Lễ Giáng Sinh là ngày Christmas khá trọng đại. Trọng đại vì đây là ngày đã được mọi quốc gia, mọi tôn giáo coi như ngày vui chung của nhân loại, chứ không riêng gì đối với tín đồ Thiên Chúa Giáo. Do đó, có người đã nói, Christmas là một cơ hội hãn hữu để nhắc nhở mọi người có bổn phận đối với những người mà ta không quen biết cũng như đôi khi không ưa thích.Và đồng thời mọi người cũng hân hoan hát các điệu nhạc Giáng sinh như “We wish you a Merry Christmas”, như “Silent Night”, Đêm Thánh Vô Cùng mừng Chúa Hài Đồng ra đời.
…Ôi Chúa thiên đàng, cam nếm cơ hàn Nhấp chén phiền vương phong trần Than ôi Chúa thương người đến quên mình Bơ vơ chốn quên nhà lúc sinh thành Ai đang sống trong lạc thú Nhớ rằng Chúa đang đền bù…
Theo lời ghi lại thì khi Chúa Jesus cất tiếng khóc chào đời trong một cái máng cỏ ở hang Bethlelem có ba vị Vua phương Đông mang ba món quà đến để bày tỏ sự thành kính của họ. Trong khi đó, những người chăn cừu nghèo khó cũng lòng thành tặng Chúa Jesus hoa quả và những món đồ chơi do chính họ làm ra…
Lễ Giáng Sinh Christmas là lễ kỷ niệm ngày sinh của Chúa Jesus. Christmas gồm có chữ Christ và Mas. Christ là tước vị của Đức Giêsu, chữ Mas là Thánh lễ. Thượng Đế đã gửi con yêu quý của mình xuống thế để chuộc tội và mang lại tình thương, hòa bình, hạnh phúc cho nhân loại. Tuy là lễ riêng của tín đồ Cơ Đốc Giáo, nhưng hầu như mọi người đều trân trọng, chung vui. Với tất cả, Lễ Giáng Sinh là thời gian tuy ngắn ngủi nhưng tràn ngập thương yêu với những gói quà dưới cây Noel, sao sáng lung linh nơi cửa sổ, những cánh thiệp chúc tụng gửi đó đây, những bữa ăn đoàn tụ thân bằng quyến thuộc với tiếng cười nói hân hoan hạnh phúc, với tuyết trắng phủ kín sân nhà, đường phố…
Cho nên, tinh thần của Lễ Giáng Sinh là chia sẻ, bao dung, thương yêu và giảm thiểu giận hờn.
Tiểu thuyết gia Oren Arnold gợi ý về quà tặng Giáng Sinh như sau: “Với kẻ thù, cho sự Tha thứ; với đối thủ cho sự Chịu đựng; với bạn bè cho Trái Tim; với khách hàng cho Phục Vụ Chu Đáo; với các cháu bé Làm Gương Sáng để cháu noi theo và với chính mình, cho niềm Tự Trọng”.
Trong thông điệp gửi cho nhân dân Hoa Kỳ, vị Tổng Thống thứ 30 của quốc gia này là Calvin Coolidge (1872-1933), nhắn nhủ: “Christmas không phải là một thời gian hoặc một mùa nhưng là một tâm trạng. Để chào mừng hòa bình và thiện ý, để có đầy đủ tình yêu thương”.
Tiểu thuyết gia nước Anh là Charles Dickens ((1812–1870) cũng đồng ý với “ Tôi luôn nghĩ Christmas như là thời gian vui thú ; một thời gian thân tình, tha thứ, độ lượng, thoải mái; thời gian mà nam cũng như nữ dường như tự do rộng mở trái tim, do đó tôi xin Thượng Đế chúc lành cho Christmas”.
Tác giả Wilda English viết :”Thượng Đế ban cho ta ánh sáng của Christmas, đó là niềm tin; ấm áp của Chrismas, đó là tình yêu; rực rỡ của Christmas, đó là sự trong sáng; chính trực của Christmas, đó là công lý; lòng tin tưởng ở Christmas, đó là sự thật; mọi ý nghĩa của Christmas, đó là Chúa Giê Su”.
Kế cận những bên nhau hạnh phúc, Giáng Sinh còn quá nhiều người không mua, không nhận được quà tặng, không lo được bữa ăn ngon, những em bé bán diêm chết cóng trong đêm băng giá, những đứa con bị cha mẹ bỏ rơi, những người bệnh không được thuốc thang chăm sóc…
Nhưng có Mother Teresa, người được Chúa Jesus kêu gọi để phục vụ những kẻ bất hạnh từ Giáng Sinh năm 1948. Bà từng nói “Mỗi năm tôi khởi sự việc làm vào ngày Christmas”.
Vì, theo bà, “Là Lễ Giáng Sinh mỗi khi ta để Thượng Đế thương yêu người khác qua ta…và là Lễ Giáng Sinh mỗi khi ta mỉm cười với anh em của ta và cứu giúp họ”.
Đó là thánh ý Thiên Chúa.
Mà trong Lễ Giáng sinh, thường thường người ta cũng hay cầu nguyện
Cầu nguyện không phải chỉ là sự thờ phượng mà còn là một nguồn sinh lực dồi dào, mạnh mẽ mà con người có thể tạo ra. Ảnh hưởng của sự cầu nguyện lên tinh thần và thể chất có thể chứng minh được. Ảnh hưởng đó được đo lường bằng sự phục hồi thể xác, đưa tới một trí tuệ sáng suốt, một lương tri ổn định và sự thấu hiểu những mặt khàc nhau trong sự giao thiệp giữa mọi người.
Nếu ta thành thật tạo ra một thói quen cầu nguyện, cuộc sống của ta sẽ thay đổi rõ ràng. Lời cầu nguyện sẽ để lại trong hành động và thái độ của ta những dấu ấn khó xóa nhòa. Một tác phong bình thản, một nét mặt ung dung tự tại ở những ai đã có một nội tâm phong phú. Trong chiều xâu của lương tri là ngọn lửa của nhân ái. Và con người tự nhìn thấy mình. Họ nhìn ra tính ích kỷ, thái độ kiêu hãnh, tâm trạng sợ hãi, lòng tham lam, những sai lầm ngớ ngẩn của mình. Họ sẽ triển khai một nghĩa vụ đạo đức, một trí tuệ khiêm cung lâu dài.
Câu nói, “Hãy cầu xin và sẽ được đáp ứng” đã được chứng minh bằng kinh nghiệm của nhân loại.Thực ra, cầu nguyện không thể mang lại sự sống cho em bé đã chút hơi thở cuối cùng hoặc chấm dứt được cơn đau thể chất. Nhưng cầu nguyện, như hạt radium, là nguồn sinh lực tự tạo sáng chói không bao giờ hết. Khi cầu nguyện, ta đã kết nối bản thân với nguồn sức mạnh bất tận đang quay cuồng trong vũ trụ. Ta xin một phần năng lượng đó cho nhu cầu thiếu hụt của ta để tăng cường bổi bổ. Nhưng đừng cầu nguyện Thượng Đế để thỏa mãn lòng ham muốn nhất thời.
Ta có thể cầu nguyện bất cứ ở đâu, một mình hoặc với người khác. Hãy nghĩ tới Thượng Đế nhiều hơn là hơi thở khiến cho cầu nguyện trở thành một thói quen.Và đừng cầu nguyện vào buổi sáng rồi suốt ngày sống như một con người man rợ độc ác.
Hơn bao giờ hết, cầu nguyện bây giờ là một gắn bó cần thiết trong nếp sống của con người. Thiếu quan tâm tới ý nghĩa của tôn giáo đã đưa thế giới tới ngưỡng cửa của sự diệt vong. Nguồn sức mạnh xâu sắc, toàn hảo nhất của chúng ta đã bị lãng quên một cách thảm bại. Cầu nguyện phải được tích cực áp dụng trong nếp sống của chúng ta. Vì nếu sức mạnh của sự cầu nguyện được áp dụng trong đời sống thường nhật thì còn nhiều hy vọng rằng những lời cầu nguyện cho một thế giới tốt đẹp hơn sẽ được đáp ứng.
Lễ Tạ Ơn đã qua, mùa Giáng Sinh lại về. Nhiều nhà thờ được trang hoàng rực rỡ đón Giáng Sinh, nhà nhà chuẩn bị mua cây thông, có người lên rừng đốn cây thông đem về cho gia đình mình, cho bằng hữu của mình. Có một số gian hàng bán cây thông ngoài đường nhưng chúng tôi thích mua cây thông ở nhà thờ hơn vì mua cây thông ở nhà thờ ít nhất mình cũng giúp cho nhà thờ một chút gì đó. Ở Orange County, nhà thờ nào có linh mục Việt Nam, có giáo dân Việt Nam thì nhà thờ đó được trang hoàng rất đẹp, đèn rực rỡ khắp nơi ngoài nhà thờ, cây cỏ ở nhà thờ được chăm sóc một cách cẩn thận, nhất là tượng Đức Mẹ lộ thiên đầy hoa, hoa cúc, hoa lan, hoa vạn thọ, Đức Mẹ đứng giữa rừng hoa. Đức Mẹ đã đẹp, hoa làm cho Đức Mẹ đẹp hơn. Hằng ngày, nhiều tín đồ đến cầu nguyện Đức Mẹ ban phép lành, người nào (không phân biệt tôn giáo) có tâm sự đều đến cầu xin Đức Mẹ ban cho mình sự bình yên, không phải chỉ có người lớn tuổi cầu xin điều gì đó mà ngay cả những người trẻ tuổi cũng cầu xin.
Khi đồng hương đến những nơi linh thiêng cầu nguyện thì khuôn mặt rất thành khẩn, rất chân thành, chúng tôi đã gặp nhiều người già ngồi trên xe lăn, người tật nguyền chống gậy đến trước tượng Đức Mẹ cầu nguyện ở nhà thờ Saint Barbara, Santa Ana, nhà thờ Saint Polycap, nhà thờ Westminster, nhà thờ Anaheim, nhà thờ Saint of Alexandria Temecula, v.v. Khuôn mặt của những người có niềm tin tôn giáo lúc cầu nguyện rất hiền lành, thánh thiện, lúc đó hình như họ không ở trần gian, mà họ đến nơi nào đó, nơi đó là Thiên Đàng.
Chúng tôi còn nhớ năm đầu tiên tị nạn ở Hoa Kỳ dự thánh lễ Giáng Sinh đầu tiên ở một nhà có cổ kính ở thành phố Glendale, Los Angeles County. Tối hôm đó có vài người Việt Nam tham dự, vì ở trại tị nạn thì nóng, sang Hoa Kỳ đêm Giáng Sinh quá lạnh, áo lạnh không đủ ấm, chúng tôi vừa đứng trước tượng Đức Mẹ vừa run, nhà thờ tuy nhỏ mà số người tham dự thì đông, thấy người lạ đến nhà thờ, một bà Mỹ lớn tới nắm tay chúng tôi dẫn vào bên trong nhà thờ. Không khí đêm Giáng Sinh tưng bừng chưa bao giờ thấy, đương nhiên ở trong trại tị nạn làm sao có không khí vui tươi như thế này, ở trong trại tị nạn hồi hộp chờ từng ngày để được định cư.
Gần tới mùa Giáng Sinh nhà nào cũng đẹp, văn phòng, cơ sở thương mại cũng trang hoàng đẹp hơn ngày thường, cây thông, thiệp Giáng Sinh với ông già Noel để trên cây thông, những chiếc vớ dài thật đẹp để trên lò sưởi. Lúc nhỏ, chúng tôi thường nghe nói nếu mình mơ ước điều gì thì ông già Noel sẽ cho mình, ông già Noel sẽ đi từ ống khói xuống lò sưởi. Ông bà, cha mẹ thường nói những đứa trẻ phải ngoan ngoãn thì ông già Noel mới cho quà, trẻ con thì hay tin lời của ông bà cha mẹ mình nói, dù không ngoan ngoãn nhưng tới ngày gần lễ Giáng Sinh cũng phải ngoan để được quà của ông già Noel. Trên đời này có đứa trẻ nào học giỏi mà không nghịch ngợm đâu chứ? Nghe nhạc Giáng Sinh, mặc áo mới, có quà, trẻ con nào mà không thích mùa Giáng Sinh chứ? Các nhà thờ đẹp, trang hoàng cây thông rực rỡ, bóng đèn đủ màu, cũng nhờ bàn tay của Giáo dân, sân ở nhà thờ không có một lá cây cũng nhờ bàn tay của Giáo dân, của linh mục quan tâm đến nhà thờ của mình.
Trước lễ Giáng Sinh, tôi thường gọi thăm các linh mục mà chúng tôi quen. Linh mục Vũ Đảo, đã hưu trí, là học trò trường trung hoc Lý Thường Kiệt thập niên 50 lúc người Bắc mới vừa di cư vào Nam. Linh mục Vũ Đảo học rất giỏi, có khiếu văn nghệ, đóng kịch rất xuất sắc, sau này là nhà giáo, rồi là sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau 30/4/1975, ngài ở tù 3 năm. Ra tù, ngài vượt biên qua Thái Lan, định cư ở Chicago, Hoa Kỳ. Ngài đi học ở nhà dòng, được thụ phong linh mục ở miền Đông vào tháng 4/1988.
Cựu học sinh trung học Lý Thường Kiệt ở Quang Trung, quận Hóc Môn rất hãnh diện về ngài, và không biết đất lành ở trường sao đó mà trường có nhiều dì phước, linh mục và có một giám mục cũng là học trò của Lý Thường Kiệt. Cựu học sinh Lý Thường Kiệt ở California tổ chức chào đón ngài trước khi ngài về Phi Luật Tân làm việc trong các trại tị nạn ở Phi Luật Tân.
Đến Phi Luật Tân vào tháng 6/1988, linh mục Vũ Đảo giúp rất nhiều đồng hương tị nạn trong trại tị nạn. Phi Luật Tân gồm có 4000 đạo họp lại thành một quốc gia Phi Luật Tân, đạo Công Giáo và Tin Lành phát triển rất mạnh mẽ, các vị lãnh đạo tinh thần được tôn trọng, hằng năm linh mục Vũ Đảo về Hoa Kỳ một lần, ngài được bằng hữu đón tiếp một cách nồng nhiệt, chúng tôi thường gởi sách, báo, nhạc để ngài đem về Phi Luật Tân tặng cho đồng bào tị nạn, ngài cho biết trong trại tị nạn hằng năm vẫn tổ chức lễ Giáng Sinh một cách long trọng.
Linh mục Vũ Đảo là linh mục bề trên của dòng Ngôi Lời mới thành lập ở Mỹ chừng 50 năm. Ngày xưa ở Việt Nam không có dòng Ngôi Lời, khi biến cố lớn xảy ra ở Lousiana, tượng thánh Louis bị những người nổi loạn cột dây vào đầu và định giựt sập thì linh mục Stephen Schumacher vừa chịu chức chưa được một năm của tổng giáo phận St. Louis, đứng dưới tượng Thánh Louis cùng một số Giáo dân bảo vệ tượng. Nếu họ kéo dây thì tượng Thánh Louis sẽ ngã, linh mục trẻ và một số giáo dân này sẽ chết ngay tức khắc, nhưng nhờ sự khôn khéo của linh mục trẻ này và nhờ Chúa ban phước, linh mục cố kéo dài thời giờ đối thoại để cho cảnh sát đến. Hơn 1 tỷ người trên thế giới theo dõi cảnh đối thoại từng giây từng phút, nhiều người hội hộp và muốn đau tim, người nào đau tim sẵn có thể chết bất cứ lúc nào, thế rồi Cảnh Sát đến giải tán đám biểu tình.
Tôi gọi ngay linh mục Vũ Đảo, xin số điện thoại và email của vị linh mục trẻ đó, và cuối cùng tôi phỏng vấn được ngài, một linh mục trẻ gan dạ, không sợ chết đứng giữa bão táp phong ba, leo thang cứu tượng Thánh Louis thoát khỏi bị giựt sập.
Tôi cám ơn linh mục Vũ Đảo, tôi cám ơn những vị lãnh đạo tinh thần đã giúp chúng tôi về mặt truyền thông. Nếu không có linh mục Vũ Đảo thì tôi làm sao có được số điện thoại của vị linh mục anh hùng kia một cách kịp thời.
Làm phóng sự về sinh hoạt tôn giáo thì những nhà thờ là nơi nên tìm đến, những bài thánh ca đi vào hồn người, những đứa trẻ được bố mẹ bế vào nhà thờ trong những ngày lễ, nhất là đêm Giáng Sinh, đứa trẻ nào lớn lên cũng đam mê âm nhạc và có thể thành ca sĩ, vì âm nhạc đã vào máu rồi.
Hãy cầu nguyện, cầu nguyện thật nhiều, đời sống sẽ bình yên hơn, lòng sẽ thanh thản. Người nào có niềm tin ở tôn giáo thì đời sống sẽ vui hơn, lạc quan hơn, và sống yêu đời hơn, dù gặp trở ngại trong đời sống cũng sẽ vượt qua một cách dễ dàng.
MỜI QUÝ VỊ BẤM VÀO MŨI TÊN GÓC TRÁI KHUNG HÌNH DƯỚI ĐÂY (TRÊN HOẶC DƯỚI) ĐỂ LẬT TRANG
KON TUM – MÙA GIÁNG SINH CUỐI CÙNG
(Trích đoạn trong truyện dài Đức Tin)
…Tháng 8 năm 1974, đơn vị hắn nhận lệnh luân chuyển từ Bắc Bình Định lên trấn đóng vùng cao nguyên đất đỏ. Hắn náo nức trở lại nơi mà người bạn Biệt Động Quân đã vô tình cứu hắn thoát chết dạo trước, và thăm lại người em gái hậu phương thường mở cho hắn nghe bản nhạc “Em tên…em tên Mộng Thường…mẹ gọi em bé ngoan”.
Đến nơi, pháo đội trừ đóng quân ở căn cứ Trần Ngọc Lân, còn trung đội 2 của hắn, được chỉ huy bởi vị trung uý pháo đội phó, thì kéo hai khẩu đại bác 105 ly nhét vào hai lô-cốt, nòng súng ló ra ngoài hướng về phía bắc. Ông tập hợp trung đội để ban hành mệnh lệnh:
-Đây là phòng tuyến cuối cùng, chúng ta không còn bắn yểm trợ cho đơn vị nào nữa. Nhiệm vụ của chúng ta là trực xạ vào các chiến xa T54 nếu nó xuất hiện từ hướng Ngô Trang. Các anh em hãy hết sức chú ý để kịp thời vào vị trí tác xạ. Ai vi phạm, chiếu quân lịnh thi hành kỷ luật.
Nơi hắn đóng quân có tên là Eo-Gió, cách thị xã Kon-Tum khoảng 6 cây số về phía bắc, là một ngọn đồi thấp và trơ trọi, nằm án ngữ trên đường 14, con đường độc nhất nối liền với các tỉnh phía nam. Sau khi Đắc Tô-Tân Cảnh thất thủ, nơi đây trở thành vị trí chiến lược phòng thủ hàng đầu.
Từ ngọn đồi nhìn ra bốn phía là núi cao chớn chở và rừng xanh bát ngát. Buổi chiều sương lam âm u tỏa xuống những khí lạnh ghê người. Còn ban đêm, gió thổi qua hun hút, nghe như tiếng kêu gào của các cô hồn uổng tử đã chết dọc theo con đường di tản từ mùa hè đỏ lửa 1972.
Ngày tháng ở đây nhàn nhã hơn thời kỳ còn đóng quân ở Tam Quan-Bình Định, bọn hắn không phải phơi lưng dưới nắng làm đạn cả ngày hay thức giấc giữa đêm khuya để bắn vài quả đạn quấy rối vu vơ. Công việc thường ngày là canh gác và lau chùi súng đạn, những quả đạn Beehive chống biển người được đưa ra sắp sẵn vào hai bên ụ súng. Loại đạn này, theo vị chỉ huy cho biết, nó có giá một triệu hai trăm ngàn đồng một quả, trong khi lương binh nhì của hắn-đã trừ tiền ăn-chỉ hơn mười hai ngàn đồng mỗi tháng. Trong cái đầu non nớt của hắn, hắn nghĩ thầm -“ Giá mà người mỹ dùng số tiền khổng lồ này mua sữa và bánh mì phát cho dân hắn được no nê thì hạnh phúc biết bao!”.
Mỗi ngày sau khi xong phần việc của mình, hắn thường đi tha thẩn quanh doanh trại, tán dóc với các chiến hữu biệt động quân. Đời lính nơi miền biên cương vô cùng gian khổ, thiếu thốn đủ bề. Quanh năm chỉ thấy rừng già và súng đạn, chưa kể cái chết luôn luôn rình rập chung quanh. Mỗi tuần họ được một lần tiếp tế, khẩu phần là 7 ca gạo, một mớ cá khô, mắm muối bột ngọt và mấy bó rau xanh. Lãnh Lương ra không biết tiêu pha ở đâu cho hết, bèn châu đầu đánh bạc, thằng không may sạch túi thì đành đi lượm “dế mèn” quấn hút, thằng ăn được tiền cũng chả biết làm gì khác hơn là kiếm sòng khác nướng tiếp. Thỉnh thoảng cũng có phái đoàn các “em gái hậu phương” kèm theo vài ca sĩ tỉnh lẻ đến thăm và tặng quà. Lính lác thì được giao lưu ban ngày, còn khi đêm đến, mấy cô ca sĩ rút vào trong các căn hầm sĩ quan, ở đó vọng ra tiếng nhạc xập xình, lẫn với tiếng cười đùa vui vẻ. Có hôm đúng phiên gác, hắn tò mò lén nhìn qua lỗ châu mai. Trong căn phòng ấm cúng, nồng nàn mùi nước hoa và mùi thuốc lá thơm, hắn tê mê nhìn những thân hình gợi cảm của các cô gái đang tay trong tay, mặt nhìn mặt cùng các viên sĩ quan dập dìu khiêu vũ theo điệu nhạc quay cuồng. Lòng hắn bỗng bừng dậy một nỗi khát khao mà bấy lâu hắn kìm nén. Hắn thèm mùi da thịt đàn bà. Thì có sao đâu? Hắn mới hai mươi tuổi…và hắn khao khát được yêu, được ôm người hắn yêu trong vòng tay nóng bỏng và đặt vào đôi môi mọng ướt của nàng một nụ hôn nồng cháy…
Nhưng…cho đến bây giờ, hắn vẫn chưa có người yêu!
Một lần tình cờ gặp lại một người học trò cũ của Cha hắn lúc ông còn dạy tiểu học ở quê. Anh ta là trung uý đại đội trưởng một đại đội biệt động quân thuộc LĐ 23/BĐQ đi hành quân ngang qua. Anh mừng rỡ, kéo hắn vào lều, hỏi thăm về vị thầy cũ, mời hắn ăn một bữa cơm, rồi khi ra về còn cho hắn nửa cây thuốc Capstan. Cảm động hắn làm một bài thơ tặng lại anh. Bài thơ có tựa đề là Biên Giới Ca:
Núi cao chớn chở mồ uổng tử
Rừng xanh bát ngát hồn ma thiêng
Chiến địa máu trào như là suối
Biên giới hề, âm u dị thường!
Biên giới ngày nắng nung chảy mỡ
Biên giới đêm lạnh như cắt da
Xác chết rủ nhau ngồi ngay dậy
Đốt lửa rừng lên mà hát ca…
Ta mang thân trấn thủ lưu đồn
Ba năm biên giới nhận là con
Ba năm man dại theo rừng rú
Buổi chiều ngồi vuốt chòm râu non!
Bạn ta áo bạc màu sương gió
Đem tuổi xuân phơi giữa chiến trường
Từ buổi lên đường xa phố nọ…
Chưa từng san sẻ chuyện yêu đương!
Chiều nay sương xuống mờ quan ải
Nghe tiếng hồn hoang hú não nề
Vỗ tay ta hát hề, biên tái
Súng đạn người đi chẳng trở về!.
Anh ta đọc, khen “mày làm thơ được đó, nhưng buồn quá, đời mày chắc sẽ còn nhiều gian khổ”
Hắn yên lặng không nói gì.
Một tháng đôi ba lần hắn cũng chuồn về được thị xã Kon-Tum. Đến thăm thằng bạn “trung sĩ biệt động quân”, rồi kéo nhau lê la từ quán Cafe Giao, Da Vàng, đến quán Cây Ổi. Ở đó ”có vẻ” em Phương tóc dài đã có chút cảm tình với hắn. Hắn nghĩ “có vẻ”thôi, bởi vì tâm lý các cô gái thời bây giờ chỉ nhắm vào các chàng sĩ quan hào hoa đẹp trai phong độ, chứ còn hàng ngũ cái thứ lính “đơ dem cùi bắp” như hắn thì các cô chả thèm để ý tới bao giờ!.
Em Phương có mái tóc dài ôm kín cả bờ lưng thon thả, sau buổi học về, em thường thay mẹ ra ngồi ở quầy tính tiền. Những khi vắng khách, em lơ đễnh một tay chống cằm, tay kia hí hoáy vẽ trên tờ giấy, nghiêng cả mái tóc mây óng ả về phía hắn. Hắn đánh bạo, phết đại vài câu thơ vớ vẩn rồi trao cho nàng:
“Trời đang rét nhưng lòng anh ấm lạ
Khi ngồi đây trông mái tóc em dài
Vở học trò em đã chép tên ai
Cho anh gửi bài thơ tình của lính…”
Đọc xong, em quay lại nhoẻn môi cười với hắn. Thừa thắng xông lên, hắn kéo ghế qua gần quầy, rồi-vừa nhả khói thuốc vòng tròn, theo kiểu của nhân vật Trần Đại khi đến tán tỉnh em Tường Vi xinh đẹp của quán cafe Gió Nam trong phim Điệu Ru Nước Mắt-hắn vừa phun ra hàng tá thơ tình lãng mạn, từ thơ yêu nồng nàn của Xuân Diệu, Huy Cận cho đến thơ thất tình của Nguyễn Bính. Tuổi học trò nhiều mộng mơ thường thích văn thơ, cho nên em cười híp mắt, ngồi lim dim nghe hắn đọc thơ và bình thơ chứ còn để trở thành người yêu của hắn thì…chắc còn xa lắm!
Mùa giáng sinh năm đó, hắn chuồn về được thành phố sau khi lội bộ 6 cây số. Đến tìm thằng bạn “trung sĩ biệt động quân” thì mới hay nó vừa về phép hôm qua. Buồn tình, hắn một mình tha thẩn tới quán cafe Cây Ổi và gạ gẫm nàng đi lễ nhà thờ với hắn. Nàng đáp gọn lỏn:
-Em không có đạo!
Hắn lên giọng đóng vai cha cố:
-Chúa xót thương tất cả loài người, những người không có đạo Chúa lại thương hơn..
Nàng nghi ngờ nhìn hắn:
-Thôi đi! Đừng xạo…sao anh biết?
Hắn hùng hồn chứng minh:
-Anh là bằng chứng đây, vì lòng mong muốn được đến với Chúa trong đêm thánh vô cùng mà chỉ huy của anh đã cho phép anh đi, trong lúc cả đơn vị cắm trại. Nếu ngài không dùng quyền năng của ngài để làm động lòng vị chỉ huy của anh thì còn ai có thể làm được? (Hắn đã nói láo, thực ra hắn chui rào trốn đi chứ có chỉ huy nào cho phép lính tráng rời đơn vị ban đêm vào những lúc mà việt cộng rình rập tấn công)
Nàng có vẻ xuôi tai:
-Ơ…nhưng mà em không quen đi lễ, tới đó em chả biết làm gì cả?
-Chúa sẽ làm tất cả. Em chỉ việc đi cùng anh tới đó, đứng im chắp tay cầu nguyện…rồi Cha xứ sẽ làm lễ, ngài sẽ cho em được nếm bánh thánh, uống nước thánh…em sẽ được đầy ơn phước, sẽ có chồng giàu sang và sinh những đứa con bụ bẫm, có gương mặt xinh đẹp rạng ngời giống hệt khuôn mặt phúc hậu của Đức Mẹ Maria…
Nàng vẫn bướng bỉnh:
-Nếu em không đi thì sao?
Hắn dọa dẫm:
-Thì khi lìa đời, em sẽ xuống hỏa ngục, nơi đó có những con quỷ đuôi dài đầu sừng, nó sẽ tán tỉnh và hù dọa em, em sẽ chết khiếp…
Hắn còn tuôn ra hàng tràng dài những điều mà hắn học lóm đâu đó trong Kinh Thánh. Nàng vô phương chống đỡ trước những lời lém lỉnh của hắn nhưng vẫn không chịu đầu hàng:
-Nhưng…nhưng mà…má em sẽ la, nếu đi với anh… em hổng dám đâu!
Tới đây thì hắn đành phải bạt mạng nói càn:
-Không người mẹ tốt bụng nào lại la mắng con gái khi đi lễ nhà thờ vào đêm giáng sinh với một chàng trai tử tế…như anh.
Nàng liếc đôi mắt sắc như dao cạo quét khắp người hắn:
-Liệu có tin được mấy cái anh chàng lính tráng như anh không?
Thấy nàng có vẻ xiêu lòng, hắn gật đầu lia lịa:
-Tin được…tin được! Bên trong bộ đồ phong trần này là một linh hồn thánh thiện. Anh là một chàng trai tử tế hiền lành nhất mà em có thể tin tưởng. Thề có Chúa chứng giám, anh sẽ hộ tống em đến nơi an toàn và sẽ trả em về nhà đúng giờ sau khi tan lễ mà không làm em bị mất một sợi lông chân nào…
Nghe hắn quả quyết, nàng cũng động lòng, nên sau vài giây lưỡng lự nàng bèn gật đầu:
-Vậy…anh ra đứng ở cuối đường đợi em, em sẽ thay đồ rồi ra sau…nhớ là đưa em về ngay sau khi tan lễ đó…nghe chưa?
Hắn mừng rơn.
Thế là…lần đầu tiên trong đời, hắn được sánh bước bên một người con gái, dịu dàng trong chiếc áo dài trắng tinh khôi cùng đi lễ nhà thờ.
Con đường dẫn đến ngôi giáo đường chính của thành phố tràn ngập sương mù, đêm đó lại là một đêm có trăng . Ánh trăng mờ tỏa, quyện cùng lớp sương mù lãng đãng tạo thành một thứ ánh sáng huyền ảo mông lung, khiến hắn có cảm giác như là đang bơi trong không gian của một tầng trời xa thẳm nào đó, chứ không phải đang đi giữa một thành phố bị chiến tranh vây bủa tứ bề.
Thấy nàng có vẻ lạnh, hắn cởi chiếc áo Philaket của mình choàng lên vai nàng trong động thái của một bàn tay sẵn sàng chở che bảo vệ. Nàng cảm động, trìu mến đi sát vào hắn, hắn nghe được mùi hương tóc và mùi da thịt của nàng thoảng ra ngây ngất. Ôi chao….Hắn ước gì cho đường đi không tới và đêm cứ dài ra, để mãi mê, hắn sẽ cùng nàng trôi đi…trôi đi qua lối vào tình sử và cùng bay đến một thiên đường mộng ước xa xôi. Nơi chỉ có tình yêu và mật ngọt, nơi xa lìa trần thế đau thương!….
Nhưng con đường thực tế thì quá ngắn ngủi. Mười lăm phút sau-dù đã cố đi chậm hết sức-hắn và nàng cũng đã đứng trước cửa nhà thờ. Người đến dự lễ và người đi xem cũng rất đông. Hắn chật vật đưa nàng vào bên trong. Khi đã yên vị ở một chỗ mà hắn nghĩ là có thể nhìn bao quát cả khung cảnh của giáo đường, hắn ấn nàng ngồi xuống chiếc ghế trống duy nhất còn lại, hắn đứng sau lưng. Nàng trả lại chiếc áo khoác lính cho hắn vì lúc này hơi nóng của số đông người đã đẩy cái lạnh ra bên ngoài khung cửa.
Đang lúc hắn đang say sưa giảng bài về sự tích của đêm giáng sinh thì một bàn tay thô bạo kéo mạnh hắn về phía sau. Cùng với một tràng cười “đểu cáng” là một giọng nói quen quen:
-Thằng quỷ! Trốn ở đâu mà tụi tao tìm mãi mới ra mày…Đi!…đi nhậu với tụi tao!
Hắn ngó lên, thì ra là hai thằng “ôn dịch” cùng đơn vị. Hổng biết nó làm cách nào mà cũng trốn được về đây?
Hắn bèn xuống nước năn nỉ:
-Tao đi với em gái, tụi mày thông cảm, hẹn quán nào đi, chút xíu đưa em về xong tao đến.
Không đếm xỉa gì lời năn nỉ của hắn, hai thằng bạn thân kéo tuột hắn ra ngoài:
-Huynh đệ chi binh gì mà bỏ bạn bè đi chơi với em út? Để em đi lễ đó, nhậu với tụi tao xong quay lại đón em về…không nói on-đơ gì ráo…
Miệng nói tay kéo, hai thằng “quỷ sứ” lôi thẳng ra quán. Vốn tính nể trọng bạn bè, nhất là đối với bạn bè vào sinh ra tử, hắn ngoan ngoãn bước theo mà không kịp quay lại dặn dò “em Phương thân mến” một câu nào.
Hắn định bụng ngồi một lát với hai thằng “ôn dịch”, uống với tụi nó vài ly rồi tìm cách chuồn. Nhưng, người tính không lại ý trời!
Khi cái thứ nước màu hổ phách “quỷ quái” trong chai “Napoleon lùn” chạm đáy, hắn ngật ngưỡng đứng lên bắt tay từ giã bạn, thì cũng là lúc hắn đổ ập xuống sàn nhà, không còn biết trời trăng mây nước gì nữa cả!
o0o
Khi tỉnh lại vào buổi sáng hôm sau, hắn thấy mình nằm co trên chiếc bàn sắt trong phòng khách của một quán trọ rẻ tiền. Cổ họng đắng nghét và cái đầu nặng trịch, hắn chẳng biết tại sao mình lại ở đây?
Chợt nhớ tới nàng, hắn giật mình phóng xuống đất – chết mẹ! mình quên đón nàng rồi!
Hắn vội vàng đi tìm nước rửa mặt, rồi sờ khắp túi quần, túi áo, chẳng có thứ gì ngoài một manh giấy viết nghệch ngoạc mấy chữ:
“Mày say quá mà khách sạn hết chỗ, tụi tao đành bỏ tạm mày ở đây, tiền bạc giấy tờ tụi tao giữ, mai về đơn vị lấy”.
Hắn trở lại quán cafe Cây Ổi để gửi đến nàng một lời xin lỗi. Thấy hắn, nàng chẳng nói chẳng rằng, quay lưng bước vào nhà sau mất dạng.
Hắn đứng yên một lát, nhìn trời hiu quạnh…rồi thọc hai tay vào túi quần lặng lẽ rời đi!.
Mùa giáng sinh 1974-đối với hắn-đã trở thành một kỷ niệm đẹp và…buồn!
Ngày 14 tháng 3/1975. Kon Tum được lệnh di tản, đơn vị hắn kéo súng theo đoàn quân lầm lũi từ giã chiến trường, hắn không kịp đến chào “em Phương thân mến”. Cuộc di tản chiến thuật biến thành một cuộc tháo chạy kinh hoàng. Bom đạn, đói khát và bịnh tật đã giết chết rất nhiều binh lính và thường dân vô tội. Hắn tìm kiếm khắp nơi và hỏi thăm rất nhiều người, không ai biết tin tức gì về cô Phương cà phê Cây Ổi.
Hắn thở dài nghĩ đến một điều không dám nghĩ:
– Có thể “em Phương thân mến” đã vùi thân trong một góc rừng nào đó giữa vùng lửa đạn chiến tranh rồi!
Chàng Đông Ry Nguyễn
EM BÚP BÊ GIÁNG SINH–G. LENOTRE
– Thái Nữ Lan dịch
Theo trí nhớ của tôi về quá khứ xa xôi, tôi vẫn nhìn thấy bà hầu tước De Flavigny, luôn tươi cười và thanh thản, bà thường ngồi ở chiếc ghế bành thấp bọc nhung màu vàng nhạt, đầu đội chiếc nón len viền ren, có vài lọn tóc bạch kim lòa xòa trên mặt. Bên cạnh bà luôn có một phụ nữ khác cùng lứa tuổi, ngồi ở chiếc ghế thấp, cũng tươi cười hiền hậu: bà ấy thường được gọi là “Cô Odile”.
Bà ấy không phải là cô hầu, mà hình như có một mối dây thân mật khiến hai bà là đôi bạn thân; họ thường ngồi đan những chiếc váy lót bằng len để rồi mỗi thứ năm đem tặng cho người nghèo cùng với một mẫu bánh mì và năm đồng tiền hai xeng ( liard= 1/4 xu của Pháp thời đó), vừa kể cho nhau những dòng tâm sự không bao giờ cạn. Vào những ngày không đan đác thì họ lại lục soạn bao nhiêu là tủ kệ, mở những hộp xinh đẹp quấn đầy cả dãi ruy băng, rồi bày ra nào là những khăn lót dĩa, lót bình hoa thêu thùa rất công phu, rồi chùi dọn suốt ngày. Bọn chúng tôi là một đám trẻ con tò mò được phép chứng kiến những hoài niệm về kho tàng cổ xưa rất hữu ích ấy, với điều kiện không được đụng đến bất cứ thứ gì.
Bên trong một cái tủ bí mật ấy, như là ngôi đền nhỏ, chúng tôi thấy một vật để đứng trong một hộp thủy tinh mà hai phụ nữ ấy chăm chút như một vật linh thiêng: đó là con búp bê lớn, mặc một chiếc áo đầm bằng lụa đã sờn theo kiểu xưa; đầu nó thì đã rụng gần hết tóc qua thời gian, mũi thì bị gãy, gương mặt và tay thì đã bị tróc hết lớp sơn bọc ngoài, và chân thì chỉ còn một chiếc giày gót cao đã bị nứt nẻ, màu đỏ phai nhòa, với khóa cài bạc đã thành đen điu .
Khi nhìn thấy món đồ vật trang trí uy nghi ấy, bà hầu tước và cô Odile bế nó ra với sự dè dặt của đứa trẻ lễ sinh ở nhà thờ khi phải cầm vật thánh trong hòm thánh tích: họ nói từng câu ngắn với vẻ ké né: “Ôi, CÔ BÉ lại bị rụng tóc nữa rồi…Cái váy lót lại mòn thêm nữa…Ôi ngón tay này lại sắp rơi xuống nữa nè.” Họ cẩn thận chăm chút mở nắp hộp ra, vỗ bụi trên tóc, vuốt nếp gấp chiếc váy bằng đầu ngón tay, nhẹ nhàng, âu yếm.
Rồi họ để em bê trên ngăn kệ đẹp nhất, như trên một kệ thờ. – “Bé có đứng được không, cô bạn yêu dấu của tôi?”, bà hầu tước hỏi bạn mình. Còn bà Odile thì chỉ gọi bà là “Bà Solange”, một cách thân mật, không kèm chức tước. Chúng tôi không biết gì thêm về hai phụ nữ ấy và con búp bê, cho đến một đêm trước Giáng Sinh, vào một năm xa xưa lắm rồi, bỗng dưng chúng tôi được tham dự, được “kết nạp” vào toàn bộ bí mật đó. Hôm ấy Odile và bà bá tước đã nói chuyện với nhau một cách sôi nổi hơn thường ngày.
Đến chiều tối, cả hai trở nên trầm lặng, gần như tĩnh tâm, rồi im lặng chắp hai tay lại, ngậm ngùi nhìn nhau, và ta hiểu rằng họ đang hướng về một kỷ niệm thật yêu dấu của riêng họ. Khi bên ngoài trời tối hẳn, Odile thắp nến lên; rồi lấy xâu chìa khóa từ bên trong cái tạp dề, bà mở cửa tủ đựng em búp bê. Bà bưng con bê ra khỏi hộp; trong mớ áo quần trang hoàng kiêu sa thuở nào, giờ đây với cái đầu nhẵn tóc, nó có vẻ già hơn hai người phụ nữ rất nhiều, và họ đang chuyền tay nhau vật báu bằng những cử chỉ thật chăm chút, gần như là âu yếm, như thể đối với con gái yêu.
Nữ hầu tước để con bê lên chân mình, nhẹ nhàng kéo đôi tay bằng thạch cao đến gần thân nó, toàn bộ khớp kêu ken két như tiếng rên rỉ, rồi bà nhìn ngắm ” cô nàng” với một nụ cười thật trìu mến -” Cô bạn yêu dấu của tôi, bà gọi mà như thể nói với con bê, bây giờ ta kể chuyện của mình cho bọn trẻ nghe nhé?” Rồi Odile gật đầu đồng ý; nữ hầu tước ra dấu cho chúng tôi đến đứng quanh bà; con bê vẫn ngồi trên đùi bà, và làm như bà sẽ thuật lại câu chuyện cho mỗi con bê nghe thôi.
Bà kể rằng từ rất nhiều năm trước, khi bà con là đứa trẻ, cuộc nội chiến tàn phá xứ Bretagne của bà, đó là thời gian kinh hoàng. Từ những ngày đầu năm 1792, cha mẹ của bé Solange đã di cư, và giao bé cho một bà nông dân sống bên cạnh lâu đài của họ ở Ploubalay trông chừng, vì tính cách nguy hiểm của cuộc trốn chạy nên không thể mang bé đi cùng; họ nghĩ rằng chiến tranh sẽ sớm kết thúc thôi, và họ sẽ trở về trong thời gian ngắn. Nhưng rồi không lâu sau đó, biên giới đã bị đóng cửa, và luật lệ gắt gao ngăn cấm những kẻ di cư trở về lại nước Pháp. Cô bé Solange phải ở với gia đình người hàng xóm tốt bụng, không nhận được tin tức gì của cha mẹ mình, vì hình phạt sẽ là án tử hình nếu ai có ý muốn liên lạc với những người di cư.
Ploubalay là một ngôi làng rộng lớn, cách Saint-Malo khoảng ba dặm; bờ biển gần đó có đầy cả những tảng đá lớn, bao quanh là quần đảo đá ngầm, nên mọi mưu toan cập bến đều rất nguy hiểm. Bọn lính mới chiếm cứ toàn bộ thị trấn, họ đã đuổi bọn lính phe bảo hoàng đi; tên trung sĩ cầm đầu bọn họ là một người có tính tình như bao nhiêu người trong quân cách mạng: thô lỗ, sắt đá.
Hắn người vùng Alsace, tên là Metzger. Mọi người đều sợ hãi hắn ta, nhất là đối với bé Solange, khi nhìn bộ ria mép, đôi lông mày rậm, ánh mắt nghi ngờ, giọng nói cứng ngắc, vang to, của người đàn ông kinh khiếp đó, là cả một cơn ác mộng cho bé.
Khi tên trung sĩ không làm việc với toán lính của hắn, thì hắn ngồi ở cửa nhà thờ, để canh chừng những con đường của thị trấn với vẻ mặt thật dữ tợn. Một hôm bé Solange đi mua bánh mì cho bà Roualt, lúc về thì thấy ông ấy đang nhìn theo mình. Bé muốn đi vòng ra sau, nhưng lại không dám. Lấy hết can đảm, bé liền đi thật nhanh như thể ở nhà đang có người đợi mình. Đến lúc tưởng rằng đã thoát đôi mắt cú vọ của hắn, bỗng bé nghe thấy giọng nói ồm ồm của tên lính: – Này cô bé kia, đứng lại! Cô bé tội nghiệp cảm thấy như tim mình ngừng đập: bé không bước được nữa, chắc là chết giấc mất thôi… – Đến đây xem nào…- xích tới chút nữa..
Bé phải nghe theo, không còn kiểm soát mình được nữa, bé chỉ cách tên trung sĩ hai bước chân, mà cũng chưa dám ngẩng mặt lên nhìn. Hắn để bé đứng như vậy một lúc, rồi bỗng bằng một giọng vang to như sấm làm con bé rùng mình: – Mi thuộc dòng quý tộc phải không? Cô bé há hốc miệng, phú dâng cho Thượng Đế. Bé không hiểu lắm, nhưng biết rằng chữ đó là dành cho những người sẽ bị giết.
– Mi bao nhiêu tuổi hả?.
Bằng một giọng khàn đi vì kinh khiếp, bé trả lời: – Tám tuổi, bé định nói thêm cho lịch sự , “thưa ông”, nhưng rồi không thốt ra, vì biết rằng nếu nói ra thì tên ấy sẽ bóp cổ bé ngay tức khắc.
Nhưng hắn không có vẻ gì là để ý đến điều đó, lại làu bàu: – Hừ, tám tuổi…tám tuổi! Rồi nói thầm: – Mi cao lớn và mạnh khỏe đấy, so với tuổi của mi. Cô bé nhìn ông ta, hắn thật là kinh khủng, với vẻ mặt dữ dằn, đầu đội cái nón hai sừng có vài sợi lông chim đỏ, gương mặt rám nắng, ống điếu thì đen thui, túi đạn đeo chéo trước ngực, kiếm dài ngoằng và đôi ủng đầy cả bùn sình. Và điều ghê gớm nhất là đôi mắt hắn, sâu hoắm, sắc sảo như chực ăn tươi nuốt sống cô bé.
-Thôi, chuồng đi! hắn ra lệnh. Cô bé liền nhanh chân chạy một mạch về nhà, vừa chạy mà tim vẫn còn đập thình thịch.
Kể từ hôm đó, cô bé có cảm tưởng như tên trung sĩ luôn theo dõi mình. Khi hắn có việc đi ngang trước nhà gia đình Rouault, là phải cố nhìn vào bên trong để tìm bé. Hoặc khi gặp bé ngoài đường, hắn gọi bé bằng cái giọng quỷ quái, thô lỗ, làm cho con bé run lẩy bẩy: – Ah! cô bé kia!
Solange ước sao không phải đi ra ngoài nữa, nhưng bà Rouault, tiên đoán rằng cha mẹ của bé sẽ không có cơ may trở về nữa, và bà không thể để bé ăn không ngồi rồi, nên thường sai đi mua những thứ cần thiết cho gia đình.
Thế là, bị ép buộc để hàng ngày phải diện kiến với con bù nhìn ghê sợ của mình, Solange đành phải chịu đựng sự nghiệt ngã của đời mình; và tên lính mới ấy chỉ còn chờ có được cơ hội. Một hôm khi đang ngồi rửa rau ở máy nước công cộng trong khu nhà, hắn bỗng xuất hiện và hỏi: – Này bé, tên mi là gì? Cô bé biết rằng giờ ấy đã điểm, nên cam chịu trả lời: – Solange… Tên lính reo lên:- Solange! – (hắn đọc là Zaulanche)
-Cái tên mới ngộ làm sao! Rồi hắn nắn cánh tay bé, và bế con bé lên để xem thử nó có nặng không – Tám tuổi ư! Sao mà lớn nhanh thế!
Cô bé có cảm tưởng như mình đang là con mồi ngon trong tay một con yêu tinh…
*** Bây giờ đang là tháng Mười Hai, những tháng ngày u buồn ảm đạm, không có ánh dương; ngày nào bọn lính mới cũng bắt được những người di cư trở về, họ sống quá cơ cực ở Jersey hoặc Luân Đôn, không chịu đựng nổi, nên quá ao ước được trở về Pháp, rất nhiều người đã mạo hiểm cập bến.
Bọn lính phục kích ở bờ biển cũng như toàn bộ khu vực , và đã luyện một đám chó to lớn đi săn loại mồi đặc biệt này, để tìm ra tung tích những kẻ khốn cùng, ban ngày thì nằm rẹp trong lau sậy, ban đêm thì men theo các mương rãnh. Dân làng thường thấy bao nhiêu người đi ngang qua Ploubalay này bị xiềng xích, áo quần thì tả tơi, bọn lính thì đi kèm họ đến Saint Malo, hoặc Rennes, rồi sau một cuộc xét xử sơ sài, bị đem ra bắn. Luật lệ không nương tha và không có kháng án: bất cứ người di dân nào bị bắt là chịu tử hình.
*** Vào đêm vọng Giáng Sinh năm 1793 ấy, trong làng không còn ai nhớ về những buổi lễ thân thương của thuở xa xưa nữa. Nhà thờ thì đóng cửa, chuông thì im vắng; đêm tối đã buông xuống, đầy sương mù; suốt ngày người dân nghe tiếng chó sủa không ngớt về phía khu Bodard: hôm nay bọn lính đã thu hoạch được khá rồi…
Cô bé Solange ngủ ở căn gác kế căn đựng thóc lúa, đầy cả bóng tối ghê rợn, và ban đêm bé nằm bất động, nghĩ đến bao nhiêu điều bất trắc có thể xảy ra. Hôm ấy bé vừa thay áo quần vừa run vì lạnh và bé thật buồn, nhớ đến bao nhiêu đêm Giáng Sinh với cha mẹ mình, thật vui thích, và trong lòng bé thấy thương mến làm sao!
Những buổi sáng thức dậy sao sung sướng hạnh phúc quá! ở cạnh lò sưởi tràn đầy quà cáp gói bằng dãi nơ thật xinh xắn, rồi bao nhiêu là đồ chơi và bánh kẹo!
Vừa mơ mộng như thế, cô bé vừa cầm đôi guốc gỗ một cách uể oải, không muốn để cạnh lò sưởi vì biết rằng rồi đây chúng cũng sẽ trống trơn khi bé thức dậy, y như năm vừa rồi. Ngay cả Đức Chúa nhỏ bé cũng lo sợ và không đến nước Pháp nữa hay sao?
Bé có cảm tưởng như có tiếng động, thế là bé nhanh nhẩu thổi nến và chui vào chăn. Rồi bé ngủ thiếp đi. Trong giấc mơ, bé thấy như cánh của nhè nhẹ mở ra, và một bóng đen lẻn vào căn gác. Bé hé mắt ra nhìn: căn phòng bây giờ đã được ánh trăng chiếu sáng,. Ta có mơ không đây? Bé nhận rõ bóng đen là một người đàn ông: một người đàn ông ăn mặc như những người di cư mà bé thấy ở ngoài quận khi lính đem tù nhân đi Saint Malo; rồi bé nghe thấy một giọng nói thật khẽ: – – Solange, bé con nhỏ cưng của ta, đừng sợ con ạ.
Bé cảm thấy một bàn tay đang dang những lọn tóc trên trán ra một cách cẩn thận: một tia sáng của ánh trăng đang chiếu rõ cô bé.
Người đàn ông nhìn bé: – Ôi con yêu Solange của ta, con xinh đẹp quá, và cao lớn, mạnh khỏe nữa! Ông ấy không ngớt ngắm nhìn bé. Rồi ông ôm lấy bé một cách cuồng nhiệt, và hôn tới tấp làm bé suýt nghẹt thở. Bé không còn biết mình thức chưa hay còn đang mơ; nhưng bé biết ngay là nếu cha của mình còn sống, thì đây chính là giọng của người, những cái vuốt ve trìu mến, và ôm ấp bé như thế. Bé thấy người đàn ông quỳ bên cạnh giường mình, rồi bé nghe ông khóc nức nở; bé khép mình trong tay cha- rồi quá hạnh phúc! bé nhắm mắt ngủ tiếp.
Bình minh hôm sau, bé mở choàng mắt, và lúc đầu thật khó khăn để nhớ lại những gì vừa xảy ra đêm qua, nhưng rồi bé trấn tĩnh lại: chắc chắn là mình đã nằm mơ rồi: căn phòng trống trơn, cánh cửa thì khép kín; dưới nhà bé nghe rõ bước chân bà Rouault đi qua đi lại. Solange ngồi ở mép giường, và bỗng nhiên, sung sướng hét lên,… Trên đôi guốc của mình, được sắp lại ngay ngắn, bé vừa nhìn thấy một con búp bê dựng đứng, mặc chiếc áo váy thật rực rỡ bằng lụa xanh, một con bê thật cao lớn, uy nghi, tươi cười, ăn mặc như một phu nhân, với những lọn tóc xoắn thật xinh bao lấy khuôn mặt bằng sứ thanh tao, trên vai là khăn choàng kiểu hoàng hậu, chân thì mang giày bằng da cừu, khóa cài giày lại bằng bạc sáng loáng…
Cô bé liền quỳ xuống trước “lệnh bà”, và ngay tức khắc gọi bà là Yvonne. Bé thay áo quần rất nhanh, rồi ôm “con gái” trên tay, bé đi xuống nhà. Bà Rouault, vừa nhác thấy bé cùng với món đồ chơi tuyệt diệu ấy mà trong trí tưởng tượng của bà cũng chưa bao giờ mơ ước được, vô cùng ngạc nhiên thốt lên:-— Lạy Trời, Solange, ai cho cháu con bê này vậy? – Thưa bà, đó là chúa Hài Đồng Giê Su ạ, cô bé trả lời một cách hồn nhiên.
Người đàn bà há hốc miệng kinh ngạc: ôi, nói về lòng tin theo kiểu thần thánh này thì bà chịu thua thôi. Tuy nhiên, bằng chứng rành rành đây khiến bà choáng ngợp: bà biết rằng ở Ploubalay này, hoặc ngay cả tỉnh thành Matignon, Saint Malo, hoặc Rennes đi nữa cũng không một ai có thể sắm được cho mình hay người thân một món đồ huyền diệu như thế.
Thế rồi, chính vì điều này, bà trở nên rất cung kính, và ngắm nhìn mà không dám đụng vào phu nhân mà Solange trao cho bà một cách long trọng. Bà liền gọi ông đến: – Ông xem thử món quà mà Chúa Hài Đồng mang đến cho Solange nè; ông ấy là một người chất phác,và không biết gì về những trang sức lụa là của các bà mệnh phụ đâu. Nhưng rồi các bà hàng xóm đều ùa đến. Tất cả đều choáng ngợp và chắp tay lại kinh ngạc, rồi xầm xì; vài người nghiêng mình trước một vật thần thánh, vài người không hiểu nổi điều thần bí này.
Còn Solange thì chẳng quan tâm đến nỗi xúc động của họ, bé đang ru Yvonne, và ôm hôn nó một cách thận trọng, môi chỉ dám phớt nhẹ lên lọn tóc vàng óng và đôi má bóng lưỡng của con gái mình; bé đem nó đến cửa sổ để cho nó thấy cảnh bên ngoài.Rồi bà Rouault trở về với thực tế, sai con bé đi mua hàng ở tận góc xa xôi của ngôi làng; con bé hớn hở đem em búp bê theo. Hiện tượng này đã được một nửa quận biết rồi; các bà nông dân đứng ở cửa sổ để nhìn, và bé Solange biết được bây giờ mình trở nên quan trọng thế nào rồi. Khi bé đến trước nhà thờ, nơi đó tên Metzger vẫn ngồi vắt ngang ghế, lần này thì bé không thèm quay đầu lại để nhìn nữa: hôm nay thì chẳng có mối hiểm nguy nào đến với bé nữa rồi? Niềm vui bất tận trong lòng khiến bé không còn sợ việc gì hay ai nữa, nên khi tên trung sĩ gọi bé lại, và hỏi nó ôm vật gì, thì bé trả lời một cách tự tin: – Đó là một con búp bê – Một con bê thật đẹp! Ở đâu mà nhóc có được vậy? – Thưa ông trung sĩ, chính Chúa Giê Su Hài Đồng đã cho tôi.
Tên lính theo phe cộng hòa liền đứng phắt dậy, lấy chân hất cái ghế ra: – Mi nói cái gì? hắn hét lên – Đó là con bê mà Chúa đã cho cháu nhân dịp Giáng Sinh, ông trung sĩ – Ah, mi nghĩ là ta sẽ tin vào … nhưng trước vẻ ngây thơ của con bé, hắn ngừng nói; nhưng giật lấy con bê từ tay cô bé, hắn nhìn thật kỹ , và nói: – Ôi, một lệnh bà đẹp thật; mà này, nhìn xem, bên dưới giày có ghi nè: Berkint-London- vậy ra con bê này là dân xứ Anh quốc? Vậy thì Chúa Giê Su Hài Đồng là người Anh hả?– Cháu không biết, thưa ông, cô bé vừa trả lời vừa lấy lại con búp bê; bây giờ niềm vui của cô bé đã bị hỏng rồi – Để xem nào, hắn làu bàu, rồi quay lại gọi thuộc hạ.
Một tên hạ sĩ chạy ra.– Hôm qua có người lạ nào xuất hiện trong làng không?– Dạ tôi nghĩ là không đâu ạ, hôm qua bọn lính canh đã làm việc rất tốt. Thật ra đám chó săn đã hú lên một cách không bình thường, nhưng chúng tôi đã lục soát kỹ rồi, mà không tìm thấy gì cả.– Được rồi, tập họp mọi người lại đi. Rồi hắn đeo túi đạn vào, cài dây lưng, lấy khẩu súng và dẫn đầu đám lính đến nhà bà Rouault.
Solange, trở nên thật lo âu, đi bên cạnh hắn, nhưng bước nhanh hơn, và ôm ghì bé Yvonne xinh đẹp và tươi cười vào lòng. Đến nơi, hắn ta để hai tên lính gác trước cửa, rồi chia vài tên ra khắp nơi bên trong và quanh nhà.Rồi bảo đám còn lại đi theo mình, hắn vô trong phòng, cầm tay bé Solange, ngồi vào ghế, rồi kéo bé đến gần mình, và bằng một giọng rất nhỏ nhẹ, có lẽ để dỗ dành con bé: – Nào, bé con, kể cho ta nghe tất cả mọi việc đi nào.Thế là bằng một giọng rất nhỏ, buồn bã, cô bé bắt đầu kể về “giấc mơ của bé”, về người đàn ông mà bé nghĩ là đã nhìn thấy trong phòng, về ảo tưởng của những nụ hôn mà ông ấy đã hôn bé, và rồi đến lúc sáng, cô ngạc nhiên xiết bao khi phát hiện ra con bê thật xinh…
Tên trung sĩ theo dõi thật kỳ lời của cô bé, không bỏ sót chi tiết nào. Bỗng dưng, quay lại phía đám lính đang lắng nghe, hẳn ra lệnh:– Bọn bây, quay trở ra đi, và hãy canh cho thật kỹ mọi ngõ ngách! Nã súng vào đầu bất cứ tên nào có ý trốn chạy!Bọn họ ra ngoài, khi còn lại một mình Metzger và cô bé:– Nào, bé con, mi nói là người đàn ông đã hôn mi,… và gọi là “Solange bé nhỏ của ta”, rằng ông ấy đã quỳ bên cạnh giường cô bé và còn khóc nữa? Cô bé gật đầu , không muốn nói dối, nhưng cũng cảm nhận được một tai họa sắp xảy đến.Metzger chưa vội hành động. Hắn đặt đôi tay thô ráp lên vai bé Solange, và nói thật nhỏ, như thế nói cho chính mình:– Ừ, hắn ta nói một cách nghiêm trang, ta cũng có một bé nhóc con như thế này, ở Alsace (miền Đông nước Pháp, cạnh Đức & Thụy Sĩ), thành phố Gersheim ( Đức)… nó cũng lên tám tuổi…đã tròn hai năm rồi ta cũng chưa gặp lại con bé… và ta nói thế này: Để chỉ nhìn thấy nó thôi, cho dù nó đang ngủ, trong bóng tối, để hôn nó một chút thôi, chỉ để cảm thấy nó thiu thiu ngủ trên vai ta, mớ tóc vàng của bé thì sát vào mặt của ta…thì ta đây cũng dám liều mạng sống của ta như vậy… Hình như người cha nào cũng như thế cả.”Hắn ra chiều suy nghĩ thật kỹ càng. Rồi hắn trở nên cương quyết, đứng phắt dậy, lại thô bạo, và lắc lắc cái đầu như để xua đuổi một ý nghĩ hèn kém nào đó, rồi quay ra cánh cửa mở: – Hai người đi với ta, chúng ta sẽ lục soát căn nhà nhỏ bé này! Solange bỗng la lên: – Thưa ngài trung sĩ, gượng đã!Bé đã nghe tên lính ấy nói và đột nhiên cô bé đã hiểu tất cả: đêm đó, chính ba của bé đã đương đầu với cái chết để được đến vài phút bên cạnh con gái bé cưng, đã rời khỏi nơi ẩn náu, băng qua biển cả, cặp bến vào những tảng đá nguy hiểm, trườn người giữa đám lau sậy dưới họng súng của bọn lính canh, đề về đến làng. Chính ba của bé khi nghĩ rằng bé sẽ không có món đồ chơi nào cho lễ Giáng Sinh cả, nên đã mang “lệnh bà” đến cho nó.Ba của bé đang ẩn trốn trên căn gác kia, và rồi đây họ sẽ lên bắt ông đi, và bé sẽ nhìn thấy ông bị xiềng xích quấn vào người, và đi với bọn người lính bao quanh…Thế rồi, cô bé, lòng dạ tan nát, khóc nức nở làm rung cả đôi vai bé nhỏ, và chạy đến bên tên trung sĩ– Đợi đã! Đợi đã, ông ơi! Tên lính bây giờ đã trở lại vẻ hung ác dữ dằn, nói bằng giọng thô lỗ: – Gì nữa đây?, hắn hỏi. Solange suy nghĩ như thế này: Để cứu cha của bé, bé sẽ đưa hết tất cả những gì bé sở hữu; nhưng hỡi ôi, bé chỉ có mỗi con bê. Bé liền nảy ra ý định hy sinh thật cao cả – Thưa ngài trung sĩ, ngài có một con gái…cùng tuổi với cháu…mà ngài chưa gặp lại từ hai năm nay phải không? Metzger liền gật đầu ra hiệu đúng như vậy.-Thế thì! Thế thì!, Solange nói tiếp, đôi mắt ngấn lệ, có thể bởi vì ông không có mặt ở nhà nên chúa Hài Đồng Giê Su đã quên cô bé rồi chăng… Vậy ông hãy lấy con búp bê của cháu đây này, cháu tặng ông đó. Tên lính liền quay lại phía cô bé; hắn nhìn cô bé với đôi mắt đã ướt đẫm; hắn thở rất mạnh, đôi môi run rẩy dưới bộ ria mép, và ta nhận thấy trên gương mặt hắn những bắp thịt cử động lên xuống, tỏ rõ cảm xúc bị đè nén.
Hai người lính bước vào phòng.– Cháu đừng nói gì hết, không phải lo điều gì, tên trung sĩ nói nhỏ với bé.Rồi hắn nói với bọn lính :– Chúng ta sẽ lên trên kia, và lục soát mọi ngõ ngách. Bọn bây giữ súng sẵn sàng và hãy lên đạn, và cố nhìn cho kỹ. Bé con này, đi trước đi. Cả ba người lính và cô bé leo lên bậc thang: vừa vào căn gác, hắn đặt một người ở ngưỡng cửa, người kia cạnh cửa sổ; hắn mở cửa căn gác xép, rồi chỉ một mình hắn bước vào đó, đóng cửa lại. Trống ngực Solange đập thình thình, muốn vỡ toang ra.
Một lúc sau, cửa gác bật mở, và Metzger hiện ra: – Bên trong này không có gì cả.!– Ta trở xuống thôi. Con chim đã bay mất rồi. Chúng ta đã bị lừa…Rồi khi xuống bên dưới nhà, lúc chỉ còn một mình hắn và Solange, hắn nói nhỏ vào tai bé:– Cháu hãy nhớ kỹ điều này: “Người đàn ông ấy” có thể ở lại trên đó hết đêm nay và nguyên cả ngày hôm sau. Cháu nói ông ta hãy yên tâm đi, mọi việc sẽ tốt thôi. Ông ấy sẽ ra đi vào đêm ngày mốt, và đến Lancieux và Saint-Briac, ở đó ông có thể ra khơi lại; vùng đó sẽ không có lính gác, ta sẽ đem lính của ta qua phía bên kia. Cháu hiểu rõ chưa?
– Dạ hiểu, thưa ngài trung sĩ
– Vậy tốt rồi! Còn con búp bê này của cháu, ta sẽ mang nó đi: ta sẽ gởi về cho bé Odile của ta. Ta phải lấy con bê, bởi vì có thể có một người khác sẽ tò mò giống như ta khi thấy Chúa Hài Đồng Giê Su mang cho bọn nhóc như cháu những món đồ mỹ nghệ xuất xứ từ Anh Quốc đó. Cái em bé này đã gây cho cháu quá nhiều phiền toái rồi.– Thế nhé! Và nhớ giữ bí mật nhe cháu! Và đừng quên: đi về phía Lancieux và Saint-Briac.
Rồi ông ta đi ra, gọi cả bọn lính đi theo; và rồi, ngay chiều hôm đó, mang họ đi thám hiểm về phía Matignon, cùng với lũ chó săn luôn, trong suốt ba ngày tròn. “ &&&&&& “Và đó là câu chuyện của cả ba chúng ta, nữ bá tước Flavigny nói, đó là chuyện lôi thôi duy nhất trong suốt cuộc đời của cả ba chúng tôi, Odile, Yvonne, và tôi. Mười lăm năm sau, khi tôi làm đám cưới với bá tước của tôi, chúng tôi đi tham quan vùng Alsace; tôi đã đến Gersheim, và hỏi thăm về trung sĩ Metzger, về con gái Odile của ông ta, vì các con biết đấy, những cái tên đó đã in đậm trong trí nhớ của ta rồi. Ta đã tìm thấy người lính già ở nhà máy sản xuất hoa làm rượu bia của ông ta. Ông ấy đã giải ngũ, sau khi được lãnh huân chương ở Austerlitz, do chính Hoàng đế trao tặng..
Ông ấy đã kể cho con gái mình câu chuyện về bé Solange,và Odile đã cất giữ “lệnh bà”; rồi khi ông ấy qua đời, vài năm sau đó, ta đã đưa Odile về đây với ta; cô bé đã mang Yvonne lại cho ta, và kể từ ngày đó, cả ba chúng ta không bao giờ rời nhau nữa.
G. LENOTRE – tháinữlan dịch
Cuộc Ngưng Bắn đêm Giáng Sinh
NGƯNG BẮN TRÊN XỨ NGƯỜI…
CÒN XỨ TA THÌ SAO… HUẾ, MẬU THÂN 1968?
Khi họ nói KHÔNG Với Chiến Tranh– 650 chữ–David G. Stratman – TháiLan dịch –
22/6/2012
Đó là vào ngày 25 tháng 12, năm 1914, chỉ mới 5 tháng kể từ khi bắt đầu Thế Chiến thứ I. Lính Đức, Anh và Pháp đã thật chán chường và mệt mỏi với những cuộc bắn giết vô nghĩa, đã bất tuân thượng cấp của họ và đã thành huynh đệ với “Kẻ thù” trong suốt hai phần ba của Mặt Trận phía Tây (một trọng tội với bản án tử hình vào thời chiến). Những đội quân Đức giương cây thông Giáng Sinh lên trên các chiến hào với biểu ngữ “Chúc Mừng Giáng Sinh”.
“Bạn không bắn,chúng tôi cũng không bắn”. Hàng ngàn dòng quân lính lũ lượt băng qua một vùng đai trắng với toàn thân người thối rửa rãi cùng khắp. Họ ca những bài hát mừng Giáng Sinh, trao đổi hình ảnh của gia đình thân thương ở quê nhà, chia nhau phần lương thực, chơi túc cầu với nhau, hoặc ngay cả quay thịt. Binh lính ôm hôn những người mà trước đây vài giờ họ đã nhắm bắn.
Bộ Tư Lệnh Tối Cao của cả hai phe đều cảm thấy ghê sợ. Đây là thảm họa đang hình thành: binh lính tuyên bố tình huynh đệ với nhau và từ chối đi chiến đấu. Tướng lãnh của cả hai phe tuyên bố việc hòa giải tự phát sinh là mưu phản và bị đưa ra tòa án quân sự. Vào tháng 3 năm 1915 phong trào huynh đệ chi binh đã bị triệt hạ và máy chém đã được đưa vào xử dụng . Đến thời điểm ngưng chiến vào năm 1918, mười lăm triệu nạn nhân đã bị hành hình.
Rất ít người nghe nói đến câu chuyện về Cuộc Ngưng Bắn đêm Giáng Sinh. Vào ngày Giáng Sinh năm 1988, một câu chuyện của Boston Globe kể rằng một xướng ngôn viên đài phát thanh FM địa phương đã cho phát rất nhiều lần bài ” Giáng Sinh ở Chiến Hào”, một ballad ( bài dân ca hoặc về truyền thống dân tộc) về Cuộc Ngưng Bắn đêm Giáng Sinh- và họ đã rất sững sốt về hậu quả của việc này .Bài hát đã trở nên bài được yêu cầu nhiều nhất trong suốt kỳ nghi lễ ở Boston trên rất nhiều trạm phát thanh FM. Và người xuống ngôn viên nói thêm” Tôi càng kinh ngạc hơn khi thấy không phải số lần bài hát được yêu cầu mà chính là phản ứng sau đó của những thính giả trước đây chưa bao giờ được nghe bài hát đó : “Họ gọi cho tôi với tâm trạng rất xúc động, đôi khi nghẹn ngào và bật khóc, nói rằng ” Ôi Trời, tôi vừa được nghe những lời gì vậy?”
Quý vị thật dễ dàng đoán được vì sao những thính giả đó phải bật khóc chứ? Câu chuyện về Cuộc Ngưng Bắn đêm Giáng Sinh đi ngược lại với phần lớn tất cả những gì chúng ta được nghe về loài người.
Câu chuyện ấy đã cho chúng ta một ý niệm về thế giới theo ước mong của chúng ta, và nói lên rằng” Việc này đã thật sự xảy ra một lần rồi”. Điều này nhắc chúng ta nhớ về những cảm nghĩ mà ta đã giấu kín, vượt ra ngoài tầm của các câu chuyện trên truyền hình và báo chí, và cho ta biết cuộc sống con người thật tầm thường và thấp kém như thế nào. Sự kiện này giống như ta được nghe rằng những ước mơ sâu kín nhất của ta thật sự là có thật: Thế giới thật ra có thể khác đi.
Trích dẫn từ “Chúng ta CÓ THỂ Thay Đổi Thể Giới”, David G. Stratman : Ý Nghĩa Thật của Cuộc Sống Hằng Ngày (New Democracy Books, 1991)
TháiLan dịch
BÀI CA GIÁNG SINH TRÊN CHIẾN HÀO –875 chữ John McCutcheon- TháiLan dịch
Christmas in the Trenches – : Tác giả & trình bày John McCutcheon
CHRISTMAS IN THE TRENCHES– John McCutcheon
” My name is Francis Tolliver. I come from Liverpool.
Two years ago the war was waiting for me after school.
To Belgium and to Flanders, to Germany to here,
I fought for King and country I love dear.
It was Christmas in the trenches where the frost so bitter hung.
The frozen field of France were still, no Christmas song was sung.
Our families back in England were toasting us that day,
Their brave and glorious lads so far away.
I was lyin’ with my mess-mates on the cold and rocky ground
When across the lines of battle came a most peculiar sound.
Says I “Now listen up me boys”, each soldier strained to hear
As one young German voice sang out so clear.
“He’s singin’ bloddy well you know”, my partner says to me.
Soon one by one each German voice joined in in harmony.
The cannons rested silent. The gas cloud rolled no more
As Christmas brought us respite from the war.
As soon as they were finished a reverent pause was spent.
‘God rest ye merry, gentlemen’ struck up some lads from Kent.
The next they sang was ‘Stille Nacht”. “Tis ‘Silent Night'” say I
And in two toungues one song filled up that sky.
“There’s someone commin’ towards us” the front-line sentry cried.
All sights were fixed on one lone figure trudging from their side.
His truce flag, like a Christmas star, shone on that plain so bright
As he bravely strode, unarmed, into the night.
Then one by one on either side walked into no-mans-land
With neither gun nor bayonet we met there hand to hand.
We shared some secret brandy and wished each other well
And in a flare-lit soccer game we gave ’em hell.
We traded chocolates, cigarettes and photgraphs from home
These sons and fathers far away from families of their own.
Young Sanders played his squeeze box and they had a violin
This curious and unlikely band of men.
Soon daylight stole upon us and France was France once more.
With sad farewells we each began to settle back to war.
But the question haunted every heart that lived that wonderous night
“Whose family have I fixed within my sights?”
It was Christmas in the trenches where the frost so bitter hung.
The frozen fields of France were warmed as songs of peace were sung.
For the walls they’d kept between us to exact the work of war
Had been crumbled and were gone for ever more.
My name is Francis Tolliver. In Liverpool I dwell.
Each Christmas come since World War One I’ve learned it’s lessons well.
That the ones who call the shots won’t be among the dead and lame
And on each end of the rifle we’re the same. “
— John McCutcheon “Christmas in the trenches”
Tên tôi là Francis Tolliver , tôi sống ở Liverpool.
Hai năm trước, chiến tranh chờ đợi tôi khi tôi vừa rời ghế trường học, ở Bỉ, ở Flandres, ở Đức Quốc, ở đây.
Tôi chiến đấu cho quốc vương và đất mẹ mà tôi yêu tha thiết.
Bây giờ đang là mùa Giáng Sinh và thời tiết đông giá đang hoành hành một cách dữ dội nơi các chiến hào.
Những cánh đồng băng tuyết ở Pháp thật yên ắng, không nghe thấy một bài hát Giáng Sinh nào vang lên trong không gian..
Và những gia đình thân yêu của chúng tôi, bên Anh Quốc xa xôi, đang vinh danh các con em của họ, những dũng tướng tràn đầy nhiệt huyết, đang ở rất xa quê hương của họ.
Tôi đang nằm cạnh anh bạn trên nền đất sỏi lạnh giá, bỗng dưng từ bên kia chiến tuyến một âm thanh thật đặc biệt vọng lại.
Tôi bảo” Anh em ơi, hãy lắng nghe này”, thế là các anh lính nghễnh tai ra nghe.
Một tiếng hát với âm sắc thật trong trẻo vang lên một giai điệu tiếng Đức.
Ôi này, anh ta hát hay tuyệt”, anh bạn tôi nói.
Rồi dần dần từng giọng hát bằng tiếng Đức hòa nhập vào đội hợp xướng. Đại bác giờ đã im tiếng, và những đám mây khí độc đã tan ra thật xa một khi Giáng Sinh đang cho chúng tôi vài khoảnh khắc ngơi nghỉ khi còn đang ở giữa cuộc chiến. Khi họ đã hát xong bài hát, và sau một lúc tỉnh tâm, vài anh bạn ở Kent ( Đông Nam nước Anh) xướng lên bài ” God rest Ye , merry gentlemen” Hồng Ân Thiên Chúa (Nỗi Lòng Mục Tử). Kế đó, vài người hát Stille Nacht. Tôi giải thích: Đó là bài “Đêm Thánh Vô Cùng”.
Và rồi bài hát được cất lên bằng hai ngôn ngữ, cùng một bài hát bao trùm cả bầu trời quanh đó.
“Có ai đang đi về phía chúng ta kià”, anh lính gác la lên.
Tất cả mọi người đều nhìn về phía một bóng đen cao ngồng vừa xuất hiện ra bên cạnh họ.
Trên tay anh ta ngọn cờ trắng phất phơ theo gió, như một ánh sao đêm Giáng Sinh, sáng rực trên cánh đồng trong khi anh đang tiến bước một cách hùng dũng, trên người không hề mang vũ khí, và rồi bóng đêm thật dày đặc lại bao trùm quanh anh ta …
Thế rồi, từng người một, từ cả hai bên chiến tuyến, chúng tôi tiến về phía vùng đai trắng , không ai mang súng ống, không lưỡi lê, và chúng tôi bắt đầu siết chặt tay nhau,
Tất cả chúng tôi chia nhau phần rượu mạnh đã được cất giấu bấy lâu, chúng tôi chúc mừng nhau, rồi dưới ngọn đèn vàng mờ nhạt, chúng tôi chơi một trận túc cầu, và đã làm cho đối phương bao phen phải vất vả.
Chúng tôi chia nhau những phong sô cô la, thuốc lá, rồi những đứa con và những người cha trao đổi cho nhau từng bức hình gia đình thương yêu từ nơi xa xăm mịt mù kia…
Cậu bé Sanders thì chơi đàn phong cầm, còn phía bên kia thì họ chơi đàn vĩ cầm, ôi một đám bạn thật kỳ ngộ và huyền hoặc làm sao, thật là khó tin!
Thế rồi ánh mặt trời đã lên, chiếu sáng cả khu chiến hào và thêm một lần nữa, nước Pháp lại trở lại là nước Pháp.
Sau những lời chia tay thật não nề, tất cả chúng tôi chuẩn bị để chiến sự lại tiếp diễn, nhưng rồi, một câu hỏi đã ám ảnh tất cả những thành viên đã hiện diện trong cái đêm tuyệt vời thật khó tin ấy cứ luẩn quẩn trong trí chúng tôi: Có người thân nào của tất cả những người ấy đã nằm trong tầm ngắm của chúng tôi từ bấy lâu nay không?
Lúc đó lễ Giáng Sinh đã về trên các chiến hào, ở đó mọi vật đã bị bao trùm bởi đợt rét căm quá tàn bạo, nhưng những cánh đồng của Pháp đã được sưởi ấm bởi khúc hát của đội hợp xướng, vì bao nhiêu bức tường được dựng lên giữa hai phe chúng tôi để buộc chúng tôi phải thực hiện nhiệm vụ ở chiến trường ấy đã bị rạn nứt luôn mãi rồi.
Tên tôi là Francis Tolliver , tôi sống ở Liverpool,
và nếu tôi cần phải nhớ một bài học ,
đó là những người đã ra lệnh cho chúng tôi phải bắn giết lẫn nhau họ sẽ không thuộc nhóm người bị giết hoặc bị thương
và rằng ở trên mỗi đầu súng, chúng tôi đều như nhau. “
***
Theo những nhân chứng của thời ấy, hình như là đám lính Đức đã là những người tiên phong để thực hiện tình huỳnh đệ ấy.
Rồi tùy theo sự khôn ngoan hoặc vô nghĩa của các quan lại trong quân đội, vài cuộc nổi dậy đã bị dập tắt ngay trong trứng nước; dù sao, cuộc ngưng chiến đã được kéo dài cho đến đầu tháng giêng năm 1914.
John McCutcheon- TháiLan dịch-
Mùa Giáng Sinh Ấm Áp
Mấy hôm nay trời lạnh ngắt, tê cóng tay chân nhưng tôi cũng phải siêng năng đi shopping rảo nơi này, kiếm nơi kia những thứ vừa túi tiền để làm quà Noel đã gần kề. Đường phố tấp nập, xe cộ nghẹt đường. Dù kinh tế khó khăn, vật giá leo thang vùn vụt, công việc lao đao khó kiếm, nhưng không ai dám bỏ lỡ ngày lễ quốc tế lớn với phong tục ông già Noel tặng quà cho trẻ con, mà sau này mọi người còn tặng quà cho nhau nữa. Ngày lễ chính cũng là kỷ niệm ngày cưới của tôi tính đến nay đã gần bốn mươi năm chung sống cùng nhau.
Bày các thứ mua trên sàn nhà, nhìn bảng giá mỗi thứ tôi mỉm cười. Cỡ nào cũng có thể mua quà: có tiền ít mua gift card $10 cà phê Starbuck, mua kẹo sô-cô-la giá nào cũng có. Tôi tìm kéo, dao, giấy hoa mân mê gói từng món quà, vừa gói vừa cho tâm hồn quay về chuyến tàu kỷ niệm …
Giai đoạn đầu tiên đến Mỹ, cả gia đình nhà chồng cùng ở chung một nhà. Số tuổi lớn bắt tay vào việc làm, số em trẻ đi học xa. Vùng Fremont lúc đó chỉ có vài ba nhà Việt Nam ở gần, cuối tuần họ qua chơi, nhiều lúc nấu món này món kia đến biếu. Đầu óc tôi lúc đó sao mà quá ngây thơ, chỉ mơ ước được ở nhà, sắm áo dài thỉnh thoảng đi dự tiệc, nhưng mới vừa qua ngày trước thì ngày sau em chồng đã chở tôi vào làm tiệm bánh Pháp gia đình hùn mở. Sáng theo xe khi trời mờ tối và lúc về cũng tối mờ. Trời lạnh cóng chị hàng xóm đem biếu tôi chiếc áo ấm dày. Vài tuần sau tôi mua chả đến biếu và cám ơn lòng tốt anh chị này, gặp lúc vợ chồng đang cãi vã nhau. Anh kể chuyện “cả gia tài có được ba ngàn, vợ tôi không cất ở nhà mà bỏ vào túi áo măng tô đi chợ, giờ bị mất rồi, chán lắm chắc phải .ly dị thôi” chị vợ phân trần đôi điều mặt buồn xo. Chồng tôi khuyên lơn “tản tài hơn tản mạng, của đi thay người, tiền sẽ kiếm lại được”. Tôi mở đôi mắt to tiếc rẻ số tiền quá lớn, không thể tưởng đối với tôi. Ra về tôi thì thầm bên chàng “Trời ơi em mà có số tiền như vậy khỏi cần làm gì hết”, Chàng trề môi “Ở Mỹ này ai cũng đi cày hết, rồi cô sẽ thấy: có ba ngàn đòi năm ngàn và không biết khi nào là đủ đâu.”
Đám cưới tôi vào đêm 24 tại nhà. Các em trai họ bên chồng từ LA lên, các em đang còn đi học nhưng rất chân tình, nói với tôi “em có $10 chị muốn món quà gì em mua”, tôi thấy cảm động vì các em đang nghèo “chị qua được Mỹ là có gia tài lớn rồi, em còn đi học thiếu thốn cực nhọc đừng mua gì hết, đường xa lái xe lên đây chung vui với chị là quý lắm rồi“.
Khi có công việc thì đâm ghiền vì mỗi nửa tháng nhận tấm check tăng đầy sinh lực đóng tiền nhà, tiền ăn tiêu và gởi chữ hiếu về cha mẹ anh em.
Ngôi nhà ở đường Costa Way vùng Fremont là kỷ niệm quý giá đầu tiên tôi đặt chân lên đất Mỹ. Mẹ chồng tôi hy sinh nấu ăn cho con cái đi cày. Căn nhà có bốn phòng, sửa thêm hai phòng dưới Garage xe, anh em làm nhiều giờ khác nhau, tuy đông người nhưng cũng ít gặp mặt nhau. Cuối tuần con cái được nghỉ bày nấu nướng cơm hến, bún bò, phở, cháo xúm nhau ăn vui vẻ. Gia đình gồm mười một người con, dần dần lập gia đình ra riêng, nhưng vẫn sum họp ngày chủ nhật hoặc kỵ giỗ, xem như căn nhà đó là ngôi Từ Đường thờ cúng từ đời ông bà Cố trở xuống.
Lần lượt cháu nhỏ ra đời, con dì, con cậu, con chú, con cô lứa tuổi nào chơi với lứa tuổi đó. Vì luôn họp mặt nơi ngôi nhà Từ Đường nên các cháu rất thân thiết như anh chị em ruột. Có khi các cháu qua nhà thím này, mợ kia ở lại để chơi chung anh em họ và ngược lại. Chúng nhắn tin cho nhau hẹn gặp gỡ xem cine, hoặc về nhà ông bà nội ngoại, gọi pizza ngồi chuyện trò ăn chung. Lớn dần các cháu đi học phương xa, cháu nào tốt nghiệp vẫn ăn mừng đông đủ. Giờ đây các cháu liên lạc chung cả nhóm, có lần hẹn hò qua New York dự sinh nhật cháu khác làm việc bên đó, chơi suốt tuần gởi hình ảnh vui nhộn về, người lớn cảm thấy hài lòng thỏa mãn về sự thành công của lớp trẻ, bù đắp biết bao nhiêu công lao khó nhọc, hy sinh vì con.
Mùa lễ nhớ biết bao nhiêu kỷ niệm trên đất Mỹ. Soạn thiệp Noel gởi mợ bên Pháp, bạn Mỹ lúc làm chung nơi Company Kyle Design, vài người thân thích và bà Marilyn Evans. Lòng tôi không khỏi ngậm ngùi về ông chủ Tom Evans nay đã mất, chỉ còn lại bà đến mùa Noel chúng tôi nhận được tấm card lời lẽ ấm áp. Đã hơn ba mươi năm, thời gian qua vùn vụt. Nhớ ngày nào khi chồng tôi vừa học vừa làm part time cho hãng tư nhân nhỏ, một hôm bị đau ruột thừa dữ dội phải vào bệnh viện mổ và nghỉ dưỡng nửa tháng, tưởng ông bà thuê người khác nhưng không. Họ gởi hoa chúc lành, nhắn chồng tôi đến trao tấm check nửa tháng lương cho không, và dặn chồng tôi tiếp tục làm những công việc nhẹ. Mỗi năm chúng tôi được mời dự tiệc Noel nơi nhà hàng sang trọng trên vùng Berkeley. Thời gian này tôi làm cho company Kyle Design trên đường Industrial đang còn mướn chỗ nhỏ vùng Hayward, tôi đậu xe ngoài xa đi bộ vào. Khoảng đường đó có hàng cây rậm lá um tùm, nên mỗi ngày xe tôi đều bị chim thả “bông trắng” đầy trên trần. Xe lại bị bộ phận nơi máy mỗi lần đề cho nổ phải chờ tới 15 -20 phút, nếu vài phút chạy thì máy tắt. Lần đó tiệc lễ Giáng Sinh tổ chức đêm thứ sáu, tôi không kịp rửa xe để vậy chạy luôn. Nhà quê lên tỉnh cả hai người, chưa quen lối quý phái sang trọng, tới nơi có người đứng chào xin chìa khoá lái xe đi đậu parking, vào trong có người đến xin áo khoác ngoài đem đi treo nơi khác. Ngồi một bàn dài ông bà chủ và nhân viên, thưởng thức nhạc sống hoà tấu và tiệc sang trọng. Lúc trở về cũng đứng trước tiệm chờ người lái xe đến, tôi hồi hộp lo lắng tài xế không hiểu bệnh của chiếc xe, chắc họ cũng toát mồ hôi hột, và nếu họ nhìn kỹ một tí sẽ thấy phân chim bao trùm chiếc xe đời thượng cổ. Đó là kỵ niệm nhớ hoài mỗi khi nhắc lại đều không khỏi nhịn cười. Chúng tôi thừa hưởng rất nhiều quà bà Marilyn cho sau mùa lễ: bánh, kẹo sô-cô-la, có lúc cả áo jacket mới toanh. Chồng tôi làm cho ông bà Tom ăn tiệc được hai mùa lễ, rồi đổi jobvà ông bà cũng sang hãng góp cổ phần sáp nhập vào công ty lớn. Bà Marilyn vẫn chưa quên, chúng tôi còn nhận đều đặn tấm thiệp Noel từ vùng Moraga gởi đến.
Đang gói các món quà và viết card chúc Giáng sinh, năm mới. Chồng tôi bước xuống chợt nhắc:
– Nấu bún bò cho Boss Kyle nữa.
– Dĩ nhiên mà, đang tính ngày mai đi chợ mua các thứ nấu đây.
Nói đến boss Kyle nơi tôi đã làm việc trên ba mươi năm, nơi có câu chuyện sẽ rất dài, dài hơn con đường có hàng cây bóng mát trên vùng Livermore che chở cuộc sống của tôi. Gần gũi Boss tôi học được những đức tính chịu khó, kiên nhẫn và lối sống vô cùng giản dị, thân mật gần gũi. Mỗi mùa Noel tôi được nhận quà bằng số tiền thưởng rất lớn trên dưới ba ngàn, và nghỉ một tuần qua Tết Tây được ăn lương. Bà và hai con gái rất mê món bún bò, mì hoành thánh tôi nấu, nên bây giờ tuy đã về hưu nhưng đến mùa này tôi vẫn nấu gởi lên.
Những mùa Lễ Giáng Sinh trôi qua trên đất nước Hoa Kỳ, con cháu đại gia đình thật vui nhộn, đầm ấm hạnh phúc. Thức ăn mỗi người một món theo kiểu Potluck để ngập bàn. Đêm thiêng liêng, không ai có thể quên Chúa Giê -su sinh ra đời, đêm Chúa xuống thế. Một đêm thần diệu đối với trẻ con được thỏa mãn ước mơ, và loài người được nhận thông điệp của hoà bình “Vinh danh Thượng Đế trên cao, bình an cho người dưới thế”. Ngày của sự sum vầy, gia đình yêu thương gắn bó hơn, mùa của sự rộn ràng chờ đợi, đâu đâu cũng nghe bài hát “Jingle Bells” Đêm Noel, đêm Noel, ta hãy cùng vui lên… Chúng tôi cảm tạ Chúa, sau đó ăn uống, chớp hình, hát Karaoke và tán gẫu. Mục sau cùng phát quà, cháu nào cũng dùng bao rác cỡ lớn chứa quà, bởi toàn bộ cô bác chú dì là mười một người chưa kể nhân đôi dâu rể. Hiện nay có thêm hai Chắt nữa, tổng cọng hai mươi mốt trẻ, chỉ tiếc ông bà cố đã qua đời. Số lớn nay đã ra trường đủ ngành nghề: Y, Dược, Luật, Y Tá, MBA (Quản Trị Kinh Doanh), Accounting Management, Kỹ Sư, chỉ Nha Sĩ là không có, tuy nhiên cũng có cháu thất bại trầm trọng, và một cháu bị bịnh Autism (tự kỷ), còn lại hai cháu đang học đại học.
Tôi thấy hơi đau lưng, đứng dậy vươn vai, quay qua nói với chồng:
– Mấy năm sau này mình giảm phần quà rất nhiều vì các cháu lớn đã có lương cao jobvững: chỉ tượng trưng hộp kẹo sô-cô-la , mấy cháu còn đi học cho tiền, hai cháu nhỏ gọi bằng bà cho quần áo, nên đã tăng tiền Homeless bên Mõ Nhân Ái của ông Lê văn Hải, (chủ nhiệm tờ báo Thằng Mõ) và nơi nhà thờ thuộc vùng Richmond mình vẫn gởi từ lâu.
Chồng tôi gật đầu hoan nghênh:
– Đúng rồi, bà tính vậy hay đó.
Nghĩ tới ông Lê văn Hải cũng là hội trưởng của cơ sở Văn Thơ Lạc Việt. Tôi vô cùng kính trọng cách sống hài hoà của ông, tấm lòng rộng rãi tràn đầy bác ái luôn nghĩ đến những người Homeless, thường tổ chức phát thức ăn và quà hàng tháng, chưa kể còn chia sẻ tình nghĩa với huynh đệ đời lính. Ông thường nói “Nếu bạn không biết cho đi, đồng nghĩa với việc bạn sẽ không biết thế nào là hạnh phúc”.
Qua Mỹ hai bàn tay trắng, bao nhiêu người sống chung một ngôi nhà, chỉ có vài chiếc xe cũ rích. Giờ đây đã có mười lăm ngôi nhà và mấy chục chiếc xe. Đất nước này cho chúng tôi nhận quá nhiều, những ông bà Boss Mỹ đầy ân tình, cuộc sống văn minh lịch sự dìu dắt, hướng dẫn chúng tôi từng bước, che chở hơn hai phần ba cuộc đời, tập tánh siêng năng phấn đấu để bây giờ tuổi già được nuôi dưỡng tiền hưu cũng như có bảo hiểm cover 80%, chúng tôi mua thêm 20% bên ngoài nữa, chỉ thua những người ăn tiền già được bảo bọc 100%, không tốn đồng nào.
***
Tôi đã làm xong các công việc gói quà, gởi card và nấu bún bò cho Boss.
Ngày lễ đến, đường phố toàn hình ảnh các ông già Noel xuất hiện. Trước những ngôi nhà trang trí màu sắc lộng lẫy, nơi này chưng hình chú Nai vàng lấp lánh, nơi kia giăng đèn trên các cành cây trước sân đủ màu xanh, đỏ, vàng, tím. Khung cảnh tràn đầy ấm cúng phủ bớt cái lạnh se thắt trong không gian. Đại gia đình chúng tôi tụ họp nơi nhà người em. Cây thông lấp lánh những quả châu, hoa tuyết trang trí, quà chồng cao vui mắt, thức ăn, thức uống đầy bàn.
Tuy gia đình chúng tôi theo đạo Phật, nhưng đêm lễ thiêng liêng… chúng tôi nguyện thầm “Lạy Phật, lạy Chúa… chúng con xin cảm tạ đêm hôm nay có được sự sum họp gia đình đầm ấm. Các cháu thì nhắc chữ “Emmanuel” (Thiên Chúa ở cùng chúng ta). Im lặng để biết ơn Phật Chúa, biết ơn cha mẹ, biết ơn thầy cô, biết ơn những anh Thương Phế Binh, những người lính VNCH, biết ơn nước Mỹ, “Biết Ơn Đời, Đời Sẽ Thương Ta” như cuốn sách của Dr Robert A Emmons đã cho tôi cảm nhận niềm diễm phúc đêm nay… đêm Noel.
Minh Thúy Thành Nội
You Raise Me Up –
Ngài Nâng Tôi Lên
Có lẽ ai trong chúng ta cũng đã từng nghe qua ít nhất một lần ca khúc bất hủ này. Tên của ca khúc là You Raise Me Up.
Đây là bài ca khởi nguồn từ một đoạn nhạc mở đầu (Prelude) cho album Silent Story của Secret Garden do nhạc sĩ Lovland sáng tác. Sau đó vị nhạc sĩ này đã đề nghị nhà soạn nhạc lừng danh và cũng là nhà văn người Ireland Brendan Graham viết lời ca.
Tưởng cũng nên biết ca khúc này dựa trên một câu chuyện rất đẹp.
Chuyện kể rằng:
Có một bạn trẻ kia than trách với Chúa sao những lúc cô đơn, đau buồn và thất vọng…Ngài lại vắng mặt?
Chúa không trả lời mà chỉ lẳng lặng cho anh xem một đoạn phim. Đoạn phim ấy chỉ ghi lại hình ảnh dấu in của hai đôi chân trên bãi cát biển.
Anh nói với Chúa:
Ồ, đây là lúc mà con đang thành công và hạnh phúc, đúng là Ngài đang bước đi bên con.
Thế rồi đoạn phim chiếu đến cảnh biển nổi sóng trong một ngày giông bão, trên bãi cát chỉ còn lại dấu in của một đôi chân.
Chàng trai trẻ nói ngay với Chúa:
Đó, Ngài xem! Lúc con gặp khó khăn, thử thách, Ngài để con lủi thủi một mình trong cô đơn và thất vọng.
Chúa hỏi lại chàng trai:
Con có biết đôi chân ấy là của ai không?
Anh đáp:
Hẳn là của con rồi!
Không, đó là đôi chân của Ta.
Vậy thì đôi chân của con đâu ạ?
Chúa âu yếm nhìn chàng trai và trả lời:
Lúc đó, Ta đang vác con trên vai của Ta đấy!
Và bài hát này chính là lời thổn thức của bạn trẻ ấy với Chúa:
When I am down, and, oh my soul, so weary When troubles come and my heart burdened be Then I am still and wait here in the silence Until you come and sit awhile with me
You raise me up so I can stand on mountains You raise me up to walk on stormy seas I am strong when I am on your shoulders You raise me up to more than I can be
Tôi mạn phép chuyển ngữ sát với giai điệu, để ca khúc này có thêm lời Việt sau đây:
Nghẹn ngào xa vắng
Hồn tôi băn khoăn ngập buồn đau
Đường đời đen tối
và xót xa chiếm tâm hồn
Bồi hồi lo lắng
Ôi cô đơn tâm tư rã rời
Kìa Chúa đến bên
Ủi an cho tôi bình yên
Ngài nâng tôi lên
cho tôi vững chân giữa núi đồi
Ngài nhấc cao hơn
an tâm bước qua biển khơi
Rồi thêm sức
cho tôi tin tưởng niềm vui sống
Ngài đỡ nâng tôi
đưa tôi đến nơi bình yên.
“You raise me up to walk on stormy seas” – Ngài nâng con lên vượt qua giông bão biển khơi.
Bắt nguồn cảm hứng về câu chuyện trong Kinh Thánh nói đến một môn đệ của Chúa Giêsu khi thấy Ngài bước trên sóng nước. Bằng cả đức tin tuyệt đối, ông xin Chúa: “You raise me up – Ngài nhấc con lên”. Kết quả phép lạ thật diệu kỳ, vị môn đệ ấy cũng được bước đi trên sóng nước.
Đó là câu chuyện của niềm tin và tình yêu bao la vào Đấng Quyền năng được kết dệt qua âm nhạc để trở thành một ca khúc tuyệt vời. Nhiều người cũng nhìn nhận ca từ của ca khúc này dưới góc độ một câu chuyện tình yêu lứa đôi tuyệt đẹp. Nhưng dù là đối với Thiên Chúa hay người tình thì cũng là những cảm xúc vô cùng mỹ diệu và cao thượng. Điều đó cho ta một triết lý: tình yêu và niềm tin cao thượng sẽ nâng chúng ta lên…
Tôi nghĩ rằng, đây là bài hát không riêng cho một tôn giáo nào, và có lẽ các bạn cũng đồng ý với tôi rằng, chúng ta không thể phủ nhận sự hiện diện Thượng Đế trong đời sống của kiếp nhân sinh. Thậm chí chính ngay những người vô thần hay chủ thuyết vô thần (Atheism) mà họ thường nào là: “Tôn giáo là liều thuốc phiện” với những “Duy Vật Biện Chứng” và “Loài người do khỉ mà ra…”
Cho tôi lan man ngoài lề một tí.
Thật ra, chính những người vô thần này họ lại tin thần linh hơn ai hết (Chủ nghĩa vô thần có ở cả người theo chủ nghĩa duy tâm lẫn cả người theo chủ nghĩa duy vật) Vì kinh nghiệm đã cho ta thường thấy nếu điều gì ngoài sức lực và kiểm soát của con người, họ thường chạy đến các thần linh để ước nguyện và cầu xin. Thí dụ muốn được những điều may mắn, được thăng chức, việc làm tốt; ăn nên làm ra, tai qua nạn khỏi… họ van vái bốn phương, muốn được nhiều tiền và giàu có; họ “hối lộ” thần linh. Họ mê tín,dị đoan, xem bói, cầu cơ, khấn xin, van vái Thần núi, Thần sông, Thần biển, Thần hồ…
Những điều này cho ta suy nghĩ và khẳng định gì?
Thưa, dẫu là vô thần, nhưng tận trong sâu thẳm tâm hồn, họ vẫn tin có Thượng Đế đã tạo dựng nên vũ trụ và vạn vật, để mỗi khi gặp hoạn nạn mà cầu cứu và van xin. Nghĩa là họ tin có Đấng Thần Linh, tin có Ông Trời dù rằng họ từ chối các tôn giáo mặc dù họ biết mọi tôn giáo luôn hướng con người đến điều thiện – lành…
Nhà Bác học Einstein (Thuyết tương đối) là một trong những nhà khoa học nổi tiếng nhất mọi thời đại nói rằng:
“Khoa học không có Tôn giáo là mù lòa…”
Thế nên người vô thần tự định nghĩa theo cách “Chủ nghĩa vô thần không phải là sự hoài nghi nơi các thần, hay chối bỏ các thần; mà là thiếu niềm tin nơi các thần”. Như vậy, chủ nghĩa vô thần vì sự hoài nghi và là sự thiếu niềm tin. Tư tưởng này phát xuất từ lòng kiêu ngạo mà trong Kinh Thánh cũng đã có đề cập: “Kẻ ngu dại nói trong lòng mình rằng, “Không có Thiên Chúa” (Thánh Thi 19:1; 97:6) Nghĩa là họ tự nhận mình trí tuệ vượt trội hơn niềm tin nơi Thiên Chúa.
Nhà bác học vật lý Newton trong thời đại chúng ta đã trải qua bao nhiêu năm tìm hiểu định luật vạn vật hấp dẫn chuyển động trong trái đất đã khẳng định rồi thốt lên rằng:
“Trong Kinh Thánh có nhiều biểu hiện chắc chắn về tính có thực hơn trong bất cứ một câu chuyện nào chống lại sách đó”
Cũng do thiếu thông tin đúng đắn để họ kết luận rằng chẳng có gì tồn tại ngoài vũ trụ. Những nguyên nhân đó khiến một số người xác nhận mình là vô thần và rồi kiêu ngạo.
Thiếu hiểu biết.
Thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết khái quát về địa lý, văn hóa, về không gian và thời gian trong Kinh Thánh, khiến họ nghi ngờ rồi tạo ra các ý tưởng suy diễn lý lẽ mù lòa theo cách của mình để vá víu vào các khoảng đó. Việc này thường dẫn tới suy luận tôn giáo sai lầm, cũng như thể kiến thức sơ sài về Thiên Chúa thường bị bôi nhọ bởi những điều siêu nhiên mà Thiên Chúa tạo dựng, nghe như thần thoại hay là một câu chuyện cổ tích. Cũng không ngoại trừ từ lòng đố kỵ và ác cảm của một số vị chức sắc, tu sĩ thù ghét tôn giáo, thậm chí bị ảnh hưởng vì những người mang danh là có đạo mà lối sống và hành vi của họ bề ngoài, thiếu công bằng, đen tối, tàn nhẫn và độc ác…
Trong thời gian vừa qua, chúng ta có lẽ đã thấy và nghe trên YouTube những bài thuyết pháp của những tu sĩ nói sai – cố ý nói sai để mạ lỵ và xúc phạm tôn giáo, gây hoài nghi niềm tin nơi những tín đồ có nhận thức giới hạn, tạo mất tình đoàn kết giữa các tôn giáo. Và nay, cái giá phải trả; các vị tu sĩ này đã bị cộng đồng mạng đồng loạt lên án và tẩy chay, làm ảnh hưởng xấu đến chính tôn giáo của mình.
Ý niệm về mọi tôn giáo và sự tồn tại của nó chính là “Cái Đẹp” – “Cái Đẹp cứu rỗi thế giới”.
Một người có cách sống đạo đức nằm ngoài các mệnh lệnh tôn giáo là điều rất cần thiết. Vì trong thế giới hôm nay, đã có một số người mà họ mất đi ý niệm về tội lỗi, nên đã gây ra những điều đau khổ cho con người.
Tôn giáo của người nào đó là điều cao cả và thiêng liêng bất khả xâm phạm trong trái tim người ấy. Tôn trọng Tôn giáo của người, có nghĩa là ta tôn trọng và làm rạng rỡ Tôn giáo của chính ta!
Trở lại bài hát You Raise Me Up.
Thường khi con người gặp những hoạn nạn, đau khổ, bất toàn, bất hạnh… Họ lại chạy đến cầu xin Thần linh.
Ước gì không phải lúc ta gặp hoạn nạn mới cần đến Thiên Chúa, mà ngay những lúc ta hạnh phúc, đầy đủ, sướng vui… Nhiều khi ta cầu xin liên lỉ điều này điều kia mà sao chẳng thấy được ban phát? Thế nhưng, biết đâu Ngài lại ban cho ta những điều khác, và chính những điều này mới là thật sự rất cần thiết mà ta chưa cảm nhận.
Trong sự quan phòng của Thiên Chúa, Ngài biết rõ ta cần gì!
Sau cùng, kính mời quý vị và các bạn mở YouTube để nghe ca khúc You Raise Me Up dưới đây.
Ca khúc này tôi đã viết thêm lời Việt như đã nói ở trên, cũng như sáng tác thêm đoạn kết (Coda) rồi hòa nhạc dựa trên phong cách nguyên thủy của bài hát theo link sau đây:
Quý vị và các bạn cũng có thể ươm giọng ca của mình vào ca khúc nổi tiếng này theo link karaoke kèm theo dưới đây:
Không quên xin cảm ơn nghệ sĩ Trúc Tiên đã thực hiện video diễn ảnh rất ý nghĩa.
Trân trọng,
Văn Duy Tùng
NHỮNG MÙA GIÁNG SINH TRONG KÝ ỨC
Nguyễn Hoàng Quý
Làng quê nơi tôi sinh ra là một vùng bán sơn địa thuộc thung lũng Quế Sơn, địa danh một thời nổi tiếng trong các trận qiao tranh giữa một bên là quân giải phóng và một bên là quân đội Đồng minh & VNCH. Quế Sơn ở phía Nam Đà Nẵng, cách chừng 60km, ở Tây Nam Hội An cách chừng 40 – 50km.
Thập niên 50 thế kỷ trước, ở quê tôi không hề thấy những Nhà Thờ Thiên Chúa Giáo, chỉ rải rác vài chùa Phật giáo, đa số là các Thánh thất Cao Đài ở nhiều xã trong quận.
Những năm học tiểu học, 1956 – 61, mỗi năm đi học được nghỉ lễ “Bấc” một tuần, cứ ngỡ là gió bấc. Lớn dần thì hiểu ra đó là Lễ Phục Sinh (Pâques). Con nít, nghỉ học là vui nên không quan tâm mấy, cũng không nhớ có nghỉ Noen hay không, nghỉ ít hay nhiều ngày vì mãi đến năm 1960, làng tôi mới có một Nhà Nguyện Công Giáo. Nhà Nguyện dựng trên đất nhà anh Năm Sắc con bà Luân, vách tranh, lợp tranh. Không rõ nơi này quy tụ được bao nhiêu người tới cầu nguyện theo lễ nghi Công giáo vì với đầu óc một cậu bé lên mười, điều chú ý không phải là việc này. Điều còn nhớ được là có một linh mục ở tỉnh về giúp đỡ mọi việc thời gian đầu, anh Năm Sắc xưng với ông là “Cha”, vợ con anh cũng xưng là Cha, Bà Luân, mẹ anh không đồng ý và nói rằng: “Nếu con và vợ con xưng với ông này là Cha thì dứt khoát các con của con phải xưng là “ông nội”!”. Chuyện hoàn toàn có thật, không mảy may thêu dệt vì người dân quê, khi chưa hiểu, dễ dị ứng với những cái mới.
Phải đợi đến cuối thập niên 60, khi tôi lên Đà Lạt học năm đầu đại học tôi mới có nhận thức tương đối đầy đủ về LỄ NÔ – EN, NGÀY GIÁNG SINH khi thành phố này có nhiều trường Công Giáo, nhiều Nhà Thờ, bạn bè tôi là con Thiên Chúa, Đại học Đà Lạt nơi tôi học là trường Công Giáo. Khi nhà Thờ Con Gà, Domaine de Marie, nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, các xóm đạo từ số 6 vào Thánh Mẫu đều trang trí mừng Giáng sinh, lòng mình rộn lên những cảm giác vui tươi khi nhìn và nghĩ đến câu: “Sáng danh Thiên Chúa trên Trời/ Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Có một lần anh em tôi vào nhà thờ Dòng Chúa Cứu thế đêm 24.12, được nghe từ đó tiếng đàn harmonium dạo bài “Đêm Thánh vô cùng” (Silent night – Holy night) và bài “Hang Bêlem”. Tiếng đàn thoát ra từ bên trong bức tường đá của Nhà Thờ rất tuyệt. Chỉ đến sau này, có lần đến Nhà Thờ Kỳ Đồng Sài Gòn cũng đêm Giáng Sinh mới được nghe lại, y hệt, dù ở đây ồn ào hơn do xe cộ chạy qua.
Về Huế, tôi được tiếp xúc với Linh mục Trần Thắng Trung là tuyên úy Công Giáo, về sau Cha về quản lý Tòa Giám mục, tôi gặp Soeur Marie de Bernard, Soeur Jean du Calvaire Kim Thúy. Hai chị tu dòng Saint Paul, làm việc thiện nguyện ở BV Trung Ương Huế. Cha Trung và các chị vốn có giao tình với chị ruột tôi ở Đà Nẵng từ trước nên coi tôi như con – em, luôn dành cho những tình cảm yêu thương và ai cũng muốn tôi “trở lại đạo”. Có lẽ tôi không nhận được sự quan phòng của Thiên Chúa nên dầu ngày ấy, tôi đi lễ chúa nhật với người bạn cùng phòng ở ký túc xá, đọc Thánh Kinh, tôi vẫn chỉ dừng lại ở việc nhận Hồng Ân của Người. Vào cuối tháng 12, khi thời tiết bên ngoài rất đẹp, trời không còn mưa, có ngày nắng vàng trải trên khóm cây các sân nhà thờ đã trang trí thông Nô – en, máng cỏ, hang lừa lòng tôi vẫn rộn lên những nao nức và nghĩ đến việc dọn mình chờ đợi đón mừng ngày Chúa Giê su Ki tô chào đời.
Đến nhà thờ xem lễ Giáng Sinh, nghe Phúc Âm, nghe Thánh Ca cũng như nghe các Cha giảng, tôi thấy lòng mình thanh thoát, những bài giảng của các Cha luôn giúp ích cho việc bảo tồn trật tự xã hội khi con chiên thực hiện đúng 10 điều răn của Chúa. Tôi cũng đã dự một vài Thánh lễ cưới của người thân, Thánh lễ luôn đem lại cho mình cảm giác vui mừng cho hạnh phúc của cô dâu chú rễ nhất là khi giáo luật có những điều ràng buộc họ với nhau để biết nhẫn nhịn trong cuộc sống hàng ngày theo kiểu “Chồng giận thì vợ bớt lời. . . “.
Khi ra trường đi dạy, tôi có vài lần dự lễ mở tay của học trò cũ ở ngay chính giáo xứ mình sinh ra, tôi mặc complet, thắt cravat như đi họ đám cưới vì, cũng giống như dự lễ khấn của các nữ tu (khấn tạm, khấn lại, khấn trọn đời) đều không khác lễ cưới của người ngoại đạo. Có lần tôi dự Thánh lễ nửa đêm ở Nhà Thờ Đồng Dài, cách nhà chừng 15km. Lễ xong về dự tiệc canh thức ở nhà riêng của Chủ tịch Hội Đồng Giáo xứ có Cha chánh xứ và các chức sắc nhà thờ cùng tham dự. Tất cả những việc này và còn nhiều nhiều nữa đã luôn nằm ở một ngăn đẹp trong tủ đựng những kỷ niệm đời mình. Do vậy, cứ đến đầu tháng 12 hàng năm là bao nhiêu kỷ niệm với đất, với người trỗi dậy để thấy mình trẻ lại và lòng mình ấm áp.
Cha mẹ tôi thờ Ông Bà, về sau, tôi tìm hiểu đạo Chúa, tuổi trung niên, tôi tìm hiểu đạo Phật, đọc sách Phật và sống theo giới luật của một Phật tử nhưng trong tôi luôn có một Đấng Toàn Năng chi phối mọi con người. Với tôi, đấng Toàn Năng đó là Thiên Chúa Ba Ngôi, luôn yêu thương và cứu chuộc trần gian.
TRÁI TIM TỪ BI CỦA NGƯỜI THỢ XỨ LÁ PHONG -Adèle Bibaud- 1173 words
Người người đều quấn mình thật ấm, họ bước đi rất nhanh, trời quá rét. Mọi người đều lo âu vội vàng để chạy nhanh về tổ ấm: lưới trượt của những xe trượt tuyết rền lên trên con đường lớn ở Mile-End *, gió rít thật xé tai làm đám tuyết ụn thành đống dưới chân những cây cao phủ đầy sương giá, trước đó trận bão đã làm rung chuyển những cánh tay sầu não của chúng. Những hạt bông tuyết xoáy tròn trên không, như thể bụi mù vùng sa mạc, làm mất hướng nhìn của người bộ hành. Hôm ấy thật sự là một buổi tối Giáng Sinh, thời tiết xuống hai mươi lăm độ âm. Ở khúc ngoặt con đường, một đám nhà nhỏ nghèo nàn đang khoe chùm mái đổ nát. Nào ta hãy vào căn đầu tiên nhé: có bốn người: họ đang ở căn phòng phía trước, hai người phụ nữ, hai đứa bé.
Bọn nhỏ đang lăn lộn, đùa giỡn, rồi cãi nhau. Ở lò sưởi, từ cái nồi bóng loáng như gương mặt của một người Phi Châu, tiếng ồng ộc của món súp hầm tỏa ra mùi vị thật ngon. Trên bàn, bốn bộ thìa dĩa dao đặt ngày ngắn với chiếc khăn trải thật tươm tất, một miếng bơ, một miếng phó mát, một cái liễn bằng sành chứa đầy sữa, một ổ bánh mì. Họ chỉ còn chờ người chủ gia đình. Trên tủ bếp, một bức tượng của thánh Antoine, cánh tay bị gãy đang bế chúa Hài Đồng Giê Su do một phép mầu, ở dưới chân bức tượng thì một con ngựa gỗ đang kéo xe ba gác, cái xe này cũng đã qua cuộc chiến nên chỉ còn ba bánh xe; ở đầu bên kia của tủ thì bên dưới một quả cầu thủy tinh có hai bàn tay bằng sáp đang chắp vào nhau thật chặt, trên một cái khay bằng nhung đỏ; rồi xa hơn là một cái bình thủy tinh không quai, hai cái tách bị rạn nứt, một con chó bằng gốm, một con cừu với người chăn, tất cả những thứ này làm đồ trang trí cho căn nhà và được sắp xếp một cách không thứ tự và thật xa con mắt mỹ thuật. Trên tường thì treo lủng lẳng xoong nồi và dụng cụ nhà bếp. Ngoài ra, còn mấy cái ghế khập khiễng, một cái ghế trường kỷ xếp được dùng làm tủ, đó là toàn bộ đồ nội thất trong phòng; cho dù với sự nghèo nàn thiếu thốn, căn phòng vẫn toát ra một không khí thoải mái vì tất cả đều thật sạch sẽ chu đáo.
Tiếng gù gù của chú mèo nằm trên chiếc ghế đẩu cũ kỹ cho biết rằng thực khách này của căn nhà hèn mọn được yêu thương và cưng chiều như thế nào.
Hai người phụ nữ rì rầm nói chuyện với nhau, thỉnh thoảng đôi mắt của người trẻ bị mờ đi vì ngấn lệ.
– Tội nghiệp cô ấy quá, bà nói. Cô ấy sẽ không sống nổi. Ai sẽ chăm sóc con của cô ta? Lúc trước khi tôi bị bịnh, chính cô ấy đã chăm lo bọn nhóc của tôi. Ôi, giá như ông nhà tôi muốn làm điều đó!… nhưng mùa đông năm nay thật khắc nghiệt, quá khắc nghiệt, nên tôi không dám hỏi ông ấy, chị biết không, tôi thật đau đớn nghẹn ngào mỗi khi sang thăm cô hàng xóm. Ban đêm tôi không thể ngủ bởi vì tôi đã đọc được trong đôi mắt to sắp tàn lịm của cô ấy điều mà cô ấy muốn hỏi tôi nhưng không dám, cô ấy chờ tôi sẽ mở lời trước.
– Chị nghĩ cô ấy sẽ không qua khỏi hay sao?
-Chị ạ, cô ấy bị viêm phổi, và khi đã bị bịnh này rồi thì thua thôi, cộng thêm với nỗi lo âu về sự nghèo đói, rồi ý nghĩ phải để con mình lại cho người lạ nuôi lại càng làm cho cô ấy suy mòn nhanh hơn nữa, ôi thương quá.
Người thiếu phụ trẻ lấy vạt tạp dề lau nước mắt đang từ từ chảy dài xuống.
Rồi, may sao, cánh cửa đột ngột mở bật ra và một luồng gió mạnh mang theo những mảng tuyết ào vào nhà cùng với một người đàn ông cao to trông rất hoạt bát khỏe mạnh có dáng một lực sĩ, nét mặt nghiêm nghị, nhưng có vẻ chân thành và lương thiện.
– Ôi, với khí hậu chết tiệt này, về nhà thích làm sao, trời ạ! tôi tưởng là cơn bão tuyết sẽ chôn sống tôi ngoài đường rồi chứ! Rốt cuộc ta cũng về đây rồi. Ông ấy vừa nói vừa ném cho bọn nhóc một túi kẹo hạnh nhân.
– Này các con, ngày mai là lễ Giáng Sinh rồi đó, chúa Hài Đồng Giê Su không quên các con đâu này; nhưng mà này đừng có mà kiện cáo hay cãi cọ đấy nhé.
-Ba!
Hai đứa bé chạy đến bên cha, một đứa ôm lấy chân ba chúng, đứa kia thì leo lên vai, còn ông ta thì ôm hôn các con, thảy chúng lên trên cao, đứa này rồi đến đứa kia, rồi đến bên vợ mình.
– Cái gì thế này, hôm nay lại có nước mắt ư, điều gì làm cho em ray rút thế, đây là lần thứ hai trong tuần mà ta thấy em khóc, điều này không bình thường rồi. Em không tin tưởng nơi ta để nói cho ta biết việc gì làm em buồn khổ sao? Hôm nay là một ngày tốt, ta làm việc rất có kết quả và ta muốn tất cả mọi người đều hạnh phúc trong ngôi nhà này. Nào, hãy nói ngay cho ta biết em cần điều gì nào.
Người thiếu phụ trở nên sợ sệt.
– Chắc là anh sẽ rầy la em mất thôi.
– Em nói đi.
– Đây ạ! Anh biết không, cô hàng xóm tội nghiệp, cô ấy sắp ra đi, rồi con của cô ta…
-A! đúng rồi, cô nàng khốn khổ tội nghiệp, anh quên khuấy đi mất, rồi con cô ta, đúng vậy, thật buồn cho cô ấy quá.
– Nếu anh muốn..
– Này mẹ nó, nếu như con của cô ấy làm cho em xúc động và lo âu, thì em hãy qua bồng nó về đây đi, đó là món quà của em đó. Ta sẽ làm việc thêm, về trễ một chút, như thế sẽ có đủ cái ăn cho tất cả chúng ta.
Thế là trong cái đêm mà con của Chúa Cha xuống trần thế để cứu rỗi nhân loại, thì bên trong ngôi nhà nhỏ bé ấy, cái nôi mà lâu nay đã đem cất trên gác xép, lại được mang xuống để đón nhận một em bé gầy còm yếu ớt, và cùng lúc đó linh hồn của một kẻ đọa đày vì nghèo khổ đã bay lên trời, với vẻ bình tâm mãn nguyện.
Adèle Bibaud – TL dịch
* Mile-End: khu phố thuộc thành phố Montreal, Quebec, Canada.
CÂU CHUYỆN SAU ĐÊM GIÁNG SINH
KHUYẾT DANH– TL dịch -679 chữ
Một khi những người chăn chiên đã ra đi và mọi việc đã trở nên yên tĩnh trở lại, em bé trong máng cỏ ngẩng đầu lên và nhìn về phía cánh cửa hé mở. Một câu bé đang đứng đó, e dè bẽn lẽn… rụt rè và sợ sệt.
– Đến đây nào cậu bé, Chúa Giê-Su bảo. Tại sao con e sợ đến vậy con?
– Dạ bẩm, con không dám…Con không có gì để tặng ngài cả, cậu bé trả lời.
– Ta ước mong cậu sẽ tặng cho ta một món quà biết bao, bé sơ sinh nói.
Cậu bé xa lạ đỏ mặt lên vì hổ thẹn.
– Thật sự con không có gì cả , thưa ngài… con không sở hữu được bất cứ gì cả ạ; nếu như con có món gì, con sẽ tặng ngài …ngài xem đây ạ.
Rồi moi móc lục lọi trong hai túi quần vá chằm vá đụp của mình, cậu bé lôi ra một lưỡi dao cũ đã rỉ sét .
– Dạ con chỉ có chừng này thôi, nếu ngài muốn con xin tặng ngài ạ.
– Không đâu, con cứ giữ đi, chúa Giê-Su trả lời. Ta muốn những thứ khác của con kia. Ta muốn con cho ta ba món quà.
– Con rất hân hạnh, thưa ngài, cậu bé nói, nhưng con sẽ làm gì cho ngài ạ?
– Hãy tặng ta hình vẽ sau cùng của con đi.
Vẻ mặt của cậu bé trở nên lúng túng và đỏ rần lên . Cậu ta bước đến gần máng cỏ và để tránh cho Marie và Joseph không thể nghe mình nói gì, cậu thì thầm vào tai Chúa Hài Đồng Giê-Su:
– Thưa ngài, con không thể… hình con vẽ quá tệ hại xấu xí…không ai muốn nhìn thấy đâu ạ!
-Con ạ, chính vì nó xấu nên ta mới nói con đưa cho ta, em bé trong máng cỏ trả lời…Con phải luôn luôn tặng cho ta tất cả những gì người khác gạt bỏ đi, và những gì mà chính con cũng không ưa thích.
-Và nữa nè, ta muốn con đưa cho ta cái đĩa của con, em bé tiếp tục.
-Nhưng mà sáng nay con đã làm bể đĩa mất rồi, thưa ngài! chú bé ấp úng trả lời.
– Bởi vì vậy nên ta muốn con đưa cho ta… Con luôn phải tặng cho ta tất cả những gì bị gãy bể trong suốt cuộc đời của con, ta muốn dán chúng lại…
– Còn bây giờ con hãy lập lại cho ta nghe con đã trả lời ba mẹ con như thế nào khi họ hỏi lý do làm sao con đã làm bể cái đĩa, Chúa Giê Su nhất định hỏi để xem chú bé kể lại sự việc ra sao… Chú bé liền sa sầm nét mặt, cúi mặt xuống, xấu hổ và nói thì thầm một cách buồn bã:
-Con đã nói dối.. con đã nói rằng vì sơ ý nên cái đĩa đã tuột khỏi tay con; nhưng sự thật thì không phải như thế.. Lúc đó con đang tức giận và con đã đẩy mạnh cái đĩa cho nó rớt xuống nền gạch hoa và đã vỡ ra!
– Con ạ, đó chính là điều ta muốn con thổ lộ ra! Chúa Giê Su nói. Con hãy giao hết cho ta tất cả những thứ xấu xa phiền toái trong cuộc đời của con, nào là những điều dối gian, những lần vu khống, những sự hèn nhát và những điều ác độc của con. Ta muốn con hay trút hết những gánh nặng đó cho ta…Con không cần đến những thứ đó… Ta muốn làm cho con luôn hạnh phúc vui sướng và con hãy nhớ rằng ta luôn luôn tha thứ cho những lỗi lầm của con, con ạ.
Rồi vừa ôm hôn cậu bé vì đã tặng mình ba món quà đó, chúa Giê Su nói:
– Bây giờ thì con đã biết đường dẫn đến Trái Tim của ta rồi, ta ước mong mỗi ngày con đều đến thăm ta con nhé.
KHUYẾT DANH– TL dịch
Nếu Ông Già Noel quên ghé thì…
Mone Dompnier –thailan dịch
CÂU CHUYỆN THẬT CỦA MỘT NGƯỜI BẠN BÊN PHÁP VÀ THẬT ĐAU, KHI NGHĨ VỀ CÁC VỊ ANH HÙNG TRONG QLVNCH- BAO NHIÊU THÁNG NGÀY GÔNG CÙM TÙ TỘI, MỘT MẪU ĐƯỜNG ĐEN, ĐƯỜNG BÁT (Đọi) LÀ CẢ MỘT KHO TÀNG- THƯƠNG ĐAU!!
Một buổi sáng Giáng Sinh. Dưới gốc cây thông, những tờ giấy màu bị xé toạc, những chiếc hộp mở toang cả ra, và bọn trẻ thì phấn khích giữa bao nhiêu là quà mà ông già Noel mang đến cho chúng vào đêm qua. Bà tôi thì ngồi hơi xa một chút, đang mỉm cười khi thấy niềm hạnh phúc và sự ngạc nhiên vui thích của các cháu.
– Bọn nhỏ này được cưng chiều quá chừng. – Bà nói khẽ, có vẻ như bà sợ rằng tôi sẽ nghĩ bà trách móc khi thấy vô số đồ chơi và những thiết bị tân thời cho những môn chơi trên máy như thế.
Đúng là tôi không thể cưỡng lại để lựa chọn khi lướt qua các món ở cửa hàng đồ chơi. Là thú vui của tôi khi chọn từng món đồ và chắc chắn sẽ khiến các con reo lên vì thích thú. Đem giấu tất cả những món ấy đi. Rồi cuối cùng sắp chúng dưới gốc cây thông, với niềm nôn nao chờ đợi giây phút khi bọn nhỏ thức dậy và khám phá…
– Cháu biết không, bà vẫn nhớ một Giáng Sinh từ thời thơ ấu. Từ rất lâu lắm rồi…
*
Một đêm đầy sao, lạnh cóng. Một cô bé trằn trọc, quay qua quay lại trên giường, quá bồn chồn để có thể nhắm mắt. Ở trường, chiều nay cô giáo đã kể về ông già Nô En, các chú tuần lộc và chiếc xe trượt tuyết của ông ấy, những món quà ông phân phát cho trẻ em.
– Và chẳng mấy chốc, ông sẽ đi qua tất cả các trang trại của làng. Nếu con đã tỏ ra ngoan ngoãn trong suốt năm học, ông ấy sẽ mang đến cho con một món quà vào đêm Giáng Sinh. Nhưng các con đừng quên đặt đôi guốc của mình trước lò sưởi con nhé.
Bọn trẻ nghe cô giải thích, vẻ kinh ngạc. Cô giáo trẻ của họ đến từ thành phố, cô ấy biết rất nhiều, cô ấy không thể sai được. Vì vậy, khi Sylvie về nhà cũng kể mọi chuyện cho cha mẹ và các chị nghe, và em cũng mang đôi guốc gỗ của mình đặt ngay ngắn trước lò sưởi, như lời cô giáo đã dặn dò.
Nhưng sau khi làm điều đó, bé cũng có vẻ bồn chồn lo âu.
– Nếu ông già Nô En quên đến nhà mình thì sao? Trang trại của chúng ta ở trên dốc rất cao của ngôi làng. Có lẽ ông Nô En sẽ không nhìn thấy nhà của ta đâu, Ba Mẹ ạ.
– Bé cưng của mẹ, con đừng lo, con ạ. Trước khi đi ngủ, ba mẹ sẽ máng đèn lồng ở cửa chuồng ngựa nhe con. Đôi mắt các chú tuần lộc rất tinh tường, chúng sẽ nhìn thấy, con yên tâm nhé con.
Đêm ấy, cô bé Sylvie thật khó mà dỗ giấc ngủ. Nếu như mình vẫn còn thức, có lẽ mình sẽ nghe
tiếng ông già Nô En và chiếc xe trượt tuyết với tiếng chuông rung trên con đường đầy tuyết. Nhưng cô chỉ nghe thấy những lời thì thầm, tiếng cười thật khẽ vọng lên từ dưới nhà bếp. Cô bỗng nhìn thấy một tia sáng vàng giọi lên ở khe gỗ sàn nhà. Và nhìn lên ô kính cửa sổ, những hạt bông tuyết lấp lánh thật đẹp. Cha cô đã treo đèn lồng lên rồi. Sylvie mỉm cười, yên tâm. Và rồi cuối cùng đêm tối cũng mang bé đi vào giấc mộng đẹp.
Khi cô mở mắt ra… “Ôi, hôm nay là Giáng Sinh rồi!”
Một niềm hy vọng to lớn làm tim cô đập rất mạnh. Vẫn còn đang mặc áo ngủ, đi chân trần, cô
chạy ngay đến đôi guốc của mình, và nhìn thấy góc một chiếc khăn tay ca rô màu xanh trắng nhô ra, giống như khăn của cha mình.
– Ôi, con có quà nè! Ông Nô En đã tặng con một món quà! Cha ơi, Mẹ ơi!
Bên trong chiếc khăn tay… là một miếng đường thật to! Chỉ của mình con thôi phải không?
– Cha nhìn này! Có phải thật sự là của riêng con không?
– Ôi, đúng rồi đó con. Chắc là ông già Nô En biết rằng con là một đứa bé rất thích ăn quà đó con.
Các chị của cô bé cười vang khi thấy bé vui thích. Họ biết rằng thỏi đường mà cha để bên trong chạn thức ăn được bọc cẩn thận trong một chiếc khăn, là nỗi thèm thuồng của cô bé mỗi khi cha cô lấy con dao nhíp nạo một miếng nhỏ cho bé, đôi mắt bé sáng lên như muốn nói cha cho thêm tí nữa… Sau đó cô bé liếm ngấu nghiến những đầu ngón tay một cách tiếc nuối. Vậy mà giờ đây cô sở hữu nguyên cả một miếng thật to, chỉ riêng cho mình cô thôi!
– Đừng ăn hết một lần con ạ, cha bảo cô bé.
Ôi không, đẹp quá, ngon tuyệt quá, phải kéo dài niềm hạnh phúc này càng lâu càng tốt. Mở khăn tay ra và rón rén liếm cục đường nhiều lần trong ngày thật vui thích biết bao! Cô bé nóng lòng chờ đợi cho hết ngày lễ để kể về món quà của mình cho cô giáo, một người dạy học biết rất nhiều câu chuyện tuyệt vời.
Và rồi khi cô giáo vừa cười vừa hỏi bọn trẻ về kỳ nghỉ lễ của chúng, thì Sylvie là người rất nóng lòng nên đã lên tiếng trước, cô bé có rất nhiều điều để kể. Chiếc đèn lồng trong đêm, chiếc khăn tay trắng xanh, miếng đường… Nhưng, đến khi cô kể xong câu chuyện và im tiếng thì tất cả bạn bè cô bé trở nên im lặng một cách kỳ lạ.
Ở ngôi làng miền núi này, nơi mà sự nghèo đói, thậm chí khốn khổ, đã càn quét toàn vùng, thì chỉ có Sylvie được Ông già Noel đến thăm vào ngày 25 tháng 12. Những đôi guốc của bạn bè cô bé vẫn trống rỗng một cách đáng thương trước lò sưởi.
– Có lẽ chúng ta không ngoan như lời ông Nô En dặn dò rồi, cô bé Marie thốt lên một cách buồn bã.
Trên bục giảng, nụ cười cô giáo bỗng trở nên héo hắt và đôi mắt cô đẫm lệ.
*
Tôi cũng nhìn thấy đôi mắt của Sylvie ướt đẫm khi bà vừa kể cho tôi nghe ngày ấy niềm hạnh phúc của bà bỗng chốc tan biến khi nhận thấy nỗi buồn của các bạn trong lớp, những người khốn khổ mà ông Nô En đã quên ghé nhà chúng.
Ôi bài học về cuộc đời mà bà Ngoại đã truyền cho tôi qua câu chuyện trên thật quý hóa biết dường nào!
Bà có biết chăng món quà Giáng Sinh mà bà vừa ban tặng cho tôi mang ý nghĩa như thế nào đối với tôi không?
Con xin dâng tặng câu chuyện này cho bà ngoại S. của con, đã kể cho con nghe về lễ Giáng Sinh của bà thời thơ ấu, năm 1900.
Đây là bài số bảy trăm bốn mươi (740) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ ORTB.
Gần ngày Lễ Giáng Sinh ai nấy bận rộn mua sắm quà tặng cho nhau và nấu nướng ăn uống cho buổi cơm tối sum họp gia đình mừng lễ Giáng Sinh.
Thực tế thì ai cũng than rằng mình bận suốt năm suốt tháng. Người trẻ bận lo bon chen trong cuộc sống hằng ngày nơi hảng xưởng, xí nghiệp; người già thì bận “giúp nhau tìm lại niềm vui” trong những buổi họp mặt của các tổ chức dành cho người cao niên. Chỉ có những cụ già sống âm thầm lặng lẻ nơi những viện dưỡng lão hay sống neo đơn một mình là không bận mà thôi!
Người trẻ người già, người nào cũng có những giây phút bận rộn trong cuộc sống. Chính những giây phút bận rộn đó đôi khi lại có ích cho đời sống tinh thần và sức khỏe của bạn hơn là “ăn không ngồi rồi” đấy vì người xưa vẫn thường nói “Nhàn cư vi bất thiện” dù rằng có người đã nói: “Bận rộn khiến cho ta không thấy được cái đẹp của người mà ta thương yêu”.
Chữ Nhàn ở trong câu “Nhàn cư vi bất thiện” chỉ sự làm biếng, không thích làm việc gì cả, khác với thú hưởng nhàn tao nhã của các bậc văn nhân trí sĩ như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi đã:
“Trong lang miếu, ra tài lương đống
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương
Làm sao cho bách thế lưu phương
Trước là sĩ, sau là khanh tướng »
Bạn đồng ý chăng ?
Khi bận rộn với cuộc sống, người già hay người trẻ cũng cần biết sắp xếp thứ tự ưu tiên và giá trị của những sự việc phải làm, để giải quyết công việc thế nào cho hợp lý và có lợi ích tối đa. Sau đó, cũng phải biết dành thời giờ để nghỉ ngơi, trò chuyện với bạn bè chứ lị.
Xin mời bạn đọc mẫu chuyện dưới đây để biết cách giải quyết những cái bận rộn của ta một cách hữu hiệu, bạn nhé:
Cái bình rỗng và hai tách cà phê
Giờ triết học, vị giáo sư già ngồi yên ở bàn với một số đồ lỉnh kỉnh trước mặt. Khi giờ học bắt đầu, giáo sư không nói lời nào mà đặt một cái bình lớn lên trên mặt bàn và đổ đầy vào đó những quả bóng bàn. Sau đó ông hỏi tất cả sinh viên trong lớp và mọi người đều đồng ý rằng cái bình đã đầy.
Tiếp đó, ông giáo sư lấy ra một hộp đầy sỏi nhỏ và đổ chúng vào bình. Ông lắc nhẹ cái bình, sỏi rơi đầy các kẽ hở giữa những quả bóng bàn. Một lần nữa ông hỏi các sinh viên của mình và tất cả đều đồng ý là cái bình đã đầy.
Tiếp tục công việc, vị giáo sư lấy tiếp một cái hộp đựng đầy cát và trút tất cả số cát vào bình. Tất nhiên là cát nhanh chóng lấp đầy những kẽ hở còn lại.
Thêm một lần nữa giáo sư hỏi cả lớp chiếc bình đã đầy chưa. Lần này, rất quả quyết, đám sinh viên trong lớp khẳng định cái bình không thể chứa thêm một thứ gì nữa.
Mỉm cười, vị giáo sư ra ngoài lấy hai tách cà phê rồi trút cả vào trong bình. Ðám cát có sẵn nhanh chóng hút hết, và cà phê đã lấp đầy khoảng trống dù rất bé nhỏ giữa những hạt cát.
– “Nào các trò”, ông giáo sư ngồi xuống ghế và bắt đầu. “Tôi muốn các trò hãy coi cái bình này như cuộc sống của các trò. Những trái bóng bàn kia là những thứ quan trọng nhất trong cuộc sống của các trò: Gia đình, con cái, sức khoẻ, những người bạn và những niềm đam mê. Nếu những thứ đó còn, cuộc sống của các trò vẫn coi như hoàn hảo”.
Những viên sỏi kia tượng trưng cho những thứ khác trong cuộc sống như công việc, nhà cửa hay xe hơi.
Cát là đại diện cho những điều vặt vãnh khác. Nếu các trò bỏ cát vào bình đầu tiên, sẽ không còn chỗ trống cho sỏi hay bóng bàn. Cuộc sống cũng thế. Nếu bỏ quá nhiều thời gian, sức lực cho những thứ vặt vãnh, các trò sẽ không còn thời gian cho điều gì quan trọng hơn.
Những thứ cần quan tâm có thể là những thứ quyết định hạnh phúc của các trò. Ðó có thể là chơi với bọn trẻ, có thể là bỏ thời gian để đến khám bác sĩ định kỳ, có thể là dành thời gian ăn tối cùng gia đình, cũng có khi chỉ là công việc dọn dẹp nhà cửa và tống khứ đi một số thứ không cần thiết.
Hãy quan tâm đến những trái bóng bàn đầu tiên, những thứ thật sự quan trọng. Hãy biết ưu tiên cái gì đầu tiên. Những thứ còn lại chỉ là cát thôi.
Có một cánh tay đưa lên và một câu hỏi cho giáo sư: “Vậy cà phê đại diện cho cái gì thưa giáo sư?”
Ông giáo sư mỉm cười: “Tôi rất vui khi trò hỏi câu đó. Cà phê có nghĩa là dù trò có bận rộn với cuộc sống của mình đến đâu thì vẫn luôn có thời gian để đi uống một tách cà phê với bạn bè”.
Hạnh Giảidịch
(Nguồn: Sưu tầm trên internet)
Mời bạn thưởng thức tách cà phê thơm ngon đầy thiền vị qua youtube do người viết thực hiện dưới đây:
Youtube Tách Cà phê Thiền Vị
Người viết thiển nghĩ: bài viết nói trên rất hữu ích cho tất cả mọi người dù ở lứa tuổi nào vì đã giúp ta cân phân nặng nhẹ những việc chúng ta cần phải làm và vui nhất là dù chúng ta có bận rộn đến đâu, chúng ta vẫn có những giây phút nhàn nhã trong cuộc sống là đi uống cà phê với bạn bè. Bạn thấycó vui chăng?
Lại một năm mới sắp đến, chúng ta lại sẽ bận rộn với những tiệc tùng mừng năm mới, với những chương trình kế hoạch cho năm sắp đến và rồi cũng sẽ lo lắng cho “nhan sắc ngày một tàn phai’ với những “dấu chân chim” trên mí mắt đối với quý bà, với mái tóc “càng ngày càng thưa dần” đối với qúy ông.
Thế là người viết lại phải ra công tìm tài liệu nào giúp cho quý bạn tuổi ”không còn trẻ nữa” như người viết đọc cho thấy vui vui một tí trong năm mới sắp đến.
May thay, một người người em văn nghệ của người viết từ phương xa. mới gửi đến tôi một tài liệu khá hợp tình hợp cảnh cho tuổi già. Người viết bèn “chôm” ngay để làm món quà chúc năm mới cho quý cụ cao niên nhé. Thật là “của người phúc ta”.
Lời khuyên cho người cao tuổi
3 QUÊN
Một quên mình tuổi đã già
Sống vui, sống khỏe, lo xa làm gì.
Hai là bệnh tật quên đi
Cuộc đời nó thế, chuyện gì nhọc tâm
Ba quên thù hận cho xong
Ăn ngon ngủ kỹ để lòng thảnh thơi.
4 CÓ
Một nên có một gia đình
Vì không – homeless – người khinh lẽ thường
Hai cần phải có nhà riêng
Đói no cũng chẳng làm phiền dâu con
Ba là trương mục ngân hàng
Ít nhiều tiết kiệm sẽ an tuổi già
Ba cần có bạn gần xa
Tri âm, tri kỷ để mà hàn huyên.
5 KHÔNG
Một không vô cớ bán nhà
Dọn vào chung chạ la cà với con
Hai không nhận cháu để trông
Nhớ thì thăm hỏi bà ông, cháu mừng
Ba không cố gắng ở chung
Tiếng chì, tiếng bấc khó lòng tránh đâu
Bốn không từ chối yêu cầu
Ít nhiều quà cáp con, dâu cho mình
Năm không can thiệp nhiệt tình
Đời tư hay việc riêng mình của con.
Không thầy đề tên tác giả
(Nguồn: tài liệu do email bạn gửi)
Chúc quý bạn có nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc, sống vui từng ngày trong hiện tại với duyên nghiệp của mình nhé.
Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn
Sương Lam
(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi-MCTN 740-ORTB 1171-121024)
SA CHI LỆ – YouTube Hồi Ký Hành Trình Tỵ Nạn – Con Đường Sinh Tử – Tập 28, & Khóc Bạn – Bài Hát Về Tăng Minh Phụng – Thơ: Sa Chi Lệ – Nhạc: Võ Tá Hân – Ca sĩ: Kana Ngọc Thuý.
NGỌC HẠNH: Dự Đám Cưới Mỹ BOSTON và Thăm NEWPORT, Rhode Island.
Dự Đám Cưới Mỹ BOSTON và Thăm NEWPORT, Rhode Island
Năm nay vùng Hoa Thinh Đốn trời lạnh sớm hơn mọi năm. Giữa tháng 11 đã có tuyết đầu mùa. Không nhiều lắm, lất phất bông tuyết nhỏ nhỏ rơi xuống đất độ 5, 10 phút là tan. Tuy nhiên trời lạnh. Ban đêm 33 độ F -36 độ F. Ban ngày phần lớn nắng đẹp lắm, vàng tươi. Các loại hoa như impatient hay petunia hoa lá héo úa, thấy tội nghiệp. Hoa Pansy không sao, xanh tươi như cũ. Loại hoa này chịu được lạnh suốt mùa Đông.
Những hôm thời tiết xấu Vân thường ở nhà, ai rủ đi đâu cũng từ chối dù Vân đã chích ngừa cảm và dịch Covid đủ 5 lần. Đi ra ngoải lạnh lẽo rủi bịnh bất tử mất thì giờ đi bác sĩ, chờ đợi lâu lắc và tốn tiền mua thuốc, không đáng.
Nhìn cây trụi lá hoa héo tàn Vân nhớ lại lúc cả nhà đi Boston vào đầu mùa Hè. Lúc ấy thời tiết mát mẻ ,nhà nhà sân cỏ xanh mướt, hoa tươi thắm khắp các siêu thị, tư gia, công viên… nhìn thật mát mắt.
Thời gian ấy có đám cưới cháu ngoại người bạn thân. Chị bạn mời cả, Vân và vợ chồng con gái dự đám cưới. Vân ở vùng Hoa Thinh Đốn, lễ cưới tổ chức ở Boston vào thứ Bảy. Vân và vợ chồng con gái rời nhà từ thứ Sáu và sẽ trở về nhà vào Chủ Nhật. Mất 9 tiếng từ nhà đến Boston. Trên đường đi xe chạy qua các thành phố nhà cửa đông đúc hay các đồng ruộng trồng các loai ngũ cốc lá xanh um. Nhà dân cư nằm rải rác dọc hai bên đường. Có lúc thấy cây cầu dài ngoằn, tàu thuyền dưới bến. Vui mắt nhất lúc đi ngang Nữu Ước được nhìn những cầu vượt vòng vèo, các cao ốc cao nghệu nhìn mỏi mắt. Vùng đô thị sầm uất này kẹt xe kinh khủng phải nhích nhích từ chút. Qua khỏi Nữu Ước lái xe thong thả hơn, it gặp đèn xanh đỏ. Đến Boston lại bị kẹt xe lần nữa trước khi rẻ vào đường nhỏ đến nhà mẹ cô dâu.
Khác với thị trấn đông đúc cao ốc hay nhà phố sát vách nhau, nơi cô cháu ở nhà nọ cách nhà kia cái hàng rào. Chung quanh nhà có sân, có vườn hoa nho nhỏ, hồ nuôi cá koi và trồng vài cây ăn trái. Cô cho biết văn phòng của vợ chồng cô là nơi thị trấn nhiều xe và người đi lại, không thoải mái yên tịnh như khu vực cô cư ngụ.
Lúc Vân đến đã có một số con cháu đến trước, chuyên trò vui vẻ và một số bà con đến lai rai sau gia đình Vân. Chiều thứ Bảy là ngày nhóm họ, có khoảng 50 thực khách nên phải đặt thêm bàn ghế ngoài sân cỏ. Thức ăn một số ở tiệm ăn mang lại, một số do chủ nhà làm và con cháu đem đến. Họ hàng bà con ở xa thường chỉ liên lạc qua điên thoại. Nhờ đám cưới mới có dịp gặp nhau nên mọi người chuyện trò cười nói thật vui vẻ. Con trai Út chủ nhà lúc Vân gặp khi đi chung một chuyến du lịch bằng du thuyền là cậu bé má phính môi hồng. Nay cậu Út thành thanh niên tráng kiện khôi ngô, đang học Đại Học. Thời gian qua nhanh quá chừng.
Rể bạn Vân là người da trắng nên cô dâu mũi cao, môi hồng xinh đẹp. Cô giống Bố nhiều, ít giống Việt Nam. Chủ rể người Mỹ trông hiền lành dễ mến.
Sau buổi tiệc nhóm họ các bà con ở xa như Virginia. Maryland… trở về khách sạn nghỉ ngơi. Các con gái, con trai, con dâu, cháu nội từ tiểu bang hay quốc gia khác đến thì ở lại Bố Mẹ để chuyện trò cho thỏa vi sau lễ cưới ai về nhà nấy. Có nhóm được ngủ nơi phòng ngủ, có người ngủ sofa, trên lầu, dưới hầm (basement) nhưng ai cũng chuyện trò rôm rả đến khuya
Cô dâu có hai cháu con người anh cả, thật dễ thướng. Cháu gái 6 tuổi, cháu trai 4 tuổi. Cả hai đều xinh xắn, ngoan và bạo dạn, thân thiện với họ hàng dù các cháu mới gặp họ lần đầu.
Hôm sau lễ cưới tổ chức nơi công viên có cây to bóng mát, có vườn hoa xinh xắn rực rỡ nhiều màu sắc hồng, đỏ, tím.. . Bàn thờ để Linh mục làm phép cưới trang hoàng trịnh trọng khang trang. Những băng gỗ sắp hàng thứ tự dưới bóng cây cho khách ngồi dự lễ…
Hai đứa trẻ cháu cô dâu trai mặc vest, gái áo đầm xinh đẹp. Bé gái mang giỏ hoa theo cô dâu chú rể và rải hoa theo lối họ đi. Bé trai trang trọng mang khay đựng nhẫn cưới đến bàn lễ cho Cha làm phép. Bé trai trang nghiêm chững chạc, bé gái tươi cười. Khách vỗ tay chào mừng khi cô dâu chú rể xuất hiện. Sau buổi lễ mọi người đến nhà hàng dự tiệc. Khách phần lớn là người da trắng nên toàn thức ăn Hoa Kỳ. Khách Á Đông tạm dùng muỗng nỉa thay vì dùng đũa như hàng ngày. Mọi người vui vẻ chúc phúc cô dâu chú rể. Tiệc tàn người ở xa trở về khách san sau khi chia tay với chủ nhà. Họ sẽ trở về nhà hôm sau bằng máy bay hay lái xe như gia đinh Vân. Thật là một cái đám cưới tuyệt vời đáng nhớ.
NEWPORT, RHODE ISLAND:
Sáng Chủ Nhật sau khi dùng điểm tâm cả nhà lên đường về sớm để còn ghé Newport, Rhode Island viếng các nơi nổi tiếng của địa phương như lâu đài gia đinh Wanderbilt II, Clift Walk …Khi chúng tôi dến Newport gần 10 giờ nhưng đã có xe tua (Tour) chở khách du lịch đậu gần kín bãi đậu rộng rãi. Họ đến từ Canada va các đia phương khác. Khách du lịch đã mua vé trên mạng lưới trước khi rời nhà. Có tua dài 3 tiếng, có tua 2 tiếng tùy nơi muốn thăm viếng nhiều hay ít. Cũng có du khách viếng Newport bằng tàu nhỏ hay thuyền buồm.
CLIFT WALK:
Clift Walk là con đường công cộng bề ngang nhỏ, dài 3, 5 dặm theo Wikipedia . Con đường này tráng nhựa sạch sẽ, chỉ có thể đi đạp hay xe lăn. Xe ô tô không đi được . Môt bên con đường là hàng rào có song sắt cao ngăn các sân cỏ biệt thự với con đường. Phía bên kia là ghềnh đá đầy những tảng đá thật to và nước biển trong xanh nhấp nhô. Có khoảng đường có hàng rào giữa con đường và ghềnh đá và những bậc thang xi măng để xuống ghềnh. Những tảng đá dưới ghềnh to bằng cái bàn, cái ghế… chồng chất lên nhau chạy dài theo bờ biển dọc con đường. Gió biển thổi lên rất mát. Xa xa những chiếc tàu nhỏ và thuyền buồm chở khách du lich ngoạn cảnh. Clift walk nằm bên ngoài các biệt thư to, xinh đẹp như: Marble House,The Breakers Mansion, Ashtor’s Beechwood…
Gia đình Vân không đi hết con đường, chỉ đi khoảng ngắn xong trở lại đi thăm các lâu đài to và đẹp trong vùng. Phong cảnh ở Cliftwalk hữu tình theo Vân:
Gió mát trời trong nước biển xanh
Thuyền buồm, tàu nhỏ chạy loanh quanh
Trên bờ đi bộ đoàn du khách
Chuyên trò vui vẻ cuộc đời lành
THE BREAKERS MANSION:
The Breakers Mansion là lâu đài lớn nhất ở Newport, Rhode Island. Nếu thăm cả lâu đài và vườn hoa phải mất từ 2 đến 3 tiếng, là nhà nghỉ mát của gia đinh Cornelius Vanderbuilt II. Lâu đài xây bằng đá cẩm thạch năm 1890, có 70 phòng gồm các phòng ăn, thư viện, phòng khách và rất nhiều phòng ngủ, có lối di dành cho xe lăn, người tàn tật. Tầng hầm là nơi cho người hầu, gia nhân cư ngụ thuở xưa, cũng có giường nệm tử tế, tủ đựng quần áo, vật dụng riêng tư. Ngày nay trong lâu đài có nơi bán quà lưu niệm, nước giải khát và thức ăn nhẹ cho du khách thưởng thức.
Trên trần nhà mỗi phòng có những tranh vẻ khác nhau. Tuy hơn 200 năm nhưng màu sắc các tranh nơi trần nhà vẫn tươi đẹp. Mặt trước lâu đài nhìn ra biển và Clift Walk. Sân và vườn chung quanh lâu đài rất rộng . Vườn hoa đẹp . Chỉ ngắm vườn hoa cũng đáng đồng tiền. Kiến trúc này được tặng cho thành phố và mở cửa cho dân chúng vào xem từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Có cả trăm ngàn du khách viếng lâu đài hàng năm. Còn các lâu đài xinh đẹp khác trong vùng nhưng gia đinh Vân không đủ thì giờ thăm viếng.
Trên đường về nhà Vân bâng khuâng nghĩ ngợi và liên tưởng đến các kiến trúc đẹp cổ, xưa ở Việt Nam. Không biết chúng có được chủ nhân, con cháu sửa chữa hay đã tiêu tùng vì thời gian hoặc chiến tranh. Ngoài ra Vân còn tiếc xót xa khi nghĩ bao nhân tài miền Nam phải đi đốn tre gánh củi trên rừng. Họ là những kỹ sư, bác sĩ … đã tốn nhiều rất tiền của, thời gian, vất vả thức khuya dậy sớm mới hoàn thành việc học mong giúp ích cho xã hội đúng với khả năng mình. Khi đất nước thống nhất thay vì đi nước ngoài, họ ở lại mong giúp ích quê hương. Trái với ước mong, phần lớn họ bị đi ”học tập cải tạo”, thời gian dài ngắn tùy theo học lực và địa vị .
Bạn Vân, bà ngoại cô dâu là góa phụ tù nhân cải tạo. Chồng, Đai Úy thời Việt Nam Cộng Hòa, chết trong tù. Chị có 4 con từ 9 đến 3 tuổi. Không có lương chồng, không có việc làm, chị buôn bán loanh quanh. Bà nội giúp đỡ nhưng cụ cũng già, tiền bạc không còn bao nhiêu sau khi đổi tiền. Nhân có người sắp đi bán chánh thức, muốn cưới chị và hứa sẽ yêu thương các con chị. Chi suy nghĩ, đắn đo mãi.
Sau cùng chị xin phép bà nội các cháu cho chị bước thêm bước nữa. Vì tương lai các cháu nội và thương dâu trẻ tuổi, bà Cụ tử tế đã bằng lòng cho cô dâu mang các cháu nội theo chồng, sau mới đi bán chánh thức và đến được đất nước Hoa Kỳ.
Bố dượng là một người tốt, biết giữ lời hứa, nuôi các con riêng của vợ và cho học hành tử tế. Nhờ sự khuyên khích của Mẹ và sự dìu dắt bố dượng, bốn người con chị đều đỗ đạt thành tài. Các cháu bây giờ đang chung tay xây dựng quê hương mới, xây dựng nước Mỹ với tương lai tươi sáng vô cùng.
Nghĩ lại người ta thường nói mỗi người một số phận. Có người được trăm năm hạnh phúc với chồng con, còn chị lúc trẻ theo chồng sống trong khu gia binh chật hẹp từ nơi này đến nơi khác, chia sẻ những thiếu thốn khó khăn với người bạn đời. Lúc chồng mất chị bước thêm bước nữa vì tương lai các con, nhưng chị cũng đã được đền đáp sống hạnh phúc. Quan trọng nhất, là các con chị đã cố gắng học hành mới được nên người. Đất nước của chú Sam rất nhân từ và đầy cơ hội, nếu những người nhập cư siêng năng học hành và làm việc thì thành công là chuyện đương nhiên.
Bên ngoài nắng vàng rực rỡ nhưng trời lạnh tái tê. Vân mừng con cháu chị bạn ngày nay có cuộc sống tốt đẹp. Mỗi lần đặt bút viết, là Vân lại muốn cám ơn chính phủ và dân chúng Hoa Kỳ giàu lòng nhân đạo, cưu mang giúp đỡ đồng bào Vân lúc mới định cư, hướng dẫn và tìm việc cho người lớn, cấp phiếu y tế, cấp nhà ở cho người có lợi tức thấp, già yếu, tạo điều kiện dễ dàng cho thanh niên tiếp tục đến trường … Vân cầu mong đồng bào nhất là phụ nữ trong và ngoài nước có cơ hội học hành, sống trong yêu thương, gia đình hạnh phúc, thế giới hết chiến tranh, mọi người mãi được ấm no an lành.
Nhân đây, Vân có mấy câu thơ tặng độc giả:
Thăm Viếng Boston
Mây trắng trời xanh, ánh nắng vàng
Thành phố Boston thật là sang
Ngoài đường đông đúc xe qua lại
Nhà thờ, trường học rất khang trang
Ngoại ô đất rộng nhiều cây xanh
Đại Học Boston đã nổi danh
Thầy giỏi trò hay trường quá tốt*
Cầu mong dân chúng mãi an lành.
Virginia , tháng 12 nãm 2024
Ngoc Hạnh
*(Đại Hoc Harvard, MIT)
VTLV CHÀO MỪNG Văn Thi Nhạc Sĩ VĂN DUY TÙNG.
TỪ VĂN DUY TÙNG: CA KHÚC MỚI “TÌNH QUÊ HƯƠNG“
Kính thưa quý Văn – Thi – Nhạc sĩ Hội Văn Thơ Lạc Việt,Xin cảm ơn đến quý vị đã chào đón tôi gia nhập Văn Bút Lạc Việt qua những lời thơ, lời văn rất hay và ý nghĩa. Đặc biệt xin cảm ơn Chủ Tịch Lê Văn Hải với lời chào đón ân tình, cùng quý Chị Phương Hoa và Thái Nữ Lan đã giới thiệu và dẫn đưa! Vâng, trước lạ sau quen, xin cho tôi được là thành viên cùng với với quý vị trong gia đình văn thơ với cái tên Lạc Việt mà tôi tôi rất yêu thích. Năm tới là điểm mốc đúng 50 năm tưởng nhớ/ kỷ niệm ngày chúng ta viễn xứ/ tha phương 1975 – 2025. Xin chia sẻ đến C.T. Lê Văn Hải và quý hội viên bài hát TÌNH QUÊ HƯƠNG tôi vừa sáng tác vì quá nhớ Quê hương. Bài hát chưa kịp làm và đưa lên YouTube. Xin mở MP3 (Đính kèm bên dưới) và mời nghe như là chú rể “khăn đóng áo dài ra mắt” gia đình Lạc Việt. Xin cảm ơn và rất trân trọng,
-Sinh trưởng tại Huế -Hiện định cư tại vùng Hoa Thịnh Đốn (Washington D.C.) Hoa Kỳ -Viết Văn từ lúc tuổi còn trẻ -Theo ngành âm nhạc từ Việt Nam và tiếp tục khi sang Hoa Kỳ -Giảng dạy Âm Nhạc tại Hà Nội & Huế từ năm 2007-2018 -Chủ Tịch Hội Nhạc Sĩ Công Giáo Việt Nam Hải Ngoại từ năm 2013 – Hiện tại -Music Director & Conductor LA Religious Education Congress at Anaheim convention Center, California -Music Director & Conductor Ban Hợp Xướng Journey of Grace -Ca Trưởng Ca Đoàn Phanxicô, Ca Đoàn Thánh Linh và Ca Đoàn JP II Văn Học:
Sách đầu tay: Trong Sân Giáo Đường – Phát hành năm 2023
Sách sắp phát hành: Lòng Người Lòng Trời
Cộng tác và đóng góp bài vở cho các báo Người Việt, Trẻ, Đời Nay, Cỏ Thơm, Thương Mãi Miền Đông, Kỷ Nguyên Mới, Hoa Thịnh Đốn, Thời Mới Phụ Nữ Mới,…
Cộng tác và đóng góp bài vở cho các trang web: Vietcatholic.net, Conggiaovietnam.net, Thanhlinh.net,… Các Bài Viết:
Tác Phẩm, Tác Giả và Người Dịch Thơ
Tiền Và Người
Lời Tạ Ơn
Mẹ Gánh Mặt Trời
Mẹ Tôi
Lữ Khách Bình An
Vinh Ca
You Raise Me Up – Ngài Nâng Tôi Lên
Lội Ngược Dòng, Níu Lấy Bản Sắc
Tôi Làm Diễn Giả
Lòng Trời
Hải Tặc Thái Lan
Tản Mạn Đầu Năm
Giao Cảm
Chiều
Lời Xin Lỗi Không Bao Giờ Muộn Âm Nhạc:
Sáng tác trên 600 bài Thánh Ca
300 bài về Quê Hương, Hiếu Ca và Tình Yêu Phát hành Sách Nhạc:
Tuyển Tập Thánh Ca: Muôn Đời Tạ Ơn
Tuyển Tập Thánh Ca: Lời Kinh Nguyện
Tuyển Tập Hiếu Ca: Mẹ Và Lời Ru
Tuyển Tập Tình Ca: Quê Hương & Tình Yêu Phát hành CD Nhạc Thánh Ca:
CD Con Sẽ Trở Về
CD Muôn Đời Tạ Ơn
CD Tung Hô Dang Ngài
CD Magnificat
CD Lời Kinh Nguyện
CD Hãy Ca Ngợi Chúa Phát hành CD Nhạc Đời & Hiếu Ca:
Tình Quê Hương
Xa Cách
Tình Phôi Pha
Mẹ Và Lời Ru Phát hành DVD Dàn Nhạc Giao Hưởng:
Đến Với Lòng Thương Xót Chúa – Nhạc Trưởng Văn Duy Tùng
VĂN:
Mẹ Gánh Mặt Trời – Văn Duy Tùng
Bạn mến, Tôi tình cờ đọc được bài thơ đăng trên mạng, bài thơ nói về người mẹ như hằng trăm các bài thơ khác. Thường tôi đọc vài câu đầu, nếu thấy hay thì sẽ tiếp tục đọc hết bài. Quả thật, đây là bài thơ chỉ với mấy câu đầu thôi đã làm tôi chú ý và thôi thúc đọc tiếp: “Đêm đang dần buông xuống Đường về nhà còn xa Bóng mẹ in chiều tà Nhọc nhằn quang gánh nặng Hối hả và lo lắng…” Lo lắng gì đây? Và thế rồi tôi đọc tiếp đến câu cuối cùng. Điều tôi muốn nói đó là tên của tác giả của bài thơ, và đây là câu chuyện bắt đầu. Tôi thật ngỡ ngàng vì tác giả của bài thơ này không ai xa lạ mà chính là người em của tôi: Văn Nhân Chí. Chí là con của ông chú tôi và gọi tôi bằng anh con ông bác. Anh em chúng tôi cùng trang lứa khi ở VN, đi vượt biên cùng thời và cùng ở chung trong các trại tỵ nạn Hồng Kông rồi định cư cùng chung tiểu bang. Thế rồi cuộc sống sau khi đến Mỹ đã đưa đẩy anh em chúng tôi mỗi người một phương hướng. Tính ra cũng đã trên 35 năm rồi. Thưa bạn, Thế hệ của chúng tôi là thế hệ vừa bước qua trung học ngay sau những năm 1975, và giờ đây mới bắt đầu nhận diện những gian nan, bấp bênh của số phận trong bối cảnh của đất nước vừa đổi ngôi. Tương lai là những đám mây đen vần vũ trên cuộc đời tuổi trẻ của chúng tôi. Dù cuộc chiến đã chấm dứt, nhưng sao người dân lại bị rơi vào tình thế cực kỳ khốn đốn và bi đát hơn bao giờ hết? Tương lai của chúng tôi trước mặt lại càng mù mịt, tối tăm… Cùng với nhiều anh em họ Văn, Chí được gửi học tại chùa Hải Vân Sơn ở thành phố Đà Nẵng, và xuống tóc từ khi còn nhỏ, bởi người trụ trì ngôi chùa này không ai khác hơn là chú của chúng tôi, là em ruột ba của Chí, đó là Hòa Thượng Thích Trí Việt. (Chú tôi có nhiều công lao lớn cho Giáo Hội Phật Giáo, nhất là tại Đà Nẵng và đã để lại nhiều chùa chiền nơi này)
Lúc bấy giờ, chú tôi có nhiều thuận lợi và địa vị ở thị xã Đà Nẵng lắm, nên con cháu dòng họ Văn chúng tôi được hưởng những “công đức” của chú. Nghĩa là được vào ở trong chùa, được chu cấp cho ăn học và đài thọ học phí từ các trường tư thục đến công lập, từ trung học đến hết đại học. Là một chú tiểu, Chí tu học tại chùa và đi học tại trường công lập.
Và đây là câu chuyển đổi đời của chúng tôi.
Cũng như bao gia đình, bao thanh niên tuổi trẻ, bao học sinh, sinh viên với những tương lai sáng lạng đang chờ đón, thế rồi ngày 30 tháng 04 năm 1975 ập đến, và cái gì đến thì phải đến. Ba của Chí phải đi cải tạo và bị tịch thu tài sản. Gia đình bị bắt buộc rời thị xã Đà Nẵng. Thím tôi, tức là mẹ của Chí giờ đây phải chạm trán với bao cơ cực và đói khổ. Thay vì đi kinh tế mới, Thím dẫn đàn con chọn hướng trở về nguyên quán thôn quê xứ Huế.
Với thân phận phụ nữ chân yếu tay mềm, nhìn đàn con thơ dại, Thím, giờ đây phải đối diện thực tế cuộc sống trước mặt – thay chồng gánh vác gia đình. Đất nước trong thời điểm này, nơi đâu cũng là kinh tế hợp tác xã nông nghiệp, nên cái đói ám ảnh hàng ngày.
Ngày ngày, thím tất tả sớm hôm từ buôn thúng bán bưng đến chân lấm tay bùn để nuôi đàn con thơ dại, trong khi Chí là người con lớn nhưng không thể giúp gì được vì đã xuống tóc! Xót xa cho mẹ của mình giờ đây quá vất vả và thương đàn em thơ dại, Chí tự hỏi chính mình: “Tôi phải làm gì để cứu gia đình trong hoàn cảnh này?” Câu trả lời vẫn là tiếng nói vang vọng âm thầm từ trong sâu thẳm của tâm hồn.
Chí đã phấn đấu tư tưởng và ý thức bổn phận của một chú tiểu, và vì có lẽ còn non trẻ quá nên Chí chưa dứt hết “nợ đời” để an nhiên tự tại mà tu học. Đó là tình cảm của gia đình, thứ tình cảm thiêng liêng khó có ai có thể an nhiên ngủ yên khi người thân cha mẹ anh em đang rơi vào một nghịch cảnh hết sức bi đát mà không lường trước được. Nhưng, vẫn là sự dằn vặt nội tâm của Chí giữa hai quyết định: – Tiếp tục lý tưởng xuất gia tu học Hay – Hoàn tục để cứu gia đình? Hai suy nghĩ và trạng thái đó đã giằng co nội tâm ngày đêm mà Chí không biết phải đối diện thế nào. Cuối cùng, Chí bất đắc dĩ lựa chọn cách riêng của mình. Dù đang phải theo đúng quy tắc tu học ở nhà chùa, nhưng thấy mẹ và em mình quá khổ từng ngày, trong khi ba thì mòn mỏi trong trại cải tạo. Chí đã hành động theo bản năng sinh tồn của một con người để cứu gia đình kịp thời. Và cuối cùng, Chí cũng phải đứng lên và bước đi bằng chính đôi chân của mình. Chí đã phá lệ, bắt đầu đóng một vai diễn cho một kịch bản đời mình trong lúc này, mà chính Chí cũng là đạo diễn và cũng là người soạn cho kịch bản đó. Vai diễn đó chỉ với mục đích duy nhất là làm sao mình có tiền để giúp mẹ nuôi đàn em. Có những đêm, Chí đã âm thầm rời chùa trong khuya vắng, cởi áo nâu song rồi cải trang khoác lên bộ áo quần với cái mũ che đầu để sáng hôm sau giả làm người thường đi theo một người quen làm nghề buôn gạo từ Điện Bàn ra Huế. Chí đã lao đầu vào chốn thương trường, đối diện với bao bất trắc và lừa gạt hầu mong kiếm vài cân gạo cho mẹ ở quê nhà. Sau một ngày vất vả lặn lội đó đây trên các nẻo đường. Đêm đếm, Chí lặng lẽ trở về chùa với một tâm trạng đầy ngổn ngang! Và…… cuộc đời vẫn cứ lặng lẽ trôi! Vai diễn của Chí vẫn tiếp tục bởi đâu phải một ngày hay một tháng mà có thể thay đổi được cuộc sống gia đình bằng đôi tay thư sinh của Chí, dù đôi tay ấy giờ đây đã chai sạn, mặt mày cũng đã rắn chắc vì sương gió và mưa nắng cuộc đời. Thật oái oăm để Chí phải thụ diễn cho trọn vở kịch: những lần nhảy tàu lửa trốn tránh công an, những lần phải ra mặt anh chị để nói lời đạo lý, lý lẽ lấy lại công bằng vì bị con buông lừa gạt, rồi những đường đi nước bước, những thứ ngôn ngữ của mua bán, của chợ búa… vì nếu không thì sẽ bị đời ăn hiếp và biết bao giờ mẹ mới có tiền đong gạo nuôi em. Có biết bao phận người bị xô ngã sau 1975 dù đã cố đứng dậy, huống chi một thư sinh như Chí và dù đã cố gắng! Nhưng, liệu có thay đổi được cuộc sống gia đình và một mình Chí có thể cho đàn em được no mỗi ngày? Cũng là một câu hỏi, và Chí cũng đang tự tìm câu trả lời. Vâng, câu trả lời là…. tất cả là vô vọng! Bạn mến, Dù bóng tối cả hàng ngàn năm, cũng có thể bị xua tan bởi một ngọn nến nhỏ. Cuộc đời chúng ta cũng thế. Khi cảm thấy bế tắc trong cuộc sống, chẳng khác nào ta đang mắc kẹt trong một hang tối, chẳng lẽ ta không cất lên một tiếng kêu cứu? Cũng như thể nếu khi vấp ngã giữa đường, thay vì nằm đó mà than khóc rên rỉ, thì ta phải ra sức để đứng dậy, đứng không được thì lết hay bò để tự cứu chính mình, phải không? Một câu nói mà có lẽ ai cũng đã đọc qua và lấy làm tâm đắc – cho đó như là một câu châm ngôn nằm lòng trong đời sống, là: “Hãy thắp lên một que diêm, còn hơn ngồi đó nguyền rủa bóng tối”. Và đây là câu chuyện tiếp theo: Trong thời điểm này đang có “phong trào” trốn ra nước ngoài bằng đường biển và đường bộ. Tại Đà Nẵng đã có nhiều người, nhiều gia đình vượt biển tìm tự do. Có người đi lọt, cũng lắm kẻ bị bắt hay mất tích trên biển cả, trong các hoang đảo, hay làm mồi cho cá mập. Đây là con đường duy nhất để giải thoát đói khổ và thay đổi cuộc sống, dù có phải chết và dù có gặp thế nào đi nữa cũng đành chấp nhận. Chí đã xác định như thế nhưng, lấy tiền lấy vàng đâu ra để được đi? Trong khi thân phận mình thì tả tơi hơn chiếc mền rách. Sau hai lần bị từ chối vào Đại học vì lý lịch bản thân, Chí may mắn gặp người bạn móc nối vào một nhóm tổ chức vượt biên. Bị hụt hai chuyến và rồi thì chuyến thứ ba trót lọt, nhưng phải trả giá bằng một mạng người dưới lằn đạn oan nghiệt của công an bắn ra từ bờ khi ghe vừa rời bãi. Gần hai tuần lênh đênh trên biển cả với sóng to gió lớn, những cơn bão như muốn đánh úp xé nát chiếc thuyền nan. Với bao gian khổ và đói khát… Cuối cùng chiếc thuyền mỏng manh như chiếc lá đó cũng tìm được bến bờ của tự do. Chí trở thành “Boat People” với nhãn hiệu “Người tỵ nạn Việt Nam”. Được Liên Hiệp Quốc khám bệnh, phân phát áo quần, mền chiếu và chỗ ở trong trại tỵ nạn tại Hồng Kông, và đợi ngày định cư quốc gia kế tiếp. Được định cư tại Hoa Kỳ và tiếp tục vừa tu học, vừa theo học Đại học ở đây. Nhưng lại một lần nữa, Chí cũng phải giả từ giấc mộng công danh khi mới bước vào năm thứ ba để dành toàn thời gian kiếm tiền vì kinh tế gia đình bên quê nhà đã đến lúc kiệt quệ. Sự hy sinh này cũng là định mệnh an bài cuộc đời sau này của Chí. Một hy sinh cao đẹp và ý nghĩa là quên đi chính bản thân để cho anh em mình vươn dậy. Viết tới đây, tôi chợt nhớ những câu chuyện ý nghĩa trong nhân gian mà tôi thường hay đọc, hay đã nghe qua một vài lần của những bài hát có tựa đề Chị Tôi. Sau hơn 10 năm sống ở Hoa Kỳ, Chí nghĩ không thể cho anh em mình con cá mãi được, mà nên sắm cho họ cái cần câu. Thế rồi sau một thời gian dài bảo lãnh, tất cả anh em và cha mẹ cũng được định cư vĩnh viễn ở trên đất nước tự do và giàu có này. – Gần 40 năm ở Hoa Kỳ, điều gì thành công nhất của Chí? Đây là câu mà tôi hỏi Chí khi hai anh em gặp lại cách đây không lâu. Nhẹ nhàng và từ tốn, Chí trả lời: – Điều thành công nhất trong đời của em, có lẽ là em bảo lãnh được ba mẹ, bốn đứa em và gia đình anh lớn gồm sáu người qua Mỹ.
Câu trả lời của Chí thật khiêm tốn, vì nếu được hỏi cũng là câu hỏi này, thì có thể có mấy anh tỵ nạn ở Mỹ gọi là việt kiều sẽ là cơ hội để đem bằng cấp, trình độ, khả năng, thành công này, thành công nọ…. nổ long trời lở đất cho mà xem.
Câu trả lời này cũng cho tôi trân trọng người em của mình, dù trong hoàn cảnh và dẫu mình như thế nào cũng luôn khiêm tốn. Hơn nữa bất cứ một điều gì mình làm cho người thân của mình được vui và hạnh phúc, thì xem đó là việc làm ý nghĩa và thành công nhất trong đời của mình.
– Chí còn làm việc hay đã về hưu?
– Dạ, em về hưu được hai năm rồi sau gần 40 năm liên lỉ cặm cụi làm việc.
– Dự định của Chí còn làm gì sau khi về hưu không?
– Dạ, em sẽ về VN để trang trải nốt những ân tình còn lại khi còn có thể. Các em của Chí với cuộc sống ở Mỹ giờ đã ổn định và yên bề gia thất. Riêng Chí vẫn âm thầm, đơn sơ và giản dị trong cách sống, cách mặc. Không bon chen, ganh đua giữa cuộc đời. Vẫn tự tại, vẫn gìn giữ lời ăn tiếng nói như trước đây khi còn ở trong chùa. Sau bao năm vất vả, mẹ của Chí cũng qua đời. Thương mẹ, Chí làm thơ để tưởng nhớ về mẹ. Bài thơ đã làm rung động lòng tôi và cho tôi cảm hứng phổ thành ca khúc. Tâm sự về bài thơ, Chí thổ lộ rằng: khi bước ra ngoài đời đi làm thì cũng do cái duyên đưa đẩy, và rồi cái duyên vợ chồng cũng đến. Chí lập gia đình để có người cùng đồng hành, có thêm trợ lực và sớm hôm với mình trong cuộc sống. Nhưng cuộc duyên nào cũng có cái khó của nó mà mấy ai được êm đềm, trọn vẹn. Chính duyên tình này mà mẹ Chí phải lo lắng trong cay đắng, cam nhận và chịu đựng… Chí hiểu rõ nỗi khổ tâm của mẹ mình và mong thời gian sẽ là câu trả lời cho tất cả. Thời gian sẽ là liều thuốc chữa lành và hàn gắng. Vì vậy nhân một lần tình cờ nhìn thấy bức hình chụp người mẹ đang tất tả, vai nặng quang gánh với bóng mặt trời vô tình đè lên một bên của chiếc thúng. Chí hình dung liên tưởng nhớ về mẹ của mình với nỗi gian truân ngàn cân gánh chịu vì con. Bài thơ ra đời từ cảm nhận đó. Bạn mến, Mẹ của Chí, mẹ của bạn hay mẹ của tôi, đó là người Mẹ Việt Nam – cùng chung nỗi thống khổ theo vận nước. Mẹ đã đi qua những làn lửa đạn, của đói khổ và vất vả để che chở và nuối nấng cho ta thành người. Biết lấy gì cân xứng đền đáp công ơn trời biển Mẹ nuôi con? Mẹ cho con vào đời, nuôi nấng, bú mớm dòng sữa của chính mẹ. Mẹ dẫn dắt để con khỏi bị té ngã khi còn bé, và chỉ hướng cho con trên mọi nẻo đường đời khi lớn lên, Mẹ dạy con biết thế nào là phải, trái trong cuộc sống, biết đạo lý làm người, biết kính trên nhường dưới. Rèn luyện cho con nhân cách sống của một con người để đối xử lễ phép với người trên, hài hòa với bằng hữu, nhỏ nhẹ với kẻ dưới, biết nhẫn nhịn và vị tha với những trái ý trong đời sống. Mẹ dạy con biết thương và quan tâm người đói khổ, biết san sẻ tình người, “Một miếng khi đói, bằng một gói khi no”. Mẹ dạy cho con biết dũng cảm, biết hy sinh, có trách nhiệm và bổn phận khi lớn lên, biết thương nòi giống, biết nhận diện máu đỏ da vàng, biết đoàn kết và bảo vệ, biết thương yêu và nâng đỡ anh em với nhau vì “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”. Biết công ơn người giúp mình, biết trung với hiếu, đạo với đời… Chỉ có Mẹ, vâng chỉ có ánh mắt của Mẹ mà thôi! Có phải Thượng Đế tạo nên đôi mắt của Mẹ chỉ để dõi theo cuộc đời của con? Dõi theo từ khi con còn bé và mãi mãi suốt trong cuộc đời. Dõi theo con để biết con có được khỏe mạnh, an lành, sung sướng, dõi theo xem con có vui vẻ, hạnh phúc, thành công… và duy nhất chỉ có ánh mắt của Mẹ dõi theo con cùng với nước mắt âm thầm nếu con đau khổ, thất bại… Dù đời có phản bội, hất hủi bỏ rơi, dù ai đó có bội bạc chia phôi khi ta thất cơ lỡ vận, bệnh hoạn, thất bại…, thì duy chỉ có Mẹ vẫn luôn bên cạnh con để an ủi và vỗ về. Mẹ luôn là vậy đó. Là người rất cao cả trong những điều rất giản dị, bình thường! Không những bạn hay tôi, mà mọi con người trên quả địa cầu này tính luôn cả Chúa lẫn Phật cũng phải có Mẹ. Vì Mẹ cho ta sự sống, cho ta sự khôn ngoan, sự ấm áp, dịu dàng, ngọt ngào, an ủi và vỗ về, nhất là một tình yêu thật sự mà không cần đền đáp, trong khi đời thì luôn tính toán, lừa lọc, nhạt nhẽo, hời hợt và giả tạo. Mỗi năm vào trung tuần của tháng Năm, nước Mỹ dành một ngày thật đặc biệt để tôn vinh người Mẹ. Ôi thật cao đẹp và ý nghĩa vô cùng! Riêng tôi cũng dành một khoảng thời gian thiêng liêng để nghĩ về mẹ của mình và cầu nguyện cho người trong ngày lễ Mother’s Day hôm nay. Và đặt biệt tôi muốn chia sẻ đến bạn bài hát hiếu ca, mà lời là bài thơ của Văn Nhân Chí – người em của tôi đã đề cập trong bài viết này. Tựa đề bài hát là: MẸ GÁNH MẶT TRỜI Thơ: Văn Nhân Chí Nhạc: Văn Duy Tùng Trình bày: Ca sĩ Tuyết Mai Đặc biệt phần diễn ảnh rất ý nghĩa và nghệ thuật do nghệ sĩ Trúc Tiên từ Paris thực hiện. Xin bạn mở Youtube sau đây để nghe bài hát: https://youtu.be/L0cLb1oJ-tw Và đây là bản karaoke: https://youtu.be/-YKbJ2GKHDA
Trân trọng, Văn Duy Tùng
NHẠC VĂN DUY TÙNG:
Kiều Mỹ Duyên: MÙA GIÁNG SINH AN LÀNH, ẤM ÁP ĐẾN NHÂN GIAN
Sưu Tầm và Dịch: THÁI LAN – Người Thổ Dân Da Đỏ Và BỘ TỘC CHEROKEE.
CA KHÚC Khúc Tình Lơi – THƠ: PhamPhanLang – Nhạc: Mai Hoài Thu – Ca sĩ: Vân Khánh
Ca khúc: Khúc Tình Lơi –
Khúc Tình Lơi
Lá rơi rơi mãi ở lưng đồi
Chao xuống hồn nghiêng tim lẻ loi
Ôi Thu diễm tuyệt Thu say đắm
Ngây ngất môi buồn mộng chơi vơi
*
Một áng mây chiều trôi lờ lững
Xin hãy đưa ta đến góc Trời
Nơi ấy Thu vàng Thu rực rỡ
Có người mắt nhắm chốn xa xôi
*
Ơ kìa một cánh chim đơn lẻ
Chao xuống bên đời mắt chơi vơi
Thu mộng sắc màu Thu bảng lảng
Có người ngồi nắn khúc tình lơi…
phamphanlang
28/10/2019
Dịch Giả VƯƠNG THANH – Tùy Bút/Biên Khảo/Dịch Thuật về Thi Phẩm “Độc Tiểu Thanh Ký” Của Nguyễn Du.
MINH THÚY: VĂN – Đi Qua Miền Quá Khứ
Đi Qua Miền Quá Khứ
Linh qua Mỹ theo diện đoàn tụ (cha bảo lãnh) nên chờ đợi dài cổ bao nhiêu năm trời, vậy là tuổi xuân đi qua lẹ làng. Khi còn ở VN từ lúc học lớp đệ tam (lớp 10) đã có bạn thương, lên dần bạn trai thích vây quanh cũng đông. Lúc học Cao Đẳng Sư Phạm cũng yêu một bạn chung lớp, ra trường vào Sài Gòn chờ đi Mỹ vì có giấy tờ cha gởi về. Cha cấm con gái, con trai không ai được lập gia đình chờ ngày ra đi. Thời gian chờ đợi cũng có các bạn ra trường kỹ sư, hoặc dạy đại học theo đuổi. Nhiều người làm Linh đâm ra “lơ lửng con cá vàng”, vui chơi qua ngày qua tháng, tới Mỹ thì Linh đã kề 28 tuổi. Linh cũng cố gắng ghi tên học trường De Anza College hai năm, lấy mảnh bằng Technician xong chẳng muốn học thêm vì cảm nhận thời mình đã qua, vào lớp ngồi chung đám trẻ thấy nản lòng, may có vài bạn thuộc thế hệ mình, ai cũng muốn học nhanh đi kiếm việc, kiếm tiền cho lẹ.
Ra trường ba tháng sau Linh kiếm được việc, vào làm hãng điện tử Solectrone.
Với lứa tuổi này thật khổ, tối ngày điếc tai theo nhiều tiếng quở trách vô cớ
– Lúc nào cho ăn bánh mừng đây
– Kén quá nên giảm ga đi
– Coi chừng ế đó nha
– Bạn mày giờ này đâu còn ai đợi mày nữa, họ lên xe bông hết rồi
Linh chỉ biết cười trừ trả lời chung
– Thì lúc nào có bánh mừng là biết liền, nếu thấy im lặng thì xem như ế rồi đó nha.
Linh cũng muốn kiếm bạn lắm chứ, thời gian gần qua Mỹ cũng yêu da diết anh chàng kỹ sư Phú Thọ, ông anh giữ trách nhiệm ngăn chận nên nhắc ngày nhắc đêm, ngày lên đường chia tay đẫm đầy nước mắt. Trong lúc lòng nàng héo hắt bên này thì năm sau nghe tin chàng cưới vợ, từ đó Linh khép kín cửa lòng lại.
Nơi hãng này có anh Vũ sáng nào tới cũng tặng Linh bịch táo, hỏi ra biết mẹ anh có mở chợ trên vùng SF. Một hôm anh đòi đến nhà thăm cho biết, Linh nhận táo nhiều cũng có chút nể nang tình cảm nên cho địa chỉ. Gặp ngày chủ nhật, anh đến buổi chiều, anh chị em Linh thường tụ họp đông cuối tuần. Mọi người thấy anh Vũ đến thì dạt ra chạy tránh mặt trên lầu, dưới nhà chỉ có người chị dâu lo nấu nước mời khách. Em này chạy xuống, em kia chạy ngang cố ý nhìn mặt khách, anh Vũ cũng cho táo và ngồi chơi một tý rồi kiếu về dù mẹ Linh mời ở lại dùng cơm. Anh vừa ra về thì cả nhà chạy xuống nhao nhao
Cô em nói
– trời ơi …sao giống Chí Phèo hè
Người chị dâu cười cười
– Cô Linh bữa này dám quen tay anh chị Vũ Cầu Muối hè
Em khác quay qua mẹ
– Ngồi trên lắng nghe mẹ hỏi “nhà này đông người lắm, sợ không con…” chao ơi nét mặt …lựu đạn đó mà sợ ai
Ông anh kế đi lui đi tới ngâm nga ”Buổi chợ đông cá hồng em chê bạc. Chợ tan rồi con cá bạc em cũng mua”.
Linh chỉ biết nín cười lắc đầu trước bao lời phê bình. Nàng thấy nhìn quanh chẳng còn ai, mà suốt ngày đi làm chỉ có anh Vũ tuy già nhưng còn độc thân, thì cũng thử xem *1“ cố gắng yêu người mà sống, lâu rồi đời mình sẽ qua …” chứ chị em trong nhà thường bảo “ra công tìm người giới thiệu, hè nhau đẩy cái đò này đi”. Từ đó Linh tỏ thái độ nghiệm nghị lạnh lùng và cũng không nhận táo nữa, nên anh Tuấn cũng rút lui( nghe anh trước là sĩ quan QLVNCH cấp bậc Trung uý).
Nơi đây cũng có anh VN làm công việc dọn dẹp, thấy Linh cùng người VN thỉnh thoảng gặp hỏi thăm cười chào. Từ từ không biết anh có “phải lòng” với Linh không, mà bữa cho Linh cái bánh bao, bữa cho ổ mì thịt, Linh không nhận nhưng anh nói
– Tui mua ăn trưa luôn tiện mua thêm phần cho Linh, đừng ngại gì hết
Rồi anh càng muốn lân la gần Linh hơn trong giờ lunch, có bữa anh đòi mời cuối tuần đi ăn phở, Linh cám ơn từ chối bận việc. Một hôm anh nói thẳng trong khi ngồi cùng bàn ăn trưa
– Linh chê anh phải không ?
Rồi anh nổi hứng xổ tiếng Đan Mạch
– D…M… Anh trước đây cũng là lính VNCH, là hạ sĩ nhất chứ chẳng thua ai, đã từng là lính Thuỷ Quân Lục Chiến đóng nơi Quảng Trị chớ bộ ..
Linh trố mắt sừng sờ “ mẹ ơi …giờ này đối tượng của con là đây sao, tán gái cũng có kèm tiếng Đan Mạch nữa “. Nàng tìm cách né tránh ôm hộp cơm ra xe ngồi ăn từ đó, hễ thấy mặt là dạt nơi khác không tỏ thái độ tự nhiên như anh em trước đây nữa. Và anh ta cũng nhận ra thái độ khác lạ nên cũng không dám gần. Thấy hãng này trả lương thấp, cũng không lên lương. Linh chán nản nhảy hãng
Qua hãng flex gặp anh chàng Technician điều khiển máy móc, có khi sửa chữa lúc máy hư. Linh thường gặp những giờ giải lao uống cà phê. Anh tên Phi rất đẹp trai, mặt mày sáng sủa, Linh nhìn cũng có cảm tình thỉnh thoảng chào hỏi xã giao. Sự quen biết giáp mặt được hơn nửa năm, một hôm anh chàng rủ về Santa Ana chơi nhân dịp lễ Labor Day, Linh nghĩ “ừ thì mình về ở nhà bà cô và thăm bạn thân, sẽ có cơ hội tìm hiểu nhau trên chuyến đường dài”.
Linh báo cho người chị dâu chiều đó, cùng hai mẹ con dì Tiên mới qua Mỹ đang ở chung nhà biết sáng mai có khách tới, nhờ dọn dẹp nhà cửa, khách sẽ vào nhà thăm trước khi chở Linh đi. Chị dâu và mẹ con dì Tiên dọn dẹp quét nhà, chùi rửa các thứ, sắp xếp ngăn nắp tạm thời trước khi đi ngủ.
Sáng thứ bảy lại dậy dọn dẹp tiếp, nấu nước pha trà đặt dĩa bánh ngọt ra bàn rất tỉ mỉ mọi việc. Ai cũng sửa soạn hành lý dùm Linh và lăng xăng đủ điều như chuẩn bị đón chàng rể mới. Đúng 8 giờ anh bạn tới, vừa bước xuống xe, trong nhà bếp cô em con dì Tiên trầm trồ
– ui chị Linh ơi, đẹp trai quá trời, chị mà chê bỏ ra là em…chụp đó nghe
Dì Tiên
– mặt mày sáng sủa quá ha
Chị dâu
– phong cách sang trọng qua lối ăn mặc tao nhã lịch sự, kèm thêm nét mặt bảnh trai nhìn như tài tử Hollywood.
Linh nghe cũng thấy phấn khởi yêu đời, duyên dáng mời vào nhà, chàng ngồi khoảng 10 phút rồi hai người lên đường, mẹ cũng đứng trên lầu nhìn cười gật gù.
Chạy chuyến đường dài, Linh vui vẻ nói chuyện bâng quơ, nàng gợi chuyện cho Phi bớt buồn ngủ để lái xe. Linh kể say sưa về “Hồn Bướm Mơ Tiên” với câu nói của Ngọc “Tôi không có gia đình nữa. Đại gia đình của tôi nay là nhân loại, là vũ trụ, mà tiểu gia đình của tôi là …hai linh hồn của đôi ta ẩn nấp dưới bóng từ bi của Phật tổ”. Linh lại tiếp qua những câu chuyện khác như : 2* Đôi Bạn, Đời Mưa Gió, Gánh Hàng Hoa, Anh Phải Sống..v..v…Phi chẳng bàn bạc, chuyển hướng câu chuyện cho biết: quê ở Bạc Liêu, may mắn qua Mỹ năm 75 giỏi về máy móc, làm việc lâu năm đầy kinh nghiệm nên giờ này được lương cao. Linh hơi khựng một tý với những suy nghĩ hoang mang, ngồi quay mặt nhìn ra cây cảnh hai bên đường, hoa cỏ xanh tươi đang tưới lên tâm hồn Linh thả theo những nhân vật trong tiểu thuyết cho qua thì giờ.
Chàng chở Linh về nhà cô Hạnh thả đó. Cô Hạnh thấy gia đình ông anh họ mấy cháu gái đều lập gia đình, chỉ còn mình Linh tuổi đã ngoài ba mươi, nay thấy cháu có bạn trai mặt mày cũng khá, nên vui vẻ mời Phi trưa mai trở lại dùng cơm.
Cô Hạnh này sướng từ trong trứng sướng ra, gia đình danh giá. Cô lấy chồng giàu sống trong nhung lụa sang trọng, tiếp xúc toàn giới thượng lưu, nên Linh rất e ngại, nhưng giờ thấy cô vui vẻ mời Phi ngày mai, cũng làm nàng hồi hộp.
Trưa hôm sau đúng hẹn chàng đến, trong lúc vừa ăn vừa nói chuyện, cô mở nhạc Pháp Quand tu es là (Trò Chơi Của Tình Yêu) do Sylvie Vartan hát, cô nói huyên thuyên về nhạc, mê giọng Christophe qua bài “Mama “, Lobo “ I’m The Only One”, đặc biệt thích nghe hòa nhạc Gold Concert, nhạc VN thì thích Anh Ngọc, Duy Trác, Sĩ Phú, Thái Thanh, Lệ Thanh, Hà Thanh..v…v…Cô kể thêm thích xem phim Pháp như “ Thằng Gù Trong Nhà Thờ Đức Bà”, Le Doctor Jivago, thích văn chương của Tự Lực Văn Đoàn..v…v…Rồi cô hỏi Phi
– Con có mê nhạc, mê phim, mê đọc thơ văn không? thích ai?
Chàng đang ăn ngẩng mặt cười tự nhiên, trả lời
– Cháu thích nghe cải lương
Linh thóp ruột như có luồng khí lạnh chạy vào xương sống, lưỡi cứng đơ cúi gặp từng hột cơm bỏ vào miệng chẳng muốn nhai, bên tai còn nghe lùng bùng
– cháu chỉ thích ăn nhậu thôi, không thích đọc truyện nên không biết ông nào cả
Nàng tựa người lên cơn sốt, mặt nóng bừng, lúc ngồi trên xe đã ngờ ngợ phần nào rồi, nay thì chàng đã tỏ rõ. Linh liếc mắt nhìn cô, vẫn nét mặt bình thường chẳng lộ chút phản ứng nào cả, nhưng Linh biết rồi đây cô sẽ cười mình cho mà xem, thiệt là “bụng buồn chẳng biết nói năng chi’. Chàng ra về, đêm đó Linh trằn trọc khó ngủ vì tìm ra câu giải đáp” thì ra qua Mỹ sớm, có chút tài năng về máy móc, làm lâu năm lên được Technician và cũng nhờ trời cho nét đẹp trai sáng sủa, biết cách ăn mặc nên mình mới …bé cái lầm “. Trên đường trở về cả hai cùng im lặng, Linh quay mặt nhìn trời mây phong cảnh, tự dưng nàng nhớ đến truyện “Trống Mái “ của Khái Hưng: “hay là mình bắt chước Hiền cố yêu Vọi thử xem, Hiền cũng thích chụp hình cho Vọi vì thấy chàng trai này có dáng lực sĩ đẹp trai mà…” Linh nhắm mắt rùng mình …không được là không được, phải có con tim rung động, phải có tình cảm mới sống được ….
Về nhà gặp lúc anh chị em tụ họp nấu nướng ăn lễ, vừa bước vào bị cả nhà tra khảo
– sao rồi ?
– đi chơi vui không?
– chắc ăn chưa?
Linh phần đi xa về mệt, phần chán nản thất vọng đáp vội trước khi lên lầu
– một chuyến đường dài tìm hiểu …vỡ mộng rồi
Mấy chị em chưng hửng
– Sao vậy, hè nhau đẩy con đò này ra sông, mà đò nặng vía quá
******
Linh bắt đầu lẩn tránh Phi, phần Phi mỗi chiều thường gọi phone, gặp chị dâu nhắn “bác gái hở, cuối tuần này con đem mấy DVD cải lương đến cho bác xem, hay lắm “chị dâu cũng “ờ” đại, riêng Linh biết vậy nên cuối tuần tránh mặt. Tình trạng Phi muốn lấy lòng mẹ Linh cứ tiếp diễn, Linh nghĩ ra cách giới thiệu Phi cho bạn Tuyết Nhung. Kể thêm về Tuyết Nhung là bạn học thân nhất với Linh từ thời tiểu học, trung học và lên đại học, Nhung rất đẹp nhưng qua hai mối tình không suông sẻ nên hiện tại vẫn độc thân. “Nó cũng đang ế ẩm, đẩy qua nó để mình rút lui.” Linh hỏi ý bạn, Nhung nói “OK thử xem”. Linh cho địa chỉ nhà Nhung dưới LA và cho Phi xem hình, vậy là chàng một người một ngựa về đó hai lần. Một tháng sau Nhung gọi điện thoại mắng vốn Linh
– Có phải mày chê nên đưa qua tao không? Đàn ông gì mà mới gặp đã trình bày check lương… chưa kể ăn nói …vô duyên. Thôi nghe! Tao thà ở giá vẫn thích hơn
Linh cười ha hả
– Thì tao cũng vậy, thôi tụi mình cùng nhau thờ chủ nghĩa độc thân nghe chưa. Chứ ở Mỹ đây đâu có ai nghèo đói, cỡ nào cũng sống có cơm no áo ấm mà, miễn chịu khó làm việc, chứ lấy chồng mà không có chút tình yêu thì …thì..ớn quá.
*******
Phi biến mất khỏi hãng, có lẽ tìm được hãng khác lương cao hơn. Chuyện Phi xin đem vào dĩ vãng. Rồi lại có người bà con giới thiệu anh chàng kỹ sư, thì cũng bắt chước bạn mình “ thử xem”. Anh chàng nói chuyện vui vẻ hoạt bát nhưng khi đứng lên trả tiền nhà hàng, Linh thảng thốt nói với bà mai
– ôi ! Sao …lùn dữ vậy
Bà mai nguýt dài
– Gái già ở đó mà kén đi
Thôi thì nàng cũng gắng gượng gặp thêm lần thứ hai, tìm hiểu qua người giới thiệu thì biết chàng có vợ hai con và đã ly dị “thôi không chơi, có “rờ mọt” rồi phiền phức …mệt lắm” và nói thẳng với anh kỹ sư. Anh ta tìm chị của Linh nhờ giúp đỡ “chị nói Linh “try” đi, không lý đã có đời vợ là bị treo bản án hay sao”, nhưng vô ích, Linh trở lại tuyên thệ cùng Tuyết Nhung.
*******
Hãng tiếp tục có nhiều người mới vào làm, Mễ, Tàu, Phi …và một Technician người VN. Anh khoảng 40 tuổi tên Trí dáng cao, có nốt ruồi to gần khoé mũi. Ngày đầu gặp anh thăm hỏi vì nghe tiếng nói, nhận người cùng quê và xưng anh em tự nhiên. Thỉnh thoảng giờ break thấy anh nói chuyện xã giao với người bản xứ vui vẻ. Tánh anh hoạt bát nói câu nào cũng pha tếu cho Linh những trận cười thoải mái. Khi hơi thân anh cho xem hình gia đình chụp chung gồm vợ chồng anh và một trai, một gái, vợ anh rất đẹp. Những buổi ăn lunch anh thường hỏi
– Sao em kén dữ vậy? đến giờ này vẫn còn độc thân
– Ế quá anh Trí ơi chứ không phải kén
– Ừ để anh kiếm người làm mai nhé
Rồi anh kể mối tình xa xưa trước khi lập gia đình…
– Anh quen chị đó đẹp lắm, nhà ở trên Kim Long có ngôi vườn rộng nhiều cây trái.
Một lần anh lên gặp mẹ chị đang la mắng và chị vừa khóc vừa cãi lại. Chờ cho mẹ chị đi rồi, anh kéo chị ra vườn nói “em không được nói như vậy với mẹ”, chị tức tưởi càng ôm mặt khóc to. Anh đến sát bên vỗ vai và nhẹ cầm bàn tay chị lật ngửa, bất chợt chị ngẩng mặt lên, nước mắt ràn rụa nói “anh đừng nhổ nước miếng trên tay tui đó nghe…”
Chuyện khác :
Mẹ nàng không chọn anh, bà ép gả người khác. Nàng buồn quá một tối hẹn anh ra nơi bụi chuối bên đường cho biết sự tình. Nàng vừa khóc vừa nói “em không lấy được anh là em sẽ tử tự chết cho mà xem”. Anh cũng ngậm ngùi ôm nàng “Anh không cưới được em cũng sẽ mỏi mòn mà chết”. Bỗng đâu có tiếng sộp soạp sau bụi chuối “Tao mà ..ị…không ra thì cha tụi bây cũng chết luôn”. Anh hoảng quá nắm tay nàng kéo nhau bỏ chạy…
Rất nhiều chuyện nữa làm Linh cười ngặt nghẽo. Người kể có người cười khoái quá nên hai người trở nên thân nhau tự bao giờ. Có lúc anh bới hai ổ mì, bánh bông lan, trái cây hoặc Linh bới bánh tiêu, xôi ăn chung, giọng anh vẫn oang oang thoải mái tiếp tục kể cho cô em gái cùng quê các chuyện tếu chứa nhiều trong đầu óc.
Một năm qua Linh khám phá ngày nào anh có việc riêng xin nghỉ thì buổi trưa đó vô cùng nhạt nhẽo đối với mình, hay lúc anh lấy vacation lòng Linh buồn héo hắt. Linh biết sửa soạn kỹ hơn, yêu đời hơn với những buổi cơm trưa thân mật cùng anh. Người đàn ông có kiến thức rộng, nói chuyện đề tài nào cũng hợp và nhất là gu thưởng thức nhạc cũng giống nhau, anh thường mua CD nhạc tặng Linh. Có lúc anh rủ Linh dùng giờ lunch đi ăn phở, hay cơm tấm gần đó. Ánh mắt anh chứa nồng nàn hơn, giọng nói nhỏ nhẹ hơn. Hình như hai người cùng cảm nhận tình cảm mình, và muốn tiêu diệt nó bằng cách cùng nhắc về vợ anh. Anh khen vợ rất giỏi dang, hai người trước kia cùng dạy trung học đệ nhất cấp trường Nam Ô. Hiện tại chị làm Nail, tìm giờ giấc thuận tiện đưa đón con đi học và về, trong ngoài chị vén khéo vẹn toàn việc nhà và nấu ăn rất ngon. Linh nghe kể chuyền niềm vui theo hạnh phúc của anh, nhưng tối về dỗ giấc ngủ khó khăn với nỗi buồn không tên, hằng đêm cố xua đuổi không nghĩ tới nhưng khuôn mặt anh cứ thấy rõ trước mắt “ nhất định, nhất định mình không thể như vậy”
Thế rồi hãng có từng đợt sa thải báo hiệu sự đi xuống của hãng, nửa năm sau Linh bị laid-off. Linh có cảm tưởng như đời đứt ngang rồi, nỗi buồn hành hạ dằn xé tâm hồn không thể tưởng. Mới đầu còn gọi phone đôi ba lần nói chuyện, nhưng sau đó cố gắng kềm hãm tình cảm của mình dứt khoát không liên lạc, thôi thì tự ru ngủ bằng giấc mơ, tự an ủi ve vuốt con tim bùng cháy không đúng chỗ.
Nửa năm sau Linh nghe hãng đóng cửa, đóng thiên đường nhỏ bé của Linh chỉ còn trong ký ức. Thời gian sau Linh được biết gia đình anh Trí dời qua Texas sinh sống. Trong lúc thất nghiệp Linh học thêm lấy bằng Diploma in Accounting and Business (chứng chỉ sơ cấp về kế toán và kinh doanh) bỏ nghề điện tử, kiếm việc làm cho hãng xe nhỏ, công việc trực phone và giao dịch giấy tờ, nơi đây chỉ mình Linh là người VN.
Duyên số đã đẩy Linh gặp lại người bạn cũ thời trung học tên Huy, ngày xưa cũng thích Linh. Được biết Huy vẫn còn độc thân ở Sacramento, hai lần về VN có nhiều người giới thiệu bạn gái, nhưng Huy không thích gu bây giờ, dững dưng cảm giác.
Tình cờ bạn cũ kể cho Linh, và tìm cách để hai người liên lạc lại. Đám cưới Linh năm 33 tuổi. Bạn thân Tuyết Nhung cũng gặp lại bạn thời chung đại học, đám cưới sau Linh vài tháng. Thì ra những người bạn trai này không ham gái đẹp, gái trẻ, chẳng chê gái già mà chỉ cần cùng thời với hai tâm hồn đồng điệu.
***************
Cuốn phim dĩ vãng vẫn tiếp tục quay đều theo bước chân Linh đang đi bộ ngoài đường, bước chân đi qua vùng quá khứ đã mấy chục năm qua tưởng chừng như mới đâu đây. Linh ngẩng mặt hít sâu thở nhẹ theo kiểu thiền, nắng hồng đang nhảy múa trước mặt, hoa nắng lung linh đuổi nhau trên đường, vài loài hoa dại chen nở trên những bãi cỏ trông xinh xinh. Giờ này chắc Huy đã đi chơi Tennis, may mắn cho Linh tìm được người nương tựa vững vàng. Cuộc sống chẳng giàu sang nhưng ấm cúng trong ngôi nhà nhỏ mua được. Trước đây Linh cũng hồi hộp biết được điều phụ nữ lớn tuổi khó sinh con, hoặc đứa trẻ khó thông minh nếu không nói là bị bệnh. Linh cám ơn Trời Phật vì sinh được gái đầu và trai út, hai cháu đều thông minh, hiện cháu trai tốt nghiệp bằng kỹ sư, cháu gái làm y tá (RN-Registered nurse) và có việc làm ổn định. Bạn Tuyết Nhung cũng có một cháu gái học giỏi tốt nghiệp ngành y khoa chuyên bác sĩ Anesthetist (gây mê). Nàng mỉm cười nhớ lại lời tuyên thệ cùng Tuyết Nhung, thùa ấy nghĩ cũng vui.
Miên man dấu chân kỷ niệm …về đến nhà hồi nào không hay. Vừa mở cửa bước vào, con gái MiMi nói vội trước khi đi
– Mẹ ơi! Dì Phượng gọi mẹ và nhắn mẹ gọi lại
Thì ra Phượng (bạn học trường De Anza College , thỉnh thoảng vẫn liên lạc, nhắn Linh chủ nhật tới nghe “Buổi nhạc Chiều Thu” nơi quán cà phê Lover do ông hội trưởng của Văn Thơ Lạc Việt tổ chức. Linh thắc mắc việc tổ chức đã tốn kém, mà nhìn tờ quảng cáo còn uống nước giải khác free, cũng như có trò chơi quà sổ xố trúng thưởng. Linh thắc mắc hỏi bạn
– ông ấy làm gì mà giàu dữ vậy?
– ông là chủ báo Thằng Mõ, thời buổi này làm báo không biết có khá không, nhưng ông rất hào hoa phong nhã, ông là mạnh thường quân của rất nhiều chuyện Cộng Đồng, và hội Nhân Ái của ông luôn đi phát lương thực, tiền, thức ăn cho Homeless đó
– Mày biết nhiều quá ha
– Thì ở vùng San Jose hầu như ai cũng biết tiếng tăm của ông mà, ông tổ chức rất nhiều buổi nhạc free về mùa xuân, Thanksgiving, Ba Mươi Tháng Tư hay những buổi sinh nhật cho hội viên nữa đó. Mọi người quý mến nên trông mong ông làm ăn phát đạt, vì ông mà có là cho cả làng nhờ. Khi bận việc tao không tham dự nên cũng quên mày, lần này tao đi được nên nhớ, lâu quá tụi mình không gặp, đi cho vui nghe.
Linh OK !
Nhìn qua khung cửa sổ của nhà bếp, lá đã vàng rụng tấp vào một góc vườn, thỉnh thoảng có mấy lá rơi là đà theo cơn gió thoảng, cây táo cũng nở hoa, mùi hương bay nhẹ vào thơm dịu vợi. Linh quay lưng nhìn vào bếp lẩm bẩm “ngắm thu không quên nhiệm vụ, phải nấu món gì có sẵn cho Huy về ăn.”
****************
Đúng giờ hẹn. Phượng đứng ngoài khu parking chờ Linh đến. Đôi bạn già bước vào tìm bàn, chương trình đã bắt đầu với những bản nhạc mùa thu thơ mộng :4* Thu Quyến Rũ, 5*Không Còn Mùa Thu, 6*Thu Ca..v..v… Lâu lắm rồi Linh mới được thả hồn theo điệu nhạc lời ca say đắm. Khách vẫn lác đác đi vào dù hơi trễ.
Khoảng giữa chương trình có ba người đàn ông đi vào, hai già một trẻ, họ đi thẳng ra phía sau. Khi ngang qua mặt Linh, nàng thấy một người có nét quen quá sức, cố lôi trí nhớ chợt giật mình “anh Trí’. Linh lẩm bẩm “đúng rồi anh có nốt ruồi to như dân Ấn Độ, chẳng lý có hai người nốt ruồi to cùng nằm cạnh sóng mũi giống nhau, ánh mắt ấy, sóng mũi cao ấy, chỉ tại anh mập quá, đưa đống bụng chảy xệ xuống, đầu hói gần như trọc. Bỗng dưng tim Linh đập mạnh, tay chân hơi run, trong đầu thắc mắc: nghe nói anh ở bên Texas mà, hay là về lại đây chơi, sao dung nhan quá tệ vậy nè…gặp làm chi để bị mất hình ảnh ngày xưa. Linh kề tai nói nhỏ với bạn
– Người xưa mới đi ngang, “phũ phàng tựa như một giấc chiêm bao”. Nói xong Linh ra dấu cho bạn nhìn ra sau ông nào mặc áo đen sói đầu bụng phệ thì đích thị là chàng. Phượng đảo mắt tìm kiếm và tìm ra
– Tao chưa thấy trước kia nhưng cũng đoán chàng đã mất hết rồi, nhưng đâu phải mình chàng, nhìn lại mày thử xem: da thì nám đen, tóc khô xồm bôm, môi như người đau bệnh sốt rét, đã vậy không chịu sửa soạn phấn son một tý …xấu kinh khủng, người cũng mập thù lù chớ bộ. Nếu chàng thấy mi cũng thốt lên
Ngày xưa dáng ngọc yêu kiều
Bây giờ mập ú tiêu điều hỡi em
Cả hai cùng cười rung người. Linh tiếp nối vần thơ
Thì anh cũng vậy…xêm xêm
Sói đầu trợt trán bụng thêm khoe đời
– Chắc là tao không thể ngồi tiếp nữa rồi, thà để một mình tao thấy ông, còn hơn ông thấy tao càng chết nữa.
Phượng làm mặt giận
– lâu ngày gặp tao chưa nói chi nhiều, đã lo …chuồn
– Tao hứa sẽ lên nhà mi chơi một ngày, tụi mình đi shopping, đi ăn uống cho vui. Tao ngồi không yên được nữa, cho tao về trước nghe.
Linh không dám nhìn mặt bạn ra sao nữa, đứng dậy xách bóp đi nhanh ra cửa. Bước chân vội vã như bị ma đuổi, sau lưng còn vang tiếng hát của Đồng Thảo vọng theo …
8* em ru gì cho ta, khi bao ngày phôi pha,
câu hát ngân lên bỗng tắt nửa chừng,
thôi đừng hát ru, thôi đừng ray rứt,
lá trút rơi nhiều đâu phải bởi mùa thu….
Minh Thúy Thành Nội
2024
1* Vũ Thành An
2*Tác phẩm Tự Lực Văn Đoàn
3* Thơ Trần Tế Xương
4*Đoàn Chuẩn, Từ Linh
5* Việt Anh
6* Phạm Mạnh Cương
7* Một chuyến Xe Hoa (Minh Kỳ & Dạ Ly Vũ)
8* Phú Quang
Trần Kiêm Đoàn: HỌP MẶT TÌNH VĂN NGHỆ: XÓM HOÀNG HÔN BẮC CALI.
HỌP MẶT TÌNH VĂN NGHỆ
XÓM HOÀNG HÔN BẮC CALI
Văn nghệ chỉ là văn chương nghệ thuật nhưng ý nghĩa truyền đời và lan tỏa khi nó có một cái tình: Tình sáng tác, tình trình bày và tình thưởng thức… Nếu dòng văn nghệ thiếu mất đi những nguồn tình như thế thì văn chương chỉ là những con chữ, nghệ thuật chỉ là mây bay và độc giả, khán giả chỉ là sương khói.
Thu Cali năm nay, anh chị em văn nghệ Bắc Cali gặp nhau tại Sacramento, thành phố thủ phủ tiểu bang California, thật đông vui và ấm tình văn nghệ. Trong số ba bốn chục anh chị em từ San Jose, Sacramento và các vùng lân cận quây quần bên nhau tại nhà hàng King Palace, đã thấy xuất hiện những bước đi chầm chậm hơn xưa, những dáng vẻ phai màu lạ lẫm, gập ghềnh chống gậy cầm tay… Đặc biệt lần nầy có cả nhà văn Linh mục Nguyễn Hữu Lễ từ phương xa cùng về họp mặt với xóm hoàng hôn Bắc Cali nữa nên không khí thêm phần sống động.
Gặp nhau, ngó đi ngó lại nhận ra người còn kẻ mất. Ôi mới đó! Mới đó mà hôm nay anh chị em đã nhắc tên những người vắng mặt, ngỡ như qua “những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ”:
Minh Đức Hoài Trinh, Vi Khuê, Diệu Tần, Ngô Thùy Yên, Nguyễn Xuân Hoàng, Hà Thượng Nhân, Hồ Linh, Cao Sơn, Nguyên Trung, Tô Ngọc, Thành Đạt, Tô Hòa Dương, Tôn Thất Sang, Hoàng Gia Thành, Phan Dương, Nguyễn Quý Nhượng, Lê Quang Sinh…
Nếu đếm thời gian bằng sự phôi pha, nếp nhăn và mái tóc thì có thể gọi nhau hôm nay là “xóm hoàng hôn” bởi các anh chị viết văn, làm báo, sáng tác nhạc, hội họa thì chỉ trừ vài em trung niên, còn tất cả đều đã là U-80, U-90 và đặc biệt có niên trưởng Diên Nghị là U-100 nhưng vẫn còn “dzô” phong độ như hổ nhớ rừng!
Những anh chị em cầm bút chuyên nghiệp cũng như tài tử làm khách văn chương sáng tác và thưởng ngoạn hoặc chủ báo, chủ nhiệm, chủ bút… góp mặt hôm nay, phần lớn đều đã xông xáo trong nghề từ vài ba chục năm trở lên. Tuy năm tháng không phải là thước đo chính xác bề dày cũng như tầm xa nghệ thuật nhưng sự gắn bó lâu dài với cái nghề bạc bẽo “lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa” – theo kiểu nói kiêu bạc của Vũ Hoàng Chương – thì nếp chung thủy với văn nghệ cũng là cái tình rất đáng quý.
Những cơ sở văn học nghệ thuật, báo chí tiếng Việt góp mặt tại Bắc Cali đã ra đời, sinh hoạt và vươn lên trong những điều kiện giới hạn thật khó tin đối với tầm nhìn của đại chúng khách quan bình thường: Có những tờ tuần báo như Hải Vân, Đất Đứng là cơ sở báo chí tư nhân chỉ có duy nhất một chủ biên kiêm luôn tòa báo như Hải Vân News (Châu Ngọc Thủy), Cao Ánh Nguyệt (Phụ Nữ Cali) hay một gia đình tiếp tay nhau làm báo như Đất Đứng (Nhật Thịnh, Khuê Dung và hai con trai). Tinh thần hăng say làm báo của người Việt, tiếng Việt đã làm cho giới báo chí xứ người ngạc nhiên và khâm phục trước hiện tượng một vài cá nhân chủ báo bao biện mọi công việc bài vở, biên tập, in ấn, phát hành, quảng cáo, kế toán… liên tục kéo dài trong vài ba chục năm. Hôm nay cũng là dịp họp mặt nhiều chủ nhân, chủ biên của các tờ báo trong vùng như Lê Văn Hải (Mõ), Song Nhị (Cội Nguồn), Trần Văn Ngà (Tiếng Vang), Khuê Dung (Đất Đứng), Chính Văn (Amy Duong), Cao Ánh Nguyệt (Phụ Nữ Cali)…
Những khuôn mặt thân quen trong giới văn bút đang hoạt động chậm lại và thưa dần theo tuổi đời chồng chất. Ngày tháng đi qua, thế hệ văn bút tiếng Việt đàn anh, đàn chị đã lần lượt ra đi khá nhiều.
Cuộc họp mặt năm nay do Cơ sở Thi Văn Cội Nguồn tổ chức. Được gặp nhau với những người bạn văn và thân hữu cao niên đã khiến cho bầu không khí hội ngộ đầy cảm động, nhìn nhau với những khuôn mặt theo thời gian phôi pha nhưng niềm vui phát khởi từ tình thân như gia đình văn bút vẫn đậm đà ý nghĩa.
Thời gian thì không chậm lại và tuổi hoàng hôn thường mau tối nên anh chị em bịn rịn chia tay hẹn ngày gặp lại. Dẫu có “mai sau dù có bao giờ…” thì buổi gặp mặt anh chị em hôm nay cũng mang đến niềm vui kéo dài xa tắp để còn đốt lò hương cũ “a thing of beauty is a joy forever – vui là chính” mà John Keats từng mê ly.
Hẹn lần sau giữa mùa Thu Cali.
Sacramento, mạnh Thu 2024
Trần Kiêm Đoàn
Sư Minh Tuệ Đã Dạy Chúng Ta Những Bài Học Giá Trị Nào?
Tôi may mắn được trời thương, ban cho đôi hàm răng rất đều và khỏe. Nên từ nhỏ tôi đã thích nhai những loại thức ăn nào mà cứng cứng, giòn giòn, như sườn non, tai heo, đầu cá, cua rang… Tôi hoàn toàn không thích ăn những thức ăn mềm nhão. Mẹ thường nói tôi có sở thích ăn uống giống hệt ba tôi ngày trước. Dù ba mất khi tôi mới vừa tròn năm tuổi nhưng mẹ nhắc về ba hầu như mọi lúc mọi ngày, làm cho tôi cứ nhớ về ba mỗi khi được ăn món ăn nào yêu thích.
Về ăn vặt thì tôi khoái xiết mía, nhai ổi chua, xoài xanh, trái sung non, hay trái chùm ruột. Những buổi trưa hè, tôi thường rủ cô em Bích Vân con ông cậu ruột ra vườn nhà ngoại trèo lên cây ổi hoặc cây xoài mang theo gói muối ớt rồi hái xoài non ổi già cùng ngồi nhai mê mẩn. Chúng tôi thích nhất là nhai mía. Khi ruộng mía trước nhà cây bắt đầu có nhiều đốt, hai đứa thường mang theo hai tàu lá chuối to vẹt những đám lá mía đan nhau chằng chịt, mặc kệ bầy chim mía túa ra bay lên ào ào, chúng tôi chui vào giữa đám mía rậm rì tước lá khô bỏ xuống làm nệm rồi trải tàu chuối lên. Bẻ những cây mía nào có đốt dài nhất, thân trắng hồng, chúng tôi ngồi xiết và nhai rau ráu. Lớn lên rồi tôi và em mỗi đứa mỗi nơi nhưng những kỷ niệm thời con nít vẫn còn ở mãi trong tôi.
Lên mười mấy tuổi tôi bắt đầu mọc hai cái răng khôn hàm trên. Tôi bị nóng sốt và bỏ ăn vì rất đau khi hai cái mầm trăng trắng vẹt nướu đội da nhu nhú chui ra. Mẹ vỗ về, nói răng khôn mọc lên là để giúp con…khôn ra, nên tôi cũng vững lòng ráng mà chịu đựng.
“Khôn hơn” hay không thì tôi không cảm nhận được, chỉ biết lớn lên rồi lập gia đình thì cái sở thích “nhai gặm” của tôi bị chàng người dưng khác họ chế nhạo dài dài. Ai khôn thì gặm xương, mình dại mình ăn thịt; ai thích nhai da sần sậc, mình ăn nạc cho mềm; ai thích nhăm đầu cá đầy xương, ta dzớt cái mình thịt ngọt lịm ngon ơ; hoặc, ai muốn nhai phần lòng trắng trứng kệ ai, tớ nhâm nhi lòng đỏ béo bổ ngọt ngào trong miệng… là những câu chàng thường chọc ghẹo tôi trong các bữa ăn. Tóm lại, món cứng không có chàng, món nhão không có tôi. Nhưng cũng nhờ thế mà đến bữa ăn tôi chỉ cần làm mỗi một món chính thì có đủ “món ruột” cho cả hai người, không ai phải nhường, nhịn ăn hay “giành” ăn với ai cả.
Ở Mỹ, mấy năm nay sau khi về nghỉ hưu, hai chúng tôi đều tập thiền, và thay đổi thức ăn hàng ngày bằng cách ăn toàn rau củ chứ không ăn thịt cá nữa. Vẫn bổn cũ soạn lại: Tôi thích nhai các loại hạt cho giòn giòn thơm thơm béo béo, thì chàng thích uống sữa các loại hạt, nốc một hơi là xong, hơi đâu ngồi nhơi nhai cả buổi; tôi thích nhai kẹo dừa trộn đậu phụng ngọt dẻo quánh thơm lừng, thì người ta chặt béng trái dừa một phát, úp ngược vào miệng uống ừng ực xong khà khà ra vẻ vô cùng khoái chí; hoặc là, tôi chỉ rửa trái cây rồi cắn nhai luôn cả vỏ, thì chàng bỏ vào máy xay nhuyễn và uống ngay phát một.
Nhưng không hiểu sao chàng lại là người thăm viếng nha sĩ nhiều hơn tôi…đi chợ. Khi thì nhổ cái răng này, lúc lại thay, làm giả, cái răng khác, và bị “chuyện răng cỏ” làm phiền liên chi tù tì. Về phần tôi, vì có vài lần đi clean răng tôi bị những chuyên viên non tay nghề làm khuyết hết mấy góc của những chiếc răng bên trong, nên tôi tìm mua một bộ dụng cụ clean răng bằng inox về tự làm sạch răng mình hàng ngày, đánh răng hai lần kết hợp dùng chỉ nha khoa, nên tôi chưa hề bị sâu răng. Chỉ thỉnh thoảng mỗi một hay hai năm tôi mới viếng nha sĩ một lần nhờ họ làm “cleaning only”. Tuy vậy mỗi lần tôi tới thăm, các nha sĩ đều khen tôi “take good care” chúng.
Nhưng không phải như thế thì răng của tôi hoàn toàn “ngon lành” đâu. Vì cái sở thích nhai nhiều, nhai không mệt mỏi những thức ăn cứng nên mấy cái răng cấm hàm dưới đã bị mòn đi, ngắn dần, ngắn dần theo năm tháng. Sợ chúng bị mòn “sát sọ” sẽ không còn nhai được, tôi đi nha sĩ nhờ bọc bạch kim (Crown) hai cái răng cấm hai bên hàm dưới, để cho chắc… ăn.
Riêng hai cái răng khôn hàm trên của tôi chúng trở nên “quá khôn” nên nhân lúc răng cấm hàm dưới bị ngắn đi không có đủ độ dài để chống đỡ, hai tên đó tha hồ tiếp tục mọc dài thêm, rồi dài thêm xuống bên dưới, đến độ chúng vượt cách xa những cái răng hàng xóm hàm trên đến cả nửa phân tây (0.5cm)
Đến khi hai cái răng khôn mọc quá dài, thì nha sĩ gia đình khuyên tôi phải đi nhổ bỏ. Nếu để chúng mọc tiếp thì khi nhai sẽ bị đập vào cái răng cấm đã bọc ở hàm dưới và làm hư cái răng này. Nghe kêu đi nhổ răng khôn là tôi… phát hoảng.
Có nhiều người nói nhổ răng hàm trên, nhất là mấy cái răng cấm thì dễ bị chạm dây thần kinh và về sau sẽ bị “mát dây”, và cũng có vài đứa bà con tôi biết sau khi nhổ răng cấm thì tâm thần rất là bất ổn, nếu không nói là bị bệnh thần kinh. Nhà tôi và mấy đứa con thì nói răng không đau đâu cần nhổ làm gì cho… thêm chuyện; thằng con còn “hù” tôi, kể lại khi nó đi nhổ răng khôn, người ta dùng kềm móc cái răng rồi “đu” người lên mà kéo; ông bố thì “dọa”, coi chừng nhổ răng xong bà không còn nhớ tôi là ai; rồi vài chị bạn tôi kể nhổ răng khôn về sưng đau hành rất lâu, rất mệt v.v…làm tôi hãi quá. Tôi lên net tìm hiểu về “lợi và hại của việc nhổ răng khôn” thì có quá nhiều thông tin xuôi chiều và ngược chiều, nên tôi quyết định không nhổ. Cho nó lành.
Nhưng rồi “nước chảy đá mòn”. Tuy lâu lâu tôi mới đi nha sĩ một lần – tôi thử đi vài nha sĩ khác nhau xem họ nói sao – nhưng lần nào tôi cũng bị các ngài hối thúc đi nhổ hai cái “của nợ” ấy thì mới an toàn cho hai cái răng cấm đã bọc bạch kim nơi hàm dưới. Tôi bắt đầu nao núng, nghĩ đến chuyện kiếm một nha sĩ. Vì sợ sẽ không còn được nhai những món yêu thích như trước, nên cuối cùng tôi làm hẹn một nha sĩ chuyên môn về nhổ răng. Sau khi vị này chụp X-ray xem hình xong thì ông chỉ cho tôi coi và nói:
“Xem này, răng bà còn quá tốt, cả hai hàm chân răng thật dài, chắc chắn, nên sẽ rất khó nhổ. Bây giờ tôi gửi bà đến một vị chuyên môn về Giải Phẩu Răng Hàm Mặt để ông ấy giúp bà”. Rồi ông giới thiệu tôi tới người có chuyên môn (Dental specialist) là BS Nha Khoa “Khoa Phẩu Thuật Răng Hàm Mặt” là Dr. Will Osibin ở Alameda. Tôi về nhà lên Google tìm và thấy vị này được rất nhiều người đăng lời khen và toàn bộ khách hàng đều chấm 5 sao. Tôi liền gọi làm hẹn.
Ngày đến gặp Dr. Will Osibin, tôi cho ông biết răng của tôi nào giờ không hề hấn gì cả, không bị đau, không bị sâu, cầm lắc mạnh cở nào cũng chẳng chút lung lay, hà cớ chi mấy ông nha sĩ gia đình cứ hối thúc tôi phải bỏ chúng đi. Thú thật, tôi thật lòng không muốn nhổ chút nào, tôi nói.
Thấy vẻ mặt rất nghiêm trọng và lo lắng của tôi, Dr. Will Osibin giải thích, “Bà yên tâm, đây là một cuộc Tiểu phẩu có gây mê. Bà sẽ được cho ngủ một chút xíu khi thức dậy là mọi thứ sẽ ổn thôi.” Ông khám kỹ càng xong hẹn ngày làm phẩu thuật, rồi bắt tay cười tươi khi tiễn tôi ra về.
Vì quá “chết nhác” gần đến ngày hẹn thì tôi gọi hủy. Nhưng hủy rồi tôi cũng đâu có được an tâm. Một tháng trời suy nghĩ nát óc, kiếm đủ lý do để không làm hẹn lại mà không thuyết phục được chính mình. Một chị bạn nghe chuyện thì mắng, “Sao một người mạnh mẽ dạn dĩ như bồ bữa nay lại là con…chicken vậy hả?
Rồi thì tôi cũng gọi làm hẹn lần nữa. Và càng gần đến ngày hẹn tôi lại càng hồi hộp, lo âu đến không ngủ được, những giờ thiền buông xả cũng chẳng giúp được tôi. “To be or not to be” Câu độc thoại của Hoàng tử Đan Mạch Hamlet trong Shakespeare cứ vang lên trong đầu tôi. Nhổ hay không nhổ. Nhổ thì sợ, mà không nhổ thì… cũng sợ, sợ nếu sau này tuổi già thêm chồng chất, sức khỏe kém đi thì việc nhổ răng lại càng nguy hơn. Chưa kể là ông BS chuyên gia giỏi có tiếng này sẽ giận vì tôi hủy hẹn đến hai lần nên không thèm nhận nữa. Thôi thì “một liều ba bảy cũng liều” tôi cương quyết bỏ cái ý muốn hủy hẹn – phải hủy trước 24 giờ nếu không sẽ bị phạt khá tiền – và thế là không thể “chạy đâu cho thoát” nên sáng hôm sau tôi đánh liều đi thẳng một mạch tới chỗ Trung tâm Nha Khoa của Dr. Will Osibin.
Phải công nhận đây đúng là cuộc Tiểu phẩu của một chuyên gia có chuyên môn cao. Phòng phẩu thuật riêng biệt, với dụng cụ tiệt trùng bày la liệt trên tủ, bảo quản trong bao bì cẩn thận. Đội ngũ phụ tá BS ai nấy ăn vận đề huề trang phục bảo hộ, với găng tay mũ mão dành cho phẩu thuật. Tôi hơi an tâm, nằm thả lỏng lấy hơi hít thở thiền để giúp tăng thêm sức mạnh.
Nhưng khi người y tá đưa tôi cái kính bảo vệ mắt và cột tay trái tôi vào thành ghế, tôi bắt đầu… run. Thấy Will Osibin sắp quay đi lấy gì đó tôi dùng bàn tay còn lại kéo tay áo ông, giật giật:
“Bác sĩ ơi! Cho tôi hỏi một câu!”
Ông dừng lại:
“Mấy câu cũng được hết! Bà hỏi đi.”
“Nhưng bác sĩ đừng có giận nha!” Tôi kỳ kèo.
Dr. Will Osibin lắc đầu cười, nụ cười nói lên cái vẻ tội nghiệp tôi:
“Không sao đâu! Tôi hứa. Bà có quyền được hỏi bất cứ câu nào bà muốn.”
Giọng run run, tôi nói chậm từng lời:
“Tôi nghe người ta nói, nhổ răng khôn đôi khi có thể bị chạm vào dây thần kinh não bộ khiến cho người ta hóa rồ, hay là quên hết mọi thứ. Tôi là người thích viết văn và làm thơ, cho nên tôi rất sợ bị quên hết sách vở của tôi và không còn viết lách gì được nữa thì tôi … tiêu tùng, thà không nhổ răng còn hơn! Bác sĩ làm ơn giúp tôi nhổ răng cho nhẹ nhàng, kỹ càng một chút nha!”
Nghe tới đây ông ấy bật cười và nhìn chăm chăm vào mặt tôi. Xém chút nữa là tôi lấy tay che cái “khuôn mặt mốc” không chút điểm trang của mình. Tôi thường ngày mỗi khi đi đâu hay bị chàng của tôi mắng, “Già mà còn xí xọn”, vì tôi bắt anh ta chờ đợi cho đến khi làm xong các “thủ tục mặt mũi” rồi tôi mới chịu ra khỏi cửa. Đây là lần đầu tôi ra ngoài mà không có chút gì bôi lên để che chắn “những con đường, những ngõ ngách thời gian” đã vẽ ngoằn ngoèo trên khuôn mặt. Tôi chỉ thoa một chút kem dưỡng da Collagen, vì trong giấy tờ y tá dặn không được điểm trang và đeo nữ trang gì cả. Chắc mình nom xấu xí ghê lắm, tôi nghĩ thầm. Dù ông Will Osibin này chỉ bằng cỡ tuổi con trai tôi, tôi cũng không muốn ông cười “bà già trầu xấu xí” mà bày đặt nói chuyện văn chương.
Nhưng không. Ông ấy không hề chế nhạo.
“Bà viết và làm thơ về chủ để gì vậy? Viết tiếng Anh?” Ông hỏi với giọng nhẹ nhàng và ánh mắt
đầy thân thiện, quý mến.
“Chuyện tình, và chuyện … thiên hạ sự thường ngày trong xã hội”. Tôi trả lời. “Hầu hết là tôi viết tiếng Việt, nhưng cũng có viết chút chút tiếng Anh, như thơ và truyện ngắn.”
Dr. Will Osibin gật đầu cười rồi vỗ vai tôi, tròn mắt trầm trồ nói một hơi:
“Wow! Viết chuyện tình ư? Good job! Yên chí nha! Rồi bà vẫn sáng tác bình thường, có lẽ viết hay hơn nữa là khác, vì không còn bị mấy cái răng khôn làm phiền, chứ không phải là “hết khôn” đâu! Ha ha ha. Bà chỉ quên hết… chuyện hôm nay, vì bà sẽ không bị đau, và cũng sẽ không bị “mát dây” gì cả!” Ông giải thích, “Những lời đồn đoán đó là nói về những ca đại phẩu hay mổ não nguy hiểm mà thôi!”
Vừa nói Will vừa lấy sợi dây thun trên cái bàn nhỏ người y tá đẩy tới cột vào cánh tay phải tôi, rồi ông đích thân cuối xuống cầm kim cho thuốc mê vào mạch máu. Xong xuôi ông đứng lên, nheo một bên mắt và vẫy vẫy mấy ngón tay trước mặt tôi cùng với nụ cười…
“Hey! Wake up, lady!” Này! Thức dậy đi bà ơi!
Tôi nghe tiếng cô y tá gọi nên mở mắt ra. “Thức dậy và về nhà viết chuyện tình đi!” Tiếng Dr. Will Osibin tiếp theo, và mấy người y tá rộ lên cười phụ họa.
Tôi nhìn quanh, ngạc nhiên lắp bắp:
“Sao… sao… tôi phải về? Bác sĩ không chịu nhổ răng cho tôi… hay sao?” Tôi nhớ BS Will mới nói chuyện với tôi rõ ràng… sao… giờ lại cho về chứ?
Tiếng cười vui càng rộn lên hơn nữa.
“Xong hết rồi! Bà có cảm thấy đau không?” Cô y tá hỏi.
“Trời đất!” Tôi kêu lên. “Xong rồi sao? Tôi không hay biết gì cả! Ôi bác sĩ ơi! Ông quá giỏi, quá tuyệt vời! Tôi không hề có cảm giác đau đớn gì hết! Thậm chí không biết là mình đang bị nhổ răng!” Và tôi nói lia lịa vì mừng. “Cảm ơn! Cảm ơn bác sĩ, và mọi người đã giúp tôi!”
Mà đúng thế. Tôi không hề có một chút cảm giác đau đớn nào từ lúc nhổ răng cho đến khi về nhà, cũng không hề bị chảy chút máu, cứ như chưa từng bị nhổ răng. Hai giờ sau y tá chỗ Trung Tâm gọi và hỏi thăm mọi thứ có ổn hay không. Họ quả thật rất chu đáo. Tôi chỉ làm theo lời cô y tá dặn, là nghỉ ngơi không vận động mạnh, nhưng tôi đã không cần đụng đến viên thuốc giảm đau nào Dr. Will Osibin cho.
Ngay hôm sau, khi nhận được bản thăm dò từ tin nhắn của văn phòng Trung Tâm hỏi về kết quả lần thăm viếng với Dr. Will Osibin, tôi viết liền một mạch những lời khen “có cánh” để cảm ơn Will Osibin người Bác sĩ đại tài lại rất có tâm.
Bây giờ ngồi viết chuyện này tôi nhớ lại lời Dr. Will Osibin khi tôi chào từ giã, “Tôi phải khen
bà đã giữ gìn quá tốt hai hàm răng. Đến giờ này chúng vẫn còn nguyên vẹn và rất tốt, tôi
không tìm thấy có vấn đề gì, nên bà sẽ còn hưởng lợi từ chúng dài dài. Hãy tiếp tục như thế!”
Tóm lại, từ kinh nghiệm bản thân, tôi rút ra những điều này, xin chia sẻ cùng bạn đọc:
Nếu muốn ít bị đi thăm Nha sĩ, thì nên giữ gìn răng mình cho thật kỹ.
Nếu chúng ta tập cho con cháu thói quen đánh răng ngày 2 lần ngay từ nhỏ và dùng chỉ nha khoa để làm sạch kẽ răng, nhất là khi chúng thay răng xong đủ cứng cáp, thì khi lớn lên, và có thể cả đời, răng của chúng sẽ không bao giờ bị …sâu gặm.
Nếu cần nhờ đến Nha sĩ, nên tìm hiểu kỹ càng, tìm người giỏi có tay nghề cao, được công chúng đánh giá tốt, thì mọi việc sẽ an toàn. Tác giả từng bị người clean răng không chuyên nghiệp làm khuyết sâu một góc của hai chiếc răng cấm. Đó là lý do mà phải tìm cách tự clean cho mình, và về sau tâm trạng quá lo lắng khi đi gặp nha sĩ.
Nếu thấy cần thiết, hãy mạnh dạn quyết định đi gặp Nha sĩ nhờ giải quyết vấn đề, đừng để những lo âu hành hạ tâm trí mình như tác giả, đã phải mất hết mấy năm trời mới quyết định việc đi nhổ răng khôn.
Xin trân trọng giới thiệu Dr. Will Osibin với cộng đồng Việt Nam mình.
Dr. Will Osibin III
Address: 2242 Santa Clara Ave, Alameda, CA 94501
Phone: (510) 523-1862
Phương Hoa – NOV 18/2024
Ca khúc: MUÔN ĐỜI TẠ ƠN – 🎼 Sáng tác: VĂN DUY TÙNG – Trình bày: HỢP XƯỚNG LẠC VIỆT
Lời Tạ Ơn Trong Ngày Lễ Thanksgiving
Hàng năm vào ngày Thứ Năm tuần cuối cùng của tháng Mười Một, nước Mỹ có một ngày lễ mà tôi cho là ý nghĩa nhất trong tất cả những ngày lễ ở đất nước Hiệp Chủng Quốc này. Ðó là ngày lễ Thanksgiving – ngày lễ Tạ Ơn.
Lễ Tạ Ơn đầu tiên diễn ra vào năm 1621, không lâu sau khi những người Pilgrims từ nước Anh tìm ra và đặt chân xuống đây, rồi chọn vùng đất này để sinh sống – để từ đó; con cháu họ và những thế hệ nối tiếp lập nên một quốc gia hùng cường và giàu có bậc nhất thế giới: Quốc Gia Hoa Kỳ.
Số người tham dự lễ Tạ Ơn đầu tiên ấy chỉ vỏn vẹn có 140 người; gồm 90 người Wampanoag (Người Da Đỏ) và 50 người Pilgrims. Một số người Pilgrims đã bỏ xác dọc đường theo cuộc hành trình khi tìm đến đây và tiếp sau đó, một số khác cũng khá đông đã vùi thân khi chưa kịp thích nghi với khí hậu và phong thuỷ, nhất là bệnh tật luôn chờn vờn vào những buổi đầu sơ khai với mùa đông giá rét. 140 người đó đã dành đúng 3 ngày để tế lễ Tạ Ơn ngay sau khi vụ mùa được thu hoạch.
Ba ngày đó, họ làm gì và tạ ơn ai?
Họ tạ ơn Trời, tạ ơn Thượng Ðế đã giúp họ sống sót khi vượt tuyến đường ngàn dặm và may mắn tìm ra vùng đất màu mỡ này; vùng đất đầy sữa và mật. Họ tạ ơn Thượng Ðế đã chúc phúc cho họ có được vụ mùa gặt bội thu đầu tiên. Họ cũng không quên tạ ơn những thổ dân Da Đỏ đã hướng dẫn biết canh tác và chăn nuôi trong những ngày tháng chân ướt chân ráo… Và hôm nay đây sau hơn 300 năm, người dân Hoa Kỳ – là những thế hệ tiếp nối vẫn đều đặn tái diễn lễ Tạ Ơn vào ngày Thứ Năm tuần cuối cùng của tháng Mười Một mỗi năm, như một nhắc nhở đến con cháu họ phải luôn biết ơn Trời, nhớ ơn người “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây, Uống nước nhớ nguồn” như truyền thống và văn hóa của người Việt Nam đã dạy và nay đã ghi sâu và thấm nhuần trong dòng máu.
Qua câu chuyện The First Thanksgiving (Lễ Tạ Ơn Ðầu Tiên), tôi liên tưởng đến người tỵ nạn Việt Nam chúng ta trên vùng đất Hoa Kỳ này (Hoặc một quốc gia nào khác). Quả thật, chúng ta chẳng khác gì người Pilgrims thuở đó khi bỏ nước ra đi tìm tự do và đất sống. Những chuyến hải trình vượt đại dương của bạn và tôi trên những mảnh thuyền mong manh đã phải đối đầu bao gian khổ, hiểm nguy. Gian khổ và nguy hiểm ấy có thể ngập đến mức 99 % của cái chết bởi sóng gió, bởi đói khát, bởi nạn hải tặc… Thế mà cũng đành chấp nhận đánh đổi để chỉ mong 1 % nhỏ nhoi còn lại của sự sống.
Biết bao trở ngại của những ngày đầu lạ nước lạ cái nơi các trại tỵ nạn, những cách biệt và xa lạ từ ngôn ngữ, tập quán, văn hóa và khí hậu… Thế rồi ngày hôm nay khi ngoảnh lại, tôi cũng như bạn chợt nhớ ra rằng; chúng ta đã mang ơn biết bao người và biết bao điều trong cuộc sống mà thường thì con người hay quên hoặc cố quên những người đã làm ơn tạo phước cho ta trong cuộc đời. Nhất là sau khi bạn và tôi đã công thành danh toại, đã trở nên sung túc trên vùng đất Hoa Kỳ này.
Ðể hiểu rõ chắc chắn hơn cái ý thức của sự vô ơn không nhớ đến những người mà ta đã mang ơn. Xin hãy vào các nhà thờ hay chùa chiền…, chúng ta sẽ thấy và sẽ nghe được toàn là những lời cầu kinh, cầu nguyện: nào là xin này xin nọ của giáo dân, của thiện nam tín nữ mà quên đi sự tạ ơn. Hãy xem thêm tờ thông tin mục vụ ở những nơi đó, nào là chằng chịt những người xin ơn, xin ban, xin cho, xin được, xin có, xin thêm điều này điều nọ mà không thấy một lời, một lễ để tạ ơn, nếu có thì cũng rất giới hạn. Mặc dù sự tạ ơn của chúng ta cũng chẳng có thêm lợi ích gì cho Thượng Ðế. Thế nhưng, Ngài muốn lòng con người ghi nhớ và biết ơn nhau để tình cảm cộng đồng con người được nở hoa và sinh thêm hoa trái, mang lợi ích cho mình cho người, và nhìn thấy mối liên đới và tương quan tốt đẹp trong đời sống chung quanh.
Hôm nay trong ngày lễ Tạ Ơn. Bầu trời ảm đạm của mùa Thu tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn (Washington. D.C.) Bầu trời thoảng khói lam chiều ảm đạm thoáng giống như bên quê nhà. Ngoài kia, những cơn gió mơn man hàng cây trùi trụi, những chiếc lá vàng úa rồi rơi rụng. Lá về với lòng đất, về với cội nguồn. Ðời người đâu khác chi chiếc lá: xanh tươi đó, úa tàn đó. Lá sẽ mục nát trong lòng đất hoá chất hữu cơ cho cây được bén rễ để ươm chồi cho ngày mai tiếp nối.
Trên cả mọi điều, chúng ta hãy dâng lời tạ ơn Thượng Ðế vì điều kỳ diệu và tuyệt vời nhất Ngài đã tạo dựng cho chúng ta là hình hài con người, có lương tri và tâm trí mà không phải hình con thú hoặc vật vô tri.
Tạ ơn Ngài đã thổi trong hình hài ta sự sống với lý trí để xét suy điều đúng/sai, lẽ thiện/ác và biết nhận ra con đường Thượng Trí, tìm đến ánh sáng của Chân-Thiện-Mỹ. Ngài còn tạo và đặt vào trong ta một trái tim. Trái tim không chỉ có bổn phận bơm máu nuôi cơ thể, mà còn để hưởng nhận và ban phát yêu thương cùng những rung cảm trong đời sống.
Theo khoa học, bộ phận đầu tiên khi bào thai hình thành là một giọt máu biết đập. Ðó chính là trái tim. Nhờ có trái tim và lý trí mà bản năng con người được kiềm chế, được xoa dịu, nhất là khi phải đối diện với những xung đột và khác biệt trong nhịp sống nơi bản chất của con người.
Vâng, nếu chúng ta chỉ biết hành động theo bản năng thì có lẽ chúng ta đã, đang và sẽ “làm thịt” nhau không ngừng tay. Vì đời nào ai chịu thua ai? Ngài biết rõ bản chất của con người là thế nên đã gắn, đã ban cho mỗi con người có một trái tim và thêm một khối óc để chế phục bản năng.
Khi nói đến trái tim cũng là đề cập đến sự sống, là nói đến sự yêu thương, hạnh phúc, bình an… Nếu mọi quốc gia, mọi dân tộc, mọi gia đình, mọi con người luôn đặt trái tim cạnh lý trí để “xử lý” với nhau trong bất cứ mọi tình huống, mọi hoàn cảnh thì có lẽ thế giới này sẽ thôi chiến tranh, con người sẽ gần lại với nhau, sẽ nâng đỡ và thương yêu nhau, gia đình sẽ hạnh phúc, xã hội sẽ dang rộng cánh tay chào đón tất cả mọi thành phần mà không phân biệt chủng tộc, màu da, giàu nghèo, sang hèn…
Hẳn, Thượng Ðế đã có lý do khi tạo ra trái tim đầu tiên (Giọt máu biết đập) để hình thành con người (Là bào thai) trước cả cái đầu, cái miệng và đôi tay… Vậy, tại sao không mang trái tim của chúng ta ra để quân bình, lý lẽ và phân tích đầu tiên trong mọi tình huống, mọi điều, và mọi việc của đời sống hằng ngày. Thực hiện như thế thì xã hội thôi nhiễu nhương, vơi bất công, thế giới bớt chiến tranh, tránh đầu rơi máu đổ, con người bớt ganh ghét, thù hằn và những xung đột, những tranh chấp… cũng được xoa dịu.
Xin hãy cúi đầu để tạ ơn sự tuyệt diệu của Thượng Đế khi tạo dựng nên vũ trụ bao la và loài người. Ôi! Ðấng Quyền Năng thật Tuyệt Hảo và Vô Song.
Có lẽ bạn và tôi không cùng tôn giáo – không chung niềm tin, nhưng chúng ta không thể phủ nhận sự hiện diện của Thượng Ðế đã tạo dựng nên vũ trụ, sông biển, núi đồi, nắng mưa, cỏ hoa, cầm thú… với mục đích, đó là chỉ vì yêu thương con người, rồi Ngài cho con người được ân hưởng và làm chủ vạn vật. Ngài còn sắp xếp mọi vật thể trong vũ trụ, chuyển mình theo tuần tự trong bàn tay quyền năng và an bài của Ngài.
Bạn cứ tưởng tượng xem nếu ta sống không có ánh sáng trong 24 giờ, hoặc một tuần, một tháng thì sẽ bất tiện đến thế nào? Hoặc những ngôi sao va chạm, rơi rớt hay vũ trụ hỗn loạn thì đời sống con người sẽ ra sao? V..v…
Vậy, tất cả và thậm chí ngay cả ngày và đêm cũng nằm trong lập trình sáng tạo để cho con người có được năng lượng, có ánh sáng của mặt trời và được nhận ra thời gian, năm tháng, ngày và đêm mà tính toán, sắp xếp, nghỉ ngơi và làm việc…
Sau khi tạ ơn Trời, bạn và tôi chắc chắn nghĩ ngay đến gia đình. Ngày lễ Tạ Ơn cũng là ngày quy tụ mọi thành viên trong gia đình. Con cháu từ phương xa trở về với tổ ấm, về để tạ ơn đấng sinh thành, để gặp gỡ và tìm lại hơi ấm của gia đình.
Thượng Ðế đã hình thành xã hội đầu tiên cho loài người đó là người chồng, người vợ và từ đó họ sinh ra con cái. Chung quy lại đó chính là gia đình. Nơi gia đình ta tìm được chỗ nương tựa và yêu thương, được an ủi và vỗ về, được chia sẻ ngọt bùi hay đắng cay, hạnh phúc hay khổ đau trong đời sống. Trọng điểm của ngày lễ Tạ Ơn đối với các gia đình, đó là sự gần gũi và nhất là bữa ăn tối. Ông bà, cha mẹ, con cái và cháu chắt quây quần bên bàn ăn rồi dâng lên lời tạ ơn Thượng Ðế đã ban cho biết bao ân huệ trong năm qua. Tạ ơn đấng sinh thành đã dưỡng dục nuôi nấng ta đến ngày khôn lớn.
Còn gì hạnh phúc và ý nghĩa cho bằng khi có được mọi thành viên gia đình bên bàn ăn trong ngày lễ Tạ Ơn. Những món ăn không buộc phải cao lương mỹ vị mà chỉ là những món ăn đơn giản như khoai, đậu, ngô, bí… đã được chế biến, nhất là món gà tây (Turkey) thì không thể thiếu được. Những món ăn này bắt nguồn từ ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên của người Pilgrims và nay đã trở thành món ăn truyền thống không thể thiếu trong ngày lễ này hằng năm.
Chúng ta còn tạ ơn ai nữa không?
Còn, còn nhiều lắm bạn ạ! Này nhé: vào những năm đầu sau năm 1975, có biết bao người Việt Nam bỏ nước ra đi, những ngày tháng lênh đênh trên biển cả, lạc lõng trong rừng sâu. Nếu như không có những chiếc tàu và lòng thương xót của người ngoại quốc cứu vớt, thì xác thân bạn và tôi đã làm mồi cho cá, cho thú dữ rồi phải không? Vì thế chúng ta không thể không biết, không nhớ ơn đến những người đã dang tay cứu vớt những thuyền nhân rồi đưa vào các trại tạm cư, trại tiếp tế, trại tỵ nạn, trại chuyển tiếp như Thái Lan, Mã Lai, Hồng Kông, Phi Luật Tân… Nhờ những trại đó để cho chúng ta có cuộc sống ngắn hạn và tạm thời sau những ngày tháng lênh đênh biển cả hoặc lạc lối rừng sâu trước khi lên đường định cư ở một quốc gia khác.
Ơn cao cả, lòng nghĩa hiệp và bác ái đó là từ tấm lòng nhân đạo của các thuyền trưởng, của Liên Hợp Quốc, của các hội từ thiện: Hội USCC, Hội ICM, các cơ quan bảo lãnh và từ thiện của các tôn giáo: Catholic, Tin Lành…
Làm sao bạn và tôi có thể quay phắt hoặc quên bẵng đi những ân nhân người Mỹ đã bảo lãnh, ra tận phi trường đón và đưa chúng ta về, cho ở trong nhà rồi đối xử, giúp đỡ…, và ân cần như một thành viên trong gia đình của họ.
Sau này nước Mỹ còn có thêm sự bao bọc, giúp đỡ và bảo lãnh những quân nhân cán chính của Việt Nam Cộng Hòa bị tù đày trong các trại cải tạo sau năm 1975 mà chúng ta ai cũng biết. Đó là “Chương Trình H.O.” Sự đọa đày này không chỉ nơi những cá nhân quân nhân cán chính mà còn cả gia đình của họ cũng bị liên lụy suốt bao thời gian.
Ôi! Người Mỹ và Nước Mỹ NHÂN ĐẠO biết bao! Họ có con TIM đúng với ý nghĩa tên gọi của nó! Biết rung cảm, yêu thương; chia sẻ, an ủi và nâng đỡ… để những người này và gia đình của họ lấy lại sự quân bình của cuộc sống, và con cái của họ vươn lên về mọi phương diện trên vùng đấy Hoa Kỳ này.
Tạ ơn đến những người lính canh gác nơi tiền đồn, những chiến sĩ đã hy sinh nằm xuống để gìn giữ quê hương, đất nước; những người cảnh sát, những cơ quan bảo vệ hòa bình, những vệ binh quốc gia chặn đứng và dẹp tan quân khủng bố và những thành phần bất hảo trong xã hội để cho gia đình bạn và tôi, cho tất cả mọi người có giấc ngủ và cuộc sống yên lành.
Liên quan trong đời sống hằng ngày, chúng ta cũng biết ơn đến những vị chức sắc và tu sĩ của các tôn giáo hướng dẫn đường tâm linh, chỉ cho chúng ta nhận ra ánh sáng của sự cứu rỗi trong cuộc đời khổ đau.
Thiên Chúa yêu thương con người và đã ban Ðức Giêsu Kitô xuống thế gian chịu chết vì tội lỗi của nhân loại, rồi qua sự chết của Ngài để cho chúng ta được ơn cứu độ. Sự hy sinh cái chết của Ngài cũng là sự kết nối giữa trời và đất để không còn khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người. Cũng thế, Phật Thích Ca đã chua xót khi thấy chúng sanh quá đau khổ, trầm luân, xã hội nhiễu nhương, bất công… Ngài thốt nên lời bi ai: “Ðời Là Bể Khổ” rồi rũ áo hoàng tử và từ bỏ đời sống vua chúa, quyền quý, cao sang lên đường tầm đạo cứu chúng sanh.
Vâng, đời là khổ thật nên luôn cần đến các vị ấy để giúp ta định hướng, tìm được sự sống nơi vĩnh hằng, tìm đến bến bờ của bình an trong cuộc đời trầm kha này.
Ôi, các vị này chính là “Cái Đẹp Cứu Rỗi Thế Giới”
Chúng ta luôn ghi ơn những người Thầy, Cô đã khai sáng mở trí ta để thông suốt sự việc, mang kiến thức để ta phát triển tài năng, dạy cho ta biết luân thường đạo lý để ngày hôm nay ta dùng kiến thức và sự hiểu biết đó mà sống còn và phát triển mọi mặt trong đời sống, để đối diện và giao hảo tốt đẹp, hài hòa với mọi người trong gia đình, bạn bè và xã hội.
Xin cám ơn những Lương Y: Bác Sĩ /Y Tá đã tận tình chữa trị những lúc ta trái gió trở trời, ốm đau, những lúc bị dồi máu cơ tim, bị đột quỵ, bị ung thư và những cơn bệnh nguy kịch khác… Ai là người ra tay để cứu chữa cho bạn và tôi đây?
Nhưng xin bạn và tôi cũng đừng vội quên những người và công việc của họ xem rất tầm thường nhưng ảnh hưởng rất lớn trong đời sống của chúng ta. Từ bác đưa thư, người tài xế, thậm chí cả người đổ rác nữa. Hãy nghĩ xem: chỉ cần 2 tuần thôi nếu những bao rác nơi nhà bạn không được dọn đi, bạn có sống nổi với mùi hôi thối nồng nặc từ đống rác ấy không? Và xin tạ ơn biết bao người liên quan trong đời sống hằng ngày của chúng ta.
Riêng tôi – không quên cảm ơn người bạn đời đã cùng với tôi gầy dựng mái ấm gia đình, đã cùng chịu vất vả và cam nhận những gánh nặng, những gian nan và hoạn nạn…, nhưng vẫn mãi bên cạnh tôi trên con đường lắm thăng trầm của cuộc sống. Ðã vỗ về, an ủi, đã chia xẻ dù niềm vui hay nỗi buồn, dù khổ đau hay sướng vui… Người bạn đời này sẽ còn lại trong những ngày tháng cuối đời của tôi, sẽ gần gũi và đỡ nâng tôi khi già yếu, bệnh tật. Sẽ dìu tôi đến nhà vệ sinh, sẽ nhắc nhở tôi uống thuốc, phủ chăn ấm cho tôi khi đêm về, sẽ thao thức và ân cần với tôi mặc dù lúc đó tôi đã mất trí nhớ của tuổi già… Và, sẽ đau xót, tiếc nuối, khóc thương, rồi hương khói, cầu nguyện cho tôi khi tôi ra đi về bên kia thế giới.
Ôi! Cuộc đời dễ thương và đẹp biết bao khi chúng ta có nhau và biết ơn nhau.
Xin mãi cúi đầu tạ ơn! Tạ ơn Trời, tạ ơn tất cả mọi người đã làm ơn làm phước trong cuộc đời của tôi và của bạn.
Và sau cùng, kính chúc bạn có một ngày lễ Tạ Ơn thật êm đềm và ý nghĩa bên người thân yêu.Happy Thanksgiving!
Văn Duy Tùng
THÁI LAN Đọc Truyện: HUẾ YÊU DẤU của nhà văn BÙI BÍCH HÀ. MỸ HÂN CHANNEL Thực hiện.
SỎI NGỌC – VĂN: NÓI LỜI TẠ ƠN & CA KHÚC TINH BIỆT LY- Tiếng hát NGỌC HUYỀN Mtl
CA KHÚC TINH BIỆT LY- Tiếng hát NGỌC HUYỀN Mtl
***************
BÀI VIÊT: Nói Lời Tạ Ơn
Sỏi Ngọc
Khi sang được Canada vào tháng 12 năm 1984 theo diện thân nhân bảo lãnh, dù còn bỡ ngỡ, chưa quen với khí hậu lạnh như cái tủ đá biết đi, sau một tuần nghỉ ngơi cho quen giờ giấc, hai chị em tôi đã không muốn làm phiền đến gia đình thân nhân bảo trợ lâu hơn nữa, chúng tôi đã bỏ qua cái giá rét hay đường xá lạ lẫm; với tấm bản đồ metro trên tay, đi xin những chiếc coats cũ của nhà thờ, tin tưởng vào chính bản thân mình đi xin việc trong những factories.
Tôi và chị đã dậy từ năm giờ sáng mỗi ngày, đứng nấp trong một bờ tường của những buildings cao tầng cho bớt gió, chờ xe bus mà bên ngoài tuyết bay ngập đường, hai chị em tôi bọc kín mít chỉ hở hai con mắt mà nước mắt ràn rụa chảy vì gió nhiều và lạnh cóng, âm 30 độ C.
Chị tôi đã làm ở factory may quần áo vest nam, được năm năm rồi rời về Toronto theo chồng, còn tôi chỉ làm sáu tháng thì bỏ ra đi học, nhờ có vốn liếng tiếng Pháp từ thuở bé nên tôi không cần phải mất một năm học tiếng ngoại quốc mà thi vào thẳng đại học, ba năm lấy bằng kế toán để làm nhà bank.
Khi tôi vừa ra trường, 25 tuổi, đọc báo thấy một nhà bank lớn muốn tuyển chọn một kế toán có kinh nghiệm lo giấy tờ, lương bổng cho nhân viên, taxes cho chính phủ… Đúng vào nghề mà tôi vừa học ra nhưng không chút kinh nghiệm nào, tôi vẫn hy vọng và nộp hồ sơ.
Sau lần interview trước ba người bản xứ trong giới lãnh đạo của nhà bank, họ nói về nhà chờ họ sẽ gọi trong vòng một tuần cho biết kết quả. Trước khi ra về, họ còn hỏi tôi:
-Nếu làm một công việc thấp hơn trình độ của cô đã học một thời gian rồi mới tăng từ từ lên, cô có muốn làm không?
-Tôi rất muốn! tôi chưa có kinh nghiệm nên rất muốn làm bất kỳ công việc gì liên quan đến ngành accounting rồi sẽ học hỏi thêm trong lúc làm việc.
-Tốt lắm, tôi sẽ cho cô biết tin trong vòng một tuần nhé.
-Cám ơn các ông bà rất nhiều.
Thế là họ đã gọi tôi với chức mới bắt đầu, thấp nhất của nghề kế toán, lương cũng rất thấp! Tôi vẫn không thất vọng vì nghĩ mình mới ra trường, lại là dân tị nạn, chưa có chút kinh nghiệm nào, tôi bằng lòng bắt đầu từ chỗ thấp nhất! sau này có chút “kiến thức” nhà bank thì sẽ lên chức mấy hồi! Tôi nuôi hy vọng và đi làm với đầy nhiệt huyết, tôi nguyện sẽ làm việc thật tốt để được tăng chức, để họ thấy người Việt rất hăng hái, rất thông minh và siêng năng cần mẫn.
Sáu tháng trôi qua, bà Solange, người coi về “quản lý nhân sự “(RH) gọi tôi lên khen thành tích tôi làm việc rất tốt, được các bạn bè xung quanh yêu mến, tín nhiệm, tôi lại học việc rất nhanh và giỏi, cuối cùng bà nói:
-Nếu nhà bank tăng chức cho cô lên làm quản lý một chi nhánh, cô nghĩ sao?
Tôi trợn tròn hai mắt, miệng hình chữ o, tôi không tin vào đôi tai của mình nữa! tôi lắp bắp không ra chữ:
-Làm sao…làm sao có thể chứ! Tôi mới làm có sáu tháng ở đây thôi, làm sao có thể làm quản lý một chi nhánh? … tôi …tôi …chưa học hết mọi nghiệp vụ làm sao …
Bà cười thật dễ mến, trấn an tôi:
-Cô không lo vì cô sẽ được điều đi học nghiệp vụ cấp tốc ba tháng, sau đó khi làm việc sẽ có người coach luôn bên cạnh cô một tháng…vả lại dưới cô còn nhiều người rất giỏi sẽ giúp cô…
-Vậy… sao những người ấy không được chọn làm quản lý?
-Haha cô thật dễ thương, tôi không chọn họ vì thứ nhất họ chưa có bằng đại học, thứ hai họ làm việc tốt nhưng không có tính cách lãnh đạo; tôi có thể nhìn thấy được ai ở vào vị trí nào để xếp đặt… Cô có vui lòng làm theo sự chỉ đạo của tôi không? hay còn câu hỏi nào khác nữa?
-Tôi… tôi … hạnh phúc lắm khi nghe bà nói vậy, nhưng tôi vẫn sợ mình làm không tròn trọng trách!
-Tôi biết cô sẽ làm được nên mới mời cô đấy chứ! Cô rất xứng đáng! Ban lãnh đạo chúng tôi muốn khuyến khích những người trẻ, mới, có năng lực và hoài bão lên những chức vụ cao để cho những người khác noi theo gương…
Tôi nhìn bà Solange cảm động, hai tay cứ xoắn vào nhau và lòng tràn đầy biết ơn:
-Tôi thật may mắn quá! Thành thật cám ơn bà và hứa sẽ làm việc với tất cả trách nhiệm và lòng thành của tôi.
***
Tôi được chuyển đến một chi nhánh bank Ste- Justine ở nhà thương nhi đồng, dưới quyền tôi chỉ có năm người, chúng tôi coi nhau như một gia đình nhỏ, ăn uống, làm việc chung rất vui. Nơi đây tôi quen rất nhiều bác sĩ, specialist, y tá …Tôi nhớ tên họ vanh vách mỗi thứ năm họ xuống đổi check lương của một tuần, lấy tiền mặt. Họ rất mến tôi vì sự tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau, tôi chỉ cho họ những investments mới ra, tốt, nên chi nhánh của tôi có số lượng khách mới mở công ngày càng nhiều.
Nơi đây, tôi đã mướn vài cô tellers người Á châu mới ra trường để giúp họ có chút kinh nghiệm với việc làm, sau này xin việc dễ dàng hơn vì nơi đâu cũng cần có kinh nghiệm. Mỗi lần họp toàn thể nhà bank lúc nào tôi cũng là một nhân viên gương mẫu, đạt chỉ tiêu của tháng.
Một hôm, giám đốc bên chi nhánh nhà thương Sacré-Coeur nghỉ bệnh trong vòng một tuần, bà Solange phone nhờ tôi:
-Cô có thể giúp tôi đến chi nhánh Sacré-Coeur làm một tuần được không vì ông giám đốc Massé bị bệnh; tôi nhờ cô vì cô đã có kinh nghiệm nhiều rồi, mấy người khác thì không lanh lợi bằng…Nhưng chỉ có một chuyện là…
-Bà cứ nói cho tôi biết là chuyện gì?
-Tôi hứa sẽ tăng lương cho cô để bù vào chuyện…
-Bà có chuyện gì cứ nói, bà ấp úng làm tôi lo đấy!
-Thực sự ra tôi cũng lo, nhưng không còn ai ngoài cô có thể làm được, cô rất vững vàng nhanh nhẹn xử lý mọi chuyện, tôi đã phải suy nghĩ lắm rồi…
-Bà cứ nói đi ạ!
-Số là nhà bank đó ở dưới basement của nhà thương…
-Thì có sao đâu, tôi sẽ xuống dưới đó được mà!
-Không phải, …Tôi thấy cô là một phụ nữ Á Châu yếu đuối mong manh…
-Bà làm tôi lo lắng quá!
-Nơi đó…phải đi ngang qua một nhà xác…
-Nhà…xác??! …Vậy rồi khách hàng vào nhà bank đó bằng ngả nào? Chả lẽ đi ngang qua nhà xác luôn sao?
-Từ đó đến giờ họ nói sẽ làm một con đường khác, che cái nhà xác lại, khi xuống basement thì vào thẳng nhà bank, nhưng họ nói bao nhiêu năm nay rồi vẫn chưa làm. Tôi ngại cho cô chuyện đó thôi, tôi biết cô rất mỏng manh, nhưng thật sự tôi hết người rồi. Chỉ một tuần thôi, cô nghĩ sao? Tôi sẽ tăng lương cho cô!
Tôi không thể nào từ chối vì bà Solange đã làm ơn cho tôi rất nhiều lần, chính bà là người mướn tôi vô nhà bank, tạo điều kiện việc làm cho tôi, lẽ nào khi bà cần người tôi lại từ chối chứ! Tôi nghĩ ông giám đốc kia đã từng làm mấy năm ở nhà bank đó, khách khứa ra vào mỗi ngày, họ vẫn tốt đấy thôi! Tôi chả có gì để sợ, đâu phải chỉ một mình tôi làm việc đâu, sẽ có những nhân viên khác nữa, nên nói chắc:
-Ok tôi nghĩ … sẽ đến đó được, nhưng chỉ một tuần thôi nhé!
-Oh! Một tuần là đủ lắm rồi, tôi cám ơn cô đã giúp tôi nhé, tôi rất tin cô sẽ làm được mà! Tôi sẽ gởi số code qua email để sáng mai cô vào mở cửa đàng đó nhé. Chúc cô thành công!
Sáng hôm sau, tôi phải dậy sớm hơn ngày thường, vì Sacré-Cœur xa hơn nhà thương Ste-Justine mà tôi thường làm gấp đôi lần đường, phải đổi mấy chặng metro và bus mới tới.
7 :30 sáng, trời mùa đông ẩm ướt, hơi tối, nhưng nhà thương đã tấp nập người, bác sĩ, bệnh nhân đầy trong parking và phía trước sảnh. Tôi tìm đường xuống basement, theo một hành lang dài rộng tuốt bên trong, không một bóng người; một cầu thang chân khá xa dẫn xuống bên dưới hầm hơi tối tăm một chút vì đèn chưa bật và nhân viên nhà bank chưa đến nên có vẻ hơi âm u. Tôi tự hỏi sao ngân hàng lại thuê nơi đây chứ?hết chỗ rồi sao?!
Đúng như bà Solange đã nói trước cho tôi biết, bên phải là nhà xác!
Muốn vào nhà bank phải đi ngang nhà xác. Tôi tự nhủ mình sẽ phải đi qua đây năm lần như thế nữa! Tôi nhắm mắt, lấy hết can đảm, miệng lâm râm khấn vái, cầu cho những người đã nằm xuống sớm siêu thoát, chân bước thật nhanh để đến nhà bank ở cuối con đường.
Khi vừa đến, tôi phải bấm code để có thể mở cửa vào trong, không thấy ngọn đèn nào sáng hơn ánh sáng mờ ảo hắt ra từ nhà xác bên phải, một thứ ánh sáng vàng vọt như dọa dẫm con người, tôi thấp chân xuống để bấm code ngay hộp sắt đặt trước mặt tôi.
Bỗng tiếng nói vang lên sau lưng làm tôi giật mình hét thất thanh, muốn té xỉu, bàn tay ai đỡ vòng lưng tôi, khuôn mặt nhỏ thó với mái tóc quăn đen rũ xuống sát gần tôi, nụ cười dịu dàng hiện ra :
-Xin lỗi! xin lỗi đã làm cô sợ nhé! Tôi thường hay đến sớm để mở cửa nhà bank… Lần đầu tiên được biết cô, cô LyLy! Còn tôi là Isa.
-Chào… chào… Isa! …May quá có cô đến vào giờ này với tôi, tôi sợ quá khi đi ngang cái nhà xác này, đã thế không có ánh đèn ở đây nên thật khó mà bấm code… Thôi cô quen việc hơn tôi, cô bấm code và vào trước đi nhé, tôi sẽ vào sau khi cô ra hiệu ok.
-Được lắm cô Lyly chờ ngoài này nhé, tôi vào check từ trước ra sau khoảng năm phút rồi sẽ mở cửa cho cô vào sau.
Tôi hoàn hồn, mới từ từ nhìn sang phía phải, nhà xác đã đóng cửa im ỉm, bên ngoài có đặt một chiếc đèn vàng leo lét, nếu không biết đó là nhà xác thì không đáng sợ chút nào. Chỉ mình tự dọa mình thôi!
Tám giờ là giờ ngân hàng mở cửa tiếp khách, tôi vào trong phòng giám đốc Massé ngồi làm giấy tờ sổ sách, xem xét mọi chi tiết nghiệp vụ của tuần vừa qua. Bên ngoài có một anh cố vấn đầu tư, một cô cố vấn mượn tiền nhà và xe, cùng hai cô tellers là Isa và Paule. Cũng giống như bên Ste Justine của tôi, nơi này cũng là một ngân hàng nhỏ bên trong nhà thương Sacré-Cœur rộng lớn nên nhân viên vỏn vẹn chỉ có năm người kể cả tôi. Khách cũng chỉ toàn là nhân viên của nhà thương, hoặc thân nhân của người bệnh nằm lâu năm ở đây chờ ngày ra đi.
Ste-Justine là nơi chào đón những sinh linh bé bỏng, ngày nào cũng nghe tiếng khóc oe oe rộn rã, chào đời của các bé và những nụ cười hạnh phúc của người đi thăm nuôi. Còn Sacré-Cœur là bệnh viện phẫu thuật cho người lớn, những ca bệnh nặng…Nên nơi đây thiếu vắng nụ cười, khuôn mặt ai cũng mang vẻ đăm chiêu.
Sau khi kiểm tất cả sổ sách và đếm tiền mặt trong két sắt, tôi thấy thiếu khoảng $100.00, tôi mời hai cố vấn « đầu tư » và « vay tiền » vào văn phòng nói chuyện riêng, họ nói;
-Làm như ở đây có ma hay sao đó, ngày nào cũng thiếu mất $100.00, chúng tôi đếm đi đếm lại tiền mặt bao nhiêu lần và so với sổ sách không bao giờ bằng nhau cả! thật kỳ lạ! ông giám đốc Massé cũng phải bó tay, nên chúng tôi coi đây là tiền «phúng điếu » cho hồn ma!
Tôi cãi lại và trấn an họ:
-Ở đây là Canada nhé, không phải một nước nhỏ vùng Á châu mà các bạn lại tin vào ma quỷ như thế! Mê tín dị đoan không phải là điều tốt đâu! Không thể để như thế này được, mỗi ngày mất $100.00 tức là một năm 5 ngày/tuần x 50 tuần đi làm x 100=$25k/năm. Các bạn để một sự mất mát to lớn như vậy mà coi là bình thường sao chứ? Giám đốc lớn của ngân hàng mình có biết chuyện này chưa?… Nhất định phải tìm cho ra!
-Oh chuyện này chỉ mới xảy ra vài tháng thôi, chúng tôi cố tìm sai sót trong sổ sách mà không ra!
-Vài tháng tức là mấy tháng? Ngày nào cũng bị hụt như thế?
-Khoảng ba bốn tháng nay thôi, có lúc hụt có lúc không, nhưng nói chung thì thường xuyên hụt!
***
Tính tôi làm gì cũng rất cẩn thận, tỉ mỉ, cái gì thắc mắc thì phải tìm cho đến nơi đến chốn; việc hụt $100.00 mỗi ngày làm tôi suy nghĩ mãi, không thể ngủ ngon được, tại sao giám đốc Massé lại có thể chấp nhận việc này mà không hề nói vấn đề này ra vào những lúc họp cấp giám đốc, chắc ông ta sợ tai tiếng nên đã không kể?!
Ngày thứ hai đi làm ở Sacré-Coeur, tôi đã quen với sự hiện diện của nhà xác bên tay phải, mỗi lần đi ngang qua, tôi đều niệm Nam Mô A Di Đà Phật, lại còn lẩm nhẩm thêm câu Cầu xin mọi linh hồn sớm siêu thoát bình an, cho tôi hoàn thành nhiệm vụ.
Bữa đó tôi vào sớm một mình, mở code nhà bank, xem xét mọi ngăn tủ; đây là nhiệm vụ của người đầu tiên khi mở cửa, phải kiểm tra hết nhà bank có an ninh không rồi làm dấu hiệu bằng một đồ vật gì đó, sau đó các nhân viên mới có thể vào làm việc.
Khi tôi lỡ tay kéo mạnh chiếc ngăn kéo sắt của Marthe, bên trong một tờ giấy tiền hiện ra trong một góc kẹt, phải nhìn kỹ mới thấy, tôi thò tay vào kéo ra, $100.00! số tiền bị hụt đây! Nhưng mà…
Trong đầu bao nhiêu câu hỏi xuất hiện, Isa?! có phải cô ta là thủ phạm của những hao hụt thường ngày không? tôi nghi ngờ về cô ta có oan ức không?; không nói gì cả, tôi để lại tờ 100 vào trong kẹt như đã thấy và sẽ để mắt xem cô ta hành động ra sao.
Tôi vào phòng giám đốc Massé, xem lại hồ sơ của Isa, cô chỉ mới được mướn vào làm teller khoảng hai ba tháng nay mà thôi, cô là mẹ độc thân, có hai con nhỏ, mới ba tuổi và một tuổi rưỡi. Tôi bí mật lục lọi tìm kiếm camera của những ngày tháng trước thì thấy cô luôn luôn đếm cash vào cuối ngày, không cất ngay vào phòng sắt chung của bank mà mặc áo coat to rộng vào làm như sửa soạn ra về, rồi người cô che hẳn camera trên cao, bàn tay cô đưa một vật gì đó vào trong kẹt ngăn kéo rất tự nhiên và nhuần nhuyễn, kế đó mới đem hộp cash vào bên trong phòng đựng két sắt chung khóa lại. Cô không dám lấy tiền ngay vì khi xong việc mọi người đều đông đúc dọn dẹp, nên cô phải chờ đến sáng hôm sau đến sớm nhất, nhẹ nhàng lấy số tiền đã cất từ tối hôm qua cho vào túi một cách dễ dàng!
Tôi ngồi thừ người suy nghĩ, lo lắng:
-Tôi mới vào đây có một ngày, thay thế giám đốc Massé khi ông ta bệnh, tôi phát hiện ra vụ “ăn cắp” này có gây thù chuốc oán không? có làm tổn hại đến đời sống của Isa không? cô ta có con nhỏ, cuộc sống sẽ không dễ gì nếu tôi …làm lớn chuyện, đuổi việc cô ta?? Chắc chắn vụ này mà phanh phui thì Isa sẽ có án hình sự trong hồ sơ, sau này xin việc làm bất kỳ nơi đâu sẽ rất khó! Nếu tôi khoan dung cho cô thì không biết cô có thay đổi không? hoàn cảnh của cô vẫn cứ khó khăn như vậy thì tôi sợ rằng cô vẫn chứng nào tật nấy. Bây giờ tôi đã hiểu tại sao cô lại đến bank rất sớm!
Tiếng cửa vang lên, Isa bước vào lúc 7:35; thấy tôi đã có mặt, cô ta có chút thất vọng, vẫn lên tiếng chào hỏi:
-Sao cô Lyly đến sớm thế? … cô thật chăm chỉ!
-Cô… cũng đến sớm quá đấy chứ!
-Tôi rất thích đến sớm để có nhiều thì giờ sửa soạn cho giờ mở cửa.
Tôi làm bộ cúi mặt xuống bàn làm việc, nhưng cặp mắt vẫn không rời bóng lưng của cô ta, cô vào sớm để muốn lấy số tiền đã giấu của tối hôm trước đây mà!
Cả ngày làm việc, tôi luôn băn khoăn nghĩ về cô ta, thấy tội nghiệp cho hoàn cảnh nghèo khó, cuộc sống neo đơn với hai con nhỏ, nhưng không thể “ăn cắp”! không thể làm hành động xấu đó, nếu tôi che dấu cho cô ra tức là đồng lõa, tán dương hành động xấu đó sao! Mà nếu đưa ra ánh sáng thì chắc chắn tương lai của cô ta sẽ bị tiêu diệt! Phải làm sao đây?
Tôi gọi hai người cố vấn vào, kể hết câu chuyện cho họ nghe, chúng tôi cùng nhau xem lại camera, ai cũng thấy rõ ràng bàn tay cô Marthe đưa một vật gì đó vào góc khuất của ngăn kéo, sau đó choàng coat rộng vào để che đi…Chúng tôi tiếp tục theo dõi sự việc này trong bí mật thêm hai ngày sau, vẫn xảy ra như thế. Tiền vẫn cứ bị hụt $100.00!!
Cuối cùng đến ngày thứ tư, cả ba chúng tôi cùng quyết định thảo một bức thư cho Isa thôi việc ngay lập tức với lý do hết hợp đồng, bắt đền lại số tiền đã lấy (việc này ghi trên một tờ đơn khác), không đề cập trên bức thư và cả hồ sơ cá nhân việc ăn cắp tiền của nhà bank, để cho cô ta có một con đường sống trong tương lai; trên bức thư tôi có ghi thêm là cô ta rất nhanh nhẹn, thông minh, xin hãy nhận cô ta vào làm những công việc không trực tiếp dính líu đến tiền bạc.
Isa đã khóc lóc xin tha thứ và vô cùng hối hận đã làm việc không tốt này vì quá túng bẫn, hai con nhỏ; cô ta xin cam kết trả số tiền đã lấy lại cho chúng tôi vào mỗi tuần lương nếu cô xin được việc khác và cầu xin chúng tôi đừng ghi điểm xấu vào hồ sơ. Cô cam kết sẽ không bao giờ tái phạm.
***
Sau một tuần, giám đốc Massé hết bệnh về lại chức vụ, ông ta đã cám ơn tôi hết lời tìm ra nguyên nhân thiếu hụt tiền trong vài ba tháng qua; bà Solange cũng đã biết được tôi xử lý thật tốt việc đuổi người trong sự nhân đạo, bà càng đặt niềm tin vào tôi hơn nữa.
Sau đó bà đã cân nhắc tôi lên một cơ quan khác coi về sự biến động giá cả thị trường chứng khoán về đầu tư của những khách hàng giàu có trong nhà bank, dĩ nhiên tôi lại phải đi học một khóa tu nghiệp sáu tháng nữa trong niềm hân hoan.
Tôi luôn luôn biết ơn những “người sống” đã giúp sự tiến thân của tôi trong hơn 32 năm cống hiến công sức tại Montreal- Canada quê hương thứ hai, cám ơn luôn cả những “người đã khuất” ở nhà xác Sacré-Coeur mà tôi run sợ khi đi ngang qua trong suốt một tuần lễ làm việc năm ngày, có thể chính họ đã run rủi cho tôi thành công trong vụ tìm ra thủ phạm chăng? Để rồi được thăng chức cao trong suốt phần còn lại của sự nghiệp.
Nay về hưu… non, ngồi suy ngẫm lại cuộc đời thăng trầm, tôi muốn ghi ơn cuộc đời, cảm tạ những người mà tôi đã may mắn có duyên lành gặp gỡ và mãi cầu mong cho mọi người nhiều điều tốt đẹp nhất.
(Montreal, Nov 2024)
Sỏi Ngọc
HOÀNG MAI NHẤT – THƠ Xướng Họa Cùng Thân Hữu
Độc Hành
Cả thành phồ loang mầu tuyềt trắng,
Mình ta đi lầm lũi bên đường!
Tâm sự như mây hoang đảo vắng,
Hồn lang thang tìm kiếm Quê hương.
*
Đời mộng du những ngày vong Quốc,
còn gì đâu trời đã sang đông!
Băng giá như lòng người ẩm mốc,
Quên cội nguồn Đất nước thân thương!
*
Ta đã mỏi đôi chân lữ thứ,
Tuyết vẫn rơi thành phố buồn tênh
Đưởng hun hút hong dài nỗi nhớ
Kỷ niệm xưa nuối tiếc một mình!
*
Ta khóc hận nỗi sầu phân hóa,
Quẩn quanh trong phe nhóm, lợi danh.
Bao giờ hết tỵ hiềm xa lạ!?
để cùng nhau chung bước đồng hành.
Chớm Đông 1993
Tô Ly Hương – 2/12/2024
HỌA:
Lê Gót Xứ Người – Mơ Về Cố Quốc
Thiên nhiên mang một màu tang trắng, Tuyết rơi…phủ kín mọi nẻo đường! Lòng ta mang nỗi buồn hoang vắng, Bao năm qua mang nặng nỗi tha hương.
Trên đất khách ngóng trông về cố quốc, Qua bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông; Đời tị nạn lâu, biến thành rêu mốc! Biết bao giờ hết lê gót…lông ngông?
Tội lỗi này – xin tiền nhân tha thứ Đánh mất quê hương – chân bước lênh đênh Khó xóa sạch trong tận cùng trí nhớ Gặm nhấm hoài nỗi uất hận riêng mình!
Người dân Việt đang bị Tàu đồng hóa, Bọn Hán nô bán nước để cầu danh. Từ Bắc chí Nam –nghe toàn ngôn ngữ lạ!… Phục quốc bao năm – mơ mãi không thành.
Thảo Chương (02-12-2024)
* Cảm ơn bài thơ “Độc Hành” của anh Tô Ly Hương và bài thơ họa”Lê Gót Xứ Người – Mơ về Cố Quốc” của huynh Thảo Chương. Trong tình Thơ Văn đồng cảm, HMN xin gởi bài thơ sau:
AI BIẾT Sư tử lìa rừng thu móng vuốt,
Có người xa xứ bỏ quê hương Đem tim nhỏ máu bày trên giấy Từng chữ từng lời…đấy máu xương!
Sư tử nhớ rừng gầm thống thiết Ta phải xa nhà lệ nhỏ thơ Gói ghém trong tim từng nỗi nhớ Gởi cả về quê trọn tấm lòng
Sư tù xa rừng sư tử rống Ta xa quê mẹ nuốt niềm đau Ngày mai ai biết cho mình nhỉ?? Xa xứ xa quê vạn nỗi sầu
Sư tử về rừng giương móng vuốt Ta về quê mẹ hát Tự Do Dân Chủ, Nhân Quyền nay trở lại Hạnh phúc dâng trào vẹn ước mơ