CAO MỴ NHÂN: Nỗi Nhớ Nhung Trong NGÀY SINH NHẬT: THƠ MÙA XUÂN CÒN NÁN LAỊ & CHÙM THƠ: Bềnh Bồng Nỗi Nhớ. Lời Thơ Chay. Đèo Hải Vân.

MÙA XUÂN CÒN NÁN LẠI. – CAO MỴ NHÂN
*
Lại một đêm thiếu ngủ
Em nằm đợi nhớ nhung
Chan hoà trên mặt gối
Những giọt lệ mông lung
*
Vùi đầu giữa gối chăn
Tưởng châu thân ấm áp
Hoá ra lòng bâng khuâng
Tiếc thương bao mất mát
*
Trăng rơi vào rét mướt
Hồn bất chợt chơi vơi
Em chờ nghe tiếng bước
Anh về từ xa xôi
*
Hai mươi lăm tháng ba
Mùa xuân còn nán lại
Bông hồng vàng kiêu sa
Mỗi năm thêm hoang dại
*
Anh nhìn em ái ngại
Thương xót cuộc tình buồn
Người yêu ơi huyễn mộng
Che kín cả nụ hôn …
*
CAO MỴ NHÂN (HNPD)
25 – 3 – 2022

BỒNG BỀNH NỖI NHỚ . CAO MỴ NHÂN
*
Với tay, chạm phải đoá quỳnh
Không gian bất chợt rùng mình trắng hoa
Phải người vừa chạm tim ta
Đã hoang liêu gọi thiết tha về gần
*
Quỳnh rơi từng giọt lỡ lầm
Mỉm cười tình cũng phù vân như người
Bao nhiêu ngày tháng trên đời
Là bao nhiêu nỗi tuyệt vời mang đi
*
Một năm hoa nở từ bi
Một năm ta vẫn mê si ảo huyền
Một năm thắp nén hương nguyền
Tái sinh theo một bóng thuyền lênh đênh
*
Vô cùng vạt nắng mông mênh
Thôi em trả lại Bồng bềnh tình quân
Bên bờ Suối Bạc mùa xuân
Vấn vương huyễn sự bâng khuâng kiếp này…
*CAO MỴ NHÂN (HNPD)
*****************
LỜI THƠ CHAY. CAO MỴ NHÂN
*
Hẹn em ở Đa Minh
Suốt đêm nhà thờ thức
Đợi về Lễ Phục Sinh
Easter day Chúa nhật
*
Suốt tuần chay cô đơn
Lời kinh mang nỗi nhớ
Hồi chuông rơi van lơn
Lệ chan hoà sầu khổ
*
Bài thánh ca ru êm
Cả không gian rạng rỡ
Ánh lửa soi trái tim
Xoá tan cuộc tình lỡ
*
Từ hoang liêu nụ cười
Anh trao em nở hoa
Niềm tin yêu tuyệt vời
” Chúa ở cùng chúng ta …”
*
CAO MỴ NHÂN
ĐÈO HẢI VÂN 3/ 1975. CAO MỴ NHÂN
*
Câu chuyện 30 tháng 4
Nghe như nửa thực, nửa hư
Thực vì máu và nước mắt
Ngập tràn xác người tản cư
*
Chạy bộ trên đèo Hải Vân
Bộ hành xô xe xuống vực
Đoàn sau ào lên phía trước
Không kịp suy nghĩ, lần khân
*
Chạy lao vào nhau chết thảm
Già , trẻ , lớn , bé khóc la
Chạy từ Huế vô Đà Nẵng
Có người lại lộn trở ra
*
Đại tá tỉnh trưởng Thừa Thiên
Đậu trực thăng trên đỉnh núi
Thét gào trong máy truyền tin
Một ngày mấy lần lui tới
*
Ông cũng như người tị nạn
Không hiểu trung ương muốn gì
Chưa ai quan tâm thù hận
Chỉ cần vượt thoát chốn ni
*
Chẳng ai muốn dừng, dù đêm
Không ăn không ngủ, đau rên
Cứ đi như khùng, như dại
Người ôm thây ma cuồng điên
*
Thế rồi cũng qua mọi sự
Rùng mình sợ hãi quẩn quanh
Chao ôi đâu là lịch sử
Chỉ toàn máu lệ hôi tanh
*
Hải Vân gió hú đêm sương
Chập chờn hồn ma tức tưởi
Cuối 3/75 đau thương
Người người tả tơi, rách rưới
*
Tôi trong ” phái đoàn cứu trợ “
Ấn vào tay họ chút quà
Hất ngang, họ đi như sợ
Cản đường, không để họ qua
*
Trở về Nam Ô chở nước
Đặt bên vệ đường ” tự do “
Đoàn người lênh đênh khốn khổ
Trừng trừng mắt ngó hư vô…
CAO MỴ NHÂN
Đêm Sương Hà Nội CAO MỴ NHÂN
Đó là buổi cuối cùng bố tôi cho cả nhà đi Hà Nội thăm họ hàng và nhất là nhìn lại cái thành phố trước đó đã khắc sâu trong lòng ông khá nhiều kỷ niệm.
Bấy giờ (1954), ông đang làm phó giám đốc phi trường Cát Bi Hải Phòng nên thường đi Hà Nội chơi, tất nhiên cho cả nhà theo, vào những ngày Chủ Nhật.
Từ Hải Phòng về Hà Nội có 100km, chạy trên quốc lộ số 5 chỉ qua thành phố Hải Dương, ghé nhà chú ruột tôi ở số 1 phố Hàng Đồng rồi lên Hà Nội như chương trình đã định.
Bố tôi xuất thân từ trường Bưởi, sau đổi thành Chu Văn An, từng làm giám đốc sở máy đèn kiêm sở máy nước ở Sa Pa, nơi chị em tôi ra đời, để bây giờ các nhóm bạn văn nghệ cứ gọi đùa tôi là Mỵ Sa Pa.
Trở lại buổi cuối cùng về Hà Nội, sau đó xuống lại Hải Phòng rồi di cư vào Nam 25 – 9 – 1954 trên chiếc phi cơ nhỏ hai hay bốn cánh quạt, không biết có phải là DC3, DC4 dân sự không.
Chỉ hơn 10 năm sau, tôi đã bay như bươm bướm trên trời khi làm công tác xã hội trong Quân lực VNCH, qua những chuyến bay của nhiều loại phi cơ khác nhau như Cessna, trực thăng, HUIB, C46, C47, C119, C123, C130.
Thậm chí có khi còn phải quá giang L19, L20 đi thả truyền đơn trên vùng xôi đậu để được mau chóng về nhà khi đã xong công tác tiền đồn, lũ lụt, v.v..
Tôi muốn kể quý vị nghe về đêm sương Hà Nội.
Lẽ ra cái ấn tượng này chỉ có ở những quý vị vừa quá cố như nhà văn Mai Thảo hay thi sĩ Cao Tiêu tức cố đại tá Hoàng Ngọc Tiêu, nguyên cục trưởng Cục Tâm lý chiến Quân lực VNCH.
Tôi đoan chắc thế vì tôi không được thân nhà văn trưởng thượng Mai Thảo, nhưng trong văn chương ông có những đêm sương Hà Nội.
Còn thi sĩ đại tá Cao Tiêu là niên trưởng của tôi, đã từng cho tôi xem những bức hình ông hay ông bà chụp ở hồ Gươm Hà Nội.
Gia đình ông bà ở Hà Nội nên đêm sương Hà Nội trong ánh điện đường màu vàng thời Tây thuộc là một hình ảnh rõ nét, nhưng lại mơ hồ vì cái lạnh len vào thân áo lãng tử, giai nhân day dứt lắm.
Bố tôi chắc chắn trọng tuổi hơn nhị vị tên tuổi nêu trên, vì buổi âm thầm từ giã Hà Nội, bố tôi đã 44 tuổi. Số tuổi trung niên hào hoa, phong nhã, hẳn phải đẹp thế nào rồi.
Nhưng thời thượng bấy giờ không phải dấu ấn Mỹ với quần jean áo thun như ngày nay, mà vết tích Tây là bộ đồ vest sang trọng lúc nào cũng kèm cravat, đôi khi còn có áo gilet bên trong, mặc cho đứng thân áo, không hẳn cho ấm áp thôi đâu.
Buổi cuối cùng để lìa xa thành đô yêu dấu như trong bài hát của nhạc sĩ Vũ Thành, bố tôi để gia đình chơi với họ hàng rồi vội vã đi Khâm Thiên cầm trống chầu nghe hát ả đào.
Thế nên sau này khi gia đình đã di cư vô Nam, thủa ban cổ nhạc Bắc phần hát trên Đài phát thanh Sài Gòn với những nghệ sĩ Kim Bảng, Huệ Đăng, v.v. là giờ cao điểm của bố tôi để ông nhớ Bắc Kỳ quốc của ông.
Chúng tôi không được nghe nhạc dân ca đầu tiên ở miền Nam như Tình ca, Thuyền viễn xứ, v.v. của Phạm Duy.
Bấy giờ cả nhà chỉ có một cái radio, không phải như hiện nay ở nhà tôi từ con tới cháu mỗi người một Iphone, Ipad, kể cả tôi, sử dụng tiện lợi.
Thành ai trong nhà cũng có hai món chơi văn minh vừa nêu, mỗi người tha hồ chui vào phòng riêng thả hồn mơ mộng nghe thơ, nhạc theo sở thích của mình.
Nhất là tôi bây giờ còn mặc sức tung hoành coi và nghe HNPD.COM hay HNPD.NET, hầu mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây, để viết thơ tình muộn riêng cho anh… huyễn hoặc tâm tư tình cảm mình.
Chị gái tôi buổi từ giã Hà Nội còn vị thành niên, đứng ở Hồ Hoàn Kiếm, tên khác của Hồ Gươm, còn khóc theo một kỷ niệm bỏ lại.
Có lẽ trong nhà chỉ có tôi là giận bố vì vẫn chưa đưa đi ăn kem ở Bờ Hồ và khi ngồi trên xe traction về lại Hà Nội, tôi đã ngủ khò một mạch.
Qua cầu Thượng Lý cao vời, chợt nghe tiếng bố tôi nói:
Ơ hay, cái con Mỵ này, lúc nào đi xe cũng ngủ mới lạ.
Buổi cuối cùng ở Hà Nội theo như bố tôi diễn tả, ông nhớ nhất cái đêm sương, cũng chỉ để giữ lại trong lòng một kỷ niệm ướt át.
So ra với tôi hôm nay thì bố tôi khổ quá, ông không biết đẩy cái kỷ niệm, hay văn vẻ hơn là cái nỗi nhớ thương xa xót của ông đi đâu, vô một góc khuất nào trong tâm hồn chẳng hạn.
Thế nên bây giờ tôi chẳng cảm thấy ngại ngùng khi viết ra những bài thơ tình tưởng là khốn khổ, hoá rất êm đềm, huyễn ảo, huyền mơ.
Nhất là giữ được hình ảnh anh trong hàng chục tập thơ. Chu choa. Kể ra anh lại giận bây giờ. Anh sẽ lớn giọng: ai cho phép tự tung tự tán tình cảm rứa, mới là lạ lẫm.
Anh bảo ở miền anh, tức miền Trung mộng mơ, không cần cái đêm sương ẩm lạnh như Hà Nội của quý vị, với Huế đúng nghĩa phải kể đêm mưa.
Muốn rõ rệt hơn thì đêm mưa Huế. Có buồn bao nhiêu đi nữa vẫn là những đêm mưa xót dạ ở Hoàng thành…
Mà thôi đừng nói mưa Huế xót xa, day dứt chi nhiều, bởi nghe mưa Huế không thất tình vẫn cứ buồn thương, tuyệt vọng lắm nờ.
Rứa thôi ta bỏ Hà Nội, Huế đi, vô hẳn Sài Gòn để hưởng thụ những đêm say tuyệt hảo, say men bia rượu hay say đắm tình người.
Quả vậy, chỉ ở Sài Gòn mới dám sống thực, yêu hết lòng, cạn liệt tình thơ, vẫn còn nhiều điều kiện để yêu thương rồi chấm dứt, thường đùa là chết bỏ vậy đó.
Quê hương Việt Nam mỗi miền, mỗi thành phố có một sắc thái riêng như đêm sương Hà Nội, đêm mưa Huế, đêm say Sài Gòn.
Với tôi còn có những đêm khí núi hơi rừng mù mịt Sa Pa, thời Pháp còn ghi chú thêm nơi bản khai sinh tôi là xã Xuân Viên, làng Chapa, tỉnh Laokay.
Lý do Sa Pa là làng nghỉ mát của tất cả những ông Tây bà đầm tứ xứ trên đất nước Việt Nam, mỗi năm về an dưỡng.
Nói một cách khác, Sa Pa là làng nghỉ mát ở Đông Dương do Tây thành lập để an dưỡng người già và người bệnh thời Pháp chiếm cứ miền Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20 vừa qua.
CAO MỴ NHÂN
BÁT BÚN RIÊU – (Không Biết Tác Giả)Nguyễn Tuyết Nhung Sưu Tầm
BÁT BÚN RIÊU
Từ Auclair, theo đường Liên Tỉnh 53, ngược lên mạn Bắc là Salon Springs thì rẽ phải theo Hương Lộ “P” nhỏ hẹp ngoằn ngoèo lăn mình giữa những khu rừng phong ngút ngàn trùng điệp, tiếp tục thêm vào dăm vòng qua những lưng đồi thoai thoải dốc là tới thung lũng Nivagamond, Louisiana, trạm đặc khu của người da đỏ.
Trời vào Thu, rừng phong đã thay chiếc áo choàng màu hồng lựu. Hơn nửa giờ lái xe, không một bóng người ngoài tiếng gió thở dài, tiếng lá khô sào sạc, tiếng rừng cây trăn trở, không còn một âm thanh nào khác. Tôi cảm tưởng như lạc vào 1 hành tinh xa lạ không sinh vật. Đồi lại đồi liền liền tiếp nối nhau sau cùng tới Nivagamond. Nơi đây có Viện Dưỡng Lão Lakeview mà theo lịch trình thì mỗi năm tôi phải đến một lần để thanh tra y vụ.
Lần đầu tiên đến đây nên tôi không khỏi ngỡ ngàng tưởng dù hẻo lánh đến đâu ít ra cũng có xóm làng, một giáo đường nho nhỏ hay vài ngôi nhà be bé xinh xinh nhưng tuyệt đối không. Ngoài rừng phong đỏ lá chỉ có hồ nước trong veo xanh ngắt màu trời. Trung Tâm An Dưỡng Lakeview như tên gọi ẩn mình dưới tàng cây rợp bóng trên khu đất rộng.
Quay lưng vô rừng thông nhìn ra mặt hồ phẳng lặng như gương, tôi ngẫm nghĩ, nơi đây có thể là điểm nghỉ ngơi lý tưởng cho những người quanh năm lao lực hoặc những ai muốn tìm sự quên lãng, còn chọn làm viện dưỡng lão thì hơi tàn nhẫn.
Tuổi già vốn đã cô đơn mà nơi đây lại hầu như tách biệt với thế giới bên ngoài. Trừ y tá, y công và vài chuyên viên dịch vụ thì chẳng còn ai, người nào cũng bận bù đầu, rảnh rỗi đâu mà tán gẫu với những người già. Nhất là sau buổi cơm chiều khi hoàng hôn buông xuống, ai nấy đều đã về nhà thì bóng đêm chắc phải thật dài.
Vừa đẩy cửa bước vào tôi đã giật mình vì gặp một hàng 6 chiếc xe lăn đang dàn chào. Trên mỗi xe là 1 lão ông hoặc lão bà độ bảy, tám mươi, mái tóc bạc phơ, mắt hom hem sau làn mục kính. Có người trông còn sáng suốt, người thì như xác không hồn. Họ chăm chú nhìn tôi từ đầu đến chân như quan sát một quái nhân đến từ hành tinh khác. Có lẽ vì tôi là người Á Châu duy nhất tới đây chăng? Cô y tá hướng dẫn như đoán được cảm nghĩ của tôi bèn nhoẻn miệng cười:
– Ông ngạc nhiên lắm sao?
Tôi ngập ngừng:
– Bộ họ biết hôm nay tôi đến đây nên hiếu kỳ muốn trông thấy mặt tôi.
Cô y tá khẽ lắc đầu:
– Mỗi ngày đều như vậy, sáng nào họ cũng ngồi đó để mong chờ.
– Chờ thân nhân tới đón?
– Dạ thưa không.
– Vậy hay là chờ bạn bè đến thăm?
Cô y tá phì cười pha trò:
– Ông nghĩ già ngần ấy tuổi mà còn hẹn bạn gái sao?
– Không, ý tôi là bạn thông thường đấy.
– Nếu những người bạn ấy chưa nằm xuống thì cũng đang ngồi xe lăn như họ tại một viện dưỡng lão nào đó thôi, rồi ngậm ngùi họ mong chờ những hình bóng không bao giờ đến, xa xôi trong ký ức.
Rồi cô khẽ thở dài:
– Tôi làm việc ở đây hơn 10 năm, đã chứng kiến nhiều hoạt cảnh, tháng nào cũng có người mới tới và cũng có người vĩnh viễn ra đi.
– Chắc ít nhiều, lòng cô cũng có phần nào xao xuyến, phải không cô?
– Thật tình mà nói lúc đầu thì có đấy, nhưng mà bây giờ tôi đã quen rồi.
– Tôi nghĩ là cô rất mẫn cảm?
– Chỉ là do tập luyện thôi chứ bằng không thì sẽ ngã quỵ đó ông!
Chúng tôi vào thang máy lên tầng trên, một cụ già chống gậy tập tễnh vô theo. Cô y tá nhìn ông ta và hỏi:
– Ông đi lên thang máy hay là đi xuống?
Cụ đáp như cái máy, giọng nói khò khè yếu ớt khó nghe:
– Đi.. đi xuống, rồi đi.. đi lên, rồi đi.. đi xuống , đi lên.
Tôi nhận thấy ông ta chẳng nhìn ai cả, ánh mắt không hồn đang hướng về phương trời vô định. Dường như quá quen thuộc với những hiện tượng này, cô y tá thản nhiên nói:
– Vậy thì xin ông bước ra chờ chuyến sau sẽ có người đi với, chúng tôi đang bận.
Cô bèn nắm tay dẫn ông cụ ra ngoài rồi lạnh lùng khép cửa. Tôi thắc mắc: – Nếu ông ấy lại tiếp tục bấm nút thang máy thì sao cô?
– Chúng tôi đã lượng trước được điều ấy cho nên tất cả nút cắt điện trong viện đều gắn rất cao người già không thể với tới.
– À thì ra vậy!
Công tác xong trời cũng về chiều, tôi từ giã, cô y tá tiễn tôi ra cửa. Đoàn xe lăn vẫn còn dàn chào.
Chợt trông thấy trong góc tối 1 ông lão độ trên dưới 80 đang cô đơn ngồi bất động trên xe lăn như pho tượng cũ. Điểm khác biệt khiến tôi chú ý là ông ta không phải người da trắng và cũng không hoà nhập vào toán dàn chào. Da ông màu đồng nâu có nhiều vết nhăn đậm nét thời gian hằn trên mặt. Mái tóc bạc phơ rủ loà xoà trên trán, vóc người bé nhỏ, mắt hom hem trân trối nhìn tôi như muốn nói điều gì. Tôi đoán chừng ông là thổ dân da đỏ. Hiếu kỳ tôi hỏi cô y tá:
– Và vị dưỡng lão này cũng là người Indian hở cô? Tôi nghĩ đó là trách nhiệm của chính phủ liên bang chứ?
Cô ta ngạc nhiên:
– Ủa sao ông lại hỏi vậy?
Tôi trỏ ông lão ngồi xe lăn:
– Vậy không phải Indian là gì?
Cô y tá phì cười:
– Ông ta là người Á Đông đó ông ạ.
Tôi giật mình:
– Người Á Đông?
– Dạ phải, dường như là Việt Nam đó.
Thêm một lần kinh ngạc, tôi không ngờ nơi vùng đất hẻo lánh đìu hiu lạnh lẽo này cũng có người Việt cư trú. Tôi bèn hỏi dồn:
– Sao cô biết ông ta là người Việt.
– Dạ thưa ông hồ sơ có ghi đó ông ạ.
– Vậy thì ông ấy vào đây lâu chưa cô?
– Hơn 10 năm.
Rồi cô khẽ lắc đầu:
– Tội nghiệp, ông ta rất hiền lành dễ thương ai cũng quý mến cả. Nhưng hiềm chẳng nói được tiếng Anh cho nên suốt ngày cứ thui thủi một mình không có bạn.
– Vậy thân nhân ông ấy có thường xuyên tới thăm ông ấy không?
– Một lần cách đây lâu lắm, hẳn có uẩn khúc gì đây.
Không cam tâm làm ngơ trước người đồng hương đang gặp cảnh bẽ bàng nơi đất khách, tôi tự giới thiệu tôi cũng là người Việt Nam. Cô ta trố mắt:
– Ồ thế mà tôi cứ đinh ninh ông là người Trung Hoa.
Tôi cười:
– Trong mắt người Tây Phương, thì bất cứ ai da vàng cũng là người Tàu.
Cô ta pha trò:
– Cũng đâu phải lạ, nhiều anh Tàu nhan nhản khắp nơi. Ngay trong xóm da đỏ hẻo lánh tít mù trên miền Bắc cũng có. Lần nào qua đó tôi cũng ghé mua cơm chiên, chả giò vừa ngon vừa rẻ nhưng phải cái là…..
Tôi nhoẻn miệng cười:
– Mỡ dầu và bột ngọt hơi nhiều phải không cô?
Cô ta cười xoà:
– Phải nói là nhiều quá mới đúng. Khổ công tập thể dục cả tháng, ăn một bữa cơm Tàu là đâu vào đấy, có khi còn thặng dư là khác.
Tôi quay lại vấn đề:
– Tôi muốn tiếp xúc với ông lão người Việt để mà chào hỏi làm quen, có thể ông ấy cũng đang cần nói chuyện vì lâu lắm chưa có dịp.
Cô y tá mừng rỡ:
– Hay lắm, đó cũng là điều tôi mong muốn. Vùng này hẻo lánh quá nên không tìm ra người thông dịch, nhân tiện nhờ ông hỏi xem ông ấy có nhu cầu hay đề nghị gì hầu chúng tôi đáp ứng không?
– Vâng, tôi sẽ cố gắng làm điều đó cô.
Thấy tôi đi tới ông lão ngước lên, nhíu đôi mắt hom hem nhìn chầm chập, vừa ngạc nhiên vừa thoáng chút ngại ngùng. Tôi gật đầu chào:
– Dạ thưa chào cụ ạ.
Nét mặt rạng niềm vui, giọng nói run run vì xúc động:
– Dạ chào, chào thầy, thầy người Việt à?
Giọng ông hơi nặng và chân thật. Tôi thân mật nắm tay ông.
– Thưa cụ cháu cũng là người Việt như cụ đấy ạ.
Ông lại nghẹn ngào:
– Cảm ơn Thiên Chúa, cảm ơn Đức Mẹ Từ Bi đã cho tôi gặp được ông.
Tôi kéo ghế ngồi bên cạnh và bắt đầu trò chuyện.
– Thưa cụ, vì sao cụ cho là cuộc gặp gỡ hôm nay là do Thiên Chúa và Đức Mẹ sắp đặt.
– Tại đêm nào tôi cũng cầu nguyện ơn trên cho tôi gặp được người đồng hương.
– Có chuyện gì khẩn cấp không thưa cụ?
– Để được nói chuyện bằng tiếng Việt mình thôi.
Cụ thở dài:
– Lâu lắm rồi tôi chưa được nói hay là nghe tiếng mẹ đẻ.
Nhức trong tim, tôi bùi ngùi thương cảm, một ước mơ thật đơn giản mà sao quá xa vời. Chúng tôi bắt đầu trò chuyện. Ông kể:
“Tên tôi là Tỉnh, Nguyễn Văn Tỉnh, trước kia ở Bình Tuy, làm nghề biển, có thuyền đánh cá. Tuy không giàu, nhưng cuộc sống cũng sung túc. Tôi có vợ, 3 con trai, đứa lớn nhất còn sống thì giờ này cũng đã gần 50. Năm 75, Cộng Sản tràn vào, cả nước kéo nhau chạy nạn, sẵn phương tiện trong tay tôi chở vợ con vượt thoát, nhưng chẳng may là sau 3 ngày lênh đênh trên mặt biển thì gặp bão lớn tàu chìm. Tôi và đứa con út lên 6 được may mắn đã gặp tàu Mỹ nó vớt, còn vợ và 2 đứa con lớn thì mất tích thầy ạ. Sau đó thì tôi được bảo trợ về Louisiana, nơi đây có đông người đồng hương nên cũng đỡ buồn. Tôi bắt đầu tái tạo sự nghiệp, hùn hạp với bạn bè mua tàu đánh cá làm việc ngày đêm, trước là để vơi buồn, sau là tạo dựng tương lai cho thằng Út, giọt máu cuối cùng còn sót lại của tôi. Tôi ước mong thằng bé sẽ theo cha mà học nghề biển nhưng nó thì không muốn. Nó chỉ thích làm bác sĩ, kỹ sư ngồi nhà mát thôi chứ không chịu dãi nắng dầm mưa như bố, thế nên thầy biết không, vừa xong trung học là nó quyết chọn trường xa để mà tiếp tục theo đại học”.
Ông ngừng lại một chút để dằn cơn xúc động rồi ngậm ngùi kể tiếp:
“Tôi chỉ có mình nó, không thể sống xa con, nên quyết định là bán hết tài sản để mà dọn theo, bạn bè ai cũng ngăn cản thầy ạ, nhưng tôi quyết giữ lập trường, mang hết tiền dành dụm đến cái tiểu bang này mua 1 căn nhà nhỏ ở ngoại ô, còn chút ít thì gửi vào trong quỹ tiết kiệm lấy lời sống qua ngày. Hai cha con đùm bọc nhau, cuộc sống tuy chẳng sung túc nhưng chẳng nhẹ nhàng. Tuổi ngày một già thì sức khỏe càng yếu, năm ấy trời mưa đá, tôi bị ngã gẫy chân thầy ạ. Bác sĩ cho biết xương già thì không có lành được và phải vĩnh viễn ngồi trên xe lăn. Thằng Út ra trường có việc làm ở Nữu Ước.
Tự biết là khó có thể theo con và không muốn làm trở ngại bước tiến thân của nó nên tôi xin vào viện dưỡng lão. Tôi lên tiếng trước thầy ạ cho nó khỏi bị khó xử. Nó giúp tôi làm thủ tục và hứa là khi nào làm ăn yên ổn nó sẽ đón tôi về. Các viện dưỡng lão tương đối khá đều hết chỗ, may thay trong lúc đang bối rối thì có anh bạn học người da đỏ quen Út mách cho tôi nơi này. Thấy con tôi buồn tôi bèn an ủi nó: nơi nào cũng là quê người, cũng giống nhau thôi, thỉnh thoảng con về thăm bố là bố vui rồi. Thế là cả ngôi nhà lẫn tiền dành dụm phải trao hết cho viện dưỡng lão, dĩ nhiên là tôi được nhận.”
Ánh mắt xa xôi nhìn về phía chân trời đang có đàn chim chiều đang soải cánh ông chép miệng:
– Chà nhanh quá, mới đó đã 10 năm rồi.
– Thưa cụ, thời gian qua chắc là anh Út vẫn thường xuyên về thăm cụ chứ?
– Ừ, một năm thì nó cũng trở lại, nó khoe tôi hình cô gái Mỹ và nó nói, dâu tương lai của bố đó. Rồi thầy biết không, từ đó biệt tăm luôn.
– Cụ hoàn toàn không biết tin tức gì về anh ấy sao?
– Không, mà thật tình tôi cũng không muốn biết nữa.
– Tại sao, anh ấy là con trai duy nhất của cụ mà? Cháu sẽ giúp cụ tìm anh ấy nhé?
Ông lão rơm rớm nước mắt:
– Tôi sợ lắm, thầy ơi, thà biền biệt như thế mà tôi vẫn tin tưởng là nó đang sống tốt với vợ con ở một nơi nào đó trên quả đất còn hơn là biết tin buồn. Quả tình tôi không kham nổi.
Tôi nghẹn lời nói không được, lát sau qua cơn xúc động, tôi bèn hỏi:
– Giờ đây cụ có còn ước nguyện gì thì cụ cho cháu biết, cháu sẽ hết lòng giúp với tất cả khả năng của mình thưa cụ.
Ông lão thở dài:
– Già rồi còn được mấy năm trước mặt hở thầy?
Ánh mắt chợt linh động, ông nhìn tôi và chép miệng:
– À, mà tôi thèm một bát bún riêu quá.
Hai tuần sau vào ngày Chủ Nhật, tôi nhờ chị bạn thân nấu giùm 2 bát bún riêu cua, bún nước để riêng, có đầy đủ chanh, rau, nước mắm, ớt hiểm tươi còn đặc biệt có thêm lọ mắm ruốc thật ngon. Tôi cho tất cả vào túi xách đem vào viện dưỡng lão Lakeview. Mất hơn 4 giờ, sau cùng tôi đã tới. Như lần trước, ông vẫn ngồi trên xe lăn gần cửa sổ cuối phòng.
Bất ngờ trông thấy tôi ông mừng rỡ kêu lên:
– Ồ kìa thầy, thầy lại về đây công tác hở thầy?
Tôi chạy tới nắm tay ông:
– Dạ thưa lần này thì cháu chỉ đến đây thăm cụ và cháu có một món quà đặc biệt mang biếu cụ đây.
Lộ vẻ cảm động ông cụ nhoẻn cười đôi mắt nhăn nheo:
– Bày vẽ làm chi hở thầy, đến thăm tôi là quý rồi thầy ơi.
Tôi xin phép ban quản lý đưa cụ ra vườn vì thức ăn nặng mùi mắm ruốc nên tôi phải mang theo 1 lọ cồn nhỏ để đun nóng ngoài trời. Cụ chăm chú nhìn tôi bỏ bún ra tô, trộn rau ghém, nêm mắm ruốc, chan nước dùng nghi ngút bốc hơi, rắc chút tiêu thơm trên lớp gạch cua nổi vàng trên mặt. Nặn hai lát chanh tươi và sau cùng là ba trái ớt hiểm đỏ thơm nồng cay xé lưỡi. Không nén được thèm thuồng, chốc chốc cụ lại nuốt nước bọt. Tôi đặt tô bún riêu trước mặt và mời cụ cầm đũa. Cụ run giọng:
– Cám ơn thầy, không ngờ hôm nay tôi còn được ăn bát riêu cua. Mời thầy cùng ăn cho vui ạ.
– Cám ơn cụ, cháu đã ăn xong ở nhà, xin cụ dùng tự nhiên, bún riêu còn nhiều, hết tô này cháu sẽ hâm tô khác.
Cụ trịnh trọng húp từng muỗng xúp, gắp từng đũa bún, cắn từng miếng ớt cay ngon lành như chưa từng được ăn ngon, chốc chốc cụ dừng tay để lau mồ hôi và luôn miệng khen tấm tắc:
– Trời ơi, bún riêu ngon quá mà mắm ruốc thơm quá thầy ơi.
Tôi cảm động đặt tay lên vai cụ:
– Thưa nếu cụ bằng lòng nhận cháu làm con, cháu sẽ thay anh Út và thường xuyên thăm viếng cụ nhé.
Cụ sững sờ nhìn tôi thật lâu như không tin ở tai mình rồi hai dòng nước mắt từ từ lăn dài trên đôi má hóp:
– Trời ơi, sao tôi có được diễm phúc như vậy sao trời!
Tôi yêu cầu ban quản lý ghi tên tôi vào danh sách thân nhân, và dặn dò khi có chuyện cần thì cứ gọi. Năm sau, còn một ngày nữa là Tết, tôi đã chuẩn bị xong quà cáp có cả trà thơm, mứt ngọt dự định sáng hôm sau Mồng Một đầu năm sẽ mang lên Lakeview mừng tuổi cụ. Đang ngon giấc, chợt có chuông điện thoại, tôi nhấc ống nghe, bên kia đầu dây tiếng cô y tá trực của viện dưỡng lão Lakeview:
– Dạ thưa hỏi, có phải ông là ông Trần không?
– Dạ vâng ạ, là chính tôi đây .
– Dạ thưa ông, cụ Tỉnh đau nặng.
– Tình trạng thế nào có nguy không cô?
– À, đang nằm phòng hồi sinh bệnh viện ở thành phố đó thưa ông.
– Cám ơn cô rất nhiều, ngày mai tôi sẽ đến cụ.
– À ông nên đi sớm hơn đi là vì sợ không còn dịp nữa. Tôi rụng rời, ngoài trời tuyết rơi càng lúc càng nhiều, trời trở lạnh, gió giật từng cơn, hoa tuyết bay
(Không biết tác giả)
Những Tác Phẩm Của Cậu Bé Khuyết Tật – Nguyên Phương Sưu Tầm
Người bình thường với đầy đủ các giác quan cũng khó làm được như cậu bé này. Bởi thế, những tác phẩm của cậu đã khiến nhiều người, kể cả trong giới chuyên môn, cũng phải ngạc nhiên.


Một bức tranh của “họa sĩ nhí” 14 tuổi Trần Nam Long
Trắc trở con đường học hành
Cậu bé Trần Nam Long không may bị khuyết tật bẩm sinh. Không chỉ bị câm điếc, hồi nhỏ cậu còn có biểu hiện tăng động – giai đoạn nhẹ của trẻ tự kỷ nữa. “Nhưng cháu ngoan và có ý thức từ nhỏ nên việc nuôi dạy cháu cũng không quá khó khăn” – mẹ bé Long kể.
Khi Long hai tuổi, em được bố mẹ đưa tới lớp học đặc biệt. Vì phải đến lớp cùng con, nên mẹ Long đem những bài học về nhà áp dụng triệt để và tình hình cũng tốt dần lên.
Thấy con có sự quan tâm đến màu sắc, cô giáo điều trị khuyên gia đình nên cho Long đi học vẽ, vì điều đó có thể sẽ giúp Long bớt bệnh. Nhưng, con đường học hành không suôn sẻ, cậu bé mới chỉ vừa đến lớp vẽ được đúng buổi đầu tiên thì cha cậu không may bị tai nạn giao thông và đột ngột qua đời.
Giông bão bất ngờ ập xuống bờ vai người mẹ trẻ, khi một mình chị vừa phải kiếm sống, vừa phải chăm sóc, nuôi dậy hai đứa con thơ. Nhà thuê tạm, chị vừa xoay xở tìm việc làm, vừa ráng chữa bệnh cho con, chóng mặt đưa đón cả hai đứa mỗi ngày.
“Nhiều lúc, khó khăn quá, mọi người khuyên tôi nên về quê, nhưng chính vì Long bệnh nặng nên tôi quyết ở lại thành phố để tìm cơ hội cho con” – Người mẹ nghèo trĩu nặng tự sự kể.
Tranh xe đạp giản dị bên trên của Trần Nam Long khiến nhiều người xúc động


Bức tranh “Bếp lửa ấm áp” ở trên khiến người lớn thấy bồi hồi.
Cậu bé say sưa sống trong thế giới màu sắc
“Long có khiếu vẽ từ bé, mới 2-3 tuổi đã biết về hình khối rồi. Các thầy cô bảo con có tư duy hình khối. Đến cuối năm 2016, Long tham gia cuộc thi “Cảm xúc trong em” và đoạt giải Đặc biệt, nhận được học bổng toàn phần học vẽ tại Trung tâm Art Tree. Thấy bài dự thi của Long rất ấn tượng, nên một thầy giáo tại Trung tâm đã nhận dạy Long miễn phí. Thầy còn tặng Long cả họa phẩm nữa. Như được tiếp thêm năng lượng, Long thỏa sức đam mê vẽ” – Mẹ cậu bé hồi ức kể.
Đối với một người bình thường, tư duy sáng tạo với cọ và màu cũng không phải chuyện dễ, thì đối với Nam Long, đây là cả quá trình học hỏi để vượt lên số phận. Và hơn nữa là thể hiện niềm say mê hội họa, bởi con đường học hành chưa bao giờ suôn sẻ, trải thảm cho cậu bước lên.
“Vì nhiều lý do, thầy phải nghỉ dạy ở Trung tâm. Cho đến cuối năm 2018 Long lại may mắn được theo học một cô. Cô rất yêu thương Long, chỉ dạy nghiêm túc, nên con ngày một trưởng thành hơn. Long luôn đặt ra mục tiêu để phấn đấu, luôn nỗ lực và cố gắng hết mình” – Người mẹ nghèo xúc động kể.
Vượt lên tất cả những gì là ranh giới hạn hẹp bó buộc và làm khó cho hoạt động của một con người trưởng thành, Long cứ sống với đam mê sắc màu.. Những bảng màu rực rỡ và vô tri, nhưng qua bàn tay bé nhỏ của Long, bỗng trở thành sống động với sắc hoa, màu nắng, thấm đẫm tình yêu cuộc sống và sự lạc quan luôn tràn đầy.
Những bức tranh Nam Long vẽ về mùa thu Hà Nội, hoa cúc họa mi, cầu Thê Húc, gánh hàng hoa… vừa chân thật, vừa huyền ảo, đủ làm người lớn bỗng nhiên thấy rung cảm sâu sắc về những nét đẹp tưởng chừng xưa cũ, cảm xúc vấn vương về mùa thu Hà thành xa xôi, ký ức, ảo diệu, lắng đọng trong những nét vẽ mộc mạc của tay cọ vẫn đang còn là một cậu bé, vừa ngây thơ, vừa chững chạc.




Một góc phố Hà Nội trong tranh Trần Nam Long.
Sắc màu rực rỡ của những gánh hàng hoa và lá thu vàng trên phố.
Con người vùng núi cao hòa lẫn vào vẻ đẹp thiên nhiên.
Sắc hoa Tây Bắc rực rỡ, tươi tắn
Mùa đông không lạnh
Người mẹ nghèo không thể ngờ niềm đam mê với màu sắc và cây cọ của con trai có ngày “đơm hoa kết trái”.
Bức tranh vẽ hoa cúc họa mi của Trần Nam Long, với vẻ đẹp nền nã, khiêm nhường, tươi tắn nổi bật trên nền xám của hậu cảnh, mẹ cậu bé mới chụp đăng lên trang facebook chỉ một ngày sau đã có người mua.
Tranh “Bếp lửa ấm áp” dù chưa hoàn thiện đã được mẹ Long chụp post lên facebook, thật bất ngờ chỉ sau 30 phút đăng lên, họa phẩm đã được một kiến trúc sư tìm đến tận nhà mua về. Thậm chí, chú kiến trúc sư còn không cần mẹ cậu bé đóng khung tranh.
Những bức ảnh của người mẹ nghèo chưa biết chụp, nên chưa lột tả hết vẻ đẹp mỗi tác phẩm hội họa của con, nên nhiều người tìm đến mua tranh đều nhận xét: “Tranh thật đẹp hơn hình chụp”. Những bức tranh của cậu bé đã khiến cho ngôi nhà nhỏ của ba mẹ con giờ đã không còn lạnh lẽo nữa, mà thật sự mùa đông này trở nên ấm áp, bởi tình cảm của cộng đồng giành cho cậu bé vốn đã chịu nhiều thiệt thòi.
Tiền bán tranh của cậu bé mới đây đã giúp cậu mua được máy trợ thính và cậu bé 14 tuổi lần đầu tiên nghe được những âm thanh “kỳ diệu” của cuộc sống – điều mà với người bình thường tưởng chừng như thừa thãi, nhưng lại là “món quà” tuyệt vời đối với cậu bé nghèo khuyết tật.


Cúc họa mi rung rinh sống động vẻ đẹp khiêm nhường
Thế giới màu sắc của cậu bé nghèo khuyết tật

“Chàng trai” 14 tuổi mơ ước một căn nhà cho ba mẹ con
“Long khát khao ba mẹ con có một ngôi nhà để ở và sau này có điều kiện chăm sóc mẹ. Nhưng từ trong sâu thẳm thì con rất mong trong tương lai có thể có được triển lãm cá nhân, chứ không phải chỉ vẽ thật nhiều để bán. Mặc dù cũng có nhiều người đặt tranh, nhưng tôi nghĩ giờ chưa phải lúc. Con cần được trau dồi, học hỏi thêm. Hơn nữa, sức khỏe của Long không tốt, nên tôi cũng muốn con được nghỉ ngơi, hài hòa mọi việc. Để con phát triển được năng khiếu, tôi nghĩ mình cần vun đắp, nhưng không khiên cưỡng” – Mẹ Nam Long trải lòng.
Theo Internet
CHUYỆN HÔM KIA – Cao Mỵ Nhân
CHUYỆN HÔM KIA. CAO MỴ NHÂN
*
Chuyện hôm qua đã cũ rồi, mà “Chuyện hôm kia” còn cũ rích hơn nữa.
Anh đang mỉm cười xem thử mình định nói gì ?
Có gì đâu mà …nói chớ, đó là một cụm từ, tưởng giống như một chùm hoa trong bài thơ ” Chiêm bao” của thi sĩ Bùi Giáng .
Anh lặng người đi một thoáng, anh biết lúc này mình đang buồn lắm, anh có thể khiến mình vui tức khắc, nhưng anh vẫn không làm.
Tại sao thế?
Người ta rất thương một tha nhân hấp hối, có thuốc cứu sẵn trong tay, nhưng vẫn nhất định không đưa cho kẻ hấp hối đó uống.
Vì nếu kẻ hấp hối đó sống lại, tha nhân đó sẽ biến thành thân nhân của vị đại phu ngay.
Nên đã quyết liệt thề, là cùng thiên nhiên bỏ mặc khách hấp hối bên trời, nếu Thượng Đế cho người hấp hối đó sống, thì được sống, mà nếu không tự lực được, như cánh chim không vươn lên nổi, phải tan ra thành cát bụi vô thường…
Thì cũng đành thôi…
Anh, chẳng lẽ anh lại ” tàn bạo ” thế sao ?
Anh trầm tư, rồi ung dung trả lời: ” sao không bảo là tôi ác, còn cố tránh tiếng ” ác ” này ? Có phải vì quá đắm say tôi đó không?”
Tại sao anh cứ đọc được ý nghĩ của mình, tôi phải nghe trọn một ngày những bài thơ của Bùi Giáng, do đủ các thành phần các giới trong nước bàn soạn, tán tụng ông thi sĩ cuồng chữ này.
Khởi sự, nhà thơ họ Bùi chỉ gàn bướng, khinh khi thế nhân, trong phạm vi khả năng khiêm tốn nhất, là ” điên ” cho thiên hạ khỏi thắc mắc.
Người ta có thể điên theo mức độ bất như ý của mình …
Điên vì thời cuộc, vì danh dự, vì tự ái, vì bị áp bức, ganh ghét, xấu hổ, mất mát, ân hận…vv…
Chắc tôi có thể bị điên vì mức độ nhẹ nhất trong những lý do nêu trên, vì mất mát và ân hận.
Anh thở dài: ” có thể chỉ vì ân hận thôi, nhưng trong tâm tư vẫn như vương vấn một điều là tiếc nuối phải không ?
Lại hình như đúng quá. Song nếu chờ anh đưa linh đan cho uống, thì, có lẽ mình đã ở đỉnh tháp ngàn thương rồi.
Do đó cả 2 người : anh và mình, phải đào huyệt chôn cất cuộc tình buồn…
Ngắm mộ tình bơ vơ trong nỗi sầu tư thơ Bùi Giáng kể lại “chuyện hôm kia “, mình đành tự bạch với thinh không, và thấm nhuần tư tưởng hư vô ngay khi mình đang có tất cả .
Thế nhưng, mình có thể tìm anh trong nỗi nhớ, ấy là mình tiết lộ cho anh hay:
Thực ra, riêng bài thơ Chiêm Bao của thi sĩ Bùi Giáng, có cái tên tức cười lắm : ” Tặng Lyn Rô “, tức là ông nhà thơ cuồng chữ đó tặng Nữ tài tử điện ảnh Mỹ Marilyn Monroe từ năm 1962 lận .
Sao anh không cười vậy ? Này nhé :
Màu xuân trắng mơ màng pha in mặt
Khắp môi hường nhắc lại chuyện hôm kia
( Lyn Rô. Bùi Giáng 1962 )
Anh không cười, nhưng cũng không trách mình sao hoang phí thời gian, thay vì mình học thêm computer, English …để không la hoảng lên mỗi lần Ipad lung tung xoè, mà nay không hỏi được anh, vì đang bị cấm vận IPhone .
Ca tụng một ngôi sao rực rỡ, nữ tài tử da trắng xoá, mà thép bút vẫn không xa nghiên mực cổ thư:
Màu tô tỉnh sáng bừng tờ phương cảo
Đã từng sai bóng nguyệt lạc tin hoa
Giờ bất tuyệt giậy ngần trong thủy thảo
Dừng âm thanh ngoài cõi sóng thu loà
( Lyn Rô Bùi Giáng )
Có phải quan võ đang ” hỡi ôi”, nghĩ rằng có thể người đang kể chuyện này, cũng may ra chỉ hiểu một phần nào ý thơ Bùi Giáng, còn thì cứ Ma Ma, Phật Phật …trong đầu thôi .
Đúng vậy, nhất là đoạn thơ tiếp :
Thành đất quạnh vàng rêu mưa thấm liễu
Nẻo Thương lương làn sóng động đêm ngà
Vừng phơ phất loà xoà em có chịu
Giục Đào Nguyên anh ngó hẳm Liêm Hà
( Lyn Rô. Bùi Giáng )
Bao nhiêu đấy, đủ rồi câu “chuyện hôm kia” của thi sĩ Bùi Giáng, thành cặp vấn đáp :
Hỏi người quê ở nơi đâu ?
Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà ! ( Bùi Giáng )
Một học giả uyên bác thế, mà vẫn đơn sơ, mộc mạc, chân chất, nhưng có chút ưu phiền, nên cuộc chia tay chỗ ông đến chơi một vài ngày, như trong thơ tặng Lyn Rô, đã kết thúc thật cảm động:
“Ồ ly biệt tơi bời bờ lảo đảo
Em ra đi, đời bưng mặt khóc oà …” ( Bùi Giáng )
Anh thở dài thực sự rồi, anh đang thương cảm Bùi Giáng , bậc hiền triết tài hoa.
Vị thi sĩ này rất hiền, rất triết, không khổ tâm, không chán ghét đời…
Thi sĩ Bùi Giáng đã đạt tới đỉnh điểm của hư vô, sao mình không có được một chút nhỏ an nhiên tự tại ?
Chẳng lẽ lại nói rằng: anh đang là mặt bằng suy tưởng, là vị thần xúc cảm của mình mà lâu nay mình vẫn tôn thờ…
Nhưng mình phải bình thản hơn nữa, để căn bệnh bồn chồn lo lắng không trầm kha thêm.
Hình như anh gật đầu ….
Có phải anh đang gác kiếm, để luyện linh đan cho mình dưỡng khí, dưỡng chí …không ?
Để anh sẽ từ thật xa, xa lắm, thổi luồng gió mát phương nam tới, cho hoa lá quanh mình hồi sinh .
Thế thì, mình bắt chước thi sĩ Bùi Giáng, viết thử :
Hỏi mình khổ não vì đâu
Xin thưa chính tại xưa, sau một người
Nên chi cứ giữ nụ cười
Mai kia tái ngộ vạn lời bâng quơ… ( thơ CMN ).
CAO MỴ NHÂN