Kinh tế thị trường mang lại lợi ích cho người dân và làm lung lay chế độ như thế nào?

RFA   Tiếng Việt   Bài phân tích của TS. Phạm Quý Thọ

Kinh tế thị trường thúc đẩy tăng trưởng, giảm đói nghèo. Nhưng nếu cải cách đặt sự tồn vong chế độ lên trên lợi ích người dân có thể làm tổn hại quá trình chuyển đổi dân chủ.

Trước “Đổi mới” năm 1986, nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp, nông nghiệp lạc hậu của Việt Nam đứng trước nguy cơ sụp đổ, người dân nghèo nàn, kiệt quệ và không có tự do kinh tế.

Ngày nay, sau hơn 30 năm, Việt Nam đã vươn lên là quốc gia có thu nhập trên đầu người ở mức trung bình thấp. Từ năm 2002 đến năm 2018, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng hơn 2,7 lần. Theo ước tính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), quy mô nền kinh tế Việt Nam năm 2020 theo GDP danh nghĩa đạt 340,6 tỷ đô la Mỹ hay 3.498 USD/người, và nếu tính theo sức mua tương đương đạt 1.047 tỷ đô la Mỹ và 10.755 USD/người.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối nhanh của Việt Nam trong suốt giai đoạn qua, mặc dù bất bình đẳng cũng gia tăng, đã mang lại lợi ích cho phần lớn dân số, trước hết tác động đến việc xoá đói giảm nghèo. Số người nghèo, tính theo chuẩn nghèo quốc tế, đã giảm liên tục từ khoảng 40 triệu vào năm 1990, xuống còn 14 triệu vào năm 2004 và theo chuẩn nghèo mới (đa chiều) tính đến cuối năm 2019, số nguời nghèo còn khoảng 10 triệu… Như vậy, mặc dù chuẩn nghèo thay đổi theo hướng nâng cao, thì trong một phần ba thế kỷ có hơn 40 triệu người Việt Nam thoát đói nghèo.

Thực tế quá trình chuyển đổi kinh tế cho thấy về sức mạnh của kinh tế tư bản, vốn, năng lực và động lực thị trường cho tăng trưởng. Các nguyên lý của kinh tế thị trường tự do đã từng bước được áp dụng, sở hữu tư nhân được khuyến khích. Hầu như toàn bộ nền kinh tế đang chuyển động theo những nguyên tắc kinh tế như nhau – hoạt động sản xuất kinh doanh hướng đến lợi nhuận, dùng lao động làm công ăn lương và tự do về phương diện pháp lý, các doanh nghiệp phối hợp phi tập trung theo quy luật cung cầu. Đồng thời với việc sử dụng các công cụ, thước đo, chỉ tiêu của kinh tế thị trường, sự can thiệp của nhà nước toàn trị đối với nền kinh tế cũng giảm dần.

​

Những thay đổi như trên chứng tỏ sức mạnh của kinh tế thị trường đối với sự phát triển đất nước. Tuy nhiên, cách giải thích các thành tựu kinh tế thường gắn với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản (ĐCS) về công lao trong giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội có thể khắc phục các mặt trái của thị trường như thể biện minh cho tính chính danh của chế độ khi các lãnh đạo không được bầu bởi tất cả người dân. 

Các chế độ chính trị đều phải thay đổi để thích nghi với kinh tế thị trường thúc đẩy tăng trưởng trong bối cảnh toàn cầu hoá, trong đó chế độ Đảng Cộng sản toàn trị ở Việt Nam không là ngoại lệ. Những đặc điểm chủ yếu của mô hình chính trị này là tập trung quyền lực quá mức, tính chính danh của đảng yếu, dựa quá nhiều vào áp bức, và để cho quyền lực cá nhân chi phối các chuẩn mực thể chế. Giữ nguyên chế độ đảng trị với cấu trúc tháp tập trung quyền lực: Tổng bí thư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành trung ương…. quá trình thích nghi của chế độ với sự chuyển đổi kinh tế sang thị trường diễn ra theo hướng thể chế hoá, nghĩa là tạo dựng các quy tắc, chính thức hoặc không chính thức, để ràng buộc các hành vi của con người, đặc biệt đối với quan chức bộ máy cai trị.

Đồng thời với cải thiện môi trường khuyến khích đầu tư, kinh doanh và khởi nghiệp thì quá trình thể chế hoá, tăng cường pháp trị được thực hiện trên các phương diện sau: Một là, xác lập các tiêu chuẩn để chuyển giao quyền lực giữa các thế hệ lãnh đạo. Không quá hai nhiệm kỳ  năm năm làm lãnh đạo trong bộ máy công quyền, tổ chức công lập và giới hạn tuổi được quy định trong các văn bản pháp lý, thậm chí trong Điều lệ Đảng CS; Hai là, tuyển chọn, sử dụng cán bộ dựa trên năng lực hơn là quan hệ bè phái, ưu tiên quá trình ‘thử thách’ và kinh nghiệm công tác; Ba là, phân công, phân quyền theo hướng chuyên môn hoá chức năng trong bộ máy nhà nước. Các nhánh quyền lực như chính phủ, quốc hội, tư pháp có nhiều không gian hoạt động hơn; Bốn là, nới lỏng sự tham gia chính trị qua các tổ chức như xã hội dân sự, phi chính phủ, thiện nguyện…  nhằm tăng sự hấp dẫn với người dân và củng cố tính chính danh của đảng.

Tuy nhiên, những thay đổi như trên về thể chế chính trị đã không đáp ứng được sự phát triển của kinh tế thị trường. Sự quản lý của Đảng, Chính phủ đối với toàn bộ tài nguyên, đất đai và sự can thiệp quá mức vào nền kinh tế, mà quyền lực công thiếu cơ chế kiểm soát hữu hiệu, là nguyên nhân trực tiếp của chủ nghĩa thân hữu, sự liên kết giữa quan chức và doanh nhân, sinh sôi nạn tham nhũng nghiệm trọng, nạn hối lộ, trục lợi bất chính tràn lan, thất thoát tài sản công, suy thoái đạo đức và lối sống, văn hóa, phá hỏng luật chơi của thị trường. Tình hình nghiêm trọng đến mức đe doạ sự tồn vong của chế độ.

Đảng đang tìm cách cứu vãn chế độ, thoát ra khỏi khủng hoảng. Tuy nhiên, việc “củng cố” nội bộ đảng đồng thời với chống tham nhũng bằng tập trung quyền lực cao hơn, đang đi ngược với quá trình thể chế hoá nêu trên. “Các trường hợp đặc biệt” đã phá vỡ các chuẩn tắc chuyển giao quyền lực; đề bạt cán bộ dựa trên lòng trung thành với lãnh tụ, lý tưởng thay thế cho năng lực kỹ trị; quyền lực của Chính phủ bị kiểm soát chặt chẽ hơn; dân chủ trong Đảng bị hạn chế, các tổ chức xã hội dân sự như hội, đoàn bị hạn chế. Ngoài ra, kỷ luật Đảng đang được siết chặt hơn. Hội nghị Trung ương 3 khoá 13 vừa sửa đổi hoặc ban hành các quy định thực hiện Điều lệ Đảng, quy chế làm việc và phối hợp giữa các cơ quan quyền lực cao nhất của Đảng, tăng cường quyền lực cho Uỷ ban kiểm tra Đảng…

Những động thái trên là nỗ lực đưa chế độ theo đúng đặc điểm toàn trị mà các nhà nghiên cứu có ảnh hưởng nhất về chủ nghĩa toàn trị đã chỉ ra. Đó là đảng, nhà nước cố gắng động viên toàn thể dân chúng theo ý thức hệ chủ nghĩa xã hội và không khoan nhượng đối với những hoạt động không hướng về mục tiêu của đảng, lãnh đạo toàn diện các cơ quan quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp, công an, quân đội…), tăng cường lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị và quần chúng, đồng thời với kiểm soát truyền thông, các cơ sở học thuật, các cơ sở tôn giáo….

Thực tế chỉ ra rằng, trong cùng bối cảnh toàn cầu hoá, sau những thành công kinh tế nhờ thị trường, chế độ chính trị độc đoán trong các quốc gia như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore… đã từng chuyển đổi sang chế độ dân chủ. Tuy nhiên, chế độ đảng CS toàn trị không lựa chọn cách thay đổi này. Quá trình cải cách thể chế chính trị chưa bao giờ suôn sẻ và nhất quán, đặc biệt trong những năm gần đây, còn chứa đựng những mâu thuẫn, chủ trương xây dựng “Đảng mạnh, nhà nước mạnh” hiện nay theo kiểu “thể chế hoá ngược” có thể cản trở chuyển đổi kinh tế sang thị trường.

* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do.




CAO NHÂN

CAO NHÂN – Triết lý quá hay

 ĐÂY MỚI THỰC SỰ LÀ CAO NHÂN 

 Cao nhân chân chính, chính là có thể thắng nhưng không nhất định phải thắng, có thể đánh bại kẻ khác nhưng không nhất định phải đánh bại.

 Thế nào gọi là cao nhân?

 Tương truyền, Tả Tông Đường rất thích chơi cờ vây, hơn nữa còn là một cao thủ, gần như không có ai là đối thủ của ông.

 Có một lần, Tả Tông Đường cải trang trước khi xuất chinh đánh trận, trên đường bỗng nhìn thấy một ngôi nhà tranh, trên xà nhà có treo tấm biển “Thiên hạ đệ nhất kỳ thủ”. Tả Tông Đường thấy thế thì trong lòng không phục, liền đi vào trong để cùng chủ nhân ngôi nhà đánh ba ván cờ.

 Vị chủ nhà đánh ba ván đều thua, Tả Tông Đường cười nói: “Ông nên tháo tấm biển kia xuống đi!”

 Nói xong, Tả Tông Đường tràn đầy tự tin, cao hứng bừng bừng mà rời đi.

 Không lâu sau, Tả Tông Đường thắng trận trở về, lại đi ngang qua ngôi nhà ấy, thấy tấm biển “Thiên hạ đệ nhất kỳ thủ” vẫn chưa được gỡ xuống, Tả Tông Đường tức giận đi vào trong nhà để cùng vị chủ nhân tỷ thí ba ván cờ nữa. Lần này, Tả Tông Đường thua cả ba ván.

 Tả Tông Đường vô cùng kinh ngạc, liền hỏi vị chủ nhân tại sao lại như vậy?

 Vị chủ nhân đáp: “Lần trước, ngài tuy mặc thường phục nhưng ta đã sớm biết ngài là Tả Công, ngài mang trên mình nhiệm vụ đánh giặc, ta không thể dập tắt nhuệ khí chiến đấu của ngài. Lần này, ngài đã chiến thắng trở về, ta đương nhiên toàn lực ứng phó, việc đáng làm thì ắt phải làm, không thể nhượng bộ!”

 Cao thủ chân chính trên thế gian, chính là có thể thắng nhưng không nhất định phải thắng, có thể đánh bại kẻ khác nhưng không nhất định phải đánh bại, ấy là vì có tấm lòng khiêm nhượng, thiện tâm với người.

 Cuộc sống chẳng phải là như vậy sao?

 Thông minh không nhất định là có trí tuệ, thế nhưng trí tuệ thì nhất định bao quát thông minh.

 Người thông minh tâm nặng chuyện được mất, người trí tuệ có thể dũng cảm xả bỏ.

 Tai thính thật sự thì có thể nghe được tiếng lòng, mắt sáng thật sự thì có thể nhìn thấu tâm linh.

 Chứng kiến, không có nghĩa là nhìn thấy.

 Nhìn thấy, không có nghĩa là nhìn rõ.

 Nhìn rõ, không có nghĩa là hiểu được.

 Hiểu được, không có nghĩa là hiểu rõ.

 Hiểu rõ, không có nghĩa là đã thông suốt.

 Chúng ta vẫn thường nghe nói: “Không có văn hóa thì thật đáng sợ!”. Thế nhưng “văn hóa” ấy rốt cuộc là cái gì vậy? Là bằng cấp? Là kinh nghiệm? Hay là sự từng trải?

 Đáp án: Tất cả đều không phải!

 Ngày hôm nay, coi như chúng ta đã được thấy một lời giải thích thuyết phục, “văn hóa” ấy chính là biểu đạt bởi bốn điều sau đây:

 1. Đào sâu vào tu dưỡng nội tâm.

 2. Tự giác không cần nhắc nhở.

 3. Lấy ước thúc làm tiền đề cho tự do.

 4. Suy nghĩ lương thiện vì người khác.

 (bài sưu tầm)




THƠ – Tuyết Giá – Khắp Trời Nở Hoa – CAO MỴ NHÂN




VÌ ĐẢNG ĐỘC TÀI 212

1/212- 

Băm lăm năm xa lìa đất nước,

Để tránh vòng nanh vuốt Cộng nô.

Sống trên đất nước tự do,

Dân quyền đệ nhất chẳng lo nỗi gì.

Lìa quê Mẹ chỉ vì giặc Cộng,

Lũ không tim, xuẩn động vong nô.

Huênh hoang tư tưởng “bác Hồ”,

Miệng Nam Mô, bụng chứa bồ dao găm.

Chúng ra sức gây mầm chia rẽ,

10/212- 

Lại giở trò bánh vẽ mị dân.

Quả là một lũ vô thần,

Hiện thân giống qủy, bạo Tần cũng thua….

Nhớ lại thủa đầu mùa lá uá,

Bày mưu gian gậy múa vườn hoang.

Hô hào  giải phóng quê hương,

Toàn dân sầm sập lên đường chiến chinh.

Khi hết giặc hoà bình chớm nở,

Quê hương mình chúng nỡ chia đôi.

Oán thù gieo rắc khắp nơi,

20/212- 

Kẻ đi, người ở dậy trời khóc than.

Dân Miền Bắc vô vàn khốn kh

Khắp xóm làng đấu tố gắt gao.

Thành phần Trí, Phú, Địa, Hào

Tù đầy, đâm chém xiết bao thảm sầu.

Giới tu sĩ thâm sâu thiện tánh,

Sống cuộc đời đạo hạnh từ bi….

Chân tu hỏi tội tình gì?

Cớ sao đầy ải chỉ vì giác tha ????

Cả dân tộc trẻ già ngơ ngác,

30/212- 

Sống đọa đầy uống nước cầm hơi.

Oan khiên chồng chất ngút trời,

Ruộng đồng đỏ máu, núi đồi trắng xương.

Chúng ngu xuẩn chủ trương hiếu chiến,

Quyết xua quân lấn chiếm Miền Nam.

Nga, Hoa, Anh, Mỹ hội đàm,

Cùng nhau bán đứng Việt Nam Cộng Hòa.

Ôi bằng hữu mù lòa bỏ cuộc,

Tiền bạc không, đạn dược cũng không.

Trung Xô viện trợ chất chồng,

40/212- 

Phi cơ, tăng, pháo, phòng không đổ vào.

Miền Nam chịu lao đao dai dẳng,

Quân Cộng Hoà ngậm đắng lui binh.

Đồng bào thống khổ điêu linh,

Tướng quân họ Nguyễn (1) dứt tình nhường ngôi.

Người kế nhiệm da mồi hốc hác (2)

Sức cỗi mòn tóc bạc, răng long.

Chính trường như mớ bòng bong,

Lại trao ngôi báu cho ông “Phệnh Đường” (3)

Quân chiến đấu kiên cường từng khắc,

50/212- 

Tướng “Phong Lan” (4) gục mặt đầu hàng.

Bao năm dày dạn chiến trường,

Mà nay bó giáo “quy hàng” thảm không ?

Bọn đồ tể Khu, Đồng, Thọ, Duẩn,

Lại bày mưu tối khẩn lừa dân

Dấu đầu lòi cả bốn chân,

Vẫn là bản chất vô thần ác ôn.

Từ thành thị nông thôn rừng núi,

Khắp trẻ già trốn lủi vượt biên.

Đạp lên gian khổ triền miên,

60/212- 

Lênh đênh trời biển tìm Miền Tự Do.

Mặc cướp biển, bão to, sóng lớn,

Mặc kình ngư dữ tợn bủa vây.

Đàn ông, cướp giết phanh thây,

Đàn bà, giặc hiếp chết ngay giữa trời.

Bao trẻ nhỏ đêm thời khát sữa,

Ngày chang chang nắng lửa cào da.

Trăm nghìn người đã thành ma,

Vùi thân đáy biển sót xa não nề.

Bọn Việt cộng hả hê chiến thắng,

70/212- 

Gây vô vàn cay đắng, nhiễu nhương.

Bày trò cải tạo Công, Thương,

Mưu ma, chước qủy thói thường giở ra.

Nào cống hiến cửa nhà, hãng xưởng,

Lại cúng dâng nghìn lượng vàng ròng.

Rằng ai con cháu Lạc Hồng,

Thương nòi thì phải dốc lòng hiến dâng.

Miệng ngọt xớt, tay nâng báng súng,

Ai không ưng mổ bụng,moi gan.

Cô hồn, các đẳng làm càn

80/212- 

Cắn răng dâng hiến, bởi làn cây cong.

Người tiếc của nát lòng, tan dạ,

Đành quyên sinh khỏi họa về sau.

Thương gia sống sót chặt đầu,

Tội rằng bóc lột làm giàu hại dân ??

Bắt già lão, thanh tân cải tạo

Chẳng kể gì vô đạo, phi nhân.

Địa, Hào, Trí, Phú quy phần,

Nếu không phản tỉnh là giần nát xương.

Quân, Cán Chính khôn lường uất hận,

90/212-

Bị tù đầy cam phận lao nô.

Núi rừng cò gáy, khỉ ho,

Sơn lam, chướng khí giày vò xác thân.

Đêm giá buốt không chăn mền ấm,

Ngày oi nồng, cuốc bẫm cầy sâu.

Bữa thường nước mắt chấm rau,

Thay xe chuyển gỗ, thế trâu kéo cầy.

Phải vượt suối chặt mây khốn khổ,

Lại trèo đèo đốn gỗ gian nguy.

Ngổn ngang cây chắn lối đi,

100/212- 

Đồi cao, dốc đứng khôn bề vác cây.

Ngày lam lũ thân gầy hốc hác,

Đêm “tụng” bài Các Mác, Lê Nin.

Ác ôn thay lũ mẹ mìn,

Bùa mê, thuốc lú bôi đen sử vàng.

Miệng xoen xoét nói ngang nói ngược,

Nhận riêng mình yêu nước thương dân.

Trại giam đầy ắp tù nhân,

Khổ sai lao động vô ngần sót xa.

Người yêu nước nếu là chống Cộng,

110/212- 

Gán tội rằng phản động ác ôn.

Tai nghe miệng đã buồn nôn,

Rõ ràng là bọn cáo chồn đần ngu.

Không án lệnh nhốt tù vô hạn,,

Chính quyền này quái đản bất lương.

Mười ba năm trải đoạn trường,

Tấm thân tù rạc trơ xương mới về.

Dân thành thị trăm bề khốn đốn,

Bữa thường ngày ăn độn ngô khoai.

Đêm khuya chúng đuổi ra ngoài,

120/212- 

Lệnh truyền quản lý gia tài “Ngụy quân”

Đồ tế nhuyễn, áo quần, giầy dép,

Hết thảy không được phép mang theo.

Nửa đời vun quén gieo neo,

Tan tành một phút như bèo trôi sông.

Đàn trẻ nhỏ đói lòng ủ rũ,

Không cửa nhà để ngủ qua đêm.

Bao năm cuộc sống ấm êm,

Ngờ đâu “giải phóng” càng thêm khốn cùng.

Lùa dân chúng lên vùng kinh tế

130/212- 

Khai phá rừng triệt để trồng khoai.

Lệnh rằng gương sáng nước ngoài,

Phất cờ sản xuất, gái trai một lòng.

Theo kế hoạch ruộng đồng trù mật,

Kết quả là mùa mất trắng tay.

Bo bo, khoai sắn hàng ngày,

Mồ hôi pha nước mắt đầy bữa ăn.

Khu kinh tế khó khăn chồng chất,

Dân quyết tâm bỏ đất về thành,

Từng đoàn lếch thếch chiếu manh,

140/212- 

Khổ đau cam phận, năm canh ngủ hè.

Ngày lam lũ đạp xe kiếm sống,

Đêm giãi dầu bên cống nằm co.

Não nùng khôn lấy thước đo,

Nhờ ơn “giải phóng”, nỗi lo chất chồng!

Cả sản nghiệp trong vòng một phút,

“Đảng” cướp không còn chút dính tay.

Ớ trời cao ! Ớ đất dày!

Cộng nô đã hiện ra bầy yêu tinh.

Miệng xoen xoét nghĩa tình dân tộc,

150/212- 

Bụng chứa đầy thuốc độc bùa mê.

Mặt trơ trán bóng làm hề,Cá trê chui ống, lời thề quỷ ma.

Chúng tuyên bố nước nhà thống nhất,

Dân ba Miền cờ phất mừng vui.

Bắc, Nam, Trung một giống nòi,

Thương nhau xẻ ngọt, chia bùi cho nhau.

Mới bữa trước nói câu nhân nghĩa,

Đã hôm sau tay chĩa gươm đao.

Công, Thương cải tạo ngọt ngào,

160/212- 

Đổi tiền, cướp bạc, khác nào hổ lang.

Gây thù hận giam hàng Giáo phẩm,

Tạo oan khiên gạt gẫm Thầy Tu.

Khắp nơi san sát trại tù,

Oán than mãn địa, hận thù xung thiên.

Lũ cán bộ võ biền ngu ngốc,

Được cử làm Giám đốc, Thanh tra….

Vàng ròng vơ vét tối đa,

Đất đai cướp đoạt, cửa nhà tịch thu.

Từ tay trắng không xu dính túi,

170/212- 

Nay đã thành tiền núi, bạc sông.

Quốc Gia mặc nỗi tồn vong,

Lòng tham chỉ ngửi hơi đồng là say.

Trung Ương Đảng một bầy qủy sứ,

Ác độc hơn thú dữ rừng hoang….

Gác ngoài Tổ Quốc quê hương,

Tam vô, chuyên chính chủ trương độc tài.

Người yêu nước nằm gai tranh đấu,

Chúng âm mưu thảo khấu giết ngay.

Độc quyền trên dưới múa may,

180/212- 

Buôn dân, bán nước ních đầy túi tham.                                    

Cả dân tộc lầm than tủi hận,

Băm lăm năm đành phận lao nô

Trung Ương Đảng lũ điên rồ,

Tài nguyên qúy hiếm từng lô bán dần.

Chúng như giống thiêu thân gặp lửa,

Tựa hươu non sừng ngứa húc càn.

Mặc cho đất nước nát tan,

Mặc dân tím mật, sôi gan hận thù….

Tiền làm chúng đui mù cặp mắt,

190/212- 

Lao đầu vào trận giặc đô la.                                

Chúng làm nghiêng ngửa sơn hà,

Quê hương xơ xác, quốc gia nghèo hèn,

Cứ giành giật, túi lèn vàng khối,

“Đảng quang vinh” phản bội quê hương.

Hiện tình xã hội tang thương,

Tệ đoan đầy dẫy phố phường, thôn quê.

Chúng vẫn cứ làm hề múa rối,

Miệng ba hoa sớm tối thương dân.

Dối lừa lấy giả làm chân,

200/212- 

Đã rơi mặt nạ vô thần khó coi..

Mưu lấy thúng úp voi qủy quyệt,

Ắt không lâu đào huyệt tự chôn,

Xưa nay bè lũ ác ôn,

Chẳng ai tránh khỏi huyết bồn Diêm Vương.

Nào người Việt bốn phương hải ngoại,

Xiết vòng tay dựng lại quê hương.

Phát huy truyền thống kiên cường,

Chung lưng già trẻ lên đường đấu tranh

Lấy đau khổ biến thành hành động,

210/212- 

Quyết giải trừ Đảng Cộng ác ôn.

Đập tan huyền thoại Cáo Chồn,

212/212–

Để cho dân tộc trường tồn quang vinh

TRƯỜNG GIANG




THƠ- H.O. THẤY TUYẾT -Hoàng Mai Nhất


H.O.  THẤY  TUYẾT

*

Trong khung cửa nhìn ra trời tuyết

Nhớ ngày nào đến biết nơi này

Lần đầu thấy tuyết bay bay

Hốt vào đem cất_ngày mai để dành

Sáng ra tuyết trắng đã thành…

Một thau nước lạnh_chòng chành nước mưa

Vội vàng gọi bạn nhặt thưa…*

Xem kìa tuyết phủ mới vừa trắng tinh

Bạn bè quen ở quanh mình

Những người cũng giống…như mình H.O.

Thấy tuyết_mừng khoái! Khó ngờ…

Ngở như giấc mộng đang chờ tại đây

Được nhìn, đùa nghịch, tận tay

Từ nay đã rõ tuyết bay thế nào

*

                                   Hoàng Mai Nhất
                        Đông Seattle, Wa  26/12/ 2021
                                (cuối năm Tuyết rơi)




Anh Về Một Chiều Mưa