Khi bị chuyển về khám đường Bà Rịa, tôi bị nhốt vào một căn phòng rất nhỏ. Trong phòng ấy đã có sẵn một người: ông Đoàn. Cửa phòng là một bửng sắt khá dày, bị sét rỉ toàn bộ, chứng tỏ nó đã khá lâu đời. Sét rỉ đã xoi tấm cửa này thủng nhiều lỗ cỡ đầu ngón tay. Đặc biệt có một lỗ dưới cùng rộng có thể thò lọt cả bàn tay. Những lỗ đó đã cho chúng tôi chút ánh sáng trong căn phòng ít khi được mở này.
Một hôm, tôi đang rầu rĩ bỗng nghe nhiều giọng nữ xôn xao bên ngoài. Tôi chạy lại cửa dán mắt vào mấy lỗ thủng. Thì ra phòng tù nữ ở gần phòng tôi được cho ra tắm giặt. Thật là một cảnh sinh hoạt rộn ràng.
Tiếng gàu thau chạm nhau rổn rảng, tiếng người thúc giục nhau, chen lấn cãi cọ nhau ỏm tỏi. Họ giặt đồ, tắm rửa, chải tóc, phơi quần áo…. trông ai cũng làm việc với vẻ gấp rút. Người quá đông mà chỉ có hai cái giếng, thì giờ cho phép lại giới hạn, nên họ sợ hết phần …
Tôi bỗng giật mình khi thấy một thằng nhỏ từ trong hiên nhảy ra. Nó chạy vụt lại phía hai con vịt xiêm đang rỉa lông cho nhau trước cửa phòng tôi làm chúng hoảng hốt bay xa một đoạn. Một người đàn bà gọi với:
-Không được nghịch, mẹ đánh đấy!
Thằng nhỏ đứng lại. Qua giây phút hoảng hốt, đôi vịt lại tiếp tục rỉa lông cho nhau. Thằng nhỏ khoảng chừng ba bốn tuổi, trắng trẻo, kháu khỉnh làm sao! Tại sao nó lại lọt vào chốn tù ngục này? Nó làm sao chịu được cảnh thiếu ăn, thiếu bạn bè, thèm khát đủ thứ, ngày ngày ru rú trong một căn phòng chật hẹp với không khí ngột ngạt, hôi hám ấy? Tâm tính nó sẽ ra sao về sau? (Sài Gòn trong tôi/ Ngô Viết Trọng)
Thằng nhỏ có vẻ khoái đôi vịt xiêm lắm. Nó đang say sưa ngắm chúng thì mẹ nó gọi trở về phòng. Nó vừa đi vừa ngoái cổ nhìn lui làm mẹ nó phải giục mấy lần. Tôi quay lại hỏi ông Đoàn:
-Bên phòng nữ có một thằng nhỏ dễ thương quá! Vì sao nó phải vô trong này ông biết không?
Ông Đoàn nói:
-Nghe đâu cha nó là một viên thiếu tá đã đi Mỹ còn mẹ nó là một nhân viên Thiên Nga. Khi tôi vô đây đã thấy có nó rồi! Lúc đó nó mới biết đi lẫm đẫm.
Tôi tức cười thốt lên:
-Sau này có thể nó phải ghi vào lý lịch: Mới một tuổi tôi đã phải sống trong lao tù khổ sai của bọn cộng phỉ man rợ …
Mấy hôm nay tôi chỉ được phát mỗi ngày hai vắt nhỏ bột sắn xay chia làm hai bữa với một ít canh cải bẹ xanh mặn chát. Không hiểu thằng nhỏ có được phát tiêu chuẩn khẩu phần không hay phải ăn vào phần của mẹ nó? Tôi nói:
-Thằng nhỏ mặc sức mà thèm đường thèm sữa!
Ông Đoàn cười:
-Ông khỏi lo! Mấy ngày thăm nuôi nó được cán bộ thả đi lung tung, người ta cho nhiều quà lắm. Ngay tại phòng nó lại có rất nhiều người đã từng làm mẹ, làm chị, chẳng ai nỡ để một đứa nhỏ dễ thương như thế đói đâu! Tôi đã từng thấy một con chó mẹ nằm cho mấy con mèo con bị mất mẹ bú. Thiên tính thương trẻ của các bà làm mẹ hẳn còn cao hơn nhiều!
Tôi cảm thán:
-Vậy sao? Hoá ra nó lại sướng hơn lũ con tôi! Tôi có ba thằng con, thằng út có lẽ cũng cỡ tuổi nó. Khi tôi đi tù nó mới vừa đúng một tuổi, chưa biết đứng. Trước kia mình đâu biết dành dụm lo xa, khi vào tù tôi chẳng có chút gì để lại cho vợ con cả. Nghĩ đến cảnh một người đàn bà chân yếu tay mềm phải chạy vạy để nuôi sống ba đứa con giữa lúc này tôi đau ruột lắm Nhưng ăn năn cũng muộn mất rồi!
Mấy hôm sau phòng tù nữ lại được mở cho ra tắm giặt. Thằng nhỏ sau khi tắm rửa xong lại chạy sang trước phòng tôi. Không thấy đôi vịt, nó ngồi vào bậc thềm lưng dựa vào cửa phòng. Tôi thò ngón tay ra lỗ thủng chọt vào lưng nó một cái. Nó giật mình nhỏm dậy quay lại:
-Hết hồn!
Tôi lấy làm thú vị khi nghe một thằng tí hon lại dùng cái tiếng “hết hồn” có vẻ người lớn đó. Biết tôi đùa, thằng nhỏ lại ngồi xuống chỗ cũ. Tôi hỏi:
-Cháu tên gỉ?
-”Ngụy con”!
Tôi ngạc nhiên hỏi lại:
-Chú hỏi cháu tên là gì?
-”Ngụy con”!
-Ai đặt tên ấy cho cháu?
-Mấy chú cán bộ!
-Thế mẹ cháu không đặt tên cho cháu à?
-Có, mẹ cháu đặt tên “con”, mấy chú cán bộ thì kêu “ngụy con” rồi các cô dì trong phòng cũng kêu cháu là ”ngụy con”!
Trời đất ơi! Cái tên này có thể tạo một ấn tượng khó đoán khi thằng nhỏ khôn lớn! Tôi định hỏi vài câu nữa nhưng nó đã bị mẹ nó gọi về phòng
Rồi ngày thăm nuôi đến – ngày đó coi như ngày Tết của khám đường. Các phòng giam đông người đều được mở cửa suốt thời gian cho thăm để người ta tiện đưa đồ thăm cũng như dẫn dắt những người được gặp mặt người thân ra vào.
Những người được ra gặp người thân phải mặc đồ lành sạch. Ai không có phải đi mượn đồ của người khác. Vì vậy, ngày thăm nuôi tù vẫn ăn mặc sáng sủa khác hẳn ngày thường. Các tên cán bộ cũng giả dối dẹp bớt cái vẻ nghiêm khắc hàng ngày để hồ hởi thưởng thức những hơi khói thơm…
Những người không được thăm cũng vui hơn vì ít nhất cửa phòng mở họ cũng hưởng được chút ánh sáng và không khí dễ thở. Họ cũng có thể hưởng ké được chút quà tươi hoặc sớt được phần ăn tiêu chuẩn của những người được thăm không dùng tới. Những phòng ít người phần nhiều đang bị kỷ luật, ít được thăm, cửa đóng im ỉm, nhưng ít nhất ngày đó họ cũng yên trí không bị cán bộ quấy rầy.
Nói chung, trong ngày thăm nuôi, bất cứ ai đang sống tại khám đường cũng chia được ít nhiều niềm vui, dù chỉ là niềm vui tạm bợ giữa một hoàn cảnh bất hạnh. Kẻ hưởng được hạnh phúc thật sự hoạ chăng chỉ có một người: “thằng ngụy con”!(Sài Gòn trong tôi – Ngô Viết Trọng)
Trong lúc cán bộ và tù trật tự bận rộn mang đồ thăm hoặc dẫn tù đi gặp người thân thì thằng nhỏ tung tăng chạy hết phòng này đến phòng khác. Nó rất khôn, cứ gặp cán bộ lại cất giọng lảnh lót “chào cán bộ” thật dễ thương. Vì thế không ai la rầy, cản trở nó cả.
Tôi nghĩ chính thằng nhỏ là một nhân tố làm giảm bớt vẻ ngăn cách giữa cán bộ và tù. Đến đâu nó cũng được tiếp đón nồng hậu, quà cứ nườm nượp vào tay nó. Bao nhiêu lần nó sung sướng ôm đầy quà trên tay: bánh tráng, cốm bắp, kẹo…về giao cho mẹ nó. Trông nét mặt hớn hở của nó vào những lúc ấy ai mà chẳng vui lây!
Rồi một tháng trôi qua, lại đến kỳ thăm nuôi. Hôm ấy trời mưa lâm râm và có gió hiu hắt. Tôi lại dán mắt trước cửa hưởng ké niềm vui của mọi người. Thằng nhỏ lại thả sức tung tăng đi nhận quà.
Thấy trời hơi lạnh, lại sợ con bị ướt nên mẹ nó đã cẩn thận bận thêm cho nó một cái áo mưa bằng nylon khá gọn. (Sài Gòn trong tôi/ Ngô Viết Trọng)
Lần ấy, có lẽ vì quà tặng hơi nhiều, thằng nhỏ lại không biết sợ lạnh, nó cởi cái áo mưa làm đồ đựng. Khi nó đang ôm bọc quà hí hửng chạy về phòng thì gặp Sơn, một tên cán bộ hung ác, nghiêm khắc nhất khám đường. Gã tươi cười một cách đểu cáng, mất dạy, đón nó lại:
-”Ngụy con” có nhiều quà quá, chia cho chú với nào!
Thằng nhỏ lính quýnh giẫm vào chỗ đất trơn, té oạch một cái làm quà văng lung tung. Tên Sơn cúi xuống lượm giùm. Xong, gã vờ bốc lấy một gói giấy, bảo:
-Gói này cho chú xin nghe!
Thằng nhỏ tưởng thật hoảng hốt:
-Không được đâu! Gói này không được đưa cho cán bộ coi!
Nghe thằng nhỏ nói hơi lạ tai, tên Sơn nghi ngờ mở cái gói ra xem. Gã bỗng trừng mắt đạp vào ngực thằng nhỏ một cái làm thằng bé ngã bật ngửa. Thằng nhỏ nằm lặng đi một hồi rồi mới khóc nấc ra tiếng. Ai nấy chới với chưa hiểu chuyện gì thì nghe tiếng tên Sơn nạt lớn:
– Đ.M. đồ cái giống nguỵ ra khác, chưa ráo máu đầu đã học phản động!
Quay lại phía tù trật tự, tên Sơn hét:
-Bắt nó quỳ dưới cột lưới bóng rổ!
Lập tức thằng nhỏ bị lôi dậy, kéo đi. Liền đó tên Sơn dẫn một anh tù trật tự khác đến phòng B5. Gã đứng trước cửa hoạnh hoẹ hỏi chuyện. Lát sau một anh tù vừa mới được thăm nuôi hồi sáng bước ra khỏi phòng. Tên Sơn bắt anh tù đứng nghiêm rồi tha hồ đấm đá người tù khốn khổ, tội nghiệp. Anh tù nhiều lần bị ngã nhưng tên Sơn lại bắt đứng lên để đấm đá tiếp hết sức tàn bạo.
Trong chốc lát anh tù đã xác xơ, rục rã. Nhưng tên Sơn ác ôn vẫn chưa tha, gã còng cắp cánh tay anh ta lại rồi sai người đưa vào phòng kỷ luật.
Trời vẫn mưa lâm râm, gió vẫn hiu hắt. Thằng nhỏ vẫn quỳ dưới chân cột lướí bóng rổ. Tên Sơn vẫn tiếp tục ra vào kiểm soát việc thăm nuôi. (Sài Gòn trong tôi/ Ngô Viết Trọng)
Quá nóng ruột, người mẹ phải liều vói mặt ra khỏi phòng van xin chéo véo. Nhưng tên Sơn cứ phớt lờ, cả giờ sau gã mới chịu cho thằng nhỏ tội nghiệp về phòng. Người nó lạnh như cục nước đá, run lập cập, nói không thành tiếng….
Buổi tối, khi đưa cơm vào phòng tôi, tên Sơn còn ác độc cảnh cáo:
-Các anh coi chừng, chớ lợi dụng “thằng ngụy con” để thông tin tức với nhau! Dù là chỉ hỏi thăm sức khoẻ tôi cũng trị trắng máu ra!
Giờ thì tôi đã hiểu là anh bạn tù ở phòng B5 đã phạm nội quy của khám đường. Về sau tôi được biết rõ hơn là anh này đã gởi quà với mấy lời nhắn cho một người quen ở phòng tù nữ. Vụ trừng phạt ấy cứ lởn vởn ở trong đầu tôi suốt đêm. Tội nghiệp thằng nhỏ đã bị đòn lại phải chịu đựng ướt lạnh suốt mấy giờ.
Sáng sơm hôm sau, tôi đã phải thức giấc bởi tiếng kêu cứu từ phòng tù nữ:
-Báo cáo cán bộ A5 có người bệnh nặng!
Tôi giật mình: biết đâu lại là thằng nhỏ? Tiếng từ phòng trực hỏi lại:
-Nặng bao nhiêu ký?
Tiếng kêu cứu từ phòng nữ có vẻ khẩn thiết hơn:
-Báo cáo cán bộ, phòng A5 có người sắp chết!
-Nghe rồi, đợi đó giải quyết!
Chừng nửa giờ sau tôi nghe có người nói chuyện ồn ào trước sân. Có lẽ cán bộ y tế đã đến.
Rồi cả khám đường yên ắng trở lại. Gần sáng tôi lại bị ông Đoàn đánh thức:
-Ông nghe gì không?
Tôi lắng tai để nghe. Trời ơi, rõ là tiếng kêu khóc thảm thiết của một người đàn bà:
-Con ơi con, sao nỡ bỏ mẹ mà đi như thế con ơi! Con tôi chưa đầy ba tuổi đã biết gì đâu mà phản động, đau đớn lắm trời ơi!…
Tôi giật mình thở dài: Trời ơi, thằng nguỵ con!!!
Liền đó, tôi nghe có tiếng nạt nộ của tên cán bộ Sơn mọi rợ ngu dốt, vô giáo dục:
-Để con bị sưng phổi không chiụ lo báo cáo sớm, bây giờ không để người ta chôn cất còn khóc gào đổ thừa cho ai?
Tiếp đó, tôi lại nghe nhiều tiếng khóc nấc nghẹn ngào, đau khổ, uất hờn của người đàn bà tội nghiệp…
(Sài Gòn )
THƠ BẢO TRÂM: Nửa Thế Kỷ & Cứu Nước.
Nửa Thế Kỷ
Nửa Thế Kỷ rồi vẫn cứ ngây
Non sông xứ Việt tiếp hao gầy.
Người già tủi nhục đời u uất
Lớp trẻ vô tình kiếp lắt lay.
Đất Nước Tiên Rồng e ảo mộng?
Linh Hồn Tổ Quốc có mờ say?
Dân ta quyết chí hầu thay đổi,
Đuổi giặc, cùng nhau phát lửa đầy
Bảo Trâm
===
Cứu Nước
Cứu nước ta cần phải đuổi thôi,
Tâm đồng giữ lửa chẳng nào nguôi.
Đuổi gian, diệt ác không ngơi nghỉ,
Đuổi quỷ, xua tà quyết sục sôi.
Đuổi bọn Tàu Phù phân chuột thúi,
Đuổi loài Cộng sản móng chồn hôi.
Đuổi cho đến một ngày tươi sáng,
Cứu Việt Nam xưa được phục hồi.
Bảo Trâm
VTLV TRANG ĐẶC BIỆT NGÀY CỦA MẸ. Thành Viên VTLV và Thân Hữu.
BÀI THƠ TẶNG MẸ. CAO MỴ NHÂN
Tặng Mẹ bài thơ viết dở dang
Đèn trời thắp sáng cửa thiên đàng
Mẹ đi khi đó con ngơ ngác
Bà khóc lúc nào lệ chứa chan
Hơn nửa trăm năm rời đất Bắc
Đôi phần nhật nguyệt sống trong Nam
Chẳng bao giờ nghĩ về quê cũ
Đốt nén hương xa thấy bẽ bàng
Ngày Lễ Mẹ danh vang xứ người
Hoan ca phụ nữ đón hoa tươi
Bạch hồng đài các thơm vòng cổ
Hoàng cúc hồn nhiên thắm nụ cười
Không một niềm vui thêm kỷ niệm
Tròn nguyên nỗi khổ mãi trùng khơi
Kiếp sau hạnh ngộ làm con Mẹ
Mẫu tử tình thâm suốt cuộc đời …
Rancho Palos Verdes 8 – 5 – 2025
CAO MỴ NHÂN
11 -5 – 2025
NHỚ MẸ HIỀN – THƠTrần Công/Tiền Giang Tử
Nhớ thương Mẹ lắm, Mẹ hiền ơi!
Mẹ đã xa con mãi mãi rồi
Đã mấy mươi năm con mất Mẹ
Mà lòng thương nhớ vẫn không nguôi.
Mẹ đã đưa con đến với đời
Khổ công dưỡng dục con nên người
Đến ngày ly loạn con xa Mẹ
Không gặp mẫu thân thưa mấy lời.
Ngày Mẹ bước lên tàu thiên cổ
Con đang lưu lạc ở quê người
Không về gặp Mẹ giờ phút cuối
Đau lòng con lắm, Mẹ hiền ơi!
Nuôi con nhờ lúc tuổi về già
Đến lúc Mẹ già, con bỏ đi
Tích cốc phòng cơ, cơ bất cốc
Dưỡng nhi đãi lão, lão vô nhi.
Hương lòng bốc khói tận trời xanh
Tưởng nhớ công ơn đấng sanh thành
Đã lỡ kiếp này con bất hiếu
Xin nguyền đáp nghĩa kiếp lai sanh.
Hoa Đô(Lockwood House)
Trần Công/Tiền Giang Tử.
CHÙM THƠ VỀ MẸ – ĐÔNG RY NGUYỄN
BÁNH XÈO CỦA MẸ NGÀY MƯA
* Hôm nay được đãi bánh xèo Mực cơm tôm thẻ nước lèo rau xanh Ngồi ăn trong dạ chẳng đành Bâng khuâng chống đũa nhớ hình ảnh xưa Bánh xèo Mẹ đúc ngày mưa Bột không với chút dầu dừa mà ngon!
* Nhớ thuở xưa những ngày mưa lạnh lẽo Cha thường kêu mẹ đúc bánh xèo Thấy đàn con háo hức hò reo Mẹ vui vẻ liền đi ngâm gạo Sang hàng xóm xay nhờ bột nhão Lục măng-rê tìm lại chén dầu dừa Rau ngoài vườn đủ thứ chẳng cần mua Thế là đủ cho khuôn tròn lên bếp nóng:
Củi riu riu …lửa hồng lan sức ấm Dầu dừa thơm …réo gọi vị con tì Tiếng xèo xèo …bột chín nổ văng đi
Bánh nóng hổi …mẹ hớt vào lá chuối Chén mắm cái …đỏ au màu ớt tỏi Chấm vào nhai …tay quẹt mũi hít hà! Nhìn con ăn …ngấu nghiến mẹ cười xoà Niềm hạnh phúc …bừng lên bên ánh lửa Cuộc sống nghèo …nhưng nghĩa tình chan chứa Quên sao đành ….hình ảnh mẹ thân thương!
Xa rồi tổ ấm quê hương Giờ con chén đắng viễn phương một mình Chiều nay mưa bất thình lình Ngồi trong quán lạ nhớ hình ảnh xưa…
Bánh xèo mẹ đúc ngày mưa Bột không với chút dầu dừa mà ngon!
–Chàng Đông Ry Nguyễn.
Mẹ Ơi…!
Kiều My
Tháng Năm lại về, mang theo nắng nhẹ và hương thơm của những cành hoa mẫu đơn – loài hoa tượng trưng cho tình mẹ. Giữa cuộc sống nơi xứ người, lòng con luôn hướng về Mẹ – người đã âm thầm nuôi con khôn lớn bằng cả một đời hy sinh. Dù Mẹ còn hay đã khuất, Mẹ vẫn là hình ảnh thiêng liêng không gì sánh bằng, hình bóng Mẹ vẫn luôn là nơi bình yên nhất trong trái tim con.
“Tình Mẹ” thật thiêng liêng và sâu lắng! Có lẽ trên đời này, không có tình cảm nào dịu dàng, bền bỉ và bao la như tình mẹ. Dù ta lớn lên, đi xa hay trải qua bao sóng gió, thì vòng tay và trái tim của mẹ vẫn luôn là nơi chốn bình yên nhất.
Khi con lớn khôn rời xa vòng tay Mẹ, đi đến những chân trời xa lạ rộng mở, con cảm thấy thấm thía nỗi nhớ mỗi lần nghe giọng Mẹ qua điện thoại, mỗi lần thấy bóng dáng ai đó giống Mẹ giữa chợ đông người. Những lời Mẹ dặn con năm nào, giờ đây vang vọng mãi trong tâm hồn con, như ngọn hải đăng soi lối giữa giông tố cuộc đời. Mẹ ơi, nếu có điều gì con luôn muốn nói – ấy là: Con thương Mẹ và con biết ơn từng phút giây được làm con của Mẹ. Dù Mẹ đã ra đi, con vẫn tin rằng tình yêu của Mẹ luôn dõi bước con đi trên đường đời đầy chông gai này và chở che con như thuở nào. Ngày Mother’s Day, con thầm nói: “Mẹ ơi… con thương Mẹ và nhớ Mẹ thật nhiều!”
Ngày Hiền Mẫu, để nhớ về người Mẹ đã ra đi trong nỗi ngậm ngùi– Người đã để lại trongcon một khoảng trống không gì lấp đầy; nhưng cũng là suối nguồn thương yêu bất tận, sống mãi trong tim con. Con nhận ra: Mẹ đã không còn nữa, Mẹ đã về cõi vĩnh hằng; nhưng tình yêu Mẹ để lại vẫn còn nguyên vẹn trong con như ngày nào. Con nhớ Mẹ từng khoảnh khắc sống trong đời, là khi con nấu món canh chua Mẹ từng ưa thích, nghe bài hát Mẹ hay hát không trọn vẹn, hay những câu nói ví von của Mẹ… Những điều nhỏ bé ấy cứ âm thầm nhắc con về Mẹ – về một hình bóng dịu dàng, thân thương mà vĩnh viễn con không thể gặp lại lần nữa.
Có những nỗi nhớ không thể gọi thành tên, chỉ biết rằng từ thẳm sâu trong tâm hồn, con luôn có một chỗ dành cho Mẹ – không ai có thể thay thế. Và con tin, ở một nơi nào đó thật bình yên và thanh thản, Mẹ vẫn dõi theo con. Mỗi lần con vấp ngã, con vẫn cảm nhận được bàn tay Mẹ vô hình đỡ con dậy. Mỗi lần con làm được điều tốt, dường như có nụ cười của Mẹ thoáng hiện trên nền trời mây trắng.
Ngày Mother’s Day, con không thể tặng Mẹ một bó hoa, không thể ôm Mẹ thật chặt; nhưng con có thể thắp lên một ngọn nến, một nén nhang và thì thầm với trời xanh: Mẹ ơi, con nhớ Mẹ vô cùng… và con sẽ sống sao cho xứng đáng với tình yêu Mẹ dành cho con cả một đời.
Ngày Hiền Mẫu, tôi nhớ lại ngày tôi rời nhà, Mẹ không khóc trước mặt tôi, đôi mắt Mẹ đỏ hoe và Mẹ nắm chặt tay tôi hơn thường lệ. Mẹ dặn dò đủ thứ –“Qua đó nhớ giữ gìn sức khỏe và cẩn thận mọi sự việc nơi xứ lạ quê người, nghe con…”; rồi Mẹ gói ghém từ cái áo ấm đến thuốc cảm cúm đặt trong giỏ xách cho tôi. Biết Mẹ lo, nhưng cũng biết Mẹ tự dặn lòng phải mạnh mẽ, để không làm tôi chùn bước. Mẹ tôi không biết nói những lời triết lý cao siêu, không giỏi thể hiện bằng những câu thơ văn, Mẹ chỉ lặng lẽ yêu thương bằng những chăm sóc chu đáo cho tôi. Tình Mẹ tưởng như giản dị mà hóa ra thiêng liêng vô cùng. Nhưng những ngày ấy đã lùi xa vào ký ức. Dù vậy, tôi biết tình mẹ chưa bao giờ xa tôi. Nó vẫn ở đây, trong từng nhịp thở, từng dòng chữ tôi viết, từng đêm trăn trở nhớ mẹ giữa mùa đông lạnh.
Ngày mẹ ngã bệnh, tôi đang ở xứ người và phải lo toan nhiều việc. Mẹ nói: “Đừng về vội, con à. Mẹ còn chịu được.” Tôi nghe mà nhói lòng, vì biết Mẹ sợ tôi lo lắng và bận tâm. Tôi cứ ngỡ còn thời gian một tháng nữa, hai tháng nữa, hay lâu hơn nữa… Rồi bỗng một ngày điện thoại reo giữa đêm khuya… Tôi lặng người! Thời gian không chờ ai, và Mẹ tôi… đã không chờ đợi được nữa!
Chuyến bay trở về nhà hôm ấy là chuyến đi dài nhất trong đời tôi. Không phải vì khoảng cách địa lý, mà vì lòng tôi nặng trĩu. Tôi không dám khóc giữa sân bay đông người, nhưng trong tim tôi, nước mắt đã chảy từ lâu – chảy từ khoảnh khắc tôi biết mình đã không kịp trở về, để nhìn Mẹ lần cuối và nghe Mẹ trối trăn!
Tôi đứng trước bàn thờ Mẹ, gục đầu, thì thầm: “Mẹ ơi, con về rồi đây… Nhưng muộn quá phảikhông Mẹ?” Mẹ lặng thinh! Chỉ có khói nhang bay lên di ảnh của Mẹ làm nhạt nhòe mắt Mẹ như ánh mắt Mẹ ngày tôi xa lìa gia đình. Từ ngày ấy, tôi sống với một vết thương không thể lành – vết thương của sự xa cách cuối cùng. Nhưng cũng từ đó, tôi hiểu sâu hơn về “tình mẹ”: đó là tình yêu không cần sự có mặt, vẫn âm thầm nâng đỡ tôi mỗi ngày, dù Mẹ đã đi xa. Giờ đây, mỗi khi nhìn lên bầu trời, tôi lại khẽ nói: “Mẹ ơi, con nhớ mẹ nhiều lắm.”Và tôi tin đâu đó, Mẹ vẫn mỉm cười nhẹ nhàng như những năm tháng xưa – khi Mẹ đứng trước cửa chờ tôi về, mái tóc bạc lấp lánh trong nắng chiều.
Mẹ –là hình dáng của tình yêu vĩnh cửu. Trong dòng đời hối hả, có một điều luôn âm ỉ cháy không tàn, đó là “ tình yêu của mẹ.” Tình yêu ấy không cần lý do để bắt đầu, cũng không chờ điều kiện để tồn tại. Mẹ là tiếng gọi đầu tiên ta thốt lên, là bóng hình cuối cùng ta giữ mãi trong tim. Có nhiều đại văn hào trên thế giới cũng đã từng ca ngợi “Tình Mẹ” như Victor Hugo viết: “A mother’s arms are made of tenderness and children sleep soundly in them.”
(Vòng tay mẹ được dệt bằng sự dịu dàng, và trong đó con trẻ ngủ giấc bình an.)
Mẹ không chỉ là người sinh ra ta — mà còn là người chắp cánh cho ước mơ, dạy ta biết yêu thương, biết vươn lên giữa giông bão. Dù thời gian có đưa Mẹ đi xa, thì tiếng gọi “Mẹ ơi” vẫn mãi là lời thì thầm thiêng liêng nhất đời người.
Plato đã từng nói: “There is no greater love than that of a mother.”
(Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của một người mẹ.)
Trong mắt Mẹ, ta luôn là đứa trẻ nhỏ cần được vỗ về, dù ta đã là người trưởng thành giữa cuộc đời. Mẹ âm thầm lo lắng khi ta đi xa, thầm lặng vui mừng mỗi lần ta trở về. Mẹ cười sau lưng những thành công của ta, và khóc lặng lẽ cho những tổn thương mà ta chẳng hay biết.
Có một câu nói khuyết danh, nhưng hàm chứa một chân lý sâu xa:
“God could not be everywhere, and therefore he made mothers.”
(Thượng đế không thể có mặt ở khắp nơi, vì thế Ngài đã tạo ra người mẹ.)
Mother’s Day không chỉ là dịp để tặng hoa, gửi quà, mà là một khoảnh khắc để ta lắng động tâm hồn, gởi đến Mẹ một lời cảm tạ từ trái tim. Dù Mẹ còn trên đời hay đã về bên kia thế giới, tình mẹ vẫn là nơi ta hướng về, mỗi khi đời bão giông.
Abraham Lincoln đã nói:
“All that I am, or hope to be, I owe to my angel mother.”
(Tất cả những gì tôi có được, hay hy vọng đạt tới, tôi đều nhờ người mẹ thiên thần của tôi.)
Cùng một nỗi niềm chung về “Tình Mẹ”, ngay trong thế giới âm nhạc mênh mông không biên giới, cũng vẫn có chỗ cho những bài hát ca tụng “Tình Mẹ”. Như hai ca khúc tiêu biểu: Maman oh Maman và Lòng Mẹ – hai bản nhạc cảm động đến tận cùng trái tim, tuy đến từ hai nền văn hóa, địa ly khác nhau; nhưng lại cùng chan chứa một tình yêu vĩ đại; đó là: tình mẫu tử.
“MAMAN OH MAMAN” – LỜI GỌI TỪ TRÁI TIM
Maman oh Maman là một ca khúc Pháp nổi tiếng, một bản tình ca dành cho Mẹ với tất cả yêu thương và biết ơn. Giai điệu của bài hát mộc mạc, dịu dàng như lời thủ thỉ của một đứa con nói với mẹ, nhưng lại chứa đựng cả một trời yêu thương và khát khao. Ca khúc này vượt thời gian và biên giới vì nó chạm đến sợi dây thiêng liêng nhất của con người – đó là tình mẹ. Mỗi lần nghe, người ta như được trở về thuở ấu thơ, được nép vào vòng tay yêu thương nhất, nơi không có lo toan, chỉ có hơi ấm và tiếng ru ngọt ngào.
Maman oh Maman, toi qui m’as donné. Tant de tendresse depuis tant d’années
Tu le sais bien, quand je serai grand. Je penserai à toi, Maman
Maman oh Maman, le jour et la nuit. Je veillerai toujours sur ta vie
Je serai là à tout les instants. Pour te protéger, Maman…
LÒNG MẸ” – BẢN THÁNH CA CỦA TÌNH MẸ
Nếu Maman oh Maman là lời hát của đứa con dành cho mẹ, thì Lòng Mẹ – một ca khúc bất hủ của nhạc sĩ Y Vân – là khúc ngợi ca cao nhất tình mẹ Việt Nam: sâu như biển Thái Bình, bao la như trời lồng lộng. Với những hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp:
“Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào
Tình Mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào…
“Lòng Mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu
Tình Mẹ âu yếm như làn gió đùa mặt hồ…”
Bản nhạc Lòng Mẹ rất tha thiết, mỗi khi âm điệu của bản nhạc cất lên làm rung động cả con tim và giọt lệ chợt ứa trong khóe mắt. Tình Mẹ sao quá đỗi ngọt ngào, Mẹ hy sinh cả một đời cho con, Mẹ luôn là người duy nhất không bao giờ bỏ rơi con, dù con thành công hay thất bại, giàu sang hay nghèo khó. Giai điệu ca khúc nhẹ nhàng, da diết, tràn đầy cảm xúc như lời ru vọng lại từ ký ức; khiến không ít người khi cất lên bài hát này đã không thể cầm được nước mắt.
Dù khác ngôn ngữ, khác văn hóa, nhưng Maman oh Maman và Lòng Mẹ đều chạm đến sâu thẳm trái tim người nghe. Mama oh Maman – như tiếng con trẻ nói với Mẹ với tất cả yêu thương hồn nhiên; Lòng Mẹ là tiếng hát thành kính, dạt dào như khúc thánh ca dâng lên người Mẹ hiền đã hy sinh cả cuộc đời cho con.
Hai ca khúc – hai thế giới – nhưng chung một tình yêu: – đó là Tình Mẹ vĩnh cửu.
Happy Mother’s Day DẤU CHÂN MẸ
Kiều My
(Kính tặng những người Mẹ – còn đó hay đã xa…)
Trên đường đời con bước Có dấu chân ai quen Âm thầm như hơi thở Nhưng ấm từng bước lên.
Có Mẹ là có nắng Chợt một ngày đông tan Có Mẹ là tiếng hát Ru con suốt tháng năm.
Mẹ xa rồi trăng khuyết Hương bếp cũ mơ hồ Bóng Mẹ như trong gió Về bên cửa đợi chờ…
Con ngồi nghe mưa rớt Trên mái nhớ ngày xưa Từng bữa ăn đạm bạc Mẹ nhường con hơn thừa.
Dẫu Mẹ còn hay khuất Trong tim con vẫn đầy Một vầng trăng không tắt Dẫn con suốt tháng ngày…
Trong cuộc đời viễn xứ, đôi khi chúng ta không ngờ rằng giây phút chia xa cuối cùng với Mẹ lại đến quá đột ngột. Những dòng hồi tưởng này chan chứa nỗi ngậm ngùi của một người con sống xa quê nhà, mang trong tim nỗi ray rứt không thể ở cạnh Mẹ trong những ngày cuối đời của Mẹ. Nhưng cũng từ đó, ta nhận ra rằng tình mẹ vẫn luôn hiện hữu – âm thầm, bao la, và vĩnh viễn không rời xa. Dù Mẹ còn trên đời hay đã đi xa, tình mẹ vẫn luôn là ánh sáng dịu dàng dẫn lối trong suốt hành trình của đời ta.
Kiều My
California, Mother’s Day 2025
THƠ PHỔ NHẠC PHẠM PHAN LANG:
Vào một mùa Lễ Mẹ của nhiều năm về trước, PL đã viết bài thơ “Mẹ” theo thể Haiku – ngắn gọn nhưng cô đọng những hình ảnh quê hương và nỗi nhớ mẹ da diết trong tim người con xa xứ. Bài thơ mộc mạc ấy đã được hai nhạc sĩ tài hoa ưu ái phổ thành hai ca khúc sâu lắng và cảm động.
MẸ
Buồng chuối chín sau vườn Lá vàng rụng con mương ngoài ngõ Văng vẳng tiếng ầu ơ
Con chinh chiến chưa về Đêm nghe gió đường quê mơ màng
Thấy Mẹ trong giấc mơ Áo hoa con biếu Mẹ ngày nào Che phủ tấm lưng cong
Ngày xưa một đóa hồng Nay áo đẹp má hồng Mẹ phai
Vườn sau xanh bông cải Mẹ thương con tháng ngày dầu dãi Trông con đầu bạc trắng
Dạ con tấc lòng son Đêm nhớ Mẹ mỏi mòn từng đêm
Hoa sứ nở đầy cành Dây trầu xanh lá vẫn vấn quanh Con ơi, sắp về chưa?
Dù đường đời trắc trở Con sẽ về têm miếng trầu xanh
phamphanlang
Bài thơ mộc mạc ấy đã được hai nhạc sĩ tài hoa ưu ái phổ thành hai ca khúc sâu lắng và cảm động:
Nhạc sĩ Vĩnh Điện phổ nhạc và ca sĩ Diệu Hiền trình bày với giọng ca trong trẻo, ngọt ngào: Mẹ – Diệu Hiền, nhạc Vĩnh Điện
Nhạc sĩ Mộc Thiêng cũng xuất sắc phổ thành ca khúc thứ hai, được thể hiện nồng nàn và truyền cảm qua giọng hát của ca sĩ Đông Nguyễn: Mẹ – Đông Nguyễn, nhạc Mộc Thiêng
Nhân dịp Lễ Mẹ, PL xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến hai nhạc sĩ Vĩnh Điện, Mộc Thiêng và hai ca sĩ Diệu Hiền, Đông Nguyễn – những người đã thổi hồn vào bài thơ bằng giai điệu và giọng ca tuyệt vời, giúp bài thơ nhỏ bé này lan tỏa và chạm đến trái tim người nghe.
Xin kính mời quý vị cùng lắng nghe và tưởng nhớ những người Mẹ thân yêu trong mỗi chúng ta.
Kính chúc quý vị một mùa Lễ Mẹ an vui và tràn đầy yêu thương.
PLang
==
THƠ PHƯƠNG HOA
VÀBÀI HÁT “NGÀY MẪU TỪ NHỚ MẸ“
NGÀY MẪU TỪ NHỚ MẸ
*
Từ xa con nhớ Mẹ nhiều
Mơ về cố quốc mỗi chiều quắt quay
Hoàng hôn bảng lảng vầng mây
Hạc vàng xoải cánh chở đầy yêu thương
*
Ngày con từ biệt quê hương
Mẹ già tóc bạc sầu vương chập chùng
Đông Tây sương khói mịt mùng
Bao năm chờ đợi tương phùng vấn an
*
Nhà đưa tin đến bàng hoàng
Đất trời chao đảo hoang mang vô bờ
Từng mong từng ước từng giờ
Ước mong gặp Mẹ cơn mơ ngập sầu
*
Ai làm biển cả ruộng dâu
Mẫu Từ vĩnh biệt lòng đau nghẹn ngào
Mộ phần hương khói ra sao
Đông tàn Xuân đến biết bao nỗi niềm
*
Chiều nay con nhớ Mẹ hiền
Từng cơn gió lượn ngoài hiên não nề
Gian nan đời Mẹ trăm bề
Vì con vất vả không hề trách than
*
Mẹ đà vĩnh biệt trần gian
Bước chân con vẫn lang thang cõi nào
Hoàng hôn thắm trải xôn xao
Nhưng lòng con trẻ dạt dào nhớ thương
*
Chiều về giọt nắng buồn vương
Cầu nơi Cực Lạc Mẹ nương phật đà
Thân con, bốn biển là nhà
Ngày Mẫu Từ, con nhớ Mẹ già…Mẹ ơi….
*
Phương Hoa – Ngày Mother’s Day, MAY 2025
===
THƠ SONG NGỮ VIỆT ANHVỀ MẸ
MẸ TÔI
Năm lên sáu Tôi đã thích đá banh Một bó giẻ tròn Mẹ tôi khâu kết Một trái bưởi xanh Mẹ hái sau vườn Tôi mê chơi Tới tắt mặt trời Quên cả giờ cơm Mẹ la, mẹ rầy
Năm mười sáu Tôi đã biết hẹn hò Ðèn sách biếng lười Mẹ buồn, mẹ lo Tương lai con Không được bằng người
Năm hai mươi Tôi lên đường Ðáp lời sông núi Mẹ không mấy vui Sợ mình sẽ mất Ðứa con trai Ðộc nhất trên đời
Ðơn vị đóng đồn xa Cả năm không về Lòng mẹ xót xa Từng ngày từng giờ Thương con mình vất vả Mũi tên hòn đạn Biết đâu ngờ
Những ngày về phép Ít khi gần gũi mẹ Quen tính lang bạt Tôi tìm lại bạn bè Ðàn ca xướng hát Nửa đêm mới về Mẹ hỏi Sao con không ở nhà với mẹ? Tôi hôn trán mẹ, mỉm cười
Vận nước nổi trôi Chí trai không tròn Tôi đi tù Mẹ già không ai nương tựa Thương con – Nỗi nhớ – Hao mòn Mẹ tôi mất Sáu tháng mới nghe tin Không cầm được nước mắt Hồn đau – Vỡ nát con tim
Trong trại tù Con thèm một tiếng rầy la Con thèm một lời hờn dỗi Con thèm một bàn tay trìu mến Con thèm một điệu ru hời Cuả mẹ ngày xưa Ðưa con vào đời Nhưng, nay còn đâu nữa Mẹ ơi!
NHƯ HOA
ANH NGỮ
MY MOTHER
When I was just a six-year-old boy Iá began playing soccer to enjoỵ A ball of rags my mother sewed around A green pomelo picked from the rear ground. I indulged in the matches forgetting to eat Causing my mother to chide, nearly to beat.
When coming to the age of sixteen I already became on dates keen. I neglected my lessons to learn Leading my mother to sadness and concern That my future would be inferior to my peers’.
When I reached of age twenty years, My country got in danger, I joined the army. This position was not deemed balmy But dangerous and made my mother fear The loss of her only begotten son so dear.
My unit was stationed all year far away. I had no home leave even for half a day. It pained my mother again and again to regard My trying conditions as too hard: Exposed to arrows and bullets, who knows?
After surviving many deadly blows, I obtained permission. But, used to roaming, I went with friends on carousing and foaming, And only came home late at night Allowing myself little time within her sight. My mother asked why. Fearing she got riled, I kissed her on the forehead, and smiled.
The fortune of the country turned ill From bad to worse against my he-man’s will. I became a POW. My mother had no help. She loved me, missed me, but did not yelp. I heard the sad news six months late After she had pined away to fate. I could not hold back and burst into tears; I felt my heart broken for all my life’s years. * * * During my days in the enemy’s jail, How I wished I could hear at me you rail! How I craved for your against-me grudge, Your hand to move my mind hard-to-budge, Your lullaby to raise my good-natured soul Leading me into life, guiding me toward a goal: But now I can’t about those myself bother — Oh my dear mother!
Tôi muốn viết những vần thơ tặng Mẹ Gửi lên trời nhờ mây gió mang đi Mẹ ở trên cao ngàn thu cách biệt Ngày lễ Mẹ, giọt lệ ướt trên mi. Dâng lên Mẹ những vần thơ sầu muộn Cách biệt thiên thu, hoài niệm quay về Trên Thiên quốc nhìn về nơi trần thế Hồn ca dao vang vọng gió hương quê. Chiếc nôi êm ru con ngủ trưa hè Lời Mẹ ru giọt mật thấm trong mê Mẹ là dòng sông êm đềm xuôi bến Tắm ướt hồn con soi sáng đường về.
Dòng sông ơi! Sóng vỗ về lưu luyến Nhớ về Mẹ hồn đau nhói lệ rơi Con ôm cả bó hồng dâng tặng Mẹ Thắp nén nhang buồn khói toả chơi vơi. Tế Luân
Tưởng nhớ đến Mẹ tôi
người đã yên nghỉ trên Thiên Đàng
Bó Hồng Tặng Mẹ
Con cung kính. Bó hồng riêng tặng mẹ
Cả tình thương, sâu thẳm của tâm hồn
Mẹ là suối nguồn, dòng chảy tinh khiết
Nuôi con một đời, đến tuổi lớn khôn.
Dâng lên Mẹ ngàn đóa hồng thắm đỏ
Dòng máu hồng. Mẹ trao tặng cho con
Ngày lễ Mẹ, bồi hồi thêm nỗi nhớ
Nhớ ơn người, nuôi nấng thuở măng non.
Tình yêu mẹ, dạt dào như sóng vỗ
Vỗ giấc bình yên, chăm sóc đời con
Viết về Mẹ, lời thơ đầy nước mắt
Vào nỗi buồn, tuổi xuân đã hao mòn.
Công ơn Mẹ, sánh núi cao, biển cả
Thấu trời xanh. Thượng Đế phải ngậm ngùi
Mẹ là thảo nguyên bao la bát ngát
Dòng suối nguồn, tuôn chảy những ngọt bùi.
Mẹ trên cao, như sao sáng trên trời
Mẹ hiền từ, ôm con cả một đời
Lời nguyện cầu, con ước mơ về mẹ
Tiếng mẹ dịu dàng, nhớ mãi không ngơi.
Tình yêu của mẹ bao la biết mấy
Sáng như mặt trời, đẹp như mây bay
Ai! Còn Mẹ, đừng làm Mẹ bật khóc
Đừng để buồn, giọt lệ ướt trên tay.
Xin gửi đến Mẹ, ngàn đóa hoa hồng
Thắm sương long lanh, ướt cả nỗi lòng
Lời nghẹn ngào, bài thơ ngày lễ mẹ
Buộc vào hoa, gửi mẹ những hoài mong.
Lê Tuấn
Vần thơ tưởng nhớ đến Mẹ.
Gửi đến Mẹ ngàn đóa hoa hồng,
Thấm ướt trên nhánh lá những giọt nước mắt long lanh
thương nhớ Mẹ hiền.
4 Ca Khúc Thơ & Nhạc Lê Tuấn – Hòa Âm & Trình Bày AI
-Ngày của Mẹ (Mother‘s Day) ấn định mừng vào ngày Chủ Nhật thứ nhì của tháng 5 hằng năm. Đây là ngày để tôn vinh các bà mẹ, bà nội, bà ngoại, vì những đóng góp to lớn của họ cho gia đình, cộng đồng và xã hội
Nguồn gốc ngày của Mẹ có từ rất lâu, vào thời kỳ cổ Hy Lạp và La Mã. Nhưng cái gốc lịch sử Ngày Của Mẹ, có thể tìm thấy ở Anh Quốc, nơi đó Chủ Nhật Ngày của Mẹ, đã được tổ chức tưng bừng, trước khi lễ mừng này được “di cư” thành hình, bên Hoa Kỳ.
Dầu vậy, việc ăn mừng liên quan của ngày này, lại được coi là một hiện tượng, chỉ mới gần đây, mới hơn một trăm năm.
Thật ra, phải cảm tạ công khó của những phụ nữ tiền phong, như Julia Ward Howe và Anna Jarvis, mà “ngày này” mới được chính thức thành hình.
Ngày nay, việc tổ chức, tiệc mừng cho Ngày của Mẹ, đã được trên 50 quốc gia của thế giới công nhận. (Mặc dầu vào những ngày khác nhau) Trở thành những Ngày Lễ ý nghĩa, mà mọi người yêu thích nhất! Hàng triệu người trên khắp thế giới, dùng cơ hội này để nhớ đến, kiếm cách trả ơn bà mẹ của mình, tri ân họ về việc sanh thành, dưỡng dục, để họ thành người.
Ngày của Mẹ, được tổ chức tưng bừng nhất ở những quốc gia như: Mỹ, Nga, Anh Quốc, Ấn Độ, Đan Mạch, Phần Lan, Ý, Thổ Nhỉ Kỳ, Úc Đại Lợi, Mễ Tây Cơ, Gia Nã Đại, Trung Hoa, Nhật Bản, và Bỉ. Người ta dùng cơ hội của ngày này, để tỏ lòng tôn kính mẹ của mình và tri ân họ về tình yêu thương, sự nâng đỡ của Mẹ trong đời sống.
Nhưng ngày này, càng ngày càng phai mờ ý nghĩa, vì bị thương mại hóa. Đường dây điện thoại thì bận rộn, kẹt cứng nhất trong năm. Tiêu thụ hoa, quà, card, nhiều nhất! Nhà hàng cũng có khách đông nhất vào ngày lễ này. Ngày của Mẹ trở thành ngày làm ăn hốt bạc, cho những tiệm cắm hoa, những nhà làm thiệp và người bán quà tặng, cho cả dịch vu du lịch. Cơ hội hiếm có để kiếm tiền trong ngày này. Bằng chứng qua những cuộc quảng cáo quy mô, trước đó vài ba tháng, để thu hút khách hàng.
Thật là tiếc để ghi nhận rằng, bà Anna Jarvis đã bỏ hết cuộc đời, cho việc vinh danh ý nghĩa cao đẹp ngày của Mẹ. Giờ chỉ còn là dịp để vui chơi, quà cáp, ăn uống, trong ngày lễ. Những bà mẹ già, vẫn cô đơn mừng ngày này, trong các viện dưỡng lão. Trong khi các con của mình, tưng bừng hội hè ăn chơi phía ngoài, chẳng còn nhớ gì đến Mẹ của mình cả. Thật chua xót về tính cách thương mại hóa của ngày này. Mà đâu phải một lễ này đâu, lễ nào trên đất Mỹ này cũng thế!
Những câu danh ngôn về Mẹ nổi tiếng và ý nghĩa nhất
1. Với mẹ, dù lớn bao nhiêu, con mãi là một đứa trẻ! trong trái tim mình.
(Khuyết danh)
2. Chúa không thể ở khắp mọi nơi, để ban tình thương, ơn lành, nên Ngài sinh, tạo ra người mẹ!
(Proverbe Yiddish)
3. Khi bạn nhìn vào mắt của một người mẹ, bạn sẽ nhận biết được, tình yêu tinh khiết nhất, tuyệt vời nhất, mà bạn có thể tìm thấy trên trái đất.
(Mitch Albom)
4. Mẹ là người có thể thay thế bất kỳ ai khác, nhưng không ai có thể thay thế được mẹ.
(Gaspard Mermillod)
5. Tương lai của đứa con, luôn là công trình, tuyệt phẩm! hãnh diện nhất của người mẹ.
(Napoleon)
6. Tình thương của người mẹ, không bao giờ bị già nua, khi năm tháng trôi qua.
(Tục ngữ Đức)
7. Vũ trụ có nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt diệu, quý báu nhất, là trái tim người mẹ!
(Bernard Shaw)
8. Không tình yêu nào vĩ đại, như tình yêu của người mẹ, dành cho đứa con của mình.
(Khuyết danh)
9. Người mẹ thật sự chẳng bao giờ rảnh rỗi, hình bóng con, luôn luôn hiện diện trong đầu và trái tim của Bà suốt cả đời!
(Balzac)
10. Tình yêu của người mẹ là yên bình, bình đẳng. Nó không cần bạn phải thông minh, đẹp đẽ, giỏi giang. Nó không cần bạn phải xứng đáng hay không! Nhiều khi khuyết tật, bạn còn nhận được nhiều hơn nữa!
(Erich Fromm)
11. Mẹ hiền sinh con ngoan, cây tốt sinh trái ngọt, lúa tốt cho gạo ngon.
(Ngạn ngữ Trung Quốc)
12. Người ta không bao giờ hiểu hết, nói hết về Thượng Đế, cũng như nói hết về người Mẹ.
(Ngạn ngữ Ấn Độ)
13. Mẹ nuôi con biển bờ lai láng, con nuôi mẹ kể tháng kể ngày.
(Tục ngữ Việt Nam)
14. Con đi ngàn dặm mẹ lo âu, Mẹ đi ngàn dặm con chẳng sầu.
(Ngạn ngữ Trung Quốc)
15. Khi bạn là một người mẹ, bạn không bao giờ thực sự cô độc trong suy nghĩ của mình. Một người mẹ luôn phải nghĩ hai lần, một lần cho bản thân và một lần cho con cái.
(Sophia Loren)
16. Một người mẹ vẫn mãi là một người mẹ, luôn luôn quan tâm đến những đứa con. Cho dù những đứa con đó đã lớn lên, vẫn là những đứa trẻ của riêng mình.
(Khuyết danh)
17. Trái tim của người mẹ là vực sâu muôn trượng, mà ở dưới đáy, bạn sẽ luôn tìm thấy sự tha thứ.
(Balzac)
18. Làm mẹ là một thái độ sống, thiêng liêng, không chỉ là mối liên hệ về sinh học.
(Robert A Heinlein)
Phong tục “Happy Mother’s Day!” tại các nước trên thế giới
-Đa số các quốc gia trên thế giới ngày nay, ăn mừng Ngày của Mẹ, với các phong tục bắt nguồn từ Bắc Mỹ và Châu Âu. Khi được phổ biến tại các nước khác, ngày của mẹ đôi khi được thay đổi đôi chút, để phản ảnh nền văn hóa từng nơi. Một số nước để hợp nhất ngày lễ này, với những sự kiện quan trọng của nhiều phong tục bản xứ (ví dụ như tôn giáo, lịch sử, và truyền thuyết)
*Ngày của mẹ ở Anh
Ngày của mẹ ở Anh cũng trùng vào ngày Chủ Nhật, bởi vậy mọi người thường tới nhà thờ làm lễ, sau đó mới trở về nhà của mình. Các thành viên trong gia đình, dù ở xa cũng sẽ cố gắng họp mặt đông đủ trong ngôi nhà của cha mẹ. Họ thường tổ chức một buổi tiệc có thiệp mừng, bánh gato, hoa quả, rượu và tặng quà cho những người mẹ.
*Ngày của mẹ ở Mỹ
Ngày của mẹ được khởi xướng trở lại sau thế chiến thứ hai tại Mỹ, do bà Anna Marie Jarvis đấu tranh xác lập, tại phố Grafton, tiểu bang Tây Virginia, Hoa Kỳ. Bà Anna Marie Jarvis quyết tâm thực hiện di nguyện của người mẹ quá cố. Người mẹ của bà Anna khi còn sống là một nhân viên an sinh, luôn đấu tranh không ngừng để làm rạng danh các bà mẹ, tri ân công sức của họ trong đời sống và vì hòa bình. Sau khi người mẹ mất, cộng thêm thái độ thờ ơ lãnh đạm của người dân Hoa Kỳ với thân mẫu của mình, càng thôi thúc quyết tâm của bà. Sau nhiều năm đấu tranh quyết liệt, vào năm 1911, Ngày Của Mẹ được tổ chức ở hầu hết các tiểu bang ở Mỹ. Vào ngày 8/5/1914, tổng thống Mỹ đã ký quyết định ấn định ngày Chủ nhật thứ hai của tháng Năm hàng năm là Ngày của Mẹ. Dần dần trở thành, một trong những ngày lễ được yêu thích nhất. Tiệc tùng cũng linh đình nhất!
*Ngày của mẹ ở Ấn Độ
Người Ấn Độ gọi ngày của mẹ là Durga Puja, trong đó “Durga” là tên của một nữ thần bảo vệ cho người dân Ấn Độ, khỏi mọi nguy hiểm trong cuộc sống. Họ tổ chức Ngày của mẹ như một lễ hội lớn vào tháng Mười, trong vòng… mười ngày! Đồng thời, với những người mẹ thật sự trong cuộc sống, mang nặng đẻ đau 9 tháng 10 ngày, cũng sẽ được người con vào bếp trổ tài nấu ăn và tặng quà cho mẹ.
*Ngày của mẹ ở Tây Ban Nha
Ngày của Mẹ được tổ chức vào ngày Chủ Nhật đầu tiên của tháng năm ở Tây Ban Nha. Người lớn thường tặng mẹ sôcôla, thiệp chúc mừng hay một số món quà ý nghĩa khác. Còn trẻ em thì tự tay làm tặng mẹ những tấm thiệp, hoặc làm món quà đơn giản.
*Ngày của mẹ ở Nhật Bản
Trong ngày của mẹ, trẻ em sẽ vẽ những bức tranh dành tặng cho mẹ của mình và tập hợp những bức ảnh đó thành một cuộc triển lãm nhỏ, với chủ đề tình cảm mẹ con và sự hi sinh thầm lặng của các bà mẹ Nhật.
*Ngày của mẹ ở Úc
Hoa cẩm chướng là loài hoa biểu trưng cho ngày của mẹ ở Úc. Bông hoa cẩm chướng vàng dùng để tặng người mẹ đang còn sống. Còn hoa cẩm chướng trắng được dành tặng một người mẹ đã quá cố. Vào ngày này, trẻ em thường dậy sớm, làm tặng mẹ đồ ăn sáng và mang đến bên giường ngủ, để mẹ thức dậy và thưởng thức.
Con Xin Hôn Mẹ!
(Thơ Trần Quốc Bảo)
-Con quí trọng vết nhăn trên mặt Mẹ,
Lớp da chập chùng như sóng đại dương!
Ấp ủ muôn trùng, lòng Mẹ yêu thương,
Muôn trùng hi sinh! – Muôn trùng đau đớn!
Để con sinh ra, để con khôn lớn.
Để hôm nay, con hiện diện giữa đời.
Me dạy con sống trọn đạo với Trời!
Và yêu người, như chính mình ta vậy.
Con không bao giờ quên lời Mẹ dạy,
Yêu Quê hương, yêu Tổ Quốc, giống nòi.
Mẹ đã dạy con: Thất bại mỉm cười…
Vịn lời Mẹ mà đứng lên can đảm!
Lời Mẹ dạy con: Thành công điềm đạm,
Mở rộng vòng tay giúp đỡ tha nhân.
Mẹ đã về Trời, xa cõi trầm luân…
Con vẫn yêu Mẹ như xưa còn bé.
Vì trong tim con, đậm hình bóng Mẹ!
Kỷ niệm tràn đầy như sóng đại dương.
Lòng Mẹ dạt dào, biển cả yêu thương.
Con xin hôn lớp nhăn trên mặt Mẹ!
Nỗi Buồn – Ca Khúc Mới Thơ Tế Luân – Hòa Âm AI
GS/TS MAI THANH TRUYẾT – Ngày Con Ong Thế Giới – World Bee Day – 20 Tháng 5.
KIỀU MỸ DUYÊN – Chương Trình CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA
KIỀU MỸ DUYÊN – NGÀY CỦA MẸ
SƯƠNG LAM -Quê Người Quê Nhà Trong Trái Tim Tôi
Quê Người Quê Nhà Trong Trái Tim Tôi
Đây là bài số bảy trăm năm mươi chín (759) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ ORTB.
Cứ mỗi lần Tháng Tư đến là chúng ta được nghe, được đọc những bài thơ, bài văn, bài nhạc nói về Ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư. Ai trong chúng ta cũng có niềm đau nỗi nhớ về ngày đau buồn này.
Thời gian trôi qua nhanh quá. Thế là đã 50 năm trôi qua lặng lẽ. Đa số chúng ta đã trải qua một thời gian gian khổ của kiếp thuyền nhân lênh đênh trên biển cả mênh mông như lời thơ của tôi dưới đây:
……Có những con thuyền thật mỏng manh Lang thang cuối bãi đến đầu gành Một cơn sóng lớn đưa thuyền đến Địa ngục trần gian giữa biển xanh
Có những hôn mê dưới nắng trời Chập chờn theo gió nổi mây trôi, Đói cơm, khát nước, bao già trẻ, Một thoáng “thiên đàng” đã đến nơi
Có những bàn tay chới với tìm Chiếc phao, mảnh gỗ, để ngoi lên Trời ơi! Sao lại là con nhỉ? Và xác con yêu nhẹ nhẹ chìm …
(Trích trong Kiếp Thuyền Nhân- Thơ Sương Lam)
Và thế giới chỉ có biết:
Người chỉ biết những con tàu đã đến
Còn bao nhiêu lạc nẻo hoặc chìm sâu
Giữa phong ba xanh thẳm chỉ một màu
Ai đếm được bao nhiêu mồ giữa biển?
Hết gió bão lại sa vào giặc biển
Cướp bạc tiền và cướp cả đời hoa
Biết làm sao cho thế giới hiểu là
Nỗi đau đớn người dân Nam gánh chịu..
(Trích trong Biển và Dân Việt- Thơ Sương Lam)
Bao nhiêu chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ màu cờ vàng ba sọc đỏ, bao nhiêu gia đình đã ly tán, bao nhiều người đã tử nạn trong biển sâu rừng vắng trên bước đường tìm tự do, bao nhiêu sự cực khổ gian nan trong cuộc sống nơi xứ người đã vẽ lên bức tranh quốc hận đau thương. Bởi thế vào tháng Tư hằng năm, bạn và tôi, xin hãy dành một phút tưởng niệm đến những người đã khuất cho lý tưởng tự do, bạn nhé!.
Ngày tưởng niệm! Chẳng đợi kêu mời rước
Ngày đau buồn! Dân Việt khắp năm châu
Một phút thôi! Xin kính cẩn cúi đầu
Để truy niệm đến những người đã khuất
Saigon cũ giã từ trong u uất
Nơi xứ người, Tôi, Bạn nhớ Quê hương
Tháng Tư Buồn! Người ở lại quê hương
Hờn vong quốc! Ai buồn hơn ai nhỉ?
(Trích trong Portland Tháng Tư Buồn- Thơ Sương Lam)
Theo vận nước nổi trôi, tôi lưu lạc nơi xứ người. Nhờ Trời Phật ban phúc lành, gia đình bé nhỏ của tôi được sum họp, đoàn tụ với các em của tôi như cha mẹ chúng tôi hằng mong muốn.
Chúng tôi đã chọn Portland là quê hương thứ hai của chúng tôi và chúng tôi đã sống ở nơi đây hơn 40 năm rồi. Đời sống tình cảm của tôi lại gắn liền với từng bụi cỏ, từng gốc cây, từng tên đường ở Portland như tôi đã sống ở Sài Gòn ngày cũ.
Xin hãy cảm thông tâm tình của người viết trong những ngày đi học đầu tiên của khóa mùa Thu ở “đại học trường làng” Portland Community College ở Portland, Oregon.
“Khi còn ở quê nhà chốn cũ Vẫn mơ về bến mới Tự Do Nào hay đâu đã đến được bờ Lại mang nỗi u hoài khó tả
Những buổi sáng trên đường tới lớp Trời Thu buồn khắp nẻo sương giăng Bao niềm thương nỗi nhớ xa gần Trong thoáng chốc quay về lũ lượt
Nào cha mẹ, trường xưa, bạn cũ Nào những ngày khốn khổ điêu linh Nào bao nhiêu kỷ niệm, ân tình Hình ảnh ấy bao giờ xóa được
Rồi tôi lại ngậm ngùi khi nhớ về Saigon:
Từng thu đến, lại từng thu đến Gió lạnh về tê tái, cô đơn Kẻ sĩ xưa ôm mối đau hờn Nơi xứ lạ sống đời viễn khách
U hoài ấy biết ai tâm sự Nửa cuộc đời sống ở quê hương Sài Gòn ơi! Cách biệt đôi đường Còn gì nữa, để quên để nhớ!
(Saigon Còn Gì Ðể Quên Ðể Nhớ – Thơ Sương Lam)
Tôi đã chọn Portland, Oregon là quê hương thứ hai của tôi cũng như nhà văn nữ Nguyễn Thị Thanh Dương đã chọn Texas là quê hương của bạn ấy.
Chúng tôi là bạn văn nghệ thân thiết cùng sinh hoạt trong Diễn Đàn Cô Gái Việt tâm ý tương cảm tương thông rất nhiều.
Xin mời đọc một trích đoạn trong bài viết mới nhất “50 Năm Quê Nhà Quê Người” của bạn tôi nhé. Cảm ơn Thanh Dương rất nhiều vì cùng một cảm nghĩ như tôi.
50 Năm Quê Nhà Quê Người
“……..Nước Mỹ đã là quê hương thứ hai, đã thấm vào tim tôi bao tình cảm, bao gắn bó thân thương. Nhà của tôi đây, vùng Dallas Fort Worth tiểu bang Texas nơi tôi đã sống mấy chục năm cho đến bây giờ. Tôi yêu mến nơi này. Chồng thường hay trêu đùa:
– Đối với bà tiểu bang Texas đẹp nhất trong 50 tiểu bang nước Mỹ và nước Mỹ thì đẹp nhất thế giới luôn.
Thỉnh thoảng tôi đi thăm con ở tiểu bang Utah, California hay thăm em ở Edmonton Canada, ở lại một hai tuần tôi đã nhớ thành phố tôi ở, nhớ căn nhà của mình, nhớ sân trước vườn sau, nhớ chợ búa tôi thường đi. Khi đến ngày trở về, vừa đến phi trường Dallas Fort Worth tôi đã cảm xúc vui mừng đứa con đi xa được trở về nhà.
Tôi cũng từng mơ thấy mình trở về Việt Nam, chờ đợi tôi vẫn là cảnh cũ người xưa, vẫn là bao kỷ niệm của trước khi tháng Tư 1975 ập đến, chuyến bay đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất tôi có cảm giác sung sướng vui mừng được trở về nhà y như thế này. Nhưng đó chỉ là mơ thôi.
Thấy tôi bâng khuâng chồng hỏi:
– Bà nghĩ gì mà lặng người ra thế?
– Quê nhà, quê người. Tháng Tư vết thương không bao giờ lành. Tháng Tư vẫn mãi là trang sử buồn.
Rồi tôi tỉ tê:
– Chúng ta mấy triệu dân Việt lưu vong, bất kể người miền Nam thua cuộc hay bên thắng cuộc miền Bắc chắc rằng ai cũng có câu trả lời vì sao họ phải rời bỏ quê hương…
– Kìa, bà đang khóc đó sao?
Tôi lấy tay lau nước mắt ướt mi và cười thật tươi:
– Em khóc em buồn chứ. Xong rồi, em đang cười vui đây, 50 năm quê nhà quê người, quá khứ và hiện tại, mất mát đau buồn và thành quả nhận được. Em yêu hiện tại tốt đẹp này và ước mong tương lai tươi sáng tốt đẹp nhiều hơn nữa, cộng đồng người Việt chúng ta, các thế hệ cháu chắt chúng ta ở khắp nơi trên thế giới sẽ gặt hái được nhiều thành công trên mọi lĩnh vực, dù họ mang quốc tịch gì nhưng cội nguồn vẫn là người Việt Nam sẽ làm thơm danh người Việt Nam.
Nguyễn Thị Thanh Dương.
( Viết cho Tháng Tư 1975- 2025 )”
Chúc quý bạn có nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc, sống vui từng ngày trong hiện tại với duyên nghiệp của mình nhé.
Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn
Sương Lam
(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi-MCTN 759-ORTB 1190-4-30-25)
ReplyForwardYou received this via BCC, so you can’t react with an emoji
HỒI KÝ Nhà Văn HỒNG THỦY: ĐỔI KIẾP
Hồi ký Hồng Thủy
Đời sống bận rộn với những hối hả của cuộc sống trên đất Mỹ khiến 50 năm qua nhanh đến không ngờ.
Nhớ ngày nào của tháng 4 năm 1975. Chúng tôi rời quê hương trong lúc dầu sôi lửa bỏng với một tâm trạng lo buồn cùng cực. Lo vì không biết tương lai sẽ đi về đâu. Buồn vì bỗng dưng phải rời bỏ tất cả. Bỏ cuộc sống yên bình, đầy đủ, sung sướng bao nhiêu năm qua; bỏ quê hương thân yêu với biết bao kỷ niệm từ thời thơ ấu; bỏ mẹ tôi và ông ngoại già yếu bơ vơ.
Mọi việc xảy đến bất ngờ tưởng như một giấc mộng hãi hùng.
Chồng tôi đang là Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện Hải Quân Cam Ranh. Chúng tôi được ở trong bán đảo Cam Ranh thơ mộng. Vùng bất khả xâm phạm, chỉ dành riêng cho các cơ quan thuộc quân lực VNCH nên rất riêng biệt và yên tĩnh.
Ngôi nhà tôi ở là một biệt thự rộng lớn được Hải Quân xây từ thời Pháp thuộc. Căn nhà nhìn ra bãi biển thơ mộng để mỗi tối khi màn đêm yên lặng tôi có thể nghe được tiếng sóng vỗ rì rào. Những đêm sáng trăng ngồi trên ban công, tôi say sưa ngắm mặt nước biển lấp lánh ánh trăng vàng, thoảng trong gió phảng phất hương thơm nhẹ nhàng của những cây dạ lý hương ở góc vườn. Khi hè đến, hai cây phượng trước sân nhà đua nhau khoe sắc thắm như chào đón những chú ve sầu ca hát rộn ràng. Mùa xuân những cây mai vàng nở hoa rực rỡ, rải rắc thấp thoáng trên những đồi cỏ hai bên lối đi vào bán đảo. Đời sống thật êm ả, thần tiên.
Bỗng một hôm nhà tôi đi họp ở Nha Trang về, sắc mặt anh rất buồn, anh nói với tôi mình sắp mất nước rồi. Tôi nghe tưởng như tiếng sét bất ngờ giáng xuống trên đầu.
Suốt cả tuần sau đó, anh ăn cơm rất vội vàng rồi vào trung tâm họp hành liên miên; khi anh về nhà là điện thoại reo liên tục không ngừng.
Một hôm, anh đang ăn cơm thì có điện thoại ông tướng vùng gọi, nói chuyện xong, anh ăn rất vội vã rồi lái xe vào văn phòng dù đã quá giờ làm việc. Mãi tới nửa đêm anh mới về nhà. Anh nói tôi lo thu xếp quần áo cho tôi và hai đứa con gái, ngày mai anh sẽ gửi ba mẹ con theo máy bay Không Quân về Sài Gòn trước. Nghe anh nói tôi ngạc nhiên, bàng hoàng như người từ trên trời rơi xuống. Tự nhiên tim tôi đâp dồn dập, tôi hỏi như người hụt hơi
– Tại sao, tại sao vậy anh?
Giọng anh nghẹn ngào
– Quân đội được lệnh phải buông súng và rút lui. Việt Cộng chiếm dần hết các tỉnh miền Trung rồi.
Tôi nói với anh, tôi không muốn xa anh, cho tôi ở lại bên anh; chồng đâu vợ đó, sống chết có nhau. Tôi khóc như chưa bao giờ được khóc. Anh nói với tôi thời gian cấp bách lắm rồi, phải khó khăn lắm anh mới xin được 3 chỗ trên máy bay cho ba mẹ con tôi quá giang. Tôi phải đi trước cho anh yên tâm. Ngày mai anh sẽ liên lạc với không quân Mỹ xin chỗ cho 2 con trai tôi quá giang về trước. Anh ở lại lo cho gần 4 ngàn nhân viên và khóa sinh di chuyển về sau. Nếu mẹ con tôi còn ở lại, anh sẽ bận tâm lo cho gia đình và không làm việc được.
Cả đêm đó tôi không ngủ, đồ đạc không được mang theo vì không có chỗ, chỉ một cái va li nhỏ với mấy bộ quần áo của 3 mẹ con mà tôi sắp mãi chưa xong. Quần áo bao nhiêu, biết mang cái nào bỏ cái nào. Tôi cứ cầm lên bỏ xuống, vừa làm vừa khóc, mặt mày ngơ ngẩn, tóc tai rũ rượi như con mẹ điên. Trời ơi cả một cái nhà to lớn như vậy, bao nhiêu vật dụng, đồ quí, mà tôi chỉ được mang theo có vài bộ quần áo thôi sao.
Mấy mẹ con tôi về Sài Gòn được đúng 3 hôm thì đường giây điên thoại Sài Gòn – Cam Ranh bất khiển dụng hoàn toàn. Tôi không làm cách nào liên lạc được với chồng tôi nữa, lòng tôi như lửa đốt, tình hình chiến sự càng ngày càng sôi động.
Khi nghe tin Việt Cộng đã chiếm Nha Trang tôi như người điên, tôi khóc lóc gọi điện thoại tứ tung cho những người bạn Hải Quân của chồng tôi làm việc ở Sài Gòn để hỏi thăm tin tức. Không ai cho tôi nguồn tin rõ ràng, ai cũng nói những lời an ủi mơ hồ cho tôi yên tâm. Tôi biết mạng sống của chồng tôi và các khóa sinh đang treo trên sợi tóc. Nha Trang – Cam Ranh quá gần, chỉ vài quả pháo kích là Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Cam Ranh biến thành tro bụi.
Suốt cả tuần tôi cứ ôm cái radio nghe tin tức và đọc kinh cầu nguyện liên miên. Cuối cùng chồng tôi và 4 ngàn khóa sinh cùng nhân viên cũng được tiếp cứu và đưa về Sài Gòn.
Ở Sài Gòn chồng tôi phải cấm trại lu bù, mỗi ngày thời gian được về nhà ăn cơm thật ngắn ngủi. Ăn xong phải vào trại liền. Chồng tôi luôn dặn dò những lời như trối trăn: Việt Cộng có thể tấn công Sài Gòn bất cứ lúc nào, nhiều cơ hội chúng sẽ vào theo ngả xa lộ Hàng Xanh, gần cư xá sĩ quan Thị Nghè là nơi gia đình tôi cư trú. Nếu như vậy, anh không thể trở về nhà lo cho tôi và các con. Anh sẽ phải cùng anh em chiến đấu, sống chết có nhau. Tôi phải tự lo cuộc sống không có anh, cố gắng nuôi con. Nếu Chúa thương cho anh còn sống, anh sẽ tìm cách liên lạc với tôi sau. Những lời dặn dò xé lòng đó làm tôi sống trong hãi hùng, lo sợ từng phút từng giây.
Chiều tối 29, đau xót thay, khi Việt Cộng trên đường tấn công Sài Gòn, tất cả quân nhân được lệnh tan hàng để lo di tản. Hải Quân được lệnh phải mang tất cả chiến hạm qua Phi Luật Tân để trao trả cho Hoa Kỳ, họ không muốn cho bất cứ chiến hạm nào lọt vào tay Cộng Sản.
Lúc đó gia đình tôi cũng chen chúc lên tầu một cách khó khăn như một thường dân vì anh là đơn vị di tản từ Cam Ranh về, không có tầu bè, không có bất cứ một phương tiện nào. Chúng tôi cùng đoàn người chờ đợi ở bến tầu, lũ lượt chen lấn nhau để lên một chiến hạm đang trong tình trạng sửa chữa ở Hải quân công xưởng. Tầu cố nổ máy để kéo lê giúp đoàn người đi tìm ánh sáng tự do dù không nước uống, không lương thực.
Ra đến Côn Sơn người Hạm trưởng định lái tầu quay trở lại vì bị áp lực của bà vợ đòi trở lại Sài Gòn. Bà có ông anh Việt Cộng làm lớn, bà hy vọng ông anh có thể giúp gia đình bà. Bà dọa nếu tiếp tục đi bà sẽ nhẩy xuống biển tự tử. Khi biết ông Hạm Trưởng sẽ lái tầu quay trở lại, các quân nhân đi quá giang trên tầu rất bất mãn, một số quân nhân Nhảy Dù nóng nẩy đòi giết ông Hạm trưởng vì họ không muốn chiếc tầu với gần 5 ngàn sinh mạng muốn đi tìm tự do phải quay trở lại sống dưới chế độ Cộng Sản. Thấy tình hình quá căng thẳng, chồng tôi là sĩ quan thâm niên nhất trên tầu phải ngăn cản và đứng ra dàn xếp. Anh liên lạc với ông Tư lệnh Hải quân đang ở trên một cái tầu khác xin phương tiện cho ông Hạm trưởng và gia đình ông trở lại Sài Gòn bằng 1 cái tầu nhỏ. Sau đó nhà tôi được lệnh làm Hạm trưởng lái chiếc tầu qua Phi Luật Tân. Tại đây tất cả tầu của HQ VN di tản đã tụ tập tại Subic Bay để giao trả lại cho Hải quân (HQ) Mỹ. Đoàn người di tản được chuyển sang một thương thuyền thật lớn của Mỹ để đưa đến trại tị nạn ở đảo Guam.
Tôi không sao quên được phút cuối cùng khi các quân nhân Hải quân VNCH rời tầu để chuyển giao lại cho HQ Mỹ. Mọi người đã làm lễ chào Quốc Kỳ VNCH một lần chót. Bài Quốc ca vang lên trong nghẹn ngào, mọi người nhìn lá cờ vàng ba sọc đỏ đang bay phất phới trên đài chỉ huy bị từ từ kéo xuống, ai cũng ngậm ngùi chảy nước mắt. Giã từ Việt Nam! Giã từ đất nước thân yêu!
Tất cả các quân nhân được yêu cầu cởi quân phục bỏ lại trên tầu để thay bằng quần áo dân sự. Nhìn anh buồn bã cởi bỏ bộ quần áo HQ tác chiến mầu xanh xám, bộ đồ anh mặc hàng ngày đi làm suốt bao nhiêu năm trời, lòng tôi đau thắt lại. Anh cầm bộ đồ và cái mũ trong tay ngần ngừ một lát, tôi không sao quên được nét mặt anh lúc đó, sau cùng anh buông tay cho bộ đồ và cái mũ rơi trên sàn tầu, và xách mấy túi hành lý bước vội đi như chạy trốn. Tôi dắt các con đi theo nước mắt ràn rụa. Tôi ngoái lại phía sau nhìn bộ quần áo và cái mũ của anh nằm trơ trọi trên sàn tầu, tôi có cảm tưởng như mình đã bỏ rơi một người thật thân yêu gần gũi. Nghĩ ngợi 1 giây, tôi vùng chạy trở lại, gỡ bộ lon của anh, bộ lon mà anh đã phải đánh đổi với hơn 20 năm binh nghiệp. Nhét vội bộ lon vào túi xách, tôi chạy theo anh cho kịp với đoàn người di tản đang xếp hàng để lên bờ. Bắt đầu từ giờ phút đó tôi mang cảm giác của một người vừa đổi kiếp.
Kiếp trước là người có một cuộc sống thật đầy đủ hạnh phúc, bỗng dưng “bừng con mắt dậy, thấy mình tay không”. Danh vọng tiền bạc biến hết. Hai vợ chồng, 4 đứa con thơ: đứa lớn nhất 13 tuổi, bé nhất 8 tuổi, phải rời bỏ quê hương, ra đi với 2 bàn tay trắng theo giòng người di tản không biết sẽ trôi dạt đến đâu.
Cũng may nước Mỹ mở rộng vòng tay chào đón những người tị nạn. Cho dù guồng máy chính trị của đất nước này đã dự phần trách nhiệm làm chúng tôi mất quê hương về tay Cộng Sản. Nhưng những người dân Mỹ tốt bụng, họ có trách nhiệm gì với chúng tôi đâu mà vẫn cố gắng giúp đỡ chúng tôi trong những bước đầu khó khăn, không cửa không nhà, không công ăn việc làm. Họ đón chúng tôi bằng cảm tình nồng ấm. Tôi nhớ mãi nụ cười của một bà lão da đen thật hiền hòa khi thấy tôi đi qua trước mặt bà. Những bàn tay nhỏ bé của mấy em học sinh, trên xe bus vàng của nhà trường, vẫy vẫy tôi, khi tôi đứng đợi đèn xanh để qua đường. Một người đàn ông Mỹ ân cần hỏi tôi có cần ông ta giúp khi thấy tôi khệ nệ ôm bịch đồ ăn mới mua ở chợ ra xe. Những cử chỉ nhỏ của thuở ban đầu đó, là niềm an ủi, niềm vui cho những kẻ tha hương chân ướt chân ráo đến một đất nước xa lạ.
Nhờ có bà dì ruột đã ở sẵn bên Mỹ vì chồng bà làm cho tòa Đại Sứ VN ở Washington DC, chúng tôi được trưởng nam của bà là Nguyễn Hoàng Diệu có quốc tịch Mỹ bảo lãnh gia đình và cho chúng tôi được tá túc trong nhà bà trong thời gian đầu khi mới đặt chân lên đất Mỹ. Hai vợ chồng, 4 đứa con ở chung trong một phòng dưới basement nhà bà. Tuy chật chội nhưng ấm cúng tình gia đình, nên chúng tôi rất vui mừng.
Khi tôi kể chuyện về thời gian đầu cho 1 cô bạn thân nghe, cô ấy đã trêu tôi “Trong thời gian ở chung như vậy làm sao hai vợ chồng mi làm ăn?” Tôi phì cười và ngẩn mặt ra “Ừ nhỉ, nếu tôi nhớ không nhầm thì suốt thời gian dài ở nhà bà dì, vợ chồng chúng tôi đã quên luôn “cái khoản đó”.
Ban ngày 2 vợ chồng lo đi lao động. Vợ đi làm bồi cho một coffee shop. Chồng làm cashier cho một tiệm ăn Hy Lạp. Cả 2 vợ chồng về đến nhà là mệt nhoài, lo cho 4 đứa con và cũng phải phụ lo cơm nước với bà dì. Tối đến vợ chồng con cái 6 mạng chui vào phòng ngủ chung, “làm ăn” gì nổi cơ chứ, và “làm ăn” cách nào, khi 4 đứa con với 8 con mắt tinh như ma ở xung quanh trong 1 cái phòng chả rộng rãi gì cho lắm. Lúc đó chúng tôi còn trẻ, vợ 34 tuổi, chồng mới có 43. Vậy mà cuộc sống bận rộn khiến chúng tôi chả nghĩ gì đến những chuyện “trần tục” đó, và quả thật cũng không thấy cần thiết nữa.
Sau khi dành dụm được 1 số tiền nhỏ, chúng tôi mới dọn ra riêng. Chồng tôi là một người cha thương con và lo cho con vô cùng. Cả 2 vợ chồng tôi đều coi việc lo cho các con là ưu tiên số 1. Hồi ở VN, cả 4 đứa con tôi đều học đàn piano. Cuộc di tản làm việc học đàn của các cháu gián đoạn gần hai năm trời. Sửa soạn ra ở riêng, chồng tôi nghĩ ngay đến việc phải cho các cháu được tiếp tục học đàn vì gián đoạn lâu quá sợ các cháu sẽ quên hết. Vì việc học đàn của các con, chúng tôi phải thuê nhà riêng để ở thay vì có thể ở apartment, mỗi tháng tiền thuê rẻ bằng nửa tiền thuê nhà, nhưng họ không cho phép đánh đàn vì sợ ồn làm phiền hàng xóm.
Có nhà ở rồi chúng tôi tính tới việc mua đàn cho các con tập dượt. Vì học đàn mà không có đàn để tập hàng ngày thì cũng như không. Việc mua đàn mới là một sự liều lĩnh ít ai dám làm vào thời điểm đó. Khi dọn ra ở riêng, sau khi mua 1 cái xe cũ để gia đình có phương tiện di chuyển, vốn liếng chúng tôi dành dụm trong thời gian ở nhờ nhà bà dì và tiền cơ quan thiện nguyện cho khi mới tới còn chưa được 2 ngàn đô. Chúng tôi đi kiếm mua 1 cái đàn cỡ trung bình giá là 1600 đô. Chúng tôi xin mua trả góp. Nhìn số lương của chúng tôi mà phải nuôi tới 4 đứa con, chủ tiệm đàn nói phải có người co-sign vì không đủ điều kiện để ký giấy mua 1 mình.
Tôi nhờ cậu em bảo lãnh gia đình tôi co-sign dùm cho chúng tôi mua đàn cho các cháu thì cậu tròn mắt lên ngạc nhiên nhìn tôi như nhìn một con quái vật và hỏi tôi bằng 1 giọng thật gay gắt “Anh chị có điên không? Bây giờ lo sao cho đủ ăn đủ mặc là may, còn bày đặt cho con học đàn. Bộ chị tưởng anh ấy vẫn còn là Đại tá HQ à? Em còn không nghĩ đến chuyện cho con em học đàn, huống hồ anh chị, mới chân ướt chân ráo đến đây, còn nghèo mạt rệp mà đã tính chuyện nuôi con như thời vàng son ở VN. Dẹp những chuyện viễn vông đó đi.” Biết là cậu em nói rất đúng, nhưng tôi cũng tủi thân và dù cố kìm hãm mà nước mắt vẫn ứa ra. Tôi kể lại cho nhà tôi nghe rồi hai vợ chồng bàn tới bàn lui, cuối cùng nhà tôi quyết định là vẫn mua đàn và trả cash luôn hết. Lý do vì chúng tôi nghĩ âm nhạc rất cần thiết cho đời sống, nó làm cho đời sống thăng hoa và tâm hồn con người phong phú hơn. Nếu các con tôi có thú vui giải trí là âm nhạc thì sẽ không còn thì giờ rảnh rỗi đàn đúm bạn bè để có thể sa ngã vào những thói hư tật xấu của tuổi trẻ.
Sau khi mua đàn cho các con, vốn liếng gia đình tôi còn đúng 90 đô. Chúng tôi đã tạo dựng cuộc sống mới trên đất Mỹ với con số khởi đầu là 90 đô. Mua đàn cho các con rồi thì phải lo tìm thầy dậy đàn cho chúng. Chúng tôi đã may mắn tìm được 1 bà giáo dậy đàn người Nhật. Bà Ellen Sakai rất tốt bụng, bà bằng lòng đến tận nhà dậy cho 4 cháu, mỗi tuần 2 giờ, mỗi đứa được học nửa giờ và chỉ lấy nửa giá là $10/1 giờ, thay vì giá của bà là $20/1giờ. Tiền lương 2 vợ chồng tôi vừa đủ cho việc trả tiền nhà, điện nước đổ xăng và tiền chợ. Bây giờ mỗi tháng phải chi thêm 80 đô tiền học đàn cho các con. Kiếm đâu ra bây giờ? 80 đô thời đó khá lớn, vì lương tối thiểu có $2.10/1 giờ rồi còn phải trừ thuế nữa.
Cuối cùng tôi kiếm được việc làm thêm ngày cuối tuần, dọn nhà cho một bà khách hàng người Mỹ vẫn đến coffee shop tôi làm uống café. Bà ấy bằng lòng trả tôi $20 cash mỗi lần đến dọn nhà, lau chùi, hút bụi cho bà Tôi mừng húm nhận lời liền. Tôi vui vẻ, hào hứng khi hút bụi, lau chùi cửa kính cho căn nhà rộng lớn của bà không nề hà công việc vất vả. Nhưng khi phải dọn dẹp phòng tắm và cúi xuống lau cái bồn cầu dù rất sạch sẽ, nước mắt tôi bỗng ứa ra. Tôi còn nhớ, tôi đã đóng kín cửa, đứng khóc lặng lẽ một mình rất lâu khi nghĩ đến những ngày vàng son ở VN và nghĩ đến thân phận mình bây giờ. Càng nghĩ, càng tủi thân và cứ đứng khóc mãi. Hôm đó tôi về nhà, lòng nặng trĩu u sầu. Nhưng buổi tối, khi nghe tiếng đàn réo rắt từ những bàn tay nhỏ bé của các con, tôi bỗng vui ngay và tự nhủ lòng “mình hy sinh cho các con được tiếp tục cuộc sống đầy đủ như những ngày còn ở VN, thì mình phải cảm thấy hài lòng và hãnh diện chứ, sao lại tủi thân và buồn!”
Từ đó, mỗi tuần khi dọn nhà cho bà khách hàng người Mỹ, đến lúc phải chùi cầu tôi không cảm thấy buồn nữa mà ngạc nhiên thấy mình rất vui vẻ và miệng còn hát líu lo. Tôi tiếp tục công việc dọn nhà cho tới hơn 1 năm sau, khi tôi học xong nghề Cosmetologist và đi làm rồi tôi mới “say goodbye” bà khách hàng của tôi.
50 năm qua, đời sống đã ổn định, các con đã thành đạt. Đời mình đã bước vào tuổi hoàng hôn, có thể “chợt tắt” bất cứ lúc nào. Tôi vẫn không quên được cái “thuở hàn vi” đó và cảm thấy thật hài lòng là vợ chồng tôi đã cố gắng hết mình để lo tròn bổn phận và trách nhiệm với 4 đứa con thân yêu, để chúng bước vào đời thật vững chắc và toàn vẹn.
Hồng Thủy
CHÙM THƠ CAO MỴ NHÂN: TẢN MẠN VUI VỀ CHUYỆN XƯA: BƯU ĐIỆP “TẠ TỪ” – A I. VÀ ANH – KHÓC CÙNG NIÊN KỶ.
BƯU ĐIỆP “TẠ TỪ” – CAO MỴ NHÂN === Thưa quý vị Ngày xưa, trước 1975, tất cả các Phòng, Ban đơn vị đều có BAN VĂN THƯ để nhận công văn ĐẾN và chuyển công văn ĐI. Phòng, Ban đơn vị nào cũng có nhân viên thảo văn thư, quý Đơn vị trưởng sẽ duyệt lại, ký tên, nhân viên đóng dấu, ghi số công văn rồi gởi đi . Bấy giờ Cao Mỵ Nhân hay tự ý viết các công văn liên hệ tới công tác xã hội của mình, nên các hình thức như CÔNG ĐIỆN, BƯU ĐIỆP, SỰ VỤ LỆNH vv…thảo xong, đưa nhân viên đánh máy, rồi ký gởi đi, để không phải sửa lại, thay đổi ý kiến … Do đó công việc phần hành văn thư rất thích cái tính ôm đồm, ham hố và nghịch ngợm của Cao Mỵ Nhân, Trưởng Phòng Xã Hội QĐI/QKI . Một hôm, cô thư ký chuyên thảo văn thư ” thách ” CMN làm một bài thơ với hình thức BƯU ĐIỆP TÌNH YÊU. Thế thì Cao Mỵ Nhân thảo ngay, với đầy đủ chi tiết hình thức một bản BƯU ĐIỆP , nên buộc lòng CMN phải ghi đủ các điều trích dẫn . Vậy thưa các chữ in hoa, chính là của mẫu mã BƯU ĐIỆP bình thường. Chớ quý vị ngó vào các điều khoản chuyển đi, e khiếp đảm vì sao mà người viết ham hố thế . Xin mời đọc, và bỏ qua cho cái lỗi ” tầm phào ” của Cao Mỵ Nhân tôi nha .
BƯU ĐIỆP ” TẠ TỪ “ NƠI GỞI: Người yêu đã sang sông Không mong NƠI NHẬN : Tạc trong lòng Thiệp hồng THÔNG BÁO: Ân tình hết XÁC NHẬN: Thôi đừng nhớ với mong Điện tín về anh KHẨN cấp kỳ Tình chưa tuyệt vọng đã sầu bi Bên sông nức nở vài tơ liễu Lời MẬT đường đưa tiễn chuyến đi BẢN VĂN từ tạ gởi cho nhau Với một tiêu đề hẹn kiếp sau Dang dở kiếp này xin xoá bỏ Ngàn năm ấp ủ ảnh hình đầu Ảnh hình THỨ NHẤT khắc trong tim Đã nhạt phai theo mỗi thoáng nhìn Mắt biếc tham lam ôm vũ trụ Tình yêu chân thực tưởng là điên Hình ảnh THỨ NHÌ vụt thoáng qua Bao nhiêu hình ảnh cùng mơ hoa Bấy nhiêu kỷ niệm toàn hư ảo Vì một tình yêu mới bỏ xa Trang giấy THỨ BA chép chuyện buồn Vòng tay thả lỏng những hoàng hôn Từng đêm rét mướt và đau khổ Tê buốt vai gầy, nặng nhớ nhung Rồi mối tình tên gọi THỨ TƯ Tưởng mùa đông đến, khiến bơ vơ Tâm tư băng giá, hoa đời khép Héo nụ tầm xuân mãi đợi chờ Tình viết sau cùng là THỨ NĂM ÔI bao ẩn ức, bấy âm thầm Cho tôi suy tụng ân tình cũ Để góp đèn hoa kết gối chăn … (KBC 4109- 19/6 /1972) CAO MỴ NHÂN (HNPD)
A I. VÀ ANH. – CAO MỴ NHÂN
Một mình ngó mãi không gian
Thấy con chim én vượt đàn, đăng cao
Chim ơi, bay tới phương nào
Mùa xuân đang ở chốn dào dạt mơ
*
Một mình hỏi khẽ, ngẩn ngơ
Người trăm năm cũ bây giờ còn không
Ô hay, lời lẽ điên khùng
Hay trong tư tưởng mịt mùng a, i ( AI )
*
Thôi rồi hớn hở, sầu bi
Âu lo, trách cứ , điều gì hoang mang
Nhanh như trái đất tan hoang
Vượt mau trí tuệ nhân gian vạn đời
*
Người trăm năm thốt ra lời
Giấu em tình cũ đất trời hiện sinh
AI ơi, anh đã hiển linh
Bao nhiêu ký ức tạo hình thực hư
*
Từ đây thời khắc vô tư
Trăm năm, vạn chuyện sẽ như hiện hành
AI về tổng hợp cùng anh
A, I mở cửa trời xanh tuyệt vời …
Utah 17 – 4 – 2025
CAO MỴ NHÂN (HNPD)
20 – 4 – 2025
KHÓC CÙNG NIÊN KỶ. CAO MỴ NHÂN
Trăng lênh đênh trôi lãng đãng trở về
Cho thấy được cuộc đời là hư ảo
Mây lướt thướt bay chập chờn phiền não
Mới bình minh sao nhuốm vẻ hoàng hôn
*
Khói sương tan trong bát ngát linh hồn
Em mờ mịt tháng năm đầy quá khứ
Tuổi anh lỡ trải dài đường viễn xứ
Đừng nói thêm quê quán chốn hoang liêu
*
Biết đâu tìm ân nghĩa với thương yêu
Tình đã lạt phai tưởng lầm trễ hẹn
Không có gì sao thế gian bịn rịn
Chuyến đò vơi trăng cạn nỗi riêng tư
*
Quán thu phong hơi lạnh buốt bao giờ
Ai viết dở dang chờ người nhuận sắc
Vách lá ẩm ướt lời xưa mất mát
Ta đang cùng niên kỷ khóc chơi vơi…
CAO MỴ NHÂN
22 – 4 – 2025
ĐỖ THÔNG MINH – Thư Đông Kinh Mới 1-5-2025
KIỀU MỸ DUYÊN SHOW: Cái Nhà Là Nhà Của Ta & Và Nhiều Thông Tin Khác.
VĂN THI SĨ CHINH NGUYÊN, NHẬN ĐƯỢC BẰNG KHEN, VINH DANH NHIỀU NHẤT! TRONG MỘT NGÀY!
Hôm qua, là ngày bận rộn cho Tang quyến Ông Chinh Nguyên và cho Cơ sở thi văn Lạc Việt, vì tới tấp nhận được bằng khen, sáng trên Quận, chiều ở Thành phố.
Trong Một Ngày! Ông Chinh Nguyên, Văn Thi Sĩ Việt, Đã Nhận Được Bằng Vinh Danh Nhiều Nhất! Từ Cấp Thành Phố, Đến Cấp Quận Hạt. Trước Đó Chính Quyền Cấp Tiểu Bang, Cũng Đã Gởi Nhiều Bằng Khen Đến Tang Gia Và VTLV.
Khắp Nơi Ghi Nhận, Sự Đóng Góp Của Ông.
Vào đầu tháng 4 này, nhà văn Chinh Nguyên, đã giã từ gia đình cùng bạn bè, Văn nghệ sĩ bốn phương, tìm về dưới chân Chúa, để lại bao niềm thương tiếc cho thành viên Văn Thơ Lạc Việt cùng bằng hữu. Ông là nhân vật đã tiếp bước nhà văn Đông Anh trong 13 năm, với chức Chủ Tịch VTLV, lèo lái con thuyền vững vàng trên Dòng Sông Văn học Nghệ Thuật Việt Nam nơi đất Mỹ, cụ thể là Vùng Thung Lũng Hoa Vàng, Bắc California. Những thành quả tốt đẹp về con đường gìn giữ bản sắc Dân Tộc đó, đã được chính quyền địa phương công nhận và tặng bằng khen thưởng.
Giám sát viên Betty Dương, đã đề xuất và Hội Đồng Giám Sát Quận hạt Santa Clara, đồng thuận cấp bảng Vinh Danh cho Cố Nhà Văn Chinh Nguyên.
Sáng Thứ Ba, ngày 22 tháng 4 năm 2025, hồi 9.30, tại Phòng Họp Board Chambers Quận hạt Santa Clara, số 70 W.Hedding, Trong cuộc họp của Hội Đồng Giám Sát Hạt Santa Clara, với phần Adjournment in Memoriam, Bà Betty Dương, thay mặt Hội Đồng, trao Bảng Vinh Danh cho Bà Thanh, Vợ của người quá cố Chinh Nguyên, cùng gửi lời chia buồn sâu sắc đến Gia đình Văn Thơ Lạc Việt. Giây phút cảm động nhất, cả Hội Đồng Giám Sát, đều rời khỏi ghế, xuống bắt tay chia buồn, chụp hình chung với Tang gia và VTLV.
Ông Lê Văn Hải đương kim Hội Trưởng VTLV và Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng, đã vắn tắt, bày tỏ Lời Cám ơn đến Chính quyền và mọi người tham dự.
Tại Hội Đồng Thành Phố San Jose.
Chiều cùng ngày, trên 20 thành viên và thân hữu đã tham dự, trong giây phút trang trọng, Thành phố vinh danh người quá cố. Anh Hội trưởng, thay mặt Tang quyến và VTLV, có lời cám ơn Hội đồng thành phố như sau:
“Cảm tạ hội đồng thành phố San Jose, đã vinh danh Ông Chinh Nguyên, cựu chủ tịch hội văn thơ lạc việt, 13 năm. Ông là một nhân sĩ, chiến sĩ văn hóa, có nhiều đóng góp tích cực trong cộng đồng người Việt chúng tôi, tại vùng Bay Area, California, nói riêng, và cộng đồng người Việt Hải Ngoại nói chung. Sự vinh danh của Ông hôm nay, khuyến khích người lớn giữ gìn ngôn ngữ, “tiếng Việt còn, nước Việt còn!” Khuyến khích con em chúng tôi, vừa hòa đồng trên đất Mỹ, vừa giữ bản chất tốt đẹp của người Việt. Một lần nữa, tôi xin được thay mặt Hội, thay mặt Tang gia cảm tạ buổi vinh danh này. Cám ơn nhiều!”
Sau đây là một vài hình ảnh phần trao Bảng Vinh Danh cho ông Chinh Nguyên, tại Quận hạt và Thành phố, xin được Chia sẻ Cùng Quý Vị và Các Bạn.
Thân ái
Mpd&lvH
ÁC PHẨM SONG NGỮ PLEASE ENTRY-VÀO ĐI TÌNH ƠI!
Phong Thu Nguyễn phỏng vấn Nv Chinh Nguyên
Cáo Phó
Buổi Ra Mắt Sách của Tôn Nữ Áo Tím
CHÙA THẠNH ĐỨC, THÀNH PHỐ KONTUM
PHÁT CƠM CHAY TỪ THIỆN CHO BỆNH NHÂN NGHÈO
Bông Hoa Cẩm Chướng Đã Bay Lên Trời
Lời mở đầu
Quý vị có biết ai là cô sinh viên Sài Gòn ra Bắc học y khoa đã cất tiếng hát lần đầu tiên bài tiếng gọi sinh viên sau này trở thành bài quốc ca VNCH. Cô Phạm thị Bình tức bà bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn đã qua đời ngày 11 tháng 11 năm 2012 tại Palo Alto, CA hưởng thọ 90 tuổi.
Hai tháng trước tôi và anh Phạm phú Nam có lên nhà quay đoạn phim chị Bình kể lại chuyện hát bài ca lịch sử tại nhà hát lớn Hà Nội. Đoạn phim này sẽ là phần quan trọng về dữ kiện lịch sử bài quốc ca của miền Nam được đưa vào DVD Hồn Việt của Việt Nam Film Club phát hành 17 tháng 11-2012.
Tang gia cho biết sẽ phát tang vào ngày thứ bẩy 24 tháng 11-2012 . Các chi tiết sẽ được loan báo.
Trong niềm thương tiếc một nữ lưu có nhiều liên quan đến lịch sử, tôi xin gửi đến quý vị bài viết về bà Nguyễn Tôn Hoàn 4 năm trước 2008 vào dịp chúng tôi mời bà lên sân khấu 2 lần để cùng hát bài ca đã trở thành quốc ca. Trong bài viết này chúng tôi có nhắc đến quý vị Nguyễn bá Cẩn, Vũ văn Ước đều đã ra đi. (Ghi Chú Xin chia buồn cùng tang quyến và chị Ngô Quang Thiều. Ông bà Hoàn là cậu mợ của Ms. Lạc Ngô.)
Sau đây là bài viết tháng 3-2008 BÔNG HOA CẨM CHƯỚNG CỦA NGÀY VĂN NGHỆ LỊCH SỬ NGÀN NGƯỜI VIẾT Văn nghệ tháng Ba Foothill 2008 Văn nghệ tháng Tư San Jose 2008 Ai sẽ hát bài quốc ca lịch sử. Ai sẽ là các nam ca sĩ hát phụ họa. Ca sĩ nào là hoa cẩm chướng 86 năm tuổi Giao Chỉ San Jose giới thiệu tháng 3-2008
Chiều ngày chủ nhật 16 tháng 3 năm 2008, khi mở màn buổi trình diễn văn nghệ dành cho cựu sinh viên Việt Nam tại sân khấu Foothill ai là người sẽ hát bài quốc ca lịch sử: “Này sinh viên ơi…”
Hình ảnh minh họa
Bà quả phụ Nguyễn Tôn Hoàn, nhũ danh Phạm thị Bình, cũng vừa từ trần.
Xin trả lời. Ban tổ chức sẽ mời những ca sĩ và các sinh viên đã hiện diện vào một ngày lịch sử năm 1942 tại Hà Nội, cách đây 66 năm, khi bài Tiếng gọi sinh viên đã được trình diễn lần đầu tiên. Quí vị này hiện nay đã trên 80 tuổi. Sẽ cùng đứng lên cất tiếng gọi sinh viên nay đã trở thành tiếng gọi công dân. Và thêm một lần nữa, bài quốc ca VNCH sẽ được chính thức hát mở đầu cho buổi văn nghệ : “Lịch sử ngàn người viết “ vào chiều chủ nhật 6 tháng 4-2008 tại San Jose. Quí vị có thể hỏi rằng những vị niên trưởng đó là ai. Đó là bông hoa cẩm chướng Sài Gòn cùng với sự hiện diện của những ch àng trai của thập niên 40. Chúng tôi mời niên trưởng Nguyễn Khánh, Lâm lễ Trinh của miền Nam và Vũ văn Ước, Trần đỗ Cung của miền Bắc cùng tham dự. Để độc giả có thể hiểu rõ ý nghĩa của câu chuyện hơn nửa thế kỷ đã qua, chúng tôi xin nhắc lại đầu đuôi như sau về người nữ sinh viên đã hát bài quốc ca lần đầu tại thủ đô Hà Nội.
Vào đầu tháng 5 năm 2007, ban tổ chức ra mắt sách của luật sư Lâm Lễ Trinh tại San Jose có nhã ý mời đại tướng Nguyễn Khánh lên mở đầu diễn đàn. Vị quốc trưởng Việt Nam Cộng Hòa đã nhường danh dự cho một phụ nữ. Đó là bà bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, nhũ danh Phan thị Bình. Bà cũng là một cư dân lâu năm tại Bắc California ít có dịp đến sinh hoạt với cộng đồng. Nhưng thực sự đây là một phụ nữ đã tham dự hoạt động đảng phái chính trị một thời gian rất dài. Bà tham gia phong trào sinh viên kháng Pháp đầu thập niên 40 cho đến nay vẫn còn là đảng viên với vai trò cố vấn. Thời gian hoạt động đã ghi lại đủ 66 năm, suốt chiều dài của một người từ lúc sinh ra cho đến lúc về hưu.
Trong 30 năm qua, người Việt quốc gia tha hương vẫn ôm mối u hoài, vẫn còn giữ mãi lá cờ vàng và bài quốc ca của miền Nam. Nhưng mấy ai biết được rằng những giọng ca nữ nào đã cất tiếng lần đầu tiên bản Tiếng Gọi Sinh Viên của một thời toàn dân đang chuẩn bị đứng lên chống Pháp.
Từ thuở xưa rất xa, trong Nam chưa có trường đại học, các thanh niên nam nữ của Sài Gòn muốn học thêm phải ra Hà Nội.
Thế chiến đệ nhị đang đi vào những giai đoạn cuối. Đồng Minh phản công từ Âu Châu qua Thái Bình Dương. Nhạc sĩ Nam Kỳ Lưu Hữu Phước soạn bài ca tiếng gọi sinh viên: “Này sinh viên ơi, đứng lên đáp lời sông núi. Đồng lòng cùng đi…”
Thanh niên sinh viên Việt Nam hàng ngày theo dõi tin tức chiến cuộc trên thế giới và nao nức muốn đứng lên làm lịch sử.
Vào một buổi sáng của năm 1942, có hai cô sinh viên Sài Gòn đứng giữa khuôn viên đại học Hà Thành cất tiếng hát bài ca bất hủ: Này sinh viên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi.
Hiện diện trong những giây phút lịch sử đó có những chàng sinh thanh niên như Lâm lễ Trinh, Nguyễn Khánh,Trần đỗ Cung và cả cậu thiếu niên Hà nội Vũ văn Ước…Hai nữ sinh viên Sài Gòn lúc đó ở tuổi 19 và 20. Một người là chị của dược sĩ Nguyễn Văn Bẩy của San Jose. Bà chị hiện còn ở miền Nam California. Và một cô gái nhỏ bé khác là Phan Thị Bình của miền Bắc California. Cô sinh viên đứng lên đáp lời sông núi đó sau này đã thành hôn với sinh viên y khoa năm thứ sáu là anh Nguyễn Tôn Hoàn. Vợ là sinh viên phụ khoa với bằng cấp cô đỡ quốc gia và chồng là y khoa bác sĩ. Nhưng thời cuộc chuyển vần, thế chiến đệ nhị chấm dứt. Cuộc kháng chiến mùa thu bắt đầu, cả hai vợ chồng bác sĩ chẳng làm nghề y khoa mà đã cùng đi theo con đường cách mạng.
Lúc đó ở ngoài Bắc, Phạm Duy viết bài ca kháng chiến đầu tiên: Một mùa thu năm qua, cách mạng tiến ra đất Việt. Vợ chồng Bác Sĩ Hoàn bắt đầu hoạt động cách mạng trong Nam. Cuộc đời ba chìm bẩy nổi của một gia đình sinh viên Nam Kỳ đứng lên đáp lời sông núi đã đưa đẩy hai vợ chồng trẻ lưu lạc nơi đất khách quê người. Trải qua bao nhiêu năm từ Pháp qua Mỹ. Đến thời tướng Nguyễn Khánh cầm quyền thì bác sĩ Hoàn đã có cơ hội về Việt Nam giữ chức vụ Phó Thủ Tướng. Nhưng sau đó việc tham chính cũng không được lâu dài, ông bà trở lại Hoa Kỳ và làm người dân lưu vong trước khi miền Nam thất thủ.
Sau cuộc phong ba đổi đời tháng 4 năm 1975, những người Việt di tản đến miền Bắc Cali đôi khi có dịp ghé tiệm ăn Mekong trên con đường chính của thành phố Mt.View sẽ gặp ông bà Nguyễn Tôn Hoàn. Đôi vợ chồng sinh viên ngày xưa vẫn còn hoạt động chính trị bền bỉ một lòng với đất nước. Bây giờ lại có thêm thành tích 19 năm làm ăn trong lãnh vực nhà hàng.
Những chính khách Việt Nam không có duyên số với đất nước như bác sĩ Hoàn bỏ nước ra đi tháng trước thì tháng sau lại đến lượt đại tướng Nguyễn Khánh ra đi. Ông phó thủ tướng Hoàn đi mở nhà hàng ở Mỹ thì ông quốc trưởng Khánh cũng đi mở nhà hàng bên Tây. Cho đến năm 1975, vị thủ tướng cuối cùng là ông Nguyễn Bá Cẩn đến Bắc Cali đã nhận job trông nom việc điều hành một cây xăng. Đôi khi cây xăng thiếu người thì chủ tịch hạ viện đồng thời là thủ tướng cũng sẵn sàng đứng giữa trời mà đổ xăng full serve cho thiên hạ.
Vào cái thời đó các cây xăng đều phải có người phục vụ. Lâu lâu bác sĩ phó thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn chạy đến đổ xăng của thủ tướng Nguyễn bá Cẩn để gọi là có thêm chút tình đồng hương. Ông Phó đi đổ xăng bên ông Chánh để rồi vào buổi chiều cuối năm, Anh chị thủ tướng đến ăn ở nhà hàng anh chị phó thủ tướng ở nơi đất khách quê người. Những nhà chính trị, những chính khách cao cấp và cao niên của một thời oanh liệt gặp lại nhau để ngồi nói chuyện Nam Kỳ. Cho đến mùa quốc hận oan nghiệt năm nay qua các đề tài Về nguồn và Thức tỉnh của luật sư Lâm Lễ Trinh, những người muôn năm cũ lại có dịp gặp nhau ở San Jose.
Xem ra, vị đại tướng quốc trưởng nổi danh một thời lại là người ít tuổi nhất. “Chàng”vào năm 2007 chỉ mới có 83 mùa xuân đã lái xe từ Sacramento xuống. Hỏi rằng thế ai ngồi bên cạnh, niên trưởng Nguyễn Khánh trả lời rằng trước sau thì vẫn có một bà vợ Bắc Kỳ từ thời còn là sĩ quan cấp úy ở Hà Nội. Bây giờ nàng vẫn là người quản giáo giữ cho chàng luôn luôn Thức tỉnh mà Về nguồn. Đó là tên các tác phẫm của tác giả Lâm Lễ Trinh, dù tung hoành ngang dọc với vai trò phóng viên của chính trường trong buổi hoàng hôn, niên kỷ cũng đã 84. Nhưng tất cả đều thua bà chị phu nhân của bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn vào năm 2007 đã 85.
Chiều thứ bẩy khi lên nói chuyện trong buổi ra mắt sách đầy hồi tưởng của lịch sử, Bác gái Nguyễn Tôn Hoàn như lửa đốt trong lòng. Tối thứ sáu đứa cháu gái xinh đẹp của bà ngoại đi cắm trại đã gặp tai nạn bị phỏng cấp ba cháy cả hai tay.
Bà ngoại vừa trông cháu nhỏ cho cả nhà túa vào nhà thương mà lại còn phải soạn bài nói chuyện. Ngồi giữa hội trường bàn chuyện lịch sử mà lòng bà ngoại vẫn còn xao xuyến vì đứa cháu gái bị tai nạn.
Từ bà ngoại Nguyễn Tôn Hoàn, cành hoa cẩm chướng 85 năm, người phụ nữ một đời làm cách mạng khi bước lên diễn đàn đã trở lại thành cô Phan Thị Bình của 65 năm trước tại Hà Nội. Cô sinh viên của nhà thương miền Bắc ngày xưa, tóc xanh xõa trên vai đứng hát bài ca kêu gọi tuổi trẻ lên đường.
Sáu mươi lăm năm sau, “nàng” lại một lần nữa lên tiếng kêu gọi tuổi trẻ ở quê nhà Việt Nam hãy đứng lên làm lịch s ử cho thế kỷ thứ 21.
Cái bục thuyết trình hội trường hơi cao. Cậu Nguyễn Khánh hào hoa phong nhã đứng lên lấy tay đỡ cho cô Phan thị Bình bước xuống. Hình ảnh như vẫn còn không khí Hà nội hơn 60 năm về trước.
Trong số các phụ nữ Việt Nam ở miền Bắc California ít ai trải qua cuộc đời cách mạng với sinh hoạt đảng phái lâu dài hơn bà Nguyễn Tôn Hoàn. Mười chín tuổi đã đi theo chàng và đi theo cách mạng. Suốt cuộc đời nổi trôi đất khách quê người, trải qua 19 năm lấy nhà hàng ẩm thực để làm sinh kế lo cho chồng, cho con và cho cháu. Bây giờ bà già 85 với chiếc gối kê ở chỗ ngồi, một cái gối dựa lưng vẫn còn lái xe van Hoa Kỳ to tướng để ngược xuôi từ Los Altos ở miền bắc xuống Los Angeles ở miền Nam thăm cháu và họp đảng. Bà già vẫn thường lái xe tỉnh queo.
Nhưng hôm nay thì tấm lòng cách mạng sắt đá xem chừng sao xuyến nhiều lắm rồi. Hai cánh tay đứa cháu gái bị phỏng nặng. Biết bao lần sẽ phải giải phẫu thay da. Ôi những đứa con gái, những đứa cháu gái cưng của bà. Gia đình Việt Nam ở nước Mỹ mà nói chuyện toàn bằng tiếng Tây. Con với cháu vẫn la rầy bà ngoại:
“A lô” Măng tưởng là măng còn trẻ lắm sao, Măng đi họp gì mà 2 giờ sáng chưa về “
Mùa lễ Mothers’ Day năm 2007 đứa cháu trưởng nữ của con gái bà nằm trong nhà thương. Ai sẽ mua tặng bà ngoại cành hoa carnation màu hồng thắm.
Một ngày của mẹ đầy hệ lụy đã làm nhỏ lệ cho cành hoa cẩm chướng 85 tuổi.
“Này sinh viên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi, đồng lòng cùng đi..” Sông núi hôm nay là sông núi nào… Ở bên kia chân trời con sông Cửu long Giang rồng thiêng chín khúc nay đã cạn giòng. Ở bên này bờ biển Thái bình Dương chúng ta chỉ còn rặng núi Rocky với con sông Sacramento mùa này cũng chẳng còn đủ nước cho vùng Bay. Sau mùa lễ của mẹ năm nay, bông hoa cẩm chướng 85 năm sẽ lại một mình lái xe van tất tả trên xa lộ số 5 xuống miền Nam thăm con cháu. Nếu có ai không biết mà hỏi thăm thì chỉ làm bà nhớ lại anh sinh viên y khoa năm thứ 6 rất đẹp trai tên là Nguyễn tôn Hoàn. Sau ngày của Mẹ là đến ngày của Cha. Hoa của Mẹ là hoa Cẩm Chướng, Carnation. Hoa của cha là hoa Hồng. Còn sống thì mầu đỏ mầu hồng, đã đi xa thì mầu trắng. Bà ngoại sẵn sàng đi xa vạn dặm để nhắc nhở con cháu về một bông hồng trắng cho người tình bây giờ đã đi thật là xa….
Hồng trắng đã ra đi, bây giờ Đóa hoa cẩm chướng cũng bay về trời
Giao Chỉ San Jose.
VĂN THƠ LẠC VIỆT – TRANG ĐẶC BIỆT Vĩnh Biệt Anh CHINH NGUYÊN.
LỜI CẢM ƠN TỪ CHỊ TRƯƠNG MỸ THANH – HIỀN THÊ ANH CHINH NGUYÊN
==
===
LÀ ANH CHINH NGUYÊN
Là anh_Lạc Việt của văn thơ
Hội trưởng năm dài đạt ước mơ
Bóng mát che chung thuyền tỵ nạn
Là anh_tâm huyết bỏ hằng giờ
*
Là anh_tuổi trẻ chọn con đường
Không phận bay mờ những tối sương
Dâng hiến đời trai cho lý tưởng
Chim bằng chiến hữu giữ quê hương
*
Là anh_văn hóa kết trao đời
Ngôn Việt lưu vong giữ sáng ngời
In sách tiếng Anh lời Việt dịch
Lưu truyền tuổi trẻ quyết không ngơi
*
Là anh_dốc lực hiến dâng mình
Hải ngại quê người đạt hiển vinh
Tiền bối từng thời luôn kính nể
Văn Thơ Lạc Việt sống bao tình
Là anh_như nắng đẹp mây hồng
Góp sức lo toan việc cộng đồng
Thi phú văn chương tràn suối chảy
Câu vần khỏa bút nhớ non sông
*
Là anh_buột gió những chiều vàng
Hạ trắng thu về dệt vẽ trang
Gối nguyệt thì thầm trao mộng ước
Thi cài bút vẫy mặc thời gian
*
Là anh luôn mãi tốt bao điều
Sức khỏe an lành hội mến yêu
Tửu phú Chinh Nguyên hồn nghệ sĩ
Bên Thanh-vợ tốt quý thương nhiều.
MTTN
25/01/2025
VĂN THƠ LẠC VIỆT TIỄN CHINH NGUYÊN
Thơ Phương Hoa
Chiều SAN JOSE mưa đổ Khóc một vì sao rơi Hoa Vàng Miền Thung Lũng Tiễn CHINH NGUYÊN nghẹn lời
* Từ quê hương chao đảo Biết bao điều nhiễu nhương Xứ người lòng anh vững Trái tim anh quật cường
* Tình yêu ngôn ngữ Mẹ
Văn Hoá của ông cha Hết lòng đem lan tỏa
Tiếng nước Nam ngọc ngà
* Nhiều thập niên anh giữ
LẠC VIỆT ngời VĂN THƠ Giai nhân cùng tài tử
Niềm vui rộn bến bờ…
* Năm châu và bốn bể
Anh kết nối tình thương Như vì sao sáng chói
khắp nơi nơi tỏ tường
* Đến thăm anh lần cuối
Tấm thân gầy mong manh Nghe lời cầu ĐỨC MẸ
Giọt lệ tràn mắt anh
* Từng một thời bảo vệ Tổ Quốc và Không gian CHINH NGUYÊN giờ vĩnh biệt Ôi đớn đau ngập tràn…
* Bài ca xin đưa tiễn Nốt nhạc buồn bâng khuâng Quyện hồi chuông Chúa đợi Rước anh đến Thiên Đường …
Phan Hà xin tiễn biệt anh Chinh Nguyên thân thương của VTLV
CHINH NGUYÊN LẠC VIỆT ĐÃ RA ĐI
Một trời tiếc nuối vì anh ấy
Sẽ bao phủ trôi toàn mây xám
Anh chị em ta cùng ngấn lệ
Tiễn đưa anh một đoạn đường ngắn
Để trọn tình anh với chúng em
Mai sau này đâu còn anh nữa
Cùng họa cùng ca Lạc Việt ta
Hoàng Sa kính bút
TIỄN ANH CHINH NGUYÊN
Đã biết trước nhân sinh là cõi tạm
Nhưng rất buồn nhận tin bạn ra đi
Phương trời xa còn biết nói năng chi
Xin ghi vội vài dòng thơ tưởng niệm
*
Bè dễ có, bạn tâm đầu khó kiếm
Nên đau lòng nghe tin dữ hôm nay
Khói không vương vào sao mắt lại cay
Ngó về phương đó chập chờn sương khói
*
Nén hương lòng thay cho lời muốn nói
Chinh Nguyên ơi! Thôi vĩnh biệt từ đây
Biết sẽ không lâu cũng có một ngày
Mình gặp lại nhau bên kia cõi sống
*
Bạn biết rồi trần gian là cõi mộng
Chúc bạn an vui bên Chúa nhân từ
YÊN SƠN
ĐỜI ĐÓNG LẠI … ́(LA BOUCLE EST BOUCLEE)
Đời đóng lại , lúc hồn ta lìa thế Chắc thoảng vui khi đậy nắp quan tài Vào chốn lạ, chẳng còn mầu dâu bể Và cõi lòng, giải tỏa tiếng bi ai …
Có phải chăng, phút giờ ta nhắm mắt Bỏ gian trần, bỏ ngàn nỗi truân chuyên Đời tục lụy, thoát từ, thôi vướng mắc Thản linh hồn, vĩnh cửu chốn thiên tiên…
Huu-Thien Paul Pham
*******
Lời Chia Buồn Của Nhà Văn Hồng Thủy –
Chủ Tịch Văn Bút ViệtNam Hải Ngoại Vùng ĐôngBắc Hoa Kỳ:
Được tin rất buồn:
Anh CHINH NGUYÊN đã vĩnh viễn ra đi. Xin chân thành chia buồn cùng chị THANH và toàn thể tangquyến. Xin CHÚA và MẸ MARIA đón anh về nước Thiên Đàng. Ở quá xa xôi không đưa tiễn anh được, xinchị THANH tha lỗi. Mình không bao giờ quên được sự đón tiếp nồng hậu của anh chị và các anh chị trong VTLV khi mình qua SAN JOSE.
Hồng Thủy (MARYLAND )
Lời Phân Ưu của văn thi sĩ Yên Sơn:
Nhận tin trễ – vì nhà có nhiều khách phương xa đến thăm Houston-Kingwood từ 19/3 đến hôm nay vừa tiễn vị khách cuối cùng – bạn Chinh Nguyên đã rời bỏ anh chị em chúng ta. Xin thành kính chia buồn cùng chị Thanh và gia đình tang quyến. Chúng tôi xin được cùng ACE chung lời cầu nguyện cho cầu linh hồn anh KQ nhà mình được đời đời an vui bên Chúa nhân từ; chúc Chị và tang quyến sớm vượt qua sự mất mát lớn lao trong đời.
Vô cùng thương tiếc Chinh Nguyên
Đã biết trước nhân sinh là cõi tạm
Nhưng rất buồn nhận tin bạn ra đi
Phương trời xa còn biết nói năng chi
Xin ghi vội vài dòng thơ tưởng niệm Bè dễ có, bạn tâm đầu khó kiếm
Nên đau lòng nghe tin dữ hôm nay
Khói không vương vào sao mắt lại cay
Ngó về phương đó chập chờn sương khói Nén hương lòng thay cho lời muốn nói
Chinh Nguyên ơi! Thôi vĩnh biệt từ đây
Biết sẽ không lâu cũng có một ngày
Mình gặp lại nhau bên kia cõi sống Bạn biết rồi trần gian là cõi mộng
Chúc bạn an vui bên Chúa nhân từ
Thân kính,
Yên Sơn & Ngọc Bích
Lời Chia Buồn Của Văn Thi Sĩ Phạm Phan Lang:
Phan Lang rất xót xa được tin anh Chinh Nguyên đã ra đi vĩnh viễn.
Xin thành kính chia buồn cùng chị Thanh & tang quyến và Thi Đàn VTLV.
Cầu nguyện cho linh hồn anh Chinh Nguyên sớm được hưởnh Nhan Thánh Chúa.
Mong chị Thanh cố nén đau buồn và giữ gìn sức khỏe để lo hậu sự cho anh.
Thành kính phân ưu,
Phạm Phan Lang
Lời Phân Ưu Của Nữ Dịch Giả Thái Lan:
Biết rằng ngày này sẽ đến, nhưng vẫn không khỏi nghẹn ngào… Anh Chinh Nguyên với sự giúp đỡ của chị Thanh đã cống hiến cho cộng đồng thật nhiều công sức của anh chị- Xin kính ơn anh chị-
Mong anh được đón nhận vào Nước Thiên Đàng, nơi không có đau khổ, chỉ có tình yêu và hạnh phúc vô tận. Xin Chúa ban cho chị Thanh và tang quyến sự kiên nhẫn, sức mạnh và niềm hy vọng để vượt qua thời gian đau buồn và mất mát này-
Thành kính phân ưu𝓽𝓷𝓵-thailan/phannữlan
Lời Chia Buồn Của văn thi Sĩ Thủy Lâm Synh:
Được tin nhà thơ Chinh Nguyên đã được về chầu Chúa ngày 8 tháng 4 năm 2025. Xa xôi lắm, chúng tôi không thể đích thân đưa tiễn. Đây nén hương lòng cung tiễn anh về với đấng vô cùng. Thành thật chia buồn cùng tang quyến – Đặc biệt bà quả phụ Chinh Nguyên và nhóm chủ trương Văn Thơ Lạc Việt.
Rất thương tiếc.
Thủy Lâm Synh
CHIẾN SĨ VÕ ĐẠI TÔN: SYDNEY 09.4.25 – CHÂN THÀNH CHIA BUỒN CÙNG TANG QUYẾN VÀ QUÝ THI-VĂN HỮU LẠC VIỆT.
Tin Buồn:
“Gia Đình”, cũng là Thi Đàn Văn Thơ Lạc Việt, xin báo tin buồn đến: Quý Niên Trưởng Cố Vấn, Quý Anh Chị Em Thành Viên, Quý Văn Thi Hữu, Quý Bạn Bè Thân Hữu bốn phương.
Sau thời gian dài, trên nửa năm, chống chọi với căn bịnh ung thư tuyến tụy, Vị Cựu Chủ Tịch thân yêu, đáng kính của chúng tôi là:
Nhà Thơ, Nhà Văn:
Giuse Chinh Nguyên
Vừa được Chúa gọi về:
Lúc 3 giờ sáng, ngày hôm nay! Thứ Ba, ngày 8 tháng 4 năm 2025
Tại bịnh viện Kaiser, San Jose, California, Hoa Kỳ.
Hưởng Thọ 82 Tuổi.
Đây là “Đại Tang” với VTLV, một vị Chủ Tịch nhiều khả năng, nhiệt huyết, tính tình hiền hòa, ai cũng thương, cũng mến. Trên 13 năm nắm giữ, điều động, trong mục đích “bảo tồn và phát huy Tiếng Việt” đã đưa Hội trở thành, một trong những Hội, năng động, hữu hiệu nhất, hoạt động trong mục đích này! nhất tại Miền Bắc Cali nói riêng và tại Hải Ngoại nói chung!
Sự ra đi của Ông, là một mất mát lớn với VTLV, không ai, không gì, có thể thay thế, bù đắp!
(Cáo Phó và chương trình Tang Lễ xin được thông báo sau.)
Quý Vị có thể gởi lời Chia Buồn đến Phu Nhân của Người Quá Cố là Chị Thanh (408) 348-0103
Vô Cùng Thương Tiếc, xin thông báo.
Tiễn Đưa Văn Thi sĩ CHINH NGUYÊN (Minh Thúy Thành Nội)
Vui lòng click vào hình để đọc
TIỄN BIỆT ANH
Tiễn biệt Chinh Nguyên luyến nhớ vương Rời xa chữ nghĩa bỏ lên đường Nỗi đau tiếc nuối người thân thuộc Xót dạ tâm tình Lạc Việt thương Xin Chúa ở trên ân sũng phước Để anh được đến cõi Thiên Phương Cuộc đời cống hiến bao công sức Gát bút an tâm thỏa mộng nhườn
Hoàng Mai Nhất 4/13/2025
Giới Thiệu Chút Hoạt Động,Cảm Nghĩ Về Cơ Sở “Văn Thơ Lạc Việt”
MINH THÚY
Vui lòng click vào hình để đọc
====
KÍNH GỬI đến gia đình anh Chinh Nguyên:
Anh Chinh Nguyên không mất đi mà do anh đã làm tròn nhiệm do Thiên Chúa vgiao phó cho anh ở Trần Gian. Anh Chinh Nguyện đã vác trọn con đường Thánh Giá của anh,và nay anh được Thiên Chúa gọi về và với tài nghệ của anh, tôi tin là anh sẽ được giao phó nhiệm vụ khác, có thể ở Trần Gian này, hay nới nào khác trong không trùng Vũ Trụ, anh ấy sẽ đem Hương Hoa Văn Thơ Lạc Việt trãi thêm Hương Hoa trong vùng Đất Mới.
Bảo Trâm
Tiễn Anh – Chinh Nguyên
Anh đi, nhẹ bước giữa trời,
Tháng Tư sao lại nghẹn lời chia ly!
Năm mươi năm dấu quốc kỳ,
Anh rời nhân thế, sớm quỳ bên Cha.
San Jose chiều gió nghiêng tà,
Văn chương thổn thức, lệ nhòa bài thơ.
Văn Thơ Lạc Việt ước mơ,
Giọng anh chan chứa, ấm bờ thi ca.
Anh đi, ngọn lửa chưa nhòa,
Chúng em giữ lấy, truyền qua hậu đời.
Trần gian cõi tạm đến chơi,
Tám mươi năm chẵn, sáng ngời tài hoa.
Nụ cười anh, dáng hiền hòa,
Thành viên thương mến, bạn già tiếc thương.
Chén trà, khúc hát nghê thường,
Còn vương kỷ niệm ngát hương chữ tình.
Anh về bên cõi yên bình,
Hưởng nhan Thánh Chúa lời kinh “Kính Mừng”
Văn Thơ lạc Việt chẳng ngừng,
Tiếp nối sự nghiệp tôn xưng Lạc Hồng.
Tiễn biệt anh “sắc tức không”
Thơ anh quyện giữa mênh mông ta bà!
Điếu Văn Tưởng Niệm Nhà Thơ Chinh Nguyên
Kính thưa quý vị,
Hôm nay, ngày 4 tháng 5 năm 2025, đúng 50 năm kể từ ngày Quốc Hận lại là ngày ly biệt phân kỳ. Văn Thơ Lạc Việt tụ hội nơi đây để tiễn biệt một người thân, một người bạn văn chương tri kỷ, một thi sĩ tài hoa, Nhà Thơ Chinh Nguyên, một người từng là chủ tịch của nhóm chúng ta đến 13 năm tại vị trưởng nhóm văn đàn, giờ đây anh lặng lẽ rời xa
cõi tạm vào ngày 8 tháng Tư năm 2025 tại San Jose, California.
Nhà Thơ Chinh Nguyên không chỉ là một nhà văn, truyền thông, quay film mà còn là một người gìn giữ và phát huy văn hóa Việt Nam nơi hải ngoại. Với ba nhiệm kỳ làm Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt, anh đã không ngừng nỗ lực kết nối những tâm hồn yêu văn chương, âm nhạc và nghệ thuật, tạo nên một cộng đồng gắn bó, đầy nhiệt huyết và sáng tạo.
Anh luôn hiện diện với nụ cười hiền hậu, ánh mắt ấm áp và tấm lòng rộng mở. Sự hòa nhã và chân thành của anh đã khiến mọi người xung quanh cảm thấy được an ủi và khích lệ. Anh là người bạn, người anh mà ai cũng quý mến, là ngọn lửa âm thầm thắp sáng niềm tin và hy vọng cho thế hệ tiếp nối.
Sự ra đi của anh để lại một khoảng trống lớn trong lòng Văn Thơ Lạc Việt. Nhưng chúng ta tin rằng, anh đã an lành trở về với Chúa, nơi không còn tranh chấp, thị phi, bởi ở đó chỉ có ánh sáng và tình yêu thương vĩnh cửu.
Anh Chinh Nguyên kính mến,
Anh an lòng về bên chân Chúa. Văn Thơ Lạc Việt, những thành viên cũ mới còn ở lại trần gian, xin hứa sẽ tiếp tục con đường anh đã bước, mãi giữ gìn và phát huy ngọn lửa
văn hóa mà anh đã thắp sáng để rồi giờ đây những thành viên còn lại sẽ truyền ngọn lửa ấy cho thế hệ mai sau, với niềm tin rằng, bằng văn hóa và nghệ thuật, chúng ta có thể mang lại niềm tin nhân bản và sự an bình cho dân tộc Việt Nam.
Vĩnh biệt anh – Nhà thơ Chinh Nguyên.
Nguyễn Hồng Dũng
ReplyForwardAdd reaction
Tưởng niệm 50 năm Saigon mất tên
Viết Về Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa – Mai Thanh Truyết
Tiếc Cho Một Người Lầm Lỡ Vừa Nằm Xuống
LTS. Bài này viết trong năm 2006, “về trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa, một thành viên của Mặt trận Giải phóng Miền Nam… để chúng ta cùng suy nghiệm, đặc biệt cho một số trí thức hải ngoại và quốc nội.” Bài này đăng lại nơi đây để cảnh báo về chiến dịch mới thực hiện nghị quyết 36 của CSBV.
Thân tặng tất cả những người Việt còn có tấm lòng yêu quê hương.
Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH) vừa nằm xuống ngày thứ bảy 25 – 2 – 2006 tại Sài Gòn, và cũng vừa được hỏa táng vào ngày thứ ba 28/2. Báo chí trong nước cho đến hôm nay, không hề loan tải tin tức trên. Đài BBC có phỏng vấn Ông Võ Nhơn Trí ở Pháp về tin nầy và phát đi ngày 28/2.
Sự im lặng của Việt Nam khiến cho người viết thấy có nhu cầu trang trãi và chia xẻ một số suy nghĩ về cái chết của BS DQH để từ đó rút ra thêm một kinh nghiệm sống về tính chất “chuyên chính vô sản” của những người cầm quyền tại Việt Nam hiện tại.
1- Ô. Bà DQH và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam
BS DQH là một người sống trong một gia đình theo Tây học, có uy tín và thế lực trong giới giàu có ở Sài Gòn từ thập niên 40. Cha là GS Dương Minh Thới và anh là LS Dương Trung Tín; gia đình sống trong một biệt thự tại đường Bà Huyện Thanh Quan xéo góc Bộ Y tế (VNCH) nằm trên đường Hồng Thập Tự. LS Tín đã bị ám sát tại Đà Lạt trong đó cái chết của ông cũng không được soi sáng, nhưng đa phần có nhiều nghi vấn là do lý do chính trị vì ông có khuynh hướng thân Pháp thời bấy giờ.
Về phần Bà Hoa, được đi du học tại Pháp vào cuối thập niên 40, đã đỗ bằng Bác sĩ Y khoa tại Paris và về lại Việt Nam vào khoảng 1957 (?). Bà có quan niệm cấp tiến và xã hội, do đó Bà đã gia nhập vào Đảng CS Pháp năm 1956 trước khi về nước.
Từ những suy nghĩ trên, Bà hoạt động trong lãnh vực y tế và lần lần được móc nối và gia nhập vào Đảng CSVN. Tháng 12/1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN dưới bí danh Thùy Dương, nhưng còn giữ bí mật cho đến khi Bà chạy vô “bưng” qua ngõ Ba Thu –Mõ Vẹt xuyên qua Đồng Chó Ngáp. Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, tin tức trên mới được loan tải qua đài phát thanh của Mặt Trận.
Khi vào trong bưng, Bà gặp GS Huỳnh Văn Nghị (HVN) và kết hôn với GS. Trở qua GS Huỳnh Văn Nghị, Ông cũng là một sinh viên du học tại Pháp, đỗ bằng Cao học (DES) Toán. Về VN năm 1957, ông dạy học tại trường Petrus Ký trong hai năm, sau đó qua làm ở Nha Ngân sách và Tài chánh. Ông cũng có tinh thần thân Cộng, chạy vô “bưng” năm 1968 và được kết nạp vào đảng sau đó.
Do “uy tín” chính trị quốc tế của Bà Hoa thời bấy giờ rất cao, Mặt Trận, một lá bài của CS Bắc Việt, muốn tận dụng uy tín nầy để tạo sự đồng thuận với chính phủ Pháp hầu gây rối về mặt ngoại giao cho VNCH và đồng minh Hoa Kỳ. Từ những lý do trên, Bà Hoa là một người rất được lòng Bắc Việt, cũng như Ông Chồng là GS HVN cũng được nâng đỡ theo.
Vào đầu thập niên 70, Ông được chuyển ra Bắc và được huấn luyện trong trường đảng. Tại đây, với một tinh thần thông thoáng dân tộc, cộng thêm nhiều lý luận toán học, Ông đã phân tích và chứng minh những lý thuyết giảng dạy ở trường đảng đều không có căn bản lý luận vững chắc và Ông tự quyết định rời bỏ không tiếp tục theo học trường nầy nữa.
Nhưng chính nhờ uy tín của Bà DQH trong thời gian nầy cho nên ông không bị trở ngại về an ninh. Cũng cần nên nói thêm là ông đã từng được đề cử vào chức vụ Bộ trưởng Kinh tế nhưng ông từ chối.
2- Ô.B DQH và Đảng Cộng sản Bắc Việt
Chỉ một thời gian ngắn sau khi CS Bắc Việt giải tán Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, Ô Bà lúc đó mới vỡ lẽ ra. Về phần Ô HVN, ông hoàn toàn không hợp tác với chế độ. Năm 1976, trong một buổi ăn tối với 5 người bạn thân thiết, có tinh thần “tiến bộ”, Ông đã công khai tuyên bố với các bạn như sau:”Các “toi” muốn trốn thì trốn đi trong lúc nầy. Đừng chần chờ mà đi không kịp. Nếu ở lại, đừng nghĩ rằng mình đã có công với “cách mạng” mà “góp ý” với đảng”. Ngay sau đó, một trong người bạn thân là Nguyễn Bá Nhẫn vượt biên và hiện cư ngụ tại Pháp. Còn 4 người còn lại là Lý Chánh Trung (giáo sư văn khoa Sài Gòn), Trần Quang Diệu (TTKý Viện Đại học Đà Lạt), Nguyễn Đình Long (Nha Hàng không Dân sự), và một người nữa người viết không nhớ tên không đi. Ông Trung và Long hiện còn ở Việt Nam, còn ông Diệu đang cư ngụ ở Canada.
Trở lại BS DQH, sau khi CS chiếm đóng miền Nam tháng 4/1975, Bà Hoa được “đặt để” vào chức vụ Tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các chính phủ. Vào tháng 7/75, Hà Nội chính thức giải thể chính phủ Lâm thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng Thứ trưởng và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Định… Chính trong thời gian nầy Bà lần lần thấy được bộ mặt thật của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á.
Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô Nguyễn Hữu Thọ:”Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả”. Đến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ Thứ trưởng. Dĩ nhiên là Đảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.
Mười năm sau đó, sau khi được “phép” nói, Bà nhận định rằng “Đảng CS Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải quyết nạn nghèo đói trong nước. Trong thời gian nầy Bà tuyên bố :” Trong hiện trạng của Đất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo tức là xuất cảng sức khỏe của người dân” Và Bà cũng là một trong những người đầu tiên lên tiếng báo động vào năm 1989 cho thế giới biết tệ trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9,10 tuổi cho các dịch vụ tình dục trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ quan chính phủ và quân đội điều hành.
Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi khoa. Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động được sự giúp đỡ của hai giới trên để thành lập Trung Tâm Nhi Khoa chuyên khám và chữa trị trẻ em không lấy tiền và Bà cũng được viện trợ thuốc men cho trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các lọai vitamin. Nhưng tiếc thay, số thuốc trên khi về Việt Nam đã không đến tay Bà mà tất cả được chuyển về Bắc. Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được “yêu cầu” phải xin lại viện trợ vì…nhân dân (của Đảng!).
Về tình trạng trẻ con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội nghị ngày 1/12/03 tại Hà Nội :” Hiện Việt Nam có 5,1 triệu người khuyết tật chiếm 6,3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648 gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Sài Gòn cho thấy có tới 24% trẻ em tàn tật dạng vận động, 92,3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh chiếm tới 72%.
Vào năm 1989, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳnh Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà.
Cũng trong cuốn sách vưà kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà không luyến tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại quốc ra khỏi đất nước Việt Nam.
Sau cùng, chúng tôi xin liệt kê ra đây hai trong những nhận định bất hủ của BS DQH là :”Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẻ thù tiềm ẩn”. Và khi nhận định về bức tường Bá Linh, Bà nói:” Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại”.
3- BS DQH và Vụ kiện Da Cam
Theo nhiều nguồn dư luận hải ngoại, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện Hoa Kỳ, và đối lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong tương lai.
Có lẽ vì “mật ước” Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn nhân chất Độc Da cam/Dioxin Việt Nam ngày 10/1/2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ Nội vụ ngày 17/12/2003. Đây là một Hội dưới danh nghĩa thiện nguyện nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát. Ban chấp hành tạm thời của Hội lúc ban đầu gồm:
– Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự;
– Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND làm Chủ tịch;
– GS,BS Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm Phó Chủ tịch;
– Ô Trần Văn Thụ làm Thư ký.
Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng:”Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hoá học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp”. Theo một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hoá học và là đại diện pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh sách nầy (Được biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà thôi.
Vào ngày 30/1/2004, Hội đã nộp đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, New York do luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Được biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Đại sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm 49 trang trong đó có 240 điều khoảng. Danh sách nguyên đơn liệt kê như sau:
– Hội Nạn nhân Chất Da cam/Dioxin Việt Nam;
– Bà Phan Thị Phi Phi, giáo sư Đại học Hà Nội;
– Ông Nguyễn Văn Quý, cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989);
– Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh Trung Sơn; và
– Những người cùng cảnh ngộ.
Đây là một vụ kiện tập thể (class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn. Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất chánh để (1) đòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong, và dị thai và (2) yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và (3) để hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản xuất thuốc khai quang.
Không có một bằng chứng nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief). Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường Y tế Công cộng Houston thuộc trường Đại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman của trường Đại học Columbia, New York.
Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng như quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại. Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải nghiên cứu cặn kẽ.
Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt thuốc khai quang nặng nề. Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi. (Cũng xin nói ở đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?).
Năm 1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi.
Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đầu bị chứng ngứa ngáy ngoài da. Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần lễ. Năm 1972, Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai. Năm 1985, BS Hoa đã được chẩn bịnh tiểu đường. Và sau cùng năm 1998 Bà bị ung thư vú và đã được giải phẫu. Năm 1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức).
Và sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là: Bà BS Hoa và con là nạn nhân của chất độc Da cam.
Qua những sự kiện trên chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn?
Để tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn những phát biểu của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại Paris trung tuần tháng 5/2004. Theo lời Bà (từ miệng Bà nói, lời của một người bạn tên VNT có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì “người ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli).
“Tên tôi đã được ghi vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không thông báo cho tôi biết. Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký giả người Úc thấy tên tôi trong vụ kiện yêu cầu được phỏng vấn tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam.”
Dĩ nhiên cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Úc không bao giờ xảy ra.
Bà còn thêm rằng:”Trong thời gian mà tất cả mọi người nhất là đảng CS bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin trong máu của tôi dưới mức trung bình (2ppt).”
Đến đây, chúng ta có thể hình dung được kết quả của vụ kiện.Và ngày 10 tháng 3 năm 2005, Ông chánh án Jack Weinstein đã tuyên bố hủy bỏ hoàn toàn vụ kiện tại tòa án Brooklyn, New York.
4- Bài học được rút ra từ cái chết của BS DQH
Từ những tin tức về đời sống qua nhiều giai đoạn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, hôm nay Bà đã đi trọn quãng đường của cuộc đời Bà. Những bước đầu đời của Bà bắt đầu với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, lý tưởng phục vụ cho tổ quốc trong sáng. Nhưng chính vì sự trong sáng đó Bà đã không phân biệt và bị mê hoặc bởi những lý thuyết không tưởng của hệ thống cộng sản thế giới. Do đó Bà đã bị lôi cuốn vào cơn gió lốc của cuộc chiến VN. Và Bà đã đứng về phía người Cộng sản.
Khi đã nhận diện được chân tướng của họ, Bà bị vỡ mộng và có phản ứng ngược lại. Nhưng vì thế cô, Bà không thể nào đi ngược lại hay “cải sửa” chế độ. Rất may cho Bà là Bà chưa bị chế độ nghiền nát. Không phải vì họ sợ hay thương tình một người đã từng đóng góp cho chế độ (trong xã hội CS, loại tình cảm tiểu tư sản như thế không thể nào hiện hữu được), nhưng chính vì họ nghĩ còn có thể lợi dụng được Bà trong những mặc cả kinh tế – chính trị giữa các đối cực như Pháp và Hoa Kỳ, trong đó họ chiếm vị thế ngư ông đắc lợi. Vì vậy, họ không triệt tiêu Bà.
Hôm nay, chúng ta có thể tiếc cho Bà, một người Việt Nam có tấm lòng yêu nước nhưng không đặt đúng chỗ và đúng thời điểm; do đó, khi đã phản tỉnh lại bị chế độ đối xử tệ bạc. Tuy nhiên, với một cái chết trong im lặng, không kèn không trống, không một thông tin trên truyền thông về một người đã từng có công đóng góp một phần cho sự thành tựu của chế độ như Bà đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, suy nghĩ về tính vô cảm của người cộng sản, cũng như suy nghĩ về tính chuyên chính vô sản của hệ thống xã hội chủ nghĩa.
Đối với chế độ hiện hành, sẽ không bao giờ có được sự đối thoại bình đẳng, trong đó tinh thần tôn trọng dân chủ dứt khoát không hề hiện hữu như các sinh hoạt chính trị của những quốc gia tôn trọng nhân quyền trên thế giới. Vì vậy, với cơ chế trên, hệ thống XHCN sẽ không bao giờ biết lắng nghe những tiếng nói “đóng góp” đích thực cho công cuộc xây dựng Đất và Nước cả.
Bài học DQH là một bài học lớn cho những ai còn hy vọng rằng cơ hội ngày hôm nay đã đến cho những người còn tâm huyết ở hải ngoại ngõ hầu mang hết khả năng và kỹ năng về xây dựng quê hương. Hãy hình dung một đóng góp nhỏ nhặt như việc cung cấp những thông tin về nguồn nước ở các sông ngòi ở Việt Nam đã bị kết án là vi phạm “bí mật quốc gia” theo Quyết định của Thủ tướng Việt Nam số 212/203/QĐ-TTg ký ngày 21/10/2003. Như vậy, dù là “cùng là máu đỏ Việt Nam” nhưng phải là máu đã “cưu mang” một chủ thuyết ngoại lai mới có thể được xem là chính danh để xây dựng quê hương Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Chúng ta, những người Việt trong và ngòai nước, còn nặng lòng với đất nước, tưởng cũng cần suy gẫm trường hợp Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa ngõ hầu phục vụ tổ quốc và dân tộc trong sự thức tỉnh, đừng để bị mê hoặc bởi chủ thuyết của cường quyền.
Tổ quốc là đất nước chung.
Dân tộc là tất cả thành tố cần phải được bảo vệ và
thừa hưởng phúc họa bình đẳng với nhau.
Rất tiếc điều này không xảy ra cho Việt Nam hiện tại.
Ghi chú: Ngày 3/3/2006, trên báo SGGP, GS Trần Cửu Kiếm, nguyên ủy viên Ban Quân y miền Nam, một người bạn chiến đầu của Bà trong MTDTGPMN, có viết một bài ngắn để kỷ niệm về BS DQH. Chỉ một bài duy nhứt từ đó đến nay.
Mong tất cả trí thức Việt Nam đặc biệt là trí thức miền Nam học và thấm thía bài học nầy qua trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa.