TIN VUI CỘNG ĐỒNG: Trung Tâm Dịch Vụ Cộng Đồng Người Mỹ Gốc Việt – Lê Văn Hải

Tin vui: Trung tâm Dịch vụ cộng đồng Người Mỹ gốc Việt quy mô, tốn phí xây dựng trên 60 triệu đô la, sẽ khai trương vào 15 tháng 10, mùa thu này, 2021, tại thành phố San Jose, nơi có đông người Việt Tị Nạn CS cư ngụ nhất tại Hải ngoại.

(LVHải tổng hợp)

Hôm qua, thứ Năm, ngày 23 tháng 9 năm 2021, tại Nhà hàng Di Lạc, Cựu Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, đã có một buổi cơm thân mật với nhiều đại diện hội đoàn, cá nhân, nhằm giới thiệu về Trung Tâm Sinh Hoạt dành riêng cho Người Việt, và tỏ ý muốn thành lập một Ban Cố Vấn, cho Trung Tâm này.

Đây là một thành quả thật to lớn, sau gần 11 năm lên kế hoạch và 2 năm xây dựng. Trung tâm dịch vụ cộng đồng Người Mỹ gốc Việt của Quận Santa Clara, sẽ được khai trương chính thức vào mùa Thu năm nay.

Niềm vui lớn! “Đây là một nỗ lực bền bỉ, thành quả đấu tranh đòi hỏi quyền lợi của cộng đồng, của người Mỹ gốc Việt trong Quận Hạt Santa Clara này.” Giám sát viên Cindy Chavez nói: “Trung tâm này, là sự phản ảnh sự cam kết, lời hứa của quận hạt, để tôn vinh sự đa dạng văn hóa của nhiều sắc dân.”

Trung tâm chiếm một khoảng đất lớn, rộng trên 30.000 foot vuông, 3 tầng lầu cao, bãi đậu xe rộng rãi, tọa lạc tại 2410 Senter Road ở San Jose. Ban đầu dự tính khoảng trên 30 triệu đô la, nhưng cuối cùng, thành gấp đôi! trên 60 triệu đô la! Vừa hoàn thành xây dựng vào cuối mùa hè năm 2021. Sẽ là cơ sở đầu tiên của quận hạt, tập trung phục vụ riêng cho cộng đồng Việt Nam.

Mô hình dịch vụ của trung tâm, cũng như kiến trúc của tòa nhà, kết hợp nhiều ý kiến để phản ảnh mầu sắc, truyền thống văn hóa người Việt.

Tại sao có kết quả lạ lùng này? Khởi đi từ mối quan tâm, phải có một trung tâm riêng phục vụ người dân Việt Nam, đã dấy lên vào năm 2012, sau khi Sở Y tế Công cộng của quận, công bố một nghiên cứu cho thấy rằng, cư dân Việt Nam ở (Vịnh Nam) phải chịu sự thiệt thòi, chênh lệch đáng kể về những dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các rào cản về văn hóa và ngôn ngữ, cũng đóng một vai trò lớn trong việc ngăn cản, tiếp cận các dịch vụ phục vụ của quận.

San Jose là nơi có dân số Việt Nam đông nhất, hơn bất kỳ thành phố nào ngoài Việt Nam. Theo dữ liệu Điều tra dân số Hoa Kỳ, cộng đồng này chiếm khoảng hơn 13% dân số San Jose.

Sau sáu tháng họp và khảo sát vào năm 2016, Quận Santa Clara đã chấp thuận việc xây dựng trung tâm đặc biệt này.

Năm 2018, quận đã trao hợp đồng xây dựng trị giá 33 triệu đô la cho Gilbane Corporation. Trung tâm động thổ xây cất vào năm 2019.

Với năm hạng mục công trình, trung tâm sẽ cung cấp các dịch vụ sức khỏe mọi người, cộng thêm các sinh hoạt văn hóa và ngôn ngữ Việt. Đây cũng sẽ là một tâm điểm, nơi cộng đồng có thể tụ họp và tổ chức các sự kiện quan trọng. Có hội trường khang trang, chứa trên 500 chỗ ngồi. Rất thích hợp cho các cuộc trình diễn văn nghệ, hội họp, ra mắt sách, mừng Tết Nguyên Đán hằng năm.

Quận cũng đưa ra lời giải thích về sự lựa chọn nghệ thuật của tòa nhà. Từ đường Senter, người đi đường nhìn thấy “Một chữ V to lớn màu vàng, tạo khung cảnh của sảnh chính, chữ V viết tắt, tượng trưng cho nước, cho người Việt Nam.”

Du khách sẽ được dắt đi theo hình chữ S, mô phỏng bản đồ Việt Nam, để vào tòa nhà. Các cửa sổ của tòa nhà sẽ có hình ảnh của tre làng, mô phỏng “cảnh làng quê Việt Nam ngày xưa” Sàn và tường sẽ được trang trí bằng hình ảnh và màu sắc của cánh đồng lúa. Một phần trên cao trong nhà ăn, chính sẽ giống như hình dạng của một chiếc “nón lá”.

Hy vọng người Việt Nam sẽ rất hài lòng, khen ngợi, thiết kế của công trình kiến trúc đẹp đẽ, nhiều ý nghĩa này.

Tòa nhà tuyệt đẹp, tuyệt vời này, sẽ là một dấu ấn lớn đối với cộng đồng Việt Nam tại đây. Không có nơi nào có một trung tâm phục vụ người Việt đẹp đẽ, quy mô, tốn kém hơn, như tại thành phố San José có cả. Đây phải là Trung Tâm sinh hoạt Người Việt lớn nhất tại Hải Ngoại!

Đạt được thành quả lớn lao này, là nhờ sự tranh đấu của rất nhiều cá nhân, thiện chí hội đoàn, mà người có công bền bỉ theo dõi, thúc đẩy dự án cho đến ngày thành công, không ai khác, người đáng tuyên dương nhất, là Cựu Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình. Dù Ông đã có tuổi, đi đứng khó khăn, vẫn cố gắng, lặn lội thân già, gõ cửa từng văn phòng của giới chức chính quyền, thúc đẩy, nhắc nhở họ, dừng quên dự án!

“Không có bữa ăn trưa nào, là miễn phí cả!” Chúc mừng sự tranh đấu quyền lợi bền bỉ, của những tấm lòng, âm thầm phục vụ lợi ích cho Cộng Đồng Việt Nam, biết bao nhiêu năm nay.

Ngoài Trung Tâm, hy vọng Một Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, sẽ được phép xây dựng vào những ngày tới.

Một lần nữa, Chúc mừng tất cả Cộng Đồng Người Việt tại San José, về sự tranh đấu quyền lợi thành công xuất sắc này. Người Việt tại đây, là một trong những cộng đồng lớn mạnh nhất trong vùng. Chúc Mừng! Chúc Mừng!

Lê Văn Hải




THƠ: Đêm Thu Không – THƠ Xướng Họa: Đón Thu – Nhớ Huế – Mặc Khách & cao Mỵ Nhân




CỜ BAY, CỜ BAY OAI HÙNG TRÊN THÀNH PHỐ THÂN YÊU – Kiều Mỹ Duyên

KIỀU MỸ DUYÊN

          Đã hơn 20 năm rồi, 8 giờ sáng ngày thứ bảy trên radio băng tần 106.30 FM, đầu chương trình CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA, với tiếng hát hào hùng của anh chị em ca sĩ trong đĩa nhạc VIỆT NAM HÙNG CA QUẬT KHỞI do nhạc sĩ Lê Bá Chư, nguyên là giám đốc trung tâm Giáng Ngọc tặng cho chúng tôi. Chúng tôi cho hát hoài, hát mãi, đồng hương vẫn thích nghe.

          Tiếng ca từ trái tim của người nghệ sĩ đến với trái tim của thính giả thương lính, yêu lính, và trong đĩa nhạc Trở Lại Cổ Thành, một bài trong tùy bút chiến trường Chinh Chiến Điêu Linh của Kiều Mỹ Duyên, do Như Hảo thực hiện năm 1994 cũng được quý đồng hương yêu chuộng. Những chiến tích lẫy lừng, những trận đánh để đời của các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như vẫn còn đây, còn trong trái tim của người yêu lính, thương lính.

          Xin mời quý độc giả đọc hoặc nghe bài hát này, sẽ thấy vô cùng thấm thía:

Cờ Ta Bay Trên Quảng Trị Thân Yêu

Tác giả: Lê Kim Hoa

Cờ bay. Cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu
Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu
Cờ bay. Cờ bay tung trời ta về với quê hương
Từng ngóng đợi quân ta tiến về
Ta ôm nhau mắt lệ nghẹn ngào quỳ hôn đất thân yêu
Quảng Trị ơi, chào quê hương giải phóng
Hồi sinh rồi này mẹ, này em
Vui hôm nay qua đêm đen tìm thấy ánh mặt trời
Ði lên. Ði lên trên hoang tàn ta xây dựng ngày mai.
Nhà vươn lên, người vươn lên
Quân bên dân xây tin yêu đời mới
Ðón nhau về, anh đưa em về Gio Linh, Cam Lộ, Ðông Hà
Sạch bóng thù, đồng ta xanh thắm nắng mới
Vang câu hát tự do …

          Đã 49 năm rồi, vào mùa hè đỏ lửa năm 1972, tôi đến Cổ Thành Quảng Trị. Cổ Thành đã xây từ đời vua Gia Long, cho đến đời vua Minh Mạng được trùng tu lại vững chắc hơn. Đã hơn nửa đời người, hàng tuần vào mỗi buổi sáng thứ bảy lúc 8 giờ, trên đài Saigon Radio Hải Ngoại chúng tôi cho hát bài “Cờ bay. Cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu.” Vậy mà sáng hôm nay ngày 18/9/2021, đồng hương chuẩn bị tiễn đưa tượng đài chiến sĩ Cổ Thành Quảng Trị với tiếng hát của ban nhạc Tình Nghệ Sĩ của nhạc sĩ Cao Minh Hưng, với lời giới thiệu nồng nhiệt của xướng ngôn viên Quang Việt và Minh Phượng:

          – Cờ bay. Cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu làm cho chúng tôi vô cùng xúc động như mới hôm qua chúng tôi nói chuyện với Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu dưới chân Cổ Thành, cách Cổ Thành mấy trăm mét.

Ông Phạm Công, hội cựu Quân Nhân Việt Mỹ và hội Quân Xa Việt Mỹ, ông Phạm Hữu Phước, ông Phạm Hòa (ngoài cùng bên phải) cùng bằng hữu và các hậu duệ  Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

          Đoàn xe Jeep của ông Phạm Công với vẻ phong trần thu hút nhiều người đến chụp hình. Ông Phạm Hữu Phước, anh ông Phạm Công, người đã lái xe thiết giáp đến Cổ Thành. Ông Phạm Công, hội cựu Quân Nhân Việt Mỹ và hội Quân Xa Việt Mỹ, đầy xúc động nói:

          – Cảm động lắm chị ơi!

          Nhìn thấy các chiến sĩ trong nhiều quân phục khác nhau, ông Phạm Công cũng trong sắc phục nhà binh nói tiếp:

          – Đây là Phạm Hữu Phước, anh của Phạm Công, người đã lái thiết giáp tiến về Cổ Thành.

          Ông Phước gầy nhưng mắt vẫn sáng nói về trận đánh khốc liệt mà nhiều chiến sĩ đã hy sinh.

          – Làm sao nói hết hả chị? Chị cứ hỏi Điều Nguyễn đang làm việc với chị bây giờ là hội trưởng hội Thiết Giáp, Điều sẽ kể chị nghe về trận đánh này.

Thủy Quân Lục Chiến dựng cờ Quảng Trị, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972

          Tôi nhớ đến những chiến sĩ hào hùng đã đi vào đất mẹ, Hồ Khang, tình nguyện đi vào toán cảm tử quân, ra đi không trở lại, để lại 1 vợ 3 con, người ta thấy Hồ Khang, một chiến sĩ cảm tử quân dù ra đi trong sự quyết chiến quyết thắng, nhưng không ai nghĩ rằng Hồ Khang không trở lại.

Hoạt cảnh Cờ Bay, Cờ Bay

          Cảm động nhiều đồng hương đến từ nhiều nơi để tiễn đưa tượng đài đến San Jose, để được an vị trong một công viên lớn nhất của miền Bắc California, nơi có bảo tàng viện chiến tranh Việt Nam ở trong công viên này. Nghệ Lữ, nhà truyền thông đến từ San Jose, ông cùng phái đoàn 30 người đi suốt đêm, 3 giờ mới tới Orange County để hộ tống tượng đài về miền Bắc. Phái đoàn gồm có giám sát Otto Lee (người Mỹ gốc Hồng Kông), cựu chánh án Phan Quang Tuệ, luật sư Huy Trần, ông Huỳnh Lương Thiện (chủ báo Thằng Mõ ở San Francisco), ông Triều Hạ và nhà báo Nghệ Lữ.

          Giám sát Otto Lee nói:

          – Lý do tôi đến Orange County vì tôi rất hãnh diện về người Việt Nam. Người trẻ Việt Nam học về lịch sử của nước Việt Nam, bảo tồn văn hóa Việt Nam, giữ gìn lịch sử Việt Nam, nhớ về ông cha của mình là những người anh hùng.

          Luật sư Huy Trần, ông có văn phòng luật riêng, nhưng giúp cho giám sát Otto Lee, nói:

          – Tôi rất vui khi đến đây, gặp gỡ đồng hương và hộ tống tượng đài về miền Bắc California. Tôi rất hãnh diện về đồng bào Việt Nam ở hải ngoại cũng như hãnh diện về thế hệ đi trước.
          Nghệ Lữ nói:

          – Chúng tôi rất sung sướng và hãnh diện vì tượng đài sẽ được an vị ở viện bảo tàng ở San Jose. Tượng đài được đặt viên đá đầu tiên ở Westminster mà an vị ở San Jose đó là niềm hạnh phúc của chúng tôi. Chúng tôi đi suốt đêm đến 3 giờ sáng mới đến đây nhưng người nào cũng tỉnh táo vì gặp đồng hương, gặp những người rất nhiệt tình với các chiến sĩ anh hùng.

          Nhiều đồng hương đến trước tượng đài chụp hình, vì chưa tới giờ khai mạc nên tượng đài, hình trước mặt và phía sau, còn bị che lại đang nằm dưới đất. Tượng đài cao 3,8 mét, nặng khoảng 16 tấn, được làm bằng đồng, đá hoa cương và xi- măng.

          Một cô gái trẻ trong sắc phục lính Nhảy Dù chụp hình bên cạnh tranh vẽ tượng đài tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị.

           Cô cười thật tươi và nói:

          – Bác của em là chiến sĩ Nhảy Dù. Bác của em trong tiểu đoàn của Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu trong Chinh Chiến Điêu Linh của cô đó.

          Tôi quay qua bên cạnh một bà lớn tuổi, mắt ươn ướt. Tôi biết ngay bà cụ này có con đi lính và chắc chắn có tham dự trong trận chiến này. Bà cụ nói:

          – Con tôi có tặng tiền trong việc làm này. Bây giờ tượng đài đem về San Jose, khi nào tôi có dịp lên miền Bắc California thăm bà con, tôi sẽ viếng tượng đài. Mình tặng tiền là nhớ đến người đã hy sinh, chứ an vị tượng đài ở đâu cũng được miễn là có làm hơn không?

          Những người trong ủy ban xây dựng tượng đài đều hiện diện trong buổi lễ này: luật sư Trần Thái Văn, luật sư Nguyễn Quốc Lân, kỹ sư Nguyễn Mạnh Chí, Đại Úy Nguyễn Phục Hưng, Nghệ Lữ, v.v. bận rộn trước các cuộc phỏng vấn của ký giả đài truyền hình, truyền thanh và báo chí.

          Câu lạc bộ Tình Nghệ Sĩ với lực lượng hùng mạnh, đa số là nữ ca sĩ với những bài ca đầy ý nghĩa. Xướng ngôn viên Quang Việt, Minh Phượng làm việc không ngừng nghỉ. Giọng nói hùng hồn đầy hào khí khi nói về những chiến sĩ đã hy sinh.

          Luật sư Trần Thái Văn, luật sư Nguyễn Quốc Lân, kỹ sư Nguyễn Mạnh Chí, người nào cũng bận rộn vì cơ sở thương mại của mình nhưng những người trẻ này đem hết tâm trí vừa mình để hoàn tất tượng đài. Đại Tá Vũ Văn Lộc đến từ San Jose để hộ tống tượng đài đến San Jose để được an vị trong công viên lớn ở miền Bắc California.

          Luật sư Nguyễn Quốc Lân nói:

          – Vui lắm, vui lắm, được đồng bào đến đây đông đảo. Làm việc gì được đồng bào yểm trợ là vui lắm.

          Niềm vui hiện lên trên khuôn mặt của luật sư Lân.

          Kỹ sư Nguyễn Mạnh Chí, thị trưởng Tạ Đức Trí, bác sĩ Phạm Gia Cổn, nữ diễn viên Kiều Chinh, nhiều người trong chính quyền Orange County hiện diện và được truyền thông vây quanh.

          Ngô Ký, Trương Quốc Huy, Trần Nhật Phong, Phan Nhật Nam, làm việc không ngừng nghỉ. Người địa phương gặp người ở xa tới là phỏng vấn liên tục, người về từ Seatle, Portland, Arizona, San Diego, San Bernardino, San Francisco, Los Angeles County và nhiều nơi khác.

          Bãi đậu xe rộng mênh mông của trường học La Quinta, thành phố Westminster, không còn một chỗ đậu xe. Việc làm có tính cách lịch sử, không mời đồng bào cũng tự tìm tới, huống chi các đài truyền hình, truyền thanh rỉ rả thông tin hằng giờ.

          Thủy Quân Lục Chiến Nguyễn Phục Hưng, mà Kiều Mỹ Duyên đã gặp ở chiến trường Cao Miên, tỉnh Neak Luong, vượt biên sang Mỹ định cư. Ông có 2 con trai đều thành bác sĩ. Nhà của ông Hưng như tựu nghĩa đường, cuối tuần các chiến sĩ đến nhà ông Hưng tập hát, trẻ con thì tập diễu hành cho các ngày lễ lớn 30 tháng 4 hay 19 tháng 6. Các cháu trong quân phục Thủy Quân Lục Chiến rất đẹp. Ông là một trong những người trong ủy ban xây dựng tượng đài, chạy tới chạy lui, tiếp khách từ xa đến.

          Một đoàn thiếu nhi trong quân phục Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến đẹp vô cùng. Các cháu đến tham dự với sự khuyến khích của ông bà, cha mẹ. Tiếng cười vang vang bên cạnh ly nước mía ngọt ngào. Ở đây có không khí reo vui của ngày hội, ngày Tết.

          Đến tiễn đưa tượng đài về an vị ở San Jose, nhiều thế hệ, người sinh ra ở Việt Nam, người sinh ra ở Mỹ, mặt người nào cũng vui. Sự hy sinh của các chiến sĩ được ngưỡng mộ, được nhắc nhở. Vong linh các anh chiến sĩ Công Binh chiến đấu, Thiết Giáp, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, v.v. linh thiêng xin về đây chứng giám lòng thành của người Việt Nam tị nạn Cộng Sản ở hải ngoại hay ở trong nước vẫn còn nhớ đến các anh. Xin các anh phù hộ cho chúng tôi có một ngày trở về quê hương khi Việt Nam thật sự có Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo.

Orange County, 21/9/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




VĂN: CHIM BAY VỘI VÃ – CAO MỴ NHÂN 

CHIM BAY VỘI VÃ.     CAO MỴ NHÂN 

Còn 10 phút nữa mới 8:00 pm, trời vẫn sáng, mình vẫn thích cái không gian như vầy, mùa sắp vào hạ, nhưng sao mình vẫn lạnh, vẫn 3,4 cái áo len, thung nỉ…vẫn không rời đôi vớ. 

Anh chưa hề hỏi thăm mình nóng mùa hạ, lạnh mùa đông …bao giờ.

Còn mình, mình vẫn nghe rất rõ tiếng chim én rời tổ bay đi, chúng chỉ ở lại đây có đúng 3 tháng mùa xuân.

Mình vừa khép cửa sổ lớn trong phòng, ngó về phương nam, trời bắt đầu tối, ánh sáng nhá nhem, hay giờ gà lên chuồng như ở quê xưa thường nói thế. 

Một năm xa cách …Rồi sẽ 10 năm, và bao nhiêu năm sau chả biết, sẽ hết trăm năm. 

Anh là nhân vật tiểu thuyết của mình, nên có đứng sát bên mình, vẫn là xa cách. 

Anh thân kính ơi, tại sao chỉ với một bàn tay thôi, là chúng ta mở được cửa thiên đường hạnh phúc . 

Ố ô, lâu nay mình vẫn cảm nhận được điều hạnh phúc dù ở xa anh, mà vẫn tưởng anh đang ở cạnh mới tuyệt vời chi lạ.

Hôm qua mình gặp lại một nhà văn cũ, ông ta hỏi thăm một cách chân tình rằng: mình có vừa ý cuộc sống đương thời không? 

Mình hỏi lại để làm gì ? Ông nói vì thấy các nhà văn, các nhà thơ hay trả lời phỏng vấn, quý vị được hỏi thường chuẩn bị sẵn câu trà lời có lợi cho cuộc đời và sự nghiệp họ . 

Nhưng mình có là nhân vật được hỏi đâu, nên chả cần phải giữ gìn, mình nói với ông nhà văn nêu trên cũng rất chân tình: 

” Ông ạ, tôi thích cuộc sống này quá, chỉ sợ thời gian không kéo dài thêm cho tôi được sống mãi … như vầy thôi.” 

Ông nhà văn trố mắt nhìn tôi: 

” Ôi, lần đầu tiên tôi gặp một người, mà là nữ giới nữa, bằng lòng với số phận của mình. ” 

Chu choa, thì tôi có lúc tự hỏi là trên đường đời tôi đã đi qua, lên cao, xuống thấp đã từng, chắc tôi cũng đã so sánh phần nào số phận mình, để kết luận: tôi đang thực sự ” Yêu Quí ”  

thời gian này. 

Sau cuộc đổi đời 30-4-1975, là một Sĩ quan Nữ quân nhân chế độ cũ, tôi có 2 lần bị trả lời một câu hỏi, mà họ, bạo quyền cộng sản nghĩ là tôi không thật lòng khai báo . 

Câu hỏi được đặt ra như vầy:

” Chị cho biết thời gian nào chị sung sướng nhất, và thời gian nào chị …khổ sở nhất “. 

Khi đặt câu hỏi này, là người ta dư biết câu trả lời : 

Nó sẽ là sự miệt thị chế độ csvn, lòng hoài cảm chế độ cũ, VNCH. 

Để sau đó tuỳ cách ứng xử, nếu trong tù cải tạo thì theo luật rừng, mà ngoài xã hội thì theo luật …rú chẳng hạn. 

Tuy nhiên tôi đã nói thật với lòng mình, là cứ lấy cái mốc thời gian 1975  cho dễ hiểu. 

Thì trước 30-4-1975, cuộc sống tôi dư thừa vật chất, chan hoà phương tiện. Nhưng tinh thần tôi, đúng ra là tâm tư tình cảm tôi rất không như ý, vì ông xã tôi quá hào hoa phong nhã, nên tình chồng vợ có hao hụt ít nhiều.

Sau 30 -4 -1975, cuộc sống vật chất hoàn toàn phá sản. Nhưng tinh thần tôi, vẫn tâm tư tình cảm thôi nhé, thư giãn ít nhiều, vì ông xã tôi trực tiếp chấm dứt tình trạng phong lưu, hào phóng, cuộc sống gia đình yên ổn phần nào. 

Theo như nhận xét của chị, thì ngoài xã hội đang khó khăn, vất vả hay sao ? 

Tôi nghĩ đó không phải đặt ra câu hỏi, vì ai trong xã hội đương thời ( CSVN )đều biết cuộc sống trước mặt. 

Thế rồi thì tôi dù muốn dù không, bị cuốn vào cái xã hội mà chủ trương của nó là tôn sùng vật chất. 

Như lý luận học thuyết duy vật, mà biện chứng, lý giải thì hẳn là điều không khốn khó, khổ cực, sẽ không phải phương châm đấu tranh của họ. 

Tới lúc tôi thèm nhìn một cánh diều trên đồng cỏ cháy nơi nông trường Tây Nam, buổi trưa ngồi giữa nắng chờ nghe tiếng chim bay vội vã lên núi Bà Đen, lòng trống trải buồn vô hạn. 

Ông xã tôi đã trên đường vượt biển, để lại cho tôi nỗi mông mênh chán nản . 

Câu chuyện sướng khổ vẫn được nối tiếp theo những trang nhật ký, mà tôi nghĩ rằng nếu có bị bạo quyền phát giác, trong nhật ký cũng chẳng có gì động chạm tới xã hội của họ. Bởi vì điều quan trọng nhất đối với tôi, vẫn là tâm tư, tình cảm

bỗng như bị bỏ quên, như mất mát, mình không có một hình ảnh, một lời nguyền đúng nghĩa trong tâm tưởng. 

Tôi có lại cuộc sống trước 30-4-1975, giống một bức tranh có đường nét cũ, nhưng mầu sắc mới, khi tôi đến được Hoa Kỳ. 

Tất nhiên thời gian chồng chất thêm, tuổi tác cũng bắt kịp chuỗi ngày vội vã, thực dụng, tưởng như không thoát ra được cái khuôn sáo xã hội mới mẻ, bởi vì còn nơi nào khác nữa để tái định cư vui vẻ, tươi đẹp hơn xứ Mỹ này chớ. 

Nghĩa là muốn gì có nấy, thích chi thì làm, nhưng phải trong điều kiện không chạm tới quyền lợi của ai. 

Do đó, tôi lại đi tiếp con đường của tôi.

Nhìn lại hành trình, có vẻ ngắn bớt, hành trang thì bỏ đi nhiều, nên tôi cảm thấy nhẹ nhõm, tha hồ tung tẩy như thủa mới vào đời. 

Có một điều ít ai để ý, là hình như mình biến thành vai phụ trong chính những công việc của mình. Đôi khi mình không tự quyết định công việc mình sẽ làm, mà cứ phải hỏi thăm hay nhờ vả người thân hoặc bạn bè giúp đỡ. 

Tức là đang ở trạng thái không đứng vững, hay không chắc chắn đúng, thế nên cuộc sống cũng bớt đi phần nào vui vẻ lạc quan kiểu  ngày xưa. 

Như vậy lại tự hỏi là: Thế có thể làm được gì khác hơn hoàn cảnh hiện tai ? 

Ở thời điểm tôi bây giờ, tôi thẳng thắn trả lời: ” Chẳng làm được gì cả đâu, hãy giữ gìn sức khoẻ để không bị đau ốm, làm phiền con cháu thôi ” .

Nhà văn xưa mới tái ngộ cười: Bà nói đúng, ngay đến thế hệ sau chúng ta cả chục năm, chúng đã sớm có tư tưởng về hưu rồi . 

Thế nên tôi mới nói ở trên là tôi đang thích cuộc sống này, chưa hoàn hảo lắm, nhưng thực sự thoải mái, thảnh thơi …

Với tôi, còn có thì giờ mơ mộng nữa chứ …

              CAO MỴ NHÂN 




VĂN: Từ Bến Sông Thương & Chapa Dang Dở – Cao Mỵ Nhân

Nguồn ảnh: Internet

TỪ BẾN SÔNG THƯƠNG.     CAO MỴ NHÂN 

Vào khoảng giữa thập niên 80 thế kỷ trước, nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội ( 1914 – 2007 ) nói với tôi là bà sẽ cùng tôi đi lang thang thăm các văn nhân thi sĩ lớn tuổi, ở cả 2 miền nam bắc mà bà quen biết. 

Tôi rất hào hứng chờ dịp đi ” lang thang ” này. 

Trước nhất, tôi khỏi cần phải đọc sách báo, mới biết được thân thế và sự nghiệp một nhà văn, thơ nào đó mà mình muốn tìm hiểu, hay là muốn ” tham khảo” để định viết lách gì đó . 

Kế tới,  là tự nhiên tôi không cầu cạnh được giới thiệu, hay muốn diện kiến dung nhan quý vị tên tuổi ấy, mà bỗng nhiên được thấy tận mắt quý vị danh tiếng như các cụ Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, Đông Xuyên, Bàng Bá Lân …vốn sống ở trong nam. 

Các vị nổi tiềng từ tiền chiến, như Thế Lữ, Anh Thơ… vốn sống ở ngoài bắc, sau 30-4-1975 lại vô nam cư trú vv… 

Người đầu tiên là nữ sĩ Anh Thơ ( 1921 – 2005 ), vì nhà bà ấy  ở số 11 đường Thiệu Trị, gần với biệt thự Úc Viên, cuối đường Nguyễn Mình Chiếu, của nữ sĩ Mộng Tuyết và cố thi sĩ Đông Hồ, giáo sư Hán học trường Đại học Văn Khoa Saigon trước 1975 . 

Mỗi lần đi như thế, nếu gần thì đi bộ lai rai, xa thì ngoắc cyclo chạy lài dài, thích lắm . 

Tôi thua bà đến ba chục tuổi, nên được hội thơ Quỳnh Dao của chúng tôi, do tôi tôn phong nữ sĩ Mộng Tuyết là niên trưởng kỳ 3, tức sau 2 vị niên trưởng đã quá cố : nữ sĩ Cao Ngọc Anh và nữ sĩ Đào Vân Khanh.

Quý vị hội viên coi tôi là em út Quỳnh Dao, đồng thời tôi là ” cây gậy ” của nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội luôn. 

Do đó, đi đâu tôi cũng được vời tới …

Tuy nhiên, cũng là sẵn dịp vừa từ tù cải tạo ra, tôi chưa có công ăn việc làm, mới rảnh rang như thế, chứ sau này tôi đi làm rồi, thì rong chơi làm sao được nữa. 

Từ cái thập niên 30, nhị vị nữ sĩ: một trong nam Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, một ngoài bắc Anh Thơ, đã làm nổi đình đám thơ phụ nữ của nền thi ca mới, không bay bướm, sâu xa được như quý nam thi sĩ cùng thời: Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Thế Lữ, không trẻ trung, nội tâm được như Nguyễn Bính, Thâm Tâm vv…

Nhưng nhị vị Mộng Tuyết, Anh Thơ, lại mỗi người tự trải cho mình một cái chiếu thi ca riêng biệt trong làng thơ bấy giờ . 

Đi song song với quý nữ sĩ đương nêu, về thơ thôi, thì còn có các nữ tác giả khác như Hằng Phương ( phu nhân nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan) Vân Đài ( sau theo Bác Đảng 

CSVN cùng với nữ sĩ Anh Thơ) .

Cũng thời tiền chiến đó ( trước 1945 ), 2 cây bút nữ thi sĩ rất đáng trân trọng, quen thuộc trên cả nước là Ngân Giang và Tương Phố . 

Tất nhiên còn quý vị nữ thi sĩ khác nếu có, không nổi bật lên, chẳng hạn Mai Đình ( một trong số nữ nhân vật của nhà thơ hẩm phận Hàn Mặc Tử) vv…

Vì chỉ nhắc tới thi ca, nên quý vị nữ văn sĩ cùng thời hoặc xê xích, như quý bà nhà văn Thụy An , Mộng Sơn, Nguyễn Thị Vinh, Lính Bảo ( sau 1945 ) . 

Thi ca phái nữ VN thập niên 30 thế kỷ trước, có một sự kiện riêng biệt, một huyền thoại, mà khởi sự thì như một hiện tượng lạ, sau mỗi lúc mỗi huyễn ảo hơn, bởi cái tên ký tắt kín đáo, và nội dung không mới mẻ, nhưng đi vào đại chúng lan rộng mau chóng, đồng thời năm tháng cứ chất chồng thêm những bí ẩn của tác giả, chứ không phải câu chuyện. 

Đó là hiện tượng TTKH với hình ảnh ” Hai Sắc Hoa Tị Gôn ” .

Tôi đi hơi xa về mục đích bài viết này. Tôi chỉ muốn ghi một chút kỷ niệm về nhị vị mang chính danh nữ thi sĩ trên thi đàn thế kỷ vừa qua thôi : Mộng Tuyết , Anh Thơ.

Tất cả những chi tiết như khuynh hướng thơ, sự nghiệp thơ, cuộc đời nhị vị ấy, thì đã đầy đủ trên sách báo vv…

Có chăng là một thoáng gần cuối đời quý bà, mà tôi có cơ hội gặp gỡ. 

Nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội và tôi đã ngồi trong căn nhà nhỏ thôi, tầng trệt và cái lầu có ban công hẹp, bình thường . Tất nhiên nhà đó là của một gia đình trung lưu miền nam, đã bỏ đi ngoại quốc,  vì cộng sản Bắc Việt xâm chiếm miền nam. 

Nữ sĩ Anh Thơ theo ” cụ Hồ” cùng với bà Vân Đài, mà tôi chẳng rõ văn nghiệp bà này thế nào . 

Riêng bà Anh Thơ thì lặn lội theo đảng, theo thâm niên và tuổi tác bà đã lên tới chức ” thứ trưởng hàm” như một số văn nghệ sĩ tiền chiến theo Việt Minh lúc đầu , sau theo cộng sản là lẽ đương nhiên, như thi sĩ Huy Cận chẳng hạn.

Tức là cái chức để đó cho có vị , chớ chả có quyền hạn gì. Một nữ thi sĩ kiêm họa sĩ miền nam đã thản nhiên kêu đích danh nhà thơ Anh Thơ là ” Thợ thơ bậc 7 “cho phù hợp với giai cấp công nông đi lên. 

Nữ sĩ Mộng Tuyết giới thiệu tôi, Cao Mỵ Nhân, nguyên là thiếu tá VNCH, ngành Chiến Tranh Chính Trị , đã xong chuyện đi tập trung cải tạo về. 

Bà Anh Thơ im lặng một lúc, rồi cười cười kêu tên tôi, bà xưng là ” chị” như tất cả các nữ sĩ trong hội thơ Quỳnh Dao đều xưng ” chị ” với tôi . 

Bà “Thứ trưởng văn hoá” hay “Thợ thơ bậc 7 ” do thi họa sĩ XXX đặt cho bà, vốn có cái tên rất ” mĩ miều xa xưa” do cụ thân sinh đặt cho là Vương Kiều Ân.

Sau, dầu muốn tham gia kháng chiến, để có vẻ tân thời, phá khuôn thước phong kiến, nhưng trong lòng vẫn thích là  mệnh phụ phu nhân như hầu hết quý nữ sĩ ở thi đàn Quỳnh Dao. 

Chẳng hạn như nữ sĩ Vân Nương phu nhân luật sư Lê Ngọc Chấn, nguyên đại sứ VNCH ở Anh và Tunisie, như nữ sĩ Thu Nga phu nhân của kỹ sư Lương Sĩ Phu, như nữ sĩ Đinh thị Thục Oanh phu nhân của giáo sư thi sĩ Vũ Hoàng Chương vv…và hàng chục phu nhân quý vị tên tuổi khác …

Nên sau này bà thường tới dự tiệc ở các khuôn viên quý bà Quỳnh Dao . 

Bà kể lại giai đoạn bà được giải thưởng thơ của Tự Lực Văn Đoàn, và tìm cái bằng ghi giải thưởng thơ đó, do 3 thi sĩ ký tên là : Tú Mỡ , Thế Lữ và Xuân Diệu. 

Khi tôi đi Mỹ theo diện tị nạn, thì có mấy diễn đàn báo chí đang tranh luận là : Xuân Diệu có trong Tự Lực Văn Đoàn không ? Lý do cặp bài trùng thi sĩ lớn Huy Cận, Xuân Diệu như chim liền cánh, mà sao chỉ có Xuân Diệu trong Tự Lực Văn Đoàn là thế nào ? 

Nhà văn Đặng Trần Huân nêu chi tiết, là Cao Mỵ Nhân đã nhìn thấy tấm bảng ghi giải thưởng thơ Tự Lực Văn Đoàn do 3 thi sĩ nêu trên ký ở văn bằng nữ sĩ tiền chiến Anh Thơ, tất thi sĩ Xuân Diệu là thành viên Tự Lực Văn Đoàn. 

Như trên tôi đã trình bầy, là hậu tù cải tạo, tôi chưa có việc làm, nên cứ thế rong chơi. 

Nhị vị nữ sĩ Mộng Tuyết và Anh Thơ đều đề nghị tôi nên tới giúp bà Anh Thơ cái việc đọc lại những trang nhật ký của bà Anh Thơ đang viết theo yêu cầu của đâu đó ngoài trung ương, viết hồi ký mà có tiền …lương mấy đồng một trang, tôi chả nhớ . 

Tôi đang phây phây mỗi sáng ghé nhà bà Anh Thơ để đọc những trang bà viết, cũng chỉ là đường trường đi…cách mạng, xem một số chấm, phẩy , câu cú vv… văn phạm, chính tả sơ sài. 

Đương nhiên cũng có lúc tôi ở lại chơi, cơm nước vv…vì bà chỉ có một mình với cuốn nhật ký dở dang. Phu quân bà lúc đó là bác sĩ trưởng khoa thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy. 

Tôi chẳng tò mò, nhưng tình cờ một lần nữ sĩ Mộng Tuyết kể rằng vị bác sĩ ấy nguyên xưa là y tá bệnh viện Chợ Rẫy tập kết ra Bắc năm 1954, nay trở về tiếp thu và được nhận ngay chức trưởng khoa thần kinh như đương nêu . 

Đã gần xong cuốn hồi ký ấy,có thêm một thanh niên tới đánh máy kiểu tạch tạch ngày xưa cho tác giả Anh Thơ . 

Phút cuối cùng kêu rang rảng, là bà hỏi tôi nên đặt tên cho cuốn hồi ký đó là gì ? 

Bà đã đặt cho hồi ký cái tên đằng đằng sát khí là: “Sống Chiến Đấu ” , chỉ còn thiếu mấy chữ ” theo gương bác Hồ ” nữa là đúng cái câu hằng ngày của đảng bà : ” Sống chiến đấu theo gương bác Hồ vĩ đại…” vẫn nói. 

Tôi chưa định trả lời thế nào, thì nữ sĩ Anh Thơ tiền chiến chợt nhớ ra, bà nói: ” ngày xưa nhà mình ở nơi có dòng sông Thương chảy qua đấy ” …

Thế là tôi đề nghị bà Anh Thơ đặt cho hồi ký bà : ” Từ Bến Sông Thương “, tôi giải thích đã hết chiến đấu rồi, chị cũng muốn kỷ niệm ” Từ Bến Sông Thương” đó chị thoát ly theo …cách mạng vậy . 

Bà Anh Thơ thú vị lắm, đã hoàn tất có lẽ là tập 1. Còn tập 2 đang coi lại . 

Tôi được nữ sĩ Mộng Tuyết kéo vào một nơi yên lặng nhất của Úc Viên, tư thất của nữ sĩ , dặn dò rằng : ” Thôi Cao Mỵ Nhân đừng ghé nhà chị Anh Thơ nữa, bà ấy là bà Anh Thơ, không giữ được bản lãnh như những người mình đâu, bà ấy nghe ông Thọ nào đó, vừa từ Bắc vô, nói rằng tại sao chị dám để một sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị địch đọc hồi ký trước khi phát hành . ” 

 Chu choa cũng may cái mối thân tình của nữ sĩ Mộng Tuyết với bà Anh Thơ lâu năm, chứ không thì họ vu vạ cho tôi tệ hơn nữa cũng chẳng kêu trời được . 

Tiếp theo, có một bữa tiệc  ở Úc Viên, cả bà Anh Thơ lẫn tôi đều có cách nhìn là muốn chào nhau mà cứ ngần ngại, tuy nhiên tôi chỉ là ” chiếc gậy “của nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội niên trưởng Quỳnh Dao của chúng tôi, việc tới lui với bà Anh Thơ cho dù có thuận thảo, cũng chỉ là thứ yếu …

                      CAO MỴ NHÂN 

=================================================================

CHAPA  DANG DỞ.     CAO MỴ NHÂN 

Trở lại Chapa năm nay, có lẽ là lần cuối tôi với chàng không còn cơ hội gặp nhau nữa.

Tại sao tôi có ý nghĩ này, bởi lý do rất khách quan, là cả chàng lẫn tôi đều chán nhau đến độ tôi cứ nhìn đồng hồ xem đêm đã hết tới đâu.

Tiếng tích tắc của chiếc kim đếm thời gian, như tiếng búa đóng đinh trên nắp quan tài tình ái rỗng tuếch, trái với ước mơ thủa ban đầu, những cặp tình nhân thường thiết tha thổ lộ : ” Chúng mình sẽ chết cùng nhau trong một huyệt mộ ” .

Mùa xuân này hoa đào vẫn nở như những mùa xuân trôi qua thung thổ núi rừng  Chapa, khi tôi được sinh ra, lớn lên, trong bầu không khí ẩm ướt quanh năm .

Tôi bỗng muốn khóc thét như những cô nàng Mèo đến tuổi cập kê xưa, hay khóc oà ra như trẻ thơ thèm sữa mẹ quá, mà người mẹ đi mãi không về. 

Mùa xuân ư ? 

Mùa xuân ở một miền lâm nguyên xa nhất, cao nhất đất nước Việt Nam . 

Quý vị sẽ cười mỉm, rồi nói rằng: ” Lâm nguyên nào mà chẳng ở xa nhất so với nơi chúng ta đang sinh sống thường ngày, thí dụ người ở Cao Bằng nhìn về Đà Lạt . Hay người ở Cà Mâu ngó tới Lạng Sơn chẳng hạn …” 

Nhưng cao nhất, thì không thể lý luận chung chung thế được, cao nhất hay không, phải so từ mặt đất xuống bờ đại dương chứ . 

Đại dương là cái bình thông đáy khổng lồ, tuy nó được Thượng Đế cho hiện hình theo độ cong của địa cầu, nhưng tôi không dám lan man …

Tôi chỉ đang muốn tưởng tượng lại chốn xưa, nơi tôi được sinh ra : Chapa như nêu trên, danh xưng nghe tưởng là câu thần chú nhật tụng mỗi lần tôi nhớ lại, tưởng tượng thêm, vì mỗi ngày mỗi chồng chất thêm năm tháng . 

Bức thư của người Chapa gởi cho tôi, bảo rằng : 

” Cô có về không, cả một phương trời đầy hoa anh túc, đa sầu đa sắc, đã tất cả cùng phai như mầu tóc thượng tầng cao nguyên Xuân Viên, làng nghỉ mát Chapa, Đông Dương…” 

Ôi sao chúng ta cứ phải níu kéo dĩ vãng cả trăm năm trước thế ? 

” Thế cô không nhớ tôi là chàng a phủ thời đó ư ? 

Hãy lắng lòng thêm một chút nữa, hình ảnh mùa xuân đầy khói sương đã huyễn hoặc chúng ta cho đến giờ này, dẫu cô đang xa cách thiên đường chúng ta cả nửa vòng trái đất, tôi vẫn bồi hồi xúc động, nhớ nhung… “

Tôi chạnh nhớ tới mùa xuân sau cùng, khi bố mẹ tôi quyết định rời bỏ Chapa , đưa chị em tôi về suôi . 

Tức là sau mùa xuân năm đó, chúng tôi đã ở đồng bằng . 

Mỗi lần mẹ và chúng tôi, ngước nhìn trời mây châu thổ bay về hướng núi xa xôi, tất cả đều buồn, chị lớn tôi tên Thy , lại kể chuyện Chapa, làm  như chỉ có mình chị Thy tôi biết : 

” Có nhớ không, cái đám rước từ lòng rừng ra khỏi dốc hoa đào, ngang cửa nhà mình, tiếng kèn Mèo quyện vào tiếng thanh la, rung cả nhà cửa, em Mỵ , là tôi đấy , sợ quá , 2 tay bịt mắt lại , chúi xuống gầm bàn …” 

Bà cô tôi đang lo tết nhất nhà quê ngoài Bắc, dừng tay quấy nồi chè kho, là chè đậu xanh đánh như chè Huế, nhưng bỏ mật ( mật là loại đường đen lỏng ) hỏi chị Thy  tôi:

” Vậy người Mèo thế nào ? Ăn mặc thế nào ? Dữ hay hiền ? ” 

Người Mèo ở độ cao nhất các thứ người thiểu số đó . 

Họ dệt vải ” thổ cẩm ” chủ yếu  có 3 mầu thôi, đen , đỏ và chàm. 

Thấy trong đám rước hôm đó, đàn ông mặc quần, áo lá, đàn bà mặc váy , áo lá . 

Đó là ngày xa xưa, chứ bây giờ, thanh niên dân tộc thiểu số đã văn minh, mặc quần jean, áo thung, xe honda  leo núi như điên rồi .

Đám rước gồm đàn ông, đàn bà đi hàng dọc lộn xộn, đông độ mấy chục người thôi, không có người già quá, cũng không ai bế ẵm con nít quá nhỏ đi theo. 

Họ đi suốt con đường chính của thành phố Chapa mà thủa đó kéo dài cho tới bây giờ, cơ sở đẹp nhất vẫn là ngôi nhà thờ xây bằng đá . 

Ở ngay cửa ra vô lòng nhà thờ , có cây hoa đào cánh kép . 

Đám rước  xuống khu chợ, dừng  ngang nhà bà đồ Mèo . 

” Bà đồ Mèo ” là tiếng của người Kinh gọi bà người Mèo, bà chuyên nghề ” xỏ lỗ tai ” cho các cô bất kể Kinh Mèo…và nhất là các bé gái .

Chị em tôi cũng được mẹ dẫn tới xỏ 2 lỗ tai để đeo khuyên bạc với kiềng bạc như tất cả chị gái và bé gái ở Chapa xưa. 

Bà đồ Mèo bỏ rừng ra thành phố lập nghiệp ” xỏ lỗ tai ” . 

Bà đồ Mèo lấy một chiếc kim may nhỏ đã luồn sẵn một sợi chỉ tơ trắng ngả mầu cháo lòng làm dụng cụ xỏ tai. 

Điều quan trọng là bà đồ Mèo chỉ dùng 2 đầu ngón tay cái và trỏ bên tay trái, bóp vào trái tai, giữ yên đó, xong tay phải cầm cây kim may  kể trên . 

Đoạn bà xuyên cây kim qua trái tai đang có 2 ngón tay bà giữ, cho cây kim chui qua hẳn lỗ nhỏ với sợi chỉ tơ để một khúc chỉ nối lại, đánh dấu 2 lỗ tai của khách hàng .

Cho tới khi lỗ tai tự lành, cắt chỉ toong teng, còn lại 2 lỗ thủng ở 2 trái tai sẵn sàng đeo đôi khuyên bạc như tất cả con gái Mèo . 

Cứ cách xỏ tai chuyên nghiệp đó, bà đồ Mèo là người duy nhất làm nghề quen thuộc này ở Chapa.

Thái độ nửa tỉnh thành, nửa man dại của bà đồ Mèo, đã hấp dẫn hầu hết khách bất kể ai muốn xỏ lỗ tai. 

Bữa có đám rước nêu trên, bà đồ Mèo kê ngoài cửa nhà một cái lu bự đựng nước mưa trong veo, gác mấy cái ống bương đã được cưa mấy đoạn có cái mắt bương, để làm đồ dùng múc nước  uống, như ở miền suôi họ có gáo dừa múc nước .  

Đám rước Mèo dừng lại, mấy người thay nhau uống nước . 

Rồi theo nhau líu ríu trở vô rừng đang có chút nắng xuân . 

Chắc bộ lạc ấy cũng đông, ước độ vài trăm người.  

Cuộc sống lẩn khuất, huyền bí của họ , chẳng làm phiền ai. 

Sa Pa  trẻ trung bây giờ là hậu thân của Chapa già lão  cỗi cằn, mà tôi cứ thương nhớ mãi . 

Trung Tâm Du Lịch Sa Pa lâm nguyên, như cô gái  tầm xuân, cứ lượn lờ trước mắt khách du, không sao tìm được quá khứ, cho dẫu quá khứ đó không đẹp, huống chi quá khứ đó lại quá tuyệt vời . 

Tôi cúi xuống thau nước ấm mùi hoa đào, che dấu những giọt nước mắt não nùng đang lã chã tuôn rơi…

Thì cũng phải  ra phố một lần trước khi vĩnh viễn chia tay. 

Tôi thay chiếc áo lụa bạch, mầu tóc cũng lạt phai như tình ái cuối mùa tang chế…

Chàng đăm chiêu buồn, chắc đang tưởng nhớ thời gian chúng tôi gặp nhau ở “chợ tình ” . 

Nghĩ đến ” Chợ Tình “, tôi lại buồn cười . 

Sự thực cách đây hơn nửa thế kỷ, không ai nói hay là nhắc tới, bởi lẽ khi người Pháp còn trên đất nước VN nói chung, và ở Chapa nói riêng, Chapa do tên Tây đặt cho phần đất mà họ gọi là ” Làng nghỉ mát ” để những ông tây bà đầm đi du lịch hay dưỡng bệnh . 

Nếu đúng dịp 14-7 dương lịch hàng năm, thì những người Tây đó họ tổ chức tiệc tùng vui chơi kỷ niệm ngày phá ngục 

Bastille 14-7-1789, dựng Khải Hoàn Môn ở Paris. 

Họ căng dù mầu, kết hoa, rượu Tây, bánh ngọt vv…

Người Kinh và người Mèo thường nói ” ngày hội ” Cát tó zdu zdee ” có nghĩa ” 14 – juillet ” vậy thôi. 

Danh xưng ” Chợ Tình Sa Pa ” sau này như một hứng thú với khách du lịch trong và ngoài nước, âu là cái số lãng mạn cho một thành phố núi rừng thời đại . 

Rằng nơi đó, chợ tình nhóm họp ở vài chỗ công cộng trong thành phố . 

Nơi nam nữ thanh niên có thể tới đó gặp gỡ, hẹn hò vui vẻ, và cũng đã từng người bản xứ vừa ý, nên duyên chồng vợ . 

Ở Praha Tiệp Khắc có ” Cầu Tình “, nhưng chiếc cầu này chỉ có những nghệ sĩ lãng tử ngồi đàn ghi ta, phong cầm dửng dưng, ai muốn nghe thì nghe, không hề thấy những đôi nhân tình tới đó ngó mây trôi dưới đáy sông. 

 Bất giác tôi mỉm cười nhẹ như hơi gió bấc thổi tới lâm nguyên lạnh lẽo, buồn bã: 

” Anh ạ, hương hoa anh túc sẽ ủ hồn em cho tới khi Chapa tan vào khói sương nha phiến …”

Chàng hôn khẽ vào đôi mắt mờ lệ tủi, tại sao tôi phải khóc khi chính nguyên nhân giã biệt không cần phải đặt ra. 

Như thế nghĩa là sao ? 

Có ai bắt buộc chàng và tôi phải xa nhau vĩnh cửu trọn đời này ? Ôi, câu hỏi tự nó trả lời rồi. Đất trời đã là vực sâu ngăn cách đấy . 

Chẳng lẽ tôi ở lại đây ? 

Còn chàng, thì chẳng lẽ theo tôi đi đến cuối trời xa tít mù khơi ư  ? 

Tức là chúng tôi thiếu sức khoẻ, hay nói thẳng ra chúng tôi không còn tuổi trẻ để trang trải tình yêu say đắm hương xuân của hoa rừng ngạt ngào, trên những vạt cây anh túc muộn phiền mê muội . 

Nhưng sao cứ mỗi mùa xuân về, tôi cứ phải gặp lại Chapa, 

vì tôi không có gì ngoài Chapa làm vốn liếng  . 

Tôi chỉ có vùng trời đó, phần đất đó làm vốn liếng cho tư duy, nuôi dưỡng tâm tư tình cảm tôi, điều sáng rỡ lấy làm hãnh diện cho tôi bầy tỏ với mọi người . 

Tôi đứng ở biên đình, như một người sống giữa quê hương, đợi khách lỡ viễn phương, cả hai đều mang tâm sự về Sa Pa dang dở . 

Biên giới hoa đào đã khai quang lãnh địa. 

Ngày xưa chỉ toàn một mầu hồng phấn miên man, thủa nguyên sơ tĩnh lặng không một dấu thú hoang, vì là rừng cảnh, nên chỉ có vết hoa rơi ướt hài khách văn nhân, tài tử . 

Khi ra khỏi nhà ở cửa rừng hoa đào cánh kép, con dốc đổ xuôi hình thước thợ . 

Đó là đoạn dốc ngắn trước cửa nhà ba tôi. 

Ngôi nhà với 3 mặt lắp kiến  dày, và phần lưng nhà thì lại là vách núi cheo leo. 

Cuối đoạn dốc, rẽ qua tay trái, bắt đầu đại lộ chính của Sa Pa, cũng dốc, nhưng thẳng tắp, đại lộ này đã có lần thật xa xăm, bà vú em bồng tôi trên tay, để bước theo đoàn rước của người Mèo, vào mùa xuân năm ấy. 

Chị Mỹ tôi đang được cha cố người Pháp làm lễ rửa tội , và cả gia đình bố mẹ tôi thủa ấy đang sắp sửa bữa tiệc trưa nơi sân nhà thờ đá, để hân hoan mừng đón ân sủng của Chúa vừa cho chị Mỹ tôi trở lại đạo . 

Chị Mỹ tôi bây giờ không còn nữa, nhưng hình ảnh bé gái mũm mĩm mặc áo dài, tóc bum bê, mở to đôi mắt nhìn cha cố 

đọc những lời ” mặc  khải  ” của  Thiên Chúa tối cao, lại khiến tôi thương nhớ Chapa thần thánh nhiều hơn. 

Tôi thở dài, nhà thờ đá vẫn hiện thân của một thời xưa cũ không thay lòng đổi dạ. 

Nhưng sao tôi vẫn thấy lòng mình chẳng vẹn toàn .  

Thế là tôi từ giã chàng, người tình Chapa nguyên thuỷ của tôi, cũng sẽ là người tình muôn đời chỉ hiện diện trong ký ức xa mờ . 

Tôi cúi xuống ven đường vòng quanh Cát Cát, hái một nụ hoa sún mầu xanh biếc, hoa dại chưa từng ai đặt tên, tôi thầm thì nói thật nhỏ, nhỏ thêm chút nữa, bởi vì nếu tôi có nói lớn hơn, cũng chẳng có ai nghe, Chapa sẽ bị chôn vùi cùng cát núi, cỏ rừng …

Tên tuổi nó, mang hình ảnh chàng ta đang lịm chết dưới tảng đá khổng lồ, vô cùng trừu tượng ở muôn xưa Fang ci Pan.

Đã từ nửa thế kỷ trước, người ta khoác cho nó một cái tên hiền lành nhưng thơ mộng là Hoàng Liên Sơn hay Núi Sen Vàng.

 Khi tôi đứng cạnh anh, tôi chỉ là tấm bia đá sầu  ghi nhớ cuộc tình si thung thổ của lâm nguyên này .

Chiếc xe rời khỏi cầu Mây, tôi bâng khuâng tự hỏi: ” Tới bao giờ trở lại ? Ô hay vĩnh biệt rồi mà . ” 

Dẫu không tử biệt, cũng là sinh ly. 

Trăm năm như một luồng gió thổi qua vách núi, mang khí lạnh về suôi, không có một hơi ấm nào ngoài năng lượng của mặt trời, ấp ủ tình yêu mất dần ý nghĩa : Chapa huyền thoại đâu còn nữa, chỉ có Sa Pa huyễn hoặc ở thủa này . 

               CAO MỴ NHÂN 




GIẾNG TRĂNG (Thơ PhamPhanLang. Nhạc Vĩnh Điện)