổ, không còn chút của cải, tài sản hoặc chức vụ nào.
Trơ như mặt thớt: Trơ lì, không biết hổ thẹn khi làm điều sai trái dù bị chống đối.
Trơ tráo như gáo múc dầu: Trơ lì, ngang ngược, không biết hổ thẹn.
Vắng như chùa bà Đanh: Trở nên vắng lặng, ít người đến, gây nên cảnh u buồn (ở nơi mà trước kia có người hay lui tới).
Vào trong mắc đó, ra ngoài mắc đăng: Ở vào thế bị kẹt, bí bách, không có lối thoát.
Vắt nước không lọt tay: Keo kiệt, giữ từng chút một, không hề mất cho ai cái gì.
Xôi hỏng bỏng không: Mất tất cả, mất trắng, không được cái gì.
Trên đây chỉ đơn cử một ít thành ngữ tiếng Việt trên muôn ngàn lời nói trong văn học dân gian. Qua các định nghĩa, ta thấy các thành ngữ cũng thật khó hiểu nếu không tra cứu kỹ mà chỉ nhìn vào nghĩa đen của từng từ thì sẽ có sự hiểu lầm rất tai hại. Ta có thể dùng một thành ngữ làm đề tài cho một bài học để dạy con cháu chúng ta không những về cách dùng tiếng Việt chính xác mà còn về đạo lý làm người nữa.
Phan Lục
CÓ NÊN KẾT ÁN TỬ HÌNH NHỮNG TRỌNG TỘI KHÔNG??? GS Lê Thị Nguyệt Ánh
CÓ NÊN KẾT ÁN TỬ HÌNH NHỮNG TRỌNG TỘI KHÔNG???
LUẬT PHÁP đặt ra là để bảo vệ AN NINH, giữ gìn TRẬT TỰ, bảo vệ QUYỀN LỢI Con Người với Con Người, bảo vệ MẠNG SỐNG và TÀI SẢN của cá nhân và cộng đồng Gia Đình, Quốc gia và Quốc tế. Những người đứng ra cầm cán cân Công Lý, là Đại Diện Công Lý, là nhân danh Công lý, bao giờ cũng nên Nghiêm minh, Chính trực, Công Bằng, Vô tư phán xét những ai vi phạm luật lệ Nhà Nước đặt ra, cũng chính là để hướng dẫn, giáo dục Con Người cả nước đến với CHÂN THIỆN MỸ. Theo hình luật, ngoài những tội do từng quốcgia qui định còn có những tội sau đây mà không quốc gia nào dung chế, tha thứ cho được, mà còn kịch liệt bài trừ với hình phạt nặng nề gắt gao. Đó là: ‘Tội Giết Người’ (Sát Nhân), ‘Tội Hiếp Dâm’ và ‘Tội Buôn Bán Ma Túy’, ‘Hẻroine’, vì nó giết chết mạng sống, giết chết cả tương lai, cuộc đời của Con Người, nên không một quốc gia nào trên trái đất này chấp nhận được! Tất cả, ai ai cũng đều ‘Muốn Sống’, Không-Ai-Muốn-Chết, nhất là Bị-Giết-Chết, Bị-Tước-Đoạt-Mạng-Sống, Bị-Sát-Hại!!! Vậy tại sao chính ta Muốn Sống, Không-Muốn-Bị-Giết-Hại mà lại đi ‘Bức Tử’, Tàn Sát Người khác?! “Điều gì ta không muốn người khác làm cho ta thì ta không nên làm cho người khác”! Thế mà: 1/ Ai ai cũng vui thích đồng ý đón nhận châm ngôn này, nhưng, trên thực tế, hình như có ít người thực hiện ĐÚNG theo, mà đa số thì lại thản nhiên gây-tạo-cho-người-khác-những-gì-chính-bản-thân-không-muốn-người-khác-làm-cho-ta!
2/ Đến như cả các vị phán quan, các quan chánh án cầm cân nẩy mực, ngồi ghế xét xử, khi luận tội những trường hợp như ‘Giết Người’, ‘Hiếp Dâm’, ‘Buôn Bán Ma Túy’ là những ‘Trọng Tội Khó Tha Thứ’ được mà lại như vô tình thản nhiên tuyên “Án Tử Hình” họ!!! Có những trường hợp Giết Người, hay Buôn Bán Ma Túy, cảnh ngộ rất thương Tâm mà các quan không lý tới! Sao lạ vậy, khi mà theo Luật pháp: “Dù dưới hình thức nào, dù bất kỳ nguyên nhân gì, cũng không ai được quyền tước đoạt sinh mệnh của bất kỳ ai!”
3/ “Khó thể tha thứ được” đâu có nghĩa là phải ‘Giết Chết Kẻ Phạm Tội’, như họ đã giết chết ai đó?! Chẳng lẽ không có hình phạt nào dành cho những kẻ ‘Trọng Tội’ khó thể tha thứ được, khiến họ phải đau đớn thống khổ, bi ai, thê thảm nhứt là sự dày vò, ân hận về tinh thần vì tội ác họ đã gây tạo cho người khác, và làm liên lụy đến nhiều người phải khốn khổ theo, là gia đình ‘bị cáo’ và gia đình nạn nhân ‘nguyên cáo’, khiến cho họ, có người phải Sống-Không-Bằng-Chết’ hay sao?! Hình phạt đó không đáng sợ gấp trăm ngàn lần hơn hình phạt họ hải sợ chỉ có mấy ngày, mấy tháng, hay mấy năm, nhất là chỉ một thoáng mấy phút trước giờ ‘Hành Hình’ thôi sao?!
4/ Vả chăng, có thể đó là án OAN!!! Nếu xử tử rồi, về sau có cơ hội nhắc đến, thẩm tra lại, biết họ đã ‘Bị OAN’ thì làm sao cứu chữa ‘SAI LẦM’ vì đã giết họ chết rồi ?!
5/ Và, nếu kẻ có tội chí tình ‘Ăn năn, Sám hối’ tội lỗi họ đã gây tạo, và họ có thể ‘Đới Công Chuộc Tội’ xứng đáng, thì không phải là đáng tiếc lắm sao?! Con Người có ai mà không từng phạm những điều Sai Trái, Lỗi Lầm, dù nhẹ dù nặng?! Điều quan trọng là họ Biết-Nhận-Lỗi-Tội của họ, nhận sự ‘Sai Lầm’, và Biết-Ăn-Năn, Hối cải Lỗi Tội của họ! Đó không phải là điều dễ dàng mà ai cũng dũng cảm làm được!!! Và một khi họ đã không hèn nhát mà can đảm nhận Tội, không trốn tránh, thì sao lại không-giúp-họ-có-thời-gian, cho-họ-có-cơ-hội-để-Ăn-Năn-Cải-Hối-Sữa-Đổi, Đoạn trừ Dứt Lỗi Tội?!
6/ Thưa rằng:’Nếu Giết họ Chết Đi rồi, thì chủng tử Xấu Xa, Độc Ác, Hung Dữ, Nguy Hại đến thế nào đó, sẽ chấm dứt , chứ không phải sẽ vẫn đeo đẳng theo họ suốt từ kiếp này đến kiếp khác sao?! Họ sẽ mãi mãi vẫn còn là người cùng hung cực ác, họ vẫn còn cứ gây bao tai họa cho biết bao người, cứ gây tạo thảm kịch triền miền, biết bao giờ mới chấm dứt, nếu không tạo cho họ có cơ hội để họ thắm thía nỗi thống khổ do ‘Tội Ác’ của họ, để Giúp Họ Tĩnh Thức để Ăn Năn , Sữa Đổi, Đoạn trừ Lỗi Tội ?! “Nhứt nhựt VÔ THƯỜNG tại, “Phương tri mộng lý nhân. “Vạn bang đô bất khứ, “Duy chỉ “NGHIỆP” tùy Thân!”
Một mai Tử Thần đến, Mơ màng biết về đâu?! Vạn nơi khó thể cầu! Họa Phước mãi dính “Thân”!
7/ Đã nhân danh Công Lý, là đại diện cho Công Lý trừng phạt, ngăn ngừa những kẻ ‘PhạmTội’, dù là những tội nặng đến thế nào, như ‘Tội Sát Hại Người’, thì nên chí công và ‘vô tư’ xét xử. Cho điều tra chu đáo: vị tất, không một trường hợp nào mà Kẻ Bị-Hại (‘nguyên cáo’) không có Lỗi, kèm bên ‘Tội’ của kẻ phạm Tội (‘bị cáo’)! Nếu đúng vậy thì cả hai đều phải bị thẩm xét, bị bị ‘luận tội’ và phải bị ‘trừng phạt’, nếu có thể được thì cũng nên giảm án cho phạm nhân, Không nên ‘Bức Tử’?!
8/ Những ‘Tội về Chính trị’, thuộc An Ninh Quốc gia: Người Phạm tội nặng, nhẹ thế nào đó, thì do họ có lập trường, có chánh kiến, có hoài bão, ước vọng, lý tưởng của họ, hoặc có thể do họ bị quyến rủ, bị ép buộc, bị khống chế…! Trên đời, “Không Ai Hoàn Toàn” (“Nul n’est parfait ici-bas”) thì “cũng Không Có Tư Tưởng nào, Lập Trường, Chủ trương, Quan niệm, Chánh kiến, Chế độ, luật lệ nào v.v…’Hoàn Hảo’ hết! Có phải vậy không?! Tốt có, thì Xấu cũng có; Đúng có, Sai Lầm cũng không tránh khỏi; có ích lợi cũng có tai hại; có ưu điểm thì bên cạnh cũng có khuyết điểm. Hể có ‘quân tử thì cũng có ‘Tiểu nhân’ một bên! Cũng như có “Dương” thì cũng có “Âm”, không bao giờ thiếu mất một trong hai. Vậy thì tại sao chúng ta bắt buộc người khác phải chấp nhận theo chủ trương, lý tưởng v.v..của ta mà không được thực hiện lý tưởng của họ, cho là họ SAI, họ LẦM ?! Tại sao ta cho rằng ta ĐÚNG, người khác SAI? Cũng như “5 người Mù xem VOI”! Mỗi người chỉ rờ vào để quan sát một phần nơi cơ thể Con Voi mà thôi! Thế rồi người nào cũng quả quyết cho rằng mình diễn tả hình dáng Con Voi Rất Đúng, rất chính xác, còn tất cả những người khác đều SAI bét?! Hóa ra Ai cũng Đúng, theo sự nhận xét, hay theo kinh nghiệm cá nhân mỗi người, nhưng mà là SAI theo tổng thể, theo nhiều phương diện, nhiều khía cạnh, nhiều mặt, mà vì chưa rõ biết, chưa thấy, chưa từng trãi?! Nếu thấy họ quá-nguy-hiểm-cho-chế-độ của mình, cho sự lãnh đạo, cai trị, lèo lái Con Thuyền Quốc gia mà mình đang đảm trách, thì tại sao không-Giam-Cầm-Họ lại mà lại ‘sát hại’?! Và kiên nhẫn dùng chính sách NHÂN ĐẠO, để cảm kích, để lôi cuốn, để họ tâm phục khẩu phục ?! Nếu không thành công đi nữa, thì cũng Nên-Tôn-Trọng-Ý-Chí, Quyền-Tự-Do-Của-Con-Người, Sự Dũng Cảm của họ. Vậy thì cứ Giam-Cầm-Họ-lại, đối xử tử tế, nhân đạo, để cảm hóa, cho đến khi nào có thể trả lại Tự Do cho họ, không được sao?! Lại còn sẽ gây ảnh hưởng Tốt Đẹp sâu sắc cho Chế độ. Tiếng đồn Lành sẽ vang xa, và sẽ không vô tình ‘Làm Hư Hỏng Chế Độ ! Dù cho có Thất Bại , không thu phục được họ thì vẫn lưu được ‘Tiếng Thơm Tiếng Tốt’ muôn thuở trong sách sử! Có vậy mới đúng là có Chánh Nghĩa! Và Chánh Nghĩa, Công lý bao giờ cũng thắng! 9/Huống chi, Công Lý, là cái lý công bằng, là phải Chí Công, Vô Tư. Chí là hết sức, là rất, Công là công bằng, công minh, công chính, không thiên vị, không nghiêng lệch bên nào! Chí Công là Rất-Rất-Công-Bằng, không thiên vị một ai. Vô là không, tư là tư lự, là tư tưởng, nghĩ ngợi. Vô Tư là không tư tưởng lung tung, không nghĩ ngợi đủ điều lợi hại, là hồn nhiên, trong sáng, không có điều gì vẫn đục, mờ ám, khuất lấp ….. Một khi đã Bất Bình, Không Thể Chấp Nhận Cái Việc Tước Đoạt Sinh Mệnh của Bất Kỳ người nào, thế thì vị Thẩm Phán nếu tỉnh bơ tuyên bố ‘Xử Tử’cái người đang bị xét xứ, ‘Dứt Bỏ Mạng Sống’ của họ thì không phải là mâu thuẩn hay sao???!!! Vì một khi đã Phẩn nộ, đã hết sức bất bình hành vi cùng hung cực ác của Kẻ Sát Hại Nhân Mạng người khác, họ đã nhúng Tay vào Máu, tước Đoạt Mạng Sống của Người khác, thì vị Quan Tòa phải hành động khác họ: Nếu “Xử Tử Hình” người tội nhân ấy, thì không phải đã ‘Ra Tay’ giống y tội nhân đã làm rồi?! Thì chẳng khác nào một người cha thường hay rầy la phản đối kịch liệt người con chớ có “cờ bạc”, rượu chè, mất hết tư cách Con Người, mà người cha thì ngày nào cũng ‘Ghi Số Đề”, và hay được bạn bè mời đi “nhậu lai rai” giải sầu là sao? Thế thì có dạy răn được người con hay không?! Vậy thì, hóa ra “Chẳng có ai được phép, được quyền “Giết Chết” ai, mà chỉ có Quan Tòa, nhà lập pháp, và nhà lãnh đạo Nước MỚI CÓ QUYỀN “XỬ TỬ” người này người nọ thôi?! Luật Pháp đặt ra là để giữ gìn an ninh trật tự trong nước, là để giáo dục toàn dân, dù chức vị lớn cở nào thì cũng phải xử tội, nếu có tội, để ‘Làm Gương” mà không bỏ qua, không tha thứ Lỗi Tội. Đó cũng là bổn phận, là trách nhiệm và cũng là quyền lực của Nhà Lãnh đạo Nước, người quyết định cuối cùng ( là Vua, là Tổng Thống, là Chủ tịch Nước). Cho nên, ‘Nhà Cầm Quyền’ tức ‘Chánh phủ’, nói chung, nhà Lập Pháp và Quan tòa, nói riêng, ‘Không-Kết Án-Tử-Hình dù ai có ‘Trọng Tội’ nào, thì có nghĩa là Tha-Tội-Chết , mà Bắt-Tội-Sống, là “Giam Cầm lại”! Đó là một sự trừng phạt nặng nề, đau khổ nhứt! “Nhứt nhựt tại ‘Tù’, thiên thu tại ngoại!” THA CHẾT là THA-KHÔNG-GIẾT-CHẾT,chứ không phải THA-KHÔNG-BẮT-TỘI mà phải Xử TỘI đã làm! Và tùy theo cách gây tội mà ra hình phạt. Chỉ trừ trường họp “BỊ CÁO” không có LỖI TỘI , hoàn toàn do nguyên cáo. hay rủi ro thế nào đó, thì bị cáo mới được TRẮNG-ÁN.
10/Đã là NGƯỜI thì AI cũng có QUYỀN SỐNG! Và tất cả ai ai cũng đều CÓ-QUYỀN- TỰ-DO! Vì TỰ DO là cái QUYỀN THIÊNG LIÊNG CAO QUÝ NHẤT CỦA CON NGƯỜI ! Con Người mà MẤT ĐI QUYỀN TỰ DO rồi, tức là BỊ TƯỚC ĐOẠT “QUYỀN ĐƯỢC SỐNG” theo Ý Muốn của mỗi người, không-Được-Tự-Mình-Làm-Chủ-Lấy-Mình, Bị khống chế , bị câu thúc, bị bắt buộc nhất nhất phải làm theo lệnh, theo ý người khác, là-bị-tước-đoạt-QUYỀN-LÀM-NGƯỜI, thì còn gì đau đớn, thống khổ, bi ai, cực nhục cho bằng ! Thì Con Người đó chẳng khác gì một ‘CON VẬT”, thì không phải là đáng thương tâm lắm lắm sao?! Họ làm sao sống có Ý Nghĩa, Sống Đẹp, Sống Vui, Sống Hiên Ngang, Hùng Dũng ?! Không-một-ai-có-quyền-Tước-Đoạt ‘Quyền TỰ DO’ thiêng liêng cao quý của bất kỳ ai! Phải vậy không?! Không ai có quyền Bắt-Buộc-Ai-Phải-Sống-Theo-Ý-Của-Ai! Chỉ trừ khi nào:LÀ KẺ CÓ TỘI, Nặng, Nhẹ, tùy theo đó mà Giam Cầm, lâu hay mau! Huống hồ họ còn bị hành hạ khổ sở thế nào đó về thể xác cũng như tinh thần, thì há không phải là họ sẽ Sống-Đau-Thương, Thống-Khổ, Tũi-Nhục, Sống-Không-Bằng-Chết hay sao?! Cần gì phải “Giết Chết”! Nếu suy gẫm cho cùng, chính những kẻ sát nhân, hại người tàn ác thì chính những kẻ đó mới là những Con Người khốn khổ đáng thương. Vì họ còn quá Mê Muội nên mới Thấp Kém, mới Hung Ác. Để rồi, họ sẽ phải ‘Đền Tội’, phải chịu ‘ Quả Báo’ cho việc tàn ác họ đã làm! Và họ sẽ còn thê thảm hơn những người đã bị họ làm khổ! “Ác nhân Ác Báo” không tránh đâu cho khỏi, dù họ có được tha thứ cở nào, họ cũng không tránh được luật “NHÂN QUẢ”, nói nôm na là “Lưới Trời”. Người thế gian dù có xử phạt thế nào vị tất cân xứng với hình phạt của họ phải thọ lãnh!
11/ Có điều, tôi cứ lấy làm lạ và thấy thật đáng tiếc! Vì nghĩ, quý giới chức lãnh đạo quốc gia, đại diện nhân dân, cầm quyền, lèo lái con thuyền quốc gia, và các vị Chánh án, các quan tà, là người đại diện Công Lý, là những người có quý tướng, có địa vị cao sang quyền quý trong xã hội, được mọi người trọng vọng nể kính, thế mà chỉ vì những kẻ ‘Có Tội’ mà lại vô tình khiến tự bản thân bị lôi cuốn theo ‘Kẻ Ác Dữ’, và điềm nhiên tọa thị một cách vô tư vô lự ‘tự Chiêu Lấy Tội Ác’ khi bất bình mà lên ‘án Tử Hình’, buộc kẻ Có Tội Phải Chết (!) là vô tình tự chiêu lấy Sự Nghiệt Ngã cho chính bản thân mình! Một khi ‘Tuyên Án TỬ’, tức là ra lệnh ‘GIẾT CHẾT’, ‘BỨC TỬ’, để rồi phải mang TỘI BÁO thảm hại về sau, thì chẳng phải là đáng tiếc lắm sao?! Sao lại để phải đến nỗi như vậy?! Là người-Vô-Can, sao lại đi Gánh-Lấy-Cái-GÔNG-Vào-Cổ, ôm lấy nỗi đoạn trường cho tự thân về sau này?! Họ GIẾT NGƯỜI, quan tòa đứng ra xét xử, để đem lại ‘An ninh’, ‘Trật tự’ cho xã hội, đem lại sự Bình An cho người người, và hướng Con Người về với CHÂN THIỆN MỸ, mà sao Ra-cái-Lệnh “PHẢI GIẾT CHẾT”, là “Tước Đoạt Mạng Sống của Một Người”, chứ đâu phải bảo giết con heo, con gà, con chó, con dê…cũng có ‘Tội báo’ nữa mà! Vậy thì không phải chính’Quan Tòa’, hay Chủ Tịch Nước, hay Tổng Thống, bị cuốn hút theo kẻ-có-tội nên tỉnh bơ phạm đúng y theo vào cái ‘sự-Giết-Người’, và vô hình chung trở thành là “Người-Sát-Nhân” kế-tiếp theo sau kẻ ác dữ đó hay sao?! Không phải vậy sao?! Sao lại thế hỡi quý quan tòa, hỡi quý vị lãnh đạo quốc gia các nước?!
12/ Không ai phản đối các nhà lãnh đạo nước (Vua, Nữ hoàng, Thổng Thống, Chủ tịch Nước) , thế nhưng mà, theo như Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni đã từng khuyên nhủ chúng sinh rằng: “Trồng Dưa được Dưa. Trồng Đậu được Đậu” . Nếu làm điều lành, tốt, thiện hảo đem lại an vui sung sướng, hạnh phúc cho người khác, thì sẽ được hưởng PHƯỚC BÁO. Còn nếu trái lại, gieo rắc đau thương khổ não cho ai, thì rồi, dù vì bất kỳ lý do gì, một ngày nào đó, sẽ phải hứng lấy TAI HỌA, tức là phải chịu TỘI BÁO, phải ‘đền Tội’ đã gây tạo mà thôi! “Không nên “BẤT MUỘI NHÂN QUẢ!” Đó là LUẬT BÁO ỨNG, là LUẬT NHÂN QUẢ, là gieo ‘Nhân’ nào thì gặt ‘Quả’ đó! Có ai gieo hạt xoài Cát Chu mà lại gặt hái được trái Xoài Cát Hòa Lộc không?! Và một khi một hạt xoài, mít, xoài riêng …chi chi đó, gieo xuống rồi ( gieo ‘hạt’ là gieo‘NHÂN’ ) thì có bao giờ vài ngày hay vài tháng sau là thu hái được quả mít, trái xoài v.v…để ăn được liền không, mà không phải chờ đợi đủ ngày tháng, tùy loại, mới ra hoa, rồi mới kết trái , rồi lại phải chờ thời gian để trái già, chín, mới thu hoạch được sao ( hái ‘trái’ là được‘QUẢ’ )?! Cũng vậy, một khi làm việc Thiện Lành, hay điều Ác Dữ, thì cũng phải chờ một thời gian, tùy việc, phải hội đủ nhân duyên mới được thọ hưởng ‘Phước báo’ (việc Lương thiện ) đã làm, hay gặp khốn khổ thế nào đó (Tai ách, Hoạn họa) phải chịu ‘Tội Báo’ để đền lỗi tội đã làm! Nếu chưa thấy được thọ hưởng ‘Phước’ chi, hay chưa bị trừng phạt, bị ‘Họa, Tai’ chi, nên cho rằng là không có ‘Phước Báo’ hay ‘Tội Báo’ chi hết, nên không hãi sợ, nên cứ điềm nhiên tác ác túa xua, thì không phải là MÊ LẦM lắm sao?! “Trước khi làm việc gì thì phải nghĩ đến kết quả của nó”. Đức Phật đã dẫn dắt Con Người nên dùng lòng Từ Bi Nhân Thiện đối với nhau, để người người được Sung Sướng, An Vui. Ta đem sự sung sướng vui vẻ bình an đến cho người thì người cũng đối lại với ta như vậy, tức là ta cũng sẽ được An Lành, được HƯỞNG PHƯỚC! Làm trái ngược lại, chỉ gieo đau khổ, tạo nhiều nỗi đoạn trường cho ai thì sẽ bị ĐỀN TỘI đã gây tạo, phải KHỐN KHỔ, gặp lắm HỌA TAI, còn khổ hơn họ nhiều. “Gieo Gió thì gặt Bảo!” Như đức Chúa JÉSUS CHRIST đạo Công giáo, đã từng khuyên, từng dẫn dắt các ‘Con Chiên’, tín đồ của Đức CHÚA rằng: “Hãy tra gươm vào vỏ, Những kẻ ‘Dùng Gươm’ thì sẽ phải CHẾT ‘Vì Gươm’!”. Thế thì không phải Đức Chúa đã khuyên răn Con Người nên có lòng ‘Bác ái’ đối với nhau sao? Là ‘Không nên tàn sát nhau, giết hại nhau sao? Vì ‘Giết Người’ thì sẽ bị ‘ Người Giết’ lại! ĐỨC KHỔNG TỬ cũng đã khẳng định : “SÁT NHÂN GIẢ TỬ!”” Đạo TIN LÀNH, cũng là Đạo tôn thờ kính ngưỡng Đức CHÚA JÉSUS CHRIST. Đặc biệt đã cho thành lập “Thành Trú Ẩn”! Đấy là nơi dành cho những người phạm TỘI NẶNG như “GIẾT NGƯỜI”, thì phải mau mau chạy đến ẩn trú nơi ‘cái Thành’ đó, để khỏi-bị-GIẾT-CHẾT! Chả lẽ Đức Chúa Trời lại đi che chở, bảo vệ ‘kẻ Ác dữ’?! Thế nhưng, nơi đây có các vị mục sư hằng ngày chí thành giáo dục về Tâm Linh, khiến cho người tội phạm ý thức được TỘI LỖI của mình mà ĂN NĂN, mà thành tâm SÁM HỐI, SỮA ĐỔI, CHỪA BỎ những thói hư tật xấu, biết Kềm Chế lòng Tham Sân, chịu XẢ BỎ nỗi ai oán, mà dứt trừ sự hung ác v.v… và là để “CHỜ-GIỜ-PHÁN-XÉT”, khỏi nhọc công tìm kiếm truy bắt ! ,là để họ chờ đợi nhận lãnh hình phạt theo tội lỗi họ đã gây ra, chứ không phải là Đức Chúa bao che kẻ có tội,’THA TỘI’ họ!). Thành Trú Ẩn này có mục đích cao cả như vậy là do noi gương ‘Bác Ái’ cao cả của Đức CHÚA JÉSUS, là người vì lòng thương xót Con Người, muốn CỨU CHUỘC TỘI LỖI cho nhân gian nên đã dũng cảm nhận chịu cực hình “ĐÓNG ĐINH TRÊN THẬP TỰ GIÁ”, để phải CHẾT Đi SỐNG Lại bao phen! Và cuối cùng NGÀI đã được PHỤC SINH! Đó là kết quả của TÂM THÁNH THIỆN của Đức Chúa! Đức PHẬT Thích ca Mâu Ni, cùng Chư PHẬT Chư BỒ TÁT đã dẫn dắt chúng sinh hãy nên dùng lòng TỪ BI ban rải. “BI thể giới Lôi chấn”! Lòng TỪ BI (ban rải Tình THƯƠNG, KHÔNG HẬN THÙ ) có thể hóa giải mọi NGUY NAN! Cho nên nếu kính ngưỡng ĐỨC PHẬT, ĐỨCCHÚA… thì nên y giáo phụng hành, nên đem lòng TỪ BI, BÁC Ái đối xử với nhau, Không-Nên-Làm-Khổ-nhau, Tàn-Sát nhau!
“TỪ BI và BÁC ÁI” là sự mềm dẽo của Tình Thương, của sự Nhẫn Nại, của sự HIỂU BIẾT.
13/ Những người xấu ác, không thể làm được những điều Lành Thiện, tốt đẹp, cao quý là vì họ chưa Tiến hóa được cao, tâm linh họ còn mê muội, còn ấu trỉ, không phải sao ?! Ví như một đứa trẻ con còn ấu trỉ thể xác, mới lên 4, lên 5 tuổi. Nếu người lớn để món đồ chi trên cao, hơn vóc dáng đứa trẻ (như để trên bàn, trên kệ, trên đầu tủ) và bắt buộc đứa trẻ phải lấy cho kỳ được món đồ đó! Vậy xin hỏi đứa trẻ con ấy có vói lấy được món đồ ấy hay không, dù có nhón gót cở nào, một khi quá tầm-tay-vói của trẻ con?! Cũng thế, một người còn ấu trỉ tâm linh, thì họ còn u tối, còn thấp kém, nên còn hèn hạ, xấu ác, còn Tham Sân, còn gian xảo, quỷ quyệt, bất nhân, bất nghĩa thế nào đó v.v…tức là tâm họ còn ‘ấu trỉ’ nên còn ‘mê muội’, chưa thanh cao tốt đẹp được! Vì thế cho nên, họ rất cần phải được học hỏi, cần phải được rèn luyện, được un đúc, uốn nắn! Họ rất cần phải được ‘giáo dục’ để Tiến hóa lên, để trở nên ngày một tốt lành hơn; ‘Xả Bỏ’ Tâm Ác, ‘Phát’ Tâm Lành, thì họ mới được là người ngày càng thánh thiện, có nhân, có nghĩa, ít phạm Sai Trái, Sái Quấy, Lỗi Lầm, ít tạo Tội tạo Nghiệp Xấu, Ác, rổi sẽ dứt hẳn tác ác, mới làm được Người tốt đẹp, lương hảo, thanh cao. Những ai được Tiến Hóa cao hơn, ví như người đứng trên cao, kẻ xấu, ác phải ở dưới thấp! Vậy thì người đứng trên cao (tức người Tiền hóa hơn) có nên phun nước bọt xuống người đứng dưới thấp hơn , có nên khinh khi , ghét bỏ, tức giận, phẩn nộ, có nên nhục mạ, hành hạ, người đứng dưới thấp (kém Tiền hóa!) hay không, thì nói gì đến việc “BỨC TỬ” họ, “TƯỚC ĐOẠT MẠNG SỐNG” của họ?! Vậy có nên Từ Bỏ họ, Khử Trừ họ, Giết Chết họ không?! Một khi người đứng trên cao (đã Tiến hóa) mà phun nước bọt, tức khinh thị nhục mạ người đứng dưới thấp thì người đứng dưới thấp (hèn hạ, xấu xa, độc ác v.v..) sẽ phải lãnh đủ sự nhục nhã, xấu xa, họ phải gục mặt tủi hổ, ai cũng chê bai khinh ngạo! Làm sao né tránh cho được?! Và trái lại, nếu người đứng ở dưới thấp hơn mà ngửa mặt phun nước bọt lên người đứng ở trên cao hơn (tức là người có nhân, có đức), thì người càng đứng trên cao chừng nào, tức phẩm hạnh càng lớn, càng cao, thì liệu người đứng dưới thấp có phun trúng tới được người đứng trên cao hơn không ? Và ‘nước bọt ấy’ sẽ phải rơi xuống ngay từ chỗ nó đã xuất phát, phải vậy không?! Tức lả cuối cùng thì kẻ xấu xa, tồi tệ. bạc ác chừng nào thì chính họ sẽ phải lãnh đủ sự nhục nhả, sẽ phải bị khinh chê nhiều chừng ấy. Họ sẽ phải KHỐN KHỔ thôi, theo luật ‘NHÂN QUẢ’. Đó chính là ‘LUẬT BÙ TRỪ’ (‘La Loi de Compensation’) đấy mà thôi!!! Vậy thì, chẳng phải là:Làm điều gì thì sẽ nhận y chang điều đó hay sao, dù THIỆN dù ÁC? Vậy thì, nếu Luật Người Không-Xử thì Luật Hóa Công trong Tạo vật, cũng sẽ xử! “THIÊN VÕNG KHÔI KHÔI, SƠ NHI BẤT LẬU!” Lưới Người có thể Thoát được, nhưng Lưới Trời lồng lộng, không một ai tránh né, thoát đi đâu cho khỏi được! Bao giờ một vật chi, như cục đá, nếu ném vào khoảng trống không thì nó sẽ mất hút, không còn thấy tâm dạng. Còn nếu ném vào vật gì, người nào, ở ngay trước mặt, trúng vào đó, lực càng mạnh, thì nó sẽ ‘Dội Trở Lại’ không sai, và càng mãnh liệt hơn, từ chỗ nó đã xuất phát !
Cho nên, đối với Những KẺ CÓ LỖI, CÓ TỘI, thì nên làm thế nào để họ thấy, biết , hiểu là họ CÓ LỖI, CÓ TỘI!
Không phải là để NHỤC MẠ, PHỈ BÁNG, HÀNH HẠ HỌ , mà là để DẪN DẮT, để giúp họ Ý Thức “LỖI TỘI chỉ đem lại bao ĐAU THƯƠNG THỐNG KHỔ, nhứt là cho chính bản thân, hơn ai hết, khi GÂY ĐAU KHỔ CHO AI!
Một khi họ ý thức được rồi, thì họ sẽ tự động XẢ BỎ, ĐOẠN TRỪ LÀM VIỆC ÁC HẠI NGƯỜI, sẽ KHÔNG TÁI PHẠM nữa!
Vậy cần có biện pháp, phương cách tốt để hướng dẫn, giáo dục sao cho có hiệu quả! Nếu GIẾT CHẾT KẺ CÓ TỘI, mà không DẪN DẮT, KHÔNG CHỈ BÀY, KHÔNG CHO HỌ CÓ CƠ HỘI để cho họ THẤY, BIẾT, HIỂU, để HỌ nhận chân được rằng: những gị họ đã GÂY TẠO Cho Người Khác thì là chính họ sẽ PHẢI NHẬN, PHẢI RƯỚC LẤY, sẽ PHẢI LÃNH ĐỦ những gì họ đã làm, đã gây tạo! Và một khi giúp họ nhận chân được điều đó thì xin thưa rằng: Họ có còn DÁM LÀM VIỆC BẤT PHẢI, CÒN DÁM GÂY TỘI ÁC nữa không, nếu KHÔNG Giải Bày thấu đáo, KHÔNG DẪN DẮT được, và « Không Cho họ Có Cơ Hội » nhận chân “ Triết lý” ấy thì không phải là tàn nhẫn lắm sao, là vô tình lắm sao , là thiếu HIỂU BIẾT, là thiếu lòng TÙ BI THƯƠNG XÓT giữa CON NGƯỜI với CON NGƯỜI lắm lắm hay sao?!
14/ Đó là nói những người phạm tội trong mọi thành phần trong một quốc gia và quốc tế.
Còn đặc biệt với người lãnh đạo một nước, nếu là Tổng Thống, hay Chủ Tịch Nước, hay vua chúa, nếu có PHẠM TỘI TRỌNG gì, thì trong lúc họ còn tại vị, nếu có quyết định chi mà nhân dân thấy có nguy hại cho người dân, cho đất nước thì, tại sao người người trong cả nước không cùng đứng lên, họp lại dũng cảm can gián, khuyên ngăn chí tình, lại cuối đầu tuân phục lệnh ban ra ?! Rồi đợi đến khi họ mãn nhiệm kỳ, hết Chức hết Quyền, người dân mới nổi lên phản đối, xử TÀN NHẪN, TỆ BẠC, ĐỘC ÁC, công khai Luận Tội Nặng và KẾT ÁN TỬ HÌNH, dù dưới bất kỳ hình thức nào!!! Họ nếu Có TỘI, thì người DÂN KHÔNG CÓ LỖI sao?! Dù họ đã mãn nhiệm kỳ, trở lại làm người bình thường trong Nước, nhưng đó cũng là một người đã từng lãnh đạo nước bao nhiêu năm, không có công lao gì với quốc gia dân tộc hay sao mà lại nở đem ra XỬ TỬ một người đã từng được Tiền-Hô-Hậu-Ủng, bao người phải kính cẩn nghiêng mình chào đón, rước đưa rần rộ, uy nghiêm, hiển hách ?!!! Nếu không-khép-chặt-cửa-lòng, mở rộng lòng Từ Bi Bác Ái Nhân Thiện cho những người phạm tội một ‘Con Đường Sống’ để họ TỈNH THỨC, để ĂN NĂN, HỐI NGỘ, SÁM HỐI LỖI TỘI thì không đáng thương tâm lắm sao! Đối với loài động vật hạ đẳng như con Khỉ, con Ngựa, con kiki, con ột ệt, con Trâu, con Cọp, con Beo, con Voi v.v…mà còn huấn luyện được thay, thì với Con Người có Trái Tim Biết Cảm, có Khối Ốc Biết Nghĩ Suy, thì làm sao Không-Cảm-Hóa được, không rèn luyện, giáo dục được sao?! Và đối với người bình dân còn nên như vậy, huồng hồ từng là một vị nguyên thủ quốc gia của cả nước ?! Nếu có TRỌNG TỘI chi Không-Thể-Tha-Thứ được, thì sao không cho LƯU ĐÀI NGƯỜI ĐI BIỆT XỨ, mà CHẲNG NÊN KHỬ TRỪ, DỨT TUYỆT MẠNG SỐNG để họ có-thì-giờ-rộng-rãi BÌNH TÂM Nghĩ Suy mọi lẽ?! Chắc chắn họ sẽ Ân Hận sâu sắc và sẽ SÁM HỐI !
15/Một điều nữa, nếu cho rằng là ‘tâm linh kẻ Xấu Ác còn Thấp Kém’, cũng không hẳn có nghĩa là họ đều là những Con Người ngu dốt, khờ khạo, hạ tiện, u tối, mà có thể đó là những người cực kỳ thông minh, tài giỏi, cũng chưa biết chừng! Nếu họ Tỉnh Thức ‘quay đầu lại’, quyết chịu dứt trừ xả bỏ tập nhiễm xấu ác độc dữ, tham lam, tàn nhẫn v.v…, thì họ lại là những người rất đặc sắc, tuyệt vời, là người đắc dụng, xã hội rất nhờ cậy! Có giống cây ăn trái, hay bông hoa chi đó, hể đó là một loại cây trái quý hiếm, rất ngon , rất bổ dưỡng, hay là một loại bông hoa vừa đẹp vừa thơm kỳ lạ thì thường rất khó trồng, hay có nhiều sâu bọ! Nếu ‘nhà làm vườn’ biết kiên nhẫn, chịu khó chăm sóc, cắt tỉa lá sâu cành hư, bón phân tưới nước cẩn thận mà-không-nhổ-quăng-vứt-đi, thì rồi sẽ gặt hái được những trái thơm ngon, những đóa hoa tươi đẹp, rất quý hiếm ! Con Người cũng vậy. Không ai là người đáng-phải-BỎ-ĐI, đáng phải Giết, phải Chết! Đến như sạn, sỏi, cát, đá, cây cỏ nhỏ nhoi trên trái đất mà cũng còn hữu ích, huống hồ là một Con Người! Nếu biết cảm hóa, biết hướng dẫn người xấu ác dữ, biết cách ‘chuyển tâm họ’ để họ ‘quay đầu lại’, xả bỏ TÂM ÁC PHÁT TÂM LÀNH thì họ lại là những Người rất năng nổ, đa tài, đắc dụng. Họ dù cùng hung cực ác thế nào cũng có vài đức tính đáng ngưỡng mộ, có ích cho nhân quần, một khi được cảm hóa. “Sắt’ mà ‘được toi’ trong lò luyện với ‘lửa cao độ’ thì sẽ trở nên là “THÉP” rất đắc dụng! ‘Không ai hoàn toàn TỐT LÀNH, THIỆN HẢO!’ Cũng không ai hoàn toàn XẤU ÁC , BẤT NHÂN BẤT THIỆN’! Vậy thì có nên phát tâm TỪ BI, BÁC ÁI, THƯƠNG XÓT, những người còn thấp kém, xấu xa, hèn hạ, nham hiểm, độc dữ , cùng hung cực ác thế nào đó không??? “CÓ HIỂU BIẾT MỚI THƯƠNG YÊU”, MỚI XÓT XA! Đức PHẬT đã dạy khuyên như vậy.
Nói tóm lại, CÔNG LÝ thì phải Nghiêm Minh, Công Bằng, Vô Tư, nhưng cần phải có TỪ BI, BÁC ÁI kèm theo, thì mới tạo được AN VUI HẠNH PHÚC cho người người, giúp nhau TIẾN HÓA!
Một triết gia, trong quyển “Zen và Ý Thức về Ăn Chay’, tr. 220-222 đã than rằng “Kiếp nhân sinh sở dĩ lắm ĐAU THƯƠNG là vì CON NGƯỜI ‘THIẾU LÒNG TỪ BI’ đối với nhau: Con Người khép chặt cửa lòng. Cam tâm ‘nô lệ’ cho SI, THAM, SÂN, ÁI (ái dục và Chấp trước), kiếm đủ cớ để chia rẻ nhau, lửa bịp nhau, lung lạc nhau, ngược đãi nhau, khống chế nhau, hận thù nhau, tranh đoạt nhau, tàn hại nhau, gieo rắc biết bao đau thương thống khổ cho nhau! Nào hay tự mình là người Khổ Trước, trên hết và nhiều hơn hết.” Ni sư AYYA KHÉMA Ấn Độ cũng nhận xét chí lý rằng:” Tất cả chúng tađều là KHÁCH trên trái đất này! Không ai sở hữu được thứ gì, dù là những gì thân, yêu, quý, nhất của ta!” Đức ĐẠT LAI LẠT MA Tây Tạng đã than thở và có ý khuyên răn, nhắn nhủ người đời rằng: “Chào Đời hai bàn tay trắng! “Lìa Đời trắng hai bàn tay! “Sao mãi nhặt cho đầy? “Túi Đời như Mây bay?!” Vậy thì tại sao Con Người không ý thức điều chí lý ấy để HIỂU BIẾT, để kềm chế thất tình lục dục, để cảm thông nhau, để cố gắng ban rải TÌNH THƯƠNG cho nhau, để rồi tha thứ cho nhau, xóa bỏ tất cả ‘oan trái’, ‘hận thù’, không ai làm ‘Đao Phủ’ của ai nữa, thì lo gì khi chết đi phải sa ‘ĐỊA NGỤC’, khi chinh Con Người đã tạo lấy biết bao cảnh Địa Ngục thê thảm nơi trần gian này rồi! Rất nhiều người đã vô tình đóng vai những kẻ ‘Đầu Trâu, Mặt Ngựa’ tay-thước-tay-đao, và biến nhau thành những kẻ “Tội Đồ”, những kẻ “Bị lưu Đày” thê lương, thống khổ?!
Hỡi quý giới chức Lãnh đạo các Nước, hỡi các nhà Lập pháp, hỡi quý vị quan tòa nước VIỆT NAM và trên toàn thế giới, hãy suy gẫm lại xem:“CÓ NÊN LÊN ÁN TỬ HÌNH NHỮNG TRỌNG TỘI KHÔNG???”, dù là Trọng Tội gì, dưới bất kỳ hình thức nào ???
Và các vị lãnh đạo Nước nếu có phạm lỗi chi nặng, thay vi LUẬN TỘI và Lên ÁN XỬ TỬ HÌNH thì người dân có nên chỉ cho « LƯU ĐÀY ĐI BIỆT XỨ », THA TỘI CHẾT mà KHÔNG THA TỘI SỐNG vậy?! CÓ ĐƯỢC KHÔNG???
16/ Và sau đây, xin lạm bàn thêm về vấn đề ‘HẠN CHẾ SINH SẢN’ để bảo vệ SỨC KHỎE CHO NGƯỜI MẸ, là bảo vệ Hạnh Phúc Gia Đình, tức bảo vệ An Vui, Cường Thịnh cho xã hội, cho quốc gia! Nếu-Sanh-Con-Quá-Nhiều thì Nuôi Dạy Cực Khổ và Khó Chu Toàn Cho Tất Cả Các Con, nhất là các trẻ sanh sau chót! Và gây khổ nhọc, thương đau nhất cho người “LÀM MẸ”, người phụ nữ. Nhưng, thay vi Chỉ-Sanh “HAI-CON” mà thôi, thì CÓ-NÊN-CHO-SANH “BA-CON”??? Vì rằng:
1/ Tài nguyên thiên nhiên tối yếu trong vũ trụ là có BA: THIÊN–ĐỊA–NHÂN. Đó là “TAM TÀI”:Trên là TRỜI, Dười là ĐẤT, ở giữa là CON NGƯỜI! TRỜI CHE TA, ĐẤT CHỞ TA. Có BẦU TRỜI CON NGƯỜI mới có Không khí để thở để Sống Còn, có ánh sáng mặt trời, mặt trăng, các vì tinh tú, Con Người mới có sinh khí để Sinh Tồn.
Và CÓ ĐẤT thì CON NGƯỜI mới có nơi ăn chốn ở, mới tạo dựng được nhà cửa để cư trú. CÓ ĐẤT mới trồng trọt, mới có được ruộng vườn, cây trái, hoa mầu; mới có sông, hồ, ao, rạch ; mới có núi đồi, rừng cây, biển cả; mới có các loài động vật, thực vật! Thì, CON NGUÒI mới có gạo, có thức ăn , mới có muông thú v.v.. thì CON NGƯỜI MỚI CÓ THỂ SINH TỒN được! 2/ Đứa Con Thứ Ba thường lại là‘Kinh Nghiệm’ của 2 người ‘Cha và Mẹ’ (Nam-Nữ) chung sống với nhau, có kinh nghiệm trong sự hòa hợp thể xác và tinh thần, về đời sống kinh tế, lịch lãm hơn, vững chải hơn, thoải mái, nhẹ nhàng hơn, về vật chất cũng như tinh thần. Và có sự thương yêu quí mến, trân trọng nhau, hạnh phúc bên nhau hơn, nên khi bào thai được kết tụ sẽ được hưởng nhiều lợi lạc về nhiều phương diện hơn hai lần đầu. Cho nên, các vĩ nhân, những thiên tài, những người con ưu tú về tài đức, thì có thể thường thấy xuất hiện ở người con thứ 3e! Phải vậy chăng? Vậy, “NẾU CẢN” ‘KHÔNG-CHO-SINH-ĐỨA-CON-THỨ-BA’ thì gia đình cũng như xã hội, quốc gia, Đất Nước sẽ Mất-Đi-Biết-Bao-Nhân-Tài, có thể đó là nhà bác học, là bác sĩ, lương y đại tài, là nhạc sĩ, văn sĩ, thi sĩ, hiền triết nổi tiếng, là vĩ nhân, cũng chưa biết chừng v.v… Đó là những Con Người Ưu Tú! 3/a- Vả lại, có thể nói không quá đáng chăng: Nếu không-cho-sanh-đứa-Con-Thứ 3e thì, nếu lở đã kết thành Bào Thai, dù chưa tượng hình hay đã thành hình, người Cha và người Mẹ vì Sợ-Phạm-Luật sẽ bị phạt, nên phải uống thuốc PHÁ-THAI, hay dùng phẩu thuật thì, chẳng khác nào như là XỬ-TỬ-một-Người-đang-còn-trong-Bụng-Mẹ vậy !!! Trẻ đó có TỘI gì mà phải
BỊ XỬ TỬ ?!
3/b- Hoặc, Để-Ngừa ĐẬU THAI, thì người đàn bà Phải-Uống-Thuốc-Ngừa-Thai, RẤT -RẤT-NGUY BIẾN! Đó là cả một Tai-Họa! Vì, Nếu Rủi Đậu Thai thì chắc chắn Đứa-Trẻ-Sanh-ra-Thường-Bị-Dị-TẬT, đủ mọi loại; hoăc Trí Suất IQ RẤT-THẤP-KÉM (!), có khi chẳng khác nào một-loài-động-vật-hạ-đẳng, chỉ biết ĂN UỐNG NGỦ mà thôi ! Ngoài ra không biết sinh hoạt chi hết, ngay như tắm rửa, mặc áo quần, cầm đủa muỗng v.v..cũng không biết làm, có người lại không thể nói năng được, không biết thương yêu giận ghét v.v…thì làm-sao-Làm-Một-Con-Người để Tiến Hóa lên?!!! Đó là một CON NGƯỜI BẤT HẠNH, và là gánh nặng cho gia đình và xã hội!!!
3/c- Hoặc, Nếu đặt-Vòng-Xoắn để TRÁNH ĐẬU THAI’ thì, đó là một vật bằng kim loại, đặt vào bộ phận sinh dục người đàn bà! Đặt vào trong mình lâu ngày có thể sanh bệnh KHÓ-TRỊ (cancer) thì đáng thương biết bao! Một khi người đàn bà trong gia đình BỆNH HOẠN thi biết bao vấn đề bi thảm sẽ đến với gia đình đó!
3/d- Nếu theo luật ÂM DƯƠNG thì ‘HAI’ là ĐÚNG! Nhưng trong vũ trụ có Tài Nguyên Thiên Nhiên là “TAM TÀI”, là 3 BẢO BỐI RẤT QUÝ, thì thiếu mất một rồi vậy!!! Nếu chỉ có BẦU TRỜI và TRÁI ĐẤT mà Không-Có-CON-NGƯỜI, thì đó chỉ là tình trạng sơ khai thuở Tạo-Thiên-Lập-Địa mà thôi!!! Vậy thì “Chẳng-nên-chỉ-cho-sanh-Hai-Trẻ” mà là “NÊN-CHO-SANH “ĐỨA-CON-THỨ-BA”, phải vậy không???!!! Vì đức HIẾU SINH xin có đôi lời trăn trở, xin quý vị Nguyên thủ quốc gia và các Nhà Lập pháp , trong nước và trên thế giới suy gẫm minh triết.
23/02/2020 GIÁC ĐẠO-LÊ THỊ NGUYỆT ÁNH Một Cựu Giáo Chức VĨNH LONG (Cựu Chuyên viên Nghiên cứu Giáo Dục SAIGON trước 1975)