LÊ XUÂN MỸ – Khi Tượng Người Lính VNCH Bị Kéo Ngã.

Khi Tượng Người Lính VNCH Bị Kéo Ngã

Lê Xuân Mỹ

Tuần qua, cộng đồng người Việt tại San Jose không khỏi bàng hoàng khi hay tin bức tượng người lính Việt Nam trong tượng đài “Thank You America” bị kẻ gian lấy đi cùng chiếc lư hương đặt phía trước tượng đài.

Vài ngày sau, người ta tìm thấy bức tượng bị kéo lê và bỏ lại trong một khu vực của những người vô gia cư. Điều khiến nhiều người suy nghĩ là trong cụm tượng có hai người lính đứng cạnh nhau, một người lính Mỹ và một người lính Việt Nam Cộng Hòa, nhưng chỉ có bức tượng người lính Việt Nam bị lấy đi.

Tôi đọc tin ấy nhiều lần. Ban đầu là sự ngạc nhiên, sau đó là nỗi buồn. Không phải vì giá trị của một pho tượng bằng đồng, mà vì ý nghĩa của những gì bức tượng ấy tượng trưng. Đối với nhiều người Mỹ, đó có thể chỉ là một tượng đài chiến tranh. Nhưng đối với nhiều người Việt tị nạn như tôi, đó là biểu tượng của lòng biết ơn. Hai người lính đứng cạnh nhau không chỉ nói lên một giai đoạn lịch sử mà còn nhắc nhở về sự hy sinh, tình đồng minh và mối ân tình mà cộng đồng người Việt tị nạn luôn dành cho nước Mỹ.

Cho đến hôm nay, không ai biết chính xác vì sao chỉ có tượng người lính Việt Nam bị lấy đi. Có thể đó chỉ là một vụ trộm cắp đơn thuần. Có thể kẻ gian thấy bức tượng ấy dễ tháo gỡ hơn. Cũng có thể hoàn toàn là sự ngẫu nhiên. Cũng có thể có một chủ đích nào đó. Chúng ta không nên vội vàng kết luận khi chưa có kết quả điều tra.

Tuy nhiên, đối với nhiều người thuộc thế hệ của tôi, sự việc ấy vẫn để lại một cảm giác thất khó tả. Câu hỏi “Vì sao chỉ có người lính Việt Nam?” cứ quanh quẩn trong đầu như một nỗi trăn trở không dễ trả lời.

Có lẽ bởi vì phía sau bức tượng ấy là hình ảnh của biết bao con người thật. Tôi nhìn bức tượng và nhớ đến cha tôi. Ông là một sĩ quan Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa. Sau năm 1975, ông bị bắt đi tù cải tạo và qua đời trong trại giam Vĩnh Phú năm 1979. Gia đình tôi từ đó rơi vào cảnh thiếu thốn. Mẹ tôi phải gồng gánh nuôi đàn con, còn tôi phải làm đủ nghề để cùng mẹ chăm sóc bảy người em còn nhỏ. Những năm tháng ấy đã lùi xa gần nửa thế kỷ nhưng chưa bao giờ phai nhạt trong ký ức.

Khi sang Mỹ năm 1998, tôi mang theo không chỉ hành trang của một người di dân mà còn mang theo ký ức của một người con mất cha trong trại cải tạo. Nước Mỹ không thể trả lại cho tôi những năm tháng đã mất, không thể mang cha tôi trở về với gia đình, nhưng nước Mỹ đã cho gia đình tôi cơ hội xây dựng lại cuộc đời. Các con tôi trưởng thành trên đất nước này. Các cháu tôi được sinh ra trên đất nước này. Và tôi có cơ hội sống những năm tháng tuổi già trong bình yên, được viết lại những câu chuyện của một thế hệ đã trải qua chiến tranh, tù đày, mất mát và hành trình đi tìm tự do.

Có lẽ vì vậy mà mỗi lần nhìn tượng đài “Thank You America”, tôi luôn cảm nhận đó là một lời cảm ơn được đúc thành hình tượng. Cảm ơn những người lính Mỹ đã từng chiến đấu tại Việt Nam. Cảm ơn đất nước đã mở rộng vòng tay đón nhận hàng triệu người tị nạn. Cảm ơn cơ hội mà nước Mỹ đã dành cho những gia đình như gia đình tôi.

Điều khiến tôi xúc động hơn nữa là chiếc lư hương cũng bị lấy đi. Trong văn hóa Việt Nam, lư hương không chỉ là một vật trang trí. Đó là nơi người sống gửi gắm lòng tưởng nhớ đến người đã khuất. Đó là nơi một nén nhang được thắp lên để nối quá khứ với hiện tại. Nhìn hình ảnh bức tượng và lư hương bị kéo khỏi vị trí vốn có của chúng, tôi chợt nghĩ đến số phận của những người lính Việt Nam Cộng Hòa sau cuộc chiến.

Nhiều người ngã xuống trên chiến trường. Nhiều người chết trong các trại cải tạo. Nhiều người lưu lạc khắp thế giới. Và không ít người đã ra đi trong lặng lẽ.

May mắn thay, bức tượng đã được tìm thấy. Rồi đây nó sẽ được dựng lại. Những vết trầy xước có thể được sửa chữa. Chiếc lư hương có thể được thay mới. Nhưng sự việc ấy đã nhắc cho chúng ta thấy rằng ký ức cần được gìn giữ và lịch sử không nên bị lãng quên. Người ta có thể kéo ngã một bức tượng, nhưng không thể kéo ngã lòng biết ơn của một cộng đồng. Người ta có thể lấy đi một khối đồng, nhưng không thể lấy đi những ký ức đã khắc sâu trong trái tim của hàng trăm ngàn người Việt tị nạn.

Hơn năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày chiến tranh kết thúc. Những người lính năm xưa giờ đây phần lớn đã già yếu hoặc đã ra đi. Nhưng chừng nào vẫn còn những người nhớ đến họ, chừng nào vẫn còn những người dừng chân trước tượng đài để tưởng niệm, thì người lính ấy vẫn còn đứng đó. Không chỉ đứng trong công viên của thành phố San Jose, mà còn đứng trong ký ức của cả một thế hệ và trong lòng biết ơn của những người Việt đã tìm được cuộc sống mới trên quê hương thứ hai của mình.

Lê Xuân Mỹ

Viết trong ngày chờ đợi chương trình Cam Ơn Anh tại San Jose ngày 22/7/2026




VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT MỪNG LỄ ĐỘC LẬP HOA KỲ. Phương Hoa: 250 NĂM DỰNG NƯỚC HOA KỲ Và BẢN HÙNG CA HAI NỬA BÁN CẦU. THƠ CAO MỴ NHÂN – THƠ CẢM TÁC LÊ MỸ HOÀN – THƠ TRẦN VẤN LỆ.

==

==

Mai mới là Quốc Khánh, cả nước Mỹ nghỉ, mừng!  Hôm nay mới hừng Đông… người cắt cỏ đi làm sớm, mai nghỉ!

Mình dậy sớm thấy thế, lòng bỗng dưng nghẹn ngào(*).  Một chút gì nao nao:  nước mình không Quốc Khánh!

Bốn ngàn năm hiu quạnh!  Cờ Tàu treo mái Đình… thế mà cũng bốn “nghìn”.  Lịch Sử Việt lệch sử?

Đinh Bộ Lĩnh, “thằng nhỏ”, chính danh Đinh Tiên Hoàng, tính chỉ hơn ngàn năm sao bốn “nghìn” cho được? 

Mình “ăn cỗ đi trước còn lội nước đi sau!”. Chuyện thật như tào lao… hèn chi không ai học!

Người có học:  Trí Thức!  Trí Thức làm cái gì?  Hết bỏ đi theo Tây… tiếp bỏ đi theo Mỹ…

Ba Mươi Tháng Bốn hay nhỉ!  Trời chỉ có mưa sa!  Ông Trời phải khóc mà, dân ta thì bình thản! (**)

Đến hai chữ Kách Mạng”, xong nhiệm vụ là xong.  Năm mươi hai năm lung tung, trống thùng thùng cứ gióng…

Người cắt cỏ, lao động, sợ mai làm, làm phiền… nên sáng nay… còn đêm, đi làm điều lịch sự!

Ôi Nước Non Yêu Quý, cái tên nước Tàu ban, có gì mà vẻ vang… thua cả người cắt cỏ!

Jean Paul Sartre nói “Đồ Chó!  Bám Đít Lũ Lưu Manh!”.  Nói xong bèn giật mình… đi cứu người Vượt Biển! (***)

Mở Google nó hiện “Thằng Lưu Manh” là ai? Ai?  Ai?  Ai?  Ai? Ai? Nam Mô A Di Đà Phật!

*

Mùa này Huế lất phất cơn mưa phùn vào Thu.  Hãy niệm Phật Nam Mô để cho lòng mình nhẹ…

Cơn mưa dù lớn, bé, nó vẫn là cơn mưa… Cơn mưa phùn phất phơ… áo dài ơi!  Yêu Quý!

Trần Trung Tá

(*)   Câu này của Thế Viên “Tóc ai vàng một nửa, ta nhìn xa chợt nhớ trăng  mùa Thu năm nao soi bóng người bên cửa, lòng bỗng dưng nghẹn ngào.  Vì sao ta thương nhớ?  Bởi vì quá nhớ thương!”.

(**). Thơ Trần Dần:  “Tôi đi không thấy phố thấy nhà chỉ thấy mưa sa…”.

(***) Jean Paul Sartre, triết gia người Pháp, ca tụng chủ nghĩa Marxism, theo Đảng Cộng Sản Pháp, tuyên bố:  “Ai không theo Cộng Sản là Đồ Con Chó”.  Năm 1975, Sartre đọc tin tức người Việt Nam vượt biển chết nhiều quá, xem thêm hình ảnh thảm thương, chịu không nổi, bèn tuyên bố bỏ Đảng Cộng Sản Pháp, chắt mót tiền riêng, mua tàu đi cứu vớt… Sartre nói “Ai còn theo Cộng Sản là Đồ Con Chó!”.  Chớp cơ hội, Võ Văn Ái và Nhất Hạnh dựng ra tổ chức cứu trợ đặt tên Cứu Người Việt Nam Vượt Biển”, tiền vào như nước, có chi một ít, còn lại thì “dùng vào việc cá nhân”… Hãy bấm Google thì thấy… Hãy đọc tờ báo Quê Mẹ của Võ Văn Ái thì thấy...

==

QUÊ HƯƠNG THỨ HAI – phamphanlang

Kính dâng quê hương thứ hai của hàng triệu người Việt tị nạn, với tất cả lòng biết ơn, nhân dịp Kỷ niệm 250 năm Lập quốc Hoa Kỳ (1776–2026).

      Lịch sử của mỗi dân tộc đều có những ngày không bao giờ phai nhạt.

      Đối với Hoa Kỳ, ngày 4 tháng 7 năm 1776 đánh dấu sự ra đời của một quốc gia được xây dựng trên lý tưởng tự do, dân chủ và quyền mưu cầu hạnh phúc.

      Đối với hàng triệu người Việt ly hương, biến cố năm 1975 đã mở ra một hành trình đầy nước mắt, nhưng cũng đưa chúng tôi đến với một bến bờ của hy vọng. Trên mảnh đất Hoa Kỳ, chúng tôi tìm lại phẩm giá của con người, tìm thấy cơ hội để học tập, làm việc, cống hiến và nuôi dưỡng những thế hệ tương lai trong tự do.

      Với riêng tôi, lòng biết ơn ấy còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn. Từ một người tị nạn, tôi đã có vinh dự được phục vụ đất nước này trong quân phục của Quân đội Hoa Kỳ, xem sự cống hiến của mình như một cách đáp đền phần nào ân tình mà quê hương thứ hai đã dành cho gia đình tôi.

     Bài thơ “Quê Hương Thứ Hai” được viết không chỉ để chúc mừng một cột mốc lịch sử, mà còn để lưu giữ một lời tri ân.

     Tri ân một dân tộc đã chọn tự do làm nền tảng lập quốc.

     Tri ân một đất nước đã mở rộng vòng tay với những con người mất quê hương.

     Và tri ân quê hương thứ hai đã cho hàng triệu người Việt tị nạn cơ hội được sống, được làm người, được phụng sự và được mưu cầu hạnh phúc.

     Xin kính chúc Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ mãi mãi hùng cường; ngọn đuốc tự do luôn tỏa sáng để soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

      Xin kính chúc quýThầy Cô, quý anh chị và các bạn Happy July 4th!

QUÊ HƯƠNG THỨ HAI

(Mừng 250 năm Lập quốc Hoa Kỳ)

Hai trăm năm mươi năm

Sử vàng còn rực sáng

Cờ sao bay kiêu hãnh

Rạng rỡ khắp trời xanh

.

Đất nước của niềm tin

Của tự do, dân chủ

Mỗi con người bình đẳng

Được mưu cầu ấm no

.

Bao đoàn người lưu vong

Vượt biển tìm hy vọng

Giữa trùng khơi bão nổi

Vẫn nguyện giữ niềm tin

.

Hoa Kỳ mở vòng tay

Đón bao người tị nạn

Cho cuộc đời đứng dậy

Sau những tháng đau thương

.

Từ đổ nát chiến tranh

Đến ngày vui đoàn tụ

Con thơ vào trường học

Cha mẹ dựng tương lai

.

Gia đình tôi hôm nay

Mang hồng ân sâu nặng

Nhờ quê hương thứ hai

Được sống đời tự do

.

Được nói điều mình tin

Được thờ phượng tín ngưỡng

Được làm người đúng nghĩa

Không sợ hãi cường quyền

.

Hăm hai năm quân ngũ

Xin góp chút sức mình

Đền phần nào ân nghĩa

Đất nước đã cưu mang

.

Dẫu tóc nay pha sương

Lòng tri ân còn mãi

Nguyện cầu cho nước Mỹ

Mãi hùng cường, vinh quang

.

Xin cho ngọn đuốc thiêng

Tự do luôn tỏa sáng

Xin cho nền dân chủ

Bền vững với thời gian

.

Để mai này cháu con

Vẫn ngẩng đầu kiêu hãnh

Tự hào mình được sống

Trên đất nước anh hùng

.

Mừng hai trăm năm mươi,

Một chặng đường rực rỡ

Tri ân quê hương mới

Khắc mãi giữa tim này

.

Việt Nam còn trong tim

Hoa Kỳ trong máu chảy

Hai quê hương một tấm lòng

Chung niềm tin nhân ái

.

phamphanlang

Một người Việt tỵ nạn biết ơn nước Mỹ

July 4th, 2026

==

Lễ Độc Lập 250 Năm Dựng Nước Hoa Kỳ

Và Bản Hùng Ca Hai Nửa Bán Cầu: George Washington Và Vua Quang Trung Cùng “Vượt Sông” Xoay Chuyển Vận Mệnh Quốc Gia!

250 Năm rực lửa Tự Do.Tháng Bảy về mang theo cái nóng cháy da của mùa hè nước Mỹ, nhưng có một ngọn lửa còn cháy bỏng hơn thế, đang bùng lên mạnh mẽ trong hàng triệu trái tim khắp mọi miền 50 Tiểu Bang.  Đó là ngọn lửa của Ngày Lễ Độc Lập 4 Tháng 7.  Và năm nay, ngọn lửa ấy mang một tầm vóc lịch sử vô tiền khoáng hậu,“Lễ  Kỷ Niệm 250 Năm Lập Quốc Hoa Kỳ!

Một phần tư thiên niên kỷ đã trôi qua kể từ khi tiếng Chuông Tự Do vang lên tại Philadelphia, lay chuyển toàn cầu và khai sinh ra một quốc gia của những điều kỳ diệu. Hai trăm năm mươi năm, một hành trình hiển hách được dệt bằng máu, nước mắt, ý chí sắt đá, và khát vọng tự do cháy bỏng của bao thế hệ. Hôm nay, bầu trời nước Mỹ sẽ được thắp sáng bởi hàng triệu đóa hoa lửa rực rỡ, được đốt lên bởi tinh thần quả cảm kiêu hùng của một biểu tượng tự do trường tồn, từ sau những cuộc hành trình đầy kiêu hãnh của cha ông.

Nhìn lại lịch sử của quốc gia 250 tuổi Hoa Kỳ từ những nền móng đầu tiên. Năm 1776.  Tất cả bắt đầu từ 13 thuộc địa sơ khai, nơi những con người quả cảm không chịu cúi đầu trước ách thống trị của Vương Quốc Anh. Ngày 4 tháng 7 năm 1776, Bản Tuyên Ngôn Độc Lập bất hủ vang lên, chính thức khai sinh ra Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ dựa trên nền tảng thiêng liêng. Đó là Quyền sống, Quyền tự do, và Quyền mưu cầu hạnh phúc.  Nhưng ở Thế kỷ XVIII đó, con thuyền nước Mỹ vừa nhổ neo ra khơi đã phải vượt qua những thác ghềnh khốc liệt. May mắn thay, những bậc tiền khai lập quốc của Hoa Kỳ chính là những “kiến trúc sư” tài năng tột bực của tự do.  Cuộc Nội chiến 1861 – 1865 tuy đau thương nhưng đã xóa bỏ xiềng xích nô lệ, hàn gắn vết thương chia rẽ và khẳng định một khối thống nhất quốc gia vững bền.  Đi cùng với đó là cuộc mở rộng bờ cõi về miền Tây hoang dã, định hình nên một lãnh thổ bao la từ bờ Đại Tây Dương sang bờ Thái Bình Dương.

Hoa Kỳ đã vươn mình thành siêu cường thế giới từ Thế kỷ XX.  Bước qua hai cuộc Thế chiến khốc liệt, Hoa Kỳ trở nên thành trì bảo vệ nền dân chủ toàn cầu và đã bứt phá ngoạn mục về kinh tế, khoa học, và công nghệ. Từ bước chân đầu tiên của con người trên Mặt Trăng đến cuộc cách mạng kỹ thuật số (Digital), Mỹ khẳng định vị thế siêu cường không thể lay chuyển.  Đằng sau thiên anh hùng ca uy dũng đó là tầm vóc của trí tuệ kiệt xuất.  Những “khai quốc công thần” của nước Mỹ đã dám đặt cược cả mạng sống vào một ý tưởng điên rồ lúc bấy giờ.  Đó là, tạo nên một đất nước của người dân, do người dân, và vì người dân.

George Washington, vị “Cha già dân tộc” là Tổng tư lệnh quân đội toàn Lục địa, người đã  lãnh đạo trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất để giành lấy độc lập.  Ông là biểu tượng của sự hy sinh và lòng chính trực, người đầu tiên từ bỏ quyền lực để đặt nền móng cho nền dân chủ bền vững.

Nhưng lịch sử không phải là một con đường trải đầy hoa hồng. Để hiểu vì sao ngọn đuốc tự do

lại có thể rực cháy suốt 250 năm, chúng ta phải nhìn vào khúc quanh sinh tử khốc liệt nhất của nước Mỹ. Đó là đêm Giáng sinh năm 1776.  Lúc bấy giờ, cuộc Cách Mạng Mỹ đang đứng bên bờ vực phá sản.  Đội quân Lục Địa của Tướng George Washington rách rưới, đói khát, thiếu hụt từ manh áo đến đôi giày. Giữa cái lạnh thấu xương của mùa đông Valley Forge, máu từ những bàn chân trần của người lính Mỹ đã nhuộm đỏ cả tuyết trắng. Ai cũng nghĩ rằng quốc gia non trẻ này sẽ nhanh chóng bị chôn vùi.  Nhưng lịch sử luôn dành chỗ cho những kẻ quả cảm nhất. Vào đêm định mệnh ngày 25 tháng 12 năm 1776, khi đối phương đang say sưa tiệc tùng Giáng Sinh, Washington đã đưa ra một quyết định táo bạo bậc nhất lịch sử quân sự: Vượt sông Delaware.

Trên một dòng sông ngập ngụa những tảng băng trôi, gió tuyết gầm rú quật thẳng vào mặt. Trên những chiếc thuyền gỗ chông chênh, đoàn quân của Washington lầm lũi tiến vào màn đêm vì khát vọng tự do cháy bỏng trong lồng ngực. Cuộc tập kích bất ngờ vào thị trấn Trenton ngay sau đó đã thành công vang dội, thổi bùng lên ngọn lửa hy vọng đã nguội lạnh, chứng minh cho cả thế giới thấy sức mạnh của một dân tộc chiến đấu vì tự do! 

Đọc lại chiến công hiển hách này của nước Mỹ, tâm tư tôi bỗng dưng rúng động bàng hoàng.  Chợt nhiên tôi nhớ ra, trong lịch sử nước nhà của quê hương tôi cũng từng có một chiến thắng đầy cuồng phong và sấm sét như thế.  Và quả thật, khi lật lại những trang sử vàng của dân tộc Việt, tôi đã tìm ra, cách mà nước Mỹ non trẻ nửa vòng Trái Đất làm, cũng có một dân tộc kiên cường đã từng viết nên một phép màu y hệt. Một sự trùng hợp đến thần kỳ.  Hành động vượt sông băng của George Washington năm 1776 chính là “tấm gương phản chiếu” của cuộc vượt sông Đáy thần tốc do Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ lãnh đạo năm 1789 tại nước Việt!

Cả hai vị thiên tài quân sự đã gặp nhau ở cùng một tư tưởng lớn. Đó là, Tốc độ, Bất ngờ, và Chọn thời điểm kẻ thù sơ hở nhất!  Ý tưởng và hoàn cảnh giống hệt, đêm vượt sông Delaware của Washington là một bức tranh sơn dầu lấp lánh đầy băng giá trong đêm Giáng Sinh, và đêm vượt sông Đáy của vua Quang Trung là một bức họa cuồng phong rực lửa. Đêm 30 Tết Kỷ Dậu, khi quân xâm lược Mãn Thanh dưới sự chỉ huy của Tôn Sĩ Nghị còn đang mải mê ca hát, tiệc tùng ăn Tết cổ truyền và đinh ninh rằng quân ta ra Giêng mới dám đánh, thì trên dòng sông Đáy (đồn Gián Khẩu), hàng vạn chiến binh Tây Sơn đã lặng lẽ vượt sông.

Im lìm không tiếng động, trong đêm đen không một ánh lửa, quân Tây Sơn thần tốc vây chặt và bắt gọn toàn bộ toán quân do thám tiền tiêu của địch, khiến hệ thống phòng thủ của quân Thanh hoàn toàn bị “mù mịt thông tin” ngay từ phát súng đầu tiên. Sự phong tỏa tình báo tài tình này đã mở đường cho cuộc hành quân chớp nhoáng vô tiền khoáng hậu để làm nên trận đại thắng Ngọc Hồi – Đống Đa kinh thiên động địa.  Đến Mùng 5 Tết, cả thành Thăng Long rung chuyển trong khói lửa ngút trời, Tôn Sĩ Nghị khiếp sợ đến vỡ mật, không kịp đóng yên ngựa, vứt bỏ ấn tín mà tháo chạy qua sông Hồng.  Thây giặc Tàu tầng tầng lớp lớp làm nghẽn cả dòng nước.

Tìm được những thông tin này, tôi xúc động gần như nghẹt thở.  Phải kiếm thêm bằng chứng thuyết phục hơn để tôi còn có thể “khoe” với những người bạn Mỹ của tôi trong Hội Cựu Chiến Binh Không Quân Hoa Kỳ  “Tan Son Nhut Association (TSNA)” mà mấy chục năm nay chúng tôi vẫn thường chia sẻ cho nhau những thông tin, bài viết tiếng Anh, về quê hương Việt Nam. Trận Đống Đa oai hùng ấy tôi vốn đã nghe kể và đã được học từ thuở ấu thơ, cũng từng đọc qua nhiều sử sách.  Để tìm kiếm những nguồn tài liệu độc lập, những bằng chứng đanh thép nhất bằng tiếng Anh, tôi đã trải qua nhiều giờ tìm kiếm và “mò” vào hệ thống lưu trữ cổ thư trực tuyến HOLLIS (Harvard Online Library Information System) của Đại học Harvard danh tiếng.

Thư Viện Harvard thông tin dày đặc như rừng rậm.  Cái khoảnh khắc copy cụm từ chữ Hán theo “anh Gút” bày,  “欽定安南紀事” (Khâm Định An Nam Kỷ Sự – cũng nhờ anh Gút dịch, xin nói rõ kẻo những nhà Hán Học uyên thâm lại mắng cho rằng tôi sao dám múa rìu qua mắt thợ.) và thảy vào tìm kiếm, thì nó hiện lên nguyên bản ngập tràn những dòng chữ Hán tượng hình từ thế kỷ XVIII, tim tôi bỗng đập liên hồi như một kẻ vừa tìm ra kho báu bị chôn giấu.  Tôi lập tức dùng công cụ Google dịch trên iPhone rọi vào, hồi hộp xem từng ký tự vuông vức, cổ kính ấy được chuyển sang tiếng Việt.  Và rồi, một cảm giác nổi da gà, dựng chân lông, vừa ngạc nhiên tột độ, lẫn thích thú vô bờ, choáng ngợp lấy tâm trí tôi!  Tôi ngồi sững sờ, xúc động đến phát khóc cho sự khám phá này.  Hiện ra trước mắt tôi là những dòng sớ tấu ngày xưa rõ mồn một như những hàng chữ Hán tôi thường thấy trong phim Tàu.  Dịch ra tiếng Việt là những lời thú nhận nghe như run rẩy, nghe như kinh hoàng của chính Sử Quan triều đình nhà Thanh ghi chép lại.  Vì là Chiếu Chỉ triều đình phong kiến nên sách cho đọc theo lối từ phải sang trái và từ trên xuống dưới.  Những Bản Văn này ghi đầy đủ các Sắc Dụ của Hoàng Đế Càn Long ban xuống cho Tôn Sĩ Nghị, Phúc Khang An, cùng các tấu sớ của các tướng lĩnh báo cáo tình hình chiến sự kinh hoàng khi bị quân Tây Sơn quét sạch.

Lưới trời lồng lộng, sử giặc rành rành, những kẻ xâm lượt đã tình cờ để lại những bằng chứng nhục nhã cho thế giới đọc! Qua lăng kính dịch thuật từ những bản văn lưu giữ tại Harvard, sự thật ngày xưa đã hiện ra mồn một. Sử sách quân Thanh thừa nhận đã bị quân dân Việt đánh cho tan tác, chết sạch ở các đồn tiền tiêu ven sông Đáy, không một tên nào kịp chạy về báo tin, và đại quân Thanh ở Thăng Long vào thế bất lực hoàn toàn trước trận bão lửa của đoàn quân vua Quang Trung.

Ngồi trước màn hình máy tính, nhìn con dấu đỏ hoàng gia của Hoàng Đế Càn Long trên trang sách cổ của Harvard, thứ mà trước nay tôi chỉ thấy qua phim ảnh, lòng tôi dâng lên một niềm xúc động và tự hào dân tộc mãnh liệt. Thì ra, chân lý và niềm kiêu hãnh của người Việt chưa bao giờ phai nhạt, nó vẫn nằm trang trọng ở đó, giữa trung tâm tri thức của thế giới, chờ chúng ta mở ra xem! Quả là hồn thiêng sông núi nước Nam đã dành cho con cháu đời sau một bất ngờ quá lớn.

Năm tháng sẽ trôi qua, lớp bụi thời gian có thể làm mờ đi nhiều thứ, nhưng ký ức về những đêm vượt sông định mệnh của Tướng George Washington và Hoàng Đế Quang Trung sẽ mãi là những mốc son chói lọi trong lịch sử nhân loại.  Hai trăm năm mươi năm nước Mỹ kiêu hùng nhìn lại chặng đường lập quốc đầy huyền thoại, cũng là lúc chúng ta, những người con mang trong mình dòng máu Việt, nghiêng mình trân kính trước hào khí sấm sét của cha ông.

Cho nên, tự do không bao giờ là một món quà sẵn có. Dù ở bờ bên kia của đại dương hay trên mảnh đất hình chữ S thân thương, sự khát vọng về tự do và độc lập vẫn luôn luôn là một.

Khi tiếng pháo hoa rực rỡ thắp sáng bầu trời đêm Lễ Độc Lập 4 tháng 7 ở Hoa Kỳ năm nay, người Việt chúng ta hãy để những tâm hồn đồng điệu cùng hòa chung một nhịp đập. Hãy kiêu hãnh mang theo ngọn lửa rực cháy từ quá khứ để sưởi ấm cho hiện tại và soi đường cho tương lai.  Miễn là thế giới này còn những con người trân trọng giá trị của độc lập, thì bản hùng ca vượt sông của những thiên tài kiệt xuất ngày xưa ấy sẽ còn vang vọng mãi đến muôn đời sau…

      Phương Hoa

Nguồn tài liệu tham khảo:

*Trang web chính thức của Di tích Lịch sử Mount Vernon (George Washington’s Mount Vernon):⁠mountvernon.org⁠

*Viện Lưu Trữ Quốc Gia Hoa Kỳ (The U.S. National Archives): ⁠archives.gov⁠

*Sách “Việt Nam Sử Lược” – Tác giả Trần Trọng Kim (Bản in của Nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn) Trong Chương XI (Nhà Tây Sơn), học giả Trần Trọng Kim mô tả rất kỹ trận đại phá quân Thanh, việc vua Quang Trung ước hẹn với quân sĩ ăn Tết trước, rồi đúng đêm giao thừa (30 Tết) hạ đồn Gián Khẩu (sông Đáy) khiến quân Thanh không kịp trở tay.

*Bộ sử liệu “Khâm Định An Nam Kỷ Sự” (欽定安南紀事), Quyển 1–30, bản in cổ thế kỷ XVIII, hiện đang được lưu trữ trang trọng tại Thư viện Yên Kinh Harvard (Harvard-Yenching Library) thuộc Đại học Harvard, Hoa Kỳ:  https://library.harvard.edu/ –  ⁠hollis.harvard.edu⁠ zh.wikisource.org 欽定安南紀事

==

Bài thơ được thực hiện theo bài nghiên cứu trận Đống Đa của vts Phương Hoa

==

Sự Kiện đang Nhớ cho một Đất Nước Vĩ Đại với 250 năm Lịch Sử

==

Có thật nhiều Sự Kiện đang Nhớ cho một Đất Nước Vĩ Đại với 250 năm Lịch Sử – Xin gởi đến quý anh chi một vài sự kiện – còn rất nhiều, như quý anhchi đã biết-

  Cảm ơn quý anhchi XIN CHÚC QUÊ HƯƠNG THỨ HAI ĐẦY LÒNG NHÂN ÁI NÀY SẼ LUÔN VỮNG MẠNH VÀ LUÔN VĨ ĐẠI NHƯ CHÚ CHIM ĐẠI BÀNG – chú chim đại diện cho ĐẤT NƯỚC CỜ HOA THÂN ÁI ==Chúc quý anhchi mùa Lễ Thật Vui bên gia đình

𝓽𝓷𝓵

 =============================================================

How Did the Bald Eagle Become America’s National Bird? (www.history.com)Long considered a symbol of strength, the predatory bird first appeared on the national seal in 1782.
The bald eagle’s role as a national symbol is linked to its 1782 landing on the Great Seal of the United States. Shortly after the Declaration of Independence was signed on July 4, 1776, the Continental Congress gave Benjamin Franklin, Thomas Jefferson and John Adams the job of designing an official seal for the new nation. However, the three Founding Fathers failed to come up with a design that won Congress’ approval, as did two later committees that were given the task.
In mid-June 1782, the work of all three committees was handed over to Charles Thomson, the secretary of Congress. Thomson chose what he thought were the best elements of the various designs and made the eagle—which had been introduced by artistically inclined Pennsylvania lawyer William Barton in a design submitted by the third committee—more prominent. (Since ancient times, the eagle has been considered a sign of strength; Roman legions used the animal as their standard, or symbol.)
========================

Đại bàng đầu trắng trở thành chú chim  quốc gia  của Mỹ như thế nào? (www.history.com)
Từ lâu được coi là biểu tượng của sức mạnh, loài chim săn mồi có đầu lông trắng này lần đầu tiên xuất hiện trên quốc huy vào năm 1782.
Vai trò của đại bàng đầu trắng như một biểu tượng quốc gia gắn liền với việc nó xuất hiện trên Quốc huy Hoa Kỳ năm 1782. Ngay sau khi Tuyên ngôn Độc lập được ký kết vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, Quốc hội Lục địa đã giao cho Benjamin Franklin, Thomas Jefferson và John Adams nhiệm vụ thiết kế một con dấu chính thức cho quốc gia mới. Tuy nhiên, ba vị Cha lập quốc đã không thể đưa ra một thiết kế được Quốc hội chấp thuận, cũng như hai ủy ban sau đó được giao nhiệm vụ này.
Vào giữa tháng 6 năm 1782, công việc của cả ba ủy ban được giao cho Charles Thomson, thư ký Quốc hội. Thomson đã chọn những gì ông cho là những yếu tố tốt nhất trong các thiết kế khác nhau và làm cho hình ảnh đại bàng—vốn được luật sư William Barton người Pennsylvania, một người có năng khiếu nghệ thuật, giới thiệu trong một thiết kế do ủy ban thứ ba đệ trình—nổi bật hơn. (Từ thời cổ đại, đại bàng đã được coi là biểu tượng của sức mạnh; quân đoàn La Mã sử dụng loài vật này làm biểu tượng của họ.)

====================================================

nguồn:

Top 10 Most Important Dates in U.S. History (And Why They Still Matter) – Chronicles of HistoryTL sưu tầm và dịch

A/- 10 Cột mốc Quan trọng nhất trong Lịch sử Hoa Kỳ (và Lý do Chúng vẫn còn Ý nghĩa)

Lịch sử Hoa Kỳ chứa đựng vô số bước ngoặt — những ngày mà đất nước thay đổi vận mệnh mãi mãi. Một số ngày được kỷ niệm rộng rãi, số khác được nhớ đến với niềm đau thương, và một vài sự kiện vẫn khơi dậy những cuộc tranh luận ngay cả khi nhiều thế hệ đã trôi qua.

Nếu bạn từng thắc mắc đâu là những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, bài viết này sẽ điểm qua mười khoảnh khắc mang tính bước ngoặt và giải thích lý do tại sao chúng vẫn còn ý nghĩa trong thời đại ngày nay.

Từ nền độc lập và chiến tranh cho đến những thảm kịch và thành tựu công nghệ, đây chính là những cột mốc đã định hình nên câu chuyện về nước Mỹ.

Tại sao 10 Cột mốc này lại Quan trọng đối với Lịch sử Hoa Kỳ?

Những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần là các mốc thời gian. Chúng đại diện cho những khoảnh khắc mà:

•   đất nước được thành lập hoặc được định hình lại

•   bản sắc dân tộc có sự thay đổi

•   các cuộc chiến tranh lớn làm thay đổi vai trò của nước Mỹ trên trường quốc tế

•   ký ức cộng đồng và văn hóa có sự chuyển biến sâu sắc

•   các thế hệ tương lai tiếp nhận những quyền tự do, nỗi sợ hãi và trách nhiệm mới

Danh sách này tập trung vào những cột mốc có tác động lâu dài đến Hoa Kỳ trên các phương diện chính trị, văn hóa, quân sự và xã hội.

–1.) Ngày 4 tháng 7 năm 1776 — Tuyên ngôn Độc lập

Tầm quan trọng: Ngày 4 tháng 7 năm 1776 là cột mốc mang tính biểu tượng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Ngày này đánh dấu việc thông qua Tuyên ngôn Độc lập, khi mười ba thuộc địa chính thức tuyên bố tách khỏi Vương quốc Anh.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 4 tháng 7 năm 1776?

Quốc hội Lục địa đã thông qua nội dung cuối cùng của bản Tuyên ngôn, trong đó nêu rõ lý do các thuộc địa tách khỏi sự cai trị của Anh, đồng thời khẳng định tư tưởng rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng và sở hữu những quyền bất khả xâm phạm.

Tại sao ngày 4 tháng 7 vẫn quan trọng cho đến ngày nay?

•   Ngày này đánh dấu sự ra đời của Hoa Kỳ với tư cách là một quốc gia.

•   Ngày này xác lập các lý tưởng về tự do, quyền tự trị và các quyền tự nhiên.

•   Ngày này trở thành nền tảng cho các phong trào đấu tranh mở rộng quyền tự do trong tương lai.

==2.) Ngày 12 tháng 4 năm 1861 — Nội chiến Hoa Kỳ bùng nổ (Pháo đài Sumter)

Tầm quan trọng: Cuộc tấn công vào Pháo đài Sumter ở Nam Carolina đã đánh dấu sự khởi đầu của cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, cuộc xung đột đẫm máu nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 12 tháng 4 năm 1861?

Các lực lượng thuộc Liên minh miền Nam (Confederacy) đã nổ súng vào Pháo đài Sumter, một pháo đài do phe Liên bang miền Bắc (Union) kiểm soát tại cảng Charleston. Cuộc pháo kích này đã châm ngòi cho một cuộc chiến tranh toàn diện giữa phe Liên bang và phe Liên minh miền Nam.

Tại sao ngày này đã thay đổi Hoa Kỳ?

•   Ngày này mở màn cho cuộc chiến quyết định sự tồn vong của phe Liên bang miền Bắc

•   Ngày này làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng quốc gia xoay quanh vấn đề nô lệ.

•   Ngày này tạo tiền đề cho công cuộc giải phóng nô lệ và những thay đổi mang tính hiến pháp.

Cuộc Nội chiến đã định hình lại quyền lực liên bang, quy chế công dân và tương lai của đất nước.

==3) Ngày 1 tháng 1 năm 1863 — Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ có hiệu lực

Tầm quan trọng: Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt lớn, không chỉ đối với cuộc Nội chiến mà còn đối với định hướng đạo đức của Hoa Kỳ.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 1 tháng 1 năm 1863?

Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ của Tổng thống Abraham Lincoln chính thức có hiệu lực, tuyênbố trả tự do cho những người bị bắt làm nô lệ tại các vùng lãnh thổ do Liên minh miền Nam (Confederacy) kiểm soát.

Tại sao sự kiện này vẫn còn quan trọng?

•   Biến cuộc Nội chiến thành cuộc đấu tranh vì cả sự thống nhất quốc gia lẫn quyền tự do.

•   Làm giảm sự ủng hộ của châu Âu dành cho Liên minh miền Nam.

•   Mở đường cho Tu chính án thứ 13, văn bản bãi bỏ chế độ nô lệ.

Mặc dù không ngay lập tức giải phóng tất cả những người đang bị bắt làm nô lệ,

nhưng sự kiện đã thay đổi ý nghĩa và mục đích của cuộc chiến.

==4) Ngày 9 tháng 4 năm 1865 — Quân Liên minh miền Nam đầu hàng tại Appomattox

Tầm quan trọng: Việc Tướng Robert E. Lee đầu hàng Tướng Ulysses S. Grant tại Tòa án Appomattox (Appomattox Court House) đã thực sự chấm dứt cuộc Nội chiến.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 9 tháng 4 năm 1865?

Tướng Lee đã cho đầu hàng Binh đoàn Bắc Virginia, đánh dấu sự sụp đổ trong khả năng kháng cự quân sự của Liên minh miền Nam.

Tại sao đây là một trong những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ?

•   Sự kiện này đã bảo toàn được Liên bang.

•    Đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ Tái thiết.

•   Mở ra một chương mới trong cuộc đấu tranh về vấn đề chủng tộc, quyền con người và sự hàn gắn dân tộc.

Ngày này vẫn đóng vai trò then chốt để hiểu rõ về cái giá phải trả cũng như di sản của cuộc Nội chiến.

==5) Ngày 15 tháng 4 năm 1865 — TT Abraham Lincolntạ thế

Tầm quan trọng: Tổng thống Abraham Lincoln qua đời vào sáng hôm sau khi bị John Wilkes Booth bắn, chỉ vài ngày sau chiến thắng của phe Liên bang (Union).

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 15 tháng 4 năm 1865?

Lincoln qua đời sau khi bị ám sát tại Nhà hát Ford ở Washington, D.C. Phó Tổng thống Andrew Johnson đã tuyên thệ nhậm chức Tổng thống.

Tại sao cái chết của Lincoln lại thay đổi lịch sử?

•   Đất nước mất đi một nhà lãnh đạo vào thời điểm then chốt của quá trình tái thống nhất.

•   Công cuộc Tái thiết (Reconstruction) diễn ra mà thiếu vắng sự lãnh đạo của Lincoln.

•   Lincoln trở thành biểu tượng trường tồn của sự đoàn kết, tinh thần hy sinh và lòng dũng cảm về mặt đạo đức.

Đối với nhiều nhà sử học, đây là một trong những ngày bi thương và có ảnh hưởng lớn nhất ttrong lịch sử nước Mỹ. Nếu bạn đang tìm kiếm một cuốn sách cực kỳ rất đáng đọc về cái chết của Abraham Lincoln, hãy thử đọc Killing Lincoln. Bạn sẽ khó lòng rời mắt khỏi cuốn sách này.

==6) Ngày 7 tháng 12 năm 1941 — Cuộc tấn công Trân Châu Cảng

Tầm quan trọng: Cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng đã đẩy Hoa Kỳ vào cuộc

 Chiến tranh Thế Giới thứ Hai.

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 7 tháng 12 năm 1941?

Nhật Bản đã thực hiện một cuộc tấn công bất ngờ vào căn cứ hải quân Hoa Kỳ tại Trân Châu 

Cảng (Hawaii), khiến hơn 2.000 người Mỹ thiệt mạng, đồng thời làm hư hại hoặc phá hủy

nhiều tàu chiến và máy bay.

Tại sao Trân Châu Cảng vẫn là một cột mốc quan trọng đối với Hoa Kỳ?

•   Sự kiện này chấm dứt giai đoạn Hoa Kỳ đứng ngoài cuộc Đệ Nhị Thế Chiến.

•   Dẫn đến việc chính thức tuyên chiến.

•    Đánh dấu sự khởi đầu cho quá trình vươn lên của Hoa Kỳ thành một siêu cường toàn cầu.

Ngày 7 tháng 12 được ghi nhớ là “một ngày mang nỗi nhục nhã ê chề” (theo cách gọi của Tổng thống Roosevelt), và đây vẫn là một trong những ngày được biết đến nhiều nhất trong lịch sử quân sự Hoa Kỳ.

==7) Ngày 6 tháng 6 năm 1944 — Ngày D-Day (Cuộc đổ bộ lên Normandy)

Tầm quan trọng: D-Day là một trong những chiến dịch quân sự quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ và thế giới.

Điều gì đã xảy ra vào ngày 6 tháng 6 năm 1944?

Lực lượng Đồng minh, bao gồm hàng nghìn đơn vị quân đội Mỹ, đã đổ bộ lên các bãi biển tại Normandy (thuộc nước Pháp đang bị Đức Quốc xã chiếm đóng) trong cuộc đổ bộ từ biển vào đất liền lớn nhất lịch sử.

Tầm quan trọng của D-Day đối với lịch sử Hoa Kỳ

•   Sự kiện này mở ra một mặt trận lớn ở phía Tây để chống lại Đức Quốc xã.

•    Đẩy nhanh quá trình giải phóng châu Âu.

•   Trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm, sự hy sinh và tinh thần hợp tác của phe Đồng minh.

D-Day là một trong những cột mốc quan trọng nhất trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ.

==8) Ngày 20 tháng 7 năm 1969 — Sự kiện tàu Apollo 11 đổ bộ lên Mặt Trăng

Ý nghĩa: Việc đổ bộ lên Mặt Trăng là minh chứng cho thành tựu công nghệ của Hoa Kỳ, cuộc cạnh tranh trong Chiến tranh Lạnh, và là một bước tiến khổng lồ trong lịch sử nhân loại.

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 20 tháng 7 năm 1969?

Các phi hành gia của tàu Apollo 11 là Neil Armstrong và Buzz Aldrin đã đổ bộ xuống Mặt Trăng, và Armstrong trở thành người đầu tiên đặt chân lên bề mặt của nó.

Tại sao ngày này lại quan trọng về mặt lịch sử?

•   Sự kiện này thể hiện sự đổi mới khoa học và tham vọng quốc gia của Hoa Kỳ.

•   Tượng trưng cho sự cạnh tranh và vị thế có uy tín trong kỷ nguyên Chiến tranh Lạnh.

•   Truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và thám hiểm.

Ngày 20 tháng 7 là một trong những ngày đáng nhớ nhất và vinh quang trong lịch sử chinh phục không gian của Hoa Kỳ.

Giờ thì có một câu hỏi dành cho bạn — Liệu việc đổ bộ lên Mặt Trăng là thật hay giả? 

Có những lập luận cực kỳ thuyết phục cho rằng sự kiện này có thể đã được dàn dựng suốt bấy 

lâu nay. Bản thân tôi vẫn tin vào “Giấc mơ Mỹ” và tinh thần chiến thắng của đất nước, 

nên tôi chọn tin rằng sự kiện đó thực sự đã diễn ra. Đó là lòng yêu nước trong tôi lên tiếng. 

Tuy nhiên, cũng có những bằng chứng rất mạnh mẽ cho thấy điều ngược lại.

==9) Ngày 22 tháng 11 năm 1963 — Vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy

Tầm quan trọng: Vụ ám sát Tổng thống Kennedy đã gây ra cú sốc lớn cho cả quốc gia và trở thành bước ngoặt trong văn hóa chính trị Mỹ.

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 22 tháng 11 năm 1963?

Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát tại Dallas, Texas, khi đang ngồi trong đoàn xe diễu hành.

 Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson đã tuyên thệ nhậm chức ngay trong ngày hôm đó.

Lý do ngày 22 tháng 11 vẫn là một cột mốc quan trọng trong lịch sử nước Mỹ


• Sự kiện này đã gây chấn động cả nước Mỹ và thế giới.
• Làm gia tăng sự ngờ vực trong công chúng cũng như những đồn đoán về các thuyết âm mưu.
• 
Đã thay đổi diện mạo chính trị và bầu không khí văn hóa của thập niên 1960.


Đối với nhiều người Mỹ, đi
ều nây đã trở thành khoảnh khắc đáng nhớ gắn liền với câu hỏi: 

“Bạn đang ở đâu vào lúc đó?“

==10) Ngày 11 tháng 9 năm 2001 — Các cuộc tấn công khủng bố 11/9

Tầm quan trọng: Ngày 11 tháng 9 năm 2001 là một trong những cột mốc có ảnh hưởng lớn

 nhất trong lịch sử hiện đại của Hoa Kỳ.

Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 11 tháng 9 năm 2001?

Những kẻ khủng bố đã cố gắng cướp bốn chiếc máy bay thương mại  và buộc hai chiếc đâm vào tòa tháp Trung tâm Thương mại Thế giới ở Thành phố New York, một chiếc đâm vào Lầu Năm Góc, và chiếc còn lại rơi xuống Pennsylvania sau khi các hành khách chống trả.

Tại sao sự kiện 11/9 đã thay đổi Hoa Kỳ

•   Sự kiện này làm thay đổi chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.

•   Dẫn đến các cuộc chiến tranh tại Afghanistan và Iraq.

•   Làm thay đổi hoạt động đi lại bằng đường hàng không, công tác giám sát an ninh và đời sống xã hội.

•   Trở thành ký ức mang tính Khoảnh khắc quyết định, định hình đối với cả một thế hệ.

Ngày 11 tháng 9 vẫn là một trong những ngày được tìm kiếm và ghi nhớ nhiều nhất trong

 lịch sử đương đại của Hoa Kỳ.

==================================

B/— Những  mốc thời gian đáng chú ý khác trong lịch sử Hoa Kỳ

Tùy thuộc vào tiêu chí đánh giá, những mốc thời gian sau đây cũng hoàn toàn có thể nằm

 trong danh sách  sự kiện quan trọng nhất:

•   Ngày 17 tháng 9 năm 1787 — Ký kết Hiến pháp Hoa Kỳ

•   Ngày 15 tháng 12 năm 1791 — Phê chuẩn Tuyên ngôn Nhân quyền (Bill of Rights)

•   Giai đoạn 1803–1804 — Thời kỳ mở rộng lãnh thổ thông qua Thương vụ Louisiana

•   Ngày 01 tháng 1 năm 1863 — Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ (đã được đưa vào danh sách chính)

•   Ngày 18 tháng 8 năm 1920 — Phê chuẩn Tu chính án thứ 19 (quyền bầu cử của phụ nữ)

•   Ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945 — Các vụ ném bom nguyên tử (bước ngoặt lớn trong thời chiến của Hoa Kỳ)

•   Ngày 28 tháng 8 năm 1963 — Cuộc Tuần hành vì Việc làm và Tự do tại Washington

•   Ngày 2 tháng 7 năm 1964 — Ký kết Đạo luật Quyền Dân sự

Đây là một lý do khiến lịch sử Hoa Kỳ luôn đầy sức hút: có rất nhiều mốc thời gian mang ý nghĩa quan trọng lâu dài.

Cách nhìn nhận về những mốc thời gian “quan trọng nhất” trong lịch sử Hoa Kỳ

Không có một danh sách hoàn hảo duy nhất nào cả. Một số người ưu tiên các sự kiện như:

•   Các văn bản nền tảng quốc gia

•   Các cuộc chiến tranh và trận đánh

•   Các cột mốc về quyền dân sự

•   Các vụ ám sát Tổng thống

•   Các thành tựu khoa học

•   Những khoảnh khắc bi kịch quốc gia

Một cách tiếp cận thuyết phục hơn là:

“Những mốc thời gian quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ là những ngày mà bản sắc định hướng hoặc vận mệnh của nước Mỹ đã thay đổi theo hướng lâu dài.”

Điều này bao gồm cả những thắng lợi, bước đột phá, thất bại và tổn thất.

Lời kết: Tại sao những mốc thời gian này trong lịch sử Hoa Kỳ vẫn quan trọng?

Việc tìm hiểu các mốc thời gian quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần là ghi nhớ các mốc sự kiện. Điều này giúp chúng ta hiểu rõ:

•   quốc gia này đã được xây dựng như thế nào

•   đã trải qua những thử thách gì

•   những lý tưởng mà họ đề cao

•   những thành tựu đã đạt được

•   những điểm còn hạn chế

•   và hình mẫu quốc gia mà người dân vẫn đang nỗ lực hướng tới

Nếu bạn đang tìm hiểu lịch sử Hoa Kỳ qua lăng kính “nhìn lại sự kiện trong ngày“, 

thì  Những mốc thời gian này đóng vai trò là những điểm tựa quan trọng —

 và mỗi mốc thời gian đều mở ra cánh cửa dẫn đến những câu chuyện sâu sắc hơn.

&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&

nguồn:

Top 10 Most Important Dates in U.S. History (And Why They Still Matter) – Chronicles of History

Thái Lan sưu tầm và dịch 

==

==

                         Thơ Trần Quốc Bảo

Bỏ Quê hương đến xứ này

Chúng tôi được sống những ngày tự do

Hôm nay là: JULY 4th

Nguyện cầu Thượng Đế ban cho Hoa Kỳ

.

Phú cường một cõi biên thùy

Tự Do đuốc sáng, phát huy toàn cầu!

Văn minh Mỹ Quốc hàng đầu

Uy quyền vũ lực, không đâu sánh bì!

.

Chúng tôi, vận Nước suy vi

Giang sơn bị Cộng trị vì bấy nay!

Như đàn Chim Việt lạc bày,

Tới đây, xin nhận nơi này Quê Hương!

.

Tuy rằng gốc gác tha phương,

Nhưng trong một Nước, yêu thương nhau cùng!

Mừng “Ngày Độc Lập” vui chung!

Tự Do ngọn đuốc sáng trưng toàn cầu !!!

         Trần Quốc Bảo

                Richmond, Virginia

           Địa chỉ điện thư của tác giả:

       quocbao_30@yahoo.com

==

Thiên Anh Hùng Ca Ở Hai Nửa Bán Cầu!
(Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Dịch Giả Thái Nữ Lan và Văn Thi Sĩ Phương Hoa đã chuyển đến bài viết đặc sắc của Phương Hoa viết nhân Ngày Lễ Độc Lập Independence Day của Hoa Kỳ 04/07/2026.)
*

Washington và Quang Trung Nguyễn Huệ! Chưa hề gặp mặt!
Nhưng luôn “gặp nhau” trong tâm tưởng, gan mật của loài người!
Ở Bắc Bán Cầu, Hoa Thịnh Đốn dẫn quân vượt sông Delaware nắm ngay cơ hội “Vàng Mười”.

*

Tại Nam Bán Cầu, Quang Trung dẫn quân qua sông Đáy vào thời điểm “chỉ có một”
*
Thịnh Đốn! Hành toàn đà quá tốt!
Quang Trung! Quyết đoán đã thành công!
Những gì cùng cực thì “hay giống nhau”! Dù xa tắp biển, núi, sông!
Hai trận đại thắng đã “tình cờ” ghi tên hai con sông huyền thoại!
*
Cảm ơn “Siêu Bút Ký” của “Nữ Hoàng Bút Ký” Phương Hoa chuyển lại!
Tưởng niệm những con người tài năng, đức độ, công lao vĩ đại muôn đời!
Tấm gương! Bài học! Tuyệt vời!

*
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 04/07/2026
Kỷ Niệm Lễ Independence Day của Hoa Kỳ

==

==




Chùm Thơ TRẦN VẤN LỆ: Bài Thơ Mới Nhất: Đà Lạt Đây Thành Phố Núi – APRÈS LA PLUIE IL FAIT LE BEAU TEMPS (*) – Trôi Theo Dòng Đời – Cuối Tuần Tặng VTLV + Mỗi Giọt Lệ Là Một Giọt Quê Hương + Ai Có Mười Năm Không Nước Mắt, Ai Lòng Cô Quạnh Chẳng Như Sương.

ĐÀ LẠT ĐÂY THÀNH PHỐ NÚI

Bạn đã lên đây chưa?

Đà Lạt thành phố núi!

Bạn cứ đi, đừng hỏi

Thành phố đó chỗ nào…

.

Cứ nhắm hướng trên cao

Trên Trường Sơn bạn nhé!

Mây đang bay nhè nhẹ

Sương khói mờ lũng sâu…

.

Khi nghe lạnh trên đầu,

Bạn che giùm mái tóc.

Khi nghe lạnh trên ngực,

Cài nút cái áo laine…

.

Bạn à bạn đừng quên

Mình lên cao thì lạnh.

Nhưng Đà Lạt không tránh

Cái hướng nhìn bạn nha…

.

Đường đi nào cũng xa

Có đi thì có tới!

Đà Lạt luôn luôn đợi

Những ai yêu mù sương…

.

Đà Lạt luôn luôn thương

Ai mệt ngồi tựa núi,

Cầm nhánh thông lên thổi

Phấn thông bay ngạt ngào…

*

Ông Yersin chiêm bao

Thấy Đà Lạt đâu đó.

Công việc làm, ông bỏ

Đi tìm Đà Lạt thôi!

.

Và Ông đã đến nơi:

Đây, Trường Sơn mây trắng,

Đây, ngàn thông như thảm,

Dệt từ lụa từ tơ…

.

Đà Lạt đúng như mơ.

Ông Yersin ở lại.

Ông ở lại mãi mãi

Chứng tích:  Mộ Yersin!

.

Bạn cứ chậm đừng nhanh

Hãy tự tin mình tới!

Chí mình cao như núi,

Hồn mình nhẹ như sương…

Trần Vấn Lệ

==

.

Ba, bốn ngày… không nắng

bây giờ thấy nắng lên!

Ôi mặt trời làm duyên

cái mặt hồng thương quá…

.

Nắng đùa cùng hoa lá

tiếng chim hót đệm đàn

ai kìa mới đi ngang

tiếng bước chân nhỏ nhẹ…

.

Tôi săm soi cây khế

nâng từng chùm hoa xinh

cái mặt ai thật tình

hôn hoài hôn không hết…

.

Nắng lên dễ thương thiệt

ai đó nói bất ngờ

trời không phải sau mưa

mà đang trong nắng nguội…

.

Nắng đừng hoài khỏi tưới

Ngoại ơi về hái cau

Ngoại đi con theo sau

những ngày xưa thân ái…

*

Những ngày xưa trở lại

thái hòa Đất Nước tôi…

Nhưng mà tôi mồ côi

Mẹ Cha đều chín suối…

.

Chiều nay rồi sẽ tối…

rồi sẽ nửa đêm khuya

thương những người trở về

mắt mưa rơi từng giọt!

.

Má ơi trái khế ngọt

thương Má nó chín hườm

con thì có ai thương

mồ côi cha với mẹ!

.

Bước ai đi rất khẽ

nghe mà lòng nao nao

sắp Tết hai cây đào

mấy tuổi rồi yêu quý?

.

Trần Vấn Lệ

(*) Sau mưa trời đẹp

APRÈS LA PLUIE

IL FAIT LE BEAU TEMPS (*)

.

Ba, bốn ngày… không nắng

bây giờ thấy nắng lên!

Ôi mặt trời làm duyên

cái mặt hồng thương quá…

.

Nắng đùa cùng hoa lá

tiếng chim hót đệm đàn

ai kìa mới đi ngang

tiếng bước chân nhỏ nhẹ…

.

Tôi săm soi cây khế

nâng từng chùm hoa xinh

cái mặt ai thật tình

hôn hoài hôn không hết…

.

Nắng lên dễ thương thiệt

ai đó nói bất ngờ

trời không phải sau mưa

mà đang trong nắng nguội…

.

Nắng đừng hoài khỏi tưới

Ngoại ơi về hái cau

Ngoại đi con theo sau

những ngày xưa thân ái…

*

Những ngày xưa trở lại

thái hòa Đất Nước tôi…

Nhưng mà tôi mồ côi

Mẹ Cha đều chín suối…

.

Chiều nay rồi sẽ tối…

rồi sẽ nửa đêm khuya

thương những người trở về

mắt mưa rơi từng giọt!

.

Má ơi trái khế ngọt

thương Má nó chín hườm

con thì có ai thương

mồ côi cha với mẹ!

.

Bước ai đi rất khẽ

nghe mà lòng nao nao

sắp Tết hai cây đào

mấy tuổi rồi yêu quý?

.

Trần Vấn Lệ

(*) Sau mưa trời đẹp

==

==

TRÔI THEO DÒNG ĐỜI – TRẦN VẤN LỆ

.

Nắng đến nỗi chim không về phố nữa!

(Chim chỉ về khi chiều xuống, hoàng hôn)

Nhiều công nhân không làm việc ngoài đường

(Như thợ điện, những người phu lục lộ…)

.

Xe rác vẫn chạy vì chỉ một người tài xế,

Cabine xe thì có máy điều hoà…

Tôi nghĩ đến những  con chim bay kiếm ăn xa

Tôi tin chim luôn luôn có mỗi ngày no đủ

.

Hãy nhìn kìa:  ban đêm xa lộ

Đèn sáng trưng cho công nhân sửa đường!

Hãy nhìn kìa hành lang nhà thương

Những y tá vẫn bình thường thay phiên ca trực!

.

Năm bốn mùa có một mùa nóng bức

Có một mùa lạnh lẻo, tự nhiên

Nhưng bạn à, bạn thấy những nhân viên

của Bưu Điện vẫn dầm mưa dãi nắng!

.

Những Công An, những Cảnh Sát thầm lặng

Họ chỉ cười chào trả tiếng Hello

Hải Lục Không Quân ờ nhỉ họ đi mô?

Không thấy cả ở phi trường hay bến cảng!

.

Quân đội Mỹ là chim?  Chim bay đâu từ sáng?

Chiều có về, đêm có ngủ hay không?

Nhiều khi tôi lòng có hỏi lòng:

“Mình hạnh phúc hay mình không hạnh phúc?”

.

Thành phố Mỹ song song hàng dọc

Thành Phố Mỹ song song hàng ngang

Tiếng chuông Nhà Chùa, Nhà Thờ vang vang

Từng bữa lễ hay từng ngày nhất định…

.

Hình như không ai có gì toan tính

ngay với tôi – chỉ nghĩ việc đi chơi

như bầy chim chúng có bầu trời

như hàng cây có màu xanh tươi Xuân, Hạ

.

Còn… Thu, Đông dĩ nhiên vàng lá

Lá vàng bay… ôi chao buồn mênh mông!

Tôi nhớ bà Quỳnh Dao, bà đã thác, cuối cùng

Bà đang ở một nơi nào trên trái đất?

.

Tôi không đếm, không đong cái còn cái mất

Tôi đã là Từ Thức lạc Bồng Lai!

Trần Vấn Lệ

NHƯ LÀ

TRUYỆN LIÊU TRAI

Cuối tuần!  Lại cuối tuần

nhanh như là gió thổi

mà kìa, lúa trên đồng nội

chưa thấy trổ đòng đòng…

vậy mà ai theo chồng

hai Thế Kỷ rồi đó!

.

Ô!  Tôi một đứa nhỏ

cứ nhớ thời gian xưa…

cuối tuần thường có mưa

Ông Trời chơi thật ngẳng:

học trò thì ghét nắng

ngày đi học không mưa…

cây thước Thầy cứ khua

làm học trò cứ sợ!

làm học trò cứ nhớ

câu “tục ngữ an nam”:

-Một cái doạ bằng năm cái đánh!”

.

Cuối tuần nào cũng lạnh

mưa hoài mưa mưa mưa!

.

Mưa, nhớ Lưu Trọng Lư

có bài thơ bất tử

có những câu bắt người ta tư lự

chẳng hạn như câu này:

“Mưa chi mưa mãi

lòng nhớ thương hoài…

Mưa mãi mưa hoài

lòng nhớ thương ai!

Trăng lạnh về non không trở lại!”

*

Tôi nhớ em:  Cô gái.

Tôi nhớ Ngoại: vườn cau.

Mưa chầm chậm, mưa không mau.

Nước chảy qua cầu, hai Thế Kỷ, nước trôi ra biển!

Em ra đó rồi biến…

          … như là chuyện Liêu Trai!

Trần Vấn Lệ

==

 AI CÓ MƯỜI NĂM KHÔNG NƯỚC MẮT

AI LÒNG CÔ QUẠNH CHẲNG NHƯ SƯƠNG

Xưa, nói mười năm là thở dài

Nay, mười năm… một thoáng con nai

nó ra bờ suối nghiêng đầu xuống

uống nước và rồi mọc cánh bay!

.

Xưa, mười năm, đúng mười niên kỷ

Nay, hẹn gì rồi cũng đã quên

Khi ngó lịch thì trang lịch mới

Khi tìm hình bóng mịt mờ im!

.

Mười năm cứ ngỡ thanh bình đẹp

Mà đó mà đây luống ngỡ ngàng

Rồi chuyện mười năm vào cổ tích

Như người con gái đã sang ngang!

.

Sài Gòn không chỉ mười năm nhớ

Mà nhớ muôn năm:  nó mất rồi

Bến Nghé chia hai dòng nước đục

Hình như vì lệ của ai rơi?

.

Mười năm chỉ ném vài viên sỏi

Mà vỡ tan tành muôn trái tim!

Có lẽ con nai về Darlak

Để Bình Dương lẻ bóng trăng lên…

*

Mười năm Cải Tạo rồi lưu lạc

Tôi vẫn là con của Mẹ Cha,

Mà giọt mồ hôi không thấy mặn

Mà chua lè vì bởi quê xa?

.

Hăm bảy năm sau về Cố Lý,

Cháu dẫn đi thăm đất mả mồ,

Cháu dẫn đi thăm từng đám ruộng

Đi qua cầu khỉ vẫn trơ vơ…

.

Cái cầu khỉ đó qua con suối.

Sông ra biển rồi, mưa theo sông

Tôi về gặp lúc trời khô hạn,

Nhang cắm bàn thờ hoa trổ bông!

.

Mười năm tôi hiểu là đau đớn

Chợt ngó ra vườn thấy bướm bay…

Tôi thất tình như con bướm đó?

Tôi có tình mà không ai hay?

.

Nhớ Kiều Thệ Thủy chàng thi sĩ

có hai câu thơ buồn thiết tha:

“Tôi thất tình đi hôn lá hoa

Bước lang thang giữa xứ sương nhòa…”

.

Mà sương nhòa thiệt, sương nhòa thiệt!

Ai hẹn mười năm chắc cũng buồn?

Ai có mười năm không nước mắt?

Ai lòng cô quạnh chẳng như sương?

.

Trần Vấn Lệ

=

=

MỖI GIỌT LỆ

LÀ MỘT GIỌT QUÊ HƯƠNG

Ở Mỹ ăn Mì Quảng / vui biết bao là vui!  Lề đường ta cứ ngồi không bị Cảnh Sát đuổi!

.

Mì Quảng:  Mì Quảng Ngãi!  Mì Quảng:  Mì Quảng Nam.  Muốn ăn sang vẫn sang, Có đây Mì Quảng Bình, có đây Mì Quảng Trị.  Nếu ăn mà chưa phỉ… thì còn Mì Quảng Ninh!

.

Ôi Mì Quảng linh tinh!  “Việt Nam Mình Như Vậy!”.  Nói mà nước mắt chảy xuống nụ cười Bolsa!

.

Đường Bolsa ai qua nhớ ghé ăn mì Quảng, dù chỉ ăn một thoáng mà sẽ nhớ một đời…

.

Đời của những ai rời Tổ Quốc đi ra biển!   Đời của ai đã liệng cái quốc tịch ở nhà…

.

Những người bỏ đi xa nhớ thiết tha Mì Quảng… nên từng, từng bữa sáng cứ thèm nhắc Quê Hương!

.

Tô Mì Quảng thấy thương!  Những sợi vàng sợi trắng cầm đũa lên thấy nặng cái mùi thuở đói nghèo…

.

Cầm đũa vớt cái… vèo, tô lại đầy nước mắt!  Hai cái chữ Tổ Quốc, thành… hai chữ Tô Mì!

.

Ai có nói cái gì, tôi hoan hô Mì Quảng!  Đó là món không chán truyền thống của dân tôi!

.

Ăn từ khi ra đời đến khi nhắc bữa giỗ… nhớ ông bà, tiên tổ của những người vượt biên!

.

Quảng Ninh hay Quảng Yên cũng có Mì Quảng ạ!  Bạn bè cười nghiêng ngả:  ngon nhất Mì Quảng Nam!

.

Nhớ quá năm bảy lăm thèm chén cơm, không có…rồi cũng qua đói khổ:  lề đường có gánh mì!

.

Tiền của con cháu đi gửi về nuôi Cha Mẹ nên chi mỗi giọt lệ là một giọt Quê Hương!

.

Việt Nam ôi Yêu Thương!

Việt Nam là vậy đó!

Trần Trung Tá 




CGV NGUYỄN PHƯƠNG THÚY – CÁCH SỬ DỤNG CÁC DẤU TRONG TIẾNG VIỆT.




KIỀU MỸ DUYÊN: ĐẠI LỄ KHAI SÁNG PHẬT GIÁO HÒA HẢO NĂM THỨ 87 TẠI MIỀN NAM CALIFORNIA. TRUNG TƯỚNG CSVSQ JOSEPH TRẦN VĂN TRUNG ĐÃ VỀ VỚI CHÚA. AN CƯ KIẾT HẠ VÀ ĐẠI HỘI THƯỜNG NIÊN.

==




VĂN DUY TÙNG – Ca Khúc MẸ SAO BIỂN