PHIM DAM MỸ- Trịnh Bình An

Tại sao Bắc Kinh cấm phim đam mỹ?
Trịnh Bình An
Đầu tháng Giêng 2022, nhà cầm quyền Hoa Lục đã ra lệnh chính thức cấm chiếu các phim thể loại “đam mỹ“.
Phim đam mỹ là loại phim phiêu lưu, tình cảm, không chứa đựng những tư tưởng cải cách, đấu tranh, đòi tự do, dân chủ…, tức là những điều tối kỵ đối với Đảng Cộng Sản, vậy vì lý do gì khiến Bắc Kinh lại ra tay ngăn cấm dù biết rằng sẽ thất thu bạc tỉ tiền thuế từ những bộ phim này?
Nhưng trước khi tìm hiểu thêm, xin được nhắc tới đôi điều về thể loại phim đam mỹ.
“Đam” nghĩa là mê đắm (như trong đam mê), “Mỹ” là đẹp đẽ (như trong mỹ lệ). Nhưng khi dùng cho tiểu thuyết, phim ảnh, hai chữ “đam mỹ” hàm ý tình yêu giữa người nam và người nam. (Tiếng Anh là “Danmei“: The male same-sex romance genre of “boys’ love“)
Trong năm 2021, hãng phim Netflix của Hoa Kỳ đã cùng một lúc phổ biến 4 bộ phim đam mỹ: Trần Tình Lệnh (The Untamed), Sơn Hà Lệnh (Word of Honor), Âm Dương Sư: Tình Nhã Tập (The Yin-Yang Master: Dream of Eternity), và Thiên Bảo Phục Yêu Lục (The Legend of Exorcism).
Những bộ phim này đều có chung một số ưu điểm: Kịch bản hấp dẫn, cảnh quan lộng lẫy, dàn diễn viên trẻ, đẹp, giỏi diễn xuất (riêng Thiên Bảo Phục Yêu Lục là phim hoạt họa). Nội dung cả 4 bộ phim đều xoay quanh mối tình lãng mạn giữa hai nhân vật nam chính.
Nhưng tại sao chỉ là “lãng mạn“?
Bởi vì trong phim hoàn toàn không có những cảnh ướt át, mùi mẫn như hôn hít, vuốt ve, làm tình… điều vẫn thấy nhan nhản trong các phim đồng tính nam. Ở đây, tình yêu chỉ được thể hiện qua ánh mắt tha thiết, lời nói ân cần. Yêu là quan tâm lẫn nhau, thông cảm với nhau, hy sinh mạng sống cho nhau. Những cảnh thân mật nhất chỉ có: nắm tay khi trị thương, đỡ nhau khi bất tỉnh, choàng vai khi… khinh công.
Nhưng nếu đã “thụ thụ bất thân” (1) đến như thế, tại sao Bắc Kinh phải nhảy dựng lên?
Trước khi trả lời câu hỏi này, tưởng cũng nên nhắc lại quan niệm “Tri Kỷ” trong văn hóa Trung Hoa.
Hai chữ tri kỷ dùng để chỉ một người bạn rất thân, thân đến mức có thể thông cảm và hết lòng với mình. Những đôi tri kỷ trong sử Tàu được nhắc tới nhiều nhất là Bá Nha-Tử Kỳ và Quản Trọng-Bảo Thúc Nha. Còn bộ ba anh em kết nghĩa Lưu Bị-Quan Vũ-Trương Phi là tình “huynh đệ-chiến hữu“, chiến đấu bên nhau, sống chết cùng nhau. Thế nhưng những cặp tri kỷ ấy, ai nấy đều có gia đình riêng, có vợ con, thậm chí còn có nhiều vợ.
Còn khi hai người nam yêu nhau tới mức trở thành tình nhân thì không gọi “Tri Kỷ” nữa mà là “Đoạn Tụ“.
“Đoạn” là chặt đứt, “Tụ” là tay áo. Hai chữ ấy có nguồn gốc từ điển tích “Chặt tay áo“: Đổng Hiền được vua Hán Ai Đế yêu thương, nằm gối vào tay áo vua mà ngủ. Khi vua dậy trước, không nỡ đánh thức, bèn cắt luôn tay áo mà đứng lên.
Văn hóa Trung Hoa ca ngợi tình tri kỷ như thứ tình cao quý giữa người và người, nếu là nam và nữ thì nữ là “hồng nhan tri kỷ” của nam. Tri kỷ cũng có nguyên tắc của tri kỷ. Một trong những nguyên tắc chính yếu là phải “đạm“, tức không bày tỏ lộ liễu, như câu “Quân tử chi giao đạm nhược thủy” (2). Tình của của người quân tử lạt như nước, nước nhờ lạt mà không ngán.
Một câu khác (tương truyền của thừa tướng Gia Cát Lượng) còn nói rõ thêm: “Ôn bất phiền hoa – Hàn bất cải diệp” – Ấm không nở hoa, lạnh không thay lá – Ý nói trong giao tình nên giữ thái độ bình thản, không vồ vập khi thích nhau nhưng cũng không hắt hủi khi hết thích nhau.
Nước Việt ta truyền tụng tình bạn tri kỷ giữa hai thi hào Nguyễn Khuyến và Dương Khuê. Khi cụ Nghè Dương ra đi, cụ Tam Nguyên Yên Đổ viết bài thơ khóc bạn, khóc thương người đi nhưng cũng khóc thương chính mình, vì mất tri kỷ đồng nghĩa mất đi người có thể chia sẻ với ta những điều tinh tế nhất.
Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua không phải không tiền không mua.
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết
Viết đưa ai, ai biết mà đưa.
Giường kia treo những hững hờ
Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.
Tình tri kỷ còn là thứ tình bạn chỉ có được ở những bậc hào hoa nhất, phong lưu nhất, những con người không màng tiền tài, danh lợi. Bài hát “Si Tình Mộ“, trong phim Âm Dương Sư, đề cao tình cảm cao quý ấy với hai câu thơ: “Bất cầu anh hùng vạn thế danh – Đãn cầu tri kỷ đồng lộ hành” (3)- Cần chi danh tiếng anh hùng, những mong tri kỷ đi chung một đường.
Người đàn ông phương Tây cũng cảm nhận những tình bạn sâu sắc giữa họ với nhau, nhất là trên chiến trường. Tác phẩm “All Quiet on The Western Front” (Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh) của Erich M. Remarque có đoạn miêu tả thứ cảm tình lạ lùng mà thâm trọng ấy.
“Now I hear muffled voices. To judge by the tone that might be Kat talking…These voices, these quiet words, these footsteps in the trench behind me recall me at a bound from the terrible loneliness and fear of death by which I had been almost destroyed. They are more to me than life, these voices, they are more than motherliness and more than fear; they are the strongest, most comforting thing there is anywhere: they are the voices of my comrades. I am no longer a shuddering speck of existence, alone in the darkness – I belong to them and they to me; we all share the same fear and the same life, we are nearer than lovers, in a simpler, a harder way; I could bury my face in them, in these voices, these words that have saved me and will stand by me.“
(Tôi chợt nghe thấy tiếng ai đó nói nho nhỏ. Nghe ra như giọng của Kat… Những tiếng nói, những lời nho nhỏ, những bước chân trong chiến hào ở sau lưng, đã kéo giật tôi ra khỏi nỗi cô đơn và nỗi sợ chết kinh hoàng suýt nữa quất tôi đổ sụm. Những tiếng nói ấy, với tôi, còn hơn cả sự sống, hơn cả tình mẫu tử, hơn cả nỗi sợ hãi; Chúng là thứ mạnh mẽ nhất, ủi an nhất: Chúng là tiếng đồng đội của tôi. Tôi không còn là một một đốm sáng thoi thóp lập lòe, lẻ loi trong bóng tối – tôi thuộc về họ và họ thuộc về tôi. Tất cả chúng tôi đều có chung nỗi sợ hãi và có chung cuộc sống. Chúng tôi gần gụi nhau hơn cả tình nhân, thật dễ dàng mà cũng thật khó khăn. Tôi có thể vùi mặt vào họ, vào những tiếng nói của họ, những tiếng nói ấy đã cứu lấy tôi và sẽ đứng bên tôi.)
Tình “huynh đệ chi binh” cũng khiến độc giả chúng ta say mê theo dõi từng bước chân của bốn chàng lính Ngự Lâm của Alexandre Dumas. Dù xuất thân rất khác, tính tình cũng rất khác, Athos, Porthos, Aramis và d’Artagnan vẫn gắn bó với nhau trong những điệp vụ gian nan, kéo dài từ tác phẩm”Les Trois Mousquetaires” (Ba Chàng Ngự Lâm Quân) tới tác phẩm “Vingt Ans Après” (Hai Mươi Năm Sau).
Và nếu không dựa vào tình tri kỷ thì Conan Doyle sẽ khó lòng viết nên những trang trinh thám mãi mãi mê hoặc lòng người giữa chàng thám tử tài hoa Sherlock Holmes và người bạn của anh – Dr. Watson. Khi Watson bị trúng đạn, chứng kiến biểu cảm của Holmes, lòng ông tràn đầy xúc động:
It was worth a wound; it was worth many wounds; to know the depth of loyalty and love which lay behind that cold mask. The clear, hard eyes were dimmed for a moment, and the firm lips were shaking. For the one and only time I caught a glimpse of a great heart as well as of a great brain. All my years of humble but single-minded service culminated in that moment of revelation.
(Vết thương thật đáng giá; cho dù nhiều vết thương hơn nữa vẫn thật đáng giá. Nhờ nó, mới thấy ẩn sau lớp mặt nạ lạnh lùng kia là thăm thẳm tình thâm nghĩa trọng. Chỉ một thoáng qua thôi, nhưng tôi thấy đôi mắt vốn dửng dưng kia bỗng chợt tối lại, đôi môi nghiêm nghị kia chợt khẽ run lên. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất tôi được thấy một trái tim vĩ đại và một khối óc vĩ đại. Tất cả những năm tháng âm thầm tận tụy của tôi, cuối cùng, cũng đã viên mãn chỉ trong cái khoảnh khắc diệu kỳ ấy.)
Trên đây, là một vài ví dụ cho tình tri kỷ của những thời trước kia. Dù Đông hay Tây, phái nam thường thích tụ họp, quây quần với nhau. Đó có thể là vết tích của người tiền sử chăng, khi đàn ông giữ nhiệm vụ săn bắt, họ phải cùng nhau đối đầu với những loài dã thú to khỏe và hung dữ.
Và bây giờ, xin được trở về với chủ đề phim đam mỹ.
Hai bộ phim truyền hình nhiều tập Trần Tình Lệnh và Sơn Hà Lệnh đều được chuyển thể từ tiểu thuyết kiếm hiệp đam mỹ. Hai nhân vật nam chính trong truyện đều thuộc loại “đoạn tụ“, tiếng Anh là “gay man“, tiếng Việt là “đàn ông cong“, trái với “đàn ông thẳng – straight man“. Thế nhưng, để qua được kiểm duyệt, phim được sửa đổi để chỉ còn là tình tri kỷ, các cặp tình nhân nam-nam đều bị đặt trong cái thế “tình trong như đã mặt ngoài còn e” (4).
Thế mà Bắc Kinh vẫn lo sợ! Nói cho ngay, có lý do để lo sợ. Ít nhất vì 3 lý do sau đây:
Thứ Nhất, cho tới nay, Trung Cộng vẫn giữ thái đồ lình xình với giới đồng tính: “Không cấm đoán cũng không cho phép“. Sự thành công vượt bực của Trần Tình Lệnh và Sơn Hà Lệnh kéo theo cả một chuỗi những bộ phim đam mỹ khác đang rục rịch ra lò. Điều đó sẽ khiến xã hội có thiện cảm nhiều hơn với giới đồng tính. Và đó chính là bệ phóng cho những đòi hỏi mạnh mẽ hơn về quyền đồng tính. Thế nhưng, Đảng Cộng Sản vốn rất ghét bị áp lực bởi người dân. Không nên quên Bắc Kinh đã sẵn sàng nã súng vào chính đồng bào mình trong biến cố đẫm máu Thiên An Môn 1989, dù đó chỉ là một đoàn thanh niên sinh viên tay không tấc sắt, biểu tình ôn hòa.
Thứ Hai, các phim đam mỹ góp phần làm thay đổi “gu” thẩm mỹ về nam giới của giới trẻ Hoa Lục ngày nay. Từ thời Mao Trạch Đông, các tranh cổ động Trung Cộng đều mô tả “Con người Xã Hội Chủ Nghĩa” qua hình ảnh những nông dân, công nhân to khỏe vạm vỡ với nét mặt rạng rỡ tươi vui. Thế nhưng, khi Hoa Lục “mèo trắng, mèo đen“(5) mở cửa, các tư tưởng bên ngoài đã tràn vào và làm lung lay các giáo điều cộng sản.
Bắt đầu từ những cuốn truyện tranh Nhật Bản (6).
Có lẽ vì người châu Á vốn thấp lùn, mũi tẹt, mắt hí, nên các nhân vật truyện tranh thường được vẽ với thân hình dong dỏng cao, sóng mũi thẳng và cặp mắt to, ngay cả người nam cũng xinh đẹp một cách thanh tú. Thế nhưng, ước mơ thoát khỏi kiếp “em sinh ra trời bắt xấu” chỉ thành sự thật khi giải phẫu thẩm mỹ trở nên tân tiến hơn, rẻ tiền hơn. Thanh thiếu niên Hàn Quốc đua nhau đi cắt mắt, sửa mũi, gọt cằm… tới mức các nam, nữ diễn viên người nào người nấy đều trông hao hao giống nhau, ai cũng mắt to, cũng cằm nhọn V-line, tới mức nhìn cứ ngỡ tất cả đều là anh chị em!
Xứ sở tỷ dân nào chịu thua kém xứ sở kim chi. Để theo kịp “đợt sống mới“, các diễn viên màn bạc cũng được tuyển chọn theo tiêu chuẩn mới. Các nam anh hùng không còn mang dáng “đường đường một đấng anh hào” mà nay phải “chân dài, ngực mỏng, da trắng, mặt gầy, môi nhỏ“. Thế nhưng, các “nam thần, soái ca” mảnh mai, ẻo lả ấy không hề làm giảm sút khí chất, phong độ của các nhân vật trong truyện và phim, thậm chí họ còn làm nổi bật hơn tài mạo siêu việt bởi vì ai nấy đều sở hữu “võ công cái thế, nội lực kinh người“.
Thế nhưng, đứng ở góc nhìn trần trụi của giới cầm quyền cộng sản, những chàng “trai đẹp” ấy làm sao có thể cầm súng ra trận theo “tiếng gọi tổ quốc“. Chưa kể, rất nhiều người trong số họ lại là con trai độc nhất trong gia đình, từ nhỏ đã được cưng chiều rất mực. Liệu Bắc Kinh sẽ có được một đoàn quân hùng hậu với những “cậu ấm“? Trào lưu “mỹ nhân hóa” nam thanh niên trở thành mối nguy cơ làm mất đi sức mạnh cơ bắp của quân đội. Quân đội mà yếu thì Trung Cộng còn hung hăng đe dọa được ai?
Và lý do Thứ Ba, cũng tiềm ẩn nguy cơ không kém hai lý do trên, đó là các hội kín. Cộng đồng LGBT (Lesbian, Gay, Bisexual, và Transgender) ở Hoa Lục vốn đã có những tụ điểm ở một số thành phố tương đối cởi mở. Trên thực tế, không dễ dàng phân biệt ai là đồng tính. Một người đàn ông vai u thịt bắp vẫn có thể là “nữ” trong mối tư tình. Những câu lạc bộ, hội kín ấy biết đâu chừng cũng là những “ổ chứa phản động“? Không nên quên Pháp Luân Công chỉ là một giáo phái tu học “chân, thiện, nhẫn” vậy mà đã khiến cho Bắc Kinh lo sợ tới mức phải dùng mọi cách “đuổi tận, giết tuyệt” vô cùng tàn độc.
Những hội đoàn có tính chất “nghĩa huynh – nghĩa đệ” khiến Bắc Kinh liên tưởng tới “108 Hảo Hán Lương Sơn Bạc” đã từng làm rung chuyển triều đình phong kiến. Nhóm huynh đệ ấy đã thất bại ở Thủy Hử, nhưng tại thế kỷ 21 này – khi Tự Do là ngọn gió bất khả đảo chiều, những con người ấy rất có khả năng sẽ làm tiêu ma chế độ “phong kiến đỏ“, dù cho nó có giảo quyệt và tàn nhẫn hơn những triều đại xưa gấp chục lần hơn.
Với 3 lý do vừa kể trên, không khó để hiểu tại sao nhà cầm quyền Trung Cộng đã hạ lệnh ngăn cấm vô thời hạn những bộ phim điện ảnh thể loại “đồng tính nam” cho dù đó chỉ là tình tri kỷ hay tình huynh đệ.
Về thị trường điện ảnh châu Á mà nói, khi khán giả đã chán ngấy các thể loại ngôn tình sướt mướt, cung đấu trí trá, tiên hiệp viển vông… việc họ quay ra say mê tình bạn tri kỷ ấm áp “sống chết có nhau, không rời không bỏ ” là điều dễ hiểu.
Câu hỏi đặt ra là: Liệu giới điện ảnh Hoa Lục có bó tay chịu thua hay không?
Kịch bản cho một mối giao tình nam-nam không thể bỏ qua 2 yếu tố: thiện tâm và dũng khí.
Bởi, dù vẻ ngoài mềm mỏng, những nhân vật chính đều vẫn là những anh hùng, tình yêu của họ không thể chỉ nhìn vào mắt nhau mà phải cùng nhìn về một hướng: trừ gian, diệt ác. Mà, chỉ anh hùng mới có tri kỷ, không có tình bạn giữa kẻ cướp.
Và, đó có thể là lý do Thứ Tư khiến Bắc Kinh căm ghét các chàng trai vừa trẻ, vừa đẹp, lại còn tự do, phóng khoáng… trong các phim “đam mỹ“. Bởi, Đảng Cộng Sản không cần tới anh hùng, vì Đảng Cộng Sản chỉ là một bọn cướp.
Trịnh Bình An
***
Ghi chú:
(1) “Nam nữ thụ thụ bất thân“: Nam nữ không được tiếp xúc thân thiết. Câu này được trích trong sách “Li Lậu Thượng” của Mạnh Tử. Vốn có hai vế, nhưng vế thứ hai thường bị bỏ sót. Nguyên văn: “Nam nữ thụ thụ bất thân, lễ dã; Tẩu nịch viên chi dĩ thủ, quyền dã” (Giữa nam và nữ không nên trực tiếp trao nhận vật phẩm bằng tay, đó là lễ nghi; Nhưng nếu chị dâu rơi xuống sông thì (em chồng) dùng tay để cứu, đó lại là thích ứng). Chữ “Quyền“, bộ Mộc, chỉ sự thích ứng, tuy trái với đạo thường nhưng hợp với lẽ phải. Bài viết dùng thành ngữ này để chỉ sự cứng nhắc trong văn hóa Trung Hoa.
(2) Nguyên câu văn trong “Trang Tử Nam Hoa Kinh“: “Quân tử chi giao đạm nhược thủy, tiểu nhân chi giao cam nhược lễ” (Quân tử đối xử với nhau nhạt như nước lã, tiểu nhân thì lại ngọt như rượu nếp).
(3) Nguyên đoạn là: “Bất cầu anh hùng vạn thế danh. Đãn cầu tri kỷ đồng lộ hành. Tâm như băng tuyết khiên như điệp. Thị phi đối thác vô bằng tá“. (Chẳng cần được tiếng anh hùng ngàn năm. Chỉ mong có tri kỷ đi cùng đường. Trái tim như băng tuyết, đôi vai như cánh bướm (lạnh với các ham muốn, nhẹ với các mưu cầu). Thị phi đúng sai không can dự vào).
(4) “Người quốc sắc kẻ thiên tài – Tình trong như đã mặt ngoài còn e“. Tả dáng vẻ thẹn thùng của Kim Trọng và Thúy Kiều khi gặp gỡ lần đầu tiên. Trích “Đoạn Trường Tân Thanh” của Nguyễn Du.
(5) Nguyên văn câu nói của Đặng Tiểu Bình: “Bất quản hắc miêu bạch miêu, năng tróc lão thử đích tựu thị hảo miêu” (Bất kể là mèo trắng hay mèo đen, miễn bắt được chuột thì đều là mèo tốt). Từng bị Mao Trạch Đông coi là tư tưởng “gió nghịch chiều“, dẫn đường đến chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, câu này có xuất xứ từ bộ tiểu thuyết “Liêu Trai Chí Dị” – Truyện “Khu Quái” – của Bồ Tùng Linh. Đời nhà Thanh, tú tài họ Từ không muốn phục vụ triều đình, bèn bỏ đi học đạo thuật để giúp người trừ ma quỷ. Có một đại quan triều đình mời ông ta đến trừ ma quỷ, hầu hạ đãi đằng cơm ngon rượu ngon nhưng tuyệt không mở miệng nói gì đến chuyện trừ ma quỷ. Đến tối có một con quái vật đầu người mình thú hiện đến ăn cơm thừa canh cặn. Từ tú tài sợ mất hồn hét loạn lên làm con quái thú cũng hoảng hồn chạy mất, từ sau không xuất hiện nữa. Người đời cảm thán rằng: “Hoàng ly hắc ly đắc thử giả hùng” (Dù chồn vàng hay chồn đen, cứ bắt được chuột là thành anh hùng).
(6) Nhật Bản gọi truyện tranh là Manga. Hàn Quốc là Manhwa. Trung Hoa là Manhua. Cả ba loại truyện đều có phong cách vẽ tương tự như nhau.
<<<<<<<<<<< FOR REFERENCE ONLY – DO NOT USE >>>>>>>>>>
Văn học nghệ thuật không phải là một mớ thuyết giảng đạo đức mà là cả một thế giới thấm đẫm tình người, có khả năng đánh thức, lay động nhân tính, gây nên những xúc động thẩm mỹ, đeo bám, ám ảnh, thôi thúc con người tự hoàn thiện không ngừng.
Người LGBT ở Việt Nam bao gồm những người đồng tính luyến ái, song tính luyến ái và người chuyển giới. LGBT là cụm từ viết tắt các chữ cái đầu gồm Lesbian, Gay, Bisexual, và Transgender/transsexual people (những người đồng tính nữ, người đồng tính nam, người song tính và người chuyển giới trong tiếng Anh)
- “Nam nữ thụ thụ bất thân”: Nam nữ không được tiếp xúc thân thiết. Câu này được trích trong sách Li Lậu Thượng 離婁上của Mạnh Tử. Vốn có hai vế, nhưng vế hai thường bị bỏ sót. Nguyên văn: “Nam nữ thụ thụ bất thân, lễ dã; Tẩu nịch viên chi dĩ thủ, quyền dã” 男女授受不親, 禮也; 嫂溺援之以手, 權也 (“Giữa nam và nữ không nên trực tiếp trao nhận vật phẩm bằng tay, đó là lễ nghi; Nhưng nếu chị dâu rơi xuống sông thì (em chồng) dùng tay để cứu, đó lại là thích ứng”). Chữ “Quyền” bộ Mộc 權, là sự thích ứng, tuy trái với đạo thường nhưng hợp với lẽ phải.
- Như trong các câu ngạn ngữ “Chấp kinh tòng quyền“: Tuy giữ đạo thường nhưng cũng có lúc phải theo hoàn cảnh mà biến đổi đi; “Ngộ biến tòng quyền“: Gặp cảnh biến phải theo đạo “quyền” (không thể giữ nguyên đạo “kinh” như lúc bình thường).
Xưa nay trong đạo đàn bà,
Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường,
Có khi biến có khi thường,
Có quyền nào phải một đường chấp kinh .
(Kiều)
Nguyên văn của Đặng Tiểu Bình : “Bất kể mèo vàng hay mèo đen, phương pháp nào có lợi cho khôi phục sản xuất thì áp dụng phương pháp đó. Tôi tán thành việc nghiêm túc nghiên cứu khoán sản lượng đến từng hộ gia đình”. Từng bị Mao Trạch Đông coi là tư tưởng “gió nghịch chiều”, dẫn đường đến chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, câu này có xuất xứ từ bộ tiểu thuyết “Liêu Trai Chí Dị” của Bồ Tùng Linh. Tại quyển 3, cuối thiên Khu Quái (Trừ Tà) có câu: “Dị sử thị viết: hoàng li hắc li, đắc thử giả hùng”. (Mèo vàng mèo đen, chỉ cần bắt được chuột thì đều là mèo tốt).
Baike Baidu (Bách Khoa Bách Độ)
黃狸黑狸,得鼠者雄,成語出處異史氏曰:‘黃狸黑狸,得鼠者雄。’此非空言也。 清·蒲松齡《聊齋志異·驅怪》。
清朝時期,徐秀才不願為清廷服務,就改學道術為人驅鬼。
一個朝廷大員請他驅鬼,好酒好菜侍侯,閉口不談驅鬼事情。晚上一頭獸頭人身的怪物來舔食剩菜剩飯。徐秀才嚇得拼命狂叫嚇跑了那怪物,後來再也沒發現了,人們感嘆:“黃狸黑狸,得鼠者雄”。
“Hoàng ly hắc ly đắc thử giả hùng”. Thành ngữ xuất xứ: Dị Sử Thị viết: “Hoàng ly hắc ly đắc thử giả hùng, thử phi không ngôn dã”. (Thanh Bồ Tùng Linh: Liêu Trai Chí Dị – Khu Quái). Thanh triều thời kỳ, Từ tú tài bất nguyện vi Thanh đình phục vụ, tựu cải học đạo thuật vị nhân khu quỷ. Nhất cá triều đình đại viên thỉnh tha khu quỷ, hảo tửu hảo thái thị hầu, bế khẩu bất đàm khu quỷ sự tình. Vãn thượng nhất đầu thú đầu nhân nhân đích quái vật lai thiểm thực thặng thái thặng phạn. Từ tú tài hách đắc bính mệnh cuồng khiếu hách bào liễu na quái vật, hậu lai tái dã một phát hiện liễu. Nhân môn cảm thán: Hoàng ly hắc ly đắc thử giả hùng.
* DỊCH TIẾNG VIỆT: Xuất xứ thành ngữ này từ lời bàn của Dị Sử Thị: “Hoàng ly hắc ly đắc thử giả hùng, chẳng phải là lời nói suông”. (Truyện Khu Quái trong Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh). Đời nhà Thanh, tú tài họ Từ không muốn phục vụ triều đình, bèn bỏ đi học đạo thuật để giúp người trừ ma quỷ. Có một đại quan triều đình mời ông ta đến trừ ma quỷ, hầu hạ đãi đằng cơm ngon rượu ngon nhưng tuyệt không mở miệng nói gì đến chuyện trừ ma quỷ. Đến tối có một con quái vật hiện đến ăn cơm thừa canh cặn. Từ tú tài sợ mất hồn hét loạn lên làm con quái vật cũng hoảng hồn chạy mất, từ sau không xuất hiện nữa. Người đời cảm thán rằng: Dù chồn vàng hay chồn đen, cứ bắt được chuột là thành anh hùng.
1. Ly 狸 là con chồn.
2. Câu nói của Đặng Tiểu Bình hơi khác: “Bất quản hắc miêu bạch miêu, năng tróc lão thử đích tựu thị hảo miêu” (不管黑貓白貓,能捉老鼠的就是好貓).
1 trang mạng của Tàu về “đam mỹ điện ảnh” (danmei movies):
Good-looking Danmei English movies recommendations (2015)
(Hảo khán đích đam mỹ Anh văn điện ảnh suy tiến 好看的耽美英文电影推荐)
Hảo khán = nice, beautiful. Google dịch là good-looking.
Nguyên câu văn trong Trang Tử Nam Hoa Kinh: “Quân tử chi giao đạm nhược thủy, tiểu nhân chi giao cam nhược lễ” 君子之交淡若水小人之交甘若醴. (Cam nhược lễ = ngọt như rượu nếp).
Ca Khúc “NGƯỜI NHẶT SAO RƠI”- Thơ: Sa Chi Lệ | Nhạc: Duy Tuấn | Hòa âm: Bá Khôi || Ca sĩ: Duy Nam
KIỀU MỸ DUYÊN – Người Di Tản Buồn – Phỏng vấn Nữ Ký Giả Kiều Mỹ Duyên – Hương Thơ- Saigon TV
Phỏng vấn Nữ Ky Giả Kiều Mỹ Duyên Về Người Di Tản Buồn của Hương Thơ- Saigon TV
VĂN: Hương Xưa, Ngày Tháng Cũ – ĐỖ DUNG
Hương Xưa, Ngày Tháng Cũ.
Những Kỷ Niệm Thời Trưng Vương
Đỗ Dung
Các bạn đồng khoá chúng tôi, TV 58-65, muốn cùng nhau thực hiện một cuốn Đặc San đặc biệt ngày năm mươi năm dời trường. Hạn chót nộp bài là cuối tháng January. Hôm nay, 14/1/2015. Tôi biết viết gì đây?Bạn? Bè? Bạn một đời? Bạn một thời? Có những người tưởng như bạn một đời, có những người tưởng chỉ là bạn một thời… Những khuôn mặt từ từ hiện lên, những kỷ niệm cũ uà về. Bẩy năm Trung Học, mấy năm lên Đại Học, rồi tan tác, chia lià, rồi lại đoàn viên. Những Đại Hội trùng phùng cảm động, bùi ngùi nhận ra nhau, hay biết thêm về nhau nhiều hơn để tiếp tục gắn bó.
Những hỗn danh Chính Tốn, Châu Sình, Ngân Le, Dung Lu, Tí Ti, Bé Bự… đưa tôi về khoảng thời gian vui vẻ nên thơ nhất của đời người, bẩy năm Trung Học. Bẩy năm aó trắng tung tăng, mấy năm cuối với những mộng mơ, những rung động nhẹ nhàng của một thời con gái.
Một buổi sáng muà hè năm 1958, mẹ tôi chất bốn chị em chúng tôi, đứa lớn nhất 11 tuổi, đứa bé nhất mới lên 5, cùng ngồi với mẹ trên một chiếc xe xích lô máy đến trường Trưng Vương xem kết quả thi vào Đệ Thất. Chả hiểu sao khi tôi đem bản nháp bài thi về cho cha tôi xem thì ông đoán như đinh đóng cột là “Con bố phải đỗ”, dù là trường chỉ chọn ba trăm học sinh trong số gần ba ngàn thí sinh từ các trường Tiểu Học khắp nơi dự thi. Mẹ tôi không dám tin chắc nhưng vì tiện xe và trường gần Thảo Cầm Viên nên cho các em tôi đi chơi một thể. Thật may mắn, loa phóng thanh mới phát ra một lúc đã thấy đọc đến tên tôi. Mấy chị em tôi đã rú lên mừng rỡ. Để cho chắc chắn mẹ tôi bắt đợi khi nhà trường đọc hết danh sách, đến dò tên ở bảng dán trên tường với số báo danh rõ ràng mới yên chí. Mấy chủ xe đưa đón học sinh xúm xít vây quanh những phụ huynh có con trúng tuyển để quảng cáo lấy khách. Mẹ tôi nói địa chỉ nhà, họ chuyển sang cô Năm-chú Sáu, hai vợ chồng chủ xe chạy lộ trình này. Mẹ trả tiền xe cho cô Năm và cô hẹn ngày khai trường sẽ đến tận nhà đón.
Ngày khai trường đến, tôi xúng xính trong chiếc áo dài ngồi đợi, hồi hộp, lo âu trong sung sướng mình đã là nữ sinh Trưng Vương. Trên xe có hai nhỏ TV ngồi sẵn, Phùng Thị Chính, Lan Phương. Đi đến gần đầu đường thêm nhỏ Thu Hà với Kim Loan. Thì ra nguyên một khúc Thành Thái này đã có bốn TV be bé. Nhà Chính ở chợ An Đông. Xe cô Năm-chú Sáu đưa rước hai trường, Trưng Vương và thêm một trường Tiểu Học Tầu trong Chợ Lớn. Mỗi ngày khi xe đưa học trò nhỏ trường Tầu về là đón TV đi học. Sau đường Trần Hưng Đạo thì trên xe chỉ còn có TV. Bích Liễu ở khu Nancy, có biệt danh là Chuột Chù Phan Văn Trị, không biết ai đặt, có lẽ tại cô nàng tuổi Tí. Xe đón Bích Liễu là đón luôn chị Bạch Lan. Lê Thị Bảo ở Cô Bắc. Tôi còn nhớ ngoài TV 58-65 còn các TV lớp lớn hơn như Kim Chung, Bạch Lan, Tuyết Phương, Hồng Nhung, Hạnh, Hiếu… Năm sau có thêm Bích Từ, Trần Thị Phương, Tuyết Như rồi kế tiếp là Thục Văn, Kim Tâm và mấy chị em nhà hàng len ở Lê Thánh Tôn…
Những ngày đi xe trường có nhiều chuyện thật vui. Tôi hay giành ngồi ngay đối diện cô Năm ở phía sau cùng để phụ cô làm lơ xe. Mỗi khi xe ghé đón hay thả học trò thì la lên “Cho xe ghé dzô đi” một cách khoái trá. Xúm lại chọc sao Cô Năm mà lại Chú Sáu, vậy là cô Năm lớn hơn chú Sáu… hahaha! Những ngày nghỉ thỉnh thoảng tôi đi chợ An Đông, leo lên lầu nhà Chính rồi hai đứa chui vào một xó chuyện trò. Ngày họp ĐH ở nhà hàng Paracel, sau mấy chục năm không gặp, tưởng Chính đã quên nhưng tự nó đến vỗ vai tôi mà nói, hồi đó bà cụ tao gọi mày là “Cái Tròn”. Cụ có nhắc đến mày đấy.
Những năm đệ nhất cấp chúng tôi học buổi chiều. Ngày đầu tiên bước vào ngôi trường thân yêu ấy, chúng tôi xếp hàng theo từng lớp dưới sân trường, chào cờ, nghe huấn từ của bà Hiệu Trưởng Tăng Xuân An; lời chỉ dạy của bà Giám Học Nguyễn Thị Phú về chương trình giáo dục; cô Tổng Giám Thị Nguyệt Minh nhắc nhở về hạnh kiểm, công dung ngôn hạnh, những nết na của người con gái và nói về những kỷ luật của nhà trường. Trong mắt tôi lúc đó, ba bà trong Ban Giám Hiệu thật đẹp và oai nghi. Nhất là cô Tổng Giám Thị.
Giáo sư chính lớp tôi là bà An Thị Kỷ, bà Giám Thị Trí và đặc biệt tôi nhớ hai chị tuỳ phái, chị Ngọ tóc vấn khăn để trần. Chị Nụ ngoài khăn vấn quấn tròn trên đầu còn phủ thêm chiếc khăn vuông màu đen gấp chéo buộc lại phiá sau thành khăn mỏ quạ. Nhìn hai chị, tôi nhớ vú Hạnh, chị Dần nhà tôi ngoài Hà Nội, quần áo tiêu biểu chính cống Bắc Kỳ xưa.
Chúng tôi quen dần với bạn mới. Mấy em bé bé dãy bàn đầu có Tạ Bạch Mai Hương, Đan Hà, Nguyễn thị Hợp, Nguyễn Thị Minh Hà, Mai Oanh, Bích Trâm, Vân Bằng, Vân Anh, Bùi Nga, Đinh Thị Bạch Tuyết, Cấn Thị Hạnh Viên, Bùi Kim Liên… Dãy bàn nhì với Kim Khánh, Hoàng Kim Liên, Trương Kim Lan, Nguyễn Thị Hà, Phan Song Hà, Đào Dung, Đoàn Dung, Đỗ Dung. Bích Liễu hình như ngồi góc phía bên kia với Phùng Thị Chính, Kim Chinh và Trịnh Thị Thảo. Mấy dẫy bàn phía sau có Nguyễn Hoàng Vân Hương, Đỗ Thị Hạnh, Trần thị Hương, Phạm Thị Triệu, Phạm Xuân Mai, Nguyễn thị Lan, Lê thị Ánh, Đỗ thị Anh Thư, Nguyễn thị Kim Dung, Trần Thị Nhạc Lưu, Nguyễn Lệ Hải, Nguyễn thị Kim Lan, Nguyễn Thị Thư, Nguyễn Thị Lê, Phạm Thị Chúc, Hồ Thị Nhan, Trần Thị Liên, Nhẫn, Đạo, Duyên, Phạm Minh Đường, chị em Phương Khanh, Phương Thảo, Nguyễn Cung Thị Sính, Vũ Thị Minh Hà, Lê Thị Bảo… Chuyện gần sáu chục năm nên trí óc cũng cùn đi, tôi nhớ là sĩ số gần sáu mươi mà cố cũng không thể nhớ nổi hết.
Tết năm đó lớp chúng tôi tập múa bài Tiếng Sáo Thiên Thai. Mới đầu Trịnh Thị Thảo là cô nàng tiên chính, đứng giữa; cuối cùng chẳng hiểu sao Vân Hương phải thay thế, cô nàng phải miễn cưỡng thế mạng phút chót nên mặt bí xị không được vui. Tôi chỉ nhớ hai cô tiên bé Tạ Bạch Mai Hương và Phạm Vân Bằng thật là xinh. Đến ngày lễ Hai Bà, thày Nguyễn Cường thiết kế xe hoa hình con công với những dải lụa dài đằng sau, một bầy nữ sinh cầm lụa múa như đuôi công. Lớp tôi cũng có vài người được tuyển chọn vào nhóm múa này.
Năm đó còn có một kỷ niệm khó quên. Lớp học trên lầu ba, một ngày, sau khi sắp hàng và được lệnh vào lớp, chúng tôi chạy rầm rập lên cầu thang, khốn nỗi cầu thang gỗ và nhiều đứa còn đi guốc nên cứ nện thoải mái. Bà Giáo Sư chính An Thị Kỷ cho ngay cả lớp đi cấm túc ngày Chủ Nhật vì tội “Chạy ầm ầm ở cầu thang”. Từ đó chúng tôi phải mang giày, dép cao su, nếu đi guốc phải đóng đế.
Những năm đệ nhất cấp từ từ trôi, sau ba tháng nghỉ hè, ngày tựu trường gặp lại, nhìn nhau như lớn phổng hẳn lên. Có một TV đã nói rằng rung động đầu đời của nữ sinh TV là yêu cô giáo. Những “cây si” thập thò ngoài cửa lớp có cô để ngắm cô. Giờ tan trường rủ nhau theo đuôi cô như đám rước. Những cô giáo Trưng Vương thật là đáng yêu. Gần như mỗi đứa có một thần tượng cho riêng mình và nghỉ hè xa cô cũng nhớ nhung, xin địa chỉ để đến nhà cô ngồi chầu cho đỡ nhớ. Các cô có nhiều học trò mê như cô Tố Lan, cô Kim Thi, cô Hồng Diệp, cô Lệ Khanh, cô Mộng Ngọc, cô Thuý Nga, cô Ngọc Quỳnh, cô Ninh, cô Trâm, cô Vinh, cô Thái, cô Hồng, cô Lưu Kim Dung… Còn với tôi, cô Xuân Sanh yêu quý của tôi là nhất.
Có hai giai thoại mà mỗi khi nghĩ đến tôi lại bật cười. Những lần có quốc khách hay những ngày lễ lớn chúng tôi phải thức dậy thật sớm để xếp hàng đi đón hoặc đi tham dự. Những ngày đó chúng tôi phải mặc đồng phục với quần trắng. Có người thắc mắc: “Thưa cô, nhỡ “bị” có được nghỉ không ạ?” Cô giáo đã mắng ngay: “Con gái… bị thì phải biết chuẩn bị!”. Nhưng mặc dù đã chuẩn bị kỹ càng, vậy mà một bạn tôi đã “kẹt” làm tụi tôi phải vây xung quanh để che cảnh “mặt trời mọc”. Và… một năm, ngày lễ Hai Bà, hai nữ sinh Gia Long và Trưng Vương được hân hạnh đóng vai Hai Bà Trưng ngồi oai nghi trên lưng voi, làm lễ xong còn phải đi diễn hành. Các chị phải đến trường từ tờ mờ sáng, ngồi phơi nắng đến xế trưa, vừa mệt vừa phải ngồi lâu quá trên thớt voi, không giải tỏa được “bầu tâm sự”, vừa xong buổi diễn hành tự nhiên một trong hai bà Trưng ngất xỉu, phải bế xuống và “voi đã đổ mồ hôi”!
Lên đệ nhị cấp chúng tôi chuyển sang học buổi sáng. Khu nhà tôi không có xe trường, chúng tôi phải tự túc. Thường buổi sáng tôi đón xe buýt Cây Mai-Cây Gõ ngay góc Thành Thái – Trần Bình Trọng hoặc xe lam lên bến xe trung tâm tại chợ Bến Thành rồi chuyển sang chuyến xe khác lên đường Thống Nhất ngay trước cổng sở thú rồi từ từ thả bộ tới trường. Mãi đến năm Đệ Nhất tôi mới được thừa hưởng chiếc velo solex của anh tôi đi du học để lại.Năm Đệ Tam đã có những lúc bước chân vướng vít vạt aó dài, mặt nóng bừng khi đi qua quán Hẹn hoặc đi ngang La Pagode trong lúc rủ nhau đi bộ về chợ Bến Thành mới lên xe buýt về nhà.
Từ Đệ Tam chúng tôi đã phải chọn ban thích hợp với nghề nghiệp sau này. Lớp Tam A1 chúng tôi có một số bạn cùng học từ lớp dưới, một số từ lớp khác và vài bạn từ trường ngoài. Đã lớn hơn một chút, chúng tôi thân nhau hơn. Ngày nghỉ đã ra dáng người lớn, không chơi rải ranh hay đánh chuyền nữa mà bắt đầu đến nhà nhau để nướng bánh kẹp, đổ bánh xèo, chiên bánh tôm, tráng bánh cuốn hay tập trang hoàng bánh kem. Đã có những lúc ngồi bên nhau tâm sự vụn. Đã biết rủ nhau đi dạo phố hay lên sân thượng để ngồi ngắm trăng.Năm Đệ Nhị nhiều biến động chính trị (1963), chúng tôi có những dao động mạnh. Những buổi đến trường nhưng xuống đường, bãi khóa không vào lớp học mà ùa xuống sân trường để rồi bị cảnh sát lùa như vịt, hốt hết đi. Mặc dù sau đó được thả ra nhưng cũng bị một phen hoảng sợ. Hãi hùng hơn nữa khi nghe tin những bạn bị xe bít bùng đêm đến nhà bắt đưa đi.
Tú Tài Một đã qua, Tú Tài Hai lại tới. Năm Đệ Nhất để lại trong tôi nhiều kỷ niệm. Tuổi 17 đến 20, các bạn tôi đã trở thành những thiếu nữ xinh đẹp, tan trường đã có những chàng “Anh theo Ngọ về, đường mưa nho nhỏ”. Chàng Xuân Hạnh đã chống vespa ở cửa trường đón nàng Vũ Kim Liên.Lớp A1 của tôi có nhiều người đẹp, Vượng, Hảo, Trịnh Thị Thảo, Trần Thị Ngọc, Mộng Hoa, Ngọc Hoa, Lê Thị Vân, Phạm Kim Thể, Đặng Thị Hoà, Dương Thị Mai, Nguyễn Thị Hà, Dậu, Chép… Bây giờ nhìn lại thấy ai cũng đẹp, như Lệ, Liễu, Kim Chinh, Tú Khanh, Vũ Kim Liên, Minh Thu, Đỗ Thị Hạnh. Tuổi trẻ tha thướt, mộng mơ, tuổi của mắt sáng, môi hồng, má thắm. Tuổi trẻ trong sáng, xinh tươi như những bông hoa đang độ của vườn xuân trong nắng sớm. Lớp chúng tôi cũng có hai nữ sinh xuất sắc là Hoa Tâm và Năm. Sau Tú Tài cả hai đều được học bổng du học, Năm đi Úc, Hoa Tâm sang Canada.
Năm cuối cùng chúng tôi đã có những nỗi buồn vu vơ, cảm giác sắp phải xa lià bạn bè, trường lớp; những lúc bâng khuâng, nao nao, ngồi bên nhau muốn khóc. Có những lúc lại xúm nhau phá phách, chọc ghẹo bạn bè, thầy cô như muốn níu kéo lại thời gian. Đến cuối năm chúng tôi mới lo học rút, tập trung gạo bài để đi thi. Khi chúng tôi có kết quả, cả nhóm cùng đỗ Tú Tài phần hai, cha mẹ tôi mừng lắm, cho phép tổ chức ăn khao tại nhà, mời các giáo sư như Cô Ninh, Cô Mộng Ngọc, Thầy Diễn, Thầy Giảng , Thầy Tẩm, Thầy Lộc, thêm Thầy Lưu và Thầy Thọ, hai thầy không dạy TV nhưng đã coi điểm thi hộ chúng tôi. Nhóm A1 gồm Phương Ngân, Thanh Hoà, Minh Thu, Mộng Hoa, Ngọc, Nhị, Cẩm Tú, Mai Oanh, Dương Mai, Bích Liễu, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thị Năm. Bữa tiệc thật vui và sau đó như bầy chim non dời tổ, những cô nữ sinh chia tay, mỗi đứa một ngã rẽ, chập chững, dọ dẫm bước vào đời.
Các bạn của tôi ơi,Những cánh hoa sao xoay tít trên không, bầu trời trong xanh của con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm với hai hàng cây cao vời vợi đang hiện về. Hình ảnh chúng mình đi trong lòng đường trước cổng trường. Những lúc giỡn hớt bông đùa. Những giờ thể thao vui nhộn. Những khi ăn vụng trong lớp và vòi vĩnh thầy cô để xin tiền ăn bò biá, bò khô. Những miếng xoài xanh, những cục ô mai chuyền vội nhau dưới gầm bàn. Oái oăm lại còn chơi trò ăn vụng mà bóc quít thơm lừng, cười ra nước mắt và những miếng khoai mì nuốt chửng muốn nghẹn vì thầy đang đứng viết trên bảng, bất thình lình quay lưng nhìn xuống… Những khuôn mặt bạn bè thời trẻ dại đang rõ nét trong tôi. Bạn ơi, nhớ ơi là nhớ…
Đỗ Dung
Phụ Nữ Việt Nổi Đình Nổi Đám! LÊ VĂN HẢI
Phụ Nữ Việt Nổi Đình Nổi Đám!
Hôm Qua: Một Cô Ca Sĩ Người Mỹ Gốc Việt Đoạt Giải Thưởng Âm Nhạc Grammy Danh Giá Nhất Của Mỹ!


Anderson Paak và Bruno Mars biểu diễn một bài hát trong Lễ trao giải Grammy lần thứ 64 hôm 3/4/2022 ở Las Vegas
Một Cô Ca sĩ người Mỹ gốc Việt, tên Terresa Mai, tên đầy đủ là Mai Xuân Loan, với nghệ danh “Sangeeta Kaur”, đã được trao giải thưởng âm nhạc Grammy danh giá của Mỹ vào tối Chủ nhật 3 tháng 4, hôm qua.
Buổi lễ trao giải thưởng Grammy lần thứ 64, của Viện Hàn Lâm Khoa học và Nghệ Thuật Thu Âm Mỹ, diễn ra tại thành phố nổi tiếng “Thiên Đường Cờ Bạc” Las Vegas, tiểu bang Nevada. Sau 3 tháng bị hoãn vì những lo ngại về dịch COVID-19.
Vài chục giải thưởng được trao, để vinh danh các bản nhạc thu âm, thuộc các hạng mục khác nhau, đã phát hành trong giai đoạn 1/9/2020 đến 30/9/2021.
Nữ ca sĩ Mỹ gốc Việt Mai Xuân Loan, sinh sống ở bang California, giành giải trong hạng mục Album, có giọng hát solo, cổ điển xuất sắc nhất!
Album này có tên “Mythologies” (Thần thoại) và trong đó cùng biểu diễn với Sangeeta Kaur và ca sĩ Hila Plitmann.
Sinh sống ở bang nắng ấm California, trong một gia đình có bố mẹ đều là người Việt, Terera Mai tham gia các hoạt động âm nhạc từ khi là học sinh. Về sau, cô tốt nghiệp Nhạc viện Bob Cole, thuộc Đại học Tiểu bang California, Long Beach, và có bằng thạc sĩ, chuyên môn biểu diễn bằng giọng ca, do Nhạc viện Boston cấp.
Được biết, cô khá nổi tiếng trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt, với một số lần biểu diễn các nhạc phẩm Việt, trong những chương trình của Trung Tâm Ca Nhạc Thúy Nga Paris và tham gia các buổi hòa nhạc của Hội Hiếu Nhạc Việt & Mỹ.
Teresa Mai, có nghệ danh “Sangeeta Kaur”, nghĩa là “nữ hoàng của âm thanh và giai điệu!” Cô bắt đầu sinh hoạt từ năm 2010, sau nhiều năm đến với Phật Giáo Tây Tạng và thiền Yoga.
Trong một phóng sự một nhật báo. Nói về cảm xúc của cô khi biết tin được đề cử cho giải Grammy. Teresa Mai cho biết, cô “vui mừng không tả nổi! chưa có niềm vui nào sung sướng đến như thế!” Và cô thấy “rất hãnh diện, vì đây là một thành tựu cho bản thân Cô nói riêng, và cho phụ nữ VN nói chung!
Hầu như ai đã nghe Cô trình diễn, đều công nhận: “Đây là giọng ca rất đặc biệt, hiếm có! Đầy nội lực mạnh mẽ, nhưng không kém phần da diết, có khi lại trong trẻo, pha chút thanh cao vút…từng nây!” Nữ ca sĩ gốc Việt Teresa Mai, đã làm “lay động con tim đông đảo khán thính giả khắp nơi” Khi trình diễn opera khắp Hoa Kỳ và Châu Âu trong những năm vừa qua!
Chắc chắn Cô còn tiến xa hơn nữa, trên con đường sự nghiệp âm nhạc của mình!


Tà Áo Dài Việt Nam Thướt Tha Lần Đầu Tiên Xuất Hiện Trên Thảm Đỏ Giải Điện Ảnh Oscar.
Kelly Marie Trần mặc Áo Dài, khi xuất hiện trên thảm đỏ lễ trao giải Oscars đêm ngày 27/3. Tại Nhà hát Dolby ở Los Angeles.
Diễn viên nổi tiếng Mỹ gốc Việt, Kelly Marie Trần, đã diện chiếc Áo Dài VN, khi xuất hiện trên thảm đỏ, tại buổi lễ trao giải Oscar ở Los Angeles hôm 27/3.
Theo nhà thiết kế trang phục cho ngôi sao của nữ tài tử phim Star Wars, đây là lần đầu tiên trang phục truyền thống của Việt Nam, có mặt tại sự kiện lớn nhất của làng điện ảnh thế giới. Hình ảnh tà Áo Dài VN, đã được truyền đi khắp trái địa cầu, nhất là với hàng triệu triệu khán giả mến mộ giải điện ảnh danh giá số một này.
Tới dự lễ trao giải, Kelly, người lồng tiếng cho nhân vật Raya trong bộ phim “Raya and the Last Dragon”, được đề cử cho hạng mục phim hoạt hình hay nhất tại Oscar năm nay. Cô tham dự với chiếc áo dài độc đáo, được thiết kế riêng cho cô.
Nhà thiết kế Thái Nguyen cho biết, đây là “lần đầu tiên Áo Dài Việt Nam xuất hiện trên thảm đỏ của đêm trao giải Oscar!” trước ống kính truyền hình, truyền đi khắp nơi trên thế giới.
Trang nhà của tạp chí thời trang nổi tiếng Variety, cũng đã đăng hình ảnh Kelly, người, đóng trong bộ phim ăn khách nhất “Star Wars: The Last Jedi”
Nói với tạp chí Elle, về quyết định chọn trang phục áo dài, cho buổi ra mắt trực tuyến phim “Raya”. Kelly ước muốn cô nhìn giống “một công chúa” trong tà Áo Dài Việt Nam! tương tự như nhân vật Raya mà cô lồng tiếng.
Trước đó vào năm 2017, khi ra mắt bộ phim “The Last Jedi”, trong đó Kelly là phụ nữ da màu đầu tiên, đóng vai chính trong loạt phim “Star Wars!”
Mô tả về việc Kelly là người mang chiếc áo dài đầu tiên đến thảm đỏ Oscar, nhà thiết kế Thái Nguyen nói rằng, đây là “khoảnh khắc đáng nhớ lịch sử, hãnh diện lắm VN! Chiếc Áo Dài duyên dáng, đã được trầm trồ khen ngợi, đẹp không thua kém bất cứ quốc phục nào, so với các quốc gia khác!”
Nhà thiết kế Thái Nguyen, không quên gởi lời: “Kelly, cám ơn em, đã làm một điều tuyệt vời hiếm có, cho văn hóa Việt Nam! Hàng triệu triệu người đã, có cơ hội chiêm ngưỡng vẻ đẹp của tà Áo Dài, trong giây phút lịch sử đáng nhớ này!”
Stephanie Nguyễn Nghị Viên Gốc Việt Đầu Tiên Ứng Cử Dân Biểu Tại California Thủ Phủ Sacramento


Lần đầu tiên ở thủ phủ Sacramento của tiểu bang California, một nữ dân cử gốc Việt, con của gia đình tị nạn, tranh cử chức Dân Biểu Tiểu Bang, Địa Hạt 10.
Nữ dân cử này, là bà Stephanie Nguyễn, cũng chính là phụ nữ gốc Á nói chung, gốc Việt nói riêng, đầu tiên được bầu vào Hội Đồng Thành Phố Elk Grove, thuộc Sacramento County, vào năm 2018.
Bà Stephanie Nguyễn đánh dấu là nữ dân cử người Việt đầu tiên, ứng cử dân biểu tiểu bang đại diện vùng Sacramento.
Bà hiện là nghị viên Elk Grove, Địa Hạt 4, đồng thời là giám đốc điều hành của Asian Resources, tổ chức bất vụ lợi, hỗ trợ các dịch vụ lợi ích, cho người dân và gia đình gốc Á.
Bà Stephanie sinh ra ở Hoa Kỳ, một vài năm sau khi gia đình bà tị nạn năm 1975. Bà tốt nghiệp cử nhân ngành Nhân Văn Học ở đại học University of Sacramento.
Cuộc Đua Vào Hạ Viện California
“Tôi chưa từng nghĩ mình sẽ tranh cử nghị viên Elk Grove, nói chi đến dân biểu California. Tôi muốn làm việc này, vì tôi chưa thấy phụ nữ gốc Việt nào, đảm nhiệm chức vụ này ở địa hạt tôi sống cả.”
Năm 2018, bà Stephanie đắc cử nghị viên Địa Hạt 4 với tỉ lệ ngạc nhiên áp đảo là 65%!
“Tôi rất cảm động vì không ngờ cộng đồng đã bầu cho tôi với số phiếu…tối đa!” Bà kể: “Tôi cũng tự hào vì cộng đồng Việt, lúc nào cũng sẵn sàng ủng hộ, bỏ phiếu cho người con gái của một gia đình tị nạn CS.”
Bà tâm sự tiếp: “Trước đó, tôi cũng không chắc lắm về việc tranh cử dân biểu tiểu bang, nhưng ngày càng có nhiều đồng viện, thượng nghị sĩ, và dân biểu, cộng đồng mình ủng hộ, khuyến khích, nên tôi quyết tâm tham gia cuộc đua vào Hạ Viện Califonria năm nay.”
Bà khẳng định: “Người Việt chúng ta phải có tiếng nói ở chính trường Mỹ! Càng mạnh bao nhiêu, càng tranh đấu hữu hiệu cho các quyền lợi cộng đồng bấy nhiêu!”
Bà thêm: “Đây là lần đầu tiên chúng ta sắp có người gốc Việt, đại diện tiếng nói người dân ở thủ phủ Sacramento, cấp chính quyền tiểu bang, nên tôi rất mong đồng hương hãy cùng dồn phiếu cho tôi, ở kỳ bầu cử sơ bộ Tháng Sáu tới đây.”
Bà Stephanie Nguyễn, hiện cư ngụ ở Elk Grove cùng chồng, ông phục vụ trong ngành cảnh sát, và hai cô con gái.
Hàng Loạt Phụ Nữ Gốc Việt Sẽ Làm Thay Đổi Bộ Mặt “Sân Chơi’ Chính Trị Ở Little Saigon!
Không khí chính trị sôi nổi Little Saigon, California, mùa bầu cử sơ bộ 2022, ngày càng “nóng” như trên chảo lửa! Khi có nhiều nữ dân cử gốc Việt “ra quân” ứng cử các chức vụ từ địa phương, tới cấp tiểu bang và tới cấp… liên bang luôn! Để cân bằng cán cân quyền lực nam giới và tạo thêm tiếng nói cho nữ giới.
Hàng Loạt Phụ Nữ Việt Tranh Cử
Chân dung năm nữ ứng cử viên gốc Việt vùng Little Saigon, hàng trên, từ trái, theo chiều kim đồng hồ: Dân Biểu Janet Nguyễn, Phó Thị Trưởng Diedre Thu-Hà Nguyễn, Nghị Viên Kim Bernice Nguyễn, bà Amy Phan West, và Nghị Viên Kimberly Hồ.
Chính trường ở vùng có nhiều người Việt nhất hải ngoại này, Sài Gòn Nhỏ, từ lâu được xem là “sân chơi” dành riêng cho phái nam, giờ đừng tưởng bở nữa! nay đã đổi khác nhiều!
Trong cuộc bầu cử sơ bộ tại California vào ngày 7 Tháng Sáu tới đây, Little Saigon được biết, có năm phụ nữ ứng cử!
Đó là bà Janet Nguyễn (Cộng Hòa), dân biểu California (Địa Hạt 72); bà Diedre Thu-Hà Nguyễn (Dân Chủ), phó thị trưởng Garden Grove (Địa Hạt 3); cô Kim Bernice Nguyễn (Dân Chủ), nghị viên Garden Grove (Địa Hạt 6); Dược Sĩ Kimberly Hồ (Cộng Hòa), nghị viên Westminster (Địa Hạt 3); và bà Amy Phan West (Cộng Hòa), cư dân Westminster.
Bà Janet Nguyễn ứng cử chức thượng nghị sĩ California, Địa Hạt 36; bà Diedre Thu-Hà Nguyễn ứng cử chức dân biểu California, Địa Hạt 70; cô Kim Bernice Nguyễn ứng cử chức giám sát viên Orange County, Địa Hạt 2; Dược Sĩ Kimberly Hồ ứng cử chức dân biểu California, Địa Hạt 70; và bà Amy Phan West ứng cử chức dân biểu liên bang, Địa Hạt 47.
Hỏi sao có hiện tượng phụ nữ Việt thắng thế trong lãnh vực tham gia chính trị dòng chính như thế? Bà Diedre Thu-Hà Nguyễn cho biết: “ Xã hội có nhiều phong trào khuyến khích phụ nữ. Và càng ngày càng có nhiều gương thành công của phụ nữ trong chính quyền Hoa Kỳ, thậm chí là được chọn vào chức vị cao trong Tối Cao Pháp Viện và Tòa Bạch Ốc. Theo tôi, đây là điều khích lệ cho phái nữ, “nếu cô ấy làm được, tôi cũng làm được!” Và điều này, chứng minh, đã có rất nhiều trường hợp phụ nữ tranh cử còn thành công, hơn cả…nam giới!”
Theo thống kê dân số Census 2020, nữ giới ở California là 50.3%, trong khi đó nam giới chỉ chiếm 48.7%. (Lại cứ lo ăn chơi, chẳng tha thiết gì chuyện tranh với cử!)
Phụ Nữ Việt Thắng Cử Khắp Nơi!
Trong số bảy dân biểu này có tới sáu phụ nữ: Janet Nguyễn (Địa Hạt 72, California), Bee Nguyễn (Địa Hạt 89, Georgia), Trâm Nguyễn (Địa Hạt 18, Massachusetts), Rochelle Nguyễn (Địa Hạt 10, Nevada), Kathy Trần (Địa Hạt 42, Virginia), và Thái Mỹ Linh (Địa Hạt 41, Washington).
Chứng minh, đây là con số thành công rất đáng nể phục: Trong số 21 dân cử gốc Việt, các cấp vùng Little Saigon, có chín là phụ nữ!
San Jose Cũng Không Kém: Cô Vân Lê, Ứng Cử Viên Chức Vụ Nghị Viên Thành Phố San Jose Khu Vực 7 Và Cô Nguyễn Lê Hạnh Giao Khu Vực 5
LÊ VĂN HẢI

