SƯƠNG LAM Sưu Tầm: CHUYỆN BỐN PHƯƠNG

LỜI NHẮN GỬI TỪ MỘT NGƯỜI BẠN

Một tiếng gõ cửa lớn vang lên. Cậu bé ra mở cửa. Một người đàn ông lạ mặt xuất hiện trong một bộ quần áo nhàu nát. Anh ta cười, trên tay mang một chiếc giỏ đầy thức ăn cho ngày lễ tạ ơn.

Cả gia đình rất đỗi ngạc nhiên. Người đàn ông nói: “Món quà này từ một người biết các bạn đang cần và mong muốn các bạn hiểu rằng các bạn được quan tâm và yêu mến”. Lúc đầu ông bố không muốn nhận, nhưng người đàn ông nói: “Tôi chỉ là người mang đến hộ”. Và anh ta đặt chiếc giỏ vào tay cậu bé đang đứng gần cửa rồi quay đi.

Vào giây phút đó, cuộc đời của cậu bé đã thay đổi vĩnh viễn. Qua hành động đơn giản của lòng tốt đó cậu bé hiểu rằng có nhiều người – kể cả “người không quen biết” – thật sự quan tâm. Cậu cảm thấy biết ơn vô hạn và hứa với lòng mình rằng một ngày nào đó cậu sẹ tặng những người khác bằng cách tương tự. Vào năm 18 tuổi, chàng trai trẻ bắt đầu thực hiện lời hứa. Với thu nhập ít ỏi của mình, anh chạy đi mua thức ăn, rau quả và bánh kẹo, không
phải cho bản thân mà cho hai gia đình nghèo mà anh biết họ rất cần. Anh lái xe đi tặng những giỏ thức ăn trong bộ quần áo cũ như thể anh là người giao hàng. Khi anh đến căn nhà dột nát đầu tiên, anh gặp một người phụ nữ nhìn anh đầy vẻ nghi ngờ. Cô ta có sáu đứa con.

Chàng trai trẻ nói: “Tôi mang hộ những thứ này đến cho bà”. Anh mang ra những giỏ thức ăn và bánh kẹo. Người phụ nữ sửng sốt. Còn lũ trẻ thì reo lên sung sướng. Bà mẹ trẻ ôm lấy chàng trai và hôn anh ta. Cô ta lắp bắp: “Anh đúng là món quà của Thượng đế. Thượng đế đã phái đến!”.

“Không, không-Chàng trai nói-Tôi chỉ là người giao hàng. Đây là món quà từ một người bạn”. Anh chìa cho người phụ nữ một mẫu giấy trên đó viết: “Đây là một lời nhắn gửi từ một người bạn. Bạn và gia đình bạn xứng đáng có nó. Hãy biết rằng bạn được yêu thương. Và một ngày nào đó, nếu bạn có cơ hội, hãy làm điều tương tự đối với những người khác”.

Chàng trai trẻ tiếp tục mang những giỏ thức ăn cho nhiều người khác. Anh cảm thấy vui sướng và tràn đầy thương yêu. Mỗi lần anh quay ra từ một căn nhà, anh cảm thấy rất xúc động. Khi ngoái đầu nhìn lại, những gương mặt tươi cười của những người anh đã giúp đỡ, anh cảm thấy “Cái ngày khủng khiếp” trong quá khứ đã dẫn dắt anh đến một cuộc sống đầy ý nghĩa.

Chắc các bạn cũng muốn biết chàng trai trẻ trong câu chuyện trên là ai và hiện có đang tiếp tục thực hiện lời hứa của mình hay không. Chàng trai trẻ đó chính là Anthony Robbin, hiện là người sáng lập và chủ tịch của Anthony Robbin Companies, một công ty nổi tiếng trong lãnh vực tư vấn phát triển tài năng. Robins đã tư vấn về phát triển tài năng cho rất nhiều lãnh đạo cấp cao, cho rất nhiều công ty như IBM, AT&T, American Express, McDonnell-Douglas và US Army cũng như nhiều câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp Los Angeles Kings và nhiều vận động viên đoạt huy chương vàng Olympic.

Với ước nguyện của mình, anh luôn luôn dành nhiều thời gian, công sức và tiền bạc để giúp đỡ rất nhiều người vượt qua khó khăn và số phận khắc nghiệt. Năm 1991, anh thành lập tổ chức từ thiện Anthony Robbins để giúp những trẻ em khuyết tật, những người vô gia cư, những người già. Cho đến nay, với thu nhập hàng năm lên đến nhiều triệu USD, Anthony Robbins vẫn cùng những người thân trong gia đình và cả một đội ngũ đông đảo những người tình nguyện đi tặng những món quà cho hơn 10.000 gia đình trong 400 cộng đồng khác nhau ở Mỹ và Canada.

Anthony Robbins vẫn được biết đến với cái tên Tony Robbins. Sinh ngày 29 tháng 2 năm 1960 tại bang California của Hoa Kỳ. Ông là một tác giả, doanh nhân, nhà từ thiện và là một trong những nhà huấn luyện về thành công hàng đầu trên thế giới. Là người sáng tạo ra hệ thống phát triển cá nhân chuyên nghiệp số một ở mọi thời đại, Robbins đã được Accenture trao giải là “Top 50 Trí Tuệ Kinh doanh Trên Thế Giới”. Amerian Express bình chọn ông là một trong 6 nhà lãnh đạo kinh doanh hàng đầu thế giới và International Chamber of Commerce chọn ông là “Top 10 người xuất sắc nhất thế giới”. Robbins là một trong 6 chuyên gia tư vấn được yêu thích nhất theo khảo sát của American Express (chuyên gia huấn luyện chuyên nghiệp duy nhất).

Cuộc sống là một món quà, và tất cả chúng ta khi có khả năng phải nhớ rằng chúng ta có trách nhiệm cho lại những người khác. Hãy cùng nhau giúp những người kém may mắn hơn có những gì tốt hơn trong cuộc sống.

Đó chính là “Lời nhắn gởi từ một người bạn”.

Ảnh trên:

Anthony Robbins vẫn được biết đến với cái tên Tony Robbins. Sinh ngày 29 tháng 2 năm 1960 tại bang California của Hoa Kỳ.

———-

#Câu chuyện bốn phương 




PHẠM PHAN LANG: Thầy Tư. Tác Phẩm Việt Ngữ và Anh Ngữ

Thầy Tư

Vào đêm Giao Thừa Tết Âm Lịch năm 1952, khi tôi vừa tròn hai tuổi, tôi suýt chút nữa thì không qua khỏi. Dĩ nhiên, tôi không nhớ rõ lắm về chuyện đó, nhưng Mẹ đã kể đi kể lại nhiều lần đến mức tôi có cảm giác như mình đã chứng kiến tất cả.

Lúc đó, tôi bị bệnh sởi rất nặng. Các thầy thuốc Trung Hoa kê đủ loại thuốc, nhưng tình trạng của tôi chẳng cải thiện chút nào, càng ngày càng tệ hơn. Tuyệt vọng, ba mẹ tôi đành đưa tôi đi gặp các bác sĩ Tây y. Vị bác sĩ cuối cùng, vào đúng ngày trước Tết Nguyên Đán, khuyên ba mẹ tôi đưa tôi về nhà vì “không còn hy vọng gì nữa.” Ý của ông rõ ràng là tôi sắp chết.

Hồi đó, các nhà tang lễ chưa phổ biến, nên tục lệ là giữ thi hài ở nhà để người thân, bạn bè và hàng xóm đến viếng. Nhưng Tết là dịp mọi hoạt động phải ngừng lại trong sáu ngày, nên Ba phải vội vã lo sắm một cái hòm cho tôi trước khi các cửa hàng đóng cửa. Tệ hơn nữa, có lẽ không có gì xui xẻo hơn là có một người chết trong nhà ngay dịp Tết.

Tôi hầu như bất tỉnh và quá nhỏ để hiểu được chuyện gì đang xảy ra, nhưng rõ ràng là ba mẹ tôi đang đối diện với một tình huống kinh khủng, khi vừa phải lo cho tôi, vừa phải lo tránh đại họa xui xẻo trong dịp năm mới.

Và rồi, một phép màu đã bắt đầu…

Một người bạn của gia đình đến thăm. Người này nói với Ma rằng có một ông thầy pháp tên Thầy Tư sống ở một làng quê cách nhà khoảng mười dặm. Có thể ông ấy sẽ cứu được tôi, vì tiếng tăm của ông đã vang xa. Không chần chừ, Mẹ bọc tôi lại và ngay lập tức đưa tôi đến chỗ ông. Ba phải ở nhà lo cho hai anh trai tôi và làm lễ mời tổ tiên về ăn Tết trên bàn thờ.

Khi chúng tôi đến, đã khoảng 6 giờ tối đêm Giao Thừa. Sau khi khám cho tôi, Thầy Tư bắt đầu “trị liệu” ngay. Ông viết vài chữ Hán trên một tờ giấy trắng đặc biệt, đặt lên người tôi, rồi bắt đầu đọc kinh cầu nguyện để trừ tà ma đang ám tôi. Sau đó, ông đốt tờ giấy, bỏ tro vào nước mưa mà ông đã hứng sẵn và cho tôi uống. Nếu tôi còn tỉnh táo, chắc chắn tôi sẽ khóc thét lên vì sợ!

Tiếp theo, ông sai người giúp việc hái một nhánh cây dâu trong vườn. Với nhánh cây nhỏ đó, ông gõ nhẹ lên toàn bộ cơ thể tôi, như thể đánh đuổi con ma quỷ đang bám lấy tôi. Sau cùng, ông dùng một cây bút nhọn đặc biệt, chấm vào mực xăm và xăm một dấu chữ thập ngay giữa trán tôi.

Ông còn làm cho tôi một cái vòng cổ, dây làm bằng những sợi chỉ màu được xoắn chặt, và mặt vòng là một miếng vải vuông khoảng hai inch. Miếng vải thực ra là một chiếc túi nhỏ chứa “vật thiêng” bên trong để trừ tà. Tôi không bao giờ biết bên trong đó có gì vì nếu mở ra sẽ phá hủy nó. Thầy dặn Ma rằng tôi phải đeo vòng này suốt, trừ khi tắm, lúc đó phải để nó ở nơi sạch sẽ. Ông cũng khuyên không nên cho tôi đi dưới dây phơi quần áo, vì theo ông, đó là thứ dơ bẩn có thể chứa khăn vệ sinh của phụ nữ. Thầy còn cảnh báo rằng dấu thập trên trán tôi phải được giữ mãi mãi, không được xóa, vì làm vậy có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Sau tất cả, Thầy bảo Mẹ đưa tôi về. Vì không thấy có dấu hiệu thay đổi nào nên Mẹ do dự, nhưng Thầy trấn an: “Đừng lo, cô bé sẽ ổn thôi.” Mẹ vẫn không tin, nài nỉ được ở lại đến khi tôi tỉnh dậy, nhưng Thầy nói: “Tôi chắc chắn cô bé sẽ khỏi. Nếu không, nếu cô bé chết, bà cứ việc mang xác đến quăng giữa nhà tôi vào đúng ngày Tết.” Nghe đến thế, Mẹ chẳng còn làm gì được ngoài việc mang tôi về và chờ đợi.

Và vào đúng nửa đêm Giao Thừa, tôi tỉnh dậy, ngồi dậy, đứng lên, cười tươi như thể chưa từng bị bệnh. Ba mẹ tôi, cả gia đình và hàng xóm đều kinh ngạc và vui mừng. Sáng sớm hôm sau, Mẹ quyết định đưa tôi trở lại nhà Thầy để cảm ơn. Mẹ kể rằng tôi lúc đó nói khá rõ ràng dù mới hai tuổi, và dù chẳng biết Thầy đã làm gì, khi vừa thấy ông, tôi chạy đến và nói: “Thầy của con!”

Từ đó trở đi, năm nào Mẹ cũng đưa tôi đến gặp Thầy Tư vào dịp Tết để lấy vòng cổ thay thế. Điều này kéo dài cho đến khi tôi kết hôn, chín năm sau khi nhận chiếc vòng cuối cùng. Sau khi tôi không còn đeo vòng chỉ màu, Mẹ tặng tôi sợi dây chuyền vàng có mặt Quan Âm bằng ngọc, mà tôi đeo trong nhiều năm cho đến khi bị mất khi trốn khỏi quê hương vào ngày 29/4/1975 sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản.

Những chuyến đi thăm Thầy Tư luôn đầy ắp tiếng cười và niềm vui. Tôi được tha hồ chạy nhảy trong khu vườn rộng lớn, leo trèo cây xoài, cây ổi, chơi đùa với lũ trẻ khác, mà nhiều đứa cũng từng được Thầy cứu sống. Nhà Thầy lúc nào cũng có đầy đồ ăn ngon, quà biếu từ những người mẹ biết ơn như Mẹ.

Dĩ nhiên, tôi ghét cái vòng cổ và hình xăm trên trán mà Thầy đã làm cho tôi. Chúng xấu xí và khiến tôi khác biệt, đến mức bạn bè thường trêu chọc. Đến giờ, tôi vẫn còn giữ hình xăm đó—dấu ấn của sự sống. Hồi nhỏ, tôi thường để mái che đi, còn giờ thì dùng phấn che lại, nhưng dấu đó vẫn sẽ luôn ở đó.

Thật không may, Mẹ không hoàn toàn từ bỏ các thầy thuốc Bấc. Họ có thể chế ra những loại thuốc nước khó uống nhất trên đời. Mỗi khi tôi có triệu chứng bệnh, Mẹ lại vội vã đun sẵn những thứ thuốc Bắc kinh khủng đó. Dù tôi có chống cự thế nào, Ba và các anh trai thường phải giữ tay chân tôi để Mẹ đổ thuốc vào miệng. Đổi lại, tôi thường được dỗ dành bằng kẹo hoặc chuối để ngưng khóc.

Giờ đây, tôi hiểu tại sao Mẹ lại lo lắng cho sức khỏe của tôi đến vậy, mặc dù từ lúc hai tuổi, tôi ít khi bị bệnh. Tuy nhiên, nỗi ám ảnh về thuốc vẫn đeo bám tôi đến tận bây giờ, đặc biệt là thuốc nước. Tôi thà chịu đau đầu cả đêm còn hơn là uống thuốc, vì chỉ cần nhớ đến hương vị là đủ khiến tôi lạnh sống lưng.

Mẹ đã qua đời hơn 17 năm, và nỗi nhớ Mẹ trong tôi vẫn không nguôi ngoai.

Phạm Phan Lang
23/11/2020

==========

Tiếng Anh

The Shaman

On Lunar New Year’s Eve in 1952, at the tender age of two, I almost didn’t make it. Of course, I don’t remember much of the ordeal, but Me retold the story so many times that it feels like I was there for every moment.

I had a severe case of the measles. The Chinese doctors prescribed medicines, but nothing worked. In fact, I just got worse and worse. My desperate parents then turned to Western doctors. The last one, on the day before Lunar New Year, advised my parents to take me home because there was nothing more that could be done. To him, it was clear—I was going to die.

In those days, funeral parlors weren’t common, and the tradition was to keep the body at home so family, friends, and neighbors could come and pay their respects. But there was a catch: Lunar New Year celebrations shut everything down for six days. Ba had to rush to get a coffin for me before everything closed, as the mere thought of having a dead body in the house during the New Year was seen as the worst omen imaginable.

I was mostly comatose and blissfully unaware of all the chaos swirling around me. But my parents? They were facing the prospect of not only losing a child but also bringing catastrophic bad luck to the family during the most important holiday of the year.

Then, just as hope seemed to be fading, a miracle knocked at our door.

A family friend paid us a visit. This friend told Mẹ about a shaman, called Thầy Tư, who lived about ten miles away in a small country village. The Shaman had a reputation for healing people, and maybe, just maybe, he could help me. Without a second thought, Mẹ bundled me up and off we went, leaving Ba behind to tend to my two older brothers and perform the ritual to invite our ancestors to the family altar for the New Year.

When we arrived at the Shaman’s home, it was about 6 PM on Lunar New Year’s Eve. The moment he saw me, he sprang into action. He scribbled Chinese characters on a piece of special white paper, laid it over my body, and began chanting prayers to drive away the bad spirit that had possessed me. Then, as if things couldn’t get any stranger, he burned the paper, mixed the ashes into a cup of rainwater, and made me drink the concoction. If I’d been conscious, I probably would have protested!

Next, he fetched a small branch from a berry tree in his yard and gently “beat” my body with it, as if driving out whatever evil was clinging to me. He capped off the session by tattooing a cross in the middle of my forehead using a sharp, pen-like tool dipped in ink. And then, as a parting gift, he made me a necklace. It was a colorful, twisted thread necklace with a two-inch square pouch attached. The pouch contained “mystical” ingredients I wasn’t allowed to peek at, but it was designed to ward off evil spirits.

Mẹ was instructed that I had to wear the necklace at all times—except during baths—until I turned ten. Oh, and I wasn’t allowed to walk under clotheslines because, according to the Shaman, they were considered impure. The cross tattoo, he warned, must never be removed; doing so would risk my life.

Despite all this, there was no immediate change in my condition. Me was understandably skeptical and wanted to stay until something—anything—happened. But the Shaman, calm as ever, reassured her: “Don’t worry, she will be alright.” Seeing Me’s lingering doubt, he added, “If she isn’t cured and dies, feel free to bring her dead body back and throw it into the middle of my home on New Year’s Day.”

With no other option, Me brought me home and waited.

And just as the clock struck midnight, I woke up. Not only that—I sat up, stood up, smiled, and acted as if I hadn’t been sick a day in my life. It was a miracle! My parents, family, and neighbors were all amazed. The next morning, Me rushed me back to the Shaman, not out of fear this time, but to thank him. Me told me that even though I was only two years old, I ran up to him, hugged his legs, and declared, “You are my dear Master!”

For years after that, Me would take me to visit Thầy Tư every Lunar New Year to receive a replacement necklace. This continued until the year I got married, nine years after I had worn the last necklace. By then, I had outgrown the thread necklaces, and Me gave me a beautiful gold necklace with a jade Quan Yin pendant. Sadly, I lost that necklace when I fled my homeland on April 29, 1975, during the fall of South Vietnam.

I still remember those yearly visits fondly. While Me would chat with the Shaman, I’d run wild on his enormous property, climbing mango and guava trees, splashing in the stream, and playing with the other children—many of whom had also been “saved” by this mystical man. His house was always filled with delicious food, gifts from grateful mothers like Me.

Of course, I despised that ugly thread necklace and the cross tattoo on my forehead. They made me stand out in all the wrong ways, and my friends never missed an opportunity to tease me. Even today, the tattoo remains—my little life mark. The survivor’s badge. As a child, I’d try to hide it under my bangs. Now, I cover it with makeup, but it’s always there.

Sadly, Me never completely abandoned her faith in Chinese medicine. From that point on, at the first sign of illness, she would rush to prepare those awful, bitter concoctions. No matter how much I resisted, my father and brothers would hold me down while Me poured the revolting liquid down my throat. Usually, I got candies or bananas afterward to stop me from crying too much, but the trauma stuck.

I now understand why Me was so protective of my health, though fortunately, I rarely got sick again after that. However, her overzealousness gave me a lifelong phobia of taking liquid medicine. To this day, I’d rather endure a headache all night than take anything for it, simply because the taste brings back too many memories.

Me has been gone for over seventeen years now, and I miss her more than words can say.

Pham Phan Lang
11/23/2020




GIAO CHỈ SAN JOSE -Tiễn Biệt Người Góa Phụ Trung Kiên: Madame HỒ NGỌC CẨN

 – Giao Chỉ

Các Niên Trưởng Đồng Đế cho biết Bà Hồ Ngọc Cẩn , nhũ danh Nguyễn Thị Cảnh vừa ra đi sáng hôm nay 30 / O8/ 2024 tại Stevenson Ranch , Nam California Hoa Kỳ . Nguyện Cầu Linh Hồn Bà sớm về nước Trời hưởng Nhan Thánh Chúa và bình an trong chốn Thiên Đàng . Amen !
 
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn – Người vợ lính ở Thủ Đức
 
Mùa xuân năm 1959 . Họ đạo Thủ Đức có đám cưới nhà quê . Cô dâu Nguyễn Thị Cảnh mỗi tuần giúp lễ và công tác thiện nguyện cho nhà Thờ . Chú rể là anh Trung sĩ huấn luyện viên của trường bộ binh Thủ Đức .
 
Cha làm phép hôn phối . Họ Đạo tham dự và chúc mừng . Bên nhà gái theo đạo từ thuở xa xưa . Bên nhà trai cũng là gia đình Thiên Chúa Giáo . Cô gái quê ở Thủ Đức , 18 tuổi còn ở với mẹ . Cậu trai 20 tuổi xa nhà từ lâu . Cha cậu là Hạ sĩ quan , gửi con vào Thiếu sinh quân Gia Định từ lúc 13 tuổi . Khi trưởng thành , anh Thiếu sinh quân nhập ngũ . Đi lính năm 1956 . Mấy năm sau đeo lon Trung sĩ .
 
Quê anh ở Rạch Giá , làng Vĩnh Thanh Long , sau này là vùng Chương Thiện . Ngày đám cưới , ông già từ quê lên đại diện nhà trai . Đứng trước bàn thờ , Cha xứ hỏi rằng anh Quân nhân này có nhận cô gái làm vợ không . Chú rể đáp thưa có . Cha hỏi cô gái có nhận anh Trung sĩ này làm chồng , no đói có nhau , gian khổ có nhau ? Cô gái Thủ Đức vui mừng thưa có . Anh Trung sĩ Rạch Giá phục vụ trường bộ binh , đi lễ nhà thờ gặp cô gái xóm đạo Thủ Đức nên kết nghĩa vợ chồng . Cô gái thề trước nhà Chúa , có cả họ Đạo chứng kiến .
 
Cô đã giữ trọn đời làm vợ người lính . Từ vợ Trung sĩ trại gia binh cho đến phu nhân Đại tá trong dinh Tỉnh trưởng . Cô theo chồng đi khắp 4 phương suốt 16 năm chinh chiến , để rồi 30 tháng 4 năm 1975 trở thành vợ người tử tội .
 
Cô đem con trở về Thủ Đức lánh nạn chờ ngày chồng bị xử bắn . Dù thăng cấp , dù thắng hay bại , dù sống hay chết , chồng cô vẫn là người anh hùng . Cô mãi mãi vẫn là người vợ lính . Anh lính đầu đời chinh phu của cô , lúc lấy nhau đeo lon Trung sĩ và khi ra đi đeo lon Đại tá . Thủy chung cô vẫn sống đời vợ lính . Chồng của cô là Đại tá Hồ Ngọc Cẩn .
 
Hiện nay cô vợ lính gốc Thủ Đức , sau khi tìm đường vượt biên , đem con trai duy nhứt qua Bidong , Mã Lai rồi vào Mỹ sống ở Nam Cali . Cô may thuê , bán quán nuôi con . Con trai lập gia đình có 2 cháu . Người vợ lính năm xưa từ 1975 đến nay , ở vậy thờ chồng , đã trở thành bà nội ở chung một nhà với con cháu . Suốt đời vẫn nghèo , nghèo từ Trung sĩ mà nghèo lên Đại tá . Nghèo từ Thủ Đức mà nghèo qua Chương Thiện . Nghèo từ Việt Nam mà đem theo cái nghèo qua Mỹ . Bởi vì suốt đời chỉ là người vợ lính .
 
Một đời chinh chiến . Chuyện người chồng.
 
Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938 . Xuất thân Thiếu sinh quân Gia Định , rồi nhập ngũ và lên cấp Trung sĩ , huấn luyện viên vũ khí tại trường Bộ binh . Sau khi lập gia đình có 1 con thì anh Trung sĩ tìm cách tiến thân , xin vào học lớp Sĩ quan đặc biệt tại Đồng Đế . Từ anh sinh viên sĩ quan Đồng Đế 1960 cho đến 15 năm sau , Hồ Ngọc Cẩn trở thành Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Chương Thiện , hầu hết cấp bậc đều lên tại mặt trận . Ông đã từng mang mầu áo của Biệt động quân và các sư đoàn Bộ binh . Huy chương và chiến công nhiều vô kể .
 
Suốt một đời chinh chiến từ Trung đội trưởng lên đến Trung đoàn trưởng , Hồ ngọc Cẩn tung hoành khắp Hậu giang và Tiền giang . Năm 1972 ông Thiệu cho lệnh toàn thể sư đoàn 21 từ miền Tây lên tiếp tay cho quân đoàn III , giải tỏa An Lộc . Lại cho lệnh tăng cường thêm 1 Trung đoàn của Sư đoàn 9 . Tư lệnh quân khu , ông Trưởng ( Trung Tướng Ngô Quang Trưởng) nói với ông Lạc (Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc) sư đoàn 9 đưa 1 Trung đoàn nào coi cho được .
 
Trung tá Hồ ngọc Cẩn dẫn Trung đoàn 15 lên đường . Trung đoàn ông Cẩn phối hợp cùng nhẩy dù đánh dọc đường 13 tiến vào An Lộc . Anh Đại úy đại đội trưởng của Trung đoàn , suốt mấy tuần giằng co với địch trước phòng tuyến của Tướng Hưng , Tư lệnh An Lộc , nhưng chưa vào được . Lính hai bên chết đều chôn tại chỗ . Thiết vận xa M113 của ta còn phải lui lại phía sau . Chỉ có bộ binh của Trung đoàn 15 nằm chịu trận ở tiền tuyến . Anh sĩ quan kể lại, chợt thấy có một M113 của ta gầm gừ đi tới .
 
A , tay này ngon .
Chợt thấy một ông xếp từ thiết vận xa bước ra , phóng tới phòng tuyến của đại đội . Nhìn ra ông Trung đoàn trưởng Hồ Ngọc Cẩn . Ông quan sát trận địa rồi hô quân tiến vào . Cùng với tiền đạo của Nhẩy dù , Trung đoàn 15 bắt tay với lính phòng thủ An Lộc . Sau khi Bình Long trở thành Bình Long Anh Dũng , ông Thiệu hứa cho mỗi người lên 1 cấp .
 
Trung tá Hồ Ngọc Cẩn ngoài 30 tuổi đeo lon Đại tá , trở về trong vinh quang tại bản doanh Sa Đéc . Rồi ông được đưa về làm Tiểu khu trưởng Chương Thiện . Vùng đất này là sinh quán của ông ngày xưa . Cho đến 30 tháng 4-1975 Sài Gòn đã đầu hàng , nhưng Chương Thiện chưa nhận được lệnh Cần Thơ , nên Chương Thiện chưa chịu hàng .

 
Chiều 29 sang 30 tháng 4 , Tiểu khu trưởng vẫn còn bay trực thăng chỉ huy . Khi radio Sài Gòn tiếp vận về tin buông súng , các đơn vị bên ta rã ngũ . Lính tráng từ Tiểu khu và dinh Tỉnh trưởng tan hàng , Đại tá Tiểu khu trưởng Hồ Ngọc Cẩn bị lính cộng sản vây quanh khi còn ngồi trên xe Jeep với vũ khí , quân phục cấp bậc đầy đủ . Câu chuyện về giờ phút cuối cùng của người chồng , đã được người vợ kể lại cho chúng tôi . Thực là một kỷ niệm hết sức bi thảm .
 
Giây phút cuối của Chương Thiện,
 
Bà Cẩn với âm hưởng của miền quê Thủ Đức kể lại qua điện thoại . Cô Cảnh nói rằng suốt cuộc đời chưa ai hỏi thăm người thiếu phụ Thủ Đức về một thời để yêu và một thời để chết . Bà nói :
 
“ Kể lại cho bác rõ , những ngày cuối cùng nhà em vẫn hành quân . Đánh nhau ngay trong Tiểu khu . Anh Cẩn vẫn còn bay hành quân . Nhà bị pháo kích . Tuy gọi là dinh Tỉnh trưởng nhưng cũng chỉ là ngôi nhà thường . Chiều 30 tháng 4 mẹ con em theo các chú lính chạy ra ngoài . Đi lẫn vào dân . Ở Chương Thiện không ai biết em là vợ Tỉnh trưởng . Ai cũng tưởng là vợ lính . Từ xa ngó lại mẹ con em thấy anh Cẩn bị chúng bắt giải đi . Bà con kéo mẹ con em tìm đường chạy về Cần Thơ . Chú lính nói rằng bà không đem con chạy đi chúng nó bắt thì khổ . Em dẫn thằng con nhỏ chạy bộ . Mẹ con vừa đi vừa khóc . Hình ảnh cuối cùng thằng con hơn 10 tuổi nhìn thấy bố ngồi trên xe Jeep , Việt cộng cầm súng vây quanh . Bước xuống xe , anh không chống cự , không dùng dằng , không nói năng . Đưa mắt nhìn về phía dân ở xa , giơ tay phất nhẹ . Như một dấu hiệu mơ hồ cho vợ con . Chạy đi . Đó là hình ảnh cuối cùng đã gần 40 năm qua .
 
Từ đó đến nay mẹ con không bao giờ gặp lại . Thân nhân bên anh Cẩn , mẹ và các chị giữ không cho em và con trai ra mặt . Sợ bị bắt . Được tin anh ra tòa nhận án tử hình . Rồi tin anh bị xử bắn . Thời gian anh bị giam , gia đình bên anh có đi tiếp tế nhưng không thấy mặt . Chỉ giao tiếp tế cho công an rồi về . Hôm anh bị bắn ở sân vận động Cần Thơ , gia đình cũng không ai được báo tin riêng , nhưng tất cả dân Tây Đô đều biết . Mỗi nhà được loan báo gửi một người đi coi . Bà chị họ đi xem thằng em bị bắn . Chị kể lại là không khí im lặng . Từ xa , nhìn qua nước mắt và nín thở . Chị thấy chú Cẩn mặc quần áo thường dân tỏ ý không cần bịt mắt . Nhưng bọn cộng sản vẫn bịt mắt . Bác hỏi em , bà chị có kể lại rõ ràng ngày xử bắn 14 tháng 8 năm 1975 .
 
Mỗi lần nói đến là chị em lại khóc , nên cũng không có gì mà kể lại . Chúng bịt miệng , bịt mắt nên anh Cẩn đâu có nói năng gì . Suốt cuộc đời đi đánh nhau anh vẫn lầm lì như vậy . Vẫn lầm lì chịu bị bắt , không giơ tay đầu hàng , không khai báo , không nói năng gì cho đến chết . Anh làm Trung đội trưởng , Đại đội trưởng , Tiểu đoàn trưởng , Trung đoàn trưởng rồi đến Tiểu khu trưởng . Báo chí , anh em nói gì thì nói , anh Cẩn chả nói gì hết . Bác hỏi em là mồ mả ra sao . Em và con về nhà mẹ ở Thủ Đức . Gia đình không cho em ra mặt . Bà chị và mẹ anh Cẩn đi xin xác không được . Chúng đem chôn ở phía sau Trung tâm nhập ngũ Cần Thơ . Mấy năm sau mới xin được đem về Rạch Giá .
 
Rồi đến khi khu này bị giải tỏa , nên lại hỏa thiêu đem tro cốt về nhà ông chú bên Long Xuyên . Ngày nay , em nói để bác mừng là sau khi vượt biên qua Mỹ em đã đưa di hài anh Cẩn qua bên này . Anh Cẩn bây giờ cũng đoàn tụ bên Mỹ với gia đình . “
 
“ Cô đi năm nào ”, tôi hỏi bà Cẩn .
“ Mẹ con em ở Thủ Đức ba năm sau 1975 . Đến 1978 thì vượt biên qua Pulo Bidong . Ở trại 8 tháng thì bà con bảo trợ qua Mỹ . Qua bên này mình chả biết ai , không ai biết mình . Cũng như bao nhiêu thuyền nhơn , mẹ con ở với nhau . Em đi làm nghề may , rồi đi bán quán cho tiệm Mỹ . Bây giờ cháu trai duy nhứt của anh Cẩn đã có gia đình sinh được 2 con .”
 
Chuyện đời người vợ lính thời chinh chiến với kết thúc bi thảm và anh hùng , tôi nghe kể lại thấy lòng xót xa lắng đọng .Tôi bèn quay qua hỏi chị Cẩn sang đề tài khác . “ Nãy giờ nói toàn chuyện buồn , cô nhớ lại xem suốt đời từ đám cưới cho tới năm 1975 , cô có những kỷ niệm nào vui không .”
 
Bà Cẩn ngừng lại suy nghĩ .
“ Em thấy năm nào tháng nào cũng vậy thôi . Toàn lo việc nhà , nội trợ nuôi con . Anh Cẩn đi đâu thì mẹ con cũng đi theo . Từ Trại gia binh đến cư xá Sĩ quan . Chúng em không có nhà riêng , không có xe hơi , không có xe gắn máy . Từ Sa Đéc , Trung đoàn 15 qua đến Tiểu khu Chương Thiện , toàn là ở trại lính ”.
 
Tôi hỏi tiếp :
“ Cô có đi dự tiệc tùng , mừng lên lon , thăng cấp , dạ hội gì không ?”.
“ Không , em chả có đi đâu . Ở Chương Thiện em cũng không đi chợ . Dân chúng cũng không biết em là ai . Mua bán gì em về Cần Thơ , đông người , cũng chả ai biết em là ai . Em cũng không có nhà cửa nên cũng không mua sắm đồ đạc . Lương nhà binh cũng chẳng có là bao . Em cũng không ăn diện nên chẳng có nhiều quần áo .
 
Năm 1972 ở An Lộc về , anh Cẩn mang lon Đại tá , không biết nghĩ sao anh nói với em , vợ chồng chụp được một tấm hình kỷ niệm . Đây là tấm hình gần như duy nhứt . Xin bác dùng tấm hình này của nhà em mà để lên tấm bia lịch sử ”.
 
Tôi nói rằng , tấm hình của cô và anh Cẩn rõ ràng và đẹp lắm . Hoàng Mộng Thu có đưa cho tôi xem . Chúng tôi sẽ dùng hình này . Nhưng tôi vẫn gặng hỏi : “ Thế bao nhiêu lần anh thăng cấp cô có dự lễ gắn lon không ?”.
 
” Em đâu có biết . Chỉ thấy anh Cẩn đi về đeo lon mới rồi cười cười . Cũng có thể gọi là những giây phút hạnh phúc của đời nhà binh ”.
“ Thế cô chú ở Thủ Đức có khi nào đi chơi Vũng Tàu tắm biển không ?”.
Bà Cẩn thật thà nói rằng :
“ Khi anh Cẩn học ở Đồng Đế thì em và con có ra thăm Nha Trang nên thấy biển . Còn chưa bao giờ được đi với anh Cẩn ra Vũng Tàu . Sau này đến khi vượt biên thì mẹ con em mới thấy biển Vũng Tàu…”
 
Trong số một triệu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa , dường như Sĩ quan , anh nào cũng có 1 lần đi với vợ con hay người yêu trên bãi biển Vũng Tàu . Chỉ có hàng binh sĩ , chỉ những người lính là chưa có dịp . Hồ Ngọc Cẩn ở Rạch Giá suốt đời chưa đem vợ đi Vũng Tàu . Vì vậy chị Cẩn suốt đời vẫn chỉ là vợ lính .
 
Trong quân đội , dù là Tướng tá hay Sĩ quan , anh nào mà chả có thời làm lính . Sau đó mới làm quan . Chỉ riêng cô Nguyễn thị Cảnh , hiền thê Đại tá Hồ Ngọc Cẩn là người đóng vai vợ lính suốt đời . Những ngày vui nhất của chị là thời gian được làm vợ anh Trung sĩ hiền lành của trường bộ binh Thủ Đức .
Ngày đó đã xa rồi hơn nửa thế kỷ , ở bên kia địa cầu , trên ngọn đồi Tăng Nhơn Phú , có vợ chồng anh lính trẻ mỗi sáng Chúa nhựt cầm tay nhau để đi lễ nhà thờ .
 
Giao Chỉ 




CHÙM THƠ NHỚ CHỊ – CAO MỴ NHÂN

CHỊ TÔI – BUỒN     

CAO MỴ NHÂN

(Tặng Chị, tên giống tên tôi, khác dấu

trên chữ My : Chị Cao Mỹ Nhân)  

Trong một vòng ôm

Vô cùng thương nhớ

Chim gọi hoàng hôn

Mang vào quá khứ

*

Chị ơi, chị ơi

Mùa thu đang về

Lá bay đầy trời

Chị đừng đi nhél

*

Vòng ôm của em

Không ấm thân buồn

Chị bảo lạnh thêm

Giá buốt tâm hồn

*

Chị ngó hư vô

Những làn mây mờ

Vầng trăng bơ vơ

Thầm lặng mong chờ

*

Chị giơ tay chào

Ai đâu trước mặt

Chúa đợi trên cao

Đôi dòng nước mắt …

CAO MỴ NHÂN

  29 – 8 – 2024

-0-

CÔ ĐỘC HÀNH.    CAO MỴ NHÂN

A Di Đa  A Di Đa

Chị nằm đợi đi thật xa

Một mình trong khu Hospice

” …Near The End of Life…”

*

Chung cuộc hay là kết thúc

A Di Đa  A Di Đa

Hình như chị còn thao thức

Lời kinh tán Phật hoan ca

*

Niềm đau chập chờn, khủng khiếp

Nỗi buồn day dứt miên man

Cơn mê hoang liêu đồng thiếp

Chị khắp rời khỏi thế gian

*

Em không ở lại Hospice

Sợ lắm chị ơi cạn tình

Chị không có ai con cháu

Không ai mong chị hồi sinh

*

Bởi vì chị không…tất cả

Đã cuối hành trình cuộc đời

Lệ rơi …lệ rơi lã chã

Chị về cõi phúc xa khơi…

*

 CAO MỴ NHÂN

  • – 8 – 2024

-0-

NGƯỜI CHỜ.    CAO MỴ NHÂN

*

Người chờ ta gởi trái tim

Về xa tít tắp, nhận chìm yêu thương

Ta đang đi kiếm thiên đường

Giữ tim trong nỗi đoạn trường nhớ nhung

*

Người chờ ta chốn mông lung

Hào quang tình tự bập bùng lửa thiêng

Ta quên ta giữa cõi thiền

Cùng người, thổ lộ ưu phiền đã lâu

*

Người chờ ta ở muôn sau

Sao còn hẹn mãi bên nhau kiếp này

Người rằng vẫn mở vòng tay

Cho ta buông nhẹ thân gầy vào thơ

*

Chao ôi, năm tháng đợi chờ 

Cuộc tình như thể cơn mơ kéo dài

Ta đang mộng mị u hoài

Huyễn hư ma ảnh suốt đời bâng khuâng…

    CAO MỴ NHÂN

  31 – 8 – 2024




PHẠM PHAN LANG – English & Vietnamese. Buổi Trình Chiếu Phim My South Vietnam Của Nhà Văn, Đạo Diễn Chu Lynh: Vietnam Film Club, Westminster, Nam Cali, 1/9/2024

       Hôm Chủ Nhật vừa qua, 1/9/2024, PL đã đi dự Buổi Trình Chiếu Phim My South Vietnam được Vietnam Film Club tổ chức tại Lavender (OC Entertainment), Westminster, CA lúc 2 giiờ chiều.

       Trước buổi trình chiếu phim khoảng 2 tuần, BTC đã ra Thông Báo yêu cầu mọi người ngừng ghi danh tham dự vì sức chứa của nhà hàng Lavender  chỉ giới hạn không quá 400 người mà số người ghi danh trực tiếp với BTC lúc đó đã lên đến 400.

        Chương trình, điều khiển bởi các MCs Cao Minh Hưng, Thụy Vy và Thụy Lan, được bắt đầu khá đúng giờ với đầy kín đồng hương tham dự, có vài em trẻ tuổi vào sau chọn ngồi dưới đất gần khán đài.  Trong số những thượng khách  tham dự gồm có Đại Biểu Văn Phòng Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn, Dân Biểu Hạ Viện Tiểu Bang CA Tạ Đức Trí, Thị Trưởng Westminster Nguyễn Mạnh Chí, Nhạc Sĩ/GS Lê Văn Khoa và một số thân hào nhân sĩ khác…

        Chương trình được bắt đầu với Nghi Thức Chào Quốc Kỳ/Quốc Ca/Phút Mặc Niệm, các Dân Biểu Trao Bằng Tưởng Thưởng, Ns Lê Văn Khoa, Cô Thụy Vy  và nhà văn Phạm Gia Đại phát biểu cảm tưởng, Đạo diễn Chu Lynh Giới Thiệu phim My South Vietnam và sách Mảnh Da Vàng, phần Văn Nghệ do Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ trình diễn, cô Cao Xuân Thanh Ngọc phát biểu cảm tưởng về sách Mảnh Da Vàng, Giải Lao với thức ăn nhẹ, chiếu phim My South Vietnam và cuối cùng là phần Mạn Đàm và Chụp Hình Lưu Niệm.

        Phim My South Vietnam được thực hiện trong hai năm rưỡi gồm 12 tậ̣p, mỗi tập dài khoảng 30-50 phút nhưng trong buổi chiếu phim với thời gian hạn hẹp, phim được rút gọn khéo léo trong 66 phút, đủ để mọi người nhận thấy Vietnam Film Club đã tái hiện một cách chân thực những nổ lực xây dựng và phát triễn miền Nam Việt Nam trong khoảng 20 năm từ 1955 đến 1975.  Bộ phim không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật mà còn là một tài liệu lịch sử quý giá, một lời nhắc nhở sâu sắc cho thế hệ trẻ về những giá trị cao đẹp mà ông cha chúng ta đã giữ gìn và bảo vệ.

       PL đã xem phim My South Vietnam với tâm trạng đầy xúc động và tin rằng bộ phim này cũng đã chạm đến trái tim của mỗi người tham dự trong khán phòng vì nó gợi lại những ký ức và cảm xúc sâu kín về một thời kỳ đầy thử thách nhưng cũng rất tự hào của miền Nam Viêt Nam.

      Một lần nữa, PL chân thành cám ơn anh đạo diễn Chu Lynh và Vietnam Film Club đã dành trọn tâm huyết thực hiện bộ phim lịch sử giá trị này và mong rằng phim sẽ được đón nhận nồng nhiệt khắp nơi với tất cả tình cảm và sự trân trọng.

      Xin mời xem hình ảnh ghi lại  Buổi Trình Chiếu Phim My South Vietnam:

https://photos.app.goo.gl/mbMr7HbZ7yn8vqGo9

      Kính chúc sức khỏe và an vui.

Thân kính,

Pham Phan Lang

Last Sunday, September 1, 2024, I attended the screening of the film My South Vietnam, organized by the Vietnam Film Club at Lavender (OC Entertainment), Westminster, CA at 2:00 PM.

About two weeks before the screening, the organizers announced that they had stopped accepting registrations because the Lavender venue could accommodate no more than 400 people, and the number of direct registrations with the organizers had already reached that limit.

The program, managed by MCs Cao Minh Hung, Thuy Vy, and Thuy Lan, started almost on time with a full house of attendees, including some young people who arrived later and chose to sit on the floor near the stage. Among the distinguished guests were representatives from the Office of State Senator Janet Nguyen, California State Assemblyman Ta Duc Tri, Westminster Mayor Nguyen Manh Chi, musician and professor Le Van Khoa, and several other prominent figures.

The event began with the Flag Salute, National Anthem, and a Moment of Silence, followed by the presentation of awards by the Assemblymen. There were remarks from musician Le Van Khoa, Ms. Thuy Vy, and author Pham Gia Dai, as well as the introduction of the film My South Vietnam and the book Mảnh Da Vàng by director Chu Lynh. The artistic performance was delivered by the Tinh Nghe Si Club, and Ms. Cao Xuan Thanh Ngoc shared her thoughts on the book Mảnh Da Vàng. The program continued with a light meal break, the screening of My South Vietnam, and concluded with a discussion and photo session.

The film My South Vietnam, which was produced over two and a half years, consists of 12 episodes, each lasting about 30-50 minutes. However, due to time constraints, the film was skillfully condensed into 66 minutes for this screening, just enough for everyone to appreciate how the Vietnam Film Club vividly recreated the efforts to build and develop South Vietnam during the 20 years from 1955 to 1975. The film is not only a work of art but also a valuable historical document, a profound reminder to the younger generation of the noble values that our ancestors preserved and protected.

I watched My South Vietnam with a heart full of emotion and believe that the film touched the hearts of everyone present in the room, as it evoked deep memories and emotions about a challenging yet profoundly proud period in South Vietnam’s history.

Once again, I sincerely thank director Chu Lynh and the Vietnam Film Club for dedicating their efforts to creating this valuable historical film and hope that it will be warmly received everywhere with all the affection and respect it deserves.

Please take a look at the photos from the My South Vietnam film screening.

Link to photos: https://photos.app.goo.gl/mbMr7HbZ7yn8vqGo9

Wishing you good health and happiness.

Sincerely,

Pham Phan Lang

—————–

Bài viết thêm                                      Phim My South Vietnam

Phim My South Vietnam là bộ phim tài liệu đề cập đến những lãnh vực xã hội của của miền Nam trước 1975 cùng với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của Việt Nam Cộng Hòa.

Bộ phim gồm 12 tập, trong đó có 6 tập bên dưới đã được phổ biện trên YouTube.

1.  Part 1 – Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa

2.  Part 2 – Văn Hóa Giáo Dục VNCH

3.  Part 3 – Truyền Thông và Báo Chí VNCH

4.  Part 4 – Nền Y Tế  VNCH

5.  Part 5 – Phụ Nữ VNCH

6.  Part 6 – Nền Thể Thao VNCH

https://www.youtube.com/watch?v=lpNY5c2_8Ys&t=79s

     6 tập phim còn lại từ Part 7 – 12 sẽ được lần lượt phổ biến trên YT.  

    Xin chờ đón xem.

Trân trọng,

PPLang

Attachments area




Chùm thơ Minh Thúy

TIẾNG THỜI GIAN

(Ngũ Độ Thanh)

 Gió thổi màu thu ngập giữa đàng

Mây hồng khép lại dẫn mùa sang

Nhìn gương lặng lẽ đà khô héo

Điểm bóng trầm ngâm đã lụi tàn

Hạ ghé hoa bừng soi phải rã

Đông về tuyết phủ dõi rồi tan

Vòng xoay chuyển tiếp nào đâu lạ

Bởi vậy sầu rơi những lá vàng

                             Minh Thúy Thành Nội

 




Thú Coi Phim Thời Đi Học- Nguyễn Hoàng Quý

THÚ COI PHIM THỜI ĐI HỌC

Anh bạn tôi, nhà nghiên cứu Hán Nôm và các di tích cổ địa phương nơi anh sống như một nhà điền dã, đề nghị tôi viết một stt về các rạp chiếu phim (rạp ciné) tôi thường coi thời chúng tôi cùng học ở Huế. Thấy vui vui và tôi sẽ kể lại cho bạn nghe như chuyện đời xưa.

Tôi tiếp xúc với các rạp chiếu phim từ khi học ở Đà Lạt sau Mậu Thân 1968. Hồi đó, thành phố hoa này có 3 rạp: Ngọc Lan, Hòa Bình và Ngọc Hiệp. Không đi thường xuyên hàng tuần hay hai tuần như Huế sau này mà chỉ chọn rạp và phim đáng coi. Chọn rạp cũng giống như chọn nhà xuất bản mà mua sách thì ở Đà Lạt, rạp Ngọc Lan với anh em tôi là rạp “danh giá”, luôn chọn phim giá trị, rạp Hòa Bình chiếu phim phổ thông và rạp Ngọc Hiệp chuyên phim Tàu, phim Ấn Độ. Do vậy, tôi luôn mê Ngọc Lan và thường coi ở đó.

Ở Huế có 4 rạp: Hưng Đạo, Tân Tân, Châu Tinh và Z96. Ba rạp đầu cách chọn phim như nhau nhưng Hưng Đạo chỗ ngồi rộng rãi, đẹp và thoải mái hơn hai rạp kia, Z96 thì nghèo và phim… tệ! Tất nhiên, đây chỉ là nhận định chủ quan của tôi và bạn bè ngày ấy.

Ở Đà Nẵng, mỗi lần có dịp về, tôi thường coi ở rạp Kinh Đô trên đường Độc Lập gần Air Việt Nam; Trưng Vương trên đường Hùng Vương; chưa hề coi phim ở rạp Kim Châu (Độc Lập), Lido ở gần nhà lưu niệm cụ Phan Chu Trinh ngã năm và Tân Thanh (Chợ Cồn) bao giờ. Lý do cũng chỉ là chuyện các rạp họ chiếu phim gì. Các rạp chiếu phim trước 1975, ngoài áp phích (affiche) treo ngay ở trước rạp còn treo quảng cáo cho phim sắp chiếu ở các nơi đông người trong thành phố với chừng 5 – 10 bức rộng khoảng 60x100cm. Các bảng quảng cáo này do những họa sĩ chuyên nghiệp vẽ vội vàng với màu nước vì sẽ bỏ đi sau khi phim chiếu xong. Ngoài ra có những affiches lớn hơn do chính hãng phim in màu, có bức có hình tài tử cao bằng cả người thường đặt ngay gần phòng vé.

Tất cả các rạp, trước giờ chiếu (hoặc trước đó) thường phát cho khán giả tờ chương trình, giới thiệu tài tử và tóm tắt truyện phim thường gọi là pồ gam (programme). Tôi thích giữ lại những tờ này để khi nhớ đến tên phim, có cách nhớ nội dung nhưng qua thời gian, di chuyển nơi ở và chiến tranh loạn lạc nên mất mát nhiều, chỉ còn giữ lại một ít. Vừa rồi, vợ anh bạn nhắn tin xin vài tờ để cho con trai là một Kiến trúc sư biết. Tôi tìm ngay và chụp hình ít tấm gửi cho bạn. Tôi cũng hẹn nếu có địa chỉ, tôi sẽ gửi tặng cháu vài tờ. Nghe rằng “cháu là tip người hoài cổ”. Có lẽ thú vị vì không ngờ sau 54 năm, tôi vẫn giữ được những tờ programmes này nên anh đề nghị tôi viết lại.

Những người thích coi phim ngày xưa được gọi là “dân ghiền phim” hay “con ma ciné”. Tôi không nghe ai nói về mình như vậy dù tôi rất mê phim. Tôi thường không bỏ qua những phim kinh điển và nổi tiếng hoặc được giới thiệu trước với những tài tử mình mến mộ, từ những tên tuổi như Liz Taylor, Gina Lollobrigida đến Charles Bronson, Omar Sharif, từ Brigitte Bardot đến Paul Newman… Và chúng tôi vẫn nói đùa với nhau khi đọc một loạt tên tài tử như phù thủy đọc thần chú: “Jeanne Morreau, Brigitte Bardot, Fernando Sancho”. Thấy tôi thường coi phim, kể cả phim không hay, chị tôi than phiền, “Vì sao em coi cả những phim người đã coi trước chê dở?” Tôi nói nếu tìm ra điểm dở của nó thì mình hay. Chị chịu.

Đi coi phim có lần tôi cũng bị móc bóp ở rạp Tân Tân – Huế vào hôm trời mưa lạnh, mặc cả pardessus bên ngoài vẫn bị mất ví trong đó có ít tiền và giấy tờ. Về sau cảnh sát Đông Ba mời tới lấy cung, để hỏi tôi có “cung cấp giấy tờ cho bọn ăn trộm?”. Tôi chìa tờ cớ mất, họ trả lại giấy tờ mình mất chưa kịp xin lại. Có nhiều kỷ niệm khó quên trong “thiên cố sự” về phim ảnh này. Đêm trước ngày thi môn của thầy Lê Khắc Phò, vị giáo sư mà không có sinh viên nào không lo lắng, tôi và anh bạn thân nay đã qua đời là Hoàng Văn Tôn cùng đi coi, không may lại gặp thầy cũng đang chuẩn bị vào rạp Tân Tân. Thầy ngạc nhiên và hỏi ngay sau khi chúng tôi chào: “Mai đi thi mà anh Quý và anh Tôn cũng đi coi phim sao?”. Túng kế, tôi đáp bừa: “Thưa thầy, em đi coi để thư giãn và tìm cảm hứng thầy à”. Thầy chịu!

Dân ghiền phim thường có khuynh hướng tìm hiểu phim sẽ về các rạp ở thành phố mình, sắp tới là phim gì vì thông thường phim sẽ tuần tự từ SG ra đến Huế. Do vậy, khi biết phim Docteur Zhivago ra đến Đà Nẵng, từ Huế tôi đã về để coi trước mọi người. Không ngờ lúc đó Cha Phương cho thi ngay môn ngài vừa dạy xong, may có anh bạn cùng lớp giúp… làm bài hộ! Chuyện này nhiều người biết và tôi bị phỏng vấn nhiều lần ở hành lang Văn khoa mấy ngày sau đó! Riêng phim Love Story thì chúng tôi coi ở Hội Việt Mỹ khi biết ở đó sắp chiếu cho những độc giả giới hạn của Hội và mãi mấy tháng sau mới chiếu ở rạp.

Các rạp có lúc chiếu thường trực, liên tục, vừa hết phim lại bắt đầu chiếu lại gọi là “permanent” hoặc chiếu xuất trong ngày tùy phim và tùy rạp. Dù chiếu permanent (thường trực) như ở rạp Ngọc Lan Đà Lạt thì chúng tôi vẫn chờ đến khi hết phim, khách lục tục kéo ra thì mình mới vào xem để theo dõi từ đầu. Các rạp chiếu xuất thường gần hết xuất tối là không soát vé vào, nhiều người không có tiền mà mê phim thường đợi đến lúc này để vào coi cọp, dù chỉ là phần cuối! Tuy vậy, vẫn nói dóc với bạn bè là “Tau coi phim thả cửa!”. Các rạp bán vé theo hạng, hạng đắt tiền ngồi xa màn ảnh nhất và ít tiền ngồi… sát màn ảnh!

Thời chúng tôi, phim HongKong cũng luôn hấp dẫn khi có những tài tử nổi tiếng như Vương Vũ, Khương Đại Vệ, La Liệt xuất hiện. Minh tinh nổi tiếng đẹp, diễn xuất hay ngày ấy là Trịnh Phối Phối. Một lần nghe rạp Hưng Đạo chiếu phim có Trịnh Phối Phối đóng, tôi và bạn Tôn không thể không mua vé vào coi dù đang gạo bài thi. Khi Trịnh Phối Phối xuất hiện xong là chúng tôi đứng dậy để về nhà học bài tiếp! Lại nhớ hồi học địa lý với thầy Phò, thầy kể chuyện mặt trái của các phim trường. Khi thực hiện phim cao bồi ở Ý, không tìm được ngoại cảnh sa mạc, nhà làm phim phải giải quyết bằng cách cho trải cát trên mặt bằng rộng. Khi ngựa chạy qua, vết chân ngựa làm tróc lớp cát để lòi ra bên dưới màu đất đen!

Khi đến xứ Cờ Hoa hồi giữa năm 2019, tôi được thăm San Francisco, Los Angeles, Maryland, Florida… thăm phim trường Universal ở Orlando, MGM ở Maryland. Đặc biệt may mắn là được đứa cháu dẫn đi thăm phim trường Hollywood ở Los Angeles một ngày, ở đó, xe của Hollywood chở cả đoạn đường dài vài cây số và coi những ngoại cảnh thu nhỏ để dựng các phim cao bồi, phim hải tặc, phim mô tả những trận lụt ngày xưa và cả phim Harry Potter sau này. Đó là một trong nhiều tour khó quên ở đây. Hai bên đường đi thấy các tấm bảng giới thiệu những phim lừng danh từng chiếu hàng năm của một thời. Tất cả gợi lại cho mình nhớ rạp, nhớ phim, nhớ bè bạn ngày xưa!

Nhớ lại chuyện coi phim ngày xưa là nhớ về vùng trời kỷ niệm dễ thương thời đi học với những thành phố mình sống, những người bạn thân một thời, những kiến thức về các vùng đất xa lạ và tình trạng xã hội ở những nơi các sự kiện trong phim diễn ra. Những hiểu biết từ phim đã giúp tôi giàu thêm kiến thức, có thêm nhiều bạn mới mà sở thích về phim của họ gần gũi với mình. Tất cả là một thứ hành trang đem theo trong hành trình làm người rất khó quên được và sống dậy mỗi lần có một nhắc nhớ.

Cám ơn cuộc đời, cám ơn những cuốn phim tôi đã được coi với rất, rất nhiều kỷ niệm theo cùng.

Nguyễn Hoàng Quý




PHỎNG VẤN LUẬT SƯ NGUYỄN QUỐC LÂN




NHỮNG CHUYỆN NHỨC ĐẦU




TÌM VỀ CỘI NGUỒN – KIỀU MỸ DUYÊN

TÌM VỀ CỘI NGUỒN

KIỀU MỸ DUYÊN




SA CHI LỆ – MỸ HÂN KÍNH MỜI CHIA SẺ THIÊN KÝ SỰ HÀNH TRÌNH TỊ NẠN CON ĐƯỜNG SINH TỬ TẬP 15-HÀ NGỌC




TRẦN NGẪU HỒ – Nguồn Gốc Của Vũ Trụ Trong Giải Thích Vĩ Mô & Vi Mô

Nguồn Gốc Của Vũ Trụ Trong Giải Thích Vĩ Mô & Vi Mô 

Trần Ngẫu Hồ 

Bắt đầu từ những năm 1995 – 2000 khi mạng internet còn đang phôi pha, phó tổng thống Al Gore, thuộc đảng Dân Chủ, lúc đó đã tiên đoán: “Rồi đây mạng internet sẽ thành World Wide Web (WWW), nhân loại sẽ nối kết được với nhau trên khắp thế giới, nhờ đó mà kinh tế toàn cầu sẽ tăng gấp bội, các quốc gia, con người sẽ gần gũi, nối kết với nhau dễ dàng với mọi hình thức”. 

Bây giờ, là năm thứ 24 của thế kỷ thứ 21, chuyện bùng nổ kinh tế và sự nối kết giữa con người với nhau đã thành sự thật và ngày càng nới rộng. Những siêu máy tính, với những trí tuệ thông minh, với những kỹ thuật mới đã tạo được những robot siêu thông minh, có thể đảm nhiệm nhiều lãnh vực của xã hội đời thuờng, robot thầy giáo, robot y tá, bác sĩ, robot giúp việc vv…rồi cũng sẽ xuất hiện cùng khắp. Con người ở khắp các nơi trên thế giới, có thể nhìn thấy mặt nhau, chỉ bằng vài động tác click… click, tiện lợi vô song. 

Trong lãnh vực vật lý, Lý Thuyết Dây (LTD) cũng đang dần hoàn thiện trọn vẹn, dẫn đến sự liên kết 4 tương tác: Tương Tác Mạnh, Tương Tác Yếu, Tương Tác Điện Từ, và Tuơng Tác Hấp Dẫn. Cũng sẽ nối kết được với nhau. Và như vậy sự hiểu các thế giới trong sóng hạ âm (dưới < 18 hz) sẽ dễ dàng. Nói như vậy, có nghĩa là KHHĐ có thể chứng minh các cõi giới khác chung quanh chúng ta. Thế giới khác mà LTD gọi là các chiều không gian, khác không gian 3 chiều của chúng ta 

Trong hiện tại LTD đã giải thích và chứng minh, ngoài thế giới 3 chiều của chúng ta, còn có 10 chiều không gian khác, tức 10 thế giới cùng với chúng ta, cùng với 1 chiều thời gian, dựa vào chiều quay của các thiên thể, trọng trường và những yếu tố riêng, mà đã tạo ra các hạt cơ bản riêng, những nguyên tử riêng, rồi từ đó tạo ra những sinh vật, chúng sinh, cơ cấu riêng của từng thế giới khác nhau. 

Thí dụ, mặt trăng có chiều quay riêng, cũng là 3 chiều, nhưng là 3 chiều theo dạng lò xo tròn, nên chiều của mặt trăng khác chiều trái đất của chúng ta. Khám phá này sẽ tạo ra chiều không gian thứ 5, do đó mặt trăng có đời sống, thế giới riêng. Như chúng ta đang nhìn thấy rõ ràng hình ảnh của mặt trăng, nhưng lại chẳng thấy sinh hoạt, vật thể, chúng sinh nào trên mặt trăng, chuyện này được Khoa Học Phi Hữu giải thích như sau: 

Chiều quay lò xo tròn của mặt trăng, đã tạo ra chiều không gian thứ năm riêng cho mặt trăng. Bây giờ chiều không gian thứ 5 đó, thí dụ đang là trong một vòng quay tròn thật nhanh (Chỉ là thí dụ nhé).  Và chúng ta, loài người đang ở chiều không gian thứ 3, chỉ thấy một vệt loang loáng trước mắt, mà không thể nhìn thấy gì trong đó cả. Chúng ta cũng không thể nhập vào vòng quay đó, vì chúng ta sẽ bị văng ra ngay. 

Nhưng nếu chúng ta lên một cái vòng quay lớn hơn vòng quay của mặt trăng, và quay cùng chiều, với mặt trăng, đến khi khi tốc độ của chúng ta đuổi kịp và bằng tốc độ của vòng quay với chiều không gian mặt trăng, thì tất cả thế giới, sinh vật, sinh hoạt của mặt trăng hiện rõ trước mắt chúng ta, và chúng ta có thể bước từ vòng quay của chúng ta, sang vòng quay của mặt trăng một cách dễ dàng. Nếu tốc độ của chúng ta quay khác đi hay thụt xuống một nấc, mọi cảnh vật trên mặt trăng lại biến mất ngay trước mắt chúng ta. 

Những thí dụ trên, giải thích vì sao khi khác chiều không gian, chúng ta không thể nhìn thấy và thể nhập vào những chiều không gian khác đó. Tất cả những chiều không gian 5, 6, 7, 8…26… hoặc tới chiều n+1 đối với chúng ta đều như thế cả. Nếu Lý Thuyết Dây của Khoa Học Hiện Đại (KHHĐ) còn khó hiểu, thì 5 Lý Thuyết Mới của Khoa Học Phi Hữu, giải thích những thắc mắc này một cách trọn vẹn. 

Trong 5 lý thuyết mới gồm: Khoa Học Phi Hữu, Đồ Hình Liên Thông, Xa lộ Thiền Định, Tân Trường Thống Nhất và Tân Triết Học. thì 3 lý thuyết trong 5 lý thuyết mới (NLTM) là Đồ Hình Liên Thông (ĐHLT: Connecting Diagrams) Xa Lộ Thiền Định (XLTĐ: HighWay Of Meditation) Tân Trường Thống Nhất (TTTN: New General Field), góp phần làm sáng tỏ những thế giới xung quanh chúng ta. 

Bằng cách nào, chúng ta làm sáng tỏ những thế giới xung quanh chúng ta? Thưa, bằng cách nâng chiều của chúng ta, muốn nâng chiều của chúng ta, chúng ta phải nhập vào XLTĐ, mà muốn nhập vào XLTĐ thì chúng ta phải thường xuyên trong thiền định. Mà muốn thường xuyên trong thiền định, chúng ta phải: “Ngoài lìa các cảnh duyên, trong bặt nghĩ tưởng, tâm như tường vách, thì ấy là thiền định: Lời Lục Tổ Huệ Năng” Thường xuyên trong cảnh giới này thì ấy là đại định. Xuất nhập trong đại định là ra, vào trong XLTĐ.

 Xa Lộ Thiền Định là cụm từ mới, để cụ thể hóa và hình tượng hóa những hình thức thiền, đưa tới sự liên kết các chiều không gian khác, xin xem Đồ Hình Liên Thông (ĐHLT), qua hình minh họa và sự giải thích của ĐHLT, XLTĐ, TTTN phối hợp với Lý Thuyết Dây sẽ giải thích cùng với sự thể nhập được vào các chiều không gian khác chung quanh chúng ta. XLTĐ là sự nhập vào thiền sâu, khi xuất, khi nhập được dễ dàng thì gọi là trong XLTĐ. 

Xin hãy xem XLTĐ như một thế giới thiền định, cũng là cách nâng chiều thực tế và đơn giản để thể nhập vào các chiều không gian khác, xin hãy xem những chiều không gian khác như những lối vào, lối ra, bắt nguồn từ Xa Lộ Thiền Định, những chiều. 5. 6, 7, 8, 9 cũng là những lối vào, lối ra (Exit  5, 6, 7, 8, 9…) trên XLTĐ. 

Sự cụ thể hoá các cách thiền thành một hình tượng là Xa Lộ Thiền Định (XLTĐ) là để nối kết với các chiều không gian khác và cũng để dễ dàng giải thích sự nối kết đó, và như vậy XLTĐ liên hệ mật thiết với Khoa Học Hiện Đại (KHHĐ), nói cách khác thiền đạo có liên hệ tuyến tính với KHHĐ, là ngành Khoa Học Thiền Định. Thiền tông nêu một sự giải thích, một giá trị và liên kết khác như: Thiền là Đạo, Đạo là Tâm (Tâm rỗng lặng trong thiền), Tâm là Phật (Phật là sự rốt ráo sau cùng, thấu triệt toàn thể và cũng là vĩnh cửu). Tất cả đều có sự liên hệ. 

Trạng thái trong XLTĐ là không có thời gian trôi trong đó, không có độ dầy của vật chất, mà chỉ có năng lượng (tức sự hiện hữu còn gọi là Ngã) và những lạc thọ, tức những dây lạc (tức những bliss strings). Với những giá trị này, chúng ta có thể thể nhập vào bất cứ chiều không gian nào, khi chúng ta ở sâu trong định. Bài trước chúng ta đã nhắc tới Thiền Ni Satomi Myodo, với 2 lần vào định sâu để thể nhập vào thế giới cõi âm và nói chuyện được vói những hồn ma trong đó.

 Chưa bao giờ thế giới lại gần gũi nhau đến thế, với những chiều không gian, với Lý Thuyết Dây, Đồ Hinh Liên Thông và Xa Lộ Thiền Định, qua sự thống nhất giữa Tâm và Thức của từng con người. Xin đính kèm ĐHLT và clip youtube 

#316 Thông Não Lý Thuyết Dây – Đi Tìm Bản Chất Của Vũ Trụ! | Vũ Trụ #53 #316 Thông Não Lý Thuyết Dây – Đi Tìm Bản Chất Của Vũ Trụ! | Vũ Trụ #53

#316 Thông Não Lý Thuyết Dây – Đi Tìm Bản Chất Của Vũ Trụ! | Vũ Trụ #53

.

ĐỒ HÌNH LIÊN THÔNG:

Inline image

Nguồn gốc của vũ trụ trong trạng thái vĩ mô và vi mô: 

Vĩ mô của vũ trụ hữu vi, bắt đầu bằng vụ nổ lớn rồi lan tỏa, gọi là Big Bang (BB), ngày nay BB đã đuợc xác định, chứng minh rõ rệt với bằng chứng qua những bức xạ nền của vũ trụ để lại, sự giải thích và sự chứng minh của Khoa Học Hiện Đại (KHHĐ) về BB, cho thấy BB là một thực tế, khởi đầu bằng một dị điểm vô cùng nặng, vô cùng nóng. Nhưng câu hỏi sự nổ và lan tỏa của BB, đến từ đâu và trên khung cảnh nào? Là những tra vấn này, cho tới nay vẫn còn đang bị bỏ ngỏ. 

Từ những năm 1981 Lý Thuyết Dây(LTD) đã tìm ra cái nhỏ nhiệm nhất của vật chất, trong đó có con người, đã bắt đầu bằng những dây (Gọi là String theory), có nghĩa là nếu truớc kia, trong tận cùng nhỏ nhiệm của của tất cả vật chất, và DNA của con người, là những hạt nguyên tử, những hạt khác nữa, nhưng nay trong những hạt đó là những sự quẫy lộn của những dây vô cùng nhỏ, xin tóm tắt sự giải thích của lý thuyết dây: 

<Trích>… “Có thể nói không ngoa, việc nghiên cứu bản chất của vũ trụ, nó nằm trong bản chất DNA của con người rồi, bạn cứ nhìn bọn con nít là biết, chúng có xu hướng là luôn muốn tháo tung mọi thứ, và thường là không lắp lại được, hoặc là nếu lắp lại được, cơ mà, lại thừa vài con ốc. Khám phá bản chất vũ trụ thực chất chính là tìm ra thứ nhỏ nhất, đã tạo ra vũ trụ, hãy bắt đầu với một quả cam, hoặc bạn thích thứ gì đó kích thích hơn, hãy bắt đầu bằng một quả bưởi, thậm chí, hoặc một quả dưa hấu. 

Để biết, quả dưa hấu được tạo ra bởi cái gì? Bạn chỉ cần không ngừng zoom vào nó, và đến một lúc nào đó, bạn sẽ nhìn thấy các nguyên tử, nguyên tử là một từ có nguồn gốc là atoms, trong tiếng Hy Lạp cổ đại, có nghĩa là không thể cắt nhỏ, không thể chia nhỏ được nữa, nó được xử dụng lần đầu, bởi triết gia Hy Lạp cổ đại Dymocritoc, vào khoảng năm 400 trước công nguyên. Dymocritoc cho rằng, vạn vật trong vũ trụ đều có cấu tạo bằng nguyên tử, một loại hạt quá nhỏ để có thể nhìn thấy bằng mắt thường. 

Thế nhưng, mãi đến năm 1981, con người lần đầu tiên mới được diện kiến các nguyên tử, nhờ sự ra đời kính hiển vi điện tử, một loại kính hiển vi có thể chụp các bề mặt ở cấp độ điện tử, cơ mà, chúng ta đều biết rằng nguyên tử thì có thể được cắt nhỏ, và chúng được cấu thành electron và các hạt nhân nguyên tử, mà hạt nhân nguyên tử gồm một nắm hạt hạ nguyên tử gồm protron và neutron, tiếp tục zoom vào protron và neutron, ta sẽ thấy chúng được cấu thành từ 2 hạt cơ bản là up quark mang điện tích dương và down quark mang điện tích âm, hạt quark là hạt cơ bản, vì chúng là giới hạn nhỏ nhất mà con người có thể zoom vào ở thời điểm hiện tại. 

Nói cách khác, hạt quark cùng với electron và một tá các loại hạt cơ bản khác mà con người đã tìm ra trong vài thập kỷ qua, chính là những thứ nhỏ nhất, cấu thành vạn vật trong vũ trụ, Cơ mà, không phải ai cũng nghĩ như vậy, một nhóm các nhà khoa học đã cùng nghiên cứu và phát triển một cơ sở lý thuyết có tên là lý thuyết dây (String theory) nhằm giải thích bản chất của vũ trụ. 

Lý thuyết dây giả thuyết rằng protron, electron, quark và tất cả các hạt cơ bản khác, chưa phải là những thứ nhỏ nhất và không thể chia nhỏ được, cơ học hiện đại cho rằng, nếu bạn phóng to một electron, một protron một quark lên bạn sẽ không nhìn thấy gì ở bên trong cả, vì chúng chính là những thứ nhỏ nhất, không thể chia được nữa. Lý thuyết dây lại cho rằng nếu phóng to những hạt cơ bản lên, bất cứ loại nào bạn cũng sẽ đều nhìn thấy một loại năng lượng nhỏ, dạng như một dây đàn ghi ta, đàn violon, đàn bầu, đàn cò, đang rung động, đang nhẩy múa với một tần số nhất định. 

Và nếu như các tần số, rung động khác nhau, của mỗi sợi dây đàn, tạo ra một nốt nhạc khác nhau, tần số của các dây năng lượng, tạo ra các hạt cơ bản khác nhau, với khối lượng, năng lượng và hành vi khác nhau. Nói cách khác, lý thuyết dây giả thuyết rằng, vũ trụ và vạn vật trong vũ trụ là tổng hòa vô vàn các sợi dây năng lượng rung động ở các tần số khác nhau, tớ là một số các sợi dây rung động, bạn là một số các sợi dây rung động, trái đất là một mả các sợi dây năng lượng đang rung động, không hơn không kém. 

Và vì giải thích được bản chất tồn tại của vạn vật trong vũ trụ, và bản thân vũ trụ, thông qua rung động của một đối tượng duy nhất là những sợi dây, lý thuyết dây được kỳ vọng là lý thuyết thống nhất đại diện cho toàn bộ vũ trụ. Nói đi, thì cũng phải nói lại, lý thuyết dây không tồn tại. Và nhấn mạnh, lý thuyết dây không tồn tại trong một vũ trụ chỉ 3 chiều không gian và 1 chiều thời gian, như những gì mà tớ và bạn đang cảm nhận. 

Nó cũng không tồn tại trong một vũ trụ 4, 5, 6, 7 chiều không gian, thay vào đó nó cần tới 10 chiều không gian và 1 chiều thời gian để tồn tại, vì vậy các nhà vật lý, đứng sau lý thuyết dây, có niềm tin mạnh mẽ rằng vũ trụ của chúng ta, thực sự có 10 chiều không gian và 1 chiều thời gian, tuy nhiên, 7 chiều còn thiếu là bởi chúng quá nhỏ để nhìn thấy, cảm nhận và thậm chí là đo đạc bởi những thiết bị tinh vi nhất của con người ở thời điểm hiện tại. 

Tin vui là, họ đang tìm cách, để kiểm tra sự tồn tại của chúng và thiết bị dùng để test 7 chiều không gian còn thiếu và sự tồn tại của chúng có lẽ không còn quá xa với khán giả yêu sách khoa học, chính là máy gia tốc hạt lớn (Large Hardon Collider viết tắt là LHC, của tổ chức hạt nhân Châu Âu CERN) Siêu thiết bị này được đặt trong một đường hầm hình tròn, chu vi gần 27Km, nằm giữa độ sâu từ 50 đến 175m, dưới biên giới Pháp, Thụy Sĩ. 

Bằng cách cho các hạt protron bay dọc đường hầm với vận tốc lên tới 0, 999. 999. 990 so với vận tốc ánh sáng, tức là chỉ chậm hơn giới hạn của vũ trụ 3,1 mét/ giây hay 11km/giờ. Các nhà khoa học kỳ vọng là sẽ tạo ra sự va chạm mạnh tới mức, là nó sẽ bắn ra vài mảnh vỡ protron, từ không gian 3 chiều của chúng ta, vào các chiều không gian còn lại, các nhà khoa học, sau đó đo tổng năng lượng trước và sau vụ va chạm, nếu năng lượng sau va chạm, nhỏ hơn năng lượng trước va chạm, chứng tỏ đã có một lượng nhất định năng lượng chui qua các chiều không gian khác, và rằng lý thuyết dây đã được củng cố một cách mạnh mẽ về mặt khoa học, và đáng tiếc là ngày đó vẫn chưa đến, tóm lại, con người ở thời điểm hiện tại, có thể vẫn chưa hiểu rõ về sự tồn tại của mình. Tuy nhiên có một điều chắc chắn rằng chúng ta sẽ không ngừng tò mò. <Hếttrích> 

Như vậy, sự giới hạn của KHHĐ ở 2 đầu, một đầu là vĩ mô với thuyết vụ nổ lớn, lan tỏa. Một đầu là vi mô là những dây cực nhỏ đang chuyển động không ngừng. Gọi là giới hạn vì KHHĐ không trả lời đươc trước BB thì vũ trụ ở trang thái nào, cái gì đã tạo ra BB. Và ở đầu vi mô kia là những dây (Strings) từ đâu mà phát sinh, và làm bằng chất liệu gì? 

Nhưng những bế tắc này, sẽ được giải thích ngọn ngành bởi Khoa Học Phi Hữu với Đồ Hình Liên Thông, Xa Lộ Thiền Định và Tân Trường Thống Nhất như sau đây. 

Những bài trước, đã cho chúng ta đã biết, ngài Stephen Hawking đã từng tuyên bố: “Trước Big Bang (BB) là không có gì cả”. Từ đó cho tới nay, Khoa Học Hiện Đại đã dựa theo lời tuyên bố đó để cho rằng trước Big Bang là KHÔNG. Và mọi người, Khoa Học Gia (KHG) hay không phải KHG đều BIẾT trước BB là KHÔNG, mà đã là KHÔNG thì không ai cần thắc mắc cái KHÔNG này từ đâu mà ra?  Và ai đã làm ra cái KHÔNG đó? 

Sự BIẾT KHÔNG của trước BB là chính do TÂM của chúng ta, BIẾT là TÂM và TÂM là BIẾT, TÂM và BIẾT là một, đều ở trong TÂM của mọi người. Biết và Tâm sẽ nhập thành 1 Đại Lượng. 

Và muốn nhìn thấy cái KHÔNG trước BB, chúng ta phải vào TÂM KHÔNG của chúng ta, cách vào TÂM KHÔNG chính là THIỀN ĐỊNH, vì khi trong THIỀN ĐỊNH thì tâm của chúng ta không có biến đổi gì trong đó cả, nhưng chúng ta vẫn BIẾT. Khi nhập vào THIỀN ĐỊNH sự thấy cái KHÔNG như thế nào, thì cái tướng dạng của vũ trụ trước BB là như thế đó. Nó sẽ là cái KHÔNG, không ngằn mé bao la. Và tất cả chúng ta đều có thể thực hiện TÂM KHÔNG này, để có thể thể nhập vào nó. 

Bằng những sự chỉ dẫn căn bản của các phương pháp THIỀN, của các tông phái của Phật Giáo, tất cả chúng ta đều có thể thực tập và thể nhập TÂM KHÔNG rồi vào THIỀN ĐỊNH, vào thường xuyên và quen thuộc, xuất nhập trong THIỀN ĐỊNH, thì là ta đã quen thuộc vào trong Xa Lộ Thiền Định (XLTĐ). 

Qua sự giải thích này, chúng ta tư duy rằng, trước Big Bang vũ trụ ở thể TÂM KHÔNG (Còn gọi là Vô), tướng dạng của nó là một ĐẠI ĐỊNH. Có thể thấu hiểu và thực hiện bởi từng con người chúng ta. 

Vũ trụ ở thể TÂM KHÔNG này có 4 giá trị thực tế là: THƯỜNG, LẠC, NGÃ, TỊNH. Thường là mãi mãi như vậy, không bao giờ thay đổi, là trạng thái luôn luôn ở trong THIỀN. LẠC còn gọi là ĐẠI LẠC là trạng thái lúc nào cũng sung sướng, hạnh phúc trong thanh nhẹ, ví như TÂM đang nghe một bản đại hòa tấu với những cung bậc tuyệt hay. NGÃ là sự hiện hữu, nhưng không chạy theo, không biến đổi theo bất cứ điều gì cả, còn gọi là NGÃ VÔ SANH. TỊNH là sự bình lặng với lòng yêu thương tất cả, còn gọi là Đại Bi. 

Bốn giá trị này của vũ trụ thể TÂM KHÔNG, thì 3 giá trị là thường, ngã và tịnh đã cân bằng, riêng Đại Lạc có sự chuyển đổi cung bậc hầu tạo ra sự thoải mái cho LẠC, sự thay đổi này khiến tạo ra nhiều cung (dây) lạc, những dây lạc này thải ra từ đại lạc trong vũ trụ thể KHÔNG (Vô), tìm chặp vào nhau, những cung lạc cao tìm tới những cung thấp, những cung vui tìm chặp vào cung trầm, đó là những tiến trình tự nhiên, do sự khác nhau của bản chất. 

Tợ như 2 viên nước đá, khi cho vô 1 ly nước nóng, nhiệt lượng vùng ngoại biên tan nhanh hơn bình thường, khiến nhiệt lượng ở trung tâm chạy nhanh ra ngoài để  bù đắp nhiệt lượng mất đi, tạo sự chênh lệch nhiệt ở vùng ngoại biên, nên chúng hút chặt vào nhau, 2 cung lạc trong vũ trụ thể không tìm chặp vào nhau do sự khác biệt, cũng chặp vào nhau như vậy, nhưng ở vũ trụ thể không, những hằng số vũ trụ chưa thành lập, nên chúng sụp đổ vào trong, sự sụp đổ này, gọi là sự sụp đổ nhỏ (Small Crunch) 

Từ sự sụp đổ này, chúng quyến rũ những sự sụp đổ của những cặp lạc khác xung quanh, để đi tới sự sụp đổ lớn hơn, khi tới chân trời biến cố, vì những yếu tố: Càng lúc càng quyến rũ những sự sụp đổ khác xung quanh do ái lực, chúng cũng không thể thoát ra ngoài, càng lúc càng gần tới một dị điểm. Khi càng lúc càng gần một dị điểm, để đi tới một sự sụp đổ lớn, chúng sẽ trở thành là Big Bang lan tỏa, như thực tế giải thích của Khoa Học Hiện Đại.

Thời gian bắt đầu từ sự biến đổi từ Big Crunch sang Big Bang, như vậy biến đổi và thời gian sẽ nhập thành một đại lượng “Biến Đổi & Thời Gian”, là một hỗn hợp thực tế, có tuổi đời già là 13, 7 tỷ năm. Nhưng với một Tâm Thiền thì thời gian đó chỉ là ảo ảnh, vì trong Thiền sẽ không có thời gian nào trôi đi cả. 

Hai Dây (cung) Lạc thoát ra từ Vũ Trụ Thể Tâm Không, tìm chặp vào nhau vì sự khác biệt và cô đơn, có phải là một nhận định tùy tiện, hư cấu không? Thưa không, đó là nhận định dựa trên sự kiện thực tế. Hai con người ngày nay, tìm chặp vào nhau (vì nhu cầu yêu đương, làm tình với nhau) rồi sụp đổ vào trong trước tiên (small crunch), kế tiếp trong tiến trình tiến tới bùng nổ khoái cảm xuất tinh đạt kích ngất (Big Bang), cũng chỉ là lặp lại phiên bản đầu tiên, khi 2 cung lạc chặp vào nhau ở Vũ Trụ Thể Tâm, từ lúc khởi đầu để thành Vũ Trụ biến đổi, sinh diệt Big Bang mà thôi. Không có sự liên kết nào rõ ràng hơn thế nữa? 

Vã lại, Khoa Học Hiện Đại cũng đã có nhận định tương tự, có điều là Khoa Học không đẩy nhận định đi tới rốt ráo, sau cùng mà thôi. 

Heisenberg: Werner Heisenberg won the 1932 Nobel Price in physics đã tuyên bố: 

“Thế Giới giống như một chuỗi phức tạp sự kiện, trong đó những mối liên hệ sự kiện đan xen vào nhau, chúng chập lên nhau và kết hợp với nhau, qua đó quyết định nền tảng tổng thể”]. 

Những Dây Lạc có đầy trong từng con người, đã thôi thúc con người tim đến nhau, rồi chặp vào nhau, đúng như sự nhận xét của Khoa Học Hiện Đại và sự kết luận của Khoa Học Phi Hữu. Nếu không có sự chặp vào nhau, thì không có thế giới, cũng như không có Big Crunch thì không có Big Bang, đó là một thực tế. 

Thưc tế này, dắt tới kết luận thực tế khác: Thế giới và con người ngày nay, thúc đẩy thế giới tiếp tục đi tới bằng tình yêu và dục lạc, thì ở giai đoạn Vũ Trụ khởi đầu cũng bắt đầu bằng 2 dây (cung) Lạc chặp vào nhau, chung quy cũng vì khuynh hướng dục và ái lực (tình yêu) mà thôi. Kết luận trước Big Bang là một Big Crunch là một thực tế. Và Big Crunch chính là Vũ Trụ Phi Hữu. Như vậy Vũ Trụ Vô, Vũ Trụ Phi Hữu, Vũ Trụ Hữu Vi và các Thế Giới khác trong đó đã được giải thích rõ. 

Như vậy, vĩ mô của vũ trụ là Big Bang, đã được hình thành từ những vi mô là những dây lạc thoát ra từ Đại Lạc của vũ trụ thể TÂM với 4 giá trị là THƯỜNG, LẠC, NGÃ, TỊNH, những dây lạc chính là những LẠC THỌ đã có mặt ở mọi nơi, tất cả mọi vật chất, con người, sinh vật và các hạt nhỏ nhiệm cùa các hành tinh, thiên thể và ở cả trong XLTĐ. Trong XLTĐ chúng cũng chính là những lạc thọ. Khoa Học Hiện Đại với Lý Thuyết Dây cho rằng: (Diễn giải thêm từ tác giả) 

<Trích và sửa đổi một tiểu đoạn>…“Nói cách khác, lý thuyết dây giả thuyết rằng, vũ trụ và vạn vật trong vũ trụ là tổng hòa vô vàn các sợi dây năng lượng rung động ở các tần số khác nhau, con người và vạn vật là một số các sợi dây rung động, vật chất là một số các sợi dây rung động, trái đất là một mả các sợi dây năng lượng đang rung động, tất cả các thiên thể trong vũ trụ cũng là những sợi dây đang rung động, không hơn không kém, các thiên thể sẽ không có những sợi dây đang rung động, nếu chúng không tạo bởi các hạt…” <Hếttrích> 

Từ năm 2016 trang 122 của Tuyên Ngôn Về Thể Trạng Vũ Trụ Tiền Big Bang (TNVTTVTTBB) & Năm Lý Thuyết Mới (NLTM) đã viết: Tóm lại, sự thành lập vũ trụ Big Bang theo lập trình như sau: 

…Vũ Trụ Đại Định, thể Tâm gồm thường, Lạc, Ngã, Tịnh với Đại Lạc đào thải những cung bậc cũ ra è Hai Cung Lạc (các dây theo lối gọi mới) chặp vào nhau, co cụm, xẩy ra è Ái lực tạo ra từ 2 cung Lạc quyến rũ những sự co cụm khác tạo raè Big Crunch, khi tới chân trời biến cố, sẽ tạo ra vô cùng nặng, vô cùng nóng è Big Bang nổ bùng, lan tỏa, sinh è … 

Đối với Lý Thuyết Dây, thì con người và vạn vật là tổng hòa những sợi dây năng lượng luôn luôn nhẩy múa với tần số khác nhau, rồi tạo ra những hạt cơ bản khác nhau. Trong khi TNVTTVTTBB kết luận Vũ Trụ thể Tâm Không đầy rẫy những cung (Dây Lạc) lạc trầm bổng, đã đào thải khỏi Đại Lạc vì sự thay đổi cung bậc của chính Đại Lạc. Những Dây đang quẫy lộn, quay cuồng trong vạn vật chính là những Lạc Thọ, là 1 trong 4 giá trị của Vũ Trụ Thể Tâm 

Khi hành giả trong trạng thái thiền định miên mật, thì hành giả trong Xa Lộ Thiền Định, sẽ cảm nhận những Lạc Thọ, tức những dây Lạc (Bliss String). Như vậy Bliss String (Dây Lạc) ở khắp mọi nơi, chúng ở trong Vũ Trụ Thể Tâm Không, trong Xa Lộ Thiền Định (Tức siêu chiều, chiều chung kết), trong vạn vật, trong mỗi con người (Chúng ta sẽ thấy rõ, cảm thọ Lạc này khi trong thiền định), trong các hạt, và trong các chiều không gian khác. 

Kết luận: Dây Lạc (Bliss String) hay còn gọi là Lý Thuyết Dây chính là thành phần cơ bản, nối kết giữa Khoa Học Hiện Đại và Khoa Học Phi Hữu (Có thiền định, là có Lạc Thọ) Tức những Dây Lạc (Bliss Strings), những Lạc Thọ cũng chính là cuốn sổ thông hành để chúng ta có thể câu thông với các chiều không gian khác, còn gọi là các thế giới khác, các cõi giới khác, qua các exit 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6… hay exit (n+1), bằng Xa Lộ Thiền Định tức các cách thiền căn bản đã được chỉ dẫn từ các giảng sư Phật Giáo. 

Tới đây, chúng ta đã thấy, tất cả những bí ẩn của Vũ Trụ Vô, Phi Hữu, Hữu đã được giải thích trọn vẹn và rõ ràng. Tuy là tóm tắt, nhưng thật sự câu trả lời cho nguồn gốc của Vũ Trụ, và những liên hệ tuyến tính của chúng cũng chỉ đơn giản như thế thôi. Tôi gọi tư duy này là những tư duy phi hữu, lý thuyết từ phi hữu, lý thuyết này cần hợp tác với một tư duy toán học để biến nó thành sự giải thích thực tế và khoa học. Từ sự giải thích cơ bản như sau: 

Tạm đặt vũ trụ nguyên thủy là Y, vũ trụ hiện hữu là Y’. Big Bang là X, tạo thành bởi những sự sụp đổ nhỏ là Small Crunch, gọi là x, nhiều x tụ tập với nhau, để thành Big Crunch, nên chúng ta viết X = x n+1thời gian tbắt đầu vào giữa lúc chuyển đổi từ Big Crunch sang Big Bang (BB), sau đó BB liên tục trương nở, nên xin gợi ý bằng công thức như sau:  Y = Y’ (x n+1 + t+ X n+1). 

Mong có một cao nhân nào giỏi toán, giải thích, triển khai công thức này chi tiết, xin cám ơn. 

Để hiểu thêm về Vũ Trụ Vô, và về sự thành lập nên Vũ Trụ Phi Hữu, Vũ Trụ Big Bang hay Vũ Trụ Hữu Vi chi tiết hơn, tác giả xin hân hạnh giới thiệu Tuyên Ngôn Về Thể Trạng Vũ Trụ Tiền Big Bang (Bản 2) hiện đang có mặt trên Amazon.com. 

Xin cám ơn và xin chào đoàn kết cùng các đọc giả của Diễn Đàn Thật Nghĩa.




SƯƠNG LAM: MỘT CÕI THIỀN NHÀN -Tâm Tình Của Người Con Trong Ngày Vu Lan

Tâm Tình Của Người Con Trong Ngày Vu Lan

Vulanmiabaohieu.jpg

Đây là bài số bảy trăm hai mươi lăm (725) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ Oregon Thời Báo.   

 Nhân Mùa Vu Lan năm nay, để mở đầu cho bài tâm tình hôm nay, mời Bạn xem youtube  Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát do anh Tiến TS  ở Thụy Sĩ thực hiện để tặng người viết.

Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ tát – Tiến TS,

Xin cảm ơn anh Tiến TS, người bạn văn nghệ tài hoa và có lòng tốt với bạn hữu, dù ở phương trời xa xôi vẫn có tâm thành hướng về chư Phật và bạn hữu nhân dịp Lễ Vu Lan.

 Đã bao lần tôi nghe bài hát Bông Hồng Cài Áo mỗi độ Vu Lan về là đã bao lần tôi lại thấy rưng rưng xúc động với lời nhạc êm ả, trữ tình đầy tình thương yêu trìu mến của Thầy Nhất Hạnh và nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ:

“Một bông hồng cho em
Một bông hồng cho anh
Và một bông hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn
Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi
Như đóa hoa không mặt trời
Như trẻ thơ không nụ cười

Ngỡ đời mình không lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm….

 Mẹ, Mẹ là dòng suối dịu hiền
Mẹ, Mẹ là bài hát thần tiên
Là bóng mát trên cao
Là mắt sáng trăng sao
Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối

Mẹ, Mẹ là lọn mía ngọt ngào
Mẹ, Mẹ là nải chuối buồng cau
Là tiếng dế đêm thâu
Là nắng ấm nương dâu
Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời ”

 Khi nhận được đoá hoa hồng màu đỏ hay màu hồng cài trên ve áo bạn hãy vui sướng đi:

VuLanMuaHieuHanh 2021.jpg

“Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em
Thì xin anh, thì xin em
Hãy cùng tôi vui sướng đi.”

Hình như khi còn trẻ, chúng ta không biết hay chưa biết thương yêu cha mẹ vì chúng ta còn bận lo những chuyện khác mà ta cho rằng đó là quan trọng đối với chúng ta hơn như học hành, yêu đương, rong chơi với bè bạn, theo đuổi lý tưởng hay sự nghiệp v…v…

Bởi thế có đôi lúc ta đã:
“Có đôi lúc ta quên nhìn trán Mẹ
Còn bao nhớ thương dù ta lớn khôn rồi

Có đôi lúc ta quên thời gian qua
Đường ta càng xa, vòng tay Mẹ ngắn lại”

Năm nay tôi lại nghẹn ngào khi xem 2 youtube về Mẹ được phổ nhạc chỉ mấy vần thơ ngắn ngủi cũng đủ nói lên niềm thương nhớ mẹ hiền của tác giả  BS Đỗ Hồng Ngọc và nhà thơ Đỗ Trung Quân.

 Mời bạn cùng  cảm thông tâm sự của 2 tác giả này nhé.

1-BÔNG HỒNG CHO MẸ – Nhạc Võ Tá Hân – Thơ Đỗ Hồng Ngọc – Ca sĩ Diệu Hiền

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực 

Ngoại chờ bên kia sông

(Bông hồng cho Mẹ, 2012, Đỗ Hồng Ngọc) 

2- MẸ TA TRẢ NHỚ VỀ KHÔNG | LÊ VỸ

Là sáng tác của Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh (3T) phổ thơ Đỗ Trung Quân. Lê Vỹ trình bày.2019

Ngày xưa chào mẹ, ta đi

Mẹ ta thì khóc, ta đi thì cười

Mười năm rồi lại thêm mười

Ta về thì khóc, mẹ cười lạ không

Ông ai thế? Tôi chào ông

Mẹ ta trí nhớ về mênh mông rồi

Ông có gặp thằng con tôi hao hao…

Tôi nhớ… Nó …người …như ông.

Mẹ ta trả nhớ về không Trả trăm năm lại bụi hồng…

 rồi…

 đi…

anh-me-gia-ngong-con.jpg

Mừng cho bạn nhận được cánh hoa màu hồng cài trên ve áo và cầu nguyện cho cha mẹ hiện tiền biết quy ngưỡng Tam Bảo, thân an trí lạc, phước huệ song tu.

Cũng xin được chia sẻ nỗi buồn đau của những người đã không còn cơ hội để nói lên những lời yêu thương hay tạ tội này vì cha mẹ đã qua đời

“Nay mất mẹ, bây giờ tôi mới hiểu
Thế nào là tình mẫu tử thiêng liêng
Ngôn từ nào định nghĩa chữ Mẹ hiền:
Là Đức Mẹ, là Quan Âm, thị hiện”

(Thơ Sương Lam)

 Xin  mượn lời của thi sĩ Đỗ Trung Quân nói lên lời tâm tình của người con nhân ngày Vu Lan  và cầu nguyện cho mọi người con trong trần thế hãy kính yêu Cha Mẹ khi còn tại thế để:

“Con sẽ không đợi một ngày kia,   
Khi Mẹ mất đi mới giật mình khóc lóc  
Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ?  
Con hốt hoảng trước thời gian khắc nghiệt  
Chạy điên cuồng qua tuổi Mẹ già nua … “

Và bạn sẽ đau buồn khi nhận trên tay cánh hoa hồng màu trắng:

 Ôi! Buồn lắm!  Hoa hồng màu trắng đó!

Trên áo tôi! Tôi mất Mẹ lẫn Cha

Mùa Vu Lan khi nghe đến bài ca

Bông Hồng Cài Áo! Lệ nhòa đôi mắt!

(Trích trong bài thơ Màu Hoa Hồng Cài Áo của Sương Lam)

Xin cầu nguyện cho Cha Mẹ đã quá vãng sớm siêu thoát nơi miền lạc cảnh.

ViLamMuaHieuhanh DiaTangBotat.jpg

 Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát

Chúc quý bạn có nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc, sống vui từng ngày trong hiện tại với duyên nghiệp của mình nhé. 

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

Sương Lam

(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi-MCTN 725-ORTB 1156-8-21-24)

Sương Lam

Website: www.suonglamportland.wordpress.com

http://www.youtube.com/user/suonglam




TRẦN CÔNG – LÃO MÃ SƠN: Hồi Ức Đời Tôi

Hồi Ức Đời Tôi

Gối chiếc chăn đơn nhiều đêm khó ngủ

Nhìn bóng đêm gẫm lại cuộc đời tôi

Một cuộc đời đã gặp nhiều phong vũ

Rời bỏ quê hương đất khách nổi trôi.

*

Khi còn trong nước như trên Mỹ quốc

Tôi đã từng lang bạt khắp đó đây

Đôi giày giang hồ mòn gần hết gót

Chiếc áo phong sương sờn cả đôi vai.

*

Đời tôi lắm cảnh thăng trầm vinh nhục.

Đã từng ngồi tù, có lúc làm quan

Đã có một thời nhà cao cửa rộng

Cuộc đổi đời làm sự nghiệp tiêu tan!

*

Cuối đời trắng tay, thành kẻ không nhà

Phải nương thân trên gác trọ Nhà Già

Cho đến ngày từ giã cõi trần gian

Rồi, thân cát bụi sẽ trở về cát bụi.

*

Hoa Đô (Lockwood House) 2024

Trần Công/Lão Mã Sơn




NHỮNG SỰ KIỆN XẢY RA TRONG THÁNG 8

Thái Nữ Lan sưu tầm & dịch




CA KHÚC Nhớ Anh | Thơ: Phạm Phan Lang | Nhạc: Thái Phạm | Ca sĩ: Diệu Hiền

Ca khúc:  Nhớ Anh
Thơ:  PhamPhanLang
Nhạc:  Thái Phạm
Ca sĩ:  Diệu Hiền
Hòa âm:  Quang Đạt
Video:  Thái Pham thực hiên với hình ảnh PL, vườn nhà, núi Ko’OLau và Vịnh Kaneohe trước mặt nhà PL ở Hawaii.

Nhớ anh

Đêm qua anh không viết
Em thấy giận anh rồi
Cả ngày nay mong ngóng
Về đọc thư anh thôi

Nhớ vòng tay âu yếm
Nhớ tia mắt nồng nàn
Nhớ nụ cười trìu mến
Nhớ anh nhớ miên man

Ngày mai anh phải viết
Thư dài hơn gấp đôi
Nếu không em sẽ giận
Sẽ hờn anh chết thôi….

PhamPhan Lang




KIỀU MỸ DUYÊN -THI SĨ CHINH NGUYÊN RA MẮT SÁCH RẤT THÀNH CÔNG.




GS/TS MAI THANH TRUYẾT – Trả Lại Thiên Nhiên Cho Thiên Nhiên! & Bài Chuyển Dịch Từ YouTube Của Andrew Millison.




KIỀU MỸ DUYÊN: ĐẠI LỄ VU LAN Ở CHÙA PHỔ ĐÀ




THÁI NỮ LAN SƯU TẦM: NHỮNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI SÁCH CŨ SÀI GÒN

NHỮNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI SÁCH CŨ SÀI GÒN

Sách vở, báo chí miền Nam trở thành món ăn tinh thần là do công sức của các nhà văn, nhà phê bình, giáo sư đến các học giả.
Điều hiển nhiên là thế.
Nhưng sức bật, sự tác động để phổ biến những văn hoá phẩm ấy là nhờ vào một số  lớn nhà xuất bản có công với Văn Học.
Họ là những nhà xuất bản như
Trình Bày, Nam Sơn, Nguyễn Đình Vượng, Văn Hoá Á Châu, Diên Hồng, Xưa nay, Khai Trí, Lá Bối, An Tiêm. Những nhà xuất bản này đã đóng góp vào việc xuất bản 200 triệu cuốn sách trong 20 năm.
Con số thật không nhỏ.

1.- Ông Khai Trí :

Chẳng mấy ai biết tên thật của ông, thành ra thương hiệu nhà sách KT,
62 Lê Lợi được đồng hoá vào tên ông. Thật ra tên ông là Nguyễn Hùng Trương, với hai tay trắng làm nên sự nghiệp.
Ông vừa là một doanh gia,
vừa là người làm văn hóa.
Ông biên soạn khoảng 15 cuốn sách như Thơ tình Việt Nam và thế giới chọn lọc, Chánh tả cho người miền Nam…
và chủ trương tuần báo Thiếu Nhi cùng với Nhật Tiến.

Sau 1975 , nhà sách KT là nạn nhân của nạn hôi của, đốt phá.
Sách vở tung toé khắp nơi từ trong nhà sách ra ngoài đường.
Tôi đã chính mắt chứng kiến cảnh ấy trong nỗi bất lực, bất lực của một người tự xếp hàng vào người thua cuộc.
Tôi không biết lúc bấy giờ ông Khai Trí đứng ở đâu.
Đứng ở đâu thì cũng cùng tâm cảnh đau xót đó thôi.
Khi đã chứng kiến cảnh này rồi thì đừng bảo tôi có thể nghĩ hay cho những người mới đến.
Họ không hiểu được điều đó vì quá hăng say trong men chiến thắng hay họ chưa bao giờ biết nghĩ tới người dân muốn gì, nghĩ gì.
Tiếp theo đó là hai kho sách lớn cũng bị trưng thâu. Hằng vài trăm ngàn cuốn sách ra khỏi kho, rồi biến mất dạng.

 Ông trắng tay sau bao nhiêu năm tốn công gây dựng.

 Sau này, ông ở Mỹ về VN một lần nữa, mang theo hy vọng làm được một chút gì cho đất nước.
Ông đã mang về 2000 đầu sách để tiếp tục làm Văn hoá.
Sách bị tịch thâu với lý do :
in trước 75.
Theo Nguyễn Thụy Long,
phần lớn sách bị tịch thâu là các loại sách Học Làm Người, báo chí quý hiếm trước 1954, như bộ Loa rất nổi tiếng.
Sách ông mang về ai cũng biết là sách về giáo dục, sách hiền, sách tốt cả.
Mà dại gì ông mang sách dữ,
mà làm gì kiếm ra đâu được sách dữ. Nó chỉ có một cái tội :
Tội đã in trước 1975.
Trước 75 là xấu,
vi phạm luật.
Sau 75 là tốt.
Ông đau lòng vì sách,
ôm đơn đi kiện.
Kết cục chẳng đi đến đâu.

Trước khi ông mất,
người ta đã không quên đặt tên ông cho một con phố nhỏ.
Đúng như ông thày TQ nhận xét :
Hôm qua nó giết mình,
hôm sau nó mang vòng hoa đến phúng điếu.

Ông ra đi lúc 5h15 ngày 11/3,
linh cữu hiện quàn tại nhà riêng
 (237 Điện Biên Phủ, quận 3, TP HCM), lễ động quan lúc 6h ngày 14/3,
hỏa táng tại Bình Dương.
Nguyện vọng của gia đình là gửi tiền phúng điếu vào quỹ từ thiện thành phố.

Cụ Toan Ánh, năm nay 91 tuổi,
trong bữa đưa đám ma ông Khai Trí than thở:
tại sao mình sống lâu như thế,
ông Khai Trí mới có 80 tuổi.

2- Nhà Lá Bối :

nhà Lá Bối do nguyên Đại đức Từ Mẫn, tên thật là Võ Thắng Tiết trông nom.  Sau ông hoàn tục.
Ông là người có lòng, để việc phụng sự văn học nghệ thuật lên trên tiền bạc. 
Từ Mẫn đã giúp các nhà văn có nơi xuất bản những đầu sách có giá trị và người đọc có cơ hội đọc những cuốn sách trang nhã, chăm sóc từng chút trong việc trình bầy ấn loát và cả đến nội dung sách.
Tất cả sách của Nhất Hạnh đều từ đây mà ra.
Nếu không có Lá Bối,
những
Chiến tranh và Hoà Bình,
Chiến Quốc Sách,
Sử Ký Tư Mã Thiên,
Kiếp người của Sommerset Maugham, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay

Lối thoát cuối cùng của V. Georghiu sẽ nằm ở đâu?
Nếu không có Lá Bối,
nhiều sách chắc gì đã có cơ hội ra mắt bạn đọc.
Nhất là bộ Chiến tranh và Hoà Bình của Léon Tolstoi.
Sách in tốn vài ba triệu thời bấy giờ, bao giờ lấy lại vốn.
Sau này, ở Hải ngoại, ông tiếp tục làm công tác văn học với nhà xuất bản Văn Nghệ.
Nếu cần một vinh danh gì cho 20 năm Văn học dịch nói riêng và Văn học nói chung, có cần nên nhắc đến Võ Thắng Tiết không?
Kẻ lót đường cho Văn học miền Nam

3.- An Tiêm
Thanh Tuệ.

 Tôi chỉ xin trích dẫn ba bài viết lúc mà Thanh Tuệ nằm xuống để thấy được rằng nhà xuất bản An Tiêm với Thanh Tuệ có lòng với văn chương như thế nào.

 * Thái Kim Lan về Thanh Tuệ:

Hình như dưới tay anh tác phẩm được in nào cũng mang một chút lòng trân trọng của anh như thế đối với tác giả và độc giả, một nét cười bao dung mời gọi, vừa cảm khái liên tài vừa khuyến khích thúc dục, một nhịp nối uyển chuyển tài hoa giữa giãi bày tâm sự và tìm kiếm tri âm trong chữ nghĩa và tri thức, giữa người và người…
An Tiêm đã khai phá, mở cửa khu vườn văn học của các nghệ sĩ trẻ miền nam trong khung cảnh sôi động của thập niên 60…

* Tiếc Văn Chương, thương chữ nghĩa, Trần Thị Lai Hồng.

Biết là vô thường, nhưng vẫn không khỏi tiếc thương.
Tôi tiếc thương người An Tiêm Thanh Tuệ hiền hòa đã đành,
mà  nỗi tiếc Thương Văn Chương chữ nghĩa còn trĩu quá nặng.

 Thôi từ nay, còn ai khổ công lặn lội tìm tòi đãi lọc để phổ biến văn chương như đã từng với Tuệ Sĩ, Bùi giáng,
Sao Trên Rừng, Nguyễn Đức Sơn.
Thôi từ nay còn ai trân quý nâng niu bảo trọng chữ nghĩa như đã từng với Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột,
Mười Hai con Mắt.. Đêm Nguyệt Động, Cái chuồng khỉ và còn nhiều,
rất nhiều công lao với văn học đã, đang và chưa thực hiện được.

* Với nhà văn Lê Thị Huệ:

 Rồi bỗng nhiên nghe tin Ông chết. Đặng Ngọc Loan hôm trước rủ đi uống cà phê với Ông một lần,
gọi điện thoại nói với tôi:
Tin gì kỳ cục.
Sao người vậy mà chết nghe kỳ cục quá.

4.- Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, Sàigòn.

Có lẽ phải nói đây là một ông Khai Trí thứ hai.
Trong một dịp đi dự một buổi phát giải thường, do cái TTNCBTVPHVHDT. Viết tắt thế để quý vị khỏi mất thời giờ với cái Trung Tâm đó.
Tôi có gặp anh Võ Thành Tân,
Tổng giám đốc nhà sách Thành Nghĩa và nhất là  anh Vũ Quang Trình,
trợ lý TGĐ trong bữa ăn trưa đó.
Gốc gác các anh đều là dân Quảng Nam, Quảng ngãi mà người dân gọi đùa là:
Cộng Hoà Xã Hội chủ nghĩa Việt Nam Quảng Nam, Đà Nẵng.
Gọi như thế để  thấy cái dân ngoài đó đi theo đảng nhà nước tận tình.
Nay sau 30 tháng tư, Họ,
những người dân miền ấy có mặt khắp nơi, nhất là trong ngành báo chí,
xuất bản.
Các báo lớn như Tuổi Trẻ, Thanh Niên v.v. đều có người của họ.
Chẳng hạn báo
Thanh Niên có Nguyễn Công Khế,
Tuổi Trẻ có Hùng Sơn Phước,
Công An thành phố Trần Trữ Lang,
Sài gòn time có Võ như Lanh,
Kinh tế VN có Cung Văn, Nhất Ánh..

Võ Thành Tân, sau 75 đang còn học Văn Khoa.
Với cái vốn liếng ấy đâm ra hữu dụng, anh làm nghề mua bán sách cũ.
Biết sách nào quý, biết sách nào giá trị là sở trường của một người mua bán sách cũ.
Có tý vốn rồi, anh mua lại một cái ki ốt bán sách lẻ ở đường An Dương Vương. Kịp đến thời mở cửa, 1986..
Theo lời anh Trình, các anh liên kết với các nxb của nhà nước để in sách.
Họ đứng tên, cho giấy phép rồi họ mặc cho mình muốn làm gì thì làm.
Một cuốn sách mới đầu ít vốn in 1000 cuốn thăm dò. Bán chạy thì in lại,
bán tiếp.
Một năm mới đầu xuất bản 4, 5 đầu sách, rồi cứ thế tăng dần.
Đến năm 2004 thì đã cho xuất bản đến 3000 đầu sách đủ loại.
2005 tăng lên 3500 đầu sách một năm.

Nay thì các anh trở thành tỉ tỉ phú trong ngành xuất bản.
Ngoài ra, các anh còn mở ra hàng trăm cửa hàng bán sách với hàng ngàn nhân viên. Hỏi sao có nhiều nhân viên như thế. Trả lời là để trông chừng những khách hàng ăn trộm đồ trong tiệm sách.

 Có những tiệm sách lớn có đến 40 chục ngàn đầu sách đủ loại.
Làm gì  còn có những Thanh Tuệ, những Từ mẫn nữa.
Làm gì còn có Lá Bối, An Tiêm,
Nam Sơn nữa.
Làm gì còn có *Loan mắt Nhung*  nữa.

Thôi chào vĩnh biệt sách cũ Sàigòn. Chào những đứa con tinh thần sinh trước 1975 còn sót lại.
NVL

Nguyễn Văn Lục

Nguồn fb Xuyên Sơn




GIAO CHỈ SAN JOSE – Tháng Bảy 1954: 70 Năm Sau, Từ Khi Đất Nước Chia Đôi.

Tháng Bảy 1954: 70 năm sau, từ khi đất nước chia đôi

Giao Chỉ San Jose

1 GC.jpg
2 GC.jpg

(Viết cho bằng hữu tháng tư 1954. Chúng tôi 300 thanh niên trình diện trại Ngọc Hà động viên vào Đà Lạt cùng hát bài ca Hà Nội ơi, năm 20 tuổi chưa từng biết yêu. Sau 21 năm chinh chiến, tháng tư 75 khóa Cương Quyết hát tiếp. Bao nhiêu mộng đẹp, tan ra thành khói, bay theo mây chiều. 

Ngày nay, tháng 7-2024 vào nursing home thăm bạn cùng khóa. Ba anh bạn đại tá lữ đoàn trưởng mũ xanh mũ đỏ cùng đại đội võ bị ra đánh trận Quảng Trị chỉ còn Ngô Văn Định. Ghé lại bên tai nghe Định hỏi nhỏ:  

– Bên ngoài còn mấy thằng?  

– Còn liên lạc được 4 thằng. Ngoài 90 cả rồi. Tôi báo cáo. Thằng Luyện mới đến thăm. 

– Định nói. Luyện nhảy Bắc 21 năm biệt giam mà còn sống. Hay thật. 

– Tôi nói. Bạn yên tâm. Ngoài này còn thằng nào chơi thằng đó. 

– OK, bạn còn sống lo cho anh em.)

***************

Ngày 20 tháng 7 năm 2014 ghi dấu 60 năm hiệp định Geneve chia đôi đất nước, chúng tôi tổ chức kỷ niệm đêm giã từ Hà Nội. Có các chiến binh Việt Nam trong quân đội Mỹ về tham dự. Ca sĩ Ý Lan trình diễn những bài ca quê hương. Chúng tôi có dịp nhắc lại kỷ niệm từ ngày rất xa, khi còn là thiếu niên trong thời kháng chiến đứng sau cột đình làng Bình Hải, huyện Yên Mô nghe cô Thái Thanh rất nhỏ bé hát bài ca cho chương trình Bình Dân Học vụ. Lời ca thánh thót của thời thơ ấu mà vẫn còn nghe vang vọng tuổi hoa niên. Ai về chợ huyện Thanh Vân, hỏi thăm cô Tú đánh vần được chưa,,,?.Trải qua biết bao dâu bể. Ngày nay vẫn còn may mắn ngồi nghe con gái của cô Thái hát rằng: Quê hương tôi, có con sông đào xinh xắn.

Hôm nay, ngồi đọc lại bài viết cũ về chuyện còn sông Bến Hải đã trở thành câu chuyện 70 năm.

Tuổi cao niên già thêm 10 năm, nhưng lịch sử đất nước chia đôi trên căn bản vẫn không thay đổi. Xin soạn lại gửi đến bằng hữu độc giả như sau.

Viết cho ngày 20 tháng 7-1954

Đất nước bị chia cắt 54 quả thực là thảm họa, nhưng thống nhất 75 là còn khốn nạn hơn. Để hoàn thành công cuộc gọi là “Giải phóng miền Nam”, Việt Cộng đang phải trả nợ bằng cả núi sông. Vì câu chuyện thời sự hôm nay, chúng ta cùng nhớ lại chuyện hôm qua. 70 năm trước cũng vào ngày tháng này, người Việt di cư lần thứ nhất.

Tháng 7 năm 2024 có gợi nhớ cho người Việt tỵ nạn chúng ta một chút kỷ niệm nào không? Cách đây 70 năm vào tháng 7 năm 1954, Hiệp Định Genève chia đôi đất nước. Hôm nay, từ hơn nửa thế kỷ và một đại dương xa cách, xin có đôi lời ghi lại. Trước hết là một số sử liệu, nhắc lại một lần vào cuối cuộc đời.
Tháng 9-1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh, Thế chiến thứ II chấm dứt chính thức trên mặt trận Thái Bình Dương. Hồ Chí Minh lãnh đạo đảng cộng sản tuyên bố Việt Nam độc lập. Người Pháp trở lại Đông Dương.
Ngày 19 tháng 12-1946, toàn quốc kháng chiến. Vào những ngày của mùa Thu khói lửa năm xưa, tất cả thanh niên Việt Nam đều đứng lên đáp lời sông núi. Phạm Duy đã viết lời ca như sau: Một mùa Thu năm qua, cách mạng tiến ra đất Việt, cùng ngàn vạn thanh niên vung gươm phá xiềng. Bài ca này miền Nam đã dùng mở đầu cho cuốn phim Chúng tôi muốn sống. Vào những ngày đầu kháng chiến tôi mới hơn 14 tuổi. Tuổi măng non thơ dại và hào hứng biết chừng nào. Vào thời gian này, không ai biết gì về Quốc Cộng. Người ta nói rằng: Khi cách mạng mùa Thu, anh 20 tuổi, anh không theo kháng chiến, anh không phải là người yêu nước. Và tôi là cậu bé con của trường Cửa Bắc, Nam Định tản cư về Yên Mô, Ninh Bình cũng bắt đầu bài học yêu nước nồng nàn.

Sau này mới học được những danh ngôn thần diệu khác. Khi chủ nghĩa cộng sản ra đời, anh 20 tuổi, không theo cộng sản, anh không có trái tim. Hai mươi năm sau, anh chưa bỏ cộng sản. Anh không có khối óc.

Hà Nội và Nam Định tản cư, sinh viên học sinh gia nhập tự vệ thành mang dấu hiệu sao vàng tham dự vào trung đoàn thủ đô. Trong Nam các thanh niên tiền phong Sài Gòn cầm gậy tầm vông hợp đoàn chống Pháp.

Cho đến ngày nay, tất cả các vị cao niên 80 tuổi trở lên chắc hẳn còn nhớ về mùa Thu khói lửa năm xưa của thời kỳ 1946. Rồi tiêu thổ kháng chiến, rồi tản cư, rồi về Tề, còn nhớ biết bao nhiêu ngôn ngữ đặc thù của cả một thời thơ ấu.

Ba năm sau, tháng 3-1949, vua Bảo Đại từ Hương Cảng trở về. Bình minh của phe quốc gia mới bắt đầu nở hoa cay đắng trong vòng tay của quân đội Liên Hiệp Pháp.

1950: Cuộc chiến vẫn tiếp tục trên toàn thể đất nước cho đến năm 1950. Một năm nhiều dữ kiện. Tháng giêng, Trung Cộng công nhận cộng sản Việt Nam. Tháng 2, Hoa Kỳ công nhận Việt Nam Quốc Gia. Tháng 3, Mỹ bắt đầu viện trợ cho Pháp tại Đông Dương. Tháng 6, toán cố vấn Mỹ đầu tiên đến Việt Nam.

Rồi đến năm 1954 định mệnh. Tháng 5-1954, Điện Biên Phủ thất thủ, trong số binh sĩ tham chiến có phân nửa là lính quốc gia Việt Nam cùng chịu chung phần số hy sinh và thân phận tù binh.Trong số này có trung úy mũ đỏ Phạm văn Phú. Hội nghị Genève về Đông Dương khai mạc. Tháng 6-1954, ông Ngô Đình Diệm từ Mỹ về nước nhận chức thủ tướng. Tháng 7-1954, Geneva quyết định chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 17, trên con sông Bến Hải giữa nhịp cầu Hiền Lương. Và cái ngày định mệnh của cả dân tộc là ngày 20 tháng 7-1954. Anh, Pháp, Tàu v.v… ký vào hiệp ước cùng với phía cộng sản Việt Nam. Hoa Kỳ và Việt Nam quốc gia không ký. Thủ tướng Pháp đương thời hứa với quốc dân là hiệp định phải ký xong nội ngày 20 tháng 7-1954. Họp bàn đến nửa đêm chưa xong. Đồng hồ phòng nghị hội cho đứng chết lúc 12 giờ khuya. Tiếp tục họp đến sáng hôm sau. Ký xong rồi cho đồng hồ chạy lại. Ngoại trưởng Việt Nam là cụ Trần Văn Đỗ khóc vì đất nước chia đôi ngay tại hội nghị. Lê Duẩn chỉ huy cộng sản tại miền Nam, đang trên đường ra Bắc chợt nghe tin đình chiến bèn quay trở lại để tiếp tục lãnh đạo công cuộc giải phóng về sau. Từ Hà Nội một số sĩ quan Quốc Gia Việt Nam cùng sĩ quan Pháp tham dự hội nghị Trung Giá để quy định việc đình chiến. Các đơn vị Pháp và tiểu đoàn khinh quân Việt Nam âm thầm rút khỏi Bùi Chu, Phát Diệm, Thanh Hóa, Nam Định để lại sự hoảng loạn đau thương cho nhiều giáo khu Việt Nam tự trị.
Tại miền Bắc, Pháp và phe quốc gia có thời hạn tập trung 80 ngày tại Hà Nội, 100 ngày ở Hải Dương và 300 ngày tại Hải Phòng. Tại miền Nam, bộ đội tập kết tại Hàm Tân 80 ngày, Bình Định 100 ngày và Cà Mau 300 ngày.
Ngày nay bao nhiêu người trong chúng ta còn nhớ đến thời kỳ tập kết ở miền Nam và di cư của miền Bắc. Bộ đội miền Nam trước khi ra đi đã phát động chiến dịch gài người ở lại nằm vùng và phong trào lập gia đình ồ ạt để hẹn ngày trở lại hai năm sau hiệp thương và tuyển cử. Trung úy Giao Chỉ tham dự hành quân Tự Do tiếp thu Cà Mau thấy người cộng sản tập kết chào nhau với bàn tay xòe hai ngón hẹn gặp lại sau hai năm, kèm theo khẩu hiệu: Ra đi là chiến thắng, ở lại là vinh quang. Kháng chiến miền Nam ra Bắc để lại những người đàn bà mang bầu trong thôn xóm và súng đạn chôn sau vườn.
Trong khi đó ở miền Bắc cộng sản cố sức cản đường không cho lính quốc gia di tản và ngăn chặn cuộc di cư vĩ đại từ tháng 8-1954. Nhưng phe Quốc Gia vẫn có đủ một triệu người ra đi. Trung úy Vũ Đức Nghiêm, tốt nghiệp khóa 1 Nam Định đã di cư vào Nam cùng đơn vị và gia đình lúc ông hơn 20 tuổi. Từ Phát Diệm, ông đi cùng Tiểu đoàn Khinh quân 711 về Hải Dương rồi rút về miền Nam. Đại úy Lê Kim Ngô di tản trường Công Binh từ Bắc vào Nha Trang và tham dự hành quân tiếp thu Bình Định. Cả hai ông Vũ Đức Nghiêm và Lê Kim Ngô về sau đều có dịp trở về đất Bắc trong lao tù cộng sản trước khi HO qua định cư tại Hoa Kỳ.
Cũng trong đợt di cư theo gia đình công giáo, thanh niên Phạm Huấn 17 tuổi còn nhớ mãi về Hà Nội của tuổi hoa niên. Sau khi ký hiệp ước Paris, thiếu tá VNCH Phạm Huấn có dịp trở về trong phái đoàn chính thức để viết nên tác phẩm “Một ngày tại Hà Nội” vào năm 1973. Sau đó ông Phạm Huấn lại một lần nữa từ biệt Sài Gòn năm 1975. Ngày 7 tháng 7-2004, tôi và đại tá thiết giáp Hà Mai Việt vào thăm Phạm Huấn tại Nursing Home của bác sĩ Ngãi ở khu Tully, San Jose. Sinh năm 1937, người thiếu niên Hà Nội trở thành sĩ quan trẻ trung của Sài Gòn vẫn còn là vị cao niên trẻ nhất của Nursing Home. “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới, đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm.” Phạm Huấn nói rằng nếu có ngày các ông lấy lại được Sài Gòn thì tôi cũng sẽ chơi một chuyến xe lăn về quê cũ. Ông qua đời tại San Jose và chưa một lần trở lại Việt Nam. Nhưng từ tháng 7-1954 cho đến tháng 7-2019 ngày tháng cũng xa rồi mà mộng ước cũng xa rồi. Phạm Huấn và nhà thơ Hoàng Anh Tuấn đều lần lượt ra đi từ San Jose bỏ cả mưa Sài gòn lẫn mưa Hà Nội. 

Cuối tháng 5-2014, Hà Mai Việt trở lại San Jose ra mắt tác phẩm Cội rễ cuộc chiến Việt Nam, khởi sự từ miền Bắc. Chẳng biết còn ai nhớ được nguồn cơn.

Năm 1954, có cô bé 16 tuổi lên máy bay một mình đi theo gia đình người bạn để vào Nam tìm tự do. Mồ côi mẹ, cha ở lại đi tìm con trai rồi kẹt luôn. Cô bé tên là Nguyễn Thị Chinh và sau này chuyến đi đã đem đến cho miền Nam một đệ nhất minh tinh gọi là Kiều Chinh. Chuyến đi của Kiều Chinh 1954 từ biệt Hà Nội đầy nước mắt chia ly trong tình phụ tử. Năm 1975, Kiều Chinh lại một lần nữa từ biệt Sài Gòn trong một chuyến bay trắc trở vòng thế giới giữa lúc thủ đô miền Nam hấp hối.

Và cũng vào năm 1954, một cô bé 9 tuổi Nguyễn Thị Lệ Mai xuống tàu di cư vào Nam. Sau này cô trở thành ca sĩ tiêu biểu của cuộc chiến lầm than, một đời lưu vong trong một kiếp trầm luân. Tên của người ca sĩ 50 năm hát rong trên khắp địa cầu là Khánh Ly. Năm vừa qua cô về hát lần đầu trên sân khấu Hà Nội. Trải qua 50 năm là biểu tượng chống Cộng bằng ca từ hải ngoại, ngày nay cô đứng hát tình ca cho những khán giả chưa từng quen biết nhưng hết mực yêu thương.
Và cùng với Vũ Đức Nghiêm, Lê Kim Ngô, Phạm Huấn, Kiều Chinh, Lệ Mai còn có Bùi Đức Lạc cũng là thành phần Bắc Kỳ di cư đến tạm trú ở khu Phú Thọ Lều để đến 75 thì trở thành người di tản mang màu áo pháo binh Dù.
Năm 1972 trong nước mắt Hạ Lào, Bùi Đức Lạc nghe Khánh Ly nức nở, đã nói rằng trận liệt mất đường về không phải vì Mỹ bỏ mà tại vì nhạc Trịnh Công Sơn.
Một người khác gốc Phát Diệm đã sớm trở thành dân di cư Hố Nai rồi chuyển qua vượt biên với một vợ 9 con tiếp tục bình tĩnh làm báo hàng ngày tại San Jose. Đó là Ký Còm – Vũ Bình Nghi. Tại sao miền Bắc lại di cư tị nạn? Tại sao miền Nam lại di tản vượt biên? Truyền thống của dân Việt là muôn đời sống với lũy tre xanh, với mồ mả tổ tiên, với làng xóm. Vạn bất đắc dĩ phải ra đi mang tiếng tha hương cầu thực nhưng rồi vài năm lại trở về. Quốc văn giáo khoa thư thuở nhỏ đã ghi rằng chỉ có chốn quê hương là đẹp hơn cả.
Trung úy Phan Lạc Tuyên khi tham dự hành quân tiếp thu tại Bình Định đã viết nên bài nhạc bất hủ. Anh về qua xóm nhỏ, em chờ dưới bóng dừa. Nắng chiều lên mái tóc, tình quê hương đơn sơ. Nhưng chính tại miền quê đơn sơ ở Bồng Sơn này suốt 20 năm chưa bao giờ yên tiếng súng.
Khi người cộng sản nổi dậy với một cuộc chiến toàn diện khốc liệt và quá độ đã triệt tiêu hoàn toàn mọi sự hòa giải trong tình tự dân tộc. Đầu tiên là các dân thành thị, trí thức, tiểu tư sản và tôn giáo phải bỏ Kháng Chiến về thành. Tiếp theo là bỏ miền Bắc di cư vào miền Nam.
Năm 1954, người Bắc vào Nam đã đánh thức con rồng Sài Gòn tỉnh giấc. Qua những khác biệt ban đầu rồi chuyển đến thời gian hòa hợp. Miền Nam bắt đầu khởi sắc từ ẩm thực đến văn chương báo chí. Từ văn nghệ đến kinh doanh. Và sự hòa hợp không hề có biên giới.
Đại úy Lê Công Danh, gốc công tử Cần Thơ đứng đón di cư ở bến nhà Rồng đã bế luôn cô Bắc Kỳ nho nhỏ tóc demi garcon về làm áp trại phu nhân.
Trung úy công binh Nghiêm Kế, dân chơi Hà Nội phải lên tận Biên Hòa xứ Bưởi cưới cô Bé về làm chính thất, sống 20 năm ở các trại gia binh với 8 đứa con lần lượt ra đời.
Trung úy Giao Chỉ đi chiến dịch Đinh Tiên Hoàng phải xuống tận Rạch Giá để rước về người đẹp xứ Kiên Giang. Sau hơn 60 năm tình cũ, chàng mới nhận ra rằng không phải chỉ Đà Lạt mới có hồ than thở, mà ở miền Hậu Giang cũng có khá nhiều.
Những ông sĩ quan trẻ Bắc Kỳ xấp ngửa vào Sài Gòn đều đem về mỗi ông một cái hồ than thở. Qua đến Hoa Kỳ nàng vẫn còn than thở qua Cell Phone…

Sau những đoạn trường 1954, thì tiếp đến câu chuyện tình Bắc duyên Nam trên mọi lãnh vực. Tất cả cùng nhau xây dựng xong 2 nền Cộng Hòa với một đạo quân đẹp đẽ biết chừng nào.
Cho đến năm 1975 và rồi đến tận ngày nay là 2024, người Việt vẫn tiếp tục bỏ nước ra đi. Từ di tản đến vượt biên, vượt biển, đoàn tụ, HO, con lai.
Tại sao chúng ta lại rời bỏ quê hương?
Một lần đi là một lần vĩnh biệt.
Một lần đi là hết lối quay về.

Năm 1954, khi ra đi dân Bắc Kỳ di cư ít có hy vọng trở về chốn cũ. Bài ca Hướng về Hà Nội được hát nỉ non suốt ngày đêm trên Radio. Cho đến khi chính phủ sốt ruột phải ra lệnh cấm. Những cánh bưu thiếp liên lạc Bắc Nam rời rạc được một vài tháng rồi cắt đứt sau hai năm xa cách.
Qua thập niên 60, Hà Nội mở đường dây Ông Cụ, đưa cán bộ vào Nam xây dựng hạ tầng cơ sở và dựng nên cuộc chiến mà ngày nay chính cựu đảng viên cộng sản Dương Thu Hương cũng nhận xét là một cuộc chiến sai lầm, hy sinh quá nhiều sinh mạng và tiềm lực của cả hai miền đất nước.

Hôm nay, nhân dịp ghi dấu 65 năm cuộc hiệp định Genève chia đôi đất nước, chúng ta cùng suy ngẫm về dòng sinh mệnh đã đưa đẩy người Việt lưu vong. Sẽ không thể có được câu trả lời coi như là chân lý cho một vấn nạn lịch sử.
Trong cuộc sống hàng ngày, biết bao nhiêu là điều bí ẩn không hề có đáp số. Tại sao có người hạnh phúc và có người đau khổ? Tại sao có người bị hy sinh và có người tồn tại? Tại sao có người thành công và có người thất bại? Những ngày tháng lịch sử như 20 tháng 7, như 30 tháng 4 chỉ là những dấu ấn trong dòng sinh mệnh của một dân tộc, của một cộng đồng. Đó là ngày của cay đắng nở hoa.
Mới đây các quốc gia văn minh nhất của nhân loại Tây phương kể cả Nga, Đức, Anh, Pháp, Canada, Úc, Mỹ và nhiều nước khác cùng dự lễ kỷ niệm 70 năm đổ bộ Normandie. Bây giờ chúng ta cũng là công dân của một xứ sở văn minh là Hoa Kỳ, hãy cùng nhau nhớ về ngày lịch sử 20 tháng 7 của 70 năm về trước, ghi dấu lịch sử là một cách hành xử của con người văn minh.
Một lần nữa xin nhắc lại 20 tháng 7-1954, 70 năm về trước hiệp định Genève chia đôi đất nước. Một triệu người miền Bắc di cư vào Nam. Tại sao người Việt lại rời bỏ quê hương? Câu hỏi đó dành cho quý vị.
Tiếp theo từ 30 tháng 4-1975 cho đến nay, trên hai triệu người Việt lần lượt ra đi. Tại sao người Việt lại rời bỏ quê hương? Câu hỏi đó cũng dành cho quý vị.
Tại sao quý vị lại ra đi?
Tại sao lại trở về? Tại sao lại không trở về? Trở về quê hương. Câu hỏi cho cả đời người. Câu hỏi cho cả một thế hệ. Điều này có đúng với người Việt lưu vong hay không?
Nhà thơ Đỗ Trung Quân đã viết:
Quê hương, mỗi người có một
Như là chỉ một mẹ thôi…

Điều này có đúng với người Việt lưu vong hay không?
Hay là như Vũ Hoàng Chương đã than thở:
Chúng ta là đám người đầu thai nhầm thế kỷ
Quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh.
Có thực sự đau thương như vậy không?
Chúng ta ra đi đem theo quê hương, hay là chúng ta ra đi bỏ lại quê hương? Với con đường an cư lạc nghiệp ở xứ này, phải chăng chúng ta đang sống hạnh phúc với quê hương mới?
Giáo sư Elie Wiesel, người Mỹ gốc Do Thái sinh trưởng ở Romania, nạn nhân của nạn diệt chủng Holocaust được cứu sống lúc 16 tuổi. Nhập tịch Hoa Kỳ năm 1963. Đoạt giải Nobel về Hòa Bình năm 1986, Ông đã nói rằng: Nơi nào tôi sống có tự do và hạnh phúc, nơi đó chính là quê hương.

Nhưng ađã nói rằng chống Cộng không phải là chống cả quê hương. Dù quê hương cũ hay mới. Giao Chỉ.

 20 tháng bảy năm 2014 tôi tổ chức 60 năm đêm giã từ Hà Nội có nhạc sĩ Vũ đức Nghiêm và nhiều bạn Hà Nội tham dự. Năm 2019 tôi tổ chức 65 năm ngày Nhớ về Hà Nội. Các bạn Hà Nội chẳng còn bao nhiêu người. Thay vì nhớ thương thành phố cũ ban đêm thứ bảy, chúng tôi tổ chức 11 giờ trưa ngày chủ nhật 21 tháng 7 năm 2019 tại nhà hàng Phú Lâm. Không phải chỉ dành riêng cho dân Bắc Kỳ di cư chẳng còn bao nhiêu. Xin mời bằng hữu Trung Nam Bắc một nhà cùng đến với nhau cả thế hệ thứ hai và thứ ba. Nếu ngày quốc hận 30 tháng tư năm 75 còn nhiều thương đau thì ngày quốc hận 20 tháng 7 năm 54 chỉ còn là những kỷ niệm êm đềm của tình Bắc duyên Nam.. Cùng ôn lại chuyện cũ giữa thế kỷ 20 đem qua thế kỷ 21. Chương trình hết sức đơn giản. Nhưng vô cùng ý nghĩa và chan hòa tình cảm. Chúng ta cùng ôn lại những câu trả lời muôn thuở trên đất Hoa Kỳ. Người Việt là ai, tại sao lại đến đây và đã đến vào thời gian nào. Trên báo San Jose Mercury News tuần qua đăng hình hai ông Nhật già danh tiếng của Hoa Kỳ gặp nhau cũng nhắc lại chuyện hai cậu bé cùng gia đình bị giam vào trại tập trung thời kỳ đệ nhị thế chiến. Về sau một ông trở thành thị trưởng San Jose rồi lên bộ trưởng giao thông thời tổng thống Bush. Một ông trở thành dân biểu liên bang. Để trả lời cho tuổi trẻ của thế hệ tương lai, cả hai ông Nhật đều nói rằng. Làm gì thì làm các bạn phải luôn luôn biết mình là ai? Như vậy là sau bao nhiêu năm tung hoành trên chính trường Hoa Kỳ, lúc về già ông bộ trưởng Mineta và ông dân biểu Honda mới chợt nhớ mình là Nhật Bản. Với 70 năm nhớ về cuộc di cư 1954. Với 49 năm nhớ về cuộc đổi đời 1975. Chúng ta dù đã trở thành người Mỹ nhưng luôn luôn phải nhớ mình thực sự là ai.   

Giao Chỉ San Jose

Bài này viết tặng nhà tôi, cô nữ sinh Kiên Giang có đủ can đảm đi theo anh trung úy Bắc Kỳ đồn trú tại Cà Mau và trên khắp chiến trường miền Đông và miền Tây Nam Bộ. 

Thế giới biết bao người mà sao anh chỉ thấy có mình em. Bà già 87 tuổi còn thắp hương tháng Tư 

và nhỏ lệ tháng 7.

001.bmp

Hãy đem đình làng Đình Bảng Hà Nội đến cạnh Việt Museum tại San Jose USA

4 GC.jpg

Trung úy Bắc Kỳ di cư gặp cô học sinh Kiên Giang,nay đã thành phụ nữ thắp hương cho tháng Tư và nhỏ lệ khóc tháng 7 di cư

5 GC.jpg

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




Nam Bắc Cali Lại Kết Hợp Tổ Chức Cho Buổi Ra Mắt Sách 4 Tác Phẩm của Nhà Văn, Nhà Thơ Chinh Nguyên – LÊ VĂN HẢI.

Tin Sinh Hoạt Văn Học Nghệ Thuật Độc Đáo: Văn Thơ Lạc Việt (Bắc Cali) Lại “Mang Chuông Đi Đánh Xứ Người!” Xuôi Về “Nắng Ấm Miền Nam!

thiep moi chinh nguyen.png

*Một Lần Nữa, Nam Bắc Cali Lại Kết Hợp Tổ Chức Cho Buổi Ra Mắt Sách 4 Tác Phẩm của Nhà Văn, Nhà Thơ Chinh Nguyên. Lúc 1 giờ chiều Thứ Bảy, ngày 10 tháng 8 năm 2024, (Tuần tới) Tại Thư Viện Việt Nam, 10872 Westminster, Carden Grover, CA 92843

 bvguygygguiguiguiguiuh.jpg

*Nhiều lần Cơ Sở Thi Văn Lạc Việt đã cộng tác với Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, Nam Cali, trong những Sinh Hoạt Văn Học Nghệ Thuật Ra Mắt Sách, rất là thành công. Năm ngoái, tại Bắc Cali cho Ký Giả Chiến Trường Kiều Mỹ Duyên, KQ Phan Đình Minh…giờ VTLV thì xuôi Nam! Hy vọng lại có buổi RMS thành công mỹ mãn, nhiều điều ý nghĩa, thú vị!

nknnkonkonknknk.png

*Chuyện gì thì không biết, nhưng chuyện ý nghĩa, thì chắc chắn100%! Vì tất cả số tiền bán sách, sẽ được chuyển về hở trợ thuốc men, cho Linh Mục Nguyễn Văn Lý, (Hình ảnh một vị Lãnh Đạo Tông Giáo, bền bỉ đấu tranh cho Tự Do Tôn Giáo, Dân Chủ) trải qua 4 lần trong ngục tù CS, nay đã có tuổi, mang nhiều bịnh tật, cần nhiều phương tiện chữa trị.

Mới quảng bá mục đích này, mà các Thân Hữu, Độc Giả, Nam Bắc Cali, hứa mua sách ủng hộ, trong buổi RMS, đã trên…3 ngàn đô la! thật là khích lệ hứng thú cho BTC.

*Trong mục đích: “Tiếng Việt còn, Nước Việt còn!” Kính mong Quý Vị bớt chút thời giờ tham dự. Có phụ diễn văn nghệ, nhiều giọng ca đặc sắc, thức ăn nhẹ, giải khát, Vào Cửa Tự Do!

nmknionioninmipmimkpmm.png

Cơ Sở Thi Văn Lạc Việt San Jose và Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian Nam Cali Kính Mời.

Nhân đây, xin mời đọc thêm, lời giới thiệu BRMS của Nữ Ký Giả Chiến Trường Kiều Mỹ Duyên và Bài giới thiệu chút về Văn Thơ Lạc Việt của Minh Thúy Thành Nội.

KÍNH GIỚI THIỆU NHÀ VĂN CHINH NGUYÊN RA MẮT SÁCH

(KIỀU MỸ DUYÊN)

 uhuhhy89hhy8hiohiijjiopojp.jpg

-Chinh Nguyên là một tác giả đa tài, ông viết văn, làm thơ và viết báo. Dù ở lãnh vực nào, tác giả Chinh Nguyên đều có năng lực thiên phú. Thơ Chinh Nguyên được các nhạc sĩ Luynh Phương, Hoàng Khiêm, Khôi Nguyên, Phan Ni Tấn phổ nhạc.

Nỗi niềm của tác giả Chinh Nguyên nơi xứ lạ vẫn dõi về quê nhà:

“Ba mấy năm trời nơi xứ lạ

Tóc mầu tuyết trắng điểm sương pha

Tơ lòng vẫn rối tình như bão

Nghiêng ngả đôi vai nợ nghiệp nhà.”

“Quê hương hỡi! Biển sâu ngăn cách trở

Sao lòng người sâu thẳm lắm nghiệt oan

Đẩy tôi đi mỗi ngày thêm xa mãi

Cho mẹ buồn đêm trắng tủi khóc than.”

(Niềm riêng- Chinh Nguyên)

 uhhhhiohiohiij.jpg

RA MẮT SÁCH

Tác giả CHINH NGUYÊN

Thứ bảy, ngày 10 tháng 8/2024

Từ 1pm đến 4pm

Tại Thư Viện Việt Nam, 10872 Westminster Ave, Suites 214 & 215, Garden Grove, CA 92843

Tác giả Chinh Nguyên sẽ đặc biệt giới thiệu về 4 quyển sách song ngữ:

1/ Thorn In the Heart: Xuất bản 2019. Truyện dài 12 chương nói về cuộc sống không có ngày mai của thanh niên Việt Nam trong chiến tranh.

2/ Please Come In. “VÀO ĐI”: Truyện dài song ngữ- xuất bản 2023: Một sự thức tỉnh già trẻ từ nhà tù Cộng Sản

3/ ANTI-AUTHORITARIAN HANDBOOK (CẨM NANG CHỐNG ĐỘC TÀI): Truyện ngắn song ngữ- Xuất bản 2023 với 8 chủ đề dùng làm kim chỉ nam chống Cộng Sản

 4/ My Life: Truyện dài 19 chương – Xuất bản năm 2024: Kể về cuộc đời thật của nhà thơ Đông Anh- Nguyễn Đình Tạo (1954- 2013).

Tất cả tiền bán sách và ủng hộ của quý đồng hương sẽ được chuyển về hỗ trợ thuốc men cho Linh Mục Nguyễn Văn Lý (linh mục xứ An Truyền, thành phố Huế). Linh mục Nguyễn Văn Lý đã trải qua 4 lần bị giam cầm trong lao tù Cộng Sản.

Linh mục Nguyễn Văn Lý được phóng thích từ nhà tù về Tòa Tổng Giám mục Huế ngày 20/5/2016. Ảnh: Website Tòa Tổng Giám Mục Huế.

Linh mục Nguyễn Văn Lý từng được đề cử nhận Giải Nobel Hòa Bình năm 2013 và Giải Nhân quyền Sakharov năm 2010 vì tinh thần bất khuất tranh đấu cho nhân quyền, bất chấp sự đàn áp thường xuyên từ nhà chức trách. Trong suốt gần 20 năm, linh mục Nguyễn Văn Lý bị cầm tù hoặc bị quản chế tại gia vì các hoạt động kiên định tranh đấu đòi tự do dân chủ cho người dân Việt Nam

Linh mục Lý được nhiều người biết đến qua các bài viết kêu gọi tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, đa đảng tại Việt Nam, qua các cuộc tuyệt thực trong trại giam, qua tinh thần tranh đấu kiên định, và đặc biệt là qua bức ảnh ông bị bịt miệng trước tòa hồi năm 2007.

Linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng trước tòa năm 2007

Vài hàng về tác giả CHINH NGUYÊN

Tên thật: Nguyễn Trung Chính

Bút danh: Chinh Nguyên, bút danh khác Hà Nguyên Trung (trước năm 1975)

Sinh ngày 13 tháng 10 năm 1943

Quê quán Thành Lập, Hà Đông Bắc Việt

– 1950-1954: Theo gia đình trốn Cộng Sản vào Hà Nội.

– 1954-1958: Di cư vào Nam sống tại Nha Trang và Ban Mê Thuột.

– 1958-1967: Học tại trung học Ban Mê Thuột, Dòng La San Nha Trang, đại học Văn Khoa Sài Gòn

– 1968-1975: Phục vụ trong quân chủng Không Quân Việt Nam Cộng Hòa. Cộng tác nguyệt san Lý Tưởng Không Quân, Báo Đức Mẹ (Linh Mục Chân Tín)

– 1975: Tị nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ, nghề nghiệp kỹ sư kiểm tra kỹ thuật (F/A characterization test Engineering).

Về hưu sau hơn 28 năm làm cho IBM.

– Chủ tịch cơ sở Văn Thơ Lạc Việt, Chủ Nhiệm website văn thơ Lạc Việt.

– Cộng tác với Ý Dân Nam California và Denver Colorado, Tuyển tập văn học nghệ thuật, Văn Đàn Đồng Tâm, Điện báo Đất Quê, Thời Nay Online và diễn đàn Network.

Các tác phẩm của CHINH NGUYÊN: thơ LỜI TÌNH BUỒN, tuyển tập truyện ngắn MẸ TÔI, tuyển tập truyện ngắn NỢ EM MỘT ĐỜI, thơ ĐÔI MẮT BIỂN, DÒNG THƠ KỶ NIỆM, tuyển tập thơ BƠ VƠ, tuyển tập thơ KHẮC KHOẢI, thơ NỖI ĐAU DÀI, Thorn In The Heart, Cẩm Nang Đấu Tranh, Please Come In, My Life, v.v.

 nhiojiojopjopjopjko.jpg

Mời quý đồng hương, bạn bè, thân hữu gần xa, đến tham dự buổi ra mắt sách của tác giả Chinh Nguyên, một đời tranh đấu vì lý tưởng chống Cộng Sản. Với mục đích thiện nguyện, giúp linh mục Nguyễn Văn Lý, mong quý độc giả yêu thơ, yêu văn của tác giả Chinh Nguyên chung tay, góp sức để tác giả thực hiện được ước nguyện của mình.

hiouhhhohohiohii.jpg

Chúc buổi ra mắt sách của tác giả Chinh Nguyên sẽ thành công tốt đẹp và được quý đồng hương tham dự đông đủ và đem về những quyển sách có giá trị và nhân văn.

Buổi ra mắt sách của tác giả CHINH NGUYÊN vào thứ bảy, ngày 10 tháng 8/2024, từ 1pm đến 4pm. Có phụ diễn văn nghệ đặc sắc và giải khát, thức ăn nhẹ, vào cửa tự do. Xin liên lạc ban tổ chức: Trần Mạnh Chi (310- 628- 7499) và Thụy Lan (626- 371- 6843).

 Orange County, 2/7/2024

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)

Vài Cảm Nghĩ Về Cơ Sở “Văn Thơ Lạc Việt”

(MINH THÚY)46451747_2724368247788932_4015448603878227968_n.jpg

-Tôi gia nhập làm hội viên của Văn Thơ Lạc Việt từ cuối năm 2016.

Được biết Văn Thơ Lạc Việt thành lập năm 1992 do các nhà văn, thi sĩ: Hoàng Anh Tuấn, Hà Thượng Nhân, Dương Huệ Anh, Thượng Quân và Chu Toàn Chung. Ban cố vấn gồm có: nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, nhà văn Vũ Văn Lộc, Bình luận Gia Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, nhà thơ Ngô đình Chương và nữ sĩ Trùng Quang.

ghguiuhhuhhuhiohio.jpg

Có bốn thời gian thay đổi chức vụ chủ tịch, bao gồm:

•Nhà văn Dương Huệ Anh 1992_ 2000 (Tổng Thư Ký: Thi sĩ Song Linh).

•Nhà thơ Đông Anh 2001_ 2008 (Tổng thư ký: Chinh Nguyên)

•Nhà văn Chinh Nguyên 2009_ 2019 (Tổng thư ký: văn thi sĩ Thanh Xuân)

•Nhà báo Lê văn Hải 2020 (Tổng thư ký: VTS Thanh Xuân)

Khi tôi bắt đầu tham gia thì nhà thơ Chinh Nguyên là Chủ tịch của cơ sở Thơ Văn Lạc Việt. Thời điểm này có tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng (phó ban ngoại vụ), nhà báo Lê văn Hải (phó ban nội vụ), thầy Phạm Thái (lo kỹ thuật phụ trách mục in ấn sách), nhà thơ Lê Tuấn (trưởng ban Media) quay phim làm video, anh Đom Đóm phụ thêm phần chụp hình, nhà thơ Mạc Phương Đình hổ trợ gom hình, quay phim làm phóng sự, anh có trang nhà Mây Bốn Phương cũng như Suối Nguồn Tươi Trẻ giới thiệu thơ văn thêm rộng rãi. Cô Thanh Xuân (tổng thư ký) bàn góp ý tưởng rất hay nhằm tạo sự thân mật trong hội, tổ chức sinh nhật mỗi quý (3 tháng) cho hội viên. Chị Thuý Nga trưởng ban văn nghệ tìm kiếm ca sĩ địa phương giúp phần ca nhạc trong các buổi ra mắt sách hoặc các buổi họp mặt sinh nhật. Anh Hoàng Thưởng lo phần nghi lễ chào cờ Việt Mỹ và tưởng niệm, chưa kể đến cô Tina thường đi vận động tài chánh từ những mạnh thường quân có cơ sở thương mại.image.png

Kể về anh Nguyễn Hồng Dũng là người tài giỏi, thường hướng dẫn chương trình với lối ăn nói khéo léo tài tình, anh ăn chay trường tâm Phật, ý Phật nên từng lời nói luôn hoà nhã, hiền hoà đầy thiền đạo, bên cạnh đó cô MC Hạnh Thảo tươi đẹp duyên dáng phụ phần giới thiệu.

Hội trưởng Chính Nguyên có nét mặt rất hiền hậu luôn sáng tạo những điều tốt đẹp cho hội viên, cũng như sốt sắng giới thiệu các tác phẩm của văn nhân thi hữu…Làm sao quên được những đêm mùa đông lạnh lẽo, anh Chinh Nguyên đã nhờ Thầy Thái mở lớp dạy Computer cho hội viên, lúc mượn địa điểm nơi này, khi mượn nơi khác. Trời giá lạnh bên ngoài, tuy thầy Thái đi dạy nhiều nơi mệt nhọc, đến giờ cơm tối cũng chưa về nhà, vẫn cố gắng đến chỉ vẽ hướng dẫn cách làm sách và in ấn. Anh Chinh Nguyên luôn có mặt kèm nụ cười thân thiện khuyến khích hội viên. Sau buổi học (9 giờ PM) anh CN mời thầy Thái đi dùng cơm tối vì lo lắng bao tử Thầy đang gào đói, thầy Thái xua tay và cả hai cùng cười trong niềm hân hoan ngầm rằng đã làm điều bổ ích cho đời. Thời gian sau anh Chinh Nguyên đích thân sang sửa lớp học tại nhà, kể thêm nhà thơ Lê Tuấn cũng đem tài năng làm video, quay phim của mình muốn truyền đạt cho hội viên kèm sau giờ học của thầy Thái.

 Cựu Hội Trưởng Chinh Nguyên và phu nhân

Những buổi hội họp, anh Thái NC và chị Thanh (phu nhân hội trưởng Chinh Nguyên) nhận nhiệm vụ đi đưa đón các bậc tiền bối đến dự như bác Trường Giang, bác Dương Huệ Anh, bác Diệu Tần nay đã lớn tuổi. Đối với tôi đây là những người góp công với tấm lòng đầy nhân hậu đáng quý, và cảm kích hơn nữa là hội trưởng Chinh Nguyên luôn quý trọng “ôn cố tri tân” những bậc trưởng bối đi trước.

Tôi thầm phục thêm tài tổ chức của hội trưởng Chinh Nguyên, ngoài các ban còn có ban xã hội do chị Lê Diễm làm trưởng, rất tình nghĩa đẹp mắt khi thấy ban điều hành gởi vòng hoa cũng như thăm đám nhà Quàn, hay quà bánh trái cây thăm người bệnh lớn tuổi.

Chưa hết… anh Chinh Nguyên còn tìm kiếm xã giao với đài VNA (Vietnamese America Tivi) được đài cho free nửa tiếng vào thứ ba, thứ bảy lúc 9 giờ tối (channel Nam Cali 57.3, Las Vegas 26.9 và San Jose 16.10), mục đích đưa những hình ảnh sinh hoạt của Văn Thơ Lạc Việt, hoặc những buổi phỏng vấn tác giả & tác phẩm thơ văn đến quý độc giả, mọi điều thật may mắn và hữu ích đối với VTLV.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng, Tân Hội Trưởng Lê Văn Hải, cựu Hội Trưởng Chinh Nguyên nhận bằng khen từ Dân Biểu Tiểu Bang David Corteseimage.png

Đầu năm 2021 nhà báo Lê văn Hải (phó ban nội vụ) theo sự bầu bán lên nhận trách nhiệm làm hội trưởng cơ sở Văn Thơ Lạc Việt, vì anh Chinh Nguyên trải qua cơn bệnh không thể điều hành tiếp, dù anh đã lái con thuyền gần 10 năm, nhưng không vì vậy anh lui vào bóng tối, mà anh còn cố vấn cũng như giúp đỡ nhiều mặt sau lưng hội trưởng mới.

Biết anh Hải từ lâu trong cộng đồng tỵ nạn tại miền thung lũng hoa vàng, qua những lần anh tổ chức ngày Thương Phế Binh và ngày Lễ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19 tháng 6, cũng như tổ chức phát quà, phát thức ăn mỗi tuần hai lần cho homeless. Tâm anh rất rộng rãi và tình cảm đầy ắp, anh làm ra tiền nhưng muốn cả làng đều hưởng ké, nên mỗi quý sinh nhật (3 tháng) tổ chức cho hội viên, anh bao thầu đãi nhà hàng, cùng quà cáp tặng thành viên có ngày sinh nhật. Mùa Lễ Giáng Sinh anh làm ông già Noel đứng phát quà và chơi sổ xố. Lúc ra mắt sách anh vẫn muốn tiếp tục đãi nhà hàng nhưng các anh chị cản ngăn thì anh lại tổ chức tại quán cà phê Lover bao nước uống và bánh ngọt. Mùa hè vừa qua anh thấy nhớ hội viên vì Covid ngăn cản đã lâu gần một năm rưỡi, nên muốn họp mặt và đã đãi tiệc trịnh trọng như tiệc cưới tại nhà hàng Phú Lâm.

QUÂN TỬ

(Trân kính tặng vị Mạnh Thường Quân ẩn danh của Văn Thơ Lạc Việt)

Thung Lũng Hoa Vàng, chốn địa linh

Cali Miền Bắc, đất ân tình

VĂN THƠ hải ngoại phò thăng tiến

LẠC VIỆT nhà Nam giúp trưởng sinh

Quân tử hùng tâm bừng rỡ rỡ

Hiền tài tráng chí tỏa minh minh

Thi ân danh nặc, rời khen tụng

Làm nghĩa không tên, né hiển vinh

Phương Hoa

Họa

Văn Thơ Lạc Việt

Hoa vàng thung lũng đẹp huyền linh

Buổi tiệc trao nhau đậm nghĩa tình

Lạc Việt ra công gìn sống tốt

Thi đàn cố sức giữ tồn sinh

Văn chương khỏa bút tràn mây rực

Điệu phú đua ngòi ngập ánh minh

Hai chín năm tròn mùa kỷ niệm

Người hùng hổ trở chẳng cầu vinh

Minh Thuý Thành Nội

Nghĩ nghĩa cử hào phóng rộng rãi của anh Hải làm tôi nhớ thêm nhiều chuyện… Có đêm đi dự tiệc chay tại nhà hàng Phú Lâm do Chùa Thiên Trúc tổ chức gây quỹ, ngồi bàn trong tôi thấy anh đội chiếc mũ lụp xụp đứng nơi quầy, tưởng anh cũng dự tiệc chung, ai dè tôi phải về sớm nhà anh Chinh Nguyên dự họp thì thấy một giàn thức ăn bày trên bàn, mới hiểu anh lo dùm bao tử của hội viên. Chưa hết, một lần trong màn cuối buổi lễ QLVNCH lúc người tham dự còn ở lại đông, anh Hải nhảy lên his đài mời bà con đến phở Bằng dùng trưa free. Kể thêm chuyện Cộng Đồng…tuy anh Hải yêu cầu giấu tên, nhưng rồi ai ai cũng biết anh là “mạnh thường quân” luôn ủng hộ nhiều hội đoàn hay những nhóm hoạt động thiện nguyện hoặc việc ý nghĩa như thời gian vừa qua.

Tánh tình anh rất khiêm nhường và hoà nhã, đôi khi có tiếng chày tiếng bấc từ đâu đem đến nhưng anh luôn im lặng không muốn hơn thua ai, ngoại trừ nhắc đến Việt Cộng mới nghe anh phát âm hơi mạnh.

Thời gian anh Chinh Nguyên làm hội trưởng và anh Hải hội phó, cơ sở VTLV đã cho ra đời mỗi năm một tuyển tập thơ văn gồm:

•Tuyển Tập “Đoàn Kết Và Xây Dựng” (năm 2017)

•Tuyển Tập “Bảo Tồn Việt Tộc” (năm 2018)

•Tuyển Tập “Văn Thơ Lạc Việt” chủ đề “Áo Dài” (năm 2019)

•Tuyển Tập “Quê Hương Và Nỗi Nhớ” (năm 2020)image.png 

Gồm bài vở từ những nhà thơ nhà văn tiền bối nổi tiếng cũng như các thân hữu, hội viên của cơ sở Thi Đàn tham gia đóng góp thành tâm thành ý liên tục. Hơn nữa là công lao của ban điều hành tiếp tay góp ý và năng nổ hoạt động cũng như sự hy sinh công sức, hổ trợ về mặt tài chánh để đạt thành quả tốt đẹp.

Điều đặc biệt khi anh Hải lên làm hội trưởng thì cô Tracy Trần giữ chức vụ thủ quỹ, và được sự trợ duyên lớn là thầy Thái làm trưởng Ban Biên Tập cùng chị Phương Hoa làm Phó Ban Biên Tập. Thầy Thái hiền lành ít nói chỉ bày tỏ chân tình qua công việc. Chị Phương Hoa tài năng xuất chúng, thơ một kho và văn một núi, đã từng đoạt nhiều giải nhất từ Văn Thơ Lạc Việt và Việt Báo mục “Viết Về Nước Mỹ”. Đối với người càng già trí óc chất xám càng giảm, nhưng chị Phương Hoa càng lớn tuổi càng thông minh sáng láng, đó là phước báu trời cho dễ mấy ai có được. Thầy trò hợp lực nhanh chóng kêu gọi bạn bè hội viên đóng góp bài vở về chủ đề Xuân, cố công đêm ngày trong thời gian ngắn cho ra đời Đặc San Xuân Tân Sửu 2021 được in bìa và trình bày rất mỹ thuật cùng nội dung phong phú.image.png

Thầy Phạm Thái và Văn Thi Sĩ Phương Hoa

Giữa năm theo gợi ý thầy Tuấn về đề tài Thiền, ban Biên Tập cũng như Ban Điều Hành và hội viên, nhất là hội trưởng Lê Văn Hải đã ủng hộ hết mình về tài chánh, cổ võ tinh thần mọi người đóng góp bài vở. Anh theo đạo Công Giáo nhưng rất tôn kính về đề tài này …Khi cuộc sống đang gặp nạn Covid hoành hành khắp thế gian, bao nhiêu tai họa đổ ập xuống loài người, mọi sinh hoạt gần như ngưng hoạt động, tâm tư con người đầy lo âu rối loạn, thì đề tài về “Thiền” như dòng suối mát cho ta được ngâm mình dịu vợi theo những áng thơ, những câu văn xoa dịu tinh thần biết bao nhiêu, há chẳng phải là điều lợi lạc hay sao?!!!

Cho nên tuyển tập “Sống Với Tâm Nhàn” được thành hình ra mắt chiều Chủ Nhật ngày 26 tháng 9 năm 2021 tại quán Cà phê Lovers nằm trên đường Aborn thuộc thành phố San Jose, được nhiều văn nhân thi sĩ đóng góp bài vở. Điều biết ơn sâu sắc là nhờ thầy Thái, thầy Tuấn, chị Phương Hoa đã ngày đêm gom bài vở từ mọi nơi, edit và trang trí hình ảnh trang nhã trông thật mát mắt và phẩm lượng đầy giá trị.image.png

Tại đây tôi tìm được thật nhiều niềm vui, được trao đổi thơ văn, được đọc những bài giá trị mở mang kiến thức và học hỏi thêm về thi phú từ các tiền bối. Cuộc sống nơi xứ người trong những ngày tháng lo toan cơm áo gạo tiền, giờ tìm được ngôi nhà đầy ánh nắng ấm áp che chở, những tâm hồn đồng điệu về thi phú cũng như chung chí hướng chống Cộng và giữ gìn nâng niu chữ quốc ngữ thân yêu. Một cơ sở văn học bảo tồn tiếng Việt trên xứ người nhưng đồng thời cũng là một mái ấm tình thương mà các hội viên được đối xử thân tình như trong gia đình.

Có Những Niềm Vui

Có những niềm vui mát mộng đời

Lan vào tim mạch khó nhoà vơi

Ân tình một sớm tràn chim hót

Vạt nắng thu phai đẹp cuối trời

*

Có những niềm vui dệt nụ hồng

Hương lùa gió quyện thả mênh mông

Hạt nhân hạnh phúc đường hoa nở

Kết nối yêu thương nghĩa phủ lồng

*

Có những niềm vui thật nhẹ nhàng

Như cung nhạc trỗi dậy đàn vang

Chung lòng gắn bó câu đoàn kết

Hợp sức tài văn bút phú tràn

*

Có những niềm vui chứa ảnh hình

Sách, quà sổ số thật xinh xinh

Màu Lan sắc thắm nồng chan chứa

Hội ngộ tương giao quý mến tình

*

Có những niềm vui trọn vẹn đầy

Văn Thơ Lạc Việt lắm trò, Thầy

Cùng nhau sát cánh gìn ngôn ngữ

Tiếng mẹ quê mình quyết bảo xây

Minh Thuý Thành Nội

***

LẠC VIỆT VĂN THƠ

(Góp vui cùng MT)

LẠC VIỆT VĂN THƠ giúp đẹp đời

Cho dù năm tháng thể nào vơi

Trời thu man mác tình ngan ngát

Họp mặt niềm vui rực đất trời

*

LẠC VIỆT VĂN THƠ đẹp sắc hồng

Ảnh hình ghi nắng trải mông mông

Nâng ly ta chúc lời thân ái

Chào đón PHAN LANG gió quyện lồng

*

LẠC VIỆT VĂN THƠ bước nhịp nhàng

Thi văn nhạc họa tiếng lành vang

Bốn mùa muôn sắc hoa đua nở

Năm tháng niềm vui tỏa ngập tràn

*

LẠC VIỆT VĂN THƠ chốn điển hình

Kỳ hoa dị thảo ngập vườn xinh

Cùng nhau vun bón luôn tươi thắm

Huynh đệ đối nhau rất trọn tình

*

LẠC VIỆT VĂN THƠ hợp đủ đầy

Thi nhân, văn sĩ, đến cô, thầy

Bảo tồn Quốc Ngữ dân Hồng Lạc

Hải ngoại tình người kết nối xây.

Phương Hoa

 image.png

Từ trái: Anh Chinh Nguyên, chị Thuý Nga (trưởng Ban văn nghệ), nhà thơ Mạc Phương Đình, cô Tina (Vận động Tài Chánh), anh Hồng Dũng và anh Hải.

 image.png

Từ trái Cựu Chủ Tịch Chinh Nguyên và Phu Nhân, Cô Tổng Thư Ký Thành Xuân và Phu Quân, cô MC Hạnh Thảo và Cô Tuyết Nhung (nhiếp ảnh gia)

Xuân Hạ Thu Đông lần lượt đi qua theo bước thời gian, phút rộn ràng buổi ra mắt sách, phút hân hoan lãnh quà sinh nhật, những buổi chung hưởng niềm vui dự lễ kỷ niệm 28 năm thành lập Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt, những năm dự buổi phát giải thưởng sáng tác thi văn tràn hãnh diện, cảm giác luôn đọng mãi, lâng lâng niềm an ủi của đứa con xa quê hương, mồ côi cha mẹ, nhưng tìm được bóng mát nương tựa đầy ấm áp nơi tha phương, tôi chỉ biết nói lời chân thành

Cám ơn Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt

Hội Viên

Minh Thuý Thành Nội