Tưởng Nhớ Nhà Thơ Hoàng Phong Linh Võ Đại Tôn

Vương Trùng Dương

Chiến Hữu Võ Đại Tôn, sau nhiều năm lâm bệnh trầm trọng, qua đời tối Thứ Sáu 23/5/2025 tại bệnh viện Bankstown (NSW), hưởng thọ 90 tuổi. Ngoài thơ, văn, anh được gọi là nhà hoạt động chính trị, nhà đấu tranh cho quê hương, Tổ Quốc. Với tôi trong tình thân đồng hương (đề cập trong bài viết nầy) nên anh cho biết gọi nhau là “chiến hữu”.

Các tác phẩm thơ, văn: Lời Viết Cho Quê Hương (Năm 1979 tại Hoa Kỳ). Đoản Khúc Người Ra Đi  (Năm 1986 tại Úc Châu). Hồi ký Tắm Máu Đen (Năm 1992 tại Úc, Hoa Kỳ năm 2000). Thơ Tiếng Chim Bên Dòng Thác Champy (Năm 1992 tại Úc Châu và năm 2000 tái bản tại Hoa Kỳ). Tập Truyện Chim Bắc Cành Nam (2002). Tuyển Tập Thơ Văn Tổ Quốc – Hành Trình 30 Năm” (Úc Châu 2005).

Trước đây, cũng vào tháng 5, tôi viết bài Hồi Ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh (1945-1950) của Võ Đại Tôn. Theo lời anh, tăm đắc với bài viết nầy vì chỉ có người đồng hương mới hiểu rõ nơi chốn để chia sẻ.

Nay đăng lại bài viết:

Hồi ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh (1945-1950) của Võ Đại Tôn ra đời cách nay một thập niên. Tại California, sách đã ra mắt ngày 16/5/2010, tại phòng họp của cơ quan Stockton Boulevard Partnership, Bắc California quy tụ các hội đoàn, đoàn thể, nhân sĩ và đồng hương tham dự rất đông để nghe diễn giả Võ Đại Tôn từ Úc sang, với tuổi đời 75. Trong bài viết của Khuất Đẩu ở trong nước “Để Tang Cho Sách” ghi lại thời điểm từ “chiến dịch bài trừ văn hóa” xuống đường đốt sách 21/5/1975… trong đó, những tài liệu trung thực về giai đoạn lịch sử nầy đã bị tiêu hủy. Bài viết mới nhất (4/2021) của Song Thao ở Canada: Tháng Tư Nghĩ Về Sách Sài Gòn Xưa “Gần hai chục năm trước, khi Cộng Sản tiếp thu Hà Nội, trò đốt sách đã được bày ra. Trên hai thập niên sau, họ làm y chang lại, bài vở là một thứ bổn cũ soạn lại”. Đọc lại với bao nỗi ngậm ngùi!

Ngày 12/6/2010 trong buổi sinh hoạt “Hành trình công tâm để xây dựng lại niềm tin” và ra mắt thơ văn của tác giả Võ Đại Tôn tại nhà hàng Emerald Bay, Santa Ana đã được các văn hữu như Cao Tiêu, Nguyên Sa, Đỗ Tiến Đức và các nhân sĩ… ca ngợi tinh thần đấu tranh của chiến sĩ Quốc Gia cho lý tưởng tự do, dân chủ.

Nay đọc các bài viết trong nước đã bị lệch lạc, bóp méo sự thật vì dựa vào tài liệu tuyên truyền… Vì vậy viết lại hồi ký của tác giả Võ Đại Tôn, chứng nhân thời cuộc để trả lại sự thật của giai đoạn lịch sử: “Cái gì của César, hãy trả lại César”.

Với hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” trong tháng 6/2010 qua nhận định của Nguyễn Mạnh Trinh cho thấy: Đọc bút ký “Tắm Máu Đen” rồi đọc “Hồi Ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh”, và đọc những bài thơ ký tên Hoàng Phong Linh, tôi cảm nhận rõ một điều: Sáng tác của ông là tình yêu dành cho quê hương đất nước. Phải có một tình yêu mạnh mẽ thúc đẩy nên con người chiến sĩ, thi sĩ, nghệ sĩ hòa hợp thành một con người Việt Nam đã chiến đấu trong những năm tháng khốc liệt của chiến tranh từ lúc tuổi thơ cho đến khi trưởng thành. Là chiến sĩ, ông hành động theo lý tưởng của mình, chấp nhận hy sinh gian khổ. Là thi sĩ, ông làm thơ, để gần hơn với mơ mộng, để yêu thương hơn quê hương. Là văn sĩ, ông mang tấm lòng thiết tha của mình giãi bày tâm can của một người nặng lòng với đất nước…

Sau khi dẫn chứng những đoạn trong hồi ký, phân tích với đoạn kết: Đọc bút ký “Tắm Máu Đen” rồi đọc “Hồi Ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh”, và đọc những bài thơ ký tên Hoàng Phong Linh, tôi cảm nhận rõ một điều: Sáng tác của ông là tình yêu dành cho quê hương đất nước. Phải có một tình yêu mạnh mẽ thúc đẩy nên con người chiến sĩ, thi sĩ, nghệ sĩ hòa hợp thành một con người Việt Nam đã chiến đấu trong những năm tháng khốc liệt của chiến tranh từ lúc tuổi thơ cho đến khi trưởng thành. Là chiến sĩ, ông hành động theo lý tưởng của mình, chấp nhận hy sinh gian khổ. Là thi sĩ , ông làm thơ, để gần hơn với mơ mộng, để yêu thương hơn quê hương. Là văn sĩ, ông mang tấm lòng thiết tha của mình giãi bày tâm can của một người nặng lòng với đất nước.

Trong hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” của Võ Đại Tôn in bài giới thiệu của Trần Trung Đạo, là đồng hương, tuy tuổi đời cách nhau hơn hai mươi năm nhưng cùng chung cảnh ngộ đau buồn và cùng chung tâm cảm.

“Chúng tôi những người con đi xa, gánh trên vai đôi gánh nặng. Đất nước, quê hương, tình thương và nỗi nhớ. Nhiều khi tôi thèm làm một con chim nhỏ, bay về đậu trên tấm bia và đọc cho mẹ nghe những bài thơ được đan kết từ mấy mươi năm trầm luân thống khổ. Nhưng không, đôi cánh chúng tôi quá nhỏ và quảng trời thì quá xa, ước mơ cũng chỉ là mơ ước. Chúng tôi chọn lựa một cách sống mà chúng tôi nghĩ là đúng nhất cho đời mình và đất nước nhưng chọn lựa nào mà chẳng có hy sinh. Chúng tôi đã phải hy sinh những riêng tư thân thiết nhất.

… Từ thuở chào đời, tôi đã là một đứa bé bất hạnh. Mẹ và anh chị tôi đều mất rất sớm. Trí nhớ của tôi còn quá non nớt để giữ lại hình ảnh mẹ. Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có đến một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống.

Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ giòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ.

Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn là tuyệt đối. Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu, một ngôi làng dệt lụa bên bờ sông Thu Bồn. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ, nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuỗi ngày buồn và chờ đợi một điều gì sắp đến.

Một tuổi thơ như thế có thể tạm gọi là tuổi thơ bất hạnh. Nhưng tuổi thơ tôi không phải là bất hạnh nhất hay ít bất hạnh hơn anh Võ Đại Tôn.

… Anh bất hạnh hơn tôi vì mẹ anh, người đàn bà vốn đang trọng bịnh trong người, đã phải chết trong hoàn cảnh vô cùng thảm thương, đau đớn.

… Anh Võ Đại Tôn cũng đã xác định quan điểm này trong hồi ký Tuổi Thơ và Chiến Tranh: “Viết lại cho tuổi trẻ của tôi trong nỗi trầm luân của cả một Dân Tộc và viết cho Tuổi Trẻ Việt Nam với niềm mong ước các thế hệ tương lai hiểu thấu, tránh xa, ngăn chặn, cùng nhau vượt qua mọi chướng ngại để cứu nguy Tổ Quốc và hóa giải mọi trở lực để quang phục quê hương.

… Với tuổi đã ngoài bảy mươi, lẽ ra anh nên dành khoảng thời gian mà anh tự nhận là “hoàng hôn của một đời người” để đi đây đi đó thăm viếng người thân, tạm biệt bạn bè, hay ngồi an nhàn bên tách trà, chén rượu, nhìn mặt trời lên cao ngoài biển rộng, nhìn bóng tà dương khuất dần sau đỉnh núi cao, không, anh không thể an nhàn như thế được. Còn một hơi thở anh còn đóng góp, còn cất lên được một tiếng nói anh còn tìm cách để trao gởi những ước mơ chưa làm được hết của anh cho các thế hệ mai sau. Anh cố gắng dành thời gian còn lại để viết. Dù bàn tay anh có run hơn, đôi mắt có yếu hơn, anh vẫn cố gắng viết, bởi vì con người ai cũng phải chết nhưng sự thật lịch sử phải được sống, sống cho hôm nay và cho mãi mãi về sau…”.

Với hồi ký của anh Võ Đại Tôn qua các bài viết của các văn hữu, trong đó có Trần Trung Đạo và Nguyễn Mạnh Trinh, tôi thấy cũng đủ để cảm nhận những gì tác giả Võ Đại Tôn chia sẻ sau sáu thập niên về nơi cố hương.

Trong thời gian qua, anh và tôi thường viết qua email, anh than tuổi già sức yếu, mỗi lần nghĩ đến đất nước và cố hương lòng đau quặn thắt, không cầm được nước mắt. Cho đến lúc nầy, anh vẫn mang niềm đau vì không về được cố hương, không ôm mồ mẹ trong vòng tay như lúc tuổi thơ!

Trong mùa đại dịch quái ác nầy, ở nhà chán quá, tôi lục lại những quyển sách cũ ra đọc lại để giết thời giờ, nào ngờ hồi ký của anh Võ Đại Tôn, một lần nữa làm tôi xúc động nên ghi lại những dòng cảm nghĩ.

Sau biến cố tang thương của đất nước, tháng năm 1975, vợ chồng anh Võ Đại Tôn vượt biển sang Mã Lai đến định cư tại Úc Châu năm 1976.

Năm 1972, Võ Đại Tôn (Trung Tá) kết hôn với chị Tuyết Mai, dạy ở trung học Long Khánh và làm xướng ngôn viên đài truyền hình Việt Nam, băng tần số 9. Năm 1978, vợ chồng sinh được cháu trai Võ Đại Nam (Cu Lỳ) và sau đó mở quá cà phê Cu Lỳ để có dịp gặp gỡ thân hữu. Với cuộc sống gia đình đang hạnh phúc như vậy nhưng anh mang nặng tấm lòng nợ nước nên tháng 2 năm 1981 trở về lại quê hương để tham gia kháng chiến phục quốc (qua đường rừng Thái-Lào) nhưng đã bị sa cơ vào tháng 10, 1981, tại biên giới Lào Việt.

Anh bị tù biệt giam hơn 10 năm tại tại trại tù Thanh Liệt (B-14), ngoại thành Hà Nội. Thế nhưng từ khi ở tù cho đến khi được thả ra để trở về Úc, anh là người đi giữa hai lằn đạn bởi thủ thuật Cộng Sản Hà Nội đã dàn dựng, gài bẫy, bôi nhọ… khi anh nói rồi bị cắt xén để phát thanh và đăng báo!

Trong cuộc họp báo quốc tế ngày 13 tháng 7 năm 1982 tại Hà Nội, anh lên án chế độ tàn bạo CSVN nhưng do CS tổ chức, dàn dựng thì thành phần hiện diện (trong và ngoài nước) là người của tổ chức nên việc phổ biến qua thủ thuật tráo trở, đánh lận con đen. (Trong bài Phỏng Vấn Võ Đại Tôn, 40 Năm Đấu Tranh của Hữu Nguyên đã trả lời chi tiết về chuyến trở lại phục quốc và cuộc họp báo).

Khi được ra khỏi trại tù CS, anh cũng được ăn uống và chụp hình đăng báo… Từ nhỏ anh đã chứng kiến những trò gian manh, lật lọng của Việt Minh trong gia đình nhưng không hiểu vì sao anh lại bị gài bẫy dàn dựng như vậy? Điều bí ẩn đó tuy bất thường với mọi người nhưng với anh chỉ là “vở kịch” của bọn chúng trong giai đoạn, anh vẫn tiếp tục con đường đấu tranh suốt cuộc đời ở hải ngoại.

Trong thời điểm đó có hàng vạn sĩ quan, viên chức VNCH đang bị cầm tù ở miền Bắc nhưng CS không dàn dựng mà đem con cờ phục quốc ra với dụng ý đen tối cho thành phần nầy trước công luận. Vào thời điểm năm 1981, ở Úc có ít người Việt tỵ nạn, chưa có tổ chức đấu tranh nào, anh dấn thân trong đơn lẽ, tổ chức là trái tim và con đường quang phục là quê hương.

Với tôi, khi còn ở trong nước đã biết và khi tỵ nạn tại Hoa Kỳ khi đọc hai nguồn tin trái ngược nhau bênh vực và chống đối… nên im lặng. Ngay cả bản thân anh cũng bị xuyên tạc là “Hạ sĩ quan thông dịch viên, viên chức quèn của VNCH”!.

Khi người chồng ra đi, cuối năm 1981 chị Tuyết Mai dẹp quán rồi vào làm việc ở Bưu Điện Úc. Sau khi biết tin chồng bị cầm tù, chị đã vận động với báo chí và chính quyền can thiệp cho chồng (thân phụ chị bị chết trong lao tù CS) nên chị quyết tâm tranh đấu đến cùng cho đến khi cuối năm 1991, Bộ Ngoại Giao Úc báo tin cho biết anh Võ Đại Tôn được ra tù và trở lại Úc… Có lẽ trong hoàn cảnh nghiệt ngã nhất, bi thảm nhất chỉ có người vợ mới cảm thông và lặng lẽ tìm mọi cách để cứu thoát cho chồng. Hình ảnh chị cũng như bao người “vợ tù cải tạo”  đã viết nên “trang sử” đẹp, đáng trân trọng…

Trong email, tôi nói anh viết vài dòng tiểu sử cho chính xác, và anh chỉ viết là người lính, viên chức VNCH, là chiến sĩ đấu tranh cho lý tưởng Quốc Gia, Dân Tộc. Cấp bậc, chức vụ có gì đáng nói… mà điều đáng nói đã thể hiện qua thơ văn của Hoàng Phong Linh, Võ Đại Tôn trong bốn thập niên qua. Nay tuổi anh đã gần đất xa trời, đau yếu những vẫn giữ vững tinh thần chống Cộng, yêu chuộng tự do, dân chủ cho quê hương, đất nước. Tôi hiểu và nhân quyển hồi ký nầy để chia sẻ cho nhau.

Thật ra, viết về hồi ký nầy chỉ là phần nhỏ với tóm lực, phải đọc từng dòng trong hồi ký mới cảm nhận được những gì tác giả nói lên trong tận đáy lòng.

*

Quê nội tôi nằm bên cạnh sông Thu Bồn, từ Quốc Lộ I, từ cầu Cao Lâu chạy dài theo hướng Đông xuống các làng ở phía Nam thành phố Hội An. Tên gọi xã Điện Phương hiện nay qua những lần thay đổi thuộc quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ranh giới xã Điện Phương ở phía Tây thành phố Hội An, phía Bắc giáp Tỉnh Lộ 608 (Vĩnh Điện – Hội An), phía Đông của Quốc Lộ 1 (cạnh cầu Cao Lâu) và phía Nam giáp sông Thu Bồn). Điện Phương vẫn giữ tên các làng cũ như Thanh Chiêm, Phước Kiều, Phú Chiêm, Kim Bồng (thời gian thuộc xã Cẩm Kim)… Theo dòng lịch sử thì những làng nầy được hình thành mấy trăm năm về trước thời Nguyễn Hoàng, trong đó có di dân từ Thanh Hóa. Vài làng nơi nầy nổi tiếng nghề đúc đồng từ thời vua Tự Đức. Nghề bánh tráng và mì Quảng nổi tiếng từ xưa. Làng Kim Bồng rất nổi tiếng về nghề mộc, hầu hết các kiến trúc cổ kính của Hội An đều do bàn tay tài hoa của nơi nầy. Nghề diệt chiếu phổ biến ở nhiều làng.

Dòng họ Tộc Trần có 5 phái nên con cháu rất đông, ở dọc theo tả và hữu ngạn sông Thu Bồn trong hai xã Xuyên Quang, Xuyên Thái, quận Duy Xuyên (nay là xã Duy Phước) cũng gần với làng Kim Bồng. Nhà thờ Tộc Trần của tôi có ở Phú Chiêm và nhà thờ Tộc Võ của anh ở Kim Bồng.

Cũng như các nơi khác của Quảng Nam, đất đai khô cằn vào mùa hè, nghề nông vất vả nên người dân phải sống bằng những ngành nghề khác. Hơn nữa ở địa danh nầy gần sông Thu Bồn nên gánh chịu bao thiên tai vào mùa bão lụt. Quê nội anh Võ Đại Tôn ở Kim Bồng, cũng khoảng thập niên 1920, thân phụ anh ra Đà Nẵng lập nghiệp, xây dựng cơ ngơi vững chắc.

Hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” dày 212 trang, bài giới thiệu của Trần Trung Đạo (trang 5 đến trang 26) ghi nhận những điều, theo tôi, là đồng hương, cùng cảnh ngộ, cùng văn giới, chứng nhân nỗi thống khổ với nhau, nơi cố hương, thăng trầm của lịch sử, cảm nhận nỗi lòng anh Võ Đại Tôn qua thơ văn… mới viết được như vậy. Bài viết là tâm bút, khó có người cầm bút thứ hai trang trải với tận đáy lòng.

“Tôi sinh ra tại Hải Châu, thị xã Đà Nẵng nhưng thực ra nguyên quán dòng họ Ông Cha là làng Kim Bồng, xã Điện Phương… Tôi là đứa con thứ tám trong số mười người con của cha mẹ tôi, chín anh em trai và một chị gái” (trang 32).

“Gia đình bác, cha mẹ và chú tôi, đầu sống chung trong một ngôi nhà tạ Ngã Năm thành phố Đà Nẵng Được xây cất từ năm 1924, hiện nay là Long Phụng Từ Đường thuộc Tộc Võ)” (trang 34). Bác, cha và chú anh trúng thầu với người Pháp xây cất ngôi nhà thờ Thiên Chúa Giáo Chính Tòa (nhà thờ Con Gà) năm 1923, nổi danh công trình độc đáo. Vì vậy cha mẹ anh cho con cái học trường Pháp ở Đà Nẵng.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, Nhật đầu hàng, Việt Minh cướp chính quyền. Pháp trở lại Việt Nam, khi Pháp chiếm lại Đà Nẵng và lập lại hệ thống cai trị, cuộc chiến xảy ra… Hồi ký ghi lại giai đoạn tản cư vì chiến tranh (1945-1950). Giữa năm 1946, sợ chiến tranh xảy ra ở thành phố Đà Nẵng nên gia đình anh di tản về quê nội ở Kim Bồng “Tuổi thơ của tôi bắt đầu đi vào một khúc quanh gai góc, vì chiến tranh” (trang 51).

Rồi từ đó người dân sống trong tình cảnh “một cổ hai tròng”, ngày thì bị Pháp bố ráp (ruồng, càn), Việt Minh bắt phải nộp gạo để nuôi quân trong khi người dân thiếu thốn ăn cơm độn với khoai, sắn. Và đêm thì bị Việt Minh bắt thanh niên (nam, nữ) tham gia lực lượng chống Pháp. Riêng gia đình anh gặp phải tình cảnh trớ trêu vì nghi còn thân Pháp. Việt Minh còn bắt buộc nhà của anh phải treo hình “cụ Hồ” cũng là trò thâm độc vì khi Pháp đi ruồng bố vào nhà mà thấy hình nầy thì đốt nhà để gây lòng hận thù với Pháp. Trong hồi ký, anh tả từng chi tiết về thủ đoạn gây tai họa cho gia đình anh.

Trong một lần Pháp đi ruồng, vào nhà anh lục soát, chú và các anh chị nói chuyện bằng tiếng Tây nên không làm khó dễ gì cả. Nhưng tai họa lại giáng lên đầu nhà anh “Từ lúc có Tây qua làng ruồng bố, rồi có người cố tình phao tin đồn là nhà tôi điềm chỉ cho Tây bắt cán bộ Việt Minh…” (trang 88). Ông “chủ tịch, cán bộ cao cấp của Cộng Sản” là con trai của người tá điền làm ruộng cho nhà anh, trở thành hung thần. Trong khi tất cả cơ ngơi song thân anh ở Đà Nẵng bị Tây tịch thu thì gia đình anh ở làng quê bị kết tội thân Tây. Gia đình bị cô lập, sống trong hoàn cảnh khó khăn, luôn luôn bị rình rập, cả tuổi thơ của anh chịu đựng mọi cơ cực. Nỗi đau tột cùng khi mẹ anh bị ho lao, làm cái chòi nhỏ để ở riêng vì sợ bị lây (theo ý mẹ anh), không có thuốc men nên bị cơn đau hành hạ ngày đêm. Trước tình thế đó “Sau nhiều đêm bàn tán, thêm nhiều ý kiến tính tới tính lui. Tôi được biết bác và cha tôi đồng thuận để cho mẹ tôi về lại Đà Nẵng, có hai chú đi theo” (trang 104). Đoạn đường từ Kim Bồng theo đường bộ ra Đà Nẵng rất khó khăn vì bị kiểm soát gắt gao cả Việt Minh và Tây. “Lúc ra đi, mẹ tôi 43 tuổi, chú Tám Dương 47, còn chú Mười 31 (Tháng 6 năm 1947)” (trang 110). Chuyến đi định mệnh đã biệt tăm cho đến năm 1959, 1960 mới biết thảm cảnh xảy ra!.

“Đến năm 1955, các anh tôi đều đã là sĩ quan trong Quân Đội Quốc Gia. Tôi vẫn còn đi học tại Sài Gòn. Anh Hai tôi được đi tu nghiệp tại Pháp (trường bộ binh  Saint Maxent), có gởi về cho anh Năm tôi một bức thư dài kể lại chi tiết sự kiện năm 1949 về đôi giày cườm của mẹ tôi tại làng Cổ Lưu (xã Điện Nam, Quảng Nam), kèm theo một bản đồ ghi rõ địa điểm liên hệ… Lúc nầy anh Năm tôi phục vụ tại Phân Khu Nam-Ngãi-Định trong chiến dịch tiếp thu hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Anh Sáu tôi thì đã mãn khóa sĩ quan trừ bị Thủ Đức (khóa 4/54, và đi tu nghiệp khóa “commando” ở Watchay – Hải Phòng (Ghi thêm: Khóa 4 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, nhập khóa ngày 23 tháng 11 năm 1953 (dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại) và mãn khóa ngày 1 tháng 6 năm 1954. Tổng số sĩ quan ra trường hồi đó là 1200)… Chúng tôi phải đợi đến năm 1959 (gần 13 năm sau, đêm mẹ và hai chú tôi ra đi từ làng Kim Bồng, 1947) sau khi anh Năm tôi được bổ nhiệm làm Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 2 Bộ Binh… Năm 1960, anh Năm tôi được bổ nhiệm làm tỉnh trưởng Quảng Nam” (trang 118, 119).

Tác giả chỉ gọi anh chị theo thứ tự trong đình như cách gọi của nhiều gia đình mà thôi. Anh Năm của anh là Đại Tá Võ Hữu Thu, lúc đó ở Quảng Nam có sự tranh chấp đảng phái và tôn giáo nên chọn vị tỉnh trưởng của địa phương, không tôn giáo. Đại Tá Võ Hữu Thu nổi tiếng thanh liêm, cương trực, người dân nơi nầy rất quý mến (sau nầy ứng cử vào Dân Biểu Quốc Hội).

(Ghi thêm: Năm 1960, anh Võ Đại Tôn làm Trưởng Ban 5, Trại Biệt Kích Long Thành, anh thông thạo tiếng Pháp và Anh nên không cần thông dịch viên nên sau nầy họ xuyên tạc, gán anh là hạ sĩ quan thông dịch viên. Sang thời Đệ Nhị Cộng Hòa, chính phủ Phan Huy Quát thành lập ngày 16/02/1965 nâng Phủ Đặc Ủy Dân Vận Chiêu Hồi thành Bộ Chiêu Hồi. Tổng Trường đầu tiên là Trần Văn Ân (trong tháng 3) kế đến là đến là Thiếu Tướng Nguyễn Bảo Trị. Anh Võ Đại Tôn, sĩ quan cấp tá trong QL Việt Nam Cộng Hòa, đã từng được biệt phái ngoại ngạch sang nhiều công vụ dân chính và sau cùng Giám Đốc Công Tác Bộ Chiêu Hồi).

Trở lại với hồi ký “Anh Năm tôi có nhờ ông Quận Trưởng quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam lúc bấy giờ (ông Trần Quốc Thái) đưa đi thám sát vùng làng Cổ Lưu (theo bản đồ của anh Hai tôi vẽ lại)… Ông Quận Trưởng còn cho biết là trước đây trong thời kỳ chiến tranh, khu vực nầy do Việt Minh (Cộng Sản) kiểm soát. Có một đảng viên Cộng Sản tên là Huỳnh Thân làm trưởng ban ám sát, nổi tiếng giết người không run tay trong làng nầy và các vùng lân cận. Trong một cuộc hành quân của Quân Đội Quốc Gia, t5en6 thân bị bắt và hiện còn giam tại lao xá tỉnh Quảng Nam ở Hội An…

Qua hồ sơ lý lịch và những bản cung khai của tên Thân nầy, các cơ quan anh ninh Quốc Gia tại địa phương kiểm chứng, anh Năm tôi cho chuyển đương sự về sở An Ninh Quân Đội để thẩm vấn thêm, Anh tôi đích thân hỏi cung, ghi thêm chi tiết nhiều sự kiện vào hồ sơ tội ác của đương sự” (trang 118, 119).

Theo lời kể của hai ông Minh và Miêng (chủ nhà, ân nhân giúp tá túc) và lời cung khai của Huỳnh Thân, tên sát thủ ghi lại:

“Mẹ và hai chú tôi từ giã nhà hai ông Minh và Miêng vào giữa đêm khuya sau khi vào nhà xin tạm nghỉ chân một lúc, băng qua làng Cổ Lưu để ra đường cái thì bị một nhóm Việt Minh (Cộng Sản) bắt giữ… Cả ba người đã bị tra kháo, đánh đập suốt 3 ngày đêm, bị kết tội là tìm đường đi “liên lạc” với Tây” (trang120) và đề cập đến các thủ đoạn tra khảo quá tàn nhẫn, nhất là người đàn bà đang bị bệnh ho lao trầm trọng.

“Hắn và hai tên thanh niên dẫn ba người ra một bãi cát trống, đêm sáng lờ mờ qua ánh trăng khuyết. Không có đem theo đèn đuốc gì cả, chỉ có cầm theo hai cái cuốc. Hắn bắt mẹ tôi ngồi riêng một chỗ. Còn hai chú thì được lệnh lấy cuốc tự đào một cái hố nhỏ. Xong rồi, khi chú Mười tôi còn đang đứng bên miệng hố, chưa biết làm gì thêm, thì thình lình tên Thân chụp một cái cuốc, phang ngang lưng chú một nhát mạnh làm chú ngã chúi xuống hố, nằm sấp, đau quằn quại.

Trước cảnh tượng bất ngờ như vậy, chú Tám Dương tôi chưa kịp la lên thì hắn đứng phía sau dùng chân đạp chú té xuống hố. Chú tôi vừa cố lóp ngóp bò lên vừa la xin tha mạng. Hắn đứng trên miệng hố cát, cầm cuốc phang xuống, trúng ngay vào trán của chú tôi, làm chú té bật ngửa ra, nằm đè trên lưng chú Mười. Hai người chưa chết.

Rồi, hắn đến xốc mẹ tôi đứng dậy trong khi mẹ tôi đang ôm mặt khóc lớn. Hắn lạnh lùng dẫn mẹ tôi đến cạnh miệng hố, xô xuống thật mạnh, mẹ tôi rớt xuống, nằm sấp trên người chú Tám. Hắn đứng trên hố, cầm cuốc cúi xuống phang mấy nhát thật mạnh vào lưng mẹ tôi, làm cả thân hình mẹ tôi quằn cong lại.

Cả ba người chưa chết, nhưng không còn sức bò dậy được nữa, nằm im trong máu, chung một hố cát cạn. Tên Thân và đồng bọn dùng cuốc xúc cát lấp hố lại rồi bỏ đi. Chôn sống!” (trang 124, 125).

Với tội ác dã man tày trời của tên Huỳnh Thân, nhưng người con của mẹ – Đại Tá Tỉnh Trưởng Quảng Nam –  với cái tâm nhân bản của người Quốc Gia, không đem ra xử bắn mà “Sau nhiều ngày bàn tính trước sự đau khổ cùng cực của gia đình, anh Năm tôi đành phải chuyển tên Thân ra lao xá Thừa Phủ ở Huế để cho chính quyến xét xử theo luật pháp về nhiều tôi trạng giết người khác, không để cho chúng tôi thấy mặt hắn” (trang 130).

Ba quan tài được di chuyển từ làng Cở Lưu về bờ sông Thu Bồn gần Hội An để an táng.

Anh lại chứng kiến hình ảnh quá bi thương: Nước Trôi Mồ Mẹ. Năm 1972, anh từ Sài Gòn ra Quảng Nam trong một chuyến công tác, đứng bên nầy bờ sông Hội An thấy nước lụt dâng lên ngập cả làng Kim Bồng bên kia sông, tưởng chừng nước cuốn trôi luôn mồ mẹ anh nên xúc động làm bài thơ:

“Con quỳ bên ni dòng sông

Bên tê mồ Mẹ!

Trời ơi, nước ngập tràn đồng

Từng khúc xương trôi đau lòng con trẻ.

Con mang trong người thịt xương của Mẹ

Chừ trông nước lụt dâng về

Con còn bên ni, Mẹ mất bên tê,

Sóng bao la vỗ, bốn bề Mẹ mô?

Ngày xưa Mẹ chết, con khóc mắt khô,

Chừ xương Mẹ trôi, hồn con nước lụt.

Con quỳ bên ni, linh hồn tê buốt

Mần răng mà về bên tê chừ, Mẹ ôi!

Quê hương nước ngập tận trời

Hồn con khóc suốt một đời không nguôi!…”

(Trang 142, 144)

Sau khi mẹ anh và hai người chú ra đi biệt tăm, cha và người thân trong gia đình anh còn ở lại làng quê Kim Bồng trong 3 năm, năm tháng đó với anh là tháng này bất hạnh, đau thương nhất, địa ngục của của cuộc đời. Tuổi thơ của anh được mẹ cưng nhất, nuông chìều, lúc nào cũng gần gũi bên mẹ nay mất đi hình ảnh thiêng liêng, cao quý nhất mà anh luôn luôn tơn thờ cùng với cuộc sống tận cùng của xã hợi với bao đắng cay!

“Chúng tôi về lại Đà Nẵng sau gần 5 năm (1945-1950) đi tản cư về làng quê Kim Đồng, vì chiến tranh… Tôi đã mất tuổi thơ và điều đau đớn nhất, còn in sâu vào suốt đời tôi mãi đến hôm nay, là tôi đã mất mẹ!” (trang 183).

Cũng như anh, quê nội tôi ở các làng nơi đây lâu đời, thầy tôi là nhà nho, sùng đạo Phật nên rời quê rất sớm khoảng năm 1920 theo dòng Trường Giang vào Thăng Bình mưu sinh với chữ  nghĩa, lập nghiệp và các anh chị ra đời từ đó. Tuổi thơ học ở Hội An nên thỉnh thoảng tôi ghé về quê nội… cho đến nay hơn sáu thập niên, tôi chưa biết gì về cố hương, ngay nhà thờ Tộc Trần và nơi chốn xa xưa chỉ được biết qua hình ảnh, email của các cháu…

Trong thời kỳ Việt Minh, tôi chưa biết gì, chỉ nghe qua lời kể của anh chị trong gia đình, hình như các làng quê miền Trung dọc theo duyên hải, ở đâu cũng vậy, người dân hoàn cảnh “một cổ hai tròng” qua các năm dài. Tôi đã đọc nhiều về sử liệu trong giai đoạn nầy như quyển Chiến Tranh 1946-1954 (từ chiến tranh Việt Minh – Pháp đến chiến tranh ý thức hệ Quốc – Cộng) của Trần Gia Phụng năm 2018, dày 568 trang. Đây là một quyển sách viết rất công phu với chú thích và hình ảnh trong bộ sách Sử Việt Đại Cương của tác giả trong mấy thập niên ở Canada. Nhưng chưa đọc tác phẩm nào viết lại giai đoạn nầy ở làng quê của 3 miền để am tường. Bút ký lịch sử Một Cơn Gió Bụi của cụ Trần Trọng Kim cho đến nay được đánh giá là tác phẩm quan trọng của giai đoạn lịch sử nhưng tổng quát trên chính trường…

Hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” của tác giả Võ Đại Tôn chỉ đề cập đến quãng thời gian 5 năm (1945-1950) xảy trong gia đình và nơi cố hương với gọng kìm giữa Việt Minh & Pháp. Tháng 6 năm 1948, Hiệp định Vịnh Hạ Long, Pháp đồng ý thành lập Quốc Gia Việt Nam gồm cả ba miền Bắc Trung Nam, nằm trong Liên Hiệp Pháp. Hè năm 1949 chính phủ Quốc Gia Việt Nam ra đời, cựu hoàng Bảo Đại về nước làm Quốc Trưởng, đất nước có hai chính phủ trong tình trạng tranh tối tranh sáng. Theo sách của Trần Gia Phụng: “Lãnh thổ hai chính phủ không phân biệt giới tuyến rõ rệt. Chính phủ nào cũng tự nhận là chủ nhân chính thống toàn bộ đất nước” (Sđd trang 235)… nên ngoại trừ ở những thành phố lớn, những nơi “xôi đậu”, làng quê bị Việt Minh răn đe, ám sát người theo Quốc Gia và đảng phái đối lập… tình trạng càng căng thẳng và bi đát giữa cuộc chiến ý thức hệ Quốc/Cộng trước khi phân chia hai miền chiến tuyến. Qua sử liệu giúp tôi liên tưởng đến các bài viết đã đọc với bối cảnh, thân phận, nỗi đau thực sự trên quê hương!

Từ lâu, qua thơ văn của anh Võ Đại Tôn mới nhận nhau là đồng hương, khi đọc lại hồi ký của anh Võ Đại Tôn mới biết thêm được gốc gác, gợi lại trong tôi niềm cảm xúc.

Anh viết hồi ký nầy, theo lời chia sẻ, bằng trái tim, cảm xúc tột cùng và theo anh, nhiều lúc mắt nhòe đi trước màn hình computer vì quá xúc động. Lời thật chân tình và thán phục anh có trí nhớ rất tốt.

Có hiểu nỗi lòng, lý tưởng của anh mới hiểu được vì sao khi vừa mới tỵ nạn tại Úc, vợ anh còn trẻ, con thơ nhưng anh đành từ bỏ để chọn con đường gian nguy.

Tôi không đề cập đến vấn đề chính trị ở đây vì trong quá khứ, như đã nói, anh là nạn nhân “đi giữa hai lằn đạn”. Anh đã đi  khắp nơi gặp gỡ, trình bày công cuộc dấn thân cho chính nghĩa. Như đã đề cập, anh không bao giờ nhắc đến thân thế của gia đình, của những người anh trong Quân Lực VNCH mà chỉ nói về bản thân từ khi rời quê hương và trở lại cố hương với cái mộng, nếu gọi là “đội đá vá trời” để “quang phục quê hương”! Vì sao và tại sao, chỉ có trái tim chân chính của anh với tinh thần đầy nhiệt huyết người con họ Võ ở Kim Bồng ảnh hưởng những bậc tiền nhân ngày xưa của Quảng Nam đã hy sinh cho đại cuộc.

Sự dấn thân cho quê hương của anh Võ Đại Tôn đã trả cái giá quá đắt từ lao tù và cả thị phi, từ tấm lòng chân chính của bản thân đến sự hoài nghi của nhiều người và sự đánh phá của kẻ thù… nhưng với tôi, anh vẫn là chiến sĩ, người lính của QLVNCH.

Với bút hiệu Hoàng Phong Linh qua các bài thơ trước năm 1975. Sau nầy với các thi phẩm Lời Viết Cho Quê Hương, Đoản Khúc Người Ra Đi và Tiếng Chim Bên Dòng Thác Champy, nhà xuất bản Bất Khuất ấn hành năm 1992, dày 119 trang.

Một số bài thơ của anh đã được phổ nhạc, trong đó có bài Mẹ Việt Nam Ơi! Chúng Con Vẫn Còn Đây, sáng tác năm 1972 được Nguyễn Ánh 9 phổ thành ca khúc vào tháng Giêng 1975. Ca khúc nầy được các ca sĩ trình bày, phổ biến rộng rãi vào thời điểm đó. Ở hải ngoại, Việt Dzũng và Nguyệt Ánh khi lưu diễn khắp nơi đều mở đầu với ca khúc nầy. Bài thơ và ca khúc nầy cho đến nay vẫn được người Việt tị nạn hải ngoại coi như lời tâm niệm.

Lời kết trong hồi ký của anh: “Tôi đã mất Tuổi Thơ và điều đau đớn nhất in sâu vào suốt cuộc đời tôi mãi đến hôm nay là tôi đã mất Mẹ” niềm đau và nỗi lòng của người con, chiến sĩ Quốc Gia bị đánh mất quê hương!

*

Trong những năm qua, anh nằm trong bệnh viện, thỉnh thoảng hai anh em email với nhau, anh không than cho bệnh tật bản thân vì đã một đời cống hiến cho quê hương và đã trải qua bao nhiêu nghiệt ngã, đau thương nhưng than cho tuổi già đau yếu nên không được theo đuổi giấc mơ cho quê hương được tự do, thanh bình!

Nay anh đã ra người thiên cổ! Vĩnh biệt Chiến Hữu Võ Đại Tôn! Xin thắp nén hương lòng tưởng nhớ đến anh.

Little Saigon 5/2025

Vương Trùng Dương




TRANG THƠ NHẠC LÊ TUẤN

Trên Đỉnh Mây Bay

Là bài thơ tự do tôi viết để thực hiện tình khúc Trên Đỉnh Mây Bay 

theo giai điệu dân ca Quan Họ Bắc Ninh kết hợp với Ca Trù.

Giọng ca thánh thót, êm dịu hòa cùng âm thanh Stero, hình ảnh sống động, 

tất cả đã tạo thánh một tác phẩm nghệ thuật độc đáo.

Xin mời thưởng thức.

Lê Tuấn

Trên Đỉnh Mây Bay

Mênh mông mênh mông nhạt nhòa mưa thu

Vi vu, vi vu, gió thổi sương mù

Nỗi nhớ hiện về thương kẻ si tình

Lối vắng thầm thì nhớ người trong mộng.

Trên đỉnh núi cao mây trời lồng lộng

Xuống tìm thung lũng thảm cỏ hoa vàng

Hồn anh lang thang

Vào thăm nhà cỏ, nhớ em tình muộn

Ta hỏi thăm một câu

Tình từ đâu che giấu.

Khi nào hết vấn vương?

Cao tận mây trời phiêu bạc chim bay

Chốn trần gian hão huyền như cõi mộng

Tình ở nơi đâu, nơi đâu

Đi đâu . . . về đâu?


Gãy cánh chim bằng giữa trời lồng lộng

Chạm mối tình si, người ôm trọn nỗi sầu

Một thời dấu yêu vét cạn dòng sông sâu.

Ta hỏi em một câu

Bao giờ ta hết tơ vương?

Tình tan theo lẽ vô thường?

Tế Luân

05-25-25

Mênh Mông Sương Khói

Mênh mông sương khói nhẹ bay

Em xòe tay bắt chùm mây sương mù

Tưởng rằng nắm cả thiên thu

Nào ngờ một nhúm phù du hão huyền.

Một làn khói chợt thôi miên

Vào thăm ký ức lụy phiền trăm năm

Lụa vàng óng ánh tơ tằm

Khoác lên tấm áo hương trầm vấn vương.

Đêm trăng huyền ảo mù sương

Ngày mai tiếp bước bụi đường phong vân

Buồn thương nỗi nhớ xa gần

Để cho lệ ấy tần ngần vết đau.

Người đi tình vội theo sau

Phố xưa trời rộng đổi màu hoàng hôn

Hoa sen chớm nở bên cồn

Sương khuya thấm ướt cõi hồn thi nhân.

Hoa vàng sương khói phù vân

Mây bay phủ bóng đường trần tha phương

Lang thang khắp nẻo đoạn trường

Đời trôi ngày tháng vô thường mai sau

Tế Luân

====

Nỗi Buồn Volume 1&2 – Thơ Louis Tuấn Lê – Hòa Âm AI

Nỗi Buồn

Có nỗi buồn bay chạm nhánh cây

Chiều nghiêng thấp thoáng tím chân mây

Men theo kỷ niệm ngày tháng cũ

Nghe gió vui đùa ngọn cỏ may.

Hoa lá xanh mùa đã hóa thân

Như còn tiếp nối tuổi thanh xuân

Sao nghe nức nở hồn viên mãn

Nối nhịp cầu đưa tình đến gần.

Tiếng nhịp đêm thâu khóc tiếng đời

Nhấn chìm mộng ước lòng chơi vơi

Đèn đêm vụt tắt trong đêm tối

Để mất tương lai mất nụ cười.

Cuộc sống còn vương bao khốn khó

Bàn tay giữ lấy những đường tơ

Đông về áo mỏng che đêm lạnh

Lạnh cóng tay buồn viết ý thơ.

Tế Luân




ĐỖ THÔNG MINH – THƯ ĐÔNG KINH -15/5/2025




SƯƠNG LAM – Về Miền Đất Phật – Nơi Phật Đản Sinh.

****

***




Tiếng Hát Ngọc Huyền Mtl: Ca Khúc Lettre à Elise (Cho Tình Yêu). 2) Toi Jamais – (Anh Thì Không).

**




Ca Khúc NHỚ SÀI GÒN – Thơ Tuyết Vân – Music Created By Phương Hoa – Trình Bày: SunoSinger




KIỀU MỸ DUYÊN – NÊN MUA NHÀ MÙA NÀO? – ĐỪNG ĐỢI MÙA HÈ! – NGƯỜI CÙI SAO NHIỀU QUÁ? và Chương Trình CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA!




MEMBER LIST (TEST)






    Trang thơ Tuyết Nhung




    CA KHÚC MỚI: MỘNG TƯỞNG và NIỀM QUÊ. Thơ: Phạm Phan Lang – Nhạc: Trần Đại Bản và Mộc Thiêng. Ca sĩ: Anka Ngọc Thúy & Đông Nguyễn.

    ==




    BÀI SƯU TẦM – THẰNG NGỤY CON

    Khi bị chuyển về khám đường Bà Rịa, tôi bị nhốt vào một căn phòng rất nhỏ. Trong phòng ấy đã có sẵn một người: ông Đoàn. Cửa phòng là một bửng sắt khá dày, bị sét rỉ toàn bộ, chứng tỏ nó đã khá lâu đời. Sét rỉ đã xoi tấm cửa này thủng nhiều lỗ cỡ đầu ngón tay. Đặc biệt có một lỗ dưới cùng rộng có thể thò lọt cả bàn tay. Những lỗ đó đã cho chúng tôi chút ánh sáng trong căn phòng ít khi được mở này.

    Một hôm, tôi đang rầu rĩ bỗng nghe nhiều giọng nữ xôn xao bên ngoài. Tôi chạy lại cửa dán mắt vào mấy lỗ thủng. Thì ra phòng tù nữ ở gần phòng tôi được cho ra tắm giặt. Thật là một cảnh sinh hoạt rộn ràng.

    Tiếng gàu thau chạm nhau rổn rảng, tiếng người thúc giục nhau, chen lấn cãi cọ nhau ỏm tỏi. Họ giặt đồ, tắm rửa, chải tóc, phơi quần áo…. trông ai cũng làm việc với vẻ gấp rút. Người quá đông mà chỉ có hai cái giếng, thì giờ cho phép lại giới hạn, nên họ sợ hết phần …

    Tôi bỗng giật mình khi thấy một thằng nhỏ từ trong hiên nhảy ra. Nó chạy vụt lại phía hai con vịt xiêm đang rỉa lông cho nhau trước cửa phòng tôi làm chúng hoảng hốt bay xa một đoạn. Một người đàn bà gọi với:

    -Không được nghịch, mẹ đánh đấy!

    Thằng nhỏ đứng lại. Qua giây phút hoảng hốt, đôi vịt lại tiếp tục rỉa lông cho nhau. Thằng nhỏ khoảng chừng ba bốn tuổi, trắng trẻo, kháu khỉnh làm sao! Tại sao nó lại lọt vào chốn tù ngục này? Nó làm sao chịu được cảnh thiếu ăn, thiếu bạn bè, thèm khát đủ thứ, ngày ngày ru rú trong một căn phòng chật hẹp với không khí ngột ngạt, hôi hám ấy? Tâm tính nó sẽ ra sao về sau? (Sài Gòn trong tôi/ Ngô Viết Trọng)

    Thằng nhỏ có vẻ khoái đôi vịt xiêm lắm. Nó đang say sưa ngắm chúng thì mẹ nó gọi trở về phòng. Nó vừa đi vừa ngoái cổ nhìn lui làm mẹ nó phải giục mấy lần. Tôi quay lại hỏi ông Đoàn:

    -Bên phòng nữ có một thằng nhỏ dễ thương quá! Vì sao nó phải vô trong này ông biết không?

    Ông Đoàn nói:

    -Nghe đâu cha nó là một viên thiếu tá đã đi Mỹ còn mẹ nó là một nhân viên Thiên Nga. Khi tôi vô đây đã thấy có nó rồi! Lúc đó nó mới biết đi lẫm đẫm.

    Tôi tức cười thốt lên:

    -Sau này có thể nó phải ghi vào lý lịch: Mới một tuổi tôi đã phải sống trong lao tù khổ sai của bọn cộng phỉ man rợ …

    Mấy hôm nay tôi chỉ được phát mỗi ngày hai vắt nhỏ bột sắn xay chia làm hai bữa với một ít canh cải bẹ xanh mặn chát. Không hiểu thằng nhỏ có được phát tiêu chuẩn khẩu phần không hay phải ăn vào phần của mẹ nó? Tôi nói:

    -Thằng nhỏ mặc sức mà thèm đường thèm sữa!

    Ông Đoàn cười:

    -Ông khỏi lo! Mấy ngày thăm nuôi nó được cán bộ thả đi lung tung, người ta cho nhiều quà lắm. Ngay tại phòng nó lại có rất nhiều người đã từng làm mẹ, làm chị, chẳng ai nỡ để một đứa nhỏ dễ thương như thế đói đâu! Tôi đã từng thấy một con chó mẹ nằm cho mấy con mèo con bị mất mẹ bú. Thiên tính thương trẻ của các bà làm mẹ hẳn còn cao hơn nhiều!

    Tôi cảm thán:

    -Vậy sao? Hoá ra nó lại sướng hơn lũ con tôi! Tôi có ba thằng con, thằng út có lẽ cũng cỡ tuổi nó. Khi tôi đi tù nó mới vừa đúng một tuổi, chưa biết đứng. Trước kia mình đâu biết dành dụm lo xa, khi vào tù tôi chẳng có chút gì để lại cho vợ con cả. Nghĩ đến cảnh một người đàn bà chân yếu tay mềm phải chạy vạy để nuôi sống ba đứa con giữa lúc này tôi đau ruột lắm Nhưng ăn năn cũng muộn mất rồi!

    Mấy hôm sau phòng tù nữ lại được mở cho ra tắm giặt. Thằng nhỏ sau khi tắm rửa xong lại chạy sang trước phòng tôi. Không thấy đôi vịt, nó ngồi vào bậc thềm lưng dựa vào cửa phòng. Tôi thò ngón tay ra lỗ thủng chọt vào lưng nó một cái. Nó giật mình nhỏm dậy quay lại:

    -Hết hồn!

    Tôi lấy làm thú vị khi nghe một thằng tí hon lại dùng cái tiếng “hết hồn” có vẻ người lớn đó. Biết tôi đùa, thằng nhỏ lại ngồi xuống chỗ cũ. Tôi hỏi:

    -Cháu tên gỉ?

    -”Ngụy con”!

    Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

    -Chú hỏi cháu tên là gì?

    -”Ngụy con”!

    -Ai đặt tên ấy cho cháu?

    -Mấy chú cán bộ!

    -Thế mẹ cháu không đặt tên cho cháu à?

    -Có, mẹ cháu đặt tên “con”, mấy chú cán bộ thì kêu “ngụy con” rồi các cô dì trong phòng cũng kêu cháu là ”ngụy con”!

    Trời đất ơi! Cái tên này có thể tạo một ấn tượng khó đoán khi thằng nhỏ khôn lớn! Tôi định hỏi vài câu nữa nhưng nó đã bị mẹ nó gọi về phòng

    Rồi ngày thăm nuôi đến – ngày đó coi như ngày Tết của khám đường. Các phòng giam đông người đều được mở cửa suốt thời gian cho thăm để người ta tiện đưa đồ thăm cũng như dẫn dắt những người được gặp mặt người thân ra vào.

    Những người được ra gặp người thân phải mặc đồ lành sạch. Ai không có phải đi mượn đồ của người khác. Vì vậy, ngày thăm nuôi tù vẫn ăn mặc sáng sủa khác hẳn ngày thường. Các tên cán bộ cũng giả dối dẹp bớt cái vẻ nghiêm khắc hàng ngày để hồ hởi thưởng thức những hơi khói thơm…

    Những người không được thăm cũng vui hơn vì ít nhất cửa phòng mở họ cũng hưởng được chút ánh sáng và không khí dễ thở. Họ cũng có thể hưởng ké được chút quà tươi hoặc sớt được phần ăn tiêu chuẩn của những người được thăm không dùng tới. Những phòng ít người phần nhiều đang bị kỷ luật, ít được thăm, cửa đóng im ỉm, nhưng ít nhất ngày đó họ cũng yên trí không bị cán bộ quấy rầy.

    Nói chung, trong ngày thăm nuôi, bất cứ ai đang sống tại khám đường cũng chia được ít nhiều niềm vui, dù chỉ là niềm vui tạm bợ giữa một hoàn cảnh bất hạnh. Kẻ hưởng được hạnh phúc thật sự hoạ chăng chỉ có một người: “thằng ngụy con”!(Sài Gòn trong tôi – Ngô Viết Trọng)

    Trong lúc cán bộ và tù trật tự bận rộn mang đồ thăm hoặc dẫn tù đi gặp người thân thì thằng nhỏ tung tăng chạy hết phòng này đến phòng khác. Nó rất khôn, cứ gặp cán bộ lại cất giọng lảnh lót “chào cán bộ” thật dễ thương. Vì thế không ai la rầy, cản trở nó cả.

    Tôi nghĩ chính thằng nhỏ là một nhân tố làm giảm bớt vẻ ngăn cách giữa cán bộ và tù. Đến đâu nó cũng được tiếp đón nồng hậu, quà cứ nườm nượp vào tay nó. Bao nhiêu lần nó sung sướng ôm đầy quà trên tay: bánh tráng, cốm bắp, kẹo…về giao cho mẹ nó. Trông nét mặt hớn hở của nó vào những lúc ấy ai mà chẳng vui lây!

    Rồi một tháng trôi qua, lại đến kỳ thăm nuôi. Hôm ấy trời mưa lâm râm và có gió hiu hắt. Tôi lại dán mắt trước cửa hưởng ké niềm vui của mọi người. Thằng nhỏ lại thả sức tung tăng đi nhận quà.

    Thấy trời hơi lạnh, lại sợ con bị ướt nên mẹ nó đã cẩn thận bận thêm cho nó một cái áo mưa bằng nylon khá gọn. (Sài Gòn trong tôi/ Ngô Viết Trọng)

    Lần ấy, có lẽ vì quà tặng hơi nhiều, thằng nhỏ lại không biết sợ lạnh, nó cởi cái áo mưa làm đồ đựng. Khi nó đang ôm bọc quà hí hửng chạy về phòng thì gặp Sơn, một tên cán bộ hung ác, nghiêm khắc nhất khám đường. Gã tươi cười một cách đểu cáng, mất dạy, đón nó lại:

    -”Ngụy con” có nhiều quà quá, chia cho chú với nào!

    Thằng nhỏ lính quýnh giẫm vào chỗ đất trơn, té oạch một cái làm quà văng lung tung. Tên Sơn cúi xuống lượm giùm. Xong, gã vờ bốc lấy một gói giấy, bảo:

    -Gói này cho chú xin nghe!

    Thằng nhỏ tưởng thật hoảng hốt:

    -Không được đâu! Gói này không được đưa cho cán bộ coi!

    Nghe thằng nhỏ nói hơi lạ tai, tên Sơn nghi ngờ mở cái gói ra xem. Gã bỗng trừng mắt đạp vào ngực thằng nhỏ một cái làm thằng bé ngã bật ngửa. Thằng nhỏ nằm lặng đi một hồi rồi mới khóc nấc ra tiếng. Ai nấy chới với chưa hiểu chuyện gì thì nghe tiếng tên Sơn nạt lớn:

    – Đ.M. đồ cái giống nguỵ ra khác, chưa ráo máu đầu đã học phản động!

    Quay lại phía tù trật tự, tên Sơn hét:

    -Bắt nó quỳ dưới cột lưới bóng rổ!

    Lập tức thằng nhỏ bị lôi dậy, kéo đi. Liền đó tên Sơn dẫn một anh tù trật tự khác đến phòng B5. Gã đứng trước cửa hoạnh hoẹ hỏi chuyện. Lát sau một anh tù vừa mới được thăm nuôi hồi sáng bước ra khỏi phòng. Tên Sơn bắt anh tù đứng nghiêm rồi tha hồ đấm đá người tù khốn khổ, tội nghiệp. Anh tù nhiều lần bị ngã nhưng tên Sơn lại bắt đứng lên để đấm đá tiếp hết sức tàn bạo.

    Trong chốc lát anh tù đã xác xơ, rục rã. Nhưng tên Sơn ác ôn vẫn chưa tha, gã còng cắp cánh tay anh ta lại rồi sai người đưa vào phòng kỷ luật.

    Trời vẫn mưa lâm râm, gió vẫn hiu hắt. Thằng nhỏ vẫn quỳ dưới chân cột lướí bóng rổ. Tên Sơn vẫn tiếp tục ra vào kiểm soát việc thăm nuôi. (Sài Gòn trong tôi/ Ngô Viết Trọng)

    Quá nóng ruột, người mẹ phải liều vói mặt ra khỏi phòng van xin chéo véo. Nhưng tên Sơn cứ phớt lờ, cả giờ sau gã mới chịu cho thằng nhỏ tội nghiệp về phòng. Người nó lạnh như cục nước đá, run lập cập, nói không thành tiếng….

    Buổi tối, khi đưa cơm vào phòng tôi, tên Sơn còn ác độc cảnh cáo:

    -Các anh coi chừng, chớ lợi dụng “thằng ngụy con” để thông tin tức với nhau! Dù là chỉ hỏi thăm sức khoẻ tôi cũng trị trắng máu ra!

    Giờ thì tôi đã hiểu là anh bạn tù ở phòng B5 đã phạm nội quy của khám đường. Về sau tôi được biết rõ hơn là anh này đã gởi quà với mấy lời nhắn cho một người quen ở phòng tù nữ. Vụ trừng phạt ấy cứ lởn vởn ở trong đầu tôi suốt đêm. Tội nghiệp thằng nhỏ đã bị đòn lại phải chịu đựng ướt lạnh suốt mấy giờ.

    Sáng sơm hôm sau, tôi đã phải thức giấc bởi tiếng kêu cứu từ phòng tù nữ:

    -Báo cáo cán bộ A5 có người bệnh nặng!

    Tôi giật mình: biết đâu lại là thằng nhỏ? Tiếng từ phòng trực hỏi lại:

    -Nặng bao nhiêu ký?

    Tiếng kêu cứu từ phòng nữ có vẻ khẩn thiết hơn:

    -Báo cáo cán bộ, phòng A5 có người sắp chết!

    -Nghe rồi, đợi đó giải quyết!

    Chừng nửa giờ sau tôi nghe có người nói chuyện ồn ào trước sân. Có lẽ cán bộ y tế đã đến.

    Rồi cả khám đường yên ắng trở lại. Gần sáng tôi lại bị ông Đoàn đánh thức:

    -Ông nghe gì không?

    Tôi lắng tai để nghe. Trời ơi, rõ là tiếng kêu khóc thảm thiết của một người đàn bà:

    -Con ơi con, sao nỡ bỏ mẹ mà đi như thế con ơi! Con tôi chưa đầy ba tuổi đã biết gì đâu mà phản động, đau đớn lắm trời ơi!…

    Tôi giật mình thở dài: Trời ơi, thằng nguỵ con!!!

    Liền đó, tôi nghe có tiếng nạt nộ của tên cán bộ Sơn mọi rợ ngu dốt, vô giáo dục:

    -Để con bị sưng phổi không chiụ lo báo cáo sớm, bây giờ không để người ta chôn cất còn khóc gào đổ thừa cho ai?

    Tiếp đó, tôi lại nghe nhiều tiếng khóc nấc nghẹn ngào, đau khổ, uất hờn của người đàn bà tội nghiệp…

    (Sài Gòn )




    THƠ BẢO TRÂM: Nửa Thế Kỷ & Cứu Nước.




    VTLV TRANG ĐẶC BIỆT NGÀY CỦA MẸ. Thành Viên VTLV và Thân Hữu.

    BÀI THƠ TẶNG MẸ.     CAO MỴ NHÂN

    Tặng Mẹ bài thơ viết dở dang

    Đèn trời thắp sáng cửa thiên đàng

    Mẹ đi khi đó con ngơ ngác

    Bà khóc lúc nào lệ chứa chan

    Hơn nửa trăm năm rời đất Bắc

    Đôi phần nhật nguyệt sống trong Nam

    Chẳng bao giờ nghĩ về quê cũ 

    Đốt nén hương xa thấy bẽ bàng

    Ngày Lễ Mẹ  danh vang xứ người

    Hoan ca phụ nữ đón hoa tươi

    Bạch hồng đài các thơm vòng cổ

    Hoàng cúc hồn nhiên thắm nụ cười

    Không một niềm vui thêm kỷ niệm

    Tròn nguyên nỗi khổ mãi trùng khơi

    Kiếp sau hạnh ngộ làm con Mẹ 

    Mẫu tử tình thâm suốt cuộc đời …

    Rancho Palos Verdes  8 – 5 – 2025

               CAO MỴ NHÂN 

       11 -5 – 2025

    NHỚ MẸ HIỀN – THƠ Trần Công/Tiền Giang Tử

    Nhớ thương Mẹ lắm, Mẹ hiền ơi!

    Mẹ đã xa con mãi mãi rồi

    Đã mấy mươi năm con mất Mẹ

    Mà lòng thương nhớ vẫn không nguôi.

           Mẹ đã đưa con đến với đời

           Khổ công dưỡng dục con nên người

           Đến ngày ly loạn con xa Mẹ

           Không gặp mẫu thân thưa mấy lời.

    Ngày Mẹ bước lên tàu thiên cổ

    Con đang lưu lạc ở quê người

    Không về gặp Mẹ giờ phút cuối

    Đau lòng con lắm, Mẹ hiền ơi!

       Nuôi con nhờ lúc tuổi về già

           Đến lúc Mẹ già, con bỏ đi

           Tích cốc phòng cơ, cơ bất cốc

           Dưỡng nhi đãi lão, lão vô nhi.

    Hương lòng bốc khói tận trời xanh

    Tưởng nhớ công ơn đấng sanh thành

    Đã lỡ kiếp này con bất hiếu

    Xin nguyền đáp nghĩa kiếp lai sanh.

                          Hoa Đô(Lockwood House)

                          Trần Công/Tiền Giang Tử.

    CHÙM THƠ VỀ MẸ – ĐÔNG RY NGUYỄN

    BÁNH XÈO CỦA MẸ NGÀY MƯA

    *
    Hôm nay được đãi bánh xèo
    Mực cơm tôm thẻ nước lèo rau xanh
    Ngồi ăn trong dạ chẳng đành
    Bâng khuâng chống đũa nhớ hình ảnh xưa
    Bánh xèo Mẹ đúc ngày mưa
    Bột không với chút dầu dừa mà ngon!

    *
    Nhớ thuở xưa những ngày mưa lạnh lẽo
    Cha thường kêu mẹ đúc bánh xèo
    Thấy đàn con háo hức hò reo
    Mẹ vui vẻ liền đi ngâm gạo
    Sang hàng xóm xay nhờ bột nhão
    Lục măng-rê tìm lại chén dầu dừa
    Rau ngoài vườn đủ thứ chẳng cần mua
    Thế là đủ cho khuôn tròn lên bếp nóng:

    Củi riu riu
    …lửa hồng lan sức ấm
    Dầu dừa thơm
    …réo gọi vị con tì
    Tiếng xèo xèo
    …bột chín nổ văng đi


    • Bánh nóng hổi
      …mẹ hớt vào lá chuối
      Chén mắm cái
      …đỏ au màu ớt tỏi
      Chấm vào nhai
      …tay quẹt mũi hít hà!
      Nhìn con ăn
      …ngấu nghiến mẹ cười xoà
      Niềm hạnh phúc
      …bừng lên bên ánh lửa
      Cuộc sống nghèo
      …nhưng nghĩa tình chan chứa
      Quên sao đành
      ….hình ảnh mẹ thân thương!

    • Xa rồi tổ ấm quê hương
      Giờ con chén đắng viễn phương một mình
      Chiều nay mưa bất thình lình
      Ngồi trong quán lạ nhớ hình ảnh xưa…

    • Bánh xèo mẹ đúc ngày mưa
      Bột không với chút dầu dừa mà ngon!

    • –Chàng Đông Ry Nguyễn.

    Mẹ Ơi…!

    Kiều My

    Tháng Năm lại về, mang theo nắng nhẹ và hương thơm của những cành hoa mẫu đơn – loài hoa tượng trưng cho tình mẹ. Giữa cuộc sống nơi xứ người, lòng con luôn hướng về Mẹ – người đã âm thầm nuôi con khôn lớn bằng cả một đời hy sinh. Dù Mẹ còn hay đã khuất, Mẹ vẫn là hình ảnh thiêng liêng không gì sánh bằng, hình bóng Mẹ vẫn luôn là nơi bình yên nhất trong trái tim con.

    “Tình Mẹ” thật thiêng liêng và sâu lắng! Có lẽ trên đời này, không có tình cảm nào dịu dàng, bền bỉ và bao la như tình mẹ. Dù ta lớn lên, đi xa hay trải qua bao sóng gió, thì vòng tay và trái tim của mẹ vẫn luôn là nơi chốn bình yên nhất.

    Khi con lớn khôn rời xa vòng tay Mẹ, đi đến những chân trời xa lạ rộng mở, con cảm thấy thấm thía nỗi nhớ mỗi lần nghe giọng Mẹ qua điện thoại, mỗi lần thấy bóng dáng ai đó giống Mẹ giữa chợ đông người. Những lời Mẹ dặn con năm nào, giờ đây vang vọng mãi trong tâm hồn con, như ngọn hải đăng soi lối giữa giông tố cuộc đời. Mẹ ơi, nếu có điều gì con luôn muốn nói – ấy là: Con thương Mẹ và con biết ơn từng phút giây được làm con của Mẹ. Dù Mẹ đã ra đi, con vẫn tin rằng tình yêu của Mẹ  luôn dõi bước con đi trên đường đời đầy chông gai này và chở che con như thuở nào. Ngày Mother’s Day, con thầm nói: “Mẹ ơi… con thương Mẹ và nhớ Mẹ thật nhiều!”

    Ngày Hiền Mẫu, để nhớ về người Mẹ đã ra đi trong nỗi ngậm ngùi– Người đã để lại trongcon một khoảng trống không gì lấp đầy; nhưng cũng là suối nguồn thương yêu bất tận, sống mãi trong tim con. Con nhận ra: Mẹ đã không còn nữa, Mẹ đã về cõi vĩnh hằng; nhưng tình yêu Mẹ để lại vẫn còn nguyên vẹn trong con như ngày nào. Con nhớ Mẹ  từng khoảnh khắc sống trong đời, là khi con nấu món canh chua Mẹ từng ưa thích, nghe bài hát Mẹ hay hát không trọn vẹn, hay những câu nói ví von của Mẹ… Những điều nhỏ bé ấy cứ âm thầm nhắc con về Mẹ – về một hình bóng dịu dàng, thân thương mà vĩnh viễn con không thể gặp lại lần nữa.

    Có những nỗi nhớ không thể gọi thành tên, chỉ biết rằng từ thẳm sâu trong tâm hồn, con luôn có một chỗ dành cho Mẹ – không ai có thể thay thế. Và con tin, ở một nơi nào đó thật bình yên và thanh thản, Mẹ vẫn dõi theo con. Mỗi lần con vấp ngã, con vẫn cảm nhận được bàn tay Mẹ vô hình đỡ con dậy. Mỗi lần con làm được điều tốt, dường như có nụ cười của Mẹ thoáng hiện trên nền trời mây trắng.

    Ngày Mother’s Day, con không thể tặng Mẹ một bó hoa, không thể ôm Mẹ thật chặt; nhưng con có thể thắp lên một ngọn nến, một nén nhang và thì thầm với trời xanh: Mẹ ơi, con nhớ Mẹ vô cùng… và con sẽ sống sao cho xứng đáng với tình yêu Mẹ dành cho con cả một đời.

    Ngày Hiền Mẫu, tôi nhớ lại ngày tôi rời nhà, Mẹ không khóc trước mặt tôi, đôi mắt Mẹ đỏ hoe và Mẹ nắm chặt tay tôi hơn thường lệ. Mẹ dặn dò đủ thứ –“Qua đó nhớ giữ gìn sức khỏe và cẩn thận mọi sự việc nơi xứ lạ quê người, nghe con…”; rồi Mẹ gói ghém từ cái áo ấm đến thuốc cảm cúm đặt trong giỏ xách cho tôi.  Biết Mẹ lo, nhưng cũng biết Mẹ tự dặn lòng phải mạnh mẽ, để không làm tôi chùn bước. Mẹ tôi không biết nói những lời triết lý cao siêu, không giỏi thể hiện bằng những câu thơ văn, Mẹ chỉ lặng lẽ yêu thương bằng những chăm sóc chu đáo cho tôi. Tình Mẹ tưởng như giản dị mà hóa ra thiêng liêng vô cùng. Nhưng những ngày ấy đã lùi xa vào ký ức. Dù vậy, tôi biết tình mẹ chưa bao giờ xa tôi. Nó vẫn ở đây, trong từng nhịp thở, từng dòng chữ tôi viết, từng đêm trăn trở nhớ mẹ giữa mùa đông lạnh.

    Ngày mẹ ngã bệnh, tôi đang ở xứ người và phải lo toan nhiều việc. Mẹ nói: “Đừng về vội, con à. Mẹ còn chịu được.” Tôi nghe mà nhói lòng, vì biết Mẹ  sợ tôi lo lắng và bận tâm. Tôi cứ ngỡ còn thời gian một tháng nữa, hai tháng nữa, hay lâu hơn nữa… Rồi bỗng một ngày điện thoại reo giữa đêm khuya… Tôi lặng người! Thời gian không chờ ai, và Mẹ tôi… đã không chờ đợi được nữa!

    Chuyến bay trở về nhà  hôm ấy là chuyến đi dài nhất trong đời tôi. Không phải vì khoảng cách địa lý, mà vì lòng tôi nặng trĩu. Tôi không dám khóc giữa sân bay đông người, nhưng trong tim tôi, nước mắt đã chảy từ lâu – chảy từ khoảnh khắc tôi biết mình đã không kịp trở về, để nhìn Mẹ lần cuối và nghe Mẹ trối trăn!

    Tôi đứng trước bàn thờ Mẹ, gục đầu, thì thầm: “Mẹ ơi, con về rồi đây… Nhưng muộn quá phảikhông Mẹ?” Mẹ lặng thinh! Chỉ có khói nhang bay lên di ảnh của Mẹ làm nhạt nhòe mắt Mẹ như ánh mắt Mẹ ngày tôi xa lìa gia đình. Từ ngày ấy, tôi sống với một vết thương không thể lành – vết thương của sự xa cách cuối cùng. Nhưng cũng từ đó, tôi hiểu sâu hơn về “tình mẹ”: đó là tình yêu không cần sự có mặt, vẫn âm thầm nâng đỡ tôi mỗi ngày, dù Mẹ đã đi xa. Giờ đây, mỗi khi nhìn lên bầu trời, tôi lại khẽ nói: “Mẹ ơi, con nhớ mẹ nhiều lắm.”Và tôi tin đâu đó, Mẹ vẫn mỉm cười nhẹ nhàng như những năm tháng xưa – khi Mẹ đứng trước cửa chờ tôi về, mái tóc bạc lấp lánh trong nắng chiều.

    Mẹ –là hình dáng của tình yêu vĩnh cửu. Trong dòng đời hối hả, có một điều luôn âm ỉ cháy không tàn, đó là “ tình yêu của mẹ.” Tình yêu ấy không cần lý do để bắt đầu, cũng không chờ điều kiện để tồn tại. Mẹ là tiếng gọi đầu tiên ta thốt lên, là bóng hình cuối cùng ta giữ mãi trong tim. Có nhiều đại văn hào trên thế giới cũng đã từng ca ngợi “Tình Mẹ” như Victor Hugo viết: “A mother’s arms are made of tenderness and children sleep soundly in them.”

     (Vòng tay mẹ được dệt bằng sự dịu dàng, và trong đó con trẻ ngủ giấc bình an.)

    Mẹ không chỉ là người sinh ra ta — mà còn là người chắp cánh cho ước mơ, dạy ta biết yêu thương, biết vươn lên giữa giông bão. Dù thời gian có đưa Mẹ đi xa, thì tiếng gọi “Mẹ ơi” vẫn mãi là lời thì thầm thiêng liêng nhất đời người.

    Plato đã từng nói: “There is no greater love than that of a mother.”

    (Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của một người mẹ.)

    Trong mắt Mẹ, ta luôn là đứa trẻ nhỏ cần được vỗ về, dù ta đã là người trưởng thành giữa cuộc đời. Mẹ âm thầm lo lắng khi ta đi xa, thầm lặng vui mừng mỗi lần ta trở về. Mẹ cười sau lưng những thành công của ta, và khóc lặng lẽ cho những tổn thương mà ta chẳng hay biết.

    Có một câu nói khuyết danh, nhưng hàm chứa một chân lý sâu xa:

    “God could not be everywhere, and therefore he made mothers.”

    (Thượng đế không thể có mặt ở khắp nơi, vì thế Ngài đã tạo ra người mẹ.)

     Mother’s Day không chỉ là dịp để tặng hoa, gửi quà, mà là một khoảnh khắc để ta lắng động tâm hồn, gởi đến Mẹ một lời cảm tạ từ trái tim. Dù Mẹ còn trên đời hay đã về bên kia thế giới, tình mẹ vẫn là nơi ta hướng về, mỗi khi đời bão giông.

    Abraham Lincoln đã nói:

    “All that I am, or hope to be, I owe to my angel mother.”

    (Tất cả những gì tôi có được, hay hy vọng đạt tới, tôi đều nhờ người mẹ thiên thần của tôi.)

    Cùng một nỗi niềm chung về “Tình Mẹ”, ngay trong thế giới âm nhạc mênh mông không biên giới, cũng vẫn có chỗ cho những bài hát ca tụng “Tình Mẹ”. Như hai ca khúc tiêu biểu: Maman oh MamanLòng Mẹ – hai bản nhạc cảm động đến tận cùng trái tim, tuy đến từ hai nền văn hóa, địa ly khác nhau; nhưng lại cùng chan chứa một tình yêu vĩ đại; đó là: tình mẫu tử.

    “MAMAN OH MAMAN” – LỜI GỌI TỪ TRÁI TIM

    Maman oh Maman là một ca khúc Pháp nổi tiếng, một bản tình ca dành cho Mẹ với tất cả yêu thương và biết ơn. Giai điệu của bài hát mộc mạc, dịu dàng như lời thủ thỉ của một đứa con nói với mẹ, nhưng lại chứa đựng cả một trời yêu thương và khát khao. Ca khúc này vượt thời gian và biên giới vì nó chạm đến sợi dây thiêng liêng nhất của con người – đó là tình mẹ. Mỗi lần nghe, người ta như được trở về thuở ấu thơ, được nép vào vòng tay yêu thương nhất, nơi không có lo toan, chỉ có hơi ấm và tiếng ru ngọt ngào.

    Maman oh Maman, toi qui m’as donné. Tant de tendresse depuis tant d’années

    Tu le sais bien, quand je serai grand. Je penserai à toi, Maman

    Maman oh Maman, le jour et la nuit. Je veillerai toujours sur ta vie

    Je serai là à tout les instants. Pour te protéger, Maman…

    LÒNG MẸ” – BẢN THÁNH CA CỦA TÌNH MẸ

    Nếu Maman oh Maman là lời hát của đứa con dành cho mẹ, thì Lòng Mẹ – một ca khúc bất hủ của nhạc sĩ Y Vân – là khúc ngợi ca cao nhất tình mẹ Việt Nam: sâu như biển Thái Bình, bao la như trời lồng lộng. Với những hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp:

    “Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào

    Tình Mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào…

    “Lòng Mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu

    Tình Mẹ âu yếm như làn gió đùa mặt hồ…”

    Bản nhạc Lòng Mẹ rất tha thiết, mỗi khi âm điệu của bản nhạc cất lên làm rung động cả con tim và giọt lệ chợt ứa trong khóe mắt. Tình Mẹ sao quá đỗi ngọt ngào, Mẹ hy sinh cả một đời cho con, Mẹ luôn là người duy nhất không bao giờ bỏ rơi con, dù con thành công hay thất bại, giàu sang hay nghèo khó. Giai điệu ca khúc nhẹ nhàng, da diết, tràn đầy cảm xúc như lời ru vọng lại từ ký ức; khiến không ít người khi cất lên bài hát này đã không thể cầm được nước mắt.

    Dù khác ngôn ngữ, khác văn hóa, nhưng Maman oh MamanLòng Mẹ đều chạm đến sâu thẳm trái tim người nghe. Mama oh Maman – như tiếng con trẻ nói với  Mẹ với tất cả yêu thương hồn nhiên; Lòng Mẹ là tiếng hát thành kính, dạt dào như khúc thánh ca dâng lên người Mẹ hiền đã hy sinh cả cuộc đời cho con.

    Hai ca khúc – hai thế giới – nhưng chung một tình yêu: – đó là Tình Mẹ vĩnh cửu.

    Happy Mother’s Day
    DẤU CHÂN MẸ

    Kiều My

          (Kính tặng những người Mẹ – còn đó hay đã xa…)

    Trên đường đời con bước
    Có dấu chân ai quen
    Âm thầm như hơi thở
    Nhưng ấm từng bước lên.

    Có Mẹ là có nắng
    Chợt một ngày đông tan
    Có Mẹ  là tiếng hát
    Ru con suốt tháng năm.

    Mẹ xa rồi trăng khuyết
    Hương bếp cũ mơ hồ
    Bóng Mẹ như trong gió
    Về bên cửa đợi chờ…

    Con ngồi nghe mưa rớt
    Trên mái nhớ ngày xưa
    Từng bữa ăn đạm bạc
    Mẹ nhường con hơn thừa.

    Dẫu Mẹ còn hay khuất
    Trong tim con vẫn đầy
    Một vầng trăng không tắt
    Dẫn con suốt tháng ngày…

    Trong cuộc đời viễn xứ, đôi khi chúng ta không ngờ rằng giây phút chia xa cuối cùng với Mẹ lại đến quá đột ngột. Những dòng hồi tưởng này chan chứa nỗi ngậm ngùi của một người con sống xa quê nhà, mang trong tim nỗi ray rứt không thể ở cạnh Mẹ trong những ngày cuối đời của Mẹ. Nhưng cũng từ đó, ta nhận ra rằng tình mẹ vẫn luôn hiện hữu – âm thầm, bao la, và vĩnh viễn không rời xa. Dù Mẹ còn trên đời hay đã đi xa, tình mẹ vẫn luôn là ánh sáng dịu dàng dẫn lối  trong suốt hành trình của đời ta.

    Kiều My

    California, Mother’s Day 2025

    Buồng chuối chín sau vườn
    Lá vàng rụng con mương ngoài ngõ
    Văng vẳng tiếng ầu ơ

    Con chinh chiến chưa về
    Đêm nghe gió đường quê mơ màng

    Thấy Mẹ trong giấc mơ
    Áo hoa con biếu Mẹ ngày nào
    Che phủ tấm lưng cong

    Ngày xưa một đóa hồng
    Nay áo đẹp má hồng Mẹ phai

    Vườn sau xanh bông cải
    Mẹ thương con tháng ngày dầu dãi
    Trông con đầu bạc trắng

    Dạ con tấc lòng son
    Đêm nhớ Mẹ mỏi mòn từng đêm

    Hoa sứ nở đầy cành
    Dây trầu xanh lá vẫn vấn quanh
    Con ơi, sắp về chưa?

    Dù đường đời trắc trở
    Con sẽ về têm miếng trầu xanh

    phamphanlang

    Bài thơ mộc mạc ấy đã được hai nhạc sĩ tài hoa ưu ái phổ thành hai ca khúc sâu lắng và cảm động:

    Nhân dịp Lễ Mẹ, PL xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến hai nhạc sĩ Vĩnh Điện, Mộc Thiêng và hai ca sĩ Diệu Hiền, Đông Nguyễn – những người đã thổi hồn vào bài thơ bằng giai điệu và giọng ca tuyệt vời, giúp bài thơ nhỏ bé này lan tỏa và chạm đến trái tim người nghe.

    Xin kính mời quý vị cùng lắng nghe và tưởng nhớ những người Mẹ thân yêu trong mỗi chúng ta.

    Kính chúc quý vị một mùa Lễ Mẹ an vui và tràn đầy yêu thương.

    PLang

    ==

    BÀI HÁT “NGÀY MẪU TỪ NHỚ MẸ

    NGÀY MẪU TỪ NHỚ MẸ

    *

    Từ xa con nhớ Mẹ nhiều

    Mơ về cố quốc mỗi chiều quắt quay

    Hoàng hôn bảng lảng vầng mây

    Hạc vàng xoải cánh chở đầy yêu thương

    *

    Ngày con từ biệt quê hương

    Mẹ già tóc bạc sầu vương chập chùng

    Đông Tây sương khói mịt mùng

    Bao năm chờ đợi tương phùng vấn an

    *

    Nhà đưa tin đến bàng hoàng

    Đất trời chao đảo hoang mang vô bờ

    Từng mong từng ước từng giờ

    Ước mong gặp Mẹ cơn mơ ngập sầu

    *

    Ai làm biển cả ruộng dâu

    Mẫu Từ vĩnh biệt lòng đau nghẹn ngào

    Mộ phần hương khói ra sao

    Đông tàn Xuân đến biết bao nỗi niềm

    *

    Chiều nay con nhớ Mẹ hiền

    Từng cơn gió lượn ngoài hiên não nề

    Gian nan đời Mẹ trăm bề

    Vì con vất vả không hề trách than

    *

    Mẹ đà vĩnh biệt trần gian

    Bước chân con vẫn lang thang cõi nào

    Hoàng hôn thắm trải xôn xao

    Nhưng lòng con trẻ dạt dào nhớ thương

    *

    Chiều về giọt nắng buồn vương

    Cầu nơi Cực Lạc Mẹ nương phật đà

    Thân con, bốn biển là nhà

    Ngày Mẫu Từ, con nhớ Mẹ già…Mẹ ơi….

    *

    Phương Hoa – Ngày Mother’s Day, MAY 2025

    ===

    MẸ TÔI

    Năm lên sáu
    Tôi đã thích đá banh
    Một bó giẻ tròn
    Mẹ tôi khâu kết
    Một trái bưởi xanh
    Mẹ hái sau vườn
    Tôi mê chơi
    Tới tắt mặt trời
    Quên cả giờ cơm
    Mẹ la, mẹ rầy

    Năm mười sáu
    Tôi đã biết hẹn hò
    Ðèn sách biếng lười
    Mẹ buồn, mẹ lo
    Tương lai con
    Không được bằng người

    Năm hai mươi
    Tôi lên đường
    Ðáp lời sông núi
    Mẹ không mấy vui
    Sợ mình sẽ mất
    Ðứa con trai
    Ðộc nhất trên đời

    Ðơn vị đóng đồn xa
    Cả năm không về
    Lòng mẹ xót xa
    Từng ngày từng giờ
    Thương con mình vất vả
    Mũi tên hòn đạn
    Biết đâu ngờ

    Những ngày về phép
    Ít khi gần gũi mẹ
    Quen tính lang bạt
    Tôi tìm lại bạn bè
    Ðàn ca xướng hát
    Nửa đêm mới về
    Mẹ hỏi
    Sao con không ở nhà với mẹ?
    Tôi hôn trán mẹ, mỉm cười

    Vận nước nổi trôi
    Chí trai không tròn
    Tôi đi tù
    Mẹ già không ai nương tựa
    Thương con – Nỗi nhớ – Hao mòn
    Mẹ tôi mất
    Sáu tháng mới nghe tin
    Không cầm được nước mắt
    Hồn đau – Vỡ nát con tim

    Trong trại tù
    Con thèm một tiếng rầy la
    Con thèm một lời hờn dỗi
    Con thèm một bàn tay trìu mến
    Con thèm một điệu ru hời
    Cuả mẹ ngày xưa
    Ðưa con vào đời
    Nhưng, nay còn đâu nữa
    Mẹ ơi!

                                   NHƯ HOA

    ANH NGỮ

    MY MOTHER

    When I was just a six-year-old boy
    Iá began playing soccer to enjoỵ
    A ball of rags my mother sewed around
    A green pomelo picked from the rear ground.
    I indulged in the matches forgetting to eat
    Causing my mother to chide, nearly to beat.

    When coming to the age of sixteen
    I already became on dates keen.
    I neglected my lessons to learn
    Leading my mother to sadness and concern
    That my future would be inferior to my peers’.

    When I reached of age twenty years,
    My country got in danger, I joined the army.
    This position was not deemed balmy
    But dangerous and made my mother fear
    The loss of her only begotten son so dear.

    My unit was stationed all year far away.
    I had no home leave even for half a day.
    It pained my mother again and again to regard
    My trying conditions as too hard:
    Exposed to arrows and bullets, who knows?

    After surviving many deadly blows,
    I obtained permission.  But, used to roaming,
    I went with friends on carousing and foaming,
    And only came home late at night
    Allowing myself little time within her sight.
    My mother asked why.  Fearing she got riled,
    I kissed her on the forehead, and smiled.

    The fortune of the country turned ill
    From bad to worse against my he-man’s will.
    I became a POW.
                               My mother had no help.
    She loved me, missed me, but did not yelp.
    I heard the sad news six months late
    After she had pined away to fate.
    I could not hold back and burst into tears;
    I felt my heart broken for all my life’s years.
                                 *
                              *    *
    During my days  in the enemy’s jail,
    How I wished I could hear at me you rail!
    How I craved for your against-me grudge,
    Your hand to move my mind hard-to-budge,
    Your lullaby to raise my good-natured soul
    Leading me into life, guiding me toward a goal:
    But now I can’t about those myself bother
    — Oh my dear mother!                                 

                           THANH-THANH

    Hôm Nay Ngày Lễ Mẹ

    Tôi muốn viết những vần thơ tặng Mẹ
    Gửi lên trời nhờ mây gió mang đi
    Mẹ ở trên cao ngàn thu cách biệt
    Ngày lễ Mẹ, giọt lệ ướt trên mi.
    Dâng lên Mẹ những vần thơ sầu muộn
    Cách biệt thiên thu, hoài niệm quay về
    Trên Thiên quốc nhìn về nơi trần thế
    Hồn ca dao vang vọng gió hương quê.
    Chiếc nôi êm ru con ngủ trưa hè
    Lời Mẹ ru giọt mật thấm trong mê
    Mẹ là dòng sông êm đềm xuôi bến
    Tắm ướt hồn con soi sáng đường về.

    Dòng sông ơi! Sóng vỗ về lưu luyến
    Nhớ về Mẹ hồn đau nhói lệ rơi
    Con ôm cả bó hồng dâng tặng Mẹ
    Thắp nén nhang buồn khói toả chơi vơi.
    Tế Luân

    Tưởng nhớ đến Mẹ tôi

    người đã yên nghỉ trên Thiên Đàng

    Bó Hồng Tặng Mẹ

    Con cung kính. Bó hồng riêng tặng mẹ

    Cả tình thương, sâu thẳm của tâm hồn

    Mẹ là suối nguồn, dòng chảy tinh khiết

    Nuôi con một đời, đến tuổi lớn khôn.

    Dâng lên Mẹ ngàn đóa hồng thắm đỏ

    Dòng máu hồng. Mẹ trao tặng cho con

    Ngày lễ Mẹ, bồi hồi thêm nỗi nhớ

    Nhớ ơn người, nuôi nấng thuở măng non.

    Tình yêu mẹ, dạt dào như sóng vỗ

    Vỗ giấc bình yên, chăm sóc đời con

    Viết về Mẹ, lời thơ đầy nước mắt

    Vào nỗi buồn, tuổi xuân đã hao mòn.

    Công ơn Mẹ, sánh núi cao, biển cả

    Thấu trời xanh. Thượng Đế phải ngậm ngùi

    Mẹ là thảo nguyên bao la bát ngát

    Dòng suối nguồn, tuôn chảy những ngọt bùi.

    Mẹ trên cao, như sao sáng trên trời

    Mẹ hiền từ, ôm con cả một đời

    Lời nguyện cầu, con ước mơ về mẹ

    Tiếng mẹ dịu dàng, nhớ mãi không ngơi.

    Tình yêu của mẹ bao la biết mấy

    Sáng như mặt trời, đẹp như mây bay

    Ai! Còn Mẹ, đừng làm Mẹ bật khóc

    Đừng để buồn, giọt lệ ướt trên tay.

    Xin gửi đến Mẹ, ngàn đóa hoa hồng

    Thắm sương long lanh, ướt cả nỗi lòng

    Lời nghẹn ngào, bài thơ ngày lễ mẹ

    Buộc vào hoa, gửi mẹ những hoài mong.

    Lê Tuấn

    Vần thơ tưởng nhớ đến Mẹ.

    Gửi đến Mẹ ngàn đóa hoa hồng,

    Thấm ướt trên nhánh lá những giọt nước mắt long lanh

    thương nhớ Mẹ hiền.

    4 Ca Khúc Thơ & Nhạc Lê Tuấn – Hòa Âm & Trình Bày AI

    https://cuocsongthica.blogspot.com/2025/05/ca-khuc-do-ai-hoa-am-va-trinh-bay-hen.html

    ===

    Lịch Sử Ngày Lễ Hiền Mẫu, Mother’s Day!

    -Ngày của Mẹ (Mother‘s Day) ấn định mừng vào ngày Chủ Nhật thứ nhì của tháng 5 hằng năm. Đây là ngày để tôn vinh các bà mẹ, bà nội, bà ngoại, vì những đóng góp to lớn của họ cho gia đình, cộng đồng và xã hội

    Nguồn gốc ngày của Mẹ có từ rất lâu, vào thời kỳ cổ Hy Lạp và La Mã. Nhưng cái gốc lịch sử Ngày Của Mẹ, có thể tìm thấy ở Anh Quốc, nơi đó Chủ Nhật Ngày của Mẹ, đã được tổ chức tưng bừng, trước khi lễ mừng này được “di cư” thành hình, bên Hoa Kỳ.

    Dầu vậy, việc ăn mừng liên quan của ngày này, lại được coi là một hiện tượng, chỉ mới gần đây, mới hơn một trăm năm.

    Thật ra, phải cảm tạ công khó của những phụ nữ tiền phong, như Julia Ward Howe và Anna Jarvis, mà “ngày này” mới được chính thức thành hình.

    Ngày nay, việc tổ chức, tiệc mừng cho Ngày của Mẹ, đã được trên 50 quốc gia của thế giới công nhận. (Mặc dầu vào những ngày khác nhau) Trở thành những Ngày Lễ ý nghĩa, mà mọi người yêu thích nhất! Hàng triệu người trên khắp thế giới, dùng cơ hội này để nhớ đến, kiếm cách trả ơn bà mẹ của mình, tri ân họ về việc sanh thành, dưỡng dục, để họ thành người.

    Ngày của Mẹ, được tổ chức tưng bừng nhất ở những quốc gia như: Mỹ, Nga, Anh Quốc, Ấn Độ, Đan Mạch, Phần Lan, Ý, Thổ Nhỉ Kỳ, Úc Đại Lợi, Mễ Tây Cơ, Gia Nã Đại, Trung Hoa, Nhật Bản, và Bỉ. Người ta dùng cơ hội của ngày này, để tỏ lòng tôn kính mẹ của mình và tri ân họ về tình yêu thương, sự nâng đỡ của Mẹ trong đời sống.

    Nhưng ngày này, càng ngày càng phai mờ ý nghĩa, vì bị thương mại hóa. Đường dây điện thoại thì bận rộn, kẹt cứng nhất trong năm. Tiêu thụ hoa, quà, card, nhiều nhất! Nhà hàng cũng có khách đông nhất vào ngày lễ này. Ngày của Mẹ trở thành ngày làm ăn hốt bạc, cho những tiệm cắm hoa, những nhà làm thiệp và người bán quà tặng, cho cả dịch vu du lịch. Cơ hội hiếm có để kiếm tiền trong ngày này. Bằng chứng qua những cuộc quảng cáo quy mô, trước đó vài ba tháng, để thu hút khách hàng.

    Thật là tiếc để ghi nhận rằng, bà Anna Jarvis đã bỏ hết cuộc đời, cho việc vinh danh ý nghĩa cao đẹp ngày của Mẹ. Giờ chỉ còn là dịp để vui chơi, quà cáp, ăn uống, trong ngày lễ. Những bà mẹ già, vẫn cô đơn mừng ngày này, trong các viện dưỡng lão. Trong khi các con của mình, tưng bừng hội hè ăn chơi phía ngoài, chẳng còn nhớ gì đến Mẹ của mình cả. Thật chua xót về tính cách thương mại hóa của ngày này. Mà đâu phải một lễ này đâu, lễ nào trên đất Mỹ này cũng thế!

     y89hy8ohiohipjhopjhopjo.jpg

    Những câu danh ngôn về Mẹ nổi tiếng và ý nghĩa nhất

    1. Với mẹ, dù lớn bao nhiêu, con mãi là một đứa trẻ! trong trái tim mình.

    (Khuyết danh)

    2. Chúa không thể ở khắp mọi nơi, để ban tình thương, ơn lành, nên Ngài sinh, tạo ra người mẹ!

    (Proverbe Yiddish)

    3. Khi bạn nhìn vào mắt của một người mẹ, bạn sẽ nhận biết được, tình yêu tinh khiết nhất, tuyệt vời nhất, mà bạn có thể tìm thấy trên trái đất.

    (Mitch Albom)

    4. Mẹ là người có thể thay thế bất kỳ ai khác, nhưng không ai có thể thay thế được mẹ.

    (Gaspard Mermillod)

    5. Tương lai của đứa con, luôn là công trình, tuyệt phẩm! hãnh diện nhất của người mẹ.

    (Napoleon)

    6. Tình thương của người mẹ, không bao giờ bị già nua, khi năm tháng trôi qua.

    (Tục ngữ Đức)

    7. Vũ trụ có nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt diệu, quý báu nhất, là trái tim người mẹ!

    (Bernard Shaw)

    8. Không tình yêu nào vĩ đại, như tình yêu của người mẹ, dành cho đứa con của mình.

    (Khuyết danh)

    9. Người mẹ thật sự chẳng bao giờ rảnh rỗi, hình bóng con, luôn luôn hiện diện trong đầu và trái tim của Bà suốt cả đời!

    (Balzac)

    10. Tình yêu của người mẹ là yên bình, bình đẳng. Nó không cần bạn phải thông minh, đẹp đẽ, giỏi giang. Nó không cần bạn phải xứng đáng hay không! Nhiều khi khuyết tật, bạn còn nhận được nhiều hơn nữa!

    (Erich Fromm)

    11. Mẹ hiền sinh con ngoan, cây tốt sinh trái ngọt, lúa tốt cho gạo ngon.

    (Ngạn ngữ Trung Quốc)

    12. Người ta không bao giờ hiểu hết, nói hết về Thượng Đế, cũng như nói hết về người Mẹ.

    (Ngạn ngữ Ấn Độ)

    13. Mẹ nuôi con biển bờ lai láng, con nuôi mẹ kể tháng kể ngày.

    (Tục ngữ Việt Nam)

    14. Con đi ngàn dặm mẹ lo âu, Mẹ đi ngàn dặm con chẳng sầu.

    (Ngạn ngữ Trung Quốc)

    15. Khi bạn là một người mẹ, bạn không bao giờ thực sự cô độc trong suy nghĩ của mình. Một người mẹ luôn phải nghĩ hai lần, một lần cho bản thân và một lần cho con cái.

    (Sophia Loren)

    16. Một người mẹ vẫn mãi là một người mẹ, luôn luôn quan tâm đến những đứa con. Cho dù những đứa con đó đã lớn lên, vẫn là những đứa trẻ của riêng mình.

    (Khuyết danh)

    17. Trái tim của người mẹ là vực sâu muôn trượng, mà ở dưới đáy, bạn sẽ luôn tìm thấy sự tha thứ.

    (Balzac)

    18. Làm mẹ là một thái độ sống, thiêng liêng, không chỉ là mối liên hệ về sinh học.

    (Robert A Heinlein)

     jkmjopjopookkokk.jpg

    Phong tục “Happy Mother’s Day!” tại các nước trên thế giới

    -Đa số các quốc gia trên thế giới ngày nay, ăn mừng Ngày của Mẹ, với các phong tục bắt nguồn từ Bắc Mỹ và Châu Âu. Khi được phổ biến tại các nước khác, ngày của mẹ đôi khi được thay đổi đôi chút, để phản ảnh nền văn hóa từng nơi. Một số nước để hợp nhất ngày lễ này, với những sự kiện quan trọng của nhiều phong tục bản xứ (ví dụ như tôn giáo, lịch sử, và truyền thuyết)hh8hhiohijhijhiji.jpg

    *Ngày của mẹ ở Anh

    Ngày của mẹ ở Anh cũng trùng vào ngày Chủ Nhật, bởi vậy mọi người thường tới nhà thờ làm lễ, sau đó mới trở về nhà của mình. Các thành viên trong gia đình, dù ở xa cũng sẽ cố gắng họp mặt đông đủ trong ngôi nhà của cha mẹ. Họ thường tổ chức một buổi tiệc có thiệp mừng, bánh gato, hoa quả, rượu và tặng quà cho những người mẹ.hhjh9j9j9pjopjopjo.jpg

    *Ngày của mẹ ở Mỹ

    Ngày của mẹ được khởi xướng trở lại sau thế chiến thứ hai tại Mỹ, do bà Anna Marie Jarvis đấu tranh xác lập, tại phố Grafton, tiểu bang Tây Virginia, Hoa Kỳ. Bà Anna Marie Jarvis quyết tâm thực hiện di nguyện của người mẹ quá cố. Người mẹ của bà Anna khi còn sống là một nhân viên an sinh, luôn đấu tranh không ngừng để làm rạng danh các bà mẹ, tri ân công sức của họ trong đời sống và vì hòa bình. Sau khi người mẹ mất, cộng thêm thái độ thờ ơ lãnh đạm của người dân Hoa Kỳ với thân mẫu của mình, càng thôi thúc quyết tâm của bà. Sau nhiều năm đấu tranh quyết liệt, vào năm 1911, Ngày Của Mẹ được tổ chức ở hầu hết các tiểu bang ở Mỹ. Vào ngày 8/5/1914, tổng thống Mỹ đã ký quyết định ấn định ngày Chủ nhật thứ hai của tháng Năm hàng năm là Ngày của Mẹ. Dần dần trở thành, một trong những ngày lễ được yêu thích nhất. Tiệc tùng cũng linh đình nhất!hioh8h8ohhiohiohio.jpg

    *Ngày của mẹ ở Ấn Độ

    Người Ấn Độ gọi ngày của mẹ là Durga Puja, trong đó “Durga” là tên của một nữ thần bảo vệ cho người dân Ấn Độ, khỏi mọi nguy hiểm trong cuộc sống. Họ tổ chức Ngày của mẹ như một lễ hội lớn vào tháng Mười, trong vòng… mười ngày! Đồng thời, với những người mẹ thật sự trong cuộc sống, mang nặng đẻ đau 9 tháng 10 ngày, cũng sẽ được người con vào bếp trổ tài nấu ăn và tặng quà cho mẹ.pvfyyffgyggugugu.jpg

    *Ngày của mẹ ở Tây Ban Nha

    Ngày của Mẹ được tổ chức vào ngày Chủ Nhật đầu tiên của tháng năm ở Tây Ban Nha. Người lớn thường tặng mẹ sôcôla, thiệp chúc mừng hay một số món quà ý nghĩa khác. Còn trẻ em thì tự tay làm tặng mẹ những tấm thiệp, hoặc làm món quà đơn giản.i0-jjjipjpjopjkopjph8.jpg

    *Ngày của mẹ ở Nhật Bản

    Trong ngày của mẹ, trẻ em sẽ vẽ những bức tranh dành tặng cho mẹ của mình và tập hợp những bức ảnh đó thành một cuộc triển lãm nhỏ, với chủ đề tình cảm mẹ con và sự hi sinh thầm lặng của các bà mẹ Nhật.ik0jopjopjopjopjopjkop.jpg

    *Ngày của mẹ ở Úc

    Hoa cẩm chướng là loài hoa biểu trưng cho ngày của mẹ ở Úc. Bông hoa cẩm chướng vàng dùng để tặng người mẹ đang còn sống. Còn hoa cẩm chướng trắng được dành tặng một người mẹ đã quá cố. Vào ngày này, trẻ em thường dậy sớm, làm tặng mẹ đồ ăn sáng và mang đến bên giường ngủ, để mẹ thức dậy và thưởng thức.

     

    jojjjpjopjojojj.jpg

    Con Xin Hôn Mẹ!

    (Thơ Trần Quốc Bảo)hiojhiojiopjojojkok[kp[.jpg

    -Con quí trọng vết nhăn trên mặt Mẹ,

    Lớp da chập chùng như sóng đại dương!

    Ấp ủ muôn trùng, lòng Mẹ yêu thương,

    Muôn trùng hi sinh! – Muôn trùng đau đớn!

    Để con sinh ra, để con khôn lớn.

    Để hôm nay, con hiện diện giữa đời.

    Me dạy con sống trọn đạo với Trời!

    Và yêu người, như chính mình ta vậy.

    Con không bao giờ quên lời Mẹ dạy,

    Yêu Quê hương, yêu Tổ Quốc, giống nòi.

    Mẹ đã dạy con: Thất bại mỉm cười…

    Vịn lời Mẹ mà đứng lên can đảm!

             Lời Mẹ dạy con: Thành công điềm đạm,       

    Mở rộng vòng tay giúp đỡ tha nhân.

    Mẹ đã về Trời, xa cõi trầm luân…

    Con vẫn yêu Mẹ như xưa còn bé.

    Vì trong tim con, đậm hình bóng Mẹ!

    Kỷ niệm tràn đầy như sóng đại dương.

    Lòng Mẹ dạt dào, biển cả yêu thương.

    Con xin hôn lớp nhăn trên mặt Mẹ!




    Nỗi Buồn – Ca Khúc Mới Thơ Tế Luân – Hòa Âm AI




    GS/TS MAI THANH TRUYẾT – Ngày Con Ong Thế Giới – World Bee Day – 20 Tháng 5.




    KIỀU MỸ DUYÊN – Chương Trình CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA




    KIỀU MỸ DUYÊN – NGÀY CỦA MẸ




    SƯƠNG LAM -Quê Người Quê Nhà Trong Trái Tim Tôi


    Quê Người Quê Nhà Trong Trái Tim Tôi

    AnhthoPortlandThoMong.jpg

    Đây là bài số bảy trăm năm mươi chín (759) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ ORTB.

    Cứ mỗi lần Tháng Tư đến là chúng ta  được nghe, được đọc những bài thơ, bài văn, bài nhạc nói về Ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư.  Ai trong chúng ta cũng có niềm đau nỗi nhớ về ngày đau buồn này.

     Thời gian trôi qua nhanh quá. Thế là đã 50 năm trôi qua lặng lẽ.   Đa số chúng ta đã trải qua một thời gian gian khổ của kiếp thuyền nhân lênh đênh trên biển cả mênh mông như lời thơ của tôi   dưới đây:

     1713700143769blob.jpg

    ……Có những con thuyền thật mỏng manh
    Lang thang cuối bãi đến đầu gành
    Một cơn sóng lớn đưa thuyền đến
    Địa ngục trần gian giữa biển xanh 

    Có những hôn mê dưới nắng trời
    Chập chờn theo gió nổi mây trôi,
    Đói cơm, khát nước, bao già trẻ,
    Một thoáng “thiên đàng” đã đến nơi

    Có những bàn tay chới với tìm 
    Chiếc phao, mảnh gỗ, để ngoi lên 
    Trời ơi! Sao lại là con nhỉ?
    Và xác con yêu nhẹ nhẹ chìm …

    (Trích trong Kiếp Thuyền Nhân- Thơ Sương Lam)

    Và thế giới chỉ có biết:

    Người chỉ biết những con tàu đã đến

    Còn bao nhiêu lạc nẻo hoặc chìm sâu

    Giữa phong ba xanh thẳm chỉ một màu

     Ai đếm được bao nhiêu mồ giữa biển?

    Hết gió bão lại sa vào giặc biển

    Cướp bạc tiền và cướp cả đời hoa

     Biết làm sao cho thế giới hiểu là

     Nỗi đau đớn người dân Nam gánh chịu..

     (Trích trong Biển và Dân Việt- Thơ Sương Lam)

      Bao nhiêu chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ màu cờ vàng ba sọc đỏ, bao nhiêu gia đình đã ly tán, bao nhiều người đã tử nạn trong biển sâu rừng vắng trên bước đường tìm tự do, bao nhiêu sự cực khổ gian nan trong cuộc sống nơi xứ người đã vẽ lên bức tranh quốc hận đau thương.  Bởi thế  vào tháng Tư hằng năm, bạn và tôi,  xin hãy dành một phút tưởng niệm đến những người đã khuất cho lý tưởng tự do, bạn nhé!.

    Ngày tưởng niệm! Chẳng đợi kêu mời rước

    Ngày đau buồn! Dân Việt khắp năm châu

    Một phút thôi! Xin kính cẩn cúi đầu

    Để truy niệm đến những người đã khuất

    Saigon cũ giã từ trong u uất

    Nơi xứ người, Tôi, Bạn  nhớ Quê hương

    Tháng Tư Buồn! Người ở lại quê hương

     Hờn vong quốc! Ai buồn hơn ai nhỉ?

     (Trích trong Portland Tháng Tư Buồn- Thơ Sương Lam)

     GSaigonngayxua.jpg

    Theo vận nước nổi trôi, tôi lưu lạc nơi xứ người. Nhờ Trời Phật ban phúc lành, gia đình bé nhỏ của tôi được sum họp, đoàn tụ với các em của tôi như cha mẹ chúng tôi hằng mong muốn.

    Chúng tôi đã chọn Portland là quê hương thứ hai của chúng tôi và chúng tôi đã sống ở nơi đây hơn 40 năm rồi.  Đời sống tình cảm của tôi lại gắn liền với từng bụi cỏ, từng gốc cây, từng tên đường ở Portland như tôi đã sống ở Sài Gòn ngày cũ.

    Xin hãy cảm thông tâm tình của người viết trong những ngày đi học đầu tiên của khóa mùa Thu ở  “đại học trường làng” Portland  Community College ở Portland, Oregon.

    “Khi còn ở quê nhà chốn cũ
    Vẫn mơ về bến mới Tự Do
    Nào hay đâu đã đến được bờ
    Lại mang nỗi u hoài khó tả

    Những buổi sáng trên đường tới lớp
    Trời Thu buồn khắp nẻo sương giăng
    Bao niềm thương nỗi nhớ xa gần
    Trong thoáng chốc quay về lũ lượt

    Nào cha mẹ, trường xưa, bạn cũ
    Nào những ngày khốn khổ điêu linh
    Nào bao nhiêu kỷ niệm, ân tình
    Hình ảnh ấy bao giờ xóa được

    Rồi tôi lại ngậm ngùi khi nhớ về Saigon:

    Từng thu đến, lại từng thu đến
    Gió lạnh về tê tái, cô đơn
    Kẻ sĩ xưa ôm mối đau hờn
    Nơi xứ lạ sống đời viễn khách

    U hoài ấy biết ai tâm sự
    Nửa cuộc đời sống ở quê hương
    Sài Gòn ơi! Cách biệt đôi đường
    Còn gì nữa, để quên để nhớ!


    (Saigon Còn Gì Ðể Quên Ðể Nhớ – Thơ Sương Lam)

    Tôi đã chọn Portland, Oregon là quê hương thứ hai của tôi cũng như nhà văn nữ Nguyễn Thị Thanh Dương đã chọn Texas là quê hương của bạn ấy.

     Chúng tôi là bạn văn nghệ thân thiết cùng sinh hoạt trong Diễn Đàn Cô Gái Việt tâm ý tương cảm tương thông rất nhiều.

     Xin mời đọc một trích đoạn trong bài viết mới nhất  “50 Năm Quê Nhà Quê Người” của bạn tôi nhé.  Cảm ơn Thanh Dương rất nhiều vì cùng một cảm nghĩ như tôi.

    50 Năm Quê Nhà Quê Người50-nam-que-nha-que-nguoi.jpg

    “……..Nước Mỹ đã là quê hương thứ hai, đã thấm vào tim tôi bao tình cảm, bao gắn bó thân thương. Nhà của tôi đây, vùng Dallas Fort Worth tiểu bang Texas nơi tôi đã sống mấy chục năm cho đến bây giờ. Tôi yêu mến nơi này. Chồng  thường hay trêu đùa:

    –          Đối với bà tiểu bang Texas  đẹp nhất trong 50 tiểu bang nước Mỹ và nước Mỹ thì đẹp nhất thế giới luôn.

    Thỉnh thoảng tôi đi thăm con ở tiểu bang Utah, California hay thăm em ở Edmonton Canada, ở lại một hai tuần tôi đã nhớ thành phố tôi ở, nhớ căn nhà của mình, nhớ sân trước vườn sau, nhớ chợ búa tôi thường đi. Khi đến ngày trở về, vừa đến phi trường Dallas Fort Worth tôi đã cảm xúc vui mừng đứa con đi  xa được trở về nhà.

    Tôi cũng từng mơ thấy mình trở về Việt Nam, chờ đợi tôi vẫn là cảnh cũ người xưa, vẫn là bao kỷ niệm của trước khi tháng Tư 1975  ập đến, chuyến bay đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất tôi có cảm giác sung sướng vui mừng được trở về nhà y như thế này. Nhưng đó chỉ là mơ thôi.

    Thấy tôi bâng khuâng chồng hỏi:

    –          Bà nghĩ gì mà lặng người ra thế?

    –          Quê nhà, quê người. Tháng Tư vết thương không bao giờ lành. Tháng Tư vẫn mãi là trang sử buồn.

    Rồi tôi tỉ tê:

    –          Chúng ta mấy triệu dân Việt lưu vong, bất kể người miền Nam thua cuộc hay bên thắng cuộc miền Bắc chắc rằng ai cũng có câu trả lời vì sao họ phải rời bỏ quê hương…

    –          Kìa, bà đang khóc đó sao?

    Tôi lấy tay lau nước mắt ướt mi và cười thật tươi:

    –          Em khóc em buồn chứ. Xong rồi, em đang cười vui  đây, 50 năm quê nhà quê người, quá khứ và hiện tại, mất mát đau buồn và thành quả  nhận được. Em yêu hiện tại tốt đẹp này và ước mong tương lai tươi sáng tốt đẹp nhiều hơn nữa, cộng đồng người Việt chúng ta, các thế hệ cháu chắt chúng ta  ở khắp nơi trên thế giới sẽ gặt hái được nhiều thành công trên mọi lĩnh vực, dù họ mang quốc tịch gì nhưng cội nguồn vẫn là người Việt Nam sẽ làm thơm danh người Việt Nam.

    Nguyễn Thị Thanh Dương.

    ( Viết cho Tháng Tư 1975- 2025 )”

    Chúc quý bạn có nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc, sống vui từng ngày trong hiện tại với duyên nghiệp của mình nhé. 

     Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

    Sương Lam

    (Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi-MCTN 759-ORTB 1190-4-30-25)

    Sương Lam

    Website: www.suonglamportland.wordpress.com

    http://www.youtube.com/user/suonglam




    THANH THANH – NGUYỄN VĂN PHƯỢNG*

    NGUYỄN VĂN PHƯỢNG*

    THANH THANH

    Phượng ơi!  Chính thực anh là ai?

    Sứ-giả thiên-đình Thượng-Đế sai?

    Hay một thiên-thần tình-nguyện xuống?

    Anh-Hùng Dân-Tộc tái đầu-thai?

         *Đại-Uý QLVNCH, từ trại An-Điềm

           đến Trại “Đồng-Mộ” ngày 24-04-79,

           chết tại “Nhà Trắng” ngày 10-10-80.

    Anh là ánh đuốc giữa đêm tăm!

    Nghệ-sĩ tài-ba rút ruột tằm!

    Đại-diện muôn lòng đang uất nghẹn

    Thét lên tiếng thét của hờn căm!

    Như nhà thám-hiểm giữa rừng sâu,

    Đánh rắn đầu tiên đánh đỉnh đầu!

    Anh đã đâm lao vào tử-huyệt

    Già Hồ — như hạ một con trâu!

    Nhớ hôm “sinh hoạt” kiểm phê anh:

    Anh đã công-khai chửi đích-danh!

    Anh nhắc cho ghi từng điểm một

    Vào trong biên-bản để chuyền quanh!

    Có người cũng đã có chê-bai

    Chính-sách lầm hư! chủ-thuyết sai!

    Chống đảng, kình quyền, khinh cán-bộ!

    — Đụng vào “lãnh tụ” thì chưa ai!

    Bạn-bè nén hận trong cô-miên,

    Nhưng chỉ mình anh dám nói lên!

    Bản án tuyên cho đầu-đảng địch

    Cũng là bản án tự anh tuyên!

    Thế rồi anh bị chúng đưa đi!

    Anh bị ra sao?  bị những gì?

    Anh đủ can-trường mà chịu đựng

    Như bao lần trước đã kiên-trì?

    Thế rồi… anh chết, chết âm-u

    Trong gọng gông cùm trong biệt-khu

    Trong trại kiên-giam trong cấm-địa,

    Nói lên thân-phận — một tên tù!

    Bao nhiêu viễn-vọng, những mê-đam,

    Và những vần thơ anh đã làm…

    Phảng-phất đâu đây trong gió núi,

    Chân trời màu tím, sương trời lam…

    Anh vừa đốt đuốc giữa đêm tăm,

    Vừa viết hùng-ca, rút ruột tằm;

    Anh chọn “huy-hoàng rồi chợt tối

    Hơn buồn le-lói suốt trăm năm”!

    Phượng ơi!  Anh đã chẳng tham-sinh!

    Đã tự nêu cao chí-khí mình!

    Hơn kẻ quyền cao và chức trọng

    Mà hèn, thì chỉ đáng chê khinh!

    Phượng ơi!  Anh đã sống anh-hùng! 

    Anh chết là niềm hãnh-diện chung!

    Tất cả nhờ anh mà phấn-khởi,

    Ngửng đầu đỡ ngượng với không-trung!

            “Nhà Trắng” Tiên-Lãnh 2, 10-10-1980

                              THANH-THANH

    ReplyForwardYou received this via BCC, so you can’t react with an emoji



    HỒI KÝ Nhà Văn HỒNG THỦY: ĐỔI KIẾP

    Hồi ký Hồng Thủy

    Đời sống bận rộn với những hối hả của cuộc sống trên đất Mỹ khiến 50 năm qua nhanh đến không ngờ.

    Nhớ ngày nào của tháng 4 năm 1975. Chúng tôi rời quê hương trong lúc dầu sôi lửa bỏng với một tâm trạng lo buồn cùng cực. Lo vì không biết tương lai sẽ đi về đâu. Buồn vì bỗng dưng phải rời bỏ tất cả. Bỏ cuộc sống yên bình, đầy đủ, sung sướng bao nhiêu năm qua; bỏ quê hương thân yêu với biết bao kỷ niệm từ thời thơ ấu; bỏ mẹ tôi và ông ngoại già yếu bơ vơ.

    Mọi việc xảy đến bất ngờ tưởng như một giấc mộng hãi hùng.

    Chồng tôi đang là Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện Hải Quân Cam Ranh. Chúng tôi được ở trong bán đảo Cam Ranh thơ mộng. Vùng bất khả xâm phạm, chỉ dành riêng cho các cơ quan thuộc quân lực VNCH  nên rất riêng biệt và yên tĩnh.

    Ngôi nhà tôi ở là một biệt thự rộng lớn được Hải Quân xây từ thời Pháp thuộc. Căn nhà nhìn ra bãi biển thơ mộng để mỗi tối khi màn đêm yên lặng tôi có thể nghe được tiếng sóng vỗ rì rào. Những đêm sáng trăng ngồi trên ban công, tôi say sưa ngắm mặt nước biển lấp lánh ánh trăng vàng, thoảng trong gió phảng phất hương thơm nhẹ nhàng của những cây dạ lý hương ở góc vườn. Khi hè đến, hai cây phượng trước sân nhà đua nhau khoe sắc thắm như chào đón những chú ve sầu ca hát rộn ràng. Mùa xuân những cây mai vàng nở hoa rực rỡ, rải rắc thấp thoáng trên những đồi cỏ hai bên lối đi vào bán đảo. Đời sống thật êm ả, thần tiên. 

    Bỗng một hôm nhà tôi đi họp ở Nha Trang về, sắc mặt anh rất buồn, anh nói với tôi mình sắp mất nước rồi. Tôi nghe tưởng như tiếng sét bất ngờ giáng xuống trên đầu.

    Suốt cả tuần sau đó, anh ăn cơm rất vội vàng rồi vào trung tâm họp hành liên miên; khi anh về nhà là điện thoại reo liên tục không ngừng.

    Một hôm, anh đang ăn cơm thì có điện thoại ông tướng vùng gọi, nói chuyện xong, anh ăn rất vội vã rồi lái xe vào văn phòng dù đã quá giờ làm việc.  Mãi tới nửa đêm anh mới về nhà. Anh nói tôi lo thu xếp quần áo cho tôi và hai đứa con gái, ngày mai anh sẽ gửi ba mẹ con theo máy bay Không Quân về Sài Gòn trước. Nghe anh nói tôi ngạc nhiên, bàng hoàng như người từ trên trời rơi xuống. Tự nhiên tim tôi đâp dồn dập, tôi hỏi như người hụt hơi

    – Tại sao, tại sao vậy anh?

    Giọng anh nghẹn ngào

    – Quân đội được lệnh phải buông súng và rút lui. Việt Cộng chiếm dần hết các tỉnh miền Trung rồi.

    Tôi nói với anh, tôi không muốn xa anh, cho tôi ở lại bên anh; chồng đâu vợ đó, sống chết có nhau. Tôi khóc như chưa bao giờ được khóc. Anh nói với tôi thời gian cấp bách lắm rồi, phải khó khăn lắm anh mới xin được 3 chỗ trên máy bay cho ba mẹ con tôi quá giang. Tôi phải đi trước cho anh yên tâm. Ngày mai anh sẽ liên lạc với không quân Mỹ xin chỗ cho 2 con trai tôi quá giang về trước. Anh ở lại lo cho gần 4 ngàn nhân viên và khóa sinh di chuyển về sau. Nếu mẹ con tôi còn ở lại, anh sẽ bận tâm lo cho gia đình và không làm việc được.

    Cả đêm đó tôi không ngủ, đồ đạc không được mang theo vì không có chỗ,  chỉ một cái va li nhỏ với mấy bộ quần áo của 3 mẹ con mà tôi sắp mãi chưa xong. Quần áo bao nhiêu, biết mang cái nào bỏ cái nào.  Tôi cứ cầm lên bỏ xuống, vừa làm vừa khóc, mặt mày ngơ ngẩn, tóc tai rũ rượi như con mẹ điên. Trời ơi cả một cái nhà to lớn như vậy, bao nhiêu vật dụng, đồ quí, mà tôi chỉ được mang theo có vài bộ quần áo thôi sao. 

    Mấy mẹ con tôi về Sài Gòn được đúng 3 hôm thì đường giây điên thoại Sài Gòn – Cam Ranh bất khiển dụng hoàn toàn. Tôi không làm cách nào liên lạc được với chồng tôi nữa, lòng tôi như lửa đốt,  tình hình chiến sự càng ngày càng sôi động. 

    Khi nghe tin Việt Cộng đã chiếm Nha Trang tôi như người điên, tôi khóc lóc gọi điện thoại tứ tung cho những người bạn Hải Quân của chồng tôi làm việc ở Sài Gòn để hỏi thăm tin tức. Không ai cho tôi nguồn tin rõ ràng, ai cũng nói những lời an ủi mơ hồ cho tôi yên tâm.  Tôi biết mạng sống của  chồng tôi và các khóa sinh đang treo trên sợi tóc. Nha Trang – Cam Ranh quá gần, chỉ vài quả pháo kích là Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Cam Ranh biến thành tro bụi.

    Suốt cả tuần tôi cứ ôm cái radio nghe tin tức và đọc kinh cầu nguyện liên miên. Cuối cùng chồng tôi và 4 ngàn khóa sinh cùng nhân viên cũng được tiếp cứu và đưa về Sài Gòn.

    Ở Sài Gòn chồng tôi phải cấm trại lu bù, mỗi ngày thời gian được về nhà ăn cơm thật ngắn ngủi. Ăn xong phải vào trại liền. Chồng tôi luôn dặn dò những lời như trối trăn: Việt Cộng có thể tấn công Sài Gòn bất cứ lúc nào, nhiều cơ hội chúng sẽ vào theo ngả xa lộ Hàng Xanh, gần cư xá sĩ quan Thị Nghè là nơi gia đình tôi cư trú. Nếu như vậy, anh không thể trở về nhà lo cho tôi và các con. Anh sẽ phải cùng anh em chiến đấu, sống chết có nhau. Tôi phải tự lo cuộc sống không có anh, cố gắng nuôi con. Nếu Chúa thương cho anh còn sống, anh sẽ tìm cách liên lạc với tôi sau. Những lời dặn dò xé lòng đó làm tôi sống trong hãi hùng, lo sợ từng phút từng giây.

    Chiều tối 29, đau xót thay, khi Việt Cộng trên đường tấn công Sài Gòn, tất cả quân nhân được lệnh tan hàng để lo di tản. Hải Quân được lệnh phải mang tất cả chiến hạm qua Phi Luật Tân để trao trả cho Hoa Kỳ, họ không muốn cho bất cứ chiến hạm nào lọt vào tay Cộng Sản.

    Lúc đó gia đình tôi cũng chen chúc lên tầu một cách khó khăn như một thường dân vì anh là đơn vị di tản từ Cam Ranh về, không có tầu bè, không có bất cứ một phương tiện nào. Chúng tôi cùng đoàn người chờ đợi ở bến tầu, lũ lượt chen lấn nhau để lên một chiến hạm đang trong tình trạng sửa chữa ở Hải quân công xưởng. Tầu cố nổ máy để kéo lê giúp đoàn người đi tìm ánh sáng tự do dù không nước uống, không lương thực.

    Ra đến Côn Sơn người Hạm trưởng định lái tầu quay trở lại vì bị áp lực của bà vợ đòi trở lại Sài Gòn. Bà có ông anh Việt Cộng làm lớn, bà hy vọng ông anh có thể giúp gia đình bà.  Bà dọa nếu tiếp tục đi bà sẽ nhẩy xuống biển tự tử. Khi biết ông Hạm Trưởng sẽ lái tầu quay trở lại, các quân nhân đi quá giang trên tầu rất bất mãn, một số quân nhân Nhảy Dù nóng nẩy đòi giết ông Hạm trưởng vì họ không muốn chiếc tầu với gần 5 ngàn sinh mạng muốn đi tìm tự do phải quay trở lại sống dưới chế độ Cộng Sản. Thấy tình hình quá căng thẳng, chồng tôi là sĩ quan thâm niên nhất trên tầu phải ngăn cản và đứng ra dàn xếp. Anh liên lạc với ông Tư lệnh Hải quân đang ở trên một cái tầu khác xin phương tiện cho ông Hạm trưởng và gia đình ông trở lại Sài Gòn bằng 1 cái tầu nhỏ. Sau đó nhà tôi được lệnh làm Hạm trưởng lái chiếc tầu qua Phi Luật Tân. Tại đây tất cả tầu của HQ VN di tản đã tụ tập tại Subic Bay để giao trả lại cho Hải quân (HQ) Mỹ.   Đoàn người di tản được chuyển sang một thương thuyền thật lớn của Mỹ để đưa đến trại tị nạn ở đảo Guam.

    Tôi không sao quên được phút cuối cùng khi các quân nhân Hải quân VNCH rời tầu để chuyển giao lại cho HQ Mỹ. Mọi người đã làm lễ chào Quốc Kỳ VNCH một lần chót.  Bài Quốc ca vang lên trong nghẹn ngào, mọi người nhìn lá cờ vàng ba sọc đỏ đang bay phất phới trên đài chỉ huy bị từ từ kéo xuống,  ai cũng ngậm ngùi chảy nước mắt. Giã từ Việt Nam! Giã từ đất nước thân yêu!

    Tất cả các quân nhân được yêu cầu cởi quân phục bỏ lại trên tầu để thay bằng quần áo dân sự. Nhìn anh buồn bã cởi bỏ bộ quần áo HQ tác chiến mầu xanh xám, bộ đồ anh mặc hàng ngày đi làm suốt bao nhiêu năm trời, lòng tôi đau thắt lại. Anh cầm bộ đồ và cái mũ trong tay ngần ngừ một lát, tôi không sao quên được nét mặt anh lúc đó, sau cùng anh buông tay cho bộ đồ và cái mũ rơi trên sàn tầu, và xách mấy túi hành lý bước vội đi như chạy trốn. Tôi dắt các con đi theo nước mắt ràn rụa. Tôi ngoái lại phía sau nhìn bộ quần áo và cái mũ của anh nằm trơ trọi trên sàn tầu, tôi có cảm tưởng như mình đã bỏ rơi một người thật  thân yêu gần gũi. Nghĩ ngợi 1 giây, tôi vùng chạy trở lại, gỡ bộ lon của anh, bộ lon mà anh đã phải đánh đổi với hơn 20 năm binh nghiệp. Nhét vội bộ lon vào túi xách, tôi chạy theo anh cho kịp với đoàn người di tản đang xếp hàng để lên bờ. Bắt đầu từ giờ phút đó tôi mang cảm giác của một người vừa đổi kiếp.

    Kiếp trước là người có một cuộc sống thật đầy đủ hạnh phúc,  bỗng dưng “bừng con mắt dậy, thấy mình tay không”. Danh vọng tiền bạc biến hết. Hai vợ chồng, 4 đứa con thơ: đứa lớn nhất 13 tuổi, bé nhất 8 tuổi, phải rời bỏ quê hương, ra đi với 2 bàn tay trắng theo giòng người di tản không biết sẽ trôi dạt đến đâu.

    Cũng may nước Mỹ mở rộng vòng tay chào đón những người tị nạn. Cho dù guồng máy chính trị của đất nước này đã dự phần trách nhiệm làm chúng tôi mất quê hương về tay Cộng Sản. Nhưng những người dân Mỹ tốt bụng, họ có trách nhiệm gì với chúng tôi đâu mà vẫn cố gắng giúp đỡ chúng tôi trong những bước đầu khó khăn, không cửa không nhà, không công ăn việc làm. Họ đón chúng tôi bằng cảm tình nồng ấm. Tôi nhớ mãi nụ cười của một bà lão da đen thật hiền hòa khi thấy tôi đi qua trước mặt bà. Những bàn tay nhỏ bé của mấy em học sinh, trên xe bus vàng của nhà trường, vẫy vẫy tôi, khi tôi đứng đợi đèn xanh để qua đường. Một người đàn ông Mỹ ân cần hỏi tôi có cần ông ta giúp khi thấy tôi khệ nệ ôm bịch đồ ăn mới mua ở chợ ra xe. Những cử chỉ nhỏ của thuở ban đầu đó, là niềm an ủi, niềm vui cho những kẻ tha hương chân ướt chân ráo đến một đất nước xa lạ.

    Nhờ có bà dì ruột đã ở sẵn bên Mỹ vì chồng bà làm cho tòa Đại Sứ VN ở Washington DC, chúng tôi được trưởng nam của bà là Nguyễn Hoàng Diệu có quốc tịch Mỹ bảo lãnh gia đình và cho chúng tôi được tá túc trong nhà bà trong thời gian đầu khi mới đặt chân lên đất Mỹ. Hai vợ chồng, 4 đứa con ở chung trong một phòng dưới basement nhà bà. Tuy chật chội nhưng ấm cúng tình gia đình, nên chúng tôi rất vui mừng.

    Khi tôi kể chuyện về thời gian đầu cho 1 cô bạn thân nghe, cô ấy đã trêu tôi “Trong thời gian ở chung như vậy làm sao hai vợ chồng mi làm ăn?” Tôi phì cười và ngẩn mặt ra “Ừ nhỉ, nếu tôi nhớ không nhầm thì suốt thời gian dài ở nhà bà dì, vợ chồng chúng tôi đã quên luôn “cái khoản đó”.

    Ban ngày 2 vợ chồng lo đi lao động. Vợ đi làm bồi cho một coffee shop. Chồng làm cashier cho một tiệm ăn Hy Lạp. Cả 2 vợ chồng về đến nhà là mệt nhoài, lo cho 4 đứa con và cũng phải phụ lo cơm nước với bà dì. Tối đến vợ chồng con cái 6 mạng chui vào phòng ngủ chung, “làm ăn” gì nổi cơ chứ, và “làm ăn” cách nào, khi 4 đứa con với 8 con mắt tinh như ma ở xung quanh trong 1 cái phòng chả rộng rãi gì cho lắm. Lúc đó chúng tôi còn trẻ, vợ 34 tuổi, chồng mới có 43. Vậy mà cuộc sống bận rộn khiến chúng tôi chả nghĩ gì đến những chuyện “trần tục” đó, và quả thật cũng không thấy cần thiết nữa.

    Sau khi dành dụm được 1 số tiền nhỏ, chúng tôi mới dọn ra riêng. Chồng tôi là một người cha thương con và lo cho con vô cùng. Cả 2 vợ chồng tôi đều coi việc lo cho các con là ưu tiên số 1. Hồi ở VN, cả 4 đứa con tôi đều học đàn piano. Cuộc di tản làm việc học đàn của các cháu gián đoạn gần hai năm trời.  Sửa soạn ra ở riêng, chồng tôi nghĩ ngay đến việc phải cho các cháu được tiếp tục học đàn vì gián đoạn lâu quá sợ các cháu sẽ quên hết. Vì việc học đàn của các con, chúng tôi phải thuê nhà riêng để ở thay vì có thể ở apartment, mỗi tháng tiền thuê rẻ bằng nửa tiền thuê nhà, nhưng họ không cho phép đánh đàn vì sợ ồn làm phiền hàng xóm.

    Có nhà ở rồi chúng tôi tính tới việc mua đàn cho các con tập dượt. Vì học đàn mà không có đàn để tập hàng ngày thì cũng như không. Việc mua đàn mới là một sự liều lĩnh ít ai dám làm vào thời điểm đó. Khi dọn ra ở riêng, sau khi mua 1 cái xe cũ để gia đình có phương tiện di chuyển, vốn liếng chúng tôi  dành dụm trong thời gian ở nhờ nhà bà dì và tiền cơ quan thiện nguyện cho khi mới tới còn chưa được 2 ngàn đô. Chúng tôi đi kiếm mua 1 cái đàn cỡ trung bình giá là 1600 đô. Chúng tôi xin mua trả góp. Nhìn số lương của chúng tôi mà phải nuôi tới 4 đứa con, chủ tiệm đàn nói phải có người co-sign vì không đủ điều kiện để ký giấy mua 1 mình.

    Tôi nhờ cậu em bảo lãnh gia đình tôi co-sign dùm cho chúng tôi mua đàn cho các cháu thì cậu tròn mắt lên ngạc nhiên nhìn tôi như nhìn một con quái vật và hỏi tôi bằng 1 giọng thật gay gắt “Anh chị có điên không? Bây giờ lo sao cho đủ ăn đủ mặc là may, còn bày đặt cho con học đàn. Bộ chị tưởng anh ấy vẫn còn là Đại tá HQ à? Em còn không nghĩ đến chuyện cho con em học đàn, huống hồ anh chị, mới chân ướt chân ráo đến đây, còn nghèo mạt rệp mà đã tính chuyện nuôi con như thời vàng son ở VN. Dẹp những chuyện viễn vông đó đi.” Biết là cậu em nói rất đúng, nhưng tôi cũng tủi thân và dù cố kìm hãm mà nước mắt vẫn ứa ra. Tôi kể lại cho nhà tôi nghe rồi hai vợ chồng bàn tới bàn lui, cuối cùng nhà tôi quyết định là vẫn mua đàn và trả cash luôn hết. Lý do vì chúng tôi nghĩ âm nhạc rất cần thiết cho đời sống, nó làm cho đời sống thăng hoa và tâm hồn con người phong phú hơn. Nếu các con tôi có thú vui giải trí là âm nhạc thì sẽ không còn thì giờ rảnh rỗi đàn đúm bạn bè để có thể sa ngã vào những thói hư tật xấu của tuổi trẻ.

    Sau khi mua đàn cho các con, vốn liếng gia đình tôi còn đúng 90 đô. Chúng tôi đã tạo dựng cuộc sống mới trên đất Mỹ với con số khởi đầu là 90 đô. Mua đàn cho các con rồi thì phải lo tìm thầy dậy đàn cho chúng. Chúng tôi đã may mắn tìm được 1 bà giáo dậy đàn người Nhật. Bà Ellen Sakai rất tốt bụng, bà bằng lòng đến tận nhà dậy cho 4 cháu, mỗi tuần 2 giờ, mỗi đứa được học nửa giờ và chỉ lấy nửa giá là $10/1 giờ, thay vì giá của bà là $20/1giờ. Tiền lương 2 vợ chồng tôi vừa đủ cho việc trả tiền nhà, điện nước đổ xăng và tiền chợ. Bây giờ mỗi tháng phải chi thêm 80 đô tiền học đàn cho các con. Kiếm đâu ra bây giờ? 80 đô thời đó khá lớn, vì lương tối thiểu có $2.10/1 giờ rồi còn phải trừ thuế nữa.

    Cuối cùng tôi kiếm được việc làm thêm ngày cuối tuần, dọn nhà cho một bà khách hàng người Mỹ vẫn đến coffee shop tôi làm uống café. Bà ấy bằng lòng trả tôi $20 cash mỗi lần đến dọn nhà, lau chùi, hút bụi cho bà Tôi mừng húm nhận lời liền. Tôi vui vẻ, hào hứng khi hút bụi, lau chùi cửa kính cho căn nhà rộng lớn của bà không nề hà công việc vất vả. Nhưng khi phải dọn dẹp phòng tắm và cúi xuống lau cái bồn cầu dù rất sạch sẽ, nước mắt tôi bỗng ứa ra. Tôi còn nhớ, tôi đã đóng kín cửa, đứng khóc lặng lẽ một mình rất lâu khi nghĩ đến những ngày vàng son ở VN và nghĩ đến thân phận mình bây giờ. Càng nghĩ, càng tủi thân và cứ đứng khóc mãi. Hôm đó tôi về nhà, lòng nặng trĩu u sầu. Nhưng buổi tối, khi nghe tiếng đàn réo rắt từ những bàn tay nhỏ bé của các con, tôi bỗng vui ngay và tự nhủ lòng “mình hy sinh cho các con được tiếp tục cuộc sống đầy đủ như những ngày còn ở VN, thì mình phải cảm thấy hài lòng và hãnh diện chứ, sao lại tủi thân và buồn!”

    Từ đó, mỗi tuần khi dọn nhà cho bà khách hàng người Mỹ, đến lúc phải chùi cầu tôi không cảm thấy buồn nữa mà ngạc nhiên thấy mình rất vui vẻ và miệng còn hát líu lo. Tôi tiếp tục công việc dọn nhà cho tới hơn 1 năm sau, khi tôi học xong nghề Cosmetologist và đi làm rồi tôi mới “say goodbye” bà khách hàng của tôi.

    50 năm qua, đời sống đã ổn định, các con đã thành đạt. Đời mình đã bước vào tuổi hoàng hôn, có thể “chợt tắt” bất cứ lúc nào. Tôi vẫn không quên được cái “thuở hàn vi” đó và cảm thấy thật hài lòng là vợ chồng tôi đã cố gắng hết mình để lo  tròn bổn phận và trách nhiệm với 4 đứa con thân yêu, để chúng bước vào đời thật vững chắc và toàn vẹn.

    Hồng Thủy




    CHÙM THƠ CAO MỴ NHÂN: TẢN MẠN VUI VỀ CHUYỆN XƯA: BƯU ĐIỆP “TẠ TỪ” – A I. VÀ ANH – KHÓC CÙNG NIÊN KỶ.

    BƯU ĐIỆP “TẠ TỪ”   –  CAO MỴ NHÂN
     
    ===
    Thưa quý vị
    Ngày xưa, trước 1975, tất cả các Phòng, Ban đơn vị đều có BAN VĂN THƯ để nhận công văn ĐẾN và chuyển công văn ĐI. 
    Phòng, Ban đơn vị nào cũng có nhân viên thảo văn thư, quý Đơn vị trưởng sẽ duyệt lại, ký tên, nhân viên đóng dấu, ghi số công văn rồi gởi đi . 
    Bấy giờ Cao Mỵ Nhân hay tự ý viết các công văn liên hệ tới công tác xã hội của mình, nên các hình thức như CÔNG ĐIỆN, BƯU ĐIỆP, SỰ VỤ LỆNH vv…thảo xong, đưa nhân viên đánh máy, rồi ký gởi đi, để không phải sửa lại, thay đổi ý kiến …

    Do đó công việc phần hành văn thư rất thích cái tính ôm đồm, ham hố và nghịch ngợm của Cao Mỵ Nhân, Trưởng Phòng Xã Hội QĐI/QKI . 
    Một hôm, cô thư ký chuyên thảo văn thư ” thách ” CMN làm một bài thơ với hình thức BƯU ĐIỆP TÌNH YÊU. 
    Thế thì Cao Mỵ Nhân thảo ngay, với đầy đủ chi tiết hình thức một bản BƯU ĐIỆP , nên buộc lòng CMN phải ghi đủ các điều trích dẫn . 
    Vậy thưa các chữ in hoa, chính là của mẫu mã BƯU ĐIỆP bình thường. Chớ quý vị ngó vào các điều khoản chuyển đi, e khiếp đảm vì sao mà người viết ham hố thế . 
    Xin mời đọc, và bỏ qua cho cái lỗi ” tầm phào ” của Cao Mỵ Nhân tôi nha . 
     

    BƯU ĐIỆP ” TẠ TỪ “
     
    NƠI GỞI: Người yêu đã sang sông
    Không mong NƠI NHẬN : Tạc trong lòng
    Thiệp hồng THÔNG BÁO: Ân tình hết
    XÁC NHẬN: Thôi đừng nhớ với mong
     
    Điện tín về anh KHẨN cấp kỳ 
    Tình chưa tuyệt vọng đã sầu bi

    Bên sông nức nở vài tơ liễu
    Lời MẬT đường đưa tiễn chuyến đi
     
    BẢN VĂN từ tạ gởi cho nhau
    Với một tiêu đề hẹn kiếp sau
    Dang dở kiếp này xin xoá bỏ
    Ngàn năm ấp ủ ảnh hình đầu
     
    Ảnh hình THỨ NHẤT khắc trong tim
    Đã nhạt phai theo mỗi thoáng nhìn
    Mắt biếc tham lam ôm vũ trụ
    Tình yêu chân thực tưởng là điên
     
    Hình ảnh THỨ NHÌ vụt thoáng qua
    Bao nhiêu hình ảnh cùng mơ hoa
    Bấy nhiêu kỷ niệm toàn hư ảo
    Vì một tình yêu mới bỏ xa
     
    Trang giấy THỨ BA chép chuyện buồn
    Vòng tay thả lỏng những hoàng hôn
    Từng đêm rét mướt và đau khổ
    Tê buốt vai gầy, nặng nhớ nhung
     
    Rồi mối tình tên gọi THỨ TƯ
    Tưởng mùa đông đến, khiến bơ vơ
    Tâm tư băng giá, hoa đời khép
    Héo nụ tầm xuân mãi đợi chờ
     
    Tình viết sau cùng là THỨ NĂM
    ÔI bao ẩn ức, bấy âm thầm
    Cho tôi suy tụng ân tình cũ
    Để góp đèn hoa kết gối chăn …
     
    (KBC 4109-  19/6 /1972) 
     CAO MỴ NHÂN (HNPD)

    A I. VÀ ANH.   –  CAO MỴ NHÂN 

    Một mình ngó mãi không gian 

    Thấy con chim én vượt đàn, đăng cao

    Chim ơi, bay tới phương nào

    Mùa xuân đang ở chốn dào dạt mơ

    *

    Một mình hỏi khẽ, ngẩn ngơ

    Người trăm năm cũ bây giờ còn không

    Ô hay, lời lẽ điên khùng

    Hay trong tư tưởng mịt mùng a, i  ( AI ) 

    *

    Thôi rồi hớn hở, sầu bi

    Âu lo, trách cứ , điều gì hoang mang

    Nhanh như trái đất tan hoang

    Vượt mau trí tuệ nhân gian vạn đời

    *

    Người trăm năm thốt ra lời 

    Giấu em tình cũ đất trời hiện sinh

    AI ơi, anh đã hiển linh

    Bao nhiêu ký ức tạo hình thực hư

    *

    Từ đây thời khắc vô tư

    Trăm năm, vạn chuyện sẽ như hiện hành

    AI về tổng hợp cùng anh

    A, I  mở cửa trời xanh tuyệt vời …

    Utah   17 – 4 – 2025

    CAO MỴ NHÂN (HNPD)  

    20 – 4 – 2025

    KHÓC CÙNG NIÊN KỶ.      CAO MỴ NHÂN

    Trăng lênh đênh trôi lãng đãng trở về

    Cho thấy được cuộc đời là hư ảo

    Mây lướt thướt bay chập chờn phiền não 

    Mới bình minh sao nhuốm vẻ hoàng hôn

    *

    Khói sương tan trong bát ngát linh hồn

    Em mờ mịt tháng năm đầy quá khứ

    Tuổi anh lỡ trải dài đường viễn xứ

    Đừng nói thêm quê quán chốn hoang liêu

    *

    Biết đâu tìm ân nghĩa với thương yêu

    Tình đã lạt phai tưởng lầm trễ hẹn

    Không có gì sao thế gian bịn rịn

    Chuyến đò vơi trăng cạn nỗi riêng tư

    *

    Quán thu phong hơi lạnh buốt bao giờ

    Ai viết dở dang chờ người nhuận sắc 

    Vách lá ẩm ướt lời xưa mất mát 

    Ta đang cùng niên kỷ khóc chơi vơi…

             CAO MỴ NHÂN

       22 – 4 – 2025




    ĐỖ THÔNG MINH – Thư Đông Kinh Mới 1-5-2025